Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Chuyện về cô gái mồ côi góp công diệt giặc Minh trên đất Phủ Quỳ Núi Bù Chẻ là một ngọn núi cao trên một trăm mét, nằm ở hướng Nam cách bản Chiềng Yên trước đây (nay là xóm Đồng Nại, xã Châu ...
    Được đăng 20:19, 19 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Dấu xưa Ankroët Thác Ankroët lặng lẽ nằm sâu trong thung lũng Suối Vàng - Đà Lạt thơ mộng. Ít ai biết rằng nơi đây tồn tại một thủy điện cổ đầu tiên tại ...
    Được đăng 02:33, 6 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tượng đài Sài Gòn xưa có số phận bi hài nhất Đó là tượng đài Léon Gambetta, nhà chính trị gia thuộc phái diều hâu khét tiếng của Pháp cuối thế kỷ 19. Nơi đặt tượng đài đầu tiên ở: ngã ...
    Được đăng 03:06, 20 thg 10, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ông lão lang thang được xây miếu thờ Từng là một lão nông lang thang, chuyên làm thuê cuốc mướn kiếm sống qua ngày. Không tên tuổi, không người thân thích, chết bên gốc cây, thế nhưng khi ...
    Được đăng 08:11, 17 thg 10, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cao Biền ở đất Phú Yên Cao Biền (821-887) là một danh tướng đời nhà Đường. Tên tuổi Cao Biền gắn với những truyền thuyết huyền hoặc của người Việt. Những truyền thuyết ấy kể ...
    Được đăng 05:54, 12 thg 9, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 16. Xem nội dung khác »


Chuyện về cô gái mồ côi góp công diệt giặc Minh trên đất Phủ Quỳ

đăng 20:19, 19 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Núi Bù Chẻ là một ngọn núi cao trên một trăm mét, nằm ở hướng Nam cách bản Chiềng Yên trước đây (nay là xóm Đồng Nại, xã Châu Quang, Qùy Hợp. Đoạn giữa của bản Chiềng Yên với núi Bù Chẻ là dòng Nậm Huống và những bãi bồi phù sa được bồi đắp qua hàng ngàn năm. 

Ngày nay, trên núi Bù Chẻ còn có vết tích của những con đường từ chân núi lên đến tận đỉnh, theo hình trôn ốc. Nhiều đoạn vẫn có thể nhận biết một cách dễ dàng tuy có những gốc cây cổ thụ chắn ngay lối đi. Khu vực này từng là đồn luỹ, trạm gác được cho là có từ thời Lê Lợi.

Đền thờ Pủ Chiềng Yên ở xóm Yên Luốm, xã Châu Quang (Qùy Hợp). Ảnh: Sầm Văn Bình. 


“Địa chí huyện Quỳ Hợp” có nêu, nghĩa quân Lam Sơn tiến vào Nghệ An cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1424 và dừng chân ở Bãi Tập (Quỳ Hợp) cuối năm 1424 và tập kết ở đây “độ một tháng là cùng” (tr. 114). Những đoạn có liên quan đến địa danh núi Bù Chẻ cũng được viết như sau:

"... Đầu thế kỷ XV khi Lê Lợi kéo nghĩa quân Lam Sơn vào miền núi Nghệ An thì tại Quỳ Hợp đã có cô gái bản Lè và các chàng trai ở bản Phảy, (tại xã Châu Quang hiện tại) quy tụ dưới cờ nghĩa.

Một em bé gái bản Lè bị giặc Minh bắt lên đồn luỹ trên núi Bù Chẻ để phục vụ cho chúng. Nghĩa quân đã đồn trú ở bản Lè và liên lạc với cô gái để tiêu diệt địch. Về sau người ta lập đền thờ cô gái ấy dưới chân núi Bù Chẻ, gọi là Nhả Póm...” 

Người dân tham dự Lễ hội đền Choọng (Quỳ Hợp). Ảnh Internet 


Xưa nay người dân sinh sống trong mường cũng thường kể như sau: “Thời đó có một người con gái dân tộc Thái mồ côi cả cha lẫn mẹ, giặc đã bắt vào đồn để hầu hạ, phục dịch cơm nước cho chúng... Thời đó rừng rậm có nhiều muỗi mòng và thú độc, lại chưa có màn mùng nên ban đêm giặc phải chui vào trong những cái túi vải may sẵn để ngủ.

Công việc của cô gái là đi đến từng túi để cột miệng túi lại, đến sáng thì mở ra. Nắm bắt được tình hình và quy luật sinh hoạt của địch ở trong đồn, một thủ lĩnh địa phương mà sau này được tôn xưng là Pủ Chiềng Yên đã lập ra kế hoạch đánh hạ đồn Bù Chẻ. Ông Pủ bí mật liên lạc với cô gái và anh em Chệt Chai ở vùng bản Phảy để tổ chức lực lượng, cùng một số cư dân trai tráng quyết tiêu diệt địch..

Vào một đêm, như đã hợp đồng trong kế hoạch tác chiến, Pủ Chiềng Yên đã chỉ huy lực lượng tấn công đồn Bù Chẻ, được cô gái làm nội ứng và anh em Chệt Chai giúp sức.

Bọn giặc trong đồn đang ngủ say, không hay biết gì. Thế là chỉ trong một đêm, đồn Bù Chẻ bị diệt, dân trong vùng đã kéo đến giúp sức, khiêng xác giặc ném xuống vực Văng Bền (nay ở phía Đông của bản Lè, xã Châu Quang). 

Sau khi thắng giặc, cuộc sống trong vùng trở lại yên bình. Nhân dân trong vùng muốn tri ân những người có công để đời sau con cháu ghi nhớ và thờ phụng.

Những nhân vật được xác định là có công lớn, được nhân dân trong vùng tuyên dương công trạng và được thờ phụng cúng tế về sau là Pủ Chiềng Yên, cô gái (được tôn là Nhả Póm) và bảy anh em Chệt Chai. 

Thi người đẹp tại Lễ hội đền Choọng (Quỳ Hợp). Ảnh tư liệu. 


Vị trí cổng đồn xưa kia là nơi thờ Nhả Póm. Thông thường, việc thờ Nhả Póm do người bản Đồn (nay là xóm Đồng Mộng, xã Châu Quang) đảm nhiệm, bởi vì Nhả Póm là con cháu của người bản Đồn. Đến ngày thờ Nhả Póm người bản Đồn kết hợp luôn với ông "chàu đằm" của bản Lè để cùng đến cúng. 

Pủ Chiềng Yên là người tổ chức và chỉ huy lực lượng đánh đồn Bù Chẻ nên được ghi công đầu. Nơi thờ Pủ là ở tại bản Chiềng Yên, có dựng nhà thờ tại đó... (Nhà thờ này nay nằm ở hướng Nam của xóm Yên Luốm (Châu Quang).

Nơi thờ anh em Chệt Chai được đặt ở bản Phảy, tại địa điểm đầm Nóng Hắn, cạnh nghĩa địa Hẻo Mày... Tuy nhiên, hiện nay anh em Chệt Chai chỉ được vời gọi đến khi tổ chức cúng tại nhà thờ Hươn Pủ của xóm bản Phảy (xã Châu Quang)".

Sầm Văn Bình

Dấu xưa Ankroët

đăng 02:32, 6 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:33, 6 thg 3, 2017 ]

Thác Ankroët lặng lẽ nằm sâu trong thung lũng Suối Vàng - Đà Lạt thơ mộng. Ít ai biết rằng nơi đây tồn tại một thủy điện cổ đầu tiên tại Đông Dương. 

Nhà phát điện được xây bằng đá - Ảnh: Mai Vinh


Thế hệ đầu tiên làm việc tại thủy điện Ankroët không còn nữa. Thế hệ tiếp theo cũng chỉ còn lại một vài người nhưng không còn minh mẫn. Những nhân viên đang làm việc tại Ankroët là những người thuộc thế hệ thứ ba.

Những ngôi mộ hoang

Hiện thủy điện Ankroët vẫn tiếp tục vận hành với ba tổ máy mới với công suất được nâng lên 4.400 kW, gấp tám lần so với công suất ban đầu. Hệ thống ống dẫn, đập nước và nhà máy phát điện vẫn còn nguyên hiện trạng như khi mới xây.

Câu chuyện lai lịch của Ankroët hư ảo như chính nơi tọa lạc của thủy điện nhỏ này, vùng Suối Vàng quanh năm mờ sương, cách Đà Lạt khoảng 17km. Các cứ liệu về Ankroët khá ít ỏi. Địa chí Đà Lạt (NXB Tổng Hợp TP.HCM) có chép: “Đây là nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt Nam được khởi công vào tháng 10-1942 và khánh thành vào năm 1945”, chính thức phát điện năm 1946.

