Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Tướng quốc Nguyễn Xí và chuyện ‘mượn tên’ quân giặc Nguyễn Xí (1396-1465), sinh ra ở xã Thượng Xá, huyện Chân Phúc xưa, nay là xã Khánh Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông vốn quê gốc làng ...
    Được đăng 05:38, 5 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nam Châm, huyền tích và hiện thực Núi Nam Châm nay có các bể chứa sản phẩm của Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất vốn xưa đã ghi dấu ấn trong ca dao, lịch sử, với ...
    Được đăng 05:51, 9 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện Thầy Thím ở núi Sập Nhắc đến Thầy Thím là người ta nghĩ ngay đến Dinh Thầy Thím ở La Gi, Bình Thuận. Sự tích Thầy Thím nơi đây được truyền tụng rất nhiều, được ...
    Được đăng 05:34, 20 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện Tổng đốc Nghệ An Đào Tấn mời khách Tây xem tuồng ở Vinh Hầu tước Pierre François Sauvaire De Barthélemy (1870 - 1940) là một nhà văn quý tộc Pháp ưa mạo hiểm, đã từng chu du khắp thế giới. Trong chuyến đi đến ...
    Được đăng 00:53, 14 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Huyền thoại ông Đình Tây và cá sấu Năm Chèo Câu chuyện ông Đình Tây nuôi cá sấu Năm Chèo từ lâu đã trở thành huyền thoại linh thiêng gắn với giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương từ thời kỳ ...
    Được đăng 20:18, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Tướng quốc Nguyễn Xí và chuyện ‘mượn tên’ quân giặc

đăng 05:38, 5 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Nguyễn Xí (1396-1465), sinh ra ở xã Thượng Xá, huyện Chân Phúc xưa, nay là xã Khánh Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông vốn quê gốc làng Cương Gián, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (thân phụ là ông Nguyễn Hội, thân mẫu là Võ Thị Hạnh).

Năm lên 9 tuổi mồ côi cả cha lẫn mẹ, Nguyễn Xí theo anh đến ở làm gia nô cho cụ Lê Khoáng (thân phụ của đức Lê Lợi), một hào trưởng giàu có của vùng núi xứ Thanh. Ông rất thông minh, nhanh nhẹn, tỏ rõ người tài, có hùng chí. Vì thế, Lê Lợi rất quý trọng, giao cho Nguyễn Xí chăm sóc đàn chó săn hơn một trăm con.

Sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép rằng: “Vua sai Nguyễn Xí nuôi đàn chó săn gồm hơn 100 con. Sớm chiều chia cơm cho chó ăn, ông đều dùng chuông làm hiệu lệnh. Bầy chó theo sự điều khiển, huấn luyện của ông, tiến thoái răm rắp".

Bức tượng Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí tại đền thờ ông ở xã Khánh Hợp (Nghi Lộc). Ảnh: Đào Tuấn

Trong bước đường chiến chinh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đàn chó của Nguyễn Xí trở thành đội quân đặc biệt. Do được huấn luyện chu đáo, điều khiển bằng nhạc hiệu nên từ ăn, ngủ, tấn công, chúng đều theo hiệu lệnh.

Những lúc nghĩa quân bị vây hãm, hết lương thực, đàn chó đi săn thú, bắt chim về làm thức ăn. Khi xung trận, Nguyễn Xí điều khiển bầy chó lăn xả vào trận mạc làm quân giặc hoảng sợ, kinh hồn bạt vía. Tên tướng giặc Minh là Mã Kỳ, mỗi khi nghe đến đội quân khuyển của Tướng quốc Nguyễn Xí thì hết sức kinh hãi.

Trong giai đoạn cuối năm 1426 đến năm 1427 là thời kỳ Bộ tổng chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn mở các cuộc tổng tấn công quyết chiến chiến lược đại quy mô trên toàn tuyến, công thành, phá đồn, diệt viện, vì vậy, nhiều khi vũ khí không sản xuất kịp để cung cấp, bổ sung cho các cánh quân chủ lực, nhất là hàng vạn mũi tên bọc đồng.

Vì vậy, có lần Tướng quốc Nguyễn Xí đã nghĩ ra kế “mượn tên giặc”. Ngài cho buộc vào cổ đàn chó những chiếc đạc ngựa, khi chó chạy sẽ phát ra tiếng kêu như kỵ mã. Ban đêm, ông dẫn quân đến vây trại giặc Minh rồi cho đánh trống reo hò ầm ĩ, truy phong cho đàn khuyển chạy vòng quanh trại giặc.

Quân Minh nghe tiếng đạc ngựa, lại thấy tiếng trống thúc, quân reo dậy trời rất hốt hoảng tưởng bị tấn công, nhưng không rõ binh lực thế nào trong đêm tối hư hư, thực thực nên không dám ra đánh. Chúng đành dùng cung nỏ từ trong trại bắn ra như mưa. Cứ làm như vậy đến gần sáng, nghĩa quân thu nhặt được hàng vạn mũi tên.

Nghĩa quân Lam Sơn và Nhân dân hết lời ca ngợi Nguyễn Xí, xem việc lập kế lấy tên giặc không kém gì mưu của Khổng Minh dùng người rơm “mượn tên” của quân Tào trong trận Xích Bích thời Tam Quốc.

Trong 10 năm kháng chiến gian khổ, Nguyễn Xí cùng đàn chó của mình tham gia nhiều trận đánh quan trọng như cuộc vây hãm thành Đông Quan, hạ thành Xương Giang, hay như chiến dịch tiêu diệt và bắt sống gần 10 vạn quân Minh sang tăng viện tại Chi Lăng năm Đinh Mùi (1427)...

Để tôn vinh công lao Nguyễn Xí, dòng họ Nguyễn Đình và Nhân dân lập đền thờ ông vào năm 1467. Ảnh: Thành Cường

Khi sự nghiệp kháng chiến thành công, Lê Lợi lên ngôi Vua (Lê Thái Tổ), phong cho Nguyễn Xí làm Long Hổ thượng tướng quân, tước Huyện hầu, là bậc khai quốc công thần của triều Hậu Lê và được ban quốc tính (họ Vua).

Năm 1433 trước khi chết, Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã để lại di chiếu cho Nguyễn Xí phò tá Thái tử Lê Nguyên Long 11 tuổi lên nối ngôi (Vua Lê Thái Tông). Suốt 8 năm ở bên cạnh Vua làm phụ nhiếp triều chính, ngài đã hoàn thành xuất sắc di nguyện, khuông phò xã tắc, hộ quốc an dân, qua 2 niên hiệu Thái Bình, Đại Bảo.

Năm 1442, Vua Lê Thái Tông đột ngột băng hà, hoàng hậu và các đại thần lại tiến cử Thái bảo Nguyễn Xí (chức thứ 3 trong Tam thái) giúp rập ấu chúa Lê Băng Cơ mới hơn 1 tuổi lên nối ngôi (Vua Lê Nhân Tông).

Tháng 6 năm 1460, Nguyễn Xí cầm đầu nhóm các đại thần làm cuộc phản đảo chính lật đổ Lê Nghi Dân, cứu vương triều nhà Lê đang chìm trong loạn lạc và oan khuất. Đưa Hoàng tử Lê Tư Thành (Hoàng tử thứ tư của Vua Lê Thái Tông) lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Lê Thánh Tông (thuần Hoàng đế). Mở ra triều đại cực thịnh, phát triển trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam…

Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí làm quan trải qua 4 đời vua, nắm giữ những chức vụ quan trọng của triều đình như Thái bảo, Thái phó bình chương quân quốc trọng sự (Tể tướng), Nhập nội hữu tướng quốc (Tể tướng thứ nhất), đến Thái úy, tước Quỳ quận công.

Năm Ất Dậu (1465), ông lâm bệnh rồi mất, thọ 69 tuổi, triều đình truy phong là Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, thượng, thượng, thượng đẳng phúc thần.

Đền thờ Nguyễn Xí là một công trình kiến trúc, nghệ thuật đặc sắc. Ảnh: Thành Cường

Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí là bậc quân thần 2 lần khai quốc, ông là người văn, võ song toàn, một lòng vì nước, vì dân.

Tưởng nhớ, tri ân công lao Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, năm 1467 dòng họ và nhân dân đã xây dựng ngôi đền mang tên ông trên mảnh đất quê hương ở xã Nghi Hợp (nay là Khánh Hợp), huyện Nghi Lộc. Công trình có giá trị kiến trúc, nghệ thuật cao, được công nhận Di sản văn hóa lịch sử cấp Quốc gia năm 1991. Đặc biệt, vào ngày 31/12/2020, đền thờ Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí được Nhà nước công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt. Hàng năm vào các ngày 29, 30 tháng Giêng và mồng 1 tháng 2 âm lịch, nhân dân trong vùng đều nô nức tham gia lễ hội đền.

Đánh giá về Thái sư Cương Quốc công Nguyễn Xí, Vua Lê Thánh Tông từng viết: “…Khí độ trầm hùng, tính người cương đại. Giúp Cao Hoàng (Vua Lê Lợi) khi mở nước trăm trận gian nan, phò Tiên khảo (Vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông) giữ giang sơn, hết lòng giúp rập; ra ngoài thì trọn chức tướng võ, vào trong thì vẹn phận tướng văn, nghĩa tôi con thật khó có ai sánh kịp… Các quan đều tưởng mộ phong thái, bốn biển đều ngưỡng vọng uy danh…”.

Đình Cương (Sưu tầm)

Nam Châm, huyền tích và hiện thực

đăng 05:51, 9 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Núi Nam Châm nay có các bể chứa sản phẩm của Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất vốn xưa đã ghi dấu ấn trong ca dao, lịch sử, với nhiều huyền tích.

Một ngày những năm đầu thập niên chín mươi thế kỷ XX, tôi đến làng Trung An, xã Bình Thạnh (Bình Sơn) ngay bờ tây cửa Sa Cần. Bà cụ vợ ông Lê Văn Ba, cách mạng lão thành huyện Bình Sơn, hát cho tôi nghe nhiều câu ca dao thuở trước, mà bốn câu sau đây mới đầu tiên được nghe và chưa từng được ghi vào bất cứ sách vở nào: "Hòn Ông, hòn Kẽm, hòn Bà/ Hòn Ông ai đắp, Cổ Ngựa mà ai xây/ Ai làm đó hiệp cùng đây/ Núi Nam Châm há dễ một cây nên rừng".

Tất cả các “hòn” đều nằm ở chung quanh cửa Sa Kỳ - vịnh Dung Quất. Người ta mượn hình ảnh các núi ở ven biển để nhắn nhủ nhau, gửi gắm tâm sự cùng sống nương tựa nhau. Như núi sông, như cây rừng.

Núi Nam Châm nằm ở xã Bình Thuận (Bình Sơn) cao 135m, gồng mình ra biển, tạo nên mũi đất nhọn cùng tên. Núi được định danh bằng chữ Hán, có tên gọi như vậy từ thời xa xưa. Khi được phiên vào chữ quốc ngữ được ghi là Nam Trâm hay Lâm Châm. Có lẽ do thổ âm địa phương mà khi người ta phiên tên gọi này trong sách vở có khác nhau. Bản đồ An Nam đại quốc họa đồ của nhà sáng chế chữ quốc ngữ nổi tiếng là cố đạo Tabert ấn hành năm 1838 ghi là “mũi Lâm Châm”, trong khi bản đồ do chính quyền thực dân Pháp xác lập đầu thế kỷ XX ghi là “Cap Nam Trâm”. Cap là mũi đất, Trâm có lẽ là trệch âm của Châm. Cũng như vậy, theo quán tính phát âm người địa phương mà Nam Châm biến thành Lâm Châm.

Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi là núi Nam Châm và viết: “Nằm cách huyện Bình Sơn 25 dặm về phía nam. Núi gối lên bờ biển làm thành mỏm Nam Đẩu. Phía bắc gần mỏm Đầu Ngựa, phía nam gần mỏm Tổng Binh. Đỉnh núi rất cao, thuyền của nước Thanh (Trung Quốc) trên đường biển đi về nam thường dùng núi này làm mốc để định vị trí”. Hai chữ Nam Châm ghi bằng chữ Hán, trong đó chữ Nam có nghĩa là phía nam, còn chữ Châm nghĩa là cây kim, hay vật có đầu nhọn, hay kim chỉ hướng, nam châm là kim chỉ hướng Nam, gần với ý nghĩa mà sách Đại Nam nhất thống chí đã ghi.

Núi Nam Châm và các bể chứa sản phẩm dầu, nhìn từ bờ tây vịnh Dung Quất. ẢNH: CAO CHƯ

Bài Vè các lái của người buôn ghe bầu ra Bắc vào Nam có đưa điểm Nam Châm làm một dấu mốc để xác định hải trình: "Sa Cần, Châu Ổ bao xa/ Lâm Châm, Cây Quýt thiệt đà Tổng Binh".

Lâm Châm tức Nam Châm, còn Cây Quýt tức vịnh Kỳ Quýt hay vịnh Dung Quất. Tổng Binh là nơi tương truyền đóng hành dinh của vua Lê Thánh Tông trong cuộc Nam chinh lịch sử năm 1471. Trước đó, để chuẩn bị cuộc hành binh này, vua đã cho vẽ địa đồ và các địa danh trong vùng lưu truyền đến bây giờ rất có thể từ các sự kiện ấy mà ra. Phía bắc là mũi Nam Châm, phía nam là mũi Tổng Binh hay Phước Thiện choài ra biển lớn, ở giữa hai mũi bờ biển lõm vào, làm thành vũng Việt Thanh phía đông xã Bình Thuận và Bình Trị, cũng tức là phía đông NMLD Dung Quất.

Một sự kiện liên quan đến lịch sử ít người biết là tháng 11.1944, máy bay của phát-xít Nhật đâm đầu vào núi Nam Châm vỡ vụn, hai phi công nhảy dù bị cây nhọn đâm suýt chết, bọn quan binh Nhật và tay sai phải hối thúc dân đi cứu nạn. Từ đó mà người ta nghĩ núi có lực hút nam châm (có sức hút kim loại) và từ đó xuất hiện tên núi Nam Châm. Cách suy luận này mang đậm dấu ấn chủ quan, vì tên núi như đã nói có từ thời xưa, không phải sau này và máy bay Nhật rơi chắc hẳn vì một lý do khác, chứ không phải do nam châm (nếu có) ở núi hút.

Năm 2016, tôi đi dọc phía tây vịnh Dung Quất, nhìn về bờ đông vịnh, thấy núi Nam Châm vươn cao, lờ mờ trong sương khói và các bể chứa sản phẩm dầu dưới chân núi. Núi bây giờ mang dáng vóc công nghiệp. Giữa năm 2020, tôi đi dọc thôn Tuyết Diêm ngược ra hướng bắc xã Bình Thuận, đến mũi Cổ Cò nhọn như một mũi tên, nhìn xuống bãi biển cát vàng huyền ảo, lại nhìn về hướng nam thấy núi Nam Châm đứng vươn mình ra biển lớn thật kiên gan, hùng vĩ. Lại nhớ về huyền tích xa xưa.

Đi vào câu hát ca dao, vào sử sách, nằm gối đầu lên bờ biển và có dân cư sinh tụ chung quanh từ lâu đời, kỳ thực núi Nam Châm vốn có hệ động thực vật khá phong phú. Trên núi ngoài cây rừng còn rậm rịt các loại dây leo, đặc biệt là dây mây; từ đó núi trở thành nơi trú ẩn của nhiều loài động vật, đặc biệt có nhiều trăn, khỉ. Người địa phương kể, khi chèo thuyền dưới chân núi nhìn lên, thấy từng đàn khỉ dắt nhau đi hái trái cây ăn.

Do vị trí núi lại nằm ngay ở mé bắc NMLD Dung Quất, người ta cải tạo lại đất núi để xây dựng kho chứa sản phẩm của NMLD. Điều hết sức gây cảm xúc là trước đó, người ta còn thấy nhiều bầy khỉ dắt nhau xuống bãi cát biển để bắt cá, từ khi xây dựng kho chứa, khỉ cõng con dắt díu nhau đi đâu không ai biết. Chuyển từ hoang sơ đến công nghiệp phải có sự hy sinh không tránh khỏi và để lại nhiều niềm luyến tiếc không nguôi.

CAO CHƯ

Chuyện Thầy Thím ở núi Sập

đăng 05:34, 20 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Nhắc đến Thầy Thím là người ta nghĩ ngay đến Dinh Thầy Thím ở La Gi, Bình Thuận. Sự tích Thầy Thím nơi đây được truyền tụng rất nhiều, được ghi chép và kể lại khắp miền Trung và Nam bộ chớ không chỉ ở La Gi. Dinh Thầy Thím rất uy nghi, to rộng, có tiếng là linh thiêng, hàng năm đều có lễ hội trọng thể. Lại còn có cả khu mộ Thầy Thím nữa.

Câu chuyện về Thầy Thím được tóm tắt thế này: Thầy là một đạo sĩ tài năng, giàu lòng nhân ái ở Quảng Nam, Thím là vợ của Thầy. Do bị vua xử oan ức, Thấy và Thím cỡi rồng bay về phương Nam, đến trú ngụ tại làng Tam Tân, thuộc La Gi. Từ đó Thầy Thím ra sức giúp đỡ dân làng về nhiều mặt. Khi hai người mất, dân làng biết ơn nên lập dinh để thờ.

Tưởng đâu câu chuyện Thầy - Thím này là độc nhất, nhất là việc ghép giữa Thầy và Thím khá lạ, thế nhưng xuôi về phương Nam ta lại bắt gặp câu chuyện Thầy Thím với mô-týp tương tự.

Thoại Sơn, An Giang, tức Núi Sập, nơi diễn ra câu chuyện Thầy Thím

Câu chuyện này được nhà văn - nhà biên khảo Sơn Nam kể lại trong Chuyện xưa tích cũ, và sau đó là trong Lịch sử đất An Giang. Ở đây xin trích lại nguyên văn câu chuyện kể của ông trong Lịch sử đất An Giang

“Chuyện Thầy Thím" du nhập từ Quảng Nam, đến núi Sập, người lớn tuổi còn kể lại vài nét chính. Hôm ấy, dân ở chân núi Sập thấy nguời ngồi trên ngọn dừa, như ẩn núp, bèn tri hô có kẻ ăn cắp dừa. Một ông lão xuất hiện, từ ngọn dừa tuột xuống, giải thích chẳng qua là mùa nắng hạn, trên chót núi suối đã cạn nên lén xuống xóm, hái trộm trái dừa để giải khát. Ông lão thú nhận đã tu tiên trên chót núi hơn mươi năm qua, ai muốn thăm thì theo con đường mòn, gần đấy. Vài người tò mò đến, thấy cái thảo am cất sơ sài, lau sậy mọc sát vách và trong nền. Tấm vải đỏ (màu tiêu biểu của người tu tiên) treo trên đòn dông. Ông lão nói thật thà: “Từ rày về sau, trong xóm, hễ trẻ con mang bệnh thì đưa lên, sẽ điều trị dùm". Mỗi khi gặp trẻ con đau ban, làm kinh phong, ông xé một miếng vải nhỏ, ở chéo áo nâu sòng, bảo người nhà đốt miếng vải, hòa với nước. Trẻ con được thuyên giảm ngay, mười trường hợp như một. Nhờ vậy, tiếng lành đốn xa. Người nọ mang bệnh điên, thân nhân đưa lên am, van nài. Thầy ra lệnh đem cái thớt to và cây dao bén, chặt bệnh nhân ra làm hai khúc, thả xuống sông. Khúc đầu của bệnh nhân trôi ngược dòng, khúc chân thì trôi xuôi dòng, lát sau, hai khúc từ từ ráp lại, bệnh nhân về nhà, thuyên giảm rõ rệt. Có kẻ tò mò, lên rình rập, đứng ngoài vách, nghe thì thào, như thầy đang nói với người đàn bà nào đó. Thầy bước ra: "Ta là "thầy", vợ của ta là "thím", người khuất mặt. Đừng tò mò, có hại. Lần đầu, ta tha tội cho. Đừng ngạo mạn nữa". Vì vậy gọi ông lão là “Thầy Thím”.

Vị “Đại thần" nọ cho mời thầy đến để điều trị đứa con đau trầm kha từ bốn tháng qua. Xem xong, thầy lắc đầu ra về. Vị đại thần chạy theo, nài nỉ. Thầy trở lại, xem kỹ, hỏi thăm vài chi tiết rồi nói: “Nặng lắm." “Thượng động Cố Hỉ". Công tử mang bệnh nhằm giờ hung, mạng của công tử trùng với mạng của bản đạo. Nếu điều trị thì bản đạo sẽ chết. Trong hai người, phải có một người sống và một người chết. Bần đạo chết còn ai giúp đỡ bà con xóm này". Nói vậy chớ thầy vẫn ở lại, đốt đèn sáp, vẽ bùa. Rồi từ giã, lên núi, gương mặt buồn thảm. Vài ngày sau, cậu công tử hết bệnh. Dân làng lên thảo am, thấy ông lão nằm xuôi tay, mình mẩy lạnh ngắt, đã chết từ hôm trước. Bèn làm lễ hỏa thiêu, thân xác ông lão cháy ra tro nhung còn sót lại một lóng tay nguyên vẹn, lóng tay ấy đặt trong tháp, bên cạnh. Xây miếu thờ, gọi nôm na miếu là chùa. Vía của thầy nhằm mùng 5 tháng 5, vài người bảo thầy tên là Sang, chẳng biết họ gì."

So sánh 2 câu chuyện, ta thấy ở cả 2 nơi thầy đều là đạo sĩ xuất thân từ Quảng Nam lưu lạc đến địa phương, vợ Thầy gọi là Thím, thầy chữa bịnh giúp dân làng và mất tại nơi đấy luôn, được dân thờ phượng.

Thầy Thím cỡi rồng bay về phương Nam. Tiểu cảnh tại Lễ hội Dinh Thầy Thím La Gi

Điểm khác nhau là: Cùng ở trên trời rơi xuống nhưng thầy La Gi thì cỡi rồng còn thầy núi Sập thì từ trên núi xuống trèo lên cây dừa. Thầy Thím La Gi là 2 nhân vật hiện hữu, trong khi Thím ở núi Sập là người khuất mặt.

Và điều khác nhau cơ bản: Thầy Thím ở La Gi được thờ cúng rất trang trọng với những nghi lễ và lòng thành kính rất cao, được nhiều người biết, có Dinh thờ uy nghi; còn Thầy Thím ở núi Sập thì hiếm người biết tới, theo truyện kể thì có miếu thờ nhưng giờ miếu ấy ở đâu, có còn không thì chẳng ai biết.

Vậy nên tui sưu tầm và kể lại chuyện này, để gọi là có người nhớ tới Thầy Thím Núi Sập vậy mà!

