Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Khám phá trận Ngọc Hồi qua mô hình lịch sử ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Trận Ngọc Hồi 1789 giữa đại quân của hoàng đế Quang Trung với quân Thanh là một trong những trận đánh quan trọng nhất lịch sử Việt Nam. Cùng khám ...
    Được đăng 01:52, 6 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Giai thoại cung đình kỳ bí ở điện Hòn Chén Trái với chuyện vua Minh Mạng, giai thoại về vua Đồng Khánh ở điện Hòn Chén lại được các sử gia nhà Nguyễn ghi lại khá rõ...Nằm trên núi ...
    Được đăng 02:37, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện vua Gia Long xây lăng mộ cho mình Theo quan niệm phong thủy của người xưa, chọn được nơi an táng tốt thì con cháu phát phúc dài lâu. Do vậy, vua Gia Long đã tìm kiếm nơi ...
    Được đăng 02:27, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện tìm đất xây lăng vua Minh Mạng Vì sự dùng dằng của mình, phải mất hai năm kể từ ngày từ giã cõi đời, vua Minh Mạng mới thực sự được an nghỉ ở một nơi đúng ...
    Được đăng 02:13, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Vì sao khách thường chui qua chân ngựa ở ngôi chùa cổ 150 năm tại Bình Dương? Một ngôi chùa có lịch sử hơn 150 năm ở Bình Dương mang tên Chùa Ông (người dân địa phương quen gọi là chùa Ông Ngựa). Tuy nhiên, không phải ...
    Được đăng 03:36, 15 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 15. Xem nội dung khác »


Khám phá trận Ngọc Hồi qua mô hình lịch sử ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

đăng 01:52, 6 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trận Ngọc Hồi 1789 giữa đại quân của hoàng đế Quang Trung với quân Thanh là một trong những trận đánh quan trọng nhất lịch sử Việt Nam. Cùng khám phá trận đánh này qua mô hình lịch sử của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam.

Trận Ngọc Hồi là trận tấn công then chốt của hướng chính binh Tây Sơn vào ngày 30/ 1/1789, do Hoàng đế Quang Trung chỉ huy trong cuộc chiến chống quân Thanh can thiệp ở phía Bắc Bộ. 

 

Sau khi đồn Hà Hồi thất thủ 2 ngày trước, đồn Ngọc Hồi đã được tăng viện, với quân số lên đến 30.000 quân tinh nhuệ, hỏa lực mạnh. Ngoài lũy đất, đồn này còn có hàng rào chông sắt, địa lôi, là tiền đồn kiên cố, then chốt trong hệ thống phòng thủ bảo vệ Nam thành Thăng Long của quân Thanh

 

Sáng 29/1 (mùng 4 Tết), vua Quang Trung dùng các toán quân nhỏ đánh khiêu khích ngoại vi Ngọc Hồi tạo sự căng thẳng cho quân Thanh và gây bất ngờ cho cánh quân đô đốc Long đánh đồn Đống Đa

 

Mờ sáng 30/1 (mùng 5 Tết), quân Tây Sơn bắt đầu tấn công từ hướng Nam. Mở đầu, đội tượng binh gồm trên 100 voi chiến đánh tan phản kích của kị binh của đối phương

 

Tiếp sau, đoàn bộ binh Tây Sơn gồm 600 quân cảm tử chia làm 20 toán, trang bị đoản đao, ván chắn bằng gỗ quấn rơm ướt che mình, tiến thành hàng ngang áp sát chiến luỹ

 

Được mở đường, đại quân của hoàng đế Quang Trung tiến lên công đồn với khí thế ngút trời

 

Nhiều loại hỏa khí tối tân của quân Tây Sơn như đại bác, hỏa hổ (ống phun lửa), hỏa cầu lưu hoàng (lựu đạn lửa) khiến kẻ thù thật sự khiếp đảm

 

Trước sức tấn công của Tây Sơn, quân Thanh chống không nổi, chết và bị thương quá nửa. Đồn Ngọc Hồi bị chiếm giữ. Đề đốc Hứa Thế Hanh và tả dực Thượng Duy Thăng bị giết. Đám tàn quân bỏ chạy về Thăng Long, bị đạo quân của đô đốc Bảo phục kích tại đầm Mực, tiêu diệt toàn bộ

 

Việc đồn Ngọc Hồi thất thủ đã mở toang cánh cửa chiến thắng. Quân Tây Sơn thừa thắng đánh chiếm đồn Văn Điển và tiến thẳng vào Thăng Long. Sầm Nghi Đống tuyệt vọng, thắt cổ tự tử

 

Trận Ngọc Hồi là chiến thắng quân sự tiêu biểu, thể hiện tài năng cầm quân của hoàng đế Quang Trung. Trận này, quân Thanh có quân số đông hơn 2-3 lần (tùy theo các thống kê khác nhau), có cả ưu thế về địa hình (phòng thủ trong thành lũy), lại cộng thêm cả quân Lê Chiêu Thống hỗ trợ

 

Nhưng bất chấp những khó khăn đó, vua Quang Trung đã hành quân thần tốc và đánh tan lực lượng quân Thanh và Lê Chiêu Thống, chiếm lại được kinh đô Thăng Long chỉ trong vòng 5 ngày

 

Chiến thắng Ngọc Hồi đã giữ vững sự tồn tại của nước Việt trước họa xâm lược, chấm dứt kế hoạch xâm chiếm của nhà Thanh, đồng thời đánh dấu việc nhà Tây Sơn chính thức thay thế nhà Hậu Lê trong việc cai quản đất Bắc Hà và trong quan hệ với nhà Thanh.

