Từ cậu bé mồ côi đến vị Vua Mèo cai trị 7 vạn dân

đăng 20:52, 29 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Lịch sử của người Mông Đồng Văn là lịch sử của một cuộc thiên di lớn nhất trong lịch sử dân tộc Mông. Là lịch sử của vị thủ lĩnh người Mông đã đứng lên chống Pháp. Lịch sử của vị Vua Mèo với những câu chuyện đã thành huyền thoại.

Dinh vua Mèo. Ảnh: Dân trí


Cuộc thiên di của người Mông Đồng Văn

Nếu lên Sơn La, Điện Biên, không thể thiếu câu chuyện về vua Thái Đèo Văn Long, lên Lào Cai, không thể không nghe kể về vua Mèo Hoàng A Tưởng; lên Hà Giang, nhất định phải biết về cha con Vua Mèo Vương Chính Đức và Vương Chí Sình.

Đó là những điều mà ông Hùng Đình Quý (nguyên Chủ tịch huyện Đồng Văn – nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Hà Giang) đã nói khi bắt đầu kể những câu chuyện về lịch sử của người Mông và những vị vua Mèo của người Mông ở Đồng Văn. Hàng thế kỷ qua, những câu chuyện về cha con Vương Chính Đức và Vương Chí Sình là những câu chuyện luôn gây tò mò và thôi thúc không biết bao người đặt chân đến cao nguyên đá.

Những câu chuyên ấy là điều không thể thiếu để tạo nên hình ảnh một vùng đất huyền thoại mà bất cứ ai cũng mong muốn được khám phá. Trong chuyến công tác Hà Giang, may mắn được gặp ông Hùng Đình Quý và nhiều lãnh đạo người Mông, tôi đã có cơ hội hình dung ra một chân dung rõ nét hơn về cuộc đời cha con Vua Mèo Vương Chính Đức – Vương Chí Sình.

Nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý là một người Mông rất am hiểu văn hóa và lịch sử của dân tộc mình và ông cũng rất yêu dân tộc mình. Ông nói trước khi nhắc đến cha con Vua Mèo, không thể không nhắc về cuộc thiên di lịch sử của người Mông từ phương Bắc xuống phương Nam.

Cao nguyên đá Đồng Văn là vùng đất mà người Mông, người Lô Lô, người Tày..cùng sinh sống nhiều đời nay. Theo những ghi chép của lịch sử, người Mông xuất hiện ở Đồng Văn vào khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, muộn hơn so với những dân tộc khác. Nhưng người Mông là dân tộc chiếm ưu thế hơn cả, cũng là dân tộc để lại nhiều dấu ấn nhất ở vùng đất này.

Người Mông xưa kia là một đại tộc lớn sống ở vùng Kinh Châu – Giang Hoài (nay thuộc tỉnh Hồ Nam và một phần tỉnh Quý Châu, Trung Quốc), là một phần trong liên minh bộ lạc Miêu – Dao được hình thành với khoảng thời gian 5000 năm lịch sử. Trong lịch sử của mình, đại tộc người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài cũng có chung một đặc điểm với dân tộc Việt Nam: luôn bị sự đe dọa của nhà Hán từ phương Bắc uy hiếp xuống.

Thời thịnh trị nhất của nhà Hán, nhà Hán đem quân đi thống nhất Trung Quốc, khuất phục các bộ tộc lớn và xâm lược các nước lân bang. Ở Trung Quốc, người Mông là đại tộc luôn khiến nhà Hán vừa căm ghét và khó chịu. Dân tộc Mông thông minh, can đảm, trí dũng hơn người bị nhà Hán coi là dân tộc có thể đe dọa đến sự tồn vong của vương triều nhà Hán nên suốt bao đời vua Hán đều cử quân đi khuất phục đại tộc Mông. Nhưng những cuộc chinh phạt của người Hán đều thất bại bởi vấp phải sự chống trả kiên cường của người Mông.


Vương Chính Đức cùng con cháu

Vua Mèo Vương Chính Đức


Tuy nhiên để bảo vệ được sự tồn vong của dân tộc mình, người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài cũng phải trả giá không ít. Qua mỗi thế kỷ, những cuộc chiến tranh lại khiến dân số người Mông ít dần đi, người già, đàn bà và trẻ con ngày càng nhiều hơn đàn ông. Cuối thế kỷ XVII, có một cuộc giao tranh quyết liệt đã xảy ra giữa đại tộc Mông và Hán triều.

