Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Huyền tích chùa Hang Chùa Kompong Chray là ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer tọa lạc tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Dân gian thường gọi đây là chùa Hang vì cổng ...
    Được đăng 02:30, 2 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đình làng kỳ sự: Linh thiêng ngôi đình thờ chữ 'Tổ quốc' Bởi chính 2 chữ Tổ quốc trên bức hoành phi treo trang trọng giữa ngôi đình Xuân Dương (Q.Liên Chiểu, Đà Nẵng) mà trong chiến tranh, quân địch không ...
    Được đăng 03:27, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đình làng kỳ sự: Độc đáo 'ngôi đình' với lễ hội tắt bếp Với người dân Trà Kiểm (xã Hòa Phước, H.Hòa Vang, TP.Đà Nẵng), miếu Ông ngay giữa làng không khác gì ngôi đình gắn liền với lễ hội có ...
    Được đăng 03:20, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đình làng kỳ sự: Cả làng chuyền tay giữ 32 đạo sắc phong Dù mưa bom bão đạn hay trong cơn 'đại hồng thủy' thì người làng Mỹ Xuyên Đông (TT.Nam Phước, H.Duy Xuyên, Quảng Nam) vẫn chuyền tay nhau gìn ...
    Được đăng 03:12, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đình làng kỳ sự: Ngôi đình 4 xe tăng kéo không đổ Nhiều đình làng xứ Quảng đang lưu giữ nhiều câu chuyện văn hóa thú vị về những lễ hội, nghi thức độc đáo… Trong khi đó, một số đình khác ...
    Được đăng 02:56, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 16. Xem nội dung khác »


Huyền tích chùa Hang

đăng 02:30, 2 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Kompong Chray là ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer tọa lạc tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Dân gian thường gọi đây là chùa Hang vì cổng phụ của ngôi chùa được xây theo kiểu mái vòm nhìn giống như cái hang.

Chùa Kompong Chray hay còn gọi là chùa Hang, chùa Kompongnigrodha 


Chôn đá tính tuổi chùa… 

Chánh điện chùa xây dựng trên nền đất cao. Mái của chánh điện được cấu tạo gồm nhiều lớp chồng lên nhau, trên đỉnh là chóp tháp cao vút, uy nghi. Phía trước nhà khách và tăng xá là tháp cột cờ, chân tháp có bộ phù điêu 7 đầu rắn thần Naga. Hai bên có bộ bánh xe 12 căm tượng trưng thập nhị nhân duyên. Đây là ngôi chùa cổ có kiến trúc rất độc đáo, nằm giữa vườn cây sao, dầu, cây me rộng chừng 2 ha, quanh năm thu hút hàng ngàn chim cò, vạc, cồng cộc… về đây làm tổ. 

Nghệ nhân Sơn Sốc, người gắn bó với ngôi chùa này từ nhỏ để học nghề rồi truyền nghề điêu khắc gỗ lại cho các phật tử, cho biết: “Theo các sư thầy kể lại, ngôi chùa được thành lập vào năm 1637, vị sư đầu tiên là Thạch Thiệp. Đến nay chùa đã qua 24 hòa thượng trụ trì và nhiều lần được trùng tu sửa chữa. Do ảnh hưởng chiến tranh, hồi tháng 2.1968 chùa bị trúng bom làm hư khoảng 70% ngôi chánh điện và làm sập thư viện 3 tầng. Năm 1969 chùa xây dựng lại thư viện, chánh điện và tăng xá”. 

Ngôi chánh điện chùa Hang 


Chim cò tụ họp trên các ngọn cây cổ thụ 


Cũng theo nghệ nhân Sơn Sốc, chánh điện cũ chỉ có hai mặt theo hướng đông tây, đến năm 2000 được xây lại bốn mặt và sửa lại mái ngói. Hiện nay, chùa còn lưu giữ được một số tượng đá cổ quý nhưng bị sứt mẻ thời chiến tranh, đặc biệt là 4 pho tượng trong bộ Quá khứ thất Phật. Riêng tượng Thích Ca lớn ở chánh điện sau trận bom may mắn vẫn còn và được tu bổ lại. Hiện nay, chùa Hang do sư cả Thạch Suông trụ trì. Sư là người có công lớn trong việc vận động phục dựng lại chùa. 

Cũng như các chùa Khmer theo hệ phái Nam tông khác ở Trà Vinh, cách tính niên đại của chùa khá độc đáo là dựa trên biên niên các cục đá được chôn hồi khai sơn lập tự. Theo lời kể của các sư, khi động thổ cất chùa, người Khmer tiến hành lễ chôn đá Kiết giới. Lễ này lấy từ tích Phật Thích Ca khất thực. Mỗi khi đi trai giới, ngài bẻ một nhánh cây cắm xuống đất, chư tăng họp xung quanh. Chỗ nào đức Phật cắm cây thì lấy chỗ đó xây chùa. Khi tiến hành lễ chôn đá, các sư đặt một cục đá trên đó chạm hình đầu Phật, có ghi ngày tháng. Mỗi lần trùng tu hay cất lại chùa mới cũng làm lễ này. Về sau, nếu muốn biết niên đại của chùa thì chỉ việc đào cục đá ấy lên thì sẽ rõ. 

Trong lễ chôn đá có nghi thức ném vật cầu nguyện. Người cầu nguyện đi 7 vòng quanh hố chôn đá rồi ném xuống một vật. Ví dụ người muốn học giỏi thì ném quyển sách, người muốn giàu thì ném tiền bạc, con gái muốn có chồng hạnh phúc thì ném nữ trang… Vì vậy, khi đào gặp những chiếc hố cổ xưa này, người ta thường gặp nhiều bạc vụn. 

Cổng chính... 


... và cổng phụ chùa Hang 


Và chuyện 12 con giáp 

Đối diện với chánh điện chùa Hang là quần thể tượng 12 con giáp, được bố trí hình vòng cung đắp nổi cặp rồng uốn lượn như chiếc thuyền. Đầu rồng ngẩng trên hai trụ đắp phù điêu thần Yak (chằn tinh được Phật cải hóa) và Voi. Nhìn từ bên trái sang là các tượng bao gồm các thần tiên và chằn cỡi chuột, cỡi bò, cọp, thỏ và rồng, tương ứng với Tý - Sửu - Dần - Mẹo - Thìn của người Việt. 

Về phía bên phải cũng theo trình tự gồm các vị thần tiên cỡi dê, khỉ, gà, chó và thần cỡi heo xếp ngoài cùng. Chính giữa có vị thần cỡi đầu rắn Naga và thần cỡi ngựa bố trí sát bình phong. Trên tấm bình phong là một kiến trúc xây tháp 4 mặt có mái che, hai bên có tượng nữ thần Kinnari chống đỡ mái, trên cùng là bộ tượng 8 vị Phật chắp tay. 

So sánh với 12 con giáp của người Việt thì bộ tượng này con thỏ thay cho mèo (Mẹo), con bò thay cho trâu (Sửu). Theo giải thích của các sư, con bò trong 12 con giáp của Khmer ảnh hưởng văn hóa Bà la môn giáo, đó là bò thần Nandi vốn là con vật cưỡi của thần Shiva. Vào ngày Tết Chol Chnam Thmay, người Khmer căn cứ quyển Đại Lịch để đón giao thừa và dựa trên 12 con giáp để bói xem năm mới tốt hay xấu. Điều này xuất phát từ cổ tích về vị thần Bốn Mặt được kể lại như sau: 

Tháp cột cờ có bộ phù điêu 7 đầu rắn thần Naga 


Bộ tượng 12 con giáp ở chùa Hang 


Thuở Ngọc đế Indra tạo nên Trời Đất, có vị Quốc vương hạ sinh một hoàng tử tên là Thomma Bal. Từ nhỏ, vị hoàng tử này rất thông minh học đâu nhớ đó. Năm 7 tuổi, hoàng tử thông thuộc các sách thiên văn, bói toán, kinh điển. Tiếng khen bay tới thiên đình, thần Kabil Môhaprum (thần Bốn mặt) nổi lòng ghen tức nên tìm cách hại hoàng tử. Thần bay xuống trần gọi hoàng tử đến gặp và ra câu đố về “cái duyên con người trong một ngày” rồi giao hẹn trong 7 ngày nếu đáp đúng thì ngài sẽ tự chặt đầu, còn trái lại hoàng tử phải dâng đầu cho ngài. 

Dù suy nghĩ suốt ngày, hoàng tử Thomma Bal vẫn không tìm ra lời giải. Bấy giờ, trên ngọn cây có 2 con chim linh chuyên ăn thịt đang nói chuyện với nhau là sẽ ăn thịt hoàng tử vì không giải được câu đố và vô tình tiết lộ lời giải. Nghe được, hoàng tử vội trở về dinh mừng rỡ khôn cùng. Hôm sau, đúng hẹn, thần Bốn Mặt cầm gươm vàng bay xuống. Hoàng tử ra lạy nghinh tiếp và trả lời đúng như những gì con chim linh nói. Thần Bốn Mặt nghe xong biết mình đã thua cuộc, liền dặn các con sau khi ngài tự chặt đầu thì đem đầu mình để trong một ngôi tháp. Mỗi năm, thay phiên nhau rước đầu đi quanh ngọn núi Tudi và đừng cho người trần chạm đến vì nếu đầu rơi xuống biển thì biển sẽ cạn khô. Quăng lên trời thì không có mưa, để trên mặt đất thì đất sẽ khô cứng… 

Từ đó về sau, mỗi năm một lần, 7 cô con gái của thần Bốn mặt thay phiên nhau xuống trần, vào tháp bưng đầu của cha đến núi Tudi, theo hướng Mặt trời đi vòng quanh chân núi ba lần. Các vị thiên tôn con của Ngọc đế Indra cũng cỡi thú đi theo đám rước. Mỗi năm một vị thay đổi theo 12 con giáp. Qua 12 năm thì vị thứ nhất trở lại. Mỗi vị cỡi thú, ăn mặc và sử dụng khí giới khác nhau. Dân gian luận theo những điều ấy mà đoán điều hung kiết cho năm mới. 

