Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Huyền tích kỳ lạ về ngôi đền “phát tích” bài thơ Nam Quốc Sơn Hà Sự ra đời của ba vị tam công hay gốc tích hình thành bài thơ được người dân nơi đây xem là “nguyên gốc” của Nam quốc sơn hà là ...
    Được đăng 18:13, 15 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hội An: Giếng cổ ngàn năm không cạn Nằm khuất sâu trong con hẻm nhỏ trên đường Trần Hưng Đạo, giếng cổ Bá Lễ tồn tại hơn nghìn năm qua không chỉ là chứng nhân lịch sử của ...
    Được đăng 01:25, 13 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Huyền bí vị thần trong ngôi đền lâu đời nhất xứ Thanh Cách di sản Thành nhà Hồ chừng hơn 5km, rẽ trái vào làng Đan Nê, xã Yên Thọ, huyện Yên Định là đền Đồng Cổ, nơi thờ vị thần nổi ...
    Được đăng 02:09, 26 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bí ẩn cột đá khổng lồ khắc rồng trên núi ở Bắc Ninh Phần cột đá hình vuông, phía trên hình tròn chạm nổi đôi rồng phong cách thời Lý chứa đựng nhiều điều bí ẩn trên dãy núi Lãm Sơn (TP. Bắc ...
    Được đăng 05:52, 18 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sông Đà - Nơi ghi dấu bậc quân vương Ngày nay, con sông Đà không còn dữ dội với 130 thác, 170 ghềnh "đá núi sắc nhọn như nanh vuốt và những cái hút nước cuồn cuộn luồng gió ...
    Được đăng 17:53, 3 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 14. Xem nội dung khác »


Huyền tích kỳ lạ về ngôi đền “phát tích” bài thơ Nam Quốc Sơn Hà

đăng 18:13, 15 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Sự ra đời của ba vị tam công hay gốc tích hình thành bài thơ được người dân nơi đây xem là “nguyên gốc” của Nam quốc sơn hà là những bí ẩn thú vị gắn liền với ngôi đền Đào Xá, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. 

Huyền tích ra đời của ba vị tam công 

Nằm giữa cánh đồng lúa xanh mướt, yên tĩnh, ngôi đền Đào Xá (huyện Thanh Thủy, Phú Thọ) vẫn trầm mặc lưu giữ những câu chuyện hư hư thực thực quanh mình. Làng cổ Đào Xá thuộc xã Đào Xá, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. Làng nằm ở phía bờ Tây sông Đà, những người dân trong vùng có lẽ cũng không biết ngôi đền đã yên vị ở đây chính xác là bao lâu. Họ chỉ biết rằng, từng viên ngói, những sắc phong được lưu giữ tại đền đều gắn liền với lịch sử khai hoang, đấu tranh của cư dân Việt với thiên nhiên và giặc giã phương Bắc. 

Mỗi câu chuyện được người dân quanh vùng lưu truyền với nhiều huyền tích đầy bí ẩn. 

Theo truyền thuyết được lưu truyền ở địa phương và bản thần phả (chép năm Hồng Phúc thứ hai,1573) hiện lưu ở đền làng, vào thời Hùng Vương, vua phái Hùng Hải Công cai quản vùng giáp ranh của ba con sông (sông Đà, sông Hồng, sông Bữa). Hùng Hải Công và vợ là đức bà Trang hoa công chúa lấy nhau đã lâu mà chưa thể có con. Trong một lần, đức ông và đức bà đi thuyền rồng từ Đào Xá lên Thọ Xuyên. Trong thời gian lưu lại nơi đây, đức bà đã nằm mơ sinh ra quý tử. Ít lâu sau, bà thụ thai và sinh ra ba người con trai đặt tên là Đạt Linh Long, Mãn Linh Long và Uyên Linh Long. Các con vừa cất tiếng khóc chào đời thì đức bà hóa thân. Đức ông và ba con sau này đã có công tiêu diệt thú dữ và cùng bà con trị thủy đem lại cuộc sống yên bình cho người dân. Để tưởng nhớ công ơn của Đức ông, Đức bà và 3 người con có công với làng, người dân đã lập đền thờ từ đó. 

Đền Đào Xá được người dân trong vùng coi là nơi gắn liền với sự ra đời của bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt.. 


Ông Nguyễn Hữu Sàn, người từng có 6 năm làm thủ từ đền Đào Xá tự hào kể rằng: “Mỗi năm, xã Đào Xá tổ chức khoảng 11 ngày lễ lớn nhỏ nhằm suy tôn Hùng Hải Công, đức bà Trang hoa công chúa và Tam vị Đại vương - có công giúp dân trị thủy, cùng nàng Quế Hoa”. 

Tương truyền, trong những ngày Đức bà mang thai, Quế Hoa công chúa bày các trò chơi để mua vui cho bà. Ngày nay, lễ thức chính được tổ chức vào ngày mùng 2 tết. Đến giờ động thổ, chủ đền hay thủ từ xin âm dương, nếu được thì ra cửa đền đốt pháo, giáp đăng cai nổi ba hồi trống rỗi khắp thôn xóm hò reo. Sau khi khấn Thành Hoàng bằng 12 cỗ tế, giáp đăng cai đến nhà người được làm bánh trâu, rước lồng bánh về đền. Mỗi lồng bánh là một con trâu làm bằng 6 đấu gạo nếp đìn (nếp đen) nghiền thành bột. Trên mỗi con trâu có khắc chữ Xuân ngưu (trâu mùa xuân). Trên bàn thờ đặt hai cái bát nước, một bát đựng quả trứng, bát kia đường chiếc gầu dai bằng giấy cốt tre. Hai người (một nam đại diện giáp đăng cai và bà đồng) nâng lồng bánh trâu múa đối diện nhau. Sau đó, chủ tế vẩy nước ở hai bát vào người múa. Điệu múa truyền thống này được gọi là múa xuân ngưu”. Không chỉ gắn liền với sự tích trị thủy thời Hùng Vương, ngôi đền còn là nơi dừng chân của nhiều đoàn quân giữ nước. Thời nhà Trần, Trần Nghệ Tông đưa quân về đây lánh nạn, chiêu tài hiền sĩ và luyện tập binh mã để đánh Dương Nhật Lễ... 

Ngày 12/8/1945, tại ngôi đình này, Việt Minh và du kích địa phương bắt xử tri huyện Đào Bá Kỷ khét tiếng gian ác trong vùng. Sau Cách mạng tháng Tám, đình là nơi hội họp của cán bộ Việt Minh, nơi tập trung của một số đơn vị thiếu sinh quân, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích chuẩn bị cho các chiến dịch Tây Bắc, hòa Bình, Điện Biên.... Vào ngày 29 tháng 1 năm 1964, cụ Hồ đã vào thăm đền. Đặc biệt, ngôi đền được người dân trong vùng coi là nơi “phát tích” bài thơ Nam quốc sơn hà của người anh hùng Lý Thường Kiệt. 

Dấu ấn gắn liền với bài Nam quốc sơn hà 

Ông Sàn cho biết: “Nguyên xã Đào Xá trong một năm có 11 lễ lớn nhỏ. Trong đó có đến 6 dịp lễ được tổ chức liên quan đến đền Đào Xá. Trong đó dấu ấn rõ nhất liên quan đến việc ra đời bài thơ được coi là “tiền thân” của Nam quốc sơn hà là lễ hội bơi trải. Một lễ hội kéo dài nhất trong năm, từ ngày mùng 9/7 đến ngày 16/7 (âm lịch) tại vùng đất cổ Đào Xá”. 

Trong bản thần tích thờ Đức Hải Công ở đền Đào Xá (xã Đào Xá huyện Thanh Thuỷ, Phú Thọ) có ghi rằng: Vào năm 1076, trên đường đi kinh lý các nơi xem xét địa thế để bố trí lực lượng xây dựng phương án đánh địch, Lý Thường Kiệt đã ngược sông Hồng để nghiên cứu đường thủy nối kinh thành Thăng Long với vùng Tây Bắc, sang Vân Nam (Trung Quốc). 

Ông Nguyễn Hữu Sàn cẩn thận mở những ghi chép về các ngày lễ. 


 Ông đã ghé vào làng Ðào Xá nghỉ chân và xem xét nơi gặp nhau của sông Hồng và sông Ðà. Các bô lão cùng dân làng vui mừng bày tiệc đón Lý Thường Kiệt và cùng ông xây dựng phòng tuyến đánh giặc. Sau khi xong xuôi mọi việc, người anh hùng Lý Thường Kiệt đã vào đình Đào Xá và đền Đào Xá xin các vị thần phù linh hộ quốc. Bất ngờ ban đêm, thần hiển hiện thành rắn lớn, đi thuyền rồng lại cửa đền đọc bốn câu thơ: Nam thiên dĩ định đế Nam quân/ Đại đức giai do đức nhật tân/Thất quận sơn hà đô nhất thống/ Tống binh bất miễn tán như vân. (nghĩa là: Trời Nam đã định vua Nam ta/ Đức lớn ngày thêm đức mới ra/ Bẩy quận non sông về một mối/ Tống binh tan tác tựa mây sa”. 

Ngài vừa dứt lời thì từ phía ngoài đầm hiện ra hai thuyền rồng, mỗi thuyền vài trăm người hò reo, bơi thuyền thưởng vào đền. Lý Thường Kiệt tưởng quân nhà Tống bèn bày quân dàn trận ra đánh. Nhưng từ trên thuyền có tiếng: "Thuyền của quan thủy quân đến cùng ông bình Tống, xin đừng ngại". Rồi quân từ hai thuyền lên bờ, tiến vào đền. Quân tướng Lý Thường Kiệt và quan quân trên hai chiến thuyền cùng làm lễ xuất quân đánh giặc. 

Theo ông Nguyễn Hữu Sàn, trước kia ở làng Đào Xá có tục bơi chải vào lúc nửa đêm ngày mồng 10/7 âm lịch trên đầm Đào hàng năm, gọi tên là “Lễ hiển Thần phù vua Lý đánh giặc Tống”. Với hai chải của bốn giáp, chải của hai giáp đầu gọi là “chải đực” và chải của hai giáp sau gọi là “chải cái”. 

