Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Huyền thoại dũng sĩ núi Bà Đen Nhìn từ xa núi Bà Đen tựa một chiếc nón úp nên thơ bên dòng sông Vàm Cỏ Đông ở Tây Ninh. Khi đến gần mới thấy núi Bà Đen ...
    Được đăng 21:59, 1 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Huyền thoại đồi Bà Nài Vừa bước chân tới khu di tích văn hóa trên đồi Bà Nài (phường Phú Hài, Phan Thiết-Bình Thuận), tôi đã bị cuốn hút bởi giai điệu dân ca ...
    Được đăng 01:13, 23 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện huyền bí về ngôi đền thiêng nổi tiếng xứ Nghệ Vào năm 1990, đền Cuông được trùng tu một cách quy mô và năm 1995 lễ hội đền Cuông được tổ chức trở lại. Từ đây, lại xuất hiện nhiều ...
    Được đăng 02:29, 30 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện về danh tướng Đào Nhã và di tích đình Đồng Đình Đồng thuộc thôn Đồng Xá Bắc, xã Đồng Cẩm (trước là xã Đồng Gia, Kim Thành) thờ danh tướng Đào Nhã - người có công đánh giặc Nguyên Mông ở ...
    Được đăng 05:46, 9 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bốn người con còn sống sót của Nguyễn Trãi Vụ án Lệ Chi Viên đã giết hại nhiều người trong gia đình, họ tộc Nguyễn Trãi. May mắn là vẫn còn những người sống sót. Nhà thờ dòng họ ...
    Được đăng 01:09, 24 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 16. Xem nội dung khác »


Huyền thoại dũng sĩ núi Bà Đen

đăng 21:59, 1 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Nhìn từ xa núi Bà Đen tựa một chiếc nón úp nên thơ bên dòng sông Vàm Cỏ Đông ở Tây Ninh. Khi đến gần mới thấy núi Bà Đen hùng vĩ với độ cao 986 mét và được coi là “nóc nhà miền Đông Nam Bộ”. 

Núi trải rộng 24 cây số vuông, rừng cây rậm rạp và hệ thống hang đá hiểm trở trên núi đã ghi dấu bao kỳ tích của đội quân giải phóng anh hùng. Họ đã minh chứng: “Người cộng sản chúng ta về ở đó/ Để núi hừng lên làm núi mặt trời” (Huyền Kiêu). 

Đội quân báo anh hùng 

Dãy núi Bà Đen liên tiếp những đỉnh cao nhấp nhô trải rộng mênh mông trên cánh rừng của thung lũng Ma Thiên Lãnh. Đặc biệt vị trí của Núi Bà Đen án ngữ ngã ba đường đi lên chiến khu cách mạng sát biên giới nước bạn Campuchia. Quốc lộ 22B và đường số 793 nối khép kín căn cứ địa “Trung ương Cục miền Nam” tại hai khu rừng Rừm Đuôn và Chàng Riệc. 

Đầu thập niên 60, khi Bộ chỉ huy của “Trung ương Cục miền Nam” hình thành, giặc Mỹ đã sớm chiếm đỉnh núi Bà Đen do thám những hoạt động của quân đội ta. Nhất là sự ra đời của Mặt trận Giải phóng Miền Nam càng làm chúng điên cuồng đổ quân muốn đánh vào tận Bộ Chỉ huy quân đội ta ở chiến khu. Những thông tin và quan sát thực địa từ núi Bà Đen rất quan trọng.

Tượng dũng sĩ núi Bà Đen.


Ngay từ đầu năm 1962, một đơn vị trinh sát và thông tin (Liên đội 7) của mặt trận Tây Ninh được cử lên núi Bà Đen hoạt động. Nhưng tình thế gay go lúc đó giặc Mỹ đã chiếm lĩnh đỉnh cao nhất trên núi Bà Đen. Đội quân báo đã đổ bộ sườn núi phía Bắc núi Phụng. Ở đó có nhiều hang động chạy quanh núi và vị trí quan sát thuận lợi ở độ cao 600 mét. 

Khi biết tin quân đội Mỹ hùng hổ tấn công muốn đánh bắt Liên đội 7 nhưng chúng không thể vào sâu trong hang núi. Chiến sĩ ta đã biến hang động thành nơi cư trú và chất lương thực, súng đạn. Hệ thống các ụ súng được rải thành một chiến hào đá nhiều tầng lớp thoắt ẩn thoắt hiện như một ma trận. Nhiều tên lính giặc bị những hỏa lực bí mật bắn bất ngờ không sao vượt lên được núi. Cứ thế cuộc chiến đấu giằng co, các chiến sĩ bắt đầu hoạt động nghiệp vụ trinh sát và thông tin. Sau này Liên đội 7 được bổ sung quân lực và mở rộng hoạt động tạo thành một đại đội chiến đấu lâu dài. 

Tuy nhiên điều kiện nhiều khó khăn vì giặc Mỹ đóng quân phía dưới chân núi để kiếm soát và ngăn chặn tiếp tế của quân đội ta. Những ngôi chùa bị tàn phá. Những phật tử và ni cô trong chùa cũng bị dồn xuống núi nên không còn cơ sở liên lạc với đơn vị. Các chiến sĩ phải chắt chiu từng bình nước, bát gạo, lá rau. Không ít ngày các chiến sĩ đã phải bắt ốc và thằn lằn núi để làm lương thực, thực phẩm. 

Hơn nữa giặc Mỹ nhiều lần đã thả bom xăng và bắn phá dữ dội để hòng tiêu diệt Đại đội trinh sát. Đã không ít lần chúng cho quân đổ bộ lên, và lực lượng từ trên cao tấn công tập hậu phía sau từ trên đỉnh núi Bà Đen xuống. Nhưng lợi thế chiến địa hang động tạo cho chiến sĩ ta giữ vững trận địa. 

Nhiều khi kẻ thù chỉ ngồi phía trên hang mà không hề phát hiện ra các chiến sĩ ta đang nằm phục ngay phía dưới. Chỉ cần một cử động nhỏ là chúng đã bị bắn lộn cổ xuống núi. Thời gian trôi đi hơn mười năm, cuộc chiến đấu thực kiên cường ác liệt. Các chiến sĩ trinh sát bền bỉ bám trụ địa bàn, vừa cầm súng, bảo đảm cung cấp thông tin quan trọng vào chiến khu chỉ huy mặt trận. Cuối năm 1972 Liên đội 7 trinh sát đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân. 

Trận đánh chiếm đỉnh cao 

Tuy đã có lợi thế ở hệ thống hang động nhưng vị trí đỉnh núi Bà Đen mới là lý tưởng cho không gian bốn phía. Trên đó giặc Mỹ đã cho xây ba sân bay trực thăng và đưa một tiểu đoàn biệt kích lên chế ngự. Việc các dũng sĩ Liên đội 7 đánh lên núi không dễ dàng. Nhưng sau khi giặc Mỹ phải rút khỏi nước ta công cuộc cách mạng giải phóng miền Nam càng trở nên sôi động. 

Được chỉ thị của bộ chỉ huy mặt trận, bằng mọi giá phải chiếm trụ sở thông tin núi Bà Đen. Liên đội 7 phối hợp với tiểu đoàn trinh sát 47 (thuộc phòng Quân báo Miền) mở cuộc tấn công chiếm đỉnh cao vào ngày 6-12-1974. Đó là đêm hành quân bí mật qua những hẻm núi đá lên rừng. Những chiến sĩ quân báo của ta tiếp cận những vị trí đã chuẩn bị sẵn và nổ súng. 

Dưới chân núi một lữ đoàn của địch cũng bị cầm chân bởi những đơn vị quân đội địa phương phối hợp tập kích. Máy bay ngụy dưới sự chỉ huy của sĩ quan Mỹ liên tục bắn phá và thả bom để bảo vệ trụ sở thông tin trên núi Bà Đen. Nhưng đêm đến là vòng vây lại được khép chặt và tiến dần lên đỉnh núi. Do nghiên cứu địa hình trong mười ba năm các chiến sĩ trinh sát Liên đội 7 đã thiết kế sơ đồ cho từng vòng vây khép kín nên Tiểu đoàn đặc nhiệm của chúng bị tiêu hao lực lượng mỗi lần định đánh xuống mở đường thoát. 