Núi Sập ở huyện Thoại Sơn, An Giang

Phạm Hoài Nhân
__________________

Sau khi đăng bài này lên, bạn Lê Ngọc Quốc có tìm ra một video kể về Miếu Thầy Thím ở núi Sập như dưới đây:


Theo ta thấy trong video, miếu Thầy Thím ở ấp Đông Sơn II, thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn An Giang và được xây dựng năm 1916. Theo lời kể của người phụ nữ trong video thì đoạn sau của câu chuyện tương đối khớp với lời kể của nhà văn Sơn Nam. Riêng đoạn đầu khá ngô nghê khi nói về xuất xứ của Thầy Thím (nói là Thầy từ Phan Thiết cỡi rồng bay vô vỉ bị vua xử tội, nhưng lại nói là vua... Tàu, và cũng không biết về tam ban triều điển, có vẻ như copy từ chuyện Thầy Thím ở La Gi mà ra), lời kể của Sơn Nam hữu lý hơn.

Chuyện Tổng đốc Nghệ An Đào Tấn mời khách Tây xem tuồng ở Vinh

đăng 00:53, 14 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Hầu tước Pierre François Sauvaire De Barthélemy (1870 - 1940) là một nhà văn quý tộc Pháp ưa mạo hiểm, đã từng chu du khắp thế giới. Trong chuyến đi đến Đông Dương năm 1896, Barthélemy cùng với những người bạn từ Hạ Long, ghé qua Hải Phòng, Nam Định và đến Bến Thủy (Vinh – Nghệ An) bằng đường biển. Sau khi chơi Tết ở Vinh, ông tiếp tục ngược sông Cả lên Tương Dương, Kỳ Sơn và sang Lào...

Trong cuốn du ký viết về chuyến đi này, Barthélemy mô tả: “Tết là lễ hội đặc trưng của người có đạo và không có đạo. Tiếng pháo nổ, tiếng hò reo sung sướng của dân chúng đã làm chúng tôi tỉnh giấc ngay từ lúc khởi đầu của ngày mới, một ngày trọng đại. Ngược lại, vào buổi chiều, một bầu không khí yên tĩnh bao trùm lên Vinh, do phong tục nơi đây, nhà nào cũng phải làm mâm cơm dâng lên bàn thờ tổ tiên. Những thành viên trong gia đình quây quần bên nhau, đàn ông và phụ nữ đều quỳ lạy trước bàn thờ của gia đình, để gửi lời thành kính của mình đến những người đã khuất. Người ta đốt giấy tiền, vàng bạc và nhang thơm, không một ai ra khỏi nhà vào ngày mồng 1 tết. Ngày mồng 2 Tết, người ta đi thăm và chúc Tết bà con”.

Ảnh chụp mâm ngũ quả của gia đình người Việt vào ngày Tết năm 1929. Ảnh tư liệu

Đặc biệt, ông cho rằng “tính tiết kiệm rất xa lạ đối với người Việt”, điều này thể hiện rõ trong dịp tết. “Trong những ngày Tết, người nào cũng chi tiêu nhiều hơn và phóng khoáng hơn. Vì vậy mà các cửa hàng luôn chật kín. Vào những ngày Tết, tiệc tùng đôi khi diễn ra kéo dài, vượt quá giới hạn, khả năng tài chính”. Ông cho biết, đã đến nhiều sòng bạc trong dịp tết và nhận thấy người Việt sa vào bài bạc rất nhiều. Đó cũng là một nguồn thu béo bở cho các chủ sòng bạc người Hoa. Thậm chí, ông gọi họ là “những nhà tài chính sâu bọ ở đất nước của những cái đầu điên rồ này”.

Barthélemy đã mô tả những dòng quan quân rồng rắn đến chúc Tết Tổng đốc Nghệ An, dù rằng ông không ngạc nhiên, vì đã biết tình trạng tương tự, thậm chí còn hơn thế ở triều đình Huế.

Tuy nhiên, điều ấn tượng nhất đối với vị nhà văn quý tộc Pháp chính là những vở tuồng do Đào Tấn - Tổng đốc Nghệ An, đồng thời cũng là một nghệ sỹ tuồng biên kịch và dàn dựng. Như đã biết, khi làm Tổng đốc Nghệ An, Đào Tấn đã lập ra một nhà hát tuồng gọi là “Như thị quan”, đồng thời mở lớp đào tạo tuồng, gọi là “Học bộ đình”. Ông có một gánh hát, đồng thời cũng là đội lính chừng 20 người, chuyên đi theo để phục vụ diễn tuồng, kể cả khi ông đã về hưu. “Tổng đốc nói với chúng tôi rằng, gánh hát của ông chưa bao giờ rời xa ông, ông đã đưa gánh hát đi cùng ông đến nhiều nơi”.

Tối mùng 3 Tết, một đoàn hộ tống, với nghi lễ linh đình đã đưa đoàn khách của nhà văn đến Dinh Tổng đốc. “Độ chừng 30 người mặc áo đỏ, quần dài trắng đứng đợi chúng tôi. Một số người cầm đuốc trên tay, một số người cầm lọng 2 tầng, một số người còn lại thì đeo gươm trên vai cho thấy uy quyền của quan lại.

Cuối cùng, có một người đàn ông đi qua trước mặt chúng tôi, tay cầm một cái trống bằng gỗ gõ từng nhịp đều đặn, ông ta báo hiệu chúng tôi đã đến để mọi người đứng dẹp ra.

Đoàn hộ tống chỉ đưa chúng tôi đến cổng nhà Tổng đốc rồi quay về. Ở đó, chúng tôi đợi những quan chức của thành phố và những người xung quanh đưa chúng tôi đến bên Tổng đốc.

Tổng đốc Nghệ An, kiêm nghệ sĩ tuồng Đào Tấn. (Ảnh trong sách L'empire d'Annam, 1904)

Có một người ăn mặc chỉnh tề dẫn chúng tôi đến chỗ anh ta đang đứng và ở đó chúng tôi xem bắn pháo hoa. Người An Nam am tường súng ống và họ thường là những người bắn pháo hoa đẹp. Nhưng than ôi, lúc này trời đang mưa phùn, độ ẩm cao đã hạn chế nhiều màn biểu diễn đẹp.

Nhưng điều làm cho chúng tôi quan tâm đó là vở tuồng. Công sứ đã bố trí cho chúng tôi hai phiên dịch thành thạo, nhờ vào những phiên dịch này chúng tôi đã hiểu được ý nghĩa của các vở tuồng”.

Buổi diễn tuồng chỉ bắt đầu sau 9 giờ tối. “Sân khấu biểu diễn là một chiếc chiếu, có một vách ngăn để ngăn hậu trường với khán giả. Kẹo bánh và rượu sâm panh được bày ra trên bàn, đó là chỗ dành cho khách mời của vị Tổng đốc.”

Trong buổi tối hôm ấy các vị khách đã được xem 2 vở tuồng.

Vở thứ nhất, kể câu chuyện một chàng trai nghèo học giỏi và hiếu thảo. Bất bình với sự thi cử thiếu công bằng, mẹ lại bị bệnh hiểm nghèo, chàng trai đã hóa trang thành hổ, để vào rừng tìm bằng được sữa hổ về chữa bệnh cho mẹ. Không may chàng trai giả hổ gặp đoàn đi săn của một vị quan triều đình. Khi bị lính giương cung định bắn, chàng đã phải cởi bỏ lốt hổ. Cảm phục vì sự hiếu thảo của chàng trai, ông quan đã thuyết phục chàng về đi thi, để có thể ra làm quan giúp đời. Chàng trai nghe lời và hứa sẽ đi thi khi mẹ khỏi bệnh. Kỳ thi đó thí sinh phải thi cả văn và võ. Oái ăm thay, cuối cùng ban giám khảo lại phải chọn người đỗ đầu giữa anh ta và con trai viên quan nọ. Vở kịch kết thúc với câu hỏi chưa biết chọn ai đỗ đầu. Một kiểu kết thúc mở, rất hiện đại của Đào Tấn.

Vở tuồng thứ hai, kể về cuộc báo thù của một cô gái, là em gái thủ lĩnh một băng đảng thảo khấu, khi anh trai cô bị một viên quan giết chết. Trong lúc cô gái cùng với viên quan giao đấu thì cô hầu gái của cô cũng đấu khẩu với người lính của viên quan nọ. Tối đến, khi viên quan và cô gái tạm ngưng cuộc chiến, thì tên lính lại mò đến tán tỉnh cô hầu gái. Bị cự tuyệt, tên lính đã rút cung tên bắn cô hầu. Cô hầu hứa sẽ cho anh ta thỏa mãn, với điều kiện anh ta phải nằm xuống dùng miệng cắn mũi tên và rút ra. Tên lính nghe theo và đã bị cô hầu đâm chết khi đang làm theo lời cô gái.

Cổng thành Nghệ An (Ảnh trong sách “En Indo-Chine, 1896-1897, Tonquin, Haut Laos, Annam septentrional”, Paris, 1901)

Vì đêm đã quá khuya, nên vở tuồng thứ hai phải tạm dừng ở cảnh này.

“Buổi tối kết thúc rất tuyệt!”. Các vị khách tây không chỉ cảm nhận được nội dung và ý nghĩa nhân văn của các vở tuồng, mà họ hết sức ấn tượng với trang phục rực rỡ và phong cách sân khấu ước lệ của tuồng An Nam, khi sân khấu chỉ là chiếc chiếu, hai lá cờ đan chéo là mục tiêu thi bắn cung, hay chiếc roi, hoặc sợi dây cũng có thể diễn tả cả động tác cưỡi và phi ngựa… Họ cũng tỏ ra ngạc nhiên, khi trái với kiểu kết thúc có hậu của văn học phương Đông, các vở tuồng của Đào Tấn lại kết thúc mở, rất hiện đại. Đặc biệt, dù qua phiên dịch không thể hiểu hết, nhưng nhà văn Pháp cũng hết sức tâm đắc với các màn biểu diễn hài hước, nhất là các pha đấu khẩu, đối đáp với nghệ thuật chơi chữ hết sức tinh tế và đặc sắc.

Phạm Xuân Cần
(Theo: Barthélemy, “En Indo-Chine, 1896-1897, Tonquin, Haut Laos, Annam septentrional”, Paris, 1901)

Huyền thoại ông Đình Tây và cá sấu Năm Chèo

đăng 20:18, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Câu chuyện ông Đình Tây nuôi cá sấu Năm Chèo từ lâu đã trở thành huyền thoại linh thiêng gắn với giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương từ thời kỳ khai hoang vùng Bảy Núi. Ngày nay, huyền thoại ấy vẫn có sức hút đặc biệt đối với du khách khi đặt chân đến miệt Thất Sơn hùng vĩ. 

Trong lần đến thăm vùng đất Thới Sơn (Tịnh Biên, An Giang), tôi quyết tâm tìm hiểu câu chuyện liên quan đến ông Đình Tây và cá sấu Năm Chèo. Sau hàng trăm năm, huyền thoại ấy vẫn sống trong lòng dân gian như một phần tất yếu của vùng Thất Sơn kỳ bí. Giữa cái sắt se của ngày gió lạnh, câu chuyện ấy lại một lần nữa hiện lên qua lời kể ông Nguyễn Văn Mẫn, người đang trông coi mộ phần ông Đình Tây và là hậu duệ đời thứ 4 của nhân vật huyền thoại này. 

“Ông Đình Tây tên thật Bùi Văn Tây (quên quán xã Bình Mỹ, Châu Phú), ông là đệ tử thứ 3 của Phật Thầy Tây An. Vì người vợ đầu là bà Trần Thị Trị mất sớm, ông buồn bã tìm đến vùng Hưng Thới, Xuân Sơn mới được khai hoang để phát nguyện tu hành theo Phật Thầy. Được Phật Thầy giao trông coi việc hương đăng, thờ cúng ở đình thần Thới Sơn nên người đời quen gọi là ông Đình Tây” - ông Mẫn kể. 

