Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Bảo tháp tổ sư Nguyên Thiều-Siêu Bạch &Tổ đình Quốc Ân Kim Cang ở Đồng Nai Tổ đình Quốc Ân Kim Cang là ngôi chùa cổ do Tổ sư Nguyên Thiều húy Siêu Bạch khai sơn cách đây hơn 300 năm vào thế kỷ XVII, năm ...
    Được đăng 06:53, 23 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Huyền thoại heo rừng Bảy Núi Bảy Núi xưa vốn là “giang sơn” của muôn thú, với rừng rậm âm u và nhiều loài đã trở thành một phần lịch sử của vùng đất này. Trong ...
    Được đăng 07:11, 20 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Huyền bí lăng mộ võ tướng nuốt chửng mắt mình khi đánh giặc Quận công Võ Tá Sắt là một vĩ võ tướng trứ danh ở đất Hà Tĩnh. Xung quanh sự nghiệp của ông có một giai thoại rất kỳ lạ.Toàn ...
    Được đăng 03:31, 12 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sự tích huyền bí ngôi chùa lớn nhất thế giới ở Việt Nam Chùa Tam Chúc - ngôi chùa lớn nhất thế giới ở Việt Nam - được xây bên một ngôi chùa cổ cùng tên, gắn với truyền thuyết “Tiền Lục nhạc - hậu Thất ...
    Được đăng 00:28, 6 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Điều ít biết về nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn Di tích Ngọa Vân ngày nay là một quần thể chùa tháp lớn được bố trí thành 3 lớp trên núi Bảo Đài. Lớp thấp nhất là 15 di tích ...
    Được đăng 06:29, 2 thg 2, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Bảo tháp tổ sư Nguyên Thiều-Siêu Bạch &Tổ đình Quốc Ân Kim Cang ở Đồng Nai

đăng 06:53, 23 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tổ đình Quốc Ân Kim Cang là ngôi chùa cổ do Tổ sư Nguyên Thiều húy Siêu Bạch khai sơn cách đây hơn 300 năm vào thế kỷ XVII, năm Chánh Hòa thứ 19 (1698) đời chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu, tọa lạc ấp Bình Thảo, xã Bình Phước, dinh Trấn Biên. Ngày nay thuộc ấp Bình Lục, xã Tân Bình, H.Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. 


Hiện nay chùa xưa chỉ còn lưu dấu nền Tổ đình và hai tháp cổ. 

1. Bảo tháp của Tổ Sư Nguyên Thiều húy Siêu Bạch: 

Theo năm tháng bảo tháp tuy bị xuống cấp nhưng vẫn còn dáng vẻ uy nghi và đồ sộ với: 
  • Mộ bia: bằng đá xanh. Trên mặt bia có khắc 3 hàng chữ Nho, phiên âm như sau: * Hàng chính giữa: Quốc Ân Kim Cang đường thượng, tam thập tam thế, húy Siêu Bạch Quán Bích Hòa thượng Tổ sư chi tháp; * Hai hàng hai bên: Phổ Quang tự Yết ma Chủ hương; - Hội Khánh tự Giáo thọ Thiền chủ lập thạch; - Sắc tứ Từ Ân tự Hòa thượng Pháp sư; Chứng minh lịnh - Long Thạnh tự Hòa thượng; - Đức Sơn tự Hòa thượng; - Hưng Long tự Hòa thượng; Chư sơn đồng tạo.
  • Tháp Tổ: hình lục giác cao ba tầng, chiều cao từ mặt đất lên đến đỉnh tháp là 5,2m. Tháp dựng trên nền xây đá xanh hình chữ nhật, ngang 3m, dài 4m, cao 0,8m… - Mặt trước là bia tháp: khắc nổi trên ô dước với 3 hàng chữ Nho, gồm: dòng giữa ghi: Quốc Ân Kim Cang đường thượng, tam thập tam thế, húy Siêu Bạch Quán Bích Tổ sư chi tháp; dòng bên mặt ghi: Tuế tại Kỷ Dậu niên, mạnh Thu, cát nhựt, hiệp chư sơn thiền đức đồng tái tạo; dòng bên trái ghi: Thập ngoạt, thập cửu nhựt viên tịch.

HT.Thích Minh Chánh bên cạnh bảo tháp Tổ sư


2. Tháp Phổ Đồng

Tương truyền đây là tháp của công chúa Ngọc Vạn, con của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, bà là vợ vua Chân Lạp Chey Chetta II, là người có công hộ trì Phật pháp và ủng hộ việc xây dựng Tổ đình Quốc Ân Kim Cang lúc bấy giờ. 

Sau khi chùa bị giặc Pháp đốt và lấy đi nhiều bảo tượng quý và đại hồng chung, một số cổ vật còn lại được chư Tăng chuyển về tôn trí ở Kim Long cổ tự gồm: - Tượng Đức Chuẩn Đề bằng đồng; - Long vị của Đại lão Hòa thượng Minh Vật-Nhất Tri là vị trụ trì kế tiếp Tổ sư ở Tổ đình Quốc Ân Kim Cang, viên tịch ngày 10-10 năm Bính Ngọ (1786); - Tiểu hồng chung trên có khắc chữ “Kim Cang tự”; - Thánh tượng Địa Tạng Vương Bồ tát cỡi con đề thính bằng gỗ. 

Bảo tháp của Tổ sư và Tổ đình Quốc Ân Kim Cang là một di tích lịch sử Phật giáo rất quan trọng, đánh dấu công lao to lớn của Tổ sư hoằng hóa ở đất phương Nam nhưng từ lâu bị bỏ hoang phế… Hữu duyên thay cho hàng hậu học, năm 1988, TT.Thích Minh Lượng, trụ trì Kim Long cổ tự được nhân dân phát hoang báo tin có tháp cổ của chùa, ngay sau đó thầy cùng chư Tăng đến dọn dẹp, cạo mối, chùi rửa và nhà nghiên cứu Nguyễn Hiền Đức, tác giả quyển Lịch sử Phật giáo Đàng Trong đã đến sưu tầm cùng quý cụ đồ nho giúp đọc văn bia, mới phát hiện là bảo tháp của Tổ sư… Kế đó được cố Đại lão Hòa thượng Thích Huệ Thành, Phó Pháp chủ, nguyên Trưởng ban Trị sự THPG Đồng Nai, làm lễ chứng minh, nguyện hương cho công cuộc trùng tu ngôi bảo tháp của Tổ sư. 

Và mãi cho đến 20 năm sau, HT. Thích Minh Chánh, Thành viên HĐCM GHPGVN, Trưởng ban Trị sự THPG Đồng Nai, trụ trì chùa Giác Minh mới đủ túc duyên phát nguyện xây dựng và trùng tu ngôi Tổ đình. Nhân đây, Hòa thượng Trưởng ban và Ban Kiến thiết Tổ đình xin tán thán công đức của chư tôn giáo phẩm, chính quyền địa phương đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện đền bù, cấp phép xây dựng trùng tu và hai Phật tử Tâm Lộc và Diệu Hương đã phát tâm cúng dường tài thí (số tiền hơn 1,1 tỷ đồng) để đền bù giải tỏa trên khuôn viên chùa có được 4.609 
 m2. 

Ngày 19-10 Mậu Tý (16-11-2008), tại bảo tháp Tổ sư và trên nền chùa xưa, Ban Trị sự THPG Đồng Nai hân hoan cung đón chư vị tôn đức giáo phẩm và chính quyền địa phương cùng đông đảo Tăng Ni, Phật tử trong vùng đến dự lễ húy kỵ Tổ sư khai sơn và lễ đặt đá trùng tu Tổ đình Quốc Ân Kim Cang…

Bài, ảnh: PHÁP TUỆ

Huyền thoại heo rừng Bảy Núi

đăng 07:11, 20 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Bảy Núi xưa vốn là “giang sơn” của muôn thú, với rừng rậm âm u và nhiều loài đã trở thành một phần lịch sử của vùng đất này. Trong ngày xuân Kỷ Hợi, những huyền thoại linh thiêng thường được các bậc cao niên mang ra kể cho con, cháu nghe bên ly trà thơm, nhất là chuyện về loài heo rừng Bảy Núi.

Đi tìm huyền thoại 

Từ sự chỉ dẫn của những người bạn “thổ địa” tại Tịnh Biên, tôi đi tìm huyền thoại về loài heo rừng Bảy Núi. Theo người dân địa phương, heo rừng ngày trước chỉ tập trung ở một vài ngọn núi, nhiều nhất là núi Phú Cường, núi Dài Năm Giếng và núi Cấm. Tuy nhiên, những bậc cao niên sống quanh chân núi hầu như không nhớ nhiều về loài vật huyền thoại này, chỉ loáng thoáng nghe qua lời kể của người đi trước. Tuy nhiên, tôi may mắn được gặp ông Đào Tấn Sỹ (Ba Sỹ), một chiến sĩ cách mạng hoạt động thời chống Mỹ. Từng làm nhiệm vụ “đi thư” cho các đơn vị đóng trên địa bàn Bảy Núi, nên dấu chân ông ngang dọc khắp mấy chục ngọn núi trong vùng, vì vậy, chuyện chạm mặt heo rừng “như cơm bữa”. 

Ông Đào Tấn Sỹ kể chuyện về loài heo rừng 


“Thời chống Mỹ, loài heo rừng còn rất nhiều, nhất là khu vực Ô Tà Bang dưới chân núi Dài Năm Giếng. Những lần “đi thư”, tôi gặp heo rừng đi thành từng đàn hàng chục, thậm chí hàng trăm con. Người xưa nói rằng, heo rừng đặt dưới sự quản lý của Ông Chuồng, Bà Chuồng. Ban ngày, heo đi kiếm ăn, tối đến nghe tiếng Ông Chuồng, Bà Chuồng kêu thì chạy về ngủ. Mà cũng lạ, chính tôi cũng từng nghe tiếng người kêu heo “ột ột” vang cả núi rừng, sau đó heo chạy về ào ào như thác khiến mình một phen hú vía” - Ba Sỹ nhớ lại. 

Nhấp ly trà, Ba Sỹ mô tả cho tôi nghe về đặc tính loài heo rừng Bảy Núi. “Chúng có hình dáng thon dài, lông đen trùi trũi, mắt trừng trừng rất hung dữ. Lông gáy của chúng dài và thường xù lên khi gặp kẻ thù hoặc khi cảm thấy bị đe dọa. Bản thân tôi chạm trán heo rừng nhiều lần, bởi mình cũng sống trên rừng như chúng. Người ta thì nghe kể lại, còn tôi mắt thấy, tay đụng vô con heo rừng nên dám khẳng định những điều đã nói” - ông Ba Sỹ khẳng khái. 

“Chạm vào” huyền thoại 

Cuộc gặp gỡ với Ba Sỹ đã cho tôi cơ hội tìm hiểu rất nhiều về loài heo rừng, nhất là huyền thoại xoay quanh chúng. Như đã nói ở trên, heo rừng lẫn heo nhà đều thuộc quyền cai quản của Ông Chuồng, Bà Chuồng nên người dân thường cúng vái 2 vị thần này mỗi khi heo nuôi trong nhà đau yếu. Tuy nhiên, với loài phá phách như heo rừng thì chúng thường xuyên xuống giẫm rẫy của người dân. Khi đó, nếu ai lỡ miệng chửi mắng chúng thì lần sau cả đàn sẽ quay lại “trả thù” bằng cách phá phách dữ hơn. “Lúc đó, người ta vái Ông Chuồng, Bà Chuồng đừng cho heo xuống phá nữa thì tự dưng chúng đi mất, không bao giờ trở lại. Tôi cũng “ngang” lắm nhưng thật tình có thấy chuyện này. Còn nhớ lần đi công tác trên núi Dài Năm Giếng, khi đi ngang đám cỏ tranh cao quá đầu người, tôi vô tình giẫm phải một con heo rừng nái đang nằm cho con bú. Con heo đau quá tốc bỏ chạy rầm rầm như cọp chạy. Còn tôi ngã lăn ra và một phen hết hồn, bởi từ nào giờ ít thấy con heo nào lớn như vậy. Nếu lúc đó nó quay lại tấn công thì nguy hiểm vô cùng” - Ba Sỹ nhớ lại. 

