Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Ngọn núi thiêng gắn với huyền tích chữa bệnh ở Bình Thuận Núi Tà Cú nổi tiếng với huyền tích chữa bệnh cho hoàng thái hậu và bức tượng Phật nằm lập kỷ lục châu Á. Đây là ngọn núi thuộc huyện ...
    Được đăng 22:58, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Huyền tích Linh Sơn Thánh Mẫu núi Bà Đen Núi Bà Đen cao 986 mét so với mực nước biển và được xem là cao nhất Đông Nam bộ. Theo sách “Gia Định Thành Thông Chí”, tên gốc của ...
    Được đăng 01:18, 23 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bò đi Đá Nhảy Xưa kia có một giai thoại lý thú về câu đối như thế này:Ông nghè Nguyễn Duy Thiện (làng Lý Hoà, tỉnh Quảng Bình) và ông nghè Trần văn ...
    Được đăng 03:47, 5 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện về Thiên Y A Na, người sở hữu nhiều trầm nhất Khánh Hòa Bà Thiên Y A Na – mẹ xứ sở ở Tháp Bà Poh Nagar, theo truyền thuyết là hóa thân từ một khúc trầm hương hoặc có liên quan đến khói ...
    Được đăng 05:25, 26 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương và án oan của Thoại Ngọc Hầu Trung tâm thành phố Châu Đốc (An Giang) và di tích miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam nối với nhau bằng một con đường có cái tên rất lạ ...
    Được đăng 01:32, 25 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 17. Xem nội dung khác »


Ngọn núi thiêng gắn với huyền tích chữa bệnh ở Bình Thuận

đăng 22:58, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Núi Tà Cú nổi tiếng với huyền tích chữa bệnh cho hoàng thái hậu và bức tượng Phật nằm lập kỷ lục châu Á. 

Đây là ngọn núi thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, được biết đến như một thắng cảnh quốc gia với hệ thực vật phong phú. Núi cũng là chốn linh thiêng đối với khách mộ đạo.

Không xuất sơn vẫn có thể chữa bệnh cho hoàng thái hậu

Năm 1872, nhà sư Trần Hữu Đức (1812-1887) lên núi Tà Cú lập tịnh thất tọa thiền trong một hang đá. Năm Tự Đức thứ 33, hoàng thái hậu bệnh nặng, nhà sư đã trì chú và kê toa thuốc gửi sứ mang về chữa lành bệnh cho hoàng thái hậu. Thay lời cảm tạ, vua Tự Đức đã ban 4 chữ Linh Sơn Trường Thọ cho ngôi chùa trên núi Tà Cú, nơi nhà sư tu tập.

Khi nhà sư viên tịch vào ngày 5/10 Âm lịch năm 1887, ngôi chùa bên dưới Linh Sơn Trường Thọ, gọi là Linh Sơn Long Đoàn (chùa Dưới) được thành lập như một nơi để thờ cúng và ghi nhớ công ơn của người khai sơn.

Mái chùa Linh Sơn Trường Thọ trong không gian mây trời. Ảnh: Instagram 


Tương truyền, khi tọa thiền tại thạch thất (nay gọi là Hang Tổ), nhà sư dùng mạch nước ngầm thông với thạch thất để sinh hoạt hàng ngày, ăn rau rừng và không hề xuất sơn. Chính vì vậy, núi Tà Cú đến nay được xem là ngọn núi thiêng, có nhiều loại thuốc nam quý hiếm, là thắng cảnh của tỉnh Bình Thuận và danh lam thắng cảnh lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Khách thập phương đến đây để tận hưởng không khí trong lành, thanh tịnh của núi rừng, đồng thời, nơi đây cũng là "điểm hẹn" quen thuộc của khách hành hương.

Ngọn núi với tác phẩm điêu khắc tượng Phật nằm lập kỷ lục châu Á

Tọa lạc tở độ cao 649 m trên núi Tà Cú, tượng Phật Thích ca nhập niết bàn dài 49 m, cao 7 m trở thành điểm tham quan, chiêm bái của Phật tử gần xa. Tượng Phật nằm được xây dựng từ năm 1963 bởi điêu khắc gia Trương Đình Ý. Điều đặc biệt, khi thực hiện công trình, điêu khắc gia này đã thọ trai, xuống tóc và không xuống núi đến khi hoàn thành tượng Phật vào năm 1966.

Tượng Phật Thích ca nhập niết bàn an nhiên, thoát tục được xác lập kỷ lục "Tượng Phật nằm trên đỉnh núi dài nhất châu Á" năm 2013. 

(Ghi chú: Đây là hình lấy theo bài gốc trên VnExpress, hình này thực sự không phải là tượng Phật trên núi Tà Cú. Phạm Hoài Nhân)


Tượng Phật Thích ca nằm nghiêng được làm bằng xi măng cốt thép và quét vôi trắng bên ngoài. 49 m chiều dài tượng Phật tượng trưng cho 49 năm từ khi Đức Thích ca thành đạo thuyết pháp độ đời đến khi nhập diệt. Hiện câu hỏi về phương tiện thô sơ, sức người có hạn khi đó làm sao có thể vận chuyển hàng ngàn tấn thép, xi măng để hoàn thành tuyệt tác tượng Phật vẫn còn là điều bí ẩn.

Bên cạnh tượng Phật nằm là đường vào Hang Tổ với quần thể đá nhấp nhô. Hiện nay, trong quần thể đá này, nếu có duyên, du khách có thể tìm được "hòn đá chuông". Gọi như vậy vì khi dùng những viên đá nhỏ gõ vào sẽ phát ra tiếng kêu như tiếng gõ chuông.

Trước khi đến được tượng Phật nằm, khách thập phương có thể viếng tượng Phật Di Lạc được tạc từ đá bên vách núi; tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát trắng toát uy nghi và tượng Di Đà Tam Tôn (A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát).

Bước qua hơn 100 bậc thang dốc thoai thoải phủ rong rêu đến với cụm các tượng Phật, du khách có thể cảm nhận được sự thanh tịnh, bao bụi trần tan biến khi trước mắt là mái chùa Linh Sơn Trường Thọ thấp thoáng; những thảm cây xanh ngút ngàn; mây trôi bàng bạc; tiếng chim hót líu lo và âm thanh của núi thiêng vang vọng...

TTC World – Tà Cú đón khách thập phương đến giỗ tổ đấng khai sơn

Những ngày gần đây, Phật tử gần chùa núi Tà Cú đã cùng nhau sơn lại những tượng Phật để đón khách thập phương đến viếng, cúng bái và tri ân vị tổ sư khai sơn vào dịp giỗ tổ Trần Hữu Đức vào ngày 11/11 (nhằm ngày 5/10 Âm lịch).

Du khách có thể lên chùa viếng Phật bằng cáp treo – một trong các hệ thống cáp treo hiện đại nhất Việt Nam được đưa vào vận hành từ năm 2003.

Núi Tà Cú với không gian nguyên sơ - thắng cảnh tiêu biểu của tỉnh Bình Thuận và cũng là danh lam thắng cảnh lịch sử văn hóa cấp quốc gia. 


Trước khi lên cáp treo viếng chùa và đảnh lễ chư Phật, du khách có thể hòa mình vào không gian rừng núi thanh tịnh, an yên tại khuôn viên TTC World – Tà Cú. Nơi đây có những thảm cỏ xanh mát dưới những tán cây xanh rì; khu vườn hồng hạc và tượng 12 con giáp như những linh vật canh giữ nơi đây; vườn thuốc Nam với nhiều loại cây thuốc chữa bệnh; cây ước nguyện chuyên chở những tâm nguyện của du khách qua những dây băng hồng, đỏ; hoặc đơn giản, du khách có thể đắm chìm vào không gian núi rừng nguyên sơ tại đây.

Đáp ứng nhu cầu hành hương của khách thập phương, TTC World – Tà Cú dành chương trình ưu đãi đặc biệt trong dịp giỗ tổ sư Trần Hữu Đức. Cụ thể, đối với đoàn khách trên 10 người, nếu đặt ăn sẽ có giá vé là 170.000 đồng mỗi người lớn và 100.000 đồng với trẻ em; nếu không đặt ăn, giá vé sẽ là 200.000 đồng với người lớn và 120.000 đồng với trẻ em. Riêng đối với các sư thầy, ni cô sẽ được miễn phí trọn gói 100%. Đặc biệt, từ 14h đến 18h, giá vé sẽ là 200.000 đồng mỗi người lớn cùng với buffet chiều miễn phí.

Kim Ngân

Huyền tích Linh Sơn Thánh Mẫu núi Bà Đen

đăng 01:18, 23 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Núi Bà Đen cao 986 mét so với mực nước biển và được xem là cao nhất Đông Nam bộ. Theo sách “Gia Định Thành Thông Chí”, tên gốc của núi Bà Đen là Bà Dinh. Những bậc kỳ lão địa phương thì cho rằng tên gốc là núi Một. Đến khoảng nửa thế kỷ XVIII mới xuất hiện tên gọi núi Bà Đênh, sau gọi trại dần thành núi Bà Đen. Cũng có người gọi là núi Điện Bà.

Cũng theo các bậc kỳ lão, tên gọi núi gắn liền với những giai thoại ly kỳ của Bà Đen, người được vua Gia Long phong thánh hiệu "Linh Sơn Thánh Mẫu".

Ngày nay, cứ đến dịp rằm tháng giêng (âm lịch) hàng năm, cả triệu lượt khách hành hương khắp nơi tìm về núi Bà Đen để viếng, bái Linh Sơn Thánh Mẫu.

Trèo núi cấm không được kêu… mệt!

Ngày nay, con đường bộ lên núi được đầu tư xây dựng một cầu thang dựng đứng, đi vòng vèo quanh những tảng đá từ chân núi lên đến chùa. Chỉ cần mất 1 giờ để leo đến Điện Bà. Trước năm 1975, khách thập phương muốn lên chùa phải leo trèo qua những tảng đá dưới những tán rừng đầy thú dữ suốt nửa ngày mới đến nơi. Thuở đó, việc đi viếng Bà là cả một chuyến phiêu lưu, mạo hiểm đúng cả nghĩa bóng lần nghĩa đen. Dù vậy, danh tiếng linh thiêng, cứ đến rằm tháng Giêng (âm lịch) hàng năm, khách thập phương vẫn lũ lượt leo núi viếng Bà.

Một góc chùa ngày thường.


Hồi đó, có một giao ước bất thành văn rằng: Khi leo núi cấm thốt tiếng "mệt". Những đoàn người hì hục leo núi, thỉnh thoảng hỏi nhau: "Mệt không?" Cả đoàn người phải đồng thanh hô lớn: "Khỏe!", mặc dù ai cũng thở ra đằng tai. Tiếng hô "khỏe" lan truyền từ người mới đến chân núi lan dài đến người leo đến gần Điện Bà thành một thứ âm thanh vang dội núi rừng.

Cho đến tận ngày nay giao ước này vẫn tồn tại. Họ tin rằng, đi viếng mà than thở mệt nhọc, sẽ không được Bà ban điều khấn xin, thậm chí còn gặp nguy hiểm khi leo núi?

Bà Hai Đông, 82 tuổi, là cựu giáo viên thời Pháp, cư ngụ ở Tân Trung, ven Tỉnh lộ 793 dưới chân núi, giải thích: "Hồi kháng Pháp, đường lên núi không chỉ cheo leo hiểm trở, tăm tối mà còn đầy cọp, beo, rắn, rết. Người hành hương không dám đi lẻ một mình mà phải kết thành từng đoàn. Hồi còn thiếu nữ, chính tôi từng đi xem xác người bị cọp núi Bà vồ. Muốn đi vía Bà, đoàn người hành hương phải đi từ sáng tinh mơ mới kịp trở về chân núi trước khi trời tối.