Mộ ông Đình Tây và người vợ sau (bà Trần Thị Của) tại xã Thới Sơn (Tịnh Biên) 

Liên quan đến huyền thoại cá sấu Năm Chèo, ông Mẫn kể: “Một ngày nọ, Phật Thầy gọi ông Đình Tây đến bảo rằng: “Ngày mai ông nên đi về hướng Đông để làm một việc thiện. Việc này cấp bách, cần tranh thủ đi nhanh!”. Nghe lời thầy dạy, ông Đình Tây nhanh chóng lên đường vào tờ mờ sáng hôm sau và cứ thẳng hướng đông mà tiến. Đến vùng Láng Linh, ông Đình Tây thấy có người thiếu phụ đang trong cơn sinh nở nhưng không có chồng bên cạnh. Hàng xóm đã rước được bà mụ về nhưng chiếc giường cũ chỉ có 3 chân, không thể nằm sinh được. Nghe vậy, ông Đình Tây mới ghé vai vào tự nguyện làm chân giường thứ 4 để thiếu phụ có nơi sinh nở”. 

Nhờ có ông Đình Tây và bà con lối xóm, thiếu phụ đã “mẹ tròn con vuông”. Người chồng làm nghề đánh bắt thủy sản, sau khi trở về nghe thuật lại câu chuyện rất cảm kích. Anh ta liền lấy hết số cá vừa bắt được biếu ân nhân của mình, nhưng ông Đình Tây không nhận. Tuy nhiên, trong số cá đó có một con cá sấu nhỏ mũi đỏ, mình ngũ sắc, điểm đặc biệt nữa là có 4 cái chân nhưng lại có đến 5 bàn chân (một bàn chân có mọc thêm cái móng đeo). Ông Đình Tây ấn tượng với con cá sấu này nên xin người ngư dân ấy mang về trình với Phật Thầy Tây An. 


Thoạt nhìn thấy con cá sấu, Phật Thầy buông tiếng thở dài, bảo ông Đình Tây nên giải thoát cho nó (ý nói diệt bỏ), bởi đây là con “ngặc ngư” sẽ nhiễu hại dân lành sau này. Dù được thầy dạy, nhưng vì bản tính lương thiện nên ông Đình Tây không nỡ giết con cá sấu mà đem thả xuống hồ sen phía trước đình Thới Sơn. Sau 3 năm, con cá sấu to bằng cái khạp da bò và bộc lộ bản tính hung dữ. Ông Đình Tây lo ngại nên đã dùng xích sắt xiềng 1 chân con cá sấu lại và nghĩ rằng, nó không có cách nào thoát đi được. 

Trong một đêm mưa to, con cá sấu tự cắn đứt 1 chân của mình để trốn về miệt Láng Linh. Khi phát hiện sự tình, ông Đình Tây báo lại cho Phật Thầy Tây An. Do đã dự đoán được sự tình, Phật Thầy liền giao cho ông Đình Tây 5 món "bảo bối", gồm: 2 cây lao, 1 cây mun cổ phụng, 1 lưỡi câu, 1 đường dây băng để đi bắt cá sấu Năm Chèo. Khi đến Láng Linh, ông Đình Tây nghe dân làng kể con cá sấu thường lên bắt heo, gà để ăn và thậm chí tấn công cả người. 

Khi ông Đình Tây xuất hiện thì con cá sấu lặn mất. Sau nhiều chuyến tới lui vùng Láng Linh mà không bắt được con cá sấu, ông Đình Tây lập bàn hương án cầu: “Nếu ngươi chịu sám hối tu hành thì hãy chờ ngày hóa kiếp, không hại dân lành”. Từ sau đó, người ta không còn thấy cá sấu Năm Chèo nổi lên nhiễu hại dân lành. Ông Đình Tây cũng lui về đình Thới Sơn tiếp tục hành đạo cho đến khi mất vào năm 1914. 

“Trải qua hàng trăm năm, những món "bửu bối" năm xưa Phật Thầy truyền cho ông Đình Tây vẫn được thế hệ con cháu chúng tôi gìn giữ, thờ phụng trong khu mộ của ông. Đây là bảo vật tinh thần, giúp chúng tôi không quên cội nguồn cũng như những huyền tích linh thiêng liên quan đến cha ông mình. 

Giờ đây, câu chuyện ông Đình Tây nuôi cá sấu Năm Chèo vẫn được người dân truyền tai nhau như một chứng tích cho thời kỳ khai sơn phá thạch ở vùng Bảy Núi và cũng để khuyên con người nên sống có nghĩa, có nhân. Trong tương lai, khi tượng cá sấu Năm Chèo đình Thới Sơn được hình thành sẽ góp phần hiện thực hóa một phần huyền tích ly kỳ này, trở thành điểm nhấn cho du khách khi đến với vùng Thất Sơn huyền bí. 

THANH TIẾN

Kinh tế và văn hóa xứ Nghệ thời Hậu Lê

đăng 06:45, 24 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Xứ Nghệ thời Hậu Lê gắn liền với 400 năm lịch sử phức tạp và khắc nghiệt của đất nước. Khó khăn nhiều hơn thuận lợi, nhưng hình như đây là thời kỳ các thế hệ người Nghệ đã định hình phẩm chất của cộng đồng, tích cực tự hoàn thiện mình để trưởng thành, và có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình lịch sử, văn hóa của dân tộc. 

Nhiều phen binh lửa

Hậu Lê kéo dài từ đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, xen giữa là mấy chục năm của nhà Mạc. Thời kỳ này, xứ Nghệ tiếp tục quá trình tụ cư, không chỉ của người Việt/Kinh từ vùng Bắc Bộ, Thanh Hóa vào mà còn là các tộc người Thái, Mông… từ phương Bắc xuống; là quá trình hình thành tộc người Thổ. Đồng thời là quá trình tiếp tục thiên di vào phương Nam cùng với việc mở mang bờ cõi, nhất thời chúa Nguyễn. 

Mặc dù không còn là biên giới phía Nam của quốc gia, nhưng với vị thế địa chính trị - an ninh đặc biệt của mình, xứ Nghệ vẫn là nơi có nhiều chiến sự nhất bởi sự tranh giành của các thế lực, từ cục diện Nam - Bắc triều đến Đàng Trong - Đàng Ngoài, rồi phong trào Tây Sơn và rất nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình. Nhân dân điêu linh vì chiến tranh. “Nghệ An nhiều phen bị nạn binh lửa. Các huyện đồng ruộng bỏ hoang, nhân dân đói khổ. Dịch tễ lại phát sinh, người chết đến quá nửa. Nhân dân xiêu dạt, hoặc tan tác vào Nam, ra Bắc. Trong cõi Nghệ An đìu hiu vắng tanh” (Cương mục). Sự phát triển kinh tế, văn hóa của vùng đất này vì thế gặp vô cùng nhiều trở ngại. 

Bản đồ Việt Nam khoảng năm 1760, vẽ bởi công ty Cóvens e Mortier, Amsterdam. Ảnh: wikipedia 

Nền kinh tế trồi trụt

Sau chiến tranh giải phóng, bước sang thời Lê sơ, kinh tế nông nghiệp của Nghệ An được phục hồi và có bước phát triển. Việc khai hoang phục hóa được đẩy mạnh nhất là vùng ven biển và trung du. Chính sách “ngụ binh ư nông” của Nhà Lê đã khuyến khích các quan lại và dân chúng tổ chức khai khẩn, lập nhiều đồn điền, làng mạc mới như: cha con Nguyễn Xí - Nguyễn Sư Hồi ở vùng Nghi Lộc, Nghi Xuân; Nguyễn Biên ở vùng Cẩm Xuyên; Lê Khôi (Chiêu Trưng) vùng Thạch Hà; Nguyễn Nhâm Mỗ vùng Nam Đàn… Chính sách cho phép lập đồn điền của Lê Thánh Tông năm 1481 “cốt để hết sức vào việc làm ruộng rộng nguồn tích trữ cho Nhà nước” (Toàn thư). Thừa tuyên Nghệ An lúc này có 4 sở là: Đồn điền Hà Hoa (vùng Tây Nam Thạch Hà); đồn điền Đức Quang (Tây Bắc Ngàn Trươi, xuống đến La Sơn/Đức Thọ); đồn điền Anh Đô (vùng Tây Nam Anh Sơn lên Con Cuông); đồn điền Diễn Châu. Nhân công các đồn điền chủ yếu là tù nhân, tội phạm, quân lính đồn trú và dân nghèo. 

Thủy lợi được quan tâm, có chức quan Hà đê sứ trông nom việc đê điều, trị thủy và nông nghiệp từ phủ, huyện. Ở xã thì có chức xã trưởng lo việc này. Nhờ đó, nhiều công trình thủy lợi lớn được xây dựng như kênh Xước, kênh Tang (Quỳnh Lưu), kênh My (Yên Thành), các kênh Thiết, Hương Cái, Đích (Hưng Nguyên), kênh Na (Cẩm Xuyên), kênh Lạc (Kỳ Anh). Kênh Nhà Lê tiếp tục đào thêm hoặc nạo vét vào tận đèo Ngang. 

Kênh Nhà Lê tại Nghệ An được xếp hạng di tích Quốc gia. Ảnh: Sách Nguyễn 

Sang các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, do các biến động chính trị nên nông nghiệp ở Nghệ An bị tàn phá và sa sút, dân cư phiêu tán, ruộng đất bỏ hoang. Người nông dân phải nỗ lực sản xuất để tự nuôi sống mình và nộp thuế, các làng mạc không còn trù phú như xưa. 

Về thủ công nghiệp, thời kỳ Lê sơ, do tình hình chính trị xã hội ổn định nên có bước phát triển khá nhanh. Vùng đồng bằng phát triển các nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa/vải, làm gốm, rèn sắt, đúc đồng, mộc, đan lát. Ven biển có nghề đánh cá, đóng thuyền, dệt chiếu, làm muối, nước mắm… Miền núi có nghề sơn tràng, nghề gốm, rèn sắt, đan lát… 

Một số sản phẩm thủ công nghiệp thời kỳ này có kỹ thuật và đạt chất lượng khá cao như: lụa Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu), sắt Nho Lâm, rèn Vân Chàng (Đức Thọ), gốm chợ Bộng (Đông/Yên Thành), Cẩm Trang (Đức Thọ), chiếu Thiên Lộc (Can Lộc)… Một số làng nghề hình thành như: Nhân Lý, Quỳnh Đôi, Phượng An, Hoàn Nghĩa (Quỳnh Lưu); Hoàng Lệ (Kỳ Anh); Đồng Môn, Đại Tiết, Hà Hoàng… (Thạch Hà); Việt Yên, Yên Hồ, Hoa Lâm (La Sơn/Đức Thọ); Quang Trung, Trung Phường (Đông/Yên Thành)…

Dưới thời Lê, thương mại của Nghệ An có sự vận động song cùng với sự phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp và các yếu tố chính trị xã hội khác. Thời kỳ Lê sơ, nông nghiệp, thủ công có phần phát triển hơn nhưng buôn bán vẫn nhỏ lẻ, nhìn chung vẫn là kinh tế tự cung, tự cấp. Ở Nghệ An, thời Lê trung hưng, binh đao chiến tranh liên miên, nông nghiệp đình đốn, thủ công nghiệp phát triển chậm. Dù vậy, trong xu thế chung của cả nước, lại tranh thủ thời gian hòa hoãn của các thế lực nên sinh hoạt thương mại đã có sự chuyển biến. Hệ thống chợ làng được mở rộng. Các chợ phủ, chợ huyện được mở ngày càng nhiều. Với lợi thế hệ thống cửa biển tự nhiên và kênh đào chạy suốt theo dọc bờ biển, một số cảng thị như: Diễn Châu, Hội Thống, Cửa Sót, Nhượng Bạn… tiếp tục hoạt động. Đặc biệt, từ thế kỷ XVII, phố Phù Thạch, hữu ngạn sông Lam, đối diện với Lam thành, đã trở thành một trung tâm thương mại lớn của Nghệ An. Tại đây có nhiều tàu bè nước ngoài vào buôn bán; có phố người Hoa (Minh Hương) sang đây định cư và buôn bán. 

