Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Sự thật về thân phụ Trần Thủ Độ, được thờ trong ngôi đền khổng lồ ở Thái Bình Ngày 14/9 tới đây, Ban chấp hành họ Trần Việt Nam tổ chức đại lễ giỗ Đức Hoằng Nghị Đại Vương, phụ thân Trần Thủ Độ, đón nhận Bằng ...
    Được đăng 19:56, 9 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hai ngôi chùa kỳ lạ ở Hải Phòng: Cứ bất hòa đến cửa chùa là hết giận Hai ngôi chùa ở vùng quê yên bình ấy đã góp phần hóa giải biết bao vụ cãi vã nghiêm trọng tưởng chừng như phải ra tòa án phân xử ...
    Được đăng 19:47, 9 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Huyền bí Ông Đỏ, Ông Đen 700 tuổi trong chùa cổ Bình Định Tượng Ông Đỏ và Ông Đen ở chùa Nhạn Sơn được người Chăm tạo tác từ thế kỷ 13. Xung quanh hai pho tượng có một giai thoại lịch sử ...
    Được đăng 02:09, 6 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bí ẩn con đèo chết chóc ở Khánh Hòa Đèo Rù Rì thuộc phường Vĩnh Hải (TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa). Theo người dân địa phương, tên đèo gắn với tên loài chim sinh sống quanh những ngọn ...
    Được đăng 01:06, 25 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tìm hiểu về truyền thuyết ngôi mộ công chúa Mỹ Thanh 1. Bí ẩn về ngôi mộ đá ong và truyền thuyết Trên tuyến lộ Nam Sông Hậu đi từ TP. Cần Thơ đến tỉnh Bạc Liêu, khi đi qua cầu ...
    Được đăng 21:12, 11 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 14. Xem nội dung khác »


Sự thật về thân phụ Trần Thủ Độ, được thờ trong ngôi đền khổng lồ ở Thái Bình

đăng 19:56, 9 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày 14/9 tới đây, Ban chấp hành họ Trần Việt Nam tổ chức đại lễ giỗ Đức Hoằng Nghị Đại Vương, phụ thân Trần Thủ Độ, đón nhận Bằng của Liên hiệp các hội UNESCO Thế giới tôn vinh các giá trị di sản lịch sử văn hóa thời Trần thế kỷ thứ 13.

Tại làng Phương La, họ Trần đã xây dựng một ngôi đền cực lớn, uy nghi, thờ phụng thân phụ Trần Thủ Độ. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu sử Đặng Hùng (Hội viên hội Khoa học lịch sử Việt Nam) lại phản đối quyết liệt chuyện này. Theo ông, Hoằng Nghị Đại Vương là một nhân vật không có thật, không phải bố của vị tướng kiệt xuất Trần Thủ Độ, nên việc tôn vinh của Liên hiệp các hội UNESCO Thế giới là thiếu cẩn trọng.

Ông Hùng đã gửi đến Báo điện tử VTC News rất nhiều tài liệu khẳng định Hoằng Nghị Đại Vương là nhân vật không có thật. Báo đăng tải bài viết của ông Hùng để rộng đường dư luận.

Các bộ quốc sử thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn đều không cho biết rõ thân sinh của Trần Thủ Độ là ai. Riêng về Trần Thủ Độ, thì phần lớn các nhà sử học xưa và nay đều thống nhất ở một điểm: Trần Thủ Độ là chú họ của Trần Cảnh (vua Trần Thái Tông), quê hương ông ở làng Lưu Xá, huyện Ngự Thiên, lộ Long Hưng... 

Từ xưa đến nay, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử nhà Trần và cuộc đời của Thái sư Trần Thủ Độ vẫn chưa tìm được câu trả lời rõ ràng về thân phụ, thân mẫu cùng các thế hệ con, cháu, chút... của ông.

Năm 1995, Viện Sử học Việt Nam và Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình phối hợp tổ chức hội thảo: "Trần Thủ Độ - con người thời Trần" tại Thái Bình, lần đầu tiên công bố thân sinh của Trần Thủ Độ là Trần Hoằng Nghị Đại vương. Tư liệu của tác giả Dương Quảng Châu đưa ra không dựa vào các cơ sở khoa học chính sử mà cơ bản là căn cứ vào các tài liệu điền dã khảo sát ở các địa phương trong tỉnh Thái Bình và tỉnh bạn. 



Ngôi đền khổng lồ thờ Hoằng Nghị Đại Vương 

Thông tin của tác giả Dương Quảng Châu đã ít nhiều gây được sự chú ý của dư luận xã hội, đồng thời cũng tạo ra sự tranh luận trong các nhà nghiên cứu sử học Trung ương và địa phương. Trong tập sách nói trên, đồng tác giả Dương Quảng Châu - Phạm Hóa với bài "Đất và người Long Hưng trong sự nghiệp phù Trần", thông qua các tư liệu điền dã, hai ông đã tái khẳng định một lần nữa về thân sinh của Trần Thủ Độ là Trần Hoằng Nghị.

Trong vài năm gần đây, một số tác giả khi viết về Trần Thủ Độ đã dựa vào tư liệu điền dã được công bố của cụ Dương Quảng Châu và cho rằng cha đẻ của ông là Trần Hoằng Nghị.

Nhưng có đúng "Trần triều Hoằng Nghị Đại Vương" là Trần Hoằng Nghị không? Ông có đúng là thân sinh của Trần Thủ Độ không? Đây có phải tên khai sinh do bố mẹ đặt cho Trần Hoằng Nghị hay chỉ là mỹ tự triều đình ban phong cho một người nào đó được thờ tự ở đền Bách Linh (Hạ Liệt, Thái Hà, Thái Thụy)?

Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta cần tìm hiểu các thông tin tư liệu điền dã mà tác giả Dương Quảng Châu đã nêu ra trong hai bài viết của mình.

Trong bài "Trần Thủ Độ với Thái Bình", tác giả Dương Quảng Châu viết: "...Các bô lão ở Trực Nội (tổng Trực Nội nay thuộc hai xã Đông Quang, Đông Xuân, huyện Đông Hưng, Thái Bình) vào vùng Động Núi, được các bô lão ở địa phương cho biết: ở vùng này có nhiều nơi thờ An Hạ Vương. Theo thần phả ghi An Hạ Vương là con thứ hai của Trần Hoằng Nghị Đại Vương, em An Quốc Đại Vương, là anh Trần Thủ Độ"...

"Trong một trận chiến đấu, Trần Hoằng Nghị và một số chỉ huy đã chết trận cùng với một số chiến sĩ, được nhân dân Hạ Liệt (nay là xã Thái Hà, Thái Thụy) lập đền thờ ở cánh đồng Hạ Liệt, coi như thờ bách linh trận vong chiến sĩ, ngôi duệ hiệu cao nhất là "Trần triều Hoằng Nghị Đại Vương, Thượng đẳng Phúc thần". Các cố lão ở Hạ Liệt cũng cho biết về văn tế đọc đầu tiên là Nguyên tổ Hoằng Nghị Đại Vương trước rồi mới đến bách linh chư vị, thần quan, thần tướng, trận vong chiến sĩ vong linh

Quảng trường rộng mênh mông trước ngôi đền 

Ai sinh ra Hoằng Nghị Đại Vương? Theo các nguồn tư liệu điền dã và thành văn đã sưu tầm được thì cụ Trần Hấp, con trai cụ Trần Kinh đã sinh ra hai người con trai là Trần Lý và Trần Hoằng Nghị...". Nhưng lạ thay, trong bài "Đất và người Long Hưng trong sự nghiệp phù Trần" (đồng tác giả Dương Quảng Châu - Phạm Hóa) in ở sách "Nhà Trần và con người thời Trần", lại viết nhiều chi tiết rất khác về bố, mẹ, anh em của Trần Hoằng Nghị và anh em của Trần Thủ Độ cũng có sự "thay đổi số lượng" so với bài "Trần Thủ Độ với Thái Bình" của cùng tác giả.

Cụ thể là: "...Đến thời Trần Kình (chữ Hán là Trần Kinh), đánh cá ở vùng sông nước Tức Mặc (Nam Định) thành thân với người con gái ở đấy, sinh ra Trần Hấp, Trần Mẽ, Trần Quả (tức Trần Hoằng Nghị)... "Hai người con trai của cụ Trần Hoằng Nghị là Trần An Quốc, Trần An Bang (Trần Thủ Độ), đời sau đều là danh tướng nhà Trần".

..."Trần An Quốc lấy em gái của Đàm Thị (Đàm Thái Hậu, bà là hoàng hậu của vua Lý Cao Tông) là Đàm Chiêu Trinh. Bà Đàm Chiêu Trinh gắn bó với tướng quân An Hạ và ấp Hà Nội từ đấy. Trần An Quốc từng làm trấn thủ Diễn Châu, được phong làm An Hạ Vương đời vua Trần Thái Tông".

Chỉ cần đọc kỹ hai bài viết của cùng tác giả Dương Quảng Châu ở hai sách (in cách nhau 9 năm) chúng ta đã thấy nảy sinh nhiều mâu thuẫn và sự khác biệt rất rõ ràng về bố, mẹ, anh, em của Trần Hoằng Nghị và Trần Thủ Độ:

Ở bài "Trần Thủ Độ với Thái Bình" (tạm gọi là bài 1), tác giả dựa vào tư liệu điền dã và cho rằng Trần Hấp là bố của Trần Hoằng Nghị: "Trần Hấp sinh ra hai người con trai là Trần Lý và Trần Hoằng Nghị" và Trần Hoằng Nghị lại sinh ra ba người con trai là Trần An Quốc, Trần An Hạ, Trần Thủ Độ. Nhưng trong bài "Đất và người Long Hưng trong sự nghiệp phù Trần" (tạm gọi là bài 2), thì các tác giả Dương Quảng Châu - Phạm Hóa lại đưa ra một thông tin khác hẳn: "Trần Kinh sinh ra Trần Hấp, Trần Mẽ, Trần Quả (tức Trần Hoằng Nghị)".

Rõ ràng ở đây có sự mâu thuẫn về tư liệu điền dã mà tác giả đã đưa ra. Ta thấy thật vô lý khi thì cho rằng Trần Hấp là bố của Trần Hoằng Nghị, lúc thì lại nói Trần Hấp là anh của Trần Hoằng Nghị. Lúc thì tác giả viết Trần Hoằng Nghị có ba người con (bài 1). Nhưng ở bài (bài 2) thì tác giả lại đánh đồng Trần An Quốc với Trần An Hạ là một và cho rằng Trần Hoằng Nghị sinh được hai người con trai là Trần An Quốc và Trần Thủ Độ. Không hiểu tài liệu điền dã này tác giả thu nhận ở đâu mà lại có sự mâu thuẫn đến khó hiểu như vậy (?) làm cho người đọc, người nghiên cứu nhà Trần như bị sa vào trận đồ bát quái.

Chúng tôi đã về làng Miễu (xã Đông Quang, thuộc tổng Trực Nội trước đây, nay thuộc huyện Đông Hưng) để tìm hiểu về Trần An Quốc (Trần An Hạ). Cùng đi có nhà nghiên cứu dân gian Nguyễn Tiến Đoàn và dịch giả Vũ Công Hoan. Hai ông đã dịch hai tấm bia làng Miễu. Theo các cụ già trong làng thì tấm bia này có từ thời nhà Trần và được đưa từ lăng mộ của vợ chồng An Hạ Vương vào cửa hậu cung của đình làng từ năm 1961.

Nội dung văn bia đã cho thấy nhiều vấn đề khác hẳn với tư liệu của tác giả Dương Quảng Châu đưa ra. Theo lời dịch văn bia của hai ông Nguyễn Tiến Đoàn và Vũ Công Hoan thì An Hạ Vương không phải là Trần An Hạ hay Trần An Quốc. Ông là cháu của Lý Anh Tông chứ không phải là con của Trần Hoằng Nghị: "Lý triều An Hạ Vương, Anh Tông hoàng đế chi tôn, Quý Thịnh hầu giã, nguyên sách Động Nhuế Hương Nhân".

Bên trọng ngôi đền thờ Hoằng Nghị Đại Vương 


An Hạ Vương lấy bà Đàm Chiêu Trinh chứ không phải Trần An Quốc lấy bà Đàm Chiêu Trinh như cụ Dương Quảng Châu đã lầm tưởng. Do có công lao đánh giặc Chiêm xâm lược nên ông được triều đình nhà Lý phong tước Quý Thịnh hầu. Sang thời nhà Trần, ông trấn giữ châu Nghệ An và khi chết được vua Trần ban phong là An Hạ Vương, cho đưa hài cốt về chôn cất tại hương Động Nhuế (đất được phong ấp của hai vợ chồng An Hạ Vương), triều đình đã giúp cho dân làng xây lăng mộ, đền miếu dựng bia để thờ hai vợ chồng ông...

