Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Đền Bà Vũ trong đời sống tâm linh của người Hà Nam Tín ngưỡng thờ Bà Vũ xã Chân Lý, Lý Nhân, Hà Nam chính là biểu tượng của lòng ngưỡng vọng lòng biết ơn của nhân dân đối với những người ...
    Được đăng 17:38, 30 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cả làng không ai được gọi bố bao giờ Dù là bố nuôi hay bố đẻ thì không một người con nào được phép gọi là bố, mà phải gọi chệch đi là cha hoặc ba. Chuyện lạ này ...
    Được đăng 08:37, 27 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bí ẩn hàng trăm ngôi mộ cổ ở núi A Mang Hàng trăm ngôi mộ cổ nằm lẩn khuất trong những lùm cây dại ở phía Nam triền núi A Mang thuộc địa phận thôn Quảng Đức, xã An Thạch, huyện ...
    Được đăng 04:34, 14 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện về cô gái mồ côi góp công diệt giặc Minh trên đất Phủ Quỳ Núi Bù Chẻ là một ngọn núi cao trên một trăm mét, nằm ở hướng Nam cách bản Chiềng Yên trước đây (nay là xóm Đồng Nại, xã Châu ...
    Được đăng 20:19, 19 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Dấu xưa Ankroët Thác Ankroët lặng lẽ nằm sâu trong thung lũng Suối Vàng - Đà Lạt thơ mộng. Ít ai biết rằng nơi đây tồn tại một thủy điện cổ đầu tiên tại ...
    Được đăng 02:33, 6 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 14. Xem nội dung khác »


Đền Bà Vũ trong đời sống tâm linh của người Hà Nam

đăng 17:38, 30 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Tín ngưỡng thờ Bà Vũ xã Chân Lý, Lý Nhân, Hà Nam chính là biểu tượng của lòng ngưỡng vọng lòng biết ơn của nhân dân đối với những người con gái tiết hạnh, kiên trung như bà Vũ Thị Thiết. 

Theo truyền thuyết ở địa phương thì ngôi đền này được xây dựng từ thế kỷ XV, ngay sau cái chết oan uổng của Vũ Thị Thiết. Ban đầu di tích chỉ là ngôi miếu nhỏ bằng tranh tre nứa lá do nhân dân dựng lên để thờ. Phải sau sự kiện Lê Thánh Tông đi đánh giặc qua đây, có vào chiêm ngưỡng và thắp hương nơi cổ miếu, khi chiến thắng trở về vị Vua anh minh này đã hạ lệnh cho địa phương xây dựng lại thì nơi đây mới được mở rộng và làm khang trang lên. Ngôi đền được xây dựng ở ngoài bãi ngay ven sông Hồng. Đây là khu đất rộng mấy chục mẫu, dân cư sống thành làng. Sau vì nước lũ xói mòn, bãi bị lở nên ngôi đền phải dời vào vị trí như hiện nay.

Tam quan ngôi đền. 


Phạm vi ngôi đền nằm áp sát vào khu vực đê bối ven sông Hồng. Bốn cột đồng trụ xây ngay trên mặt đê, mặt quay ra sông theo hướng Bắc, mỗi cột cao trên 6m, lại được mặt đê tôn thêm 1,60m, chính vì vậy mà nó đã tạo ra được một sự bề thế. Bốn cột trụ cao vượt tầng những cây cổ thụ xung quanh vươn lên trời xanh.

Cột trụ chia làm bốn phần, dưới cùng là chân tạo dáng phình ở giữa và thu về hai đầu hình chân tảng thắt cổ bồng, phần trên là một khối chữ nhật, các mặt đều có gờ chỉ tạo thành những khung câu đối, chữ được đắp nổi vào tường vữa. Phía trên phần này là một khối hộp hình vuông, bốn mặt được đắp nổi hình tứ linh và trên cùng là một con nghê đắp cân đối quay mặt chầu vào nhau.

Sân đền nằm dưới chân đê bối, cách mặt đê 1,60m nên phải qua 6 bậc mới xuống được sân. Ngoài cổng chính ở giữa hai cột đồng trụ lớn còn có hai cổng phụ hai bên xây theo kiểu tám mái cửa vòm.

Toàn cảnh đền Bà Vũ. 


Qua một sân gạch rộng là vào khu đền chính. Toàn bộ khu đền được xây dựng theo kiểu chữ Môn khép kín. Đằng trước là bảy gian tiền đường với hệ thống vì kèo biến thể giá chiêng chồng rường con nhị. Công trình này chốn cột, các xà đều gác lên tường. Hai đầu hồi được xây bít đốc. Toàn bộ mái lợp bằng ngói nam. Mặt đằng trước ba gian giữa là hệ thống cánh cửa bằng gỗ lim, phần trên là chấn song con tiện, phía dưới đóng theo lối cửa bức bàn. Hệ thống tường xây đằng trước có 4 cửa sổ không có cánh được trổ hình chữ triện gồm 2 cửa tròn và 2 cửa chữ nhật. Phía ngoài cùng hai bên hồi là hai cột đồng trụ. Mặt trước nhà tiền đường có ba đôi câu đối được đắp bằng vữa.

Khu trung đường làm cao hẳn lên theo kiểu gác chuông nhưng có mặt bằng hình chữ nhật. Công trình gồm 4 cột cái ở giữa và 4 cột quân ở 4 góc làm theo kiểu chồng diêm gồm hai tầng mái, mỗi lớp có 4 mái với các đao góc được uốn cong lên. Toàn bộ kiến trúc này được lợp bằng ngói vẩy. Các mái ngói như những lớp sóng dâng dần lên cao, góp phần làm cho công trình thanh thoát đỡ nặng nề. 

Ngôi đền với các công trình nối tiếp bao xung quanh và nhà trung đường nằm ở chính giữa, với hai tầng mái vươn cao, nổi trội hẳn lên như một bông sen nở rộ kheo sắc dưới trời xanh. Đây chính là nét độc đáo của công trình kiến trúc tại đền.

Lễ hội đền Bà Vũ. 


Ba gian chính tẩm, tường phía sau và hai bên xây gạch, còn mặt đằng trước là hệ thống cửa bức bàn, nối liền với khu trung đường. Tất cả các vì kèo và bộ khung đều làm bằng gỗ lim, chạm khắc tuy đơn giản nhưng kỹ thuật đục đẽo láp ráp hết sức chính xác đã tạo nên một sự hoàn chỉnh vững chắc cho công trình.

Hai bên khu chính tẩm, về phái các đầu hồi, mỗi bên có ba gian. Về phái hai bên nhà trung đường, ở phái tây cũng có ba gian, còn về phía đông là một bức tường xây đã khép kín toàn bộ các công trình ở đây.

Căn cứ vào lịch sử nhân vật thờ tại di tích và truyền thuyết ở địa phương thì ngày từ thế kỷ XV ngôi đền này đã được xây dựng rất khang trang, hơn năm trăm năm qua, các công trình xây dựng chủ yếu bằng gỗ, chắc chắn chúng đã được tu sửa nhiều lần. Rất tiếc dấu vết kiến trúc của những lần xây dựng trước không để lại dấu vết gì trong công trình hiện nay. Toàn bộ ngôi đền cho đến lúc này đều mang phong cách của nền kiến trúc ở thế kỷ XIX. Tuy vậy nó vẫn tiếp thu được truyền thống, kiểu dáng, cổ truyền của dân tộc, đồng thời vẫn có những nét sáng tạo, góp phần làm phong phú thêm cho nền kiến trúc Việt Nam.

Như Quỳnh

Cả làng không ai được gọi bố bao giờ

đăng 08:37, 27 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Dù là bố nuôi hay bố đẻ thì không một người con nào được phép gọi là bố, mà phải gọi chệch đi là cha hoặc ba. Chuyện lạ này không ở đâu xa mà ở ngay một ngôi làng nhỏ thuộc Hà Nội.

Một góc làng Triều Khúc 


Ấy là làng Triều Khúc, xã Tân Triều (Thanh Trì, Hà Nội) gắn với một câu chuyện từ xa xưa đầy huyền thoại. Ngôi làng cổ ấy, vốn là nơi phát xuất điệu múa “con đĩ đánh Bồng” đầy cợt nhả nhưng cũng lại vô cùng nghiêm trang trong lời ăn tiếng nói.

Gọi bố là cha 

Cho đến nay, làng Triều Khúc có lẽ là ngôi làng hiếm hoi của Hà Nội còn giữ được những nét làng giữa thời ào ạt phố hóa. Vẫn còn những con đường đất mòn vết dép, vẫn còn những cổng nhà rêu phong cổ kính mà phía trên còn ghi dấu đôi chữ Hán và những ngôi nhà ngói mũi ở bên trong vẫn trang hoàng hệt thời xa xưa. 

Đấy là những vật thể còn nhìn thấy được như là thứ níu kéo con người ta nhớ về và giữ lấy những cái xa xưa đang dần mất. Còn một thứ, là tiếng nói lại không hề phôi phai, vẫn đặc sệt những phương ngữ là cơ duyên bảo tồn tốt nhất cho làng cổ. 