Mỗi chải dài 16m, lòng rộng 1,3m, cao 0,8m, chia làm 12 khoang, do 24 người ngồi hai bên mạn bơi, 1 người cầm lái, 1 người đứng giữa chải cầm mõ chỉ huy bằng hiệu lệnh, 2 người đánh chiêng trống, 1 người cầm bó đuốc, 1 người đứng mũi chải phất cờ. Đúng canh ba thì vào cuộc, hai chải lặng lẽ bơi nhẹ nhàng từ bờ đầm trước cửa đền sang phía dẫy đồi bờ bên kia chừng 1km. Khi có hiệu lệnh gọi thì hai chải quay mũi về đền, nổi chiêng trống hò reo bật đuốc, và bơi thi cật lực. Chải nào đến cửa đền trước sẽ được lĩnh thưởng. Đó là hèm cầu diễn lại cảnh Thần Hải công cai quản đầm Đào Xá, lúc nửa đêm hôm mồng 10 tháng 7 hiển hiện về đền thờ, Ngài ban thơ cho Lý Thường Kiệt. Giặc tan, Lý Thường Kiệt về kinh đô tâu vua, xin phong Hùng Hải Công và tam vị Ðại Vương làm thưởng đấng phúc thần. 

Ngày nay, tục bơi chải vẫn còn được diễn ra nhưng vào ban ngày, chải nào có nhiều lần về đích trước thì năm đó, người giáp đó sẽ gặp nhiều may mắn. Chiều ngày 15/7 (âm lịch), kết thúc hội, làng lập đền tế lễ ở đền hạ. Tục bơi chải của dân làng Ðào Xá vừa là nghi thức lễ cầu mưa, cầu mùa của cư dân nông nghiệp vừa để thể hiện tinh thần thượng võ. 

Ông Nguyễn Hữu Sàn cho biết: “Hiện nay tại đền còn lưu giữ 13 đạo sắc phong của các đời vua. Hàng năm, vào ngày 12/2 (âm lịch) tại đền Đào xá diễn ra lế tế sắc. Trước ngày này, trong làng phải cử ra 3 cụ để thực hiện nghi lễ mở hộp sắc. Ngôi đền cũng đã được công nhận là di tích quốc gia và được nhân dân xã Đào Xá chăm nom, bảo vệ như một chứng tích lịch sử hào hùng gắn liền với sự cư trú của cư dân ở vùng đất này”. 

Thanh Thủy

Hội An: Giếng cổ ngàn năm không cạn

đăng 01:25, 13 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan


Nằm khuất sâu trong con hẻm nhỏ trên đường Trần Hưng Đạo, giếng cổ Bá Lễ tồn tại hơn nghìn năm qua không chỉ là chứng nhân lịch sử của biết bao nhiêu thăng trầm nơi đô thị cổ mà còn trở thành một phần linh thiêng đối với người dân phố Hội…


Cho đến nay vẫn chưa xuất hiện một ghi chép chính thức nào về sự ra đời cũng như tên gọi của giếng cổ Bá Lễ. Những người cao tuổi tại Hội An cũng chỉ biết rằng giếng được xây vào khoảng thế kỷ XIII – IX. Cái tên Bá Lễ ra đời từ khoảng thế kỷ XX, là tên của người thời bây giờ đứng ra trùng tu giếng. 

Giếng Bá Lễ có dạng hình vuông, tương truyền do người Chăm xây dựng. Thành giếng được xây dựng bằng chất liệu gạch, kiên cố, chắc chắn. 

Dưới đáy giếng là khung gỗ lim rộng bản đã qua ngàn năm, nhưng không bị mục. Từng lớp rêu phong bám trên thành giếng tạo nên một nét cổ kính đậm chất Hội An. 

Miệng giếng cổ hình vuông – một đặc trưng trong cách xây dựng của người Chăm xưa. Ảnh: PL 


Một góc nhà thờ Võ tộc, nơi thờ Võ Bá Lễ - người đã trùng tu lại giếng cổ từ thời Pháp thuộc. Ảnh: TH Người dân Hội An tin rằng nếu sử dụng nước giếng Bá Lễ để nấu ăn, các món ăn đặc sản phố cổ được nấu ra sẽ đậm đà, thơm ngon hơn. 


Cô Thị - “truyền nhân” của gánh xí mà (vừng đen) nổi tiếng chia sẻ: “Xí mà muốn ngon đúng điệu phải dùng nước giếng Bá Lễ. Nấu bằng nước khác là mất vị liền”.

Cũng từ giếng Bá Lễ, nghề gánh nước thuê phục vụ cho các nhà hàng đã sinh ra. Nước giếng cổ làm nên những món ngon nức tiếng của Hội An. Ảnh: TH 


Có điều kì lạ đó là giếng Bá Lễ chẳng khi nào cạn nước. Bất kể mùa mưa hay mùa hạn hán dữ dằn nhất. 

Nhiều người ở đây tin rằng khi đứa trẻ sinh ra được tắm tại giếng cổ Bá Lễ thì da dẻ hồng hào, sẽ khỏe mạnh, chóng lớn. Nhiều hộ gia đình vẫn còn thói quen uống nước giếng, pha trà từ nước giếng Bá Lễ, bởi lẽ đã quen với vị nước ngọt mát trong lành mà nước máy chẳng thể thay thế được. 

Miệng giếng Bá Lễ nằm trong một mảnh đất nhỏ, không có rào chắn để mỗi ngày người dân Hội An có thể tới đây gánh nước về dùng. Ảnh: TH 


Người dân Hội An xưa nay vẫn luôn tin vào tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”, rằng mọi thứ xung quanh con người đều có phần hồn riêng của nó. Họ tin giếng nước Bá Lễ luôn luôn yêu quý con người phố Hội và đem những gì tốt nhất đến cho mảnh đất cổ kính này. 

Cách miệng giếng tầm nửa mét có một ban thờ thần giếng rất trang trọng. Vào những đêm Rằm hay mồng Một, người Hội An vẫn giữ thói quen mang hoa quả, hương đèn cúng vái để cảm tạ nguồn nước mát mà giếng Bá Lễ mang lại cho Hội An. Giếng Bá Lễ tồn tại như hình với bóng cùng phố cổ, làm cho văn hóa và ẩm thực nơi đây càng trở nên đặc biệt.

Thúy Hiền - Phạm Ly

Huyền bí vị thần trong ngôi đền lâu đời nhất xứ Thanh

đăng 02:09, 26 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cách di sản Thành nhà Hồ chừng hơn 5km, rẽ trái vào làng Đan Nê, xã Yên Thọ, huyện Yên Định là đền Đồng Cổ, nơi thờ vị thần nổi tiếng linh thiêng với giai thoại bao lần hiện lên báo mộng giúp vua giết giặc. 

Xứ Thanh vốn nổi tiếng là vùng đất “ Địa linh nhân kiệt”, nơi sản sinh nhiều bậc nhân tài kiệt xuất, nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nức tiếng của cả nước. Đương nhiên, quả là thiếu sót nếu chúng ta không nhắc đến di tích đền Đồng Cổ - ngôi đền có lịch sử lâu đời bậc nhất xứ Thanh, gắn liền nhiều thần tích, truyền thuyết ăn sâu vào đời sống văn hóa tinh thần của người dân. 

Khám phá ngọn núi Tam Thai 

Người dân vùng đất Đan Nê từ bao đời nay luôn tự hào là nơi mở đầu công cuộc đào sông khơi ngòi của anh hùng dân tộc Lê Hoàn, người có công đầu trị thủy là Đào Lang ( làng Bùi Đỉnh, xã Yên Trung), dòng sông khai nguồn từ đền Đồng Cổ ghi dấu ấn chiến công của các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn, là huyết mạch giao thông để Thanh Hóa chi viện cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. 

Nói đến cụm di tích núi và đền Đồng Cổ, không thể không nhắc đến dãy núi Tam Thai (tên chung của 3 ngọn núi: núi Xuân, núi Nghễ, núi Đổng), mỗi ngọn núi lưu giữ những giá trị lịch sử quý giá khác nhau. 

Quang cảnh đền Đồng Cổ. 


Núi Xuân là ngọn núi phía Tây Bắc đền Đồng Cổ, tương truyền là nơi các vị thần về chầu trời, trên vách núi có khắc hai tấm bia một chữ Hán, một chữ Pháp. Tại tấm bia chữ Hán có viết, trong một lần nghỉ lại vùng đất Đan Nê, Tuyên công Nguyễn Quang Bàn (con trai vua Quang Trung) vào cầu khấn trong đền, sau đó ứng nghiệm, bên bờ nam sông Mã xuất hiện một chiếc trống đồng cổ, năm 1802 ngài đem hiến cho đền trông coi, bảo quản. 

Còn tại ngọn núi Nghễ, có động Trung Vân, nơi xưa kia là nơi trú quân của một đơn vị bộ đội, nên có tên gọi “ hang Tòng quân”. 

Là ngọn núi đứng độc lập phía Tây Nam đền, trong hang núi Đổng có động Ích Minh – trong kháng chiến chống Pháp từng là nơi sản xuất vũ khí của một công binh xưởng, sau đó là nơi đặt nhà máy điện Bình Giã, cung cấp điện phục vụ quân đội… 

Phía dưới là bến Trường Châu bên bờ sông Mã, theo sử sách có ghi, nơi đây xưa kia Lý Phật Mã neo thuyền (năm 1020) trong một lần dẹp giặc phương Nam, đồng thời là nơi đô hội buôn bán tấp nập một thời của vùng đất Ái Châu xưa. 

Thần tích và truyền thuyết đền Đồng Cổ 

Thần Đồng Cổ hay còn gọi thần trống đồng, là vị thần được thờ trong đền Đồng Cổ, thuộc núi Đồng Cổ ( còn gọi là núi Khả Phong), thần đã xin theo giúp Vua Hùng đánh giặc ở Hồ Tôn. Thắng trận trở về, Vua Hùng vào đền, tạ lễ, cho đúc trống đồng, lập đền thờ, phong cho thần là “ Đồng Cổ Đại Vương.” 

Đền Đồng Cổ nhìn từ ngoài thành. 


Năm 956, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn trong một lần đem quân đánh giặc Chiêm Thành, qua địa phận sông Bà Hòa (thuộc huyện Tĩnh Gia ngày nay), trời bỗng nổi mưa to gió lớn, thuyền bè không đi được, thần Đồng Cổ hiện lên báo mộng xin giúp sức, tỉnh dậy Lê Hoàn liền chắp tay bái tế, lập tức trời quang mây tạnh, sóng gió trở lại bình yên, thuyền bè đi lại dễ dàng. Trận đó quân ta thắng lớn. 