Khi chúng tôi hỏi về tác dụng “thần kỳ” của chiếc nanh heo rừng, Ba Sỹ cho rằng, đó là quan điểm dân gian nên khó xác định đúng hay sai. Tuy nhiên, cuộc đời cầm súng chiến đấu khắp vùng Bảy Núi đã giúp ông hiểu được những điều kỳ lạ về chiếc nanh của chúng. “Người ta quan niệm nanh heo rừng nếu đeo lên người sẽ xua đuổi được tà ma nhưng đó là truyền miệng dân gian. Còn tôi thấy rằng, những con heo rừng chết rủ (chết già) thì nanh của nó rất đặc biệt. Hồi đó, anh em trong căn cứ nói với nhau, chỗ nào có nanh heo rừng chết rủ thì khi có đám cháy ở đó, chiếc nanh heo sẽ không cháy và cỏ xung quanh nó vẫn xanh tốt. Thực tế, tôi có lần nhìn thấy hiện tượng này nhưng thời bom đạn ác liệt, mình lo cầm súng chiến đấu, chứ đâu có thời gian đi kiếm nanh heo rừng!” - Ba Sỹ cười hiền.

Heo rừng Bảy Núi xuất hiện trong nhiều huyền thoại 


Trong ký ức, Ba Sỹ vẫn còn in rõ câu chuyện về con heo rừng “vua” ở khu vực Ô Tà Bang. Gọi là “vua” vì nó rất to, có thể đứng ngang ngực người lớn và đặc biệt là chỉ có 3 chân. Lý giải cho việc con heo chỉ có 3 chân, Ba Sỹ kể rằng, do khi dính bẫy của thợ săn nó đã cắn bỏ 1 chân trước để thoát thân. “Dù chỉ có 3 chân nhưng nó chạy nhanh như gió nên không ai bắt được. Mới nghe hơi người cách đó trăm thước, con heo này đã lủi mất nên anh em rình bắn hoài không được. Với lại, nhìn hình thù của nó ai cũng ngán nên con heo cứ ngang dọc khắp núi rừng. Chỉ cần nghe nó “khẹc” là mình đã “ớn”, làm gì còn bình tĩnh mà bắt. Sau ngày giải phóng, tôi không nghe ai nhắc đến con heo này nữa, dù thỉnh thoảng vẫn có anh em mang biếu tôi ít thịt heo rừng”- Ba Sỹ thật tình. 

Chuyện săn heo rừng 

Theo lời Ba Sỹ, những ngày còn “lấy rừng núi làm nhà”, ông và những anh em khác cũng đi săn heo rừng để tẩm bổ, vì thời đó chuyện ăn uống thiếu thốn vô cùng. Với những người chiến sĩ cách mạng, thịt heo rừng là món quà quý của núi rừng nhưng không phải lúc nào cũng bắt được mà ăn. “Mắt tôi nhìn thấy heo rừng nhưng không thể giương súng bắn vì nếu mình bóp cò, chốc lát, địch đóng ở cao điểm trên đỉnh núi sẽ nã đạn M79 xuống ngay. Do đó, anh em chọn cách bắt sống để an toàn. Đa phần sẽ dùng bẫy hoặc tay không. Việc dùng tay không chỉ áp dụng trong trường hợp may mắn, khi con heo mê đào củ mài, củ từ rừng mà không để ý xung quanh. Tuy nhiên, cách này vất vả lắm”- Ba Sỹ thật tình. 

Ba Sỹ cho biết, heo rừng rất thích ăn củ từ rừng nhưng loại này gai góc rất nhiều, có thể đâm trổ giày đinh. Do đó, quân địch ngày xưa rất sợ càn vô đám từ rừng vì chúng biết đó là bãi chông tự nhiên. Có điều, heo rừng mê loại củ đó nên muốn bắt chúng thì phải rình theo mấy đám từ rừng. “Do củ nằm sâu dưới đất nên con heo đào xuống cả nửa thước. Đợi nó “lúc nửa con” xuống đất, mình đi êm êm lại rồi bất thình lình nhận đầu nó xuống, một người khác sẽ lấy dây cột chân heo lại. Nói vậy chứ ít khi bắt dính vì con heo rừng 50-60kg mà giẫy thì thanh niên đôi mươi cũng phải bật ngửa. Bởi vậy, anh em tôi ngày đó chủ yếu làm bẫy cò ke” - Ba Sỹ nhớ lại. 

Bẫy cò ke được Ba Sỹ và những anh em khác làm bằng dây lấy ra từ ruột trái pháo sáng của quân địch. Sau đó, người ta chọn những nhánh cây chắc chắn rồi buộc một đầu dây vào đó để gài bẫy. Về cơ bản, loại này giống như chiếc thòng lọng nằm sát đất. Khi heo đi ngang, bẫy giật lên sẽ buộc vào thân chúng. Tuy nhiên, khi dính bẫy con heo vẫn chống cự quyết liệt nên việc hạ được nó cũng là công đoạn khó khăn. 

Bây giờ, Ba Sỹ đã 77 tuổi đời và gần 60 năm tuổi Đảng. Với ông, niềm vui lớn nhất là được thấy mảnh đất Bảy Núi bom đạn cày xới năm xưa chuyển mình đổi mới. Và, ông sẽ tiếp tục mang những câu chuyện thú vị của thời kháng chiến, trong đó có loài heo rừng Bảy Núi, kể lại cho cháu con nghe trong những ngày Tết đến, xuân về. 

THANH TIẾN

Huyền bí lăng mộ võ tướng nuốt chửng mắt mình khi đánh giặc

đăng 03:31, 12 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Quận công Võ Tá Sắt là một vĩ võ tướng trứ danh ở đất Hà Tĩnh. Xung quanh sự nghiệp của ông có một giai thoại rất kỳ lạ.

Toàn cảnh lăng mộ Quận công Võ Tá Sắt ở xã Thạch Liên, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Theo sử sách, Quận công Võ Tá Sắt tên thật là Võ Tá Kế (húy là Khanh) con thứ 4 của Tăng Lộc Hầu, năm 14 tuổi học tại Quốc Tử Giám

 

Ông làm quan vào thời kỳ nửa đầu thế kỷ XVIII, khi đất nước có nhiều diễn biến phức tạp, quyền tối cao nhất của vua Lê tập trung vào chúa Trịnh, nạn kiêu binh và các thủ lĩnh ở các địa phương nổi lên

 

Vì là ấm sinh xuất thân nên Võ Tá Sắt được bổ làm quan với chức quản binh, nhiều lần phụng chỉ đi đánh giặc lập công, được vua Lê, chúa Trịnh tin dùng

 

Theo tư liệu dân gian, khi làm chức Tổng trấn Sơn Nam (vùng Hà Nam ngày nay) trong một lần dẫn quân đánh nhau với quân phản loạn Nguyễn Hữu Cầu, ông bị một viên đạn bắn vào mắt làm bật con ngươi ra ngoài…

 

Không chút chần chừ, ông đã dứt con ngươi ấy bỏ vào mồm nuốt chửng rồi lại thúc quân tả xung hữu đột đánh giặc.

 

Vì thế, người thời ấy đều phục ông dũng cảm, mến mộ gọi là Sắt – Võ Tá Sắt

 

Với chiến tích của mình, ông cũng được triều đình ban tặng tước Quận Công

 

Sau khi mất, ông được táng tại Cầu Già, thuộc xóm Đông, xã Thạch Liên

 

hững năm gần đây, khu lăng mộ cổ của ông đã được xây cất lại uy nghiêm và rất bề thế. (Bài có sử dụng tư liệu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh)

 

Một số hình ảnh khác về lăng mộ Quận công Võ Tá Sắt

 

 

 

Sự tích huyền bí ngôi chùa lớn nhất thế giới ở Việt Nam

đăng 00:28, 6 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Tam Chúc - ngôi chùa lớn nhất thế giới ở Việt Nam - được xây bên một ngôi chùa cổ cùng tên, gắn với truyền thuyết “Tiền Lục nhạc - hậu Thất Tinh” huyền bí. 

Chùa Tam Chúc - ngôi chùa lớn nhất thế giới ở Việt Nam - được xây dựng bên cạnh ngôi chùa cổ cùng tên ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Ảnh: Cattour.vn

 

Theo sử sách, chùa Tam Chúc cổ được xây dựng từ thời nhà Đinh, gắn với truyền thuyết “Tiền Lục nhạc - hậu Thất Tinh”. Ảnh: Báo Tin Tức

 

Truyền thuyết kể lại rằng: Ngày xửa ngày xưa, vùng đất này rừng núi trập trùng, trên dãy núi đó có 99 ngọn, nằm ở phía Tây Nam hướng về động Hương Tích (chùa Hương), trong đó có 7 ngọn núi gần làng Tam Chúc. Ảnh: Báo Lao Động

 

Trước đây, cả 7 ngọn núi này đều xuất hiện những đốm sáng lớn tựa như 7 ngôi sao, sáng suốt đêm ngày. Ánh sáng lung linh từ trên cao rọi xuống một vùng rộng lớn, dân làng gọi đó là núi Thất Tinh (nghĩa là 7 ngôi sao). Ảnh: VTC

 

Trên núi có một ngôi chùa cổ kính, cũng mang tên của ngọn núi, là chùa Thất Tinh. Ảnh: Zing

Một ngày nọ, có người đã đến núi Thất Tinh đục đẽo, hòng lấy đi 7 ngôi sao sáng nhất. Họ chất củi thành đống lớn và đốt. Ảnh: VietnamBiz

 

ửa cháy nhiều ngày khiến cho 4 ngôi sao sáng nhất bị mờ dần, mờ dần và cuối cùng chỉ còn lại ba ngôi sao không tắt. Ảnh: Báo Lao Động

 

Vì thế, chùa Thất Tinh sau này được đổi thành chùa Ba Sao (chùa Tam Chúc cổ) và thị trấn Ba Sao ngày nay cũng được lấy tên gọi từ tích ấy. Ảnh: Zing


T.B (tổng hợp)

Điều ít biết về nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn

đăng 00:40, 22 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:29, 2 thg 2, 2019 ]

Di tích Ngọa Vân ngày nay là một quần thể chùa tháp lớn được bố trí thành 3 lớp trên núi Bảo Đài. Lớp thấp nhất là 15 di tích dưới chân núi như: khu rừng già Tàn Lọng, Phủ Am Trà, Đô Kiệu, Thông Đàn, Đá Chồng, Ba Bậc… 

Trong chuyến hành phương “Về miền đất Phật” 2018 mới đây, Đại đức Thích Quảng Hiếu cùng hơn 2000 phật tử chùa Tân Hải (Đan Phượng, Hà Nội) đã làm lễ dâng hương và chiêm bái Phật hoàng Trần Nhân Tông tại chùa Ngọa Vân thuộc thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. 

Đây được coi là hoạt động nghi lễ lớn với sự tham gia của nhiều người mang ý nghĩa khép lại năm đại lễ tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập cõi niết bàn tại Khu di tích Chùa – am Ngọa Vân.

Khung cảnh chùa Ngọa Vân - nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn cách đây 710 năm. 


Chùa – am Ngọa Vân là một di tích quan trọng nằm trong vùng thánh địa linh thiêng của Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử. Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt, chùa – am Ngọa Vân có vị trí đặc biệt quan trọng bởi nơi đây chính là điểm dừng chân cuối cùng trong cuộc đời tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông. 

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 5 năm 1307, Trúc Lâm Đại Sĩ (tên hiệu của Phật hoàng) đã lên tu tại một am trên đỉnh Ngọa Vân- một đỉnh cao quanh năm mây phủ nằm trên núi Bảo Đài thuộc dãy Yên Tử linh thiêng. Ngày 1 tháng 11 năm 1308, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nhập niết bàn tại am Ngọa Vân (nay thuộc xã An Sinh và xã Bình Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). 

Di tích Ngọa Vân ngày nay là một quần thể chùa tháp lớn được bố trí thành 3 lớp trên núi Bảo Đài. Lớp thấp nhất là 15 di tích dưới chân núi như: khu rừng già Tàn Lọng, Phủ Am Trà, Đô Kiệu, Thông Đàn, Đá Chồng, Ba Bậc… 

Những di tích này được kết nối với nhau bằng một con đường uốn lượn chạy dần lên đỉnh núi. Lớp thứ 2 của khu di tích là chùa Ngọa Vân Trung nằm ở sườn phía Nam của núi Bảo Đài. 


Tháp Phật hoàng - Nơi chứa một phần xá lợi của Phật hoàng sau khi ngài nhập diệt. 


Sau khi được trùng tu xây dựng trên nền chùa cũ vào năm 2014, Ngọa Vân Trung ngày nay là một ngôi chùa khang trang với lối kiến trúc kiểu chữ Nhị (mô phỏng kiến trúc của chùa Ngọa Vân được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng) và được tạo thành bởi hai tòa chính: Tiền đường và Hậu đường. 