“Tục lệ kiêng không đặt tên con kỵ húy Bố Cái đại vương và không gọi bố là bố của làng Triều Khúc là một nét văn hóa xa xưa. Rất nhiều nhà nghiên cứu, kể cả các giáo sư Nhật Bản cũng về đây tìm hiểu và họ đều phát hiện ra những đặc sắc không đâu trên thế giới có được” 

Ông Nguyễn Hữu Vỵ, Chủ tịch UBND xã Tân Triều 

Cụ Cai làng Triều Khúc hiện thời là Nguyễn Huy Oanh cũng gật gù tự hào như vậy. Cụ bảo rằng, cái tục lệ không được gọi bố là bố đã có từ lâu lắm rồi. Nó đã thành lệ, thành một thứ luật làng mà chỉ duy có ở đây. “Gọi bố là cha, là ba, là thầy thì thoải mái, đúng phép đúng mực, chứ không ai được gọi là bố cả. Gọi là bố tức đã phạm lệ làng, là láo, là bất kính”, cụ Oanh khẳng định. 

Cho nên, từ đứa trẻ nhỏ mỗi khi bi bô tập nói, cha mẹ đã hướng con gọi bố là cha. Còn thanh niên choai choai, kể cả đứa ngổ ngáo ra ngoài không biết sợ ai, về đến làng vẫn khúm núm “lạy cha con về”. 

Và tôi thấy, người ngoài đến làng ngụ cư sau một thời gian thông lệ hiểu tục thì cũng bỏ hẳn từ bố. Còn khách lạ đến làng, không biết lệ nên cứ bô bô hỏi “bố ông đâu, bố bà đâu” thì y như rằng, người ta sẽ nhăn mặt như sợ sệt một điều gì đó ghê gớm lắm. 

Từ đầu đến cuối làng, từ trong đình ra ngoài chợ, những người con dù già hay trẻ cứ nhất nhất gọi bố là cha. Nhỡ có bà buôn thúng bán mẹt nào lỡ lời chửi mắng “sư bố mày”, thì người ta sẽ thấy một cuộc hối lỗi lấy làm thành tâm vô cùng. 

Tục lệ không được gọi bố đã có từ xa xưa 


Cha của dân làng 

Cụ Cai làng Nguyễn Huy Oanh khẽ thầm thì với chúng tôi bằng một câu hỏi: “Ông có biết vì sao làng tôi không được gọi bố không?”. Tôi lắc đầu, vì hỏi dân làng chẳng mấy ai giải thích cho tường tận. Và để khách lạ vỡ vạc ra những điều sâu thẳm, cụ Oanh giải thích: Làng Triều Khúc là nơi Phùng Hưng đặt đại bản doanh để đánh thành Tống Bình. Như thế là một vinh dự cho làng Triều Khúc, cho nên ở nghi môn đình bây giờ vẫn còn đôi câu đối: An Nam tráng khí sơn hà tại/Bình Bắc du linh thảo mộc chi. Tức là “Khí mạnh dựng trời Nam, núi sông còn mãi/Oai thiêng trừ giặc Bắc, cỏ cây còn ghi”.

Các cao niên tế lễ “Bố dân làng” - tức Bố Cái đại vương 


Phùng Hưng đem quân tiến về Tống Bình, suốt dọc đường hành quân, dân chúng nô nức kéo nhau đón mừng nghĩa quân như đi hội. Nhiều người nhập đoàn quân, nên khi các đạo quân tiến sát chân thành Tống Bình, thì Đô hộ phủ như một cù lao, giữa biển người mang binh khí trùng điệp. Cao Chính Bình lo sợ phát bệnh mà chết. Đô quan Phùng Hưng kéo quân vào thành Tống Bình dựng nền tự chủ, trị nước yên ổn được 7 năm thì mất. Nhân dân như mất cha, mất mẹ. Thời xưa tục gọi Cha là Bố, Mẹ là Cái nên tôn hiệu Đô quan là: Bố Cái đại vương. 

Ông Nguyễn Hữu Vỵ, Chủ tịch UBND xã Tân Triều cũng là người Triều Khúc thì khẳng định: “Bố Cái đại vương là một trong những danh hiệu người Triều Khúc gọi đầu tiên. Và cũng từ khi ngài mất, thì người làng tôi coi như cha như mẹ, bởi thế không ai được phép gọi bố mình là bố, cũng không ai được phép đặt tên con cái là Phùng hoặc Hưng”. 

Các cụ già làng Triều Khúc đều khẳng định danh hiệu Bố Cái đại vương là do người dân ở Triều Khúc gọi đầu tiên 


Từ đây “con đĩ đánh Bồng” 

Hẳn nhiều người đã từng xem điệu múa “con đĩ đánh Bồng”, một điệu múa đầy cợt nhả của những người đàn ông giả gái múa may lả lướt trong ngày lễ hội. Thì đây, điệu múa ấy phát xuất từ chính ngôi làng này và điệu múa ấy chẳng phải ai xa lạ mà chính do Bố Cái đại vương sáng tạo ra. 

Ở làng Triều Khúc bây giờ, người điều hành cả một gánh múa là ông Triệu Đình Hồng. Là nghệ nhân lâu năm nên ông cũng hiểu rõ tích xưa: Sau khi vỗ yên trăm họ, ngày 10 tháng Giêng năm Nhâm Tuất (728) Phùng Hưng đăng quang lên ngôi vua và mất năm Mậu Thìn 788. Tiếp nối cha, con của Phùng Hưng là Phùng An lên ngôi và tôn cha làm Bố Cái đại vương và cho các bậc hiền thần đi tìm những nơi có dấu tích của cha để lập miếu thờ. 

Nhà vua đã cử người về Triều Khúc cắm đất năm Canh Ngọ 790, đến mùa xuân năm Tân Mùi 791 mới bắt đầu dựng miếu trên gò Lĩnh Hán. Theo tương truyền khi Phùng Hưng khởi nghĩa đánh đuổi giặc Đường, mỗi khi thắng trận để tổ chức ăn mừng chiến thắng và khích lệ tinh thần của nghĩa quân, ông đều cho trai tráng là binh sỹ đóng giả con gái đeo trống nhỏ để múa hát và điệu múa trống Bồng ra đời từ đó. 

“Hơn 1000 năm nay, làng tôi đã theo cái lệ ấy. Tuy không thành hương ước bắt buộc, nhưng ai cũng ý thức về tập tục và là để tỏ tấm lòng kính tôn Bố Cái đại vương Phùng Hưng. Chúng tôi coi ngài như cha như mẹ mình vậy”, cụ Nguyễn Huy Oanh, Cai làng Triều Khúc.

Kiều Trang - Hưng Tiến


Bí ẩn hàng trăm ngôi mộ cổ ở núi A Mang

đăng 04:34, 14 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Hàng trăm ngôi mộ cổ nằm lẩn khuất trong những lùm cây dại ở phía Nam triền núi A Mang thuộc địa phận thôn Quảng Đức, xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Ngoại trừ một vài lần lãnh đạo Bảo tàng Phú Yên cử chuyên viên tiếp cận thực địa cách đây hơn chục năm, cho đến nay chưa có một cuộc khảo sát quy mô để kiểm đếm, thống kê chi tiết và đưa ra những luận cứ khoa học lịch sử minh chứng nguồn gốc, nên nhiều bí ẩn về những ngôi mộ cổ đó cần được các nhà khảo cổ, nghiên cứu văn hóa - lịch sử giải mã.

1. Sau nửa giờ thưởng thức vị đắng cà phê trong quán bình dân ở góc phố thị trấn Chí Thạnh, huyện Tuy An giữa buổi sáng tháng 5-2017, ông chủ quán đã chỉ dẫn tôi rời quốc lộ 1A đi về hướng Đông, non cây số là đến cầu Lò Gốm bắc qua cửa sông Hà Yến nối liền hữu ngạn hạ lưu sông Cái.

Phóng viên Chuyên đề CSTC dò tìm mộ cổ lẩn khuất bên trong những bụi cây dại trên triền núi A Mang.


Nằm cạnh hai con sông này là dãy núi A Mang sẫm màu sỏi đá khô cằn và cây dại lưa thưa từng bụi trên triền dốc. Từ cổng thôn văn hóa Quảng Đức nằm bên đường liên xã đi thêm một chặng đường vòng về hướng Nam trên hương lộ nhỏ, tôi nhờ người dân địa phương dẫn lên triền núi theo con đường mòn gập ghềnh rồi len lỏi vào những bụi cây dại mới lần lượt tìm thấy dấu tích mộ cổ với nhiều kiểu dáng khác nhau.

Trên đường đi, ông Sáu Hiệp – một nông dân sống bên chân núi A Mang từ thời thơ ấu tâm sự: “Tui sinh trưởng ở đây, từ khi còn nhỏ đã nhìn thấy những ngôi mộ cổ trên núi A Mang được các bậc tiền nhân mai táng từ đời nào lâu lắm rồi nên rêu phong bám đầy trên mộ. Do không biết nguồn gốc nên cư dân ở đây cho rằng đó là “mộ Hời” của đồng bào Chăm, còn thực hư ra sao chưa được cơ quan chuyên môn nào tra cứu và công bố”.

Ông Trần Mơi, 82 tuổi, trú ở thôn Ngân Sơn, thị trấn Chí Thạnh cho biết: “Tui canh tác ruộng lúa dưới chân núi A Mang gần năm chục năm rồi. Thời gian và những biến động thiên tai, mưa lũ đã làm mất dấu tích không ít ngôi mộ, nhưng đến bây giờ vẫn còn rất nhiều. Dưới chân núi thưa thớt nhưng lên triền dốc thì mật độ mộ cổ nhiều hơn”.

Tiếp cận và quan sát một số ngôi mộ cổ đã bị mưa nắng bóc gỡ lớp vỏ trên bề mặt mộ, chúng tôi nhận thấy, ngoài nguồn vật liệu là những viên đá tự nhiên góp nhặt từ núi A Mang còn có chất kết dính được nhiều người xưa nhận định đó là hợp chất, bao gồm vôi bột được nung từ san hô và những vỏ sò - ốc - hến; nước mật đường được chế biến từ cây mía; cát trắng gạn lọc từ dưới lòng sông… Hợp chất không chỉ sử dụng để xây mộ và còn đổ phủ trên bề mặt một lớp dày, rắn chắc.