Trong bài "Trần Thủ Độ với Thái Bình", tác giả Dương Quảng Châu có nhắc tới đền thờ Trần Triều Hoằng Nghị Đại Vương ở cánh đồng Hạ Liệt, Thái Hà, Thái Thụy. Chúng tôi đã trao đổi với nhà nghiên cứu dân gian Nguyễn Tiến Đoàn và dịch giả Vũ Công Hoan về ý nghĩa nội dung chính xác của câu: "Trần triều Hoằng Nghị Đại Vương, Thượng đẳng Phúc thần". Hai ông đều cho rằng, ở câu trên cần hiểu: Đây là vị Phúc thần cao nhất (Thượng đẳng Phúc thần) được triều đình nhà Trần ban tặng mỹ tự là Hoằng Nghị Đại Vương. Rõ ràng đây là mỹ tự của vị Phúc thần tại đền Hạ Liệt (nếu có thật?) chứ không phải như nhiều người lầm tưởng là tên người Trần Hoằng Nghị.

Cũng trong bài trên, tác giả Dương Quảng Châu viết: "Trong một trận chiến đấu, Trần Hoằng Nghị và một số chỉ huy đã chết trận cùng với một số chiến sĩ được nhân dân Hạ Liệt (nay là xã Thái Hà, Thái Thụy) lập đền thờ ở cánh đồng (Hạ Liệt) coi như thờ bách linh trận vong chiến sĩ, ngôi duệ hiệu cao nhất là "Trần Triều Hoằng Nghị Đại Vương. Thượng đẳng Phúc thần". Các cố lão ở Hạ Liệt cũng cho biết văn tế đầu tiên đọc là: Nguyên tổ Hoằng Nghị Đại Vương trước, rồi mới đến bách linh, chư vị thần quân, thần tướng, trận vong chiến sĩ vong linh.

Qua tìm hiểu ở xã Thái Hà - Thái Thụy, chúng tôi đã phát hiện ra sự nhầm lẫn rất đáng tiếc của tác giả Dương Quảng Châu. Thực tế ở xã Thái Hà không có thôn Hạ Liệt. Theo sách "Tên làng xã Thái Bình qua các đời" và "Địa danh Thái Bình xưa và nay" thì thôn Hạ Liệt, Phất Lộc, Phù Liệt, Trung Liệt trước Cách mạng Tháng tám năm 1945 thuộc tổng Thượng Liệt huyện Đông Quan. Sau 1945, cả bốn thôn này đều thuộc xã Đằng Giang. Năm 1955, xã Đằng Giang đổi tên thành Thái Giang (nay thuộc Thái Thụy).

Xã Thái Hà thành lập năm 1955, ở đây có làng Thuyền Quan, thời nhà Lê gọi là làng Cù Khê. Vào đầu thế kỷ XVI, con sông Trà Lý chảy gần làng có ngã ba gọi là ngã ba Cun (hay Côn Giang). Hoàng giáp Thượng thư Quách Hữu Nghiêm đi thuyền qua khu vực này đã bị sóng đánh đắm thuyền. Ông và quân lính đi theo đều tử nạn. Để tưởng nhớ quan Thượng thư Quách Hữu Nghiêm, dân làng đã bỏ tên làng Cù Khê và đổi thành làng Thuyền Quan, thuộc tổng Trực Hoài, huyện Thanh Quan, phủ Tiên Hưng.

Thực tế ở cánh đồng làng Cù Khê (Thái Hà) có một ngôi đền nhưng là đền nhân dân xây dựng để tưởng nhớ Quách Hữu Nghiêm cùng quân lính, gọi là đền Bách Linh. Nhân thần được thờ ở đền là Quách Hữu Nghiêm chứ không phải là Trần Hoằng Nghị như cụ Dương Quảng Châu và một số người lầm tưởng.

Lần tìm về thôn Hạ Liệt, xã Thái Giang và căn cứ vào Thư mục thần tích, thần sắc thì trước đây tổng Thượng Liệt, huyện Thanh Quan có 10 làng, hai làng Hạ Làng và Hạ Liệt cũng thuộc tổng này. Điều đáng chú ý là cả tổng Thượng Liệt xưa đều không có đền miếu nào thờ "Trần Triều Hoằng Nghị Đại Vương". Cụ thể, Hạ Liệt thờ hai vị nhân thần là Bảo Anh, Đông Hải và hai vị thiên thần là Tây Hải, Nam Hải. Hạ Làng thờ hai vị nhân thần Bảo Anh, Đông Hải và hai vị thiên thần Tây Hải, Nam Hải.

Như vậy đã rõ, ở cánh đồng Hạ Liệt, Thái Giang không thờ Trần Hoằng Nghị. Xã Thái Hà thì không có thôn hay làng Hạ Liệt và lại càng không thờ Trần Hoằng Nghị. Đây quả là điều mâu thuẫn đến khó hiểu, có lẽ chỉ có tác giả bài viết nói trên mới lý giải nổi. Nhưng đáng tiếc cụ Dương Quảng Châu đã về nơi thiên cổ. Người viết bài này xin vong linh cụ ở trời cao hãy đại xá cho sự thất kính của kẻ hậu sinh. Nhưng thiết nghĩ dù sao sự thật lịch sử vẫn phải trả nó về đúng với giá trị vốn có của nó. Tư liệu điền dã chỉ giúp chúng ta làm sáng tỏ thêm về chân lý của sự thật. Tuyệt nhiên tư liệu điền dã không thể coi là chính sử được. Nhất là khi nó chưa được khảo sát, kiểm chứng một cách khoa học, minh bạch.

Trong bài "Trần Thủ Độ với Thái Bình", tác giả Dương Quảng Châu căn cứ theo lời ông trưởng tộc họ Trần ở làng Ứng Mão (làng Mẹo, Thái Phương, Hưng Hà) cho biết: Vị thủy tổ họ Trần ở làng này là Hoằng Nghị Đại Vương và "Ở giữa làng có chợ, bên chợ có đền Vua Ông xây thời Trần, trong kháng chiến chống Pháp, đền bị phá, hiện thu gom thờ chung với nhà thờ đại tông họ Trần ở làng Xuân La. Căn cứ theo thần tích, thần sắc thì làng Xuân La xưa thuộc tổng Lập Bái (huyện Hưng Nhân, tỉnh Thái Bình). Các vị thần được thờ ở đình, đền làng có ba người là Trang Nghị Đại Vương, Hoàng Bà Bến Súc Trấn Quốc Đại Vương, Thiên Quan Đại Vương.

Nếu Hoằng Nghị Đại Vương là người được thờ ở đền Vua Ông thì nhất định ông phải có tên trong thần tích, thần sắc của làng. Thực tế ở đình làng Phương La thờ lục vị thần hoàng nhưng không có vị nào là Hoằng Nghị Đại Vương. Ngay cả ở Xuân La cũng thế. Phải chăng mọi người đã lầm tưởng Hoằng Nghị Đại Vương là Trang Nghị Đại Vương. Thực ra Trang Nghị Đại Vương, Hoàng Bà Trấn Quốc Đại Vương và Thiên Quan Đại Vương - theo thần tích, thần sắc ở Xuân La - là ba vị thiên thần.

Căn cứ vào thực tế khảo sát ở làng Hạ Liệt (Thái Giang) và xã Thái Hà, chúng ta có thể khẳng định rằng ở hai nơi này không có đền, đình nào thờ Hoằng Nghị Đại Vương. Đó là sự thật không thể lầm lẫn được.

Đặng Hùng (Hội viên hội Khoa học lịch sử Việt Nam)

Hai ngôi chùa kỳ lạ ở Hải Phòng: Cứ bất hòa đến cửa chùa là hết giận

đăng 19:47, 9 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Hai ngôi chùa ở vùng quê yên bình ấy đã góp phần hóa giải biết bao vụ cãi vã nghiêm trọng tưởng chừng như phải ra tòa án phân xử. 

Người dân nơi đây truyền tai nhau câu ca “Đức Ông chùa Ta, Đức Bà chùa Cồn” ý nói về sự linh thiêng của hai ngôi chùa ở xã Đoàn Xá và xã Đại Hợp thuộc huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Hai ngôi chùa ở vùng quê yên bình ấy đã góp phần hóa giải biết bao vụ cãi vã nghiêm trọng tưởng chừng như phải ra tòa án phân xử. 

Hai ngôi chùa “hòa giải” 

Từ bao đời nay, cái làng chài ấy yên bình lắm, người dân nơi đây sống chan hòa, thân ái. Sở dĩ như vậy bởi đã từ lâu lắm, mỗi khi ai trong làng có chuyện cãi nhau lớn nhỏ gì mà không thể giảng hòa được thì đều kéo nhau lên chùa để thề chứng minh cho sự trong sạch, ngay thằng của mình. Thế nhưng, mới bước đến cổng chùa thôi thì sự cãi cọ đã được hóa giải, cả hai bên đều làm hòa và ai về nhà nấy. 

Rất nhiều những câu chuyện “hòa giải” giữ vẹn nguyên tình làng nghĩa xóm đều xoay quanh hai ngôi chùa kỳ lạ ở xã Đoàn Xá và xã Đại Hợp (huyện Kiến Thụy, Hải Phòng). Đi trên triền đê, rẽ xuống một ngõ xóm nhỏ thì đến được chùa Càn Thiên mà người dân quen gọi nôm na là chùa Cồn. Ngôi chùa tọa lạc ở trung tâm làng Quần Mục, xung quanh là rất nhiều nhà dân. 

Qua sự giới thiệu, tôi tìm gặp ông Phạm Văn Hy (64 tuổi), một người sống ngay cạnh chùa. Hễ cứ rảnh rỗi, ông Hy lại qua chăm sóc quét dọn cho ngôi chùa. Hơn nữa, ở đây từ nhỏ nên ông Hy năm rõ hơn ai hết những câu chuyện của người dân mà ngôi chùa giúp “giảng hòa” mỗi khi họ có xích mích. 


Chùa Cồn - nơi bà con đến thề làm hòa với nhau 

Hơn sáu chục năm sống ở đất này, chuyện làng trên xóm dưới những lúc “cơm không lành, canh không ngọt” ông Hy đều tỏ tường. “Chuyện cãi vã nhau ở đây cũng nhiều lắm, cãi nhau về đủ thứ chuyện. Ấy thế nhưng dù cãi to đến mấy, khi không có cách nào giải quyết thì người ta lại lôi nhau lên chùa này mà thề. Mà kỳ lạ, cứ ai đến cổng chùa cũng thôi không thề nữa mà làm hòa rồi rủ nhau đi về. Tôi chưa thấy một trường hợp nào phải vào đến trong chùa mà thề thốt cả”. 

Ông Phạm Văn Hy kể một loạt những vụ “oan án” điển hình xảy ra trong cuộc sống của bà con lối xóm, người trong gia đình, người trong dòng họ ở đất này cãi vã ra làm minh chứng. Từ những chuyện nguyên nhân là do mất con gà, con chó hay đồ dùng sinh hoạt. Nhà nọ đổ vạ cho nhà kia nhưng không có bằng chứng, người bị đổ vạ thì khăng khăng là mình không lấy, thế là họ mua vàng hương rồi cùng nhau lên chùa dâng hương thề bồi để tỏ rõ sự trong sạch. Thế nhưng, chẳng hiểu sao cứ hễ đặt chân đến cổng chùa thì y như rằng mọi điều nóng giận, uất hờn cả hai bên đều tự nhiên tan biến như chưa hề xảy ra. Kết quả là sau khi vào chùa dâng hương, cả hai gia đình lại vui vẻ làm hòa, lại giao hảo như chưa có chuyện xích mích xảy ra. 

Câu chuyện xem ra là đình đám nhất ở vùng đất này cách đây mấy năm là chuyện nhà cô Vũ Thị Đ. là cháu dâu của bà Nguyễn Thị L.. Một lần cô Đ. sang nhà bà L. chơi, sau khi ra về thì bà L. phát hiện mất mấy chỉ vàng. Mọi nghi ngờ bà L. đổ hết lên đầu cô Đ. khiến gia đình lục đục.

