Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • "Nhà" Cao Sơn Đại Vương ở đâu? Cao Sơn Đại Vương là một vị thánh huyền thoại. Ba nơi thờ ông đều ở đầu hàng loạt hồ nước rộng liền nhau, đổ ra và nhận nước về ...
    Được đăng 20:28, 19 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Thành cổ Ngọc Vừng có từ thời Nguyễn Sở dĩ phải khẳng định như vậy, khơi lại vấn đề bởi vì lâu nay, nhiều người quen gọi là thành nhà Mạc mà không có một căn cứ lịch ...
    Được đăng 05:32, 13 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bo Táng - nét xưa của Làng Quặng  Cứ mỗi lần có dịp về xóm Làng Quặng, xã Định Biên (Định Hóa) là tôi thường được nghe mọi người kể về chiếc giếng Làng Quặng với một tình ...
    Được đăng 04:13, 4 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mối thâm thù giữa các gia tộc vua Mèo Ở cao nguyên đá Đồng Văn còn có một vị vua Mèo tên là Dương Trung Nhân mà vì những biến cố của lịch sử và sự suy vong của ...
    Được đăng 21:30, 29 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Từ cậu bé mồ côi đến vị Vua Mèo cai trị 7 vạn dân Lịch sử của người Mông Đồng Văn là lịch sử của một cuộc thiên di lớn nhất trong lịch sử dân tộc Mông. Là lịch sử của vị thủ lĩnh ...
    Được đăng 20:52, 29 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 17. Xem nội dung khác »


"Nhà" Cao Sơn Đại Vương ở đâu?

đăng 20:28, 19 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Cao Sơn Đại Vương là một vị thánh huyền thoại. Ba nơi thờ ông đều ở đầu hàng loạt hồ nước rộng liền nhau, đổ ra và nhận nước về của sông Kinh Thầy.

Nghè Rồng ở thôn Lương Gián, xã Quốc Tuấn (Nam Sách) thờ Cao Sơn Đại Vương


Cao Sơn Đại Vương là một vị thánh huyền thoại, được thờ ở nhiều đình, đền trong cả nước, nhưng nhiều nhất là ở phía bắc. Ngay ở TP Móng Cái (Quảng Ninh) và nhiều huyện thuộc các tỉnh dọc biên giới Việt - Trung cũng có một số đền thờ Cao Sơn Đại Vương. Hiện tôi chưa có con số thống kê thật chính xác, nhưng dường như tỉnh nào ở phía Bắc tôi đã qua đều có đền, đình thờ vị đại thánh này. 

Sự tích ghi lại từ nhiều đình, đền đều viết ông là vị tướng tài của Hùng Vương, không rõ đời thứ bao nhiêu, từng giúp vua Hùng đánh giặc và xây dựng Nhà nước ta từ thời thượng cổ. Vì là truyền thuyết dân gian nên không ai thấy cần tìm hiểu thêm và các tư liệu cũng chỉ có vẻn vẹn vài câu như vậy thôi.

Riêng ở làng xã tôi, trước đây gọi là làng Điền Trì, xã Hộ Xá (bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội ghi là xã Điền Trì), tổng Đột Lĩnh (có tài liệu ghi là tổng Cao Đôi), huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương, nay là xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, thì có đến 3 nơi thờ Cao Sơn Đại Vương. Đó là nghè Rồng, đền Rồng và đình Rồng tại làng Lương Gián cùng thờ một thầy thuốc huyền thoại, cũng là một điều lạ. Ở đây, lai lịch Cao Sơn Đại Vương là một vị đại lương y đã chữa cho dân khỏi bệnh đậu mùa. Thời điểm xảy ra bệnh này thường vào mùa xuân, làm nhiều người, nhất là trẻ con chết hàng loạt nên gọi là dịch đậu mùa. Kẻ gây ra dịch này gọi là "quan ôn" và người chết bất cứ ở tuổi nào đều gọi là đã bị "quan ôn bắt lính".

Điều đặc biệt quan trọng: nơi đây chính là "nhà", cũng có thể gọi là "quê" của Cao Sơn Đại Vương. Đó là một điều rất hiếm thấy. Dĩ nhiên, đây chỉ là truyền thuyết dân gian mà thôi, nhưng dẫu sao cũng cho ta một khái niệm là vị đại thánh này vốn có "nhà", sinh sống và làm thuốc ở đây, tức là ở xã Quốc Tuấn quê hương tôi.

Căn cứ vào đâu mà nói điều lạ lùng ấy? Trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn có ghi: Cao Sơn Đại Vương tinh thông làm thuốc, chữa khỏi bệnh đậu mùa. Một đêm hiện lên nói: "Tôi là Cao Sơn, nhà ở xứ Đầu Hồ, xã Lương Gián, huyện Chí Linh". Ba nơi thờ Cao Sơn này là ở đầu hàng loạt hồ nước rộng liền nhau, đổ ra và nhận nước về của sông Kinh Thầy. Sông cách đó chừng 700 - 800 m theo đường chim bay. Có lẽ vì thế mà gọi là xứ Đầu Hồ chăng? Không nên bàn điều đó là đúng hay không, cũng không nên bàn là điều Lê Quý Đôn ghi như thế là đúng hay sai, vì đây là truyền thuyết dân gian, nhưng trong trước tác bất hủ của mình, nhà bác học lừng danh đã ghi rõ ràng như vậy. Vậy thì ta cứ biết vậy.

Có lẽ cũng vì thế chăng mà làng xã tôi có nghè, lại có đền, rồi lại có đình, cả 3 nơi này đều thờ Cao Sơn Đại Vương, một đại danh y huyền thoại. Nghè và đền xây trước, đình xây sau. Nghè và đền xây năm nào không rõ, còn đình thì xây sau năm Canh Tuất (1670), hiện còn tấm bia cổ, vuông cao to nguyên khối, văn bia do Tiến sĩ Tả Thị lang bộ Hộ, Phương Trì hầu, Triều liệt đại phu, Trụ quốc là Trần Thọ soạn. Ông là người làng Điền Trì, từng làm Tham tụng, Hình bộ Thượng thư, thời Lê, do xử sai một vụ án mà bị hạ cấp. Đến năm 1740 thì cả nghè, đền và đình đều bị Nguyễn Tuyển và Nguyễn Cừ, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Ninh Xá san phẳng (Ninh Xá cùng huyện, cách Điền Trì một cánh đồng). Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại (năm 1741), từ năm 1743 đến 1748, cả 3 nơi thờ tự trên đều được Tiến sĩ Tham tụng, Lễ bộ Thượng thư, Triều liệt đại phu, Thượng Trụ quốc, Diệu Quận công Trần Cảnh (con Trần Thọ) cho xây lại, bằng tiền do vua Lê Hiển Tông cấp. Nghè và đền 1 gian 2 chái, xây trên gò đất cao, cây cối um tùm. Đình ở bên cạnh, rất to và rộng, gồm 7 gian, hằng năm mở hội từ 12 đến 14 tháng giêng.

Trong kháng chiến chống Pháp, nghè và đền ta phá năm 1947 - 1948, đình phá năm 1952. Sau Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng, chính tôi là người đã thu thập được một vài tư liệu cũ, làm cơ sở để xin phép cấp có thẩm quyền cho khôi phục lại đình Rồng. Đình Rồng đã được xây lại bên tấm bia cổ, là chỗ đất rìa đình (vì đất của cả ba nơi thờ tự này đã lấy làm việc khác). Quy mô đình rất nhỏ, kinh phí do nhân dân tự đầu tư. Hiện đình Rồng mới và tấm bia cổ kia đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

Trong đình xưa có một danh nhân được phối thờ là Tham tụng Lễ bộ Thượng thư Trần Cảnh, nhà nông học đầu tiên của Việt Nam, thành hoàng làng Điền Trì, người trực tiếp chủ trì xây lại đình Rồng, nghè Rồng, đền Rồng, chắc sẽ khôi phục lại bài vị phối thờ sau. Hiện trong đình Rồng, chỉ có một tượng thờ duy nhất, là Cao Sơn Đại Vương.

Tôi không rõ có nơi nào khác ở miền Bắc thờ Cao Sơn Đại Vương với sự tích là vị thầy thuốc huyền thoại, đã chữa khỏi bệnh đậu mùa cho dân gian thời xưa không? Còn nhân dân ở đây, chỉ biết Đại thánh Cao Sơn là thầy thuốc.

TRẦN NHUẬN MINH

Thành cổ Ngọc Vừng có từ thời Nguyễn

đăng 05:32, 13 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Sở dĩ phải khẳng định như vậy, khơi lại vấn đề bởi vì lâu nay, nhiều người quen gọi là thành nhà Mạc mà không có một căn cứ lịch sử nào.

Di tích thành cổ Ngọc Vừng có tên cổ là Bảo Tĩnh Hải (đồn Tĩnh Hải), nằm ở ven bãi biển Trường Chinh thuộc thôn Bình Ngọc, xã Ngọc Vừng (huyện Vân Đồn), cách thị trấn Cái Rồng 29 km, cách thành phố Hạ Long 34 km.

Các bản vẽ mặt bằng, mặt cắt ngang và mặt đứng của Thành cổ Ngọc Vừng. 


Thành cổ Ngọc Vừng ra đời từ chiến lược bảo vệ chủ quyền biển đảo của cha ông ta. Sách “Đại Nam thực lục”, tập 2, của Quốc sử quán triều Nguyễn, do NXB Giáo dục ấn hành năm 2007, có ghi: Tổng đốc Hải Yên Nguyễn Công Trứ thân lĩnh đại đội binh thuyền lại đến Chàng Sơn tuần bắt giặc biển, dâng sớ xin thôn Vận ở Vân Đồn, xã Vĩnh Thực ở Vạn Ninh (tên xã, tức cửa biển Đại, tiếp giáp Bạch Long Vỹ thuộc thôn Trúc Sơn) đều làm một đồn.

Thành đồn 4 mặt đều dài 23 trượng, chân sâu 1 thước 5 tấc, thân cao 5 thước, mặt trước xây đá, dày 2 thước 5 tấc. Cấp giữa đổ đầy đất 3 thước 5 tấc, cấp trong xây đá 2 thước; 2 cửa trước, sau đều dựng cột gỗ cao 9 thước; tầng trên làm lầu canh, dưới đóng 2 cánh cửa; bên tả làm một pháo đài, bên hữu làm một chỗ đốt lửa. Về pháo đài chiểu theo thế núi, mặt rộng trên dưới 2,3 trượng, cao 4 thước, sâu 1 thước, ngoài xây đá dày 4 thước, sâu đổ đất.

Một đoạn tường thành hiện đã chỉ còn dấu vết. 


Sách “Đại Nam nhất thống chí” (NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1971, trang 42), cũng chép: Bảo Tĩnh Hải ở thôn Vựng, huyện Nghiêu Phong, là nơi thuyền bè người Thanh qua lại tấp nập, chu vi 134 trượng 8 thước, cao 5 thước, đắp năm Minh Mệnh thứ 20 (1839).

Như vậy, theo thư tịch cổ, thành cổ Ngọc Vừng đắp năm 1839 và liên quan trực tiếp 2 nhân vật lịch sử là vua Minh Mệnh và quan Tổng đốc Nguyễn Công Trứ thời Nguyễn, chứ chưa có tài liệu và nhân vật nào liên quan đến thời Mạc vào thế kỷ XVI.

Trong hồ sơ lý lịch di tích “Thành cổ Ngọc Vừng” do Bảo tàng Quảng Ninh lập tháng 10/2011, Thành cổ được xây từ thời nhà Mạc (thế kỷ XVI), nên nhân dân quen gọi là thành nhà Mạc. Đến thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), thành được xây lại. Hồ sơ di tích cũng ghi dẫn lời 2 cụ già trên 80 tuổi ở Ngọc Vừng. Ông Nguyễn Cảnh Loan, nguyên Chánh Văn phòng Hội Khoa học Lịch sử Quảng Ninh, cho rằng, điều này rất khó thuyết phục bởi lịch sử không thể căn cứ vào lời kể dân gian. Thêm nữa, cả 2 cụ già đều không có căn cứ lịch sử nào để khẳng định một cách chính xác là Thành cổ Ngọc Vừng được xây lại vào năm 1839. Các cụ càng không phải là nhân chứng lịch sử chứng kiến sự việc diễn ra vào thế kỷ XVI bởi cả 2 cụ đều sinh vào những thập niên đầu của thế kỷ XX.

Ông Nguyễn Cảnh Loan (bên phải) khảo sát Thành cổ Ngọc Vừng từ phạm vi bảo vệ di tích. 


Niên đại của Thành cổ Ngọc Vừng còn được chứng minh thông qua hiện vật khảo cổ học. Năm 1973, đoàn khảo cổ đã phát hiện thành được đắp đất bên trong, kè đá bên ngoài, đá được gắn kết với nhau bằng vữa vôi. Chỗ tường thành bình thường xây 1 lớp, riêng góc thành xây 2 lớp, mỗi lớp dày khoảng nửa mét. Thành có 2 cửa được bố trí ở khoảng giữa tường thành, mỗi cửa rộng 3m. Cửa phía Bắc để làm nơi xuất binh hoặc đánh chặn đối phương từ hướng sông Cổng Đồn lên. Cửa phía Nam quay ra biển làm nơi tác chiến chính để đón đánh đối phương tiến công từ phía biển vào thành. Kết quả khảo cổ học đã cho thấy những gì tìm được trùng khớp với sử sách đã ghi chép. Những hiện vật đồ sứ, bát, đĩa sứ, mảnh bình, mảnh nồi tìm được ở đây đều có từ thời Lê, thời Nguyễn chứ không phải đồ từ thời nhà Mạc.

Một viên đá xây thành còn sót lại. 


