Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Huyền thoại ông Đình Tây và cá sấu Năm Chèo Câu chuyện ông Đình Tây nuôi cá sấu Năm Chèo từ lâu đã trở thành huyền thoại linh thiêng gắn với giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương từ thời kỳ ...
    Được đăng 20:18, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Kinh tế và văn hóa xứ Nghệ thời Hậu Lê Xứ Nghệ thời Hậu Lê gắn liền với 400 năm lịch sử phức tạp và khắc nghiệt của đất nước. Khó khăn nhiều hơn thuận lợi, nhưng hình như đây ...
    Được đăng 06:45, 24 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hoàng đế Quang Trung với vùng đất xứ Nghệ Với vị thế trọng yếu trên bản đồ địa chính trị quân sự Đại Việt hồi thế kỷ XVIII, xứ Nghệ trở thành địa bàn quan trọng trong công cuộc ...
    Được đăng 05:35, 18 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hoan Châu - Tiền đồn của Đại Việt Dưới thời Lý - Trần, Hoan Châu/Nghệ An, từ một miền biên viễn xa xôi, đã có đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ và mở mang bờ ...
    Được đăng 06:36, 9 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Xứ Nghệ với các cuộc kháng chiến chống giặc Minh Xứ Nghệ vinh dự đã là “kinh đô kháng chiến” của nhà Hậu Trần, là “đất đứng chân” của nghĩa quân Lam Sơn và đóng góp rất nhiều cho các ...
    Được đăng 06:29, 9 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Huyền thoại ông Đình Tây và cá sấu Năm Chèo

đăng 20:18, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Câu chuyện ông Đình Tây nuôi cá sấu Năm Chèo từ lâu đã trở thành huyền thoại linh thiêng gắn với giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương từ thời kỳ khai hoang vùng Bảy Núi. Ngày nay, huyền thoại ấy vẫn có sức hút đặc biệt đối với du khách khi đặt chân đến miệt Thất Sơn hùng vĩ. 

Trong lần đến thăm vùng đất Thới Sơn (Tịnh Biên, An Giang), tôi quyết tâm tìm hiểu câu chuyện liên quan đến ông Đình Tây và cá sấu Năm Chèo. Sau hàng trăm năm, huyền thoại ấy vẫn sống trong lòng dân gian như một phần tất yếu của vùng Thất Sơn kỳ bí. Giữa cái sắt se của ngày gió lạnh, câu chuyện ấy lại một lần nữa hiện lên qua lời kể ông Nguyễn Văn Mẫn, người đang trông coi mộ phần ông Đình Tây và là hậu duệ đời thứ 4 của nhân vật huyền thoại này. 

“Ông Đình Tây tên thật Bùi Văn Tây (quên quán xã Bình Mỹ, Châu Phú), ông là đệ tử thứ 3 của Phật Thầy Tây An. Vì người vợ đầu là bà Trần Thị Trị mất sớm, ông buồn bã tìm đến vùng Hưng Thới, Xuân Sơn mới được khai hoang để phát nguyện tu hành theo Phật Thầy. Được Phật Thầy giao trông coi việc hương đăng, thờ cúng ở đình thần Thới Sơn nên người đời quen gọi là ông Đình Tây” - ông Mẫn kể. 

Mộ ông Đình Tây và người vợ sau (bà Trần Thị Của) tại xã Thới Sơn (Tịnh Biên) 

Liên quan đến huyền thoại cá sấu Năm Chèo, ông Mẫn kể: “Một ngày nọ, Phật Thầy gọi ông Đình Tây đến bảo rằng: “Ngày mai ông nên đi về hướng Đông để làm một việc thiện. Việc này cấp bách, cần tranh thủ đi nhanh!”. Nghe lời thầy dạy, ông Đình Tây nhanh chóng lên đường vào tờ mờ sáng hôm sau và cứ thẳng hướng đông mà tiến. Đến vùng Láng Linh, ông Đình Tây thấy có người thiếu phụ đang trong cơn sinh nở nhưng không có chồng bên cạnh. Hàng xóm đã rước được bà mụ về nhưng chiếc giường cũ chỉ có 3 chân, không thể nằm sinh được. Nghe vậy, ông Đình Tây mới ghé vai vào tự nguyện làm chân giường thứ 4 để thiếu phụ có nơi sinh nở”. 

Nhờ có ông Đình Tây và bà con lối xóm, thiếu phụ đã “mẹ tròn con vuông”. Người chồng làm nghề đánh bắt thủy sản, sau khi trở về nghe thuật lại câu chuyện rất cảm kích. Anh ta liền lấy hết số cá vừa bắt được biếu ân nhân của mình, nhưng ông Đình Tây không nhận. Tuy nhiên, trong số cá đó có một con cá sấu nhỏ mũi đỏ, mình ngũ sắc, điểm đặc biệt nữa là có 4 cái chân nhưng lại có đến 5 bàn chân (một bàn chân có mọc thêm cái móng đeo). Ông Đình Tây ấn tượng với con cá sấu này nên xin người ngư dân ấy mang về trình với Phật Thầy Tây An. 


Thoạt nhìn thấy con cá sấu, Phật Thầy buông tiếng thở dài, bảo ông Đình Tây nên giải thoát cho nó (ý nói diệt bỏ), bởi đây là con “ngặc ngư” sẽ nhiễu hại dân lành sau này. Dù được thầy dạy, nhưng vì bản tính lương thiện nên ông Đình Tây không nỡ giết con cá sấu mà đem thả xuống hồ sen phía trước đình Thới Sơn. Sau 3 năm, con cá sấu to bằng cái khạp da bò và bộc lộ bản tính hung dữ. Ông Đình Tây lo ngại nên đã dùng xích sắt xiềng 1 chân con cá sấu lại và nghĩ rằng, nó không có cách nào thoát đi được. 

Trong một đêm mưa to, con cá sấu tự cắn đứt 1 chân của mình để trốn về miệt Láng Linh. Khi phát hiện sự tình, ông Đình Tây báo lại cho Phật Thầy Tây An. Do đã dự đoán được sự tình, Phật Thầy liền giao cho ông Đình Tây 5 món "bảo bối", gồm: 2 cây lao, 1 cây mun cổ phụng, 1 lưỡi câu, 1 đường dây băng để đi bắt cá sấu Năm Chèo. Khi đến Láng Linh, ông Đình Tây nghe dân làng kể con cá sấu thường lên bắt heo, gà để ăn và thậm chí tấn công cả người. 

Khi ông Đình Tây xuất hiện thì con cá sấu lặn mất. Sau nhiều chuyến tới lui vùng Láng Linh mà không bắt được con cá sấu, ông Đình Tây lập bàn hương án cầu: “Nếu ngươi chịu sám hối tu hành thì hãy chờ ngày hóa kiếp, không hại dân lành”. Từ sau đó, người ta không còn thấy cá sấu Năm Chèo nổi lên nhiễu hại dân lành. Ông Đình Tây cũng lui về đình Thới Sơn tiếp tục hành đạo cho đến khi mất vào năm 1914. 

“Trải qua hàng trăm năm, những món "bửu bối" năm xưa Phật Thầy truyền cho ông Đình Tây vẫn được thế hệ con cháu chúng tôi gìn giữ, thờ phụng trong khu mộ của ông. Đây là bảo vật tinh thần, giúp chúng tôi không quên cội nguồn cũng như những huyền tích linh thiêng liên quan đến cha ông mình. 

Giờ đây, câu chuyện ông Đình Tây nuôi cá sấu Năm Chèo vẫn được người dân truyền tai nhau như một chứng tích cho thời kỳ khai sơn phá thạch ở vùng Bảy Núi và cũng để khuyên con người nên sống có nghĩa, có nhân. Trong tương lai, khi tượng cá sấu Năm Chèo đình Thới Sơn được hình thành sẽ góp phần hiện thực hóa một phần huyền tích ly kỳ này, trở thành điểm nhấn cho du khách khi đến với vùng Thất Sơn huyền bí. 

THANH TIẾN

Kinh tế và văn hóa xứ Nghệ thời Hậu Lê

đăng 06:45, 24 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Xứ Nghệ thời Hậu Lê gắn liền với 400 năm lịch sử phức tạp và khắc nghiệt của đất nước. Khó khăn nhiều hơn thuận lợi, nhưng hình như đây là thời kỳ các thế hệ người Nghệ đã định hình phẩm chất của cộng đồng, tích cực tự hoàn thiện mình để trưởng thành, và có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình lịch sử, văn hóa của dân tộc. 

Nhiều phen binh lửa

Hậu Lê kéo dài từ đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII, xen giữa là mấy chục năm của nhà Mạc. Thời kỳ này, xứ Nghệ tiếp tục quá trình tụ cư, không chỉ của người Việt/Kinh từ vùng Bắc Bộ, Thanh Hóa vào mà còn là các tộc người Thái, Mông… từ phương Bắc xuống; là quá trình hình thành tộc người Thổ. Đồng thời là quá trình tiếp tục thiên di vào phương Nam cùng với việc mở mang bờ cõi, nhất thời chúa Nguyễn. 

Mặc dù không còn là biên giới phía Nam của quốc gia, nhưng với vị thế địa chính trị - an ninh đặc biệt của mình, xứ Nghệ vẫn là nơi có nhiều chiến sự nhất bởi sự tranh giành của các thế lực, từ cục diện Nam - Bắc triều đến Đàng Trong - Đàng Ngoài, rồi phong trào Tây Sơn và rất nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình. Nhân dân điêu linh vì chiến tranh. “Nghệ An nhiều phen bị nạn binh lửa. Các huyện đồng ruộng bỏ hoang, nhân dân đói khổ. Dịch tễ lại phát sinh, người chết đến quá nửa. Nhân dân xiêu dạt, hoặc tan tác vào Nam, ra Bắc. Trong cõi Nghệ An đìu hiu vắng tanh” (Cương mục). Sự phát triển kinh tế, văn hóa của vùng đất này vì thế gặp vô cùng nhiều trở ngại. 