Cho dù được tiếp tế vũ khí và đạn dược nhưng tâm lý giặc đã hoảng loạn. Trong khi đó các chiến sĩ ta ngày thì phục trong các hang đá, bắn rơi khá nhiều máy bay tiếp tế, khi đêm tối lại tiến công và nã pháo cối vào trụ sở địch trên đỉnh núi. Không ngày nào máy bay địch không thả bom tàn phá rừng cây. Cuộc chiến đấu giằng co từng mảnh đất và hang đá kéo dài cả tháng trời.

Cung đường hang động đá mà các dũng sĩ núi Bà Đen bám trụ chiến đấu.


Thời cơ đã đến khi đồng loạt các mặt trận Tây Ninh được triển khai. Các chiến sĩ quân báo tiến công dũng mạnh lên đỉnh núi. Giặc hoảng loạn đầu hàng. Liên đội 7 đã chiếm được trụ sở thông tin và đài quan sát của địch vào ngày 6-1-1975 sau 31 ngày đêm chiến đấu. Núi Bà Đen được giải phóng hoàn toàn. 

Nhưng đâu đã chấm dứt sự đổ máu trên đỉnh núi Bà Đen. Liên tiếp những ngày sau, quân địch đã huy động nhiều trận đánh hòng chiếm lại đỉnh núi. Lần cuối cùng vào đầu tháng 3-1975, chúng huy động hàng ngàn quân sĩ tổ chức càn quét hòng chiếm lại căn cứ Bà Đen. 

Nhưng sau mười ngày bắn phá điên cuồng, quân địch không sao tiến lên cao được. Chúng đành rút lui xuống chân núi và rải quân vây các chiến sĩ quân báo bám trụ trên đỉnh Bà Đen. Nhưng chúng biết đâu chỉ ít ngày sau chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Toàn bộ lực lượng Quân đội tỉnh Tây Ninh đồng loạt tấn công dồn dập tại các huyện và thị xã. Tây Ninh được giải phóng vào trưa 30-4-1975. Đỉnh núi Bà Đen vẫn được trụ vững cho đến ngày cuối cùng. 

Tượng đài 

Đến dự lễ hội ở chùa Bà Đen du khách thường dừng lại trước tượng đài “Dũng sĩ Bà Đen” thắp hương. Những câu chuyện được kể lại trong cuộc hành hương vía Bà càng thêm lung linh huyền ảo. Hình tượng những người anh hùng đã gieo vào tâm hồn những phật tử biết bao điều ấm áp mỗi khi bước chân lên đền Linh sơn Thánh mẫu. 

Bởi một thời những tu sĩ trong chùa đã từng là một phần của cuộc chiến đấu. Họ đã tiếp tế gạo và thuốc cho các dũng sĩ Bà Đen. Chùa Hang là nơi cán bộ chiến sĩ làm việc thời kỳ đầu an toàn nhờ sự bảo vệ của những tu sĩ tại đây. Trên cửa hang có bia tưởng niệm những người anh hùng trên núi Bà Đen khắc ghi: “Nơi đây 181 cán bộ, chiến sĩ trinh sát thuộc phòng Quân báo Miền (B2), đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. 

Thắp hương để dâng lên chúa Bà cũng là tưởng nhớ đến hương hồn các dũng sĩ đã dâng hiến cho cách mạng. Những vần thơ ngợi ca người anh hùng đã vang lên bên những đài tưởng niệm với mỗi người tham gia hành hương hàng năm. Đó là sự ngưỡng mộ và tưởng nhớ: “Trước tượng đài ta chiêm ngưỡng. Công tích của người đi mở đường. Từ nơi gió lộng này ta suy tưởng. Sống sao cho xứng đáng với quê hương” (Bóng núi trong tôi-Văn An). 

Ngay sau ngày Tây Ninh giải phóng “Quán thơ” trên núi Bà Đen đã được hình thành và sinh hoạt đều đặn. Đây là nơi tập hợp những cây bút đầu tiên của tỉnh làm tiền đề cho việc tiến tới thành lập Hội Văn nghệ Tây Ninh.

Vương Tâm

Huyền thoại đồi Bà Nài

đăng 01:13, 23 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Vừa bước chân tới khu di tích văn hóa trên đồi Bà Nài (phường Phú Hài, Phan Thiết-Bình Thuận), tôi đã bị cuốn hút bởi giai điệu dân ca Chăm buồn và dịu dàng. Lời bài hát "Ai kia đang ở phía xa" như gieo vào lòng người nỗi trống vắng mộng mị. Giọng hát của Chế Tuấn trầm ấm vang lên: "Chim về rừng chim chắp cánh bay. Chứ anh một mình mà anh nhớ thương em. Chứ em một mình mà em nhớ thương ai...". 

Chuyện tình nàng Pô Sah Inư 

Người dẫn tôi lên đồi là nhà thơ La Văn Tuân (HVN Bình Thuận). Chúng tôi dừng chân bên khu đền tháp Chăm ở độ cao chừng 80 mét. Tháp chính mang tên nàng công chúa Pô Sah Inư và hai tháp nhỏ. Nhà thơ nói đây là một trong những tháp Chăm còn giữ được khá nguyên bản với sắc gạch đỏ au. 

Khu đền tháp thờ thần Silva đã từng bị tàn phá do chiến tranh và sự khắc nghiệt của mẹ thiên nhiên đã trải qua hơn 800 năm. Công chúa Pô Sah Inư gắn bó với dân Phú Hài này từ hàng trăm năm qua. Nàng xinh đẹp và dịu dàng nức tiếng khắp vùng. Pô Sah Inư được lãnh chúa trẻ vùng Chăm kế bên yêu say đắm. Trớ trêu thay chàng lại theo đạo Hồi, còn nàng theo dòng Bà la môn. Tình yêu của hai người đã vượt khỏi những ràng buộc khe khắt giữa hai dòng đạo. Bởi theo quy định hai người không được lấy nhau. 

Tình yêu của chàng lãnh chúa đã phá bỏ luật lệ. Họ làm lễ thành hôn và sống hạnh phúc bên nhau. Dân hai vùng đạo đều vui mừng và chúc phúc cho họ. Nhưng rồi đột nhiên chàng lãnh chúa phải về Ấn Độ lãnh chỉ giáo từ bề trên. Hai người tạm xa nhau và hẹn ngày trở lại. Pô Sah Inư sống trong nỗi thắc thỏm lo âu. Người em trai lãnh chúa chớp cơ hội tìm cách chia rẽ tình yêu của hai người. 

Nhà thơ La Văn Tuân (bên phải) với tác giả.


Thời gian đã trôi qua. Khi lãnh chúa trở về , Pô Sah Inư không được báo tin ra đón. Lãnh chúa đã bị người em trai xúc xiểm nói xấu chị dâu. Chàng đau khổ buôn bã rời bỏ tình yêu của Pô Sah Inư đi về phương Nam. Ở xứ sở mới, chàng đã bị người đẹp khác chinh phục và tỏ lòng thương yêu. Đó là một cô gái dân tộc Raglây. 

Khi biết chuyện bị chia rẽ hạnh phúc Pô Sah Inư quyết chí đi tìm chồng để bày tỏ nỗi lòng. Nàng mong chàng quay lại với gia đình của mình. Nhưng tình yêu của chàng không còn nữa. Chàng đã thuộc về người khác. Pô Sah Inư đau khổ trở về quê hương. Nàng chỉ còn biết xóa tan nỗi đau khổ bằng cách tìm niềm vui ở công việc và lao động bên làng biển dưới dẫy núi Phú Hài. Pô Sah Inư đã dậy nghề thêu dệt thổ cẩm và cách trồng cấy lúa nước cho bà con quanh vùng. Nàng hướng dẫn cả nghề chài lưới và đánh bắt cá cho đồng bào Chăm thân thiết của mình. Hằng đêm nàng còn dạy ca múa cho con trẻ. Người dân quanh vùng đã coi Pô Sah Inư là thần tiên Apsara với những điệu múa uyển chuyển đầy bí ẩn. 

