Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Lâm Trung Trại và những anh hùng “thủy hử” đất Đồng Nai Lâm Trung Trại và những anh hùng “thủy hử” đất Đồng NaiLâm Trung Trại được hình thành từ những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược Đồng Nai. Thời ...
    Được đăng 00:28, 15 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bí ẩn 120 bộ xương cổ khổng lồ ở Bình Thuận Cá voi được tôn sùng thành vật thiêng Vạn Phước Lộc (Di tích lịch sử Quốc gia, thuộc phường Phước Lộc, thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận) được hình thành ...
    Được đăng 17:58, 11 thg 12, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ngọn núi thiêng gắn với huyền tích chữa bệnh ở Bình Thuận Núi Tà Cú nổi tiếng với huyền tích chữa bệnh cho hoàng thái hậu và bức tượng Phật nằm lập kỷ lục châu Á. Đây là ngọn núi thuộc huyện ...
    Được đăng 22:58, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Huyền tích Linh Sơn Thánh Mẫu núi Bà Đen Núi Bà Đen cao 986 mét so với mực nước biển và được xem là cao nhất Đông Nam bộ. Theo sách “Gia Định Thành Thông Chí”, tên gốc của ...
    Được đăng 01:18, 23 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bò đi Đá Nhảy Xưa kia có một giai thoại lý thú về câu đối như thế này:Ông nghè Nguyễn Duy Thiện (làng Lý Hoà, tỉnh Quảng Bình) và ông nghè Trần văn ...
    Được đăng 03:47, 5 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 17. Xem nội dung khác »


Lâm Trung Trại và những anh hùng “thủy hử” đất Đồng Nai

đăng 20:45, 14 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 00:28, 15 thg 1, 2019 ]


Lâm Trung Trại và những anh hùng “thủy hử” đất Đồng Nai


Lâm Trung Trại được hình thành từ những ngày đầu thực dân Pháp xâm lược Đồng Nai. Thời ấy, người dân nơi đây tự hào ví hội này như Lương Sơn Bạc của Việt Nam.

Chọn Gò Mọi làm căn cứ, duy trì hoạt động, Lâm Trung Trại một thời từng khiến thực dân Pháp khuynh đảo. Tuy nhiên, cho đến nay, còn ít tài liệu đề cập đến nguồn gốc và sự hình thành hội kín anh hùng này. 


Anh hùng Lương Sơn Bạc đất Biên Hòa 

Sau Hiệp ước Pa-tơ-nốt (năm 1884), giai cấp phong kiến lúc bấy giờ tiếp tục ra lệnh bãi binh trên toàn quốc. Nhưng chính sách trên không ngăn cản được lòng yêu nước căm thù giặc của những người yêu nước. Các phong trào yêu nước vẫn tiếp tục phát triển một cách bí mật. Dù đấu tranh kiên cường và gặt hái một số thành công nhưng các phong trào trên đều bị thất bại. Và sự thất bại đã đẩy các phong trào yêu nước vào những hội kín được gọi là Thiên Địa hội. 

Theo các tài liệu lịch sử, Thiên Địa hội vốn xuất phát từ Bạch Liên Giáo của Trung Quốc vào thời kỳ Mãn Thanh. Trong nội bộ giáo phái này, có nhiều chi phái mượn màu sắc tôn giáo, lợi dụng sự mê tín của Hán tộc với mục đích khuynh đảo nhà Thanh. Thiên Địa hội bắt đầu "vượt biên" vào nước ta từ đầu thế kỷ XIX do Hà Hỉ Văn đứng đầu. Người này tiếp tục nuôi chí phản Thanh, phục Minh. 

Tuy nhiên, sự tuyên truyền của Thiên Địa hội tại Việt Nam bị ngăn cấm rất khắt khe. Thời Pháp thuộc, thực dân đế quốc mạnh tay trong việc ngăn chặn sự phát triển của các hội kín. Rồi, Thiên Địa hội dần lui vào quên lãng. Tuy nhiên, sau này, lòng yêu nước, tinh thần chống giặc ngoại xâm của những chí sĩ yêu nước lại vùng dậy. Họ hoạt động chống giặc theo kiểu Thiên Địa hội. 

Trong công cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đất Đồng Nai xưa cũng hưởng ứng phong trào yêu nước của Thiên Địa hội dưới một tổ chức có tên Lâm Trung Trại. Kể lại chuyện của những anh hùng thời loạn, các bậc cao niên ngụ quanh khu vực chùa Bửu Hưng cho biết, Lâm Trung Trại là nơi tập trung của những bậc anh hùng, hảo hán thời loạn lạc. Các bậc cao niên cũng chỉ được nghe ông cha kể về họ như một huyền thoại về các anh hùng Lương Sơn Bạc bên Tàu. 

Theo các tài liệu lịch sử, Lâm Trung Trại là nơi tụ nghĩa của các bậc anh hùng, ái quốc. Tác giả Lương Văn Lựu trong tác phẩm Biên Hòa lược sử đã viết: "Dân Biên Hòa cũng hưởng ứng phong trào chống Pháp của Thiên Địa hội. Rất nhiều các tay anh chị, hảo hán ở nông thôn, võ nghệ tinh thông, đầy lòng hào hiệp, không nặng tình cảm gia đình kết hợp nhau thành một đảng lấy hiệu danh riêng là Lâm Trung Trại". 

Cũng theo tài liệu, Lâm Trung Trại chọn núi Gò Mọi thuộc xã Đại An (huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai), nơi có địa hình hiểm trở, dễ thủ khó công làm căn cứ. Hơn thế, sinh sống tại Gò Mọi chỉ toàn những dân tộc thiểu số nên giặc Pháp không để ý. Đây được coi là một căn cứ lí tưởng. Về công có thể dùng thủy binh theo ngọn Rạch Đông ra Biên Hòa, thủ có thể dựa vào rừng núi theo thế ỷ dốc. 


Ngọn Rạch Đông, có tính chất như một tuyến giao thông huyết mạch của Lâm Trung Trại. 


Thành phần đứng đầu của nghĩa quân được tuyển chọn theo tiêu chuẩn: Uy tín, đức độ tài năng, võ thuật và văn hóa. Ban đầu, đứng ra sáng lập Lâm Trung Trại có 18 vị được người dân xưng tụng là "anh hùng" gồm: Năm Hi, Ba Hổ, Ba Hầu, Hai Lựu, Bảy Đen, Sáu Huyền, Ba Vạn, Hai Danh, Bảy Phát, Tám Tâm, Hai Mạnh, Ba Thứ, Năm Thanh, Ba Nghi, Tư Rùa, Hai Sở, Mười Lợi, Hai Cầm. Ông Năm Hi được chọn làm lãnh đạo trại, dưới trướng là gồm 9 thành viên đều là những anh hùng, hảo hán lừng danh một cõi. 

Theo tác giả Lương Văn Lựu, ngoài tài võ nghệ, văn chương hơn đời, Năm Hi còn giỏi về thuật số, chiêm tinh. Với những thành tích trên, Năm Hi được tín nhiệm ngồi ghế đầu lĩnh Lâm Trung Trại. Dưới trướng của ông có Ba Hầu, nổi tiếng can trường vì căm phẫn sự áp bức của thực dân Pháp đã từ giã gia đình, từ chức Hương hào, gia nhập trại Lâm Trung bằng câu nói bất hủ: "Ta sinh vi tướng, tử vi thần". 

Một nhân vật khác được ví như Võ Tòng của Lâm Trung Trại là Tư Hổ. Người này được ghi nhận là một tay kiếm cung bậc nhất thời bấy giờ. Được biết, Tư Hổ chính là đệ tử trân truyền của Võ sư Chung, một đạo sĩ được dân chúng suy tôn là Phật sống trên núi Gò Mọi. Người xưa còn truyền lại sự kiện khiến ai cũng phải thán phục. Ngày ấy, một mình Tư Hổ vượt tường lẻn vào nhà làng Tân Trạch (nơi lính Pháp giam giữ thanh niên Biên Hòa làm lính đánh thuê trong thế chiến thứ 2) kết liễu tên Việt gian khét tiếng với tuyệt kỹ Tỏa hầu cầm nã thủ (một tuyệt kỹ võ công dùng 3 ngón tay bóp đứt cuống họng đối thủ), giải thoát nhiều thanh niên bị giam hãm. 

Những ám hiệu bí mật 


Trong sự bố ráp nghiêm ngặt của thực dân Pháp, Lâm Trung Trại phải duy trì hoạt động bí mật bằng hệ thống ám hiệu, mật khẩu khác nhau, chủ yếu theo cách của Thiên Địa hội trước kia. Đó là thông qua hệ thống khẩu hiệu bằng thể ca dao. Các mật khẩu này chỉ được phổ biến trong nội bộ thành viên trại. 

Ngoài ra, để tiếp xúc với các thành viên của trại ẩn thân trong làng, ấp, họ còn dùng mật hiệu là cây dù vải cán có hình móc câu. Đây là vật bất ly thân đối với người đàn ông thời bấy giờ. Chính sự phổ biến của những mật khẩu trên đã đánh lạc hướng, qua mặt được bọn tay sai, giặc cướp nước. "Khách đến nhà tùy cách móc dù trên cánh cửa mà chủ nhà nhận ra "đồng chí" và biết rõ ý hướng của mỗi người", tài liệu của Lương Văn Lựu có nhắc đến vấn đề này. 

Theo đó, nếu chiếc dù được móc bên trái cửa sẽ báo hiệu khách chính là thành viên của trại. Chiếc dù được móc bên phải so với cửa chính cũng là mật hiệu cho biết khách đang có việc cơ mật cần bàn, báo hiệu chủ nhà phải nhanh chuẩn bị địa điểm, thời gian để họp bàn. Hay móc cán dù xoay trở ra ngoài cửa, báo hiệu khách chỉ ghé qua và không có việc cơ mật. Ngược lại, nếu cán dù được quay móc câu vào trong nhà, báo hiệu khách cần lưu lại nhà hoạt động lâu dài. Gia chủ cần đảm bảo mọi mặt từ an ninh đến việc tổ chức liên lạc, hoạt động bí mật trong địa phương. 

Ngoài ra, cách hóa trang cũng là mật hiệu quen thuộc của các thành viên. Nếu các thành viên xắn quần ống thấp ống cao tức là giặc đã phát hiện căn cứ. Chúng chuẩn bị bố ráp, căn cứ cần phải nhanh chóng di chuyển. Việc phơi, treo đồ, khăn, vải có màu đỏ trước nhà cũng được xem như dấu hiệu của việc trong khu vực hoạt động sắp có giặc hành quân, có tay sai giặc ẩn mình... 

Theo lời kể của nhiều bậc cao niên tại đây, Lâm Trung Trại còn sử dụng nhiều hệ thống ám, mật hiệu, mật mã khác nữa. Nhưng vì điều kiện sử dụng bí mật nên chỉ những người quan trọng mới được biết. Hơn nữa thời gian quá lâu nên những mật hiệu kia gần như đã không còn ai nhớ. Hiện chỉ còn vài người nhớ được ít mật hiệu dưới dạng những bài ca dao, vè như: "Quần xắn ống thấp ống cao. Bộ đi vội vã, có tàu của Tây" hay "Dù máng bên tả - Đảng viên. Đi việc cơ mật nói riêng chủ nhà",... 

Theo lời kể của người cao tuổi thì lúc mới thành lập, vũ khí trong trại hết sức thô sơ, lạc hậu. Họ chủ yếu sử dụng các loại đao kiếm, cung tên, giáo mác. Về sau, theo chủ trương hiện đại hóa vũ khí của đầu lĩnh Năm Hi, trại cũng trang bị được một số súng, thậm chí có những loại súng hiện đại từ tay thực dân Pháp. 

Cụ Huỳnh Hoàng Tín, 78 tuổi ngụ phường Quang Vinh, TP. Biên Hòa kể: "Tôi nghe những người đi trước kể rằng để có súng tốt, các thành viên trong Lâm Trung Trại đã trà trộn vào dân ấp, mở quán nước, quán chè, quán cháo rồi cho những cô gái đẹp đứng bán. Đó chính là mỹ nhân kế của trại. Phần lớn số súng của trại đều được trại đoạt lấy khi các cô gái tri hô trước sự "háo sắc" của bọn giặc. Số khác, Lâm Trung Trại tìm cách lén mua lại từ kho vũ khí của giặc qua những tên quản kho háo sắc, háo vàng". 

Được tôn vinh là những anh hùng, hào kiệt, mang trên vai trọng trách cứu nước, tổ chức Lâm Trung Trại được người dân nhiệt tình ủng hộ. Không bao lâu sau, số thành viên trong trại nhanh chóng tăng vọt. Số người về tụ nghĩa không ngừng nhân rộng. Từ đây, Lâm Trung Trại bắt đầu định hướng cho mình trên con đường cứu nước còn quá nhiều chông gai. 

"Lò luyện"tinh thần yêu nước 


Vì là nơi tụ nghĩa của những hào kiệt có khí phách và tinh thông võ nghệ với mục đích thoát khỏi xiềng xích nô lệ, Lâm Trung Trại từng được người dân xứ Biên Hòa xưa xem như Lương Sơn Bạc của đất Đồng Nai. Dẫu đấu tranh một cách tự giác, tự phát bằng những trang bị thô sơ, Lâm Trung Trại cũng là nơi vực dậy tinh thần quật cường, lòng yêu nước, kiên quyết đấu tranh đòi quyền tự do của người dân Đồng Nai. 

Hà Nguyễn - Ngọc Lài 

Những trận đánh bi hùng của các hảo hán Lâm Trung Trại

Phần này trên Người đưa tin chưa được tìm thấy

Giây phút cuối và nấm mồ chung của 9 vị anh hùng

Trước âm mưu thâm hiểm của giặc và bè lũ tay sai bán nước, những anh hùng Lâm Trung Trại một phút sa chân đã rơi vào tay giặc. Chúng giết 9 vị anh hùng rồi chôn chung họ trong một huyệt lớn tại gốc cây Gõ Cụt nơi Dốc Sỏi.


Anh hùng thất thế 


Thất bại trước mục tiêu tấn công thành Sơn Đá, Lâm Trung trại bị thực dân Pháp bố ráp, vây bắt, truy kích không ngừng. Mục tiêu của bọn chúng là muốn một mẻ bắt sạch "những con cá to" trong Lâm Trung Trại để làm gương cho những cá nhân, tổ chức yêu nước người Việt. 

Trước tình hình nguy cấp, Lâm Trung Trại đã quyết định tạm giải tán để đảm bảo sự an toàn cho các thành viên. Theo đó, Năm Hi chủ trương cho nghĩa quân tiêu hủy hết vũ khí, đạn dược để các thành viên ngụy trang thành người tha hương đến chốn này. Hơn nữa, Năm Hi làm vậy để tránh việc số vũ khí trên lọt vào tay giặc khi căn cứ Gò Mọi thất thủ. Lợi dụng lúc nửa đêm, nghĩa quân bí mật vận chuyển số vũ khí trên đổ hết xuống lòng sông Đồng Nai đỏ ngầu phù sa. Vị trí đổ số vũ khí trên cũng được giữ bí mật tuyệt đối. Sau lần tụ họp cuối cùng đó, những đầu lĩnh của Lâm Trung Trại chia tay nhau, tiêu tán mỗi người một ngả. 