Chùa Ngọa Vân Trung cũng được xem là khu vực trung tâm của lễ hội xuân Ngọa Vân (diễn ra từ mùng 9 tháng Giêng đến hết tháng 3 Âm lịch hàng năm). Những nghi lễ quan trọng của lễ hội như lễ hội khai xuân, lễ cầu quốc thái dân an… đều được tổ chức tại chùa Ngọa Vân Trung. 

Lớp thứ 3, cũng là lớp cao nhất của di tích Ngọa Vân, là nơi được người xưa ca tụng: “Vạn cổ anh linh tự/ Tứ thời cảnh sắc tân” (Dịch thơ: “Muôn thuở chùa linh ứng/ Bốn mùa cảnh sắc tươi”)

Chùa Ngọa Vân ngày nay chìm trong sương, mây... 


Đỉnh núi huyền ảo, quanh năm mây phủ này chính là nơi còn lưu giữ được nhiều dấu tích thiêng liêng liên quan đến những ngày tháng cuối cùng trong cuộc đời tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông, như chùa Ngọa Vân Thượng, am Ngọa Vân - nơi mà theo truyền thuyết, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nhập cõi niết bàn trên một tảng đá lớn trong dáng nằm sư tử, Phật hoàng Tháp- nơi lưu giữ một phần xá lị của Phật hoàng và Bàn Cờ tiên nằm trên đỉnh cao nhất, nhìn ra xung quanh là một vùng núi non sơn thủy hữu tình. 

Không chỉ lưu giữ những dấu tích thiêng liêng về Phật hoàng Trần Nhân Tông, khu di tích Ngọa Vân còn là một nơi có khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ và tuyệt đẹp. 

Nằm trong khu vực vòng cung Đông Triều, Ngọa Vân như được bao bọc, ôm ấp bởi những ngọn núi xanh mướt, trùng trùng điệp điệp. Thảm thực vật nơi đây gần như còn nguyên vẹn với rất nhiều loài thực vật và động vật quý hiếm. Đến với Ngọa Vân, người ta có dịp được chiêm ngưỡng những cây thông trăm tuổi, những rừng trúc bạt ngàn. 

Hơn 2000 Phật tử chùa chùa Tân Hải (Đan Phượng, Hà Nội) cùng Đại đức Thích Quảng Hiếu làm lễ dâng hương và chiêm bái Phật hoàng Trần Nhân Tông tại chùa Ngọa Vân. 


Hành hương lên đỉnh Ngọa Vân, thắp một nén nhang chiêm bái Phật hoàng rồi bước ra sân tiền đường, cả một vùng núi non tuyệt đẹp nằm xen lẫn trong mây trắng mở ra trước mắt như một bức tranh thủy mặc. Đó là lúc con người ta như được trở về với tất cả những gì đẹp đẽ, nguyên sơ nhất trong tâm hồn cũng là món quà mà đất Phật Ngọa Vân ban tặng cho mỗi người. 

Hà Tùng Long - Ảnh: Tùng Long

Căn cứ Truyền Tung - Đình Thọ An: Dấu xưa còn mãi

đăng 23:42, 21 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Trên hành trình tìm lại dấu xưa, chúng tôi đến với vùng đất Thọ An, xã Bình An (Bình Sơn). Tại đây, câu chuyện lịch sử về căn cứ Truyền Tung - Đình Thọ An được các bậc cao niên kể lại trong niềm tự hào về truyền thống cách mạng qua bao thế hệ.

Cuối thế kỷ XIX, để chuẩn bị công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lâu dài, các sĩ phu yêu nước ở Quảng Ngãi đã lập căn cứ địa ở đây. Một trong những căn cứ địa tiêu biểu và tiên phong thuộc loại sớm nhất ở Trung kỳ nói chung và Quảng Ngãi nói riêng, đó chính là căn cứ Tuyền Tung - Đình Thọ An.

Cổng Đình Thọ An. Ảnh: Di Hà 


Khi ấy, làng Truyền Tung có địa hình hiểm trở, giống như một cái chảo có nhiều núi cao bao bọc, thuận lợi cho việc “chiêu binh luyện võ” và phối hợp với các nghĩa quân trong và ngoài tỉnh để thực hiện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bên trên đỉnh núi còn có một ngôi đình mang tên Thọ An được xây dựng vững chắc, kiên cố giống như một thành lũy với tường thành cao khoảng 3,5m, phía trước cách chừng khoảng 500m có suối Truyền Tung, lượn quanh sau núi là suối Gò Sằm; phía trước và phía sau đình là những hồ sen lớn. Đình Thọ An được tận dụng làm tổng hành dinh của bộ chỉ huy, các tướng lĩnh bàn bạc việc quân, việc nước, xây dựng kế hoạch, chiến lược đánh giặc, đồng thời là nơi luyện tập của nghĩa quân.

Tương truyền xưa kia, vào thế kỷ XVIII, thung lũng Truyền Tung được vua Quang Trung chọn làm căn cứ của nghĩa quân Tây Sơn. Tiếp nối các bậc tiền nhân kết hợp những nhân tố quan trọng về “địa lợi, nhân hòa” cùng với tầm nhìn chiến lược và tư duy sắc sảo, Nguyễn Tự Tân đã quyết định chọn Truyền Tung làm địa bàn và kiên trì xây dựng cơ sở, đại bản doanh hoạt động của nghĩa quân.

Căn cứ Truyền Tung - Đình Thọ An và các cuộc khởi nghĩa Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Bá Loan… đã góp phần củng cố, tăng cường sức mạnh chống thực dân Pháp ở ba tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định; đánh dấu một mốc son lịch sử, mở đầu cho phong trào Cần vương kháng Pháp của nhân dân các tỉnh miền Trung vào cuối thế kỷ XIX; thể hiện rõ khí chất con người, vùng đất núi Ấn- sông Trà, mà theo thi sĩ Nguyễn Vỹ (1910-1971) đã nhận định: “Quảng Ngãi, quê hương tôi, dân tình bất ly, dân trí bất nhược, dân đức bất suy, dân tâm bất khuất”. 

Với uy tín của một nhà yêu nước cương trực, mưu lược, văn võ song toàn, Lê Trung Đình được cử làm Chánh quản hương binh và các ông Nguyễn Tự Tân và Vũ Hội là Phó quản hương binh. Lúc đầu, căn cứ chỉ là một trại chiêu tập hương binh, sản xuất nông nghiệp, dự trữ quân lương, thường xuyên liên lạc với Sơn phòng Quảng Ngãi, sau đó dần trở thành cơ sở khai quặng, luyện sắt, sản xuất vũ khí cho nghĩa binh, luyện tập võ nghệ.

Đặc biệt, được sự ủng hộ và tiếp ứng đắc lực của nhân dân ta về lương thảo, thuốc men, quần áo, vũ khí và sức người, điển hình là bà Võ Thị Đệ (sống ở làng Nhơn Hòa, xã Bình Tân) - người có nhiều ruộng đất nhất huyện thời đó với khoảng 180ha. Sau một thời gian, số lượng nghĩa quân Truyền Tung được chiêu mộ lên đến 3.000 người từ khắp nơi về tụ nghĩa.

Ngay khi tiếp nhận chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi, ngày 1.6 năm Ất Dậu (13.7.1885), Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân cùng các ông Nguyễn Tấn Kỳ, Nguyễn Hoành... đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy 3.000 hương binh tiến quân đánh chiếm thành Quảng Ngãi. Tuy nhiên, nghĩa quân chỉ làm chủ thành Quảng Ngãi được 4 ngày, đến ngày 5.6 năm Ất Dậu (17.7.1885), Nguyễn Thân và Đinh Văn Hội đã bắt tay với Pháp. Chúng huy động toàn bộ lực lượng quân sự có mặt tại địa phương tiến hành đàn áp cuộc khởi nghĩa. Nguyễn Tự Tân, Nguyễn Viện, Trần Tu bị sát hại ngay trên chiến trường, Nguyễn Tấn Kỳ thoát thân, Lê Trung Đình bị bắt và bị xử chém vào ngày 11.6 năm Ất Dậu (23.7.1885).

Sau khi cuộc khởi nghĩa Lê Trung Đình bị thất bại, Nguyễn Tấn Kỳ cùng số nghĩa quân còn lại phối hợp với nghĩa quân của Nguyễn Bá Loan kéo quân ngược ra căn cứ Truyền Tung tiếp tục công cuộc chống Pháp.

Lúc này, dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh nghĩa hội Quảng Ngãi đã tập hợp lực lượng lên đến 12.000 người, trong đó Nguyễn Bá Loan làm Chánh tướng, nghĩa quân tiếp tục chọn căn cứ Truyền Tung và một số căn cứ khác làm nơi đóng Tổng Hành dinh; liên hệ nghĩa quân của Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Hàm (Quảng Nam), nghĩa quân Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Duy Cung (Bình Định) thực hiện các cuộc khởi nghĩa vũ trang, gây nhiều thiệt hại cho giặc. Căn cứ Truyền Tung tiếp tục trở thành cơ sở tập hợp, phát triển, huấn luyện lực lượng kháng Pháp lâu dài cho đến khi cuộc khởi nghĩa Nguyễn Bá Loan bị đàn áp vào năm 1888.

Di tích Căn cứ Truyền Tung-Đình Thọ An này nằm trên đèo Thọ An. Nơi đây còn có nhiều dấu tích liên quan đến căn cứ Truyền Tung và phong trào Cần vương. Nay vẫn còn đó am thờ, cổng, sân vườn, tường thành... của ngôi đình Thọ An. Các bậc cao niên cho biết, ban đầu làng Thọ An có tên là làng Truyền Tung. Đình Thọ An được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIX, chủ yếu là thờ Thành hoàng bổn xứ, thờ Sơn Thần, Thần Bạch Hổ, Thần Nông, Tiền hiền, Hậu hiền, âm hồn, cô hồn...

Trước đây, vào ngày rằm tháng Giêng âm lịch hằng năm, nhân dân trong làng tổ chức lễ tế đình trang nghiêm theo các nghi lễ cổ truyền. Tuy nghiên, trải qua thời gian và chiến tranh, lễ tế đình Thọ An bị mai một và nay không còn được tổ chức.

DI HÀ - PHƯƠNG LÝ

Lâm Trung Trại và những anh hùng “thủy hử” đất Đồng Nai

đăng 20:45, 14 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 00:28, 15 thg 1, 2019 ]


Lâm Trung Trại và những anh hùng “thủy hử” đất Đồng Nai


Lâm Trung Trại được hình thành từ những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược Đồng Nai. Thời ấy, người dân nơi đây tự hào ví hội này như Lương Sơn Bạc của Việt Nam.

Chọn Gò Mọi làm căn cứ, duy trì hoạt động, Lâm Trung Trại một thời từng khiến thực dân Pháp khuynh đảo. Tuy nhiên, cho đến nay, còn ít tài liệu đề cập đến nguồn gốc và sự hình thành hội kín anh hùng này. 


Anh hùng Lương Sơn Bạc đất Biên Hòa 

Sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt (năm 1884), giai cấp phong kiến lúc bấy giờ tiếp tục ra lệnh bãi binh trên toàn quốc. Nhưng chính sách trên không ngăn cản được lòng yêu nước căm thù giặc của những người yêu nước. Các phong trào yêu nước vẫn tiếp tục phát triển một cách bí mật. Dù đấu tranh kiên cường và gặt hái một số thành công nhưng các phong trào trên đều bị thất bại. Và sự thất bại đã đẩy các phong trào yêu nước vào những hội kín được gọi là Thiên Địa hội. 

Theo các tài liệu lịch sử, Thiên Địa hội vốn xuất phát từ Bạch Liên Giáo của Trung Quốc vào thời kỳ Mãn Thanh. Trong nội bộ giáo phái này, có nhiều chi phái mượn màu sắc tôn giáo, lợi dụng sự mê tín của Hán tộc với mục đích khuynh đảo nhà Thanh. Thiên Địa hội bắt đầu "vượt biên" vào nước ta từ đầu thế kỷ XIX do Hà Hỉ Văn đứng đầu. Người này tiếp tục nuôi chí phản Thanh, phục Minh. 

Tuy nhiên, sự tuyên truyền của Thiên Địa hội tại Việt Nam bị ngăn cấm rất khắt khe. Thời Pháp thuộc, thực dân đế quốc mạnh tay trong việc ngăn chặn sự phát triển của các hội kín. Rồi, Thiên Địa hội dần lui vào quên lãng. Tuy nhiên, sau này, lòng yêu nước, tinh thần chống giặc ngoại xâm của những chí sĩ yêu nước lại vùng dậy. Họ hoạt động chống giặc theo kiểu Thiên Địa hội. 

Trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đất Đồng Nai xưa cũng hưởng ứng phong trào yêu nước của Thiên Địa hội dưới một tổ chức có tên Lâm Trung Trại. Kể lại chuyện của những anh hùng thời loạn, các bậc cao niên ngụ quanh khu vực chùa Bửu Hưng cho biết, Lâm Trung Trại là nơi tập trung của những bậc anh hùng, hảo hán thời loạn lạc. Các bậc cao niên cũng chỉ được nghe ông cha kể về họ như một huyền thoại về các anh hùng Lương Sơn Bạc bên Tàu. 

Theo các tài liệu lịch sử, Lâm Trung Trại là nơi tụ nghĩa của các bậc anh hùng, ái quốc. Tác giả Lương Văn Lựu trong tác phẩm Biên Hòa lược sử đã viết: "Dân Biên Hòa cũng hưởng ứng phong trào chống Pháp của Thiên Địa hội. Rất nhiều các tay anh chị, hảo hán ở nông thôn, võ nghệ tinh thông, đầy lòng hào hiệp, không nặng tình cảm gia đình kết hợp nhau thành một đảng lấy hiệu danh riêng là Lâm Trung Trại". 

Cũng theo tài liệu, Lâm Trung Trại chọn núi Gò Mọi thuộc xã Đại An (huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai), nơi có địa hình hiểm trở, dễ thủ khó công làm căn cứ. Hơn thế, sinh sống tại Gò Mọi chỉ toàn những dân tộc thiểu số nên giặc Pháp không để ý. Đây được coi là một căn cứ lí tưởng. Về công có thể dùng thủy binh theo ngọn Rạch Đông ra Biên Hòa, thủ có thể dựa vào rừng núi theo thế ỷ dốc. 


Ngọn Rạch Đông, có tính chất như một tuyến giao thông huyết mạch của Lâm Trung Trại. 


Thành phần đứng đầu của nghĩa quân được tuyển chọn theo tiêu chuẩn: Uy tín, đức độ tài năng, võ thuật và văn hóa. Ban đầu, đứng ra sáng lập Lâm Trung Trại có 18 vị được người dân xưng tụng là "anh hùng" gồm: Năm Hi, Ba Hổ, Ba Hầu, Hai Lựu, Bảy Đen, Sáu Huyền, Ba Vạn, Hai Danh, Bảy Phát, Tám Tâm, Hai Mạnh, Ba Thứ, Năm Thanh, Ba Nghi, Tư Rùa, Hai Sở, Mười Lợi, Hai Cầm. Ông Năm Hi được chọn làm lãnh đạo trại, dưới trướng là gồm 9 thành viên đều là những anh hùng, hảo hán lừng danh một cõi. 

Theo tác giả Lương Văn Lựu, ngoài tài võ nghệ, văn chương hơn đời, Năm Hi còn giỏi về thuật số, chiêm tinh. Với những thành tích trên, Năm Hi được tín nhiệm ngồi ghế đầu lĩnh Lâm Trung Trại. Dưới trướng của ông có Ba Hầu, nổi tiếng can trường vì căm phẫn sự áp bức của thực dân Pháp đã từ giã gia đình, từ chức Hương hào, gia nhập trại Lâm Trung bằng câu nói bất hủ: "Ta sinh vi tướng, tử vi thần". 

Một nhân vật khác được ví như Võ Tòng của Lâm Trung Trại là Tư Hổ. Người này được ghi nhận là một tay kiếm cung bậc nhất thời bấy giờ. Được biết, Tư Hổ chính là đệ tử trân truyền của Võ sư Chung, một đạo sĩ được dân chúng suy tôn là Phật sống trên núi Gò Mọi. Người xưa còn truyền lại sự kiện khiến ai cũng phải thán phục. Ngày ấy, một mình Tư Hổ vượt tường lẻn vào nhà làng Tân Trạch (nơi lính Pháp giam giữ thanh niên Biên Hòa làm lính đánh thuê trong thế chiến thứ 2) kết liễu tên Việt gian khét tiếng với tuyệt kỹ Tỏa hầu cầm nã thủ (một tuyệt kỹ võ công dùng 3 ngón tay bóp đứt cuống họng đối thủ), giải thoát nhiều thanh niên bị giam hãm. 

Những ám hiệu bí mật 


Trong sự bố ráp nghiêm ngặt của thực dân Pháp, Lâm Trung Trại phải duy trì hoạt động bí mật bằng hệ thống ám hiệu, mật khẩu khác nhau, chủ yếu theo cách của Thiên Địa hội trước kia. Đó là thông qua hệ thống khẩu hiệu bằng thể ca dao. Các mật khẩu này chỉ được phổ biến trong nội bộ thành viên trại. 

Ngoài ra, để tiếp xúc với các thành viên của trại ẩn thân trong làng, ấp, họ còn dùng mật hiệu là cây dù vải cán có hình móc câu. Đây là vật bất ly thân đối với người đàn ông thời bấy giờ. Chính sự phổ biến của những mật khẩu trên đã đánh lạc hướng, qua mặt được bọn tay sai, giặc cướp nước. "Khách đến nhà tùy cách móc dù trên cánh cửa mà chủ nhà nhận ra "đồng chí" và biết rõ ý hướng của mỗi người", tài liệu của Lương Văn Lựu có nhắc đến vấn đề này. 

Theo đó, nếu chiếc dù được móc bên trái cửa sẽ báo hiệu khách chính là thành viên của trại. Chiếc dù được móc bên phải so với cửa chính cũng là mật hiệu cho biết khách đang có việc cơ mật cần bàn, báo hiệu chủ nhà phải nhanh chuẩn bị địa điểm, thời gian để họp bàn. Hay móc cán dù xoay trở ra ngoài cửa, báo hiệu khách chỉ ghé qua và không có việc cơ mật. Ngược lại, nếu cán dù được quay móc câu vào trong nhà, báo hiệu khách cần lưu lại nhà hoạt động lâu dài. Gia chủ cần đảm bảo mọi mặt từ an ninh đến việc tổ chức liên lạc, hoạt động bí mật trong địa phương. 

Ngoài ra, cách hóa trang cũng là mật hiệu quen thuộc của các thành viên. Nếu các thành viên xắn quần ống thấp ống cao tức là giặc đã phát hiện căn cứ. Chúng chuẩn bị bố ráp, căn cứ cần phải nhanh chóng di chuyển. Việc phơi, treo đồ, khăn, vải có màu đỏ trước nhà cũng được xem như dấu hiệu của việc trong khu vực hoạt động sắp có giặc hành quân, có tay sai giặc ẩn mình... 

Theo lời kể của nhiều bậc cao niên tại đây, Lâm Trung Trại còn sử dụng nhiều hệ thống ám, mật hiệu, mật mã khác nữa. Nhưng vì điều kiện sử dụng bí mật nên chỉ những người quan trọng mới được biết. Hơn nữa thời gian quá lâu nên những mật hiệu kia gần như đã không còn ai nhớ. Hiện chỉ còn vài người nhớ được ít mật hiệu dưới dạng những bài ca dao, vè như: "Quần xắn ống thấp ống cao. Bộ đi vội vã, có tàu của Tây" hay "Dù máng bên tả - Đảng viên. Đi việc cơ mật nói riêng chủ nhà",... 

Theo lời kể của người cao tuổi thì lúc mới thành lập, vũ khí trong trại hết sức thô sơ, lạc hậu. Họ chủ yếu sử dụng các loại đao kiếm, cung tên, giáo mác. Về sau, theo chủ trương hiện đại hóa vũ khí của đầu lĩnh Năm Hi, trại cũng trang bị được một số súng, thậm chí có những loại súng hiện đại từ tay thực dân Pháp. 

Cụ Huỳnh Hoàng Tín, 78 tuổi ngụ phường Quang Vinh, TP. Biên Hòa kể: "Tôi nghe những người đi trước kể rằng để có súng tốt, các thành viên trong Lâm Trung Trại đã trà trộn vào dân ấp, mở quán nước, quán chè, quán cháo rồi cho những cô gái đẹp đứng bán. Đó chính là mỹ nhân kế của trại. Phần lớn số súng của trại đều được trại đoạt lấy khi các cô gái tri hô trước sự "háo sắc" của bọn giặc. Số khác, Lâm Trung Trại tìm cách lén mua lại từ kho vũ khí của giặc qua những tên quản kho háo sắc, háo vàng". 

Được tôn vinh là những anh hùng, hào kiệt, mang trên vai trọng trách cứu nước, tổ chức Lâm Trung Trại được người dân nhiệt tình ủng hộ. Không bao lâu sau, số thành viên trong trại nhanh chóng tăng vọt. Số người về tụ nghĩa không ngừng nhân rộng. Từ đây, Lâm Trung Trại bắt đầu định hướng cho mình trên con đường cứu nước còn quá nhiều chông gai. 

"Lò luyện"tinh thần yêu nước 


Vì là nơi tụ nghĩa của những hào kiệt có khí phách và tinh thông võ nghệ với mục đích thoát khỏi xiềng xích nô lệ, Lâm Trung Trại từng được người dân xứ Biên Hòa xưa xem như Lương Sơn Bạc của đất Đồng Nai. Dẫu đấu tranh một cách tự giác, tự phát bằng những trang bị thô sơ, Lâm Trung Trại cũng là nơi vực dậy tinh thần quật cường, lòng yêu nước, kiên quyết đấu tranh đòi quyền tự do của người dân Đồng Nai. 

Hà Nguyễn - Ngọc Lài 

Những trận đánh bi hùng của các hảo hán Lâm Trung Trại

Phần này trên Người đưa tin chưa được tìm thấy

Giây phút cuối và nấm mồ chung của 9 vị anh hùng

Trước âm mưu thâm hiểm của giặc và bè lũ tay sai bán nước, những anh hùng Lâm Trung Trại một phút sa chân đã rơi vào tay giặc. Chúng giết 9 vị anh hùng rồi chôn chung họ trong một huyệt lớn tại gốc cây Gõ Cụt nơi Dốc Sỏi.


Anh hùng thất thế 


Thất bại trước mục tiêu tấn công thành Sơn Đá, Lâm Trung trại bị thực dân Pháp bố ráp, vây bắt, truy kích không ngừng. Mục tiêu của bọn chúng là muốn một mẻ bắt sạch "những con cá to" trong Lâm Trung Trại để làm gương cho những cá nhân, tổ chức yêu nước người Việt. 

Trước tình hình nguy cấp, Lâm Trung Trại đã quyết định tạm giải tán để đảm bảo sự an toàn cho các thành viên. Theo đó, Năm Hi chủ trương cho nghĩa quân tiêu hủy hết vũ khí, đạn dược để các thành viên ngụy trang thành người tha hương đến chốn này. Hơn nữa, Năm Hi làm vậy để tránh việc số vũ khí trên lọt vào tay giặc khi căn cứ Gò Mọi thất thủ. Lợi dụng lúc nửa đêm, nghĩa quân bí mật vận chuyển số vũ khí trên đổ hết xuống lòng sông Đồng Nai đỏ ngầu phù sa. Vị trí đổ số vũ khí trên cũng được giữ bí mật tuyệt đối. Sau lần tụ họp cuối cùng đó, những đầu lĩnh của Lâm Trung Trại chia tay nhau, tiêu tán mỗi người một ngả. 


Khu vực Dốc Sỏi, nơi diễn ra buổi hành quyết 9 anh hùng Lâm Trung Trại. 


Để che mắt giặc, những anh hùng này ngụy trang với nhiều nghề khác nhau. Tuy nhiên, trước sự truy nã tàn khốc cùng những âm mưu thâm độc và sự chỉ điểm của bè lũ tay sai, lần lượt các anh hùng đều rơi vào tay giặc. Trong đó, 8 vị đứng đầu Lâm Trung Trại bị giặc bắt bao gồm: Năm Hi, Hai Lựu, Lào Lẹt, Hai Sở, Ba Vạn, Bảy Phát, Hai Danh, Ba Hầu. Cuối tháng 3 năm đó, các thành viên trên và hai anh em được mệnh danh là "song hùng" Mười Tiết, Mười Sót bị đưa ra trước tòa Áo Đỏ (Đại hình của Pháp) với tội danh "phiến loạn, cướp của, giết người". 

Phiên tòa diễn ra một cách chóng vánh. Tất cả các anh hùng nằm trong nhóm lãnh đạo Lâm Trung Trại đều bị kết án tử hình. Năm Hi, Ba Hầu, Hai Lựu, Hai Sở, Lào Lẹt, Bảy Phát, Bếp Đầy, Mười Tiết, Mười Sót nằm trong danh sách bị xử tội chết. Còn lãnh án 20 năm khổ sai, lưu đày Côn Đảo có Tư Hổ, Ba Vạn. Bản án được ấn định và thi hành một cách nhanh chóng và gấp rút. Sau khi nghe tin dữ, người dân, tàn quân của Lâm Trung Trại cũng tổ chức nhiều cuộc phản đối nhưng đều bị bọn cướp nước dìm trong máu lửa. 