Thành Ngọc Vừng có vị trí quan trọng trong hệ thống phòng thủ biên giới trên biển vùng Đông Bắc Việt Nam, có vai trò bảo vệ cho thương cảng Vân Đồn, khống chế con đường biển đi qua đảo Ngọc Vừng hoặc đi vào phía Tây của Quan Lạn. Đây là kiến trúc thành cổ quân sự trên biển duy nhất còn tương đối nguyên vẹn ở vùng duyên hải phía Bắc. Nghiên cứu di tích này cho chúng ta hiểu thêm về chiến lược, sách lược phòng thủ trên biển của dân tộc.

Bởi thế, bản thân di tích này đã mang những giá trị nội tại hết sức có giá trị rồi. Theo ông Nguyễn Cảnh Loan, Thành cổ Ngọc Vừng đã giá trị như vậy rồi thì hậu thế đâu cần phải kéo lùi lịch sử của nó thêm mấy thế kỷ. Ông Loan đề nghị: Không được gọi là thành nhà Mạc mà phải gọi là thành nhà Nguyễn hoặc là Thành cổ Ngọc Vừng. Và nếu có đề án khôi phục lại đồn Tĩnh Hải theo như sử sách thì đây sẽ là địa chỉ du lịch lý thú ở Ngọc Vừng.

Huỳnh Đăng

Bo Táng - nét xưa của Làng Quặng

đăng 04:13, 4 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan


 Cứ mỗi lần có dịp về xóm Làng Quặng, xã Định Biên (Định Hóa) là tôi thường được nghe mọi người kể về chiếc giếng Làng Quặng với một tình yêu, coi như vật báu của làng nhưng cũng đầy sự bí ẩn. Tôi quyết định trở lại Làng Quặng để tìm hiểu về chiếc giếng.



Làng Quặng không chỉ có một chiếc giếng mà có tới ba chiếc giếng cổ.  Bo Ong (theo tiếng Tày, Bo là giếng) ở Làng Quặng A, Bo Táng và giếng Chùa ở Làng Quặng B. Tuy nhiên, theo các cụ kể lại, Bo Táng là chiếc giếng ở cuối làng đã có hàng trăm năm, được thường xuyên sử dụng và chứa đựng nhiều điều bí ẩn hơn cả.

 

Anh Ma Công Hanh, ở xóm Làng Quặng B cho biết: “Tôi còn nhớ từ khi còn nhỏ bà thường kể về Bo Táng. Bà bảo: Từ ngày bà về làm dâu ở cái làng này đã thấy cái giếng rồi. Bà nghe các cụ truyền lại rằng: ngày xưa Bo Táng còn gọi là giếng Nam, bên cạnh còn có một chiếc giếng Nữ. Hai chiếc giếng lúc nào cũng cho dòng nước mát ngọt, trong lành. Đặc biệt, con gái Làng Quặng hay uống nước và tắm ở chiếc giếng Nữ nên xinh đẹp nổi tiếng nhất vùng. Chính vì vậy, con gái Làng Quặng thường được tuyển vào cung cho nhà Mạc. Thấy gái làng cứ lớn lên lại bị nhà Mạc bắt hết vào cung, dân Làng Quặng “đổ tội” cho cái giếng Nữ nên bàn cách lấp chiếc giếng. Việc lấp giếng cũng không dễ dàng, người thì bảo không được lấp giếng vì như vậy sẽ “phạm” với Thần Giếng; người thì bảo nếu lấp giếng thì không được lấp bằng đất mà phải lấp bằng thóc. Cuối cùng phương án lấp thóc được dân làng chấp thuận. Không biết bao nhiêu gánh thóc của làng đã đổ vào chiếc giếng ấy. Cho đến giờ, dấu tích giếng Nữ đã không còn nữa, chỉ còn chiếc giếng Nam.

 

Bo Táng nằm ở giữa làng, đường kính rộng khoảng 1m, có độ sâu khoảng 10m; giếng được ốp một tầng bằng gỗ thông, tiếp đến là tầng lát đá, đáy giếng là một gốc cây Nhội rỗng. Ông Hoàng Luận, xóm Khau Diều cho biết thêm: “Bo Táng có mạch nước ngầm rất sâu, ăn sang cả suối Goòng Đan và Goòng Chương. Các cụ bảo, nếu đổ trấu ở suối Goòng Đan, chấu sẽ nổi lên ở giếng và suối Goòng Chương nên nước không bao giờ cạn là vậy”. Trước kia thành giếng được lát bằng cây gỗ thông, lâu ngày gỗ thông mục nên cách đây vài năm, một số gia đình đã bảo nhau xây dựng thành giếng bằng bê tông cao lên để đảm bảo an toàn cho trẻ con và trâu bò qua lại. Bo Táng không chỉ là nơi cung cấp nguồn nước cho cả làng trước đây, mà còn là nơi gặp mặt, trò chuyện của người dân trong làng, là hình ảnh đẹp về quê hương trong trí nhớ của những người xa quê.

 

Dân làng cho biết, nước giếng ở đây rất trong và ngọt. Dù trời mưa hay nắng hạn, nước giếng không bao giờ lên cao, cạn nước hay đục ngầu. Trước đây, khi cả làng cùng ăn chung chiếc giếng này, buổi sáng cứ từ 5 giờ, buổi chiều vào lúc 16 giờ mọi người lại kéo nhau đi lấy nước. Mỗi người thường gánh từ 4 đến 6 ống bương bằng cây mai, lần lượt xếp hàng chờ đến lượt mình, không ai tranh giành ai bao giờ. Trong lúc chờ đợi, mọi người hỏi han nhau chuyện nhà, chuyện làng, chuyện nuôi dạy con cái, trồng cây bắp, cây khoai. Cũng từ đó nhiều nam thanh, nữ tú đã nên duyên vợ, chồng. Những ngày hè nóng nực, người đi làm đồng, đám trẻ chăn trâu đều trở về bên chiếc giếng nước. Dòng nước ngọt lịm, mát lành như tan chảy thấm vào từng thớ thịt làm dịu cơn khát trong chốc lát. Điều lạ là, mọi người uống nước giếng nhưng chẳng ai bị đau bụng bao giờ. Nay nhiều gia đình đã tự đào được giếng nên chỉ còn khoảng hơn chục hộ vẫn thường xuyên sử dụng giếng. Những khi gặp trời khô hạn, chiếc giếng vẫn là nơi người dân tìm đến lấy nước. Một phong tục không thể thiếu của dân làng nơi đây vẫn còn duy trì là mỗi khi gia đình nào có người qua đời, các thày cúng cùng gia đình đều ra chiếc giếng này làm lễ, thả vài đồng tiền lẻ vào đó rồi xin nước về để tắm cho vong linh người đã mất. 

 

Trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam, mỗi khi nghĩ về làng quê hình ảnh thân thương bao giờ cũng là cây đa, giếng nước, sân đình. Làng Quặng cũng vậy, không chỉ có chiếc giếng mà còn có đình Làng Quặng, chùa Linh Trà, cây đa luôn gắn bó mật thiết với nhau từ khi nào không rõ. Bởi thế, các cụ ở đây thường dạy trẻ con câu hát: “Trên chùa, dưới đình, ở giữa có giếng nàng tiên” là để ám chỉ Bo Táng, chùa Linh Trà, đình Làng Quặng. Chùa Linh Trà cách giếng khoảng 100m về phía tay phải, nằm trên đỉnh đồi. Hiện chùa đã bị phá hủy theo thời gian, song nơi đây vẫn còn lưu giữ một số pho tượng, bệ thờ, một tấm bia khắc bằng chữ nho ghi lại công lao của họ Ma Công, Ma Thịnh; họ Nông đã nhiều lần phục dựng và đóng góp xây chùa. Theo các cụ kể, ngày xưa, người dân ở đây quan niệm Bo Táng là của đình, chùa. Vì vậy khách thập phương đi xa, về gần muốn lên đình, chùa đều phải rửa chân tay sạch sẽ mới được vào. Còn giếng Chùa là nơi lấy nước lên làm lễ. Cây đa, đình Làng Quặng nằm sát trụ sở UBND xã Định Biên, cách giếng khoảng 200m về phía tay trái. Xưa kia, đình không chỉ là hình ảnh thân thương, chốn tâm linh, nơi tụ tập của người dân trong làng mỗi khi làng có tế, lễ. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đình còn là chỗ đi lại, hội họp của cán bộ Việt Minh; nơi diễn ra lễ hợp nhất Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với Đội Cứu quốc quân và lực lượng vũ trang khác của Đảng thành Việt Nam Giải phóng quân (ngày 15-5-1945). Đình Làng Quặng đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

 

Hiện nay, Đình Làng Quặng đã được phục dựng lại là nơi sinh hoạt của cộng đồng. Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, xã Định Biên đã có nhiều đổi thay, song hình ảnh cây đa, Bo Táng, đình Làng Quặng, chùa Linh Trà luôn được người dân nơi đây nâng niu, trân trọng như hồn cốt, báu vật của làng và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.


Thu Lan

Mối thâm thù giữa các gia tộc vua Mèo

đăng 21:30, 29 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Ở cao nguyên đá Đồng Văn còn có một vị vua Mèo tên là Dương Trung Nhân mà vì những biến cố của lịch sử và sự suy vong của gia tộc nên tên tuổi đã dần chìm vào quên lãng ở vùng đất thiêng của người Mông nơi cực Bắc đất nước.

Phần mộ của vua Mèo Vương Chí Sình tại Đồng Văn, Hà Giang.


Vua Mèo Mèo Vạc và nỗi đau của người bại trận

Bấy lâu nay, khi nhắc đến cao nguyên đá Đồng Văn, nhiều người chỉ biết đến giai thoại của vua Mèo Vương Chính Đức và Vương Chí Sình, những con người đã trở thành huyền thoại của vùng đất này. Chính những câu chuyện đó đã làm cho cao nguyên đá càng trở nên mê hoặc lòng người. Nhưng ở cao nguyên đá Đồng Văn còn có một vị vua Mèo tên là Dương Trung Nhân mà vì những biến cố của lịch sử và sự suy vong của gia tộc nên tên tuổi đã dần chìm vào quên lãng ở vùng đất thiêng của người Mông nơi cực Bắc đất nước.

Lịch sử và cũng là điểm chung trong sự hình thành và phát triển của gia tộc họ Dương và gia tộc họ Vương trên cao nguyên đá không nằm ngoài cuộc thiên di lịch sử của người Mông từ Trung Quốc vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Tuy nhiên, xuất phát điểm của hai gia tộc này hoàn toàn khác nhau.

Theo những nhà nghiên cứu về người Mông ở Hà Giang, nếu như vua Mèo Vương Chính Đức xuất thân trong một gia đình người Mông nghèo khó, thì Dương Trung Nhân lại có một xuất thân cao quý hơn. Dòng dõi của gia đình họ Dương từ trước khi di cư đên Đồng Văn – Mèo Vạc đã là dõng dòi danh giá ở Quý Châu – Trung Quốc. Khi sang Việt Nam và quyết định dừng chân tại cao nguyên đá Đồng Văn cùng với 7 vạn người Mông, họ Dương vẫn giữ được sự bề thế của gia tộc trong suốt mấy thập kỷ sau đó.

Cũng như hầu hết người Mông sinh sống trên cao nguyên đá thời bấy giờ, nguồn sống chính của gia đình họ Dương là trồng và bán thuốc phiện. Theo những người Mông ở Đồng Văn – Mèo Vạc, thì trước khi Vương Chính Đức được phong thành vua Mèo và trở nên giàu có, quyền lực, họ Dương ở Mèo Vạc là gia tộc có những nương thuốc phiện nhiều nhất vùng đất này, đi kèm với đó là quyền lực mà nhiều người Mông trong vùng phải nể sợ.

Tuy nhiên cán cân quyền lực đó đã thay đổi vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, khi cao nguyên đá Đồng Văn không còn được sống trong hòa bình, yên ấm.

Khi đặt chân đến cao nguyên đá Đồng Văn sau cuộc thiên di lớn nhất trong lịch sử dân tộc Mông từ Quý Châu – Trung Quốc xuống Việt Nam, người Mông đã ao ước một cuộc sống hòa bình, không phải đổ máu, không phải giao tranh với những dân tộc khác ở vùng đất mới. Nhưng sau khi làm khuất phục hoàn toàn triều Nguyễn, thực dân Pháp tiến hành cuộc chinh phạt các dân tộc ít người ở vùng núi phía bắc mà một trong những điểm quan trọng nhất là Đồng Văn. Người Mông ở đây còn phảu chịu sự đe dọa của quân Mãn Thanh từ Trung Quốc gây áp lực xuống cùng với những nhóm quân phiến loạn từ Trung Quốc dạt sang với âm mưu biến Đồng Văn thành căn cứ địa của chúng trong cuộc chiến chống lại triều đình Mãn Thanh.

Trong hoàn cảnh đó, người Mông cần một thủ lĩnh, và vị thủ lĩnh vĩ đại nhất mà họ đã chọn chính là người thanh niên nghèo Vương Chính Đức (Vàng Dúng Lùng) - người thanh niên này có đầy đủ phẩm chất của một chàng trai Mông chân chính: can đảm, liều lĩnh không sợ núi cao, không sợ thú dữ, không khuất phục kẻ thù. Dưới sự chỉ đạo của Vàng Dúng Lùng, người Mông ở Đồng Văn đã đánh bại quân phiến loạn ở đây, thống nhất toàn bộ vùng Đồng Văn.

Thừa thắng xông lên, người Mông Đồng Văn lại tiếp tục sát cánh bên Vàng Dúng Lùng, cùng vị thủ lĩnh này đánh giặc Pháp. Và như đã biết, người Pháp sau cuộc chiến kéo dài gần 10 năm với người Mông ở Đồng Văn mà không phân thắng bại, hiểu rằng sẽ rất khó để cai trị vùng đất này, nên đã quyết định ký hòa ước với thủ lĩnh Vàng Dúng Lùng, thừa nhận quyền tự trị của Đồng Văn, dưới sự giám sát của chính quyền Pháp. Với chức Bang Cơ, Vàng Dúng Lùng trở thành người Mông đầu tiên được phong chức quan trong triều đình Nguyễn và trở thành vua Mèo Vương Chính Đức.