Bia đá chùa Cồn 


Không có cách nào giải quyết mà cuộc cãi vã càng lúc càng to, không ai chịu ai, dù khuyên giải thế nào cũng được. Thấy vậy, ông Hy bèn khuyên cả hai lên chùa để thề chứng minh mình hoàn toàn trong sáng. Vừa mới lúc trước, cô Đ. và bà L. khi ở nhà còn kéo tay, túm áo, mặt đỏ tía tai giằng co nhau vậy mà chỉ vào tới cửa chùa thì lạ thay chả ai dám vào chùa để mà thề mà lại dắt nhau về. Kỳ lạ hơn, sau một thời gian sau họ lại “bình thường hóa quan hệ”, sống cuộc sống hòa thuận. 

Ngôi chùa Đồng Bình nằm trên một cánh đồng ở xã Đoàn Xá cũng có những câu chuyện tương tự. Bà Niêu Thị Dùng (77 tuổi) là người thường xuyên sang giúp việc cho nhà sư trụ trì cho biết: “Chùa xây trên cánh đồng tên là Bình nên gọi là chùa Đồng Bình. Chùa Đồng Bình còn có tên là Kiến Phúc Tự”. Những câu chuyện người làng có xích mích rồi đến chùa để thề bồi ở nơi đây cũng không phải hiếm. 

Bà Dùng kể trước đây có người từng nói xấu, vu vạ cho người khác là ăn cắp, người ấy nghe được mới có những lời lẽ phản bác dẫn đến xúc phạm nhau. Sự việc gay gắt đến độ họ còn chặt đôi cây chuối để thể hiện sự trong sạch của mình và để chứng minh cho sự trong sạch ấy họ đòi đưa nhau ra chùa thề. Nhưng đến nơi chẳng ai dám vào mà thề cả, họ đứng phân vân ở cổng một lúc nói dăm ba câu chuyện tầm phào với nhau rồi… nhà ai nấy về!? 

Những huyền tích kỳ lạ về “Đức Ông chùa Ta” và “Đức Bà chùa Cồn” 

Trong một lần gặp gỡ nhà sử học Ngô Đăng Lợi, người viết bài này đã tìm hiểu về gốc tích câu ca “Đức ông chùa Ta, đức Bà chùa Cồn”, nhà sử học Ngô Đăng Lợi cho biết: Câu ca trên xuất phát là của người dân xã Đoàn Xá. “Đức Ông chùa Ta” ý nói là chùa Đồng Bình trước đây thờ Đông Hải Đại Vương (Đoàn Thượng) có công dẹp giặc biển và mở mang đất này. Còn “Đức Bà chùa Cồn” là chỉ ngôi chùa Càn Thiên bên xã Đại Hợp ngay cạnh, ngoài thờ Phật ra chùa Cồn còn thờ Mẫu. Cả hai ngôi chùa đều rất thiêng và là nơi sinh hoạt tâm linh của người dân nên họ mới lưu truyền câu ca như vậy. 

Quay trở lại về sự linh thiêng của hai ngôi chùa, những giai thoại trước đây người ta kể về hai ngôi chùa thì nhiều lắm, ví như những câu chuyện mà người dân lấy đồ của chùa về làm của riêng thì thường bị “phạt” hay đêm đêm thần phật về báo mộng đòi lại khiến người ta kinh hãi. 

Nhà sử học Ngô Đăng Lợi kể lại một số chuyện về hai ngôi chùa ẩn chứa nhiều điều kỳ bí này. Theo ông Lợi, mỗi ngôi chùa có một sự phát triển lịch sử khác nhau và những giá trị văn hóa lịch sử của nó rất rộng lớn. Có một câu chuyện về sự linh thiêng của ngôi chùa mà đến tận bây giờ dân làng nơi đây vẫn mang ra để răn dạy con cháu. 

Chùa Đông Bình ẩn chứa nhiều huyền tích 


Khoảng những năm 70 của thế kỷ trước, trong chùa có hai pho tượng đồng mà khi đúc xong người ta đem hun khói cho đen lại. Khi ấy, bọn trộm cắp đồ cổ cứ nghĩ đây là hai pho tượng đồng đen quý giá nên nhòm ngó rình rập tìm cách ăn trộm. 

Đêm hôm đó, lợi dụng trời mưa bão, chúng trèo tường vào chùa trộm được một pho tượng, pho tượng còn lại do vội vàng, trong lúc vận chuyển bị gãy mất một tay. Vì pho tượng Phật bị gãy mất một tay nên bọn trộm mới phát hiện đố không phải đồng đen mà chỉ là đồng hun cho đen lại. Ngay sau đó, phát hiện có kẻ trộm, người dân truy đuổi thì bọn trộm quẳng tượng xuống mương. Dân làng đuổi bắt được người một tên còn một tên chạy thoát. 

Kẻ bị bắt bị giải về UBND xã để chính quyền xử lý nhưng không hiểu tại sao đi qua cánh đồng thì bị sét đánh chết ngay mặc dù xung quanh tên trộm lúc đó rất đông người dân cùng nhau áp giải tên trộm nhưng chẳng ai bị sao cả. Không lâu sau, người làng nghe tin tên trộm trốn thoát kia cũng chết đuối ở sông Văn Úc cách đó không xa. 

Ở chùa Cồn thì lại có một câu chuyện khác, chuyện liên quan đến tấm bia của bà chúa được dựng trong chùa. Thời kỳ tiêu thổ kháng chiến, tấm bia ghi lịch sử hình thành và công đức của những người mở đất bị người dân mang ra bắc làm cầu ao. Lâu dần tấm bia bị lấp đi, đất phủ kín toàn bộ. Đến khi người dân ý thức được giá trị lịch sử, văn hóa của tấm bia thì mới nháo nhác đổ xô đi tìm nhưng chẳng ai tìm thấy. Bỗng một hôm có một người phụ nữ lạ mặt đi qua, trước đây người này chẳng biết gì về chuyện tấm bia đá bị lấp cả thế nhưng bà này hôm đấy như có ai xui khiến mà chỉ cho dân làng đào đúng chỗ có tấm bia. 

Giờ đây ở Đoàn Xá, Quần Hợp người ta vẫn truyền tai nhau nghe những câu chuyện linh thiêng về hai ngôi chùa như vậy. Có lẽ vì thế mà bất cứ ai có những bất hòa không thể giải quyết được thì họ lại đưa nhau lên chùa, dựa vào sự linh thiêng ấy mà giải quyết khúc mắc. Phải chăng, chính những điều kỳ lạ đó đã mang đến một cuộc sống bình yên cho làng xóm nơi đây?. 

Hoàng Lê

Huyền bí Ông Đỏ, Ông Đen 700 tuổi trong chùa cổ Bình Định

đăng 02:09, 6 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Tượng Ông Đỏ và Ông Đen ở chùa Nhạn Sơn được người Chăm tạo tác từ thế kỷ 13. Xung quanh hai pho tượng có một giai thoại lịch sử được lưu truyền lại qua nhiều thể hệ.

Nằm ở thôn Bắc Nhạn Tháp, xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, chùa Nhạn Sơn (còn có tên gọi khác là chùa Ông Đá, Thạch Công tự, Song Nghĩa tự) là một di tích lịch sử ghi dấu sự giao thoa giữa văn hoá Chăm bản địa và văn hoá Việt.

 

Chùa Nhạn Sơn được những thế hệ đầu tiên của người Việt di cư đến Bình Định góp công sức xây lên để đáp ứng nhu cầu tâm linh. Ban đầu chùa chỉ là một ngôi chùa làng lụp xụp. Đến thế kỷ 16 Hòa thượng Thích Chí Mẫn mới cho đại trùng tu lại ngôi chùa và đặt tên là chùa Nhạn Sơn

 

Nét đặc sắc của chùa Nhạn Sơn là hai bức tượng Ông Đỏ và Ông Đen được đặt giữa chính điện. Cả hai bức tượng được tạc bằng đá nguyên khối khối liền nhau, mỗi tượng cao 2,3 m, nặng cả tấn, tạo hình rất sống động

 

Hai pho tượng cổ này có từ thời người người Chăm còn ở thành Đồ Bàn (thuộc địa bàn xã Nhơn Hậu ngày nay). Do chiến tranh, hai pho tượng đã bị chôn vùi trong lòng đất hàng trăm năm, sau đó được người Việt phát hiện, đào lên và thờ dưới tên gọi Ông Đỏ, Ông Đen

 

Xung quanh hai pho tượng có một giai thoại lịch sử được lưu truyền lại qua nhiều thể hệ

 

Theo giai thoại này, Ông Đỏ có tên là Huỳnh Tấn Công (người Quảng Nam), Ông Đen là Lý Xuân Điền (người Quảng Bình). Ông Đỏ là quan văn, Ông Đen là quan võ thời nhà Trần. Giữa hai ông có một tình bạn rất keo sơn

 

Cả Ông Đỏ và Ông Đen đều thân quen với vua nước Chiêm Thành (Chăm Pa) thời đó. Có một dịp, cả hai ông sang thăm Chiêm Thành gặp lúc vua Chiêm lâm trọng bệnh. Với các kiến thức y học của mình, hai ông đã lập công lớn trong việc chữa trị hết bệnh hiểm nghèo cho vua nước bạn

 

Lại gặp lúc Xiêm La (Thái Lan ngày nay) đem quân xâm lấn biên giới nước Chiêm Thành, hai ông liền xin cầm quân đánh giặc. Dù đánh đuổi được giặc nhưng tướng Lý Xuân Điền - Ông Đen - lại bị Xiêm La bắt.

 

Sau đó, hoàng tử Xiêm La cầu hôn em gái Ông Đỏ - Huỳnh Tấn Công - nên Ông Đỏ yêu cầu dùng Ông Đen làm lễ vật cầu hôn. Nhờ cuộc hôn nhân này, hai người gặp lại nhau và cùng trở về nước Việt

 

Thương nhớ hai ông, vua Chiêm Thành đã cho người tạc tượng để thờ phụng...

 

Giai thoại này được ghi chép lại trong nhiều tư liệu cổ với các dị bản khác nhau, nhưng đều nhằm mục đích lý giải về nguồn gốc hai pho tượng cổ ở chùa Nhạn Sơn

 

Năm 1977, một đoàn khảo cổ từ Hà Nội vào Bình Định đã xác định hai pho tượng đá này có từ thế kỷ 13, cách đây hơn 700 năm.

 

Đây là hai tượng Dvarapalla (Môn Thần) với ý nghĩa người bảo vệ cho đạo pháp. Nghệ thuật điêu khắc mang phong cách điển hình của nghệ thuật điêu khắc Chăm Pa thế kỷ 12, 13.

 

Từ tượng thờ của người Chăm, hai pho tượng cổ đã được Việt hóa bằng giai thoại về Ông Đỏ, Ông Đen và được sơn màu, mặc áo để đưa vào chùa thờ cùng các vị Phật, Bồ tát của Phật giáo Việt

 

Chuyện hai pho tượng ở chùa Nhạn Sơn được Việt hóa, Phật giáo hóa cũng là câu chuyện chung của rất nhiều tượng Chăm cổ còn sót lại ở Việt Nam, là một ví dụ điển hình cho sự tiếp biến văn hóa Chăm - Việt

 

Năm 2001, chùa Nhạn Sơn đã được công nhận là di tích cấp quốc gia với nội dung: "Di tích kiến trúc nghệ thuật, nơi lưu giữ hai pho tượng môn thần - tác phẩm điêu khắc Chăm thế kỷ 13"

 

Một số hình ảnh khác về tượng Ông Đỏ, Ông Đen ở chùa Nhạn Sơn.

 

 

 

 

 

 

 

Bí ẩn con đèo chết chóc ở Khánh Hòa

đăng 01:06, 25 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Đèo Rù Rì thuộc phường Vĩnh Hải (TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa). Theo người dân địa phương, tên đèo gắn với tên loài chim sinh sống quanh những ngọn đồi gần khu vực. Khi chiều tối, loài chim này cất tiếng kêu nghe rất thảm thiết, sau đó là những tiếng rù dài trong cổ họng nên có tên gọi chim rù rì.

Ngoài ra, còn tồn tại luồng ý kiến khác về xuất xứ của tên đèo, cho rằng ngọn đèo cao lại ngoằn ngoèo, xe cộ đi qua đều rất chậm, nên dân trong vùng gọi là đèo Rù Rì. Di chuyển chậm vậy nhưng tai nạn vẫn cứ xảy ra. Người dân vùng đèo đã chứng kiến nhiều cái chết thương tâm, họ gọi đoạn đèo tang tóc này là cung đường “ma ám”. May mắn con đèo này nay đã không còn được sử dụng bởi đã có đường tránh thay thế. Giờ đây, nó chỉ còn là nơi cho dân phượt lang thang tìm cảm giác lạ.