Giai thoại cung đình kỳ bí ở điện Hòn Chén

đăng 02:37, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trái với chuyện vua Minh Mạng, giai thoại về vua Đồng Khánh ở điện Hòn Chén lại được các sử gia nhà Nguyễn ghi lại khá rõ...

Nằm trên núi Ngọc Trản bên bờ sông Hương, điện Hòn Chén không chỉ là một đại danh thắng của Cố đô Huế mà còn là một địa danh gắn với những giai thoại kỳ lạ về hai vị vua nhà Nguyễn là Minh Mạng và Khải Định

 

Đầu tiên là chuyện vua Minh Mạng trong một lần đi thuyền lên đây đã đánh rơi một chén ngọc xuống dòng sông Hương. Tưởng không cách gì lấy lại được thì bỗng nhiên một con rùa to bằng chiếc chiếu nổi lên ngậm chén ngọc trả lại cho nhà vua

 

Từ giai thoại này mà điện Hòn Chén còn có tên là Hoàn Chén với ý nghĩa “trả lại chén ngọc”. Dù vậy, chuyện không được ghi lại trong chính sử, và các nhà nghiên cứu cho rằng nó chỉ là sản phẩm từ trí tưởng tượng của dân gian

 

Trái với chuyện vua Minh Mạng, giai thoại về vua Đồng Khánh ở điện Hòn Chén lại được các sử gia nhà Nguyễn ghi lại khá rõ. Theo đó, từ năm 1883-1885, do hoàn cảnh lịch sử éo le, vua Ðồng Khánh chờ đợi mãi vẫn chưa được lên ngôi cha nuôi là vua Tự Ðức

 

Ông nhờ đền Ngọc Trản (điện Hòn Chén) cầu đảo và hỏi Thánh Mẫu Thiên Y A Na – vị nữ thần của văn hóa Chăm được người Việt thờ tự ở đền - xem mình có làm vua được không. Mẫu cho biết ông sẽ toại nguyện

 

Bởi vậy, sau khi lên ngôi năm 1886, vua Ðồng Khánh liền cho xây lại đền này một cách khang trang, làm thêm nhiều đồ tự khí để thờ và đổi tên là Huệ Nam Ðiện để tỏ lòng biết ơn Thánh Mẫu (Huệ Nam nghĩa là ban ân huệ cho nước Nam, vua Nam).

 

Sách Đại Nam thực lục chép về chuyện này: “Vua khi còn ẩn náu thường chơi xem núi ở đây. Mỗi khi đến cầu khẩn, phần nhiều có ứng nghiệm. Đến nay vua phê bảo rằng: Đền Ngọc Trản thực là núi Tiên Nữ, linh sơn sáng đẹp muôn đời, trông rõ là hình thế như con sư tử uống nước sông, quả là nơi chân cảnh thần tiên...”.

 

“...Đền ấy nhờ được linh khí đắc nhất, cứu người độ đời, giúp cho phúc lợi hàng muôn, giúp dân giữ nước. Vậy cho đổi đền ấy làm điện Huệ Nam để biểu hiện ơn nước một phần trong muôn phần”.

 

Sau khi cho tu sửa điện Hòn Chén, chính vua Ðồng Khánh đã đưa cuộc lễ hằng năm tại đây vào hàng quốc lễ và tự nhận mình là đồ đệ của Thánh Mẫu, mặc dù nhà vua chỉ gọi thánh mẫu bằng "Chị".

 

Đây là một sự lạ, vì theo nguyên tắc xưa, ông vua nào cũng đứng trên các thánh thần trong cả nước, nhưng ở đây vua Ðồng Khánh lại hạ mình xuống làm "em" của Mẫu

 

Cũng theo truyền thuyết, Thánh Mẫu Thiên Y A Na đã cho Đồng Khánh (lúc còn là hoàng tử) biết ngày ông đăng quang và ngày tạ thế sau ba năm (1889). Sự thật đã diễn ra đúng như lời tiên đoán của Bà...

Chuyện vua Gia Long xây lăng mộ cho mình

đăng 02:27, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Theo quan niệm phong thủy của người xưa, chọn được nơi an táng tốt thì con cháu phát phúc dài lâu. Do vậy, vua Gia Long đã tìm kiếm nơi an nghỉ cuối cùng của mình từ khi còn ở trên ngai vàng.

Thiên Thọ Lăng (xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế) là tên gọi lăng vua Gia Long (1762-1820), vị vua sáng lập triều Nguyễn. Lịch sử hình thành khu lăng mộ này gắn với nhiều câu chuyện ly kỳ được lưu truyền trong sử sách

 

Theo quan niệm phong thủy của người xưa, chọn được nơi an táng tốt thì con cháu phát phúc dài lâu. Do vậy, vua Gia Long đã tìm kiếm nơi an nghỉ cuối cùng của mình từ khi còn ở trên ngai vàng

 

Tương truyền, vua giao cho Thượng thư bộ Binh Phạm Như Đăng, đại thần Tống Phúc Lương và Lê Duy Thanh – con trai nhà bác học Lê Quý Đôn lo tìm huyệt địa. Duy Thanh đã chọn được một thế đất ưng ý và tâu vua. Tuy nhiên, là một người rất kỹ tính, sau đến nơi xem xét, vua Gia Long không đồng ý.

 

Sau đó, Lê Duy Thanh đề xuất khu vực Thiên Thọ Sơn (vị trí lăng ngày nay), nơi có 42 ngọn núi lớn nhỏ. Khi đến xem, vua nghiêm giọng nói: “Nơi đây thật chính là nơi thích hợp cho một lăng. Thế có phải nhà ngươi muốn giữ chỗ này để chôn cho nhà ngươi phải không?". Thanh quỳ xuống van xin, vua mới tha tội.