Công suất thiết kế ban đầu của Ankroët chỉ 600kW, nhỏ hơn trăm lần so với những thủy điện hạng trung hiện nay, nhằm cung cấp điện cho đô thị Đà Lạt khi đó.

Khởi đầu, thủy điện gồm hai tổ máy công suất 300 kW/máy do Hãng Bell của Mỹ sản xuất vào năm 1940, trục tuôcbin nằm ngang, cả khối máy nổi trên mặt đất, khác với các công trình thủy điện sau này các tuôcbin nằm sâu dưới lòng đất với trục dọc. Điều khiến thủy điện Ankroët trở nên đặc biệt không phải là những tổ máy cổ trục ngang trứ danh một thời mà toàn bộ nhà máy phát điện, bờ chắn hai đập nước liên hoàn xây bằng đá xanh khai thác ngay tại Suối Vàng.

“Công trình đá này thấm đẫm máu của cả nghìn phu người Việt” - anh Nguyễn Thế Sơn, phụ trách kỹ thuật tại Nhà máy thủy điện Ankroët, nói khi ánh mắt anh nhìn về mô đất cao mà nhiều người bảo đấy là ngôi mộ vô danh của những phu phen đã chết trong những ngày thi công thủy điện.

Để minh chứng cho sức phu phen đổ vào công trình này là vô hạn, anh Trần Minh Ngọc, nhân viên kỹ thuật, đưa tôi đi tìm những dấu tích xưa. Quanh khuôn viên Ankroët vẫn còn một số xẻng, búa, đục và xe đẩy thô sơ. Tất cả được gom lại bảo vệ cẩn thận nhằm lưu dấu một thời.

Lần theo đường ống dẫn nước, băng qua những gốc thông cổ thụ, anh Ngọc chỉ cho tôi những ngôi mộ. Có ngôi mộ chỉ là những đụn đất nhỏ nhưng cũng có ngôi mộ có bia đá ốp ngang trên mặt đất, tấm bia chỉ ghi vỏn vẹn năm mất của người quá cố mà không có tên tuổi, quê quán. Anh Ngọc chắp tay xá người đã khuất rồi dọn sạch vạt cỏ quanh nấm mộ nhỏ. “Khắp khu đồi này xưa là mỏ đá phục vụ xây dựng thủy điện Ankroët nên đi vòng vòng thể nào cũng gặp vài ngôi mộ, có những ngôi mộ tập thể mà chúng tôi hay gọi là mả thánh. Những khi lễ tết, anh em chia nhau đi tứ hướng tìm những ngôi mộ lo hương khói cho ấm cúng” - anh Ngọc kể.

Bên trong nhà máy với những tổ máy mới - Ảnh: Mai Vinh


Sức người giữa đại ngàn

Năm 1942, người Pháp đưa cả ngàn phu phen từ miền Bắc, miền Trung vào Suối Vàng để chuẩn bị cho việc xây dựng thủy điện. Họ chặt cây, phá đá, xây dựng hai đập nước và nhà máy phát điện. Đá làm công trình phải dùng dụng cụ thô sơ để chẻ vuông vức giống nhau. Anh Sơn nhẩm tính đá để xây cả công trình không dưới nghìn mét khối rồi tự thán rằng với khối lượng công việc như vậy mà hoàn thành chỉ trong hai năm đủ biết bao nhiêu phu phen đã đổ máu và sinh mạng nơi đây.

Ankroët được xây ở điểm sâu nhất của thung lũng nơi dòng Suối Vàng chảy qua. Khi đó lối vào thung lũng không có, xung quanh toàn là rừng. Để chuyển được những cỗ máy, thiết bị nặng hàng tấn từ cảng Sài Gòn lên Đà Lạt, người Pháp tận dụng tối đa sức phu phen người Việt.

Những thiết bị nào có thể tháo rời được thì tìm mọi cách “mổ” ra từng chi tiết nhỏ để phu xẻ rừng cõng vào nhà máy. Còn những khối máy lớn thì hợp sức khiêng từng bước một. Rất nhiều tai nạn thương tâm đã xảy ra trong quá trình vận chuyển máy móc, thiết bị. Điều đó lý giải cho sự tồn tại những ngôi mộ nằm rải rác khắp khu rừng nơi tọa lạc Nhà máy thủy điện Ankroët.

Mặc dù làm việc trong điều kiện khó khăn nhưng phu phen trai tráng (tuổi từ 17 đến 30) luôn sống trong cảnh đói khổ, áp bức. Họ nương náu tạm bợ trong những khu lán trại, bị đối xử rất tệ. Ngày đó thời tiết rất khắc nghiệt, lạnh giá quanh năm. Cực khổ là vậy nhưng không ai dám bỏ trốn vì bị cai Pháp quản lý rất chặt.

Năm 1962, để có điện phục vụ cho việc xây dựng thủy điện Đa Nhim (Đơn Dương, Lâm Đồng), chính quyền đương thời đã lắp thêm tổ máy nâng công suất Ankroët lên 3.100 kW. Từ Ankroët, người ta kéo đường dây điện đến Đơn Dương để cung cấp điện, thực hiện các công việc đòi hỏi công nghệ cao hơn và khối lượng công việc lớn hơn. Năm 1964, Nhà máy thủy điện Đa Nhim hoàn thành với công suất 160 MW (gấp khoảng 50 lần thủy điện Ankroët), cung cấp điện cho một nửa miền Nam khi đó.

Gửi hồn xưa về chốn cũ

Đa số nhân viên hiện đang vận hành Nhà máy thủy điện Ankroët có người nhà, hoặc là cha, là anh từng làm việc tại đây. Anh Sơn có cha làm việc tại thủy điện Ankroët từ năm 1954. Gia đình anh có nhà tại Đà Lạt nhưng ngày đó đường sá khó khăn nên cha anh cất nhà bên bờ đập thủy điện Ankroët để tiện làm việc. Những bước tập đi đầu tiên của anh cũng chính trên nền đất Ankroët.

Anh Nguyễn Văn Thuận, trưởng ca vận hành, có cha là ông Nguyễn Thương từng làm phu xây dựng nhà máy thủy điện từ những ngày đầu và gắn bó với Ankroët cho đến lúc nghỉ hưu vào năm 1985. Cha nghỉ, anh Thuận tiếp nối nghiệp cha. Có lần cơ quan chuyển anh Thuận đi công tác nơi khác nhưng được một thời gian ngắn anh lại nằng nặc xin quay lại.

Anh nói: “Đi đâu cũng thấy nhớ Ankroët da diết. Mong muốn quay lại Ankroët như mong muốn về nhà. Có lẽ ký ức về nơi này nhiều quá”.

Ankroët không chỉ là thủy điện mà hơn cả đó là ký ức của nhiều lớp người, mọi sự thay đổi liên quan đến Ankroët đều khiến những nhân viên chạnh lòng. Năm 2004, sau gần 60 năm hoạt động liên tục, những tổ máy cũ buộc phải thay thế bằng những tổ máy mới do Trung Quốc sản xuất cùng công nghệ nhưng công suất lớn hơn.

Anh Thuận kể: “Ngày tháo những tổ máy, anh em ai cũng nghẹn ngào luyến tiếc. Mọi người chỉ đứng từ xa nhìn mà không đến gần”.

Với nhiều người, cái hồn của thủy điện Ankroët đã lìa đi từ ngày đó. Những tổ máy mới sáng choang, ít hỏng hóc không thay thế được hình ảnh những tổ máy xưa với nước sơn cũ sờn, hằn những vết tích của thời gian. Anh Thuận bùi ngùi rằng cả một vùng ký ức của bao thế hệ đã theo những tổ máy rời khỏi thung lũng.

Hai tổ máy sau khi hoàn thành sứ mệnh đã được đưa về xưởng sửa chữa của Công ty Điện lực Lâm Đồng và nằm ở đó trong 10 năm. Đến năm 2014, một tổ máy đã được sửa chữa và phục chế để trưng bày tại nhà truyền thống của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Một tổ máy khác hiện vẫn còn lưu tại xưởng. Ông Thái Đắc Toàn, giám đốc Công ty Điện lực Lâm Đồng, cho biết sau khi được phục chế, tổ máy sẽ được đưa lại vào Nhà máy thủy điện Ankroët để trưng bày, như một cách gửi hồn xưa về chốn cũ. 