Tuy là người Mông đầu tiên làm quan trong triều đình Nguyễn nhưng chức Bang Cơ không phải lý do khiến cho Vương Chính Đức được 7 vạn người Mông ở Đồng Văn tôn làm vua Mèo. Chính uy phong của ông, cùng công lao của ông trong việc bảo vệ Đồng Văn trước kẻ thù phương Bắc và kẻ thù từ phương Tây tràn sang đã khiến ông được người Mông ở cao nguyên đá Đồng Văn tin tưởng. Đó là giai đoạn đánh dấu thời kỳ hoàng kim của vua Mèo Vương Chính Đức ở Đồng Văn, mở đầu cho một quãng thời gian dài cai trị vùng đất cao nguyên đá của cha con vua Mèo Vương Chính Đức và Vương Chí Sình.

Khi quyền lực của Vương Chính Đức ngày càng trở nên mạnh mẽ thì cũng là lúc gia tộc họ Dương ở Mèo Vạc ngày càng suy yếu. Vì thế sự ảnh hưởng của họ ngày càng yếu thế hơn so với gia đình họ Vương ở Sà Phìn. Ngay cả sự giàu có của họ cũng ngày càng trở nên khiêm tốn hơn với nhà Vương. Những nương thuốc phiện của nhà họ Dương vốn nổi tiếng là nhiều nhất trên cao nguyên đá giờ cũng đã trở nên nhỏ bé trước rừng thuốc phiện của gia đình họ Vương. Đứng trước hoàn cảnh đó, gia tộc họ Dương đã đứng lên kêu gọi người Mông hãy chọn vị thủ lĩnh cho mình. Tuy nhiên, hầu như tất cả họ đều chọn Vương Chính Đức và tôn ông là vua của người Mông ở Đồng Văn. Điều này đã gây ra những mâu thuẫn giữa hai dòng họ Dương và họ Vương, tạo thành mối thù kéo dài suốt một thế kỷ mới hóa giải được.

Trong cuộc chiến quyền lực giữa hai dòng họ, cha con Dương Tụ Nghĩa – Dương Trung Nhân (thuộc gia tộc họ Dương) và cha con Vương Chính Đức – Vương Chí Sình (thuộc gia tộc họ Vương) là những người ở hai bên chiến tuyến.

Dương Trung Nhân sinh năm 1912 là con trai của thổ ty Dương Tụ Nghĩa. Khi người Pháp đặt quyền bảo hộ lên cao nguyên đá Đồng Văn, ngoài Vương Chính Đức được phong chức quan, chúng còn tạo ra 4 thổ ty khác là thổ ty Duơng Tụ Nghĩa, Nguyễn Chánh Quay, Nguyễn Chánh Tư và Nguyễn Doãn Quý, cai quản các khu vực núi của Hà Giang. Đó là âm mưu chia để trị của Pháp. Trong những thổ ty này, ảnh hưởng của Tụ Nghĩa là lớn mạnh nhất, nhưng không thể bằng một phần quyền lực và uy tín của vua Mèo Vương Chính Đức ở Đồng Văn. Điều đó đối với gia tộc họ Dương Mèo Vạc nói chung đã xúc phạm đến danh dự của dòng họ Dương.

Để khẳng định quyền lực của mình không thua kém so với nhà họ Vương, họ Dương cho Dương Tụ Nghĩa đứng đầu đã dùng mọi cách để củng cố sức mạnh của mình. Giống như vua Mèo Vương Chính Đức, Dương Tụ Nghĩa cũng xây dựng riêng cho mình một đội quân riêng để bảo vệ lãnh thổ do mình cai quản, đồng thời uy hiếp dòng họ láng giềng.

Khi được suy tôn thành vua Mèo, thâu tóm quyền lực ở vùng Đồng Văn và lợi nhuận khổng lồ từ những nương thuốc phiện, vua Mèo Vương Chính Đức đã cho xây dựng một dinh thự vua Mèo ở Sà Phìn. Ngôi nhà được xây dựng bởi những người thợ khéo tay nhất Quảng Tây - Trung Quốc và ngay cả những nguyên vật liệu để xây dựng cũng được mang từ Quảng Tây sang.

Bản thân thổ ty Dương Tụ Nghĩa chưa bao giờ từ bỏ tham vọng thống lĩnh quyền lực ở toàn bộ vùng cao nguyên đá. Ông cũng tự xưng thành vua Mèo. Để chứng tỏ mình không thua kéo vua Mèo Vương Chính Đức, Dương Tụ Nghĩa cùng con trai Dương Trung Nhân cũng tiến hành xây dựng một dinh thự bề thế không kém dính thự vua Mèo ở Sà Phìn. Những tay thợ giỏi nhất từ Vân Nam, Trung Quốc đã được tuyển đến, xây một ngôi nhà bằng đá và gỗ quý ngay ở Mèo Vạc, với một cái hồ treo ngay trên vách núi, trồng sen và nuôi cá.

Tuy nhiên sau thời kỳ cải cách ruộng đất, dinh thự này đã bị phá nát, chỉ còn là phế tích. Nhưng hồ treo mà Dương Tụ Nghĩa xây dựng thì vẫn còn. Ngày nay, chính quyền Mèo Vạc đã xây dựng thêm những hồ treo khác, biến những hồ treo này trở thành nơi cung cấp nước cho đồng bào những ngày khô hạn. Sau khi Dương Tụ Nghĩa qua đời, vua Mèo Dương Trung Nhân tiếp tục nối nghiệp cha, thực hiện âm mưu thống lĩnh toàn bộ vùng Đồng Văn.

Hậu thuẫn rất lớn cho tham vọng của Dương Trung Nhân chính là người Pháp. Bởi người Pháp đã sớm, nhận ra sự bất phục tùng của họ Vương ở Sà Phìn nên đã ngấm ngầm ủng hộ Dương Trung Nhân trong cuộc chiến quyền lực giữa hai vua Mèo ở cao nguyên đá Đồng Văn. Trong suốt mấy chục năm trời, họ Dương và họ Vương đã coi nhau như kẻ thù. Giữa hai gia tộc thường xuyên xảy ra những cuộc giao tranh cả lớn cả nhỏ. Cuộc giao tranh lớn nhất diễn ra vào những năm 1940, khi thế lực người Pháp đã suy yếu dần.

Trong cuộc chiến này, gia đình họ Dương đã tổn thất rất nhiều lực lượng và thua cuộc. Sức mạnh và quyền lực của họ Dương ở Mèo Vạc dần suy yếu. Lo sợ sẽ có ngày gia tộc mình bị cha con vua Mèo Vương Chính Đức và Vương Chí Sình tiêu diệt để trừ hậu họa về sau, vua Mèo Dương Trung Nhân đã tính một nước cờ mới để đảm bảo cho sự an nguy của gia tộc. Dương Trung Nhân đã đưa gia đình chuyển về Hà Nội sống một thời gian, nhờ sự ủng hộ của người Pháp rồi di cư vào Sài Gòn sau hiệp định Genever. Sau này, vua Mèo Dương Trung Nhân đã đưa toàn bộ vợ và các con, cháu sang sống ở bang Minnesota ở Mỹ.

Trong thời gian sống ở Sài Gòn rồi sang Mỹ sống, vua Mèo Dương Trung Nhân là nhân vật được chính quyền Mỹ đặc biệt quan tâm. Theo một số nhà nghiên cứu về các vua Mèo ở cao nguyên đá, cuộc nổi dậy của những nhóm phỉ ở Đồng Văn có sự hậu thuẫn của người Mỹ và tiếng tăm của vua Mèo Dương Trung Nhân.

Lúc đó, khi cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam đang ở giai đoạn rất khốc liệt, Mỹ đã có âm mưu làm phân tác lực lượng, gây khó khăn cho Cách mạng Việt Nam bằng cách gây mâu thuẫn, chia rẽ đoàn kết các dân tộc. Tin đồn về việc vua Mèo Dương Trung Nhân ở Mỹ đứng sau cuộc nổi dậy của những nhóm phỉ ở biên giới Hà Giang, cung cấp vũ khí cho chúng đã khiến cho những nhóm phỉ này càng điên cuồng gây loạn. Bằng cách nào đó, chúng còn tin rằng vua Mèo Dương Trung Nhân dưới sự ủng hộ của chính phủ Mỹ sẽ quay trở lại Đồng Văn, biến Đồng Văn thành vương quốc tự trị của người Mông. Tuy nhiên, âm mưu bạo loạn này không thành. Những nhóm phỉ này đã bị ta tiêu diệt sau đó. Còn vua Mèo Dương Trung Nhân kể từ đó về sau cũng từ bỏ hoàn toàn mơ ước quay trở lại Đồng Văn, tiếp tục xưng Vương ở vùng đất này. Danh xưng vua mèo chỉ còn là một vùng hoài niệm trong kí ức vị vua mèo tự phong lưu lạc xứ người này.

Những lá thư xóa bỏ hận thù suốt một thế kỷ của hai gia tộc

Mối thù giữa hai dòng họ Dương và Vương ở cao nguyên đá Đồng Văn đã kéo dài gần suốt một thế kỷ. Và người có công lao lớn nhất hóa giải hiềm kích giữa hai gia tộc chính là ông Vương Quỳnh Sơn, người gọi vua Mèo Vương Chính Đức là ông nội, gọi vua mèo Vương Chí Sình là chú ruột.

Khi còn sống, ông Vương Quỳnh Sơn được coi là hậu duệ nổi bật nhất của dòng họ Vương. Vương Quỳnh Sơn là người cháu được vua Mèo Vương Chí Sình vô cùng yêu quý. Ông từng chứng kiến lễ kết nghĩa anh em giữa Bác Hồ và chú ruột Vương Chí Sình, đồng thời chứng kiến Người đích thân trao thanh kiếm báo có đề tám chữ “tận trung báo quốc/ bất thụ nô lệ” cho vua Mèo Vương Chí Sình.

Vương Quỳnh Sơn từng làm việc ở quân khu Việt Bắc, là chủ nhiệm khu hành chính Lào Cai – Yên Bái. Sau này ông trở thành cố vấn cao cấp của ủy ban Dân tộc trung ương. Ông là người được người Mông ở Đồng Văn vô cùng kính trọng. Ông cũng có tầm ảnh hưởng lớn với người Mông sinh sống ở các vùng núi phía bắc của nước ta. Khi còn sống, Vương Quỳnh Sơn rất tích cực đi đến các vùng đồng bào dân tộc, kêu gọi bà con các dân tộc đoàn kết, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Ông có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhũng gia tộc người Mông đang lưu lạc trên đất Mỹ, trong đó có cả những người con cháu của vua mèo Vương Chí Sình.

Cộng đồng người Mông ở Mỹ không thể so sánh với cộng đồng người Việt nhưng cũng là một trong những cộng đồng lớn. Người Mông ở Mỹ chủ yếu di cư từ Lào và Việt Nam. Trong số những người di cư đó có cả con trai của Vương Chí Sình – Vương Đình Thọ.

Ông Vương Quỳnh Sơn vẫn được bạn bè và gới văn nhân gọi với cái tên kính trọng là Vương Lão Đồng Chí. Sinh thời, một trong những ước mơ lớn nhất của ông là hóa giải hận thù giữa hai họ Dương và họ Vương. Ông đã tích cực nhờ con cháu, họ hàng của mình sống ở bên Mỹ tìm cách thu thập tin tức và bắt liên lạc với gia đình vua Mèo Dương Trung Nhân ở Minnesota. Khi vua Mèo Dương Trung Nhân mất năm 1994, hưởng thọ 82 tuổi, ông đã gửi thư chia buồn và phúng viếng. Đó là một bước tiến lớn trong mối quan hệ giữa hai gia đình họ Vương và họ Dương.

Kể từ khi liên lạc được với gia đình họ Dương ở Minnesota - Mỹ, ông với tư cách là trưởng họ Vương ở Hà Giang đang sống ở Minnesota. Đọc được bức thư chia buồn của ông Vương Quỳnh Sơn và biết được nguyện vọng của ông, ông Dương Đạo đang sống ở Minnesota - Mỹ đã nhiều lần gặp gỡ những hậu duệ của họ Dương đang sinh sống ở Mỹ và ở một số nước, truyền đạt lại nguyện vọng của hậu duệ của vua Mèo Vương Chí Sình. Cuối cùng, gia tộc họ Dương, trước thiện ý của họ Vương đã đồng ý bắt tay nhau, xóa bỏ hận thù, nối lại tình anh em, giữa hai dòng họ người Mông ở Hà Giang. Như trong bức thư mà Dương Đạo - hậu duệ của họ Dương đã viết cho ông Vương Quỳnh Sơn: "Kính thưa anh, em là Dương Đạo, con trai thứ hai của ông Dương Trung Nhân. Em rất cảm động sau gần nửa thế kỉ, em được đọc thư anh viết cho anh trai của chúng em. Trước hết em và tất cẩ gia đình bên naà xin thành thật cảm tạ anh đã gửi lời chia buồn khi cha chúng em Dương Trung Nhân tạ thế. Cha em mất lúc 82 tuổi, tháng 8.1994 ở tiểu bang Minnesota, Mỹ. Cha chúng em để lại Mỹ quốc 2 vợ (vợ hai, vợ ba, vợ cả mất năm 1994), 12 người con (6 trai, 6 gái ), 40 cháu, 27 chắt.