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, nhóm tượng 12 con giáp ở chùa Hang là yếu tố văn hóa dân gian xâm nhập vào Phật giáo, bởi về nguyên tắc các chùa của người Khmer theo hệ phái Nam tông không có. Hơn nữa, nhóm tượng này đã được bố cục trình tự theo kiểu 12 con giáp của người Việt, chỉ thay đổi hai con Trâu và Mèo.

Hoàng Phương

Đình làng kỳ sự: Linh thiêng ngôi đình thờ chữ 'Tổ quốc'

đăng 03:27, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Bởi chính 2 chữ Tổ quốc trên bức hoành phi treo trang trọng giữa ngôi đình Xuân Dương (Q.Liên Chiểu, Đà Nẵng) mà trong chiến tranh, quân địch không dám đụng vào đình, bằng không đã san phẳng…

Đình làng Xuân Dương với bức hoành phi đặc biệt góp phần giữ đình trong chiến tranh. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Tổ quốc là trên hết

Năm nay đã 79 tuổi nhưng cụ Lê Trọng Bính (nguyên Trưởng ban lễ đình Xuân Dương) vẫn còn minh mẫn và khắc nhớ nhiều câu chuyện về ngôi đình. 

Chỉ tay về phía trụ biểu trước đình, cụ Bính đọc lớn: “Nhâm Thân kiến tạo xã cát Bảo Đại thất niên phân sách bộ”, nghĩa là năm Nhâm Thân Bảo Đại thứ bảy (1931), làng Xuân Dương chính thức chia tách khỏi làng mẹ Xuân Thiều. Cũng từ đó mà đình làng được lập nên để thờ thành hoàng làng”. 

Theo lời cụ Bính, ban đầu, đình chỉ được dựng tranh tre tạm bợ để có nơi cả làng cùng hướng về trong ngày giỗ chạp. Thế rồi trong thời buổi chiến tranh, đình nhanh chóng xuống cấp khiến ai nhìn thấy cũng không khỏi xót xa. Các bậc cao niên trong làng lúc này mới bàn việc dựng lại ngôi đình bề thế hơn. 

Bức hoành phi với 2 chữ Tổ quốc được treo trang trọng tại tiền đường đình Xuân Dương. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Sáu năm sau ngày Xuân Dương được chia tách, cả làng một lần nữa dựng lại đình Xuân Dương. Chiếc đòn đông độc đáo có khắc dòng chữ Bảo Đại Đinh Sửu niên nhị nguyệt thập ngũ nhật cát nhật Xuân Dương xã bổn xã cẩn tạo để ghi dấu năm dựng đình, tức Đinh Sửu (1937). 

Không riêng gì cụ Bính mà nhiều người già trong làng đều kể rằng khung đình Xuân Dương hiện tại là do một người phụ nữ trong làng gìn giữ, bảo quản sau khi mua lại nhà thờ ở xã Hòa Liên (H.Hòa Vang). 

Chiến tranh ác liệt nổ ra, cảnh nhà tan cửa nát, người dân giữ tính mạng đã khó nên trong suốt một thời gian dài đình làng Xuân Dương không được tu bổ. 

Mãi đến năm 1964, ngôi đình mới được đại trùng tu và giữ nguyên trạng cho đến ngày nay với lối kiến trúc “chồng rường giải thủ” độc đáo cùng nghệ thuật chạm khắc gỗ cực kỳ tinh xảo. 

Đình Xuân Dương là một trong số ít ngôi đình tại Đà Nẵng có kiến trúc cổ đẹp mắt. ẢNH: HOÀNG SƠN 


“Tháng Giêng năm 1964, nhờ có kinh phí dành dụm mà các cụ trong làng đã nghĩ đến việc sửa sang cho ngôi đình khang trang hơn. Khi trùng tu thêm lần nữa vào năm 2004, trụ biểu vẫn ghi rõ năm đó là lần trùng tu “đại căn cơ” với đầy đủ hạng mục”, cụ Bính kể. 

Cụ Lê Văn Chước (75 tuổi), Trưởng ban lễ đình Xuân Dương chỉ tay vào tấm hoành phi đỏ chót treo giữa tiền đường, góp chuyện: “Cũng từ năm đó mà đình Xuân Dương chúng tôi thờ 2 chữ Tổ quốc. Các cụ lý giải, ai cũng có Tổ quốc và Tổ quốc là trên hết. Đình làng là nơi thờ phụng thì cũng là nơi thờ Tổ quốc”. 

Bởi chính 2 chữ Tổ quốc thiêng liêng mà từ sau 1964, dù chiến tranh ngày càng trở nên khốc liệt nhưng đình làng vẫn uy nghiêm tồn tại. Không những vậy, địch có phần ái ngại khi đụng vào mảnh đất đình tọa lạc. 

Bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp TP được treo trong ngôi đình. ẢNH: HOÀNG SƠN 


“Động đến đình là động đến Tổ quốc” 

Cụ Lê Trọng Bính kể núi Xuân Dương nơi ngôi đình tọa lạc vốn là dãy núi đá kéo dài ra phía biển. Trong thời kỳ Pháp thuộc, một phần dãy núi đã được san bạt để làm tuyến đường sắt. Từ đó, phần núi phía sau lưng đình bị khuyết một vùng lớn. 

Từ năm 1965 - 1966, quân địch cho cày phá ngọn núi Xuân Dương để khai thác vật liệu về làm Sân bay Đà Nẵng khiến cảnh tượng tan hoang. Trong những năm 60 thế kỷ trước, để phục vụ sân bay quân sự, phía Mỹ đã lên kế hoạch san phẳng ngọn núi. 

“Nếu vậy thì ngôi đình chắc chắc sẽ không còn giữ được. Cả làng như ngồi trên đống lửa vì đình chỉ mới vừa trùng tu xong vào năm 1964. Lúc này, cha của ông Đặng Xuân Sơn (nguyên Trưởng ban lễ đình) vốn là quan dưới triều vua Bảo Đại thông thạo Pháp ngữ, Hán văn mới nghĩ ra cách làm bức hoành phi để thờ”, cụ Bính nhớ lại. 

Một mặt bỏ ra số tiền 110 đồng để thuê thợ giỏi, một mặt cha ông Sơn nghĩ ra 2 từ Tổ quốc để thợ khắc chữ và sơn son thếp vàng. Khi làm xong, bức hoành phi được treo ngay chính gian giữa ở vị trí trang trọng nhất. 

Tuy đang bị xuống cấp nhưng gian chính ngôi đình mang đậm nét kiến trúc cổ độc đáo. ẢNH: HOÀNG SƠN 


“Nếu thờ chữ Tổ quốc thì bất cứ ai cũng phải dè dặt khi đụng tới ngôi đình”, ông Bính kể. Cũng vì tấm hoành phi mà cha ông Sơn đã bị chính quyền Việt Nam cộng hòa hạch sách. 

Ông liên tục bị mời lên để truy vấn về ý nghĩa chữ Tổ quốc, ẩn ý khi thờ phụng chữ Tổ quốc là gì. Vì là người lý lẽ, nói chuyện thấu tình đạt lý mà chính quyền cũ đã nhượng bộ. 

Cụ Lê Trọng Bính nhận định: “Đình làng thờ chữ Tổ quốc đã khiến chính quyền Việt Nam cộng hòa chùn tay trong việc khai thác ngọn núi. Động đến đình là động đến Tổ quốc. Phía chính quyền cũng nhận thấy nếu bán đá từ ngọn núi sẽ ảnh hưởng đến ngôi đình và nên mọi việc đều dừng lại. Nếu không, quân Mỹ đã lấy nguyên quả núi, bãi đất thì đình chẳng còn cách nào giữ được”.

Năm 2007, đình làng Xuân Dương được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật cấp TP. Để có được danh hiệu về kiến trúc, người dân địa phương tin rằng đình Xuân Dương luôn có những điều linh thiêng. Mà bằng chứng là trong chiến tranh ác liệt đến mấy thì ngôi đình vẫn nguyên vẹn từng rường cột, đòn tay như được sự che chở của tiền nhân.

Hoàng Sơn - Huy Đạt

Đình làng kỳ sự: Độc đáo 'ngôi đình' với lễ hội tắt bếp

đăng 03:20, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Với người dân Trà Kiểm (xã Hòa Phước, H.Hòa Vang, TP.Đà Nẵng), miếu Ông ngay giữa làng không khác gì ngôi đình gắn liền với lễ hội có một không hai - lễ hội tắt bếp.

Lễ hội tắt bếp của người Trà Kiểm gắn liền với 'ngôi đình' Ông ngay giữa làng. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Bữa cơm chung của cả ngàn người 

Với mỗi gia đình, bếp lửa trong nhà đều đóng vai trò quan trọng, biểu tượng cho sự ấm êm, hạnh phúc. Bởi vậy, thoạt nghe cái tên lễ hội, cũng như chúng tôi nhiều người rất băn khoăn: tắt bếp thì chuyện cơm nước mỗi gia đình sẽ thế nào? Tắt bếp để làm gì? 