Thủ lĩnh người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài khi đó đã hô hào đàn ông đứng lên chống lại Hán triều một lần nữa. Đó cũng là trận chiến khiến người Mông bị tổn thất nhiều nhất và bị đánh bật về phương Nam. Sau trận chiến này, trước những thương vong mà dân tộc mình đã phải chịu đựng, thủ lĩnh người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài khi ấy đã có một quyết định cuối cùng để bảo vệ giống nòi và để dân tộc mình vĩnh viễn thoát khỏi những cuộc chiến đấu tranh giành lãnh thổ.

Vị thủ lĩnh ấy kêu gọi đồng bào Mông: “Tất cả đại tộc hãy đi đến phương Nam. Đi đến nơi những vùng đất cao nhất, xa nhất, nơi chưa từng có ai đặt chân đến thì hãy dừng lại, dựng nhà cửa, làm nương rẫy, lấy chồng lấy vợ rồi sinh con đẻ cái. Đó sẽ là quê hương mới của người Mông”.

Sau lời kêu gọi của vị thủ lĩnh người Mông ấy, người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài (thuộc tỉnh Quý Châu) đã bỏ xứ sở đi về phương Nam trong cuộc thiên di lớn nhất trong lịch sử dân tộc Mông. Cuộc thiên di đó đã đưa người Mông đến với những vùng đất phía Bắc Việt Nam. Mệnh lệnh mà thủ lĩnh người Mông năm ấy đã ban đã được đồng bào Mông thực hiện một cách nghiêm ngặt: họ chọn những vùng núi cao nhất, xa nhất, hoang vu nhất để dừng lại, lập quê hương, bản làng mới. Đó là lý do giải thích cho thói quen sống ở trên những vùng núi cao ít người của dân tộc Mông.

Trong cuộc thiên di ấy, cao nguyên đá Đồng Văn là một trong những nơi được người Mông chọn làm quê hương mới. Đến bây giờ, người Mông Hà Giang vẫn còn truyền tụng về lịch sử dân tộc mình qua những câu hát: “Quý Châu là quê hương yêu dấu của đồng bào Mông ta. Vì người Mông ta đói rách, vì dân Mông ta không có chữ, thua kiện người Hán nên phải mất nương, vì người Mông ta không có chữ nên phải dời quê hương đến xứ sở này”.

Từ cậu bé mồ côi đến vị Vua Mèo cai trị 7 vạn dân

Gia đình vua Mèo Vương Chính Đức


Cuộc thiên di của người Mông đến cao nguyên đá Đồng Văn đã đánh dấu một thời kỳ quan trọng trong lịch sử của dân tộc Mông, với sự hình thành những vị Vua Mèo với uy danh vang khắp vùng núi phía Bắc. Đầu thế kỷ XVIII, Đồng Văn có trên dưới 10 vạn người Mông, bao gồm họ Vàng, họ Dương, họ Mã…là những dòng họ lớn nhất.

Mỗi họ có một phong tục riêng, một thói quen thờ cúng, sinh hoạt riêng, bên cạnh những tập tục đặc trưng của người Mông. Mỗi họ cũng có một thủ lĩnh do cả họ nhất trí suy tôn lên làm người đứng đầu. Những thủ lĩnh dòng họ này có trách nhiệm bảo vệ sự an nguy và sức sống của cả dòng họ và phần lớn đều xuất thân từ những gia đình danh giá, giàu có nhất trong dòng họ.

Nhưng Vua Mèo Vương Chính Đức – vị Vua Mèo đầu tiên của người Mông ở Đồng Văn lại không có xuất thân cao quý như thế. Theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, Vua Mèo Vương Chính Đức xuất thân nghèo khó. Ông là con trai trong một gia đình người Mông nghèo thuộc họ Vàng. Trước khi được biết đến với cái tên Vương Chính Đức, ông chào đời ở Sà Phìn – Đồng Văn với cái tên Vàng Dúng Lùng.