Ông Lê Văn Long (81 tuổi) hồi tưởng: “Tôi sống hơn 40 năm ở nơi này, đã chứng kiến rất nhiều vụ tai nạn trên vùng đèo. Mỗi năm ít nhất cũng 2 - 3 vụ lật xe lao xuống chân đèo, va quệt đụng xe thì diễn ra liên tiếp”.

Ông lão vẫn bị ám ảnh về những cái chết nơi vùng đèo, như thời điểm năm 1985, chưa tròn một tháng có đến 3 người chết. Đầu tiên là một người đàn ông chột mắt sống ở dưới chân đèo, đang lên hóng mát bị xe tải dưới dốc đèo lao lên, đến khúc cua mất lái, xe trườn thẳng lên người.

Tiếp theo là cặp vợ chồng ở Lương Sơn chở rau về thành phố bán. Đi đến đoạn đèo thì giỏ dựng rau va vào một chiếc xe tải. Người chồng mất lái bị cuốn phăng vào gầm xe. Sau đó lại một đôi nam nữ chở nhau lên đèo, đến khúc quẹo đâm vào lan can ven đường bị hất tung xuống chân đèo tử nạn. Khủng khiếp nhất là năm 1983, số tai nạn quá nhiều, riêng hai vụ vào giữa năm và ngày cận Tết đã cướp đi gần 20 sinh mạng...

Đèo Rù Rì nay đã bị bịt, có đường tránh thay thế.


Người dân địa phương còn lập nên một ngôi miếu thờ vong hồn những người tử nạn và che chở cho người qua đường. Sau khi xây dựng con đường tránh thay thế, tỉnh Khánh Hòa đã bịt con đường đi qua đỉnh đèo, ôtô không thể lưu thông.

Tiếng chim kêu ai oán kết hợp với lịch sử các vụ tai nạn khiến người qua đường đều cảm giác rợn tóc gáy. Chưa kể đánh mắt nhìn sang bên đường lại thấy bãi tha ma và những nấm mộ im lìm. Mặc dù đã đi đường tránh nhưng đoạn đèo “ma ám” với những cái chết lặp đi lặp lại đã trở thành đề tài bàn tán của nhiều người mê tín. Họ truyền tai nhau câu chuyện về lời nguyền cay nghiệt của người Chăm cổ được viết lên hai tấm da thuộc “trấn yểm” chân đèo.

Dân trong vùng vẫn còn truyền tai câu chuyện những năm thời thuộc địa, người Pháp mở đường từ miền Nam ra miền Trung. Gian nan nhất là quá trình thi công đoạn đèo Rù Rì, công nhân đào đất đã phát hiện 14 chiếc lọ sành được chôn dưới lòng đất.

Chiếc lọ lớn nhất hình giống như chiếc trống cơm, miệng bịt kín bằng vải, phần thân được khắc những hình thù quái dị. Số lọ còn lại nhỏ hơn, màu đỏ sẫm, cũng được bịt kín, dùng nhiều cách không mở được. Sự việc được trình lên quản lí xây dựng người Pháp. Viên kỹ sư ra lệnh đập một số lọ nhỏ, sau đó khoan thủng lọ lớn thì phát hiện bên trong có hai tấm da thuộc.

Tấm thứ nhất toàn những nét chữ kỳ lạ, không ai hiểu được. Tấm thứ hai là những hình hài rất đáng sợ, hình người nam cụt đầu, hình người nữ quái dị. Mặt sau miếng da thứ hai như có dấu triện màu đỏ và 4 con số viết rời nhau.

Mọi người nghi ngờ đó là kiểu chữ viết của người Chăm cổ nên đi kiếm người phiên dịch. Hành trình tìm kiếm người phiên dịch không ngờ có nhiều chuyện đáng tiếc. Đoàn 5 người đi về hướng Phan Rang khá lâu nhưng vẫn vô vọng, đã có hai người phải bỏ mạng khó hiểu trên đường. Ngẫu nhiên trùng hợp, họ chính là hai người thay nhau cầm tấm da thuộc kỳ lạ.

Quá sợ hãi cũng không có hy vọng gì, những người còn lại định quay về thì gặp một bà lão. Sau khi nghe kể đầu đuôi sự việc, bà lão đưa họ đến gặp một ông cụ người Chăm trong vùng. Cụ ông khẳng định đó là những bộ da ghi chép về gia phả của một bộ tộc trong vùng.

Cụ ông này cho rằng theo gia phả đặc biệt này ghi lại, trong một trận chiến, tộc trưởng vùng đất này phải rút lui, nhiều tướng lĩnh thân tộc đều phải lên ngọn đầu đài. Trước khi chết, tộc trưởng sai pháp sư viết lời nguyền bí mật trên một tấm da thuộc, nội dung đại ý cầu mong bình an cho bộ tộc. Tấm da còn lại vẽ cảnh người bộ tộc bị hành quyết, phụ nữ bị bắt làm nô lệ.

Sau đó, tộc trưởng cho làm một buổi lễ tế thần linh, bỏ hai tấm da vào trong cái lọ lớn. Tộc trưởng lựa chọn 13 dũng sĩ đi theo canh giữ lời nguyền. Tro cốt họ được bỏ trong 13 lọ nhỏ, chôn cùng với lọ lớn ở nơi hẻo lánh phía Bắc của ngọn đèo. Người qua đường đều phải bước qua những vật trấn yểm, ai lỡ đào thấy phải chôn lại tức khắc, nếu không hậu quả sẽ khôn lường.

Sau khi nghe ông già người Chăm kể lại sự tích lời nguyền, nhóm người sợ hãi vội vã trở về, càng hoảng hốt khi biết tin vợ viên sĩ quan người Pháp chỉ huy vụ này vừa trở bệnh nặng phải rời Việt Nam về nước, chỉ còn viên sĩ quan ở lại. Nghe câu chuyện của đoàn người vừa đi, chỉ biết lắc đầu khó hiểu như nửa tin nửa ngờ.

Mất một hồi trầm ngâm suy nghĩ, viên sĩ quan kết nối cái chết dọc đường của hai người cầm tấm da và căn bệnh của vợ nên quyết định làm theo lời dặn dò của ông già Chăm, cho lính chôn lại chỗ cũ.

Tuy nhiên, theo nhiều người, truyền thuyết nêu trên chỉ là sản phẩm của một thời khoa học chưa phát triển, quan niệm còn mông muội. Địa hình đèo Rù Rì quanh co, khúc khuỷu, cây cối rậm rạp quanh năm bao phủ, tầm nhìn hạn chế... là những nguyên nhân khiến tai nạn dễ xảy ra.

Dưới chân đèo lại là bãi tha ma hoang vắng khiến người qua đường thường có cảm giác rợn người ớn lạnh. Chính tâm lý mất bình tĩnh thần hồn nát thần tính kèm theo lối lên đèo bị khuất tầm nhìn nên cung đường thường xảy ra tai nạn.

Theo Pháp Luật Việt Nam

Tìm hiểu về truyền thuyết ngôi mộ công chúa Mỹ Thanh

đăng 21:12, 11 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

1. Bí ẩn về ngôi mộ đá ong và truyền thuyết 

Trên tuyến lộ Nam Sông Hậu đi từ TP. Cần Thơ đến tỉnh Bạc Liêu, khi đi qua cầu Mỹ Thanh 2, thuộc địa bàn giáp ranh huyện Trần Đề và thị xã Vĩnh Châu, nhiều người đều nhắc đến ngôi mộ đá ong, được truyền tụng là ngôi mộ của công chúa Mỹ Thanh. Ngôi mộ này nằm trên địa bàn xã Vĩnh Hải (thị xã Vĩnh Châu), khi qua cầu Mỹ Thanh 2 được khoảng gần 1km, đến ngã ba khu vực chợ ấp Huỳnh Kỳ, rẽ phải đi khoảng 2km là đến ngôi mộ này. 

Đoàn khảo sát do Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Thể làm Trưởng đoàn đến tham quan ngôi mộ vào tháng 4/2016 


Nằm trơ trọi trên mảnh đất nhỏ, chung quanh là những ngôi nhà tol, lá của người dân, ngôi mộ đá ong đã bị mất phần đá ong phủ bề mặt khá nhiều, chỉ còn lại một ít ở phần đầu và phía chân mộ. Mọi người vẫn chưa biết dưới ngôi mộ đá ong là hài cốt của ai; nhưng chuyện kể về công chúa Mỹ Thanh và các vị đi theo, ai cũng có nghe và kể lại từ thế hệ này cho thế hệ khác khoảng 200 năm nay. Nhiều năm nay, ngôi mộ đá ong vẫn được nhiều người đến chiêm bái, thắp nhang và cầu nguyện. Sự linh thiêng của ngôi mộ thể hiện qua số người đến viếng ngày càng nhiều và số đá ong được người thành kính “thỉnh” về thờ trong nhà cũng không ít. Vì vậy, ngôi mộ đá ong ngày càng mất đi những miếng đá ong, dù chính quyền địa phương nghiêm cấm việc bốc, cạy lấy những miếng đá ong này. 

Đến nay, người ta vẫn chưa rõ người nằm dưới ngôi mộ là ai, có phải là công chúa trong dòng tộc nhà Nguyễn hay không? Cũng có một số người cho rằng đây là ngôi mộ của một người trong hoàng tộc từ phương xa đến, qua đời và được chôn cất ở nơi này, vì không tiện chở về do xa xôi cách trở đi lại. 

Có thể nói, đến nay ngôi mộ vẫn còn để lại nghi vấn và được biết đến qua truyền thuyết được nghe và kể lại qua nhiều đời của cư dân ở vùng đất này, giống như truyền thuyết về Bà Phi Yến và Hoàng tử Cảnh ở đảo Côn Lôn (Côn Đảo ngày nay). 

Ngôi mộ nhìn từ phía trước 


Truyền thuyết kể rằng, trong thời gian bôn tẩu về vùng đất Phương Nam, vào tháng 2 âm lịch năm Quý Mão (1783), để tránh sự truy sát của đoàn quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ thống lĩnh, chúa Nguyễn Ánh (từ năm 1802 là vua Gia Long) đã có thời gian chạy ra Phú Quốc, Côn Đảo và đã từng ghé vùng Hậu Giang, rồi đến vùng đất cửa sông Mỹ Thanh để ẩn náu. Trong đoàn người theo Nguyễn Ánh chạy nạn từ Phú Quốc qua đảo Côn Lôn năm 1783, có một đoàn tuỳ tùng gồm vương tôn, phi tần, võ tướng. Do giông bão nên một trong những chiếc thuyền của đoàn quân Nguyễn Ánh trôi giạt vào cửa sông Mỹ Thanh. Trên chiếc thuyền có một võ tướng, một vài quân lính theo hộ vệ công chúa Mỹ Thanh cùng một người cô (hoặc là chị) của Nguyễn Ánh. 

Lúc này vùng Mỹ Thanh còn hoang vu, nhiều rừng rậm, dân cư thưa thớt. Đoàn người này phải cất chòi sống qua ngày cùng cư dân nơi đây. Do không hợp phong thổ lại ăn uống thiếu thốn nên công chúa Mỹ Thanh, cùng người cô của Nguyễn Ánh, cả viên võ tướng cũng lần lượt bị bạo bệnh rồi mất và được chôn cất tại đây. Vì loạn lạc lại không người chăm sóc nên theo bụi thời gian, các ngôi mộ hầu như không còn và không biết chính xác vị trí ở nơi nào. Người dân nơi đây chỉ truyền tụng hơn 200 năm nay, vùng này (hiện nay thuộc xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu) còn một ngôi mộ bằng đá ong duy nhất là mộ của vị võ tướng hay là mộ của Hoàng Cô (?). Lúc đầu ngôi mộ không ai chăm sóc, tu bổ, chung quanh thì hoang vắng, không có bờ tường bao quanh. Dần dần, ngôi mộ thấp đi rất nhiều, lại bị lấn chiếm, nhà dân lại cất gần sát ngôi mộ, chỉ còn lại khoảng cách chừng vài thước mà thôi. Những năm gần đây, từ một số người có nhu cầu tín ngưỡng đến cúng bái, truyền miệng về sự linh thiêng của Công chúa hay Hoàng Cô nên người đến viếng có lúc khá đông. Chính quyền địa phương và một số người dân đã đóng góp xây 4 bức tường thấp bao quanh ngôi mộ để bảo vệ, nhưng phần đá ong trên ngôi mộ thì ngày càng mất dần. Phía trước ngôi mộ được xây một bệ thờ thấp bằng gạch, lót gạch men trắng. 