Phó thôn Trà Kiểm Nguyễn Hữu Thắng cho biết không riêng gia đình nào mà đúng ngày 12.2 âm lịch hằng năm, cả làng không ai bảo ai đều tự tắt bếp lửa, tập trung về ngôi đình giữa làng để cúng tiền hiền rồi cùng nhau vui hội. “Đến nay nhiều bậc cao niên trong làng cũng không nhớ lễ hội có từ lúc nào. Chỉ nghe các cụ kể lại rằng từ trong chiến tranh, bom rơi đạn lạc có thế nào thì người làng chúng tôi cũng tắt bếp đúng giờ, đúng ngày để tưởng nhớ những người khai khẩn lập làng…”, ông Thắng kể. 

Ông Thắng cho biết làng Trà Kiểm xưa có tên xóm Rừng với chỉ 40 hộ dân thuộc vài tộc họ. Trong ký ức của ông Thắng, lễ hội tắt bếp là dịp ông được theo cha lê la dọc đường làng ăn quà vặt. Thời kỳ khốn khó, trước ngày diễn ra lễ chính thức, đêm 11.2 âm lịch là thời điểm vui nhất. 

Những bà già, bà chị quẩy gánh ra đường rồi chong đèn dầu bán bánh gói, bánh xèo… hình thành nên một khu chợ ẩm thực đậm tình quê. 

Trưởng thôn Nguyễn Thanh Quý cho biết nhờ lễ hội tắt bếp mà thắt chặt tình đoàn kết, tương thân tương ái. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Ông Thắng tiếp lời: “Hồi đó ai cũng nghèo khó nhưng lễ hội thì ấm áp vô cùng. Tôi nhớ trước lễ hội vài ngày, những người lớn tuổi họp lại để bàn việc nấu cỗ cho làng. Sau đó nhà ai có gì thì cứ đem đến nấu chung. Người khá giả thì mang con gà, người trung bình thì góp chục lon gạo nếp, khó khăn hơn thì chục quả trứng vịt, mắm muối, dưa cà… Bữa cơm của hàng trăm người không phân biệt sang hèn, chức tước…”. 

Ngày nay, lễ hội vẫn giữ ngày cử hành và cách thức đóng góp chỉ khác là xã hội hiện đại nên việc đóng góp được huy động bằng tiền mặt. 

Và dĩ nhiên số tiền đóng góp không hạn định, ai có điều kiện thì đóng nhiều, ai khó khăn thì góp số tiền phù hợp với gia cảnh. 

Ông Nguyễn Thanh Quý, Trưởng thôn Trà Kiểm cho biết với người làng, miếu Ông không khác gì ngôi đình thờ tiền hiền, thành hoàng ngoài ngôi đình chính Quá Giáng. 

Vào tối 11.2 âm lịch, cả làng trên xóm dưới của thôn Trà Kiểm quây quần về miếu Ông làm lễ tế rước tiền hiền, tổ tiên… Trong đêm, thanh niên quây quần hát hò, biểu diễn văn nghệ còn người lớn tuổi thì rộn ràng hô hát bài Chòi. 

Ngày tắt bếp đoàn kết 

Ngày hội chính của lễ hội diễn ra vào sáng sớm 12.2 khi cả làng tập trung tại nhà văn hóa thôn để tổ chức lễ chính tế thần, thành hoàng với cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng no đủ… 

Lễ tắt bếp bắt đầu từ sáng sớm. “Chúng tôi không phải nhắc nhở nhà nào phải tắt bếp bao giờ và cũng không phải phạt ai không theo lệ làng. Chỉ cần đến sáng là cả làng đã tập trung đông đủ từ già trẻ, gái trai… Không khí vui vẻ của lễ hội tưng bừng nên ai cũng muốn có mặt”, ông Nguyễn Thanh Quý nói. 

Ông kể người làng luôn ý thức đó là dịp đoàn tụ, sum vầy sau 1 năm làm việc vất vả nên dù ở xa, có người Hà Nội, TP.HCM… cũng cố gắng trở về đúng dịp lễ hội. Người không về được cũng góp của để cả làng chung vui. “Lễ hội vừa qua, làng góp được cả trăm triệu đồng. Bữa cơm chung cả làng đến cả 70-80 mâm cơm với 700-800 người cùng vui. Sau lễ, làng còn dư được vài chục triệu đồng để làm quỹ tương trợ lẫn nhau…”, ông Nguyễn Hữu Thắng góp chuyện. 

Đối với người làng Trà Kiểm, ngôi miếu giữa làng không khác gì ngôi đình linh thiêng mà họ tôn thờ, nhang khói thường xuyên. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Nhiều năm diễn ra lễ hội với hàng trăm người tham dự chưa khi nào làng Trà Kiểm để xảy ra tình trạng mất an ninh, trật tự… Trong bữa cơm chung, mọi người trò chuyện vui vẻ với nhau đủ điều, từ năng suất cây trồng cho đến việc xây dựng đường làng, ngõ xóm thêm khang trang. Con cháu đi làm ăn xa cũng được người già hỏi han, động viên những khó khăn trong cuộc sống. Dưới mái đình, mọi người thêm hiểu nhau hơn. 

Kết thúc một ngày tiệc tùng, văn nghệ sôi nổi, ai về nhà nấy. Bếp lửa “gia đình lớn” tạm tắt để bếp lửa của mỗi gia đình nhỏ lại đỏ lên. 

Ông Nguyễn Hữu Thắng cho biết thêm, trước đây, lễ hội tắt bếp chỉ diễn ra trong ngày 12.2 âm lịch, tuy nhiên nhận thấy tình làng nghĩa xóm được thắt chặt hơn sau ngày hội, làng đã quyết định có thêm một ngày tắt bếp vào ngày hội đại đoàn kết toàn dân (18.11 hằng năm) với quy mô nhỏ hơn. 

Nhờ tình đoàn kết và nếp sống chân tình mà những chương trình xây dựng thôn văn hóa tại Trà Kiểm luôn đạt được kết quả “kỷ lục”. Năm 2010, thôn Trà Kiểm là 1 trong 3 thôn của Hòa Vang đón nhận bằng khen của Bộ VH-TT-DL tặng trong phong trào xây dựng “Làng văn hóa 20 năm”.

Năm 2012, Trà Kiểm được chọn là thôn điểm để nâng cấp, mở rộng giao thông kiệt hẻm xây dựng nông thôn mới. Và không mấy bất ngờ khi các hộ dân tình nguyện hưởng ứng hiến cả 1.000 m2 đất, đóng góp hàng trăm triệu đồng mở rộng 1,7 km hẻm… 

Nhà nào cũng ý thức, chăm chút đoạn đường trước nhà mình nên đường làng, ngõ xóm lúc nào cũng đầy hoa, cây cối xanh mát. Ở Trà Kiểm, hễ nhà nào có hiếu hỉ, ma chay là người làng xúm lại phụ giúp. Người lạ vào làng luôn được đón tiếp nhiệt tình, chan hòa đến kỳ lạ…

Hoàng Sơn - Huy Đạt

Đình làng kỳ sự: Cả làng chuyền tay giữ 32 đạo sắc phong

đăng 03:12, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Dù mưa bom bão đạn hay trong cơn 'đại hồng thủy' thì người làng Mỹ Xuyên Đông (TT.Nam Phước, H.Duy Xuyên, Quảng Nam) vẫn chuyền tay nhau gìn giữ nguyên vẹn hàng chục đạo sắc phong vua ban.

Vào dịp lễ tế hằng năm, 32 đạo sắc phong được thỉnh về đình làng. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Đình làng giữ nhiều sắc phong nhất xứ Quảng

Mỹ Xuyên Đông nằm phía hạ lưu sông Thu Bồn là một ngôi làng trù phú, phong cảnh hữu tình với đình làng, chợ quê, cây đa, bến nước. 

Cùng với lịch sử lập làng cách đây 500 năm trước, người làng Mỹ Xuyên Đông còn tự hào về ngôi đình là nơi cất giữ đến 32 đạo sắc phong do các vua Nguyễn ban tặng. 

Cụ Văn Công Chân (81 tuổi), Phó ban Trị sự làng Mỹ Xuyên Đông kể vào thời hậu Lê, Chánh đề đốc Lê Quý Công theo lệnh vua đã đưa quân nam tiến khai phá vùng đất từ nam đèo Hải Vân. “Khi đến Mỹ Xuyên, ngài đã chọn mảnh đất này lạc nghiệp. Từ đó, ngài cùng người dân khai hoang 1.700 mẫu đất, chia thành 2 làng Mỹ Xuyên Đông và Mỹ Xuyên Tây”, cụ Chân nói và cho biết đến nay làng có 22 tộc họ. 

Hai tấm bằng công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh được cất giữ trong đình làng Mỹ Xuyên. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Trải qua hàng trăm năm thăng trầm dựng làng, giữ nước, làng Mỹ Xuyên được các triều đại phong kiến ban tặng nhiều sắc phong. Đặc biệt dưới triều Nguyễn, các nhà vua đã ban cho làng 32 đạo sắc phong. Trong đó, triều Minh Mạng 5 đạo; Thiệu Trị 10 đạo; Tự Đức 11 đạo; Đồng Khánh 2 đạo; Duy Tân 2 đạo và Khải Định 2 đạo. 

Bên cạnh phần lớn các sắc phong thành hoàng, triều Nguyễn còn phong thần cho làng với những vị trí cao như: Thái giám Bạch Mã tôn thần, Bạch Mã chi thần, Lợi vật kiện thuận Bạch Mã chi thần, Đại Càn thượng đẳng thần, Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi tôn thần… 

Các đạo sắc phong được sao chụp và phiên dịch. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Cụ Chân tiếp lời, đạo sắc phong cổ nhất cách đây gần 200 năm, được ban vào năm Minh Mạng thứ 5 (1824) là sắc phong Tả Đông Chinh tôn thần. 