Việc hô "khỏe" của các đoàn hành hương có nhiều lợi ích. Thứ nhất, họ tự khích lệ quyết tâm vượt qua cơn mệt nhọc và nỗi sợ hãi để đi đến nơi về thật sớm. Thứ hai, các thành viên của đoàn sẽ không lạc nhau. Thứ ba, việc hô to như vậy sẽ xua đuổi thú dữ. Lâu dần, việc hô như vậy thành lệ, truyền sang đời sau và biến thành niềm tin tâm linh là Bà cấm than mệt khi đi viếng Bà?"

Bà Hai Đông còn cho biết, ngày xưa Bà Đen nổi tiếng linh thiêng chỉ 2 phép: Phát duyên và phát vận. Căn cứ vào đó, hầu hết người đi viếng Bà chỉ cầu xin được tình duyên và gặp vận may. Các phép khác, Bà không ban.

Truyền thuyết về Bà Đen

Có đến 3 truyền thuyết về Bà Đen.

Truyền thuyết thứ nhất cho rằng, ngày xưa, chủ vùng núi này là người phụ nữ Phù Nam có tên là Rê Đeng. Do người đời sau đọc trại thành Đen.


Truyền thuyết thứ hai cho rằng, bà Đen tên thật là Lý Thị Thiên Hương, con gái một vị quan trấn nhậm Trảng Bàng thuộc triều Nguyễn tên là Lý Thiên. Mẹ là bà Ðặng Ngọc Phụng, người gốc ở Bình Ðịnh vào Trảng Bàng lập nghiệp.

Trong làng có chàng trai Lê Sĩ Triệt, mồ côi cha mẹ, được một nhà sư nuôi dạy từ nhỏ, văn hay võ giỏi.

Lần nọ, Thiên Hương lên núi cúng chùa bị một đám côn đồ vây bắt. Giữa lúc nguy khốn thì chàng Lê Sĩ Triệt xông ra đánh đuổi, cứu được nàng. Ðể đáp ơn chàng, cha mẹ nàng Thiên Hương hứa gả nàng cho Lê Sĩ Triệt. Chưa kịp đám cưới thì Lê Sĩ Triệt phải tòng quân đánh Tây Sơn.

Khi Lê Sỹ Triệt tòng quân, ở nhà Lý Thị Thiên Hương bị kẻ xấu vây bắt, toan hãm hiếp. Giữ lòng trung trinh, nàng Hương nhảy xuống khe núi tử tiết. Sau khi chết, nàng Lý Thị Thiên Hương hiển thánh báo mộng cho vị sư trụ trì trên núi biết. Trong mộng, nàng Hương xuất hiện trong hình dáng một người phụ nữ đen đúa? Vị sư bèn đi tìm thi thể nàng đem về mai táng. Vì vậy, vị sư gọi nàng là nàng Đen. Người đời sau gọi là Bà Đen để tỏ lòng tôn kính.

Truyền thuyết thứ ba có ghi trong quyển "Sự tích Thánh Mẫu Phật Bà Tây Ninh" rằng: Thuở mới khai hoang vùng đất, một viên quan trấn thủ vùng chân núi Một có 2 người con. Người con trai tên là Thạch Biên. Người con gái là Thạch Nương, có tên thường gọi là Đênh.

Khi nàng Đênh 13 tuổi, có một nhà sư tên là Trung Vân Danh, đạo hiệu Trừng Thanh tìm đến lưng chừng núi Một dựng chùa, thờ Phật và hoằng pháp độ sanh.

Mộ đạo, nàng Đênh đã xin theo nhà sư Trừng Thanh học đạo. Thấy nàng Đênh xinh đẹp, quan trấn thủ Trảng Bàng cho người mai mối xin cưới cho con trai. Khi hai gia đình chuẩn bị lễ vật cho lễ cưới thì bất ngờ nàng mất tích. Gia đình hai bên cho người tìm kiếm khắp nơi thì phát hiện một khúc chân nghi là của nàng Đênh. Mọi người đồn đoán rằng nàng Đênh đã bị cọp vồ. Gia đình mai táng khúc chân và lập mộ cho nàng dưới chân núi.

Từ đó, người ta gọi ngọn núi Một là núi Bà Đênh, đọc trại dần thành Bà Đen?

Khi chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đuổi, chạy đến núi Bà Đen lẩn tránh. Thiếu lương thực, từ vua đến lính đều đói lả. Nghe dân cư đồn về sự linh thiêng của bà Đen, trong cơn tuyệt vọng, chúa Nguyễn Ánh đã cầu khẩn xin phò trợ. Đêm đó, bà Đênh xuất hiện trong mộng của chúa Nguyễn Ánh. Bà cho biết Nguyễn Ánh đang nằm ngủ dưới gốc một loại cây cho trái có thể cứu đói binh sĩ.

Khi thức giấc chúa Nguyễn Ánh trông thấy trên cành cây mình đang nằm ngủ có nhiều quả nhỏ chi chít. Hái xuống ăn thử thì có vị rất ngon. Ông truyền cho binh sĩ hái loại quả ấy ăn lót dạ. Ông đã đặt tên cho loại quả ấy là "tùng quân".

Năm 1790, Nguyễn Ánh đưa binh lính quay lại núi đúc tượng, cất lại điện thờ. Sau đó phong sắc Linh Sơn Điện và phong Bà là Linh Sơn Thánh Mẫu.

Từ thuở khai hoang

Ngày nay, sau nhiều lần trùng tu, xây mới, trên nền xưa của Linh Sơn Tự hiện diện một ngôi chùa khang trang có tên gọi là Linh Sơn Tiên Thạch Tự vừa thờ Phật vừa thờ Bà Đen. Sự giao thoa tín ngưỡng mặc nhiên đó đã được người dân chấp nhận.

Căn cứ vào các nguồn sử liệu của Quốc Sử quán triều Nguyễn thì Vua Gia Long phong sắc cho Bà Đen. Điều đó có nghĩa là truyền thuyết về Bà Đen có trước khi Nguyễn Ánh vào núi lánh nạn Tây Sơn.

Và cũng có nghĩa là điện thờ Bà Đen có tên gọi chính thức là Linh Sơn Điện. Như vậy, Linh Sơn Điện là vị trí của ngôi chùa Thượng. Còn một hang đá do các vị sư chi phái Liễu Quán (thuộc phái Lâm Tế Chánh Tông) làm nơi ẩn cư niệm Phật, được gọi là Linh Sơn Thạch Động Tự hoặc chùa Hang.

Điện thờ Bà mang tín ngưỡng thờ Mẫu. Còn ngôi chùa là tín ngưỡng Phật giáo ẩn cư của chi phái Liễu Quán (Lâm Tế).

Trở lại lịch sử, vào thế kỷ thứ XVIII, khi các chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía Nam thì một số cao tăng thuộc Thiền phái Liễu Quán cũng theo làn sóng di cư xuôi Nam đi tìm chốn non hoang, động vắng tu pháp.

Năm 1763, Thiền sư Ðạo Trung Thiện Hiếu là đệ tử của Thiền sư Ðại Cơ và thuộc đời thứ tư của chi phái Liễu Quán tìm đến hang đá hoang vu trên núi Bà làm nơi định thiền. Đó chính là chùa Hang.

Lúc đó Thiền sư Đạo Trung đã nhặt được một số tượng đồng cổ. Trong đó có một tượng thánh nữ bằng đồng màu đen. Vị sư đã cất miếu hương khói cho bức tượng này.

Thuở đó đã có cư dân Việt và Cao Miên sinh sống dưới chân núi. Họ gọi Thiền sư Đạo Trung là "sư Bưng Đĩa" (Vì quan sát thấy Thiền sư thường nâng đĩa đựng hoa quả cúng tổ). Sau khi ẩn tu ở hang đá suốt 30 năm, Thiền sư Đạo Trung giao thạch điện cho đệ tử là Thiền sư Tính Thiện (tức Tánh Thiện Thanh Thanh). Thiền sư Đạo Trung về Thủ Dầu Một (Bình Dương) khai môn chùa Long Hưng. Kế nghiệp Thiền sư Tính Thiện là Thiền sư Hải Hiệp Từ Tạng.

Năm 1784, Nguyễn Ánh vào núi lánh nạn Tây Sơn. Năm 1790, Nguyễn Ánh sắc phong Linh Sơn Thánh Mẫu. Năm 1820, Vua Minh Mạng cử Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định Thành lần thứ 2. Và một lần nữa, Vua Minh Mạng ban sắc phong Linh Sơn Thánh Mẫu cho Bà Đen. Vua Minh Mạng còn ban chỉ cho Lê Văn Duyệt xây cất ngôi Linh Sơn Điện khang trang hơn.

Sau khi xây cất linh điện xong, Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã giao cho Thiền sư Hải Hiệp gìn giữ. Tín ngưỡng thờ Mẫu và Phật hợp nhất trong một ngôi điện thờ.

Năm 1857, Thiền sư Tánh Thọ Phước Chí từ chùa Phước Lâm, Tây Ninh lên núi thăm viếng thì phát hiện Thiền sư Hải Hiệp viên tịch từ lúc nào, thân xác đã hóa thổ. Điều lạ là, ngón tay út bàn tay trái của Thiền sư Hải Hiệp vẫn còn nguyên vẹn?

Thiền sư Tánh Thọ đã đem ngón tay út của Thiền sư Hải Hiệp chôn dưới đáy chùa Hang để lập bia mộ. Gần 100 năm sau, mộ của Thiền sư Hải Hiệp được tín đồ cải táng ra ngoài xây tháp. Khi đào lên, ngón tay út vẫn còn nguyên và được cải táng?

Sau khi chôn cất ngón tay cho sư phụ, Thiền sư Tánh Thọ tiếp tục tu hành tại Linh Sơn Điện.

Sau năm 1940, quân Pháp và quân Nhật lần lượt chiếm đóng núi Bà Đen và phá hủy hoàn toàn Linh Sơn Điện. Tượng Bà bằng đồng, màu đen bị chúng cướp và thất lạc.

Mãi đến năm 1956, một nhà giáo có uy tín ở địa phương, tên là Nguyễn Văn Hảo được một người phụ nữ đen đúa báo mộng cho biết, bà chính là Linh Sơn Thánh Mẫu. Bà bảo ông Hảo đến chùa Phước Lâm sẽ gặp bà? Ông Hảo bán tín bán nghi nhưng vẫn đến chùa Phước Lâm gặp vị sư trụ trì. Ông Hảo vừa kể xong câu chuyện nằm mơ thì vị sư trụ trì chùa Phước Lâm thất kinh xác nhận: "Một người lính Nhật đã bí mật giao cho tôi bức tượng trước khi về nước. Không ai biết chuyện này?" Câu chuyện này, được một nữ nhà giáo - con gái ruột của ông Nguyễn Văn Hảo - kể cho người viết nghe từ năm 1980.

Ngay sau khi phát hiện bức tượng đồng Bà Đen được cất giấu ở chùa Phước Lâm, nhà sư Nguyên Chất - Trụ trì chùa Phước Lâm - cùng nhà giáo Nguyễn Văn Hảo và bạn bè lên núi xây cất lại nơi thờ Bà. Lần xây cất này, công trình được đặt tên là Linh Sơn Tự. Vào khoảng 1970, quân đội Mỹ xây dựng 1 trạm ra đa tình báo đặt trên đỉnh núi để kiểm soát địa bàn Tây Ninh và dòm vào căn cứ Trung ương Cục. Trước khi đưa quân lên núi, giặc Mỹ đã ném hàng tấn bom đạn và hơi cay các loại vào những nơi chúng nghi ngờ có quân ta trú đóng. Do giao tranh ác liệt, ngôi chùa bị cháy bởi bom napal Mỹ. Bức tượng Bà lại thất lạc lần nữa.

Năm 1975, ni sư Diệu Nghĩa, đệ tử đời sau của sư Nguyên Chất đã xây lại chùa. Lần này, ngôi chùa có tên là Linh Sơn Tiên Thạch Tự. Năm 1992, ni sư Diệu Nghĩa đã cùng tín đồ tái thiết ngôi chùa suốt 3 năm. Ngày nay, ngôi chùa thật khang trang và rộng rãi, sẵn sàng cung nghinh khách hành hương viếng Bà, lễ Phật.