Theo lời kể của những hộ dân và một số người nghiên cứu địa phương cho biết, sau ngày 30/4/1975, cũng không rõ chính xác là năm nào, sau một đợt mưa gió lớn, người dân nơi đây bắt gặp một cái mão của một vị võ tướng ở gần ngôi mộ bị mưa gió làm lộ ra. Mão được chuyền tay từ người này sang người khác, cuối cùng được giao cho một người ở Cà Mau cất giữ và hiện nay cũng không biết chính xác địa chỉ. Một nhà nghiên cứu khoa học thuộc Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ cũng khẳng định có chụp hình cái mão này. Còn những gì bên dưới ngôi mộ vẫn hoàn toàn là bí mật. Một số hộ dân cho rằng, người nằm dưới ngôi mộ là một công nương của nước ngoài đi du ngoạn đến đây không may bị bệnh nặng và qua đời. Do đường xa nên thi thể được chôn cất tại đây. 

Xét về khía cạnh khoa học và điều kiện kinh tế cách nay hơn 200 năm thì những ngôi mộ được xây bằng đá ong cực kỳ hiếm, chỉ những gia đình dòng dõi thế tộc mới có khả năng chôn cất bằng vật liệu này. Còn về nhân thân bên dưới ngôi mộ vẫn là điều bí ẩn. 

2. Về gia phả của Nguyễn Ánh, cùng vợ và các người con 

Theo những nội dung được ghi chép rõ ràng trong “Nguyễn Phúc Thế tộc phả”, có đề cập đến những vị Hoàng phi, Công tử và Công nương, vợ và con của Nguyễn Ánh. 

Gọi như trên là đúng, vì khi chưa lên ngôi vua, con của Vương hay Chúa chỉ gọi là Công tử (nếu là nam) hoặc Công nữ (nếu là nữ), còn vợ của chúa cũng chỉ gọi là Phi chứ không gọi là Hoàng hậu. Sau này khi lên ngôi vua, để ngăn ngừa sự chiếm đoạt và tranh giành quyền lực từ bên ngoài tôn thất, kể cả trong nội tộc, vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh) quyết định không lập Hoàng Hậu, không lập Tể tướng. Đến đời vua Minh Mạng, lại đặt ra 11 bài thơ, gồm 1 bài Đế hệ thi và 10 bài Phiên hệ thi. Mười một bài thơ này quy định cách dùng để đặt chữ lót trước tên chính để phân biệt dòng chính hay dòng phụ trong triều đình. 

Theo đó, con của Hoàng đế mới được lần lượt đặt chữ lót trước tên chính theo bài thơ Đế hệ thi, có 4 câu như sau: 

Miên, Hường, Ưng, Bửu, Vĩnh 
Bảo, Quý, Định, Long, Tường 
Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật 
Thế, Thoại, Quốc, Gia, Xương 

Trong năm ban hành phép đặt tên này, 23 hoàng tử, con của vua Minh Mệnh đều đổi chữ lót là Miên như Miên Tông, Miên Định v.v... Ý định của Minh Mạng là nhà Nguyễn sẽ truyền được ít nhất cũng qua 20 thế hệ với khoảng 500 năm. Nhưng đến chữ thứ 5 (chữ Vĩnh là Hoàng đế Vĩnh Thụy tức Bảo Đại), Cách mạng tháng Tám năm 1945, đã tiêu diệt hoàn toàn ước mơ này của Minh Mạng và cả triều Nguyễn. Nhà Nguyễn chỉ truyền được có 5 thế hệ với 13 đời vua từ 1802 đến 1945 là 143 năm. Nếu tính cả 9 đời chúa từ Nguyễn Hoàng (1558) đến Nguyễn Phúc Thuần (1777) thì được thêm 219 năm nữa. 

Nói về các Hoàng phi của Nguyễn Ánh, các tài liệu nghiên cứu chỉ nêu vắn tắt về hai người vợ chính của Nguyễn Ánh, sau này đều được phong là Hoàng Hậu, còn nhiều bà Phi khác thì không được nhắc đến. 

Bà thứ nhất là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu. Bà sinh năm Tân Tỵ (1762), có tên huý là Tống Thị Lan, quê quán huyện Tống Sơn,Thanh Hóa, con gái của Quý Quốc Công Tống Phúc Khuông. Năm 1774, gia đình bà chạy vào Nam theo chúa Nguyễn Phúc Thuần. Nguyễn Ánh nghe tiếng bà đoan trang, hiền thục nên đem lễ vật đến cưới bà lúc bà được 18 tuổi và tấn phong bà làm Nguyên Phi. Bà có 2 người con với Nguyễn Ánh là Hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Chiêu và Hoàng tử thứ Nguyễn Phúc Cảnh. Nguyễn Phúc Chiêu không may chết sớm còn lại Nguyễn Phúc Cảnh, lúc lên 4 tuổi đã bị Nguyễn Ánh giao cho Bá Đa Lộc đem đi Pháp làm con tin. Sau này được phong là Đông cung Thái tử. Năm 1801, Thái tử bị bệnh mất, để lại 2 người con là Nguyễn Phúc Đán (Mỹ Đường) và Nguyễn Phúc Mỹ Thụy. Thấy Bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu đau buồn, Nguyễn Ánh mới bàn với bà nhận con của Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, mới 3 tuổi, làm con, có khế ước hẵn hòi, đó là Nguyễn Phúc Đảm, (sau này được nối ngôi vua Gia Long, lấy niên hiệu là Minh Mệnh). Năm 1814, Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu qua đời, hưởng dương 52 tuổi. Mộ của Bà được táng tại Thiên Thọ Lăng trên đỉnh Thiên Thọ Sơn năm 1815. Đến khi vua Gia Long băng hà thì mộ của Vua được táng kế bên mộ Bà vào năm 1820. 

Bà Hoàng Hậu thứ hai có tên gọi là Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu. Bà có tên huý là Đang, cha là Thọ Quốc Công Trần Hưng Đạt. Bà sinh năm Mậu Tý (1768) tại làng Văn Xá, Hương Trà, Thừa Thiên (nay thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế). Năm 1774, Bà được đưa vào cung theo hầu Hoàng Hậu Hiếu Khương. Khi chúa Nguyễn rước gia quyến vào Nam năm 1778, Bà được đi theo. Năm 1781, bà được tiến cung, được phong Tả Cung Tần tức Nhị Phi. Từ đó, bà theo Nguyễn Ánh đi khắp nơi. Bà sinh được 4 Hoàng tử là Nguyễn Phúc Đảm (sau này là vua Minh Mệnh), Nguyễn Phúc Đài (Kiến An Vương), Nguyễn Phúc Hiệu (mất lúc nhỏ), Nguyễn Phúc Thấn (Thiệu Hòa Quận Vương). 

Ngoài 6 Hoàng tử con của hai Bà Hoàng Hậu, Gia Long còn có 7 hoàng tử với các bà Phi khác, tổng cộng có 13 hoàng tử và 18 công chúa. Tuy nhiên, do hạn chế về nhân sinh quan thời phong kiến, sử sách ghi chép rất ít về các Hoàng tử con dòng thứ, còn các công chúa chỉ ghi lại một ít vị công chúa có gắn với một sự kiện nào đó của đất nước mà thôi. Như ghi lại sự kiện năm 1620, công chúa Ngọc Vạn (con gái thứ hai của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và Bà Nguyễn Thị Giai) làm hoàng hậu của vua Chey Chetta II bên Chân Lạp, công chúa Ngọc Hân làm vợ của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) v.v... 

3. Đâu là sự thật? 

Thông qua các tài liệu lịch sử còn để lại, sự kiện hai Bà: Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu và Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu có 6 người con là đúng và sự kiện đưa Hoàng tử Cảnh làm con tin là có thật và Hoàng tử Cảnh còn sống đến năm 1801 mới từ trần, để lại 2 người con như đã nêu ở trên. 

Truyền thuyết về Bà Phi Yến và Hoàng tử Hội An (Cảnh) ở Côn Lôn chưa có đủ cơ sở để xác định thực tế. Tương tự, truyền thuyết về Công chúa Mỹ Thanh cũng như việc phát hiện cái mão vẫn chưa có cơ sở khoa học xác định rõ ràng. Thực tế dòng họ tôn thất Nguyễn Phúc khi vào Nam là rất nhiều. Vì quan niệm nữ sanh ngoại tộc, nên nhiều vị công chúa (gọi đúng lúc đó là công nữ) không được sử sách ghi chép lại. Có một số là con gái của các vị chúa Nguyễn hay vua Nguyễn, có nhiều đức tính nổi bật mới được phong quận chúa hay công chúa và được ghi chép giới thiệu lại đôi nét như trường hợp Quận chúa Nguyễn Phúc Ngọc Vạn (con gái thứ hai của chúa Nguyễn Phúc Nguyên), Thuận Lễ Công chúa Tĩnh Hòa được vua Tự Đức ban thụy là Mỹ Thục (con gái thứ 34 của vua Minh Mệnh và bà Thục Tần Nguyễn Thị Bữu)... 

Tuy nhiên, cũng phải suy luận rằng, lúc bị quân Tây Sơn đánh đuổi liên tiếp trong 3 năm (1782 - 1784), nhiều quan quân, dòng tộc Nguyễn Phúc bị ly tán, phải đi nhiều chỗ để ẩn náu ở vùng cù lao, vùng biển, vùng đất liền và để lại nhiều câu chuyện để tô vẽ thêm cho việc phò Nguyễn Ánh là đúng vì có được “Trời giúp”. 

Truyền thuyết về ngôi mộ đến nay vẫn là truyền thuyết và vẫn thu hút những người có nhu cầu tín ngưỡng đến chiêm bái cầu nguyện. Sự thật sẽ được làm rõ khi có điều kiện cho phép tổ chức khai quật để khám phá những bí ẩn bên dưới. Từ thực tế khai quật, các nhà khảo cổ học, nhân chủng học, sử học... sẽ có những giải đáp khoa học về nhân thân, nguồn gốc lịch sử của ngôi mộ này. Trong khi chờ đợi, giải pháp tốt nhất là ngành hữu quan và chính quyền địa phương cùng trao đổi lên phương án bảo quản, duy tu ngôi mộ, khoanh vùng quy hoạch bảo vệ, có thể trùng tu ở mức độ nào đó để giữ gìn một di tích, có thể chứng minh, làm rõ phần nào về vùng đất Phương Nam với nhiều truyền thuyết, hiện vật huyền bí, hấp dẫn và không kém phần lý thú. Và nên phát huy lợi thế truyền thuyết để có thể tổ chức thành điểm tham quan cho du khách gần xa. 

Tài liệu tham khảo: 

[1]. Nguyễn Khắc Thuần,Thế Thứ các triều vua Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1996. 

[2]. Thi Long, Truyện kể về các Vương phi, Hoàng hậu nhà Nguyễn, Nxb Đà Nẵng, 2001. 

[3]. Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên, 1995. 

[4]. Hà Văn Thư -Trần Hồng Đức, Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, 2000. 

[5]. Nguyễn Hữu Hiếu, Chúa Nguyễn và các giai thoại mở đất phương Nam, Nxb Trẻ , 2002. 

[6]. Lý Nhân Phan Thứ Lang, Giai thoại và sự thật về Bảo Đại, vua cuối cùng Triều Nguyễn, Nxb Đà Nẵng, 2004. 

[7]. Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb Văn học, 2005. 

[8]. Ban Quản lý di tích Cách mạng Côn Đảo, Côn Đảo, sự tích và truyền thuyết, Nxb TP.HCM, 2001. 

[9]. Phạm Việt Trung - Nguyễn Xuân Kỳ - Đỗ Văn Nhung, Lịch sử Campuchia, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 1982. 

Trịnh Công Lý

Huyền tích kỳ lạ về ngôi đền “phát tích” bài thơ Nam Quốc Sơn Hà

đăng 18:13, 15 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Sự ra đời của ba vị tam công hay gốc tích hình thành bài thơ được người dân nơi đây xem là “nguyên gốc” của Nam quốc sơn hà là những bí ẩn thú vị gắn liền với ngôi đền Đào Xá, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. 