Vua Minh Mạng viết: “Sắc cho Tả Đông Chinh tôn thần giúp nước phò dân, công đức rõ rệt, đã từng được xã dân thờ phụng. Kính vâng theo Thế tổ Cao Hoàng đế ta thống nhất giang sơn, phúc lành ban khắp thần người…”. 

Kể từ sắc phong này, tính trung bình cứ 3 năm 1 lần và kéo dài trong vòng 100 năm, làng Mỹ Xuyên lại được vua Nguyễn ban sắc phong. Sắc phong thứ 32 vào năm Khải Định thứ 9 (1924) là sắc hợp phong Đại Càn, Thiên Y A Na, Ngũ Hành Tiên nương Thượng đẳng thần. 

“Sống đến từng này tuổi, tôi chưa nghe nơi nào trên cả nước có ngôi đình gìn giữ được số sắc phong nhiều như vậy. Tuy không dám khẳng định làng mình giữ nhiều sắc phong nhất nước nhưng tôi có thể khẳng định ở xứ Quảng thì chắc chắn có thể. Ngoài ra, sắc phong vào năm Minh Mạng thứ 5 là sắc phong cổ nhất còn được lưu giữ ở Quảng Nam”, cụ Chân nói thêm. 

Sắc phong của đình làng vào năm Minh Mạng thứ 5. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Thỉnh sắc phong… “chạy” lũ

Có tuổi đời từ 100-200 năm và trải qua không biết bao biến cố cùng đất nước nhưng những tấm sắc phong bằng giấy dó màu vàng vẫn nguyên nét mực đen cùng hình con dấu đỏ chót. 

Câu chuyện gìn giữ nguyên vẹn 32 đạo sắc phong trở thành niềm tự hào của không biết bao thế hệ người làng Mỹ Xuyên. Họ đã không tiếc công sức, thậm chí cả tính mạng của mình để bảo vệ mà như chính lời cụ Chân tâm sự thì “dù đình nát làng tan cũng phải giữ cho được, còn sắc là còn làng”. 

Đình làng Mỹ Xuyên Đông gắn với nhiều câu chuyện lịch sử kỳ bí. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Cụ Chân nhớ lại, suốt khoảng thời gian dài đất nước ngập chìm trong khói lửa chiến tranh, đình làng Mỹ Xuyên luôn là nơi bị giặc dòm ngó, oanh tạc… 

Đình làng đã sập, hư hại không biết bao lần, thế nhưng giặc không thể đốt, cướp các sắc phong là nhờ người làng di tản kịp thời. “Lúc bình yên, các sắc phong được cất giữ cẩn thận trong đình. Lúc giặc đổ bộ vào làng, chúng tôi phải thay nhau ôm sắc phong… chạy giặc, đến khi bình yên mới đem về làng. Để tồn tại đến ngày hôm nay, 32 sắc phong đã không ít lần ẩn náu trong các bụi tre gai hay các lèn đá”, cụ Chân kể. Năm 1972, quân giặc hung hãn tiến vào làng tàn phá khắp các đội trên, xóm dưới. 

Không chỉ có bề dày lịch sử, đình làng Mỹ Xuyên còn nằm ở vị trí rất đẹp. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Cây đa có tuổi đời 400 năm tuổi mọc sát đình Mỹ Xuyên bị giặc đốt cháy trong 2 ngày 2 đêm. 32 đạo sắc một lần nữa lưu lạc theo bước chân chạy giặc. 

“Cả làng nhìn cây đa cháy rụi mà lòng quặn thắt. Không biết chuyện tự hỏi liệu 32 sắc phong có còn, người hiểu chuyện thì luôn tin chắc một điều chúng vẫn an toàn và chờ ngày về lại làng”, cụ Chân tiếp lời. 

Không chỉ đối mặt với địch họa, không ít phen số sắc phong đã đối mặt với thiên tai kinh hoàng. Đáng nhớ nhất là trận lũ lịch sử năm Thìn 1964. Trong ký ức của không riêng gì người Mỹ Xuyên mà với người dân toàn miền Trung, trận “đại hồng thủy” này đã trở thành nỗi ám ảnh chết chóc. 

Cây đa cổ thụ được trồng ngay sát đình làng, cạnh khu chợ đông đúc. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Dù tính mạng nhiều người không giữ được thì những tấm giấy sắc phong vẫn được ưu tiên đưa lên vị trí cao nhất trong làng để tránh nước. Cụ Chân không nhớ chính xác vị trí cất giữ các sắc phong trong nước lũ ở đâu nhưng theo lời cụ thì 32 sắc phong đã được các bậc cao niên làm lễ cúng để thỉnh về phía cầu Câu Lâu. 

Trong nhiều ngày ròng rã, người làng đã thay phiên nhau túc trực, canh giữ số sắc phong chờ nước rút. 

Người Mỹ Xuyên dù là già trẻ, lớn bé luôn coi 32 sắc phong là “báu vật” của làng. Bởi vậy vì sợ mất khi để tại ngôi đình gìn giữ chung, cả làng đã họp lại để bầu ra một Thủ sắc (người giữ sắc phong) nhằm cất giữ cẩn thận hơn. 

Cụ Nguyễn Văn Thanh (87 tuổi), thủ sắc đương nhiệm cho biết những người được bầu vào vị trí này phải là người có uy tín với cộng đồng và có đủ tư cách, đạo đức. 

Thủ sắc Nguyễn Văn Thanh hiện đang lưu giữ cẩn thận 32 đạo sắc phong. ẢNH: HOÀNG SƠN 


“Hễ thủ sắc già và qua đời thì người làng họp lại và bầu người khác tiếp quản. Được sự nhất trí của làng, 10 năm qua tôi mang số sắc phong này về nhà để thờ phụng và hương khói đàng hoàng”, cụ Thanh cho biết. 

Cụ Thanh cũng cẩn thận bọc nhựa số sắc phong để phòng mối mọt rồi cho tất cả vào một chiếc rương, khóa cẩn mật. 


Độc đáo lễ rước sắc phong

Hằng năm, cứ đến ngày 12.2 âm lịch, người làng Mỹ Xuyên lại tụ tập tại đình làng để cử hành lễ tế xuân cầu cho mưa thuận gió hòa, xóm làng an yên.

Cùng với lễ tế, cả làng sẽ thực hiện nghi lễ rước sắc phong nhằm ghi ơn các bậc tiền hiền khai khẩn.

Di tích lịch sử cấp tỉnh mộ tiền hiền Lê Quý Công. ẢNH: HOÀNG SƠN

Trước khi rước sắc, người dân tụ tập tại nhà Thủ sắc, cúng bái rất long trọng. Hiện tại đình làng Mỹ Xuyên đang lưu giữ 2 tấm bằng công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh đối với đình làng này và mộ tiền hiền Lê Quý Công. 


Hoàng Nguyên

Đình làng kỳ sự: Ngôi đình 4 xe tăng kéo không đổ

đăng 02:56, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Nhiều đình làng xứ Quảng đang lưu giữ nhiều câu chuyện văn hóa thú vị về những lễ hội, nghi thức độc đáo… Trong khi đó, một số đình khác lại mang những câu chuyện tâm linh kỳ bí.

Đình làng Thạch Tân từng bị 4 xe tăng kéo nhưng không sập. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Khá hoảng sợ trước việc 4 chiếc xe tăng rồ ga, nhả khói nhưng ngôi đình được dựng bằng gỗ không suy suyển, quân địch đành phải bỏ ý định giật sập ngôi đình và “lui binh”. 

Bí ẩn “vết thương” trên cột đình 

Nằm giữa vùng quê thanh bình, đình làng Thạch Tân (thôn Thạch Tân, xã Tam Thăng, TP.Tam Kỳ, Quảng Nam) là một di tích quan trọng gắn liền với di tích quốc gia địa đạo Kỳ Anh (tên cũ của xã Tam Thăng). 

Kiến trúc ngôi đình 3 gian 2 chái, kết cấu chồng rường giả thủ cực kỳ tinh xảo do chính những người thợ mộc Văn Hà trứ danh (thuộc H.Phú Ninh, Quảng Nam) thi công. 

“Điểm đặc biệt của ngôi đình không nằm ở vẻ bề ngoài của nó mà chính là những câu chuyện gắn liền với cuộc chiến chống đế quốc Mỹ hào hùng mà vết tích còn lại trên những cây cột chính là một minh chứng”, ông Huỳnh Kim Ta, Trưởng thôn Thạch Tân kiêm hướng dẫn viên khu di tích mở đầu câu chuyện. “Nhiều người khi tham quan ngôi đình luôn đặt câu hỏi về những vết hằn này. Tôi gọi đó là những vết thương linh thiêng…”, ông Huỳnh Kim Ta nói thêm. 

Ông Huỳnh Kim Ta, Trưởng thôn Thạch Tân mô tả cách quân giặc buộc dây xích để giật sập ngôi đình. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Tháng 7.1968, Mỹ xua quân càn quét vùng đông Quảng Nam. Khi đưa quân đến Thạch Tân, họ nghi ngờ người dân sử dụng ngôi đình làm nơi hoạt động cách mạng nên rắp tâm triệt hạ. 

Thời điểm đó, sau khi cho khoảng 6 đại đội bộ binh bố ráp quanh ngôi đình, Mỹ cho 2 xe bọc thép cảnh giới, 4 chiếc xe tăng còn lại nổ máy tông sập tường bao. 