Một trong hai tổ máy cổ có từ thời mới xây dựng thủy điện Ankroët còn được lưu lại. Ảnh: Phạm Hoài Nhân (2017)


Trước khi có dự án Đa Nhim do các phái đoàn của Pháp, Nhật và chuyên gia Liên Hiệp Quốc khảo sát trước năm 1960 (và sau đó giao cho phía Nhật thực hiện), một tài liệu của Pháp viết về công nghiệp hóa miền Nam Việt Nam có nhắc đến đập thủy điện Ankroët gần thác nước nhỏ cùng tên. Đây là công trình do Pierre Dargelos (1889-1976), một kỹ sư tốt nghiệp Đại học Bách khoa Pháp năm 1909, giám sát. Trong một chuyên đề về năng lượng điện ở Việt Nam của tập san Hội Hữu nghị Pháp - Việt xuất bản tháng 10-2005, Alain Dussarp có viết về đập thủy điện Ankroët như sau: “Tôi giữ kỷ niệm đẹp về chuyến tham quan đập thủy điện Ankroët, gần Đà Lạt, năm 1988... Tôi rất ngạc nhiên khi đứng trước công trình mà tôi tưởng rằng nó đang nằm ở vùng núi Pyrenees của Pháp. Nhà máy này vận hành 92% công suất dù tuổi tác cao và thiếu phụ tùng thay thế. Dù tôi đã nhiều lần đề nghị, lãnh đạo EDF (Tập đoàn Điện lực Pháp) vẫn không muốn thu hồi phụ tùng từ các nhà máy cùng loại không còn vận hành ở Pháp (để thay thế cho đập thủy điện Ankroët)”. L.T.

MAI VINH

Tượng đài Sài Gòn xưa có số phận bi hài nhất

đăng 02:14, 20 thg 10, 2016 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:06, 20 thg 10, 2016 ]

Đó là tượng đài Léon Gambetta, nhà chính trị gia thuộc phái diều hâu khét tiếng của Pháp cuối thế kỷ 19. 


Nơi đặt tượng đài đầu tiên ở: ngã tư Norodom (Lê Duẩn hiện nay) - Pellerin (Pasteur) đầu thế kỷ 20. Các dòng chữ dưới bưu ảnh: An Nam (tiếng Hoa) - Nam Kỳ - Quảng trường và tượng Gambetta - Ảnh tư liệu 


Léon Gambetta (1838-1882, mất năm 44 tuổi) là thủ tướng kiêm bộ trưởng Bộ Ngoại giao Cộng hòa Pháp trong hai năm 1881-1882. 

Đây là khoảng thời gian Pháp đã xâm chiếm xong toàn bộ Nam kỳ lục tỉnh và chuẩn bị cho việc thôn tính hoàn toàn miền Bắc. 


Gambetta thuộc phái các nhà chính trị Pháp lúc ấy ủng hộ việc xâm chiếm mở rộng thuộc địa Pháp. 

Có lẽ vì vậy, ngay sau khi Gambetta mất, khoảng năm 1883, một khu tượng đài đã được dựng lên ngay giữa trung tâm Sài Gòn, thủ phủ Nam kỳ, nơi quân Pháp tấn công và chiếm được đầu tiên. 

Nơi đặt tượng đầu tiên: ngã tư Norodom - Pellerin 

Cụ thể nơi dựng tượng ở ngã tư Lê Duẩn (tên đường lúc dựng tượng là đại lộ Norodom) - Pasteur (Pellerin). 


Đại lộ Norodom (Lê Duẩn hiện nay) nhìn từ dinh Norodom (hội trường Thống Nhất hiện nay) về phía Thảo cầm viên. Quảng trường Gambetta với tượng đài Gambetta ngay ngã tư Norodom - Pellerin (Pasteur). Đường cắt ngang hình là đường Pasteur hiện nay - Ảnh tư liệu 


Chính diện nhóm tượng đài Gambetta ngã tư Norodom - Pellerin đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu 


Tượng đài gồm 3 khối tượng: Gambetta ở vị trí cao nhất, vai phải hướng về dinh Norodom (Dinh toàn quyền Đông Dương), tay phải để trên nòng đại bác đặt dưới chân theo đúng thực tế ngoại giao pháo hạm của Pháp lúc ấy; tay trái chỉ về hướng thành Gia Định (thành Phụng 1835) vừa bị Pháp chiếm trước đó 24 năm (ngày 17-2-1859). 


Mặt tượng đài Gambetta nhìn về phía sông Sài Gòn; lưng quay về cuối đường Pasteur hiện nay. 

Hai khối tượng còn lại tạc hai người lính Pháp trong các cuộc xâm chiếm thuộc địa. 

Bưu ảnh ghi rõ khu vực đặt tượng này là quảng trường (place). Phải chăng đây là tên gọi đầu tiên của công viên trước mặt hội trường Thống Nhất/Dinh Độc lập hiện nay? 

Long đong sang khu vực chợ Bến Thành cũ sau khi giải tỏa chợ 

Năm 1912-1914, chợ Bến Thành cũ trên đại lộ Charner (đại lộ/phố đi bộ Nguyễn Huệ hiện nay) bị giải tỏa. 

Toàn bộ khu đất chợ cũ được cải tạo thành quảng trường, đặt tên là Quảng trường Gambetta. Tất nhiên nhóm tượng đài Gambetta từ ngã tư Norodom - Pellerin phải dời về đây, lấy chỗ cho xe cộ Sài Gòn, nhất là xe hơi vốn lúc này đã đông đúc hơn đi lại cho thuận tiện. 

Nhóm tượng đài Gambetta đặt ở gần phía cuối Quảng trường Gambetta, nhìn ra đại lộ Charner; lưng hướng về đường Hồ Tùng Mậu hiện nay (bản đồ Sài Gòn 1928 ghi là đường Georges Guynemer). Tay trái chỉ về hướng đường Ngô Đức Kế (bản đồ Sài Gòn ghi đường Vannier); tay phải hướng về đường Phủ Kiệt (hiện là đường Hải Triều). 


Tượng đài Gambetta cuối Quảng trường Gambetta (khu vực chợ Bến Thành cũ sau khi giải tỏa chợ) năm 1921. Dãy nhà phía sau là dãy nhà trên đường Hồ Tùng Mậu hiện nay, hiện vẫn còn vài nhà. Bên phải ảnh là đường Ngô Đức Kế hiện nay. Chú thích của bưu thiếp ghi "Quảng trường Chợ Cũ (viết hoa) và Tượng Gambetta - Ảnh tư liệu 


Đường Hồ Tùng Mậu, mặt sau chợ Bến Thành cũ sáng 7-10. Tòa nhà Bitexco bên phải ảnh hiện nay là nơi mấy chị tiểu thương chợ chồm hổm ngồi khi xưa và là nơi đặt tượng Gambetta sau này - Ảnh: M.C. 


Khu vực đặt tượng hiện nay là tòa nhà Bitexco cao nhất TP.HCM. 

Ở đây không được bao lâu, cả khối tượng đài phải dời sang nơi ở cuối để dành chỗ cho tòa nhà kho bạc (tresor). 

Nơi ở cuối cùng: Vườn Ông Thượng hay Vườn Bờ-rô 

Tức là công viên văn hóa Tao Đàn hiện nay và được đặt phía sau khá vắng và ít người qua lại. 

Theo bản đồ Sài Gòn 1947, tượng được đặt giữa đường Trương Định đoạn qua Công viên Tao Đàn, ngã tư với đường nội bộ trong công viên giữa Cách Mạng Tháng Tám và Huyền Trân công Chúa hiện nay (hiện nay xung quanh khu vực này vẫn còn một lối đi nhỏ vòng quanh khu đặt tượng đài). 


Nơi ở cuối cùng của tượng đài Gambetta: cuối Vườn Ông Thượng/Vườn Bờ-Rô (công viên văn hóa Tao Đàn hiện nay) - Ảnh tư liệu 


Cám cảnh số phận long đong của tượng đài này, người Sài Gòn xưa có câu ca dao: Trên Thượng thơ bán giấy (ly hôn-NV) - Dưới Thủ Ngữ treo cờ - Kìa Ba (tượng đài Gambetta-NV) còn đứng chơ vơ - Nào khi núp bụi, núp bờ - Mủ di đánh dạo bây giờ bỏ em. 

Thượng thơ là dinh Thượng Thơ (hiện vẫn còn ở góc ngã tư Đồng Khởi - Lý Tự Trọng); cột cờ Thủ Ngữ cũng còn ở góc sông Sài Gòn - rạch Bến Nghé, cụ thể ở chân cầu Khánh Hội, góc đường Hàm Nghi hiện nay. 

Câu ca dao này được nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển chép trong Sài Gòn năm xưa: Thượng thơ, Phó Soái - Thủ Ngữ treo cờ, hò, hơ, - Bu-don (bouillon), ỏm lết (omelette), bí tết (beaf steak), xạc xây ờ (sacré) - Mũ ni (menu) đánh đạo, bây giờ mày bỏ tao ơ! Hớ hơ. 