Bản đồ Việt Nam khoảng năm 1760, vẽ bởi công ty Cóvens e Mortier, Amsterdam. Ảnh: wikipedia 

Nền kinh tế trồi trụt

Sau chiến tranh giải phóng, bước sang thời Lê sơ, kinh tế nông nghiệp của Nghệ An được phục hồi và có bước phát triển. Việc khai hoang phục hóa được đẩy mạnh nhất là vùng ven biển và trung du. Chính sách “ngụ binh ư nông” của Nhà Lê đã khuyến khích các quan lại và dân chúng tổ chức khai khẩn, lập nhiều đồn điền, làng mạc mới như: cha con Nguyễn Xí - Nguyễn Sư Hồi ở vùng Nghi Lộc, Nghi Xuân; Nguyễn Biên ở vùng Cẩm Xuyên; Lê Khôi (Chiêu Trưng) vùng Thạch Hà; Nguyễn Nhâm Mỗ vùng Nam Đàn… Chính sách cho phép lập đồn điền của Lê Thánh Tông năm 1481 “cốt để hết sức vào việc làm ruộng rộng nguồn tích trữ cho Nhà nước” (Toàn thư). Thừa tuyên Nghệ An lúc này có 4 sở là: Đồn điền Hà Hoa (vùng Tây Nam Thạch Hà); đồn điền Đức Quang (Tây Bắc Ngàn Trươi, xuống đến La Sơn/Đức Thọ); đồn điền Anh Đô (vùng Tây Nam Anh Sơn lên Con Cuông); đồn điền Diễn Châu. Nhân công các đồn điền chủ yếu là tù nhân, tội phạm, quân lính đồn trú và dân nghèo. 

Thủy lợi được quan tâm, có chức quan Hà đê sứ trông nom việc đê điều, trị thủy và nông nghiệp từ phủ, huyện. Ở xã thì có chức xã trưởng lo việc này. Nhờ đó, nhiều công trình thủy lợi lớn được xây dựng như kênh Xước, kênh Tang (Quỳnh Lưu), kênh My (Yên Thành), các kênh Thiết, Hương Cái, Đích (Hưng Nguyên), kênh Na (Cẩm Xuyên), kênh Lạc (Kỳ Anh). Kênh Nhà Lê tiếp tục đào thêm hoặc nạo vét vào tận đèo Ngang. 

Kênh Nhà Lê tại Nghệ An được xếp hạng di tích Quốc gia. Ảnh: Sách Nguyễn 

Sang các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, do các biến động chính trị nên nông nghiệp ở Nghệ An bị tàn phá và sa sút, dân cư phiêu tán, ruộng đất bỏ hoang. Người nông dân phải nỗ lực sản xuất để tự nuôi sống mình và nộp thuế, các làng mạc không còn trù phú như xưa. 

Về thủ công nghiệp, thời kỳ Lê sơ, do tình hình chính trị xã hội ổn định nên có bước phát triển khá nhanh. Vùng đồng bằng phát triển các nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa/vải, làm gốm, rèn sắt, đúc đồng, mộc, đan lát. Ven biển có nghề đánh cá, đóng thuyền, dệt chiếu, làm muối, nước mắm… Miền núi có nghề sơn tràng, nghề gốm, rèn sắt, đan lát… 

Một số sản phẩm thủ công nghiệp thời kỳ này có kỹ thuật và đạt chất lượng khá cao như: lụa Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu), sắt Nho Lâm, rèn Vân Chàng (Đức Thọ), gốm chợ Bộng (Đông/Yên Thành), Cẩm Trang (Đức Thọ), chiếu Thiên Lộc (Can Lộc)… Một số làng nghề hình thành như: Nhân Lý, Quỳnh Đôi, Phượng An, Hoàn Nghĩa (Quỳnh Lưu); Hoàng Lệ (Kỳ Anh); Đồng Môn, Đại Tiết, Hà Hoàng… (Thạch Hà); Việt Yên, Yên Hồ, Hoa Lâm (La Sơn/Đức Thọ); Quang Trung, Trung Phường (Đông/Yên Thành)…

Dưới thời Lê, thương mại của Nghệ An có sự vận động song cùng với sự phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp và các yếu tố chính trị xã hội khác. Thời kỳ Lê sơ, nông nghiệp, thủ công có phần phát triển hơn nhưng buôn bán vẫn nhỏ lẻ, nhìn chung vẫn là kinh tế tự cung, tự cấp. Ở Nghệ An, thời Lê trung hưng, binh đao chiến tranh liên miên, nông nghiệp đình đốn, thủ công nghiệp phát triển chậm. Dù vậy, trong xu thế chung của cả nước, lại tranh thủ thời gian hòa hoãn của các thế lực nên sinh hoạt thương mại đã có sự chuyển biến. Hệ thống chợ làng được mở rộng. Các chợ phủ, chợ huyện được mở ngày càng nhiều. Với lợi thế hệ thống cửa biển tự nhiên và kênh đào chạy suốt theo dọc bờ biển, một số cảng thị như: Diễn Châu, Hội Thống, Cửa Sót, Nhượng Bạn… tiếp tục hoạt động. Đặc biệt, từ thế kỷ XVII, phố Phù Thạch, hữu ngạn sông Lam, đối diện với Lam thành, đã trở thành một trung tâm thương mại lớn của Nghệ An. Tại đây có nhiều tàu bè nước ngoài vào buôn bán; có phố người Hoa (Minh Hương) sang đây định cư và buôn bán. 

Một nền văn hóa sánh vai cùng “tứ trấn” 

Nghệ An, đến thời Trần, vẫn là đất “trại”, một vùng biên viễn chưa phát triển, mức độ giáo hóa còn thấp. Bước sang thời Hậu Lê, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục của Nghệ An đã có bước phát triển, đặt nền tảng vững chắc cho tiến trình văn hóa của vùng đất này, để từng bước xác lập vị thế là một trung tâm văn hóa của cả nước. 

Về giáo dục khoa cử, đã có các trường lớp dạy chữ, người học và biết chữ ngày càng đông. Thời Lê, Nghệ An có trường thi hương ở Lam Thành. Số người học giỏi, đỗ đạt ngày càng nhiều. Theo thống kê thì thời Lê sơ, Nghệ An (cũ) có 51 người, thời nhà Mạc có 23 người, Lê Trung hưng có 68 người đỗ đại khoa. Khoa Nhâm Thìn (1590) hai cha con Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hòa (Lý Trai, Đông Thành) cùng đỗ. Khoa Bính Thìn (1756) hai anh em Lê Sĩ Triêm, Lê Sĩ Bàng (Nội Thiên Lộc, Thiên/Can Lộc) cùng đỗ. Ba cha con cùng đỗ như nhà Phan Huy Cận và hai con là Phan Huy Ích, Phan Huy Ôn. Có nhiều dòng họ được tôn vinh dòng họ khoa bảng như: họ Hồ, họ Phan Huy, họ Nguyễn Huy… 

Đường vô xứ Nghệ (ảnh chụp tại Cầu Cấm). Ảnh tư liệu: Nguyễn Thanh Hải 

Trên nền tảng giáo dục, văn học, sử học thời kỳ này xuất hiện nhiều tác giả nổi tiếng, nhiều tác phẩm nổi bật. Về văn học có Dao đình sử tập của Hồ Sĩ Đống; Dưỡng hiên vịnh sử thi của Phạm Nguyễn Du; Nguyễn Thám hoa thi tập của Nguyễn Huy Oánh. Về lịch sử có Việt giám vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm, Việt sử bị lãm của Nguyễn Nghiệm; Trung hưng thực lục của Hồ Sĩ Dương; Liệt truyện đăng khoa khảo và Khoa bảng tiêu kỳ của Phan Huy Ôn… Ở xứ Nghệ, cuối thế kỷ XVIII đã hình thành Hồng Sơn văn phái với nhiều tác gia và tác phẩm nổi tiếng, trong đó có nhiều người thuộc các dòng họ Nguyễn - Tiên Điền, Nguyễn Trường Lưu và Phan Huy Thu Hoạch như: Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Khản, Nguyễn Hành, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tựu, Nguyễn Huy Vinh, Nguyễn Huy Hào, Phan Huy Ích… 

Đặc biệt, đây là giai đoạn hoàn thiện và phát triển của dân ca ví, giặm, trong đó nổi bật nhất là hát Phường vải và hát ả đào/ca trù. Các tri thức dân gian về thiên văn, y học, ẩm thực…, được tích lũy và đúc kết. 

Cùng với nền tảng tư tưởng chính trị Nho giáo, sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng phong phú hơn. Bên cạnh Phật giáo và các tín ngưỡng bản địa truyền thống, lúc này có thêm tín ngưỡng thờ Mẫu (Mẫu Tam phủ và Mẫu Tứ vị thánh nương) và Ki tô giáo. 4 ngôi đền: “Cờn, Quả, Bạch mã, Chiêu Trưng” - được xem là linh thiêng nhất xứ Nghệ đều lập vào thời này. 

Vĩnh Khánh

Hoàng đế Quang Trung với vùng đất xứ Nghệ

đăng 05:35, 18 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Với vị thế trọng yếu trên bản đồ địa chính trị quân sự Đại Việt hồi thế kỷ XVIII, xứ Nghệ trở thành địa bàn quan trọng trong công cuộc xóa bỏ tình trạng chia cắt, tiến tới thống nhất đất nước của Hoàng đế Quang Trung và nhà Tây Sơn. 

Khởi nghĩa Tây Sơn

Khi các cuộc khởi nghĩa nông dân ở Đàng Ngoài tạm thời lắng xuống thì phong trào đấu tranh bạo động chống lại Chúa Nguyễn ở Đàng Trong bùng lên, mà đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn của 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. 

Tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ ở làng Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, theo Chúa Nguyễn vào Nam khi vượt Lũy Thầy đánh ra đất Lê - Trịnh tới Nghệ An (1655) từ đời ông cố là Hồ Phi Long. Ông nội của anh em Nguyễn Nhạc là Hồ Phi Tiễn. Từ đời cha đổi sang họ Nguyễn theo họ của mẹ là Nguyễn Phi Phúc. Cũng có ý kiến cải sang họ Nguyễn là theo họ Chúa. 

Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nhạc lấy danh nghĩa chống lại Quốc phó Trương Phúc Loan, dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn (Bình Định). Được sự hưởng ứng của nhân dân quanh vùng nên cuộc khởi nghĩa ngày càng mạnh, trưởng thành nhanh chóng. 

Tượng đài Hoàng đế Quang Trung tại Bảo tàng Quang Trung (Bình Định). Ảnh: hiquynhon 

Tháng 9 năm Quý Tỵ (1773), quân Tây Sơn dùng mưu đánh chiếm được thành Quy Nhơn, liên tiếp đánh thắng quân Chúa Nguyễn rồi tiến đánh Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận. Chúa Nguyễn ký hòa ước với người Xiêm, để rảnh tay đánh Tây Sơn.