Khu vực Dốc Sỏi, nơi diễn ra buổi hành quyết 9 anh hùng Lâm Trung Trại. 


Để che mắt giặc, những anh hùng này ngụy trang với nhiều nghề khác nhau. Tuy nhiên, trước sự truy nã tàn khốc cùng những âm mưu thâm độc và sự chỉ điểm của bè lũ tay sai, lần lượt các anh hùng đều rơi vào tay giặc. Trong đó, 8 vị đứng đầu Lâm Trung Trại bị giặc bắt bao gồm: Năm Hi, Hai Lựu, Lào Lẹt, Hai Sở, Ba Vạn, Bảy Phát, Hai Danh, Ba Hầu. Cuối tháng 3 năm đó, các thành viên trên và hai anh em được mệnh danh là "song hùng" Mười Tiết, Mười Sót bị đưa ra trước tòa Áo Đỏ (Đại hình của Pháp) với tội danh "phiến loạn, cướp của, giết người". 

Phiên tòa diễn ra một cách chóng vánh. Tất cả các anh hùng nằm trong nhóm lãnh đạo Lâm Trung Trại đều bị kết án tử hình. Năm Hi, Ba Hầu, Hai Lựu, Hai Sở, Lào Lẹt, Bảy Phát, Bếp Đầy, Mười Tiết, Mười Sót nằm trong danh sách bị xử tội chết. Còn lãnh án 20 năm khổ sai, lưu đày Côn Đảo có Tư Hổ, Ba Vạn. Bản án được ấn định và thi hành một cách nhanh chóng và gấp rút. Sau khi nghe tin dữ, người dân, tàn quân của Lâm Trung Trại cũng tổ chức nhiều cuộc phản đối nhưng đều bị bọn cướp nước dìm trong máu lửa. 

Vào một buổi xế chiều, người dân xóm Dốc Sỏi (thôn Bình Thành nay thuộc phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa, Đồng Nai) thấy viên quan Pháp dẫn đầu đoàn lính vác súng trên vai và mấy người mặc áo xanh khiêng nhiều cột gỗ, cuốc xẻng kéo đến vùng Gò Mô (trước cổng sân bay Biên Hòa ngày nay). 

Tại đây, tên vệ úy đứng lên gò đất cao quan sát như đang tìm địa thế. Ít phút sau, tên này lệnh cho đám lính bắt phạm nhân phát quang bụi rậm thành một khoảng đất trống hơn 250m2. Sau khi đám tội án hoàn thành công việc, đám lính mã tà lại gí họng súng vào lưng, lệnh cho họ đào chín lỗ sâu trồng chín cây cột gỗ dựng thành hai hàng ngang. 

Sự việc trên khiến không ít người dân tò mò xúm quanh. Nhiều người bàn tán rằng, Pháp lại cho dựng chốt, đóng quân nơi đây. Người thì cho rằng rất có thể giặc mở đường đi Bến Cá (Bình Dương) và đang đánh dấu làm mốc. Tuy nhiên, không một ai trong số họ biết được rằng, 9 cây cột kia chính là nơi kết liễu 9 vị anh hùng Lâm Trung Trại mà bấy lâu họ ngưỡng mộ. 

Những lời trăng trối oai hùng 

Sáng hôm sau, trời vừa hửng sáng, dân trong vùng bị đánh thức bởi tiếng xe ô tô gầm rú tại khu vực Gò Mô. Dân trong vùng hiếu kỳ pha chút lo lắng khi thấy cảnh lính nai nịt gọn gàng, tay bồng súng trước ngực, đứng thành hai hàng thẳng tắp. Sau ít phút, một chiếc xe được bọc kín bằng vải dù xanh đỗ lại. Từ cửa sau, người dân trông thấy rõ mồn một 9 tội nhân mặt mày hốc hác, xanh xao, tay bị còng, chân đeo xiềng xích xuống xe. Bước khỏi xe, 9 tội nhân bị đám lính ép đi theo một hàng thẳng. 

Theo lời kể của nhiều bậc lão niên thì sau khi lính đã sắp tội phạm đâu vào đấy thì xuất hiện ông Đỗ Hữu Trí, giữ chức Biện lý và một cha đạo. Đến lúc này, người dân nơi Dốc Sỏi mới nhận ra đây là cuộc xử bắn những anh hùng Lâm Trung Trại. Tin tức nhanh chóng lan rộng, người dân kéo đến ngày một đông. Tuy nhiên, họ bị đám lính đẩy ra xa pháp trường. 


Khu vực Gò Mô. 


Sau đó, 9 tội nhân bị giải đến 9 cột gỗ đã dựng sẵn, có đám lính giương súng đứng trấn giữ bốn bên. Ít phút sau, Đỗ Hữu Trí bước lên phía trước đọc bản án cho 9 tội nhân. Vừa dứt lời, bọn lính trói quặt tay 9 vị anh hùng Lâm Trung Trại ra sau cột gỗ. "Lúc bấy giờ, trời đã sáng hẳn. Sắc diện các tử tội đều thấy biến đổi, trông như đã mất thần. Duy chỉ có Ba Hầu, Hai Sở vẫn giữ được nét thản nhiên với gương mặt còn tươi tỉnh", trong tác phẩm Biên Hùng lược sử của Lương Văn Lựu có ghi lại như vậy. 

Sau đó, viên quan Pháp cho 20 lính đứng đối mặt với tử tội cách xa hơn 20m. Như một ân huệ cuối, Biện lý Đỗ Hữu Trí cho phép tử tội được nói lời trăng trối với người thân. Và chính giây phút ấy đã đi vào lịch sử Biên Hòa khi tinh thần, khí tiết hùng dũng của những bậc anh hùng đã hòa vào hồn thiêng của xứ này và được lưu truyền mãi mãi. Được biết, ông Ba Hầu là người đầu tiên lên tiếng. 

Theo Biên Hòa sử lược, ông Ba Hầu hỏi xem có vợ con của mình có ở đây không. Sau đó, vị anh hùng này hùng dũng nói to: "Ta sinh ra làm tướng, chết làm thần. Bà con ở lại mạnh giỏi". Tiếp sau đó, Hai Sở hiên ngang thách thức: "Cứ bắn ta đi. Sở này không sợ đâu. Cái chết, ta thị như quy tân gia (xem như được về nhà mới)". 

Lúc đó, 7 người còn lại mặt sắc lạnh nhưng họ không nói lời nào. Tuy nhiên, đứng trước cái chết, những con người này không lộ vẻ hối tiếc, khiếp hãi. Sau đó, lính đem vải đen đến bịt mắt từng phạm nhân và trở về vị trí. Viên quan người Pháp cuối cùng cũng cất giọng hạ lệnh, 20 lính cầm súng đồng loạt quỳ một chân giữ tư thế chuẩn bị bóp cò. Khẩu lệnh thứ hai nghe lạnh lùng, toán lính đồng loạt nâng súng lên ngang mắt, ngắm. Tiếng động phát ra từ thao tác trên khiến người xem nổi da gà. Nhiều người đã ngất lịm, tiếng khóc, tiếng kêu gào phát ra từ đám đông người dân đến xem. Lệnh thứ ba được viên quan hai thao tác bằng tay. Khi tay hắn hạ xuống, một loạt súng khô khốc vang lên. 4 vị anh hùng gục đầu xuống, không một tiếng kêu. 

Tiếng súng đồng loạt nổ, xé đi sự tĩnh lặng của buổi sớm mai. Chưa dừng lại, cánh tay của viên quan lại hạ xuống, một loạt súng lại cất lên, 5 vị anh hùng lại gục xuống, máu tươi từ ngực tuôn chảy nhuộm đỏ áo tù rồi nhỏ thành giọt trên mặt đất. Tiếng than khóc của người dân lại càng thảm thiết thương tâm. Cuối cùng, viên trung úy Pháp cầm súng lục đến từng tử tù giờ chỉ còn là những cái xác đỏ máu, bắn những viên đạn ân huệ. Xong đâu đấy, quan, lính ra về để lại những tội nhân khác cùng đám lính lo việc chôn xác các anh hùng thất trận. 

Cũng tại đây, sau khi hồn thiêng đã hòa quyện cùng sông núi, những anh hùng một thời được nằm chung một nấm mồ. Trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, giờ đây, chùa Cô Hồn gần như là nơi duy nhất lưu giữ những thiên sử bi hùng về 9 người anh hùng yêu nước này. 

Câu nói bất hủ của ông Biện lý 


Theo ghi nhận của Biên Hòa lược sử, ông Biện lý Đỗ Hữu Tri trên đường ra về sau vụ hành quyết đẫm máu 9 anh hùng Lâm Trung Trại bất ngờ gặp một toán phụ nữ tỏ yá̊ cười nhạo người dân địa phương khóc than 9 anh hùng, ông Biện lý nói thẳng: "Người nước Nam bị bắn không biết xót thương lại còn đi coi và cười nhạo". Câu nói trên được các bô lão đánh giá là bất hủ vì đã làm thức tỉnh biết bao con tim đã lầm lạc trước đó.


Hà Nguyễn - Ngọc Lài 


Ngôi mộ chung của 9 hảo hán vẫn còn là bí ẩn

Người dân muốn được đưa thi hài các hảo hán Lâm Trung Trại về mai táng. Tuy nhiên, họ đã bị họng súng của giặc ngăn lại. Cuối cùng, một nấm mồ chung chôn 9 nghĩa sĩ được dựng nên. Trải qua bao năm, mộ xưa nay đã mất tích. Những anh hùng chỉ còn trong sử sách.

Hồn thiêng gửi nơi Dốc Sỏi 

Sau khi xử tử 9 phạm nhân bị khép tội cướp của giết người, đám lính Pháp lên xe ra về. Họ bỏ lại 9 cái xác đang gục rũ trên những cọc gỗ. Đám lính quèn và các tội nhân khác ở lại để thu dọn trường bắn. Chứng kiến sự hi sinh anh dũng của những anh hùng một đời theo lý tưởng cứu nước, người dân Dốc Sỏi quỳ gối tiễn biệt họ. Sau ít phút chuẩn bị, đám tội nhân được lệnh tháo dây trói cho 9 anh hùng Lâm Trung Trại và tiến hành công việc mai táng. 

Các bô lão sống quanh chùa Cô Hồn (gần khu vực Dốc Sỏi) cho biết: "Cha ông chúng tôi kể lại rằng, sau khi chứng kiến lũ giặc bắn những nghĩa sĩ, người dân đã lao ra đòi khiêng xác các hảo hán về mai táng nhưng không được. Trước sự hung hăng của đám lính, người dân cũng không dám làm căng. Họ sợ bị khép tội tòng phạm với tử tù nên đành đứng nhìn giặc khiêng xác các anh hùng đi chôn". 

Chùa Cô Hồn, nơi lưu dấu hồn thiêng 9 anh hùng Lâm Trung Trại


Thời gian trôi đi, trải qua nhiều biến cố lịch sử, khu vực chôn cất những nghĩa sĩ dần phai nhòa trong ký ức người dân nơi đây. Hiện tại, khi được hỏi về 9 anh hùng Lâm Trung Trại, rất ít người biết đến. Vì thế, những thông tin về nơi chôn cất của các nghĩa sĩ lại càng mờ mịt hơn. Ngoài một số bô lão cao tuổi thường xuyên làm công quả tại chùa Cô Hồn, người dân bản xứ không hề nghe nói về vụ xử bắn cũng như nơi an nghỉ của các anh hùng Lâm Trung Trại. 

Tìm hiểu tại chùa Cô Hồn (phường Quang Vinh, TP. Biên Hòa, Đồng Nai), chúng tôi được biết, khu vực chùa không phải là nơi chôn cất các anh hùng Lâm Trung Trại. Được biết, chùa Cô Hồn được xây dựng khá lâu sau vụ hành quyết các hảo hán ngày nào. Những bô lão làm công quả tại chùa khẳng định: Vì thương tiếc và cảm phục tinh thần đấu tranh của những anh hùng nghĩa sĩ, người dân Dốc Sỏi đã dựng một am lá để hương hỏa cho họ. 

Tuy nhiên, vị trí chính xác nơi chôn cất 9 anh hùng giờ rất khó xác định. Bởi đất đai và phong cảnh ở đây đã đổi thay nhiều so với trước đây. Tuy nhiên, người xưa cũng như các giai thoại kể lại rằng, 9 hảo hán bị xử bắn rồi được chôn chung tại gốc cây Gõ "cụt" thuộc khu vực sân bay Biên Hòa. 

Trong cuốn Biên Hòa lược sử ký, tác giả Lương Văn Lựu cũng khẳng định cây Gõ "cụt" chính là nơi an nghỉ của 9 vị anh hùng. Cũng theo tài liệu trên, phía tây của Dốc Sỏi có một cây Gõ cổ thụ vì bị sét đánh gẫy ngọn nên được người dân trong vùng gọi là cây Gõ "cụt". Cũng từ sự sống sót kỳ lạ sau khi bị sét phạt ngang, người dân cho rằng, đây là loài cây thiêng. Vì coi là nó linh thiêng nên thường ngày ít ai dám bén mảng đến gần gốc cây cổ thụ này. Chính nơi đây được các tội nhân có nhiệm vụ lo hậu sự chọn làm nhà chung cho các anh hùng Lâm Trung Trại. 

Cảm thương trước sự ra đi của những anh hùng thất thế, các tội nhân khác xin giặc cho mỗi người anh em Lâm Trung Trại nằm một huyệt riêng biệt. Tuy nhiên, đám lính Pháp không đồng ý. Cuối cùng, họ đành đào một hầm sâu làm mồ chung cho 9 thi thể anh hùng. Trong khi đó, như một nỗ lực cuối cùng, người dân địa phương gom góp tiền mua 9 manh chiếu mới thay cho áo quan để các vị anh hùng an nghỉ. Cuối cùng, không nhang khói, không trống nhạc tiễn đưa, 9 hảo hán nằm chung một ngôi mộ trong tiếng khóc than của người dân. 

Vẫn chưa tìm thấy mộ của các anh hùng 

Dưới sự cấm đoán của giặc, người dân yêu nước không thể hương khói cho 9 vị anh hùng thất thế. Tuy nhiên, sau khi khóc tiễn đưa họ về với đất mẹ, nửa đêm, dân địa phương bí mật sắm lễ cúng đến thăm viếng. Được biết, các vị anh hùng cũng được người dân và các thành viên khác của trại bí mật để tang trong một thời gian dài sau đó. 