Quần thể mộ cổ ở núi A Mang có 4 kiểu dáng kiến trúc: yên ngựa, mai rùa, búp sen và mái nhà. Nhiều nhất trong số đó là mộ yên ngựa được xây dựng khá đơn giản, ít nhất là mộ hình búp sen to lớn có kiến trúc công phu.

Phía trước mỗi bia mộ đều khắc họa những nét hoa văn trang trí, một số ngôi mộ xây tường bao quanh với bình phong phía trước và trụ biểu, cũng có ngôi mộ xây cổng hình vòm phía trước.

Trên trụ biểu, bình phong, cổng vòm nhiều ngôi mộ vẫn còn dấu tích nét khắc chữ Hán đã bị mòn mờ theo dòng thời gian hoặc bị thân nhân chủ động đục phá để che giấu tên tuổi người chết chỉ vì những lý do cần thiết.

Tất cả những ngôi mộ cổ ở núi A Mang đều hướng mặt về hướng Đông và Đông Nam, có nghĩa là thi hài người quá cố được mai táng hướng đầu về phía núi thuộc hướng Tây và Tây Bắc, không có bất kỳ trường hợp nào trái với nguyên tắc đó.

Lý giải nguyên do một số bia mộ không khắc tên tuổi người quá cố hoặc đã bị đục phá, một số người cho rằng, giai đoạn thế kỷ XVII – XVIII có nhiều cuộc chiến tái diễn ở vùng đất Phú Yên nên việc giấu tên người quá cố trên bia mộ nhằm mục đích né tránh đối phương trả thù, khai quật mộ để phơi xác.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Hoài Sơn, Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học – kỹ thuật Phú Yên - chủ biên tác phẩm “Di sản văn hóa đá ở Phú Yên”, đến thời điểm này ước tính hơn 500 ngôi mộ cổ còn tồn tại ở núi A Mang có thể khảo sát và nhận diện được.

2. Đề cập đến nguồn gốc hàng trăm ngôi mộ cổ trên núi A Mang, có nhiều thông tin khác nhau từ cư dân địa phương và những nhà nghiên cứu văn hóa – lịch sử. Không ít người cho rằng, đó là khu mộ cổ của đồng bào Chăm thời xưa, dân gian thường gọi là “mộ Hời”.

Ngược lại, có người nhận định đó là khu mộ cổ của người Hoa. Ít nhất hơn một thế kỷ đã qua, hàng trăm ngôi mộ cổ ở núi A Mang không có người thăm viếng, tu tảo. Chưa có gia đình, tộc họ nào đến đây nhận diện một trong những mộ cổ ở đó là tổ tiên, ông bà của họ.

Một số kết quả khảo cổ vùng hạ lưu sông Cái - một trong ba dòng sông lớn nhất ở Phú Yên cho thấy, địa hạt bên chân núi A Mang là cửa ngõ giao lưu buôn bán bằng đường bộ lẫn đường sông nên hội tụ khu dân cư sầm uất, thời xa xưa đã có nhiều người Hoa đến đây sinh sống an cư lạc nghiệp.

Theo đó, một số nhà nghiên cứu văn hóa – lịch sử ở Phú Yên đưa ra giả thuyết khu mộ cổ vô danh ở núi A Mang có nguồn gốc từ người Hoa. Tuy nhiên, ngược lại những nhận định, giả thuyết nêu trên, Thạc sĩ Nguyễn Hoài Sơn cho rằng, qua khảo sát thực tế những ngôi mộ cổ ở núi A Mang không tìm thấy yếu tố văn hóa mộ táng của người Chăm hay người Hoa, mà có nhiều đặc điểm văn hóa mộ táng của người Việt.

Thạc sĩ Sơn cho biết, mặc dù mộ cổ có kiến trúc rất độc đáo nhưng vẫn mang đậm dấu ấn văn hóa thuần Việt từ góc nhìn phong thủy dân gian trong mai táng cho đến những nét khắc họa hoa văn trang trí, cách thức bài trí, lập mộ. Với 4 kiểu dáng, nhưng rất nhiều ngôi mộ được xây dựng với quy mô khác nhau, tùy theo vị trí xã hội lúc sống của người an nghỉ dưới mộ.

Lật lại lịch sử 400 năm Phú Yên, Thạc sĩ Sơn nhận định, hơn 500 ngôi mộ cổ ở núi A Mang hình thành từ cuối thế kỷ XVIII, vì có cùng cách thức xây dựng như nhiều ngôi mộ cổ của một số dòng họ ở Phú Yên đã được xác định chính xác niên đại.

Với nhận định đó, Thạc sĩ Sơn đặt câu hỏi: Phải chăng những người an nghỉ dưới hơn 500 ngôi mộ cổ là binh sĩ của chúa Nguyễn Ánh đã hy sinh sau những trận chiến khốc liệt với binh sĩ nhà Tây Sơn năm 1793 – 1801?

Thời ấy, sau khi vua Quang Trung băng hà năm 1792, chúa Nguyễn Ánh tranh thủ thời cơ, cử danh tướng Tôn Thất Hội huy động đại quân đánh chiếm Phú Yên. Đến tháng 3-1794, sau khi vua Cảnh Thịnh nối nghiệp Quang Trung đã cử Thái úy Nguyễn Văn Hưng chỉ huy 4 vạn quân đánh chiếm lại Phú Yên và hợp sức với binh sĩ của danh tướng Trần Quang Diệu tiến đánh thành Diên Khánh, nhưng chỉ hai tháng sau đó, chúa Nguyễn Ánh huy động binh lực hùng mạnh nhất tấn công vào vịnh Xuân Đài và chiếm giữ Phú Yên.

Tháng 11-1794, quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tổng quản Trần Quang Diệu và Tư lệnh Lê Trung không chỉ đánh tan tác quân chúa Nguyễn ở Phú Yên, mà còn truy kích vào tận thành Diên Khánh.

Mấy năm sau đó, chúa Nguyễn Ánh cử danh tướng Nguyễn Văn Thành chỉ huy binh lính đánh chiếm Phú Yên (tháng 5-1799) và đánh chiếm thành Quy Nhơn (tháng 7-1799) trước khi đổi tên thành Bình Định. Đầu năm 1800, hai danh tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng chỉ huy binh lính đánh chiếm lại thành Bình Định.



Những ngôi mộ cổ trên núi A Mang.


Đến tháng 6-1800, chúa Nguyễn Ánh cử tướng Nguyễn Đức Xuyên chỉ huy binh lính đánh vào Phú Yên, trong khi danh tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu cử Đại đô đốc Đào Công Giản điều quân hổ đầu tinh nhuệ nhất vào Phú Yên phối hợp tướng Phạm Văn Điềm tăng cường phòng thủ Phú Yên.

Trước tình thế đó, Chúa Nguyễn Ánh huy động thêm tinh binh mãnh tướng tấn công vào Phú Yên khiến cho thế trận ác liệt, nhưng trong tháng 3 và 4-1801, Tham đốc Tây Sơn Phạm Văn Điềm chỉ huy binh lính phản công mạnh mẽ.

Ba tháng sau, Chúa Nguyễn Ánh huy động đại quân từ Phú Xuân hỗ trợ tướng Nguyễn Văn Thành đánh bại quân Tây Sơn, làm chủ hoàn toàn địa hạt Phú Yên trong tháng 7-1801.

Suốt 8 năm (1793 - 1801), Phú Yên luôn tái diễn nhiều cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh, nơi xảy ra ác liệt nhất là cửa biển Xuân Đài, ven vùng hạ lưu sông Cái và Bảo La Hai.

Điểm lại những sự kiện lịch sử nêu trên, một số người suy đoán rằng: “Trong những trận chiến đó, binh lính của chúa Nguyễn Ánh bị tử trận đã được bí mật chôn cất ở phía Nam dãy núi A Mang. Hầu hết những phần mộ đều được xây dựng kiểu dáng yên ngựa được coi là phương thức cách điệu “da ngựa bọc thây ở sa trường”.

Trong khi đó, ông Phan Đình Phùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên – người đã có hơn 30 năm đảm nhiệm công tác bảo tàng, khảo cổ và quản lý các hoạt động văn hóa cho biết: “Gần 200 năm kể từ 1471 đến 1658, vùng đất Phú Yên làm nhiệm vụ trấn biên. Dinh trấn biên – thủ phủ đầu tiên và cũng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa Phú Yên thời bấy giờ được xây dựng tại xã An Ninh Tây, huyện Tuy An ngày nay, nhưng vị trí chính xác tuyệt đối ở thôn Hội Phú, Bình Thạnh hay Tiên Châu vẫn còn nhiều thông tin khác nhau.

Vì sau ba thế kỷ, dòng sông Cái đã sạt lở, bồi lấp và biến đổi dòng chảy nên phế tích thành lũy Dinh trấn biên xưa đã vùi sâu dưới lòng cát. Thời đó, cư dân gần Dinh trấn biên và vùng hạ lưu sông Cái hội tụ sầm uất nên nhiều khả năng hàng trăm ngôi mộ cổ trên núi A Mang là của người Việt, mà minh chứng rõ nét là văn hóa mộ táng của người Việt xưa, nhưng được chôn cất sau nhiều đời cộng cư mới hình thành quần thể mộ cổ, nên không thể nhận định đó là những ngôi mộ binh sĩ của chúa Nguyễn Ánh…”.