Nông Huyền Sơn

Bò đi Đá Nhảy

đăng 03:47, 5 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Xưa kia có một giai thoại lý thú về câu đối như thế này:


Ông nghè Nguyễn Duy Thiện (làng Lý Hoà, tỉnh Quảng Bình) và ông nghè Trần văn Thống (làng La Hà, tỉnh Quảng Bình) rủ nhau đi chơi. Khi đến bãi biển Đá Nhảy (thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình), hai người thở hào hển, vừa nhảy vừa bò qua các tảng đá. Ông Thiện nhìn cảnh ấy, xuất ra câu đối: Hùm hét La Hà.


Câu đối này lắt léo ở chỗ vừa diễn tả con hùm (cọp) hét ở La Hà (là tên làng, quê của ông Thống), lại vừa là 4 động từ diễn tả các hoạt động của miệng (hùm - hét - la - hà) và cũng đúng là các động tác mà bạn mình đang thể hiện.


Ông Thống đứng lại để... thở, và đối: Bò đi Đá Nhảy,


Câu đối lại này rất xuất sắc ở chỗ vừa diễn tả con bò đi ở Đá Nhảy (là chỗ hai ông đang đi), lại vừa là 4 động từ diễn tả các hoạt động của chân (bò - đi - đá - nhảy) và cũng đúng là các động tác mà hai ông đang thực hiện.


Có một câu chuyện kể khác về xuất xứ của đôi câu đối này. Rằng sau khoa thi Đình năm Nhâm Tuất 1862, để thử sức các vị tân tiến sĩ, vua Tự Đức ra vế đối: “Bò đi đá nhảy”. Một trong những vị tân tiến sĩ là ông Trần Văn Chuẩn, người làng La Hà tủm tỉm cười rồi thong thả đọc: “Hùm hét la hà”. Ngày nay trong nhà thờ họ Trần vẫn còn ghi lại giai thoại này.


Thôi kệ, ai xuất và ai đối cũng được, miễn là đời sau còn cặp câu đối rất hay. Tui biết cặp câu đối này từ hồi còn rất nhỏ, nhưng không biết hai điểm Đá Nhảy và La Hà ở đâu và có còn mang tên như vậy không. Sở dĩ không biết là vì 2 nơi này ở đâu đó bên kia vĩ tuyến 17.


Bất ngờ thay, giờ biết ra là cả Đá Nhảy và La Hà đều là những địa danh có thật và tồn tại đến tận bây giờ (các bạn không có điều kiện đến đó chỉ việc lên Google Maps search là ra ngay). Chẳng những vậy, đây còn là 2 địa điểm du lịch nổi tiếng nữa chứ!


Đá Nhảy nổi tiếng hơn La Hà. Đây là một quần thể núi đá nằm sát biển, phía dưới chân đèo Lý Hòa. Từ trên cao nhìn xuống, nơi đây như một bức tranh thiên nhiên độc đáo với muôn vàn khối đá mọc lên từ bờ cát. Bãi Đá Nhảy chỉ cách quốc lộ 01 một đoạn ngắn.


Bãi Đá Nhảy


Đến tham quan bãi Đá Nhảy, du khách như lạc vào một trận đồ của đá với muôn hình kỳ thú. Đá to, đá nhỏ, đá tảng, đá hòn, đá thẳng, đá nghiêng, đá kết đôi, xúm xít trên bờ biển (có lẽ vì vậy mà có tên là đá nhảy)Bãi tắm Đá Nhảy cũng không kém phần quyến rũ, với bờ cát bằng phẳng, mịn màng, nước biển trong xanh yên ả, phía trên có dải rừng phi lao bao phủ.



Bãi Đá Nhảy


Điểm du lịch đáng chú ý ở La Hà là đình làng La Hà, thuộc thôn La Hà, xã Quảng Văn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đây là môt ngôi đình lâu đời, nơi để tôn vinh những người con của vùng đất này có thành tích đỗ đạt cao. Đình làng La Hà được xây dựng vào năm 1859,  có khuôn viên rộng 2000 m2, trước mặt là nơi giao hội của các nhánh sông Son, sông Nan và các nhánh sông nhỏ.


Đình làng La Hà


Hai địa điểm này cách nhau khoảng 14 km theo đường chim bay, nhưng nếu đi bằng đường bộ phải đi một quãng gần gấp đôi như vậy. Còn nếu chỉ đến bãi biển Đá Nhảy (trên Google Maps ghi là Dancing Rock Beach) thì bạn đi theo quốc lộ 1, cách Đồng Hới 27 km về hướng Bắc.


Phạm Hoài Nhân

Chuyện về Thiên Y A Na, người sở hữu nhiều trầm nhất Khánh Hòa

đăng 05:25, 26 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Bà Thiên Y A Na – mẹ xứ sở ở Tháp Bà Poh Nagar, theo truyền thuyết là hóa thân từ một khúc trầm hương hoặc có liên quan đến khói trầm hương. Và trong tâm thức người dân cũng như nhiều huyền thoại về Bà Thiên Y A Na mà chúng tôi cóp nhặt, trầm hương ở xứ trầm hương Khánh Hòa, tất cả là của Bà, do Bà cai quản và “điều phối” nên muốn có thì phải khấn xin thành khẩn.

Một góc Tháp Bà. Ảnh: H.V.M 


Tiên nữ hóa thân thành khúc kỳ nam

Thiên Y A Na (hay là Poh Nagar theo tiếng Pháp) có nhiều sự tích vô cùng ly kỳ. Truyền thuyết của người Việt (được cụ Phan Thanh Giản chép lại thành một bài ký và Bố chánh sứ tỉnh Khánh Hòa là Nguyễn Quýnh khắc bia dựng phía sau tháp Poh Nagar) kể rằng: 

Xưa kia tại núi Đại An có hai vợ chồng ông tiều phu đến cất nhà và vỡ rẫy trồng dưa nơi triền núi. Dưa chín thường hay bị mất. Một hôm ông rình, bắt gặp một thiếu nữ trạc chín mười tuổi hái dưa, rồi giỡn dưới trăng. Thấy cô gái dễ thương, ông đem về nuôi, hai ông bà vốn không con cái, nên đối với thiếu nữ thương yêu như con ruột.

Tháp cao nhất là nơi thờ Bà Poh Nagar - người sở hữu trầm hương nhiều nhất Khánh Hòa. Ảnh: H.V.M 


Một hôm trời mưa lụt lớn, cảnh vật tiêu điều buồn bã, thiếu nữ lấy đá chất thành ba hòn giả sơn và hái hoa lá cắm vào, rồi đứng ngắm làm vui, ông tiều nặng tiếng la rầy. Ông không ngờ rằng con gái mình chính là tiên nữ giáng trần đương nhớ cảnh Bồng Lai. Đã buồn thêm bực! Nhân thấy khúc kỳ nam theo giòng nước nguồn trôi đến, tiên nữ bèn biến thân vào khúc kỳ, để mặc cho sóng đưa đẩy. Khúc kỳ trôi ra biển cả rồi tấp vào đất Trung Hoa. Mùi hương bay ngào ngạt. Nhân dân địa phương lấy làm lạ, rủ đến xem. Thấy gỗ tốt xúm khiêng, nhưng người đông bao nhiêu cũng không giở nổi. 

Thái tử Bắc Hải nghe tin đồn, tìm đến xem hư thực. Thấy khúc gỗ không lớn lắm, lẽ gì nặng đến nỗi không giở lên. Thái Tử bèn lấy tay nhắc thử và lấy làm lạ vì khúc gỗ nhẹ như tờ giấy! Bèn đem về cung, trân trọng như một bảo vật. Một đêm, dưới bóng trăng mờ, Thái tử thấy có bóng người thấp thoáng nơi để khúc kỳ nam. Nhưng lại gần thì tứ bề vắng vẻ, bên mình chỉ phảng phất mùi hương thanh thanh từ khúc kỳ nam bay ra. 

Chàng quyết rình xem suốt mấy đêm liền không hề thấy gì khác lạ. Chàng không nản chí. Rồi một đêm bốn bề im phăng phắc, một giai nhân tuyệt sắc theo mùi hương ngạt ngào trong khúc kỳ nam bước ra. Thái tử chạy đến ôm choàng. Không biến kịp, giai nhân đành theo Thái tử về cung và cho biết lai lịch. Giai nhân xưng là Thiên Y A Na. 

Thái tử đã trưởng thành, nhưng chưa chọn được người xứng ý. Nay thấy Thiên Y A Na xinh đẹp khác thường, bèn tâu cùng phụ hoàng xin cưới làm vợ. Vua đồng ý. Vợ chồng ăn ở với nhau rất tương đắc và sinh được hai con, một trai tên Trí, một gái tên Quý, dung mạo khôi ngô. Thời gian qua trong êm ấm. Nhưng một hôm, lòng nhớ quê thúc dục, Thiên Y A Na bồng hai con nhập vào khúc kỳ nam trở về làng cũ.

Tháp Bà Poh Nagar được xây trên một ngọn đồi trong vùng núi Cù Lao, hình như một chiếc nón lá úp sấp. Ảnh: H.V.M 


Núi Đại Am còn đó nhưng vợ chồng ông tiều đã về cõi âm. Thiên Y A Na bèn xây đắp mồ mả cha mẹ nuôi và sửa sang nhà cửa để phụng tự. Thấy dân địa phương còn man dã, Bà dạy họ cày cấy, dạy kéo vải dệt sợi và đặt ra lễ nghi… 

Từ ấy ruộng nương mở rộng, đời sống của nhân dân mỗi ngày một thêm phú túc phong lưu. Rồi một năm vào ngày lành tháng tốt, trời quang mây tạnh, một con chim hạc từ trên mây bay xuống, bà cùng hai con lên lưng hạc bay về trời. Nhân dân địa phương nhớ ơn đức, xây tháp tạc tượng phụng thờ. Và mỗi năm vào ngày Bà thăng thiên, dân đều tổ chức lễ múa bóng dâng hoa rất long trọng… 

“Khánh Hòa là xứ trầm hương/ Non cao biển rộng người thương đi về”. Rất nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á có trầm hương, nhưng không có nơi đâu trầm nhiều và chất lượng như ở Việt Nam. Tại Việt Nam, những nơi có núi cao rừng rậm như Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam đều có trầm hương nhưng không đâu nhiều và thơm như Khánh Hòa. 

Cho nên hễ nói đến Trầm Hương là nói đến Khánh Hòa mà nói dến Khánh Hòa là nói đến trầm hương. Nhưng ở Khánh Hòa, trầm hương nhiều nhất là Ninh Hòa và Vạn Ninh. Và nhiều, tốt nhất là trầm hương Vạn Giã của Vạn Ninh. Chả thế mà ca dao Khánh Hòa có câu: “Cây quế Thiên Thai mọc ngoài khe đá/ Trầm nơi Vạn Giã hương tỏa sơn lâm”. 

Dù là “trầm nơi Vạn Giã hương tỏa sơn lâm” nhưng tìm ra được trầm hương không phải là việc dễ. Như Quách Tấn viết trong biên khảo “Xứ trầm hương”: Người Khánh Hòa, nhất là người đi địu (đi tìm trầm trên rừng), tin rằng trầm hương là của Bà Thiên Y A Na. Bà cho ai thì người ấy được. Bằng Bà không cho thì dù đứng một bên cũng không tìm thấy. Có đôi kẻ có phước, không cố tâm đi tìm mà tự nhiên Bà cho hưởng lộc. 

Lại truyền rằng Bà có bốn cây trầm hương kỳ cựu trấn bốn phương: Một ở Ðồng Bò trấn phía Nam; một ở Hòn Bà (Ninh Hòa) trấn phía Bắc; một ở Hòn Dữ (Diên Khánh) trấn phía Tây; một ở Suối Ngổ trấn phía Ðông. Những cây trầm nầy không còn lá không còn giác, mưa nắng không thể làm hư mục được. Và có chim rừng canh, cọp rắn giữ. Hễ ai trông thấy mà có ý muốn chiếm hữu thì liền bị “lính canh giữ của Bà” đánh đuổi. Bởi vậy trước khi đi tìm trầm, người đi địu phải dâng lễ cầu khấn Bà. Và trong những rừng nào có nhiều cây gió đều có miếu, có am thờ Bà do những người đi địu lập, để tiện việc cúng kính trước khi vào rừng. 