 

Trước khi khởi công lăng, vua Gia Long lại sai hoàng tử thứ tư – một người am hiểu về Dịch học – thực hiện một quẻ bói. Được quẻ Lôi Địa Dự, quẻ mà cổ nhân chú giải rằng Đại Cát Hanh - nghĩa là rất tốt và hanh thông. Đến đây vua không còn phải lăn tăn về quyết định của mình

 

Vua Gia Long muốn xây theo lối Hiệp lăng (quần thể lăng mộ) nên trong khu vực đã chọn, ngoài tìm kiếm huyệt táng cho chính mình, ông lại cho tìm kiếm phúc địa để táng những họ hàng khác. Có vị trí quan trọng nhất trong số đó là lăng Thoại Thánh - nơi an táng mẹ ông

 

Khi xây lăng Thoại Thánh, nhiều sự lạ đã xảy ra. Đầu tiên, lúc đặt địa bàn xuống để định phương hướng thì địa bàn vỡ. Cho rằng thần núi ngăn cản, vua lớn tiếng than: “Quý gì mảnh đất này mà người lại cố giữ không cho trẫm chôn mẫu hậu?”. Rồi vua bảo các quan đặt lễ cúng thần và tiến hành xây lăng

 

Chuyện tiếp theo là khi lăng được xây dựng, một lần vua lên quan sát tiến độ thì một trận cuồng phong nổi lên. Cái rạp có vua và các quan đứng bị sập, vua bị một thanh gỗ đè ở chân, trán bị chảy máu. Hai hoàng tử Tân và Phổ cùng một số người khác bị thương nặng.

 

Có người tâu vua Gia Long trừng trị viên đốc công phụ trách dựng rạp. Nhưng nhà vua không hề trách giận mà bình thản trả lời “Làm sao mà chống nổi với bão tố” rồi tha tội cho viên đốc công.

 

Một chuyện khác là trong lúc xây lăng Thoại Thánh, khi đào huyệt thấy đất dưới huyệt có 5 màu khác nhau. Cho là điềm lành, các quan đều chúc tụng, riêng Nguyễn Văn Thành chỉ đứng yên lặng. Vua hỏi vì sao thì Thành đáp: “Việc ấy chẳng có gì lạ. Huyệt chôn thân mẫu của hạ thần đất cũng có năm màu như thế”.

 

Thành nói tiếp: “Tại châu Ê có một huyệt rất tốt”. Có người hỏi: “Thế sao ông không tâu để hoàng đế biết?” Thành đáp: “Chỗ đất thì tốt nhưng không nên chôn vì quan tài đặt vào đó có thể bị sét đánh”. Dường như, câu trả lời thẳng tuột đã khiến vua bất bình... (Bài có sử dụng tư liệu từ cuốn "Kể chuyện các vua Nguyễn"/Tôn Thất Bình).

Chuyện tìm đất xây lăng vua Minh Mạng

đăng 02:13, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Vì sự dùng dằng của mình, phải mất hai năm kể từ ngày từ giã cõi đời, vua Minh Mạng mới thực sự được an nghỉ ở một nơi đúng như ước nguyện lúc sinh thời...

Nằm trên núi Cẩm Khê ở cố đô Huế, lăng vua Minh Mạng hay Hiếu Lăng là một công trình gây ấn tượng mạnh với những tòa nhà tráng lệ kết hợp hài hòa với khung cảnh thiên nhiên tuyệt vời. Trong chuyện tìm đất và xây cất lăng mộ này, quần thần nhà Nguyễn đã phải lao tâm khổ tứ khá nhiều... 

 

Cũng như vua cha Gia Long, vua Minh Mạng đã chuẩn bị cho hậu sự của mình khi đang ở trên ngai vàng. Năm 1826, vua cho văn võ đình thần đi tìm hai ngôi đất là “Vạn niên đại cát địa” và “Vạn niên cát địa” để dùng làm nơi an táng cho mẹ vua và vua.

 

Trong thuật ngữ phong thủy, “Vạn niên cát địa” có nghĩa đen là “đất tốt lành vạn năm”, còn “Vạn niên đại cát địa” có thể coi là đất “không thể tốt hơn được nữa”. Đây là đất có địa thế hoàn hảo, gần chốn khí thiêng, vua chúa được an táng sẽ để lại phước ấm cho cơ đồ của triều đại được dài lâu

 

Các quan đi khảo sát đợt đầu trở về đưa ra nhiều đề xuất khác nhau. Tuy nhiên, sau một cuộc tranh luận không có hồi kết, vua lại sai Kiến An công Đài, Định Viễn công Bính cùng với các đại thần là Trần Văn Năng, Phan Văn Thuý và Lương Tiến Tường, đi khảo sát lần nữa

 

Khi về họ đều nói: “Trải xem các kiểu đất chỉ có xứ Lẫm Sơn đáng là ngôi Vạn niên đại cát địa và xứ Kiều Long đáng là ngôi Vạn niên cát địa”. Lần nay, không còn thấy các quan bàn ra bàn vào mà ý kiến đều đồng thuận

 

Nhưng vua đã làm các cận thần chưng hửng khi lại bàn lùi: “...Ngôi Vạn niên đại cát địa, lòng trẫm chưa yên, không nên bàn vội. Duy ngôi Vạn niên cát địa thì cũng nên bắt chước đời xưa, dần dần xây dựng, đợi sau này lần lượt xuống chỉ thi hành cũng là phải”.