Năm Mậu Tuất (1778), Nguyễn Nhạc xưng Vua, lập triều đại Tây Sơn, đặt niên hiệu là Thái Đức, đóng đô tại thành Quy Nhơn. 

Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Ánh xưng Vua. Quân Tây Sơn nhiều lần đánh vào Nam và truy sát nhưng Nguyễn Ánh đều trốn thoát. 

Tháng 3 năm Nhâm Dần (1782), Nguyễn Huệ đem quân đánh Gia Định lần thứ tư, Nguyễn Ánh sai người sang Xiêm cầu viện rồi trốn ra đảo Phú Quốc. Đêm mùng 9 rạng ngày mùng 10 tháng 12 năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn đánh thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút. 

Tại Bắc Hà, năm 1782, Trịnh Sâm chết. Con nhỏ Trịnh Cán được lập, rồi bị Trịnh Tông chiếm ngôi giết chết. Nguyễn Hữu Chỉnh quê ở Nghệ An bỏ Trịnh Tông, chạy vào Nam hàng Tây Sơn được Nguyễn Nhạc tin dùng. 

Kinh thành Thăng Long bị quân kiêu binh càn quấy, tàn phá. Năm Bính Ngọ (1786), Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ làm tổng chỉ huy đánh ra Bắc, đánh thẳng ra Thăng Long. Trịnh Tông bị bắt rồi tự sát. Trên đường ra Bắc bằng đường biển, quân Tây Sơn cho nhiều toán du binh đổ bộ lên đánh phá các đồn của quân Trịnh ở Nghệ An, Thanh Hóa để gây thanh thế. 

Tại Thăng Long Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trao trả quyền chính lại cho Vua Lê nhưng vẫn nắm thực quyền. 

Tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), Vua Lê Hiển Tông qua đời. Lê Chiêu Thống lên ngôi. Anh em Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc rút quân về Nam, giao quyền lại cho Nguyễn Hữu Chỉnh. 

Súng thần công của quân Tây Sơn được tìm thấy tại căn cứ thủy binh Tây Sơn ở cảng Thị Nại (Quy Nhơn), hiện được trưng bày trong Bảo tàng Tây Sơn (Bình Định). Ảnh: Wikipedia 

Tàn quân Chúa Trịnh quay lại quấy nhiễu Thăng Long. Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra dẹp được nhưng lại lộng hành như Chúa Trịnh trước kia.

Do bất đồng về chiến lược, anh em nhà Tây Sơn mâu thuẫn. Đầu năm Đinh Mùi (1787), Nguyễn Huệ đem quân vây đánh Nguyễn Nhạc ở thành Quy Nhơn. Nguyễn Lữ đứng ra dàn xếp, anh em giảng hòa nhưng để lại hậu quả nghiêm trọng, bị kẻ địch từ hai phía lợi dụng. 

Tháng 4, năm Mậu Thân (1788), Vua Lê Chiêu Thống bỏ kinh đô Thăng Long lưu vong tại Trung Quốc. Tháng 8, Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định. Ở Bắc Hà, Nguyễn Hữu Chỉnh có ý chống lại Tây Sơn. Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm ra diệt trừ nhưng rồi lại chuyên quyền, có ý chống Nguyễn Huệ. Ông đã đem quân ra Bắc, giết Vũ Văn Nhậm rồi rút quân về Phú Xuân. 

Cuối năm 1788, hơn 29 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam với danh nghĩa phù Lê, vào chiếm đóng Thăng Long. Quân Tây Sơn chủ động rút về đóng ở Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) cố thủ chờ lệnh. 

Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, xuất quân ra Bắc Hà. 

Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), đại quân của Hoàng đế Quang Trung tới Nghệ An, dừng tại đây hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng. Hoàng đế duyệt binh, đọc dụ khích lệ tướng sĩ rồi tiến quân ra Bắc Hà. 

Thanh gươm và súng loại nhỏ của quân đội nhà Tây Sơn, trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử TP. HCM. Ảnh: Wikipedia 

Ngày 20 tháng 12 năm Mậu Thân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân ra đến Tam Điệp (Ninh Bình). Chỉ trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân Thanh.

Nguyễn Nhạc quyết định nhường quyền lãnh đạo cho Nguyễn Huệ để nhà Tây Sơn không còn bị chia rẽ. Quang Trung trở thành nhà lãnh đạo tối cao và lập ra các chiến lược rất lớn nhằm triệt để đánh bại các thế lực đối địch còn lại. Sự nghiệp thống nhất đất nước đã đến rất gần thì ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (ngày 16/9/1792), Hoàng đế Quang Trung băng hà. 

Xứ Nghệ với Tây Sơn 

Từ 1786 đến 1788, quân Tây Sơn đã 4 lần hành quân qua đất xứ Nghệ, và thực tế từ năm 1786 vùng này đã thuộc quyền kiểm soát của Tây Sơn. Tây Sơn - từ một cuộc khởi nghĩa nông dân phát triển thành phong trào dân tộc rộng lớn, lật đổ các chế độ của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Vua Lê - Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đánh bại sự xâm lược của giặc Thanh, giặc Xiêm, xóa bỏ tình trạng chia cắt đất nước, tác động sâu sắc và mạnh mẽ đến thái độ chính trị của nhiều tầng lớp xã hội. 

Trước hết, phải nói, trong đội quân Tây Sơn đã có nhiều người Nghệ tham gia và có những đóng góp quan trọng. Trong hành trình tiến ra Bắc đại phá quân Thanh, chỉ trong 10 ngày dừng chân tại Nghệ An, nghĩa quân Tây Sơn đã có thêm 5 vạn người gia nhập. Điều này chứng tỏ thái độ của dân chúng. Ngoài ra, dân xứ Nghệ còn đóng góp rất nhiều tiền của cho nghĩa quân. Sách “Quỳnh Đôi cổ tích hương biên” kể rằng Hồ Thị Ái đã xuất tiền chu cấp cho 3 suất lính mỗi tháng; bà Nguyễn Thị Phát nhà nghèo vẫn cấp 5 suất mỗi tháng... 

Trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, người xứ Nghệ, tham gia dù sớm hay muộn, nhưng đều gắng sức, nhiều người đã trưởng thành và đóng góp quan trọng. Tham gia ngay từ đầu có Đô đốc Ngô Văn Sở, Đô đốc Hồ Phi Chấn (quê ở Can Lộc), Đô đốc Dương Văn Tào (Thạch Hà), anh em nhà Lê Quốc Cầu, Lê Quốc Lý, Lê Quốc Đạm (Anh Sơn). 

Đền thờ Vua Quang Trung trên Núi Dũng Quyết (TP. Vinh). Ảnh tư liệu 

Bị chi phối bởi tư tưởng trung quân, một bộ phận sĩ phu ở xứ Nghệ đã chống lại Tây Sơn để bảo vệ vương triều nhà Lê, tiêu biểu là Trần Doãn Tư, Trần Phương Bính, Nguyễn Tiến Lâm, Lê Ban. Ngay cả anh em Nguyễn Du, Nguyễn Hành, Nguyễn Điều cũng không phục Tây Sơn, có ý chống lại. Một số khác lại tỏ thái độ bất hợp tác như Nguyễn Huy Oánh, Bùi Dương Lịch… Nhưng, nhiều người vượt qua được quan niệm trung quân hẹp hòi, đã cùng với đại đa số nhân dân ủng hộ Tây Sơn. Đó là Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích, Nguyễn Nệ... 

Nguyễn Thiếp từng 3 lần từ chối lời mời ra giúp nước của Quang Trung nhưng cuối cùng đã chuyển biến tư tưởng, nhận lời cộng sự, làm Viện trưởng Viện Sùng chính trông nom về văn hóa - giáo dục, rồi giúp Vua tìm đất lập thành Phượng Hoàng Trung Đô ở Dũng Quyết. Vua Quang Trung đã nói về ông: “Một lời nói mà xây nổi cơ đồ… chứ không phải vào hạng người chỉ bo bo làm việc mình mà thôi”. Phan Huy Ích là người cùng với Ngô Thì Nhậm được giao việc ngoại giao với nhà Thanh và hoàn thành xuất sắc sứ mệnh. Nguyễn Nệ (con trai Nguyễn Nghiễm), từng làm quan nhà Lê, theo Tây Sơn, 2 lần làm phó sứ sang nhà Thanh. 

Hoàng đế Quang Trung và triều đình Tây Sơn có tình cảm đặc biệt với Nghệ An, vì đây là quê cha, đất tổ và có vị trí địa chính trị an ninh quan trọng trong tư duy chiến lược của ông. Ông đã chọn Nghệ An để lập kinh đô của triều đại mới (thành Phượng Hoàng Trung Đô), tiếc là công trình dang dở. Và người Nghệ, dù là dân thường hay sĩ phu, quan lại, văn nhân cũng rất yêu kính, ủng hộ Vua Quang Trung và Tây Sơn. Trong sự nghiệp vĩ đại của Tây Sơn có sự đóng góp lớn lao của xứ Nghệ. 

Nguyên Thanh

Hoan Châu - Tiền đồn của Đại Việt

đăng 06:36, 9 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Dưới thời Lý - Trần, Hoan Châu/Nghệ An, từ một miền biên viễn xa xôi, đã có đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ và mở mang bờ cõi đất nước. Giai đoạn này (khoảng 400 năm) cũng đánh dấu những phát triển hưng thịnh về kinh tế, văn hóa của Nghệ An lúc bấy giờ. 

ĐỊA DANH VÀ ĐỊA GIỚI

Thời Lý (1009- 1225), Lý Thái Tổ chia nước thành 24 lộ, phủ, huyện và cuối cùng là hương, giáp. Nghệ An, Thanh Hóa gọi là Trại. Năm Canh Tuất 1010, Hoan Châu và Diễn Châu được xưng là lộ. Năm 1025, Lý Thái Tổ lập trại Đinh Phiên gồm đất từ Nam giới đến Hoành Sơn. Theo một số tư liệu, năm Canh Ngọ (1030), Lý Thái Tổ đổi Hoan Châu thành châu Nghệ An. Năm Tân Tỵ (1101), Lý Nhân Tông lại nâng châu Nghệ An thành phủ Nghệ An. Lúc này Diễn Châu vẫn là một đơn vị hành chính độc lập với Nghệ An. 