(Cụ Vương Hồng Sển chú giải đó là lời của một chị bếp (...) "vừa tế nhị, bình dân. Đố ai sửa chữa hoặc thêm bớt được chữ nào. Ban đầu chị kể đường dài thậm thượt từ trước dinh Thượng thơ trải qua dinh Phó Soái, đoạn đến bờ sông... kể các thức ăn gồm hầm bà lằng xạc xây (sacré) và hổ lốn: nào nước xúp bù don, nào hột gà chiên ỏm lết, nào thịt bít tết... Vừa kể chị vừa nhắc ngày thường chồng vợ nhỏ to thủ thỉ luận câu đạo đức, té ra mấy câu “đánh đạo khuyên đời” này mới rõ dẫu chép ra ắt không đầy tờ giấy lộn ra món ăn (menu): khổ ơi là khổ"). 

Riêng Ba (tượng Gambetta) thì trên bản đồ Sài Gòn 1947 vẫn còn. 

Sau đó, khi cuộc kháng chiến chống Pháp lan rộng, kết thúc của tượng khá thê thảm và... bi hài: "chánh phủ Pháp muốn thâu dụng số đồng dùng vào chiến tranh, sai thợ nấu lão Gambetta, thì hỡi ôi! Thân lão là ersatz, đồ đồng giả, không dùng được..." (Vương Hồng Sển - Sài Gòn năm xưa). 


3 vị trí tượng đài Gambetta trên bản đồ TP.HCM hiện nay: (1) Tượng Gambetta tại Sài Gòn ban đầu nằm giữa đường Norodom (nay là Lê Duẩn) và Pellerin (nay là Pasteur); (2) Tượng Gambetta nằm giữa 4 con đường: mặt trước là Đại lộ Charner (Nguyễn Huệ ngày nay), mặt sau là đường Georges Guynemer (nay là Hồ Tùng Mậu), phía bên phải là đường Vannier (nay là Ngô Đức Kế) và bên trái là Đường Phủ Kiệt (nay là Hải Triều); (3) Tượng Gambetta đặt giữa đoạn đường Trương Định khi chạy qua Công viên Tao Đàn - Đồ họa: T.Thiên 


M.D 

Ông lão lang thang được xây miếu thờ

đăng 08:11, 17 thg 10, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Từng là một lão nông lang thang, chuyên làm thuê cuốc mướn kiếm sống qua ngày. Không tên tuổi, không người thân thích, chết bên gốc cây, thế nhưng khi chết cụ lại được người dân địa phương gom góp tiền bạc xây miếu thờ khang trang, tạc tượng đồng thờ cúng. Người dân địa phương gọi đây là miếu Cố.

Miếu Cố được nhân dân đóng góp xây dựng khang trang. 


Nằm cách quốc lộ 1A khoảng 500m, miếu Cố được xây dựng khang trang, với khuôn viên rộng rãi thuộc địa phận khối 9, thị trấn cầu Giát (huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Chẳng ai biết chủ nhân ngôi mộ tên gì, bao nhiêu tuổi, quê ở đâu, theo những người cao tuổi nhất ở địa phương thì lúc họ lớn lên đã nghe các cụ xưa kể đã thấy ngôi mộ nằm ở đó.

Tượng đồng cụ Cố được đặt ngay giữa điện thờ. 


Bà Đặng Thị Thạch, thành viên của ban trông coi miếu Cố cho biết, không ai trong làng biết rõ tung tích về Cố. Lúc nhỏ tôi thường được nghe kể rằng, cụ là một lão bần nông chuyên đi làm thuê cuốc mướn ở khu vực cầu Giát để kiếm ăn qua ngày, tài sản duy nhất của cụ là một chiếc cuốc dùng làm việc.

Không có người thân, nhà cửa nên mỗi tối sau một ngày làm thuê, cụ lại về gốc cây đa cổ thụ nằm nghỉ ngơi. Vào một ngày nọ, người ta không thấy cụ đi làm tìm đến gốc cây thì thấy cụ đã chết. Dân làng thương tình mua chiếc chiếu quấn lại rồi đem chôn ngay cạnh gốc cây đa. Cụ chết được một thời gian thì cây đa cũng héo dần rồi chết”.

Xung quanh Miếu còn có hòn non bộ. 


Ngày ấy, mộ cụ Cố chỉ là một ụ đất, nằm bên cạnh gốc đa, cỏ mọc um tùm, xung quanh là đồng ruộng. Người dân đi qua về lại thương tình vì không người hương khói thường lấy nắm đất, hòn đá đặt lên, dần dần tạo thành một ngôi mộ lớn. Người dân cho rằng mộ cụ rất linh thiêng, khi bị mất trâu bò, hay gặp chuyện xui xẻo thường tìm đến cầu khấn thì thấy linh nghiệm.

Theo bà Thạch, vào thập kỷ 90, làng này có nhiều nhóm người dân làm nghề nấu vôi, ông Bùi Văn Á ở làng cũng xây lò vôi nhưng cả hai lần đầu nấu đều bị sống. Ông Á đã đến mộ Cố cầu xin cho mẻ vôi tiếp theo chín sẽ dùng vôi đó xây mộ cho cụ. Quả nhiên, mẻ vôi thứ 3 chín như mong muốn. Ông Á đã gọi con cháu ra xây tường bao quanh mộ cho cụ. Sau đó ông Á tiếp tục đứng ra kêu gọi người dân khắp nơi đóng góp để lăng mộ cho cụ.

Cổng vào miếu Cố. 


Sau 3 lần xây dựng, bằng công sức và tiền bạc của người dân quyên góp, năm 2005 miếu Cố được hoàn thành. Phía trên ngôi mộ được lát gạch màu đỏ, cao ráo, sạch sẽ. Trên cùng là bức tượng khắc họa chân dung cụ Cố theo mô phỏng của các cụ cao niên. Phía dưới nền lát gạch hoa, bên trên còn đặt một chiếc chiếu rộng để cho người dân đến dâng hương, cầu khấn. Với diện tích 500 m2, không gian Miếu Cố trở nên thoáng đãng, thanh tịnh.

Nghe tiếng miếu Cố linh thiêng, người dân khắp nơi tìm đến hương khói, cầu an, cầu lộc. Cũng có người đến vì đồng cảm cho người đàn ông bạc phận, chết đói chết rét, không người thờ phụng. Cứ đến ngày rằm, mồng một, hàng trăm lượt người từ khắp nơi từ Quỳnh Lưu, Hoàng Mai, Diễn Châu, Yên Thành, T.P. Vinh tìm về thắp hương. Đầu năm 2016, một số người dân đã góp tiền đúc tượng đồng cho cụ.

Khách thập phương qua đây thường tìm đến miếu Cố thắp hương, cầu khấn. 


Chị Nguyễn Thị Hồng ở xã Diễn Mỹ chia sẻ: “Vào ngày rằm và mồng Một hàng tháng tôi thường đến miếu Cố thắp hương cầu an cho gia đình, chuyện miếu linh thiêng hay không thì tùy theo quan niệm tâm linh của mỗi người nhưng mỗi lần đến đây tôi thấy tâm mình nhẹ nhàng, yên tĩnh. Nhiều người tìm đến miếu không chỉ để thắp hương mà còn vì tò mò vì sao một ông lão bần nông nghèo khổ lại được người dân xây điện thờ hoành tráng”.

Hiện nay, khối 9 Thị trấn Cầu Giáp đã lập ra ban trông coi miếu Cố, các thành viên trong ban đứng ra bảo vệ, dọn dẹp và hương khói.

Lan Thái

Cao Biền ở đất Phú Yên

đăng 05:54, 12 thg 9, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Cao Biền (821-887) là một danh tướng đời nhà Đường. Tên tuổi Cao Biền gắn với những truyền thuyết huyền hoặc của người Việt. Những truyền thuyết ấy kể rằng Cao Biền thấy ở đất Giao Châu có nhiều kiểu đất đế vương, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét, rồi dùng phép thuật phá những nơi có hình thế sơn thủy đẹp, và chặn những đất có long mạch bằng cách đào những giếng khơi rất sâu.

Truyền thuyết núi Cánh Diều ở Ninh Bình kể rằng Cao Biền thường cưỡi diều giấy đi dò phá long mạch nước Nam, khi bay đến đất Hoa Lư đã bị một đạo sĩ cùng nhân dân ở đây dùng tên bắn, Cao Biền bị trọng thương, diều gãy cánh rơi xuống một hòn núi, từ đó hòn núi mang tên là núi Cánh Diều.