 

Rốt cục, vị vua thứ hai của nhà Nguyền đã cân nhắc suốt 14 năm mới chọn được vị trí lăng mộ của mình. Đến năm 1840, ông quyết định cho xây dựng lăng ở núi Cẩm Khê (tức cuộc đất ở xứ Nhự Mai)

 

Vào năm đó, vua Minh Mạng đổi tên núi Cẩm Khê thành Hiếu Sơn. Vua đích thân ngự đến đấy xem và bảo thị thần rằng: “Núi này phong thuỷ rất tốt từ trước chưa ai xem ra. Nay mới xem được chỗ đất tốt ấy, thực đáng vui mừng”

 

Đây là vùng đất gần ngã ba Bằng Lãng, là nơi hợp lưu của hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch để tạo thành sông Hương, cách kinh thành Huế 12 km. Dù đã tìm được đất tốt, việc xây lăng đã có khởi đầu không được suôn sẻ

 

Lăng khởi công được vài tháng, đến tháng 8/1840 thì vua lên kiểm tra thấy không vừa ý nên đình chỉ công việc và giáng chức quan trông coi. Một tháng sau đó mới lại cho tiếp tục công việc trở lại.

 

Công việc xây lăng tiến hành chưa bao lâu thì tháng 1/1841 vua Minh Mạng băng hà. Sau đó vua Thiệu Trị nối ngôi đã sai các đại thần huy động gần 1 vạn lính và thợ thi công hối hả lăng mộ cho vua cha theo đúng bản vẽ đã được Minh Mạng chuẩn y

 

Ngày 20/8/1841, thi hài vua Minh Mạng được đưa vào chôn ở Bửu Thành nhưng việc xây lăng thì mãi đến đầu năm 1843 mới hoàn tất. Như vậy, phải mất hai năm kể từ ngày từ giã cõi đời, vua mới thực sự được an nghỉ ở một nơi đúng như ước nguyện lúc sinh thời...

Vì sao khách thường chui qua chân ngựa ở ngôi chùa cổ 150 năm tại Bình Dương?

đăng 03:36, 15 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Một ngôi chùa có lịch sử hơn 150 năm ở Bình Dương mang tên Chùa Ông (người dân địa phương quen gọi là chùa Ông Ngựa). Tuy nhiên, không phải ai cũng biết về nguồn gốc ngôi chùa cũng như vì sao khách hành hương ra về phải chui qua chân một con ngựa.


Vào một ngày đầu tháng 3, chúng tôi tìm về ngôi chùa mang tên Chùa Ông (tên gọi khác là chùa Ông Ngựa) tọa lạc trên đường Hùng Vương thuộc phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. 

Cũng như nhiều ngôi chùa khác ở Bình Dương, hằng ngày đều đón nhiều lượt khách địa phương và cả các tỉnh, thành lân cận. Thế nhưng, với chùa Ông Ngựa, có lẽ không phải ai cũng biết rõ về nguồn gốc cũng như vì sao khi ra về khách hành hương phải chui qua chân một con ngựa trước cổng. 

Chùa Ông Ngựa ở Bình Dương 


Theo tài liệu được ghi chép lại của Hội khoa học lịch sử tỉnh Bình Dương, sở dĩ có tên là chùa Ông là vì chùa thờ Quan Thánh Đế Quân (hay còn gọi là Quang Công, Quang Vân Trường) – một nhân vật lịch sử người Hoa sống ở thời Tam Quốc. Tuy nhiên, người dân địa phương quen gọi là chùa Ông Ngựa bởi vì trước sân chùa có miếu thờ tượng một con ngựa (còn gọi là tượng xích thố). 

Được xây dựng vào năm 1868, ban đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ tên Thanh An cung về sau đổi thành Thanh An tự. Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn tọa lạc tại vị trí như ngày nay. 

Cổng chính được xây dựng theo kiểu cổ lầu, tầng trên được trang trí hình: tứ linh, mặt trăng, mặt trời, bát tiên…, các hình vẽ tái hiện lại các điển tích trong Tam quốc diễn nghĩa. Các họa tiết, hoa văn trang trí trên cổng được vẽ, chạm nổi công phu, tinh xảo. Riêng các con rồng trang trí trên nóc mái được ốp từ các mảnh gốm sứ rất công phu, có giá trị nghệ thuật cao.

Án ngữ ngay phía dưới cổng chính là pho tượng xích thố. Ngựa đúc bằng bê tông cốt thép, dài khoảng 3m, cao 2m. Trên lưng ngựa có gắn yên, chạm khắc văn thư, cổ đeo yếm trong tư thế phóng ngang qua chùa.Tượng ngựa cùng thanh long đao dựng đứng kế bên do một nghệ nhân ở tận Thừa Thiên Huế chế tác từ cuối năm 1930.

Khách hành hương ra về phải chui qua con ngựa trước cổng chùa 


Chùa có kiến trúc hình chữ “Nhất” chỉ gồm một dãy nhà, được xây dựng theo phong cách kiến trúc chùa chiền Huế. Được biết trước đây, phần lớn kết cấu của ngôi chánh điện đều bằng gỗ, sau này khi trùng tu thì được xây lại toàn bộ bằng bê tông cốt thép, lớp cửa gỗ của chánh điện cũng được làm lại mới hoàn toàn. 

Trong chánh điện có bàn thờ chính thờ Quan Thánh Đế Quân, ngoài ra còn thờ phụng một số vị thần khác như: các thần Phước, Lộc, Thọ, Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Thần Hoàng bổn xứ,… 

Sau khi khấn vái, tham quan chùa xong, khách đến chùa có thể ghi tên dâng hương cúng theo tháng, cúng sao, cầu siêu và có thể dùng tiệc chay tại sân chùa vào các ngày vía Ông. Một điều quan trọng, trước khi ra về khách viếng chùa chui qua con ngựa án ngự trước cổng để cầu mong sức khỏe, học hành giỏi gian, diệt trừ mọi xui rủi… 

Hàng năm, tại chùa đều có tổ chức lễ vía Quan Thánh Đế Quân. Nếu như trước đây chỉ có ngày vía Quan Thánh Đế Quân quy y nhà Phật (23/6 âm lịch) là cúng chay. Nhưng hiện nay, kể cả ngày vía sanh (13 tháng giêng âm lịch) và ngày vía tử (13/5), đều tổ chức cúng chay tại chùa. 