Em và mọi người trong gia đình em rất lấy làm sung sướng nghe lời của anh là chúng ta nên thương nhau. Chúng em cũng luôn nghĩ như anh. Những chuyện mà đã xảy ra giữa hai gia đình họ Vương và họ Dương chúng ta cách đây 50 năm dù sao cũng là một chuyện buồn. Trước khi mất, cha em cũng nói rằng hai họ Dương và họ Vương là như một gia đình. Chúng ta nên xóa bỏ những sự buồn của quá khứ để yêu thương giúp đỡ nhau xây dựng một cuộc đời mới văn minh. Cha em cũng muốn trở về thăm quê hương một lần cuối trước khi nhắm mắt nhưng già yếu quá rồi sợ đi về không đến được quê.

Chúng em người thì ở Mỹ, người thì ở Pháp, ai cũng đều mong rằng một ngày gần đây gia đình anh và gia đình chúng em sẽ có điều kiện gặp gỡ hội ngộ, giúp đỡ nhau xây dựng một cuộc đời mới mở mang cho con cháu sau này. Em luôn chống lại sự chiến tranh chỉ có phá hoại cho loài người mà ủng hộ sự phát triển giữa các dân tộc … Cuối cùng em xin anh hãy thông cảm cho em vì không rành lắm tiếng Việt. Xin chúc đại gia đình ta may mắn. Mr. Yang Dao (Dương Đạo)".

Trong một chuyến sang Mỹ, ông Vương Quỳnh Sơn đã gặp gỡ và tiếp xúc với Dương Đạo – con trai của vua Mèo Dương Trung Nhân. Trong cuộc trò chuyện đầu tiên giữa hai người đứng đầu hai dòng họ lừng lẫy một thời, họ đã ôm nhau, đã bắt tay nhau, thân thiết, gần gũi như những người anh em. Sau chuyến đi đó, Vương Lão Đồng Chí – Vương Quỳnh Sơn qua đời. Nhưng lúc nhắm mắt, ông đã hoàn toàn thanh thản vì nguyện vọng lớn nhất của đời mình đã thực hiện được.

Không rõ nguồn ban đầu.
Dẫn lại từ Xaluan.com - 04/04/2013

Từ cậu bé mồ côi đến vị Vua Mèo cai trị 7 vạn dân

đăng 20:52, 29 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Lịch sử của người Mông Đồng Văn là lịch sử của một cuộc thiên di lớn nhất trong lịch sử dân tộc Mông. Là lịch sử của vị thủ lĩnh người Mông đã đứng lên chống Pháp. Lịch sử của vị Vua Mèo với những câu chuyện đã thành huyền thoại.

Dinh vua Mèo. Ảnh: Dân trí


Cuộc thiên di của người Mông Đồng Văn

Nếu lên Sơn La, Điện Biên, không thể thiếu câu chuyện về vua Thái Đèo Văn Long, lên Lào Cai, không thể không nghe kể về vua Mèo Hoàng A Tưởng; lên Hà Giang, nhất định phải biết về cha con Vua Mèo Vương Chính Đức và Vương Chí Sình.

Đó là những điều mà ông Hùng Đình Quý (nguyên Chủ tịch huyện Đồng Văn – nguyên Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Hà Giang) đã nói khi bắt đầu kể những câu chuyện về lịch sử của người Mông và những vị vua Mèo của người Mông ở Đồng Văn. Hàng thế kỷ qua, những câu chuyện về cha con Vương Chính Đức và Vương Chí Sình là những câu chuyện luôn gây tò mò và thôi thúc không biết bao người đặt chân đến cao nguyên đá.

Những câu chuyên ấy là điều không thể thiếu để tạo nên hình ảnh một vùng đất huyền thoại mà bất cứ ai cũng mong muốn được khám phá. Trong chuyến công tác Hà Giang, may mắn được gặp ông Hùng Đình Quý và nhiều lãnh đạo người Mông, tôi đã có cơ hội hình dung ra một chân dung rõ nét hơn về cuộc đời cha con Vua Mèo Vương Chính Đức – Vương Chí Sình.

Nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý là một người Mông rất am hiểu văn hóa và lịch sử của dân tộc mình và ông cũng rất yêu dân tộc mình. Ông nói trước khi nhắc đến cha con Vua Mèo, không thể không nhắc về cuộc thiên di lịch sử của người Mông từ phương Bắc xuống phương Nam.

Cao nguyên đá Đồng Văn là vùng đất mà người Mông, người Lô Lô, người Tày..cùng sinh sống nhiều đời nay. Theo những ghi chép của lịch sử, người Mông xuất hiện ở Đồng Văn vào khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, muộn hơn so với những dân tộc khác. Nhưng người Mông là dân tộc chiếm ưu thế hơn cả, cũng là dân tộc để lại nhiều dấu ấn nhất ở vùng đất này.

Người Mông xưa kia là một đại tộc lớn sống ở vùng Kinh Châu – Giang Hoài (nay thuộc tỉnh Hồ Nam và một phần tỉnh Quý Châu, Trung Quốc), là một phần trong liên minh bộ lạc Miêu – Dao được hình thành với khoảng thời gian 5000 năm lịch sử. Trong lịch sử của mình, đại tộc người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài cũng có chung một đặc điểm với dân tộc Việt Nam: luôn bị sự đe dọa của nhà Hán từ phương Bắc uy hiếp xuống.

Thời thịnh trị nhất của nhà Hán, nhà Hán đem quân đi thống nhất Trung Quốc, khuất phục các bộ tộc lớn và xâm lược các nước lân bang. Ở Trung Quốc, người Mông là đại tộc luôn khiến nhà Hán vừa căm ghét và khó chịu. Dân tộc Mông thông minh, can đảm, trí dũng hơn người bị nhà Hán coi là dân tộc có thể đe dọa đến sự tồn vong của vương triều nhà Hán nên suốt bao đời vua Hán đều cử quân đi khuất phục đại tộc Mông. Nhưng những cuộc chinh phạt của người Hán đều thất bại bởi vấp phải sự chống trả kiên cường của người Mông.


Vương Chính Đức cùng con cháu

Vua Mèo Vương Chính Đức


Tuy nhiên để bảo vệ được sự tồn vong của dân tộc mình, người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài cũng phải trả giá không ít. Qua mỗi thế kỷ, những cuộc chiến tranh lại khiến dân số người Mông ít dần đi, người già, đàn bà và trẻ con ngày càng nhiều hơn đàn ông. Cuối thế kỷ XVII, có một cuộc giao tranh quyết liệt đã xảy ra giữa đại tộc Mông và Hán triều.

Thủ lĩnh người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài khi đó đã hô hào đàn ông đứng lên chống lại Hán triều một lần nữa. Đó cũng là trận chiến khiến người Mông bị tổn thất nhiều nhất và bị đánh bật về phương Nam. Sau trận chiến này, trước những thương vong mà dân tộc mình đã phải chịu đựng, thủ lĩnh người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài khi ấy đã có một quyết định cuối cùng để bảo vệ giống nòi và để dân tộc mình vĩnh viễn thoát khỏi những cuộc chiến đấu tranh giành lãnh thổ.

Vị thủ lĩnh ấy kêu gọi đồng bào Mông: “Tất cả đại tộc hãy đi đến phương Nam. Đi đến nơi những vùng đất cao nhất, xa nhất, nơi chưa từng có ai đặt chân đến thì hãy dừng lại, dựng nhà cửa, làm nương rẫy, lấy chồng lấy vợ rồi sinh con đẻ cái. Đó sẽ là quê hương mới của người Mông”.

Sau lời kêu gọi của vị thủ lĩnh người Mông ấy, người Mông ở Kinh Châu – Giang Hoài (thuộc tỉnh Quý Châu) đã bỏ xứ sở đi về phương Nam trong cuộc thiên di lớn nhất trong lịch sử dân tộc Mông. Cuộc thiên di đó đã đưa người Mông đến với những vùng đất phía Bắc Việt Nam. Mệnh lệnh mà thủ lĩnh người Mông năm ấy đã ban đã được đồng bào Mông thực hiện một cách nghiêm ngặt: họ chọn những vùng núi cao nhất, xa nhất, hoang vu nhất để dừng lại, lập quê hương, bản làng mới. Đó là lý do giải thích cho thói quen sống ở trên những vùng núi cao ít người của dân tộc Mông.

Trong cuộc thiên di ấy, cao nguyên đá Đồng Văn là một trong những nơi được người Mông chọn làm quê hương mới. Đến bây giờ, người Mông Hà Giang vẫn còn truyền tụng về lịch sử dân tộc mình qua những câu hát: “Quý Châu là quê hương yêu dấu của đồng bào Mông ta. Vì người Mông ta đói rách, vì dân Mông ta không có chữ, thua kiện người Hán nên phải mất nương, vì người Mông ta không có chữ nên phải dời quê hương đến xứ sở này”.

Từ cậu bé mồ côi đến vị Vua Mèo cai trị 7 vạn dân

Gia đình vua Mèo Vương Chính Đức


Cuộc thiên di của người Mông đến cao nguyên đá Đồng Văn đã đánh dấu một thời kỳ quan trọng trong lịch sử của dân tộc Mông, với sự hình thành những vị Vua Mèo với uy danh vang khắp vùng núi phía Bắc. Đầu thế kỷ XVIII, Đồng Văn có trên dưới 10 vạn người Mông, bao gồm họ Vàng, họ Dương, họ Mã…là những dòng họ lớn nhất.

Mỗi họ có một phong tục riêng, một thói quen thờ cúng, sinh hoạt riêng, bên cạnh những tập tục đặc trưng của người Mông. Mỗi họ cũng có một thủ lĩnh do cả họ nhất trí suy tôn lên làm người đứng đầu. Những thủ lĩnh dòng họ này có trách nhiệm bảo vệ sự an nguy và sức sống của cả dòng họ và phần lớn đều xuất thân từ những gia đình danh giá, giàu có nhất trong dòng họ.

Nhưng Vua Mèo Vương Chính Đức – vị Vua Mèo đầu tiên của người Mông ở Đồng Văn lại không có xuất thân cao quý như thế. Theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, Vua Mèo Vương Chính Đức xuất thân nghèo khó. Ông là con trai trong một gia đình người Mông nghèo thuộc họ Vàng. Trước khi được biết đến với cái tên Vương Chính Đức, ông chào đời ở Sà Phìn – Đồng Văn với cái tên Vàng Dúng Lùng.

Vàng Dúng Lùng có một tuổi thơ vất vả. Từ nhỏ bố đã mất, Vàng Dúng Lùng đã phải cùng mẹ và anh trai Vàng Trá Pò lao động cực khổ để tồn tại. Nhưng người già ở Đồng Văn, đặc biệt là ở Sà Phìn – quê hương của Vương Chính Đức – Vàng Dúng Lùng nói, cha mẹ họ, ông bà họ, những người từng chứng kiến Vàng Dúng Lùng lớn lên đều đã sớm thấy khí chất đặc trưng của một người Mông thông minh, quả cảm, luôn khám phá mọi vùng đất xung quanh mình.

Từ nhỏ Vàng Dúng Lùng đã rất hiếu động, thông minh. 10 tuổi, Vàng Dúng Lùng đã biết đi bộ lang thang khắp những vùng núi cao ở Mèo Vạc. Không một bản làng nào, Vàng Dúng Lùng chưa đi qua. Không một người Mông nào ở Đồng Văn, Vàng Dúng Lùng chưa gặp một lần.

Vàng Dúng Lùng thường chỉ về nhà khi chợt nhận ra mình đã đi quá lâu và thường khi ông về, mẹ ông đã suýt không còn nhận ra cậu con trai mà mỗi lần đi lại thấy già dặn, từng trải thêm một chút. Đến tuổi thanh niên, Vàng Dúng Lùng đã là một chàng trai người Mông can đảm, dũng cảm, không sợ hổ báo, không sợ thú dữ mỗi khi đi rừng và có tài khổi khèn hay nức tiếng khắp vùng núi cao Đồng Văn.

Khi người Mông bắt đầu cuộc thiên di xuống phương Nam và dừng lại ở Đồng Văn, vị thủ lĩnh người Mông được lưu truyền lại trong lịch sử người Mông đã mơ ước dân tộc Mông sẽ được sống hòa bình ở vùng đất mới, không phải chịu cảnh đổ máu, chết chóc như suốt lịch sử của mình. Nhưng ước mơ của vị thủ lĩnh đó không thành hiện thực.

Thời Vàng Dúng Lùng sinh ra và lớn lên cũng là thời mà lịch sử phong kiến Việt Nam chứng kiến cuộc xâm lăng của thực dân phương Tây. Sau khi khuất phục được triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp bắt đầu tiến lên chinh phục các bộ tộc ít người ở vùng núi phía Bắc, trong đó có Đồng Văn.

Cùng lúc đó, triều đình Mãn Thanh cũng tiến quân xuống Đồng Văn, với ý định tiêu diệt những nhóm quân nổi dậy người Mông đang hình thành ở Đồng Văn, vì lo ngại những nhóm quân khởi nghĩa này có thể làm nguy hiểm đến sự cai trị của triều Mãn Thanh ở vùng biên giới giáp Việt Nam. Ở Đồng Văn cũng xuất hiện những nhóm quân nổi dậy từ Trung Quốc dạt sang, với âm mưu đánh chiếm Đồng Văn.

Đứng trước hiểm họa đó, người Mông ở Đồng Văn, dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Vừ Phán Lùng đã đứng dậy, sẵn sàng đánh quân Thanh và đánh quân Pháp đang tiếng vào Đồng Văn. Trong dòng họ Vàng của Vàng Dúng Lùng, cũng có một người theo Vừ Phán Lùng đánh giặc, là Vàng Dí Tủa. Trong cuộc nổi dậy đó, Vừ Phán Lùng đã bị phản bội và giết chết, người Mông ở Đồng Văn bị những nhóm quân nổi dậy Trung Quốc dạt vào Đồng Văn khi đó giết chết dã man.