Vào một buổi xế chiều, người dân xóm Dốc Sỏi (thôn Bình Thành nay thuộc phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa, Đồng Nai) thấy viên quan Pháp dẫn đầu đoàn lính vác súng trên vai và mấy người mặc áo xanh khiêng nhiều cột gỗ, cuốc xẻng kéo đến vùng Gò Mô (trước cổng sân bay Biên Hòa ngày nay). 

Tại đây, tên vệ úy đứng lên gò đất cao quan sát như đang tìm địa thế. Ít phút sau, tên này lệnh cho đám lính bắt phạm nhân phát quang bụi rậm thành một khoảng đất trống hơn 250m2. Sau khi đám tội án hoàn thành công việc, đám lính mã tà lại gí họng súng vào lưng, lệnh cho họ đào chín lỗ sâu trồng chín cây cột gỗ dựng thành hai hàng ngang. 

Sự việc trên khiến không ít người dân tò mò xúm quanh. Nhiều người bàn tán rằng, Pháp lại cho dựng chốt, đóng quân nơi đây. Người thì cho rằng rất có thể giặc mở đường đi Bến Cá (Bình Dương) và đang đánh dấu làm mốc. Tuy nhiên, không một ai trong số họ biết được rằng, 9 cây cột kia chính là nơi kết liễu 9 vị anh hùng Lâm Trung Trại mà bấy lâu họ ngưỡng mộ. 

Những lời trăng trối oai hùng 

Sáng hôm sau, trời vừa hửng sáng, dân trong vùng bị đánh thức bởi tiếng xe ô tô gầm rú tại khu vực Gò Mô. Dân trong vùng hiếu kỳ pha chút lo lắng khi thấy cảnh lính nai nịt gọn gàng, tay bồng súng trước ngực, đứng thành hai hàng thẳng tắp. Sau ít phút, một chiếc xe được bọc kín bằng vải dù xanh đỗ lại. Từ cửa sau, người dân trông thấy rõ mồn một 9 tội nhân mặt mày hốc hác, xanh xao, tay bị còng, chân đeo xiềng xích xuống xe. Bước khỏi xe, 9 tội nhân bị đám lính ép đi theo một hàng thẳng. 

Theo lời kể của nhiều bậc lão niên thì sau khi lính đã sắp tội phạm đâu vào đấy thì xuất hiện ông Đỗ Hữu Trí, giữ chức Biện lý và một cha đạo. Đến lúc này, người dân nơi Dốc Sỏi mới nhận ra đây là cuộc xử bắn những anh hùng Lâm Trung Trại. Tin tức nhanh chóng lan rộng, người dân kéo đến ngày một đông. Tuy nhiên, họ bị đám lính đẩy ra xa pháp trường. 


Khu vực Gò Mô. 


Sau đó, 9 tội nhân bị giải đến 9 cột gỗ đã dựng sẵn, có đám lính giương súng đứng trấn giữ bốn bên. Ít phút sau, Đỗ Hữu Trí bước lên phía trước đọc bản án cho 9 tội nhân. Vừa dứt lời, bọn lính trói quặt tay 9 vị anh hùng Lâm Trung Trại ra sau cột gỗ. "Lúc bấy giờ, trời đã sáng hẳn. Sắc diện các tử tội đều thấy biến đổi, trông như đã mất thần. Duy chỉ có Ba Hầu, Hai Sở vẫn giữ được nét thản nhiên với gương mặt còn tươi tỉnh", trong tác phẩm Biên Hùng lược sử của Lương Văn Lựu có ghi lại như vậy. 

Sau đó, viên quan Pháp cho 20 lính đứng đối mặt với tử tội cách xa hơn 20m. Như một ân huệ cuối, Biện lý Đỗ Hữu Trí cho phép tử tội được nói lời trăng trối với người thân. Và chính giây phút ấy đã đi vào lịch sử Biên Hòa khi tinh thần, khí tiết hùng dũng của những bậc anh hùng đã hòa vào hồn thiêng của xứ này và được lưu truyền mãi mãi. Được biết, ông Ba Hầu là người đầu tiên lên tiếng. 

Theo Biên Hòa sử lược, ông Ba Hầu hỏi xem có vợ con của mình có ở đây không. Sau đó, vị anh hùng này hùng dũng nói to: "Ta sinh ra làm tướng, chết làm thần. Bà con ở lại mạnh giỏi". Tiếp sau đó, Hai Sở hiên ngang thách thức: "Cứ bắn ta đi. Sở này không sợ đâu. Cái chết, ta thị như quy tân gia (xem như được về nhà mới)". 

Lúc đó, 7 người còn lại mặt sắc lạnh nhưng họ không nói lời nào. Tuy nhiên, đứng trước cái chết, những con người này không lộ vẻ hối tiếc, khiếp hãi. Sau đó, lính đem vải đen đến bịt mắt từng phạm nhân và trở về vị trí. Viên quan người Pháp cuối cùng cũng cất giọng hạ lệnh, 20 lính cầm súng đồng loạt quỳ một chân giữ tư thế chuẩn bị bóp cò. Khẩu lệnh thứ hai nghe lạnh lùng, toán lính đồng loạt nâng súng lên ngang mắt, ngắm. Tiếng động phát ra từ thao tác trên khiến người xem nổi da gà. Nhiều người đã ngất lịm, tiếng khóc, tiếng kêu gào phát ra từ đám đông người dân đến xem. Lệnh thứ ba được viên quan hai thao tác bằng tay. Khi tay hắn hạ xuống, một loạt súng khô khốc vang lên. 4 vị anh hùng gục đầu xuống, không một tiếng kêu. 

Tiếng súng đồng loạt nổ, xé đi sự tĩnh lặng của buổi sớm mai. Chưa dừng lại, cánh tay của viên quan lại hạ xuống, một loạt súng lại cất lên, 5 vị anh hùng lại gục xuống, máu tươi từ ngực tuôn chảy nhuộm đỏ áo tù rồi nhỏ thành giọt trên mặt đất. Tiếng than khóc của người dân lại càng thảm thiết thương tâm. Cuối cùng, viên trung úy Pháp cầm súng lục đến từng tử tù giờ chỉ còn là những cái xác đỏ máu, bắn những viên đạn ân huệ. Xong đâu đấy, quan, lính ra về để lại những tội nhân khác cùng đám lính lo việc chôn xác các anh hùng thất trận. 

Cũng tại đây, sau khi hồn thiêng đã hòa quyện cùng sông núi, những anh hùng một thời được nằm chung một nấm mồ. Trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, giờ đây, chùa Cô Hồn gần như là nơi duy nhất lưu giữ những thiên sử bi hùng về 9 người anh hùng yêu nước này. 

Câu nói bất hủ của ông Biện lý 


Theo ghi nhận của Biên Hòa lược sử, ông Biện lý Đỗ Hữu Tri trên đường ra về sau vụ hành quyết đẫm máu 9 anh hùng Lâm Trung Trại bất ngờ gặp một toán phụ nữ tỏ yá̊ cười nhạo người dân địa phương khóc than 9 anh hùng, ông Biện lý nói thẳng: "Người nước Nam bị bắn không biết xót thương lại còn đi coi và cười nhạo". Câu nói trên được các bô lão đánh giá là bất hủ vì đã làm thức tỉnh biết bao con tim đã lầm lạc trước đó.


Hà Nguyễn - Ngọc Lài 


Ngôi mộ chung của 9 hảo hán vẫn còn là bí ẩn

Người dân muốn được đưa thi hài các hảo hán Lâm Trung Trại về mai táng. Tuy nhiên, họ đã bị họng súng của giặc ngăn lại. Cuối cùng, một nấm mồ chung chôn 9 nghĩa sĩ được dựng nên. Trải qua bao năm, mộ xưa nay đã mất tích. Những anh hùng chỉ còn trong sử sách.

Hồn thiêng gửi nơi Dốc Sỏi 

Sau khi xử tử 9 phạm nhân bị khép tội cướp của giết người, đám lính Pháp lên xe ra về. Họ bỏ lại 9 cái xác đang gục rũ trên những cọc gỗ. Đám lính quèn và các tội nhân khác ở lại để thu dọn trường bắn. Chứng kiến sự hi sinh anh dũng của những anh hùng một đời theo lý tưởng cứu nước, người dân Dốc Sỏi quỳ gối tiễn biệt họ. Sau ít phút chuẩn bị, đám tội nhân được lệnh tháo dây trói cho 9 anh hùng Lâm Trung Trại và tiến hành công việc mai táng. 

Các bô lão sống quanh chùa Cô Hồn (gần khu vực Dốc Sỏi) cho biết: "Cha ông chúng tôi kể lại rằng, sau khi chứng kiến lũ giặc bắn những nghĩa sĩ, người dân đã lao ra đòi khiêng xác các hảo hán về mai táng nhưng không được. Trước sự hung hăng của đám lính, người dân cũng không dám làm căng. Họ sợ bị khép tội tòng phạm với tử tù nên đành đứng nhìn giặc khiêng xác các anh hùng đi chôn". 

Chùa Cô Hồn, nơi lưu dấu hồn thiêng 9 anh hùng Lâm Trung Trại


Thời gian trôi đi, trải qua nhiều biến cố lịch sử, khu vực chôn cất những nghĩa sĩ dần phai nhòa trong ký ức người dân nơi đây. Hiện tại, khi được hỏi về 9 anh hùng Lâm Trung Trại, rất ít người biết đến. Vì thế, những thông tin về nơi chôn cất của các nghĩa sĩ lại càng mờ mịt hơn. Ngoài một số bô lão cao tuổi thường xuyên làm công quả tại chùa Cô Hồn, người dân bản xứ không hề nghe nói về vụ xử bắn cũng như nơi an nghỉ của các anh hùng Lâm Trung Trại. 

Tìm hiểu tại chùa Cô Hồn (phường Quang Vinh, TP. Biên Hòa, Đồng Nai), chúng tôi được biết, khu vực chùa không phải là nơi chôn cất các anh hùng Lâm Trung Trại. Được biết, chùa Cô Hồn được xây dựng khá lâu sau vụ hành quyết các hảo hán ngày nào. Những bô lão làm công quả tại chùa khẳng định: Vì thương tiếc và cảm phục tinh thần đấu tranh của những anh hùng nghĩa sĩ, người dân Dốc Sỏi đã dựng một am lá để hương hỏa cho họ. 

Tuy nhiên, vị trí chính xác nơi chôn cất 9 anh hùng giờ rất khó xác định. Bởi đất đai và phong cảnh ở đây đã đổi thay nhiều so với trước đây. Tuy nhiên, người xưa cũng như các giai thoại kể lại rằng, 9 hảo hán bị xử bắn rồi được chôn chung tại gốc cây Gõ "cụt" thuộc khu vực sân bay Biên Hòa. 

Trong cuốn Biên Hòa lược sử ký, tác giả Lương Văn Lựu cũng khẳng định cây Gõ "cụt" chính là nơi an nghỉ của 9 vị anh hùng. Cũng theo tài liệu trên, phía tây của Dốc Sỏi có một cây Gõ cổ thụ vì bị sét đánh gẫy ngọn nên được người dân trong vùng gọi là cây Gõ "cụt". Cũng từ sự sống sót kỳ lạ sau khi bị sét phạt ngang, người dân cho rằng, đây là loài cây thiêng. Vì coi là nó linh thiêng nên thường ngày ít ai dám bén mảng đến gần gốc cây cổ thụ này. Chính nơi đây được các tội nhân có nhiệm vụ lo hậu sự chọn làm nhà chung cho các anh hùng Lâm Trung Trại. 

Cảm thương trước sự ra đi của những anh hùng thất thế, các tội nhân khác xin giặc cho mỗi người anh em Lâm Trung Trại nằm một huyệt riêng biệt. Tuy nhiên, đám lính Pháp không đồng ý. Cuối cùng, họ đành đào một hầm sâu làm mồ chung cho 9 thi thể anh hùng. Trong khi đó, như một nỗ lực cuối cùng, người dân địa phương gom góp tiền mua 9 manh chiếu mới thay cho áo quan để các vị anh hùng an nghỉ. Cuối cùng, không nhang khói, không trống nhạc tiễn đưa, 9 hảo hán nằm chung một ngôi mộ trong tiếng khóc than của người dân. 

