Nguyễn Thị Duệ - Nữ trạng nguyên duy nhất khoa cử phong kiến Việt Nam

đăng 03:32, 27 thg 8, 2012 bởi Admin VINACOM Garden   [ đã cập nhật 19:06, 11 thg 2, 2013 ]
Nữ trạng nguyên duy nhất trong lịch sử khoa cử phong kiến Việt Nam là bà Nguyễn Thị Duệ, hay còn có tên Nguyễn Thị Du, hiệu là Diệu Huyền, quê ở Kiệt Đặc, Chí Linh, Hải Dương.

 Trong hậu điện của văn miếu Mao Điền (xã Cẩm Điền, Cẩm Giàng, Hải Dương) bên cạnh bài vị của các bậc tiền hiền, danh nho, bài vị của bà cũng được đặt ở một vị trí trang trọng, trên đó có ghi: Nghi ái quan Nguyễn Thị Duệ.

Nguyễn Thị Duệ (hay Nguyễn Thị Du; ngoài ra, có người gọi bà tên Nguyễn Thị Ngọc Toàn, hiệu Diệu Huyền), là là tiến sĩ nữ đầu tiên của Việt Nam. Hiện chỉ biết bà sống vào cuối thế kỉ 16, đầu thế kỉ 17, chưa rõ năm sinh và mất.

Nguyễn Thị Duệ, quê Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Vốn là người thông minh, có nhan sắc nên mới hơn 10 tuổi, bà đã được nhiều nhà quyền quí đến xin hỏi cưới, nhưng bà không thuận. Năm 1592, Trịnh Tùng đem quân đánh chiếm kinh đô Thăng Long, nhà Mạc chạy lên Cao Bằng. Nguyễn Thị Duệ cùng gia đình đi theo. 

Lăng mộ bà Nguyễn Thị Duệ 

Là một người hiếu học, song luật lệ bấy giờ không cho phép con gái được học hành thi cử, Nguyễn Thị Duệ phải giả trai để dự việc đèn sách. Khoa thi tiến sĩ năm Giáp Ngọ (1594) bà mang tên giả là Nguyễn Du đi thi và đỗ đầu khi tuổi vừa 20. Đến khi mở yến tiệc chiêu đãi các tân khoa, vua Mạc Kính Cung thấy vị tiến sĩ trẻ dáng vẻ mảnh mai, mặt mày thanh tú... nên dò hỏi. Khi đã rõ chuyện, Nguyễn Thị Duệ không bị khép tội mà còn được vua khen ngợi...

Sau đó, vua vời bà vào cung để dạy các phi tần, rồi được tuyển làm phi: Tinh Phi (Sao Sa) và người ta quen gọi là “Bà Chúa Sao”.

Đền thờ bà Nguyễn Thị Duệ 

Năm 1625, quân Trịnh tiến lên Cao Bằng đánh Mạc đã bắt được bà chúa Sao. Trước quân địch, bà vẫn hiên ngang rút gươm quát bảo bọn lính phải đem giải mình đến gặp chúa Trịnh nếu không bà sẽ tự tử. Đến gặp vua Lê, chúa Trịnh, bà đối đáp thông minh nên lại được nhà chúa trọng dụng cho trông coi việc học của phủ chúa. Sau đó, bà được phong chức Nghi ái quan. Năm 70 tuổi, bà về quê hương nghỉ ngơi rồi qua đời lúc 80 tuổi. Nhân dân lập đền thờ gọi là đền bà chúa Sao.

Khi còn làm việc quan, bà rất quan tâm đến việc thi cử, bồi dưỡng nhân tài. Phần lớn ở các kỳ thi đình, thi hội; bài vở tất thảy đều qua tay bà chấm chọn. Mỗi tháng đôi kì, bà cùng các bậc túc nho đến giảng dạy, ôn tập cho các sĩ tử. Ngoài ra, bà còn xin triều đình cấp nhiều mẫu ruộng tốt, cho canh tác lấy huê lợi, giúp đỡ học trò nghèo biết chăm chỉ.