Trong cuốn sách “Việt Điện U Linh” từ thế kỷ XIV thời Trần, vua Lý Thái Tông khi chưa lên ngôi, trong một lần dẹp giặc phương Nam đã dừng chân trong đền, thấy thần hiện lên giúp sức. Đến khi lên nối ngôi, nằm mộng được thần hiện báo ba vị vương em vua (Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh) có âm mưu khởi loạn giành ngôi, tỉnh giấc nhà vua liền sai Lê Phụng Hiểu chế ngự, việc trong nhà dẹp yên.

Xung quanh đền Đồng Cổ, người dân làng Đan Nê còn lưu truyền nhiều giai thoại, truyền thuyết gắn liền lịch sử của đền. 

Theo lời một số bậc cao nhân tại đây cho biết, khi xưa dân làng đào giếng, tự nhiên đất khơi lên đỏ như son, khi ngựa chiến của vua tôi nhà Lý trong cuộc bình Chiêm qua làng, lúc dừng vó nghỉ chân ở đền, uống nước trên hồ Bán Nguyệt trước đền, mõm con nào cũng đỏ như son. 

Đầu thời Trung Hưng, trong cuộc nội chiến Lê – Mạc, quân Mạc đang thế mạnh, qua cửa biển Thần Phù tràn vào các đường hai huyện Vĩnh Ninh và Yên Định ( Vĩnh Lộc và Yên Định ngày nay), thủy quân nhà Lê án ngữ phía thượng lưu sông Mã, lâp doanh trại đóng quân, đêm đêm thường nghe tiếng trống ầm ầm như sấm, tiếng ngựa hí… dồn đến vang xa mấy nghìn dặm. Sáng hôm sau, quân nhà Lê truy kích, quân Mạc tan vỡ rút chạy. Dò la hồi lâu, mới biết tiếng ầm ầm trống chiêng phát ra từ miếu thờ thần Đồng Cổ. 

Chỉ trong một đêm có thần thác mộng giúp nhà Lê phá giặc, đến ngày giao chiến, gió thuận triều dâng rất mạnh, khí thế quân nhà Lê tăng gấp bội phần, quân Mạc thua chạy. Về sau, triều đình nhà Lê Trung Hưng sai quan tu sửa đền thờ, miễn giảm cho dân các việc quân để thờ phụng ở đền, đền đáp công giúp nước của thần. Trong đó, công lao giúp sức của ông Nguyễn Văn Giai, người làng Phù Lưu, huyện Thiên Lộc thuộc Châu Hoan, tỉnh Nghệ An ( đỗ Nhị giáp tiến sĩ xuất thân, được bổ nhiệm làm quan Hiến sát sứ lộ Thanh Hóa năm Canh Thìn 1640) rất quan trọng. 

Dẫn lời một số cao nhân trong làng, trước Cách mạng tháng Tám 1945, cứ vài ba năm lại có một cái tán vàng hiện ra ở quán Triều Thiên, ba ngày sau mới lặn, quan địa phương đến xem xét tế lễ. Vào một buổi chiều mây mù ùn ùn kéo đến, gió mưa nổi lên, người dân nhìn thấy một con rồng đen uốn mình từ trên trời trườn xuống đền. Mỗi khi hạn hán, các quan cùng dân lại lại làm lễ cầu mưa và ứng nghiệm… 

Vào năm 2001, đền Đồng Cổ đã vinh dự được xếp hạng Di tích, lịch sử - Văn hóa Quốc gia. Nếu đã có dịp ghé thăm ngôi đền cổ kính, linh thiêng này, hẳn nhiều người sẽ ấn tượng với kết cấu “ Tiền nhất – hậu đinh”, gồm tiền đường, chính tẩm, nhà cầu và thượng điện. Đền nằm ở vị trí tâm điểm thuộc dãy núi Tam Thai, bên trong có một cái trống bằng đồng nặng chừng 100 cân, chế tác rất tinh xảo, tương truyền được làm từ đời Hùng Vương. 

Cứ đến ngày 14, 15 tháng 3 âm lịch hàng năm, người dân xã Yên Thọ, huyện Yên Định lại tổ chức lễ hội đền Đồng Cổ để tưởng nhớ vị thần có công với đất nước. 

Lê Trung

Bí ẩn cột đá khổng lồ khắc rồng trên núi ở Bắc Ninh

đăng 05:52, 18 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Phần cột đá hình vuông, phía trên hình tròn chạm nổi đôi rồng phong cách thời Lý chứa đựng nhiều điều bí ẩn trên dãy núi Lãm Sơn (TP. Bắc Ninh) mới được công nhận là bảo vật Quốc gia.

Cột đá chạm rồng uy nghi và bí ẩn ở chùa Dạm nằm trên dãy núi Lãm Sơn (xã Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) có niên đại từ thế kỉ XI mới được công nhận bảo vật Quốc gia năm 2017. 


Đại Lãm Thần Quang Tự là tên chữ của chùa Dạm, ngôi chùa 1.000 năm tuổi nằm trên dãy núi Lãm Sơn được xây dựng từ thời Lý. Đến thời Lê, chùa được trùng tu với quy mô trên 100 gian. Tuy nhiên, chùa đã bị hư hỏng nặng do thời gian và chiến tranh. Hiện chùa đang được xây dựng lại khang trang, hoành tráng. 


Chùa Dạm được xây dựng trên diện tích trên 2 mẫu Bắc Bộ, với 4 cấp cao dần lên đỉnh núi. Các cấp nền đều có xếp đá lớn chống xói lở, cao tới 6-7m. Ngôi chùa này cũng từng được gọi là chùa Trăm Gian, vì chùa rất rộng lớn, với hàng trăm gian nhà. 


Cấp nền thứ 2 là nền chùa chính. Đây cũng là nơi lưu giữ những di tích quan trọng nhất, đứng nhìn xuống là cảnh non nước mênh mông 


Nổi bật trên nền chính là cột đá uy nghi và bí ẩn. Đây là một cột đá lớn nguyên khối được dựng trên bệ tròn cao 1m, đường kính khoảng 4,5m. Tổng chiều cao của cột đá là 5m 


Cấu trúc cột gồm 2 thớt khối, tượng hình vuông tròn trời đất. Khối gốc như hộp vuông tiết diện, cạnh 1,4 m và 1,6m. Khối ngọn trụ trì, đường kính khoảng 1,3m 


Độc đáo dưới khối trụ tròn chạm nổi là đôi rồng phong cách thời Lý với mào bốc lửa, bờm thành búi như cờ đuôi nheo bay lướt, thân tròn lẳn uốn khúc, chân năm móng. 


Thân rồng to, mập uấn khúc quanh cột mang đậm phong cách thời Lý. Đây là đôi rồng còn sót lại cho đến ngày nay 


Bệ cột được trạm hoa văn sóng ước đặc trưng thời Lý 


Trên cột đá có nhiều nét chạm trổ tinh xảo. Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về ý nghĩa của cột đá chùa Dạm. Có nhà nghiên cứu cho rằng, những cột đá này là biểu tượng sinh thực khí Linga và Yoni đã được Việt hóa, mang mơ ước mưa thuận gió hòa, đời sống ấm no thịnh trị. Có ý kiến cho rằng cột đá mang dáng dấp của cột Chùa Một Cột. 


Hoà thượng Thích Thanh Dũng, trụ trì chùa Hàm Long kiêm chùa Dạm cho biết: “Cột đá khổng lồ có rất nhiều giả thuyết khác nhau mà cho đến nay chưa có một kết luận thuyết phục chính xác nhưng các nhà khoa học tìm hiểu say mê, đó là làm cách nào mà người xưa, với công cụ thô sơ đã vận chuyển được khối đá khổng lồ này lên gần đỉnh núi Dạm”


Hồng Phú

Dân Việt - 16/04/2018

Sông Đà - Nơi ghi dấu bậc quân vương

đăng 17:53, 3 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày nay, con sông Đà không còn dữ dội với 130 thác, 170 ghềnh "đá núi sắc nhọn như nanh vuốt và những cái hút nước cuồn cuộn luồng gió gùn ghè như chực nuốt người”. Con sông hung hãn khi xưa, giờ đã trở nên hiền hòa như một chú sư tử được thuần phục. Giữa lòng hồ mênh mang nước và lồng lộng gió, trên chiếc thuyền máy nổ giòn hướng thẳng tới Khu di tích lịch sử văn hóa Đền Thác Bờ (xã Vầy Nưa, Đà Bắc), tôi được nghe kể câu chuyện ly kì về một bậc quân vương khi xưa từng phạt đá đề thơ, ghi lại dấu ấn bằng lưỡi kiếm và những vần thơ như chứa gang, chứa thép.

Nơi bậc quân vương phạt đá đề thơ 

Sau bước chòng chành, rồi cũng ổn, chiếc thuyền sắt lao về phía trước như mũi dao cắt lên miếng thạch khổng lồ màu ngọc bích đặc trưng của sông Đà. Lẫn trong tiếng gió, tiếng máy nổ giòn tan loang trên mặt hồ, Cường - anh lái thuyền ở vùng sông nước Thung Nai bảo, thuận gió nên từ bến Thung Nai đến khu di tích Đền Thác Bờ cũng nhanh thôi. Đây là khu di tích lịch sử văn hóa mới được tôn tạo, đến nay cơ bản hoàn thành và sẵn sàng chào đón du khách thập phương đến thăm quan, chiêm bái. Điểm nhấn quan trọng nằm trong quần thể khu di tích là bia đá đề thơ Lê Lợi (tức Lê Thái Tổ hay Thái Tổ Cao Hoàng Đế) - chứng tích lịch sử ghi đậm dấu ấn của một bậc quân vương hào kiệt, khiến bất cứ ai cũng cảm thấy tự hào khi đặt chân đến nơi này. 

Qua tìm hiểu được biết, công trình tôn tạo khu di tích lịch sử văn hóa Đền Thác Bờ được đầu tư xây dựng trên đỉnh đồi Hang Thần (xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc) có diện tích khoảng 4.500m2. Vị trí này trước đây cũng là nơi Chợ Bờ mới tụ họp sau khi Chợ Bờ cũ đã bị nhấn chìm sâu dưới hàng trăm mét nước. Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp mở ra với sông nước hữu tình, núi non hùng vĩ. Hiện nay, công trình đã hoàn thiện các hạng mục đền chính, 2 dãy nhà tả vu - hữu vu, tam quan cùng một số hạng mục phụ trợ, bệ đặt bia đá đề thơ của vua Lê Lợi... Công trình được xây dựng trên cơ sở những truyền thuyết, tài liệu lịch sử có thật để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh và tìm hiểu văn hóa, lịch sử của nhân dân. Trong đó, giá trị nhất là tảng đá mà vua Lê Thái Tổ đã phạt đá đề thơ sau khi dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn nơi biên viễn xa xôi trở về. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, bao biến cố thời gian, cùng sự bào mòn khắc nghiệt của thiên nhiên nhưng đến giờ, những nét chữ được khắc trên đá vẫn còn giữ nguyên vẹn. 