Lúc này đến bên tôi nhà thơ La Văn Tuân đọc những câu thơ Chăm được ghi lại bên tháp rằng: "Nỗi nhớ lóe lên như tia chớp/ Thắp lên ngọn buồn cháy buốt đêm đen/ Khóe mắt em ngơ ngác màn sương lạnh/ Bước giang hồ nhỏ lệ bên thềm…". Nắng bừng trên đồi tháp. Cụm lá bàng xanh biếc trên cao. Ngắm bức tượng nàng Apsara bên tháp cổ, tôi bỗng nhớ đến những câu thơ của thi sĩ Inrasa người Chăm đã viết: "Tôi khẽ chạm vào em/ Tôi vỗ mạnh vào em/ Em vỡ tiếng nói/ Em cất tiếng hát/ Khi tôi đánh thức em/ Đường nét và hình khối, dáng đứng với điệu cười. Apsara. Ap sa ra" (Apsara). 

Người anh hùng đánh đồn Phú Hài 

Đã từ lâu đồi Bà Nài làng Phú Hài là thắng cảnh đẹp bên bờ biển với chiều cao hơn 100 mét. Một thời đồi còn được mang tên lầu ông Hoàng bởi trên đỉnh đồi có một biệt thự được xây dựng trong khuôn viên rộng hơn 500 mét vuông. Đây là nhà nghỉ dưỡng của một công tước người Pháp vào năm 1910. Nhưng do chiến tranh tàn phá, ngôi nhà đã bị đổ nát chỉ còn nền móng (khá gần khu đền tháp Pô Sah Inư). Những đồn bốt của giặc Pháp đã được xây trên nền lầu ông Hoàng cũ. 

Ở vị trí cao giặc Pháp có thể quan sát và khống chế đường biển và đường bộ vào thành phố Phan Thiết. Chúng đã tàn sát và khống chế đồng bào Chăm và ngăn chặn những cuộc kháng chiến của quân dân Bình Thuận. Khu vực quân sự cùng hệ thống lô cốt trên đồi được mang tên là "Đồn Phú Hài". Đây là hệ thống quân sự giặc Pháp kiên cố mà quân và dân ta có kế hoạch cần phải chiếm lĩnh từ lâu. 

Thời cơ đã đến vào tháng 6 năm 1947. Nhiệm vụ đánh đồn Phú Hài được trao cho Đại đội trưởng Nguyễn Minh Châu (Bí danh Năm Ngà) chỉ huy tác chiến. Đây được coi là sự kiện đầu tiên của quân và dân miền Nam đánh trực tiếp chiếm lĩnh đồn giặc Pháp. Trận đánh có ý nghĩa khởi đầu cho việc làm thay đổi tình hình quân sự của tỉnh Bình Thuận. 

Trước đó Đại đội trưởng Nguyễn Minh Châu đã trinh sát cùng đồng đội để tìm ra quy luật hoạt động giữa đồn Phú Hải với đồn chỉ huy của Pháp nằm cách đó chừng 6 cây số. Sau mấy ngày đêm trinh sát, đại đội trưởng Nguyễn Minh Châu đã nảy ra một cách đánh thật táo bạo. Anh đã dùng chính những hàng binh Pháp tham gia tấn công đồn Phú Hài. 

Đại đội trưởng đã cho các chiến sĩ bao vây và tiếp cận từ dưới chân đồi Phú Hài. Anh đã cùng với nhóm chiến sĩ tiến hành đóng giả cuộc giao ban thường ngày của giặc Pháp. Trong đó có bốn hàng binh Pháp đóng vai các sĩ quan của chỉ huy sở. Mọi người bình tĩnh đi lên đồn Phú Hài một cách bất ngờ trước khi đội quân giao ban chính thức của Pháp xuất phát. Lính trên đồn không hề nghi vấn mà còn nghiêm chào như mọi ngày. Tên chỉ huy đồn còn đang ngái ngủ. 

Múa bên tháp Pô Sha Inư.


Hay tin đội giao ban dưới chỉ huy sở lên hắn vội vã chạy ra đứng nghiêm chào các sĩ quan Pháp đóng giả của ta. Bất ngờ một người nổ súng làm tên Đồn trưởng đổ gục. Đó cũng là hiệu lệnh cho các chiến sĩ phục kích tấn công chớp nhoáng lên đồn. Những tên lính Pháp còn lại hoảng loạn đồng loạt giơ tay hàng. 

Đại đội trưởng Nguyễn Minh Châu đã cho lệnh bắt giữ tù binh Pháp và thu hồi vũ khí. Chỉ trong mươi phút quân đội ta đã chiếm lĩnh đồn Phú Hài và tạo nên thế trận đánh bật những toán lính Pháp đến tiếp ứng xuống chân đồi. Chiến thắng mang ý nghĩa lịch sử đầu tiên của quân và dân Bình Thuận. 

Nhà thơ La Văn Tuân cho tôi biết thêm về Đại đội trưởng chỉ huy trận đánh đồn Phú Hài ngày đó sau đã trở thành một vị tướng anh hùng quân đội. Đó là cố Thượng tướng Nguyễn Minh Châu (1921-1999). Ông tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn trong Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng 8-1945 và trưởng thành qua nhiều mặt trận. Đến năm 1974, ông được phong hàm Thiếu tướng và là tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Mặt trận giải phóng miền Nam. Ông được phong hàm Trung tướng (1981), rồi Thượng tướng (1986), giữ chức Tư lệnh quân khu 7 và còn là Trưởng đại diện Bộ quốc phòng tại phía Nam. Ông mất năm 1999 và được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2010). 

Người đánh trống 

Làn gió biển quét bụi tung đám đất đỏ của những người đang làm gạch đắp vào chân tháp. Nắng nghiêng nghiêng soi bóng tháp Pô Sah Inư đổ xuống chân đồi. Tiếng kèn tiếng trống rộn ràng vọng lên làm xáo động không gian như đang chín ửng trên từng viên gạch hồng. Lại một bài hát buồn mang hồn Chăm ngân vang. Tiếng trống cứ thắc thỏm trong từng bước chân chúng tôi. Chàng trai hát bài "Tôi đi tìm em" mỗi lúc một hụt hẫng trong tiếng trống ghi năng. 

Khi xuống tới chân đồi, chúng tôi gặp mấy nghệ nhân đang sửa trống. Họ vừa tập một tiết mục để chuẩn bị đón du khách vào tối nay. Tiếng trống được vỗ lên giữ nhịp cho dàn nhạc hòa tấu. Người nghệ nhân thả hồn trong bản nhạc tình ca. Bờ vai ông run run theo nhịp điệu mơ màng. Tiếng hát của chàng trai buồn tênh. Đó là nỗi niềm vấn vương đi tìm người yêu đã bỏ rơi chàng. Một bi kịch không khác gì câu chuyện của Pô Sah Inư. Tiếng trống nghẹn trong tay người nghệ sĩ như tiếng lòng thổn thức của nàng công chúa mong ước ngày chồng trở về. Nhưng mãi mãi vô vọng. Đó là một giấc mơ Chăm bất tử trên đồi Bà Nài đầy trăng.

Vương Tâm

Chuyện huyền bí về ngôi đền thiêng nổi tiếng xứ Nghệ

đăng 02:29, 30 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Vào năm 1990, đền Cuông được trùng tu một cách quy mô và năm 1995 lễ hội đền Cuông được tổ chức trở lại. Từ đây, lại xuất hiện nhiều lời đồn về sự linh thiêng của ngôi đền...

Nằm ở núi Mộ Dạ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, đền Cuông là ngôi đền cổ có lịch sử hình thành gắn với một giai thoại lạ về Thục Phán – An Dương Vương, người sáng lập nhà nước Âu Lạc trong lịch sử Việt Nam

 

Theo đó, vào năm 208 TCN, do mất cảnh giác, Thục An Dương Vương bị Triệu Đà đem quân bất ngờ tấn công, phải rút lui về phương Nam và tuẫn tiết tại Cửa Hiền, phía Bắc chân núi Mộ Dạ. Để tưởng nhớ Ngài, nhân dân vùng Diễn Châu đã lập miếu thờ ở Cửa Hiền. 

 

Theo truyền thuyết, sau ngày lập miếu thờ, mỗi khi màn đêm buông xuống lại có những đốm lửa lập lòe trên sườn núi Mộ Dạ. Các bậc cao niên trong vùng luận rằng, đó chính là linh hồn của vua Thục muốn yên ngự trên sườn núi.