Đời Trần (1225 - 1400), Nghệ - Tĩnh ngày nay vẫn bao gồm 2 phủ Nghệ An, Diễn Châu và trại Định Phiên. Năm Tân Mão (1231), đổi trại Định Phiên thành châu Nhật Nam. Năm Bính Thìn (1256), lại đổi Nghệ An thành trại. Năm Giáp Dần (1374) đổi Diễn Châu làm lộ. Năm Ất Mão (1375) “đổi Hoan châu làm lộ Nhật Nam và các lộ Nghệ An Nam, Bắc, Trung; Đổi Diễn Châu làm lộ Diễn Châu”; Ít lâu sau, theo Đại Nam nhất thống chí, lại đổi thành trấn. Năm Đinh Sửu (1397), đổi trấn Nghệ An làm trấn Lâm An và phủ Diễn Châu thành trấn Vọng Giang. Sau đó, Hồ Quý Ly đổi phủ Diễn Châu thành phủ Linh Nguyên.

SỨC SỐNG MIỀN BIÊN VIỄN 

Tiếp tục sự nghiệp nhà Tiền Lê, thời Lý - Trần với nhiều chính sách tiến bộ, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của vùng Hoan - Diễn/Nghệ An đã có sự chuyển biến, phát triển. 

Về chính trị, thời Lý, triều đình đã với tới tận làng, xã (hương và giáp). Thời Trần, triều đình từng bước xây dựng, củng cố bộ máy hành chính thành một hệ thống vững chắc. Lộ, phủ có chức phán phủ, huyện có chức chuyển vận sứ, xã tùy to nhỏ mà có chức đại tư đồ, tiểu tư mã, xã chính, xã giám, xã sử. Vì là vùng trọng yếu nên các triều đình thường cử các hoàng thân hoặc những người tài giỏi về cai quản như, nhà Lý cử Lý Nhật Quang vào thu thuế rồi làm tri châu Nghệ An… 

Về kinh tế, thời Lý - Trần đáng nói nhất là công cuộc khai phá đất đai, mở rộng vùng cư trú. Cùng với công cuộc khẩn hoang, mở rộng diện tích trồng trọt, đắp đê ngăn lũ là quá trình tụ cư, hình thành nhiều làng xóm mới ở khắp các địa bàn trung du, đồng bằng, ven biển, nhất là ở các vùng trung tâm của các huyện Đỗ Gia (Hương Sơn), Nha Nghi (Nghi Xuân), Phi Lộc (Can lộc), Chi La (Đức Thọ), Thổ Du (Thanh Chương), Diễn Châu… Một số làng lớn trù phú, đông đúc dân cư xuất hiện như: Ngọc Sơn (Đức Thuận - thị xã Hồng Lĩnh), Trảo Nha (Đại Lộc - Can Lộc), Tả Ao (Xuân Giang - Nghi Xuân), Phật Kệ (Đà Sơn – Đô Lương), Cao Xá (Diễn Châu), Trại Đầu (Ân Phú - Vũ Quang)... 

Vùng "cửa ngõ" phía Bắc của Nghệ An ngày nay. Ảnh: Hồ Long 

Giai đoạn này, thủy lợi được chú trọng xây dựng. Một số sông, kênh ngòi được khai thông, nạo vét, nhiều đoạn đê được đắp mới. Nhờ đó không những giao thông đường thủy thuận lợi mà nông nghiệp cũng phát triển.

Thủ công nghiệp thời kỳ này cũng có bước chuyển tiến bộ. Nghề luyện kim và rèn sắt ở Nho Lâm (Diễn Châu) phát triển, một số làng nghề mới xuất hiện như rèn ở Trung Lương, Vân Chàng (thị xã Hồng Lĩnh); đúc đồng ở Diễn Châu, Thạch Hà…; làm muối ở Nghi Lộc, Thạch Hà; Nghề trồng dâu nuôi, tằm phổ biến nhiều nơi ở Nam Đàn, Thạch Hà, Can Lộc, Hương Sơn… với rất nhiều sản phẩm nổi tiếng. Nhiều nghề mới xuất hiện theo dòng di cư từ Bắc Bộ vào. 

Giao thương buôn bán thời kỳ này cũng gia tăng. Chợ mọc lên nhiều và có nhiều chợ to nổi tiếng như chợ Sa Nam (Nam Đàn), chợ Lường (Đô Lương), chợ Tràng (Hưng Nguyên), chợ Phù Lưu, Trường Lưu (Can Lộc), Hà Hoàng (Thạch Hà)... Các cửa biển như Cửa Hội, Cửa Cờn (Nghệ An), Cửa Sót (Hà Tĩnh)… có nhiều tàu bè trong và ngoài nước vào buôn bán.

Về văn hóa, theo các thư tịch cổ thì từ thời Lý, Phật giáo đã thâm nhập khá sâu vào vùng này. Nhiều công trình kiến trúc Phật giáo đã được xây dựng. Thời Trần tiếp tục cho lập nhiều công trình tôn giáo như chùa Hương Tích, Diên Quang, đền Cờn… Cùng đó, Nho giáo phát triển nhanh, bắt đầu hình thành tầng lớp nho sĩ. Năm Bính Thìn (1256), Bạch Liêu (Nguyên Xá – Yên Thành) đỗ đầu Trại Trạng Nguyên. Năm Ất Mão (1275), Đào Tiêu (Chi La – Đức Thọ) đỗ đầu khoa thi Tiến sĩ; Kế tiếp đó là Hồ Tông Thốc, Sử Hy Nhan, Sử Đức Huy, Nguyễn Biểu… Lúc này cũng xuất hiện những tài năng văn học như thám hoa Đặng Bá Tĩnh… 

TIỀN ĐỒN CỦA ĐẠI VIỆT 

Thời Lý – Trần, Nghệ An là biên viễn của quốc gia Đại Việt, thường xuyên phải đối phó với Chiêm Thành, lúc này đang là một quốc gia hùng mạnh ở khu vực Đông Nam Á. Nghệ An là nơi bổ sung, cung quân cấp nhân tài, vật lực cho các cuộc tranh chấp, chiến tranh của triều đình với Chiêm Thành. Trên đất Hoan – Diễn/ Nghệ An, thời Lý, có khoảng 10 cuộc Đại Việt đụng độ, chiến tranh với Chiêm Thành. Xứ Nghệ trở thành tiền tuyến chống sự tiến công của Chiêm Thành, là bàn đạp phản công và mở mang bờ cõi của triều đình. 

Các năm Nhâm Tý (1252), Tân Hợi (1311) các Vua Trần tự làm tướng sang đánh Chiêm Thành. Trong gần 30 năm cuối đời Trần, khi quân đội Đại Việt không còn hùng mạnh như trước, Đại Việt và Chiêm Thành giao tranh tất cả 13 lần, trong đó Chiêm Thành 4 lần tiến quân cướp phá Thăng Long. Hầu hết các cuộc giao tranh này đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến Nghệ An và Diễn Châu, tiêu hao rất nhiều sức người, sức của của vùng đất này. 

Cũng vào đời nhà Trần, quân Ai Lao thường sang quấy phá cướp bóc ở vùng Nghệ An, Thanh Hóa. Các Vua Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông nhiều phen thân chinh đi dẹp giặc. 

Quang cảnh Cầu Cấm (Nghi Lộc). Ảnh tư liệu: Nguyễn Thanh Hải 

CÙNG CẢ NƯỚC ĐÁNH GIẶC NGUYÊN MÔNG 

Hoan - Diễn trong thời Trần còn gắn liền với các cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của dân tộc. Trực tiếp và đáng kể nhất là trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (năm 1285). Lần đó, quân Nguyên Mông đã cho Toa Đô đưa thủy quân đánh chiếm Chiêm Thành từ trước (1282) để tạo gọng kìm từ phía Nam đối với Đại Việt. 

Đánh giá đúng vị trí trọng yếu của Nghệ An – Diễn Châu, từ sau cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1258), nhà Trần đã cử nhiều tướng lĩnh vào trấn giữ, xây dựng lực lượng ở vùng đất này. 

Đầu năm Ất Dậu (1285), quân Nguyên ồ ạt tấn công Đại Việt từ 2 phía: Thoát Hoan từ phía Bắc đánh xuống, Toa Đô từ đất Chiêm đánh lên. Để đối phó, nhà Trần cử Trần Nhật Duật vào trấn giữ Nghệ An. Ngày 28 tháng Giêng năm 1285, lại cử thêm Trần Quang Khải vào tăng viện. Từ cuối tháng Giêng 1285, Toa Đô tấn công Nghệ An. Lúc này viện binh của Trần Quang Khải chưa vào kịp nhưng quân dân Nghệ An, Diễn Châu dưới sự chỉ huy của Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản, đã anh dũng chống trả. Trước thế giặc rất mạnh, Trần Kiện đầu hàng, Trần Quang Khải không chống được, mặt trận Nghệ An bị vỡ. Bị vỡ, nhưng mặt trận Nghệ An đã tiêu hao sinh lực và kìm được thế tiến quân của địch, tạo điều kiện cho quân Đại Việt phá thế bao vây và phản công thắng lợi. 

Trong chiến thắng này, và trong cả 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần đều có công rất lớn của Nghệ An, Diễn Châu. Hoàng Tá Thốn, Lê Thạch, Hà Anh là những người trong rất nhiều người Hoan Diễn tiêu biểu góp vào chiến tích đó. Trần Nhân Tông đã từng có thơ rằng: “Cối Kê cựu sự quân tu ký/Hoan Diễn do tồn thập vạn binh”.(Chuyện cũ Cối Kê ngươi nên nhớ/Hoan Diễn còn kia chục vạn quân). 

Nguyên Thanh

Xứ Nghệ với các cuộc kháng chiến chống giặc Minh

đăng 06:29, 9 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Xứ Nghệ vinh dự đã là “kinh đô kháng chiến” của nhà Hậu Trần, là “đất đứng chân” của nghĩa quân Lam Sơn và đóng góp rất nhiều cho các cuộc kháng chiến, cho chiến thắng của dân tộc trước âm mưu xóa tên Đại Việt của giặc nhà Minh (Trung Quốc). 

Năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly truất Vua Trần, tự xưng hoàng đế, lập ra nhà Hồ. Mặc dù có nhiều cải cách về chính trị, kinh tế, xã hội quan trọng nhưng vì huy động quá nhiều tiền của, công sức của dân chúng và ngân khố quốc gia cho việc xây dựng quân đội, thành lũy nên trăm họ oán thán, không phục, không theo. 

Thành Nhà Hồ được xây dựng vào năm 1397. Ảnh tư liệu 

Trong lúc đó, ở Trung Quốc, nhà Minh đang ở thời điểm cực thịnh và có âm mưu thôn tính Đại Việt và các quốc gia Đông Nam Á. Nhân lúc nhà Trần đổ, nhà Hồ đang gặp nhiều khó khăn, cuối năm Bính Tuất (1406), nhà Minh tấn công Đại Việt. Năm Đinh Hợi (1407), sau một vài kháng cự yếu ớt, nhà Hồ nhanh chóng bại trận. 

Tháng 4 năm 1407, nhà Minh đổi quốc gia Đại Ngu thành quận Giao Chỉ thuộc Minh; dưới quận là phủ, châu, huyện. Cả nước bị chia làm 15 phủ, vùng Nghệ Tĩnh ngày nay hồi đó gồm hai phủ Nghệ An và Diễn Châu. Năm Đinh Dậu (1417), quân Minh lại tách Châu Quỳ của phủ Diễn Châu vào phủ Thanh Hóa. Bộ máy đô hộ sau còn nắm xuống tận xã, thôn. Ngoài quan lại, tướng tá nhà Minh còn tuyển dụng nhiều tay sai người bản xứ. Chúng xây dựng nhiều thành lũy, đồn ải, trong đó có thành Nghệ An và thành Diễn Châu (thành Trài) để đàn áp sự phản kháng của dân ta. Triệt phá mọi di sản văn hóa của người Việt nhằm âm mưu đồng hóa văn hóa. 

Tham gia kháng chiến của nhà Hậu Trần

Ngày tháng 10 năm Đinh Hợi (1407), Trần Ngỗi là con thứ của Trần Nghệ tông tự xưng là Giản Định Hoàng đế, đặt niên hiệu Hưng Khánh, tổ chức khởi nghĩa ở Mộ Độ (Yên Mô, Ninh Bình). Bị đàn áp, nghĩa quân phải rút vào Nghệ An. Một số thủ lĩnh nghĩa quân và quan lại yêu nước của nhà Trần, nhà Hồ cùng đông đảo nhân dân Nghệ An tham gia. Cuối năm 1407, Nghệ An, Diễn Châu được giải phóng. 

Giặc Minh đã thi hành chính sách tàn bạo và hà khắc với Nhân dân ta. Tranh vẽ minh họa 

Đặng Tất, quê Thiên Lộc/Can Lộc, làm quan thời nhà Hồ, sau nhận chức của nhà Minh để náu mình. Năm 1407, ông dấy binh ở Hóa Châu rồi tham gia khởi nghĩa Trần Ngỗi. Cùng với Nguyễn Cảnh Chân, quê Thanh Chương, là hai nhân vật chủ yếu của cuộc khởi nghĩa. Năm 1408, quân Minh phản công, nghĩa quân tạm rút về Hóa Châu. Quân Minh rút về Đông Quan, nghĩa quân quay ra lấy lại Nghệ An, lại quay vào Nam giải phóng phủ Tân Bình, quay tiếp ra Bắc tấn công Diễn Châu rồi thừa thắng đánh ra tận Bình Than (Hải Dương), Hàm Tử (Hưng Yên), Tam Giang (Phú Thọ). Vua Minh điều viện binh sang, ngày 14 tháng 12 năm Mậu Tý (1408) bị Đặng Tất đánh bại ở Bô Cô, phải rút về cố thủ Đông Quan. Nhưng sau đó Đặng Tất cùng Nguyễn Cảnh Chân bị Trần Ngỗi nghi kị rồi giết chết.

Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị là con của Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân rời bỏ Trần Ngỗi, về Nghệ An tổ chức khởi nghĩa mới. Ngày 17 tháng 3 năm Kỷ Sửu (1409), lập Trần Quý Khoáng là cháu của Trần Nghệ Tông lên làm vua, niên hiệu Trùng Quang. Để thống nhất lực lượng hai cuộc khởi nghĩa, nghĩa quân ra Bắc bắt Trần Ngỗi đem về Nghệ An rồi tôn làm Thái Thượng hoàng. Hành dinh của Vua Trùng Quang ở Bình Hồ (Chi La/Đức Thọ), đối diện với thành Nghệ An qua sông Lam. Từ Nghệ An, nghĩa quân tiến ra Bắc, đánh chiếm Hàm Tử, Bình Than… làm cho quân Minh khốn đốn phải hai lần điều quân sang tiếp viện. Nhưng từ năm 1042 nghĩa quân suy yếu dần và thất bại vào năm 1413. 

Cuộc khởi nghĩa Trần Quý Khoáng. Tranh vẽ 

“Đất đứng chân” của khởi nghĩa Lam Sơn 

Cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần thất bại nhưng người dân xứ Nghệ tiếp tục nổi dậy chống giặc Minh. 

Ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (7/2/1418), Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn (Thanh Hóa) và nhanh chóng thu hút được sự hưởng ứng của nhân dân cả nước. Ở Nghệ An có anh em Nguyễn Biện, Nguyễn Xí ở Thượng Xá (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc) tham gia ngay từ đầu. 

Thời kỳ đầu, nghĩa quân chủ yếu hoạt động ở vùng rừng núi Thanh Hóa, quân ít, lương thiếu nên thắng ít thua nhiều, bị quân Minh, quân Ai Lao và các tù trưởng miền núi vây đánh nhiều trận, 3 lần phải rút chạy lên núi Chí Linh những năm 1418, 1419, 1422 và một lần cố thủ ở Sách Khôi năm 1422. 

Năm 1422, Lê Lợi xin giảng hòa chờ thời cơ. Năm 1423, khi thực lực được củng cố, nghĩa quân Lam Sơn lại tiếp tục cuộc chiến nhưng vẫn khó khăn nhiều mặt, nhất là định hướng chiến trường phát triển cuộc khởi nghĩa. Trước tình thế đó, tướng Nguyễn Chích hiến kế: “Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông… Nay ta trước hãy đánh lấy đất Trà Long, chiếm giữ cho được Nghệ An để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay ra Đông Đô, thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ”.

Ngày 20 tháng Chín năm Giáp Thìn (1424), nghĩa quân Lam Sơn bất ngờ tấn công đồn Đa Căng (Thọ Xuân, Thanh Hóa) để khai thông đường vào Nghệ An. Trên đường tiến vào Trà Lân, nghĩa quân tiếp tục đánh thắng ở trang Trịnh Sơn (nay thuộc xã Thạch Ngàn - Con Cuông) - tiền đồn phía Đông Bắc của thành Trà Lân. Tháng 10 năm 1424, nghĩa quân bắt đầu bao vây thành Trà Lân đồng thời chốt chặn phòng địch từ thành Nghệ An và Diễn Châu lên ứng cứu. Sau 2 tháng bị vây hãm, lại không có viện binh, Cầm Bành và toàn bộ quân lính phải mở thành xin đầu hàng. Cả một vùng rộng lớn ở miền Tây Nghệ An được giải phóng, nhân dân hồ hởi hưởng ứng. Các thủ lĩnh khởi nghĩa ở Nghệ An như Cầm Quý, Phan Liêu, Lộ Văn Luật, Nguyễn Vĩnh Lộc… tìm đến gia nhập. 

Cầu treo khe Rạn (Con Cuông). Ảnh: Hải Vương 

Mùa Xuân năm 1425, địch tập trung lực lượng từ Đông Quan và thành Nghệ An phản công hòng lấy lại thành Trà Lân. Đại quân ta lập trận địa phục kích ở ải Khả Lưu và Bồ Ải - những vị trí hiểm yếu trên đường lên thành Trà Lân. Thắng lớn trận này, nghĩa quân khai thông đường tiến xuống đồng bằng Nghệ An. Giặc Minh lâm vào thế bị động, phải “đóng giữ cửa thành bền chặt”. 

Nghĩa quân tiến xuống bao vây thành Nghệ An và tiến sang Đỗ Gia (Hương Sơn) xây dựng căn cứ địa ở Động Tiên Hoa/Đãng Phủ - vùng ngã ba sông Khuất (hói Nầm) và Ngàn Phố. Tại đây, nghĩa quân được nhân dân nghênh đón, ủng hộ sức người, sức của. 

Thế và lực của nghĩa quân ngày càng mạnh. Triều đình nhà Minh viện binh từ Đông Quan và thúc bách quân ở thành Nghệ An phải đàn áp bằng được cuộc khởi nghĩa. Ngày 27 tháng Tư năm Ất Tị (14/5/1425), quân Minh ở thành Nghệ An và tăng viện từ Đông Quan phản kích lên căn cứ Đỗ Gia. Nghĩa quân bố trí một thế trận phục kích liên hoàn kéo dài từ ngã ba Tam Soa (giao giữa ngàn Sâu, ngàn Phố và sông La - cuối huyện Chi La đầu huyện Đỗ Gia), lên tới ngã ba Nầm, vào tận sông Khuất. Nghĩa quân mở đường nhử địch từ thành Nghệ An theo sông Lam, sông La lên ngàn Phố, vào tận trận địa phục kích ở sông Khuất mới phản công. Địch thua phải bỏ chạy. Về đến ngã ba Tam Soa lại rơi tiếp vào trận địa phục kích của Đinh Liệt, bị chết gần hết. 

Sau chiến thắng Đỗ Gia, nghĩa quân chuyển đại bản doanh về thành Lục Niên trên núi Thiên Nhẫn. Thế giặc ở Nghệ An, Diễn Châu ngày càng suy yếu, chủ yếu cố thủ trong thành. Vùng giải phóng mở rộng khắp nơi trong cả hai phủ. Nghĩa quân quyết định vây thành Nghệ An đồng thời tiến ra giải phóng phủ Diễn Châu. Sau một thời gian bao vây, Đinh Lễ lập trận phục kích đón lõng tiêu diệt quân địch từ thành Diễn Châu ra đón viện binh. 

Dấu tích Thành Lục Niên trên núi Thiên Nhẫn. Ảnh tư liệu: Hồ Phương 

Đến đây, trừ 2 thành đang bị bao vây cô lập, toàn bộ Nghệ An, Diễn Châu được giải phóng. Nghĩa quân thừa thắng tiến ra giải phóng Thanh Hóa, tiến vào giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa.