Sử sách còn ghi: Sau khi đánh tan quân xâm lược nhà Minh, vào năm 1432, Bình Định Vương Lê Lợi đã thân chinh dẫn quân lên miền biên viễn xa xôi để dẹp loạn Đèo Cát Hãn với vùng Mường Lễ (nay thuộc tỉnh Lai Châu), giữ yên vùng biên cương, phên dậu hiểm yếu nhất của đất nước. Sau khi dẹp loạn xong, giành thắng lợi trở về, vua dừng chân tại khu vực thác Bờ xưa trập trùng ghềnh thác. Cảm hứng trước thế núi, dáng sông, người anh hùng đã rút gươm, phạt đá, đề khắc một bài thơ bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú, có tên là "Chinh Đèo Cát Hãn, quá Long Thủy đê” (Đi đánh Đèo Cát Hãn trở về, qua đường đê Long Thủy). Bài thơ được khắc trên một mỏm đá vôi lớn ở ngay bên ghềnh đá thác Bờ, thuộc xã Hào Tráng (cũ) của huyện Đà Bắc. Mỏm đá nhô cao hơn 5m, được mài nhẵn ở lưng chừng, tạo thành một mặt phẳng, bề dài gần 1,5m, cao gần 1m, bia khắc trên mặt phẳng này. Nội dung bia khắc bài tiểu dẫn và bài thơ của vua Lê Lợi. 

Khu di tích mới được tôn tạo với các giá trị văn hóa - lịch sử - tâm linh đầy ý nghĩa sẵn sàng chào đón du khách đến thăm quan và chiêm bái. 


Lạc khoản đề rằng: "Năm Nhâm Tý, Thuận Thiên thứ 5 (1432) tháng 3, ngày tốt. Ta đi đánh Đèo Cát Hãn qua đây, làm một bài thơ, nói về đường lối phòng Nhung Địch cho đời sau biết: Man Mường Lễ mặt người dạ thú, ngạch trở giáo hóa, phải tiêu diệt ngay. Nên nghĩ sinh dân thiên hạ, chẳng ngại lam chướng, mà phương lược xuất chinh tiến quân bằng đường thủy hai sông Thao, Đà là hơn cả”. 

Bài thơ đề rằng: 

"Gập ghềnh hiểm hóc chẳng từ nan, 
Già vẫn nguyên còn sắt đá gan. 
Hào khí nghìn mù đều sạch quét, 
Tráng tâm muôn núi cũng bằng san. 
Biên phòng tất khéo mưu phòng lược, 
Xã tắc nên trù kế cửu an. 
Ghềnh thác ba trăm năm lời cổ ngữ, 
Như nay dòng thuận chỉ xuôi nhàn”. 

Khối đá khắc ghi bài thơ này hiện vẫn được lưu giữ và mới đây được chuyển về khu di tích Đền Thác Bờ - Bia Lê Lợi như một chứng tích lịch sử đầy tự hào của dòng sông trước khi thác Bờ ngập chìm sâu dưới hàng trăm mét nước. 

Truyền thuyết Chúa thác Bờ và cuộc chinh tây dẹp loạn của vua Lê 

Những dấu tích rõ nét nhất của vua Lê Thái Tổ không chỉ ở bài thơ còn khắc ghi trên tảng đá núi hiện nay được đặt trang trọng tại nơi nó đã từng thuộc về. Thêm vào đó, cuộc hành binh lên miền viễn tây xa xôi dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn của vua tôi nhà Lê vẫn còn lưu dấu đậm nét trong những câu chuyện kể, trong huyền thoại có thật về hai Bà Chúa Thác Bờ. 

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: Vào mùa đông, tháng 11 năm Tân Hợi (1431), vua Lê Lợi đem quân đi dẹp loạn Đèo Cát Hãn, Thổ tù châu Mường Lễ (Lai Châu). Theo truyền thuyết, khi vua kéo quân theo đường thủy, bộ, qua hai đạo sông Thao, sông Đà, đến Thác Bờ thì thấy giữa dòng nước xoáy chảy xiết, phía trước thác ghềnh hiểm trở, nước xô bọt trắng bờ, với muôn vàn mỏm đá lởm chởm nên không thể tiến quân lên. Khi ấy, có người con gái dân tộc Mường là Đinh Thị Vân xã Hào Tráng (cũ) và cô gái người Dao, xóm Mó Nẻ, xã Vầy Nưa (Đà Bắc); đã đứng lên vận động dân bản đóng góp lương thảo giúp nhà vua nuôi quân. Đồng thời, các bà vận động thanh niên trai tráng trong vùng lên rừng chặt tre, nứa kết thành bè mảng, xẻ ván đóng thuyền chở quân sĩ vượt qua thác Bờ đi đánh giặc. 

Nổi bật trong quần thể khu di tích là tấm bia đá đề thơ Lê Lợi – dấu ấn một thời hào kiệt của Thái Tổ Cao Hoàng Đế. 


Sau chiến thắng trở về, vào tháng 3, năm Nhâm Tý (1432), vua Lê Lợi dừng chân nghỉ tại Chợ Bờ, đề thơ khắc bia kỷ niệm. Khi ấy, cô gái Đinh Thị Vân và cô gái người Dao lại vận động bà con dân bản góp cơm lam, thịt muối, rượu cần, múa hát để mừng đoàn quân chiến thắng. Sau này hai bà mất, thường hiển linh phù trợ giúp đỡ người dân vượt qua ghềnh đá thác Bờ được an toàn. Cảm kích trước công lao của hai bà, nhà vua đã ban chiếu chỉ cho dân trong vùng lập đền thờ hai bà. Cũng từ đó, nhân dân tôn thờ hai bà là Chúa Thác Bờ, phù hộ độ trì cho dân bản, cho thuyền bè qua lại thác ghềnh trên sông Đà được bình an vô sự. 

Theo những người cao tuổi thì trước đây tại xã Hào Tráng có một ngôi Đền và một ngôi Miếu đều thờ Chúa Thác Bờ. Năm 1979, Nhà nước xây dựng đập thủy điện Hòa Bình, giải phóng lòng hồ, Thủ nhang ngôi Đền di chuyển lên xây dựng trên đất Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, nay là đền Chúa Thác Bờ Vầy Nưa. Còn Thủ nhang ngôi Miếu di chuyển lên xây dựng trên đất Thung Nai, huyện Cao Phong và trở thành đền Chúa Thác Bờ Thung Nai. Hai ngôi đền nằm ở 2 phía bờ cách nhau khoảng 10 phút đi thuyền. Hiện nay, đền thờ Chúa Thác Bờ bên phía Vầy Nưa đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa. 

Có thể nói, truyền thuyết về bà Chúa Thác Bờ là sự hóa thân của người mẹ Việt Nam, của hai người phụ nữ Mường - Dao và là tình đoàn kết lâu đời giữa hai dân tộc Mường, Dao ở Hòa Bình. Đền Chúa Thác Bờ được cộng đồng tín ngưỡng Thờ Mẫu sùng kính, trong các dịp lễ hội về dự rất đông. Ngày nay, cùng với đền thờ Vua Lê Thái Tổ, đền Chúa Thác Bờ ở Vầy Nưa và Thung Nai đã và đang trở thành những điểm nhấn quan trọng trong không gian văn hóa - tâm linh của vùng lòng hồ sông Đà, đồng thời làm phong phú thêm đời sống văn hóa - tinh thần của đồng bào Mường, Dao nơi đây. Chắc chắn, đó là những điểm nhấn đầy ý nghĩa sẽ được giữ gìn và phát triển trên lộ trình xây dựng hồ Hòa Bình trở thành khu du lịch quốc gia. 

Thu Trang

Bí ẩn bức tượng 'ông Phật đen' ở Quan Âm tu viện Biên Hòa

đăng 17:31, 3 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Người ta gọi bức tượng Địa tạng vương bồ tát đặt trong khuôn viên Quan Âm tu viện (tọa lạc tại đường Nguyễn Ái Quốc, khu phố 3, phường Bửu Hòa, TP Biên Hòa, Đồng Nai) là “ông Phật đen”. Xung quanh “ông Phật đen” có nhiều thắc mắc: Tại sao tượng lại được sơn phết toàn màu đen từ đầu đến chân? Lý do sao phải di dời bức tượng từ nghĩa trang Đô Thành Sài Gòn (cũ) về Quan Âm tu viện Biên Hòa?

Dựng tượng Địa tạng vương để trấn yểm ma quỷ?

Công viên Lê Thị Riêng (đường CMT8, Q.10, TP.HCM) là trung tâm vui chơi, giải trí quen thuộc của người dân TP.HCM. Tiền thân công viên là nghĩa địa Đô Thành (sau đổi tên thành nghĩa trang Chí Hòa) từ lâu đã “nổi tiếng” với những lời đồn đại đầy ám ảnh về ma quỷ.

Nghĩa trang Đô Thành trước năm 1975 có diện tích rộng gần 30 hec-ta. Theo các cụ lớn tuổi cư trú gần nghĩa trang, tại đây sau trận chiến khốc liệt tết Mậu Thân 1968, xác lính của cả hai bên (quân giải phóng và Việt Nam Cộng hòa) nằm la liệt mà hầu như không có thân nhân đến nhận. Chính quyền Sài Gòn không biết xử lý làm sao với hàng ngàn xác người sắp phân hủy, lo ngại ảnh hưởng môi trường sống nên cho đào một cái hố lớn trong nghĩa trang Đô Thành để chôn tập thể. 

Quan Âm tu viện tọa lạc ở đường Nguyễn Ái Quốc, khu phố 3, phường Bửu Hòa, TP Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai) 


Dù hố đào rất sâu nhưng do chôn cùng lúc số lượng xác lớn nên mùi hôi thối vẫn bốc lên suốt cả tuần. Người dân xứ Bắc Hải – Chí Hòa năm đó phải đóng kín cửa nhà hoặc tạm lánh nơi khác, chờ mùi tử khí tan bớt mới dám trở về nhà.