 

Từ niềm tin đó, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ và rước linh hồn Ngài về để thờ phụng. Đó chính là câu chuyện lịch sử về đền Cuông – ngôi đền thờ An Dương Vương trên núi Mộ Dạ

 

Trải qua thăng trầm lịch sử, đền Cuông đã có một thời gian dài bị rơi vào quên lãng. Đến năm 1990 đền được trùng tu một cách quy mô và năm 1995 lễ hội đền Cuông được tổ chức trở lại. Từ đây, lại xuất hiện nhiều lời đồn về sự linh thiêng của ngôi đền.

 

Đúng ngày khai mạc Lễ hội đền Cuông 1995, trong khi mọi người đang ngắm nhìn màn cưỡi ngựa diễu hành của một nông dân, thì bất ngờ một con hạc trắng hạ cánh trên tay người cưỡi ngựa. Giữa sự chứng kiến của hàng ngàn người, con hạc khoe dáng mà không hề tỏ ra sợ hãi.

 

Người ta tin rằng, con hạc trắng chính là hóa thân của Mỵ Châu - con gái An Dương Vương Thục Phán - về tham gia lễ hội cùng mọi người. Sau đó, hạc được rước vào đền, cho đậu ở một nơi trang trọng, có không gian thoáng để người người chiêm ngưỡng

 

Đúng một ngày sau khi lễ hội kết thúc, hạc cũng chết. Điều này càng khiến dân chúng tin rằng con hạc có mối liên hệ với câu chuyện cổ xưa về tấm lòng trong sạch và cái chết oan khốc của nàng Mỵ Châu

 

Sau khi tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia, hạc đã được mang ra Hà Nội để nhồi xác và sau đó được đưa vào lồng kính chuyển về trưng bày ở đền Cuông. Ngày nay, con hạc đã trở thành một linh vật, được nhiều người chiêm bái khi ghé thăm ngôi đền.

 

Tại lễ hội đền Cuông 1996, ở bờ biển Cửa Hiền phía sau đền, một con cá voi chết dạt vào bờ, ở nơi được cho là có miếu thờ An Dương Vương khi xưa. Dân chúng lại tin rằng chuyện này ứng nghiệm với truyền thuyết sau khi giết Mỵ Châu, An Dương Vương gieo mình xuống biển Cửa Hiền

 

Lễ an táng xác cá voi năm ấy có sự tham gia của hàng vạn người với những nghi thức trang trọng nhất. Ngày nay, nhiều du khách về tham quan đền Cuông cũng không quên ghé qua mộ cá voi thắp nén nhang, như để tưởng nhớ đến công ơn của vị vua năm xưa...

Chuyện về danh tướng Đào Nhã và di tích đình Đồng

đăng 05:46, 9 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đình Đồng thuộc thôn Đồng Xá Bắc, xã Đồng Cẩm (trước là xã Đồng Gia, Kim Thành) thờ danh tướng Đào Nhã - người có công đánh giặc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII. 

Cảnh quan của khu di tích đình Đồng 


Thôn Đồng Xá Bắc và Đồng Xá Nam hiện nay nguyên là làng Đồng Xá, tên nôm là Đồng - một làng cổ với thiết chế xã hội chặt chẽ. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, vùng đất này xưa là đất Phí Gia thuộc Trà Hương. Đời Lê Thánh Tông có tên là huyện Kim Thành (năm 1469) thuộc phủ Kinh Môn. Năm Minh Mệnh 14 (năm 1833) đổi thuộc phủ Kiến Thụy. Đầu thế kỷ XIX, Đồng Xá là một xã thuộc tổng Phí Gia, huyện Kim Thành, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, xã Đồng Xá chuyển thành thôn và sáp nhập với thôn Phí Gia, lập thành xã mới lấy tên là Đồng Gia. Năm 1990, do địa bàn rộng, dân số đông, thôn Đồng Xá tách thành hai thôn Đồng Xá Bắc và Đồng Xá Nam. Đình Đồng nằm tại thôn Đồng Xá Bắc, nhưng nhân dân địa phương vẫn gọi là đình Đồng theo tên nôm và di tích là công trình tín ngưỡng chung của hai thôn.

Di tích đình Đồng gắn liền với việc tôn thờ danh tướng Đào Nhã. Các tài liệu như sắc phong, câu đối, đại tự, bản thần tích do Nguyễn Bính soạn vào năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) cho biết: D­ưới triều vua Trần Nhân Tông (1279 - 1293), ở trang Thịnh Liệt, huyện Quế D­ương, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc có một gia đình họ Đào, tên húy là Hùng, vợ cũng là người bản quận, tên húy là Tuân, tiên tổ đều được vua phong chức tước. Hai ng­ười sống với nhau thuận hòa, lấy nghề làm thuốc để sinh sống, một điều thiện dù nhỏ cũng làm, điều ác dù bé cũng không, nổi tiếng là người không tơ hào điều lợi nên luôn được khen là gia đình tích thiện.

Sau đó, họ sinh đ­ược một người con trai thiên tư khác lạ, thể diện khôi ngô đặt tên là Đào Nhã và năm 7 tuổi cho đi học. Năm Đào Nhã 9 tuổi, cha mẹ đều đột ngột qua đời. Từ đó, Đào Nhã chăm chỉ việc hương hỏa phụng thờ cha mẹ. Khi Đào Nhã 16 tuổi đã học thành tài, văn võ song toàn.

Bỗng năm đó, giặc Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dẫn thủy lục quân sang chiếm nước ta, vua sai đình thần đi khắp nơi tìm ngư­ời tài giúp nư­ớc. Khi được triệu vào triều, Trần Quốc Tuấn tâu với vua rằng: "N­ước ta giàu, quân ta mạnh, uy đức của bệ hạ ra đến tận ngoài nước, lòng ng­ười x­ương tủy gắn bó, lại đ­ược lòng trời sai nhiều nhân tài xuống giúp. Thần nghe nói có một ng­ười họ Đào tên Nhã văn võ toàn tài, anh hùng thao l­ược, trí dũng hơn người, thần sẽ triệu ngay người ấy đến, hỏi han và ban chức t­ước, giao cho quân sĩ đi tuần tra các đạo, lựa chọn t­ướng tài, phân chia đội ngũ, tiến đánh quân Nguyên, ngày kia có thể dẹp yên đ­ược”. Nhà vua nghe tin rất mừng cho ngư­ời gọi Nhã công đến, phong làm “Thống chế thủy đạo t­ướng quân” tuần phòng hai đạo Đông và Bắc.

Khi đến đất Hải Dương trời vừa tối, Đào Nhã cho quân đóng tại trang Đồng Xá, xã Lạc Thiện, tổng Phí Gia (nay là xã Đồng Cẩm, huyện Kim Thành) và dựng một đồn lớn để chống quân Nguyên. Vùng đất mà ngài quản binh trấn giữ có vị trí quan trọng nhằm chặn đánh trước sự tiến lui của giặc. Nơi đây có dòng sông Kinh Thầy chạy qua tiến về Vạn Kiếp - đại bản doanh của Trần Hưng Đạo. Và cũng từ đây ngược sông Kinh Thầy tiến về cửa biển Bạch Đằng. Nhận thấy vị trí, vai trò trọng yếu của địa bàn canh giữ, Đào Nhã không ngừng quy tụ dân binh trong vùng luyện tập võ nghệ… thanh thế ngày càng vang xa khắp vùng rộng lớn. Sau đó, ngài nhận đư­ợc lệnh của Trần Quốc Tuấn, kết hợp với các cánh quân khác đánh trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng. Do thế trận thuận lợi và ý chí quyết chiến quyết thắng của quân đội nhà Trần, trận Bạch Đằng đã toàn thắng.

Đất nư­ớc sạch bóng quân Nguyên Mông, vua hạ chiếu vời các t­ướng có công về triều ban thưởng. Đào Nhã phụng chiếu, lúc thuyền vừa ra khỏi sông Bạch Đằng về trung l­ưu, không may bị đắm và ông mất tại đó. Nghe tin ông mất, vua vô cùng th­ương tiếc, liền sai đình thần đến hành lễ, đồng thời truyền cho nhân dân lập miếu thờ, tặng phong “Đ­ương cảnh Thành hoàng”, giúp vua giữ nư­ớc, bảo vệ dân, xứng đáng là Trung đẳng Thần.
Do có công lao to lớn với nước, với dân, danh tướng Đào Nhã được nhân dân làng Đồng Xá thờ tự từ đó đến nay.