Vẫn chưa tìm thấy mộ của các anh hùng 

Dưới sự cấm đoán của giặc, người dân yêu nước không thể hương khói cho 9 vị anh hùng thất thế. Tuy nhiên, sau khi khóc tiễn đưa họ về với đất mẹ, nửa đêm, dân địa phương bí mật sắm lễ cúng đến thăm viếng. Được biết, các vị anh hùng cũng được người dân và các thành viên khác của trại bí mật để tang trong một thời gian dài sau đó. 

Từ ngày định mệnh trên, người dân tưởng nhớ các vị anh hùng Lâm Trung Trại một cách bí mật. Ban đầu, việc nhang khói, tưởng niệm, cúng bái chỉ được tiến hành vào ban đêm. Về sau, nhận thấy thực dân Pháp đã quên đi các anh hùng từng khiến chúng điên đảo, dân địa phương quyết định công khai hương khói. Theo đó, dân địa phương cho dựng một am nhỏ tại gốc cây đa lớn ở đầu Dốc Sỏi để thờ Phật và cầu siêu cho những người đã khuất. Vì mục đích xây dựng để hương khói những người đã khuất, am cỏ trên được dân địa phương quen gọi là chùa Cô Hồn. Từ đó, nơi đây được xem là nơi thờ tự, lưu dấu hồn thiêng của 9 vị anh hùng Lâm Trung Trại. 

Bảng thông tin chùa Bửu Hưng


Trong cuốn Biên Hòa sử lược của Lương Văn Lựu có ghi, chùa Cô Hồn trải qua nhiều biến cố và gắn liền với những sự kiện lịch sử mang tính trọng đại của đia phương. Chùa được xây dựng vào năm 1918 ở ngã ba Dốc Sỏi, xóm Bình Thành xưa. Sau đó hai năm, Sở hỏa xa (thời Pháp thuộc) mở đường ray qua vị trí chùa để chở đá ở núi Lò Gạch về xây dựng đường. Chính vì vậy, chùa buộc phải dời về phía Tây Nam so với vị trí ban đầu. Trong lần di dời địa điểm này, chùa được xây dựng khang trang hơn và một vị tu sĩ đã đến nhận chức trụ trì. Từ đây, chùa Cô Hồn được vị trụ trì đổi lại hiệu là Bửu Hưng Tự. 

Thông tin về chùa Cô Hồn, người dân phường Quang Vinh cũng như những cá nhân thường xuyên công quả tại chùa nhận định: "Chùa đúng là nơi thờ tự những anh hùng Lâm Trung Trại. Tuy nhiên, chúng tôi chưa nghe ai nói rằng đây là nấm mồ chung của 9 vị anh hùng bị hành quyết". Được biết, từ lâu, người dân địa phương đã xem chùa như nơi lưu giữ hồn thiêng và những ký ức về những anh hùng Lâm Trung Trại nổi tiếng với vụ phá Khám Biên Hòa gần 1 thế kỷ trước. 

Khu vực được sử sách nhận định là Dốc Sỏi - pháp trường thực hiện buổi hành quyết 9 người đứng đầu Lâm Trung Trại giờ đã trở thành đại lộ Nguyễn Ái Quốc (phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa). Ngược với những miêu tả đầy hoang sơ của tác giả Lương Văn Lựu, ngày nay, Dốc Sỏi là những công trình kiến trúc, khu giải trí, kinh doanh hiện đại. Thời gian trôi đi, quá trình hiện đại hóa gần như đã đổi thay con đường Dốc Sỏi chạy qua pháp trường năm nào. Vị trí gốc cây Gõ "cụt" cổ thụ, nơi được nhận định là nấm mồ chung của các vị anh hùng thất thế cũng không còn dấu tích. 

Theo đó, những đầu mối dẫn chúng tôi trên con đường tìm kiếm hình hài của những anh hùng "Lương Sơn Bạc" đất Biên Hòa xưa đều hướng về chùa Cô Hồn. Tại đây, dẫu đất xưa đổi dời nhưng hồn thiêng, dũng khí và sự ra đi của những anh hùng Lâm Trung Trại trong buổi đầu đấu tranh cứu nước vẫn như còn vang danh mãi mãi. 

Di tích lịch sử cách mạng 

Bửu Hưng Tự không chỉ là nơi ghi dấu buổi hành quyết đẫm máu đối với các anh hùng Lâm Trung Trại mà còn là một di tích lịch sử cách mạng. Theo đó, chùa cũng là nơi diễn ra Hội nghị cán bộ Đảng ở Biên Hòa vào tháng 6/1945 do đồng chí Hoàng Minh Châu trụ trì. Đây là hội nghị quyết định những vấn đề quan trọng về chủ trương, chuẩn bị cho nhân dân Biên Hòa nổi dậy giành chính quyền trong cách mạng Tháng 8/1945. Chùa được UBND tỉnh Đồng Nai xếp hạng di tích cách mạng theo quyết định số 62/QĐ UBT ngày 16/2/1979. 

Hà Nguyễn - Ngọc Lài

Bí ẩn 120 bộ xương cổ khổng lồ ở Bình Thuận

đăng 17:58, 11 thg 12, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cá voi được tôn sùng thành vật thiêng 

Vạn Phước Lộc (Di tích lịch sử Quốc gia, thuộc phường Phước Lộc, thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận) được hình thành từ lâu đời do các thế hệ ngư dân đầu tiên đến thị xã Lagi xây dựng cùng thời gian với sự lập làng, mở ấp của huyện Hàm Tân trước đây. 

Theo quan niệm của người Việt bất cứ ai xa quê hương, di cư đến nơi khác lập nghiệp, đi đến đâu thì phải lập làng, xây chùa ở mảnh đất đó. Còn đối với người đi biển cứ định cư ở đâu thì các lăng, vạn cũng mọc lên. 

Điều đó thể hiện được niềm tin, tín ngưỡng tạo thành một nét văn hóa đặc sắc của mỗi vùng miền. 

Vạn Phước Lộc trải qua bao thăng trầm và biến cố của lịch sử đã được di dời và phục dựng nhiều lần làm cho kiến trúc cũng thay đổi theo. Tuy nhiên, từ xưa đến nay vật thờ phụng vẫn được ngư dân vùng biển Lagi giữ nguyên và bảo quản đó là những bộ xương cá voi và một số loài cá lạ mà người dân cho rằng đó là những hiện vật thiêng của biển khơi. 

Tại Vạn Phước Lộc nơi thờ tự các sưu tập xương cốt cá voi được đặt ở trung tâm của Dinh. Tất cả được bảo quản bằng tủ kính có nhiều ngăn. Bộ xương cá voi lớn nhất được đặt ở ngăn kính trên cùng, các ngăn dưới là nhiều bộ xương trung bình và nhỏ được xếp chồng lên nhau. 

Tuy nhiên, do diện tích bảo quản chật hẹp nên không ai biết đích xác có bao nhiêu bộ xương cá voi. Vì lí do kiêng cữ, cũng không ai được đụng chạm đến xương cá voi nên đến thời điểm này Ban quản lí Dinh Vạn Phước Lộc cũng như các ngư dân không thể biết tổng số xương cá voi có bao nhiêu bộ. 

Có người nói khoảng 200 bộ, người lại bảo khoảng từ 150 đến 170 bộ... Căn cứ vào số lượng trí nhớ chỉ tạm tính với con số khoảng 120 bộ. Nhiều bộ xương cá voi ở Vạn Phước Lộc được lưu giữ 200 năm nay. Số bộ xương cá voi này được con người lưu giữ chứ không phải do khảo cổ khai quật. 

Hơn 120 bộ xương cá voi được lưu giữ và bảo quản tại Dinh Vạn Phước Lộc 


Ông Nguyễn Văn Mười (65 tuổi, người canh giữ Dinh Vạn Phước Lộc) cho biết: "Bộ xương cá voi ở Vạn Phước Lộc có niên đại tương đối sớm thuộc loại cá lớn nhất được con người lưu giữ chứ không phải do khảo cổ khai quật. 

Đối với những ngư dân đi biển họ xem cá voi là con vật thiêng. Từ đó trong nhân dân hình thành nên những câu chuyện về cá voi, có người thêu dệt thành nhiều câu chuyện huyền bí, huyễn hoặc thể hiện niềm tin tuyệt đối vào loài cá này. 

Trên thực tế, cá voi một con vật có ích được người dân nhân hóa thành một đấng cứu nhân độ thế, một con vật hiền thiêng và giúp người đi biển vượt qua tai nạn. Vì thế cá voi được người dân tôn sùng thành "ông lớn" (hay còn gọi là cá ông) không chỉ lúc còn sống mà ngay cả khi chết". 

Quá trình nhận thức về "ông lớn" mang tính thần thoại hóa qua nhiều thời kì. Ngư dân dù đánh bắt gần bờ hay xa bờ hễ nhìn thấy "ông lớn" chết phải có nghĩa vụ mang ông về làng để mọi người cùng chịu tang. Vạn chài nào được cá thần ghé đến phải làm lễ tống táng đầy đủ thủ tục ở nghĩa trang như một người thân trong gia đình. 

Đối với cá voi lớn, ngư dân quy định chôn 8 năm, con nhỏ là 4 năm. Sau khoảng thời gian đó, ngư dân sẽ đợi đến ngày 16/6 (âm lịch) mới được quật mộ bốc xương cá voi đem về Dinh Vạn Phước Lộc để bảo quản và thờ tự. 

Cá voi cũng có nghĩa địa 

Theo sự chỉ dẫn của ông Nguyễn Văn Mười và người dân chúng tôi xuất phát từ Dinh Vạn Phước Lộc đi men theo con đường dọc bờ biển khoảng 4km rẽ vào bãi cát bồi là đến được với nghĩa địa của "ông lớn" đang yên nghỉ sau khi đã hoàn thành sứ mệnh cứu nạn cho những ngư dân đi biển. 

Khu nghĩa địa cá Ông hiện ra trước mắt chúng tôi là một bãi cát trắng hướng chếch ra biển, nằm khuất sau những rặng phi lao đang vươn ra trước gió. 

Nghĩa địa cá voi là chốn linh thiêng nên trừ những ngày tổ chức lễ nghinh ông và cải táng thì hiếm khi có người đặt chân đến. 

Ngoài những ngôi mộ đã được bốc, trong khuôn viên nghĩa địa chỉ còn vài nấm mồ to quá khổ nằm im lìm giữa bãi đất hoang vắng. 

Theo ông Nguyễn Minh Mười đó là những ngôi mộ của ông lớn khi lụy vào bờ và bị chết giữa biển khơi đã được người dân địa phương mang về an táng tại nghĩa địa. Mỗi một ngôi mộ được đánh dấu bằng một bát nhang và một đĩa đựng trái cây. 

Ông Nguyễn Văn Mười cho biết thêm: "Hầu hết các lão ngư có tuổi ở Lagi đều tẩm liệm và cải táng cho rất nhiều cá ông. Dân ở đây xem cá ông như là một vị thần biển được người dân tôn sùng và biết ơn. 

Theo phong tục được truyền lại, mỗi khi ai đó phát hiện cá ông trôi dạt từ biển vào là phải "đi tay vải đội khăn điều" chịu tang trong ngày an táng. 

Người dân vùng biển tin rằng, năm nào cá ông dạt vào thì năm đó vùng biển mưa thuận gió hòa, ngư dân ra khơi xa làm ăn thuận lợi, không có tai nạn biển và bị bão biển gây thiệt hại tài sản và người. 

Vì thế, cứ có cá ông "lụy" vào, người dân nơi này phải có trách nhiệm lại chôn cất rất trang nghiêm. Những năm kháng chiến chống Pháp, đánh Mỹ, nhiều "ông lớn" nặng hàng chục tấn liên tiếp lụy vào bờ. 

Có lần, cá ông dạt vào bờ do trọng lượng quá lớn, thân hình quá cỡ nên đã bị mắc cạn. Người dân phải đan rọ tre bao lại cả năm trời cho tiêu tan thịt, sau đó mới đem xương cá ông vào nghĩa trang cải táng". 

Đồng nghĩa với việc cá ông lụy vào bờ là mỗi lần ngư dân lại mở hội. Trong buổi lễ tiễn đưa ông lớn ngoài chiêng trống, không thể thiếu đội hát múa bả trạo và điệu hò đưa linh dập dìu như nhịp sóng tiễn đưa ông lớn về nơi an nghỉ làm khắc khoải lòng người. 

Hiện nay, lượng cá ông lụy vào bờ không nhiều như trước nữa, nghi thức an táng cũng được cách điệu hơn nên giảm bớt sự rình rang. 