Người ta còn truyền tụng câu chuyện: Thuở hàn vi, anh trai Nguyễn Thị Duệ bị người trong làng hãm hại. Khi vinh hiển, bà không hề nghĩ đến tư thù.

Một lần dự cuộc vui, Nguyễn Thị Duệ quen được hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ vua Lê Thần Tông). Từ đấy, bà thường cùng hoàng hậu đi lễ chùa, gặp các nhà sư thông tuệ, đạo hạnh; gặp gỡ các sĩ phu có tài, như Giang Văn Minh, Khương Thế Hiền...để hiểu rõ tình hình trong nước nhằm giúp vua, chúa kịp thời điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Do nhiều công lao, bà được thăng chức “Chiêu Nghi” hiệu là “Nghi Ái Quan”.

Tuổi cao, Nguyễn Thị Duệ cáo quan về lại quê nhà, bà dựng am Đào hoa để có nơi đọc sách và bảo ban các sĩ tử trong làng.

Vua Lê giao cho bà số thuế hằng năm của tổng Kiệt Đặc để làm bổng lộc; chỉ dành một ít tiền chi dụng, còn bao nhiêu bà dành hết cho việc công ích và trợ giúp người nghèo.

Về sáng tác, Nguyễn Thị Duệ làm nhiều văn thơ, nhưng trải qua bao binh lửa nên thất lạc hết, đến nay chỉ còn một số trong gia ký, như:

Nữ nhi dù đặng có lề
Ắt là tay thiếp kém gì trạng nguyên.

Trên Web Phụ nữ Việt Nam đã viết:

Dưới thời phong kiến ở Việt Nam, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã không cho giới nữ được bình đẳng với nam giới, kể cả việc học hành, thi cử. Vậy mà có một người con gái tài sắc, đức độ, trí tuệ trác việt đã vượt qua luật lệ khắt khe đó, đạt tới học vị tiến sĩ. Đó là Nguyễn Thị Duệ.

Vũ Phương Đề khen ngợi bà là:

Lễ sư thông tuệ , nhất kính chiếu tam vương (Công Dư tiệp ký)

 Tháp mộ Nguyễn Thị Duệ trên đỉnh một quả đồi cạnh núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương). Cuối triều Lê, Tinh Phi cổ tháp được xếp vào hàng Chí Linh bát cổ, trong đó có những câu:

Lạ thay nhất kính chiếu ba vương
Kiệt Đặc tinh phi vốn cố hương
Đẹp tuyệt trần gian thêm sắc sảo...

Đình làng Kiệt Đoài có một pho tượng đẹp gọi là Vua Bà (tức Nguyễn Thị Duệ) và một sắc phong thờ phụng: “Chánh vương phủ, thị nội cung tần, lế sư Nguyễn Thị Ngọc tôn thần. Người có công giúp nước, che chở cho dân...”

Văn miếu Mao Điền - Nơi tập trung nhiều nhân tài, trong đó có bà Nguyễn Thị Duệ 

Tại đền làng Trung Hà, xã Nam Tân, huyện Nam cũng còn tượng vua Bà Sao Sa (Nguyễn Thị Duệ ), và một sắc phong của triều đình phong kiến cũ để lại. Năm 2004, có 8 vị đại khoa của Hải Dương là hiền tài của đất nước được đúc tượng đồng và khám thờ, trong đó có nữ tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ. Bà được thờ cùng Khổng Tử tại hậu cung Văn miếu Mao Điền.