Theo các cụ cao tuổi trong làng, ban đầu đình Đồng có quy mô nhỏ. Trải qua thời gian, ngôi đình bị xuống cấp. Năm 1936, lý trưởng Bùi Thế Siêu đứng ra huy động tiền của và sức lực của nhân dân địa phương xây dựng lại, đến năm 1942 thì hoàn thành.

Đình có kiến trúc kiểu chữ Đinh gồm 5 gian đại bái và 2 gian hậu cung, tọa lạc trên một mảnh đất cao ráo, thoáng rộng. Cùng với đình, các công trình phụ trợ khác và hệ thống cây xanh cũng đang được xây dựng, quy hoạch tạo cho cảnh quan của khu di tích ngày một khang trang.

Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của đình Đồng luôn được chính quyền và nhân dân quan tâm. Hằng năm, cứ đến ngày mùng 10 tháng giêng, nhân dân địa phương lại mở hội để tưởng nhớ công đức của danh tướng Đào Nhã. Trong lễ hội có rước kiệu quanh làng, qua cổng nhà thờ Thiên chúa, chùa Bùi, chùa Hưng Long, sau đó về đình tế lễ, tổ chức các hoạt động hội. Ngoài lễ hội chính, trong các ngày mùng 1 và 15 hằng tháng, nhân dân vào tổ chức thắp hương lễ thánh. Di tích là nơi hội họp của dân làng trong những ngày lễ, ngày Tết cũng như các hoạt động cộng đồng khác.

Kháng chiến chống thực dân Pháp (từ năm 1946 - 1954), di tích là địa điểm bầu cử Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hội nghị hiệp thương giữa hai làng Đồng Xá và Phí Gia, thống nhất lấy tên xã là Đồng Gia; là nơi tổ chức các lớp “Bình dân học vụ". Trong kháng chiến chống Mỹ, đình là trụ sở làm việc của UBND xã, đồng thời cũng là nơi tập trung tiễn đưa hàng trăm con em địa phương lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa, đình Đồng được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử năm 2010. 

ĐẶNG THU THƠM

Bốn người con còn sống sót của Nguyễn Trãi

đăng 01:09, 24 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Vụ án Lệ Chi Viên đã giết hại nhiều người trong gia đình, họ tộc Nguyễn Trãi. May mắn là vẫn còn những người sống sót. 

Nhà thờ dòng họ Nguyễn Trãi ở thôn Chi Ngãi, phường Cộng Hòa (Chí Linh). Ảnh: Thành Chung 


Họ đã phải phiêu tán khắp nơi, mai danh ẩn tích song vẫn duy trì được dòng tộc cho đến ngày nay.

Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi là người có đóng góp to lớn cho dân tộc, nhưng cũng chịu nỗi oan khuất đau xót nhất trong lịch sử. Vụ án xảy ra vào năm Nhâm Tuất (1442) khi vua Lê Thái Tông đi tuần thú miền Đông. Sau khi duyệt võ ở thành Chí Linh, nhà vua về Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi. Ngày 4.8 (âm lịch), trên đường về Thăng Long, vua Lê Thái Tông nghỉ tại ly cung Lệ Chi Viên, nay thuộc xã Đại Lai, huyện Gia Bình (Bắc Ninh). Đêm đó, nhà vua đột ngột băng hà. Triều đình đã khép Nguyễn Trãi vào tội sai vợ là Nguyễn Thị Lộ đầu độc giết vua và kết án tru di tam tộc. Ngày 16.8, Nguyễn Trãi và ba họ đã rơi đầu tại pháp trường Thăng Long.

Theo gia phả họ Nguyễn ở Chi Ngãi, phường Cộng Hòa (Chí Linh), Phương Quất (Kinh Môn) và gia phả ở Nhị Khê (Thường Tín, Hà Nội), thì Nguyễn Trãi có 5 bà vợ và 7 người con. Vợ cả là bà Trần Thị Thành sinh được 3 người con là Nguyễn Khuê, Nguyễn Ứng, Nguyễn Phù (tức Nguyễn Hồng Quý hay Hồng Quỳ). Vợ thứ hai họ Phùng (quê ở xã Nguyệt Áng, Thanh Trì, Hà Nội) sinh được 3 người con là Nguyễn Thị Trà, Nguyễn Bản, Nguyễn Tích. Vợ thứ ba là bà Nguyễn Thị Lộ (quê ở Hưng Hà, Thái Bình) không có con. Vợ thứ tư là bà Phạm Thị Mẫn (quê ở làng Nỗ Vệ, Thuỵ Phú, Phú Xuyên, Hà Nội) sinh được 1 người con là Nguyễn Anh Vũ. Vợ thứ năm là bà Lê Thị phu nhân (người làng Chi Ngãi, phường Cộng Hòa, Chí Linh) sinh được 1 người con là Nguyễn Năng Đoán.

Sau vụ án Lệ Chi Viên, nhiều người trong gia đình, họ tộc Nguyễn Trãi đã bị hành hình, có những người lánh nạn trốn án. Căn cứ vào các gia phả, kết hợp với kết quả khảo sát thực tế tại các chi họ Nguyễn, bước đầu xác định nhiều người trong gia đình Nguyễn Trãi còn sống sót. Ngoài một số anh em của Nguyễn Trãi, các gia phả ghi lại còn 2 trong tổng số 5 người vợ của ông thoát nạn là bà Phạm Thị Mẫn và Lê Thị phu nhân. Theo một số nhà nghiên cứu lịch sử, trong 7 người con của Nguyễn Trãi, còn 3 người con trai và 1 người con gái thoát nạn tru di. Người đầu tiên là Nguyễn Phù. Sau vụ án Lệ Chi Viên, Nguyễn Phù chạy về Phù Đàm (nay là Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh) ẩn tích, sau đó phát triển chi họ Nguyễn ở đó. Trong gia phả “Nguyễn Thị gia kê” viết đời Lê Chính Hòa năm thứ 17 (1698), trong phần dẫn tích trang 2 có ghi: “Họ ta trước ở xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, xứ Sơn Nam, sau do gặp đại biến con cháu phải chạy tản mát nhiều nơi. Một chi về sau cư trú ở nguyên quán xã Nhị Khê. Một chi về ở tại xã Phù Đàm, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc”.

Người con thứ 2 của Nguyễn Trãi sống sót là Nguyễn Anh Vũ. Khi vụ án Lệ Chi Viên xảy ra, bà Phạm Thị Mẫn (vợ thứ tư của Nguyễn Trãi) đang mang thai Nguyễn Anh Vũ tháng thứ ba. Bà được người học trò cũ của Nguyễn Trãi là Lê Đạt đưa vào trốn tại xứ Bồn Man (phía tây Thanh Hóa). Sau khi vụ án lắng xuống, bà về thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia nương náu, ẩn dật. Tại đây, bà sinh Nguyễn Anh Vũ. Để tránh sự truy sát của triều đình, Nguyễn Anh Vũ được đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông ban chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, kết thúc vụ án Lệ Chi Viên. Lúc này, Nguyễn Anh Vũ là đại diện duy nhất của gia tộc ra nhận chiếu chỉ của triều đình. Đồng thời, Nguyễn Anh Vũ được vua Lê Thánh Tông phong chức Đồng Tri phủ Tĩnh Gia, cấp cho 100 mẫu ruộng gọi là “miễn hoàn điền” (ruộng không phải trả lại) để con cháu đời đời phụng thờ, hương khói. Nhớ ơn cha ông tổ tiên, Nguyễn Anh Vũ xây dựng mộ Nguyễn Trãi tại làng Dự Quần, lấy ngày mất của Nguyễn Trãi (16.8 âm lịch) là ngày giỗ họ. Sau này, con cháu chuyển lấy ngày mất của Anh Vũ làm ngày giỗ họ.