Ở Phú Yên có một gò cát và đất sỏi gọi là mả Cao Biền.


Mả Cao Biền ở Tuy An. Ảnh: Trần Quỳ trên Báo Phú Yên online


Mả Cao Biền là một gò cát và đất sỏi đá nhô lên như một ngọn đồi thấp ờ thôn Đồng Môn, xã An Hải, huyện Tuy An, Phú Yên. Trên đỉnh đồi có một cồn cát nổi cao, trải qua bao nhiêu năm tháng vẫn giữ nguyên không hề bị xói mòn. Dân gian có câu ca dao:


Cao Biền táng tại Đồng Môn

Trên sơn, dưới thuỷ trời chôn Cao Biền.


Ấy, nhưng Cao Biền đi đâu mà chết chôn ở Tuy An, Phú Yên? Lịch sử có ghi rằng Cao Biền được cử sang xứ Giao Châu dẹp loạn ở nước Nam Chiếu (thời bấy giờ vùng đất Phú Yên thuộc nước Nam Chiếu chứ không phải nước Giao Chỉ). Có một bài vè kể lại chuyện này. Đoạn đầu kể về xuất thân của Cao Biền, sang đất Nam trấn yểm long mạch:


Cao Biền từ thuở nhà Đường

Biệt tài địa lý, thạo luôn phép màu
Bút thần biết ở cung sâu
Xin vua chọn bút ngõ hầu mưu toan
Vẽ diều rồi điểm mắt Loan
Cỡi chim vượt núi phương Nam đi tìm
Hàm Long, Long Đổ kỳ duyên
Trấn yếm linh huyệt giữ quyền trị dân

Khi Cao Biền cỡi diều bay tới đất Phú Yên thì người dân biết chuyện, ra sức chống cự:


Tiếng đồn lan khắp xa gần
Nơi này biết được hợp quần cùng lo
Mua cung lớn, sắm ná to
Chờ cho Biền đến bắn cho nát diều

Thế rồi đến một buổi chiều
Họ Cao ngất ngưởng phiêu diêu lưng trời
Bỗng nhất loạt, bắn khắp nơi
Rừng tên vây phủ làm rơi diều thần
Ô Loan từ ấy hoá thân
Mắt thành ngọc điệp, vảy chân sò, hàu
Bộ lông hoá kiếp rau câu
Tạo nên đặc sản hàng đầu quê ta


Đầm Ô Loan. Ảnh: Báo Ảnh Việt Nam


Đó là sự tích phát sinh ra đầm Ô Loan. Người ta kể rằng con diều - có nơi nói là con quạ - bị bắn rơi xuống vẫy vùng trước khi chết làm thành một vùng trũng, sau này thành đầm Ô Loan (mả Cao Biền nằm ở không xa phía Đông đầm Ô Loan). Và cho rằng tên Ô Loan là do tích này mà ra (Ô là con quạ, Loan là chim loan như trong câu Vẽ diều rồi điểm mắt loan).


Cao Biền về cõi tha ma

Nắm xương gửi lại không xa vùng đầm
Chiếc giày thuở ấy âm thầm
Rơi trên vách đá bao năm vẫn còn
Cái mũ thì rớt cao hơn
Cách mấy hòn núi là hòn Mão đây.

Còn Cao Biền thì rớt xuống chết ở vị trí nay là mả Cao Biền, đất cát vùi lấp thành gò. Đoạn cuối bài vè còn kể về sự tích phát sinh hòn Mão, dấu giày trên gành Cây Sung...


Ngày nay mả Cao Biền, hòn Mão, gành Cây Sung vẫn còn đó, riêng đầm Ô Loan còn là thắng cảnh quốc gia và có những món hải sản tuyệt ngon, như sò huyết đầm Ô Loan.


Theo sử Trung quốc, Cao Biền về Tàu và bị cấp dưới là Lã Dụng Chi hãm hại, bị giết vào năm 887 ở Dương Châu (Trung quốc). Vì vậy, mả Cao Biền ở Phú Yên chắc chắn không phải là nơi chết của ông ta rồi. Sự tích đầm Ô Loan, hòn Mão... cũng chỉ là huyền thoại, không có bao nhiêu phần trăm là sự thật. Có điều ngồi trên đầm Ô Loan thưởng ngoạn cảnh đẹp, thưởng thức món sò huyết ô loan nổi tiếng và nghe kể chuyện huyền thoại thì cũng thú vị lắm chứ, phải không các bạn?


Đầm Ô Loan. Ảnh: PHN


Một bữa ăn hải sản trên đầm Ô Loan. Ảnh: PHN


Phạm Hoài Nhân

Theo tư liệu của ông Nguyễn Đình Chúc và báo Phú Yên

Dấu chân chúa Nguyễn bên bờ sông Thạch Hãn

đăng 03:35, 9 thg 9, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Nguyễn Hoàng (1525 - 1613), tức là Chúa Tiên, là người tiên phong mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía nam, mở đầu cho việc hùng cứ phương nam của chín đời Chúa Nguyễn, lập nên vương triều nhà Nguyễn.

Nguyễn Hoàng (sinh tại Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa) là con trai thứ hai của Nguyễn Kim (1468 - 1545) và bà Nguyễn Thị Mai (quê ở Hải Dương). Theo phả hệ họ Nguyễn ở Gia Miêu, ông là hậu duệ của Nguyễn Bặc.

Năm 1527, khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê, Nguyễn Kim phải tránh sang Lào, xây dựng lực lượng, tìm cách khôi phục nhà Lê. Lúc ấy Nguyễn Hoàng mới lên 2 tuổi, Nguyễn Kim để Nguyễn Hoàng lại cho em ruột là Nguyễn Ư Dĩ nuôi dưỡng.

Lúc Nguyễn Hoàng 20 tuổi, Nguyễn Ư Dĩ thường khuyên Nguyễn Hoàng lập công danh sự nghiệp. Nguyễn Hoàng làm quan dưới triều Lê, lập nhiều công lớn, được vua Lê Trung Tông phong tước Thái úy Đoan Quốc Công.

Năm 1545, Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đầu độc, quyền lực trong triều đình Hậu Lê rơi vào tay Trịnh Kiểm, anh trai Nguyễn Hoàng là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết, Nguyễn Hoàng cho người tìm đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để xin lời khuyên, Trạng Trình nói: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.

Ông nhờ chị ruột mình là Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin Chúa Trịnh cho vào trấn thủ đất Thuận Hoá (từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế ngày nay). Trịnh Kiểm thấy Thuận Hóa là nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi nên Trịnh Kiểm đã đồng ý, bèn tâu vua Lê Anh Tông nên cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ (1558).

Năm 1558, Nguyễn Hoàng đem gia quyến cùng các tướng Nguyễn Ư Dĩ, Mạc Cảnh Huống, Văn Nham, Thạch Xuyên, Tường Lộc, Thường Trung, Vũ Thì Trung, Vũ Thì An và hàng nghìn đồng hương thân tín Thanh - Nghệ xuống thuyền vào nam. Đoàn thuyền đã đi vào cửa Việt Yên (nay là Cửa Việt), đóng trại tại Gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) và đã chọn nơi này để lập thủ phủ gọi là dinh Ái Tử.

Năm 1569, Trịnh Kiểm phong cho Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân kiêm quản cả Xứ Quảng Nam và Xứ Thuận Hóa. Tháng 01 năm 1570, Nguyễn Hoàng dời dinh về làng Trà Bát, nằm gần Ái Tử, chếch về phía đông bắc, cạnh bờ tây sông Thạch Hãn (nay là làng Trà Liên Tây, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong). Gọi là Dinh Trà Bát. Năm 1600, ông mới dời dinh sang phía đông của dinh Ái Tử, gọi là Dinh Cát.

Làng Trà Liên Tây


Nơi xưa kia, chúa Tiên lập dinh Trà Bát.


Sông Thạch Hãn chảy qua làng Hậu Kiên (cạnh làng Cổ Thành và chợ Sãi xưa) thì uốn cong 90 độ về hướng tây một đoạn lại quanh 90 độ tiếp vè hướng bắc. Ở khúc quan thứ hai, dòng sông bị xói lở (dù đã bị đập Trấm ngăn sức nước chảy từ nguồn về). Ảnh chụp ngày 26/4/2016 ở vị trí làng Tiền Kiên, nơi bờ sông có những mảnh vỡ bằng sành, có thể là dấu tích của vùng sản xuất gốm xa xưa. Tả Kiên và Tiền Kiên nằm về phía nam của làng Trà Liên Tây, vị trí của dinh Trà Bát ngày xưa.