Huyền tích ra đời của ba vị tam công 

Nằm giữa cánh đồng lúa xanh mướt, yên tĩnh, ngôi đền Đào Xá (huyện Thanh Thủy, Phú Thọ) vẫn trầm mặc lưu giữ những câu chuyện hư hư thực thực quanh mình. Làng cổ Đào Xá thuộc xã Đào Xá, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. Làng nằm ở phía bờ Tây sông Đà, những người dân trong vùng có lẽ cũng không biết ngôi đền đã yên vị ở đây chính xác là bao lâu. Họ chỉ biết rằng, từng viên ngói, những sắc phong được lưu giữ tại đền đều gắn liền với lịch sử khai hoang, đấu tranh của cư dân Việt với thiên nhiên và giặc giã phương Bắc. 

Mỗi câu chuyện được người dân quanh vùng lưu truyền với nhiều huyền tích đầy bí ẩn. 

Theo truyền thuyết được lưu truyền ở địa phương và bản thần phả (chép năm Hồng Phúc thứ hai,1573) hiện lưu ở đền làng, vào thời Hùng Vương, vua phái Hùng Hải Công cai quản vùng giáp ranh của ba con sông (sông Đà, sông Hồng, sông Bữa). Hùng Hải Công và vợ là đức bà Trang hoa công chúa lấy nhau đã lâu mà chưa thể có con. Trong một lần, đức ông và đức bà đi thuyền rồng từ Đào Xá lên Thọ Xuyên. Trong thời gian lưu lại nơi đây, đức bà đã nằm mơ sinh ra quý tử. Ít lâu sau, bà thụ thai và sinh ra ba người con trai đặt tên là Đạt Linh Long, Mãn Linh Long và Uyên Linh Long. Các con vừa cất tiếng khóc chào đời thì đức bà hóa thân. Đức ông và ba con sau này đã có công tiêu diệt thú dữ và cùng bà con trị thủy đem lại cuộc sống yên bình cho người dân. Để tưởng nhớ công ơn của Đức ông, Đức bà và 3 người con có công với làng, người dân đã lập đền thờ từ đó. 

Đền Đào Xá được người dân trong vùng coi là nơi gắn liền với sự ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt.. 


Ông Nguyễn Hữu Sàn, người từng có 6 năm làm thủ từ đền Đào Xá tự hào kể rằng: “Mỗi năm, xã Đào Xá tổ chức khoảng 11 ngày lễ lớn nhỏ nhằm suy tôn Hùng Hải Công, đức bà Trang hoa công chúa và Tam vị Đại vương - có công giúp dân trị thủy, cùng nàng Quế Hoa”. 

Tương truyền, trong những ngày Đức bà mang thai, Quế Hoa công chúa bày các trò chơi để mua vui cho bà. Ngày nay, lễ thức chính được tổ chức vào ngày mùng 2 tết. Đến giờ động thổ, chủ đền hay thủ từ xin âm dương, nếu được thì ra cửa đền đốt pháo, giáp đăng cai nổi ba hồi trống rỗi khắp thôn xóm hò reo. Sau khi khấn Thành Hoàng bằng 12 cỗ tế, giáp đăng cai đến nhà người được làm bánh trâu, rước lồng bánh về đền. Mỗi lồng bánh là một con trâu làm bằng 6 đấu gạo nếp đìn (nếp đen) nghiền thành bột. Trên mỗi con trâu có khắc chữ Xuân ngưu (trâu mùa xuân). Trên bàn thờ đặt hai cái bát nước, một bát đựng quả trứng, bát kia đường chiếc gầu dai bằng giấy cốt tre. Hai người (một nam đại diện giáp đăng cai và bà đồng) nâng lồng bánh trâu múa đối diện nhau. Sau đó, chủ tế vẩy nước ở hai bát vào người múa. Điệu múa truyền thống này được gọi là múa xuân ngưu”. Không chỉ gắn liền với sự tích trị thủy thời Hùng Vương, ngôi đền còn là nơi dừng chân của nhiều đoàn quân giữ nước. Thời nhà Trần, Trần Nghệ Tông đưa quân về đây lánh nạn, chiêu tài hiền sĩ và luyện tập binh mã để đánh Dương Nhật Lễ... 

Ngày 12/8/1945, tại ngôi đình này, Việt Minh và du kích địa phương bắt xử tri huyện Đào Bá Kỷ khét tiếng gian ác trong vùng. Sau Cách mạng tháng Tám, đình là nơi hội họp của cán bộ Việt Minh, nơi tập trung của một số đơn vị thiếu sinh quân, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích chuẩn bị cho các chiến dịch Tây Bắc, hòa Bình, Điện Biên.... Vào ngày 29 tháng 1 năm 1964, cụ Hồ đã vào thăm đền. Đặc biệt, ngôi đền được người dân trong vùng coi là nơi “phát tích” bài thơ Nam quốc sơn hà của người anh hùng Lý Thường Kiệt. 

Dấu ấn gắn liền với bài Nam quốc sơn hà 

Ông Sàn cho biết: “Nguyên xã Đào Xá trong một năm có 11 lễ lớn nhỏ. Trong đó có đến 6 dịp lễ được tổ chức liên quan đến đền Đào Xá. Trong đó dấu ấn rõ nhất liên quan đến việc ra đời bài thơ được coi là “tiền thân” của Nam quốc sơn hà là lễ hội bơi trải. Một lễ hội kéo dài nhất trong năm, từ ngày mùng 9/7 đến ngày 16/7 (âm lịch) tại vùng đất cổ Đào Xá”. 

Trong bản thần tích thờ Đức Hải Công ở đền Đào Xá (xã Đào Xá huyện Thanh Thuỷ, Phú Thọ) có ghi rằng: Vào năm 1076, trên đường đi kinh lý các nơi xem xét địa thế để bố trí lực lượng xây dựng phương án đánh địch, Lý Thường Kiệt đã ngược sông Hồng để nghiên cứu đường thủy nối kinh thành Thăng Long với vùng Tây Bắc, sang Vân Nam (Trung Quốc). 

Ông Nguyễn Hữu Sàn cẩn thận mở những ghi chép về các ngày lễ. 


 Ông đã ghé vào làng Ðào Xá nghỉ chân và xem xét nơi gặp nhau của sông Hồng và sông Ðà. Các bô lão cùng dân làng vui mừng bày tiệc đón Lý Thường Kiệt và cùng ông xây dựng phòng tuyến đánh giặc. Sau khi xong xuôi mọi việc, người anh hùng Lý Thường Kiệt đã vào đình Đào Xá và đền Đào Xá xin các vị thần phù linh hộ quốc. Bất ngờ ban đêm, thần hiển hiện thành rắn lớn, đi thuyền rồng lại cửa đền đọc bốn câu thơ: Nam thiên dĩ định đế Nam quân/ Đại đức giai do đức nhật tân/Thất quận sơn hà đô nhất thống/ Tống binh bất miễn tán như vân. (nghĩa là: Trời Nam đã định vua Nam ta/ Đức lớn ngày thêm đức mới ra/ Bẩy quận non sông về một mối/ Tống binh tan tác tựa mây sa”. 

Ngài vừa dứt lời thì từ phía ngoài đầm hiện ra hai thuyền rồng, mỗi thuyền vài trăm người hò reo, bơi thuyền thưởng vào đền. Lý Thường Kiệt tưởng quân nhà Tống bèn bày quân dàn trận ra đánh. Nhưng từ trên thuyền có tiếng: "Thuyền của quan thủy quân đến cùng ông bình Tống, xin đừng ngại". Rồi quân từ hai thuyền lên bờ, tiến vào đền. Quân tướng Lý Thường Kiệt và quan quân trên hai chiến thuyền cùng làm lễ xuất quân đánh giặc. 

Theo ông Nguyễn Hữu Sàn, trước kia ở làng Đào Xá có tục bơi chải vào lúc nửa đêm ngày mồng 10/7 âm lịch trên đầm Đào hàng năm, gọi tên là “Lễ hiển Thần phù vua Lý đánh giặc Tống”. Với hai chải của bốn giáp, chải của hai giáp đầu gọi là “chải đực” và chải của hai giáp sau gọi là “chải cái”. 

Mỗi chải dài 16m, lòng rộng 1,3m, cao 0,8m, chia làm 12 khoang, do 24 người ngồi hai bên mạn bơi, 1 người cầm lái, 1 người đứng giữa chải cầm mõ chỉ huy bằng hiệu lệnh, 2 người đánh chiêng trống, 1 người cầm bó đuốc, 1 người đứng mũi chải phất cờ. Đúng canh ba thì vào cuộc, hai chải lặng lẽ bơi nhẹ nhàng từ bờ đầm trước cửa đền sang phía dẫy đồi bờ bên kia chừng 1km. Khi có hiệu lệnh gọi thì hai chải quay mũi về đền, nổi chiêng trống hò reo bật đuốc, và bơi thi cật lực. Chải nào đến cửa đền trước sẽ được lĩnh thưởng. Đó là hèm cầu diễn lại cảnh Thần Hải công cai quản đầm Đào Xá, lúc nửa đêm hôm mồng 10 tháng 7 hiển hiện về đền thờ, Ngài ban thơ cho Lý Thường Kiệt. Giặc tan, Lý Thường Kiệt về kinh đô tâu vua, xin phong Hùng Hải Công và tam vị Ðại Vương làm thưởng đấng phúc thần. 

Ngày nay, tục bơi chải vẫn còn được diễn ra nhưng vào ban ngày, chải nào có nhiều lần về đích trước thì năm đó, người giáp đó sẽ gặp nhiều may mắn. Chiều ngày 15/7 (âm lịch), kết thúc hội, làng lập đền tế lễ ở đền hạ. Tục bơi chải của dân làng Ðào Xá vừa là nghi thức lễ cầu mưa, cầu mùa của cư dân nông nghiệp vừa để thể hiện tinh thần thượng võ. 

Ông Nguyễn Hữu Sàn cho biết: “Hiện nay tại đền còn lưu giữ 13 đạo sắc phong của các đời vua. Hàng năm, vào ngày 12/2 (âm lịch) tại đền Đào xá diễn ra lế tế sắc. Trước ngày này, trong làng phải cử ra 3 cụ để thực hiện nghi lễ mở hộp sắc. Ngôi đền cũng đã được công nhận là di tích quốc gia và được nhân dân xã Đào Xá chăm nom, bảo vệ như một chứng tích lịch sử hào hùng gắn liền với sự cư trú của cư dân ở vùng đất này”. 

Thanh Thủy

Hội An: Giếng cổ ngàn năm không cạn

đăng 01:25, 13 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan


Nằm khuất sâu trong con hẻm nhỏ trên đường Trần Hưng Đạo, giếng cổ Bá Lễ tồn tại hơn nghìn năm qua không chỉ là chứng nhân lịch sử của biết bao nhiêu thăng trầm nơi đô thị cổ mà còn trở thành một phần linh thiêng đối với người dân phố Hội…


Cho đến nay vẫn chưa xuất hiện một ghi chép chính thức nào về sự ra đời cũng như tên gọi của giếng cổ Bá Lễ. Những người cao tuổi tại Hội An cũng chỉ biết rằng giếng được xây vào khoảng thế kỷ XIII – IX. Cái tên Bá Lễ ra đời từ khoảng thế kỷ XX, là tên của người thời bây giờ đứng ra trùng tu giếng. 

Giếng Bá Lễ có dạng hình vuông, tương truyền do người Chăm xây dựng. Thành giếng được xây dựng bằng chất liệu gạch, kiên cố, chắc chắn. 

Dưới đáy giếng là khung gỗ lim rộng bản đã qua ngàn năm, nhưng không bị mục. Từng lớp rêu phong bám trên thành giếng tạo nên một nét cổ kính đậm chất Hội An. 

Miệng giếng cổ hình vuông – một đặc trưng trong cách xây dựng của người Chăm xưa. Ảnh: PL 


Một góc nhà thờ Võ tộc, nơi thờ Võ Bá Lễ - người đã trùng tu lại giếng cổ từ thời Pháp thuộc. Ảnh: TH Người dân Hội An tin rằng nếu sử dụng nước giếng Bá Lễ để nấu ăn, các món ăn đặc sản phố cổ được nấu ra sẽ đậm đà, thơm ngon hơn. 


Cô Thị - “truyền nhân” của gánh xí mà (vừng đen) nổi tiếng chia sẻ: “Xí mà muốn ngon đúng điệu phải dùng nước giếng Bá Lễ. Nấu bằng nước khác là mất vị liền”.