Tuy nhiên vào ngày 16/6 (âm lịch), rằm tháng bảy, rằm tháng giêng lễ hội cầu ngư diễn ra trên nghĩa địa cải táng cá ông vẫn được người dân rất xem trọng. Lễ cầu ngư được xem là ngày hội của làng, là di sản của ngư dân đi biển. 

Một con cá voi thường nặng từ vài trăm kí đến hàng chục tấn. Ai có công phát hiện cá voi được xem là người may mắn. Người đó phải có nhiệm vụ về báo lại với người đứng đầu làng, xã và người dân trong làng để mọi người chuẩn bị thủ tục mai táng. 

Nếu là cá ông nhỏ thì chỉ cần đến một nhóm ngư dân cùng đưa ông vào bờ để lo hậu sự. Đối với cá ông hàng chục tấn phải huy động đủ các làng, ấp trong xã làm thủ tục thông báo rộng rãi để mọi người cùng tiễn đưa cá ông về nơi an nghỉ. 

Những lão ngư ở làng chài Phước Hội chia sẻ, một con cá ông bị dạt vào bờ chưa chết hẳn, người dân phải dìu cá ra khỏi mép sông để ông còn sức thì có thể bơi ra biển sống tiếp, nếu ông đuối sức thì dìu hẳn vào bờ. 

Các ngư dân sẽ đào một hố dẫn nước biển vào để cá ông sống cho đến khi nào cá tắt thở hẳn mới đưa vào bờ làm lễ tang. Cho đến thời điểm này, các lão ngư phủ cũng như người dân đi biển vẫn chưa thể giải thích được "Vì sao cá ông thường lụy vào những nơi có lăng ông và nghĩa địa cá ông?".

Vào năm 2007, ngư dân Nguyễn Trí Dũng (56 tuổi) đang ra khơi thì gặp cá voi nặng 15 tấn dài 13,5m đã trút hơi thở cuối cùng đang trôi lênh đênh gần thuyền cách khoảng 5m. 

Nhìn thấy cá voi, ông Dũng không màng tới việc đánh cá nữa liền tìm mọi cách đưa "ông lớn" lên thuyền để đưa về vào bờ làm lễ an táng. 

Tuy nhiên, do ông lớn quá nặng nên một thuyền ông Dũng không tài nào đưa ông lớn cập bờ. Ông Dũng tức tốc quay vào bờ huy động thêm một thuyền nữa để chở ông lớn. 

Ngay sau khi vào bờ, các ngư dân tiếp tục kêu thêm xe tải có trọng tải hàng chục tấn để đưa ông lớn ra nghĩa trang làm lễ cải táng. Hiện nay, ông lớn đã cải táng được 5 năm. Đến năm 2015, ban quản lí Dinh Vạn Phước Lộc sẽ tổ chức bốc xương ông lớn vào Dinh bảo quản. 

Theo Đời sống & Pháp luật

Ngọn núi thiêng gắn với huyền tích chữa bệnh ở Bình Thuận

đăng 22:58, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Núi Tà Cú nổi tiếng với huyền tích chữa bệnh cho hoàng thái hậu và bức tượng Phật nằm lập kỷ lục châu Á. 

Đây là ngọn núi thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, được biết đến như một thắng cảnh quốc gia với hệ thực vật phong phú. Núi cũng là chốn linh thiêng đối với khách mộ đạo.

Không xuất sơn vẫn có thể chữa bệnh cho hoàng thái hậu

Năm 1872, nhà sư Trần Hữu Đức (1812-1887) lên núi Tà Cú lập tịnh thất tọa thiền trong một hang đá. Năm Tự Đức thứ 33, hoàng thái hậu bệnh nặng, nhà sư đã trì chú và kê toa thuốc gửi sứ mang về chữa lành bệnh cho hoàng thái hậu. Thay lời cảm tạ, vua Tự Đức đã ban 4 chữ Linh Sơn Trường Thọ cho ngôi chùa trên núi Tà Cú, nơi nhà sư tu tập.

Khi nhà sư viên tịch vào ngày 5/10 Âm lịch năm 1887, ngôi chùa bên dưới Linh Sơn Trường Thọ, gọi là Linh Sơn Long Đoàn (chùa Dưới) được thành lập như một nơi để thờ cúng và ghi nhớ công ơn của người khai sơn.

Mái chùa Linh Sơn Trường Thọ trong không gian mây trời. Ảnh: Instagram 


Tương truyền, khi tọa thiền tại thạch thất (nay gọi là Hang Tổ), nhà sư dùng mạch nước ngầm thông với thạch thất để sinh hoạt hàng ngày, ăn rau rừng và không hề xuất sơn. Chính vì vậy, núi Tà Cú đến nay được xem là ngọn núi thiêng, có nhiều loại thuốc nam quý hiếm, là thắng cảnh của tỉnh Bình Thuận và danh lam thắng cảnh lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Khách thập phương đến đây để tận hưởng không khí trong lành, thanh tịnh của núi rừng, đồng thời, nơi đây cũng là "điểm hẹn" quen thuộc của khách hành hương.

Ngọn núi với tác phẩm điêu khắc tượng Phật nằm lập kỷ lục châu Á

Tọa lạc tở độ cao 649 m trên núi Tà Cú, tượng Phật Thích ca nhập niết bàn dài 49 m, cao 7 m trở thành điểm tham quan, chiêm bái của Phật tử gần xa. Tượng Phật nằm được xây dựng từ năm 1963 bởi điêu khắc gia Trương Đình Ý. Điều đặc biệt, khi thực hiện công trình, điêu khắc gia này đã thọ trai, xuống tóc và không xuống núi đến khi hoàn thành tượng Phật vào năm 1966.

Tượng Phật Thích ca nhập niết bàn an nhiên, thoát tục được xác lập kỷ lục "Tượng Phật nằm trên đỉnh núi dài nhất châu Á" năm 2013. 

(Ghi chú: Đây là hình lấy theo bài gốc trên VnExpress, hình này thực sự không phải là tượng Phật trên núi Tà Cú. Phạm Hoài Nhân)


Tượng Phật Thích ca nằm nghiêng được làm bằng xi măng cốt thép và quét vôi trắng bên ngoài. 49 m chiều dài tượng Phật tượng trưng cho 49 năm từ khi Đức Thích ca thành đạo thuyết pháp độ đời đến khi nhập diệt. Hiện câu hỏi về phương tiện thô sơ, sức người có hạn khi đó làm sao có thể vận chuyển hàng ngàn tấn thép, xi măng để hoàn thành tuyệt tác tượng Phật vẫn còn là điều bí ẩn.

Bên cạnh tượng Phật nằm là đường vào Hang Tổ với quần thể đá nhấp nhô. Hiện nay, trong quần thể đá này, nếu có duyên, du khách có thể tìm được "hòn đá chuông". Gọi như vậy vì khi dùng những viên đá nhỏ gõ vào sẽ phát ra tiếng kêu như tiếng gõ chuông.

Trước khi đến được tượng Phật nằm, khách thập phương có thể viếng tượng Phật Di Lạc được tạc từ đá bên vách núi; tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát trắng toát uy nghi và tượng Di Đà Tam Tôn (A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát).

Bước qua hơn 100 bậc thang dốc thoai thoải phủ rong rêu đến với cụm các tượng Phật, du khách có thể cảm nhận được sự thanh tịnh, bao bụi trần tan biến khi trước mắt là mái chùa Linh Sơn Trường Thọ thấp thoáng; những thảm cây xanh ngút ngàn; mây trôi bàng bạc; tiếng chim hót líu lo và âm thanh của núi thiêng vang vọng...

TTC World – Tà Cú đón khách thập phương đến giỗ tổ đấng khai sơn

Những ngày gần đây, Phật tử gần chùa núi Tà Cú đã cùng nhau sơn lại những tượng Phật để đón khách thập phương đến viếng, cúng bái và tri ân vị tổ sư khai sơn vào dịp giỗ tổ Trần Hữu Đức vào ngày 11/11 (nhằm ngày 5/10 Âm lịch).

Du khách có thể lên chùa viếng Phật bằng cáp treo – một trong các hệ thống cáp treo hiện đại nhất Việt Nam được đưa vào vận hành từ năm 2003.

Núi Tà Cú với không gian nguyên sơ - thắng cảnh tiêu biểu của tỉnh Bình Thuận và cũng là danh lam thắng cảnh lịch sử văn hóa cấp quốc gia. 


Trước khi lên cáp treo viếng chùa và đảnh lễ chư Phật, du khách có thể hòa mình vào không gian rừng núi thanh tịnh, an yên tại khuôn viên TTC World – Tà Cú. Nơi đây có những thảm cỏ xanh mát dưới những tán cây xanh rì; khu vườn hồng hạc và tượng 12 con giáp như những linh vật canh giữ nơi đây; vườn thuốc Nam với nhiều loại cây thuốc chữa bệnh; cây ước nguyện chuyên chở những tâm nguyện của du khách qua những dây băng hồng, đỏ; hoặc đơn giản, du khách có thể đắm chìm vào không gian núi rừng nguyên sơ tại đây.

Đáp ứng nhu cầu hành hương của khách thập phương, TTC World – Tà Cú dành chương trình ưu đãi đặc biệt trong dịp giỗ tổ sư Trần Hữu Đức. Cụ thể, đối với đoàn khách trên 10 người, nếu đặt ăn sẽ có giá vé là 170.000 đồng mỗi người lớn và 100.000 đồng với trẻ em; nếu không đặt ăn, giá vé sẽ là 200.000 đồng với người lớn và 120.000 đồng với trẻ em. Riêng đối với các sư thầy, ni cô sẽ được miễn phí trọn gói 100%. Đặc biệt, từ 14h đến 18h, giá vé sẽ là 200.000 đồng mỗi người lớn cùng với buffet chiều miễn phí.

Kim Ngân

Huyền tích Linh Sơn Thánh Mẫu núi Bà Đen

đăng 01:18, 23 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Núi Bà Đen cao 986 mét so với mực nước biển và được xem là cao nhất Đông Nam bộ. Theo sách “Gia Định Thành Thông Chí”, tên gốc của núi Bà Đen là Bà Dinh. Những bậc kỳ lão địa phương thì cho rằng tên gốc là núi Một. Đến khoảng nửa thế kỷ XVIII mới xuất hiện tên gọi núi Bà Đênh, sau gọi trại dần thành núi Bà Đen. Cũng có người gọi là núi Điện Bà.

Cũng theo các bậc kỳ lão, tên gọi núi gắn liền với những giai thoại ly kỳ của Bà Đen, người được vua Gia Long phong thánh hiệu "Linh Sơn Thánh Mẫu".

Ngày nay, cứ đến dịp rằm tháng giêng (âm lịch) hàng năm, cả triệu lượt khách hành hương khắp nơi tìm về núi Bà Đen để viếng, bái Linh Sơn Thánh Mẫu.

Trèo núi cấm không được kêu… mệt!

Ngày nay, con đường bộ lên núi được đầu tư xây dựng một cầu thang dựng đứng, đi vòng vèo quanh những tảng đá từ chân núi lên đến chùa. Chỉ cần mất 1 giờ để leo đến Điện Bà. Trước năm 1975, khách thập phương muốn lên chùa phải leo trèo qua những tảng đá dưới những tán rừng đầy thú dữ suốt nửa ngày mới đến nơi. Thuở đó, việc đi viếng Bà là cả một chuyến phiêu lưu, mạo hiểm đúng cả nghĩa bóng lần nghĩa đen. Dù vậy, danh tiếng linh thiêng, cứ đến rằm tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, khách thập phương vẫn lũ lượt leo núi viếng Bà.

Một góc chùa ngày thường.


Hồi đó, có một giao ước bất thành văn rằng: Khi leo núi cấm thốt tiếng "mệt". Những đoàn người hì hục leo núi, thỉnh thoảng hỏi nhau: "Mệt không?" Cả đoàn người phải đồng thanh hô lớn: "Khỏe!", mặc dù ai cũng thở ra đằng tai. Tiếng hô "khỏe" lan truyền từ người mới đến chân núi lan dài đến người leo đến gần Điện Bà thành một thứ âm thanh vang dội núi rừng.

Cho đến tận ngày nay giao ước này vẫn tồn tại. Họ tin rằng, đi viếng mà than thở mệt nhọc, sẽ không được Bà ban điều khấn xin, thậm chí còn gặp nguy hiểm khi leo núi?