Có dịp đến núi A Mang chiêm ngưỡng những kiểu dáng kiến trúc văn minh mai táng của tiền nhân, chắc hẳn nhiều người đều mong muốn các nhà khảo cổ đến từ những cơ quan chuyên môn sớm giải mã bí ẩn hàng trăm ngôi mộ cổ ở đó để làm sáng tỏ giá trị văn hóa, lịch sử, tâm linh…

Phan Thế Hữu Toàn

Chuyện về cô gái mồ côi góp công diệt giặc Minh trên đất Phủ Quỳ

đăng 20:19, 19 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Núi Bù Chẻ là một ngọn núi cao trên một trăm mét, nằm ở hướng Nam cách bản Chiềng Yên trước đây (nay là xóm Đồng Nại, xã Châu Quang, Qùy Hợp. Đoạn giữa của bản Chiềng Yên với núi Bù Chẻ là dòng Nậm Huống và những bãi bồi phù sa được bồi đắp qua hàng ngàn năm. 

Ngày nay, trên núi Bù Chẻ còn có vết tích của những con đường từ chân núi lên đến tận đỉnh, theo hình trôn ốc. Nhiều đoạn vẫn có thể nhận biết một cách dễ dàng tuy có những gốc cây cổ thụ chắn ngay lối đi. Khu vực này từng là đồn luỹ, trạm gác được cho là có từ thời Lê Lợi.

Đền thờ Pủ Chiềng Yên ở xóm Yên Luốm, xã Châu Quang (Qùy Hợp). Ảnh: Sầm Văn Bình. 


“Địa chí huyện Quỳ Hợp” có nêu, nghĩa quân Lam Sơn tiến vào Nghệ An cuối tháng 9 đầu tháng 10 năm 1424 và dừng chân ở Bãi Tập (Quỳ Hợp) cuối năm 1424 và tập kết ở đây “độ một tháng là cùng” (tr. 114). Những đoạn có liên quan đến địa danh núi Bù Chẻ cũng được viết như sau:

"... Đầu thế kỷ XV khi Lê Lợi kéo nghĩa quân Lam Sơn vào miền núi Nghệ An thì tại Quỳ Hợp đã có cô gái bản Lè và các chàng trai ở bản Phảy, (tại xã Châu Quang hiện tại) quy tụ dưới cờ nghĩa.

Một em bé gái bản Lè bị giặc Minh bắt lên đồn luỹ trên núi Bù Chẻ để phục vụ cho chúng. Nghĩa quân đã đồn trú ở bản Lè và liên lạc với cô gái để tiêu diệt địch. Về sau người ta lập đền thờ cô gái ấy dưới chân núi Bù Chẻ, gọi là Nhả Póm...” 

Người dân tham dự Lễ hội đền Choọng (Quỳ Hợp). Ảnh Internet 


Xưa nay người dân sinh sống trong mường cũng thường kể như sau: “Thời đó có một người con gái dân tộc Thái mồ côi cả cha lẫn mẹ, giặc đã bắt vào đồn để hầu hạ, phục dịch cơm nước cho chúng... Thời đó rừng rậm có nhiều muỗi mòng và thú độc, lại chưa có màn mùng nên ban đêm giặc phải chui vào trong những cái túi vải may sẵn để ngủ.

Công việc của cô gái là đi đến từng túi để cột miệng túi lại, đến sáng thì mở ra. Nắm bắt được tình hình và quy luật sinh hoạt của địch ở trong đồn, một thủ lĩnh địa phương mà sau này được tôn xưng là Pủ Chiềng Yên đã lập ra kế hoạch đánh hạ đồn Bù Chẻ. Ông Pủ bí mật liên lạc với cô gái và anh em Chệt Chai ở vùng bản Phảy để tổ chức lực lượng, cùng một số cư dân trai tráng quyết tiêu diệt địch..

Vào một đêm, như đã hợp đồng trong kế hoạch tác chiến, Pủ Chiềng Yên đã chỉ huy lực lượng tấn công đồn Bù Chẻ, được cô gái làm nội ứng và anh em Chệt Chai giúp sức.

Bọn giặc trong đồn đang ngủ say, không hay biết gì. Thế là chỉ trong một đêm, đồn Bù Chẻ bị diệt, dân trong vùng đã kéo đến giúp sức, khiêng xác giặc ném xuống vực Văng Bền (nay ở phía Đông của bản Lè, xã Châu Quang). 

Sau khi thắng giặc, cuộc sống trong vùng trở lại yên bình. Nhân dân trong vùng muốn tri ân những người có công để đời sau con cháu ghi nhớ và thờ phụng.

Những nhân vật được xác định là có công lớn, được nhân dân trong vùng tuyên dương công trạng và được thờ phụng cúng tế về sau là Pủ Chiềng Yên, cô gái (được tôn là Nhả Póm) và bảy anh em Chệt Chai. 

Thi người đẹp tại Lễ hội đền Choọng (Quỳ Hợp). Ảnh tư liệu. 


Vị trí cổng đồn xưa kia là nơi thờ Nhả Póm. Thông thường, việc thờ Nhả Póm do người bản Đồn (nay là xóm Đồng Mộng, xã Châu Quang) đảm nhiệm, bởi vì Nhả Póm là con cháu của người bản Đồn. Đến ngày thờ Nhả Póm người bản Đồn kết hợp luôn với ông "chàu đằm" của bản Lè để cùng đến cúng. 

Pủ Chiềng Yên là người tổ chức và chỉ huy lực lượng đánh đồn Bù Chẻ nên được ghi công đầu. Nơi thờ Pủ là ở tại bản Chiềng Yên, có dựng nhà thờ tại đó... (Nhà thờ này nay nằm ở hướng Nam của xóm Yên Luốm (Châu Quang).

Nơi thờ anh em Chệt Chai được đặt ở bản Phảy, tại địa điểm đầm Nóng Hắn, cạnh nghĩa địa Hẻo Mày... Tuy nhiên, hiện nay anh em Chệt Chai chỉ được vời gọi đến khi tổ chức cúng tại nhà thờ Hươn Pủ của xóm bản Phảy (xã Châu Quang)".

Sầm Văn Bình

Dấu xưa Ankroët

đăng 02:32, 6 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:33, 6 thg 3, 2017 ]

Thác Ankroët lặng lẽ nằm sâu trong thung lũng Suối Vàng - Đà Lạt thơ mộng. Ít ai biết rằng nơi đây tồn tại một thủy điện cổ đầu tiên tại Đông Dương. 

Nhà phát điện được xây bằng đá - Ảnh: Mai Vinh


Thế hệ đầu tiên làm việc tại thủy điện Ankroët không còn nữa. Thế hệ tiếp theo cũng chỉ còn lại một vài người nhưng không còn minh mẫn. Những nhân viên đang làm việc tại Ankroët là những người thuộc thế hệ thứ ba.

Những ngôi mộ hoang

Hiện thủy điện Ankroët vẫn tiếp tục vận hành với ba tổ máy mới với công suất được nâng lên 4.400 kW, gấp tám lần so với công suất ban đầu. Hệ thống ống dẫn, đập nước và nhà máy phát điện vẫn còn nguyên hiện trạng như khi mới xây.

Câu chuyện lai lịch của Ankroët hư ảo như chính nơi tọa lạc của thủy điện nhỏ này, vùng Suối Vàng quanh năm mờ sương, cách Đà Lạt khoảng 17km. Các cứ liệu về Ankroët khá ít ỏi. Địa chí Đà Lạt (NXB Tổng Hợp TP.HCM) có chép: “Đây là nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt Nam được khởi công vào tháng 10-1942 và khánh thành vào năm 1945”, chính thức phát điện năm 1946.

Công suất thiết kế ban đầu của Ankroët chỉ 600kW, nhỏ hơn trăm lần so với những thủy điện hạng trung hiện nay, nhằm cung cấp điện cho đô thị Đà Lạt khi đó.

Khởi đầu, thủy điện gồm hai tổ máy công suất 300 kW/máy do Hãng Bell của Mỹ sản xuất vào năm 1940, trục tuôcbin nằm ngang, cả khối máy nổi trên mặt đất, khác với các công trình thủy điện sau này các tuôcbin nằm sâu dưới lòng đất với trục dọc. Điều khiến thủy điện Ankroët trở nên đặc biệt không phải là những tổ máy cổ trục ngang trứ danh một thời mà toàn bộ nhà máy phát điện, bờ chắn hai đập nước liên hoàn xây bằng đá xanh khai thác ngay tại Suối Vàng.

“Công trình đá này thấm đẫm máu của cả nghìn phu người Việt” - anh Nguyễn Thế Sơn, phụ trách kỹ thuật tại Nhà máy thủy điện Ankroët, nói khi ánh mắt anh nhìn về mô đất cao mà nhiều người bảo đấy là ngôi mộ vô danh của những phu phen đã chết trong những ngày thi công thủy điện.

Để minh chứng cho sức phu phen đổ vào công trình này là vô hạn, anh Trần Minh Ngọc, nhân viên kỹ thuật, đưa tôi đi tìm những dấu tích xưa. Quanh khuôn viên Ankroët vẫn còn một số xẻng, búa, đục và xe đẩy thô sơ. Tất cả được gom lại bảo vệ cẩn thận nhằm lưu dấu một thời.