Am nhỏ, nơi đặt tượng ngài Nguyễn Ư Dĩ nằm trong khuôn viên đình làng Tà Liên Tây hiện nay.


Tượng Thái phó Nguyễn Ư Dĩ.


Vùng Trà Bát xưa, đến nay vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại và một số di tích sau hơn 400 năm và những thời gian chiến tranh ác liệt tàn phá. Các bạn có thể đọc thêm một số thông tin từ báo chí, như:


Rải rác ở khu vực làng Tiền Kiên ngày nay vẫn còn dấu tích những ngôi mộ cổ của những người Chăm (châu Ô, châu Rí) từ trước khi Chúa Tiên vào đây dựng nghiệp.




Mai Lĩnh - Nguyễn Hiếu

Sự tích cảm động về chiếc khèn Mông

đăng 17:23, 7 thg 9, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Chiếc khèn tồn tại lâu đời và mang đậm bản sắc văn hóa của cộng đồng người Mông Nghệ An. Xung quanh chiếc khèn ấy còn chứa đựng câu chuyện cảm động về tình ruột thịt, anh em.

Đang ngồi lau chùi lại chiếc khèn lớn treo trên vách nhà, già làng Lầu Xái Phia (bản Nậm Khiên – Nậm Càn – Kỳ Sơn) bảo rằng: “Đời sống của người Mông không thể tách rời khỏi tiếng khèn. Tiếng khèn là tiếng nói của người Mông ta đó”.

Cây khèn luôn gắn bó với cuộc sống người Mông ở miền Tây xứ Nghệ. 


Xoay quanh câu chuyện về chiếc khèn và nguồn gốc ra đời, cụ Xái Phia kể: Ngày xưa, trong một gia đình nọ có 6 anh em mồ côi cha mẹ nhưng họ biết yêu thương nhau hết mực. Họ đi đâu cũng có nhau, chẳng bao giờ chịu chia xa.

Một năm nọ, trời làm lũ lụt, mùa màng mất hết, đói kém xảy ra khắp nơi. 6 anh em cùng dân làng di tản lên vùng núi cao để tránh lũ và kiếm cái ăn. Tuy nhiên, 4 trong số 6 anh em đã không thể vượt qua được cơn lũ tàn khốc nơi rừng núi. Còn lại 2 anh em, thì 1 người bị dòng nước đẩy sang phía bên kia sông, nơi người chết nhiều vô số kể, những sọ dừa nằm lăn lóc dưới chân làm cho người em vô cùng sợ hãi.

Người Mông gửi gắm tất cả tâm tình của mình trong tiếng khèn. 


Trong cảnh chia lìa, không thức ăn, nước uống, 2 anh em tưởng đã đến bước đường cùng, họ nghĩ đến cái chết đang đợi mình phía trước. Nhưng trước lúc chết, người anh muốn gửi những lời yêu thương đến với người em của mình đang ở bên kia dòng lũ. Anh bèn lấy xương người chết mài thành dao cắt một cây nứa làm sáo.

Khi cây sáo được làm xong, anh thổi lên nhưng cảm thấy thiếu mất một thứ gì đó rất thiêng liêng. Tiếng sáo của anh vút lên chỉ nói được tiếng nói của bản thân mà chưa hòa nhịp được với tiếng nói của những anh em mình. Sau một hồi suy nghĩ, anh làm tiếp 5 cái nữa tượng trưng cho tiếng nói của 5 anh em còn lại.

Chiếc khèn của người Mông mang trong mình biểu tượng về nghĩa tình anh em, thể hiện một trong những nét văn hóa giàu bản sắc của cộng đồng dân tộc này. 


Sau khi gắn kết sáu cây sáo với nhau, người anh cả thổi lên thấy nỗi lòng mình hòa nhịp với tiếng nói của các em. Tiếng khèn vang trong rừng núi nói lên nỗi niềm của người Mông từ khi sinh ra cho đến lúc về thế giới bên kia. Cái ngắn nhưng to nhất gọi là “đí lua” tượng trưng cho người anh cả, cái dài nhất là “đí bùa” tượng trưng cho anh thứ hai, cái thứ 3 là “đí từ”, cái thứ 4 là “đí sờ”, cái thứ 5 là “đí tờ”, cái nhỏ nhất là em út “đí trồ”.

Trong đám tang của người Mông không thể thiếu tiếng khèn. 


Tiếng khèn của người anh bay khắp núi rừng làm cho chim chóc, thú vật ngỡ ngàng không hiểu vì sao hôm nay lại có âm thanh hay đến như vậy. Các con vật khắp nơi rủ nhau kéo đến xem rất đông. Chúng đều ngỏ ý muốn xin người anh một cái để thổi. Người anh ra điều kiện, nếu con vật nào giúp 2 anh em đoàn tụ thì sẽ cho con vật đó cây sáo lớn nhất.

Cả vượn và diều hâu đều xung phong đưa người qua sông nhưng loài diều hâu chỉ biết dùng móng vuốt của mình nâng đỡ cho người anh còn loài vượn ra sức cõng người anh trên lưng bơi qua dòng nước lũ. Sau khi qua được sông, gặp lại người em, xét công lao của hai con vật, người anh tặng vượn cây sáo to nhất, kêu vang và hay nhất là cái “y lua”, còn loài điểu ưng được tặng cái nhỏ hơn. Chính vì lẽ đó mà loài vượn mới có tiếng kêu vang và hay như bây giờ.

Trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Mông không bao giờ thiếu tiếng khèn. 


Ngồi trầm lặng bên bếp lửa, cụ Lầu Xái Phia nói: “Từ bao đời nay, người Mông ta đều thể hiện nỗi lòng của mình vào tiếng khèn. Thổi khèn để trai gái yêu nhau, thổi khèn để hồn vía tổ tiên về đoàn tụ với gia đình, để linh hồn người chết được siêu thoát…”

Đào Thọ

Bến Ba Nghè và sự tích một vùng đất học

đăng 17:12, 7 thg 9, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Bến Ba Nghè là địa danh gợi niềm tự hào về truyền thống hiếu học của một làng quê thuộc xã Thanh Giang (Thanh Chương). Dòng chảy thời gian đã đi qua hàng mấy thế kỷ, cảnh vật đã mấy lần đổi thay nhưng truyền thống ấy luôn được người dân nơi đây lưu giữ.

Bên ấm chè xanh nóng hổi, tỏa hương thơm phức, ông Phạm Sỹ Bớ - tộc trưởng họ Phạm, là hậu duệ của Phạm Kinh Vỹ, người từng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa thi năm Giáp Thìn (1724) giải thích cặn kẽ cho khách về gốc tích của xóm Ba Nghè: “Tên gọi xóm Ba Nghè bắt nguồn từ bến Ba Nghè ở phía trước làng, ngày xưa có 3 vị tiến sỹ của đất Thổ Hào này ghé thuyền về vinh quy bái tổ”.

Bến Ba Nghè - tương truyền là nơi ghé thuyền của 3 vị tiến sỹ quê xã Thổ Hào (Thanh Giang- Thanh Chương ngày nay). 


3 vị tiến sỹ đất Thổ Hào xưa (nay là xã Thanh Giang) là Nguyễn Tiến Tài (đăng khoa năm 1664), Phạm Kinh Vỹ (đăng khoa năm 1724) và Nguyễn Lâm Thái (đăng khoa năm 1739). Nhà thờ Nguyễn Tiến Tài hiện ở xóm Tiên Cầu, nhà thờ Phạm Kinh Vỹ ở xóm Ba Nghè, đều đã được UBND tỉnh công nhận là di tích lịch sử - văn hóa. Còn tiến sỹ Nguyễn Lâm Thái được bà con nhân dân xóm Bàu Sen quyên góp tiền của, công đức xây dựng miếu thờ, quanh năm hương khói.

Nhà thờ Tiến sỹ Nguyễn Tiến Tài - di tích lịch sử- văn hóa cấp tỉnh. 


Bến Ba Nghè thuộc sông Hói Nậy, dòng sông chảy về từ các xã giáp biên giới Việt - Lào và hợp lưu với sông Lam tại xứ Phuống (Thanh Giang). Ngày trước, điểm hợp lưu được xác định ở đầu xóm Ba Nghè này nay, cách bến khoảng 200m. Nhưng trải qua hàng trăm năm với bao biến động, vị trí hợp lưu bây giờ nằm ở địa phân xã Thanh Lâm, cách đó chừng 3km.

Dấu tích bến Ba Nghè vẫn còn hiện hữu, là doi đất nhô ra phía hữu ngạn, mấy thế kỷ trước, 3 vị tiến sỹ đất Thổ Hào đã vượt sông Lam, đi vào dòng Hói Nậy và ghé thuyền tại đây để bước về làng làm lễ vinh quy bái tổ. Và xóm có bến Ba Nghè được đặt tên là xóm Ba Nghè, tên gọi dân dã nhưng chứa đựng biết bao niềm tự hào...