Bà Hai Đông, 82 tuổi, là cựu giáo viên thời Pháp, cư ngụ ở Tân Trung, ven Tỉnh lộ 793 dưới chân núi, giải thích: "Hồi kháng Pháp, đường lên núi không chỉ cheo leo hiểm trở, tăm tối mà còn đầy cọp, beo, rắn, rết. Người hành hương không dám đi lẻ một mình mà phải kết thành từng đoàn. Hồi còn thiếu nữ, chính tôi từng đi xem xác người bị cọp núi Bà vồ. Muốn đi vía Bà, đoàn người hành hương phải đi từ sáng tinh mơ mới kịp trở về chân núi trước khi trời tối.

Việc hô "khỏe" của các đoàn hành hương có nhiều lợi ích. Thứ nhất, họ tự khích lệ quyết tâm vượt qua cơn mệt nhọc và nỗi sợ hãi để đi đến nơi về thật sớm. Thứ hai, các thành viên của đoàn sẽ không lạc nhau. Thứ ba, việc hô to như vậy sẽ xua đuổi thú dữ. Lâu dần, việc hô như vậy thành lệ, truyền sang đời sau và biến thành niềm tin tâm linh là Bà cấm than mệt khi đi viếng Bà?"

Bà Hai Đông còn cho biết, ngày xưa Bà Đen nổi tiếng linh thiêng chỉ 2 phép: Phát duyên và phát vận. Căn cứ vào đó, hầu hết người đi viếng Bà chỉ cầu xin được tình duyên và gặp vận may. Các phép khác, Bà không ban.

Truyền thuyết về Bà Đen

Có đến 3 truyền thuyết về Bà Đen.

Truyền thuyết thứ nhất cho rằng, ngày xưa, chủ vùng núi này là người phụ nữ Phù Nam có tên là Rê Đeng. Do người đời sau đọc trại thành Đen.


Truyền thuyết thứ hai cho rằng, bà Đen tên thật là Lý Thị Thiên Hương, con gái một vị quan trấn nhậm Trảng Bàng thuộc triều Nguyễn tên là Lý Thiên. Mẹ là bà Ðặng Ngọc Phụng, người gốc ở Bình Ðịnh vào Trảng Bàng lập nghiệp.

Trong làng có chàng trai Lê Sĩ Triệt, mồ côi cha mẹ, được một nhà sư nuôi dạy từ nhỏ, văn hay võ giỏi.

Lần nọ, Thiên Hương lên núi cúng chùa bị một đám côn đồ vây bắt. Giữa lúc nguy khốn thì chàng Lê Sĩ Triệt xông ra đánh đuổi, cứu được nàng. Ðể đáp ơn chàng, cha mẹ nàng Thiên Hương hứa gả nàng cho Lê Sĩ Triệt. Chưa kịp đám cưới thì Lê Sĩ Triệt phải tòng quân đánh Tây Sơn.

Khi Lê Sỹ Triệt tòng quân, ở nhà Lý Thị Thiên Hương bị kẻ xấu vây bắt, toan hãm hiếp. Giữ lòng trung trinh, nàng Hương nhảy xuống khe núi tử tiết. Sau khi chết, nàng Lý Thị Thiên Hương hiển thánh báo mộng cho vị sư trụ trì trên núi biết. Trong mộng, nàng Hương xuất hiện trong hình dáng một người phụ nữ đen đúa? Vị sư bèn đi tìm thi thể nàng đem về mai táng. Vì vậy, vị sư gọi nàng là nàng Đen. Người đời sau gọi là Bà Đen để tỏ lòng tôn kính.

Truyền thuyết thứ ba có ghi trong quyển "Sự tích Thánh Mẫu Phật Bà Tây Ninh" rằng: Thuở mới khai hoang vùng đất, một viên quan trấn thủ vùng chân núi Một có 2 người con. Người con trai tên là Thạch Biên. Người con gái là Thạch Nương, có tên thường gọi là Đênh.

Khi nàng Đênh 13 tuổi, có một nhà sư tên là Trung Vân Danh, đạo hiệu Trừng Thanh tìm đến lưng chừng núi Một dựng chùa, thờ Phật và hoằng pháp độ sanh.

Mộ đạo, nàng Đênh đã xin theo nhà sư Trừng Thanh học đạo. Thấy nàng Đênh xinh đẹp, quan trấn thủ Trảng Bàng cho người mai mối xin cưới cho con trai. Khi hai gia đình chuẩn bị lễ vật cho lễ cưới thì bất ngờ nàng mất tích. Gia đình hai bên cho người tìm kiếm khắp nơi thì phát hiện một khúc chân nghi là của nàng Đênh. Mọi người đồn đoán rằng nàng Đênh đã bị cọp vồ. Gia đình mai táng khúc chân và lập mộ cho nàng dưới chân núi.

Từ đó, người ta gọi ngọn núi Một là núi Bà Đênh, đọc trại dần thành Bà Đen?

Khi chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi, chạy đến núi Bà Đen lẩn tránh. Thiếu lương thực, từ vua đến lính đều đói lả. Nghe dân cư đồn về sự linh thiêng của bà Đen, trong cơn tuyệt vọng, chúa Nguyễn Ánh đã cầu khẩn xin phò trợ. Đêm đó, bà Đênh xuất hiện trong mộng của chúa Nguyễn Ánh. Bà cho biết Nguyễn Ánh đang nằm ngủ dưới gốc một loại cây cho trái có thể cứu đói binh sĩ.

Khi thức giấc chúa Nguyễn Ánh trông thấy trên cành cây mình đang nằm ngủ có nhiều quả nhỏ chi chít. Hái xuống ăn thử thì có vị rất ngon. Ông truyền cho binh sĩ hái loại quả ấy ăn lót dạ. Ông đã đặt tên cho loại quả ấy là "tùng quân".

Năm 1790, Nguyễn Ánh đưa binh lính quay lại núi đúc tượng, cất lại điện thờ. Sau đó phong sắc Linh Sơn Điện và phong Bà là Linh Sơn Thánh Mẫu.

Từ thuở khai hoang

Ngày nay, sau nhiều lần trùng tu, xây mới, trên nền xưa của Linh Sơn Tự hiện diện một ngôi chùa khang trang có tên gọi là Linh Sơn Tiên Thạch Tự vừa thờ Phật vừa thờ Bà Đen. Sự giao thoa tín ngưỡng mặc nhiên đó đã được người dân chấp nhận.

Căn cứ vào các nguồn sử liệu của Quốc Sử quán triều Nguyễn thì Vua Gia Long phong sắc cho Bà Đen. Điều đó có nghĩa là truyền thuyết về Bà Đen có trước khi Nguyễn Ánh vào núi lánh nạn Tây Sơn.

Và cũng có nghĩa là điện thờ Bà Đen có tên gọi chính thức là Linh Sơn Điện. Như vậy, Linh Sơn Điện là vị trí của ngôi chùa Thượng. Còn một hang đá do các vị sư chi phái Liễu Quán (thuộc phái Lâm Tế Chánh Tông) làm nơi ẩn cư niệm Phật, được gọi là Linh Sơn Thạch Động Tự hoặc chùa Hang.

Điện thờ Bà mang tín ngưỡng thờ Mẫu. Còn ngôi chùa là tín ngưỡng Phật giáo ẩn cư của chi phái Liễu Quán (Lâm Tế).

Trở lại lịch sử, vào thế kỷ thứ XVIII, khi các chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía Nam thì một số cao tăng thuộc Thiền phái Liễu Quán cũng theo làn sóng di cư xuôi Nam đi tìm chốn non hoang, động vắng tu pháp.

Năm 1763, Thiền sư Ðạo Trung Thiện Hiếu là đệ tử của Thiền sư Ðại Cơ và thuộc đời thứ tư của chi phái Liễu Quán tìm đến hang đá hoang vu trên núi Bà làm nơi định thiền. Đó chính là chùa Hang.

Lúc đó Thiền sư Đạo Trung đã nhặt được một số tượng đồng cổ. Trong đó có một tượng thánh nữ bằng đồng màu đen. Vị sư đã cất miếu hương khói cho bức tượng này.

Thuở đó đã có cư dân Việt và Cao Miên sinh sống dưới chân núi. Họ gọi Thiền sư Đạo Trung là "sư Bưng Đĩa" (Vì quan sát thấy Thiền sư thường nâng đĩa đựng hoa quả cúng tổ). Sau khi ẩn tu ở hang đá suốt 30 năm, Thiền sư Đạo Trung giao thạch điện cho đệ tử là Thiền sư Tính Thiện (tức Tánh Thiện Thanh Thanh). Thiền sư Đạo Trung về Thủ Dầu Một (Bình Dương) khai môn chùa Long Hưng. Kế nghiệp Thiền sư Tính Thiện là Thiền sư Hải Hiệp Từ Tạng.

Năm 1784, Nguyễn Ánh vào núi lánh nạn Tây Sơn. Năm 1790, Nguyễn Ánh sắc phong Linh Sơn Thánh Mẫu. Năm 1820, Vua Minh Mạng cử Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định Thành lần thứ 2. Và một lần nữa, Vua Minh Mạng ban sắc phong Linh Sơn Thánh Mẫu cho Bà Đen. Vua Minh Mạng còn ban chỉ cho Lê Văn Duyệt xây cất ngôi Linh Sơn Điện khang trang hơn.

Sau khi xây cất linh điện xong, Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã giao cho Thiền sư Hải Hiệp gìn giữ. Tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật hợp nhất trong một ngôi điện thờ.

Năm 1857, Thiền sư Tánh Thọ Phước Chí từ chùa Phước Lâm, Tây Ninh lên núi thăm viếng thì phát hiện Thiền sư Hải Hiệp viên tịch từ lúc nào, thân xác đã hóa thổ. Điều lạ là, ngón tay út bàn tay trái của Thiền sư Hải Hiệp vẫn còn nguyên vẹn?

Thiền sư Tánh Thọ đã đem ngón tay út của Thiền sư Hải Hiệp chôn dưới đáy chùa Hang để lập bia mộ. Gần 100 năm sau, mộ của Thiền sư Hải Hiệp được tín đồ cải táng ra ngoài xây tháp. Khi đào lên, ngón tay út vẫn còn nguyên và được cải táng?

Sau khi chôn cất ngón tay cho sư phụ, Thiền sư Tánh Thọ tiếp tục tu hành tại Linh Sơn Điện.

Sau năm 1940, quân Pháp và quân Nhật lần lượt chiếm đóng núi Bà Đen và phá hủy hoàn toàn Linh Sơn Điện. Tượng Bà bằng đồng, màu đen bị chúng cướp và thất lạc.

Mãi đến năm 1956, một nhà giáo có uy tín ở địa phương, tên là Nguyễn Văn Hảo được một người phụ nữ đen đúa báo mộng cho biết, bà chính là Linh Sơn Thánh Mẫu. Bà bảo ông Hảo đến chùa Phước Lâm sẽ gặp bà? Ông Hảo bán tín bán nghi nhưng vẫn đến chùa Phước Lâm gặp vị sư trụ trì. Ông Hảo vừa kể xong câu chuyện nằm mơ thì vị sư trụ trì chùa Phước Lâm thất kinh xác nhận: "Một người lính Nhật đã bí mật giao cho tôi bức tượng trước khi về nước. Không ai biết chuyện này?" Câu chuyện này, được một nữ nhà giáo - con gái ruột của ông Nguyễn Văn Hảo - kể cho người viết nghe từ năm 1980.

Ngay sau khi phát hiện bức tượng đồng Bà Đen được cất giấu ở chùa Phước Lâm, nhà sư Nguyên Chất - Trụ trì chùa Phước Lâm - cùng nhà giáo Nguyễn Văn Hảo và bạn bè lên núi xây cất lại nơi thờ Bà. Lần xây cất này, công trình được đặt tên là Linh Sơn Tự. Vào khoảng 1970, quân đội Mỹ xây dựng 1 trạm ra đa tình báo đặt trên đỉnh núi để kiểm soát địa bàn Tây Ninh và dòm vào căn cứ Trung ương Cục. Trước khi đưa quân lên núi, giặc Mỹ đã ném hàng tấn bom đạn và hơi cay các loại vào những nơi chúng nghi ngờ có quân ta trú đóng. Do giao tranh ác liệt, ngôi chùa bị cháy bởi bom napal Mỹ. Bức tượng Bà lại thất lạc lần nữa.

Năm 1975, ni sư Diệu Nghĩa, đệ tử đời sau của sư Nguyên Chất đã xây lại chùa. Lần này, ngôi chùa có tên là Linh Sơn Tiên Thạch Tự. Năm 1992, ni sư Diệu Nghĩa đã cùng tín đồ tái thiết ngôi chùa suốt 3 năm. Ngày nay, ngôi chùa thật khang trang và rộng rãi, sẵn sàng cung nghinh khách hành hương viếng Bà, lễ Phật.

Nông Huyền Sơn

1-10 of 18