Một nền văn hóa sánh vai cùng “tứ trấn” 

Nghệ An, đến thời Trần, vẫn là đất “trại”, một vùng biên viễn chưa phát triển, mức độ giáo hóa còn thấp. Bước sang thời Hậu Lê, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục của Nghệ An đã có bước phát triển, đặt nền tảng vững chắc cho tiến trình văn hóa của vùng đất này, để từng bước xác lập vị thế là một trung tâm văn hóa của cả nước. 

Về giáo dục khoa cử, đã có các trường lớp dạy chữ, người học và biết chữ ngày càng đông. Thời Lê, Nghệ An có trường thi hương ở Lam Thành. Số người học giỏi, đỗ đạt ngày càng nhiều. Theo thống kê thì thời Lê sơ, Nghệ An (cũ) có 51 người, thời nhà Mạc có 23 người, Lê Trung hưng có 68 người đỗ đại khoa. Khoa Nhâm Thìn (1590) hai cha con Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hòa (Lý Trai, Đông Thành) cùng đỗ. Khoa Bính Thìn (1756) hai anh em Lê Sĩ Triêm, Lê Sĩ Bàng (Nội Thiên Lộc, Thiên/Can Lộc) cùng đỗ. Ba cha con cùng đỗ như nhà Phan Huy Cận và hai con là Phan Huy Ích, Phan Huy Ôn. Có nhiều dòng họ được tôn vinh dòng họ khoa bảng như: họ Hồ, họ Phan Huy, họ Nguyễn Huy… 

Đường vô xứ Nghệ (ảnh chụp tại Cầu Cấm). Ảnh tư liệu: Nguyễn Thanh Hải 

Trên nền tảng giáo dục, văn học, sử học thời kỳ này xuất hiện nhiều tác giả nổi tiếng, nhiều tác phẩm nổi bật. Về văn học có Dao đình sử tập của Hồ Sĩ Đống; Dưỡng hiên vịnh sử thi của Phạm Nguyễn Du; Nguyễn Thám hoa thi tập của Nguyễn Huy Oánh. Về lịch sử có Việt giám vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm, Việt sử bị lãm của Nguyễn Nghiệm; Trung hưng thực lục của Hồ Sĩ Dương; Liệt truyện đăng khoa khảo và Khoa bảng tiêu kỳ của Phan Huy Ôn… Ở xứ Nghệ, cuối thế kỷ XVIII đã hình thành Hồng Sơn văn phái với nhiều tác gia và tác phẩm nổi tiếng, trong đó có nhiều người thuộc các dòng họ Nguyễn - Tiên Điền, Nguyễn Trường Lưu và Phan Huy Thu Hoạch như: Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản, Nguyễn Hành, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tựu, Nguyễn Huy Vinh, Nguyễn Huy Hào, Phan Huy Ích… 

Đặc biệt, đây là giai đoạn hoàn thiện và phát triển của dân ca ví, giặm, trong đó nổi bật nhất là hát Phường vải và hát ả đào/ca trù. Các tri thức dân gian về thiên văn, y học, ẩm thực…, được tích lũy và đúc kết. 

Cùng với nền tảng tư tưởng chính trị Nho giáo, sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng phong phú hơn. Bên cạnh Phật giáo và các tín ngưỡng bản địa truyền thống, lúc này có thêm tín ngưỡng thờ Mẫu (Mẫu Tam phủ và Mẫu Tứ vị thánh nương) và Ki tô giáo. 4 ngôi đền: “Cờn, Quả, Bạch mã, Chiêu Trưng” - được xem là linh thiêng nhất xứ Nghệ đều lập vào thời này. 

Vĩnh Khánh

Hoàng đế Quang Trung với vùng đất xứ Nghệ

đăng 05:35, 18 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Với vị thế trọng yếu trên bản đồ địa chính trị quân sự Đại Việt hồi thế kỷ XVIII, xứ Nghệ trở thành địa bàn quan trọng trong công cuộc xóa bỏ tình trạng chia cắt, tiến tới thống nhất đất nước của Hoàng đế Quang Trung và nhà Tây Sơn. 

Khởi nghĩa Tây Sơn

Khi các cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài tạm thời lắng xuống thì phong trào đấu tranh bạo động chống lại Chúa Nguyễn ở Đàng Trong bùng lên, mà đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn của 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. 

Tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, theo Chúa Nguyễn vào Nam khi vượt Lũy Thầy đánh ra đất Lê - Trịnh tới Nghệ An (1655) từ đời ông cố là Hồ Phi Long. Ông nội của anh em Nguyễn Nhạc là Hồ Phi Tiễn. Từ đời cha đổi sang họ Nguyễn theo họ của mẹ là Nguyễn Phi Phúc. Cũng có ý kiến cải sang họ Nguyễn là theo họ Chúa. 

Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nhạc lấy danh nghĩa chống lại Quốc phó Trương Phúc Loan, dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn (Bình Định). Được sự hưởng ứng của nhân dân quanh vùng nên cuộc khởi nghĩa ngày càng mạnh, trưởng thành nhanh chóng. 

Tượng đài Hoàng đế Quang Trung tại Bảo tàng Quang Trung (Bình Định). Ảnh: hiquynhon 

Tháng 9 năm Quý Tỵ (1773), quân Tây Sơn dùng mưu đánh chiếm được thành Quy Nhơn, liên tiếp đánh thắng quân Chúa Nguyễn rồi tiến đánh Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận. Chúa Nguyễn ký hòa ước với người Xiêm, để rảnh tay đánh Tây Sơn.

Năm Mậu Tuất (1778), Nguyễn Nhạc xưng Vua, lập triều đại Tây Sơn, đặt niên hiệu là Thái Đức, đóng đô tại thành Quy Nhơn. 

Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Ánh xưng Vua. Quân Tây Sơn nhiều lần đánh vào Nam và truy sát nhưng Nguyễn Ánh đều trốn thoát. 

Tháng 3 năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Huệ đem quân đánh Gia Định lần thứ tư, Nguyễn Ánh sai người sang Xiêm cầu viện rồi trốn ra đảo Phú Quốc. Đêm mùng 9 rạng ngày mùng 10 tháng 12 năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn đánh thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút. 

Tại Bắc Hà, năm 1782, Trịnh Sâm chết. Con nhỏ Trịnh Cán được lập, rồi bị Trịnh Tông chiếm ngôi giết chết. Nguyễn Hữu Chỉnh quê ở Nghệ An bỏ Trịnh Tông, chạy vào Nam hàng Tây Sơn được Nguyễn Nhạc tin dùng. 

Kinh thành Thăng Long bị quân kiêu binh càn quấy, tàn phá. Năm Bính Ngọ (1786), Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ làm tổng chỉ huy đánh ra Bắc, đánh thẳng ra Thăng Long. Trịnh Tông bị bắt rồi tự sát. Trên đường ra Bắc bằng đường biển, quân Tây Sơn cho nhiều toán du binh đổ bộ lên đánh phá các đồn của quân Trịnh ở Nghệ An, Thanh Hóa để gây thanh thế. 

Tại Thăng Long Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trao trả quyền chính lại cho Vua Lê nhưng vẫn nắm thực quyền. 

Tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), Vua Lê Hiển Tông qua đời. Lê Chiêu Thống lên ngôi. Anh em Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc rút quân về Nam, giao quyền lại cho Nguyễn Hữu Chỉnh. 

Súng thần công của quân Tây Sơn được tìm thấy tại căn cứ thủy binh Tây Sơn ở cảng Thị Nại (Quy Nhơn), hiện được trưng bày trong Bảo tàng Tây Sơn (Bình Định). Ảnh: Wikipedia 

Tàn quân Chúa Trịnh quay lại quấy nhiễu Thăng Long. Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra dẹp được nhưng lại lộng hành như Chúa Trịnh trước kia.

Do bất đồng về chiến lược, anh em nhà Tây Sơn mâu thuẫn. Đầu năm Đinh Mùi (1787), Nguyễn Huệ đem quân vây đánh Nguyễn Nhạc ở thành Quy Nhơn. Nguyễn Lữ đứng ra dàn xếp, anh em giảng hòa nhưng để lại hậu quả nghiêm trọng, bị kẻ địch từ hai phía lợi dụng. 

Tháng 4, năm Mậu Thân (1788), Vua Lê Chiêu Thống bỏ kinh đô Thăng Long lưu vong tại Trung Quốc. Tháng 8, Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định. Ở Bắc Hà, Nguyễn Hữu Chỉnh có ý chống lại Tây Sơn. Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm ra diệt trừ nhưng rồi lại chuyên quyền, có ý chống Nguyễn Huệ. Ông đã đem quân ra Bắc, giết Vũ Văn Nhậm rồi rút quân về Phú Xuân. 

Cuối năm 1788, hơn 29 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam với danh nghĩa phù Lê, vào chiếm đóng Thăng Long. Quân Tây Sơn chủ động rút về đóng ở Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) cố thủ chờ lệnh. 

Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, xuất quân ra Bắc Hà. 

Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), đại quân của Hoàng đế Quang Trung tới Nghệ An, dừng tại đây hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng. Hoàng đế duyệt binh, đọc dụ khích lệ tướng sĩ rồi tiến quân ra Bắc Hà. 

Thanh gươm và súng loại nhỏ của quân đội nhà Tây Sơn, trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử TP. HCM. Ảnh: Wikipedia 

Ngày 20 tháng 12 năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân ra đến Tam Điệp (Ninh Bình). Chỉ trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Thanh.

Nguyễn Nhạc quyết định nhường quyền lãnh đạo cho Nguyễn Huệ để nhà Tây Sơn không còn bị chia rẽ. Quang Trung trở thành nhà lãnh đạo tối cao và lập ra các chiến lược rất lớn nhằm triệt để đánh bại các thế lực đối địch còn lại. Sự nghiệp thống nhất đất nước đã đến rất gần thì ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (ngày 16/9/1792), Hoàng đế Quang Trung băng hà. 

Xứ Nghệ với Tây Sơn 

Từ 1786 đến 1788, quân Tây Sơn đã 4 lần hành quân qua đất xứ Nghệ, và thực tế từ năm 1786 vùng này đã thuộc quyền kiểm soát của Tây Sơn. Tây Sơn - từ một cuộc khởi nghĩa nông dân phát triển thành phong trào dân tộc rộng lớn, lật đổ các chế độ của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Vua Lê - Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đánh bại sự xâm lược của giặc Thanh, giặc Xiêm, xóa bỏ tình trạng chia cắt đất nước, tác động sâu sắc và mạnh mẽ đến thái độ chính trị của nhiều tầng lớp xã hội. 

Trước hết, phải nói, trong đội quân Tây Sơn đã có nhiều người Nghệ tham gia và có những đóng góp quan trọng. Trong hành trình tiến ra Bắc đại phá quân Thanh, chỉ trong 10 ngày dừng chân tại Nghệ An, nghĩa quân Tây Sơn đã có thêm 5 vạn người gia nhập. Điều này chứng tỏ thái độ của dân chúng. Ngoài ra, dân xứ Nghệ còn đóng góp rất nhiều tiền của cho nghĩa quân. Sách “Quỳnh Đôi cổ tích hương biên” kể rằng Hồ Thị Ái đã xuất tiền chu cấp cho 3 suất lính mỗi tháng; bà Nguyễn Thị Phát nhà nghèo vẫn cấp 5 suất mỗi tháng... 

Trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, người xứ Nghệ, tham gia dù sớm hay muộn, nhưng đều gắng sức, nhiều người đã trưởng thành và đóng góp quan trọng. Tham gia ngay từ đầu có Đô đốc Ngô Văn Sở, Đô đốc Hồ Phi Chấn (quê ở Can Lộc), Đô đốc Dương Văn Tào (Thạch Hà), anh em nhà Lê Quốc Cầu, Lê Quốc Lý, Lê Quốc Đạm (Anh Sơn). 

Đền thờ Vua Quang Trung trên Núi Dũng Quyết (TP. Vinh). Ảnh tư liệu 

Bị chi phối bởi tư tưởng trung quân, một bộ phận sĩ phu ở xứ Nghệ đã chống lại Tây Sơn để bảo vệ vương triều nhà Lê, tiêu biểu là Trần Doãn Tư, Trần Phương Bính, Nguyễn Tiến Lâm, Lê Ban. Ngay cả anh em Nguyễn Du, Nguyễn Hành, Nguyễn Điều cũng không phục Tây Sơn, có ý chống lại. Một số khác lại tỏ thái độ bất hợp tác như Nguyễn Huy Oánh, Bùi Dương Lịch… Nhưng, nhiều người vượt qua được quan niệm trung quân hẹp hòi, đã cùng với đại đa số nhân dân ủng hộ Tây Sơn. Đó là Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích, Nguyễn Nệ... 

Nguyễn Thiếp từng 3 lần từ chối lời mời ra giúp nước của Quang Trung nhưng cuối cùng đã chuyển biến tư tưởng, nhận lời cộng sự, làm Viện trưởng Viện Sùng chính trông nom về văn hóa - giáo dục, rồi giúp Vua tìm đất lập thành Phượng Hoàng Trung Đô ở Dũng Quyết. Vua Quang Trung đã nói về ông: “Một lời nói mà xây nổi cơ đồ… chứ không phải vào hạng người chỉ bo bo làm việc mình mà thôi”. Phan Huy Ích là người cùng với Ngô Thì Nhậm được giao việc ngoại giao với nhà Thanh và hoàn thành xuất sắc sứ mệnh. Nguyễn Nệ (con trai Nguyễn Nghiễm), từng làm quan nhà Lê, theo Tây Sơn, 2 lần làm phó sứ sang nhà Thanh. 

Hoàng đế Quang Trung và triều đình Tây Sơn có tình cảm đặc biệt với Nghệ An, vì đây là quê cha, đất tổ và có vị trí địa chính trị an ninh quan trọng trong tư duy chiến lược của ông. Ông đã chọn Nghệ An để lập kinh đô của triều đại mới (thành Phượng Hoàng Trung Đô), tiếc là công trình dang dở. Và người Nghệ, dù là dân thường hay sĩ phu, quan lại, văn nhân cũng rất yêu kính, ủng hộ Vua Quang Trung và Tây Sơn. Trong sự nghiệp vĩ đại của Tây Sơn có sự đóng góp lớn lao của xứ Nghệ. 

Nguyên Thanh

Hoan Châu - Tiền đồn của Đại Việt

đăng 06:36, 9 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Dưới thời Lý - Trần, Hoan Châu/Nghệ An, từ một miền biên viễn xa xôi, đã có đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ và mở mang bờ cõi đất nước. Giai đoạn này (khoảng 400 năm) cũng đánh dấu những phát triển hưng thịnh về kinh tế, văn hóa của Nghệ An lúc bấy giờ. 

ĐỊA DANH VÀ ĐỊA GIỚI

Thời Lý (1009- 1225), Lý Thái Tổ chia nước thành 24 lộ, phủ, huyện và cuối cùng là hương, giáp. Nghệ An, Thanh Hóa gọi là Trại. Năm Canh Tuất 1010, Hoan Châu và Diễn Châu được xưng là lộ. Năm 1025, Lý Thái Tổ lập trại Đinh Phiên gồm đất từ Nam giới đến Hoành Sơn. Theo một số tư liệu, năm Canh Ngọ (1030), Lý Thái Tổ đổi Hoan Châu thành châu Nghệ An. Năm Tân Tỵ (1101), Lý Nhân Tông lại nâng châu Nghệ An thành phủ Nghệ An. Lúc này Diễn Châu vẫn là một đơn vị hành chính độc lập với Nghệ An. 


Đời Trần (1225 - 1400), Nghệ - Tĩnh ngày nay vẫn bao gồm 2 phủ Nghệ An, Diễn Châu và trại Định Phiên. Năm Tân Mão (1231), đổi trại Định Phiên thành châu Nhật Nam. Năm Bính Thìn (1256), lại đổi Nghệ An thành trại. Năm Giáp Dần (1374) đổi Diễn Châu làm lộ. Năm Ất Mão (1375) “đổi Hoan châu làm lộ Nhật Nam và các lộ Nghệ An Nam, Bắc, Trung; Đổi Diễn Châu làm lộ Diễn Châu”; Ít lâu sau, theo Đại Nam nhất thống chí, lại đổi thành trấn. Năm Đinh Sửu (1397), đổi trấn Nghệ An làm trấn Lâm An và phủ Diễn Châu thành trấn Vọng Giang. Sau đó, Hồ Quý Ly đổi phủ Diễn Châu thành phủ Linh Nguyên.

SỨC SỐNG MIỀN BIÊN VIỄN 

Tiếp tục sự nghiệp nhà Tiền Lê, thời Lý - Trần với nhiều chính sách tiến bộ, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của vùng Hoan - Diễn/Nghệ An đã có sự chuyển biến, phát triển. 

Về chính trị, thời Lý, triều đình đã với tới tận làng, xã (hương và giáp). Thời Trần, triều đình từng bước xây dựng, củng cố bộ máy hành chính thành một hệ thống vững chắc. Lộ, phủ có chức phán phủ, huyện có chức chuyển vận sứ, xã tùy to nhỏ mà có chức đại tư đồ, tiểu tư mã, xã chính, xã giám, xã sử. Vì là vùng trọng yếu nên các triều đình thường cử các hoàng thân hoặc những người tài giỏi về cai quản như, nhà Lý cử Lý Nhật Quang vào thu thuế rồi làm tri châu Nghệ An… 

Về kinh tế, thời Lý - Trần đáng nói nhất là công cuộc khai phá đất đai, mở rộng vùng cư trú. Cùng với công cuộc khẩn hoang, mở rộng diện tích trồng trọt, đắp đê ngăn lũ là quá trình tụ cư, hình thành nhiều làng xóm mới ở khắp các địa bàn trung du, đồng bằng, ven biển, nhất là ở các vùng trung tâm của các huyện Đỗ Gia (Hương Sơn), Nha Nghi (Nghi Xuân), Phi Lộc (Can lộc), Chi La (Đức Thọ), Thổ Du (Thanh Chương), Diễn Châu… Một số làng lớn trù phú, đông đúc dân cư xuất hiện như: Ngọc Sơn (Đức Thuận - thị xã Hồng Lĩnh), Trảo Nha (Đại Lộc - Can Lộc), Tả Ao (Xuân Giang - Nghi Xuân), Phật Kệ (Đà Sơn – Đô Lương), Cao Xá (Diễn Châu), Trại Đầu (Ân Phú - Vũ Quang)... 

Vùng "cửa ngõ" phía Bắc của Nghệ An ngày nay. Ảnh: Hồ Long 

Giai đoạn này, thủy lợi được chú trọng xây dựng. Một số sông, kênh ngòi được khai thông, nạo vét, nhiều đoạn đê được đắp mới. Nhờ đó không những giao thông đường thủy thuận lợi mà nông nghiệp cũng phát triển.

Thủ công nghiệp thời kỳ này cũng có bước chuyển tiến bộ. Nghề luyện kim và rèn sắt ở Nho Lâm (Diễn Châu) phát triển, một số làng nghề mới xuất hiện như rèn ở Trung Lương, Vân Chàng (thị xã Hồng Lĩnh); đúc đồng ở Diễn Châu, Thạch Hà…; làm muối ở Nghi Lộc, Thạch Hà; Nghề trồng dâu nuôi, tằm phổ biến nhiều nơi ở Nam Đàn, Thạch Hà, Can Lộc, Hương Sơn… với rất nhiều sản phẩm nổi tiếng. Nhiều nghề mới xuất hiện theo dòng di cư từ Bắc Bộ vào. 

Giao thương buôn bán thời kỳ này cũng gia tăng. Chợ mọc lên nhiều và có nhiều chợ to nổi tiếng như chợ Sa Nam (Nam Đàn), chợ Lường (Đô Lương), chợ Tràng (Hưng Nguyên), chợ Phù Lưu, Trường Lưu (Can Lộc), Hà Hoàng (Thạch Hà)... Các cửa biển như Cửa Hội, Cửa Cờn (Nghệ An), Cửa Sót (Hà Tĩnh)… có nhiều tàu bè trong và ngoài nước vào buôn bán.

Về văn hóa, theo các thư tịch cổ thì từ thời Lý, Phật giáo đã thâm nhập khá sâu vào vùng này. Nhiều công trình kiến trúc Phật giáo đã được xây dựng. Thời Trần tiếp tục cho lập nhiều công trình tôn giáo như chùa Hương Tích, Diên Quang, đền Cờn… Cùng đó, Nho giáo phát triển nhanh, bắt đầu hình thành tầng lớp nho sĩ. Năm Bính Thìn (1256), Bạch Liêu (Nguyên Xá – Yên Thành) đỗ đầu Trại Trạng Nguyên. Năm Ất Mão (1275), Đào Tiêu (Chi La – Đức Thọ) đỗ đầu khoa thi Tiến sĩ; Kế tiếp đó là Hồ Tông Thốc, Sử Hy Nhan, Sử Đức Huy, Nguyễn Biểu… Lúc này cũng xuất hiện những tài năng văn học như thám hoa Đặng Bá Tĩnh… 

TIỀN ĐỒN CỦA ĐẠI VIỆT 

Thời Lý – Trần, Nghệ An là biên viễn của quốc gia Đại Việt, thường xuyên phải đối phó với Chiêm Thành, lúc này đang là một quốc gia hùng mạnh ở khu vực Đông Nam Á. Nghệ An là nơi bổ sung, cung quân cấp nhân tài, vật lực cho các cuộc tranh chấp, chiến tranh của triều đình với Chiêm Thành. Trên đất Hoan – Diễn/ Nghệ An, thời Lý, có khoảng 10 cuộc Đại Việt đụng độ, chiến tranh với Chiêm Thành. Xứ Nghệ trở thành tiền tuyến chống sự tiến công của Chiêm Thành, là bàn đạp phản công và mở mang bờ cõi của triều đình. 

Các năm Nhâm Tý (1252), Tân Hợi (1311) các Vua Trần tự làm tướng sang đánh Chiêm Thành. Trong gần 30 năm cuối đời Trần, khi quân đội Đại Việt không còn hùng mạnh như trước, Đại Việt và Chiêm Thành giao tranh tất cả 13 lần, trong đó Chiêm Thành 4 lần tiến quân cướp phá Thăng Long. Hầu hết các cuộc giao tranh này đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến Nghệ An và Diễn Châu, tiêu hao rất nhiều sức người, sức của của vùng đất này. 

Cũng vào đời nhà Trần, quân Ai Lao thường sang quấy phá cướp bóc ở vùng Nghệ An, Thanh Hóa. Các Vua Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông nhiều phen thân chinh đi dẹp giặc. 

Quang cảnh Cầu Cấm (Nghi Lộc). Ảnh tư liệu: Nguyễn Thanh Hải 

CÙNG CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC NGUYÊN MÔNG 

Hoan - Diễn trong thời Trần còn gắn liền với các cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của dân tộc. Trực tiếp và đáng kể nhất là trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (năm 1285). Lần đó, quân Nguyên Mông đã cho Toa Đô đưa thủy quân đánh chiếm Chiêm Thành từ trước (1282) để tạo gọng kìm từ phía Nam đối với Đại Việt. 