Dựa vào “đất đứng chân” là Nghệ An và vùng hậu phương rộng lớn từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa, tháng 9 năm 1426, nghĩa quân Lam Sơn mở cuộc tấn công ra Bắc. Cuối năm 1427, với trận thắng Chi Lăng- Xương Giang, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống nhà Minh kết thúc, mở ra một vương triều mới - vương triều Hậu Lê. 

Nguyên Thanh

Xứ Nghệ thời Lê trung hưng

đăng 01:38, 8 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Nhà Hậu Lê gồm 2 giai đoạn, Lê sơ (1428 – 1527) và Lê trung hưng (1533 – 1789), bị gián đoạn bởi nhà Mạc cướp ngôi từ năm 1527 đến 1593. Đây là giai đoạn đầy biến động của lịch sử Việt Nam. Xứ Nghệ đã trở thành địa bàn tranh chấp của các thế lực lúc bấy giờ. 

Duyên cách, địa danh và chính quyền

Ngày 15 tháng Tư năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế (Lê Thái Tổ), đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đặt Quốc hiệu là Đại Việt, kinh đô Thăng Long gọi là Đông Kinh. 

Năm Mậu Thân (1428), nhà Lê chia cả nước làm 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc và Hải Tây (vùng đất phía Nam từ Thanh Hóa trở vào). Dưới đạo là trấn, lộ, phủ, huyện, châu, xã. Nghệ An, Diễn Châu thuộc đạo Hải Tây. 

Năm Bính Dần (1446), Lê Thánh Tông chia nước làm 12 đạo. Năm Kỷ Sửu (1469), chia làm 12 thừa tuyên, dưới có phủ, châu, huyện, xã, thôn, sở, trang, sách. Hoan Châu và Diễn Châu hợp thành Thừa tuyên Nghệ An gồm các phủ Đức Quang, Anh Đô, Diễn Châu, Hà Hoa, Trà Lân, Quỳ Châu, Lâm An. 

Lãnh thổ Việt Nam thời nhà Lê sơ (1428-1527). Ảnh: wikipedia 

Đầu đời Lê, mỗi đạo có một viên Hành khiển đứng đầu coi việc hành chính, tư pháp và quân sự, bên cạnh còn có một viên Tổng quản chỉ huy quân đội. Đến đời Lê Thánh Tông mỗi thừa tuyên có hai ti: Thừa ti trông coi hành chính và tư pháp, đứng đầu là Thừa ti chính sứ; Đô ti trông coi việc quân sự do Tổng binh đứng đầu. Năm Tân Mão (1471), đặt thêm ti Hiến sát trông coi việc tư pháp do Hiến sát sứ đứng đầu.

Trị sở Nghệ An thời Lê sơ đặt ở Lam Thành. Thời Lê trung hưng, Thừa ti và Hiến ti vẫn ở Lam Thành, Trấn ti chuyển vào Dinh Cầu (Kỳ Anh) sau chuyển ra Dũng Quyết (Hưng Nguyên). 

Trong dòng quyền lực 

Nghệ An, từ năm 1469 đến 1831, là một đơn vị hành chính. Suốt cả thời Hậu Lê cho đến thời Tây Sơn, Nghệ An gần như lúc nào cũng là địa bàn của dòng chảy quyền lực hết sức phức tạp và khắc nghiệt của chính trị Đại Việt hồi bấy giờ. 

Thời Lê sơ (1428 – 1527), những vị vua tài ba như: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông với cách tổ chức nhà nước, xã hội tiến bộ, những chính sách ưu việt về kinh tế, văn hóa, đối ngoại… đã đưa Đại Việt phát triển nhanh chóng về mọi mặt. Cuối thế kỷ XV, Đại Việt là một quốc gia hùng mạnh bậc nhất ở khu vực Đông Nam Á, lãnh thổ vào đến Phú Yên ngày nay, đã đánh dẹp Bồn Man, Lan Xang , Lão Qua, Xaiyna Chakhaphat, mở rộng lãnh thổ về phía Tây… 

Nhưng sau đó, kể từ đời Vua Lê Uy Mục, nhà Lê suy yếu dần. Năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung bắt Vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi, lập ra nhà Mạc. Nhà Mạc cai trị đất nước được 6 năm thì chính trường Đại Việt thay đổi. 

Năm Kỷ Sửu (1529), Nguyễn Kim bỏ chạy vào miền núi Thanh Hóa rồi sang Ai Lao. Năm Quý Tỵ (1533), tìm dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Ninh rồi đưa lên ngôi, tức là Vua Lê Trang Tông. Nhiều sỹ phu, tướng lĩnh bắt đầu tập hợp bên Nguyễn Kim để chống nhà Mạc. Nguyễn Kim lúc này làm Thái sư Hưng quốc công trông coi mọi việc. Cục diện này sách sử gọi Nam - Bắc triều. 

Tới năm Kỷ Hợi (1539), Nguyễn Kim chiếm được huyện Lôi Dương ở Thanh Hóa. Năm Canh Tý (1540) thì tiến vào Nghệ An, bắt đầu xác lập chỗ đứng trở lại trên lãnh thổ Đại Việt. 

Năm Ất Tỵ (1545), Nguyễn Kim bị hàng tướng là Dương Chấp Nhất đầu độc chết. Con rể ông là Trịnh Kiểm lên thay nắm quyền. 

Trong suốt những năm 1545-1580 là giai đoạn hai bên giằng co, chiến sự nổ ra chủ yếu tại Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình, Sơn Nam. 

Sau khi Trịnh Kiểm qua đời, con trai ông là Trịnh Tùng nổi dậy đoạt lấy binh quyền Nam triều từ tay anh trai Trịnh Cối. Năm 1573, ông lật đổ Vua Lê Anh Tông và đưa Vua Lê Thế Tông lên làm bù nhìn, bản thân nắm hết quân quốc đại sự. Cuối năm Nhâm Thìn (1592), Trịnh Tùng tiến đánh Thăng Long tiêu diệt nhà Mạc. Tàn dư nhà Mạc chạy lên Cao Bằng và cát cứ tới năm 1677. 

Tháng 11/1558, Nguyễn Hoàng được lệnh vào trấn thủ Thuận Hóa với một quyền hạn rộng lớn “phàm mọi việc ở địa phương không kể to nhỏ đều cho tùy tiện xử lý”. Nguyễn Hoàng ra đi vừa để bảo toàn mạng sống, vừa tính kế phát triển sự nghiệp lâu dài. Trong suốt thời gian trấn thủ đất Thuận Quảng (1558 - 1613), Nguyễn Hoàng đã dốc sức củng cố thế lực, thu phục lòng người bằng lối cai trị mềm mỏng để đặt nền tảng cho việc xây dựng giang sơn riêng cho dòng họ mình. Và Thuận Hóa trở thành đất dựng nghiệp của họ Nguyễn. 

Cảnh triều đình nhà Lê trung hưng năm 1684-1685 do Samuel Baron vẽ. 

Sau khi đánh bại nhà Mạc, Chúa Trịnh Tùng bắt đầu tính tới việc dẹp bỏ thế lực họ Nguyễn ở phía Nam do Nguyễn Hoàng - Trấn thủ Thuận Hóa - Quảng Nam cai quản. Cục diện chính trị Đàng Ngoài - Đàng Trong hình thành. Từ năm 1627 đến 1672 đã có 7 cuộc chiến xảy ra. Nội chiến liên miên, Nghệ An là bãi chiến trường. Đất nước bị chia cắt. 

Đôi bờ sông Lam. Ảnh: Sách Nguyễn 

Chiến trường tàn khốc, dân chúng điêu linh 

Từ khi Nguyễn Kim chống nhà Mạc (1533) cho đến tận khởi nghĩa Tây Sơn và cuối cùng là nhà Nguyễn thống nhất đất nước (1802), tình hình chính trị Đại Việt phức tạp, các thế lực liên tục tranh giành quyền lực, tạo ra các cục diện chính trị, an ninh phức tạp và căng thẳng. 

Nghệ An, suốt từ đầu đến cuối của tiến trình lịch sử đó luôn là địa bàn trọng yếu mà các bên đều sử dụng, tận dụng và hướng tới. 

Trong cục diện Nam triều - Bắc triều (1533 - 1592), nhà Lê - Trịnh chủ yếu đứng chân ở vùng Thanh - Nghệ. Chiến sự cũng chủ yếu diễn ra ở vùng này. Từ năm 1570 đến năm 1583, nhà Mạc đã 13 lần tấn công vào Thanh - Nghệ. Nhiều trận đánh lớn đã diễn ra ở Hội Thống, Cương Gián (Nha Nghi, Nghi Xuân); Quy Hợp, Trình Cao (Hương Khê), Cửa Sót (Thạch Hà)… 

Trong cuộc chiến Đàng Trong - Đàng Ngoài, xứ Nghệ là chiến địa, đặc biệt là từ Nam sông Lam đến đèo Ngang là vùng chiến sự ác liệt nhất. Đã có lúc quân Nguyễn chiếm được cả 7 huyện của Nghệ An (1655). 

Trong bối cảnh chiến tranh liên miên, trăm họ khốn khó, từ đầu thế kỷ XVI xuất hiện phong trào nông dân khởi nghĩa chống lại cường quyền. Năm Nhâm Thân (1512), ở Nghệ An có khởi nghĩa lớn của Lê Hi, Trịnh Hưng, Lê Minh Triệt. Sang thế kỷ XVIII, xứ Nghệ không phải là nơi khởi sự nhưng do vị trí địa lý quan trọng, hiểm yếu, nhân dân lại có truyền thống yêu nước và đấu tranh quật cường nên nhiều thủ lĩnh đã lui về vùng này để lập căn cứ địa hoặc xây dựng lực lượng như Nguyễn Hữu Cầu (Quận He), Lê Duy Mật… 

Các cuộc khởi nghĩa ở Nghệ An cũng như cả nước cuối cùng đều bị đàn áp và thất bại nhưng đã làm rung chuyển chế độ cai trị hà khắc của tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh, báo hiệu cho những cuộc khởi nghĩa với quy mô lớn hơn để đáp ứng nhu cầu của nhân dân được giải phóng khỏi ách áp bức tàn bạo, thoát cảnh nội chiến suốt mấy trăm năm và thống nhất đất nước. 