“Hỏi xem điệu múa dâng Bà còn chăng?” 

Tháp Bà Poh Nagar được xây trên đồi Cù Lao, hình như một chiếc nón lá úp sấp. Phía Nam giáp sông Nha Trang, phía Tây và phía Bắc giáp núi và đồng bằng, trước mặt thì làng Cù Lao (Xóm Bóng) và biển. Quần thể di tích Poh Nagar có 6 tháp, trong đó có 4 tháp còn hiện hữu, 2 tháp chỉ còn lại nền móng cũ. Tháp Đông Bắc còn được gọi là tháp chính được xây bằng gạch nung cao 22,3m gồm có bốn ngọn. Ba ngọn nhỏ một ngọn lớn. Ngọn lớn ở phía Bắc, cao đến 23 thước. Theo nhà khảo cổ Henri Parmentier người Pháp thì tháp này do vua Chiêm Thành là Harivarma Đệ Nhất xây vào đầu thế kỷ IX. Còn các ngọn khác thì xây vào khoảng thế kỷ thứ VII, thứ VIII.

Trên những trụ biểu này là sân khấu múa Bóng dâng Bà ngày xưa. Ảnh: H.V.M 


Bà Thiên Y A Na được thờ ở ngọn tháp chính phía Bắc. Tượng nữ thần được tạc bằng đá xanh, cao lớn, ngồi xếp bằng trên một bệ cao rộng, cũng bằng đá xanh nguyên khối. Thần có 10 cánh tay. Hai tay đặt lên đầu gối, lòng bàn tay để ngửa. Còn tám tay khác thì giơ lên hình rẻ quạt và mỗi tay cầm một món binh khí, như đoản đao, giáo, ná, tên…. 

Y phục khắc theo kiểu chúng ta thường thấy ở các tượng đá của người Chăm: Đầu đội mão triều thiên (nhọn như mũ vũ nữ Thái Lan), thân chỉ che đôi mảnh xiêm y ở hạ thân và ở ngực. Tuy nhiên kể từ khi được “Việt hóa”, mặt tượng Bà đã bị sơn, vẽ mày, choàng áo cẩm bào và đầu đội thêm một ngọc miện nên trông như tượng gỗ. Cũng như tượng bà Chúa Xứ ở Châu Đốc (An Giang), không nhiều người biết đó vốn là một tượng… nam thần của nền văn hóa Óc Eo được “biến” thành "Bà chúa" bằng cách cho mặc váy, choàng cẩm bào, tô mặt vẽ mày và đội ngọc miệng, đeo trang sức… 

Cũng không nhiều người biết, Bà được vua Gia Long phong tặng “Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đẳng Thần” và cắt dân làng Cù Lao ba người sung làm từ phu. Các đời vua sau của triều Nguyễn, đời nào cũng có sắc phong. Thậm chí vua Đồng Khánh không chỉ sắc phong mà còn hạ mình xưng thần – là một trong những vị thần dưới trướng của Bà. 

Với người địa phương, ngoài danh hiệu Thiên Y A Na, còn tôn xưng Bà là “A Na Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi”, gọi tắt là bà “Chúa Ngọc” và gần như gởi trọn niềm tín ngưỡng nơi tháp, nhất là phụ nữ. Hàng năm cứ đến ngày 20 tháng 3 âm lịch người dân đồng bào Chăm- Việt lại gồng gánh sản vật về dự lễ hội Tháp Bà. Rồi đến gày vía bà (tháng 3 ấm lịch) nhân dân địa phương lại tổ chức lễ cúng tế rất long trọng cùng lệ múa Bóng ở trước sân tháp. 

Đây là một điệu múa rất đặc sắc của người Chăm truyền lại, được Quách Tấn miêu tả chi tiết trong “Xứ trầm hương”: "Người múa toàn là con gái. Áo xiêm rực rỡ; đầu đội, người cỗ hoa tươi, kẻ đèn lồng ngũ sắc. Đèn và hoa chồng cao như ngọn tháp. Vũ nữ múa theo điệu đàn điệu trống, đoanh lộn nhịp nhàng dưới ánh đuốc ánh đèn hừng hẫy. Họ múa rất khéo và dẻo vừa mềm, mà đầu và thân cũng luôn luôn ngã nghiêng uốn éo theo bước chân nhịp tay, rộn ràng đều đặn. Thế mà đèn và hoa đội trên đầu, không vịn không đỡ mà vẫn không hề lay không hề dịch, dường như có những bàn tay vô hình đỡ nâng không thể nào giải thích được. Đặc biệt việc tổ chức múa Bóng do người sống ở khu vực trước tháp phụ trách. Những vũ nữ cũng người trong xóm. Cho nên xóm mệnh danh là xóm Bóng thuộc làng Cù Lao". 

Cũng theo Quách Tấn viết trong “Xứ trầm hương” thì “Lệ múa Bóng ngày vía Bà đã bỏ từ thời vua Bảo Đại, trước đệ nhị thế chiến nên xóm Bóng không còn những bà bóng về ở để múa dâng Bà nữa. Nhân đó có câu hát: "Ai về xóm Bóng thăm nhà/ Hỏi xem điệu múa dâng Bà còn chăng?/ Thế thường tre lụn còn măng/Lẽ đâu tham đó bỏ đăng cho đành”. Ngoài múa Bóng, ở Tháp Bà còn có hầu đồng và hát văn của người Việt để hầu Bà trong những dịp lễ vía, nhưng cũng chung tình cảnh thăng trầm như múa Bóng vì rất nhiều lý do. 

Trầm của Bà giờ cũng như múa Bóng! 

Xóm Bóng bây giờ, đã là một khu đô thị thuộc phường Vĩnh Thọ, thành phố Nha Trang đường hẹp, người đông sống chen chúc nhau tưởng như không đủ không khí để thở. Một lượng lớn người dân xóm Bóng đã vượt biển ra nước ngoài từ những 1980, khi đất nước rơi vào khủng hoảng. Những người ở lại, hiện sống bằng nghề đi biển và… chờ ngoại tệ nước ngoài gởi về. Ngày chúng tôi tìm đến, xóm Bóng giờ chẳng còn ai biết và hứng khởi với việc múa Bóng dâng bà.

Hát văn, hầu đồng tại lễ hội Tháp Bà tháng 5.2018. Ảnh: Phương Linh 


Đội múa Bóng năm xưa, giờ chỉ còn mỗi bà Ba Kẹp – Đoàn Thị Kẹp cũng đã tròm trèm 72 tuổi. “Những thành viên khác của đội múa bóng nhiều năm trước đã theo chồng, theo con sang định cư bên Mỹ hết rồi” – bà Ba Kẹp cho biết. Bà Ba Kẹp có hai cô con gái cũng có học theo mẹ múa Bóng, nhưng “giờ một đứa thì lấy chồng ở Mỹ, một đứa lấy chồng ở Phần Lan”. 

Ngoài múa Bóng gần như đứt bóng, câu chuyện của hầu đồng và hát văn ở Khánh Hòa gắn liền với Tháp Bà cũng không có gì sáng sủa hơn. Theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Tứ Hải, một thời gian rất dài, hầu đồng, hát văn, thậm chí cả múa Bóng ở Khánh Hòa bị chính quyền coi là mê tín dị đoan nên ra sức cấm cản. “Ngay cả đến năm 2002, khi Tháp bà được công nhận là di tích cấp quốc gia thì các loại hình nghệ thuật đi kèm như vừa kể vẫn bị cấm không cho xuất hiện ở không gian diễn xướng này vì cho rằng… nhạy cảm. 

Vậy nên gần nửa thế kỷ qua, cả Khánh Hòa chỉ có duy nhất một nghệ nhân hát văn đúng nghĩa là Trịnh Thị Tâm, sinh năm 1955. Tuy nhiên đau xót là tháng 10.2017, bà Tâm đã qua đời vì bạo bệnh và gần như những gì tinh túy nhất của nghệ thuật hát văn ở Khánh Hòa bị chôn theo, để lại một không gian văn hóa Tháp Bà không hồn cốt và xuống cấp nghiêm trọng…” – ông Hải nói. 

“Xuống cấp nghiêm trọng”, theo lời ông Hải chính là việc nhiều người dân ở Khánh Hòa và các địa phương khác đang lợi dụng Bóng thánh để làm những việc không tốt. Là tình trạng hầu đồng, hát văn, múa Bóng biến tướng, lai tạp cộng với xin xăm bói toán đúng sai lẫn lộn. “Mấy năm trở lại đây trong những ngày vía Bà, người ta còn múa Bóng, hầu đồng trên nền nhạc… “Tiếng chày trên sóc bom bom” xập xập xình xình nữa quý vị ạ. Bà nào mà chịu nỗi những thứ âm thanh quái gở ấy?” – ông Hải than trời. “Việc khẩn cấp bây giờ là phải sớm có một hội thảo văn hóa để tập hợp các nhà nghiên cứu phân định, tường minh mọi thứ đúng sai đang diễn ra ở không gian văn hóa Tháp Bà. Bởi thuốc giả có thể chỉ chết một vài người nhưng văn hóa giả thì có thể giết chết cả mấy thế hệ” – ông Hải nói. 

Chợt nghĩ sao văn hóa tinh thần người ta dâng lên cho Bà cũng như câu chuyện “trầm hương ở Khánh Hòa là của bà Thiên Y A Na”. Giờ thì quý vật của bà – thứ trầm tự nhiên “hương tỏa sơn lâm” đã bị con cháu khai thác cho cạn kiệt. Và trầm của bây giờ - loại trầm từ cây dó bầu nhà trồng được đang thật giả lẫn lộn, thậm chí hương trầm còn tẩm cả hóa chất làm điên đảo con người…

Hoàng Văn Minh - Phương Linh

Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương và án oan của Thoại Ngọc Hầu

đăng 01:32, 25 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trung tâm thành phố Châu Đốc (An Giang) và di tích miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam nối với nhau bằng một con đường có cái tên rất lạ là Tân Lộ Kiều Lương. Ít người biết rằng, cách nay gần 200 năm muốn đến núi Sam, người dân phải chèo xuồng vượt qua lau sậy và con đường này gắn liền với một án oan của Thoại Ngọc Hầu.

Tân Lộ Kiều Lương/ Thoại Ngọc Hầu ngày nay. Ảnh: H.V.M 


Theo sử liệu, trong thời gian Thoại Ngọc Hầu trấn thủ Vĩnh Thanh, sau khi đắp thành Châu Đốc (1816) và đào kinh Vĩnh Tế (1819-1824), ông tiếp tục cho đắp một con lộ từ Châu Đốc đến chân núi Sam vào năm 1826 và hoàn tất vào năm 1827 để đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân. 

Con lộ này có chiều dài gần 5km bề ngang hơn 5m chạy từ ngã ba sông Châu Đốc nơi có đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh (đình Châu Phú) đến chân núi Sam tên là “Châu Đốc Tân lộ Kiều lương”.

Tân Lộ Kiều Lương sau gần 200 năm 


Tên gọi Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương bởi vì trên đường từ đình Châu Phú đến chân núi Sam có 4 cây cầu lót bằng ván để xe ngựa có thể qua lại dễ dàng. Tại những cây cầu này, người dân thu hoạch lúa từ cánh đồng Vĩnh Tế và khu Tứ Giác Long Xuyên có thể cập xuồng vào để vận chuyển lương thực. 

Sau khi con lộ hoàn thành, Thoại Ngọc Hầu đã cho dựng tại chân núi Sam tấm bia “Châu Đốc Tân lộ Kiều Lương” để ghi kỷ niệm ngày con lộ mới ra đời. Tiếc thay tấm bia đã bị vỡ, người ta chỉ tìm được một mảnh dầu bia còn được bốn chữ “ Châu Dốc tân lộ…..” gần lăng Thoại Ngọc Hầu. 