Cũng từ giếng Bá Lễ, nghề gánh nước thuê phục vụ cho các nhà hàng đã sinh ra. Nước giếng cổ làm nên những món ngon nức tiếng của Hội An. Ảnh: TH 


Có điều kì lạ đó là giếng Bá Lễ chẳng khi nào cạn nước. Bất kể mùa mưa hay mùa hạn hán dữ dằn nhất. 

Nhiều người ở đây tin rằng khi đứa trẻ sinh ra được tắm tại giếng cổ Bá Lễ thì da dẻ hồng hào, sẽ khỏe mạnh, chóng lớn. Nhiều hộ gia đình vẫn còn thói quen uống nước giếng, pha trà từ nước giếng Bá Lễ, bởi lẽ đã quen với vị nước ngọt mát trong lành mà nước máy chẳng thể thay thế được. 

Miệng giếng Bá Lễ nằm trong một mảnh đất nhỏ, không có rào chắn để mỗi ngày người dân Hội An có thể tới đây gánh nước về dùng. Ảnh: TH 


Người dân Hội An xưa nay vẫn luôn tin vào tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”, rằng mọi thứ xung quanh con người đều có phần hồn riêng của nó. Họ tin giếng nước Bá Lễ luôn luôn yêu quý con người phố Hội và đem những gì tốt nhất đến cho mảnh đất cổ kính này. 

Cách miệng giếng tầm nửa mét có một ban thờ thần giếng rất trang trọng. Vào những đêm Rằm hay mồng Một, người Hội An vẫn giữ thói quen mang hoa quả, hương đèn cúng vái để cảm tạ nguồn nước mát mà giếng Bá Lễ mang lại cho Hội An. Giếng Bá Lễ tồn tại như hình với bóng cùng phố cổ, làm cho văn hóa và ẩm thực nơi đây càng trở nên đặc biệt.

Thúy Hiền - Phạm Ly

Huyền bí vị thần trong ngôi đền lâu đời nhất xứ Thanh

đăng 02:09, 26 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cách di sản Thành nhà Hồ chừng hơn 5km, rẽ trái vào làng Đan Nê, xã Yên Thọ, huyện Yên Định là đền Đồng Cổ, nơi thờ vị thần nổi tiếng linh thiêng với giai thoại bao lần hiện lên báo mộng giúp vua giết giặc. 

Xứ Thanh vốn nổi tiếng là vùng đất “ Địa linh nhân kiệt”, nơi sản sinh nhiều bậc nhân tài kiệt xuất, nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nức tiếng của cả nước. Đương nhiên, quả là thiếu sót nếu chúng ta không nhắc đến di tích đền Đồng Cổ - ngôi đền có lịch sử lâu đời bậc nhất xứ Thanh, gắn liền nhiều thần tích, truyền thuyết ăn sâu vào đời sống văn hóa tinh thần của người dân. 

Khám phá ngọn núi Tam Thai 

Người dân vùng đất Đan Nê từ bao đời nay luôn tự hào là nơi mở đầu công cuộc đào sông khơi ngòi của anh hùng dân tộc Lê Hoàn, người có công đầu trị thủy là Đào Lang ( làng Bùi Đỉnh, xã Yên Trung), dòng sông khai nguồn từ đền Đồng Cổ ghi dấu ấn chiến công của các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn, là huyết mạch giao thông để Thanh Hóa chi viện cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. 

Nói đến cụm di tích núi và đền Đồng Cổ, không thể không nhắc đến dãy núi Tam Thai (tên chung của 3 ngọn núi: núi Xuân, núi Nghễ, núi Đổng), mỗi ngọn núi lưu giữ những giá trị lịch sử quý giá khác nhau. 

Quang cảnh đền Đồng Cổ. 


Núi Xuân là ngọn núi phía Tây Bắc đền Đồng Cổ, tương truyền là nơi các vị thần về chầu trời, trên vách núi có khắc hai tấm bia một chữ Hán, một chữ Pháp. Tại tấm bia chữ Hán có viết, trong một lần nghỉ lại vùng đất Đan Nê, Tuyên công Nguyễn Quang Bàn (con trai vua Quang Trung) vào cầu khấn trong đền, sau đó ứng nghiệm, bên bờ nam sông Mã xuất hiện một chiếc trống đồng cổ, năm 1802 ngài đem hiến cho đền trông coi, bảo quản. 

Còn tại ngọn núi Nghễ, có động Trung Vân, nơi xưa kia là nơi trú quân của một đơn vị bộ đội, nên có tên gọi “ hang Tòng quân”. 

Là ngọn núi đứng độc lập phía Tây Nam đền, trong hang núi Đổng có động Ích Minh – trong kháng chiến chống Pháp từng là nơi sản xuất vũ khí của một công binh xưởng, sau đó là nơi đặt nhà máy điện Bình Giã, cung cấp điện phục vụ quân đội… 

Phía dưới là bến Trường Châu bên bờ sông Mã, theo sử sách có ghi, nơi đây xưa kia Lý Phật Mã neo thuyền (năm 1020) trong một lần dẹp giặc phương Nam, đồng thời là nơi đô hội buôn bán tấp nập một thời của vùng đất Ái Châu xưa. 

Thần tích và truyền thuyết đền Đồng Cổ 

Thần Đồng Cổ hay còn gọi thần trống đồng, là vị thần được thờ trong đền Đồng Cổ, thuộc núi Đồng Cổ ( còn gọi là núi Khả Phong), thần đã xin theo giúp Vua Hùng đánh giặc ở Hồ Tôn. Thắng trận trở về, Vua Hùng vào đền, tạ lễ, cho đúc trống đồng, lập đền thờ, phong cho thần là “ Đồng Cổ Đại Vương.” 

Đền Đồng Cổ nhìn từ ngoài thành. 


Năm 956, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn trong một lần đem quân đánh giặc Chiêm Thành, qua địa phận sông Bà Hòa (thuộc huyện Tĩnh Gia ngày nay), trời bỗng nổi mưa to gió lớn, thuyền bè không đi được, thần Đồng Cổ hiện lên báo mộng xin giúp sức, tỉnh dậy Lê Hoàn liền chắp tay bái tế, lập tức trời quang mây tạnh, sóng gió trở lại bình yên, thuyền bè đi lại dễ dàng. Trận đó quân ta thắng lớn. 

Trong cuốn sách “Việt Điện U Linh” từ thế kỷ XIV thời Trần, vua Lý Thái Tông khi chưa lên ngôi, trong một lần dẹp giặc phương Nam đã dừng chân trong đền, thấy thần hiện lên giúp sức. Đến khi lên nối ngôi, nằm mộng được thần hiện báo ba vị vương em vua (Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh) có âm mưu khởi loạn giành ngôi, tỉnh giấc nhà vua liền sai Lê Phụng Hiểu chế ngự, việc trong nhà dẹp yên.

Xung quanh đền Đồng Cổ, người dân làng Đan Nê còn lưu truyền nhiều giai thoại, truyền thuyết gắn liền lịch sử của đền. 

Theo lời một số bậc cao nhân tại đây cho biết, khi xưa dân làng đào giếng, tự nhiên đất khơi lên đỏ như son, khi ngựa chiến của vua tôi nhà Lý trong cuộc bình Chiêm qua làng, lúc dừng vó nghỉ chân ở đền, uống nước trên hồ Bán Nguyệt trước đền, mõm con nào cũng đỏ như son. 

Đầu thời Trung Hưng, trong cuộc nội chiến Lê – Mạc, quân Mạc đang thế mạnh, qua cửa biển Thần Phù tràn vào các đường hai huyện Vĩnh Ninh và Yên Định ( Vĩnh Lộc và Yên Định ngày nay), thủy quân nhà Lê án ngữ phía thượng lưu sông Mã, lâp doanh trại đóng quân, đêm đêm thường nghe tiếng trống ầm ầm như sấm, tiếng ngựa hí… dồn đến vang xa mấy nghìn dặm. Sáng hôm sau, quân nhà Lê truy kích, quân Mạc tan vỡ rút chạy. Dò la hồi lâu, mới biết tiếng ầm ầm trống chiêng phát ra từ miếu thờ thần Đồng Cổ. 

Chỉ trong một đêm có thần thác mộng giúp nhà Lê phá giặc, đến ngày giao chiến, gió thuận triều dâng rất mạnh, khí thế quân nhà Lê tăng gấp bội phần, quân Mạc thua chạy. Về sau, triều đình nhà Lê Trung Hưng sai quan tu sửa đền thờ, miễn giảm cho dân các việc quân để thờ phụng ở đền, đền đáp công giúp nước của thần. Trong đó, công lao giúp sức của ông Nguyễn Văn Giai, người làng Phù Lưu, huyện Thiên Lộc thuộc Châu Hoan, tỉnh Nghệ An ( đỗ Nhị giáp tiến sĩ xuất thân, được bổ nhiệm làm quan Hiến sát sứ lộ Thanh Hóa năm Canh Thìn 1640) rất quan trọng. 

Dẫn lời một số cao nhân trong làng, trước Cách mạng tháng Tám 1945, cứ vài ba năm lại có một cái tán vàng hiện ra ở quán Triều Thiên, ba ngày sau mới lặn, quan địa phương đến xem xét tế lễ. Vào một buổi chiều mây mù ùn ùn kéo đến, gió mưa nổi lên, người dân nhìn thấy một con rồng đen uốn mình từ trên trời trườn xuống đền. Mỗi khi hạn hán, các quan cùng dân lại lại làm lễ cầu mưa và ứng nghiệm… 

Vào năm 2001, đền Đồng Cổ đã vinh dự được xếp hạng Di tích, lịch sử - Văn hóa Quốc gia. Nếu đã có dịp ghé thăm ngôi đền cổ kính, linh thiêng này, hẳn nhiều người sẽ ấn tượng với kết cấu “ Tiền nhất – hậu đinh”, gồm tiền đường, chính tẩm, nhà cầu và thượng điện. Đền nằm ở vị trí tâm điểm thuộc dãy núi Tam Thai, bên trong có một cái trống bằng đồng nặng chừng 100 cân, chế tác rất tinh xảo, tương truyền được làm từ đời Hùng Vương. 

Cứ đến ngày 14, 15 tháng 3 âm lịch hàng năm, người dân xã Yên Thọ, huyện Yên Định lại tổ chức lễ hội đền Đồng Cổ để tưởng nhớ vị thần có công với đất nước. 

Lê Trung

Bí ẩn cột đá khổng lồ khắc rồng trên núi ở Bắc Ninh

đăng 05:52, 18 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Phần cột đá hình vuông, phía trên hình tròn chạm nổi đôi rồng phong cách thời Lý chứa đựng nhiều điều bí ẩn trên dãy núi Lãm Sơn (TP. Bắc Ninh) mới được công nhận là bảo vật Quốc gia.

Cột đá chạm rồng uy nghi và bí ẩn ở chùa Dạm nằm trên dãy núi Lãm Sơn (xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) có niên đại từ thế kỉ XI mới được công nhận bảo vật Quốc gia năm 2017. 


Đại Lãm Thần Quang Tự là tên chữ của chùa Dạm, ngôi chùa 1.000 năm tuổi nằm trên dãy núi Lãm Sơn được xây dựng từ thời Lý. Đến thời Lê, chùa được trùng tu với quy mô trên 100 gian. Tuy nhiên, chùa đã bị hư hỏng nặng do thời gian và chiến tranh. Hiện chùa đang được xây dựng lại khang trang, hoành tráng. 


Chùa Dạm được xây dựng trên diện tích trên 2 mẫu Bắc Bộ, với 4 cấp cao dần lên đỉnh núi. Các cấp nền đều có xếp đá lớn chống xói lở, cao tới 6-7m. Ngôi chùa này cũng từng được gọi là chùa Trăm Gian, vì chùa rất rộng lớn, với hàng trăm gian nhà. 


Cấp nền thứ 2 là nền chùa chính. Đây cũng là nơi lưu giữ những di tích quan trọng nhất, đứng nhìn xuống là cảnh non nước mênh mông 


Nổi bật trên nền chính là cột đá uy nghi và bí ẩn. Đây là một cột đá lớn nguyên khối được dựng trên bệ tròn cao 1m, đường kính khoảng 4,5m. Tổng chiều cao của cột đá là 5m 


Cấu trúc cột gồm 2 thớt khối, tượng hình vuông tròn trời đất. Khối gốc như hộp vuông tiết diện, cạnh 1,4 m và 1,6m. Khối ngọn trụ trì, đường kính khoảng 1,3m 


Độc đáo dưới khối trụ tròn chạm nổi là đôi rồng phong cách thời Lý với mào bốc lửa, bờm thành búi như cờ đuôi nheo bay lướt, thân tròn lẳn uốn khúc, chân năm móng. 