Khách hành hương đi chùa Bà thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương trong dịp lễ hội Rằm tháng giêng đừng nên bỏ qua việc viếng cảnh chùa Ông. Một ngôi chùa trang nghiêm, cổ kính với khung cảnh thanh bình nằm giữa lòng phố chợ nhộn nhịp. 

Trước cổng chùa theo hướng ra về được đặt một con ngựa để khách hành hương chui qua 


Hoa văn tinh xảo trên tường chùa 


Gian chính diện ngôi chùa 


Bên trong chùa được trang trí rồng, hoa văn sắc sảo 


Bàn thờ quan công 


Trên bàn thờ quan công được đặt một con ngựa đá 


Trên mái chùa được thiết kế nhiều hoa văn tinh xảo 


Hương Chi

Kỷ niệm Khởi nghĩa Bảy Thưa 2020

đăng 02:57, 15 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:12, 15 thg 3, 2020 ]

Những ngày này về vùng đất Láng Linh, viếng đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành (xã Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú, An Giang) và nhìn lại những hình ảnh ghi dấu cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, lòng người lại nao nao nghĩ về thời chống Pháp hào hùng của Quản cơ Trần Văn Thành và Nghĩa Binh Gia Nghị.

Hào hùng khởi nghĩa Bảy Thưa 

Khởi nghĩa Bảy Thưa do Quản cơ Trần Văn Thành khởi xướng. Đây là một trong những cuộc khởi nghĩa chống Pháp có quy mô hùng hậu ở Nam Kỳ lục tỉnh lúc bấy giờ. Trần Văn Thành sinh ra trong một gia đình nông dân tại thôn Bình Thạnh Đông (tổng Vĩnh Trinh, huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh; hiện nay thuộc xã Phú Bình, Phú Tân). 

Ông là một trong những thủ lĩnh tiêu biểu của phong trào kháng Pháp ở Tây Nam Bộ giai đoạn gần cuối thế kỷ thứ XIX. Năm 1840, ông gia nhập quân đội triều Nguyễn, nhờ giỏi võ nghệ, có chữ nghĩa và tài chỉ huy, ông được phong làm suất đội, chỉ huy 50 binh lính. 

Giai đoạn này, ông lập nhiều công trận, bảo vệ biên giới, trấn áp các cuộc nổi loạn nên được thăng chức Quản cơ, chỉ huy 500 quân sĩ, đồn trú trong địa phận tỉnh An Giang. Cuối năm 1847, tình hình biên giới ổn định, giặc không còn, triều đình Huế cho giải ngũ một số binh sĩ, riêng Trần Văn Thành được vua Tự Đức ban thưởng nhiều phẩm vật và tờ chiếu khen có bốn chữ “Quản Cơ tinh binh”. 

Năm 1849, khi Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên khai sáng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Trần Văn Thành đến diện kiến và trở thành đại đệ tử, đứng đầu trong “thập nhị hiền thủ” của Phật Thầy Tây An. Năm 1851, ông theo lệnh Phật Thầy Tây An, chỉ huy đoàn tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đến vùng Láng Linh - Bãi Thưa khẩn hoang, làm ruộng và đã khai phá được một diện tích khá lớn, thành lập trại ruộng mang tên Bửu Hương Các (nay thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú). 

Tháng 6-1867, khi quân Pháp chiếm An Giang, với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường, Trần Văn Thành đã tổ chức nghĩa binh cùng nhân dân đứng lên chống quân xâm lược. Tận dụng lợi thế địa hình đồng rộng bao la, đế sậy mọc um tùm, nhiều chỗ sình lầy nước đọng mênh mông của vùng đất Láng Linh, đầu năm 1868, Trần Văn Thành xây dựng căn cứ Láng Linh - Bãi Thưa và tập hợp binh lực, rèn đúc binh khí, xây dựng lực lượng chống Pháp. 

Năm 1872, Trần Văn Thành phất cờ khởi nghĩa, lấy hiệu “Binh Gia Nghị” tuyên bố chống Pháp. Sau nhiều lần tấn công, chiêu dụ Trần Văn Thành không thành công, với sự giúp sức của nhiều tên Việt gian, ngày 19-3-1873 (nhằm 20-2 âm lịch, năm Quý Dậu), quân Pháp tổ chức tổng tấn công căn cứ Bãi Thưa. Sau 1 ngày cầm cự, trước hỏa lực mạnh của Pháp, căn cứ Bãi Thưa thất thủ, Trần Văn Thành đã kịp ra lệnh cho nghĩa binh và gia đình rút lui, tránh được tổn thất lớn. Riêng ông bị mất tích, có lẽ đã hy sinh trên đường rút lui. 

Tưởng nhớ công lao khai hoang, phục hóa và chống giặc ngoại xâm của Quản cơ Trần Văn Thành, nhân dân Châu Phú đã lập đền thờ ông tại trại ruộng Láng Linh. Năm 1986, đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích văn hóa - lịch sử cấp quốc gia. 