Nguyễn Anh Vũ lấy 2 bà vợ sinh được 7 người con trai và 1 người con gái. Khi các con phương trưởng, ông cử các con về các nơi để phục hồi lại dòng họ ở Nhị Khê (Hà Nội), Chi Ngãi (Hải Dương), Thuỵ Phú (Phú Xuyên, Hà Nội) và hình thành, phát triển một số chi họ Nguyễn ở Hải Anh (Hải Hậu, Nam Định), Xuân Dục (Mỹ Hào, Hưng Yên), Dự Quần (Xuân Lâm, Tĩnh Gia, Thanh Hóa)...

Người con thứ ba của Nguyễn Trãi sống sót là Nguyễn Năng Đoán. Khi gia đình bị triều đình khép tội tru di, bà Lê Thị phu nhân đang mang thai tháng thứ ba. Bà bỏ chạy về Phương Quất (Kinh Môn), sinh con rồi đặt tên là Nguyễn Năng Đoán. Sau này, Nguyễn Năng Đoán đã phát triển thành nhiều chi họ Nguyễn ở Phương Quất, Quế Lĩnh (Kinh Môn), Triều Bến (Đông Triều, Quảng Ninh)…

Nguyễn Thị Đào là người con thứ tư và cũng là cô con gái duy nhất của Nguyễn Trãi sống sót. Theo công trình nghiên cứu của Trúc Khê về Nguyễn Trãi thì Nguyễn Thị Đào bị câm từ nhỏ. Khi gia biến, các phụ nữ trong nhà bị sung làm thiếp, nàng còn nhỏ và được một hoạn quan đưa về nuôi. Sau khi viên hoạn quan mất, Nguyễn Thị Đào lưu lạc giáo phường tự nhiên nói được, sau vào cung ca hát, được vua Lê Thánh Tông chiếu cố, phong làm Chiêu nghi trong cung.

Như vậy, sau vụ án Lệ Chi Viên năm 1442, nhiều người trong gia tộc Nguyễn Trãi thoát nạn. Nhờ sự che chở và đùm bọc của nhân dân nên những người con của Nguyễn Trãi đã sống sót, tạo dựng cơ nghiệp, sinh ra các đời con cháu. Với ý thức về tông tộc, cội nguồn, họ đã phân các con cháu đi các nơi khởi dựng lại dòng họ, lập từ đường để thờ cúng. Hơn 5 thế kỷ hồi sinh phát triển, dòng họ Nguyễn Trãi hiện đã trở thành một dòng họ lớn có mặt ở nhiều nơi và có nhiều đóng góp. 

BÌNH MINH

Khám phá trận Ngọc Hồi qua mô hình lịch sử ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

đăng 01:52, 6 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trận Ngọc Hồi 1789 giữa đại quân của hoàng đế Quang Trung với quân Thanh là một trong những trận đánh quan trọng nhất lịch sử Việt Nam. Cùng khám phá trận đánh này qua mô hình lịch sử của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam.

Trận Ngọc Hồi là trận tấn công then chốt của hướng chính binh Tây Sơn vào ngày 30/ 1/1789, do Hoàng đế Quang Trung chỉ huy trong cuộc chiến chống quân Thanh can thiệp ở phía Bắc Bộ. 

 

Sau khi đồn Hà Hồi thất thủ 2 ngày trước, đồn Ngọc Hồi đã được tăng viện, với quân số lên đến 30.000 quân tinh nhuệ, hỏa lực mạnh. Ngoài lũy đất, đồn này còn có hàng rào chông sắt, địa lôi, là tiền đồn kiên cố, then chốt trong hệ thống phòng thủ bảo vệ Nam thành Thăng Long của quân Thanh

 

Sáng 29/1 (mùng 4 Tết), vua Quang Trung dùng các toán quân nhỏ đánh khiêu khích ngoại vi Ngọc Hồi tạo sự căng thẳng cho quân Thanh và gây bất ngờ cho cánh quân đô đốc Long đánh đồn Đống Đa

 

Mờ sáng 30/1 (mùng 5 Tết), quân Tây Sơn bắt đầu tấn công từ hướng Nam. Mở đầu, đội tượng binh gồm trên 100 voi chiến đánh tan phản kích của kị binh của đối phương

 

Tiếp sau, đoàn bộ binh Tây Sơn gồm 600 quân cảm tử chia làm 20 toán, trang bị đoản đao, ván chắn bằng gỗ quấn rơm ướt che mình, tiến thành hàng ngang áp sát chiến luỹ

 

Được mở đường, đại quân của hoàng đế Quang Trung tiến lên công đồn với khí thế ngút trời

 

Nhiều loại hỏa khí tối tân của quân Tây Sơn như đại bác, hỏa hổ (ống phun lửa), hỏa cầu lưu hoàng (lựu đạn lửa) khiến kẻ thù thật sự khiếp đảm

 

Trước sức tấn công của Tây Sơn, quân Thanh chống không nổi, chết và bị thương quá nửa. Đồn Ngọc Hồi bị chiếm giữ. Đề đốc Hứa Thế Hanh và tả dực Thượng Duy Thăng bị giết. Đám tàn quân bỏ chạy về Thăng Long, bị đạo quân của đô đốc Bảo phục kích tại đầm Mực, tiêu diệt toàn bộ

 

Việc đồn Ngọc Hồi thất thủ đã mở toang cánh cửa chiến thắng. Quân Tây Sơn thừa thắng đánh chiếm đồn Văn Điển và tiến thẳng vào Thăng Long. Sầm Nghi Đống tuyệt vọng, thắt cổ tự tử

 

Trận Ngọc Hồi là chiến thắng quân sự tiêu biểu, thể hiện tài năng cầm quân của hoàng đế Quang Trung. Trận này, quân Thanh có quân số đông hơn 2-3 lần (tùy theo các thống kê khác nhau), có cả ưu thế về địa hình (phòng thủ trong thành lũy), lại cộng thêm cả quân Lê Chiêu Thống hỗ trợ

 

Nhưng bất chấp những khó khăn đó, vua Quang Trung đã hành quân thần tốc và đánh tan lực lượng quân Thanh và Lê Chiêu Thống, chiếm lại được kinh đô Thăng Long chỉ trong vòng 5 ngày

 

Chiến thắng Ngọc Hồi đã giữ vững sự tồn tại của nước Việt trước họa xâm lược, chấm dứt kế hoạch xâm chiếm của nhà Thanh, đồng thời đánh dấu việc nhà Tây Sơn chính thức thay thế nhà Hậu Lê trong việc cai quản đất Bắc Hà và trong quan hệ với nhà Thanh.

Giai thoại cung đình kỳ bí ở điện Hòn Chén

đăng 02:37, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trái với chuyện vua Minh Mạng, giai thoại về vua Đồng Khánh ở điện Hòn Chén lại được các sử gia nhà Nguyễn ghi lại khá rõ...

Nằm trên núi Ngọc Trản bên bờ sông Hương, điện Hòn Chén không chỉ là một đại danh thắng của Cố đô Huế mà còn là một địa danh gắn với những giai thoại kỳ lạ về hai vị vua nhà Nguyễn là Minh Mạng và Khải Định

 

Đầu tiên là chuyện vua Minh Mạng trong một lần đi thuyền lên đây đã đánh rơi một chén ngọc xuống dòng sông Hương. Tưởng không cách gì lấy lại được thì bỗng nhiên một con rùa to bằng chiếc chiếu nổi lên ngậm chén ngọc trả lại cho nhà vua

 

Từ giai thoại này mà điện Hòn Chén còn có tên là Hoàn Chén với ý nghĩa “trả lại chén ngọc”. Dù vậy, chuyện không được ghi lại trong chính sử, và các nhà nghiên cứu cho rằng nó chỉ là sản phẩm từ trí tưởng tượng của dân gian

 

Trái với chuyện vua Minh Mạng, giai thoại về vua Đồng Khánh ở điện Hòn Chén lại được các sử gia nhà Nguyễn ghi lại khá rõ. Theo đó, từ năm 1883-1885, do hoàn cảnh lịch sử éo le, vua Ðồng Khánh chờ đợi mãi vẫn chưa được lên ngôi cha nuôi là vua Tự Ðức

 

Ông nhờ đền Ngọc Trản (điện Hòn Chén) cầu đảo và hỏi Thánh Mẫu Thiên Y A Na – vị nữ thần của văn hóa Chăm được người Việt thờ tự ở đền - xem mình có làm vua được không. Mẫu cho biết ông sẽ toại nguyện

 

Bởi vậy, sau khi lên ngôi năm 1886, vua Ðồng Khánh liền cho xây lại đền này một cách khang trang, làm thêm nhiều đồ tự khí để thờ và đổi tên là Huệ Nam Ðiện để tỏ lòng biết ơn Thánh Mẫu (Huệ Nam nghĩa là ban ân huệ cho nước Nam, vua Nam).