Nguyên Thanh

Nghệ An trong thời kỳ nhà Nguyễn

đăng 01:30, 8 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:39, 8 thg 10, 2020 ]

Lịch sử Nghệ An thời Nguyễn (1802 – 1945) vẫn chủ yếu là hành trình đấu tranh giành độc lập dân tộc của các nhà yêu nước qua các thế hệ. Trên con đường đó, người Nghệ An đã xác quyết những giá trị mới, tính chất mới và kiến tạo được nhiều thành tựu mới để phù hợp với thời đại, với nhu cầu và khát vọng tự do, độc lập của dân tộc. 

Duyên cách và địa danh

Ngày 1 tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802) Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, niên hiệu Gia Long, chọn Phú Xuân làm Kinh đô (TP Huế ngày nay). Lúc này, Nghệ An vẫn gọi là trấn, gồm " 9 phủ, là Đức Quang, Diễn Châu, Hà Hoa, Anh Đô, Trà Lân, Quỳ Châu, Trấn Ninh, Lâm An, Ngọc Ma; …" (Đại Việt địa dư toàn biên). 

Đến đời Minh Mạng, năm 1831, cả nước chia thành 30 tỉnh; tách hai phủ Hà Hoa và Đức Thọ của trấn Nghệ An thành tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1853, Tự Đức bỏ tỉnh Hà Tĩnh, phủ Đức Thọ nhập vào tỉnh Nghệ An và lấy phủ Hà Thanh (gồm Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh) làm đạo Hà Tĩnh do quản đạo đứng đầu lệ thuộc tỉnh Nghệ An. Năm 1864, Tự Đức lại cho đạo Hà Tĩnh tách dưới quyền Tổng đốc An Tĩnh. Năm 1875, Tự Đức bỏ đạo Hà Tĩnh, lập lại tỉnh Hà Tĩnh. 

Sau khi đàn áp được khởi nghĩa Vũ Quang (1896), Nghệ An còn 5 phủ và 6 huyện. Năm 1899, người Pháp lập đại lý hành chính ở Cửa Rào, cũng năm này thành lập thị xã Vinh. Năm 1914 thành lập thị xã Bến Thủy, năm 1917 thành lập thêm thị xã Trường Thi. Năm 1927, gộp 3 thị xã thành thành phố Vinh - Bến Thủy. 

Hình ảnh Bến Thủy do người Pháp ghi lại năm 1908.

Về bộ máy, dưới tỉnh có phủ, huyện, tổng, xã. Đứng đầu tỉnh Nghệ An có Tổng đốc, dưới có bố chánh, án sát, đốc học, lãnh binh… Các phủ, huyện có tri phủ, tri huyện do triều đình bổ nhiệm. Các tổng, xã do dân bầu. 

Từ sau năm 1884, bên cạnh bộ máy cai trị của Nam triều, thực dân Pháp đặt tòa công sứ, dưới là các sở chuyên môn như Lục lộ, Đoan, Kiểm lâm, Y tế, Thú y, Nông chính, Mật thám và trại giám binh. 

Hơn 100 năm chống thù trong giặc ngoài 

Do chính sách áp bức bóc lột của nhà Nguyễn sau khi thiết lập quyền cai trị, ở Nghệ An từ những năm đầu thế kỉ XIX đã có nhiều cuộc bạo động chống lại triều đình. 

Năm 1811, Nguyễn Tuấn tự xưng là Hổ Uy đô thống nổi dậy chiếm cứ vùng Thanh Chương, Nam Đàn, Đông Thành. Lê Duy Phan tự xưng là con cháu nhà Lê nổi dậy ở Thanh Hóa rồi kéo quân vào Nghệ An hoạt động ở vùng Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành. Cuối năm 1818, Lê Hữu Tạo (Hầu Tạo) khởi nghĩa ở Hương Sơn. Năm 1823, Lê Quang Chấn khởi nghĩa ở Nam Đàn, Thanh Chương. Tất cả các cuộc khởi nghĩa này đều bị nhà Nguyễn đàn áp và sớm chịu thất bại. 

Thành Nghệ An năm 1927. Đây là nơi đặt bộ máy của chính quyền Nam triều giai đoạn 1804-1945. Ảnh tư liệu của Hàng không Pháp 

Ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng ở Cửa Hàn (Đà Nẵng), chính thức mở cuộc chiến tranh xâm lược nước ta. Triều đình không dám kiên quyết kháng chiến, vả lại lực lượng và binh khí thua kém nên từng bước đầu hàng, ký Điều ước Nhâm Tuất (1862) cắt 3 tỉnh miền đông Nam kỳ rồi Hòa ước Giáp Tuất (1874) cắt nốt 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ cho Pháp.

Năm 1859, sau khi thành Gia Định bị chiếm, ở Nghệ An, Văn Đức Giai, Dương Doãn Hải và nhiều sĩ phu khác dâng biểu xin kiên quyết chống Pháp rồi tổ chức đội nghĩa binh vào Nam chi viện cho nhà yêu nước Trương Định. 

Năm 1873, Pháp đánh chiếm thành Hà Nội, Tổng đốc An Tĩnh là Tôn Thất Triệt họp văn thân Nghệ - Tĩnh bàn kế chống Pháp, giao cho Trần Tấn, Đặng Như Mai (Nghệ An) và Nguyễn Huy Điển, Trần Quang Cán (Hà Tĩnh) đứng ra chuẩn bị. Năm 1874 khởi nghĩa nổ ra ở Thanh Chương, nhưng cuối cùng đã bị đàn áp khốc liệt và thất bại. 

Năm 1885, Tôn Thất Thuyết tấn công quân Pháp ở Huế, Vua Hàm Nghi xuống Chiếu Cần Vương. Nghệ An và Hà Tĩnh đi đầu ứng nghĩa. Khởi nghĩa của Lê Ninh (Trung Lễ, Đức Thọ) trở thành ngòi nổ phong trào chống Pháp ở Nghệ - Tĩnh và cả nước. Ở Nghi Lộc có khởi nghĩa của Đinh Văn Chất cùng Ngô Quảng; Thanh Chương, Đô Lương có Trần Khắc Kiệm, Nguyễn Hữu Chính, Trần Văn Biềng, Hồ Văn Phú; Nam Đàn có Vương Thúc Mậu, Vương Thúc Quý; Quỳnh Lưu có Phan Duy Phổ, Hồ Đức Thạc, Hồ Trọng Miên, Hồ Trọng Hoán, Phan Bá Niên. Vùng Anh Sơn, Con Cuông có nghĩa quân của Lê Doãn Nhạ; Vùng Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quế Phong có Lang Văn Thiết… 

Khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn (Diễn Thái, Diễn Châu) nổ ra vào đầu năm 1886 là cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhất, tập hợp lực lượng kháng chiến chống Pháp của cả tỉnh Nghệ An, liên kết với khởi nghĩa của Phan Đình Phùng để đưa phong trào chống Pháp lên đỉnh cao. Cuộc khởi nghĩa và phong trào Cần Vương thất bại nhưng đã hun đúc tinh thần yêu nước, ý chí chống giặc ngoại xâm của nhân dân xứ Nghệ, làm điểm tựa tinh thần cho những phong trào đấu tranh tiếp theo. 

Nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu (ảnh trái); Một số lưu học sinh phong trào Đông Du. Ảnh tư liệu 

Tháng 5/1904, nhà yêu nước Phan Bội Châu thành lập Hội Duy Tân, chủ trương bạo động đánh Pháp. Ông khởi xướng và lãnh đạo Phong trào Đông Du nhằm đưa thanh niên ra nước ngoài học tập để trở về phục vụ cho công cuộc đấu tranh vũ trang, nhưng đến tháng 9 năm 1908 thì bị chính phủ Nhật trục xuất vì Pháp can thiệp. Năm 1912, cụ Phan thành lập Việt Nam Quang Phục hội với tôn chỉ khôi phục nước Việt Nam độc lập, thành Cộng hòa dân quốc. Tháng 1 năm 1914 ông bị chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giam đến tháng 3 năm 1917 mới thả, tháng 6 năm 1925 ông đưa về quản thúc ở Huế.

Đồng thời với phong trào Đông Du, năm 1908 phong trào chống sưu thuế đã lan ra Nghệ An và phát triển rất mạnh mẽ, được sự hưởng ứng, tham gia và lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, tiêu biểu nhất có các chí sỹ Nguyễn Hàng Chi, Trịnh Khắc Lập, Nguyễn Danh Phương, Lê Văn Huân, Phạm Văn Ngôn, Chu Trạc… 

Cũng trong thời gian này, nhà yêu nước Đặng Thúc Hứa xuất dương sang Xiêm (Thái Lan) rồi sang Trung Quốc. Năm 1909, ông lập Trại Cày ở Xiêm - một hình thức hợp tác làm ăn của bà con Việt kiều để tuyên truyền yêu nước, huấn luyện đấu tranh. Hàng trăm thanh niên Nghệ An và Hà Tĩnh đã sang đây rồi từ đó được gửi sang Trung Quốc. Tại đây họ đã tham gia các lớp huấn luyện của Nguyễn Ái Quốc rồi trở thành những hạt nhân nòng cốt đầu tiên của phong trào cách mạng vô sản sau này. 

Nâng tầm văn hóa xứ Nghệ 

Gần 150 năm dưới thời nhà Nguyễn là thời kì đầy biến động chính trị xã hội của Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng. Nhà Nguyễn đến 1945 mới kết thúc nhưng từ 1884 quyền lực thực tế chủ yếu do người Pháp nắm giữ. Bởi vậy, từ thời điểm đó, đời sống kinh tế và văn hóa của Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi chính sách của người Pháp. 

Xưởng sản xuất đường sắt phía Bắc thành phố Vinh (Nghệ An) thời Pháp thuộc. Ảnh tư liệu 

Nếu vào thời kì trước 1858 khi thực dân Pháp chưa xâm lược, tuy có một số chính sách mới, nhưng nhìn chung nền kinh tế vẫn rất nghèo nàn, không phát triển. Nhân dân bần hàn bởi chính sách bóc lột nhằm củng cố nhà nước mới xác lập của nhà Nguyễn. Chỉ từ sau khởi nghĩa Vũ Quang sang đầu thế kỷ XX, với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp, nhân dân vẫn bị bóc lột vô cùng nặng nề.