Từ ngày định mệnh trên, người dân tưởng nhớ các vị anh hùng Lâm Trung Trại một cách bí mật. Ban đầu, việc nhang khói, tưởng niệm, cúng bái chỉ được tiến hành vào ban đêm. Về sau, nhận thấy thực dân Pháp đã quên đi các anh hùng từng khiến chúng điên đảo, dân địa phương quyết định công khai hương khói. Theo đó, dân địa phương cho dựng một am nhỏ tại gốc cây đa lớn ở đầu Dốc Sỏi để thờ Phật và cầu siêu cho những người đã khuất. Vì mục đích xây dựng để hương khói những người đã khuất, am cỏ trên được dân địa phương quen gọi là chùa Cô Hồn. Từ đó, nơi đây được xem là nơi thờ tự, lưu dấu hồn thiêng của 9 vị anh hùng Lâm Trung Trại. 

Bảng thông tin chùa Bửu Hưng


Trong cuốn Biên Hòa sử lược của Lương Văn Lựu có ghi, chùa Cô Hồn trải qua nhiều biến cố và gắn liền với những sự kiện lịch sử mang tính trọng đại của đia phương. Chùa được xây dựng vào năm 1918 ở ngã ba Dốc Sỏi, xóm Bình Thành xưa. Sau đó hai năm, Sở hỏa xa (thời Pháp thuộc) mở đường ray qua vị trí chùa để chở đá ở núi Lò Gạch về xây dựng đường. Chính vì vậy, chùa buộc phải dời về phía Tây Nam so với vị trí ban đầu. Trong lần di dời địa điểm này, chùa được xây dựng khang trang hơn và một vị tu sĩ đã đến nhận chức trụ trì. Từ đây, chùa Cô Hồn được vị trụ trì đổi lại hiệu là Bửu Hưng Tự. 

Thông tin về chùa Cô Hồn, người dân phường Quang Vinh cũng như những cá nhân thường xuyên công quả tại chùa nhận định: "Chùa đúng là nơi thờ tự những anh hùng Lâm Trung Trại. Tuy nhiên, chúng tôi chưa nghe ai nói rằng đây là nấm mồ chung của 9 vị anh hùng bị hành quyết". Được biết, từ lâu, người dân địa phương đã xem chùa như nơi lưu giữ hồn thiêng và những ký ức về những anh hùng Lâm Trung Trại nổi tiếng với vụ phá Khám Biên Hòa gần 1 thế kỷ trước. 

Khu vực được sử sách nhận định là Dốc Sỏi - pháp trường thực hiện buổi hành quyết 9 người đứng đầu Lâm Trung Trại giờ đã trở thành đại lộ Nguyễn Ái Quốc (phường Quang Vinh, TP.Biên Hòa). Ngược với những miêu tả đầy hoang sơ của tác giả Lương Văn Lựu, ngày nay, Dốc Sỏi là những công trình kiến trúc, khu giải trí, kinh doanh hiện đại. Thời gian trôi đi, quá trình hiện đại hóa gần như đã đổi thay con đường Dốc Sỏi chạy qua pháp trường năm nào. Vị trí gốc cây Gõ "cụt" cổ thụ, nơi được nhận định là nấm mồ chung của các vị anh hùng thất thế cũng không còn dấu tích. 

Theo đó, những đầu mối dẫn chúng tôi trên con đường tìm kiếm hình hài của những anh hùng "Lương Sơn Bạc" đất Biên Hòa xưa đều hướng về chùa Cô Hồn. Tại đây, dẫu đất xưa đổi dời nhưng hồn thiêng, dũng khí và sự ra đi của những anh hùng Lâm Trung Trại trong buổi đầu đấu tranh cứu nước vẫn như còn vang danh mãi mãi. 

Di tích lịch sử cách mạng 

Bửu Hưng Tự không chỉ là nơi ghi dấu buổi hành quyết đẫm máu đối với các anh hùng Lâm Trung Trại mà còn là một di tích lịch sử cách mạng. Theo đó, chùa cũng là nơi diễn ra Hội nghị cán bộ Đảng ở Biên Hòa vào tháng 6/1945 do đồng chí Hoàng Minh Châu trụ trì. Đây là hội nghị quyết định những vấn đề quan trọng về chủ trương, chuẩn bị cho nhân dân Biên Hòa nổi dậy giành chính quyền trong cách mạng Tháng 8/1945. Chùa được UBND tỉnh Đồng Nai xếp hạng di tích cách mạng theo quyết định số 62/QĐ UBT ngày 16/2/1979. 

Hà Nguyễn - Ngọc Lài

Bí ẩn 120 bộ xương cổ khổng lồ ở Bình Thuận

đăng 17:58, 11 thg 12, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cá voi được tôn sùng thành vật thiêng 

Vạn Phước Lộc (Di tích lịch sử Quốc gia, thuộc phường Phước Lộc, thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận) được hình thành từ lâu đời do các thế hệ ngư dân đầu tiên đến thị xã Lagi xây dựng cùng thời gian với sự lập làng, mở ấp của huyện Hàm Tân trước đây. 

Theo quan niệm của người Việt bất cứ ai xa quê hương, di cư đến nơi khác lập nghiệp, đi đến đâu thì phải lập làng, xây chùa ở mảnh đất đó. Còn đối với người đi biển cứ định cư ở đâu thì các lăng, vạn cũng mọc lên. 

Điều đó thể hiện được niềm tin, tín ngưỡng tạo thành một nét văn hóa đặc sắc của mỗi vùng miền. 

Vạn Phước Lộc trải qua bao thăng trầm và biến cố của lịch sử đã được di dời và phục dựng nhiều lần làm cho kiến trúc cũng thay đổi theo. Tuy nhiên, từ xưa đến nay vật thờ phụng vẫn được ngư dân vùng biển Lagi giữ nguyên và bảo quản đó là những bộ xương cá voi và một số loài cá lạ mà người dân cho rằng đó là những hiện vật thiêng của biển khơi. 

Tại Vạn Phước Lộc nơi thờ tự các sưu tập xương cốt cá voi được đặt ở trung tâm của Dinh. Tất cả được bảo quản bằng tủ kính có nhiều ngăn. Bộ xương cá voi lớn nhất được đặt ở ngăn kính trên cùng, các ngăn dưới là nhiều bộ xương trung bình và nhỏ được xếp chồng lên nhau. 

Tuy nhiên, do diện tích bảo quản chật hẹp nên không ai biết đích xác có bao nhiêu bộ xương cá voi. Vì lí do kiêng cữ, cũng không ai được đụng chạm đến xương cá voi nên đến thời điểm này Ban quản lí Dinh Vạn Phước Lộc cũng như các ngư dân không thể biết tổng số xương cá voi có bao nhiêu bộ. 

Có người nói khoảng 200 bộ, người lại bảo khoảng từ 150 đến 170 bộ... Căn cứ vào số lượng trí nhớ chỉ tạm tính với con số khoảng 120 bộ. Nhiều bộ xương cá voi ở Vạn Phước Lộc được lưu giữ 200 năm nay. Số bộ xương cá voi này được con người lưu giữ chứ không phải do khảo cổ khai quật. 

Hơn 120 bộ xương cá voi được lưu giữ và bảo quản tại Dinh Vạn Phước Lộc 


Ông Nguyễn Văn Mười (65 tuổi, người canh giữ Dinh Vạn Phước Lộc) cho biết: "Bộ xương cá voi ở Vạn Phước Lộc có niên đại tương đối sớm thuộc loại cá lớn nhất được con người lưu giữ chứ không phải do khảo cổ khai quật. 

Đối với những ngư dân đi biển họ xem cá voi là con vật thiêng. Từ đó trong nhân dân hình thành nên những câu chuyện về cá voi, có người thêu dệt thành nhiều câu chuyện huyền bí, huyễn hoặc thể hiện niềm tin tuyệt đối vào loài cá này. 

Trên thực tế, cá voi một con vật có ích được người dân nhân hóa thành một đấng cứu nhân độ thế, một con vật hiền thiêng và giúp người đi biển vượt qua tai nạn. Vì thế cá voi được người dân tôn sùng thành "ông lớn" (hay còn gọi là cá ông) không chỉ lúc còn sống mà ngay cả khi chết". 

Quá trình nhận thức về "ông lớn" mang tính thần thoại hóa qua nhiều thời kì. Ngư dân dù đánh bắt gần bờ hay xa bờ hễ nhìn thấy "ông lớn" chết phải có nghĩa vụ mang ông về làng để mọi người cùng chịu tang. Vạn chài nào được cá thần ghé đến phải làm lễ tống táng đầy đủ thủ tục ở nghĩa trang như một người thân trong gia đình. 

Đối với cá voi lớn, ngư dân quy định chôn 8 năm, con nhỏ là 4 năm. Sau khoảng thời gian đó, ngư dân sẽ đợi đến ngày 16/6 (âm lịch) mới được quật mộ bốc xương cá voi đem về Dinh Vạn Phước Lộc để bảo quản và thờ tự. 

Cá voi cũng có nghĩa địa 

Theo sự chỉ dẫn của ông Nguyễn Văn Mười và người dân chúng tôi xuất phát từ Dinh Vạn Phước Lộc đi men theo con đường dọc bờ biển khoảng 4km rẽ vào bãi cát bồi là đến được với nghĩa địa của "ông lớn" đang yên nghỉ sau khi đã hoàn thành sứ mệnh cứu nạn cho những ngư dân đi biển. 

Khu nghĩa địa cá Ông hiện ra trước mắt chúng tôi là một bãi cát trắng hướng chếch ra biển, nằm khuất sau những rặng phi lao đang vươn ra trước gió. 

Nghĩa địa cá voi là chốn linh thiêng nên trừ những ngày tổ chức lễ nghinh ông và cải táng thì hiếm khi có người đặt chân đến. 

Ngoài những ngôi mộ đã được bốc, trong khuôn viên nghĩa địa chỉ còn vài nấm mồ to quá khổ nằm im lìm giữa bãi đất hoang vắng. 

Theo ông Nguyễn Minh Mười đó là những ngôi mộ của ông lớn khi lụy vào bờ và bị chết giữa biển khơi đã được người dân địa phương mang về an táng tại nghĩa địa. Mỗi một ngôi mộ được đánh dấu bằng một bát nhang và một đĩa đựng trái cây. 

Ông Nguyễn Văn Mười cho biết thêm: "Hầu hết các lão ngư có tuổi ở Lagi đều tẩm liệm và cải táng cho rất nhiều cá ông. Dân ở đây xem cá ông như là một vị thần biển được người dân tôn sùng và biết ơn. 

Theo phong tục được truyền lại, mỗi khi ai đó phát hiện cá ông trôi dạt từ biển vào là phải "đi tay vải đội khăn điều" chịu tang trong ngày an táng. 

Người dân vùng biển tin rằng, năm nào cá ông dạt vào thì năm đó vùng biển mưa thuận gió hòa, ngư dân ra khơi xa làm ăn thuận lợi, không có tai nạn biển và bị bão biển gây thiệt hại tài sản và người. 

Vì thế, cứ có cá ông "lụy" vào, người dân nơi này phải có trách nhiệm lại chôn cất rất trang nghiêm. Những năm kháng chiến chống Pháp, đánh Mỹ, nhiều "ông lớn" nặng hàng chục tấn liên tiếp lụy vào bờ. 

Có lần, cá ông dạt vào bờ do trọng lượng quá lớn, thân hình quá cỡ nên đã bị mắc cạn. Người dân phải đan rọ tre bao lại cả năm trời cho tiêu tan thịt, sau đó mới đem xương cá ông vào nghĩa trang cải táng". 

Đồng nghĩa với việc cá ông lụy vào bờ là mỗi lần ngư dân lại mở hội. Trong buổi lễ tiễn đưa ông lớn ngoài chiêng trống, không thể thiếu đội hát múa bả trạo và điệu hò đưa linh dập dìu như nhịp sóng tiễn đưa ông lớn về nơi an nghỉ làm khắc khoải lòng người. 

Hiện nay, lượng cá ông lụy vào bờ không nhiều như trước nữa, nghi thức an táng cũng được cách điệu hơn nên giảm bớt sự rình rang. 

Tuy nhiên vào ngày 16/6 (âm lịch), rằm tháng bảy, rằm tháng giêng lễ hội cầu ngư diễn ra trên nghĩa địa cải táng cá ông vẫn được người dân rất xem trọng. Lễ cầu ngư được xem là ngày hội của làng, là di sản của ngư dân đi biển. 

Một con cá voi thường nặng từ vài trăm kí đến hàng chục tấn. Ai có công phát hiện cá voi được xem là người may mắn. Người đó phải có nhiệm vụ về báo lại với người đứng đầu làng, xã và người dân trong làng để mọi người chuẩn bị thủ tục mai táng. 

Nếu là cá ông nhỏ thì chỉ cần đến một nhóm ngư dân cùng đưa ông vào bờ để lo hậu sự. Đối với cá ông hàng chục tấn phải huy động đủ các làng, ấp trong xã làm thủ tục thông báo rộng rãi để mọi người cùng tiễn đưa cá ông về nơi an nghỉ. 

Những lão ngư ở làng chài Phước Hội chia sẻ, một con cá ông bị dạt vào bờ chưa chết hẳn, người dân phải dìu cá ra khỏi mép sông để ông còn sức thì có thể bơi ra biển sống tiếp, nếu ông đuối sức thì dìu hẳn vào bờ. 

Các ngư dân sẽ đào một hố dẫn nước biển vào để cá ông sống cho đến khi nào cá tắt thở hẳn mới đưa vào bờ làm lễ tang. Cho đến thời điểm này, các lão ngư phủ cũng như người dân đi biển vẫn chưa thể giải thích được "Vì sao cá ông thường lụy vào những nơi có lăng ông và nghĩa địa cá ông?".

Vào năm 2007, ngư dân Nguyễn Trí Dũng (56 tuổi) đang ra khơi thì gặp cá voi nặng 15 tấn dài 13,5m đã trút hơi thở cuối cùng đang trôi lênh đênh gần thuyền cách khoảng 5m. 

Nhìn thấy cá voi, ông Dũng không màng tới việc đánh cá nữa liền tìm mọi cách đưa "ông lớn" lên thuyền để đưa về vào bờ làm lễ an táng. 

Tuy nhiên, do ông lớn quá nặng nên một thuyền ông Dũng không tài nào đưa ông lớn cập bờ. Ông Dũng tức tốc quay vào bờ huy động thêm một thuyền nữa để chở ông lớn. 

Ngay sau khi vào bờ, các ngư dân tiếp tục kêu thêm xe tải có trọng tải hàng chục tấn để đưa ông lớn ra nghĩa trang làm lễ cải táng. Hiện nay, ông lớn đã cải táng được 5 năm. Đến năm 2015, ban quản lí Dinh Vạn Phước Lộc sẽ tổ chức bốc xương ông lớn vào Dinh bảo quản. 

Theo Đời sống & Pháp luật

Ngọn núi thiêng gắn với huyền tích chữa bệnh ở Bình Thuận

đăng 22:58, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Núi Tà Cú nổi tiếng với huyền tích chữa bệnh cho hoàng thái hậu và bức tượng Phật nằm lập kỷ lục châu Á. 