 

Sách Đại Nam thực lục chép về chuyện này: “Vua khi còn ẩn náu thường chơi xem núi ở đây. Mỗi khi đến cầu khẩn, phần nhiều có ứng nghiệm. Đến nay vua phê bảo rằng: Đền Ngọc Trản thực là núi Tiên Nữ, linh sơn sáng đẹp muôn đời, trông rõ là hình thế như con sư tử uống nước sông, quả là nơi chân cảnh thần tiên...”.

 

“...Đền ấy nhờ được linh khí đắc nhất, cứu người độ đời, giúp cho phúc lợi hàng muôn, giúp dân giữ nước. Vậy cho đổi đền ấy làm điện Huệ Nam để biểu hiện ơn nước một phần trong muôn phần”.

 

Sau khi cho tu sửa điện Hòn Chén, chính vua Ðồng Khánh đã đưa cuộc lễ hằng năm tại đây vào hàng quốc lễ và tự nhận mình là đồ đệ của Thánh Mẫu, mặc dù nhà vua chỉ gọi thánh mẫu bằng "Chị".

 

Đây là một sự lạ, vì theo nguyên tắc xưa, ông vua nào cũng đứng trên các thánh thần trong cả nước, nhưng ở đây vua Ðồng Khánh lại hạ mình xuống làm "em" của Mẫu

 

Cũng theo truyền thuyết, Thánh Mẫu Thiên Y A Na đã cho Đồng Khánh (lúc còn là hoàng tử) biết ngày ông đăng quang và ngày tạ thế sau ba năm (1889). Sự thật đã diễn ra đúng như lời tiên đoán của Bà...

Chuyện vua Gia Long xây lăng mộ cho mình

đăng 02:27, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Theo quan niệm phong thủy của người xưa, chọn được nơi an táng tốt thì con cháu phát phúc dài lâu. Do vậy, vua Gia Long đã tìm kiếm nơi an nghỉ cuối cùng của mình từ khi còn ở trên ngai vàng.

Thiên Thọ Lăng (xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế) là tên gọi lăng vua Gia Long (1762-1820), vị vua sáng lập triều Nguyễn. Lịch sử hình thành khu lăng mộ này gắn với nhiều câu chuyện ly kỳ được lưu truyền trong sử sách

 

Theo quan niệm phong thủy của người xưa, chọn được nơi an táng tốt thì con cháu phát phúc dài lâu. Do vậy, vua Gia Long đã tìm kiếm nơi an nghỉ cuối cùng của mình từ khi còn ở trên ngai vàng

 

Tương truyền, vua giao cho Thượng thư bộ Binh Phạm Như Đăng, đại thần Tống Phúc Lương và Lê Duy Thanh – con trai nhà bác học Lê Quý Đôn lo tìm huyệt địa. Duy Thanh đã chọn được một thế đất ưng ý và tâu vua. Tuy nhiên, là một người rất kỹ tính, sau đến nơi xem xét, vua Gia Long không đồng ý.

 

Sau đó, Lê Duy Thanh đề xuất khu vực Thiên Thọ Sơn (vị trí lăng ngày nay), nơi có 42 ngọn núi lớn nhỏ. Khi đến xem, vua nghiêm giọng nói: “Nơi đây thật chính là nơi thích hợp cho một lăng. Thế có phải nhà ngươi muốn giữ chỗ này để chôn cho nhà ngươi phải không?". Thanh quỳ xuống van xin, vua mới tha tội.

 

Trước khi khởi công lăng, vua Gia Long lại sai hoàng tử thứ tư – một người am hiểu về Dịch học – thực hiện một quẻ bói. Được quẻ Lôi Địa Dự, quẻ mà cổ nhân chú giải rằng Đại Cát Hanh - nghĩa là rất tốt và hanh thông. Đến đây vua không còn phải lăn tăn về quyết định của mình

 

Vua Gia Long muốn xây theo lối Hiệp lăng (quần thể lăng mộ) nên trong khu vực đã chọn, ngoài tìm kiếm huyệt táng cho chính mình, ông lại cho tìm kiếm phúc địa để táng những họ hàng khác. Có vị trí quan trọng nhất trong số đó là lăng Thoại Thánh - nơi an táng mẹ ông

 

Khi xây lăng Thoại Thánh, nhiều sự lạ đã xảy ra. Đầu tiên, lúc đặt địa bàn xuống để định phương hướng thì địa bàn vỡ. Cho rằng thần núi ngăn cản, vua lớn tiếng than: “Quý gì mảnh đất này mà người lại cố giữ không cho trẫm chôn mẫu hậu?”. Rồi vua bảo các quan đặt lễ cúng thần và tiến hành xây lăng

 

Chuyện tiếp theo là khi lăng được xây dựng, một lần vua lên quan sát tiến độ thì một trận cuồng phong nổi lên. Cái rạp có vua và các quan đứng bị sập, vua bị một thanh gỗ đè ở chân, trán bị chảy máu. Hai hoàng tử Tân và Phổ cùng một số người khác bị thương nặng.

 

Có người tâu vua Gia Long trừng trị viên đốc công phụ trách dựng rạp. Nhưng nhà vua không hề trách giận mà bình thản trả lời “Làm sao mà chống nổi với bão tố” rồi tha tội cho viên đốc công.

 

Một chuyện khác là trong lúc xây lăng Thoại Thánh, khi đào huyệt thấy đất dưới huyệt có 5 màu khác nhau. Cho là điềm lành, các quan đều chúc tụng, riêng Nguyễn Văn Thành chỉ đứng yên lặng. Vua hỏi vì sao thì Thành đáp: “Việc ấy chẳng có gì lạ. Huyệt chôn thân mẫu của hạ thần đất cũng có năm màu như thế”.

 

Thành nói tiếp: “Tại châu Ê có một huyệt rất tốt”. Có người hỏi: “Thế sao ông không tâu để hoàng đế biết?” Thành đáp: “Chỗ đất thì tốt nhưng không nên chôn vì quan tài đặt vào đó có thể bị sét đánh”. Dường như, câu trả lời thẳng tuột đã khiến vua bất bình... (Bài có sử dụng tư liệu từ cuốn "Kể chuyện các vua Nguyễn"/Tôn Thất Bình).

Chuyện tìm đất xây lăng vua Minh Mạng

đăng 02:13, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Vì sự dùng dằng của mình, phải mất hai năm kể từ ngày từ giã cõi đời, vua Minh Mạng mới thực sự được an nghỉ ở một nơi đúng như ước nguyện lúc sinh thời...

Nằm trên núi Cẩm Khê ở cố đô Huế, lăng vua Minh Mạng hay Hiếu Lăng là một công trình gây ấn tượng mạnh với những tòa nhà tráng lệ kết hợp hài hòa với khung cảnh thiên nhiên tuyệt vời. Trong chuyện tìm đất và xây cất lăng mộ này, quần thần nhà Nguyễn đã phải lao tâm khổ tứ khá nhiều... 

 

Cũng như vua cha Gia Long, vua Minh Mạng đã chuẩn bị cho hậu sự của mình khi đang ở trên ngai vàng. Năm 1826, vua cho văn võ đình thần đi tìm hai ngôi đất là “Vạn niên đại cát địa” và “Vạn niên cát địa” để dùng làm nơi an táng cho mẹ vua và vua.