Đây là một áng văn mô tả việc đắp con lộ Châu Đốc và sự cực khổ của người dân trong vùng. Đặc biệt, trong bài bi ký này có một chi tiết rất lạ là Thoại Ngọc Hầu chỉ xin “lệnh trên” phê chuẩn chủ trương làm đường. 

Còn chi phí do ông lấy từ bổng lộc cá nhân và các quan viên lân cận quyên góp, nhân dân hỗ trợ sức người và xe cộ... Và cuối bài bi ký ông chỉ khiêm tốn nhận xét việc mình làm rằng: “Làm việc ấy chính là đã tỏ chút lòng đền đáp của kẻ chăn dân”. 

Sau gần 200 năm, tấm bia ký đã hòa mình vào gió bụi biên cương nhưng Tân Lộ Kiều Lương thì vẫn còn đó với 8 làn xe và 2 tên đường khi đoạn xuất phát ở trung tâm thành phố Châu Đốc có tên là Nguyễn Văn Thoại.

Lăng mộ Thoại Ngọc Hầu dưới chân núi Sam. Ảnh: H.V.M 


Và dù là Tân Lộ Kiều Lương hay Nguyễn Văn Thoại thì con đường này cũng gắn liền với một sự kiện lịch sử đặc biệt. Bởi chính Tân Lộ Kiều Lương là một trong những lý do khiến sau khi qua đời, Thoại Ngọc Hầu bị dinh vào một án oan và bị vua Minh Mạng Minh Mạng xuống lệnh tịch thu gia sản, rồi truy giáng ông từ hàm nhị phẩm xuống thất phẩm, tước quyền tập ấm của con trai, bao nhiêu gia sản đều sung công. 

Dù trước đó năm 1829, khi Thoại Ngọc Hầu qua đời, ông không những được truy thăng chức vụ, thưởng thêm nhiều tiền và gấm lụa, mà con trai trưởng còn được tập ấm chức Ân kỵ úy. 

Chuyện là một ngày đẹp trời, quan Thị lang Tào Hình Bộ là Võ Du đi dò xét tình trạng dân Chân Lạp trở về đã báo cáo với quan Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt rằng Nguyễn Văn Thoại khi lĩnh chức Bảo hộ, ngày thường bắt dân Chân Lạp đi lấy gỗ táu đem nộp mà không cấp tiền và gạo, lại bắt dân Chân Lạp đắp đường cái (Tân Lộ Kiều Lương) để phục vụ việc đưa tang vợ từ Châu Đốc ra núi Sam… 

Lê Văn Duyệt đem lời tố cáo ấy tâu lên triều đình, lập tức vua Minh Mạng ra lệnh tịch thu gia sản và giao cho Bộ Hình nghiêm trị. Vụ việc này khiến Minh Mạng ghét Thoại Ngọc Hầu đến nỗi vào tháng 7 năm 1830, khi một vị quan ở Gia Định dâng sớ xin cấp phu trông coi mộ ông, nhà vua thẳng thừng từ chối. 

Chưa hết, tháng 3.1838, Nguyễn Văn Quang (là cháu họ của Nguyễn Văn Thoại, đồng thời là cháu nội của Khâm sai Thuộc nội Chưởng cơ Nguyễn Văn Bình) đã cùng Lê Văn Sơn (cháu họ của Lê Văn Duyệt) đang là tù phạm bị giam ở ngục tỉnh Gia Định, bàn mưu vượt ngục chiếm giữ thành phản lại triều đình. Mấy người này sau đó bị bắt, bị kết án xử tử lăng trì. Lần này thì Thoại Ngọc Hầu liên luỵ, bị triều đình lấy lại các sắc dụ đã cấp và bị tước luôn hàm Chánh ngũ phẩm...

Tượng Thoại Ngọc Hầu trong đền thờ ông ở chân núi Sam. Ảnh: H.V.M 


Thực tế thì lịch sử đã chứng minh những lời của Võ Du là vu cáo, không có cơ sở nhưng phải đến thời Khải Định, tức gần 90 năm sau, Thoại Ngọc Hầu mới được minh oan, danh dự của ông mới phục hồi khi được phong thần (Đoan Tức Dực Bảo Trung Hưng Tôn thần). 

Chuyện án oan của Thoại Ngọc Hầu có gì đó hơi buồn cười khi vua Minh Mạng và cả Tổng trấn Lê Văn Duyệt thời đó chỉ nghe tâu một chiều mà không cần suy xét. Nhưng ngẫm lại thấy cũng chẳng có gì lạ khi ngay cả văn minh và hiện đại như bây giờ, vẫn đầy rẫy án oan chồng án oan mà đôi khi chẳng có “đèn giời” nào soi tới… 

Từ Ân

Huyền tích chùa Hang

đăng 02:30, 2 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Kompong Chray là ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer tọa lạc tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Dân gian thường gọi đây là chùa Hang vì cổng phụ của ngôi chùa được xây theo kiểu mái vòm nhìn giống như cái hang.

Chùa Kompong Chray hay còn gọi là chùa Hang, chùa Kompongnigrodha 


Chôn đá tính tuổi chùa… 

Chánh điện chùa xây dựng trên nền đất cao. Mái của chánh điện được cấu tạo gồm nhiều lớp chồng lên nhau, trên đỉnh là chóp tháp cao vút, uy nghi. Phía trước nhà khách và tăng xá là tháp cột cờ, chân tháp có bộ phù điêu 7 đầu rắn thần Naga. Hai bên có bộ bánh xe 12 căm tượng trưng thập nhị nhân duyên. Đây là ngôi chùa cổ có kiến trúc rất độc đáo, nằm giữa vườn cây sao, dầu, cây me rộng chừng 2 ha, quanh năm thu hút hàng ngàn chim cò, vạc, cồng cộc… về đây làm tổ. 

Nghệ nhân Sơn Sốc, người gắn bó với ngôi chùa này từ nhỏ để học nghề rồi truyền nghề điêu khắc gỗ lại cho các phật tử, cho biết: “Theo các sư thầy kể lại, ngôi chùa được thành lập vào năm 1637, vị sư đầu tiên là Thạch Thiệp. Đến nay chùa đã qua 24 hòa thượng trụ trì và nhiều lần được trùng tu sửa chữa. Do ảnh hưởng chiến tranh, hồi tháng 2.1968 chùa bị trúng bom làm hư khoảng 70% ngôi chánh điện và làm sập thư viện 3 tầng. Năm 1969 chùa xây dựng lại thư viện, chánh điện và tăng xá”. 

Ngôi chánh điện chùa Hang 


Chim cò tụ họp trên các ngọn cây cổ thụ 


Cũng theo nghệ nhân Sơn Sốc, chánh điện cũ chỉ có hai mặt theo hướng đông tây, đến năm 2000 được xây lại bốn mặt và sửa lại mái ngói. Hiện nay, chùa còn lưu giữ được một số tượng đá cổ quý nhưng bị sứt mẻ thời chiến tranh, đặc biệt là 4 pho tượng trong bộ Quá khứ thất Phật. Riêng tượng Thích Ca lớn ở chánh điện sau trận bom may mắn vẫn còn và được tu bổ lại. Hiện nay, chùa Hang do sư cả Thạch Suông trụ trì. Sư là người có công lớn trong việc vận động phục dựng lại chùa. 

Cũng như các chùa Khmer theo hệ phái Nam tông khác ở Trà Vinh, cách tính niên đại của chùa khá độc đáo là dựa trên biên niên các cục đá được chôn hồi khai sơn lập tự. Theo lời kể của các sư, khi động thổ cất chùa, người Khmer tiến hành lễ chôn đá Kiết giới. Lễ này lấy từ tích Phật Thích Ca khất thực. Mỗi khi đi trai giới, ngài bẻ một nhánh cây cắm xuống đất, chư tăng họp xung quanh. Chỗ nào đức Phật cắm cây thì lấy chỗ đó xây chùa. Khi tiến hành lễ chôn đá, các sư đặt một cục đá trên đó chạm hình đầu Phật, có ghi ngày tháng. Mỗi lần trùng tu hay cất lại chùa mới cũng làm lễ này. Về sau, nếu muốn biết niên đại của chùa thì chỉ việc đào cục đá ấy lên thì sẽ rõ. 

Trong lễ chôn đá có nghi thức ném vật cầu nguyện. Người cầu nguyện đi 7 vòng quanh hố chôn đá rồi ném xuống một vật. Ví dụ người muốn học giỏi thì ném quyển sách, người muốn giàu thì ném tiền bạc, con gái muốn có chồng hạnh phúc thì ném nữ trang… Vì vậy, khi đào gặp những chiếc hố cổ xưa này, người ta thường gặp nhiều bạc vụn. 

Cổng chính... 


... và cổng phụ chùa Hang 


Và chuyện 12 con giáp 

Đối diện với chánh điện chùa Hang là quần thể tượng 12 con giáp, được bố trí hình vòng cung đắp nổi cặp rồng uốn lượn như chiếc thuyền. Đầu rồng ngẩng trên hai trụ đắp phù điêu thần Yak (chằn tinh được Phật cải hóa) và Voi. Nhìn từ bên trái sang là các tượng bao gồm các thần tiên và chằn cỡi chuột, cỡi bò, cọp, thỏ và rồng, tương ứng với Tý - Sửu - Dần - Mẹo - Thìn của người Việt. 

Về phía bên phải cũng theo trình tự gồm các vị thần tiên cỡi dê, khỉ, gà, chó và thần cỡi heo xếp ngoài cùng. Chính giữa có vị thần cỡi đầu rắn Naga và thần cỡi ngựa bố trí sát bình phong. Trên tấm bình phong là một kiến trúc xây tháp 4 mặt có mái che, hai bên có tượng nữ thần Kinnari chống đỡ mái, trên cùng là bộ tượng 8 vị Phật chắp tay. 

So sánh với 12 con giáp của người Việt thì bộ tượng này con thỏ thay cho mèo (Mẹo), con bò thay cho trâu (Sửu). Theo giải thích của các sư, con bò trong 12 con giáp của Khmer ảnh hưởng văn hóa Bà la môn giáo, đó là bò thần Nandi vốn là con vật cưỡi của thần Shiva. Vào ngày Tết Chol Chnam Thmay, người Khmer căn cứ quyển Đại Lịch để đón giao thừa và dựa trên 12 con giáp để bói xem năm mới tốt hay xấu. Điều này xuất phát từ cổ tích về vị thần Bốn Mặt được kể lại như sau: 

Tháp cột cờ có bộ phù điêu 7 đầu rắn thần Naga 


Bộ tượng 12 con giáp ở chùa Hang 


Thuở Ngọc đế Indra tạo nên Trời Đất, có vị Quốc vương hạ sinh một hoàng tử tên là Thomma Bal. Từ nhỏ, vị hoàng tử này rất thông minh học đâu nhớ đó. Năm 7 tuổi, hoàng tử thông thuộc các sách thiên văn, bói toán, kinh điển. Tiếng khen bay tới thiên đình, thần Kabil Môhaprum (thần Bốn mặt) nổi lòng ghen tức nên tìm cách hại hoàng tử. Thần bay xuống trần gọi hoàng tử đến gặp và ra câu đố về “cái duyên con người trong một ngày” rồi giao hẹn trong 7 ngày nếu đáp đúng thì ngài sẽ tự chặt đầu, còn trái lại hoàng tử phải dâng đầu cho ngài. 