Nhà thờ Phạm Kinh Vỹ - di tích lịch sử- văn hóa cấp tỉnh. 


Nối mạch nguồn hiếu học từ đời xưa, con cháu Ba Nghè ngày nay hiểu được những giá trị của truyền thống và ra sức bồi đắp cho truyền thống ấy ngày một dày thêm. Chưa có con số thống kê chính xác, áng chừng số người có bằng đại học là con cháu của làng không dưới 50, trên 10 người có bằng thạc sỹ và 6 người có bằng tiến sỹ.

Để khuyến khích sự học, xóm đã xây dựng được quỹ khuyến học trao thưởng cho các em có thành tích học tập tốt vào dịp Tết Trung thu. Các dòng họ đều vận động xây dựng nguồn quỹ này để động viên con cháu cố gắng vươn lên trong học tập. Bởi lẽ, người Ba Nghè quan niệm, thành công của một người không chỉ là niềm vui của gia đình, mà của cả dòng họ và làng xã.

Nhà thờ họ Trần Sỹ ở xóm Ba Nghè (Thanh Giang- Thanh Chương). 


Ngày nay, nói đến truyền thống hiếu học ở miền quê Thanh Giang, người dân nơi đây thường kể đến dòng họ Trần Sỹ. Trong số 6 tiến sỹ có gốc gác ở Ba Nghè thì có tới 5 người là con em của dòng họ này. Riêng gia đình ông Trần Sỹ Xân có 2 con là Trần Sỹ Bùi Quang và Trần Sỹ Bùi Trung vừa mới bảo vệ thành công luận án tiến sỹ.

Con cháu thành đạt đều trở về góp phần xây dựng từ đường, khuôn viên của dòng họ ngày một khang trang, bề thế. Tiến sỹ Trần Sỹ Kháng từng công tác tại Bộ Quốc phòng đang có dự định vận động những người thành đạt góp tiền khôi phục lại bến Ba Nghè. Ý tưởng này nếu trở thành hiện thực sẽ bồi đắp về truyền thống hiếu học của quê hương, và bến Ba Nghè sẽ là điểm dừng chân tham quan của du khách gần xa...

Công Kiên

Những di tích việc bức hại giáo dân ở Quảng Trị từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX

đăng 07:31, 21 thg 8, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Bức phù điêu tại lăng Tử Đạo Trí Bưu


Một số thông tin về việc cấm đạo ở Việt Nam từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX:
  • Ở Đàng Trong, 6 đời Chúa Nguyễn đã ban hành 8 sắc chỉ trong thời gian từ 1625 đến 1725.
  • Ở Đàng Ngoài, 7 đời Chúa Trịnh đã ban hành 17 sắc chỉ trong thời gian từ 1629 đến 1773.
  • Nhà Tây Sơn có 5 sắc chỉ cấm đạo do vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) ban hành 2 sắc chỉ và Cảnh Thịnh ban hàng 3 sắc chỉ. Đặc biệt, vua Quang Trung không ban hành một Sắc Chỉ nào. Quan Thái Phó Trần Quang Diệu là người chống lại việc cấm đạo. Ông chống đối lại việc bắt bỏ tù và đày đoạ các Giáo Sĩ và giáo dân. Vợ chồng Thái Phó (phu nhân là nữ tướng Bùi Thị Xuân) rất có cảm tình với các Giáo Sĩ Thừa Sai. Cuộc tàn sát năm 1798 ghê gớm hơn cả, với những màn tra tấn dã man như tẩm dầu vào các đầu ngón tay, hay đổ vào rốn, trước khi châm lửa, hoặc treo ngược đầu "tội nhân" xuống... Các cơ sở Công Giáo tại Bố Chính, Nghệ An, Thanh Hoá: nhà thờ, nhà xứ, tu viện, trường học, đều bị cướp phá, dân chúng chạy vào rừng trú ẩn lánh nạn.

Bia tưởng niệm Tử đạo tại La Vang.

  • Nhà Nguyễn: Vua Minh Mạng ban hành 7 sắcchỉ cấm đạo. Trong tổng số 117 vị hiển Thánh Tử Đạo, thì một nửa (58 vị) đã bị hành quyết trong vòng 20 năm trị vì của vua Minh Mạng. Vua Thiệu Trị ban 2 sắc chỉ. Vua Tự Đức ban 13sắc chỉ.
  • Những cuộc bức hại do nhóm Văn Thân (1885-1886): Lẽ ra, về lý thuyết, những cuộc bách hại đã chấm dứt (theo khoản 9 của hiệp ước Giáp Tuất) giữa Việt Nam và chính phủ Pháp ngày 15-3-1874, vua Tự Đức đã ký nhận "quyền tự do theo đạo và hành đạo của người Công giáo". Tuy nhiên lịch sử còn ghi chép là sau vua Tự Đức, sự bắt bớ cộng đoàn Công Giáo Việt Nam vẫn tiếp tục, không kém phần dữ dội tàn bạo, và diễn tiến trong hoàn cảnh rối ren khác biệt.

Gốc Đa ở La Vang.


Sau vụ Tôn Thất Thuyết mưu đánh úp Pháp ở thành Mang Cá nhưng thất bại, kinh thành Huế chìm trong biển lửa và chết chóc. Vua Hàm Nghi bỏ kinh thành chạy về Tân Sở, xuống chiếu Cần Vương kháng Pháp. Như một cục than hồng ném vào biển dầu, phong trào Văn Thân Cần Vương bùng lên khắp nơi, tự động tự phát, với khẩu hiệu "Bình Tây Sát Tả" lan rộng trên khắp ba miền Bắc Trung Nam. Chỉ trong mấy năm Văn Thân, số người bị tàn sát vì tín ngưỡng đã lên cao gần bằng tổng số tín hữu đã hy sinh trong hơn hai thế kỷ bách hại, từ đời các Chúa Trịnh Nguyễn cho tới hết đời Tự Đức.

Khi vua Cảnh Thịnh (1798) ra lệnh tàn sát các họ đạo, dân chúng, trên đường thoát nạn, bồng bế con cái chạy và ẩn nấp trong rừng La vang, và nơi đây theo tục truyền, đã được Đức Mẹ hiện ra an ủi và bảo vệ. (*)

(Các thông tin trên đây được lược trích từ trang www.nolaviet.com/cttdvn/lichsu/sacchi.html)

Đền thánh Tử Đạo ở Nhan Biều.


Nhà thờ Bố Liêu (xã Triệu Hòa) và bia Tử Đạo.


Tháp lăng Tử Đạo Trí Bưu.


Bia lăng Tử Đạo Trí Bưu


Quảng Trị là nơi có nhiều sự kiện tang thương, giáo dân phải hứng chịu nhiều hành động đàn áp, bức hại khủng khiếp. Ngày nay, cả thế giới đã biết đến thánh địa La Vang (nay thuộc xã Hải Phú, huyện Hải Lăng), nơi tương truyền Đức Mẹ đã hiện ra vào năm 1798. Nhưng ở Quảng Trị, hiện vẫn còn nhiều di tích khác ở Triệu Phong, mà nổi bật nhất là nhà thánh ở giáo họ Dương Lộc.

Các bạn có thể đọc lại những câu chuyện ghê rợn ở giáo xứ Trí Bưu vào ngày 07-9-1885 (nay thuộc thị xã Quảng Trị) và tại nhà thờ Dương Lộc vào ngày 08-9-1885 (nay thuộc xã Triệu Thuận):
***

Từ thị xã Quảng Trị đi thẳng đường Trần Hưng Đạo về phía bắc là tỉnh lộ 64, qua chợ Sãi, xuống đến làng Đại Hào (xã Triệu Đại), rẽ trái là đến địa phận xã Triệu Thuận. Từ đây, bất kỳ người dân nào cũng có thể chỉ đường cho lữ khách tìm đến di tích nhà thờ Dương Lộc, nằm bên đường đi về xã Triệu Độ, nơi có thể vượt qua sông Thạch Hãn bằng chiếc cầu phao dẫn sang thành phố Đông Hà.

Đến nơi, chúng tôi thực sự ngỡ ngàng khi nhìn thấy dấu vết ngôi nhà nguyện chỉ là một khung bê tông cốt thép vỡ gãy, trống trơ, dây leo mọc bám và cây cỏ phủ dày bên dưới. Cạnh đường là mấy đống gạch nằm ngổn ngang. 

Khung bê tông bảo tồn di tích nay trống trơ, gãy vỡ.