Đây là ngọn núi thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, được biết đến như một thắng cảnh quốc gia với hệ thực vật phong phú. Núi cũng là chốn linh thiêng đối với khách mộ đạo.

Không xuất sơn vẫn có thể chữa bệnh cho hoàng thái hậu

Năm 1872, nhà sư Trần Hữu Đức (1812-1887) lên núi Tà Cú lập tịnh thất tọa thiền trong một hang đá. Năm Tự Đức thứ 33, hoàng thái hậu bệnh nặng, nhà sư đã trì chú và kê toa thuốc gửi sứ mang về chữa lành bệnh cho hoàng thái hậu. Thay lời cảm tạ, vua Tự Đức đã ban 4 chữ Linh Sơn Trường Thọ cho ngôi chùa trên núi Tà Cú, nơi nhà sư tu tập.

Khi nhà sư viên tịch vào ngày 5/10 Âm lịch năm 1887, ngôi chùa bên dưới Linh Sơn Trường Thọ, gọi là Linh Sơn Long Đoàn (chùa Dưới) được thành lập như một nơi để thờ cúng và ghi nhớ công ơn của người khai sơn.

Mái chùa Linh Sơn Trường Thọ trong không gian mây trời. Ảnh: Instagram 


Tương truyền, khi tọa thiền tại thạch thất (nay gọi là Hang Tổ), nhà sư dùng mạch nước ngầm thông với thạch thất để sinh hoạt hàng ngày, ăn rau rừng và không hề xuất sơn. Chính vì vậy, núi Tà Cú đến nay được xem là ngọn núi thiêng, có nhiều loại thuốc nam quý hiếm, là thắng cảnh của tỉnh Bình Thuận và danh lam thắng cảnh lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Khách thập phương đến đây để tận hưởng không khí trong lành, thanh tịnh của núi rừng, đồng thời, nơi đây cũng là "điểm hẹn" quen thuộc của khách hành hương.

Ngọn núi với tác phẩm điêu khắc tượng Phật nằm lập kỷ lục châu Á

Tọa lạc tở độ cao 649 m trên núi Tà Cú, tượng Phật Thích ca nhập niết bàn dài 49 m, cao 7 m trở thành điểm tham quan, chiêm bái của Phật tử gần xa. Tượng Phật nằm được xây dựng từ năm 1963 bởi điêu khắc gia Trương Đình Ý. Điều đặc biệt, khi thực hiện công trình, điêu khắc gia này đã thọ trai, xuống tóc và không xuống núi đến khi hoàn thành tượng Phật vào năm 1966.

Tượng Phật Thích ca nhập niết bàn an nhiên, thoát tục được xác lập kỷ lục "Tượng Phật nằm trên đỉnh núi dài nhất châu Á" năm 2013. 

(Ghi chú: Đây là hình lấy theo bài gốc trên VnExpress, hình này thực sự không phải là tượng Phật trên núi Tà Cú. Phạm Hoài Nhân)


Tượng Phật Thích ca nằm nghiêng được làm bằng xi măng cốt thép và quét vôi trắng bên ngoài. 49 m chiều dài tượng Phật tượng trưng cho 49 năm từ khi Đức Thích ca thành đạo thuyết pháp độ đời đến khi nhập diệt. Hiện câu hỏi về phương tiện thô sơ, sức người có hạn khi đó làm sao có thể vận chuyển hàng ngàn tấn thép, xi măng để hoàn thành tuyệt tác tượng Phật vẫn còn là điều bí ẩn.

Bên cạnh tượng Phật nằm là đường vào Hang Tổ với quần thể đá nhấp nhô. Hiện nay, trong quần thể đá này, nếu có duyên, du khách có thể tìm được "hòn đá chuông". Gọi như vậy vì khi dùng những viên đá nhỏ gõ vào sẽ phát ra tiếng kêu như tiếng gõ chuông.

Trước khi đến được tượng Phật nằm, khách thập phương có thể viếng tượng Phật Di Lạc được tạc từ đá bên vách núi; tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát trắng toát uy nghi và tượng Di Đà Tam Tôn (A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát).

Bước qua hơn 100 bậc thang dốc thoai thoải phủ rong rêu đến với cụm các tượng Phật, du khách có thể cảm nhận được sự thanh tịnh, bao bụi trần tan biến khi trước mắt là mái chùa Linh Sơn Trường Thọ thấp thoáng; những thảm cây xanh ngút ngàn; mây trôi bàng bạc; tiếng chim hót líu lo và âm thanh của núi thiêng vang vọng...

TTC World – Tà Cú đón khách thập phương đến giỗ tổ đấng khai sơn

Những ngày gần đây, Phật tử gần chùa núi Tà Cú đã cùng nhau sơn lại những tượng Phật để đón khách thập phương đến viếng, cúng bái và tri ân vị tổ sư khai sơn vào dịp giỗ tổ Trần Hữu Đức vào ngày 11/11 (nhằm ngày 5/10 Âm lịch).

Du khách có thể lên chùa viếng Phật bằng cáp treo – một trong các hệ thống cáp treo hiện đại nhất Việt Nam được đưa vào vận hành từ năm 2003.

Núi Tà Cú với không gian nguyên sơ - thắng cảnh tiêu biểu của tỉnh Bình Thuận và cũng là danh lam thắng cảnh lịch sử văn hóa cấp quốc gia. 


Trước khi lên cáp treo viếng chùa và đảnh lễ chư Phật, du khách có thể hòa mình vào không gian rừng núi thanh tịnh, an yên tại khuôn viên TTC World – Tà Cú. Nơi đây có những thảm cỏ xanh mát dưới những tán cây xanh rì; khu vườn hồng hạc và tượng 12 con giáp như những linh vật canh giữ nơi đây; vườn thuốc Nam với nhiều loại cây thuốc chữa bệnh; cây ước nguyện chuyên chở những tâm nguyện của du khách qua những dây băng hồng, đỏ; hoặc đơn giản, du khách có thể đắm chìm vào không gian núi rừng nguyên sơ tại đây.

Đáp ứng nhu cầu hành hương của khách thập phương, TTC World – Tà Cú dành chương trình ưu đãi đặc biệt trong dịp giỗ tổ sư Trần Hữu Đức. Cụ thể, đối với đoàn khách trên 10 người, nếu đặt ăn sẽ có giá vé là 170.000 đồng mỗi người lớn và 100.000 đồng với trẻ em; nếu không đặt ăn, giá vé sẽ là 200.000 đồng với người lớn và 120.000 đồng với trẻ em. Riêng đối với các sư thầy, ni cô sẽ được miễn phí trọn gói 100%. Đặc biệt, từ 14h đến 18h, giá vé sẽ là 200.000 đồng mỗi người lớn cùng với buffet chiều miễn phí.

Kim Ngân

Huyền tích Linh Sơn Thánh Mẫu núi Bà Đen

đăng 01:18, 23 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Núi Bà Đen cao 986 mét so với mực nước biển và được xem là cao nhất Đông Nam bộ. Theo sách “Gia Định Thành Thông Chí”, tên gốc của núi Bà Đen là Bà Dinh. Những bậc kỳ lão địa phương thì cho rằng tên gốc là núi Một. Đến khoảng nửa thế kỷ XVIII mới xuất hiện tên gọi núi Bà Đênh, sau gọi trại dần thành núi Bà Đen. Cũng có người gọi là núi Điện Bà.

Cũng theo các bậc kỳ lão, tên gọi núi gắn liền với những giai thoại ly kỳ của Bà Đen, người được vua Gia Long phong thánh hiệu "Linh Sơn Thánh Mẫu".

Ngày nay, cứ đến dịp rằm tháng giêng (âm lịch) hàng năm, cả triệu lượt khách hành hương khắp nơi tìm về núi Bà Đen để viếng, bái Linh Sơn Thánh Mẫu.

Trèo núi cấm không được kêu… mệt!

Ngày nay, con đường bộ lên núi được đầu tư xây dựng một cầu thang dựng đứng, đi vòng vèo quanh những tảng đá từ chân núi lên đến chùa. Chỉ cần mất 1 giờ để leo đến Điện Bà. Trước năm 1975, khách thập phương muốn lên chùa phải leo trèo qua những tảng đá dưới những tán rừng đầy thú dữ suốt nửa ngày mới đến nơi. Thuở đó, việc đi viếng Bà là cả một chuyến phiêu lưu, mạo hiểm đúng cả nghĩa bóng lần nghĩa đen. Dù vậy, danh tiếng linh thiêng, cứ đến rằm tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, khách thập phương vẫn lũ lượt leo núi viếng Bà.

Một góc chùa ngày thường.


Hồi đó, có một giao ước bất thành văn rằng: Khi leo núi cấm thốt tiếng "mệt". Những đoàn người hì hục leo núi, thỉnh thoảng hỏi nhau: "Mệt không?" Cả đoàn người phải đồng thanh hô lớn: "Khỏe!", mặc dù ai cũng thở ra đằng tai. Tiếng hô "khỏe" lan truyền từ người mới đến chân núi lan dài đến người leo đến gần Điện Bà thành một thứ âm thanh vang dội núi rừng.

Cho đến tận ngày nay giao ước này vẫn tồn tại. Họ tin rằng, đi viếng mà than thở mệt nhọc, sẽ không được Bà ban điều khấn xin, thậm chí còn gặp nguy hiểm khi leo núi?

Bà Hai Đông, 82 tuổi, là cựu giáo viên thời Pháp, cư ngụ ở Tân Trung, ven Tỉnh lộ 793 dưới chân núi, giải thích: "Hồi kháng Pháp, đường lên núi không chỉ cheo leo hiểm trở, tăm tối mà còn đầy cọp, beo, rắn, rết. Người hành hương không dám đi lẻ một mình mà phải kết thành từng đoàn. Hồi còn thiếu nữ, chính tôi từng đi xem xác người bị cọp núi Bà vồ. Muốn đi vía Bà, đoàn người hành hương phải đi từ sáng tinh mơ mới kịp trở về chân núi trước khi trời tối.

Việc hô "khỏe" của các đoàn hành hương có nhiều lợi ích. Thứ nhất, họ tự khích lệ quyết tâm vượt qua cơn mệt nhọc và nỗi sợ hãi để đi đến nơi về thật sớm. Thứ hai, các thành viên của đoàn sẽ không lạc nhau. Thứ ba, việc hô to như vậy sẽ xua đuổi thú dữ. Lâu dần, việc hô như vậy thành lệ, truyền sang đời sau và biến thành niềm tin tâm linh là Bà cấm than mệt khi đi viếng Bà?"

Bà Hai Đông còn cho biết, ngày xưa Bà Đen nổi tiếng linh thiêng chỉ 2 phép: Phát duyên và phát vận. Căn cứ vào đó, hầu hết người đi viếng Bà chỉ cầu xin được tình duyên và gặp vận may. Các phép khác, Bà không ban.

Truyền thuyết về Bà Đen

Có đến 3 truyền thuyết về Bà Đen.

Truyền thuyết thứ nhất cho rằng, ngày xưa, chủ vùng núi này là người phụ nữ Phù Nam có tên là Rê Đeng. Do người đời sau đọc trại thành Đen.


Truyền thuyết thứ hai cho rằng, bà Đen tên thật là Lý Thị Thiên Hương, con gái một vị quan trấn nhậm Trảng Bàng thuộc triều Nguyễn tên là Lý Thiên. Mẹ là bà Ðặng Ngọc Phụng, người gốc ở Bình Ðịnh vào Trảng Bàng lập nghiệp.

Trong làng có chàng trai Lê Sĩ Triệt, mồ côi cha mẹ, được một nhà sư nuôi dạy từ nhỏ, văn hay võ giỏi.

Lần nọ, Thiên Hương lên núi cúng chùa bị một đám côn đồ vây bắt. Giữa lúc nguy khốn thì chàng Lê Sĩ Triệt xông ra đánh đuổi, cứu được nàng. Ðể đáp ơn chàng, cha mẹ nàng Thiên Hương hứa gả nàng cho Lê Sĩ Triệt. Chưa kịp đám cưới thì Lê Sĩ Triệt phải tòng quân đánh Tây Sơn.

Khi Lê Sỹ Triệt tòng quân, ở nhà Lý Thị Thiên Hương bị kẻ xấu vây bắt, toan hãm hiếp. Giữ lòng trung trinh, nàng Hương nhảy xuống khe núi tử tiết. Sau khi chết, nàng Lý Thị Thiên Hương hiển thánh báo mộng cho vị sư trụ trì trên núi biết. Trong mộng, nàng Hương xuất hiện trong hình dáng một người phụ nữ đen đúa? Vị sư bèn đi tìm thi thể nàng đem về mai táng. Vì vậy, vị sư gọi nàng là nàng Đen. Người đời sau gọi là Bà Đen để tỏ lòng tôn kính.

Truyền thuyết thứ ba có ghi trong quyển "Sự tích Thánh Mẫu Phật Bà Tây Ninh" rằng: Thuở mới khai hoang vùng đất, một viên quan trấn thủ vùng chân núi Một có 2 người con. Người con trai tên là Thạch Biên. Người con gái là Thạch Nương, có tên thường gọi là Đênh.

Khi nàng Đênh 13 tuổi, có một nhà sư tên là Trung Vân Danh, đạo hiệu Trừng Thanh tìm đến lưng chừng núi Một dựng chùa, thờ Phật và hoằng pháp độ sanh.

Mộ đạo, nàng Đênh đã xin theo nhà sư Trừng Thanh học đạo. Thấy nàng Đênh xinh đẹp, quan trấn thủ Trảng Bàng cho người mai mối xin cưới cho con trai. Khi hai gia đình chuẩn bị lễ vật cho lễ cưới thì bất ngờ nàng mất tích. Gia đình hai bên cho người tìm kiếm khắp nơi thì phát hiện một khúc chân nghi là của nàng Đênh. Mọi người đồn đoán rằng nàng Đênh đã bị cọp vồ. Gia đình mai táng khúc chân và lập mộ cho nàng dưới chân núi.

Từ đó, người ta gọi ngọn núi Một là núi Bà Đênh, đọc trại dần thành Bà Đen?

Khi chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi, chạy đến núi Bà Đen lẩn tránh. Thiếu lương thực, từ vua đến lính đều đói lả. Nghe dân cư đồn về sự linh thiêng của bà Đen, trong cơn tuyệt vọng, chúa Nguyễn Ánh đã cầu khẩn xin phò trợ. Đêm đó, bà Đênh xuất hiện trong mộng của chúa Nguyễn Ánh. Bà cho biết Nguyễn Ánh đang nằm ngủ dưới gốc một loại cây cho trái có thể cứu đói binh sĩ.

Khi thức giấc chúa Nguyễn Ánh trông thấy trên cành cây mình đang nằm ngủ có nhiều quả nhỏ chi chít. Hái xuống ăn thử thì có vị rất ngon. Ông truyền cho binh sĩ hái loại quả ấy ăn lót dạ. Ông đã đặt tên cho loại quả ấy là "tùng quân".