Lần theo đường ống dẫn nước, băng qua những gốc thông cổ thụ, anh Ngọc chỉ cho tôi những ngôi mộ. Có ngôi mộ chỉ là những đụn đất nhỏ nhưng cũng có ngôi mộ có bia đá ốp ngang trên mặt đất, tấm bia chỉ ghi vỏn vẹn năm mất của người quá cố mà không có tên tuổi, quê quán. Anh Ngọc chắp tay xá người đã khuất rồi dọn sạch vạt cỏ quanh nấm mộ nhỏ. “Khắp khu đồi này xưa là mỏ đá phục vụ xây dựng thủy điện Ankroët nên đi vòng vòng thể nào cũng gặp vài ngôi mộ, có những ngôi mộ tập thể mà chúng tôi hay gọi là mả thánh. Những khi lễ tết, anh em chia nhau đi tứ hướng tìm những ngôi mộ lo hương khói cho ấm cúng” - anh Ngọc kể.

Bên trong nhà máy với những tổ máy mới - Ảnh: Mai Vinh


Sức người giữa đại ngàn

Năm 1942, người Pháp đưa cả ngàn phu phen từ miền Bắc, miền Trung vào Suối Vàng để chuẩn bị cho việc xây dựng thủy điện. Họ chặt cây, phá đá, xây dựng hai đập nước và nhà máy phát điện. Đá làm công trình phải dùng dụng cụ thô sơ để chẻ vuông vức giống nhau. Anh Sơn nhẩm tính đá để xây cả công trình không dưới nghìn mét khối rồi tự thán rằng với khối lượng công việc như vậy mà hoàn thành chỉ trong hai năm đủ biết bao nhiêu phu phen đã đổ máu và sinh mạng nơi đây.

Ankroët được xây ở điểm sâu nhất của thung lũng nơi dòng Suối Vàng chảy qua. Khi đó lối vào thung lũng không có, xung quanh toàn là rừng. Để chuyển được những cỗ máy, thiết bị nặng hàng tấn từ cảng Sài Gòn lên Đà Lạt, người Pháp tận dụng tối đa sức phu phen người Việt.

Những thiết bị nào có thể tháo rời được thì tìm mọi cách “mổ” ra từng chi tiết nhỏ để phu xẻ rừng cõng vào nhà máy. Còn những khối máy lớn thì hợp sức khiêng từng bước một. Rất nhiều tai nạn thương tâm đã xảy ra trong quá trình vận chuyển máy móc, thiết bị. Điều đó lý giải cho sự tồn tại những ngôi mộ nằm rải rác khắp khu rừng nơi tọa lạc Nhà máy thủy điện Ankroët.

Mặc dù làm việc trong điều kiện khó khăn nhưng phu phen trai tráng (tuổi từ 17 đến 30) luôn sống trong cảnh đói khổ, áp bức. Họ nương náu tạm bợ trong những khu lán trại, bị đối xử rất tệ. Ngày đó thời tiết rất khắc nghiệt, lạnh giá quanh năm. Cực khổ là vậy nhưng không ai dám bỏ trốn vì bị cai Pháp quản lý rất chặt.

Năm 1962, để có điện phục vụ cho việc xây dựng thủy điện Đa Nhim (Đơn Dương, Lâm Đồng), chính quyền đương thời đã lắp thêm tổ máy nâng công suất Ankroët lên 3.100 kW. Từ Ankroët, người ta kéo đường dây điện đến Đơn Dương để cung cấp điện, thực hiện các công việc đòi hỏi công nghệ cao hơn và khối lượng công việc lớn hơn. Năm 1964, Nhà máy thủy điện Đa Nhim hoàn thành với công suất 160 MW (gấp khoảng 50 lần thủy điện Ankroët), cung cấp điện cho một nửa miền Nam khi đó.

Gửi hồn xưa về chốn cũ

Đa số nhân viên hiện đang vận hành Nhà máy thủy điện Ankroët có người nhà, hoặc là cha, là anh từng làm việc tại đây. Anh Sơn có cha làm việc tại thủy điện Ankroët từ năm 1954. Gia đình anh có nhà tại Đà Lạt nhưng ngày đó đường sá khó khăn nên cha anh cất nhà bên bờ đập thủy điện Ankroët để tiện làm việc. Những bước tập đi đầu tiên của anh cũng chính trên nền đất Ankroët.

Anh Nguyễn Văn Thuận, trưởng ca vận hành, có cha là ông Nguyễn Thương từng làm phu xây dựng nhà máy thủy điện từ những ngày đầu và gắn bó với Ankroët cho đến lúc nghỉ hưu vào năm 1985. Cha nghỉ, anh Thuận tiếp nối nghiệp cha. Có lần cơ quan chuyển anh Thuận đi công tác nơi khác nhưng được một thời gian ngắn anh lại nằng nặc xin quay lại.

Anh nói: “Đi đâu cũng thấy nhớ Ankroët da diết. Mong muốn quay lại Ankroët như mong muốn về nhà. Có lẽ ký ức về nơi này nhiều quá”.

Ankroët không chỉ là thủy điện mà hơn cả đó là ký ức của nhiều lớp người, mọi sự thay đổi liên quan đến Ankroët đều khiến những nhân viên chạnh lòng. Năm 2004, sau gần 60 năm hoạt động liên tục, những tổ máy cũ buộc phải thay thế bằng những tổ máy mới do Trung Quốc sản xuất cùng công nghệ nhưng công suất lớn hơn.

Anh Thuận kể: “Ngày tháo những tổ máy, anh em ai cũng nghẹn ngào luyến tiếc. Mọi người chỉ đứng từ xa nhìn mà không đến gần”.

Với nhiều người, cái hồn của thủy điện Ankroët đã lìa đi từ ngày đó. Những tổ máy mới sáng choang, ít hỏng hóc không thay thế được hình ảnh những tổ máy xưa với nước sơn cũ sờn, hằn những vết tích của thời gian. Anh Thuận bùi ngùi rằng cả một vùng ký ức của bao thế hệ đã theo những tổ máy rời khỏi thung lũng.

Hai tổ máy sau khi hoàn thành sứ mệnh đã được đưa về xưởng sửa chữa của Công ty Điện lực Lâm Đồng và nằm ở đó trong 10 năm. Đến năm 2014, một tổ máy đã được sửa chữa và phục chế để trưng bày tại nhà truyền thống của Tập đoàn Điện lực Việt Nam.

Một tổ máy khác hiện vẫn còn lưu tại xưởng. Ông Thái Đắc Toàn, giám đốc Công ty Điện lực Lâm Đồng, cho biết sau khi được phục chế, tổ máy sẽ được đưa lại vào Nhà máy thủy điện Ankroët để trưng bày, như một cách gửi hồn xưa về chốn cũ. 

Một trong hai tổ máy cổ có từ thời mới xây dựng thủy điện Ankroët còn được lưu lại. Ảnh: Phạm Hoài Nhân (2017)


Trước khi có dự án Đa Nhim do các phái đoàn của Pháp, Nhật và chuyên gia Liên Hiệp Quốc khảo sát trước năm 1960 (và sau đó giao cho phía Nhật thực hiện), một tài liệu của Pháp viết về công nghiệp hóa miền Nam Việt Nam có nhắc đến đập thủy điện Ankroët gần thác nước nhỏ cùng tên. Đây là công trình do Pierre Dargelos (1889-1976), một kỹ sư tốt nghiệp Đại học Bách khoa Pháp năm 1909, giám sát. Trong một chuyên đề về năng lượng điện ở Việt Nam của tập san Hội Hữu nghị Pháp - Việt xuất bản tháng 10-2005, Alain Dussarp có viết về đập thủy điện Ankroët như sau: “Tôi giữ kỷ niệm đẹp về chuyến tham quan đập thủy điện Ankroët, gần Đà Lạt, năm 1988... Tôi rất ngạc nhiên khi đứng trước công trình mà tôi tưởng rằng nó đang nằm ở vùng núi Pyrenees của Pháp. Nhà máy này vận hành 92% công suất dù tuổi tác cao và thiếu phụ tùng thay thế. Dù tôi đã nhiều lần đề nghị, lãnh đạo EDF (Tập đoàn Điện lực Pháp) vẫn không muốn thu hồi phụ tùng từ các nhà máy cùng loại không còn vận hành ở Pháp (để thay thế cho đập thủy điện Ankroët)”. L.T.

MAI VINH

Tượng đài Sài Gòn xưa có số phận bi hài nhất

đăng 02:14, 20 thg 10, 2016 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:06, 20 thg 10, 2016 ]

Đó là tượng đài Léon Gambetta, nhà chính trị gia thuộc phái diều hâu khét tiếng của Pháp cuối thế kỷ 19. 


Nơi đặt tượng đài đầu tiên ở: ngã tư Norodom (Lê Duẩn hiện nay) - Pellerin (Pasteur) đầu thế kỷ 20. Các dòng chữ dưới bưu ảnh: An Nam (tiếng Hoa) - Nam Kỳ - Quảng trường và tượng Gambetta - Ảnh tư liệu 


Léon Gambetta (1838-1882, mất năm 44 tuổi) là thủ tướng kiêm bộ trưởng Bộ Ngoại giao Cộng hòa Pháp trong hai năm 1881-1882. 

Đây là khoảng thời gian Pháp đã xâm chiếm xong toàn bộ Nam kỳ lục tỉnh và chuẩn bị cho việc thôn tính hoàn toàn miền Bắc. 


Gambetta thuộc phái các nhà chính trị Pháp lúc ấy ủng hộ việc xâm chiếm mở rộng thuộc địa Pháp. 

Có lẽ vì vậy, ngay sau khi Gambetta mất, khoảng năm 1883, một khu tượng đài đã được dựng lên ngay giữa trung tâm Sài Gòn, thủ phủ Nam kỳ, nơi quân Pháp tấn công và chiếm được đầu tiên. 