Người dân thành kính viếng và tham quan những hiện vật ghi dấu cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa tại Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành 


Tiếp nối tinh thần yêu nước 

Tuy Quản cơ Trần Văn Thành đã ra đi và cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa thất bại nhưng tiếng vang về lòng yêu nước của Nghĩa Binh Gia Nghị và khí tiết quật cường của người anh hùng dân tộc Trần Văn Thành vẫn sống mãi. 

Đối với người dân Châu Phú, cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa do Quản cơ Trần Văn Thành khởi xướng và chỉ huy mãi là niềm tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm, là mốc son quan trọng khơi dậy tinh thần yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau. 

Tiếp nối tinh thần yêu nước của thế hệ cha anh, trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Châu Phú một lòng chống giặc, kiên cường, bất khuất, vượt qua muôn vàn gian khổ, không tiếc hy sinh xương máu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. 

Ghi nhận những đóng góp to lớn ấy, ngày 28-5- 2010, huyện Châu Phú đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”. Trong thời bình, nhân dân Châu Phú tiếp tục ra sức thi đua xây dựng và phát triển quê hương thông qua những mô hình hay, cách làm tốt để phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội địa phương, nhờ đó đời sống vật chất và tinh thần của người dân tăng dần qua các năm. 

Ngày nay, Láng Linh đã “chuyển mình”, vùng đất đọng nước, sình lầy đã trở thành những cánh đồng lúa, những vườn cây trái trĩu cành, bộ mặt làng quê đã “thay da đổi thịt” với những con đường thẳng tắp, các tiêu chí điện, đường, trường, trạm ngày càng hoàn thiện, khang trang. 

Phó Chủ tịch UBND huyện Châu Phú Nguyễn Văn Bé Tám cho biết, để nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau tiếp nối, phát huy truyền thống yêu nước, ra sức xây dựng quê hương, năm 2003, nhân kỷ niệm 130 năm ngày Quản cơ Trần Văn Thành chống pháp hy sinh, huyện Châu Phú đã quyết định chọn ngày 21-2 (âm lịch) hàng năm tổ chức Lễ hội văn hóa truyền thống của huyện với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao... nhằm tạo không khí vui tươi và ôn lại khí thế hào hùng của cuộc khởi nghĩa. 

Năm nay, kỷ niệm 147 năm Quản cơ Trần Văn Thành chống Pháp hy sinh và cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, tuy nhiên do diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh Covid-19, hoạt động kỷ niệm sẽ được tổ chức cúng viếng nội bộ đơn giản, nhằm tránh tụ hội đông người. 

MỸ LINH

Chuyện về việc tìm đất xây lăng vua Thiệu Trị

đăng 02:51, 15 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày nay, lăng vua Thiệu Trị là một địa điểm khá bình lặng so với lăng của các vị vua tiền nhiệm và kế nhiệm ông. Điều này dường như cũng tương đồng với cuộc đời, cái chết và câu chuyện không quá ồn ào về quá trình xây lăng mộ ông.

Lăng vua Thiệu Trị được gọi là Xương Lăng, nằm ở xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Đây là nơi an nghỉ vĩnh hằng của vị vua thứ ba triều Nguyễn

 

Vua Thiệu Trị lên ngôi năm 1841 và mất do bệnh nặng 6 năm sau đó, vào năm 1847. Khác với hai bậc tiền bối là vua Khải Định và Minh Mạng, Thiệu Trị chưa kịp tự tìm cho mình một cuộc đất tốt để xây lăng

 

Tương truyền, khi biết mình không thể nào qua khỏi cơn bệnh, vua Thiệu Trị đã gọi hoàng tử thứ hai là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (người sẽ kế nghiệp, trở thành vua Tự Đức) đến dặn dò việc xây lăng mộ cho ông

 

Tự Đức lập tức triệu tập các thầy địa lý đi khảo sát quanh vùng Phú Xuân tìm ra một cuộc đất tốt cách kinh thành không xa lắm, thuộc địa bàn làng Cư Chánh, trên một vùng núi thấp được gọi là Thuận Đạo

 

Chọn đất xong, vua Tự Đức sai đại thần Vũ Văn Giải đôn đốc dân binh bắt tay xây gấp lăng vua cha Thiệu Trị vào giữa tháng 2/1848. Đến đầu tháng 5/1848, một số công trình chủ yếu trong lăng đã xong

 

Theo đồ án thiết kế, mặt trước lăng nhìn ra một vùng đất rộng thoáng đãng về hướng Tây Bắc, xa xa đồi Vọng Cảnh hiện lên phía hữu và núi Ngọc Trản nằm phía tả – hình thành thế “tả long hữu hổ” hộ lăng. Mặt sau lăng dựa vào núi Thuận Đạo

 

Lăng vua Thiệu Trị không có la thành bọc ngoài như lăng vua cha Minh Mạng mà lấy những dãy đồi nhấp nhô quanh vùng làm thế vây bọc tự nhiên. Đặc điểm này giống với lăng của Gia Long, vị vua đầu tiên của vương triều

 

Trong lăng đào các hồ Nhuận Trạch, hồ Ngưng Thúy, hồ Điện, trổ dòng nước chảy thông ra ngoài bằng những đường cống ngầm dưới đất, xây lầu Đức Hinh, điện Biểu Đức, cầu Chánh Trung, cầu Đông Hòa, cầu Tây Định bên trên…

 

Xem xét cuộc đất và thế phong thủy của lăng Thiệu Trị, các nhà nghiên cứu nhận định lăng này ở vào vị thế “sơn chỉ thủy giao” với ngọn núi Chằm làm tiền án nhô lên cách đó chưa đầy 10 cây số, núi Kim Ngọc từ xa và mô đất lớn được đắp đằng sau làm hậu chẩm

 

Vì đợi xây lăng xong mới đưa đi an táng nên quan tài của vua Thiệu Trị phải quàn tại điện Long An (cung Bảo Định) trong 8 tháng trời kể từ khi mất

 

Ngày nay, lăng vua Thiệu Trị là một địa điểm khá bình lặng so với lăng của các vị vua tiền nhiệm và kế nhiệm ông. Điều này dường như cũng tương đồng với cuộc đời, cái chết và câu chuyện không quá ồn ào về quá trình xây lăng mộ ông.