Dù suy nghĩ suốt ngày, hoàng tử Thomma Bal vẫn không tìm ra lời giải. Bấy giờ, trên ngọn cây có 2 con chim linh chuyên ăn thịt đang nói chuyện với nhau là sẽ ăn thịt hoàng tử vì không giải được câu đố và vô tình tiết lộ lời giải. Nghe được, hoàng tử vội trở về dinh mừng rỡ khôn cùng. Hôm sau, đúng hẹn, thần Bốn Mặt cầm gươm vàng bay xuống. Hoàng tử ra lạy nghinh tiếp và trả lời đúng như những gì con chim linh nói. Thần Bốn Mặt nghe xong biết mình đã thua cuộc, liền dặn các con sau khi ngài tự chặt đầu thì đem đầu mình để trong một ngôi tháp. Mỗi năm, thay phiên nhau rước đầu đi quanh ngọn núi Tudi và đừng cho người trần chạm đến vì nếu đầu rơi xuống biển thì biển sẽ cạn khô. Quăng lên trời thì không có mưa, để trên mặt đất thì đất sẽ khô cứng… 

Từ đó về sau, mỗi năm một lần, 7 cô con gái của thần Bốn mặt thay phiên nhau xuống trần, vào tháp bưng đầu của cha đến núi Tudi, theo hướng Mặt trời đi vòng quanh chân núi ba lần. Các vị thiên tôn con của Ngọc đế Indra cũng cỡi thú đi theo đám rước. Mỗi năm một vị thay đổi theo 12 con giáp. Qua 12 năm thì vị thứ nhất trở lại. Mỗi vị cỡi thú, ăn mặc và sử dụng khí giới khác nhau. Dân gian luận theo những điều ấy mà đoán điều hung kiết cho năm mới. 

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, nhóm tượng 12 con giáp ở chùa Hang là yếu tố văn hóa dân gian xâm nhập vào Phật giáo, bởi về nguyên tắc các chùa của người Khmer theo hệ phái Nam tông không có. Hơn nữa, nhóm tượng này đã được bố cục trình tự theo kiểu 12 con giáp của người Việt, chỉ thay đổi hai con Trâu và Mèo.

Hoàng Phương

Đình làng kỳ sự: Linh thiêng ngôi đình thờ chữ 'Tổ quốc'

đăng 03:27, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Bởi chính 2 chữ Tổ quốc trên bức hoành phi treo trang trọng giữa ngôi đình Xuân Dương (Q.Liên Chiểu, Đà Nẵng) mà trong chiến tranh, quân địch không dám đụng vào đình, bằng không đã san phẳng…

Đình làng Xuân Dương với bức hoành phi đặc biệt góp phần giữ đình trong chiến tranh. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Tổ quốc là trên hết

Năm nay đã 79 tuổi nhưng cụ Lê Trọng Bính (nguyên Trưởng ban lễ đình Xuân Dương) vẫn còn minh mẫn và khắc nhớ nhiều câu chuyện về ngôi đình. 

Chỉ tay về phía trụ biểu trước đình, cụ Bính đọc lớn: “Nhâm Thân kiến tạo xã cát Bảo Đại thất niên phân sách bộ”, nghĩa là năm Nhâm Thân Bảo Đại thứ bảy (1931), làng Xuân Dương chính thức chia tách khỏi làng mẹ Xuân Thiều. Cũng từ đó mà đình làng được lập nên để thờ thành hoàng làng”. 

Theo lời cụ Bính, ban đầu, đình chỉ được dựng tranh tre tạm bợ để có nơi cả làng cùng hướng về trong ngày giỗ chạp. Thế rồi trong thời buổi chiến tranh, đình nhanh chóng xuống cấp khiến ai nhìn thấy cũng không khỏi xót xa. Các bậc cao niên trong làng lúc này mới bàn việc dựng lại ngôi đình bề thế hơn. 

Bức hoành phi với 2 chữ Tổ quốc được treo trang trọng tại tiền đường đình Xuân Dương. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Sáu năm sau ngày Xuân Dương được chia tách, cả làng một lần nữa dựng lại đình Xuân Dương. Chiếc đòn đông độc đáo có khắc dòng chữ Bảo Đại Đinh Sửu niên nhị nguyệt thập ngũ nhật cát nhật Xuân Dương xã bổn xã cẩn tạo để ghi dấu năm dựng đình, tức Đinh Sửu (1937). 

Không riêng gì cụ Bính mà nhiều người già trong làng đều kể rằng khung đình Xuân Dương hiện tại là do một người phụ nữ trong làng gìn giữ, bảo quản sau khi mua lại nhà thờ ở xã Hòa Liên (H.Hòa Vang). 

Chiến tranh ác liệt nổ ra, cảnh nhà tan cửa nát, người dân giữ tính mạng đã khó nên trong suốt một thời gian dài đình làng Xuân Dương không được tu bổ. 

Mãi đến năm 1964, ngôi đình mới được đại trùng tu và giữ nguyên trạng cho đến ngày nay với lối kiến trúc “chồng rường giải thủ” độc đáo cùng nghệ thuật chạm khắc gỗ cực kỳ tinh xảo. 

Đình Xuân Dương là một trong số ít ngôi đình tại Đà Nẵng có kiến trúc cổ đẹp mắt. ẢNH: HOÀNG SƠN 


“Tháng Giêng năm 1964, nhờ có kinh phí dành dụm mà các cụ trong làng đã nghĩ đến việc sửa sang cho ngôi đình khang trang hơn. Khi trùng tu thêm lần nữa vào năm 2004, trụ biểu vẫn ghi rõ năm đó là lần trùng tu “đại căn cơ” với đầy đủ hạng mục”, cụ Bính kể. 

Cụ Lê Văn Chước (75 tuổi), Trưởng ban lễ đình Xuân Dương chỉ tay vào tấm hoành phi đỏ chót treo giữa tiền đường, góp chuyện: “Cũng từ năm đó mà đình Xuân Dương chúng tôi thờ 2 chữ Tổ quốc. Các cụ lý giải, ai cũng có Tổ quốc và Tổ quốc là trên hết. Đình làng là nơi thờ phụng thì cũng là nơi thờ Tổ quốc”. 

Bởi chính 2 chữ Tổ quốc thiêng liêng mà từ sau 1964, dù chiến tranh ngày càng trở nên khốc liệt nhưng đình làng vẫn uy nghiêm tồn tại. Không những vậy, địch có phần ái ngại khi đụng vào mảnh đất đình tọa lạc. 

Bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp TP được treo trong ngôi đình. ẢNH: HOÀNG SƠN 


“Động đến đình là động đến Tổ quốc” 

Cụ Lê Trọng Bính kể núi Xuân Dương nơi ngôi đình tọa lạc vốn là dãy núi đá kéo dài ra phía biển. Trong thời kỳ Pháp thuộc, một phần dãy núi đã được san bạt để làm tuyến đường sắt. Từ đó, phần núi phía sau lưng đình bị khuyết một vùng lớn. 

Từ năm 1965 - 1966, quân địch cho cày phá ngọn núi Xuân Dương để khai thác vật liệu về làm Sân bay Đà Nẵng khiến cảnh tượng tan hoang. Trong những năm 60 thế kỷ trước, để phục vụ sân bay quân sự, phía Mỹ đã lên kế hoạch san phẳng ngọn núi. 

“Nếu vậy thì ngôi đình chắc chắc sẽ không còn giữ được. Cả làng như ngồi trên đống lửa vì đình chỉ mới vừa trùng tu xong vào năm 1964. Lúc này, cha của ông Đặng Xuân Sơn (nguyên Trưởng ban lễ đình) vốn là quan dưới triều vua Bảo Đại thông thạo Pháp ngữ, Hán văn mới nghĩ ra cách làm bức hoành phi để thờ”, cụ Bính nhớ lại. 

Một mặt bỏ ra số tiền 110 đồng để thuê thợ giỏi, một mặt cha ông Sơn nghĩ ra 2 từ Tổ quốc để thợ khắc chữ và sơn son thếp vàng. Khi làm xong, bức hoành phi được treo ngay chính gian giữa ở vị trí trang trọng nhất. 

Tuy đang bị xuống cấp nhưng gian chính ngôi đình mang đậm nét kiến trúc cổ độc đáo. ẢNH: HOÀNG SƠN 


“Nếu thờ chữ Tổ quốc thì bất cứ ai cũng phải dè dặt khi đụng tới ngôi đình”, ông Bính kể. Cũng vì tấm hoành phi mà cha ông Sơn đã bị chính quyền Việt Nam cộng hòa hạch sách. 

Ông liên tục bị mời lên để truy vấn về ý nghĩa chữ Tổ quốc, ẩn ý khi thờ phụng chữ Tổ quốc là gì. Vì là người lý lẽ, nói chuyện thấu tình đạt lý mà chính quyền cũ đã nhượng bộ. 

Cụ Lê Trọng Bính nhận định: “Đình làng thờ chữ Tổ quốc đã khiến chính quyền Việt Nam cộng hòa chùn tay trong việc khai thác ngọn núi. Động đến đình là động đến Tổ quốc. Phía chính quyền cũng nhận thấy nếu bán đá từ ngọn núi sẽ ảnh hưởng đến ngôi đình và nên mọi việc đều dừng lại. Nếu không, quân Mỹ đã lấy nguyên quả núi, bãi đất thì đình chẳng còn cách nào giữ được”.

Năm 2007, đình làng Xuân Dương được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật cấp TP. Để có được danh hiệu về kiến trúc, người dân địa phương tin rằng đình Xuân Dương luôn có những điều linh thiêng. Mà bằng chứng là trong chiến tranh ác liệt đến mấy thì ngôi đình vẫn nguyên vẹn từng rường cột, đòn tay như được sự che chở của tiền nhân.

Hoàng Sơn - Huy Đạt

Đình làng kỳ sự: Độc đáo 'ngôi đình' với lễ hội tắt bếp

đăng 03:20, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Với người dân Trà Kiểm (xã Hòa Phước, H.Hòa Vang, TP.Đà Nẵng), miếu Ông ngay giữa làng không khác gì ngôi đình gắn liền với lễ hội có một không hai - lễ hội tắt bếp.

Lễ hội tắt bếp của người Trà Kiểm gắn liền với 'ngôi đình' Ông ngay giữa làng. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Bữa cơm chung của cả ngàn người 

Với mỗi gia đình, bếp lửa trong nhà đều đóng vai trò quan trọng, biểu tượng cho sự ấm êm, hạnh phúc. Bởi vậy, thoạt nghe cái tên lễ hội, cũng như chúng tôi nhiều người rất băn khoăn: tắt bếp thì chuyện cơm nước mỗi gia đình sẽ thế nào? Tắt bếp để làm gì? 

Phó thôn Trà Kiểm Nguyễn Hữu Thắng cho biết không riêng gia đình nào mà đúng ngày 12.2 âm lịch hằng năm, cả làng không ai bảo ai đều tự tắt bếp lửa, tập trung về ngôi đình giữa làng để cúng tiền hiền rồi cùng nhau vui hội. “Đến nay nhiều bậc cao niên trong làng cũng không nhớ lễ hội có từ lúc nào. Chỉ nghe các cụ kể lại rằng từ trong chiến tranh, bom rơi đạn lạc có thế nào thì người làng chúng tôi cũng tắt bếp đúng giờ, đúng ngày để tưởng nhớ những người khai khẩn lập làng…”, ông Thắng kể. 

Ông Thắng cho biết làng Trà Kiểm xưa có tên xóm Rừng với chỉ 40 hộ dân thuộc vài tộc họ. Trong ký ức của ông Thắng, lễ hội tắt bếp là dịp ông được theo cha lê la dọc đường làng ăn quà vặt. Thời kỳ khốn khó, trước ngày diễn ra lễ chính thức, đêm 11.2 âm lịch là thời điểm vui nhất. 

Những bà già, bà chị quẩy gánh ra đường rồi chong đèn dầu bán bánh gói, bánh xèo… hình thành nên một khu chợ ẩm thực đậm tình quê. 

Trưởng thôn Nguyễn Thanh Quý cho biết nhờ lễ hội tắt bếp mà thắt chặt tình đoàn kết, tương thân tương ái. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Ông Thắng tiếp lời: “Hồi đó ai cũng nghèo khó nhưng lễ hội thì ấm áp vô cùng. Tôi nhớ trước lễ hội vài ngày, những người lớn tuổi họp lại để bàn việc nấu cỗ cho làng. Sau đó nhà ai có gì thì cứ đem đến nấu chung. Người khá giả thì mang con gà, người trung bình thì góp chục lon gạo nếp, khó khăn hơn thì chục quả trứng vịt, mắm muối, dưa cà… Bữa cơm của hàng trăm người không phân biệt sang hèn, chức tước…”. 