Với loại cơ giới hạng này, quân địch cố ý tông vào cột hòng làm đình sập thế nhưng ngôi đình vẫn đứng sừng sững. Sau một hồi bàn bạc, đám lính đã cho xe tăng lùi ra rồi dùng dây xích cỡ lớn buộc vào 2 cây cột ở gian giữa. Họ tiếp tục nổ máy, rồ ga để giật sập nhưng kỳ lạ thay ngôi đình vẫn không chút xê dịch. 

Vết xích còn hằn lại trên cột đình làng Thạch Tân. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Nhiều lần kéo giật ngôi đình không đổ, dây xích cứa vào thân cột để lại những “vết thương” rất sâu. “Trước sự uy nghi của đình cũng như tâm linh hóa thân bởi sức mạnh của nhân dân nên địch tỉnh ngộ, sợ hãi không dám phá đình”, Trung tâm VH-TT TP.Tam Kỳ ghi lại. 

Ông Huỳnh Kim Ta nhận xét với cách buộc xích và bố trí vào các cây cột, cho thấy quân địch đã tính toán rất kỹ. Bởi nếu giật đổ 2 cây cột này thì chắc chắn ngôi đình sẽ tan hoang. 

“Nhìn vào những vết thương này khó ai có thể nghĩ ngôi đình còn đứng vững đến ngày hôm nay. Chỉ có thể là điều linh thiêng gì đó mới có thể giữ được đình”, ông Ta kể, đứng trước áp lực tâm linh cũng như sự đấu tranh, phản đối của người dân địa phương, quân địch đã tháo dây xích và rời đi. 

Sợi xích được buộc vào cột để người tham quan có thể dễ hình dung. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Chỉ tay vào những vết hằn trên cột, ông Ta cho biết thêm, để tái hiện cho khách tham quan có thể hình dung, ngành chức năng đã sưu tầm đoạn dây xích có kích cỡ tương tự bỏ vào thân cột ở gian thờ. 

Cây cột còn lại do bị mảnh bom cắt đứt ngang nên vào năm 2001, khi đình được trùng tu đã cho thay thế. 

Hai căn hầm bí mật dưới nền đình 

Du khách khi đến tham quan đình Thạch Tân ngoài được nghe kể về việc thờ thần Đại Càn quốc gia Nam Hải, thờ tiền hiền và hàng trăm liệt sĩ, Mẹ Việt Nam anh hùng còn được hiểu thêm về kỳ tích đào 32km địa đạo. Trong chiến tranh, ngay dưới nền ngôi đình này, nhân dân địa phương đã đào 2 căn hầm, bí mật nuôi giấu cán bộ hoạt động cách mạng. 

Miệng dẫn vào căn hầm phía dưới nền ngôi đình. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Ông Ta tiếp lời, năm 1964, thực hiện nghị quyết giải phóng vùng ven đô và vùng đồng bằng, Tam Kỳ được chia thành 2 vùng chiến lược, vùng đông là xã Kỳ Anh và vùng tây là xã Kỳ Thịnh (nay là thuộc H.Phú Ninh). 

Tại vùng đông có căn cứ địa đạo Kỳ Anh. Để giữ được địa bàn, Đảng bộ xã Kỳ Anh lúc bấy giờ đã chủ trương đào hầm bí mật để bảo toàn lực lượng nhằm đánh địch và giữ vùng giải phóng. 

Lực lượng du kích, nhân dân tại 3 xóm của thôn Thạch Tân đã không quản ngày đêm miệt mài đào địa đạo. 

Căn hầm phía dưới ngôi đình khá rộng rãi. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Trong chiến tranh, từ căn hầm phía dưới đình Thạch Tân có thể dẫn ra các hướng với chiều dài 32km. 

“Các xóm đào xong thì nối lại thành thôn, thôn đào xong thì nối lại thành xã. Nhờ vậy mà chỉ trong 2 năm (từ 1965 - 1967) đã đào được 32 km địa đạo”, ông Ta nói. Với chiều rộng từ 0,5 - 0,8m, chiều cao khoảng 0,8 - 1m, tuyến địa đạo trở thành thành trì vững chắc giúp quân dân Kỳ Anh tổ chức phản công, tập kích địch bất ngờ khi chúng càn quét. ẢNH: HOÀNG SƠN 

Đặc biệt, địa đạo hình ô bàn cờ, quanh co uốn khúc, nhiều ngõ ngách nên có lần bị phát hiện nhưng địch vẫn không dám xuống. Trong làng Thạch Tân men theo các bụi tre, lùm bụi, cây rơm… đều có miệng hầm để tránh trú dễ dàng. 

Căn hầm chính "đại bản doanh" dưới nền đình sẽ dẫn ra các hướng. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Riêng tại đình Thạch Tân, tận dụng đình có vị trí thuận lợi cùng yếu tố tâm linh có thể tránh sự dòm ngó của địch, nhân dân địa phương đã đào 2 căn hầm rộng rãi ngay dưới nền đình để làm nơi cứu thương và chứa lương thực tiếp tế cho vùng tây bắc Tam Kỳ chống Mỹ. 

Nhìn bên ngoài không ai có thể phát hiện miệng hầm ở vị trí nào nhờ cách ngụy trang tinh vi. Khi có việc phải xuống hầm, quân du kích chỉ việc cạy nắp hầm ngay dưới nền đình để chui vào. 

Tại ngôi đình này còn có cửa địa đạo được làm ngay sau đình kết nối với 32km địa đạo còn lại. Ngày trước, để ngụy trang, bên ngoài miệng hầm được phủ bằng đá ong. Sau này khi đình được trùng tu, tôn tạo người dân địa phương đã thiết kế miệng hầm khá rộng để phục vụ khách tham quan. 

Hiện trong làng vẫn còn nhiều miệng hầm bí mật nằm rải rác ở các bụi tre, gốc cây rơm... ẢNH: HOÀNG SƠN 


Cây rỏi di sản biết… “né” bom đạn? 

Những bậc cao niên làng Thạch Tân cho biết cạnh đình làng có một cây rỏi được trồng từ khi lập làng, đến nay có tuổi đời khoảng 400 năm. Đến hiện tại, cây rỏi này là cây cao, to nhất làng. 

Ngày xưa, người làng thường tụ tập sinh hoạt cộng đồng dưới cây rỏi này. Trong chiến tranh, dân quân du kích dùng thang dây để trèo lên ngọn cây quan sát, cảnh giới địch đi càn. 

Cây rỏi cổ thụ nằm cạnh đình làng có tuổi đời hàng trăm năm tuổi. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Trong khi đó, địch thường chọn cây rỏi làm điểm tọa độ vì cao nhất để nã pháo, đánh bom vào khu vực này. Địch thường chừa cây này ra để lấy làm điểm tọa độ. Chính nguyên nhân này mà người dân thường truyền miệng cây rỏi di sản biết “né” bom đạn. 

Hoàng Sơn

Thú vị truyền thuyết về núi Tà Đùng

đăng 02:20, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Mới đây, cùng với Đoàn chuyên gia UNESCO đi khảo sát thực địa ở huyện Đắk Glong, chúng tôi đã có dịp ghé qua một số bon làng người Mạ và được nghe đồng bào kể những truyền thuyết thú vị xung quanh núi Tà Đùng.

Miếu thờ thần đá ở cạnh quốc lộ 28, xã Đắk Som (Đắk Glong) 


Theo lời kể của ông K’Kệ ở bon B’Nâm, xã Đắk P’lao (Đắk Glong), ngày xưa, bon B’Nâm là một vùng đất bằng phẳng, đất đai trù phú, cây cối xanh tốt nhưng mỗi khi có mưa bão thì bon làng đều bị ngập chìm trong nước, dân làng không có nơi trú ngụ nên cuộc sống rất cơ cực. Thương dân làng nên già làng Tang Klao Ca đã lặn lội băng rừng, vượt suối đi mời 2 anh em thần Dit và thần Dri đến để giúp đỡ. Sau khi có lời nhờ cậy, 2 thần đã đến gặp thần Cột Vồng (vị thần cai quản biển lúc bấy giờ) để xin vài ngọn núi về đặt gần bon B’Nâm nhằm bảo vệ dân làng. Được thần Cột Vồng đồng ý, cả hai vị thần đã dùng dây mây kéo núi về đặt xung quanh bon làng. Núi kéo trước gọi là núi Cha, núi kéo sau là núi Mẹ… 

Sau khi các ngọn núi được kéo về, già làng Tang Klao Ca cùng với bà con tổ chức lễ cúng tạ ơn trời đất, cảm ơn các vị thần đã che chở và mời các vị thần cai quản các ngọn núi về tham dự, chung vui với bon làng. Tại lễ cúng, bà con vui vẻ đánh cồng chiêng, ăn uống no say và trò chuyện thâu đêm bên bếp lửa hồng. Bỗng nhiên, khi trời gần sáng có một trận bão tuyết tràn về phủ trắng toàn bộ bon làng B’Nâm, khiến dân làng rất khốn đốn. Điều kỳ lạ là sau trận bão tuyết đó, mọi lễ vật trong lễ cúng đều biến thành đá. 

Miếu thờ thần đá do bà con người Mạ đóng góp kinh phí xây dựng 


Người dân rất hoang mang, lo sợ và được thần Siêng Rút - vị thần cai quản bon báo mộng rằng, sở dĩ có trận bão tuyết là do bon làng khi tổ chức lễ cúng đã không mời thần Ba Trặ nên thần mới nổi giận (Ba Trặ là nơi trú ngụ của loài chim phượng hoàng) và muốn thoát khỏi cảnh tuyết phủ thì phải làm lễ cúng tạ lỗi. Vậy là bon làng lại thêm lần nữa tổ chức lễ hội và thần Ba Trặ và các vị thần khác cũng được mời dự. Sau lễ tạ lỗi, khu vực núi Cha mọc lên rất nhiều cây mía to, mấy người ôm không xuể. Từ đó, người dân đặt tên cho núi Cha là B’Nâm Tào Dung (núi có cây mía to). Về sau núi B’Nâm Tào Dung được gọi là núi Tà Đùng. 