Năm 1790, Nguyễn Ánh đưa binh lính quay lại núi đúc tượng, cất lại điện thờ. Sau đó phong sắc Linh Sơn Điện và phong Bà là Linh Sơn Thánh Mẫu.

Từ thuở khai hoang

Ngày nay, sau nhiều lần trùng tu, xây mới, trên nền xưa của Linh Sơn Tự hiện diện một ngôi chùa khang trang có tên gọi là Linh Sơn Tiên Thạch Tự vừa thờ Phật vừa thờ Bà Đen. Sự giao thoa tín ngưỡng mặc nhiên đó đã được người dân chấp nhận.

Căn cứ vào các nguồn sử liệu của Quốc Sử quán triều Nguyễn thì Vua Gia Long phong sắc cho Bà Đen. Điều đó có nghĩa là truyền thuyết về Bà Đen có trước khi Nguyễn Ánh vào núi lánh nạn Tây Sơn.

Và cũng có nghĩa là điện thờ Bà Đen có tên gọi chính thức là Linh Sơn Điện. Như vậy, Linh Sơn Điện là vị trí của ngôi chùa Thượng. Còn một hang đá do các vị sư chi phái Liễu Quán (thuộc phái Lâm Tế Chánh Tông) làm nơi ẩn cư niệm Phật, được gọi là Linh Sơn Thạch Động Tự hoặc chùa Hang.

Điện thờ Bà mang tín ngưỡng thờ Mẫu. Còn ngôi chùa là tín ngưỡng Phật giáo ẩn cư của chi phái Liễu Quán (Lâm Tế).

Trở lại lịch sử, vào thế kỷ thứ XVIII, khi các chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía Nam thì một số cao tăng thuộc Thiền phái Liễu Quán cũng theo làn sóng di cư xuôi Nam đi tìm chốn non hoang, động vắng tu pháp.

Năm 1763, Thiền sư Ðạo Trung Thiện Hiếu là đệ tử của Thiền sư Ðại Cơ và thuộc đời thứ tư của chi phái Liễu Quán tìm đến hang đá hoang vu trên núi Bà làm nơi định thiền. Đó chính là chùa Hang.

Lúc đó Thiền sư Đạo Trung đã nhặt được một số tượng đồng cổ. Trong đó có một tượng thánh nữ bằng đồng màu đen. Vị sư đã cất miếu hương khói cho bức tượng này.

Thuở đó đã có cư dân Việt và Cao Miên sinh sống dưới chân núi. Họ gọi Thiền sư Đạo Trung là "sư Bưng Đĩa" (Vì quan sát thấy Thiền sư thường nâng đĩa đựng hoa quả cúng tổ). Sau khi ẩn tu ở hang đá suốt 30 năm, Thiền sư Đạo Trung giao thạch điện cho đệ tử là Thiền sư Tính Thiện (tức Tánh Thiện Thanh Thanh). Thiền sư Đạo Trung về Thủ Dầu Một (Bình Dương) khai môn chùa Long Hưng. Kế nghiệp Thiền sư Tính Thiện là Thiền sư Hải Hiệp Từ Tạng.

Năm 1784, Nguyễn Ánh vào núi lánh nạn Tây Sơn. Năm 1790, Nguyễn Ánh sắc phong Linh Sơn Thánh Mẫu. Năm 1820, Vua Minh Mạng cử Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định Thành lần thứ 2. Và một lần nữa, Vua Minh Mạng ban sắc phong Linh Sơn Thánh Mẫu cho Bà Đen. Vua Minh Mạng còn ban chỉ cho Lê Văn Duyệt xây cất ngôi Linh Sơn Điện khang trang hơn.

Sau khi xây cất linh điện xong, Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã giao cho Thiền sư Hải Hiệp gìn giữ. Tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật hợp nhất trong một ngôi điện thờ.

Năm 1857, Thiền sư Tánh Thọ Phước Chí từ chùa Phước Lâm, Tây Ninh lên núi thăm viếng thì phát hiện Thiền sư Hải Hiệp viên tịch từ lúc nào, thân xác đã hóa thổ. Điều lạ là, ngón tay út bàn tay trái của Thiền sư Hải Hiệp vẫn còn nguyên vẹn?

Thiền sư Tánh Thọ đã đem ngón tay út của Thiền sư Hải Hiệp chôn dưới đáy chùa Hang để lập bia mộ. Gần 100 năm sau, mộ của Thiền sư Hải Hiệp được tín đồ cải táng ra ngoài xây tháp. Khi đào lên, ngón tay út vẫn còn nguyên và được cải táng?

Sau khi chôn cất ngón tay cho sư phụ, Thiền sư Tánh Thọ tiếp tục tu hành tại Linh Sơn Điện.

Sau năm 1940, quân Pháp và quân Nhật lần lượt chiếm đóng núi Bà Đen và phá hủy hoàn toàn Linh Sơn Điện. Tượng Bà bằng đồng, màu đen bị chúng cướp và thất lạc.

Mãi đến năm 1956, một nhà giáo có uy tín ở địa phương, tên là Nguyễn Văn Hảo được một người phụ nữ đen đúa báo mộng cho biết, bà chính là Linh Sơn Thánh Mẫu. Bà bảo ông Hảo đến chùa Phước Lâm sẽ gặp bà? Ông Hảo bán tín bán nghi nhưng vẫn đến chùa Phước Lâm gặp vị sư trụ trì. Ông Hảo vừa kể xong câu chuyện nằm mơ thì vị sư trụ trì chùa Phước Lâm thất kinh xác nhận: "Một người lính Nhật đã bí mật giao cho tôi bức tượng trước khi về nước. Không ai biết chuyện này?" Câu chuyện này, được một nữ nhà giáo - con gái ruột của ông Nguyễn Văn Hảo - kể cho người viết nghe từ năm 1980.

Ngay sau khi phát hiện bức tượng đồng Bà Đen được cất giấu ở chùa Phước Lâm, nhà sư Nguyên Chất - Trụ trì chùa Phước Lâm - cùng nhà giáo Nguyễn Văn Hảo và bạn bè lên núi xây cất lại nơi thờ Bà. Lần xây cất này, công trình được đặt tên là Linh Sơn Tự. Vào khoảng 1970, quân đội Mỹ xây dựng 1 trạm ra đa tình báo đặt trên đỉnh núi để kiểm soát địa bàn Tây Ninh và dòm vào căn cứ Trung ương Cục. Trước khi đưa quân lên núi, giặc Mỹ đã ném hàng tấn bom đạn và hơi cay các loại vào những nơi chúng nghi ngờ có quân ta trú đóng. Do giao tranh ác liệt, ngôi chùa bị cháy bởi bom napal Mỹ. Bức tượng Bà lại thất lạc lần nữa.

Năm 1975, ni sư Diệu Nghĩa, đệ tử đời sau của sư Nguyên Chất đã xây lại chùa. Lần này, ngôi chùa có tên là Linh Sơn Tiên Thạch Tự. Năm 1992, ni sư Diệu Nghĩa đã cùng tín đồ tái thiết ngôi chùa suốt 3 năm. Ngày nay, ngôi chùa thật khang trang và rộng rãi, sẵn sàng cung nghinh khách hành hương viếng Bà, lễ Phật.

Nông Huyền Sơn

Bò đi Đá Nhảy

đăng 03:47, 5 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Xưa kia có một giai thoại lý thú về câu đối như thế này:


Ông nghè Nguyễn Duy Thiện (làng Lý Hoà, tỉnh Quảng Bình) và ông nghè Trần văn Thống (làng La Hà, tỉnh Quảng Bình) rủ nhau đi chơi. Khi đến bãi biển Đá Nhảy (thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình), hai người thở hào hển, vừa nhảy vừa bò qua các tảng đá. Ông Thiện nhìn cảnh ấy, xuất ra câu đối: Hùm hét La Hà.


Câu đối này lắt léo ở chỗ vừa diễn tả con hùm (cọp) hét ở La Hà (là tên làng, quê của ông Thống), lại vừa là 4 động từ diễn tả các hoạt động của miệng (hùm - hét - la - hà) và cũng đúng là các động tác mà bạn mình đang thể hiện.


Ông Thống đứng lại để... thở, và đối: Bò đi Đá Nhảy,


Câu đối lại này rất xuất sắc ở chỗ vừa diễn tả con bò đi ở Đá Nhảy (là chỗ hai ông đang đi), lại vừa là 4 động từ diễn tả các hoạt động của chân (bò - đi - đá - nhảy) và cũng đúng là các động tác mà hai ông đang thực hiện.


Có một câu chuyện kể khác về xuất xứ của đôi câu đối này. Rằng sau khoa thi Đình năm Nhâm Tuất 1862, để thử sức các vị tân tiến sĩ, vua Tự Đức ra vế đối: “Bò đi đá nhảy”. Một trong những vị tân tiến sĩ là ông Trần Văn Chuẩn, người làng La Hà tủm tỉm cười rồi thong thả đọc: “Hùm hét la hà”. Ngày nay trong nhà thờ họ Trần vẫn còn ghi lại giai thoại này.


Thôi kệ, ai xuất và ai đối cũng được, miễn là đời sau còn cặp câu đối rất hay. Tui biết cặp câu đối này từ hồi còn rất nhỏ, nhưng không biết hai điểm Đá Nhảy và La Hà ở đâu và có còn mang tên như vậy không. Sở dĩ không biết là vì 2 nơi này ở đâu đó bên kia vĩ tuyến 17.


Bất ngờ thay, giờ biết ra là cả Đá Nhảy và La Hà đều là những địa danh có thật và tồn tại đến tận bây giờ (các bạn không có điều kiện đến đó chỉ việc lên Google Maps search là ra ngay). Chẳng những vậy, đây còn là 2 địa điểm du lịch nổi tiếng nữa chứ!


Đá Nhảy nổi tiếng hơn La Hà. Đây là một quần thể núi đá nằm sát biển, phía dưới chân đèo Lý Hòa. Từ trên cao nhìn xuống, nơi đây như một bức tranh thiên nhiên độc đáo với muôn vàn khối đá mọc lên từ bờ cát. Bãi Đá Nhảy chỉ cách quốc lộ 01 một đoạn ngắn.


Bãi Đá Nhảy


Đến tham quan bãi Đá Nhảy, du khách như lạc vào một trận đồ của đá với muôn hình kỳ thú. Đá to, đá nhỏ, đá tảng, đá hòn, đá thẳng, đá nghiêng, đá kết đôi, xúm xít trên bờ biển (có lẽ vì vậy mà có tên là đá nhảy)Bãi tắm Đá Nhảy cũng không kém phần quyến rũ, với bờ cát bằng phẳng, mịn màng, nước biển trong xanh yên ả, phía trên có dải rừng phi lao bao phủ.



Bãi Đá Nhảy


Điểm du lịch đáng chú ý ở La Hà là đình làng La Hà, thuộc thôn La Hà, xã Quảng Văn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đây là môt ngôi đình lâu đời, nơi để tôn vinh những người con của vùng đất này có thành tích đỗ đạt cao. Đình làng La Hà được xây dựng vào năm 1859,  có khuôn viên rộng 2000 m2, trước mặt là nơi giao hội của các nhánh sông Son, sông Nan và các nhánh sông nhỏ.


Đình làng La Hà


Hai địa điểm này cách nhau khoảng 14 km theo đường chim bay, nhưng nếu đi bằng đường bộ phải đi một quãng gần gấp đôi như vậy. Còn nếu chỉ đến bãi biển Đá Nhảy (trên Google Maps ghi là Dancing Rock Beach) thì bạn đi theo quốc lộ 1, cách Đồng Hới 27 km về hướng Bắc.


Phạm Hoài Nhân

Chuyện về Thiên Y A Na, người sở hữu nhiều trầm nhất Khánh Hòa

đăng 05:25, 26 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Bà Thiên Y A Na – mẹ xứ sở ở Tháp Bà Poh Nagar, theo truyền thuyết là hóa thân từ một khúc trầm hương hoặc có liên quan đến khói trầm hương. Và trong tâm thức người dân cũng như nhiều huyền thoại về Bà Thiên Y A Na mà chúng tôi cóp nhặt, trầm hương ở xứ trầm hương Khánh Hòa, tất cả là của Bà, do Bà cai quản và “điều phối” nên muốn có thì phải khấn xin thành khẩn.

Một góc Tháp Bà. Ảnh: H.V.M 


Tiên nữ hóa thân thành khúc kỳ nam

Thiên Y A Na (hay là Poh Nagar theo tiếng Pháp) có nhiều sự tích vô cùng ly kỳ. Truyền thuyết của người Việt (được cụ Phan Thanh Giản chép lại thành một bài ký và Bố chánh sứ tỉnh Khánh Hòa là Nguyễn Quýnh khắc bia dựng phía sau tháp Poh Nagar) kể rằng: 

Xưa kia tại núi Đại An có hai vợ chồng ông tiều phu đến cất nhà và vỡ rẫy trồng dưa nơi triền núi. Dưa chín thường hay bị mất. Một hôm ông rình, bắt gặp một thiếu nữ trạc chín mười tuổi hái dưa, rồi giỡn dưới trăng. Thấy cô gái dễ thương, ông đem về nuôi, hai ông bà vốn không con cái, nên đối với thiếu nữ thương yêu như con ruột.

Tháp cao nhất là nơi thờ Bà Poh Nagar - người sở hữu trầm hương nhiều nhất Khánh Hòa. Ảnh: H.V.M 


Một hôm trời mưa lụt lớn, cảnh vật tiêu điều buồn bã, thiếu nữ lấy đá chất thành ba hòn giả sơn và hái hoa lá cắm vào, rồi đứng ngắm làm vui, ông tiều nặng tiếng la rầy. Ông không ngờ rằng con gái mình chính là tiên nữ giáng trần đương nhớ cảnh Bồng Lai. Đã buồn thêm bực! Nhân thấy khúc kỳ nam theo giòng nước nguồn trôi đến, tiên nữ bèn biến thân vào khúc kỳ, để mặc cho sóng đưa đẩy. Khúc kỳ trôi ra biển cả rồi tấp vào đất Trung Hoa. Mùi hương bay ngào ngạt. Nhân dân địa phương lấy làm lạ, rủ đến xem. Thấy gỗ tốt xúm khiêng, nhưng người đông bao nhiêu cũng không giở nổi. 

Thái tử Bắc Hải nghe tin đồn, tìm đến xem hư thực. Thấy khúc gỗ không lớn lắm, lẽ gì nặng đến nỗi không giở lên. Thái Tử bèn lấy tay nhắc thử và lấy làm lạ vì khúc gỗ nhẹ như tờ giấy! Bèn đem về cung, trân trọng như một bảo vật. Một đêm, dưới bóng trăng mờ, Thái tử thấy có bóng người thấp thoáng nơi để khúc kỳ nam. Nhưng lại gần thì tứ bề vắng vẻ, bên mình chỉ phảng phất mùi hương thanh thanh từ khúc kỳ nam bay ra. 