Ngày nay, lễ hội vẫn giữ ngày cử hành và cách thức đóng góp chỉ khác là xã hội hiện đại nên việc đóng góp được huy động bằng tiền mặt. 

Và dĩ nhiên số tiền đóng góp không hạn định, ai có điều kiện thì đóng nhiều, ai khó khăn thì góp số tiền phù hợp với gia cảnh. 

Ông Nguyễn Thanh Quý, Trưởng thôn Trà Kiểm cho biết với người làng, miếu Ông không khác gì ngôi đình thờ tiền hiền, thành hoàng ngoài ngôi đình chính Quá Giáng. 

Vào tối 11.2 âm lịch, cả làng trên xóm dưới của thôn Trà Kiểm quây quần về miếu Ông làm lễ tế rước tiền hiền, tổ tiên… Trong đêm, thanh niên quây quần hát hò, biểu diễn văn nghệ còn người lớn tuổi thì rộn ràng hô hát bài Chòi. 

Ngày tắt bếp đoàn kết 

Ngày hội chính của lễ hội diễn ra vào sáng sớm 12.2 khi cả làng tập trung tại nhà văn hóa thôn để tổ chức lễ chính tế thần, thành hoàng với cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng no đủ… 

Lễ tắt bếp bắt đầu từ sáng sớm. “Chúng tôi không phải nhắc nhở nhà nào phải tắt bếp bao giờ và cũng không phải phạt ai không theo lệ làng. Chỉ cần đến sáng là cả làng đã tập trung đông đủ từ già trẻ, gái trai… Không khí vui vẻ của lễ hội tưng bừng nên ai cũng muốn có mặt”, ông Nguyễn Thanh Quý nói. 

Ông kể người làng luôn ý thức đó là dịp đoàn tụ, sum vầy sau 1 năm làm việc vất vả nên dù ở xa, có người Hà Nội, TP.HCM… cũng cố gắng trở về đúng dịp lễ hội. Người không về được cũng góp của để cả làng chung vui. “Lễ hội vừa qua, làng góp được cả trăm triệu đồng. Bữa cơm chung cả làng đến cả 70-80 mâm cơm với 700-800 người cùng vui. Sau lễ, làng còn dư được vài chục triệu đồng để làm quỹ tương trợ lẫn nhau…”, ông Nguyễn Hữu Thắng góp chuyện. 

Đối với người làng Trà Kiểm, ngôi miếu giữa làng không khác gì ngôi đình linh thiêng mà họ tôn thờ, nhang khói thường xuyên. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Nhiều năm diễn ra lễ hội với hàng trăm người tham dự chưa khi nào làng Trà Kiểm để xảy ra tình trạng mất an ninh, trật tự… Trong bữa cơm chung, mọi người trò chuyện vui vẻ với nhau đủ điều, từ năng suất cây trồng cho đến việc xây dựng đường làng, ngõ xóm thêm khang trang. Con cháu đi làm ăn xa cũng được người già hỏi han, động viên những khó khăn trong cuộc sống. Dưới mái đình, mọi người thêm hiểu nhau hơn. 

Kết thúc một ngày tiệc tùng, văn nghệ sôi nổi, ai về nhà nấy. Bếp lửa “gia đình lớn” tạm tắt để bếp lửa của mỗi gia đình nhỏ lại đỏ lên. 

Ông Nguyễn Hữu Thắng cho biết thêm, trước đây, lễ hội tắt bếp chỉ diễn ra trong ngày 12.2 âm lịch, tuy nhiên nhận thấy tình làng nghĩa xóm được thắt chặt hơn sau ngày hội, làng đã quyết định có thêm một ngày tắt bếp vào ngày hội đại đoàn kết toàn dân (18.11 hằng năm) với quy mô nhỏ hơn. 

Nhờ tình đoàn kết và nếp sống chân tình mà những chương trình xây dựng thôn văn hóa tại Trà Kiểm luôn đạt được kết quả “kỷ lục”. Năm 2010, thôn Trà Kiểm là 1 trong 3 thôn của Hòa Vang đón nhận bằng khen của Bộ VH-TT-DL tặng trong phong trào xây dựng “Làng văn hóa 20 năm”.

Năm 2012, Trà Kiểm được chọn là thôn điểm để nâng cấp, mở rộng giao thông kiệt hẻm xây dựng nông thôn mới. Và không mấy bất ngờ khi các hộ dân tình nguyện hưởng ứng hiến cả 1.000 m2 đất, đóng góp hàng trăm triệu đồng mở rộng 1,7 km hẻm… 

Nhà nào cũng ý thức, chăm chút đoạn đường trước nhà mình nên đường làng, ngõ xóm lúc nào cũng đầy hoa, cây cối xanh mát. Ở Trà Kiểm, hễ nhà nào có hiếu hỉ, ma chay là người làng xúm lại phụ giúp. Người lạ vào làng luôn được đón tiếp nhiệt tình, chan hòa đến kỳ lạ…

Hoàng Sơn - Huy Đạt

Đình làng kỳ sự: Cả làng chuyền tay giữ 32 đạo sắc phong

đăng 03:12, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Dù mưa bom bão đạn hay trong cơn 'đại hồng thủy' thì người làng Mỹ Xuyên Đông (TT.Nam Phước, H.Duy Xuyên, Quảng Nam) vẫn chuyền tay nhau gìn giữ nguyên vẹn hàng chục đạo sắc phong vua ban.

Vào dịp lễ tế hằng năm, 32 đạo sắc phong được thỉnh về đình làng. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Đình làng giữ nhiều sắc phong nhất xứ Quảng

Mỹ Xuyên Đông nằm phía hạ lưu sông Thu Bồn là một ngôi làng trù phú, phong cảnh hữu tình với đình làng, chợ quê, cây đa, bến nước. 

Cùng với lịch sử lập làng cách đây 500 năm trước, người làng Mỹ Xuyên Đông còn tự hào về ngôi đình là nơi cất giữ đến 32 đạo sắc phong do các vua Nguyễn ban tặng. 

Cụ Văn Công Chân (81 tuổi), Phó ban Trị sự làng Mỹ Xuyên Đông kể vào thời hậu Lê, Chánh đề đốc Lê Quý Công theo lệnh vua đã đưa quân nam tiến khai phá vùng đất từ nam đèo Hải Vân. “Khi đến Mỹ Xuyên, ngài đã chọn mảnh đất này lạc nghiệp. Từ đó, ngài cùng người dân khai hoang 1.700 mẫu đất, chia thành 2 làng Mỹ Xuyên Đông và Mỹ Xuyên Tây”, cụ Chân nói và cho biết đến nay làng có 22 tộc họ. 

Hai tấm bằng công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh được cất giữ trong đình làng Mỹ Xuyên. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Trải qua hàng trăm năm thăng trầm dựng làng, giữ nước, làng Mỹ Xuyên được các triều đại phong kiến ban tặng nhiều sắc phong. Đặc biệt dưới triều Nguyễn, các nhà vua đã ban cho làng 32 đạo sắc phong. Trong đó, triều Minh Mạng 5 đạo; Thiệu Trị 10 đạo; Tự Đức 11 đạo; Đồng Khánh 2 đạo; Duy Tân 2 đạo và Khải Định 2 đạo. 

Bên cạnh phần lớn các sắc phong thành hoàng, triều Nguyễn còn phong thần cho làng với những vị trí cao như: Thái giám Bạch Mã tôn thần, Bạch Mã chi thần, Lợi vật kiện thuận Bạch Mã chi thần, Đại Càn thượng đẳng thần, Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi tôn thần… 

Các đạo sắc phong được sao chụp và phiên dịch. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Cụ Chân tiếp lời, đạo sắc phong cổ nhất cách đây gần 200 năm, được ban vào năm Minh Mạng thứ 5 (1824) là sắc phong Tả Đông Chinh tôn thần. 

Vua Minh Mạng viết: “Sắc cho Tả Đông Chinh tôn thần giúp nước phò dân, công đức rõ rệt, đã từng được xã dân thờ phụng. Kính vâng theo Thế tổ Cao Hoàng đế ta thống nhất giang sơn, phúc lành ban khắp thần người…”. 

Kể từ sắc phong này, tính trung bình cứ 3 năm 1 lần và kéo dài trong vòng 100 năm, làng Mỹ Xuyên lại được vua Nguyễn ban sắc phong. Sắc phong thứ 32 vào năm Khải Định thứ 9 (1924) là sắc hợp phong Đại Càn, Thiên Y A Na, Ngũ Hành Tiên nương Thượng đẳng thần. 

“Sống đến từng này tuổi, tôi chưa nghe nơi nào trên cả nước có ngôi đình gìn giữ được số sắc phong nhiều như vậy. Tuy không dám khẳng định làng mình giữ nhiều sắc phong nhất nước nhưng tôi có thể khẳng định ở xứ Quảng thì chắc chắn có thể. Ngoài ra, sắc phong vào năm Minh Mạng thứ 5 là sắc phong cổ nhất còn được lưu giữ ở Quảng Nam”, cụ Chân nói thêm. 

Sắc phong của đình làng vào năm Minh Mạng thứ 5. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Thỉnh sắc phong… “chạy” lũ

Có tuổi đời từ 100-200 năm và trải qua không biết bao biến cố cùng đất nước nhưng những tấm sắc phong bằng giấy dó màu vàng vẫn nguyên nét mực đen cùng hình con dấu đỏ chót. 

Câu chuyện gìn giữ nguyên vẹn 32 đạo sắc phong trở thành niềm tự hào của không biết bao thế hệ người làng Mỹ Xuyên. Họ đã không tiếc công sức, thậm chí cả tính mạng của mình để bảo vệ mà như chính lời cụ Chân tâm sự thì “dù đình nát làng tan cũng phải giữ cho được, còn sắc là còn làng”. 

Đình làng Mỹ Xuyên Đông gắn với nhiều câu chuyện lịch sử kỳ bí. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Cụ Chân nhớ lại, suốt khoảng thời gian dài đất nước ngập chìm trong khói lửa chiến tranh, đình làng Mỹ Xuyên luôn là nơi bị giặc dòm ngó, oanh tạc… 

Đình làng đã sập, hư hại không biết bao lần, thế nhưng giặc không thể đốt, cướp các sắc phong là nhờ người làng di tản kịp thời. “Lúc bình yên, các sắc phong được cất giữ cẩn thận trong đình. Lúc giặc đổ bộ vào làng, chúng tôi phải thay nhau ôm sắc phong… chạy giặc, đến khi bình yên mới đem về làng. Để tồn tại đến ngày hôm nay, 32 sắc phong đã không ít lần ẩn náu trong các bụi tre gai hay các lèn đá”, cụ Chân kể. Năm 1972, quân giặc hung hãn tiến vào làng tàn phá khắp các đội trên, xóm dưới. 

Không chỉ có bề dày lịch sử, đình làng Mỹ Xuyên còn nằm ở vị trí rất đẹp. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Cây đa có tuổi đời 400 năm tuổi mọc sát đình Mỹ Xuyên bị giặc đốt cháy trong 2 ngày 2 đêm. 32 đạo sắc một lần nữa lưu lạc theo bước chân chạy giặc. 

“Cả làng nhìn cây đa cháy rụi mà lòng quặn thắt. Không biết chuyện tự hỏi liệu 32 sắc phong có còn, người hiểu chuyện thì luôn tin chắc một điều chúng vẫn an toàn và chờ ngày về lại làng”, cụ Chân tiếp lời. 

Không chỉ đối mặt với địch họa, không ít phen số sắc phong đã đối mặt với thiên tai kinh hoàng. Đáng nhớ nhất là trận lũ lịch sử năm Thìn 1964. Trong ký ức của không riêng gì người Mỹ Xuyên mà với người dân toàn miền Trung, trận “đại hồng thủy” này đã trở thành nỗi ám ảnh chết chóc. 