Vàng Dí Tủa được người Mông Đồng Văn bầu lên thay làm thủ lĩnh cũng chết không lâu sau đó vì bệnh tật. Một lần nữa, cộng đồng người Mông lại họp lại. Vàng Dúng Lùng đứng lên làm thủ lĩnh người Mông thay Vàng Dí Tủa. Dưới sự lãnh đạo của Vàng Dúng Lùng, người Mông Đồng Văn đã đánh bạt những phiến quân ở Đồng Văn, thống nhất toàn bộ vùng Đồng Văn. Thừa thắng xông lên, người Mông Đồng Văn lại tiếp tục sát cánh bên Vàng Dúng Lùng, cùng thủ lĩnh Vàng Dúng Lùng đánh giặc Pháp.

Quân Pháp khi đưa quân lên Cao Bằng, Hà Giang và sau một thời gian củng cố lực lượng, đã bắt đầu tiến hành cuộc chinh phạt Đồng Văn trong suốt hơn 10 năm, từ đầu những năm 1900 với quyết tâm thống trị hoàn toàn vùng đất này, đặt vùng đất này dưới ách đô hộ. Khi thực hiện cuộc chinh phạt này, người Pháp rất tự tin vào sức mạnh của mình và khả năng khuất phục một dân tộc nhỏ bé, lạc hậu, nghèo đói ở vùng núi cao.

Nhưng người Pháp không lường được những khó khăn ở Đồng Văn. Ngay cả khi chúng đã đặt được những đồn trú ở Đồng Văn, ngay cả khi chúng đã gây cho đồng bào Mông Đồng Văn không biết bao nhiêu tổn thất xương máu, thì chúng vẫn không thể khuất phục được người Mông Đồng Văn.

Đến lúc hiểu được về tập tục và văn hóa của người Mông, người Pháp hiểu rằng chỉ có một cách để tạm cai trị người Mông là phải chấp nhận đưa một thủ lĩnh người Mông lên nắm quyền – một thủ lĩnh mà bất cứ người Mông nào cũng sẵn sàng nghe theo. Và chúng đã chọn thủ lĩnh Vàng Dúng Lùng. Để bắt tay được với thủ lĩnh người Mông, người Pháp đã ký với Vàng Dúng Lùng một hòa ước cam kết rút hết khỏi Đồng Văn và cho người Mông được quyền tự trị với sự giám sát của một nhóm đồn trú của Pháp ở Đồng Văn và một đơn vị hành chính của triều Nguyễn.


Vương Chính Đức

Cùng lúc đó, nhà Nguyễn cũng phong cho Vàng Dúng Lùng chức quan Bang Cơ, cai quản vùng Đồng Văn. Vàng Dúng Lùng cũng được cấp mũ mão, áo quan và được ăn lương của triều Nguyễn. Kể từ đó, Vàng Dúng Lùng bắt đầu đi vào lịch sử vùng Đồng Văn với cái tên Vương Chính Đức.

Ông trở thành Vua Mèo như một lẽ tự nhiên trong tâm thức của 7 vạn dân ở Đồng Văn, là vị thủ lĩnh đã bảo vệ người Đồng Văn trước gót giày bắn phá, chems giết của thực dân Pháp. Chính vì thế, tuy là người Mông, nhưng ông cũng được các dân tộc khác ở Đồng Văn tôn sung.

Lời phán của thầy phong thủy và bí ẩn về sức mạnh khu đất xây dinh thự Vua Mèo

Không thể phủ nhận được vai trò của Vương Chính Đức trong một gian đoạn lịch sử loạn lạc đã giúp cao nguyên Đồng Văn với 7 vạn dân có được quyền tự trị nhất định, không chịu cảnh bóc lột của thực dân như những vùng đất khác ở Đồng Văn. Thời đó, người Mông ở Đồng Văn sống chủ yếu bằng cách trồng cây thuốc phiện.

Sauk hi ký hòa ước với Pháp, Vương Chính Đức cũng đã thỏa thuận với người Pháp trong việc mua bán thuốc phiện. Người Pháp đã buộc phải chấp nhận mua thuốc phiện của Vua Mèo Vương Chính Đức với giá gấp đôi so với giá cũ. Nhờ thỏa thuận này, người Mông Đồng Văn đã có một quãng thời gian dài sống no ấm nhờ cây thuốc phiện. Vương Chính Đức nhanh chóng trở nên giàu có, với dinh cơ và tài sản lớn nhất vùng cao nguyên đá.

Dinh thự của Vua Mèo hiện nay vẫn còn ở Sà Phìn (Đồng Văn) chính là dinh thự do Vương Chính Đức xây lên vào thời hùng mạnh nhất của mình. Theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, mảnh đất mà Vua Mèo Vương Chính Đức chọn để xây dinh thự theo phong thủy có thế đất rất đẹp với hình mai rùa mà dinh thư Vua Mèo đặt ngay chính giữa chop cao nhất của cái mai rùa đó.

Trong những huyền tích do người Mông Đồng Văn lưu lại về Vương Chính Đức, có không ít những câu chuyện là thật, cũng có không ít những câu chuyện được thêu dệt, thêm thắt truyền miệng qua người này đến người kia. Nhưng có một câu chuyện mà theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý là tương đối chính xác, chính là câu chuyện về lý do vì sao Vua Mèo Vương Chính Đức lại chọn mảnh đất đó làm nơi dựng nhà.

Chuyện rằng khi Vương Chính Đức còn là một cậu bé thường xuyên lang thang khắp các xó xỉnh của vùng núi Đồng Văn, một hôm có một đoàn thương lái Trung Quốc đi qua Đồng Văn và dừng chân nghỉ lại ngay bên cảnh khu đất hình mai rùa ở Sà Phìn.

Trong đoàn thương lái đó có một người xem phong thủy rất giỏi, thấy khu đất trống đã bất chợt thốt lên: “Thế đất khu này quá đẹp. Ai biết mà dựng nhà ở đây, sau này không làm vua chúa cũng sẽ làm quan, được người người tôn sung, thờ phụng, vinh hoa phú quý đời sau ăn không hết”. Lúc đó Vương Chính Đức (lúc này hãy còn là cậu bé Vàng Dúng Lùng) đang ngủ trên cành cây ngay trên đầu vị thương lái có tài xem phong thủy, đã nghe lỏm được câu chuyện đó.

Cậu bé Vàng Dúng Lùng đã nghĩ sau này nhất định sẽ xây nhà trên mảnh đất đó. Sau này khi thành thủ lĩnh người Mông trong cuộc chiến đó, Vàng Dúng Lùng nhớ lại lời các thầy phong thủy nói năm xưa đã cho người đến xây nhà trên khu đất hình mai rùa ấy. Cũng kể từ khi dựng nhà trên khu đất đó, Vương Chính Đức đã ngày càng khẳng định được uy quyền của mình ở Đồng Văn.

Uy thế của ông cũng tăng lên sau mỗi chiến công mà ông lập được với vai trò thủ lĩnh. Sau khi ký thỏa hiệp với người Pháp, có trong tay một gia sản lớn, Vương Chính Đức đã cho xây dựng căn nhà ở Sà Phìn thành một dinh thự lớn, xứng với vị thế của mình, cũng ngay tại mảnh đất có hình mai rùa đó. Theo nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý, dinh thự mà Vua Mèo Vương Chính Đức đã xây dựng ở Sà Phìn khác với kiến trúc của những ngôi nhà người Mông bình thường.

Vương Chí SInh, con trai Vương Chính Đức


Dinh thự với hình dáng đó theo quan niệm của người Mông từ xa xưa truyền lại, là ngôi nhà chỉ dành cho vua chúa, những người có uy tín nhất vùng. Nhưng hầu như không có người Mông nào sống ở thời Vương Chính Đức được thấy kiến trúc đó. Sau cuộc thiên di, nhiều nét văn hóa của dân tộc Mông đã bị mất đi bởi chiến tranh, trong đó có những ngôi nhà uy nghi như trong dân ca người Mông.

Và Vua Mèo Vương Chính Đức đã cho xây dựng ngôi nhà của mình theo hình dung của ông về ngôi nhà qua những câu dân ca của người Mông mà ông đã đọc được. Đến ngày hôm nay, dinh thự Vua Mèo ở Sà Phìn vẫn là một nơi mà bất cứ người nào đặt chân lên cao nguyên đá Đồng Văn cũng không thể không đến. Nơi đó đã chứng kiến những năm tháng hùng mạnh nhất của dòng họ Vua Mèo Đồng Văn, cho đến khi những hậu duệ của ông rời Đồng Văn, đi đến những vùng đất khác, theo những thay đổi của lịch sử.

Theo SBĐ
Không rõ nguồn ban đầu - dẫn lại từ Baomoi.com, từ Thể thao VN 20/01/2014
Ảnh: PHN sưu tầm bổ sung

Núi A Man - Nơi có khu mộ cổ lớn nhất nước

đăng 17:22, 28 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn (tập 3, trang 66) có đề cập rằng: “So với các tỉnh khác, Phú Yên có phong tục và cách thức chôn cất người chết, làm mộ xây vôi, hơi khác (với những nơi khác)…”.

Nhà báo Phan Thanh Bình, Tổng Thư ký Hội Khoa học lịch sử tỉnh Phú Yên (bìa phải), giới thiệu 4 dạng mộ cổ với đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Huỳnh Tấn Việt (thứ 2 từ trái sang), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Thành Quang (trái) và đại diện những người phát tâm lập đàn tràng, tu tảo những ngôi mộ cổ - Ảnh: MINH KÝ 


Ven dòng sông Cái, phía hữu ngạn, nơi có Dinh Trấn Biên (thủ phủ của tổng Phú Yên từ năm 1629-1832) có nhiều ngôi mộ cổ bề thế mang đậm dấu ấn văn hóa Việt xứ Đàng Trong. Đặc biệt tại triền phía nam núi A Man (thôn Quảng Đức, xã An Thạch, huyện Tuy An) có một di tích khảo cổ độc đáo, đó là 500 ngôi mộ cổ chứa đựng nhiều bí ẩn cần được giải mã. 500 ngôi mộ cổ có bốn dạng: loại hình yên ngựa (kiều ngựa), loại hình mai rùa, loại hình mái nhà, loại hình búp sen; trong đó loại hình yên ngựa chiếm đa số. 

Trên trụ biểu nhiều ngôi mộ có một số vết tích nét khắc chữ Hán, nhưng hầu hết nét chữ bị bào mòn, không nhận biết được. Tất cả bia mộ đều bị đục phá, không để cho thế hệ sau biết danh tánh những người dưới mộ. 

Dạng mộ hình mai rùa - Ảnh: THANH BÌNH 


Nhiều ngôi mộ có trụ biểu, trên đó có những hoa văn trang trí tinh xảo thể hiện hình tượng tứ bình, tùng hạc, mặt trời, mây mác, hoa sen, dây lá… Đã có nhiều ý kiến khác nhau trong cộng đồng dân cư và các nhà nghiên cứu về 500 ngôi mộ cổ này. Có người cho rằng đó là khu mộ cổ của bà con người Chăm, có người nói rằng đó là khu mộ cổ của bà con người Hoa… 

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng, 500 ngôi mộ này không có một yếu tố nào thuộc về văn hóa mộ táng của người Chăm và người Hoa, mà hoàn toàn là văn hóa mộ táng của người Việt, dù rất độc đáo nhưng vẫn mang đậm dấu ấn văn hóa thuần Việt từ phong thủy dân gian trong mai táng, đến hoa văn trang trí, cách thức bài trí, cách thức lập mộ… 500 ngôi mộ cổ có 4 kiểu dáng nhưng đều có hình dáng khác nhau, không ngôi mộ nào giống ngôi mộ nào, quy mô từng ngôi mộ tùy thuộc vào vị trí xã hội của người nằm dưới mộ lúc sinh thời… 

Hoa văn trang trí mang đậm dấu ấn đặc trưng của những tấm bia thời chúa Nguyễn, có ảnh hưởng triết lý Phật giáo giống như bia mộ hòa thượng Liễu Quán ở Huế (mô típ dây lá, hoa sen…). Ngoài thủ pháp chạm sâu trên nền sa thạch, hệ thống mô típ trang trí trên những tấm bia tạo dấu ấn đặc trưng thời các chúa Nguyễn, thể hiện sự ảnh hưởng đậm nét của triết lý Phật giáo. 

Dạng mộ hình búp sen - Ảnh: THANH BÌNH 


Loại mô hình yên ngựa tạo điểm nhấn tạo hình, phản ánh quá trình giao lưu, giao thoa và tiếp biên văn hóa giữa người Việt và bà con người Hoa trong phong trào phản Thanh phục Minh, được chúa Nguyễn cho tị nạn định cư ở xứ Đàng Trong, trong đó có Phú Yên. Chúng tôi cảm giác rằng, những người nằm dưới 500 ngôi mộ cổ thuộc lực lượng của chúa Nguyễn Ánh trong những trận chiến khốc liệt với nhà Tây Sơn từ năm 1793-1801. 

Sau khi vua Quang Trung băng hà (1792), chúa Nguyễn Ánh tận dụng thời cơ, cử danh tướng Tôn Thất Hội đem đại quân đánh chiếm Phú Yên. Tháng 3/1794, vua Cảnh Thịnh (nối nghiệp vua Quang Trung) cử Thái úy Nguyễn Văn Hưng chỉ huy 4 vạn quân đánh lấy lại Phú Yên và hợp quân với danh tướng Trần Quang Diệu đánh thành Diên Khánh. Chỉ 2 tháng sau (5/1794), chúa Nguyễn Ánh huy động lực lượng hùng mạnh chiếm đóng cửa biển Xuân Đài và chiếm giữ Phú Yên. 