Chàng quyết rình xem suốt mấy đêm liền không hề thấy gì khác lạ. Chàng không nản chí. Rồi một đêm bốn bề im phăng phắc, một giai nhân tuyệt sắc theo mùi hương ngạt ngào trong khúc kỳ nam bước ra. Thái tử chạy đến ôm choàng. Không biến kịp, giai nhân đành theo Thái tử về cung và cho biết lai lịch. Giai nhân xưng là Thiên Y A Na. 

Thái tử đã trưởng thành, nhưng chưa chọn được người xứng ý. Nay thấy Thiên Y A Na xinh đẹp khác thường, bèn tâu cùng phụ hoàng xin cưới làm vợ. Vua đồng ý. Vợ chồng ăn ở với nhau rất tương đắc và sinh được hai con, một trai tên Trí, một gái tên Quý, dung mạo khôi ngô. Thời gian qua trong êm ấm. Nhưng một hôm, lòng nhớ quê thúc dục, Thiên Y A Na bồng hai con nhập vào khúc kỳ nam trở về làng cũ.

Tháp Bà Poh Nagar được xây trên một ngọn đồi trong vùng núi Cù Lao, hình như một chiếc nón lá úp sấp. Ảnh: H.V.M 


Núi Đại Am còn đó nhưng vợ chồng ông tiều đã về cõi âm. Thiên Y A Na bèn xây đắp mồ mả cha mẹ nuôi và sửa sang nhà cửa để phụng tự. Thấy dân địa phương còn man dã, Bà dạy họ cày cấy, dạy kéo vải dệt sợi và đặt ra lễ nghi… 

Từ ấy ruộng nương mở rộng, đời sống của nhân dân mỗi ngày một thêm phú túc phong lưu. Rồi một năm vào ngày lành tháng tốt, trời quang mây tạnh, một con chim hạc từ trên mây bay xuống, bà cùng hai con lên lưng hạc bay về trời. Nhân dân địa phương nhớ ơn đức, xây tháp tạc tượng phụng thờ. Và mỗi năm vào ngày Bà thăng thiên, dân đều tổ chức lễ múa bóng dâng hoa rất long trọng… 

“Khánh Hòa là xứ trầm hương/ Non cao biển rộng người thương đi về”. Rất nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á có trầm hương, nhưng không có nơi đâu trầm nhiều và chất lượng như ở Việt Nam. Tại Việt Nam, những nơi có núi cao rừng rậm như Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam đều có trầm hương nhưng không đâu nhiều và thơm như Khánh Hòa. 

Cho nên hễ nói đến Trầm Hương là nói đến Khánh Hòa mà nói dến Khánh Hòa là nói đến trầm hương. Nhưng ở Khánh Hòa, trầm hương nhiều nhất là Ninh Hòa và Vạn Ninh. Và nhiều, tốt nhất là trầm hương Vạn Giã của Vạn Ninh. Chả thế mà ca dao Khánh Hòa có câu: “Cây quế Thiên Thai mọc ngoài khe đá/ Trầm nơi Vạn Giã hương tỏa sơn lâm”. 

Dù là “trầm nơi Vạn Giã hương tỏa sơn lâm” nhưng tìm ra được trầm hương không phải là việc dễ. Như Quách Tấn viết trong biên khảo “Xứ trầm hương”: Người Khánh Hòa, nhất là người đi địu (đi tìm trầm trên rừng), tin rằng trầm hương là của Bà Thiên Y A Na. Bà cho ai thì người ấy được. Bằng Bà không cho thì dù đứng một bên cũng không tìm thấy. Có đôi kẻ có phước, không cố tâm đi tìm mà tự nhiên Bà cho hưởng lộc. 

Lại truyền rằng Bà có bốn cây trầm hương kỳ cựu trấn bốn phương: Một ở Ðồng Bò trấn phía Nam; một ở Hòn Bà (Ninh Hòa) trấn phía Bắc; một ở Hòn Dữ (Diên Khánh) trấn phía Tây; một ở Suối Ngổ trấn phía Ðông. Những cây trầm nầy không còn lá không còn giác, mưa nắng không thể làm hư mục được. Và có chim rừng canh, cọp rắn giữ. Hễ ai trông thấy mà có ý muốn chiếm hữu thì liền bị “lính canh giữ của Bà” đánh đuổi. Bởi vậy trước khi đi tìm trầm, người đi địu phải dâng lễ cầu khấn Bà. Và trong những rừng nào có nhiều cây gió đều có miếu, có am thờ Bà do những người đi địu lập, để tiện việc cúng kính trước khi vào rừng. 

“Hỏi xem điệu múa dâng Bà còn chăng?” 

Tháp Bà Poh Nagar được xây trên đồi Cù Lao, hình như một chiếc nón lá úp sấp. Phía Nam giáp sông Nha Trang, phía Tây và phía Bắc giáp núi và đồng bằng, trước mặt thì làng Cù Lao (Xóm Bóng) và biển. Quần thể di tích Poh Nagar có 6 tháp, trong đó có 4 tháp còn hiện hữu, 2 tháp chỉ còn lại nền móng cũ. Tháp Đông Bắc còn được gọi là tháp chính được xây bằng gạch nung cao 22,3m gồm có bốn ngọn. Ba ngọn nhỏ một ngọn lớn. Ngọn lớn ở phía Bắc, cao đến 23 thước. Theo nhà khảo cổ Henri Parmentier người Pháp thì tháp này do vua Chiêm Thành là Harivarma Đệ Nhất xây vào đầu thế kỷ IX. Còn các ngọn khác thì xây vào khoảng thế kỷ thứ VII, thứ VIII.

Trên những trụ biểu này là sân khấu múa Bóng dâng Bà ngày xưa. Ảnh: H.V.M 


Bà Thiên Y A Na được thờ ở ngọn tháp chính phía Bắc. Tượng nữ thần được tạc bằng đá xanh, cao lớn, ngồi xếp bằng trên một bệ cao rộng, cũng bằng đá xanh nguyên khối. Thần có 10 cánh tay. Hai tay đặt lên đầu gối, lòng bàn tay để ngửa. Còn tám tay khác thì giơ lên hình rẻ quạt và mỗi tay cầm một món binh khí, như đoản đao, giáo, ná, tên…. 

Y phục khắc theo kiểu chúng ta thường thấy ở các tượng đá của người Chăm: Đầu đội mão triều thiên (nhọn như mũ vũ nữ Thái Lan), thân chỉ che đôi mảnh xiêm y ở hạ thân và ở ngực. Tuy nhiên kể từ khi được “Việt hóa”, mặt tượng Bà đã bị sơn, vẽ mày, choàng áo cẩm bào và đầu đội thêm một ngọc miện nên trông như tượng gỗ. Cũng như tượng bà Chúa Xứ ở Châu Đốc (An Giang), không nhiều người biết đó vốn là một tượng… nam thần của nền văn hóa Óc Eo được “biến” thành "Bà chúa" bằng cách cho mặc váy, choàng cẩm bào, tô mặt vẽ mày và đội ngọc miệng, đeo trang sức… 

Cũng không nhiều người biết, Bà được vua Gia Long phong tặng “Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đẳng Thần” và cắt dân làng Cù Lao ba người sung làm từ phu. Các đời vua sau của triều Nguyễn, đời nào cũng có sắc phong. Thậm chí vua Đồng Khánh không chỉ sắc phong mà còn hạ mình xưng thần – là một trong những vị thần dưới trướng của Bà. 

Với người địa phương, ngoài danh hiệu Thiên Y A Na, còn tôn xưng Bà là “A Na Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi”, gọi tắt là bà “Chúa Ngọc” và gần như gởi trọn niềm tín ngưỡng nơi tháp, nhất là phụ nữ. Hàng năm cứ đến ngày 20 tháng 3 âm lịch người dân đồng bào Chăm- Việt lại gồng gánh sản vật về dự lễ hội Tháp Bà. Rồi đến gày vía bà (tháng 3 ấm lịch) nhân dân địa phương lại tổ chức lễ cúng tế rất long trọng cùng lệ múa Bóng ở trước sân tháp. 

Đây là một điệu múa rất đặc sắc của người Chăm truyền lại, được Quách Tấn miêu tả chi tiết trong “Xứ trầm hương”: "Người múa toàn là con gái. Áo xiêm rực rỡ; đầu đội, người cỗ hoa tươi, kẻ đèn lồng ngũ sắc. Đèn và hoa chồng cao như ngọn tháp. Vũ nữ múa theo điệu đàn điệu trống, đoanh lộn nhịp nhàng dưới ánh đuốc ánh đèn hừng hẫy. Họ múa rất khéo và dẻo vừa mềm, mà đầu và thân cũng luôn luôn ngã nghiêng uốn éo theo bước chân nhịp tay, rộn ràng đều đặn. Thế mà đèn và hoa đội trên đầu, không vịn không đỡ mà vẫn không hề lay không hề dịch, dường như có những bàn tay vô hình đỡ nâng không thể nào giải thích được. Đặc biệt việc tổ chức múa Bóng do người sống ở khu vực trước tháp phụ trách. Những vũ nữ cũng người trong xóm. Cho nên xóm mệnh danh là xóm Bóng thuộc làng Cù Lao". 

Cũng theo Quách Tấn viết trong “Xứ trầm hương” thì “Lệ múa Bóng ngày vía Bà đã bỏ từ thời vua Bảo Đại, trước đệ nhị thế chiến nên xóm Bóng không còn những bà bóng về ở để múa dâng Bà nữa. Nhân đó có câu hát: "Ai về xóm Bóng thăm nhà/ Hỏi xem điệu múa dâng Bà còn chăng?/ Thế thường tre lụn còn măng/Lẽ đâu tham đó bỏ đăng cho đành”. Ngoài múa Bóng, ở Tháp Bà còn có hầu đồng và hát văn của người Việt để hầu Bà trong những dịp lễ vía, nhưng cũng chung tình cảnh thăng trầm như múa Bóng vì rất nhiều lý do. 

Trầm của Bà giờ cũng như múa Bóng! 

Xóm Bóng bây giờ, đã là một khu đô thị thuộc phường Vĩnh Thọ, thành phố Nha Trang đường hẹp, người đông sống chen chúc nhau tưởng như không đủ không khí để thở. Một lượng lớn người dân xóm Bóng đã vượt biển ra nước ngoài từ những 1980, khi đất nước rơi vào khủng hoảng. Những người ở lại, hiện sống bằng nghề đi biển và… chờ ngoại tệ nước ngoài gởi về. Ngày chúng tôi tìm đến, xóm Bóng giờ chẳng còn ai biết và hứng khởi với việc múa Bóng dâng bà.

Hát văn, hầu đồng tại lễ hội Tháp Bà tháng 5.2018. Ảnh: Phương Linh 


Đội múa Bóng năm xưa, giờ chỉ còn mỗi bà Ba Kẹp – Đoàn Thị Kẹp cũng đã tròm trèm 72 tuổi. “Những thành viên khác của đội múa bóng nhiều năm trước đã theo chồng, theo con sang định cư bên Mỹ hết rồi” – bà Ba Kẹp cho biết. Bà Ba Kẹp có hai cô con gái cũng có học theo mẹ múa Bóng, nhưng “giờ một đứa thì lấy chồng ở Mỹ, một đứa lấy chồng ở Phần Lan”. 

Ngoài múa Bóng gần như đứt bóng, câu chuyện của hầu đồng và hát văn ở Khánh Hòa gắn liền với Tháp Bà cũng không có gì sáng sủa hơn. Theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Tứ Hải, một thời gian rất dài, hầu đồng, hát văn, thậm chí cả múa Bóng ở Khánh Hòa bị chính quyền coi là mê tín dị đoan nên ra sức cấm cản. “Ngay cả đến năm 2002, khi Tháp bà được công nhận là di tích cấp quốc gia thì các loại hình nghệ thuật đi kèm như vừa kể vẫn bị cấm không cho xuất hiện ở không gian diễn xướng này vì cho rằng… nhạy cảm. 

Vậy nên gần nửa thế kỷ qua, cả Khánh Hòa chỉ có duy nhất một nghệ nhân hát văn đúng nghĩa là Trịnh Thị Tâm, sinh năm 1955. Tuy nhiên đau xót là tháng 10.2017, bà Tâm đã qua đời vì bạo bệnh và gần như những gì tinh túy nhất của nghệ thuật hát văn ở Khánh Hòa bị chôn theo, để lại một không gian văn hóa Tháp Bà không hồn cốt và xuống cấp nghiêm trọng…” – ông Hải nói. 

“Xuống cấp nghiêm trọng”, theo lời ông Hải chính là việc nhiều người dân ở Khánh Hòa và các địa phương khác đang lợi dụng Bóng thánh để làm những việc không tốt. Là tình trạng hầu đồng, hát văn, múa Bóng biến tướng, lai tạp cộng với xin xăm bói toán đúng sai lẫn lộn. “Mấy năm trở lại đây trong những ngày vía Bà, người ta còn múa Bóng, hầu đồng trên nền nhạc… “Tiếng chày trên sóc bom bom” xập xập xình xình nữa quý vị ạ. Bà nào mà chịu nỗi những thứ âm thanh quái gở ấy?” – ông Hải than trời. “Việc khẩn cấp bây giờ là phải sớm có một hội thảo văn hóa để tập hợp các nhà nghiên cứu phân định, tường minh mọi thứ đúng sai đang diễn ra ở không gian văn hóa Tháp Bà. Bởi thuốc giả có thể chỉ chết một vài người nhưng văn hóa giả thì có thể giết chết cả mấy thế hệ” – ông Hải nói. 

Chợt nghĩ sao văn hóa tinh thần người ta dâng lên cho Bà cũng như câu chuyện “trầm hương ở Khánh Hòa là của bà Thiên Y A Na”. Giờ thì quý vật của bà – thứ trầm tự nhiên “hương tỏa sơn lâm” đã bị con cháu khai thác cho cạn kiệt. Và trầm của bây giờ - loại trầm từ cây dó bầu nhà trồng được đang thật giả lẫn lộn, thậm chí hương trầm còn tẩm cả hóa chất làm điên đảo con người…

Hoàng Văn Minh - Phương Linh

Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương và án oan của Thoại Ngọc Hầu

đăng 01:32, 25 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trung tâm thành phố Châu Đốc (An Giang) và di tích miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam nối với nhau bằng một con đường có cái tên rất lạ là Tân Lộ Kiều Lương. Ít người biết rằng, cách nay gần 200 năm muốn đến núi Sam, người dân phải chèo xuồng vượt qua lau sậy và con đường này gắn liền với một án oan của Thoại Ngọc Hầu.

Tân Lộ Kiều Lương/ Thoại Ngọc Hầu ngày nay. Ảnh: H.V.M 


Theo sử liệu, trong thời gian Thoại Ngọc Hầu trấn thủ Vĩnh Thanh, sau khi đắp thành Châu Đốc (1816) và đào kinh Vĩnh Tế (1819-1824), ông tiếp tục cho đắp một con lộ từ Châu Đốc đến chân núi Sam vào năm 1826 và hoàn tất vào năm 1827 để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân. 