Từ đó, lời đồn các oan hồn hiện về than khóc ngày càng rầm rộ và lan rộng khắp Sài Gòn - Chợ Lớn. Thấy sự việc như vậy nên hội Phật tử Long Hoa Sài Gòn mới xây một cái miếu nhỏ để thờ cúng và tụng kinh cầu siêu nhưng cũng không công hiệu. Người trong hội Long Hoa bắt đầu suy nghĩ và tìm người để đắp tượng Địa tạng. Hội Long Hoa mời ông Mai Lân, một nhà điêu khắc làm tượng Phật nổi tiếng ở Sài Gòn. Tượng được làm theo quy cách chiều ngang 0,75m, đế cao 3m, chất liệu là nguyên khối đá Italia đen nặng gần chục tấn.

Công việc làm tượng bắt đầu từ năm 1971 do ông Mai Lân cùng 5 thợ đắp. Đến ngày đem tượng ra ráp, ai cũng ngỡ ngàng vì toàn thân pho tượng láng bóng đen tuyền, cứ như có ai đó mài. Sau đó, tượng được đem về nghĩa trang Đô Thành chọn một chỗ để dựng. Chuyện lạ xảy ra mọi người đều chứng kiến: Khi xe cẩu đưa tượng đặt lên đế cao 3m, tượng tự xoay về hướng đông rồi đứng vững, mà không hề có bàn tay ai di chuyển.

Từ khi dựng tượng Địa tạng thì mọi chuyện về “người âm” quấy rầy người dương thế đều êm lặng và không còn rần rần nữa. Tuy nhiên, những lời đồn đại huyền bí lại bắt đầu dồn về bức tượng toàn thân màu đen. Cụm từ “ông Phật đen” cũng bắt đầu được gọi từ đây.

Tượng “ông Phật đen” nặng gần 10 tấn, có màu sắc đen tuyền từ đầu đến chân tượng 


Hành trình di dời “ông Phật đen” từ Sài Gòn về Biên Hòa

Sau 30/4/1975, cư dân Sài Gòn dần trở nên đông đúc hơn nên việc tồn tại một khu nghĩa trang rộng lớn giữa lòng thành phố là bất cập. Bắt đầu từ năm 1980, UBND TP.HCM có chủ trương và kế hoạch giải tỏa nghĩa trang Đô Thành để xây dựng công viên Lê Thị Riêng, mang tên người chiến sĩ cách mạng hy sinh năm 1968, vì thi hài bà cũng được an táng tại nghĩa trang này.

Nhưng có một điều kỳ lạ là sau khi bốc hết các hài cốt và san bằng toàn bộ khu nghĩa trang mà bức tượng Địa tạng vương vẫn đứng trơ gan cùng tuế nguyệt. Điều này khiến cho người dân tiếp tục đồn thổi về sự linh thiêng của bức tượng đen “bí ẩn”. Người ta đồn nhau rằng, đơn vị thi công cho xe đến ủi hoặc đập cho bể tượng nhưng tất cả xe ủi đều bị “chết máy”, không chạy tới lui được. Có người bực mình lấy gạch, đá ném thẳng vào tượng, về nhà không bao lâu phát bệnh mà chết (?).

Vì sự linh ứng của bức tượng nên có rất nhiều chùa chiền khắp nơi muốn xin “rước” tượng Địa tạng về chùa mình nhưng chính quyền Quận 10 chỉ chấp thuận đơn của Quan Âm tu viện ở Biên Hòa. Quan Âm tu viện được xây dựng từ năm 1966, là trụ sở của Liên tông Tịnh độ non bồng, một pháp môn có hàng chục ngàn phật tử theo để tu học.

Tượng “ông Phật đen” được chế tác từ năm 1971 từ nguyên khối đá Italia 


Được sự giới thiệu của sư trụ trì Quan Âm tu Viện, chúng tôi liên hệ bà Võ Thị Mười (vốn là phật tử của Quan Âm tu viện), người được sư bà trụ trì giao nhiệm vụ đi rước tượng “ông Phật đen” để tìm hiểu thêm thông tin về hành trình di dời bức tượng từ nghĩa trang Đô Thành về Biên Hòa. Bà Mười đã lớn tuổi, không thể nhớ cụ thể từng chi tiết, nhưng may mắn là khoảng năm 2006, bà Mười có đọc cho con cháu của bà ghi lại nội dung câu chuyện bà đi rước tượng tượng Địa tạng để sau này có ai cần tìm hiểu thì còn có tư liệu để tham khảo.

Theo hồi ký của bà Mười thì chiều tối ngày 23/8/1986, sau khi trình đầy đủ giấy tờ cần thiết cho chính quyền Quận 10, bà Mười cùng 5 ông thợ hồ, mang theo búa, đục tập trung đến nghĩa trang. Sau khi thực hiện nghi thức cúng kiến mãi đến 4 sáng mới bắt đầu khởi đục tượng từ đài sen xuống. 

5 thợ hồ đục nháng lửa mà không thấm vào đâu. Người dân xung quanh thấy vậy cũng giúp một tay phụ bà Mười di dời tượng, người lo nước uống, người kêu gọi thêm các anh em phật tử và nhân dân thay phiên nhau đục, dần mới lộ ra cây sắt tròn đầu tiên 28 mm. Chính quyền cũng có mặt hỗ trợ tinh thần nhóm phật tử và giữ gìn an ninh, trật tự chung.

Sau khi cắt xong phần sắt chân tượng và thân tượng được cột dây kỹ càng thì xe cần cẩu nâng tượng đặt trên một chiếc xe khác.

Xe chở tượng bắt đầu lăn bánh di chuyển ra khỏi nghĩa trang thì sau lưng có rất đông người dân Sài Gòn chạy xe honda theo để “tiễn đưa” “ông Phật đen” về an tịnh ở Biên Hòa...

Trí Bùi

Điện Hải cổ thành - Chuyện chưa kể: Hai nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của Việt Nam

đăng 20:20, 25 thg 3, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Xét về tính chất và cách thức quy tập, các nhà sử học cho rằng nghĩa trủng Phước Ninh và Khuê Trung gắn liền với thành Điện Hải trong buổi đầu kháng Pháp. Đây cũng chính là 2 nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên ở VN.

Nghĩa trủng Phước Ninh nơi có tấm bia ghi nhận công đức từng được đề nghị là bảo vật quốc gia. Ảnh: Hoàng Sơn 


Sau 18 tháng ròng rã giằng co cho đến khi liên quân Pháp rút khỏi Đà Nẵng (tháng 2.1860), lực lượng triều đình nhà Nguyễn cũng bị thiệt hại nặng nề. Hàng ngàn nghĩa sĩ đã ngã xuống, nhất là trong 2 trận đầu Pháp tấn công vào tháng 9 và 11.1858. 

Chứng tích cuộc chiến 
Trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, nghĩa sĩ tử trận chỉ được mai táng vội vã và sơ sài. Nhiều năm sau chiến tranh Mậu Ngọ 1858, vua Tự Đức đã chỉ đạo quy tập hài cốt tử sĩ vào 2 nghĩa trủng Phước Ninh và Khuê Trung. 

Vào năm Tự Đức 19 (1866), nghĩa trủng Hòa Vang (tên cũ của nghĩa trủng Khuê Trung) được lập lần đầu tiên ở làng Nghi An (nay thuộc P.Hòa Phát, Q.Cẩm Lệ) với 1.300 ngôi mộ. Năm 1962, quân đội Mỹ mở rộng sân bay, nghĩa trủng lại dời đến vị trí hiện tại (P.Khuê Trung, Q.Cẩm Lệ) và được công nhận di tích quốc gia năm 1999. 

Còn nghĩa trủng Phước Ninh qua nhiều lần quy hoạch hiện chỉ sót lại nhà bia tưởng niệm bằng sa thạch cao 1,2 m, rộng 0,8 m, năm 1988 di tích này được công nhận di tích quốc gia. Trong khi đó, hơn 1.500 nấm mộ tại đây đã được cải táng vào nghĩa trang Sơn Gà ở xã Hòa Khương (H.Hòa Vang). Nhắc lại, nghĩa trủng Phước Ninh do ông Nguyễn Quý Linh (húy Đạo Trai, làm chức Sung chánh Thương biện hải phòng) khởi xướng lập nên vào năm Tự Đức 29 (1876). 

Tấm bia cổ ở nghĩa trủng Phước Ninh lưu giữ nhiều thông tin quý giá. Vì vậy, hồi năm 2014 sau khi tổ chức thẩm định giá trị hiện vật, Trung tâm quản lý di sản Đà Nẵng kiến nghị nên công nhận tấm bia này là bảo vật quốc gia (nhưng đến nay chưa được công nhận). Qua thời gian, bia đã mờ nét nhưng vẫn có thể đọc được những dòng chữ đậm tính nhân văn. Bia ghi: “Các vị Phó quản cơ Nguyễn Lân, Hiệp quản Nguyễn Đề được phái đến để cùng với quân binh phát dọn gai gốc, cỏ rác tìm nơi bờ bụi thu nhặt hài cốt tản mác đó đây, rồi dùng giấy, vải mà gói lại đặt vào quách để đưa về chung một khu vực, chôn cất thành nhiều lớp…”. 

Tấm bia còn thể hiện nội dung chính ông Đạo Trai “tâu xin giao cho dân lo việc cung phụng gìn giữ, sửa sang quét dọn. Lại xin mua hơn 2 mẫu ruộng đất để chi dùng trong việc giỗ chạp hằng năm”. 

Nghĩa trủng độc nhất vô nhị 

Nói về nghĩa trủng Phước Ninh, ông Huỳnh Văn Hùng, Giám đốc Sở VH-TT TP.Đà Nẵng cho biết nơi đây vẫn còn cây đa, tấm bia và đến ngày rằm người dân địa phương vẫn thường xuyên hương khói. 

“Liệt sĩ là những người hy sinh vì đất nước trong khi làm nhiệm vụ. Những người dưới trướng Nguyễn Tri Phương, Lê Đình Lý tham gia chống Pháp mà hy sinh thì cũng là liệt sĩ. Nên gọi nghĩa trủng này là nghĩa trang liệt sĩ đầu tiên của cả nước cũng đúng, bởi trong lịch sử hàng ngàn năm của đất nước, những người hy sinh vì nghĩa chưa được quy tập vào nghĩa trang. Chưa thấy nơi nào trên cả nước có nghĩa trủng kiểu này”, ông Hùng phân tích. Thật xúc động khi theo dõi trong kế hoạch kỷ niệm 160 năm Đà Nẵng kháng Pháp, thấy có sự kiện khởi công trùng tu dự án tôn tạo nghĩa trủng Khuê Trung với kinh phí 5 tỉ đồng. 