Nơi đặt tượng đầu tiên: ngã tư Norodom - Pellerin 

Cụ thể nơi dựng tượng ở ngã tư Lê Duẩn (tên đường lúc dựng tượng là đại lộ Norodom) - Pasteur (Pellerin). 


Đại lộ Norodom (Lê Duẩn hiện nay) nhìn từ dinh Norodom (hội trường Thống Nhất hiện nay) về phía Thảo cầm viên. Quảng trường Gambetta với tượng đài Gambetta ngay ngã tư Norodom - Pellerin (Pasteur). Đường cắt ngang hình là đường Pasteur hiện nay - Ảnh tư liệu 


Chính diện nhóm tượng đài Gambetta ngã tư Norodom - Pellerin đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu 


Tượng đài gồm 3 khối tượng: Gambetta ở vị trí cao nhất, vai phải hướng về dinh Norodom (Dinh toàn quyền Đông Dương), tay phải để trên nòng đại bác đặt dưới chân theo đúng thực tế ngoại giao pháo hạm của Pháp lúc ấy; tay trái chỉ về hướng thành Gia Định (thành Phụng 1835) vừa bị Pháp chiếm trước đó 24 năm (ngày 17-2-1859). 


Mặt tượng đài Gambetta nhìn về phía sông Sài Gòn; lưng quay về cuối đường Pasteur hiện nay. 

Hai khối tượng còn lại tạc hai người lính Pháp trong các cuộc xâm chiếm thuộc địa. 

Bưu ảnh ghi rõ khu vực đặt tượng này là quảng trường (place). Phải chăng đây là tên gọi đầu tiên của công viên trước mặt hội trường Thống Nhất/Dinh Độc lập hiện nay? 

Long đong sang khu vực chợ Bến Thành cũ sau khi giải tỏa chợ 

Năm 1912-1914, chợ Bến Thành cũ trên đại lộ Charner (đại lộ/phố đi bộ Nguyễn Huệ hiện nay) bị giải tỏa. 

Toàn bộ khu đất chợ cũ được cải tạo thành quảng trường, đặt tên là Quảng trường Gambetta. Tất nhiên nhóm tượng đài Gambetta từ ngã tư Norodom - Pellerin phải dời về đây, lấy chỗ cho xe cộ Sài Gòn, nhất là xe hơi vốn lúc này đã đông đúc hơn đi lại cho thuận tiện. 

Nhóm tượng đài Gambetta đặt ở gần phía cuối Quảng trường Gambetta, nhìn ra đại lộ Charner; lưng hướng về đường Hồ Tùng Mậu hiện nay (bản đồ Sài Gòn 1928 ghi là đường Georges Guynemer). Tay trái chỉ về hướng đường Ngô Đức Kế (bản đồ Sài Gòn ghi đường Vannier); tay phải hướng về đường Phủ Kiệt (hiện là đường Hải Triều). 


Tượng đài Gambetta cuối Quảng trường Gambetta (khu vực chợ Bến Thành cũ sau khi giải tỏa chợ) năm 1921. Dãy nhà phía sau là dãy nhà trên đường Hồ Tùng Mậu hiện nay, hiện vẫn còn vài nhà. Bên phải ảnh là đường Ngô Đức Kế hiện nay. Chú thích của bưu thiếp ghi "Quảng trường Chợ Cũ (viết hoa) và Tượng Gambetta - Ảnh tư liệu 


Đường Hồ Tùng Mậu, mặt sau chợ Bến Thành cũ sáng 7-10. Tòa nhà Bitexco bên phải ảnh hiện nay là nơi mấy chị tiểu thương chợ chồm hổm ngồi khi xưa và là nơi đặt tượng Gambetta sau này - Ảnh: M.C. 


Khu vực đặt tượng hiện nay là tòa nhà Bitexco cao nhất TP.HCM. 

Ở đây không được bao lâu, cả khối tượng đài phải dời sang nơi ở cuối để dành chỗ cho tòa nhà kho bạc (tresor). 

Nơi ở cuối cùng: Vườn Ông Thượng hay Vườn Bờ-rô 

Tức là công viên văn hóa Tao Đàn hiện nay và được đặt phía sau khá vắng và ít người qua lại. 

Theo bản đồ Sài Gòn 1947, tượng được đặt giữa đường Trương Định đoạn qua Công viên Tao Đàn, ngã tư với đường nội bộ trong công viên giữa Cách Mạng Tháng Tám và Huyền Trân công Chúa hiện nay (hiện nay xung quanh khu vực này vẫn còn một lối đi nhỏ vòng quanh khu đặt tượng đài). 


Nơi ở cuối cùng của tượng đài Gambetta: cuối Vườn Ông Thượng/Vườn Bờ-Rô (công viên văn hóa Tao Đàn hiện nay) - Ảnh tư liệu 


Cám cảnh số phận long đong của tượng đài này, người Sài Gòn xưa có câu ca dao: Trên Thượng thơ bán giấy (ly hôn-NV) - Dưới Thủ Ngữ treo cờ - Kìa Ba (tượng đài Gambetta-NV) còn đứng chơ vơ - Nào khi núp bụi, núp bờ - Mủ di đánh dạo bây giờ bỏ em. 

Thượng thơ là dinh Thượng Thơ (hiện vẫn còn ở góc ngã tư Đồng Khởi - Lý Tự Trọng); cột cờ Thủ Ngữ cũng còn ở góc sông Sài Gòn - rạch Bến Nghé, cụ thể ở chân cầu Khánh Hội, góc đường Hàm Nghi hiện nay. 

Câu ca dao này được nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển chép trong Sài Gòn năm xưa: Thượng thơ, Phó Soái - Thủ Ngữ treo cờ, hò, hơ, - Bu-don (bouillon), ỏm lết (omelette), bí tết (beaf steak), xạc xây ờ (sacré) - Mũ ni (menu) đánh đạo, bây giờ mày bỏ tao ơ! Hớ hơ. 

(Cụ Vương Hồng Sển chú giải đó là lời của một chị bếp (...) "vừa tế nhị, bình dân. Đố ai sửa chữa hoặc thêm bớt được chữ nào. Ban đầu chị kể đường dài thậm thượt từ trước dinh Thượng thơ trải qua dinh Phó Soái, đoạn đến bờ sông... kể các thức ăn gồm hầm bà lằng xạc xây (sacré) và hổ lốn: nào nước xúp bù don, nào hột gà chiên ỏm lết, nào thịt bít tết... Vừa kể chị vừa nhắc ngày thường chồng vợ nhỏ to thủ thỉ luận câu đạo đức, té ra mấy câu “đánh đạo khuyên đời” này mới rõ dẫu chép ra ắt không đầy tờ giấy lộn ra món ăn (menu): khổ ơi là khổ"). 

Riêng Ba (tượng Gambetta) thì trên bản đồ Sài Gòn 1947 vẫn còn. 

Sau đó, khi cuộc kháng chiến chống Pháp lan rộng, kết thúc của tượng khá thê thảm và... bi hài: "chánh phủ Pháp muốn thâu dụng số đồng dùng vào chiến tranh, sai thợ nấu lão Gambetta, thì hỡi ôi! Thân lão là ersatz, đồ đồng giả, không dùng được..." (Vương Hồng Sển - Sài Gòn năm xưa). 


3 vị trí tượng đài Gambetta trên bản đồ TP.HCM hiện nay: (1) Tượng Gambetta tại Sài Gòn ban đầu nằm giữa đường Norodom (nay là Lê Duẩn) và Pellerin (nay là Pasteur); (2) Tượng Gambetta nằm giữa 4 con đường: mặt trước là Đại lộ Charner (Nguyễn Huệ ngày nay), mặt sau là đường Georges Guynemer (nay là Hồ Tùng Mậu), phía bên phải là đường Vannier (nay là Ngô Đức Kế) và bên trái là Đường Phủ Kiệt (nay là Hải Triều); (3) Tượng Gambetta đặt giữa đoạn đường Trương Định khi chạy qua Công viên Tao Đàn - Đồ họa: T.Thiên 


M.D 

Ông lão lang thang được xây miếu thờ

đăng 08:11, 17 thg 10, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Từng là một lão nông lang thang, chuyên làm thuê cuốc mướn kiếm sống qua ngày. Không tên tuổi, không người thân thích, chết bên gốc cây, thế nhưng khi chết cụ lại được người dân địa phương gom góp tiền bạc xây miếu thờ khang trang, tạc tượng đồng thờ cúng. Người dân địa phương gọi đây là miếu Cố.

Miếu Cố được nhân dân đóng góp xây dựng khang trang. 


Nằm cách quốc lộ 1A khoảng 500m, miếu Cố được xây dựng khang trang, với khuôn viên rộng rãi thuộc địa phận khối 9, thị trấn cầu Giát (huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Chẳng ai biết chủ nhân ngôi mộ tên gì, bao nhiêu tuổi, quê ở đâu, theo những người cao tuổi nhất ở địa phương thì lúc họ lớn lên đã nghe các cụ xưa kể đã thấy ngôi mộ nằm ở đó.

Tượng đồng cụ Cố được đặt ngay giữa điện thờ. 


Bà Đặng Thị Thạch, thành viên của ban trông coi miếu Cố cho biết, không ai trong làng biết rõ tung tích về Cố. Lúc nhỏ tôi thường được nghe kể rằng, cụ là một lão bần nông chuyên đi làm thuê cuốc mướn ở khu vực cầu Giát để kiếm ăn qua ngày, tài sản duy nhất của cụ là một chiếc cuốc dùng làm việc.