Có tài liệu ghi:

Đến thời Lê - Trịnh , bà tuổi cao về trụ trì Chùa Vụ Nông ( Gia Lâm ) và được Chúa Dương Vương Trịnh Tạc mời vào cung để dậy các cung nhân và gọi bà là Đức Lão Lễ Sư. Mỗi khi Chúa Trịnh có việc cần hỏi, bà đều dẫn kinh sử để trả lời và được Chúa khen ngợi . Bà còn nổi tiếng về khuyến học: Mỗi tháng 2 kỳ , bà cho người làm cỗ , mời sĩ tử trong huyện đến cho tập làm bài . Tự bà ra đề , chấm bài và giảng sách cho sĩ tử . Nhiều người trong số đó đã đỗ đại khoa, riêng làng Kiệt Đặc quê hương bà đã có 3 người đỗ Tiến sĩ . Bà mất khi ngoài 80 tuổi và Tháp mộ của bà được coi là 1 trong 8 di tích cổ nổi tiếng của huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Còn theo Website: www.consonkiepbac.org.vn thì:

Đền thờ và lăng mộ Nguyễn Thị Duệ là di tích lịch sử gắn liền với việc tôn thờ nữ tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam thời nhà Mạc. Theo sách: "Chí Linh phong vật chí" sau khi bà chúa Sao Sa qua đời, người ta đã đưa hài cốt của bà về đây an táng và xây dựng tháp. Vì vậy, tháp mộ Bà còn có tên là "Tinh Phi cổ tháp" (tức Tháp cổ của bà Tinh Phi Nguyễn Thị Duệ)

Nhận thấy tầm quan trọng của di tích, đặc biệt là về giá trị lịch sử danh nhân, năm 2006 UBND tỉnh Hải Dương thực hiện dự án xây dựng đền thờ Nguyễn Thị Duệ. Dự án gồm các hạng mục: Đền chính, Tả hữu vu, Tam quan, 2 am hoá vàng và cải tạo nâng cấp Lăng mộ.

Sau 1 thời gian thi công, di tích đền thờ Nguyễn Thị Duệ đã hoàn thành 3 hạng mục: Đền chính, 2 am hoá vàng và sân trước. Đền chính kiến trúc kiểu chữ Đinh, gồm tiền tế 5 gian chồng diêm và 1 gian hậu cung.

Phía sau hậu cung là “Tinh Phi cổ Tháp”. Tháp được xây dựng sau khi Nguyễn Thị Duệ qua đời (TK17). Đến thời Nguyễn (đầu TK 20) tháp bị hư hại. Năm 1993 nhân dân địa phương kêu gọi công đức đã khôi phục lại ngôi tháp.

Đền thờ và lăng mộ Nguyễn Thị Duệ trước đây là một công trình kiến trúc rất nổi tiếng, một trong tám di tích thuộc: "Chí Linh bát cổ", hiện đang được khôi phục và bảo vệ tốt, đáp ứng nguyện vọng tôn thờ người có công với nước của nhân dân. Với nội dung lịch sử sâu sắc, tương lai không xa, di tích sẽ là một trong những điểm tham quan du lịch hấp dẫn thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước tại Hải Dương. Đến nay còn lưu giữ được bài thơ nói về phong cảnh hữu tình nơi đền tháp bà Tinh Phi:

Tay ngọc bẻ cành cao,
Mặt gương in tháp cổ.
Từ xưa nước non này,
Đến nay còn rậm rạp.
Hoa cỏ tự nở tàn,
Ngư tiều cùng đối đáp.
Sắc núi vẫn trong xanh,
Tiếng thu nghe xào xạc.
(Chí Linh phong vật chí)

Như vậy, Hải Dương là mảnh đất “Địa linh nhân kiệt”. Nơi đây vốn có truyền thống hiếu học. Trong thời kỳ phong kiến, nhiều nhân vật xuất chúng đã từ đây trưởng thành để ra giúp đời, giúp nước. Minh chứng cho điều đó, ở nhà tiền tế của văn miếu Mao Điền có thờ danh sách 637 vị tiến sĩ. Trong lịch sử khoa cử Việt Nam, từ khoa thi đầu tiên dưới triều Lý đến khoa thi cuối cùng dưới triều Nguyễn mới lấy được vài ngàn tiến sĩ thì riêng ở trấn Hải Dương đã đóng góp tới hơn 600 người. Một truyền thống ham học thật đáng khâm phục!

(Tổng hợp từ Internet)
Comments