Riêng những nơi có băng tuyết bỗng hóa thành những tảng đá lớn, lấp đầy cả một vùng rộng lớn, sông, suối đều có đá to nằm trơ trọi. Đặc biệt ở khu vực này còn có đá Trống (loại đá dùng trong lễ hội), khi gõ vào đá phát ra âm thanh thánh thót nghe rất vui tai. Và khi gõ, mọi người phải nghiêm trang, tôn kính, không được chọc phá nô đùa trên đá Trống. Ai có ý xúc phạm thì sẽ bị thần linh trừng phạt. 

Đoàn chuyên gia UNESCO thăm miếu thờ thần đá 


Ngày nay, cuộc sống có nhiều đổi thay nhưng đồng bào Mạ nơi đây vẫn luôn ghi nhớ và thường xuyên kể cho con cháu nghe các câu chuyện liên quan đến núi Tà Đùng. Mỗi khi có điều kiện, bà con, bon làng lại cùng nhau tổ chức các lễ cúng thần rừng, lễ cúng bến nước, lễ cầu mưa, lễ mừng lúa mới... 

Đặc biệt, để ghi nhớ truyền thuyết hình thành các núi đá, bà con cũng đã quyên góp kinh phí, công sức và xin phép chính quyền xây dựng miếu thờ thần đá ngay cạnh quốc lộ 28. Bà con thường xuyên lui tới chăm nom miếu đá và xem đây như một bảo vật linh thiêng cần được gìn giữ và lưu truyền cho muôn đời sau. 

Ông K’Krong ở bon Đắk P’lao cho biết: “Mỗi khi đi làm rẫy về, bà con đều dừng lại đây để nghỉ ngơi, trao đổi nhiều chuyện làm ăn. Ngoài việc mang tính tâm linh, việc thờ cúng và bảo vệ miếu thờ thần đá cũng là cách bà con động viên nhau đoàn kết, phát triển kinh tế, xây dựng bon làng ngày càng giàu đẹp”. 

Bài, ảnh: Mỹ Hằng

Huyền thoại Bạch Hổ sơn quân

đăng 19:50, 25 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Khác với nhiều dinh, điện thờ bà Thiên Y A Na ở vùng núi Quảng Nam, Quảng Ngãi, tại di tích văn hóa quốc gia điện Trường Bà, thị trấn Trà Xuân, huyện miền núi Trà Bồng, bên cạnh dinh thờ, còn có tượng và ngôi mộ hổ trắng mà người dân trong vùng kính cẩn gọi là ông Bạch Hổ. Huyền thoại về ông Bạch Hổ biểu hiện niềm mong ước của người dân vùng cao về một cuộc sống yên bình, sung túc...

Đến thăm di tích văn hóa quốc gia điện Trường Bà, khi đi qua cổng điện, du khách thường thẳng hướng vào bên trong, ngắm nhìn khuôn viên ngôi điện với những hàng cột kèo to, thẳng với những nét chạm trỗ tinh xảo. Sau đó, du khách thắp hương cầu nguyện sự an lành dưới bàn thờ bà Thiên Y A Na, bàn thờ đức Quan Thánh và bàn thờ hai vị nhân thần có công mở cõi, yên dân vùng thừa tuyên Quảng Nam xưa là Trấn Quận công Bùi Tá Hán và Quan chiếu vương Mai Đình Dõng cùng các vị tiền hiền có công lớn trong việc lập làng, khai hoang làm nên sự trù phú cho vùng đất quế Trà Bồng.

Ban quản lý điện Trường Bà trong lệ Xuân và lệ Thu đều bày lễ cúng ở tượng Bạch Hổ. 


Sau đó, khách thường ra phía ngoài sân thắp hương tại am thờ ông Bạch Hổ rồi dành thời gian vãng cảnh điện, mục kích cổng điện nhuốm màu thời gian và độc đáo hơn cây đa lá lệch thân cành uốn cong trùm lên cổng và đã được Hội Di sản công nhận là cây di sản "trường thọ" trên 300 năm.

Còn nếu đến điện Trường Bà trong rằm tháng 5 diễn ra lễ hội điện Trường Bà, thì du khách ở lại lâu hơn để hòa mình cùng lễ hội đã được công nhận là di sản phi vật thể quốc gia như lễ mộc dục, tế lễ ngoại đàn, thả hoa đăng, xem hát bội, múa cà đáo...

Trong khi đó, có một địa điểm gắn liền với di tích điện Trường Bà rất đỗi thú vị, là nơi có tượng và mộ của Bạch Hổ sơn quân thì không nhiều người biết và đặt chân đến.

Khu mộ và tượng Bạch Hổ sơn quân nằm cách điện Trường Bà chỉ hơn 1km đường chim bay thuộc tổ dân phố số 1, khu dân cư số 10, thị trấn Trà Xuân. Du khách sau khi thăm điện Trường Bà đi ngược đường về ngã tư cầu Suối Nan theo con đường bê tông về phía nam chừng 1km là đến.

Nơi đây xưa rừng cây rậm rì, bây giờ là những thửa ruộng bậc thang, những xóm nhà và xa hơn là núi. Tượng Bạch Hổ được xây dựng ngồi trên phiến đá, cạnh đó là lăng mộ của ông Bạch Hổ được xây cất khá đàng hoàng.

Đất Trà Bồng xưa núi rừng trùng điệp. Đồng bào dân tộc Cor trồng quế trên đồi và mùa nối mùa đốt rừng làm nương rẫy. Trên rừng có muôn loài thú. Có năm lúa trên rẫy chín vàng chưa kịp gặt, thì thú hoang về quấy phá.

Am thờ ông Bạch Hổ ở phía ngoài điện Trường Bà. 


Cũng do rừng có nhiều muôn thú, nên đồng bào dân tộc Cor làm nhà theo kiểu hình toa tàu lửa, với nhiều hộ sinh sống. Họ vót chông, làm bẫy đá, làm ná để diệt thú rừng. Tuy nhiên, núi rừng mênh mông chẳng thể nào bảo vệ cho xuể được. Còn đồng bào dân tộc Kinh, Hoa kiều cộng cư với đồng bào dân tộc Cor cũng lo ngại thú dữ. Chính vì vậy, họ mong có sự che chở.

Trong khi đó, "quân" của bà Thiên Y A Na đông lắm, nào voi, nào ong và đắc lực nhất là ông Bạch Hổ. Khi thú rừng về quấy phá xóm làng, nương rẫy của cộng đồng các dân tộc nơi đây, thì bà điều "quân" đánh dẹp, để dân làng được yên ổn. Riêng "ông Bạch Hổ" sau những ngày đánh dẹp thú rừng về quấy phá thường về nằm trong hang ở cạnh đồi Mâm Xôi, nên phiến đá trong hang lâu ngày cũng có hình thù như hình ông nằm.

Điện Trường Bà mỗi năm có lễ tế xuân, thu. Những ngày đó, "ông" thường về nằm thủ phục phía ngoài sân tế lễ cùng dân làng. Lễ bà xong thì ông lững thững đi về phía núi. Dân làng tôn kính nên gọi bằng ông Bạch Hổ là như thế. Khi "ông" mất, dân làng lo ma chay như con người và táng ông ở đồi Mâm Xôi, tạc tượng ông để thờ ở nơi đây và ngoài sân điện Trường Bà.

Đến lệ Xuân và lệ Thu hằng năm, Ban Quản lý điện Trường Bà và dân làng đều bày lễ cúng thất nghiêm cẩn. Nhiều người còn cho rằng, trong những ngày mưa giông, từ phía đồi Mâm Xôi có tiếng hổ gầm. Ấy là tiếng của ông ra oai để diệt thú dữ, bảo vệ cho dân làng bình yên.

Đằng sau huyền thoại dân gian về ông Bạch Hổ là sự gắn kết cộng đồng giữa các dân tộc Kinh, Cor, Hoa kiều trên đất Trà Bồng, cùng mong ước sự yên bình của người dân trong quá trình xây dựng, phát triển. Nếu quan sát những bàn thờ ở phía bên trong điện gồm gian chính thờ bà Thiên Y A Na, thờ đức Quan Thánh, thờ Trấn Quốc công Bùi Tá Hán, Mai Đình Dõng, thờ các vị tiền hiền và bên ngoài thờ ông Bạch Hổ cho thấy, bên cạnh yếu tố tín ngưỡng tâm linh, người dân vùng đất Trà Bồng luôn ghi nhớ công lao của những người đi mở đất, những vị tiền hiền góp công sức xây dựng nên vùng đất quế Trà Bồng, cùng khát vọng về cuộc sống yên bình, no đủ của bà con nơi đây.

Bài, ảnh: CẨM THƯ

Giải mã tiếng chuông và lời nguyền “oán tình nhân” ở chùa Thiên Mụ

đăng 17:59, 15 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Không biết tự bao giờ, chùa Thiên Mụ, một ngôi chùa rất nổi tiếng xứ Huế khoác lên mình câu chuyện về lời nguyền “oán các đôi tình nhân”. Theo đó, những đôi tình nhân đưa nhau lên chùa vãn cảnh sẽ không bao giờ có thể đến được với nhau. Cũng chính vì lời nguyền vô căn cứ đó, nhiều cặp đôi đã không dám đến ngôi chùa này khi chọn những địa điểm hẹn hò. Vậy đâu là sự thật?