Không có người thân, nhà cửa nên mỗi tối sau một ngày làm thuê, cụ lại về gốc cây đa cổ thụ nằm nghỉ ngơi. Vào một ngày nọ, người ta không thấy cụ đi làm tìm đến gốc cây thì thấy cụ đã chết. Dân làng thương tình mua chiếc chiếu quấn lại rồi đem chôn ngay cạnh gốc cây đa. Cụ chết được một thời gian thì cây đa cũng héo dần rồi chết”.

Xung quanh Miếu còn có hòn non bộ. 


Ngày ấy, mộ cụ Cố chỉ là một ụ đất, nằm bên cạnh gốc đa, cỏ mọc um tùm, xung quanh là đồng ruộng. Người dân đi qua về lại thương tình vì không người hương khói thường lấy nắm đất, hòn đá đặt lên, dần dần tạo thành một ngôi mộ lớn. Người dân cho rằng mộ cụ rất linh thiêng, khi bị mất trâu bò, hay gặp chuyện xui xẻo thường tìm đến cầu khấn thì thấy linh nghiệm.

Theo bà Thạch, vào thập kỷ 90, làng này có nhiều nhóm người dân làm nghề nấu vôi, ông Bùi Văn Á ở làng cũng xây lò vôi nhưng cả hai lần đầu nấu đều bị sống. Ông Á đã đến mộ Cố cầu xin cho mẻ vôi tiếp theo chín sẽ dùng vôi đó xây mộ cho cụ. Quả nhiên, mẻ vôi thứ 3 chín như mong muốn. Ông Á đã gọi con cháu ra xây tường bao quanh mộ cho cụ. Sau đó ông Á tiếp tục đứng ra kêu gọi người dân khắp nơi đóng góp để lăng mộ cho cụ.

Cổng vào miếu Cố. 


Sau 3 lần xây dựng, bằng công sức và tiền bạc của người dân quyên góp, năm 2005 miếu Cố được hoàn thành. Phía trên ngôi mộ được lát gạch màu đỏ, cao ráo, sạch sẽ. Trên cùng là bức tượng khắc họa chân dung cụ Cố theo mô phỏng của các cụ cao niên. Phía dưới nền lát gạch hoa, bên trên còn đặt một chiếc chiếu rộng để cho người dân đến dâng hương, cầu khấn. Với diện tích 500 m2, không gian Miếu Cố trở nên thoáng đãng, thanh tịnh.

Nghe tiếng miếu Cố linh thiêng, người dân khắp nơi tìm đến hương khói, cầu an, cầu lộc. Cũng có người đến vì đồng cảm cho người đàn ông bạc phận, chết đói chết rét, không người thờ phụng. Cứ đến ngày rằm, mồng một, hàng trăm lượt người từ khắp nơi từ Quỳnh Lưu, Hoàng Mai, Diễn Châu, Yên Thành, T.P. Vinh tìm về thắp hương. Đầu năm 2016, một số người dân đã góp tiền đúc tượng đồng cho cụ.

Khách thập phương qua đây thường tìm đến miếu Cố thắp hương, cầu khấn. 


Chị Nguyễn Thị Hồng ở xã Diễn Mỹ chia sẻ: “Vào ngày rằm và mồng Một hàng tháng tôi thường đến miếu Cố thắp hương cầu an cho gia đình, chuyện miếu linh thiêng hay không thì tùy theo quan niệm tâm linh của mỗi người nhưng mỗi lần đến đây tôi thấy tâm mình nhẹ nhàng, yên tĩnh. Nhiều người tìm đến miếu không chỉ để thắp hương mà còn vì tò mò vì sao một ông lão bần nông nghèo khổ lại được người dân xây điện thờ hoành tráng”.

Hiện nay, khối 9 Thị trấn Cầu Giáp đã lập ra ban trông coi miếu Cố, các thành viên trong ban đứng ra bảo vệ, dọn dẹp và hương khói.

Lan Thái

Cao Biền ở đất Phú Yên

đăng 05:54, 12 thg 9, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Cao Biền (821-887) là một danh tướng đời nhà Đường. Tên tuổi Cao Biền gắn với những truyền thuyết huyền hoặc của người Việt. Những truyền thuyết ấy kể rằng Cao Biền thấy ở đất Giao Châu có nhiều kiểu đất đế vương, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét, rồi dùng phép thuật phá những nơi có hình thế sơn thủy đẹp, và chặn những đất có long mạch bằng cách đào những giếng khơi rất sâu.

Truyền thuyết núi Cánh Diều ở Ninh Bình kể rằng Cao Biền thường cưỡi diều giấy đi dò phá long mạch nước Nam, khi bay đến đất Hoa Lư đã bị một đạo sĩ cùng nhân dân ở đây dùng tên bắn, Cao Biền bị trọng thương, diều gãy cánh rơi xuống một hòn núi, từ đó hòn núi mang tên là núi Cánh Diều.


Ở Phú Yên có một gò cát và đất sỏi gọi là mả Cao Biền.


Mả Cao Biền ở Tuy An. Ảnh: Trần Quỳ trên Báo Phú Yên online


Mả Cao Biền là một gò cát và đất sỏi đá nhô lên như một ngọn đồi thấp ờ thôn Đồng Môn, xã An Hải, huyện Tuy An, Phú Yên. Trên đỉnh đồi có một cồn cát nổi cao, trải qua bao nhiêu năm tháng vẫn giữ nguyên không hề bị xói mòn. Dân gian có câu ca dao:


Cao Biền táng tại Đồng Môn

Trên sơn, dưới thuỷ trời chôn Cao Biền.


Ấy, nhưng Cao Biền đi đâu mà chết chôn ở Tuy An, Phú Yên? Lịch sử có ghi rằng Cao Biền được cử sang xứ Giao Châu dẹp loạn ở nước Nam Chiếu (thời bấy giờ vùng đất Phú Yên thuộc nước Nam Chiếu chứ không phải nước Giao Chỉ). Có một bài vè kể lại chuyện này. Đoạn đầu kể về xuất thân của Cao Biền, sang đất Nam trấn yểm long mạch:


Cao Biền từ thuở nhà Đường

Biệt tài địa lý, thạo luôn phép màu
Bút thần biết ở cung sâu
Xin vua chọn bút ngõ hầu mưu toan
Vẽ diều rồi điểm mắt Loan
Cỡi chim vượt núi phương Nam đi tìm
Hàm Long, Long Đổ kỳ duyên
Trấn yếm linh huyệt giữ quyền trị dân

Khi Cao Biền cỡi diều bay tới đất Phú Yên thì người dân biết chuyện, ra sức chống cự:


Tiếng đồn lan khắp xa gần
Nơi này biết được hợp quần cùng lo
Mua cung lớn, sắm ná to
Chờ cho Biền đến bắn cho nát diều

Thế rồi đến một buổi chiều
Họ Cao ngất ngưởng phiêu diêu lưng trời
Bỗng nhất loạt, bắn khắp nơi
Rừng tên vây phủ làm rơi diều thần
Ô Loan từ ấy hoá thân
Mắt thành ngọc điệp, vảy chân sò, hàu
Bộ lông hoá kiếp rau câu
Tạo nên đặc sản hàng đầu quê ta


Đầm Ô Loan. Ảnh: Báo Ảnh Việt Nam


Đó là sự tích phát sinh ra đầm Ô Loan. Người ta kể rằng con diều - có nơi nói là con quạ - bị bắn rơi xuống vẫy vùng trước khi chết làm thành một vùng trũng, sau này thành đầm Ô Loan (mả Cao Biền nằm ở không xa phía Đông đầm Ô Loan). Và cho rằng tên Ô Loan là do tích này mà ra (Ô là con quạ, Loan là chim loan như trong câu Vẽ diều rồi điểm mắt loan).


Cao Biền về cõi tha ma

Nắm xương gửi lại không xa vùng đầm
Chiếc giày thuở ấy âm thầm
Rơi trên vách đá bao năm vẫn còn
Cái mũ thì rớt cao hơn
Cách mấy hòn núi là hòn Mão đây.

Còn Cao Biền thì rớt xuống chết ở vị trí nay là mả Cao Biền, đất cát vùi lấp thành gò. Đoạn cuối bài vè còn kể về sự tích phát sinh hòn Mão, dấu giày trên gành Cây Sung...


Ngày nay mả Cao Biền, hòn Mão, gành Cây Sung vẫn còn đó, riêng đầm Ô Loan còn là thắng cảnh quốc gia và có những món hải sản tuyệt ngon, như sò huyết đầm Ô Loan.


Theo sử Trung quốc, Cao Biền về Tàu và bị cấp dưới là Lã Dụng Chi hãm hại, bị giết vào năm 887 ở Dương Châu (Trung quốc). Vì vậy, mả Cao Biền ở Phú Yên chắc chắn không phải là nơi chết của ông ta rồi. Sự tích đầm Ô Loan, hòn Mão... cũng chỉ là huyền thoại, không có bao nhiêu phần trăm là sự thật. Có điều ngồi trên đầm Ô Loan thưởng ngoạn cảnh đẹp, thưởng thức món sò huyết ô loan nổi tiếng và nghe kể chuyện huyền thoại thì cũng thú vị lắm chứ, phải không các bạn?


Đầm Ô Loan. Ảnh: PHN


Một bữa ăn hải sản trên đầm Ô Loan. Ảnh: PHN


Phạm Hoài Nhân

Theo tư liệu của ông Nguyễn Đình Chúc và báo Phú Yên

Dấu chân chúa Nguyễn bên bờ sông Thạch Hãn

đăng 03:35, 9 thg 9, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Nguyễn Hoàng (1525 - 1613), tức là Chúa Tiên, là người tiên phong mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía nam, mở đầu cho việc hùng cứ phương nam của chín đời Chúa Nguyễn, lập nên vương triều nhà Nguyễn.