Tấn thảm kịch phía sau vẻ đẹp của lăng Tự Đức

đăng 02:40, 15 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:40, 15 thg 3, 2020 ]

Lăng vua Tự Đức là một địa điểm thu hút khách bậc nhất Cố đô Huế. Ghé thăm nơi này, có ai còn cảm nhận được niềm u uất của vị vua thi sĩ như vẫn còn phảng phất đâu đây?...

Nằm ở phường Thủy Xuân của thành phố Huế, lăng vua Tự Đức được coi là một kiệt tác kiến trúc của Cố đô Huế. Phía sau vẻ đẹp mê đắm lòng người của khu lăng mộ này là một câu chuyện thảm khốc gắn với bi kịch cuộc đời vị vua thứ tư nhà Nguyễn

 

Tự Đức là một ông vua bất hạnh. Ông là một người nho nhã, hiền lành, yêu nước thương dân, nhưng thể chất yếu đuối, tinh thần bi quan. Làm vua trong bối cảnh bên ngoài giặc ngoại xâm tấn công, bên trong nội tình rối ren, ông đã cho xây lăng tẩm của mình như một nơi để trốn tránh thực tại.

 

Vốn là một người có học vấn uyên thâm, một thi sĩ có tâm hồn lãng tử, vua Tự Đức đã ấp ủ ý tưởng về nơi an nghỉ đẹp như một bài thơ với những công trình hoa mỹ hòa quyện với rừng thông xanh và hồ nước trong veo

 

Lăng được khởi công xây dựng vào năm 1864 với 5 vạn binh lính tham gia. Khi mới khởi công xây dựng, vua lấy tên Vạn Niên Cơ đặt cho công trình với mong muốn cơ đồ được trường tồn. Nhưng điều đó chỉ là khúc mở màn tươi sáng của một vở kịch buồn thảm

 

Để xây dựng lăng cho kịp tiến độ dự định (6 năm), vô vàn dân phu, thợ thuyền phải lao động quần quật làm từ tảng sáng đến canh một. Trong khi đó, đời sống của họ vô cùng khó khăn: ăn không đủ no, quần áo rách nát, thường xuyên bị quan quân cho roi vọt bầm tím da thịt

 

Cảnh lao động khổ sai ấy gây nên sự căm phẫn trong lòng dân chúng, trong dân gian xuất hiện câu ca chua xót nói về công trình của vua Tự Đức như sau: “Vạn niên là vạn niên nào/ Thành xây xương lính, hào đào máu dân”

 

Sau hai năm xây dựng, vì không chịu nổi áp bức nên những người xây dựng lăng nổi dậy dưới sự dẫn dắt của anh em Đoàn Hữu Trưng, sử sách gọi là loạn Chày Vôi. Có tên gọi như vậy là do những người thợ này dùng chày đập vôi làm khí giới để tiến vào kinh đô Huế

 

Với thế lực như triều dâng, quân nổi loạn tiến vào khu vực Hoàng thành theo ba cửa Chương Đức, Hiển Nhơn, Hòa Bình, uy hiếp nghiêm trọng triều đình. Nhưng cuối cùng cuộc nổi loạn cũng thất bại và bị dìm trong biển máu

 

Biến động này là một cú sốc tâm lý rất lớn với vua Tự Đức. Ông nhận ra rằng công cuộc xây dựng lăng mộ của mình là quá phù phiếm xa hoa, là một lỗi lầm lớn của người làm vua trước thần dân. Để xoa dịu sự phẫn uất trong nhân dân, viết bài biểu trần tình để tạ tội.

 

Để thể hiện sự ăn năn của mình, vua cho đổi tên Vạn Niên cơ thành Khiêm Cung. Chữ “Khiêm” ở đây có nghĩa là cung kính/ nhún nhường, một đức tính được các nhà Nho coi trọng. Và mọi công trình lớn nhỏ trong lăng đều được mang chữ “Khiêm”.

 

Đến năm 1873, Khiêm Cung hoàn thành. Vua Tự Đức sẽ còn sống thêm 10 năm nữa. Nhưng có lẽ vua không thể hưởng thụ cõi mộng nơi trần thế của mình một cách hoàn toàn an lạc. Là người hay ưu tư, nỗi ám ảnh từ biến cố đẫm máu năm xưa hẳn vẫn còn khiến vua trăn trở đến cuối đời.

 

Sau khi vua Tự Đức băng hà, Khiêm Cung được đổi tên thành Khiêm Lăng. Ngày nay, khu lăng mộ này là một địa điểm thu hút khách bậc nhất Cố đô Huế. Ghé thăm nơi đây, có ai còn cảm nhận được niềm u uất của vị vua thi sĩ như vẫn còn phảng phất?... 

Truyền thuyết về Chùa Cầu, Hội An

đăng 06:40, 13 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Để hạn chế sự tàn phá của con thủy quái khổng lồ, người Nhật khi qua định cư tại Hội An đã cố tìm những người giỏi về phong thủy để xem thế đất, cắm điểm dựng đền thờ. Và Chùa Cầu đã được dựng lên trong bối cảnh như vậy.