Tiếng chuông giải tỏa muộn phiền, khổ đau

Cố đô Huế bấy lâu nay được xem như một kho tàng còn lưu giữ rất nhiều những công trình văn hóa mang đậm tính lịch sử của thời phong kiến, cũng như là vùng đất có nhiều ngôi chùa cổ nhất của cả nước. Trong số đó, chứa đựng nhiều ý nghĩa lịch sử nhất, được xây dựng lâu đời nhất chính là chùa Thiên Mụ, hay còn biết đến là Linh Mụ. Ngôi chùa này bấy lâu nay được nhân gian nhuốm màu huyền thoại với biệt danh, “chùa Nhà trời”.

Tương truyền, ngọn đồi Hà Khê, nơi tọa lạc của chùa Thiên Mụ ngày nay là nơi hội tụ linh khí, rất linh thiêng nhưng từ lâu đã bị một viên tướng nhà Đường (Trung Quốc) tìm cách đào sâu chân đồi nhằm ngăn cách long mạch. Đúng vào cái đêm đó, có một người phụ nữ mặc đồ đỏ tuy rất trẻ nhưng tóc lại bạc trắng ngồi dưới chân đồi than vãn rồi cất tiếng nói to: “Đời sau nếu có bậc quân chủ muốn bồi đắp mạch núi để làm mạch cho Nam triều thì nên lập chùa thờ Phật, thỉnh cầu linh khí trở về nơi núi này để phúc dân giúp nước, tất không có gì phải lo”.

Toàn cảnh chùa Thiên Mụ.


Những lời căn dặn này cùng hình ảnh người phụ nữ tóc bạc trải qua nhiều đời, được lưu truyền bởi những người dân sống ở đây cuối cùng cũng tìm đến được chúa Nguyễn Hoàng khi ông đang trên đường mở rộng bờ cõi về phía Nam. Kể từ đó, Nguyễn Hoàng cho xây dựng một ngôi chùa ở vùng đất linh thiêng này để mong việc mở rộng cơ đồ, xây dựng một Nhà nước phong kiến mới ở Đàng Trong gặp nhiều thuận lợi và nhận được sự đồng thuận của các đấng thần linh của “nhà trời”.

Để tìm hiểu thực hư câu chuyện, chúng tôi đã tìm gặp trụ trì Thích Trí Tự và được biết: “Chùa Thiên Mụ là một trong những ngôi cổ tự của xứ Huế, nổi bật giữa sườn đồi bởi ngọn tháp cao có kiến trúc bát giác độc đáo. Dù được xây dựng khá muộn, sau này vào thời vua Thiệu Trị (1844) nhưng cho đến bây giờ, tháp Phước Duyên vẫn luôn là biểu tượng rõ rệt nhất của chùa Thiên Mụ. Tháp cao được xây dựng bảy tầng với cầu thang xoắn ốc thờ một tượng Phật ở mỗi tầng và qua năm tháng vẫn còn lưu giữ những nét đẹp được đánh giá cao về mặt mỹ thuật.

Hòa thượng Thích Trí Tự bên tháp Ôn Linh Mụ.


Hiện nay, tại chùa Thiên Mụ còn đang lưu giữ hai chiếc chuông. Một chiếc không bao giờ đánh được, đúc từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu năm Canh Dần (1710) nay đặt ở bên phải tháp Phước Duyên mang ý nghĩa như một pháp khí của chùa, giúp mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Còn một chiếc là nguồn gốc của tiếng chuông, đúc vào thời vua Gia Long (1815) được đặt ở gác chuông nằm bên trái cổng chùa dẫn vào điện Đại Hùng phía trong. Có được âm độ cao vút và ngân xa như vậy vì chuông đúc bởi hợp kim đặc biệt, kết hợp cùng vị trí đặt chuông phần nào làm tiếng chuông có độ vọng với âm sắc vang xa, cao vút thấu đến lòng.

Theo trụ trì Thích Trí Tự thì từ xưa đến nay, chuông chùa vẫn được đánh mỗi ngày hai thời (hai lần), vào 19h30 và 3h30. Không phải bất kỳ ai cũng đánh và đủ sức đánh được, bởi tiếng chuông Thiên Mụ phải đánh đúng 3h30 mỗi sáng trong một tiếng đồng hồ và bằng 108 dùi. Với người thường, chắc chắn sẽ không làm chủ được bản thân để mỗi sáng thức dậy đúng giờ và đánh đủ 108 tiếng chuông trong 60 phút liên tục như vậy. Điều đó có nghĩa là người đánh chuông phải luyện tập và có sự say mê riêng thì mới thực hiện được liên tục trong thời gian dài mà vẫn giữ được nhịp đánh. Trụ trì cho biết thêm: Thời phong kiến, người đánh chuông chùa Thiên Mụ do Tăng cang (chức danh do triều đình phê chuẩn) của chùa phân công. Kế tục hạnh nguyện và giữ hồn cho tiếng chuông Thiên Mụ hiện nay là các nhà sư trẻ đang tu học tại chùa.

Giải thích lý do đánh 108 tiếng chuông, trụ trì Thích Trí Tự cho rằng, theo giáo lý nhà Phật, chúng sinh trong tam giới (gồm dục giới, sắc giới và vô sắc giới) đều có chung bát khổ (sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ, oán tằn hội, ái biệt ly khổ và cầu bất đắc khổ). Từ căn bản của 8 điều khổ sẽ dẫn đến 108 nỗi phiền não được chia nhỏ theo trạng thái tâm lý và tình cảm. Trong mỗi tiếng chuông của người thiền giả đều mang theo tâm nguyện từ bi gửi gắm đến chúng sinh, giải tỏa mọi muộn phiền, đau khổ.

Đôi lứa vẫn đến cầu duyên

Gặp gỡ nhóm bạn trường cao đẳng Du lịch Huế đang làm hướng dẫn viên du lịch ở chùa, nhóm phóng viên chúng tôi tình cờ được nghe câu chuyện về lời nguyền “chia cắt tình duyên” sẽ xảy đến cho các cặp đôi đang yêu nhau đến khấn vái hay tham quan chùa. Lời đồn này có khá nhiều trên các trang web, các diễn đàn du lịch và được nhiều người dân ở Huế kể lại như lời “căn dặn” đối với các cặp đôi trẻ đến khấn ở cửa Phật. Tò mò, hỏi kỹ, chúng tôi nhận được câu trả lời “tin hay không thì tùy”.

Theo lời kể của cô Trần Thị Tuệ, người con đất Kim Long (Huế) đã sống ở đây nhiều năm với gánh nước trà, được nghe nhiều câu chuyện từ khách thập phương thì, có lẽ mọi tin đồn đều bắt nguồn từ câu chuyện tình đầy nước mắt của đôi trai gái từ thời chúa Nguyễn cai trị Đàng Trong. Chuyện kể rằng, đôi trai gái rất mực yêu thương nhau nhưng do gia cảnh người con trai nghèo khó nên gia đình nhà gái không chấp thuận, thế rồi cả hai tìm đến cái chết dưới dòng Hương Giang để thể hiện tình yêu của đôi lứa. Nhưng ngang trái sao, cô gái không chết mà được người dân cứu sống rồi năm tháng dài quên đi tình yêu cũ để cưới một người con của gia đình làm quan. Linh hồn người con trai năm xưa không tìm được người yêu của mình, uất ức mới nhập vào nơi cửa tự rồi quyết chia rẽ những cặp nhân tình đến thăm chùa. Câu chuyện đó đã trở thành giai thoại trong dân gian và sau đó dị bản thành truyền thuyết như sau này.

Nói về tin đồn “oán cặp tình nhân”, trụ trì Thích Trí Tự giải thích: “Bản thân thầy tỏ ra rất bất bình và cho rằng, đây là những tin đồn vô lý và sai về giáo lý của Đức Phật. Trong giáo lý của Phật có đạo luật Hàn Thuyên. Cửa Phật luôn chúc phúc cho những người yêu nhau sống suốt đời hòa thuận. Những tin đồn này chỉ là sự trùng hợp, làm những bạn trẻ có cảm giác lo ngại khi đến thăm chùa”. Cũng theo lời tâm sự của trụ trì thì “đó có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên”. Bởi vì hàng năm vẫn có rất nhiều cặp vợ chồng, đôi lứa yêu nhau lên tham quan chùa, cầu duyên, cầu phúc, xin xăm vào những ngày đầu năm, ngày rằm nhưng thầy vẫn chưa nghe một lời phàn nàn hay than vãn về việc chia tay.

Có thể kết luận rằng, những tin đồn về lời nguyền về chùa Thiên Mụ chỉ là những câu chuyện truyền miệng chưa được kiểm chứng. Tuy nhiên, những truyền thuyết, lời đồn xung quanh Chùa Thiên Mụ phần nào làm cho nơi cổ tự này càng hấp dẫn hơn đối với những vị khách từ tứ phương đến và muốn tìm hiểu các nét đẹp cũng như lịch sử lâu đời của chùa nói riêng và của kinh thành Huế nói chung.

Đinh Tiến

Câu chuyện lịch sử đẫm máu của miếu Âm Hồn ở Huế

đăng 05:12, 14 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Năm 1895, khi người Pháp tiến hành quy hoạch đường phố Huế, nhiều nơi trong Kinh thành đã phát lộ điểm chôn cất với số lượng hài cốt lên đến hàng trăm. Hài cốt tập trung nhiều nhất ở rãnh cống khu vực hồ Phu Văn, vị trí miếu Âm Hồn ngày nay.