6 tháng sau (tháng 11/1794), quân Tây Sơn do Tổng quản Trần Quang Diệu và Tư lệ Lê Trung chỉ huy đã quét sạch quân chúa Nguyễn ở Phú Yên và truy kích đến thành Diên Khánh. 3 năm sau, tháng 3/1797, chúa Nguyễn Ánh huy động đại binh đánh Phú Yên và Quy Nhơn. Tháng 5/1799, chúa Nguyễn Ánh cử danh tướng Nguyễn Văn Thành đem quân chiếm Phú Yên và tháng 7/1799 chiếm được thành Quy Nhơn, đổi tên là thành Bình Định. 

Đầu năm 1800, hai danh tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đánh lấy lại thành Bình Định. Hàng tướng Phạm Văn Điềm (tướng cũ Tây Sơn) đem Phú Yên về với Tây Sơn, đặt Phú Yên trong thế tử chiến chống lại quân Nguyễn Ánh. 

Dạng mộ hình yên ngựa (kiều ngựa) - Ảnh: THANH BÌNH 


Tháng 6/1800, chúa Nguyễn Ánh cử tướng Nguyễn Đức Xuyên đem quân đánh Phú Yên. Danh tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu cử Đại đô đốc Đào Cổng Giản đem quân hổ hầu (tinh nhuệ nhất) vào Phú Yên hợp với tướng Phạm Văn Điềm phòng thủ Phú Yên. 

Chúa Nguyễn Ánh huy động tinh binh mãnh tướng tiến công Phú Yên, thế trận giằng co rất ác liệt. Tháng 3 và tháng 4/1801, Tham đốc Tây Sơn Phạm Văn Điềm phản công, làm chủ đất Phú Yên. Tháng 7/1801, chúa Nguyễn Ánh huy động đại quân từ Phú Xuân tiếp cứu Nguyễn Văn Thành ở Phú Yên, đánh bại quân Tây Sơn, hoàn toàn làm chủ đất Phú Yên. 

Trong 8 năm (1793-1801), Phú Yên là chiến trường khốc liệt nhất trong cuộc tương tranh giữa hai lực lượng Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Chiến trường trọng tâm là cửa biển Xuân Đài, dọc dòng sông Cái và Bảo (đồn đắp bằng đất) LaThai (La Hai). Phú Yên thay ngôi đổi chủ liên tục giữa hai lực lượng tương tranh. Trong các trận chiến khốc liệt đó, các tướng tá của chúa Nguyễn Ánh tử trận được bí mật chôn cất trên núi A Man soi xuống dòng sông Cái, đầu hướng về nam để vọng về nhà vua và căn cứ địa ở Gia Định, Diên Khánh. 

Đại bộ phận tướng tá bỏ mình được xây mộ hình yên ngựa là phương thức cách điệu da ngựa bọc thây ở sa trường. Đây cũng chỉ là giả thuyết có những luận cứ đáng tin cậy. Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Phú Yên đang trình cấp có thẩm quyền mời các nhà khoa học của Cục Di sản văn hóa, Viện Khảo cổ, Viện Dân tộc học, Viện Lịch sử, Viện Hán Nôm và Hội Khoa học lịch sử… về khu mộ cổ lớn nhất Việt Nam để khảo sát và có kết luận khoa học để giải mã đầy đủ những thông tin về 500 ngôi mộ cổ này. Trước mắt cần tu tảo các ngôi mộ, tạo một điểm hấp dẫn cho du khách và bà con địa phương đến chiêm bái một di tích văn hóa, lịch sử và tâm linh độc đáo của Phú Yên. 

Đây là di tích khảo cổ về văn minh mộ táng của tiền nhân có giá trị độc đáo về văn hóa, lịch sử, kiến trúc, đặc biệt là văn hóa tâm linh. 500 ngôi mộ cổ này tập trung phía sau chùa Châu Lâm, liền kề với Minh bia hòa thượng Liễu Quán (1667-1742) vị cao tăng người làng Quảng Đức mở ra thiền phái phật giáo xứ Đàng Trong (từ Quảng Bình trở vào) thế kỷ XVIII. Quần thể di tích lịch sử - văn hóa - kiến trúc - tâm linh khu vực chùa Châu Lâm bao gồm chùa cổ Châu Lâm, Minh bia hòa thượng Liễu Quán và 500 ngôi mộ cổ có giá trị đặc biệt trong tiến trình lịch sử hơn 400 năm của Phú Yên. 

Sau ngày tái lập tỉnh, nhà nghiên cứu Phan Đình Phùng, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Phú Yên cùng GS Trần Quốc Vượng đã dày công nghiên cứu các ngôi mộ cổ trên núi A Man. Các nhà nghiên cứu tại Phú Yên đã kế tục thành quả này và tiến hành nghiên cứu trong nhiều năm, đã công bố thành quả nghiên cứu bước đầu trong “Địa chí Phú Yên”, “Lịch sử huyện Tuy An”, “Đặc trưng văn hóa đá Phú Yên”… Tháng 4/2017, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV8) phối hợp với Hội Khoa học lịch sử tỉnh Phú Yên thực hiện phóng sự “Bí ẩn những ngôi mộ cổ” trên núi A Man (thôn Quảng Đức, xã An Thạch). 

Sau khi Đài Truyền hình Việt Nam và Báo Phú Yên thông tin về 500 ngôi mộ cổ trong khu vực chùa Châu Lâm, các bậc chân tu và ni sư trụ trì chùa Châu Lâm cùng nhiều tấm lòng hậu thế có nguyện vọng lập một đàn tràng cúng tế các vị tiền nhân yên nghỉ dưới chân núi A Man, sau lưng chùa Châu Lâm đã nhiều thế kỷ mộ phần bị bỏ hoang. 

Dạng mộ hình mái nhà - Ảnh: THANH BÌNH 


Một số bà con gồm ông Phan Văn Khánh (thôn Ngọc Phước 1, xã Bình Ngọc, TP Tuy Hòa) - người tiên phong cùng bà con xã Bình Ngọc trùng tu đình làng Ngọc Lãng và 3 ngôi miếu cổ Tây Lý, Trung Lý, Đông Lý… ở xã Bình Ngọc), Đặng Đức Nghĩa (phường 5, TP Tuy Hòa), Ủy viên thường trực Đặng tộc Việt Nam, Chủ tịch Đặng tộc Phú Yên - người có 15 năm đóng góp nhiều tâm sức tài lực cho Đặng tộc Phú Yên và cả nước; Trương Tấn Hổ (thôn Phước Lộc 2, xã Hòa Thành, huyện Đông Hòa), Đặng Duy Tân (phường 5, TP Tuy Hòa) phát tâm thiện nguyện đề nghị Hội Khoa học lịch sử Phú Yên cùng chùa Châu Lâm tổ chức lễ cúng tiền nhân yên nghỉ ở núi A Man vào ngày chủ nhật 25/6/2017 (mùng hai tháng sáu âm lịch). 

Được sự cho phép của chính quyền địa phương, Hội Khoa học lịch sử tỉnh Phú Yên cùng 4 vị phát tâm tri ân tiền nhân đã cung nghinh 21 vị cao tăng của Phú Yên (trong đó có ba vị hòa thượng chủ trì) lập đại lễ trai đàn kỳ an, kỳ siêu, bạc độ chẩn tế âm linh nhằm tri ân tiền nhân, nguyện cầu quốc thái dân an, nối ngàn xưa với ngàn sau. Đồng thời tiến hành tu tảo 500 ngôi mộ đã nhiều thế kỷ chưa được chăm sóc. 

Bảo tồn, tôn tạo và cả trùng tu khu mộ cổ lớn nhất nước ở núi A Man là một trong những việc làm thiêng liêng, thiết thực để lưu giữ ký ức quan trọng của tiến trình lịch sử Phú Yên. 

PHAN THANH 

BÌNH LUẬN

Bí ẩn 9 chiếc giếng chưa bao giờ cạn bên chân núi Đọi

đăng 17:00, 23 thg 9, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

9 chiếc giếng chưa bao giờ cạn này nằm bao quanh chân núi Đọi, nếu nối chúng lại với nhau theo đường vẽ một mạch thì tạo thành hình chữ “Cửu”. Vì vậy mà người dân nơi đây mới gọi 9 giếng nước này là “Cửu long cửu tỉnh”, có nghĩa là 9 con rồng 9 cái giếng.

Nằm cách thành phố Phủ Lý hơn 10km, xã Đọi Sơn (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) nổi tiếng với làng nghề “trống Đọi Tam”, ngôi chùa cổ Long Đọi Sơn với hơn 1000 năm lịch sử, và lễ hội “Tịch Điền” vua xuống đi cày hàng năm vào ngày mồng 7 tháng Giêng âm lịch cầu mùa màng bội thu. 

Ngoài ra, Đọi Tam còn nổi tiếng với 9 chiếc giếng bên chân núi Đọi chưa bao giờ cạn và được mệnh danh là “9 mắt rồng” có từ thủa xa xưa. 

Về Đọi Tam hỏi thăm về 9 chiếc giếng được mệnh danh là “9 mắt rồng", bên chân núi Đọi, những người dân nơi đây sẽ kể vanh vách về truyền thuyết của 9 giếng nước chưa bao giờ cạn đã gắn bó với họ từ thuở “khai thiên lập địa”. 

Cả 9 chiếc giếng nằm bao quanh chân núi Đọi, nếu nối chúng lại với nhau theo đường vẽ một mạch thì tạo thành hình chữ Cửu. Vì vậy mà người dân nơi đây mới gọi 9 giếng nước này là “Cửu long cửu tỉnh”, có nghĩa là 9 con rồng 9 cái giếng. 


Cũng chẳng ai biết 9 chiếc giếng này có tự bao giờ, chỉ biết khi sinh ra họ đã thấy và được nghe ông cha kể về sự tích của chúng. 

Cả 9 chiếc giếng nằm bao quanh chân núi Đọi, nếu nối chúng lại với nhau theo đường vẽ một mạch thì tạo thành hình chữ Cửu. Vì vậy mà người dân nơi đây mới gọi 9 giếng nước này là “Cửu long cửu tỉnh”, có nghĩa là 9 con rồng 9 cái giếng. 

Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, sự tích 9 giếng mắt rồng không có sử sách nào ghi chép lại mà do người trong làng truyền miệng cho nhau đời này qua đời khác. 

Tương truyền, xa xưa, làng Đọi Sơn xảy ra một cuộc đại hạn hán kéo dài trong nhiều năm liền. Những cánh đồng, làng mạc đều khô cằn vì thiếu nước, đói khát, mất mùa triền miên. 

Mặc dù người dân trong làng đã mời thầy về lập đàn cầu mưa nhưng vẫn vô vọng. Nạn hạn hán tiếp tục hoành hành, khiến cây cỏ héo khô, đất cằn cỗi… khiến người dân trong làng phải bỏ xứ mà đi tìm “miên đất mới”. 

Các cụ cao niên trong làng cũng cho biết, trong thời kỳ kháng chiến, để tránh những trận càn quét của quân địch, bộ đội ta đã đào hầm xuyên qua núi Đọi, thông đến các giếng mắt rồng lấy nước để sinh hoạt 


Nhưng chính lúc người dân bỏ đi nhiều nhất, trong một đêm tối, mây đen bắt đầu kéo đến đen kịt cả một vùng, gió bắt đầu nổi lên, từ trong những đám mây đen, người dân nhìn thấy 9 con rồng không biết từ đâu xuất hiện và bắt đầu phun mưa ngập trắng chân núi Đọi, cứu cả dân làng thoát khỏi trận hạn hạn lịch sử. Sau 9 ngày 9 đêm, 9 con rồng nhất loạt dừng lại và hóa thân thành 9 chiếc giếng nằm rải rác quanh chân núi Đọi. 

Theo cụ Đinh Trọng Tế, một cao niên ở Đọi Nhất, xã Đọi Sơn cho biết: “Cả 9 chiếc giếng ở đây tượng trưng cho 9 mắt của 9 con rồng thiêng xưa kia đã phun mưa cứu cả làng khỏi nạn hạn hán. Dưới giếng có những hòn đá nổi lô nhô được xem là những cái vảy và móng rồng...”. 

Ở đình Thánh Cả trên đỉnh núi Đọi nằm trong đình cũng có một cái giếng mắt rồng chứa đầy bí ẩn. Vì nằm trong đình nên quanh năm chiếc giếng này được đóng kín. Mặc dù nằm trên cao, nhưng chiếc giếng này quanh năm đầy nước và thường xuyên đùn lên ùng ục nguồn nước nóng ấm vào mùa đông. 

Hàng chục chiếc máy bơm cắm xuống giếng nhưng chưa bao giờ thấy cạn 


Còn ở xóm Thái Bình, thôn Đọi Nhất có một giếng rồng được gọi là giếng sống, miệng chiếc giếng có đường kính khoảng 2 mét, sâu 3 mét. Điều đặc biệt nhất là lượng nước dưới giếng rất ít, chỉ sâu 60cm, nhưng với hơn 30 chiếc máy bơm của các hộ dân bơm cả ngày lẫn đêm nhưng lượng nước trong giếng không bao giờ vơi đi đến một đốt ngón tay. 

Điều đặc biệt ở những chiếc giếng này dù cắm hàng trăm máy bơm phục vụ nước cho cả làng nhưng giếng chưa bao giờ cạn. Hiện một số giếng mắt rồng là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ người dân sống xung quanh núi Đọi. Có giếng được cắm hàng chục máy bơm hút nước ngày đêm nhưng nước giếng vẫn không hề cạn. 

Nhiều người đặt câu hỏi, 9 con rồng phải có 18 giếng nước - tương ứng với 18 mắt? Người làng cũng kể rằng, năm 2003, cố Giáo sư, nhà sử học, nhà khảo cổ học Trần Quốc Vượng đã đến Đọi Sơn tìm hiểu về 9 mắt rồng nhưng cũng chưa đưa ra được lời lý giải nào. 

Các cụ cao niên trong làng cũng cho biết, trong thời kỳ kháng chiến, để tránh những trận càn quét của quân địch, bộ đội ta đã đào hầm xuyên qua núi Đọi, thông đến các giếng mắt rồng lấy nước để sinh hoạt. Trong số 9 chiếc giếng, do tác động của con người, thời gian và chiến tranh, có 1 chiếc đã bị san lấp, người dân nơi đây gọi là giếng rồng mù. 