Nguyễn Hoàng (sinh tại Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hóa) là con trai thứ hai của Nguyễn Kim (1468 - 1545) và bà Nguyễn Thị Mai (quê ở Hải Dương). Theo phả hệ họ Nguyễn ở Gia Miêu, ông là hậu duệ của Nguyễn Bặc.

Năm 1527, khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê, Nguyễn Kim phải tránh sang Lào, xây dựng lực lượng, tìm cách khôi phục nhà Lê. Lúc ấy Nguyễn Hoàng mới lên 2 tuổi, Nguyễn Kim để Nguyễn Hoàng lại cho em ruột là Nguyễn Ư Dĩ nuôi dưỡng.

Lúc Nguyễn Hoàng 20 tuổi, Nguyễn Ư Dĩ thường khuyên Nguyễn Hoàng lập công danh sự nghiệp. Nguyễn Hoàng làm quan dưới triều Lê, lập nhiều công lớn, được vua Lê Trung Tông phong tước Thái úy Đoan Quốc Công.

Năm 1545, Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đầu độc, quyền lực trong triều đình Hậu Lê rơi vào tay Trịnh Kiểm, anh trai Nguyễn Hoàng là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết, Nguyễn Hoàng cho người tìm đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để xin lời khuyên, Trạng Trình nói: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.

Ông nhờ chị ruột mình là Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin Chúa Trịnh cho vào trấn thủ đất Thuận Hoá (từ Quảng Bình đến Thừa Thiên-Huế ngày nay). Trịnh Kiểm thấy Thuận Hóa là nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi nên Trịnh Kiểm đã đồng ý, bèn tâu vua Lê Anh Tông nên cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ (1558).

Năm 1558, Nguyễn Hoàng đem gia quyến cùng các tướng Nguyễn Ư Dĩ, Mạc Cảnh Huống, Văn Nham, Thạch Xuyên, Tường Lộc, Thường Trung, Vũ Thì Trung, Vũ Thì An và hàng nghìn đồng hương thân tín Thanh - Nghệ xuống thuyền vào nam. Đoàn thuyền đã đi vào cửa Việt Yên (nay là Cửa Việt), đóng trại tại Gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) và đã chọn nơi này để lập thủ phủ gọi là dinh Ái Tử.

Năm 1569, Trịnh Kiểm phong cho Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân kiêm quản cả Xứ Quảng Nam và Xứ Thuận Hóa. Tháng 01 năm 1570, Nguyễn Hoàng dời dinh về làng Trà Bát, nằm gần Ái Tử, chếch về phía đông bắc, cạnh bờ tây sông Thạch Hãn (nay là làng Trà Liên Tây, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong). Gọi là Dinh Trà Bát. Năm 1600, ông mới dời dinh sang phía đông của dinh Ái Tử, gọi là Dinh Cát.

Làng Trà Liên Tây


Nơi xưa kia, chúa Tiên lập dinh Trà Bát.


Sông Thạch Hãn chảy qua làng Hậu Kiên (cạnh làng Cổ Thành và chợ Sãi xưa) thì uốn cong 90 độ về hướng tây một đoạn lại quanh 90 độ tiếp vè hướng bắc. Ở khúc quan thứ hai, dòng sông bị xói lở (dù đã bị đập Trấm ngăn sức nước chảy từ nguồn về). Ảnh chụp ngày 26/4/2016 ở vị trí làng Tiền Kiên, nơi bờ sông có những mảnh vỡ bằng sành, có thể là dấu tích của vùng sản xuất gốm xa xưa. Tả Kiên và Tiền Kiên nằm về phía nam của làng Trà Liên Tây, vị trí của dinh Trà Bát ngày xưa.


Am nhỏ, nơi đặt tượng ngài Nguyễn Ư Dĩ nằm trong khuôn viên đình làng Tà Liên Tây hiện nay.


Tượng Thái phó Nguyễn Ư Dĩ.


Vùng Trà Bát xưa, đến nay vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại và một số di tích sau hơn 400 năm và những thời gian chiến tranh ác liệt tàn phá. Các bạn có thể đọc thêm một số thông tin từ báo chí, như:


Rải rác ở khu vực làng Tiền Kiên ngày nay vẫn còn dấu tích những ngôi mộ cổ của những người Chăm (châu Ô, châu Rí) từ trước khi Chúa Tiên vào đây dựng nghiệp.




Mai Lĩnh - Nguyễn Hiếu

Sự tích cảm động về chiếc khèn Mông

đăng 17:23, 7 thg 9, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Chiếc khèn tồn tại lâu đời và mang đậm bản sắc văn hóa của cộng đồng người Mông Nghệ An. Xung quanh chiếc khèn ấy còn chứa đựng câu chuyện cảm động về tình ruột thịt, anh em.

Đang ngồi lau chùi lại chiếc khèn lớn treo trên vách nhà, già làng Lầu Xái Phia (bản Nậm Khiên – Nậm Càn – Kỳ Sơn) bảo rằng: “Đời sống của người Mông không thể tách rời khỏi tiếng khèn. Tiếng khèn là tiếng nói của người Mông ta đó”.

Cây khèn luôn gắn bó với cuộc sống người Mông ở miền Tây xứ Nghệ. 


Xoay quanh câu chuyện về chiếc khèn và nguồn gốc ra đời, cụ Xái Phia kể: Ngày xưa, trong một gia đình nọ có 6 anh em mồ côi cha mẹ nhưng họ biết yêu thương nhau hết mực. Họ đi đâu cũng có nhau, chẳng bao giờ chịu chia xa.

Một năm nọ, trời làm lũ lụt, mùa màng mất hết, đói kém xảy ra khắp nơi. 6 anh em cùng dân làng di tản lên vùng núi cao để tránh lũ và kiếm cái ăn. Tuy nhiên, 4 trong số 6 anh em đã không thể vượt qua được cơn lũ tàn khốc nơi rừng núi. Còn lại 2 anh em, thì 1 người bị dòng nước đẩy sang phía bên kia sông, nơi người chết nhiều vô số kể, những sọ dừa nằm lăn lóc dưới chân làm cho người em vô cùng sợ hãi.

Người Mông gửi gắm tất cả tâm tình của mình trong tiếng khèn. 


Trong cảnh chia lìa, không thức ăn, nước uống, 2 anh em tưởng đã đến bước đường cùng, họ nghĩ đến cái chết đang đợi mình phía trước. Nhưng trước lúc chết, người anh muốn gửi những lời yêu thương đến với người em của mình đang ở bên kia dòng lũ. Anh bèn lấy xương người chết mài thành dao cắt một cây nứa làm sáo.

Khi cây sáo được làm xong, anh thổi lên nhưng cảm thấy thiếu mất một thứ gì đó rất thiêng liêng. Tiếng sáo của anh vút lên chỉ nói được tiếng nói của bản thân mà chưa hòa nhịp được với tiếng nói của những anh em mình. Sau một hồi suy nghĩ, anh làm tiếp 5 cái nữa tượng trưng cho tiếng nói của 5 anh em còn lại.

Chiếc khèn của người Mông mang trong mình biểu tượng về nghĩa tình anh em, thể hiện một trong những nét văn hóa giàu bản sắc của cộng đồng dân tộc này. 


Sau khi gắn kết sáu cây sáo với nhau, người anh cả thổi lên thấy nỗi lòng mình hòa nhịp với tiếng nói của các em. Tiếng khèn vang trong rừng núi nói lên nỗi niềm của người Mông từ khi sinh ra cho đến lúc về thế giới bên kia. Cái ngắn nhưng to nhất gọi là “đí lua” tượng trưng cho người anh cả, cái dài nhất là “đí bùa” tượng trưng cho anh thứ hai, cái thứ 3 là “đí từ”, cái thứ 4 là “đí sờ”, cái thứ 5 là “đí tờ”, cái nhỏ nhất là em út “đí trồ”.

Trong đám tang của người Mông không thể thiếu tiếng khèn. 


Tiếng khèn của người anh bay khắp núi rừng làm cho chim chóc, thú vật ngỡ ngàng không hiểu vì sao hôm nay lại có âm thanh hay đến như vậy. Các con vật khắp nơi rủ nhau kéo đến xem rất đông. Chúng đều ngỏ ý muốn xin người anh một cái để thổi. Người anh ra điều kiện, nếu con vật nào giúp 2 anh em đoàn tụ thì sẽ cho con vật đó cây sáo lớn nhất.

Cả vượn và diều hâu đều xung phong đưa người qua sông nhưng loài diều hâu chỉ biết dùng móng vuốt của mình nâng đỡ cho người anh còn loài vượn ra sức cõng người anh trên lưng bơi qua dòng nước lũ. Sau khi qua được sông, gặp lại người em, xét công lao của hai con vật, người anh tặng vượn cây sáo to nhất, kêu vang và hay nhất là cái “y lua”, còn loài điểu ưng được tặng cái nhỏ hơn. Chính vì lẽ đó mà loài vượn mới có tiếng kêu vang và hay như bây giờ.

Trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Mông không bao giờ thiếu tiếng khèn. 


Ngồi trầm lặng bên bếp lửa, cụ Lầu Xái Phia nói: “Từ bao đời nay, người Mông ta đều thể hiện nỗi lòng của mình vào tiếng khèn. Thổi khèn để trai gái yêu nhau, thổi khèn để hồn vía tổ tiên về đoàn tụ với gia đình, để linh hồn người chết được siêu thoát…”

Đào Thọ

1-10 of 14