Nằm ở ngã tư đường Mai Thúc Loan - Lê Thánh Tông, phường Thuận Lộc, thành phố Huế, miếu Âm Hồn là di tích lịch sử gắn với một sự kiện lịch sử bi thảm của Kinh thành Huế.

 

Ngôi miếu này là nơi thờ hàng ngàn người đã chết trong biến cố “Thất thủ Kinh đô” vào đêm ngày 22 rạng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu, tức ngày 5/7/1885

 

Ngược dòng lịch sử, vào năm 1884, thực dân Pháp đã chiếm trọn hai miền Nam Bắc. Sang năm 1885, Kinh thành Huế lâm nguy khi quân Pháp đồn trú tại đây ra lệnh cho sĩ phu và dân chúng tuân phục hoàn toàn chính thể bảo hộ

 

Trước tình thế hiểm nghèo, vào đêm ngày 4 rạng ngày 5/7/1885, Thượng Thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết và Đề Đốc Trần Xuân Soạn đã chỉ huy 20.000 binh lính mở cuộc tổng tấn công vào thành lũy của quân Pháp ở Toà Khâm và Mang Cá

 

Thượng thư Tôn Thất Thuyết đã chuẩn bị rất chu đáo và quân ta chiến đấu rất gan dạ, nhưng cuối cùng cuộc tấn công cũng bị thất bại.

 

Rạng sáng, quân Pháp bắt đầu phản công dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Pernot. Chúng chia quân làm ba ngả để tiến vào Kinh thành và nhanh chóng làm chủ tình hình. Quân triều đình không giữ nổi thành phải tháo chạy, bị toán quân Pháp bao vây

 

Một cuộc giết chóc tàn bạo chưa từng có đã xảy ra: Hơn 1.500 người dân và binh lính triều đình đã thiệt mạng trong đêm hôm đó. Hầu như không có gia đình nào ở Kinh thành không có người bị tử nạn trong đêm binh biến kinh hoàng này

 

Sau cuộc chiến, quân Pháp gom xác người chết và chôn tại một số địa điểm trong Kinh thành Huế

 

Năm 1895, khi người Pháp tiến hành quy hoạch đường phố Huế, nhiều nơi trong Kinh thành đã phát lộ điểm chôn cất với số lượng hài cốt lên đến hàng trăm. Hài cốt tập trung nhiều nhất ở rãnh cống khu vực hồ Phu Văn, vị trí miếu Âm Hồn ngày nay

 

Để tưởng nhớ những người đã chết vì vận nước, người dân Huế đã quyên góp tiền của xây dựng miếu Âm Hồn và lấy ngày 23/5 Âm lịch là ngày huý kị “quảy cơm chung”

 

Hàng năm vào ngày này, các cụ già cao niên thành phố Huế thường về miếu để tổ chức cúng âm hồn, tưởng niệm những anh linh đã mấtvì tọi ác của thực dân Pháp. Trong lễ cúng, những bài văn tế thống thiết, ai oán sẽ được cất lên

 

Khi sống ở Huế trong giai đoạn 1895 - 1901, Bác Hồ - khi đó là cậu bé Nguyễn Sinh Cung, thường đến xem các buổi lễ cúng tế ở miếu Âm Hồn, nghe những bài văn tế cảm thương cho đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống ngày Kinh đô thất thủ

 

Chính những bài văn tế này đã khơi dậy trong tâm hồn Nguyễn Sinh Cung tình cảm thương dân, yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc. Đây là một trong những nhân tố góp phần hun đúc nên ý chí cách mạng của Nguyễn Sinh Cung - Hồ Chí Minh

 

Vào năm 2013, miếu Âm Hồn đã được trùng tu và khánh thành đúng vào ngày “giỗ lớn” của toàn thể người dân Cố Đô, ngày 23/5 Âm lịch

Hai bài thơ “lạ” có hàng trăm cách đọc của vua Thiệu Trị

đăng 01:45, 13 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong gần hai thế kỷ, hai bài thơ "lạ" của vua Thiệu Trị được khảm ở điện Long An đã làm "lao tâm khổ tứ" biết bao nhiêu người yêu thích chữ nghĩa.

Tọa lạc tại số 3 Lê Trực, TP Huế, điện Long An là một trong những công trình tiêu biểu của Kinh thành Huế xưa. Một trong những nét đặc sắc của cung điện này là nội thất được trang trí bằng những bài thơ chữ Hán của vua Thiệu Trị.

 

Nổi tiếng nhất trong số những bài thơ này là hai bài thơ "Vũ trung sơn thủy" (Non nước trong mưa) và "Phước viên văn hội hương dạ mạn ngâm" (Đêm thơ ở phước Viên) được khảm xà cừ trên hai bức vách gỗ của cung điện

 

Cả hai bài thơ không viết theo lối thường mà trình bày theo kiểu "hồi văn kiêm liên hoàn" với năm vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng tròn có một số chữ, nhìn giống trận đồ bát quái. Mỗi bài thơ tổng cộng có 56 chữ, bằng số chữ một bài thơ thất ngôn bát cú

 

Hai bài thơ được đọc theo cách lấy câu, hay chữ ở một vị trí nào đó làm đầu câu, đầu chữ đều có thể tiếp nối liên tục thành một bài thơ theo cách thức mới

 

Bản thân vua Thiệu Trị không đưa ra lời giải cho hai bài thơ mà chỉ gợi ý về cách đọc và thách các quan đại thần tìm ra 64 cách đọc trong mỗi bài thơ đó

 

Trong gần hai thế kỷ, hai bài thơ "lạ" của vua Thiệu Trị đã làm "lao tâm khổ tứ" biết bao nhiêu người yêu thích chữ nghĩa

 

Năm 1972, trên tạp chí của Hội Nghiên cứu Đông Dương, Pierre Daudin, một học giả phương Tây, đã giải ra 12 bài thất ngôn bát cú. Năm 1995 nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Tân Phong tìm ra đúng 64 cách

 

Năm 1998, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn tìm thêm 64 cách nữa, tức là tới 128 bài trên một bài thơ

 

Về cách giải, các học giả đã dày công nghiên cứu, vạch ra những đường nét chính để mọi người theo đó suy ra, đọc tiếp, ví dụ như là đọc ngược lại, bớt đi hai chữ đầu hoặc hai chữ cuối...

 

Theo thống kê, trong 128 bài thơ con thì có 64 bài thất ngôn bát cú (bảy chữ tám câu) và 64 bài bao gồm các thể thất ngôn tứ tuyệt (bảy chữ bốn câu), ngũ ngôn tứ tuyệt (năm chữ bốn câu), ngũ ngôn bát cú (năm chữ tám câu)…

 

Sau đây là một ví dụ về cách giải thơ mà cách mà các nhà nghiên cứu Hán Nôm đã chỉ ra từ bài "Vũ trung sơn thủy". 

hiên âm chữ Hán của một cách đọc: Loan hoàn vũ hạ giang triều tấn/ Trướng dật phong tiền ngạn biện thanh/ Sơn tỏa ám văn thôi trận trận/ Lãng sinh khiêu ngọc địch thanh thanh/ Sàn sàn thủy giản đài tư nhuận/ Dụng dụng ba chân liễu mậu vinh/ Nhàn diếu nhất chu ngư dật tấu/ Hướng lâm song tiễn yến phí khinh

 

Dịch thơ tiếng Việt: Dồn mưa nước cuộn triều dâng ngập/ Lộng gió sông dào bến biếc xanh/ Non phủ kín mây tuôn tới tấp/ Sóng khêu thưa giọt gõ lanh canh/ Lan man suối trải rêu tươi mập/ Sóng sánh cồn vươn cỏ tốt xanh/ Nhàn thoáng một câu, thuyền nhẹ tắp/ Dóng rừng dăng kéo én bay nhanh

 

Chuyển thành thơ 5 chữ bằng cách bó hai chữ đầu mỗi câu: Nước cuộn triều dâng ngập/ Sông dào bến biếc xanh/ Kín mây tuôn tới tấp/ Thưa giọt gõ lanh canh/ Suối trải rêu tươi mập/ Cồn vươn cỏ tốt xanh/ Một câu, thuyền nhẹ tắp/ Dăng kéo én bay nhanh

 

Từ bản dịch đầu đọc ngược lại và đảo vế: Xanh bến biếc dào sông gió lộng/ Ngập triều dâng cuộn nước mưa dồn/ Canh lanh gõ giọt thưa khêu sóng/ Tấp tới tuôn mây kín phủ non/ Xanh tốt cỏ vươn cồn sánh sóng/ Mập tươi rêu trải suối man lan/ Nhanh bay én khó dăng rừng dáng/ Tắp nhẹ thuyền câu một thoáng nhàn

 

Dù cách giải hai bài thơ "bí ẩn" còn nhiều tranh cãi, nhưng có thể khẳng định vua Thiệu Trị là một vị vua có tài sử dụng ngôn ngữ tuyệt vời.

 

Trong sự nghiệp của mình, vua Thiệu Trị nổi tiếng là một vị vua thi sĩ, có để lại rất nhiều bài thơ. Hai bài thơ nổi tiếng nhất của ông chính là hai bài Vũ Trung Sơn Thủy và Phước Viên Văn hội lương dạ mạn ngâm được khắc ở điện Long An

 

Các nhà nghiên cứu hiện đại đánh giá, đây là hai kiệt tác trong hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, đã được công nhận là Di sản Tư liệu thuộc chương trình Ký ức thế giới vào năm 2016. (Hình ảnh trong bài được thực hiện với sự đồng ý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế).

1-10 of 16