Đức Văn

Đền Bà Vũ trong đời sống tâm linh của người Hà Nam

đăng 17:38, 30 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Tín ngưỡng thờ Bà Vũ xã Chân Lý, Lý Nhân, Hà Nam chính là biểu tượng của lòng ngưỡng vọng lòng biết ơn của nhân dân đối với những người con gái tiết hạnh, kiên trung như bà Vũ Thị Thiết. 

Theo truyền thuyết ở địa phương thì ngôi đền này được xây dựng từ thế kỷ XV, ngay sau cái chết oan uổng của Vũ Thị Thiết. Ban đầu di tích chỉ là ngôi miếu nhỏ bằng tranh tre nứa lá do nhân dân dựng lên để thờ. Phải sau sự kiện Lê Thánh Tông đi đánh giặc qua đây, có vào chiêm ngưỡng và thắp hương nơi cổ miếu, khi chiến thắng trở về vị Vua anh minh này đã hạ lệnh cho địa phương xây dựng lại thì nơi đây mới được mở rộng và làm khang trang lên. Ngôi đền được xây dựng ở ngoài bãi ngay ven sông Hồng. Đây là khu đất rộng mấy chục mẫu, dân cư sống thành làng. Sau vì nước lũ xói mòn, bãi bị lở nên ngôi đền phải dời vào vị trí như hiện nay.

Tam quan ngôi đền. 


Phạm vi ngôi đền nằm áp sát vào khu vực đê bối ven sông Hồng. Bốn cột đồng trụ xây ngay trên mặt đê, mặt quay ra sông theo hướng Bắc, mỗi cột cao trên 6m, lại được mặt đê tôn thêm 1,60m, chính vì vậy mà nó đã tạo ra được một sự bề thế. Bốn cột trụ cao vượt tầng những cây cổ thụ xung quanh vươn lên trời xanh.

Cột trụ chia làm bốn phần, dưới cùng là chân tạo dáng phình ở giữa và thu về hai đầu hình chân tảng thắt cổ bồng, phần trên là một khối chữ nhật, các mặt đều có gờ chỉ tạo thành những khung câu đối, chữ được đắp nổi vào tường vữa. Phía trên phần này là một khối hộp hình vuông, bốn mặt được đắp nổi hình tứ linh và trên cùng là một con nghê đắp cân đối quay mặt chầu vào nhau.

Sân đền nằm dưới chân đê bối, cách mặt đê 1,60m nên phải qua 6 bậc mới xuống được sân. Ngoài cổng chính ở giữa hai cột đồng trụ lớn còn có hai cổng phụ hai bên xây theo kiểu tám mái cửa vòm.

Toàn cảnh đền Bà Vũ. 


Qua một sân gạch rộng là vào khu đền chính. Toàn bộ khu đền được xây dựng theo kiểu chữ Môn khép kín. Đằng trước là bảy gian tiền đường với hệ thống vì kèo biến thể giá chiêng chồng rường con nhị. Công trình này chốn cột, các xà đều gác lên tường. Hai đầu hồi được xây bít đốc. Toàn bộ mái lợp bằng ngói nam. Mặt đằng trước ba gian giữa là hệ thống cánh cửa bằng gỗ lim, phần trên là chấn song con tiện, phía dưới đóng theo lối cửa bức bàn. Hệ thống tường xây đằng trước có 4 cửa sổ không có cánh được trổ hình chữ triện gồm 2 cửa tròn và 2 cửa chữ nhật. Phía ngoài cùng hai bên hồi là hai cột đồng trụ. Mặt trước nhà tiền đường có ba đôi câu đối được đắp bằng vữa.

Khu trung đường làm cao hẳn lên theo kiểu gác chuông nhưng có mặt bằng hình chữ nhật. Công trình gồm 4 cột cái ở giữa và 4 cột quân ở 4 góc làm theo kiểu chồng diêm gồm hai tầng mái, mỗi lớp có 4 mái với các đao góc được uốn cong lên. Toàn bộ kiến trúc này được lợp bằng ngói vẩy. Các mái ngói như những lớp sóng dâng dần lên cao, góp phần làm cho công trình thanh thoát đỡ nặng nề. 

Ngôi đền với các công trình nối tiếp bao xung quanh và nhà trung đường nằm ở chính giữa, với hai tầng mái vươn cao, nổi trội hẳn lên như một bông sen nở rộ kheo sắc dưới trời xanh. Đây chính là nét độc đáo của công trình kiến trúc tại đền.

Lễ hội đền Bà Vũ. 


Ba gian chính tẩm, tường phía sau và hai bên xây gạch, còn mặt đằng trước là hệ thống cửa bức bàn, nối liền với khu trung đường. Tất cả các vì kèo và bộ khung đều làm bằng gỗ lim, chạm khắc tuy đơn giản nhưng kỹ thuật đục đẽo láp ráp hết sức chính xác đã tạo nên một sự hoàn chỉnh vững chắc cho công trình.

Hai bên khu chính tẩm, về phái các đầu hồi, mỗi bên có ba gian. Về phái hai bên nhà trung đường, ở phái tây cũng có ba gian, còn về phía đông là một bức tường xây đã khép kín toàn bộ các công trình ở đây.

Căn cứ vào lịch sử nhân vật thờ tại di tích và truyền thuyết ở địa phương thì ngày từ thế kỷ XV ngôi đền này đã được xây dựng rất khang trang, hơn năm trăm năm qua, các công trình xây dựng chủ yếu bằng gỗ, chắc chắn chúng đã được tu sửa nhiều lần. Rất tiếc dấu vết kiến trúc của những lần xây dựng trước không để lại dấu vết gì trong công trình hiện nay. Toàn bộ ngôi đền cho đến lúc này đều mang phong cách của nền kiến trúc ở thế kỷ XIX. Tuy vậy nó vẫn tiếp thu được truyền thống, kiểu dáng, cổ truyền của dân tộc, đồng thời vẫn có những nét sáng tạo, góp phần làm phong phú thêm cho nền kiến trúc Việt Nam.

Như Quỳnh

Cả làng không ai được gọi bố bao giờ

đăng 08:37, 27 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Dù là bố nuôi hay bố đẻ thì không một người con nào được phép gọi là bố, mà phải gọi chệch đi là cha hoặc ba. Chuyện lạ này không ở đâu xa mà ở ngay một ngôi làng nhỏ thuộc Hà Nội.

Một góc làng Triều Khúc 


Ấy là làng Triều Khúc, xã Tân Triều (Thanh Trì, Hà Nội) gắn với một câu chuyện từ xa xưa đầy huyền thoại. Ngôi làng cổ ấy, vốn là nơi phát xuất điệu múa “con đĩ đánh Bồng” đầy cợt nhả nhưng cũng lại vô cùng nghiêm trang trong lời ăn tiếng nói.

Gọi bố là cha 

Cho đến nay, làng Triều Khúc có lẽ là ngôi làng hiếm hoi của Hà Nội còn giữ được những nét làng giữa thời ào ạt phố hóa. Vẫn còn những con đường đất mòn vết dép, vẫn còn những cổng nhà rêu phong cổ kính mà phía trên còn ghi dấu đôi chữ Hán và những ngôi nhà ngói mũi ở bên trong vẫn trang hoàng hệt thời xa xưa. 

Đấy là những vật thể còn nhìn thấy được như là thứ níu kéo con người ta nhớ về và giữ lấy những cái xa xưa đang dần mất. Còn một thứ, là tiếng nói lại không hề phôi phai, vẫn đặc sệt những phương ngữ là cơ duyên bảo tồn tốt nhất cho làng cổ. 

“Tục lệ kiêng không đặt tên con kỵ húy Bố Cái đại vương và không gọi bố là bố của làng Triều Khúc là một nét văn hóa xa xưa. Rất nhiều nhà nghiên cứu, kể cả các giáo sư Nhật Bản cũng về đây tìm hiểu và họ đều phát hiện ra những đặc sắc không đâu trên thế giới có được” 

Ông Nguyễn Hữu Vỵ, Chủ tịch UBND xã Tân Triều 

Cụ Cai làng Triều Khúc hiện thời là Nguyễn Huy Oanh cũng gật gù tự hào như vậy. Cụ bảo rằng, cái tục lệ không được gọi bố là bố đã có từ lâu lắm rồi. Nó đã thành lệ, thành một thứ luật làng mà chỉ duy có ở đây. “Gọi bố là cha, là ba, là thầy thì thoải mái, đúng phép đúng mực, chứ không ai được gọi là bố cả. Gọi là bố tức đã phạm lệ làng, là láo, là bất kính”, cụ Oanh khẳng định. 

Cho nên, từ đứa trẻ nhỏ mỗi khi bi bô tập nói, cha mẹ đã hướng con gọi bố là cha. Còn thanh niên choai choai, kể cả đứa ngổ ngáo ra ngoài không biết sợ ai, về đến làng vẫn khúm núm “lạy cha con về”. 

Và tôi thấy, người ngoài đến làng ngụ cư sau một thời gian thông lệ hiểu tục thì cũng bỏ hẳn từ bố. Còn khách lạ đến làng, không biết lệ nên cứ bô bô hỏi “bố ông đâu, bố bà đâu” thì y như rằng, người ta sẽ nhăn mặt như sợ sệt một điều gì đó ghê gớm lắm. 

Từ đầu đến cuối làng, từ trong đình ra ngoài chợ, những người con dù già hay trẻ cứ nhất nhất gọi bố là cha. Nhỡ có bà buôn thúng bán mẹt nào lỡ lời chửi mắng “sư bố mày”, thì người ta sẽ thấy một cuộc hối lỗi lấy làm thành tâm vô cùng. 

Tục lệ không được gọi bố đã có từ xa xưa 


Cha của dân làng 

Cụ Cai làng Nguyễn Huy Oanh khẽ thầm thì với chúng tôi bằng một câu hỏi: “Ông có biết vì sao làng tôi không được gọi bố không?”. Tôi lắc đầu, vì hỏi dân làng chẳng mấy ai giải thích cho tường tận. Và để khách lạ vỡ vạc ra những điều sâu thẳm, cụ Oanh giải thích: Làng Triều Khúc là nơi Phùng Hưng đặt đại bản doanh để đánh thành Tống Bình. Như thế là một vinh dự cho làng Triều Khúc, cho nên ở nghi môn đình bây giờ vẫn còn đôi câu đối: An Nam tráng khí sơn hà tại/Bình Bắc du linh thảo mộc chi. Tức là “Khí mạnh dựng trời Nam, núi sông còn mãi/Oai thiêng trừ giặc Bắc, cỏ cây còn ghi”.

Các cao niên tế lễ “Bố dân làng” - tức Bố Cái đại vương 


Phùng Hưng đem quân tiến về Tống Bình, suốt dọc đường hành quân, dân chúng nô nức kéo nhau đón mừng nghĩa quân như đi hội. Nhiều người nhập đoàn quân, nên khi các đạo quân tiến sát chân thành Tống Bình, thì Đô hộ phủ như một cù lao, giữa biển người mang binh khí trùng điệp. Cao Chính Bình lo sợ phát bệnh mà chết. Đô quan Phùng Hưng kéo quân vào thành Tống Bình dựng nền tự chủ, trị nước yên ổn được 7 năm thì mất. Nhân dân như mất cha, mất mẹ. Thời xưa tục gọi Cha là Bố, Mẹ là Cái nên tôn hiệu Đô quan là: Bố Cái đại vương. 

Ông Nguyễn Hữu Vỵ, Chủ tịch UBND xã Tân Triều cũng là người Triều Khúc thì khẳng định: “Bố Cái đại vương là một trong những danh hiệu người Triều Khúc gọi đầu tiên. Và cũng từ khi ngài mất, thì người làng tôi coi như cha như mẹ, bởi thế không ai được phép gọi bố mình là bố, cũng không ai được phép đặt tên con cái là Phùng hoặc Hưng”. 

Các cụ già làng Triều Khúc đều khẳng định danh hiệu Bố Cái đại vương là do người dân ở Triều Khúc gọi đầu tiên 


Từ đây “con đĩ đánh Bồng” 

Hẳn nhiều người đã từng xem điệu múa “con đĩ đánh Bồng”, một điệu múa đầy cợt nhả của những người đàn ông giả gái múa may lả lướt trong ngày lễ hội. Thì đây, điệu múa ấy phát xuất từ chính ngôi làng này và điệu múa ấy chẳng phải ai xa lạ mà chính do Bố Cái đại vương sáng tạo ra. 

Ở làng Triều Khúc bây giờ, người điều hành cả một gánh múa là ông Triệu Đình Hồng. Là nghệ nhân lâu năm nên ông cũng hiểu rõ tích xưa: Sau khi vỗ yên trăm họ, ngày 10 tháng Giêng năm Nhâm Tuất (728) Phùng Hưng đăng quang lên ngôi vua và mất năm Mậu Thìn 788. Tiếp nối cha, con của Phùng Hưng là Phùng An lên ngôi và tôn cha làm Bố Cái đại vương và cho các bậc hiền thần đi tìm những nơi có dấu tích của cha để lập miếu thờ. 

Nhà vua đã cử người về Triều Khúc cắm đất năm Canh Ngọ 790, đến mùa xuân năm Tân Mùi 791 mới bắt đầu dựng miếu trên gò Lĩnh Hán. Theo tương truyền khi Phùng Hưng khởi nghĩa đánh đuổi giặc Đường, mỗi khi thắng trận để tổ chức ăn mừng chiến thắng và khích lệ tinh thần của nghĩa quân, ông đều cho trai tráng là binh sỹ đóng giả con gái đeo trống nhỏ để múa hát và điệu múa trống Bồng ra đời từ đó. 