Không chỉ là di tích lịch sử mang tính biểu tượng của phố cổ Hội An, Chùa Cầu còn gắn với một giai thoại ly kỳ về một loài thủy quái vô cùng đáng sợ

 

Theo đó, những người Nhật đầu tiên qua Hội An sinh sống thường xuyên nhìn thấy trên mặt sông Hoài hay xuất hiện sống lưng con Namazu. Đó là một con cá trê quái vật có kích thước rất lớn, đầu nằm ở Ấn Độ mà đuôi ở tận Nhật Bản

 

Con thuỷ quái này mỗi khi trở mình hay quẫy đuôi sẽ khiến cả lục địa châu Á rung chuyển, còn đất nước Nhật bị động đất dữ dội, thậm chí có cả núi lửa phun trào, gây đại họa. Sự hiện diện của Namazu ở Hội An là một điềm dữ cho cuộc sống của người Nhật ở đây.

 

Để hạn chế sự tàn phá của Namazu, người Nhật khi qua định cư tại Hội An đã cố tìm những người giỏi về phong thủy để xem thế đất, cắm điểm dựng đền thờ. Và Chùa Cầu đã được dựng lên trong bối cảnh như vậy

 

Theo quan niệm của người Nhật, Chùa Cầu Hội An là biểu tượng của một thanh kiếm đâm xuống lưng con quái vật Namazu, khiến nó không quẫy đuôi để gây ra thảm họa

 

Các tư liệu cổ của người Hoa ở Hội An cũng nhắc đến loài thủy quái tương tự, được gọi là con Cù. Loài thủy quái này thường xuyên ẩn mình dưới đáy bùn nước, khi giông bão đến, nó tỉnh giấc trở mình quẫy đuôi làm nước sông dâng ngập cả phố cổ gây nhiều thiệt hại cho dân cư

 

Để yểm trừ, cộng đồng người Hoa đã xây thêm miếu thờ, đắp tượng thần rồi làm rễ rước Huyền Thiên đại đế, Quan Văn Trấn Vũ, các vị thần linh về Chùa Cầu thờ tự nhằm ngăn chặn tai họa mà thuỷ quái gây ra...

 

Có lẽ, truyền thuyết Chùa Cầu bắt nguồn từ một thực tế lịch sử là mỗi năm đến mùa mưa, nước sông Hoài dâng cao, gây nhiều khó khăn cho cuộc sống và sinh kế của con người. Và Chùa Cầu là một sự gửi gắm ước nguyện về cuộc sống bình an của các các cư dân Hội An thuở xưa.

 

Cũng theo quan niệm của người Hội An, kể từ khi Chùa Cầu được xây dựng, con thủy quái bị “yểm” đã rất giận dữ và tìm cách báo thù. Theo thời gian, bùa trấn yểm đã mất linh nghiệm khiến thủy quái lộng hành, trong những thập niên gần đây đã nhiều lần nhấn chìm Hội An trong biển nước.

 

Dù vậy, đó chỉ là một đức tin dân gian đang dần dần phai nhạt cùng những biến động của thời đại.

Giai thoại về nơi chôn cất Hải Thượng Lãn Ông

đăng 06:27, 13 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Khi ghé lăng mộ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, xin chớ quên ôn lại truyền thuyết xưa để cảm nhận tâm hồn phóng khoáng người thầy thuốc vĩ đại bậc nhất trong lịch sử nước Việt như vẫn còn phảng phất đâu đây...

Nằm dưới chân núi Cánh Diều ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, lăng mộ của danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720 - 1791) là địa danh gắn với một giai thoại ly kỳ về cái chết của bậc danh y lỗi lạc của nước Việt thế kỷ 18

 

Theo đó, từ khi “treo ấn từ quan” trở về quê ngoại ở Hương Sơn, Lê Hữu Trác đã làm nhiều nghề từ trồng thuốc, khám chữa bệnh, dạy học, viết sách, làm thơ…

 

Đặc biệt, Lê Hữu Trác là người rất đam mê chơi diều. Tương truyền, ông thường lên đỉnh Núi Giả, Hồ Sen, vừa thả diều vừa ngắm nhìn cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp ở các địa danh này

 

Vào lúc cuối đời, khi biết mình sắp không qua nổi vận số, Hải Thượng Lãn Ông đã căn dặn con cháu khi ông mất thì hãy thả một con diều. Diều rơi ở đâu thì chôn cất ông ở đó

 

Và nơi cánh diều rơi xuống là chân núi Minh Tự. Điều lạ lùng là địa điểm này có địa thế tuyệt vời, như thể đã được chọn trước bởi một bậc thầy phong thủy

 

Đó là nơi có khe nước Cắn không bao giờ cạn, trước mặt là sông Ngàn Phố nước trong xanh, xung quanh là đồi núi, làng mạc nên thơ...

 

Và để ghi nhớ giai thoại thấm đẫm màu sắc tâm linh huyền bí này, người dân trong vùng đã gọi núi Minh Tự là núi Cánh Diều

 

Sau nhiều thăng trầm lịch sử, nơi Hải Thượng Lãn Ông an nghỉ - nơi cánh diều truyền thuyết rơi xuống ba thế kỷ trước - đã được tôn tạo khang trang vào năm 2004.

 

Khu lăng mộ Hải Thượng Lãn Ông là một quần thể kiến trúc hoành tráng và uy nghi, gồm nhiều công trình khác nhau như trụ biểu, nhà bia, nhà tiền tế, mộ phần... nằm trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng với hậu cảnh là núi Cánh Diều

 

Khi ghé thăm chốn linh địa này, xin chớ quên ôn lại truyền thuyết xưa để cảm nhận tâm hồn phóng khoáng người thầy thuốc vĩ đại bậc nhất trong lịch sử nước Việt như vẫn còn phảng phất đâu đây...

1-10 of 15