 

Trong thuật ngữ phong thủy, “Vạn niên cát địa” có nghĩa đen là “đất tốt lành vạn năm”, còn “Vạn niên đại cát địa” có thể coi là đất “không thể tốt hơn được nữa”. Đây là đất có địa thế hoàn hảo, gần chốn khí thiêng, vua chúa được an táng sẽ để lại phước ấm cho cơ đồ của triều đại được dài lâu

 

Các quan đi khảo sát đợt đầu trở về đưa ra nhiều đề xuất khác nhau. Tuy nhiên, sau một cuộc tranh luận không có hồi kết, vua lại sai Kiến An công Đài, Định Viễn công Bính cùng với các đại thần là Trần Văn Năng, Phan Văn Thuý và Lương Tiến Tường, đi khảo sát lần nữa

 

Khi về họ đều nói: “Trải xem các kiểu đất chỉ có xứ Lẫm Sơn đáng là ngôi Vạn niên đại cát địa và xứ Kiều Long đáng là ngôi Vạn niên cát địa”. Lần nay, không còn thấy các quan bàn ra bàn vào mà ý kiến đều đồng thuận

 

Nhưng vua đã làm các cận thần chưng hửng khi lại bàn lùi: “...Ngôi Vạn niên đại cát địa, lòng trẫm chưa yên, không nên bàn vội. Duy ngôi Vạn niên cát địa thì cũng nên bắt chước đời xưa, dần dần xây dựng, đợi sau này lần lượt xuống chỉ thi hành cũng là phải”.

 

Rốt cục, vị vua thứ hai của nhà Nguyền đã cân nhắc suốt 14 năm mới chọn được vị trí lăng mộ của mình. Đến năm 1840, ông quyết định cho xây dựng lăng ở núi Cẩm Khê (tức cuộc đất ở xứ Nhự Mai)

 

Vào năm đó, vua Minh Mạng đổi tên núi Cẩm Khê thành Hiếu Sơn. Vua đích thân ngự đến đấy xem và bảo thị thần rằng: “Núi này phong thuỷ rất tốt từ trước chưa ai xem ra. Nay mới xem được chỗ đất tốt ấy, thực đáng vui mừng”

 

Đây là vùng đất gần ngã ba Bằng Lãng, là nơi hợp lưu của hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch để tạo thành sông Hương, cách kinh thành Huế 12 km. Dù đã tìm được đất tốt, việc xây lăng đã có khởi đầu không được suôn sẻ

 

Lăng khởi công được vài tháng, đến tháng 8/1840 thì vua lên kiểm tra thấy không vừa ý nên đình chỉ công việc và giáng chức quan trông coi. Một tháng sau đó mới lại cho tiếp tục công việc trở lại.

 

Công việc xây lăng tiến hành chưa bao lâu thì tháng 1/1841 vua Minh Mạng băng hà. Sau đó vua Thiệu Trị nối ngôi đã sai các đại thần huy động gần 1 vạn lính và thợ thi công hối hả lăng mộ cho vua cha theo đúng bản vẽ đã được Minh Mạng chuẩn y

 

Ngày 20/8/1841, thi hài vua Minh Mạng được đưa vào chôn ở Bửu Thành nhưng việc xây lăng thì mãi đến đầu năm 1843 mới hoàn tất. Như vậy, phải mất hai năm kể từ ngày từ giã cõi đời, vua mới thực sự được an nghỉ ở một nơi đúng như ước nguyện lúc sinh thời...

Vì sao khách thường chui qua chân ngựa ở ngôi chùa cổ 150 năm tại Bình Dương?

đăng 03:36, 15 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Một ngôi chùa có lịch sử hơn 150 năm ở Bình Dương mang tên Chùa Ông (người dân địa phương quen gọi là chùa Ông Ngựa). Tuy nhiên, không phải ai cũng biết về nguồn gốc ngôi chùa cũng như vì sao khách hành hương ra về phải chui qua chân một con ngựa.


Vào một ngày đầu tháng 3, chúng tôi tìm về ngôi chùa mang tên Chùa Ông (tên gọi khác là chùa Ông Ngựa) tọa lạc trên đường Hùng Vương thuộc phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. 

Cũng như nhiều ngôi chùa khác ở Bình Dương, hằng ngày đều đón nhiều lượt khách địa phương và cả các tỉnh, thành lân cận. Thế nhưng, với chùa Ông Ngựa, có lẽ không phải ai cũng biết rõ về nguồn gốc cũng như vì sao khi ra về khách hành hương phải chui qua chân một con ngựa trước cổng. 

Chùa Ông Ngựa ở Bình Dương 


Theo tài liệu được ghi chép lại của Hội khoa học lịch sử tỉnh Bình Dương, sở dĩ có tên là chùa Ông là vì chùa thờ Quan Thánh Đế Quân (hay còn gọi là Quang Công, Quang Vân Trường) – một nhân vật lịch sử người Hoa sống ở thời Tam Quốc. Tuy nhiên, người dân địa phương quen gọi là chùa Ông Ngựa bởi vì trước sân chùa có miếu thờ tượng một con ngựa (còn gọi là tượng xích thố). 

Được xây dựng vào năm 1868, ban đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ tên Thanh An cung về sau đổi thành Thanh An tự. Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu nhưng vẫn tọa lạc tại vị trí như ngày nay. 

Cổng chính được xây dựng theo kiểu cổ lầu, tầng trên được trang trí hình: tứ linh, mặt trăng, mặt trời, bát tiên…, các hình vẽ tái hiện lại các điển tích trong Tam quốc diễn nghĩa. Các họa tiết, hoa văn trang trí trên cổng được vẽ, chạm nổi công phu, tinh xảo. Riêng các con rồng trang trí trên nóc mái được ốp từ các mảnh gốm sứ rất công phu, có giá trị nghệ thuật cao.

Án ngữ ngay phía dưới cổng chính là pho tượng xích thố. Ngựa đúc bằng bê tông cốt thép, dài khoảng 3m, cao 2m. Trên lưng ngựa có gắn yên, chạm khắc văn thư, cổ đeo yếm trong tư thế phóng ngang qua chùa.Tượng ngựa cùng thanh long đao dựng đứng kế bên do một nghệ nhân ở tận Thừa Thiên Huế chế tác từ cuối năm 1930.

Khách hành hương ra về phải chui qua con ngựa trước cổng chùa 


Chùa có kiến trúc hình chữ “Nhất” chỉ gồm một dãy nhà, được xây dựng theo phong cách kiến trúc chùa chiền Huế. Được biết trước đây, phần lớn kết cấu của ngôi chánh điện đều bằng gỗ, sau này khi trùng tu thì được xây lại toàn bộ bằng bê tông cốt thép, lớp cửa gỗ của chánh điện cũng được làm lại mới hoàn toàn. 

Trong chánh điện có bàn thờ chính thờ Quan Thánh Đế Quân, ngoài ra còn thờ phụng một số vị thần khác như: các thần Phước, Lộc, Thọ, Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Thần Hoàng bổn xứ,… 

Sau khi khấn vái, tham quan chùa xong, khách đến chùa có thể ghi tên dâng hương cúng theo tháng, cúng sao, cầu siêu và có thể dùng tiệc chay tại sân chùa vào các ngày vía Ông. Một điều quan trọng, trước khi ra về khách viếng chùa chui qua con ngựa án ngự trước cổng để cầu mong sức khỏe, học hành giỏi gian, diệt trừ mọi xui rủi… 

Hàng năm, tại chùa đều có tổ chức lễ vía Quan Thánh Đế Quân. Nếu như trước đây chỉ có ngày vía Quan Thánh Đế Quân quy y nhà Phật (23/6 âm lịch) là cúng chay. Nhưng hiện nay, kể cả ngày vía sanh (13 tháng giêng âm lịch) và ngày vía tử (13/5), đều tổ chức cúng chay tại chùa. 

Khách hành hương đi chùa Bà thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương trong dịp lễ hội Rằm tháng giêng đừng nên bỏ qua việc viếng cảnh chùa Ông. Một ngôi chùa trang nghiêm, cổ kính với khung cảnh thanh bình nằm giữa lòng phố chợ nhộn nhịp. 

Trước cổng chùa theo hướng ra về được đặt một con ngựa để khách hành hương chui qua 


Hoa văn tinh xảo trên tường chùa 


Gian chính diện ngôi chùa 


Bên trong chùa được trang trí rồng, hoa văn sắc sảo 


Bàn thờ quan công 


Trên bàn thờ quan công được đặt một con ngựa đá 


Trên mái chùa được thiết kế nhiều hoa văn tinh xảo 


Hương Chi

1-10 of 16