Ông Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, là người kiểm tra hồ sơ công nhận di tích quốc gia đặc biệt đối với thành Điện Hải, đã chia sẻ: “Việc có nên đưa 2 nghĩa trủng vào di tích quốc gia đặc biệt thuộc hệ thống thành Điện Hải hay không cũng đã được bàn đến. Tuy nhiên, trong hồ sơ cần phải bổ sung thông tin đầy đủ chứng minh gắn liền với thành Điện Hải. Bản thân tôi rất muốn nghĩa trủng không rời rạc, nằm ngoài thành Điện Hải, mà cần có sự liên kết theo hệ thống”. 

Trong bài viết Cuộc chiến đấu dưới chân thành Điện Hải - 155 năm sau nhìn lại đăng trong cuốn Đà Nẵng chống liên quân Pháp - Tây Ban Nha 1858 - 1860 (NXB Giáo dục VN 2014), ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Đà Nẵng, cũng nhận định: Cái độc đáo chỉ riêng Đà Nẵng mới có là ngay sau khi kết thúc chiến tranh không lâu, lần đầu tiên ở nước ta có 2 nghĩa trang liệt sĩ quốc gia - nghĩa trủng Phước Ninh và Khuê Trung. 

Hồi năm 2013, nhân kỷ niệm 155 năm cuộc chiến đấu dưới chân thành Điện Hải, theo đề nghị của Hội Khoa học lịch sử Đà Nẵng, lãnh đạo TP đã đến dâng hương ở 2 nghĩa trủng này.

Hoàng Sơn

Tượng xưa ở chùa 'mục đồng'

đăng 21:47, 17 thg 3, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Thiên Trường cổ tự truyền thuyết là một ngôi chùa do trẻ mục đồng (chăn trâu) lập. Tài liệu lưu giữ tại chùa cho biết chùa được khai sơn cách đây 250 năm.

Nhà chùa còn lưu giữ được nhiều pho tượng cổ. Hoàng Phương 


Ở đây, ngoài những pho tượng cổ xưa còn có nhiều huyền thoại ly kỳ hấp dẫn được lưu truyền trong dân gian. 

Huyền thoại “thầy da lươn” 

Tọa lạc ở ấp Bình Trinh (xã Đồng Sơn, H.Gò Công Tây, Tiền Giang), phong cảnh chùa Thiên Trường khá u tịch. Trước sân chùa có ao sen rộng, nhiều pho tượng bố trí ngoài sân xen lẫn với cỏ cây hoa lá. Truyền thuyết dân gian kể rằng thuở xưa, vùng này còn ao đầm, hoang sơ, bọn mục đồng thường dắt trâu đến đầm lầy ăn cỏ. Nhân lúc rảnh rỗi, họ tụ tập trên gò đất bày trò nặn tượng Phật bằng đất sét chơi rồi đem thả xuống ao cho Phật tắm. Lạ thay các tượng ấy lại nổi trên mặt nước. Đám mục đồng hốt hoảng vớt tượng lên rồi che một am tranh để thờ. Sau đó có một nhà sư không biết từ phương nào đến, thấy am tranh đơn sơ, hiu quạnh lại thờ Phật bèn ở lại tu hành với tâm nguyện dựng một kiểng chùa ở đây. 

Ngày qua tháng lại, vị sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn, dọn một khu đất lập chùa, xé dây đai trộn đất sét tiếp tục nặn tượng Phật. Người địa phương không biết danh tính, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và đặt tên chùa là chùa Da Lươn... 

Tuy nhiên, theo sư Minh Trí (92 tuổi, thế danh Nguyễn Ngọc Ẩn) ở cách chùa Thiên Trường hơn trăm mét, vào những năm cuối thế kỷ 18, từ khu vực đầm Bà Dơn đến miễu Tàu Ô, Rạch Lá, Rạch Kiến, Rạch Đào và Rạch Tràm qua Tân Trụ (nay thuộc Long An) toàn là rừng bụi, đầy rẫy cây chà là và nhiều thú dữ. Bấy giờ có vị du tăng hiệu là Gia Lương, pháp danh Bửu Huệ thiền sư, đi ngang qua đầm Bà Dơn thấy mục đồng nắn cốt Phật bằng đất thả dưới đầm ao mà nổi nên vớt lên đem đến bìa rừng chặt cây bẻ lá cất thành cái am thờ. Nhờ đám trẻ chăn trâu góp công bứng cây, phá rừng, biến am tranh thành một ngôi chùa nhỏ. Sau đó, thầy Bửu Huệ viên tịch trong tư thế ngồi, người dân cho là ngài tu hành đắc đạo và đã thành Phật, nên lập tháp thờ rồi bảo nhau cúng ruộng đất cho chùa làm hương hỏa, lấy hiệu chùa là Gia Lương. 

Chưa rõ thời gian nào chùa Gia Lương đổi thành Thiên Trường, nhưng vào khoảng năm 1789, ngôi chùa đã xây dựng thành khoảnh 3 căn 2 chái, vách ván bổ kho, lợp ngói. Năm Gia Long thứ ba (1804), chùa Thiên Trường được ông Huỳnh Đình Chung cất thêm chánh điện lợp ngói âm dương, ngăn vách ván thành 2 tăng phòng. Qua nhiều đời trụ trì, chùa Thiên Trường trở nên nổi tiếng, tín đồ rất đông, các vị địa chủ trong vùng cúng thêm ruộng đất, là một trong những ngôi chùa giàu có ở tổng Hòa Đồng (nay thuộc H.Gò Công Tây). 

Lưu giữ nhiều tượng xưa 

Vào những năm đầu thế kỷ 20, chùa Thiên Trường do Hòa thượng Tâm Trí làm trụ trì. Mấy chục năm sau, vì dính líu với Thiên địa hội và cổ súy phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc trong giới tăng ni, phật tử của sư Thiện Chiếu nên vị hòa thượng này bị Tri phủ sở tại trục xuất ra khỏi chùa và bị chính quyền thực dân Pháp bắt giữ. 

Theo sư Minh Trí thì Hòa thượng Tâm Trí là người có công lớn trong việc tôn tạo cảnh quan chùa Thiên Trường, như trang trí hoành phi, liễn đối, sửa sang tượng thờ... Ông là người rất khéo tay, tượng gỗ ở chùa đều do ông tự mình thếp vàng. Bấy giờ ở địa phương có ông Xã Hợi, được dân làng gọi là “tài công Hợi”, một thợ chạm rất giỏi nghề tạc tượng. Hầu hết các tượng gỗ ở chùa Thiên Trường đều do ông thợ chạm này tạo tác đưa vào thờ. Thời chiến tranh, các pho tượng này được đem gởi ở chùa Liên Trì một thời gian. Những tác phẩm của nghệ nhân “tài công Hợi” hiện còn lưu giữ tại chùa gồm tượng Di đà, Hộ pháp, ông Tiêu, ông Thiện, ông Ác… đều bằng gỗ mít. Một vài tượng đã bị mối mọt gặm nhấm loang lổ, các sư thầy phải lấy xi măng trám lại. 

Nhắc chuyện xưa, sư Minh Trí cho biết hồi 9 năm kháng Pháp, chùa Thiên Trường có một vị sư làm cách mạng, đó là sư Pháp Hoa, thầy của ông. Sau khi tu hành ở chùa Thiên Trường một thời gian, đến năm 1941 ngài treo áo ra chợ Dinh dạy học trò. Đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngài tham gia Phật giáo cứu quốc tỉnh Gò Công. Khi giặc quay lại tái chiếm, ngài trở về thu huê lợi ruộng đất của chùa được 1.700 giạ lúa để nuôi kháng chiến. Sư Minh Trí kể: “Hồi đó có phong trào “tuần lễ đồng”, Việt Minh kêu gọi người dân hiến đồng để đúc đạn. Thầy về chùa Thiên Trường chỉ thị cho tôi đem 19 bộ lư thau, 1 bộ lư cổ bằng đồng, 1 cái lư hương bằng thau và cái đại hồng chung của chùa đem hiến cho kháng chiến”.

Ngọc Phan - Hoàng Phương

“Giỏi thay người chài, mạnh thay Quốc sĩ!”

đăng 16:59, 26 thg 2, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Chiến thắng Vàm Nhựt Tảo cách đây 156 năm là sự kiện lịch sử quan trọng, mở đầu cho truyền thống đấu tranh bất khuất của cha ông ta chống lại ách thực dân xâm lược trên vùng đất mới Nam bộ. Sự kiện đó gắn liền với tên tuổi anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực và bao người con ưu tú của quê hương Long An, của miền Nam và cả nước.


Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam trải qua nhiều cuộc đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm, nhưng phải đến năm 1858, khi Pháp nổ súng đánh chiếm Việt Nam, nước ta mới thực sự đối mặt với tư bản phương Tây xâm lược. Đó là thử thách không cân sức và chưa từng có tiền lệ trong lịch sử dân tộc.


Năm 1859, thực dân Pháp đánh vào Gia Định. Tháng 02/1861, đại đồn Chí Hòa, xây dựng theo chiến thuật phong kiến suốt trong 2 năm, mất về tay Pháp trong 2 ngày; quân đội triều đình thất thủ, phải rút lui về Biên Hòa trước sự tấn công và kỹ thuật hiện đại của tư bản Pháp. Trong lúc triều đình Huế bất lực thì phong trào nhân dân đấu tranh vũ trang xuất hiện và ngày càng phát triển, dần được quy tụ dưới ngọn cờ yêu nước của các sĩ phu và trí thức phong kiến, tiêu biểu: Trương Định, Trần Thiện Chính, Lê Huy, Hồ Huấn Nghiệp, Phan Văn Đạt, Trịnh Quang Nghị, Trà Quý Bình,...

Sự xuất hiện của người dân chài Nguyễn Văn Lịch (tức Nguyễn Trung Trực) với chiến công Nhựt Tảo chính là một trường hợp điển hình khác, đó là sự kết tinh của phong trào nông dân nhưng kế thừa và phát huy xuất sắc truyền thống đấu tranh vũ trang sáng tạo, kiên cường, bất khuất của dân tộc ta.