Đánh giá đúng vị trí trọng yếu của Nghệ An – Diễn Châu, từ sau cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1258), nhà Trần đã cử nhiều tướng lĩnh vào trấn giữ, xây dựng lực lượng ở vùng đất này. 

Đầu năm Ất Dậu (1285), quân Nguyên ồ ạt tấn công Đại Việt từ 2 phía: Thoát Hoan từ phía Bắc đánh xuống, Toa Đô từ đất Chiêm đánh lên. Để đối phó, nhà Trần cử Trần Nhật Duật vào trấn giữ Nghệ An. Ngày 28 tháng Giêng năm 1285, lại cử thêm Trần Quang Khải vào tăng viện. Từ cuối tháng Giêng 1285, Toa Đô tấn công Nghệ An. Lúc này viện binh của Trần Quang Khải chưa vào kịp nhưng quân dân Nghệ An, Diễn Châu dưới sự chỉ huy của Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản, đã anh dũng chống trả. Trước thế giặc rất mạnh, Trần Kiện đầu hàng, Trần Quang Khải không chống được, mặt trận Nghệ An bị vỡ. Bị vỡ, nhưng mặt trận Nghệ An đã tiêu hao sinh lực và kìm được thế tiến quân của địch, tạo điều kiện cho quân Đại Việt phá thế bao vây và phản công thắng lợi. 

Trong chiến thắng này, và trong cả 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần đều có công rất lớn của Nghệ An, Diễn Châu. Hoàng Tá Thốn, Lê Thạch, Hà Anh là những người trong rất nhiều người Hoan Diễn tiêu biểu góp vào chiến tích đó. Trần Nhân Tông đã từng có thơ rằng: “Cối Kê cựu sự quân tu ký/Hoan Diễn do tồn thập vạn binh”.(Chuyện cũ Cối Kê ngươi nên nhớ/Hoan Diễn còn kia chục vạn quân). 

Nguyên Thanh

Xứ Nghệ với các cuộc kháng chiến chống giặc Minh

đăng 06:29, 9 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Xứ Nghệ vinh dự đã là “kinh đô kháng chiến” của nhà Hậu Trần, là “đất đứng chân” của nghĩa quân Lam Sơn và đóng góp rất nhiều cho các cuộc kháng chiến, cho chiến thắng của dân tộc trước âm mưu xóa tên Đại Việt của giặc nhà Minh (Trung Quốc). 

Năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly truất Vua Trần, tự xưng hoàng đế, lập ra nhà Hồ. Mặc dù có nhiều cải cách về chính trị, kinh tế, xã hội quan trọng nhưng vì huy động quá nhiều tiền của, công sức của dân chúng và ngân khố quốc gia cho việc xây dựng quân đội, thành lũy nên trăm họ oán thán, không phục, không theo. 

Thành Nhà Hồ được xây dựng vào năm 1397. Ảnh tư liệu 

Trong lúc đó, ở Trung Quốc, nhà Minh đang ở thời điểm cực thịnh và có âm mưu thôn tính Đại Việt và các quốc gia Đông Nam Á. Nhân lúc nhà Trần đổ, nhà Hồ đang gặp nhiều khó khăn, cuối năm Bính Tuất (1406), nhà Minh tấn công Đại Việt. Năm Đinh Hợi (1407), sau một vài kháng cự yếu ớt, nhà Hồ nhanh chóng bại trận. 

Tháng 4 năm 1407, nhà Minh đổi quốc gia Đại Ngu thành quận Giao Chỉ thuộc Minh; dưới quận là phủ, châu, huyện. Cả nước bị chia làm 15 phủ, vùng Nghệ Tĩnh ngày nay hồi đó gồm hai phủ Nghệ An và Diễn Châu. Năm Đinh Dậu (1417), quân Minh lại tách Châu Quỳ của phủ Diễn Châu vào phủ Thanh Hóa. Bộ máy đô hộ sau còn nắm xuống tận xã, thôn. Ngoài quan lại, tướng tá nhà Minh còn tuyển dụng nhiều tay sai người bản xứ. Chúng xây dựng nhiều thành lũy, đồn ải, trong đó có thành Nghệ An và thành Diễn Châu (thành Trài) để đàn áp sự phản kháng của dân ta. Triệt phá mọi di sản văn hóa của người Việt nhằm âm mưu đồng hóa văn hóa. 

Tham gia kháng chiến của nhà Hậu Trần

Ngày tháng 10 năm Đinh Hợi (1407), Trần Ngỗi là con thứ của Trần Nghệ tông tự xưng là Giản Định Hoàng đế, đặt niên hiệu Hưng Khánh, tổ chức khởi nghĩa ở Mộ Độ (Yên Mô, Ninh Bình). Bị đàn áp, nghĩa quân phải rút vào Nghệ An. Một số thủ lĩnh nghĩa quân và quan lại yêu nước của nhà Trần, nhà Hồ cùng đông đảo nhân dân Nghệ An tham gia. Cuối năm 1407, Nghệ An, Diễn Châu được giải phóng. 

Giặc Minh đã thi hành chính sách tàn bạo và hà khắc với Nhân dân ta. Tranh vẽ minh họa 

Đặng Tất, quê Thiên Lộc/Can Lộc, làm quan thời nhà Hồ, sau nhận chức của nhà Minh để náu mình. Năm 1407, ông dấy binh ở Hóa Châu rồi tham gia khởi nghĩa Trần Ngỗi. Cùng với Nguyễn Cảnh Chân, quê Thanh Chương, là hai nhân vật chủ yếu của cuộc khởi nghĩa. Năm 1408, quân Minh phản công, nghĩa quân tạm rút về Hóa Châu. Quân Minh rút về Đông Quan, nghĩa quân quay ra lấy lại Nghệ An, lại quay vào Nam giải phóng phủ Tân Bình, quay tiếp ra Bắc tấn công Diễn Châu rồi thừa thắng đánh ra tận Bình Than (Hải Dương), Hàm Tử (Hưng Yên), Tam Giang (Phú Thọ). Vua Minh điều viện binh sang, ngày 14 tháng 12 năm Mậu Tý (1408) bị Đặng Tất đánh bại ở Bô Cô, phải rút về cố thủ Đông Quan. Nhưng sau đó Đặng Tất cùng Nguyễn Cảnh Chân bị Trần Ngỗi nghi kị rồi giết chết.

Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị là con của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân rời bỏ Trần Ngỗi, về Nghệ An tổ chức khởi nghĩa mới. Ngày 17 tháng 3 năm Kỷ Sửu (1409), lập Trần Quý Khoáng là cháu của Trần Nghệ Tông lên làm vua, niên hiệu Trùng Quang. Để thống nhất lực lượng hai cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân ra Bắc bắt Trần Ngỗi đem về Nghệ An rồi tôn làm Thái Thượng hoàng. Hành dinh của Vua Trùng Quang ở Bình Hồ (Chi La/Đức Thọ), đối diện với thành Nghệ An qua sông Lam. Từ Nghệ An, nghĩa quân tiến ra Bắc, đánh chiếm Hàm Tử, Bình Than… làm cho quân Minh khốn đốn phải hai lần điều quân sang tiếp viện. Nhưng từ năm 1042 nghĩa quân suy yếu dần và thất bại vào năm 1413. 

Cuộc khởi nghĩa Trần Quý Khoáng. Tranh vẽ 

“Đất đứng chân” của khởi nghĩa Lam Sơn 

Cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần thất bại nhưng người dân xứ Nghệ tiếp tục nổi dậy chống giặc Minh. 

Ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (7/2/1418), Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn (Thanh Hóa) và nhanh chóng thu hút được sự hưởng ứng của nhân dân cả nước. Ở Nghệ An có anh em Nguyễn Biện, Nguyễn Xí ở Thượng Xá (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc) tham gia ngay từ đầu. 

Thời kỳ đầu, nghĩa quân chủ yếu hoạt động ở vùng rừng núi Thanh Hóa, quân ít, lương thiếu nên thắng ít thua nhiều, bị quân Minh, quân Ai Lao và các tù trưởng miền núi vây đánh nhiều trận, 3 lần phải rút chạy lên núi Chí Linh những năm 1418, 1419, 1422 và một lần cố thủ ở Sách Khôi năm 1422. 

Năm 1422, Lê Lợi xin giảng hòa chờ thời cơ. Năm 1423, khi thực lực được củng cố, nghĩa quân Lam Sơn lại tiếp tục cuộc chiến nhưng vẫn khó khăn nhiều mặt, nhất là định hướng chiến trường phát triển cuộc khởi nghĩa. Trước tình thế đó, tướng Nguyễn Chích hiến kế: “Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông… Nay ta trước hãy đánh lấy đất Trà Long, chiếm giữ cho được Nghệ An để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay ra Đông Đô, thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ”.

Ngày 20 tháng Chín năm Giáp Thìn (1424), nghĩa quân Lam Sơn bất ngờ tấn công đồn Đa Căng (Thọ Xuân, Thanh Hóa) để khai thông đường vào Nghệ An. Trên đường tiến vào Trà Lân, nghĩa quân tiếp tục đánh thắng ở trang Trịnh Sơn (nay thuộc xã Thạch Ngàn - Con Cuông) - tiền đồn phía Đông Bắc của thành Trà Lân. Tháng 10 năm 1424, nghĩa quân bắt đầu bao vây thành Trà Lân đồng thời chốt chặn phòng địch từ thành Nghệ An và Diễn Châu lên ứng cứu. Sau 2 tháng bị vây hãm, lại không có viện binh, Cầm Bành và toàn bộ quân lính phải mở thành xin đầu hàng. Cả một vùng rộng lớn ở miền Tây Nghệ An được giải phóng, nhân dân hồ hởi hưởng ứng. Các thủ lĩnh khởi nghĩa ở Nghệ An như Cầm Quý, Phan Liêu, Lộ Văn Luật, Nguyễn Vĩnh Lộc… tìm đến gia nhập. 

Cầu treo khe Rạn (Con Cuông). Ảnh: Hải Vương 

Mùa Xuân năm 1425, địch tập trung lực lượng từ Đông Quan và thành Nghệ An phản công hòng lấy lại thành Trà Lân. Đại quân ta lập trận địa phục kích ở ải Khả Lưu và Bồ Ải - những vị trí hiểm yếu trên đường lên thành Trà Lân. Thắng lớn trận này, nghĩa quân khai thông đường tiến xuống đồng bằng Nghệ An. Giặc Minh lâm vào thế bị động, phải “đóng giữ cửa thành bền chặt”. 

Nghĩa quân tiến xuống bao vây thành Nghệ An và tiến sang Đỗ Gia (Hương Sơn) xây dựng căn cứ địa ở Động Tiên Hoa/Đãng Phủ - vùng ngã ba sông Khuất (hói Nầm) và Ngàn Phố. Tại đây, nghĩa quân được nhân dân nghênh đón, ủng hộ sức người, sức của. 

Thế và lực của nghĩa quân ngày càng mạnh. Triều đình nhà Minh viện binh từ Đông Quan và thúc bách quân ở thành Nghệ An phải đàn áp bằng được cuộc khởi nghĩa. Ngày 27 tháng Tư năm Ất Tị (14/5/1425), quân Minh ở thành Nghệ An và tăng viện từ Đông Quan phản kích lên căn cứ Đỗ Gia. Nghĩa quân bố trí một thế trận phục kích liên hoàn kéo dài từ ngã ba Tam Soa (giao giữa ngàn Sâu, ngàn Phố và sông La - cuối huyện Chi La đầu huyện Đỗ Gia), lên tới ngã ba Nầm, vào tận sông Khuất. Nghĩa quân mở đường nhử địch từ thành Nghệ An theo sông Lam, sông La lên ngàn Phố, vào tận trận địa phục kích ở sông Khuất mới phản công. Địch thua phải bỏ chạy. Về đến ngã ba Tam Soa lại rơi tiếp vào trận địa phục kích của Đinh Liệt, bị chết gần hết. 