Cây đa cổ thụ được trồng ngay sát đình làng, cạnh khu chợ đông đúc. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Dù tính mạng nhiều người không giữ được thì những tấm giấy sắc phong vẫn được ưu tiên đưa lên vị trí cao nhất trong làng để tránh nước. Cụ Chân không nhớ chính xác vị trí cất giữ các sắc phong trong nước lũ ở đâu nhưng theo lời cụ thì 32 sắc phong đã được các bậc cao niên làm lễ cúng để thỉnh về phía cầu Câu Lâu. 

Trong nhiều ngày ròng rã, người làng đã thay phiên nhau túc trực, canh giữ số sắc phong chờ nước rút. 

Người Mỹ Xuyên dù là già trẻ, lớn bé luôn coi 32 sắc phong là “báu vật” của làng. Bởi vậy vì sợ mất khi để tại ngôi đình gìn giữ chung, cả làng đã họp lại để bầu ra một Thủ sắc (người giữ sắc phong) nhằm cất giữ cẩn thận hơn. 

Cụ Nguyễn Văn Thanh (87 tuổi), thủ sắc đương nhiệm cho biết những người được bầu vào vị trí này phải là người có uy tín với cộng đồng và có đủ tư cách, đạo đức. 

Thủ sắc Nguyễn Văn Thanh hiện đang lưu giữ cẩn thận 32 đạo sắc phong. ẢNH: HOÀNG SƠN 


“Hễ thủ sắc già và qua đời thì người làng họp lại và bầu người khác tiếp quản. Được sự nhất trí của làng, 10 năm qua tôi mang số sắc phong này về nhà để thờ phụng và hương khói đàng hoàng”, cụ Thanh cho biết. 

Cụ Thanh cũng cẩn thận bọc nhựa số sắc phong để phòng mối mọt rồi cho tất cả vào một chiếc rương, khóa cẩn mật. 


Độc đáo lễ rước sắc phong

Hằng năm, cứ đến ngày 12.2 âm lịch, người làng Mỹ Xuyên lại tụ tập tại đình làng để cử hành lễ tế xuân cầu cho mưa thuận gió hòa, xóm làng an yên.

Cùng với lễ tế, cả làng sẽ thực hiện nghi lễ rước sắc phong nhằm ghi ơn các bậc tiền hiền khai khẩn.

Di tích lịch sử cấp tỉnh mộ tiền hiền Lê Quý Công. ẢNH: HOÀNG SƠN

Trước khi rước sắc, người dân tụ tập tại nhà Thủ sắc, cúng bái rất long trọng. Hiện tại đình làng Mỹ Xuyên đang lưu giữ 2 tấm bằng công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh đối với đình làng này và mộ tiền hiền Lê Quý Công. 


Hoàng Nguyên

Đình làng kỳ sự: Ngôi đình 4 xe tăng kéo không đổ

đăng 02:56, 27 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Nhiều đình làng xứ Quảng đang lưu giữ nhiều câu chuyện văn hóa thú vị về những lễ hội, nghi thức độc đáo… Trong khi đó, một số đình khác lại mang những câu chuyện tâm linh kỳ bí.

Đình làng Thạch Tân từng bị 4 xe tăng kéo nhưng không sập. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Khá hoảng sợ trước việc 4 chiếc xe tăng rồ ga, nhả khói nhưng ngôi đình được dựng bằng gỗ không suy suyển, quân địch đành phải bỏ ý định giật sập ngôi đình và “lui binh”. 

Bí ẩn “vết thương” trên cột đình 

Nằm giữa vùng quê thanh bình, đình làng Thạch Tân (thôn Thạch Tân, xã Tam Thăng, TP.Tam Kỳ, Quảng Nam) là một di tích quan trọng gắn liền với di tích quốc gia địa đạo Kỳ Anh (tên cũ của xã Tam Thăng). 

Kiến trúc ngôi đình 3 gian 2 chái, kết cấu chồng rường giả thủ cực kỳ tinh xảo do chính những người thợ mộc Văn Hà trứ danh (thuộc H.Phú Ninh, Quảng Nam) thi công. 

“Điểm đặc biệt của ngôi đình không nằm ở vẻ bề ngoài của nó mà chính là những câu chuyện gắn liền với cuộc chiến chống đế quốc Mỹ hào hùng mà vết tích còn lại trên những cây cột chính là một minh chứng”, ông Huỳnh Kim Ta, Trưởng thôn Thạch Tân kiêm hướng dẫn viên khu di tích mở đầu câu chuyện. “Nhiều người khi tham quan ngôi đình luôn đặt câu hỏi về những vết hằn này. Tôi gọi đó là những vết thương linh thiêng…”, ông Huỳnh Kim Ta nói thêm. 

Ông Huỳnh Kim Ta, Trưởng thôn Thạch Tân mô tả cách quân giặc buộc dây xích để giật sập ngôi đình. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Tháng 7.1968, Mỹ xua quân càn quét vùng đông Quảng Nam. Khi đưa quân đến Thạch Tân, họ nghi ngờ người dân sử dụng ngôi đình làm nơi hoạt động cách mạng nên rắp tâm triệt hạ. 

Thời điểm đó, sau khi cho khoảng 6 đại đội bộ binh bố ráp quanh ngôi đình, Mỹ cho 2 xe bọc thép cảnh giới, 4 chiếc xe tăng còn lại nổ máy tông sập tường bao. 

Với loại cơ giới hạng này, quân địch cố ý tông vào cột hòng làm đình sập thế nhưng ngôi đình vẫn đứng sừng sững. Sau một hồi bàn bạc, đám lính đã cho xe tăng lùi ra rồi dùng dây xích cỡ lớn buộc vào 2 cây cột ở gian giữa. Họ tiếp tục nổ máy, rồ ga để giật sập nhưng kỳ lạ thay ngôi đình vẫn không chút xê dịch. 

Vết xích còn hằn lại trên cột đình làng Thạch Tân. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Nhiều lần kéo giật ngôi đình không đổ, dây xích cứa vào thân cột để lại những “vết thương” rất sâu. “Trước sự uy nghi của đình cũng như tâm linh hóa thân bởi sức mạnh của nhân dân nên địch tỉnh ngộ, sợ hãi không dám phá đình”, Trung tâm VH-TT TP.Tam Kỳ ghi lại. 

Ông Huỳnh Kim Ta nhận xét với cách buộc xích và bố trí vào các cây cột, cho thấy quân địch đã tính toán rất kỹ. Bởi nếu giật đổ 2 cây cột này thì chắc chắn ngôi đình sẽ tan hoang. 

“Nhìn vào những vết thương này khó ai có thể nghĩ ngôi đình còn đứng vững đến ngày hôm nay. Chỉ có thể là điều linh thiêng gì đó mới có thể giữ được đình”, ông Ta kể, đứng trước áp lực tâm linh cũng như sự đấu tranh, phản đối của người dân địa phương, quân địch đã tháo dây xích và rời đi. 

Sợi xích được buộc vào cột để người tham quan có thể dễ hình dung. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Chỉ tay vào những vết hằn trên cột, ông Ta cho biết thêm, để tái hiện cho khách tham quan có thể hình dung, ngành chức năng đã sưu tầm đoạn dây xích có kích cỡ tương tự bỏ vào thân cột ở gian thờ. 

Cây cột còn lại do bị mảnh bom cắt đứt ngang nên vào năm 2001, khi đình được trùng tu đã cho thay thế. 

Hai căn hầm bí mật dưới nền đình 

Du khách khi đến tham quan đình Thạch Tân ngoài được nghe kể về việc thờ thần Đại Càn quốc gia Nam Hải, thờ tiền hiền và hàng trăm liệt sĩ, Mẹ Việt Nam anh hùng còn được hiểu thêm về kỳ tích đào 32km địa đạo. Trong chiến tranh, ngay dưới nền ngôi đình này, nhân dân địa phương đã đào 2 căn hầm, bí mật nuôi giấu cán bộ hoạt động cách mạng. 

Miệng dẫn vào căn hầm phía dưới nền ngôi đình. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Ông Ta tiếp lời, năm 1964, thực hiện nghị quyết giải phóng vùng ven đô và vùng đồng bằng, Tam Kỳ được chia thành 2 vùng chiến lược, vùng đông là xã Kỳ Anh và vùng tây là xã Kỳ Thịnh (nay là thuộc H.Phú Ninh). 

Tại vùng đông có căn cứ địa đạo Kỳ Anh. Để giữ được địa bàn, Đảng bộ xã Kỳ Anh lúc bấy giờ đã chủ trương đào hầm bí mật để bảo toàn lực lượng nhằm đánh địch và giữ vùng giải phóng. 

Lực lượng du kích, nhân dân tại 3 xóm của thôn Thạch Tân đã không quản ngày đêm miệt mài đào địa đạo. 

Căn hầm phía dưới ngôi đình khá rộng rãi. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Trong chiến tranh, từ căn hầm phía dưới đình Thạch Tân có thể dẫn ra các hướng với chiều dài 32km. 

“Các xóm đào xong thì nối lại thành thôn, thôn đào xong thì nối lại thành xã. Nhờ vậy mà chỉ trong 2 năm (từ 1965 - 1967) đã đào được 32 km địa đạo”, ông Ta nói. Với chiều rộng từ 0,5 - 0,8m, chiều cao khoảng 0,8 - 1m, tuyến địa đạo trở thành thành trì vững chắc giúp quân dân Kỳ Anh tổ chức phản công, tập kích địch bất ngờ khi chúng càn quét. ẢNH: HOÀNG SƠN 

Đặc biệt, địa đạo hình ô bàn cờ, quanh co uốn khúc, nhiều ngõ ngách nên có lần bị phát hiện nhưng địch vẫn không dám xuống. Trong làng Thạch Tân men theo các bụi tre, lùm bụi, cây rơm… đều có miệng hầm để tránh trú dễ dàng. 

Căn hầm chính "đại bản doanh" dưới nền đình sẽ dẫn ra các hướng. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Riêng tại đình Thạch Tân, tận dụng đình có vị trí thuận lợi cùng yếu tố tâm linh có thể tránh sự dòm ngó của địch, nhân dân địa phương đã đào 2 căn hầm rộng rãi ngay dưới nền đình để làm nơi cứu thương và chứa lương thực tiếp tế cho vùng tây bắc Tam Kỳ chống Mỹ. 

Nhìn bên ngoài không ai có thể phát hiện miệng hầm ở vị trí nào nhờ cách ngụy trang tinh vi. Khi có việc phải xuống hầm, quân du kích chỉ việc cạy nắp hầm ngay dưới nền đình để chui vào. 

Tại ngôi đình này còn có cửa địa đạo được làm ngay sau đình kết nối với 32km địa đạo còn lại. Ngày trước, để ngụy trang, bên ngoài miệng hầm được phủ bằng đá ong. Sau này khi đình được trùng tu, tôn tạo người dân địa phương đã thiết kế miệng hầm khá rộng để phục vụ khách tham quan. 

Hiện trong làng vẫn còn nhiều miệng hầm bí mật nằm rải rác ở các bụi tre, gốc cây rơm... ẢNH: HOÀNG SƠN 


Cây rỏi di sản biết… “né” bom đạn? 

Những bậc cao niên làng Thạch Tân cho biết cạnh đình làng có một cây rỏi được trồng từ khi lập làng, đến nay có tuổi đời khoảng 400 năm. Đến hiện tại, cây rỏi này là cây cao, to nhất làng. 

Ngày xưa, người làng thường tụ tập sinh hoạt cộng đồng dưới cây rỏi này. Trong chiến tranh, dân quân du kích dùng thang dây để trèo lên ngọn cây quan sát, cảnh giới địch đi càn. 

Cây rỏi cổ thụ nằm cạnh đình làng có tuổi đời hàng trăm năm tuổi. ẢNH: HOÀNG SƠN 


Trong khi đó, địch thường chọn cây rỏi làm điểm tọa độ vì cao nhất để nã pháo, đánh bom vào khu vực này. Địch thường chừa cây này ra để lấy làm điểm tọa độ. Chính nguyên nhân này mà người dân thường truyền miệng cây rỏi di sản biết “né” bom đạn. 

Hoàng Sơn

1-10 of 17