Nguyễn Trung Trực xuất thân từ một gia đình quê gốc ở Xóm Lưới, làng Vĩnh Hội, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ông sinh năm 1839 (có tài liệu ghi 1838), tại thôn Bình Nhựt, tổng Cửu Cư Hạ, huyện Cửu An, phủ Tân An (nay là xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Trước khi diễn ra trận đánh Nhựt Tảo, Nguyễn Trung Trực sớm tham gia nghĩa binh dưới quyền chỉ huy của Trương Định, lên chặn Pháp ở đại đồn Chí Hòa.

Năm 1861, ông được Trương Định phong làm Quyền sung quản binh đạo huyện Cửu An, đánh chặn quân Pháp ở Vũng Gù (khu vực ranh giới phường 5 - xã Nhơn Thạnh Trung, TP.Tân An) (10/4/1861), giết chết tên Trung tá Bourdais và 30 lính Pháp. Sau cuộc đàn áp nghĩa quân cầu Biện Trẹt (nay thuộc huyện Châu Thành, Long An) và xử tử vị thủ lĩnh can trường Phan Văn Đạt, giặc Pháp mở rộng địa bàn chiếm đóng ở Tân An và Mỹ Tho, bố trí các tiểu hạm trên sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, thường xuyên tuần tra sông, lạch, kiểm soát các vùng quan yếu.

Tại sông Nhựt Tảo, một nhánh hợp lưu với Vàm Cỏ Đông (nay thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ), giặc Pháp bố trí chiếc tiểu hạm L’Espérance (tức “Hy Vọng”) án ngữ, kiểm soát giữa Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, chốt chặn nghĩa quân từ miền Tây lên thành Gia Định. “Hy Vọng” là một trong những tàu thuộc hàng hiện đại bậc nhất của Hải quân Pháp lúc bấy giờ, được trang bị đại bác và nhiều vũ khí đa năng, chạy bằng hơi nước, có thể ra vào luồng lạch, do tên Trung úy hải quân Parfait chỉ huy và 42 lính. Sau thời gian theo dõi nắm chắc quy luật bố phòng, canh gác và hoạt động của địch trên tàu, dựa vào sự giúp đỡ của hương chức và nhân dân làng Nhựt Tảo, Nguyễn Trung Trực cùng các phó quản binh: Nguyễn Văn Quang, Huỳnh Khắc Nhượng và các ông: Nguyễn Học, Nguyễn Văn Điền, hương thôn Hồ Quang Chiêu,... bàn bạc, bố trí kế hoạch táo bạo và quyết liệt đánh tàu.

Trưa ngày 10/12/1861, nghĩa quân gióng trống nghi binh phía kinh Ông Hóng để phân tán lực lượng địch trên tàu; tên thuyền trưởng Pháp trúng kế, dẫn một tốp lính rời khỏi tàu đi truy kích “phiến quân” cách chừng 2 dặm. Liền đó, Nguyễn Trung Trực chỉ huy 59 nghĩa quân núp trên 5 ghe ngụy trang bán lúa, áp sát tàu trình giấy thông hành, bất ngờ đâm chết tên gác tàu và tràn lên xáp chiến, “một trăm năm mươi người An Nam tay cầm giáo, cầm gươm và cầm đuốc” tiếp tế, đốt cháy chiếc tiểu hạm L’Espérance. Cùng lúc, nghĩa quân và nhân dân làng Nhựt Tảo đánh úp diệt gọn 20 lính Mã tà trên bờ.

Tàu L’Espérance ngùn ngụt bốc cháy, dâng cao thành cột lửa, sau đó nổ tung xác, chìm xuống lòng sông Nhựt Tảo, mang theo 17 xác lính Pháp và Ma-ní. Hay tin tàu bị đánh, tên trung úy thuyền trưởng lập tức trở về, nhưng không kịp ứng cứu. Giặc Pháp sau đó đốt cháy nhiều nhà cửa của nhân dân ở 2 làng Nhựt Tảo và Bình Trinh (xã Bình Trinh Ðông, huyện Tân Trụ), thậm chí, chúng cho xây một bia “tưởng niệm” ở bờ sông. Trong thời gian chớp nhoáng, trận Nhựt Tảo của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực tiêu diệt nhanh gọn 37 lính Pháp, Ma-ní và Việt gian; phía ta, 4 nghĩa quân anh dũng hy sinh.

Trận đánh tàu L’Esperance trên sông Nhựt Tảo, ngày 10/12/1861


Tin chiến thắng Nhựt Tảo lan rộng, làm nức lòng dân, quân cả nước, được cấp báo về triều đình Huế; Vua Tự Đức khi đó quyết định ban thưởng, sử triều Nguyễn chép: “Vua phong thưởng cho Lịch (Nguyễn Trung Trực) làm chức Quản cơ… Nguyễn Văn Quang, Huỳnh Khắc Nhượng cùng 20 người nữa làm cai đội (và) đều được (thưởng) ngân tiền. Binh lính tham gia được thưởng chung một ngàn quan tiền. Bốn người bị chết đều được cấp cho tiền tuất gấp hai”.

Thực dân Pháp phải thừa nhận thất bại trong “biến cố” vàm Nhựt Tảo, Pô-lanh Vi-an, khi đó đang là Thanh tra bản xứ Nam kỳ, gọi đây là “Một sự kiện đau đớn, làm cho người An Nam phấn chấn và gây xúc động, đau lòng sâu sắc trong người Pháp”(1). Một tác giả khác là Alfred Schreiner gọi chiến thắng Nhựt Tảo là “Khúc nhạc mở đầu cho cuộc tổng công kích hầu như toàn bộ các đồn lũy của người Pháp… (Và) Cuộc đốt cháy tàu L’Espérance là một biến cố bi thảm đã gây nên một nỗi xúc động sâu sắc nơi người Pháp và kích thích một cách lạ lùng trí tưởng tượng của người An Nam…”(2).

Bằng trận Nhựt Tảo, lần đầu tiên, người Việt Nam nhấn chìm tàu đồng của tư bản phương Tây. Chiến thắng vang dội đó như một khúc khải hoàn, cổ vũ quân dân ta ở khắp Nam kỳ liên tiếp tiến công vào các đồn lũy của Pháp. Tiêu biểu mở đầu là trận tập kích đồn Tây Dương ở Cần Giuộc đêm 16/12/1861 - trận đánh được nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu khắc họa trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, tạc nên hình tượng bất tử của người nông dân Nam bộ kháng chiến.

Trên đất Long An ngày nay, khi đó diễn ra 4 phong trào đấu tranh võ trang chống Pháp lớn nhất cả nước: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Thiên Hộ Dương. Riêng nghĩa quân Nguyễn Trung Trực sau đó tập kích tiêu diệt 2 đồn Pháp ở Thủ Thừa và Tân Uyên (Tây Ninh), tấn công 3 tàu tuần tiễu khác của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (đoạn Bến Lức) và trên sông Rạch Tra (thuộc Đức Hòa),...

Trong lúc triều đình Huế ngày càng bạc nhược cầu hòa, ký hàng ước nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, thì phong trào kháng chiến của nhân dân không ngừng dâng cao, khiến Bonard - Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp, phải treo giá 18 vạn quan tiền cho ai lấy được thủ cấp của Nguyễn Trung Trực,... Năm 1867, Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, Nguyễn Trung Trực giữ chức Thành Thủ úy Hà Tiên; năm 1868, ông tiếp tục chỉ huy đánh úp đồn Kiên Giang “dễ như trở bàn tay” và làm chủ tỉnh lỵ Rạch Giá trong 5 ngày liền.

Cùng với “Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần”, “Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa” là 2 chiến công nổi bật nhất trong sự nghiệp chiến đấu của người anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực; đó cũng là những chiến công tiêu biểu nhất, chói lọi nhất của phong trào đấu tranh võ trang kháng Pháp nửa cuối thế kỷ XIX; chứng minh tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực và những nông dân áo vải đương thời - những lớp người đầu tiên, duy nhất ở thời điểm đó đánh chìm được tiểu hạm của tư bản phương Tây. Chiến thắng Nhựt Tảo cũng cho thấy, quân, dân ta có thể đánh bại được đội quân xâm lược “nhà nghề” bằng sự đoàn kết, mưu trí, sáng tạo và lòng dũng cảm dù trang bị vũ khí còn thô sơ. Đó chính là biểu tượng của truyền thống yêu nước, bất khuất, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam trước giặc ngoại xâm.

Do tương quan lực lượng và các điều kiện hạn chế của lịch sử, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực sau cùng bị dập tắt. Hình ảnh Nguyễn Trung Trực trong những ngày cuối cùng khi bị giặc bắt, theo ghi nhận của người Pháp là “rất tự trọng, có tư cách đáng quý và đầy nghị lực”, “Một vị chỉ huy trẻ tuổi, rất can đảm, dám chống ta ngót mười năm trời”. Giặc Pháp và tên Việt gian Huỳnh Văn Tấn ra sức dụ dỗ, nhưng không hề lay chuyển được ông. Trong bài thơ điếu Nguyễn Trung Trực, thi sĩ Huỳnh Mẫn Đạt viết:

“Anh hùng cứng cổ, danh thơm mãi. 
Lũ sống khom lưng, chết thẹn dần”.

Nguyễn Trung Trực chiến đấu đến cùng và hy sinh anh dũng tại pháp trường ở Kiên Giang, ngày 27/10/1868 (ngày 12/9 âm lịch). Ông để lại đời câu nói bất hủ “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam, mới hết người Nam đánh Tây”!

Kỷ niệm 156 năm chiến thắng Nhựt Tảo và 149 năm ngày giỗ Nguyễn Trung Trực, chúng ta như còn nghe vang vọng mãi bài điếu có bút ngự của Vua Tự Đức do Hoàng giáp Lê Khắc Cần đọc tại lễ truy điệu thuở trước:

“Giỏi thay người chài! 
Mạnh thay Quốc sĩ. 
Đốt thuyền Nhựt Tảo, 
Phá lũy Kiên Giang. 
Thù nước chưa xong, 
Thân sao đã mất.
Hiệu khí xưa nay,
Người nam tử ấy
Máu đỏ, cát vàng
Hỡi ôi! Thôi vậy
Ngàn năm hương khói
Trung nghĩa còn đây!”.

Tiếp nối truyền thống rạng ngời của chiến thắng Vàm Nhựt Tảo và noi gương Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Long An cùng với nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, liên tục đấu tranh bền bỉ, phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước vươn lên giành được độc lập, tự do cho đất nước và ngày nay vững bước đi lên xây dựng CNXH.