Thân rồng to, mập uấn khúc quanh cột mang đậm phong cách thời Lý. Đây là đôi rồng còn sót lại cho đến ngày nay 


Bệ cột được trạm hoa văn sóng ước đặc trưng thời Lý 


Trên cột đá có nhiều nét chạm trổ tinh xảo. Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về ý nghĩa của cột đá chùa Dạm. Có nhà nghiên cứu cho rằng, những cột đá này là biểu tượng sinh thực khí Linga và Yoni đã được Việt hóa, mang mơ ước mưa thuận gió hòa, đời sống ấm no thịnh trị. Có ý kiến cho rằng cột đá mang dáng dấp của cột Chùa Một Cột. 


Hoà thượng Thích Thanh Dũng, trụ trì chùa Hàm Long kiêm chùa Dạm cho biết: “Cột đá khổng lồ có rất nhiều giả thuyết khác nhau mà cho đến nay chưa có một kết luận thuyết phục chính xác nhưng các nhà khoa học tìm hiểu say mê, đó là làm cách nào mà người xưa, với công cụ thô sơ đã vận chuyển được khối đá khổng lồ này lên gần đỉnh núi Dạm”


Hồng Phú

Dân Việt - 16/04/2018

Sông Đà - Nơi ghi dấu bậc quân vương

đăng 17:53, 3 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày nay, con sông Đà không còn dữ dội với 130 thác, 170 ghềnh "đá núi sắc nhọn như nanh vuốt và những cái hút nước cuồn cuộn luồng gió gùn ghè như chực nuốt người”. Con sông hung hãn khi xưa, giờ đã trở nên hiền hòa như một chú sư tử được thuần phục. Giữa lòng hồ mênh mang nước và lồng lộng gió, trên chiếc thuyền máy nổ giòn hướng thẳng tới Khu di tích lịch sử văn hóa Đền Thác Bờ (xã Vầy Nưa, Đà Bắc), tôi được nghe kể câu chuyện ly kì về một bậc quân vương khi xưa từng phạt đá đề thơ, ghi lại dấu ấn bằng lưỡi kiếm và những vần thơ như chứa gang, chứa thép.

Nơi bậc quân vương phạt đá đề thơ 

Sau bước chòng chành, rồi cũng ổn, chiếc thuyền sắt lao về phía trước như mũi dao cắt lên miếng thạch khổng lồ màu ngọc bích đặc trưng của sông Đà. Lẫn trong tiếng gió, tiếng máy nổ giòn tan loang trên mặt hồ, Cường - anh lái thuyền ở vùng sông nước Thung Nai bảo, thuận gió nên từ bến Thung Nai đến khu di tích Đền Thác Bờ cũng nhanh thôi. Đây là khu di tích lịch sử văn hóa mới được tôn tạo, đến nay cơ bản hoàn thành và sẵn sàng chào đón du khách thập phương đến thăm quan, chiêm bái. Điểm nhấn quan trọng nằm trong quần thể khu di tích là bia đá đề thơ Lê Lợi (tức Lê Thái Tổ hay Thái Tổ Cao Hoàng Đế) - chứng tích lịch sử ghi đậm dấu ấn của một bậc quân vương hào kiệt, khiến bất cứ ai cũng cảm thấy tự hào khi đặt chân đến nơi này. 

Qua tìm hiểu được biết, công trình tôn tạo khu di tích lịch sử văn hóa Đền Thác Bờ được đầu tư xây dựng trên đỉnh đồi Hang Thần (xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc) có diện tích khoảng 4.500m2. Vị trí này trước đây cũng là nơi Chợ Bờ mới tụ họp sau khi Chợ Bờ cũ đã bị nhấn chìm sâu dưới hàng trăm mét nước. Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp mở ra với sông nước hữu tình, núi non hùng vĩ. Hiện nay, công trình đã hoàn thiện các hạng mục đền chính, 2 dãy nhà tả vu - hữu vu, tam quan cùng một số hạng mục phụ trợ, bệ đặt bia đá đề thơ của vua Lê Lợi... Công trình được xây dựng trên cơ sở những truyền thuyết, tài liệu lịch sử có thật để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh và tìm hiểu văn hóa, lịch sử của nhân dân. Trong đó, giá trị nhất là tảng đá mà vua Lê Thái Tổ đã phạt đá đề thơ sau khi dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn nơi biên viễn xa xôi trở về. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, bao biến cố thời gian, cùng sự bào mòn khắc nghiệt của thiên nhiên nhưng đến giờ, những nét chữ được khắc trên đá vẫn còn giữ nguyên vẹn. 

Sử sách còn ghi: Sau khi đánh tan quân xâm lược nhà Minh, vào năm 1432, Bình Định Vương Lê Lợi đã thân chinh dẫn quân lên miền biên viễn xa xôi để dẹp loạn Đèo Cát Hãn với vùng Mường Lễ (nay thuộc tỉnh Lai Châu), giữ yên vùng biên cương, phên dậu hiểm yếu nhất của đất nước. Sau khi dẹp loạn xong, giành thắng lợi trở về, vua dừng chân tại khu vực thác Bờ xưa trập trùng ghềnh thác. Cảm hứng trước thế núi, dáng sông, người anh hùng đã rút gươm, phạt đá, đề khắc một bài thơ bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú, có tên là "Chinh Đèo Cát Hãn, quá Long Thủy đê” (Đi đánh Đèo Cát Hãn trở về, qua đường đê Long Thủy). Bài thơ được khắc trên một mỏm đá vôi lớn ở ngay bên ghềnh đá thác Bờ, thuộc xã Hào Tráng (cũ) của huyện Đà Bắc. Mỏm đá nhô cao hơn 5m, được mài nhẵn ở lưng chừng, tạo thành một mặt phẳng, bề dài gần 1,5m, cao gần 1m, bia khắc trên mặt phẳng này. Nội dung bia khắc bài tiểu dẫn và bài thơ của vua Lê Lợi. 

Khu di tích mới được tôn tạo với các giá trị văn hóa - lịch sử - tâm linh đầy ý nghĩa sẵn sàng chào đón du khách đến thăm quan và chiêm bái. 


Lạc khoản đề rằng: "Năm Nhâm Tý, Thuận Thiên thứ 5 (1432) tháng 3, ngày tốt. Ta đi đánh Đèo Cát Hãn qua đây, làm một bài thơ, nói về đường lối phòng Nhung Địch cho đời sau biết: Man Mường Lễ mặt người dạ thú, ngạch trở giáo hóa, phải tiêu diệt ngay. Nên nghĩ sinh dân thiên hạ, chẳng ngại lam chướng, mà phương lược xuất chinh tiến quân bằng đường thủy hai sông Thao, Đà là hơn cả”. 

Bài thơ đề rằng: 

"Gập ghềnh hiểm hóc chẳng từ nan, 
Già vẫn nguyên còn sắt đá gan. 
Hào khí nghìn mù đều sạch quét, 
Tráng tâm muôn núi cũng bằng san. 
Biên phòng tất khéo mưu phòng lược, 
Xã tắc nên trù kế cửu an. 
Ghềnh thác ba trăm năm lời cổ ngữ, 
Như nay dòng thuận chỉ xuôi nhàn”. 

Khối đá khắc ghi bài thơ này hiện vẫn được lưu giữ và mới đây được chuyển về khu di tích Đền Thác Bờ - Bia Lê Lợi như một chứng tích lịch sử đầy tự hào của dòng sông trước khi thác Bờ ngập chìm sâu dưới hàng trăm mét nước. 

Truyền thuyết Chúa thác Bờ và cuộc chinh tây dẹp loạn của vua Lê 

Những dấu tích rõ nét nhất của vua Lê Thái Tổ không chỉ ở bài thơ còn khắc ghi trên tảng đá núi hiện nay được đặt trang trọng tại nơi nó đã từng thuộc về. Thêm vào đó, cuộc hành binh lên miền viễn tây xa xôi dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn của vua tôi nhà Lê vẫn còn lưu dấu đậm nét trong những câu chuyện kể, trong huyền thoại có thật về hai Bà Chúa Thác Bờ. 

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: Vào mùa đông, tháng 11 năm Tân Hợi (1431), vua Lê Lợi đem quân đi dẹp loạn Đèo Cát Hãn, Thổ tù châu Mường Lễ (Lai Châu). Theo truyền thuyết, khi vua kéo quân theo đường thủy, bộ, qua hai đạo sông Thao, sông Đà, đến Thác Bờ thì thấy giữa dòng nước xoáy chảy xiết, phía trước thác ghềnh hiểm trở, nước xô bọt trắng bờ, với muôn vàn mỏm đá lởm chởm nên không thể tiến quân lên. Khi ấy, có người con gái dân tộc Mường là Đinh Thị Vân xã Hào Tráng (cũ) và cô gái người Dao, xóm Mó Nẻ, xã Vầy Nưa (Đà Bắc); đã đứng lên vận động dân bản đóng góp lương thảo giúp nhà vua nuôi quân. Đồng thời, các bà vận động thanh niên trai tráng trong vùng lên rừng chặt tre, nứa kết thành bè mảng, xẻ ván đóng thuyền chở quân sĩ vượt qua thác Bờ đi đánh giặc. 

Nổi bật trong quần thể khu di tích là tấm bia đá đề thơ Lê Lợi – dấu ấn một thời hào kiệt của Thái Tổ Cao Hoàng Đế. 


Sau chiến thắng trở về, vào tháng 3, năm Nhâm Tý (1432), vua Lê Lợi dừng chân nghỉ tại Chợ Bờ, đề thơ khắc bia kỷ niệm. Khi ấy, cô gái Đinh Thị Vân và cô gái người Dao lại vận động bà con dân bản góp cơm lam, thịt muối, rượu cần, múa hát để mừng đoàn quân chiến thắng. Sau này hai bà mất, thường hiển linh phù trợ giúp đỡ người dân vượt qua ghềnh đá thác Bờ được an toàn. Cảm kích trước công lao của hai bà, nhà vua đã ban chiếu chỉ cho dân trong vùng lập đền thờ hai bà. Cũng từ đó, nhân dân tôn thờ hai bà là Chúa Thác Bờ, phù hộ độ trì cho dân bản, cho thuyền bè qua lại thác ghềnh trên sông Đà được bình an vô sự. 

Theo những người cao tuổi thì trước đây tại xã Hào Tráng có một ngôi Đền và một ngôi Miếu đều thờ Chúa Thác Bờ. Năm 1979, Nhà nước xây dựng đập thủy điện Hòa Bình, giải phóng lòng hồ, Thủ nhang ngôi Đền di chuyển lên xây dựng trên đất Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, nay là đền Chúa Thác Bờ Vầy Nưa. Còn Thủ nhang ngôi Miếu di chuyển lên xây dựng trên đất Thung Nai, huyện Cao Phong và trở thành đền Chúa Thác Bờ Thung Nai. Hai ngôi đền nằm ở 2 phía bờ cách nhau khoảng 10 phút đi thuyền. Hiện nay, đền thờ Chúa Thác Bờ bên phía Vầy Nưa đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa. 

Có thể nói, truyền thuyết về bà Chúa Thác Bờ là sự hóa thân của người mẹ Việt Nam, của hai người phụ nữ Mường - Dao và là tình đoàn kết lâu đời giữa hai dân tộc Mường, Dao ở Hòa Bình. Đền Chúa Thác Bờ được cộng đồng tín ngưỡng Thờ Mẫu sùng kính, trong các dịp lễ hội về dự rất đông. Ngày nay, cùng với đền thờ Vua Lê Thái Tổ, đền Chúa Thác Bờ ở Vầy Nưa và Thung Nai đã và đang trở thành những điểm nhấn quan trọng trong không gian văn hóa - tâm linh của vùng lòng hồ sông Đà, đồng thời làm phong phú thêm đời sống văn hóa - tinh thần của đồng bào Mường, Dao nơi đây. Chắc chắn, đó là những điểm nhấn đầy ý nghĩa sẽ được giữ gìn và phát triển trên lộ trình xây dựng hồ Hòa Bình trở thành khu du lịch quốc gia. 

Thu Trang

1-10 of 14