Vàng Dúng Lùng có một tuổi thơ vất vả. Từ nhỏ bố đã mất, Vàng Dúng Lùng đã phải cùng mẹ và anh trai Vàng Trá Pò lao động cực khổ để tồn tại. Nhưng người già ở Đồng Văn, đặc biệt là ở Sà Phìn – quê hương của Vương Chính Đức – Vàng Dúng Lùng nói, cha mẹ họ, ông bà họ, những người từng chứng kiến Vàng Dúng Lùng lớn lên đều đã sớm thấy khí chất đặc trưng của một người Mông thông minh, quả cảm, luôn khám phá mọi vùng đất xung quanh mình.

Từ nhỏ Vàng Dúng Lùng đã rất hiếu động, thông minh. 10 tuổi, Vàng Dúng Lùng đã biết đi bộ lang thang khắp những vùng núi cao ở Mèo Vạc. Không một bản làng nào, Vàng Dúng Lùng chưa đi qua. Không một người Mông nào ở Đồng Văn, Vàng Dúng Lùng chưa gặp một lần.

Vàng Dúng Lùng thường chỉ về nhà khi chợt nhận ra mình đã đi quá lâu và thường khi ông về, mẹ ông đã suýt không còn nhận ra cậu con trai mà mỗi lần đi lại thấy già dặn, từng trải thêm một chút. Đến tuổi thanh niên, Vàng Dúng Lùng đã là một chàng trai người Mông can đảm, dũng cảm, không sợ hổ báo, không sợ thú dữ mỗi khi đi rừng và có tài khổi khèn hay nức tiếng khắp vùng núi cao Đồng Văn.

Khi người Mông bắt đầu cuộc thiên di xuống phương Nam và dừng lại ở Đồng Văn, vị thủ lĩnh người Mông được lưu truyền lại trong lịch sử người Mông đã mơ ước dân tộc Mông sẽ được sống hòa bình ở vùng đất mới, không phải chịu cảnh đổ máu, chết chóc như suốt lịch sử của mình. Nhưng ước mơ của vị thủ lĩnh đó không thành hiện thực.

Thời Vàng Dúng Lùng sinh ra và lớn lên cũng là thời mà lịch sử phong kiến Việt Nam chứng kiến cuộc xâm lăng của thực dân phương Tây. Sau khi khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp bắt đầu tiến lên chinh phục các bộ tộc ít người ở vùng núi phía Bắc, trong đó có Đồng Văn.

Cùng lúc đó, triều đình Mãn Thanh cũng tiến quân xuống Đồng Văn, với ý định tiêu diệt những nhóm quân nổi dậy người Mông đang hình thành ở Đồng Văn, vì lo ngại những nhóm quân khởi nghĩa này có thể làm nguy hiểm đến sự cai trị của triều Mãn Thanh ở vùng biên giới giáp Việt Nam. Ở Đồng Văn cũng xuất hiện những nhóm quân nổi dậy từ Trung Quốc dạt sang, với âm mưu đánh chiếm Đồng Văn.

Đứng trước hiểm họa đó, người Mông ở Đồng Văn, dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Vừ Phán Lùng đã đứng dậy, sẵn sàng đánh quân Thanh và đánh quân Pháp đang tiếng vào Đồng Văn. Trong dòng họ Vàng của Vàng Dúng Lùng, cũng có một người theo Vừ Phán Lùng đánh giặc, là Vàng Dí Tủa. Trong cuộc nổi dậy đó, Vừ Phán Lùng đã bị phản bội và giết chết, người Mông ở Đồng Văn bị những nhóm quân nổi dậy Trung Quốc dạt vào Đồng Văn khi đó giết chết dã man.

Vàng Dí Tủa được người Mông Đồng Văn bầu lên thay làm thủ lĩnh cũng chết không lâu sau đó vì bệnh tật. Một lần nữa, cộng đồng người Mông lại họp lại. Vàng Dúng Lùng đứng lên làm thủ lĩnh người Mông thay Vàng Dí Tủa. Dưới sự lãnh đạo của Vàng Dúng Lùng, người Mông Đồng Văn đã đánh bạt những phiến quân ở Đồng Văn, thống nhất toàn bộ vùng Đồng Văn. Thừa thắng xông lên, người Mông Đồng Văn lại tiếp tục sát cánh bên Vàng Dúng Lùng, cùng thủ lĩnh Vàng Dúng Lùng đánh giặc Pháp.