Chiến thắng Nhựt Tảo để lại cho chúng ta những trang sử vẻ vang và niềm tự hào, trân trọng sâu sắc quá khứ lịch sử hào hùng của dân tộc, vừa rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu để vận dụng vào điều kiện mới - đó là truyền thống đoàn kết, yêu nước, trung thành với Tổ quốc, biết dựa vào dân và vì dân, luôn sáng tạo, đổi mới, linh hoạt trong tư duy và hành động cách mạng. Trân trọng quá khứ, càng phải giữ gìn, bảo tồn, phát huy các giá trị di sản lịch sử - văn hóa, cả vật thể và phi vật thể; đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. “Uống nước nhớ nguồn”, chúng ta càng quan tâm làm tốt hơn nữa chính sách với các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, gia đình có công với nước, các gia đình diện chính sách, vùng căn cứ cách mạng, kháng chiến trước đây.

Long Thái (Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Long An)

(1) PaulinVial, sách Les premières de la Cochinchine, Colonie Francaisee. Paris, 1874, tr.124.
(2) Alfred Schreiner, sách Abrége1de I’histoire D’Annam, Sai-gon, 1906, tr.223, 224.

Tự hào truyền thống quê hương Long An

đăng 16:49, 26 thg 2, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Ở vị trí sát Sài Gòn, tỉnh Tân An - Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An) là một trong những địa bàn sôi động nhất trong cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ. Nơi đây, nhiều địa danh trở thành di tích lịch sử - văn hóa, nhắc nhở thế hệ hôm nay không được quên khúc bi tráng đầy tinh thần quật cường của dân tộc.

Tượng đài chiến sĩ Nam kỳ khởi nghĩa tại Khu di tích Ngã tư Đức Hòa


Mốc son chói lọi

Ngày 23/11/1940, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Xứ ủy và Đảng bộ, quân khởi nghĩa và quần chúng cách mạng ở Tân An - Chợ Lớn vùng dậy, góp phần cùng cả Nam kỳ làm rung chuyển từng mảng lớn chính quyền địch ở cơ sở mà thực dân Pháp và tay sai dày công tạo dựng ngót 80 năm. Tuy nhiên, do thời cơ chưa chín muồi, cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng tạo được tiếng vang lớn, không những trong nước mà còn làm nức lòng cả những chiến sĩ cách mạng Pháp. "Đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đấu tranh bằng võ lực cho các dân tộc Đông Dương".

Trong cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ, toàn tỉnh Tân An - Chợ Lớn có 94/128 làng thực hiện kế hoạch cướp chính quyền và tham gia hưởng ứng khởi nghĩa với nhiều hình thức khác, tiến đánh 12 đồn bót, chiếm và đốt phá 37 nhà việc, ngăn lộ, phá cầu ở 21 địa điểm, thu 52 súng, trừng trị 49 tên ác ôn, tay sai. Ở các huyện: Đức Hòa, Trung Quận, Mộc Hóa, Cần Giuộc, diễn ra nhiều vụ trừng trị ác ôn: Diệt tên Hương quản Nên khét tiếng gian ác tại Giồng Cám; nghĩa quân Bến Lức đâm tên Hương quản Kiên trọng thương; thủ tiêu Hương quản Tuấn, Hương hào Ngà trên sông Cần Giuộc;...

Từ cuộc khởi nghĩa, xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng, bất khuất, kiên cường chiến đấu, hy sinh oanh liệt trước pháp trường, như các đồng chí: Nguyễn Thị Bảy, Nguyễn Văn Nhâm, Lê Văn Lao, Võ Văn Siêng, Nguyễn Văn Dương, Lê Công Phép,... Ngày 14/4/1948, thay mặt Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huân chương Quân công hạng Nhất cho “Đội quân khởi nghĩa Nam bộ năm 1940, nổi lên chiến đấu oanh liệt với địch và đã biểu dương được ý chí quật cường của dân tộc”, như một sự khẳng định tinh thần bất diệt của cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ.

Di tích lịch sử Giồng Cám - nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp và tay sai trong cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ


Cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940 đi vào lịch sử như mốc son chói lọi nhất của dân tộc trên con đường cởi ách nô lệ. 77 năm trôi qua nhưng khí thế hào hùng, tinh thần chiến đấu oanh liệt, ý chí quật cường của đồng bào và chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa ấy vẫn sống mãi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. 

Hàn gắn “vết thương”

Sau khi khởi nghĩa thất bại, thực dân Pháp và tay sai khủng bố, đàn áp vô cùng dã man. Chỉ trong hơn 1 tháng, địch lập 11 điểm xử bắn, tàn sát ít nhất 186 người. Hàng ngàn chiến sĩ và quần chúng cách mạng bị đem phơi nắng trên sông Sài Gòn, bị đày đi Tà Lài, Bà Rá, Côn Đảo,... Ở làng Đức Hòa, sáng ngày 24/11/1940, với sự chỉ điểm của bọn tay sai, địch tổ chức càn quét quy mô lớn, đốt hơn 40 ngôi nhà, bắt 30 người, bắn chết 17 người vùi xác xuống con mương nhà ông Lê Văn Khách tại Giồng Cám (nay thuộc ấp Bình Hữu 1, xã Đức Hòa Thượng).

Trở lại Đức Hòa, vùng đất được xem là nơi ác liệt nhất diễn ra cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ ở Tân An - Chợ Lớn. Đến tận ngày nay, những nhân chứng sống trong giai đoạn ấy vẫn không thể quên được hành động mạn rợ mà kẻ thù gây ra cho quân khởi nghĩa và nhân dân nơi đây. Ông Ngô Văn Đức (SN 1929), ngụ ấp Bình Hữu 2, xã Đức Hòa Thượng, bồi hồi nhớ lại: “Bị thực dân Pháp và tay sai đàn áp, bắt bớ, gia đình tôi cùng nhiều hộ dân khác phải di tản qua khu vực khác. Chúng đốt nhà, giết người, tội ác không sao kể xiết. Đau lòng nhất là gia đình ông Huỳnh Văn Một (ngụ ấp Bình Hữu 1), 7 người bị giết trong 1 ngày, 18 người khác bị giết vùi xác chung một chỗ”.

Dù chịu bao mất mát, đau thương nhưng người dân Đức Hòa Thượng nói riêng và người dân Long An nói chung vẫn kiên cường bám đất, giữ làng, chiến đấu đến ngày giành được thắng lợi. Đất nước được giải phóng, giành lại độc lập, tự do, cùng với nhân dân trong tỉnh, người dân Đức Hòa Thượng nỗ lực hàn gắn “vết thương chiến tranh”, góp sức xây dựng quê hương. Xã vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1994. Năm 2016, xã được công nhận danh hiệu nông thôn mới - xã văn hóa.

Phó Chủ tịch UBND xã Đức Hòa Thượng - Lê Thị Ngọc Kim thông tin: “Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, người dân nơi đây luôn nỗ lực vượt qua khó khăn. Các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng đều có sự chung tay, góp sức của nhân dân. Bộ mặt nông thôn càng thêm đổi mới với hệ thống trường học khang trang, trạm y tế, nhà văn hóa ấp, đường giao thông nông thôn được nâng cấp, sửa chữa đạt chuẩn. Đến nay, toàn xã chỉ còn 52 hộ nghèo (chiếm 1,23%), thu nhập bình quân đầu người hơn 31 triệu đồng/năm”.

Tiếp nối truyền thống

Bên cạnh huyện Đức Hòa, trong cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ, Cần Giuộc cũng là một trong những địa phương tích cực chuẩn bị và tham gia cuộc khởi nghĩa mạnh mẽ nhất ở Tân An - Chợ Lớn. Từ vùng thượng đến vùng hạ, dưới sự lãnh đạo của các đảng viên, quần chúng nhân dân ở các làng: Phước Lâm, Phước Lại, Long Đức Đông, Long Hậu Tây, Đông Thạnh,... đồng loạt truy lùng tề ác, tước súng, chiếm nhà việc, đốt sổ bộ,... làm cho kẻ thù hoảng sợ bỏ trốn, bộ máy chính quyền địch ở cơ sở bị tê liệt.

Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử, lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện trên đất Tân An - Chợ Lớn tại cầu Ông Chuồng, làng Phước Vĩnh Tây, quận Cần Giuộc (nay là huyện Cần Giuộc) và làng An Thạnh, quận Trung Quận (nay là huyện Bến Lức). Gắn liền với cuộc khởi nghĩa ở Cần Giuộc chính là sự lãnh đạo của “Bà Hoàng hậu đỏ” - anh hùng Nguyễn Thị Bảy. Cho đến khi bị địch bắt và kết án tử hình, bà vẫn luôn nêu cao khí tiết của người chiến sĩ cách mạng, khiến quân thù khiếp sợ, nể phục.

“Nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn, Huyện đoàn tổ chức các hoạt động Về nguồn tại một số khu di tích lịch sử trên địa bàn huyện: Khu Tượng đài Nghĩa sĩ Cần Giuộc, Công viên Nguyễn Thị Bảy - Di tích Khu vực sân banh Cần Giuộc, chùa Tôn Thạnh,... nhằm giáo dục truyền thống cho đoàn viên, thanh niên. Cùng với đó, Huyện đoàn còn tổ chức Hội thi “Em là hướng dẫn viên du lịch”, giúp đoàn viên, thanh niên hiểu hơn về các khu di tích lịch sử của địa phương, qua đó giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ” - Bí thư Huyện đoàn Cần Giuộc - Trần Hải Phú cho biết.

Ngoài ra, công tác chăm lo cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng cũng được các địa phương quan tâm thực hiện tốt. Theo Chủ tịch UBND xã Phước Vĩnh Tây, huyện Cần Giuộc - Huỳnh Văn Trí, xã có 22 mẹ được phong tặng, truy tặng danh hiệu Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, 115 liệt sĩ, 12 thương binh, 60 gia đình có công với cách mạng. Hàng năm, xã thường xuyên tổ chức các đoàn đến thăm hỏi, vận động mạnh thường quân tặng quà, xây dựng nhà tình nghĩa, giúp các gia đình có cuộc sống ổn định, nguôi ngoai phần nào những đau thương, mất mát.

Cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940 đi vào lịch sử như mốc son chói lọi nhất của dân tộc trên con đường cởi ách nô lệ. 77 năm trôi qua nhưng khí thế hào hùng, tinh thần chiến đấu oanh liệt, ý chí quật cường của đồng bào và chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa ấy vẫn sống mãi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta.

Hồng Anh

1-10 of 14