Con lộ này có chiều dài gần 5km bề ngang hơn 5m chạy từ ngã ba sông Châu Đốc nơi có đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh (đình Châu Phú) đến chân núi Sam tên là “Châu Đốc Tân lộ Kiều lương”.

Tân Lộ Kiều Lương sau gần 200 năm 


Tên gọi Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương bởi vì trên đường từ đình Châu Phú đến chân núi Sam có 4 cây cầu lót bằng ván để xe ngựa có thể qua lại dễ dàng. Tại những cây cầu này, người dân thu hoạch lúa từ cánh đồng Vĩnh Tế và khu Tứ Giác Long Xuyên có thể cập xuồng vào để vận chuyển lương thực. 

Sau khi con lộ hoàn thành, Thoại Ngọc Hầu đã cho dựng tại chân núi Sam tấm bia “Châu Đốc Tân lộ Kiều Lương” để ghi kỷ niệm ngày con lộ mới ra đời. Tiếc thay tấm bia đã bị vỡ, người ta chỉ tìm được một mảnh dầu bia còn được bốn chữ “ Châu Dốc tân lộ…..” gần lăng Thoại Ngọc Hầu. 

Đây là một áng văn mô tả việc đắp con lộ Châu Đốc và sự cực khổ của người dân trong vùng. Đặc biệt, trong bài bi ký này có một chi tiết rất lạ là Thoại Ngọc Hầu chỉ xin “lệnh trên” phê chuẩn chủ trương làm đường. 

Còn chi phí do ông lấy từ bổng lộc cá nhân và các quan viên lân cận quyên góp, nhân dân hỗ trợ sức người và xe cộ... Và cuối bài bi ký ông chỉ khiêm tốn nhận xét việc mình làm rằng: “Làm việc ấy chính là đã tỏ chút lòng đền đáp của kẻ chăn dân”. 

Sau gần 200 năm, tấm bia ký đã hòa mình vào gió bụi biên cương nhưng Tân Lộ Kiều Lương thì vẫn còn đó với 8 làn xe và 2 tên đường khi đoạn xuất phát ở trung tâm thành phố Châu Đốc có tên là Nguyễn Văn Thoại.

Lăng mộ Thoại Ngọc Hầu dưới chân núi Sam. Ảnh: H.V.M 


Và dù là Tân Lộ Kiều Lương hay Nguyễn Văn Thoại thì con đường này cũng gắn liền với một sự kiện lịch sử đặc biệt. Bởi chính Tân Lộ Kiều Lương là một trong những lý do khiến sau khi qua đời, Thoại Ngọc Hầu bị dinh vào một án oan và bị vua Minh Mạng Minh Mạng xuống lệnh tịch thu gia sản, rồi truy giáng ông từ hàm nhị phẩm xuống thất phẩm, tước quyền tập ấm của con trai, bao nhiêu gia sản đều sung công. 

Dù trước đó năm 1829, khi Thoại Ngọc Hầu qua đời, ông không những được truy thăng chức vụ, thưởng thêm nhiều tiền và gấm lụa, mà con trai trưởng còn được tập ấm chức Ân kỵ úy. 

Chuyện là một ngày đẹp trời, quan Thị lang Tào Hình Bộ là Võ Du đi dò xét tình trạng dân Chân Lạp trở về đã báo cáo với quan Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt rằng Nguyễn Văn Thoại khi lĩnh chức Bảo hộ, ngày thường bắt dân Chân Lạp đi lấy gỗ táu đem nộp mà không cấp tiền và gạo, lại bắt dân Chân Lạp đắp đường cái (Tân Lộ Kiều Lương) để phục vụ việc đưa tang vợ từ Châu Đốc ra núi Sam… 

Lê Văn Duyệt đem lời tố cáo ấy tâu lên triều đình, lập tức vua Minh Mạng ra lệnh tịch thu gia sản và giao cho Bộ Hình nghiêm trị. Vụ việc này khiến Minh Mạng ghét Thoại Ngọc Hầu đến nỗi vào tháng 7 năm 1830, khi một vị quan ở Gia Định dâng sớ xin cấp phu trông coi mộ ông, nhà vua thẳng thừng từ chối. 

Chưa hết, tháng 3.1838, Nguyễn Văn Quang (là cháu họ của Nguyễn Văn Thoại, đồng thời là cháu nội của Khâm sai Thuộc nội Chưởng cơ Nguyễn Văn Bình) đã cùng Lê Văn Sơn (cháu họ của Lê Văn Duyệt) đang là tù phạm bị giam ở ngục tỉnh Gia Định, bàn mưu vượt ngục chiếm giữ thành phản lại triều đình. Mấy người này sau đó bị bắt, bị kết án xử tử lăng trì. Lần này thì Thoại Ngọc Hầu liên luỵ, bị triều đình lấy lại các sắc dụ đã cấp và bị tước luôn hàm Chánh ngũ phẩm...

Tượng Thoại Ngọc Hầu trong đền thờ ông ở chân núi Sam. Ảnh: H.V.M 


Thực tế thì lịch sử đã chứng minh những lời của Võ Du là vu cáo, không có cơ sở nhưng phải đến thời Khải Định, tức gần 90 năm sau, Thoại Ngọc Hầu mới được minh oan, danh dự của ông mới phục hồi khi được phong thần (Đoan Tức Dực Bảo Trung Hưng Tôn thần). 

Chuyện án oan của Thoại Ngọc Hầu có gì đó hơi buồn cười khi vua Minh Mạng và cả Tổng trấn Lê Văn Duyệt thời đó chỉ nghe tâu một chiều mà không cần suy xét. Nhưng ngẫm lại thấy cũng chẳng có gì lạ khi ngay cả văn minh và hiện đại như bây giờ, vẫn đầy rẫy án oan chồng án oan mà đôi khi chẳng có “đèn giời” nào soi tới… 

Từ Ân

Huyền tích chùa Hang

đăng 02:30, 2 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Kompong Chray là ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer tọa lạc tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Dân gian thường gọi đây là chùa Hang vì cổng phụ của ngôi chùa được xây theo kiểu mái vòm nhìn giống như cái hang.

Chùa Kompong Chray hay còn gọi là chùa Hang, chùa Kompongnigrodha 


Chôn đá tính tuổi chùa… 

Chánh điện chùa xây dựng trên nền đất cao. Mái của chánh điện được cấu tạo gồm nhiều lớp chồng lên nhau, trên đỉnh là chóp tháp cao vút, uy nghi. Phía trước nhà khách và tăng xá là tháp cột cờ, chân tháp có bộ phù điêu 7 đầu rắn thần Naga. Hai bên có bộ bánh xe 12 căm tượng trưng thập nhị nhân duyên. Đây là ngôi chùa cổ có kiến trúc rất độc đáo, nằm giữa vườn cây sao, dầu, cây me rộng chừng 2 ha, quanh năm thu hút hàng ngàn chim cò, vạc, cồng cộc… về đây làm tổ. 

Nghệ nhân Sơn Sốc, người gắn bó với ngôi chùa này từ nhỏ để học nghề rồi truyền nghề điêu khắc gỗ lại cho các phật tử, cho biết: “Theo các sư thầy kể lại, ngôi chùa được thành lập vào năm 1637, vị sư đầu tiên là Thạch Thiệp. Đến nay chùa đã qua 24 hòa thượng trụ trì và nhiều lần được trùng tu sửa chữa. Do ảnh hưởng chiến tranh, hồi tháng 2.1968 chùa bị trúng bom làm hư khoảng 70% ngôi chánh điện và làm sập thư viện 3 tầng. Năm 1969 chùa xây dựng lại thư viện, chánh điện và tăng xá”. 

Ngôi chánh điện chùa Hang 


Chim cò tụ họp trên các ngọn cây cổ thụ 


Cũng theo nghệ nhân Sơn Sốc, chánh điện cũ chỉ có hai mặt theo hướng đông tây, đến năm 2000 được xây lại bốn mặt và sửa lại mái ngói. Hiện nay, chùa còn lưu giữ được một số tượng đá cổ quý nhưng bị sứt mẻ thời chiến tranh, đặc biệt là 4 pho tượng trong bộ Quá khứ thất Phật. Riêng tượng Thích Ca lớn ở chánh điện sau trận bom may mắn vẫn còn và được tu bổ lại. Hiện nay, chùa Hang do sư cả Thạch Suông trụ trì. Sư là người có công lớn trong việc vận động phục dựng lại chùa. 

Cũng như các chùa Khmer theo hệ phái Nam tông khác ở Trà Vinh, cách tính niên đại của chùa khá độc đáo là dựa trên biên niên các cục đá được chôn hồi khai sơn lập tự. Theo lời kể của các sư, khi động thổ cất chùa, người Khmer tiến hành lễ chôn đá Kiết giới. Lễ này lấy từ tích Phật Thích Ca khất thực. Mỗi khi đi trai giới, ngài bẻ một nhánh cây cắm xuống đất, chư tăng họp xung quanh. Chỗ nào đức Phật cắm cây thì lấy chỗ đó xây chùa. Khi tiến hành lễ chôn đá, các sư đặt một cục đá trên đó chạm hình đầu Phật, có ghi ngày tháng. Mỗi lần trùng tu hay cất lại chùa mới cũng làm lễ này. Về sau, nếu muốn biết niên đại của chùa thì chỉ việc đào cục đá ấy lên thì sẽ rõ. 

Trong lễ chôn đá có nghi thức ném vật cầu nguyện. Người cầu nguyện đi 7 vòng quanh hố chôn đá rồi ném xuống một vật. Ví dụ người muốn học giỏi thì ném quyển sách, người muốn giàu thì ném tiền bạc, con gái muốn có chồng hạnh phúc thì ném nữ trang… Vì vậy, khi đào gặp những chiếc hố cổ xưa này, người ta thường gặp nhiều bạc vụn. 

Cổng chính... 


... và cổng phụ chùa Hang 


Và chuyện 12 con giáp 

Đối diện với chánh điện chùa Hang là quần thể tượng 12 con giáp, được bố trí hình vòng cung đắp nổi cặp rồng uốn lượn như chiếc thuyền. Đầu rồng ngẩng trên hai trụ đắp phù điêu thần Yak (chằn tinh được Phật cải hóa) và Voi. Nhìn từ bên trái sang là các tượng bao gồm các thần tiên và chằn cỡi chuột, cỡi bò, cọp, thỏ và rồng, tương ứng với Tý - Sửu - Dần - Mẹo - Thìn của người Việt. 

Về phía bên phải cũng theo trình tự gồm các vị thần tiên cỡi dê, khỉ, gà, chó và thần cỡi heo xếp ngoài cùng. Chính giữa có vị thần cỡi đầu rắn Naga và thần cỡi ngựa bố trí sát bình phong. Trên tấm bình phong là một kiến trúc xây tháp 4 mặt có mái che, hai bên có tượng nữ thần Kinnari chống đỡ mái, trên cùng là bộ tượng 8 vị Phật chắp tay. 

So sánh với 12 con giáp của người Việt thì bộ tượng này con thỏ thay cho mèo (Mẹo), con bò thay cho trâu (Sửu). Theo giải thích của các sư, con bò trong 12 con giáp của Khmer ảnh hưởng văn hóa Bà la môn giáo, đó là bò thần Nandi vốn là con vật cưỡi của thần Shiva. Vào ngày Tết Chol Chnam Thmay, người Khmer căn cứ quyển Đại Lịch để đón giao thừa và dựa trên 12 con giáp để bói xem năm mới tốt hay xấu. Điều này xuất phát từ cổ tích về vị thần Bốn Mặt được kể lại như sau: 

Tháp cột cờ có bộ phù điêu 7 đầu rắn thần Naga 


Bộ tượng 12 con giáp ở chùa Hang 


Thuở Ngọc đế Indra tạo nên Trời Đất, có vị Quốc vương hạ sinh một hoàng tử tên là Thomma Bal. Từ nhỏ, vị hoàng tử này rất thông minh học đâu nhớ đó. Năm 7 tuổi, hoàng tử thông thuộc các sách thiên văn, bói toán, kinh điển. Tiếng khen bay tới thiên đình, thần Kabil Môhaprum (thần Bốn mặt) nổi lòng ghen tức nên tìm cách hại hoàng tử. Thần bay xuống trần gọi hoàng tử đến gặp và ra câu đố về “cái duyên con người trong một ngày” rồi giao hẹn trong 7 ngày nếu đáp đúng thì ngài sẽ tự chặt đầu, còn trái lại hoàng tử phải dâng đầu cho ngài. 

Dù suy nghĩ suốt ngày, hoàng tử Thomma Bal vẫn không tìm ra lời giải. Bấy giờ, trên ngọn cây có 2 con chim linh chuyên ăn thịt đang nói chuyện với nhau là sẽ ăn thịt hoàng tử vì không giải được câu đố và vô tình tiết lộ lời giải. Nghe được, hoàng tử vội trở về dinh mừng rỡ khôn cùng. Hôm sau, đúng hẹn, thần Bốn Mặt cầm gươm vàng bay xuống. Hoàng tử ra lạy nghinh tiếp và trả lời đúng như những gì con chim linh nói. Thần Bốn Mặt nghe xong biết mình đã thua cuộc, liền dặn các con sau khi ngài tự chặt đầu thì đem đầu mình để trong một ngôi tháp. Mỗi năm, thay phiên nhau rước đầu đi quanh ngọn núi Tudi và đừng cho người trần chạm đến vì nếu đầu rơi xuống biển thì biển sẽ cạn khô. Quăng lên trời thì không có mưa, để trên mặt đất thì đất sẽ khô cứng… 

Từ đó về sau, mỗi năm một lần, 7 cô con gái của thần Bốn mặt thay phiên nhau xuống trần, vào tháp bưng đầu của cha đến núi Tudi, theo hướng Mặt trời đi vòng quanh chân núi ba lần. Các vị thiên tôn con của Ngọc đế Indra cũng cỡi thú đi theo đám rước. Mỗi năm một vị thay đổi theo 12 con giáp. Qua 12 năm thì vị thứ nhất trở lại. Mỗi vị cỡi thú, ăn mặc và sử dụng khí giới khác nhau. Dân gian luận theo những điều ấy mà đoán điều hung kiết cho năm mới. 

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, nhóm tượng 12 con giáp ở chùa Hang là yếu tố văn hóa dân gian xâm nhập vào Phật giáo, bởi về nguyên tắc các chùa của người Khmer theo hệ phái Nam tông không có. Hơn nữa, nhóm tượng này đã được bố cục trình tự theo kiểu 12 con giáp của người Việt, chỉ thay đổi hai con Trâu và Mèo.

Hoàng Phương

Đình làng kỳ sự: Linh thiêng ngôi đình thờ chữ 'Tổ quốc'

đăng 03:27, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Bởi chính 2 chữ Tổ quốc trên bức hoành phi treo trang trọng giữa ngôi đình Xuân Dương (Q.Liên Chiểu, Đà Nẵng) mà trong chiến tranh, quân địch không dám đụng vào đình, bằng không đã san phẳng…

Đình làng Xuân Dương với bức hoành phi đặc biệt góp phần giữ đình trong chiến tranh. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Tổ quốc là trên hết

Năm nay đã 79 tuổi nhưng cụ Lê Trọng Bính (nguyên Trưởng ban lễ đình Xuân Dương) vẫn còn minh mẫn và khắc nhớ nhiều câu chuyện về ngôi đình. 