Quân Pháp khi đưa quân lên Cao Bằng, Hà Giang và sau một thời gian củng cố lực lượng, đã bắt đầu tiến hành cuộc chinh phạt Đồng Văn trong suốt hơn 10 năm, từ đầu những năm 1900 với quyết tâm thống trị hoàn toàn vùng đất này, đặt vùng đất này dưới ách đô hộ. Khi thực hiện cuộc chinh phạt này, người Pháp rất tự tin vào sức mạnh của mình và khả năng khuất phục một dân tộc nhỏ bé, lạc hậu, nghèo đói ở vùng núi cao.

Nhưng người Pháp không lường được những khó khăn ở Đồng Văn. Ngay cả khi chúng đã đặt được những đồn trú ở Đồng Văn, ngay cả khi chúng đã gây cho đồng bào Mông Đồng Văn không biết bao nhiêu tổn thất xương máu, thì chúng vẫn không thể khuất phục được người Mông Đồng Văn.

Đến lúc hiểu được về tập tục và văn hóa của người Mông, người Pháp hiểu rằng chỉ có một cách để tạm cai trị người Mông là phải chấp nhận đưa một thủ lĩnh người Mông lên nắm quyền – một thủ lĩnh mà bất cứ người Mông nào cũng sẵn sàng nghe theo. Và chúng đã chọn thủ lĩnh Vàng Dúng Lùng. Để bắt tay được với thủ lĩnh người Mông, người Pháp đã ký với Vàng Dúng Lùng một hòa ước cam kết rút hết khỏi Đồng Văn và cho người Mông được quyền tự trị với sự giám sát của một nhóm đồn trú của Pháp ở Đồng Văn và một đơn vị hành chính của triều Nguyễn.


Vương Chính Đức

Cùng lúc đó, nhà Nguyễn cũng phong cho Vàng Dúng Lùng chức quan Bang Cơ, cai quản vùng Đồng Văn. Vàng Dúng Lùng cũng được cấp mũ mão, áo quan và được ăn lương của triều Nguyễn. Kể từ đó, Vàng Dúng Lùng bắt đầu đi vào lịch sử vùng Đồng Văn với cái tên Vương Chính Đức.

Ông trở thành Vua Mèo như một lẽ tự nhiên trong tâm thức của 7 vạn dân ở Đồng Văn, là vị thủ lĩnh đã bảo vệ người Đồng Văn trước gót giày bắn phá, chems giết của thực dân Pháp. Chính vì thế, tuy là người Mông, nhưng ông cũng được các dân tộc khác ở Đồng Văn tôn sung.

Lời phán của thầy phong thủy và bí ẩn về sức mạnh khu đất xây dinh thự Vua Mèo

Không thể phủ nhận được vai trò của Vương Chính Đức trong một gian đoạn lịch sử loạn lạc đã giúp cao nguyên Đồng Văn với 7 vạn dân có được quyền tự trị nhất định, không chịu cảnh bóc lột của thực dân như những vùng đất khác ở Đồng Văn. Thời đó, người Mông ở Đồng Văn sống chủ yếu bằng cách trồng cây thuốc phiện.

Sauk hi ký hòa ước với Pháp, Vương Chính Đức cũng đã thỏa thuận với người Pháp trong việc mua bán thuốc phiện. Người Pháp đã buộc phải chấp nhận mua thuốc phiện của Vua Mèo Vương Chính Đức với giá gấp đôi so với giá cũ. Nhờ thỏa thuận này, người Mông Đồng Văn đã có một quãng thời gian dài sống no ấm nhờ cây thuốc phiện. Vương Chính Đức nhanh chóng trở nên giàu có, với dinh cơ và tài sản lớn nhất vùng cao nguyên đá.

Dinh thự của Vua Mèo hiện nay vẫn còn ở Sà Phìn (Đồng Văn) chính là dinh thự do Vương Chính Đức xây lên vào thời hùng mạnh nhất của mình. Theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, mảnh đất mà Vua Mèo Vương Chính Đức chọn để xây dinh thự theo phong thủy có thế đất rất đẹp với hình mai rùa mà dinh thư Vua Mèo đặt ngay chính giữa chop cao nhất của cái mai rùa đó.