Sau chiến thắng Đỗ Gia, nghĩa quân chuyển đại bản doanh về thành Lục Niên trên núi Thiên Nhẫn. Thế giặc ở Nghệ An, Diễn Châu ngày càng suy yếu, chủ yếu cố thủ trong thành. Vùng giải phóng mở rộng khắp nơi trong cả hai phủ. Nghĩa quân quyết định vây thành Nghệ An đồng thời tiến ra giải phóng phủ Diễn Châu. Sau một thời gian bao vây, Đinh Lễ lập trận phục kích đón lõng tiêu diệt quân địch từ thành Diễn Châu ra đón viện binh. 

Dấu tích Thành Lục Niên trên núi Thiên Nhẫn. Ảnh tư liệu: Hồ Phương 

Đến đây, trừ 2 thành đang bị bao vây cô lập, toàn bộ Nghệ An, Diễn Châu được giải phóng. Nghĩa quân thừa thắng tiến ra giải phóng Thanh Hóa, tiến vào giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa.

Dựa vào “đất đứng chân” là Nghệ An và vùng hậu phương rộng lớn từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa, tháng 9 năm 1426, nghĩa quân Lam Sơn mở cuộc tấn công ra Bắc. Cuối năm 1427, với trận thắng Chi Lăng- Xương Giang, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống nhà Minh kết thúc, mở ra một vương triều mới - vương triều Hậu Lê. 

Nguyên Thanh

Xứ Nghệ thời Lê trung hưng

đăng 01:38, 8 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Nhà Hậu Lê gồm 2 giai đoạn, Lê sơ (1428 – 1527) và Lê trung hưng (1533 – 1789), bị gián đoạn bởi nhà Mạc cướp ngôi từ năm 1527 đến 1593. Đây là giai đoạn đầy biến động của lịch sử Việt Nam. Xứ Nghệ đã trở thành địa bàn tranh chấp của các thế lực lúc bấy giờ. 

Duyên cách, địa danh và chính quyền

Ngày 15 tháng Tư năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế (Lê Thái Tổ), đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đặt Quốc hiệu là Đại Việt, kinh đô Thăng Long gọi là Đông Kinh. 

Năm Mậu Thân (1428), nhà Lê chia cả nước làm 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc và Hải Tây (vùng đất phía Nam từ Thanh Hóa trở vào). Dưới đạo là trấn, lộ, phủ, huyện, châu, xã. Nghệ An, Diễn Châu thuộc đạo Hải Tây. 

Năm Bính Dần (1446), Lê Thánh Tông chia nước làm 12 đạo. Năm Kỷ Sửu (1469), chia làm 12 thừa tuyên, dưới có phủ, châu, huyện, xã, thôn, sở, trang, sách. Hoan Châu và Diễn Châu hợp thành Thừa tuyên Nghệ An gồm các phủ Đức Quang, Anh Đô, Diễn Châu, Hà Hoa, Trà Lân, Quỳ Châu, Lâm An. 

Lãnh thổ Việt Nam thời nhà Lê sơ (1428-1527). Ảnh: wikipedia 

Đầu đời Lê, mỗi đạo có một viên Hành khiển đứng đầu coi việc hành chính, tư pháp và quân sự, bên cạnh còn có một viên Tổng quản chỉ huy quân đội. Đến đời Lê Thánh Tông mỗi thừa tuyên có hai ti: Thừa ti trông coi hành chính và tư pháp, đứng đầu là Thừa ti chính sứ; Đô ti trông coi việc quân sự do Tổng binh đứng đầu. Năm Tân Mão (1471), đặt thêm ti Hiến sát trông coi việc tư pháp do Hiến sát sứ đứng đầu.

Trị sở Nghệ An thời Lê sơ đặt ở Lam Thành. Thời Lê trung hưng, Thừa ti và Hiến ti vẫn ở Lam Thành, Trấn ti chuyển vào Dinh Cầu (Kỳ Anh) sau chuyển ra Dũng Quyết (Hưng Nguyên). 

Trong dòng quyền lực 

Nghệ An, từ năm 1469 đến 1831, là một đơn vị hành chính. Suốt cả thời Hậu Lê cho đến thời Tây Sơn, Nghệ An gần như lúc nào cũng là địa bàn của dòng chảy quyền lực hết sức phức tạp và khắc nghiệt của chính trị Đại Việt hồi bấy giờ. 

Thời Lê sơ (1428 – 1527), những vị vua tài ba như: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông với cách tổ chức nhà nước, xã hội tiến bộ, những chính sách ưu việt về kinh tế, văn hóa, đối ngoại… đã đưa Đại Việt phát triển nhanh chóng về mọi mặt. Cuối thế kỷ XV, Đại Việt là một quốc gia hùng mạnh bậc nhất ở khu vực Đông Nam Á, lãnh thổ vào đến Phú Yên ngày nay, đã đánh dẹp Bồn Man, Lan Xang , Lão Qua, Xaiyna Chakhaphat, mở rộng lãnh thổ về phía Tây… 

Nhưng sau đó, kể từ đời Vua Lê Uy Mục, nhà Lê suy yếu dần. Năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung bắt Vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi, lập ra nhà Mạc. Nhà Mạc cai trị đất nước được 6 năm thì chính trường Đại Việt thay đổi. 

Năm Kỷ Sửu (1529), Nguyễn Kim bỏ chạy vào miền núi Thanh Hóa rồi sang Ai Lao. Năm Quý Tỵ (1533), tìm dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Ninh rồi đưa lên ngôi, tức là Vua Lê Trang Tông. Nhiều sỹ phu, tướng lĩnh bắt đầu tập hợp bên Nguyễn Kim để chống nhà Mạc. Nguyễn Kim lúc này làm Thái sư Hưng quốc công trông coi mọi việc. Cục diện này sách sử gọi Nam - Bắc triều. 

Tới năm Kỷ Hợi (1539), Nguyễn Kim chiếm được huyện Lôi Dương ở Thanh Hóa. Năm Canh Tý (1540) thì tiến vào Nghệ An, bắt đầu xác lập chỗ đứng trở lại trên lãnh thổ Đại Việt. 

Năm Ất Tỵ (1545), Nguyễn Kim bị hàng tướng là Dương Chấp Nhất đầu độc chết. Con rể ông là Trịnh Kiểm lên thay nắm quyền. 

Trong suốt những năm 1545-1580 là giai đoạn hai bên giằng co, chiến sự nổ ra chủ yếu tại Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình, Sơn Nam. 

Sau khi Trịnh Kiểm qua đời, con trai ông là Trịnh Tùng nổi dậy đoạt lấy binh quyền Nam triều từ tay anh trai Trịnh Cối. Năm 1573, ông lật đổ Vua Lê Anh Tông và đưa Vua Lê Thế Tông lên làm bù nhìn, bản thân nắm hết quân quốc đại sự. Cuối năm Nhâm Thìn (1592), Trịnh Tùng tiến đánh Thăng Long tiêu diệt nhà Mạc. Tàn dư nhà Mạc chạy lên Cao Bằng và cát cứ tới năm 1677. 

Tháng 11/1558, Nguyễn Hoàng được lệnh vào trấn thủ Thuận Hóa với một quyền hạn rộng lớn “phàm mọi việc ở địa phương không kể to nhỏ đều cho tùy tiện xử lý”. Nguyễn Hoàng ra đi vừa để bảo toàn mạng sống, vừa tính kế phát triển sự nghiệp lâu dài. Trong suốt thời gian trấn thủ đất Thuận Quảng (1558 - 1613), Nguyễn Hoàng đã dốc sức củng cố thế lực, thu phục lòng người bằng lối cai trị mềm mỏng để đặt nền tảng cho việc xây dựng giang sơn riêng cho dòng họ mình. Và Thuận Hóa trở thành đất dựng nghiệp của họ Nguyễn. 

Cảnh triều đình nhà Lê trung hưng năm 1684-1685 do Samuel Baron vẽ. 

Sau khi đánh bại nhà Mạc, Chúa Trịnh Tùng bắt đầu tính tới việc dẹp bỏ thế lực họ Nguyễn ở phía Nam do Nguyễn Hoàng - Trấn thủ Thuận Hóa - Quảng Nam cai quản. Cục diện chính trị Đàng Ngoài - Đàng Trong hình thành. Từ năm 1627 đến 1672 đã có 7 cuộc chiến xảy ra. Nội chiến liên miên, Nghệ An là bãi chiến trường. Đất nước bị chia cắt. 

Đôi bờ sông Lam. Ảnh: Sách Nguyễn 

Chiến trường tàn khốc, dân chúng điêu linh 

Từ khi Nguyễn Kim chống nhà Mạc (1533) cho đến tận khởi nghĩa Tây Sơn và cuối cùng là nhà Nguyễn thống nhất đất nước (1802), tình hình chính trị Đại Việt phức tạp, các thế lực liên tục tranh giành quyền lực, tạo ra các cục diện chính trị, an ninh phức tạp và căng thẳng. 

Nghệ An, suốt từ đầu đến cuối của tiến trình lịch sử đó luôn là địa bàn trọng yếu mà các bên đều sử dụng, tận dụng và hướng tới. 

Trong cục diện Nam triều - Bắc triều (1533 - 1592), nhà Lê - Trịnh chủ yếu đứng chân ở vùng Thanh - Nghệ. Chiến sự cũng chủ yếu diễn ra ở vùng này. Từ năm 1570 đến năm 1583, nhà Mạc đã 13 lần tấn công vào Thanh - Nghệ. Nhiều trận đánh lớn đã diễn ra ở Hội Thống, Cương Gián (Nha Nghi, Nghi Xuân); Quy Hợp, Trình Cao (Hương Khê), Cửa Sót (Thạch Hà)… 

Trong cuộc chiến Đàng Trong - Đàng Ngoài, xứ Nghệ là chiến địa, đặc biệt là từ Nam sông Lam đến đèo Ngang là vùng chiến sự ác liệt nhất. Đã có lúc quân Nguyễn chiếm được cả 7 huyện của Nghệ An (1655). 

Trong bối cảnh chiến tranh liên miên, trăm họ khốn khó, từ đầu thế kỷ XVI xuất hiện phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại cường quyền. Năm Nhâm Thân (1512), ở Nghệ An có khởi nghĩa lớn của Lê Hi, Trịnh Hưng, Lê Minh Triệt. Sang thế kỷ XVIII, xứ Nghệ không phải là nơi khởi sự nhưng do vị trí địa lý quan trọng, hiểm yếu, nhân dân lại có truyền thống yêu nước và đấu tranh quật cường nên nhiều thủ lĩnh đã lui về vùng này để lập căn cứ địa hoặc xây dựng lực lượng như Nguyễn Hữu Cầu (Quận He), Lê Duy Mật… 

Các cuộc khởi nghĩa ở Nghệ An cũng như cả nước cuối cùng đều bị đàn áp và thất bại nhưng đã làm rung chuyển chế độ cai trị hà khắc của tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh, báo hiệu cho những cuộc khởi nghĩa với quy mô lớn hơn để đáp ứng nhu cầu của nhân dân được giải phóng khỏi ách áp bức tàn bạo, thoát cảnh nội chiến suốt mấy trăm năm và thống nhất đất nước. 

Nguyên Thanh

1-10 of 20