Chỉ tay về phía trụ biểu trước đình, cụ Bính đọc lớn: “Nhâm Thân kiến tạo xã cát Bảo Đại thất niên phân sách bộ”, nghĩa là năm Nhâm Thân Bảo Đại thứ bảy (1931), làng Xuân Dương chính thức chia tách khỏi làng mẹ Xuân Thiều. Cũng từ đó mà đình làng được lập nên để thờ thành hoàng làng”. 

Theo lời cụ Bính, ban đầu, đình chỉ được dựng tranh tre tạm bợ để có nơi cả làng cùng hướng về trong ngày giỗ chạp. Thế rồi trong thời buổi chiến tranh, đình nhanh chóng xuống cấp khiến ai nhìn thấy cũng không khỏi xót xa. Các bậc cao niên trong làng lúc này mới bàn việc dựng lại ngôi đình bề thế hơn. 

Bức hoành phi với 2 chữ Tổ quốc được treo trang trọng tại tiền đường đình Xuân Dương. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Sáu năm sau ngày Xuân Dương được chia tách, cả làng một lần nữa dựng lại đình Xuân Dương. Chiếc đòn đông độc đáo có khắc dòng chữ Bảo Đại Đinh Sửu niên nhị nguyệt thập ngũ nhật cát nhật Xuân Dương xã bổn xã cẩn tạo để ghi dấu năm dựng đình, tức Đinh Sửu (1937). 

Không riêng gì cụ Bính mà nhiều người già trong làng đều kể rằng khung đình Xuân Dương hiện tại là do một người phụ nữ trong làng gìn giữ, bảo quản sau khi mua lại nhà thờ ở xã Hòa Liên (H.Hòa Vang). 

Chiến tranh ác liệt nổ ra, cảnh nhà tan cửa nát, người dân giữ tính mạng đã khó nên trong suốt một thời gian dài đình làng Xuân Dương không được tu bổ. 

Mãi đến năm 1964, ngôi đình mới được đại trùng tu và giữ nguyên trạng cho đến ngày nay với lối kiến trúc “chồng rường giải thủ” độc đáo cùng nghệ thuật chạm khắc gỗ cực kỳ tinh xảo. 

Đình Xuân Dương là một trong số ít ngôi đình tại Đà Nẵng có kiến trúc cổ đẹp mắt. ẢNH: HOÀNG SƠN 


“Tháng Giêng năm 1964, nhờ có kinh phí dành dụm mà các cụ trong làng đã nghĩ đến việc sửa sang cho ngôi đình khang trang hơn. Khi trùng tu thêm lần nữa vào năm 2004, trụ biểu vẫn ghi rõ năm đó là lần trùng tu “đại căn cơ” với đầy đủ hạng mục”, cụ Bính kể. 

Cụ Lê Văn Chước (75 tuổi), Trưởng ban lễ đình Xuân Dương chỉ tay vào tấm hoành phi đỏ chót treo giữa tiền đường, góp chuyện: “Cũng từ năm đó mà đình Xuân Dương chúng tôi thờ 2 chữ Tổ quốc. Các cụ lý giải, ai cũng có Tổ quốc và Tổ quốc là trên hết. Đình làng là nơi thờ phụng thì cũng là nơi thờ Tổ quốc”. 

Bởi chính 2 chữ Tổ quốc thiêng liêng mà từ sau 1964, dù chiến tranh ngày càng trở nên khốc liệt nhưng đình làng vẫn uy nghiêm tồn tại. Không những vậy, địch có phần ái ngại khi đụng vào mảnh đất đình tọa lạc. 

Bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp TP được treo trong ngôi đình. ẢNH: HOÀNG SƠN 


“Động đến đình là động đến Tổ quốc” 

Cụ Lê Trọng Bính kể núi Xuân Dương nơi ngôi đình tọa lạc vốn là dãy núi đá kéo dài ra phía biển. Trong thời kỳ Pháp thuộc, một phần dãy núi đã được san bạt để làm tuyến đường sắt. Từ đó, phần núi phía sau lưng đình bị khuyết một vùng lớn. 

Từ năm 1965 - 1966, quân địch cho cày phá ngọn núi Xuân Dương để khai thác vật liệu về làm Sân bay Đà Nẵng khiến cảnh tượng tan hoang. Trong những năm 60 thế kỷ trước, để phục vụ sân bay quân sự, phía Mỹ đã lên kế hoạch san phẳng ngọn núi. 

“Nếu vậy thì ngôi đình chắc chắc sẽ không còn giữ được. Cả làng như ngồi trên đống lửa vì đình chỉ mới vừa trùng tu xong vào năm 1964. Lúc này, cha của ông Đặng Xuân Sơn (nguyên Trưởng ban lễ đình) vốn là quan dưới triều vua Bảo Đại thông thạo Pháp ngữ, Hán văn mới nghĩ ra cách làm bức hoành phi để thờ”, cụ Bính nhớ lại. 

Một mặt bỏ ra số tiền 110 đồng để thuê thợ giỏi, một mặt cha ông Sơn nghĩ ra 2 từ Tổ quốc để thợ khắc chữ và sơn son thếp vàng. Khi làm xong, bức hoành phi được treo ngay chính gian giữa ở vị trí trang trọng nhất. 

Tuy đang bị xuống cấp nhưng gian chính ngôi đình mang đậm nét kiến trúc cổ độc đáo. ẢNH: HOÀNG SƠN 


“Nếu thờ chữ Tổ quốc thì bất cứ ai cũng phải dè dặt khi đụng tới ngôi đình”, ông Bính kể. Cũng vì tấm hoành phi mà cha ông Sơn đã bị chính quyền Việt Nam cộng hòa hạch sách. 

Ông liên tục bị mời lên để truy vấn về ý nghĩa chữ Tổ quốc, ẩn ý khi thờ phụng chữ Tổ quốc là gì. Vì là người lý lẽ, nói chuyện thấu tình đạt lý mà chính quyền cũ đã nhượng bộ. 

Cụ Lê Trọng Bính nhận định: “Đình làng thờ chữ Tổ quốc đã khiến chính quyền Việt Nam cộng hòa chùn tay trong việc khai thác ngọn núi. Động đến đình là động đến Tổ quốc. Phía chính quyền cũng nhận thấy nếu bán đá từ ngọn núi sẽ ảnh hưởng đến ngôi đình và nên mọi việc đều dừng lại. Nếu không, quân Mỹ đã lấy nguyên quả núi, bãi đất thì đình chẳng còn cách nào giữ được”.

Năm 2007, đình làng Xuân Dương được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật cấp TP. Để có được danh hiệu về kiến trúc, người dân địa phương tin rằng đình Xuân Dương luôn có những điều linh thiêng. Mà bằng chứng là trong chiến tranh ác liệt đến mấy thì ngôi đình vẫn nguyên vẹn từng rường cột, đòn tay như được sự che chở của tiền nhân.

Hoàng Sơn - Huy Đạt

Đình làng kỳ sự: Độc đáo 'ngôi đình' với lễ hội tắt bếp

đăng 03:20, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Với người dân Trà Kiểm (xã Hòa Phước, H.Hòa Vang, TP.Đà Nẵng), miếu Ông ngay giữa làng không khác gì ngôi đình gắn liền với lễ hội có một không hai - lễ hội tắt bếp.

Lễ hội tắt bếp của người Trà Kiểm gắn liền với 'ngôi đình' Ông ngay giữa làng. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Bữa cơm chung của cả ngàn người 

Với mỗi gia đình, bếp lửa trong nhà đều đóng vai trò quan trọng, biểu tượng cho sự ấm êm, hạnh phúc. Bởi vậy, thoạt nghe cái tên lễ hội, cũng như chúng tôi nhiều người rất băn khoăn: tắt bếp thì chuyện cơm nước mỗi gia đình sẽ thế nào? Tắt bếp để làm gì? 

Phó thôn Trà Kiểm Nguyễn Hữu Thắng cho biết không riêng gia đình nào mà đúng ngày 12.2 âm lịch hằng năm, cả làng không ai bảo ai đều tự tắt bếp lửa, tập trung về ngôi đình giữa làng để cúng tiền hiền rồi cùng nhau vui hội. “Đến nay nhiều bậc cao niên trong làng cũng không nhớ lễ hội có từ lúc nào. Chỉ nghe các cụ kể lại rằng từ trong chiến tranh, bom rơi đạn lạc có thế nào thì người làng chúng tôi cũng tắt bếp đúng giờ, đúng ngày để tưởng nhớ những người khai khẩn lập làng…”, ông Thắng kể. 

Ông Thắng cho biết làng Trà Kiểm xưa có tên xóm Rừng với chỉ 40 hộ dân thuộc vài tộc họ. Trong ký ức của ông Thắng, lễ hội tắt bếp là dịp ông được theo cha lê la dọc đường làng ăn quà vặt. Thời kỳ khốn khó, trước ngày diễn ra lễ chính thức, đêm 11.2 âm lịch là thời điểm vui nhất. 

Những bà già, bà chị quẩy gánh ra đường rồi chong đèn dầu bán bánh gói, bánh xèo… hình thành nên một khu chợ ẩm thực đậm tình quê. 

Trưởng thôn Nguyễn Thanh Quý cho biết nhờ lễ hội tắt bếp mà thắt chặt tình đoàn kết, tương thân tương ái. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Ông Thắng tiếp lời: “Hồi đó ai cũng nghèo khó nhưng lễ hội thì ấm áp vô cùng. Tôi nhớ trước lễ hội vài ngày, những người lớn tuổi họp lại để bàn việc nấu cỗ cho làng. Sau đó nhà ai có gì thì cứ đem đến nấu chung. Người khá giả thì mang con gà, người trung bình thì góp chục lon gạo nếp, khó khăn hơn thì chục quả trứng vịt, mắm muối, dưa cà… Bữa cơm của hàng trăm người không phân biệt sang hèn, chức tước…”. 

Ngày nay, lễ hội vẫn giữ ngày cử hành và cách thức đóng góp chỉ khác là xã hội hiện đại nên việc đóng góp được huy động bằng tiền mặt. 

Và dĩ nhiên số tiền đóng góp không hạn định, ai có điều kiện thì đóng nhiều, ai khó khăn thì góp số tiền phù hợp với gia cảnh. 

Ông Nguyễn Thanh Quý, Trưởng thôn Trà Kiểm cho biết với người làng, miếu Ông không khác gì ngôi đình thờ tiền hiền, thành hoàng ngoài ngôi đình chính Quá Giáng. 

Vào tối 11.2 âm lịch, cả làng trên xóm dưới của thôn Trà Kiểm quây quần về miếu Ông làm lễ tế rước tiền hiền, tổ tiên… Trong đêm, thanh niên quây quần hát hò, biểu diễn văn nghệ còn người lớn tuổi thì rộn ràng hô hát bài Chòi. 

Ngày tắt bếp đoàn kết 

Ngày hội chính của lễ hội diễn ra vào sáng sớm 12.2 khi cả làng tập trung tại nhà văn hóa thôn để tổ chức lễ chính tế thần, thành hoàng với cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng no đủ… 

Lễ tắt bếp bắt đầu từ sáng sớm. “Chúng tôi không phải nhắc nhở nhà nào phải tắt bếp bao giờ và cũng không phải phạt ai không theo lệ làng. Chỉ cần đến sáng là cả làng đã tập trung đông đủ từ già trẻ, gái trai… Không khí vui vẻ của lễ hội tưng bừng nên ai cũng muốn có mặt”, ông Nguyễn Thanh Quý nói. 

Ông kể người làng luôn ý thức đó là dịp đoàn tụ, sum vầy sau 1 năm làm việc vất vả nên dù ở xa, có người Hà Nội, TP.HCM… cũng cố gắng trở về đúng dịp lễ hội. Người không về được cũng góp của để cả làng chung vui. “Lễ hội vừa qua, làng góp được cả trăm triệu đồng. Bữa cơm chung cả làng đến cả 70-80 mâm cơm với 700-800 người cùng vui. Sau lễ, làng còn dư được vài chục triệu đồng để làm quỹ tương trợ lẫn nhau…”, ông Nguyễn Hữu Thắng góp chuyện. 

Đối với người làng Trà Kiểm, ngôi miếu giữa làng không khác gì ngôi đình linh thiêng mà họ tôn thờ, nhang khói thường xuyên. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Nhiều năm diễn ra lễ hội với hàng trăm người tham dự chưa khi nào làng Trà Kiểm để xảy ra tình trạng mất an ninh, trật tự… Trong bữa cơm chung, mọi người trò chuyện vui vẻ với nhau đủ điều, từ năng suất cây trồng cho đến việc xây dựng đường làng, ngõ xóm thêm khang trang. Con cháu đi làm ăn xa cũng được người già hỏi han, động viên những khó khăn trong cuộc sống. Dưới mái đình, mọi người thêm hiểu nhau hơn. 

Kết thúc một ngày tiệc tùng, văn nghệ sôi nổi, ai về nhà nấy. Bếp lửa “gia đình lớn” tạm tắt để bếp lửa của mỗi gia đình nhỏ lại đỏ lên. 

Ông Nguyễn Hữu Thắng cho biết thêm, trước đây, lễ hội tắt bếp chỉ diễn ra trong ngày 12.2 âm lịch, tuy nhiên nhận thấy tình làng nghĩa xóm được thắt chặt hơn sau ngày hội, làng đã quyết định có thêm một ngày tắt bếp vào ngày hội đại đoàn kết toàn dân (18.11 hằng năm) với quy mô nhỏ hơn. 

Nhờ tình đoàn kết và nếp sống chân tình mà những chương trình xây dựng thôn văn hóa tại Trà Kiểm luôn đạt được kết quả “kỷ lục”. Năm 2010, thôn Trà Kiểm là 1 trong 3 thôn của Hòa Vang đón nhận bằng khen của Bộ VH-TT-DL tặng trong phong trào xây dựng “Làng văn hóa 20 năm”.

Năm 2012, Trà Kiểm được chọn là thôn điểm để nâng cấp, mở rộng giao thông kiệt hẻm xây dựng nông thôn mới. Và không mấy bất ngờ khi các hộ dân tình nguyện hưởng ứng hiến cả 1.000 m2 đất, đóng góp hàng trăm triệu đồng mở rộng 1,7 km hẻm… 

Nhà nào cũng ý thức, chăm chút đoạn đường trước nhà mình nên đường làng, ngõ xóm lúc nào cũng đầy hoa, cây cối xanh mát. Ở Trà Kiểm, hễ nhà nào có hiếu hỉ, ma chay là người làng xúm lại phụ giúp. Người lạ vào làng luôn được đón tiếp nhiệt tình, chan hòa đến kỳ lạ…

Hoàng Sơn - Huy Đạt

1-10 of 17