Trong những huyền tích do người Mông Đồng Văn lưu lại về Vương Chính Đức, có không ít những câu chuyện là thật, cũng có không ít những câu chuyện được thêu dệt, thêm thắt truyền miệng qua người này đến người kia. Nhưng có một câu chuyện mà theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý là tương đối chính xác, chính là câu chuyện về lý do vì sao Vua Mèo Vương Chính Đức lại chọn mảnh đất đó làm nơi dựng nhà.

Chuyện rằng khi Vương Chính Đức còn là một cậu bé thường xuyên lang thang khắp các xó xỉnh của vùng núi Đồng Văn, một hôm có một đoàn thương lái Trung Quốc đi qua Đồng Văn và dừng chân nghỉ lại ngay bên cảnh khu đất hình mai rùa ở Sà Phìn.

Trong đoàn thương lái đó có một người xem phong thủy rất giỏi, thấy khu đất trống đã bất chợt thốt lên: “Thế đất khu này quá đẹp. Ai biết mà dựng nhà ở đây, sau này không làm vua chúa cũng sẽ làm quan, được người người tôn sung, thờ phụng, vinh hoa phú quý đời sau ăn không hết”. Lúc đó Vương Chính Đức (lúc này hãy còn là cậu bé Vàng Dúng Lùng) đang ngủ trên cành cây ngay trên đầu vị thương lái có tài xem phong thủy, đã nghe lỏm được câu chuyện đó.

Cậu bé Vàng Dúng Lùng đã nghĩ sau này nhất định sẽ xây nhà trên mảnh đất đó. Sau này khi thành thủ lĩnh người Mông trong cuộc chiến đó, Vàng Dúng Lùng nhớ lại lời các thầy phong thủy nói năm xưa đã cho người đến xây nhà trên khu đất hình mai rùa ấy. Cũng kể từ khi dựng nhà trên khu đất đó, Vương Chính Đức đã ngày càng khẳng định được uy quyền của mình ở Đồng Văn.

Uy thế của ông cũng tăng lên sau mỗi chiến công mà ông lập được với vai trò thủ lĩnh. Sau khi ký thỏa hiệp với người Pháp, có trong tay một gia sản lớn, Vương Chính Đức đã cho xây dựng căn nhà ở Sà Phìn thành một dinh thự lớn, xứng với vị thế của mình, cũng ngay tại mảnh đất có hình mai rùa đó. Theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, dinh thự mà Vua Mèo Vương Chính Đức đã xây dựng ở Sà Phìn khác với kiến trúc của những ngôi nhà người Mông bình thường.

Vương Chí SInh, con trai Vương Chính Đức


Dinh thự với hình dáng đó theo quan niệm của người Mông từ xa xưa truyền lại, là ngôi nhà chỉ dành cho vua chúa, những người có uy tín nhất vùng. Nhưng hầu như không có người Mông nào sống ở thời Vương Chính Đức được thấy kiến trúc đó. Sau cuộc thiên di, nhiều nét văn hóa của dân tộc Mông đã bị mất đi bởi chiến tranh, trong đó có những ngôi nhà uy nghi như trong dân ca người Mông.

Và Vua Mèo Vương Chính Đức đã cho xây dựng ngôi nhà của mình theo hình dung của ông về ngôi nhà qua những câu dân ca của người Mông mà ông đã đọc được. Đến ngày hôm nay, dinh thự Vua Mèo ở Sà Phìn vẫn là một nơi mà bất cứ người nào đặt chân lên cao nguyên đá Đồng Văn cũng không thể không đến. Nơi đó đã chứng kiến những năm tháng hùng mạnh nhất của dòng họ Vua Mèo Đồng Văn, cho đến khi những hậu duệ của ông rời Đồng Văn, đi đến những vùng đất khác, theo những thay đổi của lịch sử.

Theo SBĐ
Không rõ nguồn ban đầu - dẫn lại từ Baomoi.com, từ Thể thao VN 20/01/2014
Ảnh: PHN sưu tầm bổ sung
Comments