“Hơn 1000 năm nay, làng tôi đã theo cái lệ ấy. Tuy không thành hương ước bắt buộc, nhưng ai cũng ý thức về tập tục và là để tỏ tấm lòng kính tôn Bố Cái đại vương Phùng Hưng. Chúng tôi coi ngài như cha như mẹ mình vậy”, cụ Nguyễn Huy Oanh, Cai làng Triều Khúc.

Kiều Trang - Hưng Tiến


Bí ẩn hàng trăm ngôi mộ cổ ở núi A Mang

đăng 04:34, 14 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Hàng trăm ngôi mộ cổ nằm lẩn khuất trong những lùm cây dại ở phía Nam triền núi A Mang thuộc địa phận thôn Quảng Đức, xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Ngoại trừ một vài lần lãnh đạo Bảo tàng Phú Yên cử chuyên viên tiếp cận thực địa cách đây hơn chục năm, cho đến nay chưa có một cuộc khảo sát quy mô để kiểm đếm, thống kê chi tiết và đưa ra những luận cứ khoa học lịch sử minh chứng nguồn gốc, nên nhiều bí ẩn về những ngôi mộ cổ đó cần được các nhà khảo cổ, nghiên cứu văn hóa - lịch sử giải mã.

1. Sau nửa giờ thưởng thức vị đắng cà phê trong quán bình dân ở góc phố thị trấn Chí Thạnh, huyện Tuy An giữa buổi sáng tháng 5-2017, ông chủ quán đã chỉ dẫn tôi rời quốc lộ 1A đi về hướng Đông, non cây số là đến cầu Lò Gốm bắc qua cửa sông Hà Yến nối liền hữu ngạn hạ lưu sông Cái.

Phóng viên Chuyên đề CSTC dò tìm mộ cổ lẩn khuất bên trong những bụi cây dại trên triền núi A Mang.


Nằm cạnh hai con sông này là dãy núi A Mang sẫm màu sỏi đá khô cằn và cây dại lưa thưa từng bụi trên triền dốc. Từ cổng thôn văn hóa Quảng Đức nằm bên đường liên xã đi thêm một chặng đường vòng về hướng Nam trên hương lộ nhỏ, tôi nhờ người dân địa phương dẫn lên triền núi theo con đường mòn gập ghềnh rồi len lỏi vào những bụi cây dại mới lần lượt tìm thấy dấu tích mộ cổ với nhiều kiểu dáng khác nhau.

Trên đường đi, ông Sáu Hiệp – một nông dân sống bên chân núi A Mang từ thời thơ ấu tâm sự: “Tui sinh trưởng ở đây, từ khi còn nhỏ đã nhìn thấy những ngôi mộ cổ trên núi A Mang được các bậc tiền nhân mai táng từ đời nào lâu lắm rồi nên rêu phong bám đầy trên mộ. Do không biết nguồn gốc nên cư dân ở đây cho rằng đó là “mộ Hời” của đồng bào Chăm, còn thực hư ra sao chưa được cơ quan chuyên môn nào tra cứu và công bố”.

Ông Trần Mơi, 82 tuổi, trú ở thôn Ngân Sơn, thị trấn Chí Thạnh cho biết: “Tui canh tác ruộng lúa dưới chân núi A Mang gần năm chục năm rồi. Thời gian và những biến động thiên tai, mưa lũ đã làm mất dấu tích không ít ngôi mộ, nhưng đến bây giờ vẫn còn rất nhiều. Dưới chân núi thưa thớt nhưng lên triền dốc thì mật độ mộ cổ nhiều hơn”.

Tiếp cận và quan sát một số ngôi mộ cổ đã bị mưa nắng bóc gỡ lớp vỏ trên bề mặt mộ, chúng tôi nhận thấy, ngoài nguồn vật liệu là những viên đá tự nhiên góp nhặt từ núi A Mang còn có chất kết dính được nhiều người xưa nhận định đó là hợp chất, bao gồm vôi bột được nung từ san hô và những vỏ sò - ốc - hến; nước mật đường được chế biến từ cây mía; cát trắng gạn lọc từ dưới lòng sông… Hợp chất không chỉ sử dụng để xây mộ và còn đổ phủ trên bề mặt một lớp dày, rắn chắc.

Quần thể mộ cổ ở núi A Mang có 4 kiểu dáng kiến trúc: yên ngựa, mai rùa, búp sen và mái nhà. Nhiều nhất trong số đó là mộ yên ngựa được xây dựng khá đơn giản, ít nhất là mộ hình búp sen to lớn có kiến trúc công phu.

Phía trước mỗi bia mộ đều khắc họa những nét hoa văn trang trí, một số ngôi mộ xây tường bao quanh với bình phong phía trước và trụ biểu, cũng có ngôi mộ xây cổng hình vòm phía trước.

Trên trụ biểu, bình phong, cổng vòm nhiều ngôi mộ vẫn còn dấu tích nét khắc chữ Hán đã bị mòn mờ theo dòng thời gian hoặc bị thân nhân chủ động đục phá để che giấu tên tuổi người chết chỉ vì những lý do cần thiết.

Tất cả những ngôi mộ cổ ở núi A Mang đều hướng mặt về hướng Đông và Đông Nam, có nghĩa là thi hài người quá cố được mai táng hướng đầu về phía núi thuộc hướng Tây và Tây Bắc, không có bất kỳ trường hợp nào trái với nguyên tắc đó.

Lý giải nguyên do một số bia mộ không khắc tên tuổi người quá cố hoặc đã bị đục phá, một số người cho rằng, giai đoạn thế kỷ XVII – XVIII có nhiều cuộc chiến tái diễn ở vùng đất Phú Yên nên việc giấu tên người quá cố trên bia mộ nhằm mục đích né tránh đối phương trả thù, khai quật mộ để phơi xác.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Hoài Sơn, Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học – kỹ thuật Phú Yên - chủ biên tác phẩm “Di sản văn hóa đá ở Phú Yên”, đến thời điểm này ước tính hơn 500 ngôi mộ cổ còn tồn tại ở núi A Mang có thể khảo sát và nhận diện được.

2. Đề cập đến nguồn gốc hàng trăm ngôi mộ cổ trên núi A Mang, có nhiều thông tin khác nhau từ cư dân địa phương và những nhà nghiên cứu văn hóa – lịch sử. Không ít người cho rằng, đó là khu mộ cổ của đồng bào Chăm thời xưa, dân gian thường gọi là “mộ Hời”.

Ngược lại, có người nhận định đó là khu mộ cổ của người Hoa. Ít nhất hơn một thế kỷ đã qua, hàng trăm ngôi mộ cổ ở núi A Mang không có người thăm viếng, tu tảo. Chưa có gia đình, tộc họ nào đến đây nhận diện một trong những mộ cổ ở đó là tổ tiên, ông bà của họ.

Một số kết quả khảo cổ vùng hạ lưu sông Cái - một trong ba dòng sông lớn nhất ở Phú Yên cho thấy, địa hạt bên chân núi A Mang là cửa ngõ giao lưu buôn bán bằng đường bộ lẫn đường sông nên hội tụ khu dân cư sầm uất, thời xa xưa đã có nhiều người Hoa đến đây sinh sống an cư lạc nghiệp.

Theo đó, một số nhà nghiên cứu văn hóa – lịch sử ở Phú Yên đưa ra giả thuyết khu mộ cổ vô danh ở núi A Mang có nguồn gốc từ người Hoa. Tuy nhiên, ngược lại những nhận định, giả thuyết nêu trên, Thạc sĩ Nguyễn Hoài Sơn cho rằng, qua khảo sát thực tế những ngôi mộ cổ ở núi A Mang không tìm thấy yếu tố văn hóa mộ táng của người Chăm hay người Hoa, mà có nhiều đặc điểm văn hóa mộ táng của người Việt.

Thạc sĩ Sơn cho biết, mặc dù mộ cổ có kiến trúc rất độc đáo nhưng vẫn mang đậm dấu ấn văn hóa thuần Việt từ góc nhìn phong thủy dân gian trong mai táng cho đến những nét khắc họa hoa văn trang trí, cách thức bài trí, lập mộ. Với 4 kiểu dáng, nhưng rất nhiều ngôi mộ được xây dựng với quy mô khác nhau, tùy theo vị trí xã hội lúc sống của người an nghỉ dưới mộ.

Lật lại lịch sử 400 năm Phú Yên, Thạc sĩ Sơn nhận định, hơn 500 ngôi mộ cổ ở núi A Mang hình thành từ cuối thế kỷ XVIII, vì có cùng cách thức xây dựng như nhiều ngôi mộ cổ của một số dòng họ ở Phú Yên đã được xác định chính xác niên đại.

Với nhận định đó, Thạc sĩ Sơn đặt câu hỏi: Phải chăng những người an nghỉ dưới hơn 500 ngôi mộ cổ là binh sĩ của chúa Nguyễn Ánh đã hy sinh sau những trận chiến khốc liệt với binh sĩ nhà Tây Sơn năm 1793 – 1801?

Thời ấy, sau khi vua Quang Trung băng hà năm 1792, chúa Nguyễn Ánh tranh thủ thời cơ, cử danh tướng Tôn Thất Hội huy động đại quân đánh chiếm Phú Yên. Đến tháng 3-1794, sau khi vua Cảnh Thịnh nối nghiệp Quang Trung đã cử Thái úy Nguyễn Văn Hưng chỉ huy 4 vạn quân đánh chiếm lại Phú Yên và hợp sức với binh sĩ của danh tướng Trần Quang Diệu tiến đánh thành Diên Khánh, nhưng chỉ hai tháng sau đó, chúa Nguyễn Ánh huy động binh lực hùng mạnh nhất tấn công vào vịnh Xuân Đài và chiếm giữ Phú Yên.

Tháng 11-1794, quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tổng quản Trần Quang Diệu và Tư lệnh Lê Trung không chỉ đánh tan tác quân chúa Nguyễn ở Phú Yên, mà còn truy kích vào tận thành Diên Khánh.

Mấy năm sau đó, chúa Nguyễn Ánh cử danh tướng Nguyễn Văn Thành chỉ huy binh lính đánh chiếm Phú Yên (tháng 5-1799) và đánh chiếm thành Quy Nhơn (tháng 7-1799) trước khi đổi tên thành Bình Định. Đầu năm 1800, hai danh tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng chỉ huy binh lính đánh chiếm lại thành Bình Định.



Những ngôi mộ cổ trên núi A Mang.


Đến tháng 6-1800, chúa Nguyễn Ánh cử tướng Nguyễn Đức Xuyên chỉ huy binh lính đánh vào Phú Yên, trong khi danh tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu cử Đại đô đốc Đào Công Giản điều quân hổ đầu tinh nhuệ nhất vào Phú Yên phối hợp tướng Phạm Văn Điềm tăng cường phòng thủ Phú Yên.

Trước tình thế đó, Chúa Nguyễn Ánh huy động thêm tinh binh mãnh tướng tấn công vào Phú Yên khiến cho thế trận ác liệt, nhưng trong tháng 3 và 4-1801, Tham đốc Tây Sơn Phạm Văn Điềm chỉ huy binh lính phản công mạnh mẽ.

Ba tháng sau, Chúa Nguyễn Ánh huy động đại quân từ Phú Xuân hỗ trợ tướng Nguyễn Văn Thành đánh bại quân Tây Sơn, làm chủ hoàn toàn địa hạt Phú Yên trong tháng 7-1801.

Suốt 8 năm (1793 - 1801), Phú Yên luôn tái diễn nhiều cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh, nơi xảy ra ác liệt nhất là cửa biển Xuân Đài, ven vùng hạ lưu sông Cái và Bảo La Hai.

Điểm lại những sự kiện lịch sử nêu trên, một số người suy đoán rằng: “Trong những trận chiến đó, binh lính của chúa Nguyễn Ánh bị tử trận đã được bí mật chôn cất ở phía Nam dãy núi A Mang. Hầu hết những phần mộ đều được xây dựng kiểu dáng yên ngựa được coi là phương thức cách điệu “da ngựa bọc thây ở sa trường”.

Trong khi đó, ông Phan Đình Phùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên – người đã có hơn 30 năm đảm nhiệm công tác bảo tàng, khảo cổ và quản lý các hoạt động văn hóa cho biết: “Gần 200 năm kể từ 1471 đến 1658, vùng đất Phú Yên làm nhiệm vụ trấn biên. Dinh trấn biên – thủ phủ đầu tiên và cũng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa Phú Yên thời bấy giờ được xây dựng tại xã An Ninh Tây, huyện Tuy An ngày nay, nhưng vị trí chính xác tuyệt đối ở thôn Hội Phú, Bình Thạnh hay Tiên Châu vẫn còn nhiều thông tin khác nhau.

Vì sau ba thế kỷ, dòng sông Cái đã sạt lở, bồi lấp và biến đổi dòng chảy nên phế tích thành lũy Dinh trấn biên xưa đã vùi sâu dưới lòng cát. Thời đó, cư dân gần Dinh trấn biên và vùng hạ lưu sông Cái hội tụ sầm uất nên nhiều khả năng hàng trăm ngôi mộ cổ trên núi A Mang là của người Việt, mà minh chứng rõ nét là văn hóa mộ táng của người Việt xưa, nhưng được chôn cất sau nhiều đời cộng cư mới hình thành quần thể mộ cổ, nên không thể nhận định đó là những ngôi mộ binh sĩ của chúa Nguyễn Ánh…”.

Có dịp đến núi A Mang chiêm ngưỡng những kiểu dáng kiến trúc văn minh mai táng của tiền nhân, chắc hẳn nhiều người đều mong muốn các nhà khảo cổ đến từ những cơ quan chuyên môn sớm giải mã bí ẩn hàng trăm ngôi mộ cổ ở đó để làm sáng tỏ giá trị văn hóa, lịch sử, tâm linh…

Phan Thế Hữu Toàn

1-10 of 17