Cây dại che phủ di tích


Nhà thờ Dương Lộc nay chỉ còn lại mấy khối gạch bên đường cái.


Thắc mắc về việc nhà thờ Dương Lộc xây dựng vào những năm giữa thế kỷ XIX sao lại có bộ khung bê tông “hiện đại” như vậy, chúng tôi hỏi chủ nhân ngôi nhà kế bên nhưng không có được lời giải thích! Đi thêm 50 mét thì gặp nhà thánh tử đạo Dương Lộc được tu bổ mới mẻ, khang trang (vẫn giữ nét kiến trúc cũ). Ở đây, những thắc mắc được giải đáp sáng tỏ: Ngôi nhà thờ của giáo họ Dương Lộc thời xa xưa nay chỉ còn mấy khối gạch nằm chỏng trơ, công trình thời ấy gần như chỉ dùng gạch và vữa vôi; trước năm 1972, người ta đã đúc một bộ khung bê tông bao trùm toàn bộ nhà thờ để bảo tồn ngôi nhà thờ cổ, nơi đã xảy ra vụ đốt phá, thảm sát hơn 2500 người trong một ngày 08-9-1885! Nhưng sau năm 1972 thì bộ khung bê tông có mái che cho di tích cũng bị bom đạn tàn phá, tan hoang và “báu vật” là nhà nguyện cổ thì chỉ còn lại mấy khối gạch ngổn ngang nằm bên cạnh đường.

Số người bị tàn sát ngày 08-9-1885 (30-7- Ất Dâu) đã được chôn chung một nơi (cách hiện trường vụ thảm sát) khoảng 50 mét, sau đó đã được dựng lên ngôi nhà nguyện Các Thánh Tử Đạo Dương Lộc (năm 1912); người địa phương gọi là “Lăng Tử Đạo Dương Lộc”. Nhà nguyện này cũng bị hư hại nhiều do chiến tranh và đã được tu sửa lần gần đây nhất, hoàn thành vào năm 2007.

Lăng Tử Đạo Dương Lộc


Nhà nguyện Các Thánh Tử Đạo Dương Lộc


Bên trong nhà nguyện


Đây là nơi an nghỉ của 4 Linh mục, 65 Nữ tu và hơn 250 giáo dân.


Bia tưởng niệm các Thánh Tử Đạo Dương Lộc


Kỳ bí văn tự cổ trên vách đá giữa đại ngàn Trường Sơn

đăng 01:35, 15 thg 8, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm biệt lập giữa đại ngàn Trường Sơn, nơi thượng nguồn dòng A Vương (Tây Giang - Quảng Nam) hùng vỹ bắt đầu chảy về xuôi, vách đá bí ẩn khắc những dòng văn tự cổ tồn tại ngàn năm nay như một bài toán không có lời giải với nhiều chuyên gia văn hóa cũng như các nhà khoa học.

Huyền sử vách đá 

Từ xã Lăng, một xã biên giới của huyện Tây Giang, phải mất chừng 1 giờ đồng hồ vượt suối cắt rừng, băng qua những dòng nước xiết, chúng tôi mới tới được bản Achia - một cụm dân tộc Cơtu nơi thượng nguồn sông A Vương giáp nước bạn Lào, nơi có vách đá bí ẩn bên dòng suối A Vương. 

3 bản khắc chưa bị chìm (Ảnh: Thượng Hỷ). 


Thượng nguồn A Vương dòng suối luôn chảy xiết, tuy nhiên, ở nơi có vách đá là một vùng đồng bằng, khá phẳng lặng, vách đá cao chừng 7m, chưa tính chỗ nước ngập chừng 3m. Người ta chỉ nhìn thấy một vài dòng chữ còn nổi lên phía trên. Già làng Bhriu Clói, kể lại, thượng nguồn dòng A Vương vào mùa kiệt, có những chỗ trơ đáy, nhưng kỳ lạ, ngay nơi vách đá dựng đứng, nước luôn dâng đầy. 

Có 3 tấm đá nối liền nhau thành vách được khắc chữ viết. Đó là những dòng chữ bí ẩn có từ ngàn xưa, đến nay vẫn chưa ai giải mã được. Ngoại trừ phần lớn chữ khắc trên đá bị ngập nước, khoảng 4 dòng chữ còn lại nổi lên là những ký tự tượng hình, trông giống như chữ của người Chăm. 

Bức ảnh chụp của LePichon vào năm 1938 lúc dựng chòi nghiên cứu vách đá (Ảnh chụp tư liệu của anh Nguyễn Thượng Hỷ). 


Trong một bài viết đăng trên tạp chí Những người bạn Huế vào năm 1938, LePichon - một viên quan ba người Pháp chuyên nghiên cứu văn hóa Cơ tu thế kỷ trước, gọi những dòng chữ khắc trên đá ở bên bờ suối Lăng (ở xã Lăng, LePichon gọi là suối Lens. Kỳ thực, đây là thượng nguồn của một nhánh sông A Vương) là văn khắc trên đá ở Samo. 

Già làng Bhriu Clói chỉ nơi những cữ viết cổ còn sót lại trên vách đá, chưa bị chìm trong nước. 


Samo chính là một trong những đồn Pháp do LePichon lập nên. Làng Achia, một làng nhỏ của thôn Nal (xã Lăng) nằm chênh vênh lưng chừng núi A Vương, một trong hàng trăm ngọn núi trên dãy Trường Sơn. Chỉ vài chục hộ dân sống biệt lập, Achia gắn liền với huyền sử mang màu sắc thần thoại của những dòng chữ bí ẩn trên đá. Trải qua thời gian đằng đẵng, vật đổi sao dời, những dòng chữ cổ xưa vẫn như đang thách thức tất cả… 

Hành trình giải mã 

Theo nhóm nghiên cứu của anh Nguyễn Thượng Hỷ - chuyên gia nghiên cứu văn hóa Chămpa, 3 bản khắc Samo được ký hiệu A,B và C thì bản A dành cho nghi lễ hiến tế với từ châu báu, ngọc trai và từ trâu; bản C là danh mục, sồ lượng các đồ hiến tế và lập lại từ có thể là Trâu (kabav) bản B có từ Ya, đại từ "ai" tiếng Chăm cổ có nghĩa là thần, thánh. 

Trai làng Achia luôn bảo vệ vách đá đã bị chìm trong nước 


Tuy nhiên, suốt cả ba bản khắc không nêu danh tính vị thần được tôn vinh như các bia của người Chăm cổ thường thấy xuất hiện về thần chủ Siva, hoặc tên các vị vua. 

Làng Achia. 


Theo kết luận bài viết của Daoruang WITTAYARAT, tác giả mở rộng nhận định rằng, 3 bản văn khắc trên đá được phát hiện ở bờ sông A Vương, một nhánh chi lưu của sông Thu Bồn trong dãy Trường Sơn cách nhiều ngày đi bộ theo hướng tây bắc từ Mỹ Sơn tỉnh Quảng Nam kết nối với khu vực vùng thung lũng sông Mê Kông vùng Wat Phou thuộc tỉnh Chămpasak của Nam Lào. Đây là vùng đất quan trọng từ lâu xem như là nơi phải đi qua. 

Người làng Achia tin rằng, thần linh đang trú ngụ ở phía trên cây này. 


Anh Nguyễn Thượng Hỷ cho rằng, có thể với những từ “Trâu, châu báu…”, liên quan đến một sự trao đổi nào đó của người Chăm với người Cơtu. 

Một bản khắc chưa bị chìm. 


“Đây là chữ Chăm cổ, được khắc trên vách đá, nơi thổ địa của người Cơtu, tồn tại ngàn năm đến nay chắc hẳn phải có một bức màn bí ẩn của sự giao thương hai dân tộc. Có thể, người Chăm khi xưa là láng giềng thân thiện với tộc người Cơtu. Huyền sử con đường muối chính là minh chứng cho điều này. Tuy nhiên, tất cả đều chỉ là đoán định, bởi cả 3 bản khắc chúng ta mới chỉ dịch nghĩa được vài chữ, chưa nói lên điều gì” - anh Hỷ cho biết. 

“Chúng tôi đã cố gắng gửi nhiều bản đến các chuyên gia văn hóa, các giáo sư tiến sĩ ngôn ngữ trong nước của như ở Nhật, Singapore, Hàn Quốc… nhưng cho đến nay vẫn chưa ai giãi mã được. Hiện chúng tôi cũng chỉ biết cho người dân làng tự bảo vệ nghiêm ngặt” - ông Nguyễn Chí Toàn, Trưởng phòng Văn hóa thông tin huyện Tây Giang nói.


Nam Cường

1-10 of 16