Điều đáng nói nhất, ở Nghệ An đã bắt đầu hình thành và từng bước trở thành trung tâm công nghiệp lớn nhất khu vực miền Trung. Cùng với đó là quá trình đô thị hóa và hình thành các giai cấp công nhân, tư sản, tiểu tư sản. Đây là tiền đề cho những chuyển hóa quan trọng về kinh tế, văn hóa, giáo dục… và là nền tảng để xuất hiện một đội ngũ trí thức tân học ngày càng đông đảo. Chính đội ngũ này đã làm thay đổi diện mạo văn hóa xứ Nghệ, đóng góp vào sự vận động văn hóa của cả nước. Họ là nòng cốt tiếp nhận và truyền bá những tư tưởng mới để làm cho Nghệ An trở thành một trung tâm của các sự kiện chính trị lớn nhất của cả nước. 

Vĩnh Khánh

Truyền thuyết về Dinh Thầy Thím - huyền thoại và sự thật

đăng 01:09, 23 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Truyền thuyết

Truyền thuyết kể rằng: 

Ngày xưa, vào những năm đầu thời Gia Long, ở Quảng Nam có một vị đạo sĩ võ thuật và phép thuật cao cường lại giàu lòng nhân ái. Ông được dân làng quý mến vì giúp đỡ người dân rất nhiều. Dân trong làng ao ước có ngôi đình làng để thờ phượng tiền nhân. Thế rồi sau một đêm mưa to gió lớn, sáng hôm sau có một ngôi đình to lớn hiện ra giữa làng. Dân làng chưa trọn niềm vui thì vài hôm sau dân làng bên tố cáo ông dùng tà thuật đánh cắp đình, âm mưu gây loạn. Vua xử ông tam ban triều điển (chọn một trong 3 cách chết: xử trảm, uống thuốc độc hoặc thắt cổ). Ông chọn cách thứ 3. Khi tấm lụa đào đến tay ông bỗng biến thành rồng nâng vợ chồng ông bay bổng lên không trung, bay về phương Nam.

Hoạt cảnh Thầy Thím lãnh án Tam ban triều điển

Hoạt cảnh Thầy Thím cỡi rồng về phương Nam

Nơi rồng đáp xuống là làng Tam Tân, tức xã Tân Tiến, thị xã La Gi ngày nay. Tại nơi này ông lại tiếp tục giúp đỡ người dân rất nhiều nhưng không cho ai biết tên. Dân làng kính yêu, gọi ông là Thầy, vợ ông là Thím. 

Một ngày mùa thu, Thầy - Thím qua đời. Nơi hai người tạ thế, thú rừng vun đắp thành hai ngôi mộ bằng cát trắng phau. Hàng năm, cứ đến mùng 05 tháng Giêng âm lịch, có đôi Bạch Hắc Hổ thường xuyên về tảo mộ, phủ phục canh gác cho ngôi mộ, Khi Bạch Hắc Hổ qua đời, dân làng an táng ngay sau ngôi mộ Thầy Thím để tường nhớ hai con vật tận trung với người.

Đến đời Thành Thái thứ 18, nhà vua đã xem lại án xử trước đây và ban sắc phong cho Thầy - Thím là "Chí Đức Tiên sinh, Chí Đức Nương Nương Tôn Thần".

Thầy Thím thực sự là ai? Cho đến giờ vẫn không ai biết nhưng có một điều chắc chắn: Thầy Thím là những nhân vật có thật. Đó là người có công lớn với dân làng và được người dân tưởng nhớ xây dựng nơi thờ cúng rất trang nghiêm và được duy trì mãi đến tận bây giờ. Đó là dinh Thầy Thím. Thầy Thím vẫn còn 2 ngôi mộ ở Tam Tân, hơn thế nữa phía sau 2 ngôi mộ này vẫn còn đó 2 ngôi mộ của Bạch Hắc Hổ. Địa điểm này cũng được tôn kính suốt hai trăm năm qua.

Có gì nơi phòng Truyền thống ở Dinh Thầy Thím?

Bây giờ ta ghé qua phòng Truyền thống ở Dinh Thầy Thím xem có gì hay không.


Nơi đây có trưng bày một số mô hình đồ vật ở Tam Tân thời của Thầy Thím, như thuyền đi biển, các trang phục thời đó...


Ngay giữa phòng là nơi trưng bày trang trọng Bằng công Nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia.

Và có cái này hay đây:


Đây là sắc phong do vua Thành Thái ban cho Thầy Thím vào năm 1906 (Thành Thái thứ 18). Mặc dù đây chỉ là bản phục chế, nhưng cũng có giá trị tham khảo. Nội dung sắc phong phục chế được ban quản lý dinh ghi lại như sau:
Phiên âm:

Sắc Bình Thuận tỉnh Hàm Thuận phủ Tuy Lý huyện Tam Tân thôn phụng sự Dực Bảo Trung Hình Linh Phù Tôn Thần, Trai Tinh Dực Bảo Trung Hung Tôn Thần, nẫm trứ linh ứng. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh miến niệm thần hưu trứ phong vi Chí Đức Tiên Sinh Chí Đức Nương Nương Tón Thần. chuẩn y cựu phụng sự, thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân.

Khâm tai!

Thành Thái thập bát niên... nguyệt... nhật.

Dịch nghĩa

Sắc làng Tam Tân huyện Tuy Lý phủ Hàm Thuận tỉnh Bình Thuận phụng thờ Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần, Trai Tĩnh Dực Bảo Trung Hung Tôn Thần lâu nay rất linh ứng. Nay trẫm gánh vác mệnh lớn, nghĩ đến công lao của Thần, phong cho là Chí Đức Tiên Sinh - Chí Đức Nương Nương Tôn Thần. Cho phép phụng thở như cũ, mong Thần hãy phù hộ và bảo vệ che chở cho dân đen của trẫm.

Mệnh ban!

Ngày... tháng... năm Thành Thái thứ 18 (1906)

Sự tích Thầy Thím có ghi nhận : Sau khi Thầy Thím mất, vua Thành Thái năm thứ 18 có xem xét lại án xử trước đây và ban sắc phong cho Thầy Thím là : “Chí Đức Tiên Sinh Tôn Thần, Chí Đức Nương Nương Tôn Thần”.  Với nhiều lý do khác nhau bản sắc phong nầy không còn lưu giữ tại Dinh.

Thể theo nguyện vọng của bà con dân làng, Ban quản lý di tích lịch sử Dinh Thầy Thím đã nhờ Ông Lê Công Sĩ – ở Bình Dương phục chế lại sắc phong cho Thầy Thím.

Xét về nội dung, sắc phong này không làm rõ hơn điều gì về lai lịch của Thầy Thím, cũng không nhắc gì về vụ án ngày xưa (có hay không có), chỉ khẳng định một điều: công ơn của Thầy Thím với dân làng là to lớn và triều đình công nhận điều đó.

Một giả thuyết táo bạo nhưng hợp lý

Lễ hội Dinh Thầy Thím

Có một giả thuyết được nhà nghiên cứu Trần Viết Điền đưa ra như sau:

Năm 1802, vua Gia Long cho hành tội các nhân vật nhà Tây Sơn. Xương cốt 7 “tử tội” cho vào giỏ mây, thả trôi trên sông Hương. Có lẽ xương cốt đã trôi theo dòng, rồi tấp vào bờ xóm Kim Bồng (nay là làng Hòa An, Phú Vang, Thừa Thiên - Huế).

Xóm này vốn là nơi ngụ cư của những lính thợ gốc Quảng Nam, chuyên đóng thuyền bè phục vụ thủy quân từ thời chúa Nguyễn, qua thời Tây Sơn, rồi đến thời các vua Nguyễn. Người dân xóm Kim Bồng phát hiện các giỏ mây có cốt đã hóa thạch, bí mật thờ phụng, theo thời gian tôn tạo thành Miếu Thất Vị.

Một vị quan nhà Tây Sơn từng biết bí mật về 7 giỏ mây có hài cốt, lui về ẩn dật ở làng La Qua (Quảng Nam), tạo nên thần thoại và dựng 7 bệ thờ (sau gọi là Bảy Miếu, hay Miếu Thất Vị), thực chất nhằm âm thầm hương khói các tướng lĩnh Tây Sơn bị hành hình năm xưa.

Vị cựu thần Tây Sơn này tinh thông lý số, từng giúp dân làng La Qua. Tiếng đồn đến tai triều đình, vị nho sĩ - đạo sĩ đã bị khép tội chết. Có khả năng ông đã tránh vào Bình Thuận, rồi từ đó hình thành nên truyền thuyết về Thầy - Thím ở La Gi.

Mộ Thầy Thím

Bản thân nhà nghiên cứu Trần Viết Điền cũng tự nhận thấy giả thuyết này táo bạo và có nhiều "điểm mờ", không thể kiểm chứng. Cá nhân tui cũng thấy vậy nhưng rất thích giả thuyết này và nhận thấy có nhiều điều hợp lý.
  • Là một vị quan lớn dưới triều Tây Sơn nên Thầy là một tội phạm của triều đình, do đó phải trốn tránh và giấu tên tuổi. Câu chuyện theo rồng bay về phương Nam có lẽ do thầy tự đặt ra để giải thích với người dân về việc mình phải mai danh ẩn tích nơi chốn xa này.
  • Là một vi quan lớn dưới triều Tây Sơn nên Thầy có kiến thức rộng về lý số cùng nhiều lãnh vực và có thể là quan võ nên tinh thông võ thuật. Điều đó khiến thầy có khả năng giúp đỡ dân làng về nhiều mặt.
  • Cặp Bạch Hắc Hổ có thể là chuyện thật, nhưng cũng có thể đó là 2 người hầu cận trung thành của vị quan Tây Sơn này, được người đời sau huyền thoại hóa.
Đã hai trăm năm qua rồi, truyền thuyết về Thầy Thím vẫn còn và có lẽ sẽ mãi mãi còn là những bí ấn không lời giải đáp, nhưng dù sao đi nữa ta cũng biết chắc rằng đó là những con người có thật, những danh nhân dù không để lại tên tuổi nhưng để lại cho đời những công ơn to lớn và lòng kính ngưỡng vô biên.

Phạm Hoài Nhân

Đền Bà Chúa Kho và sự tích công chúa Thanh Bình

đăng 02:00, 10 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Tiên Sơn, huyện Việt Yên (Bắc Giang) là vùng đất cổ nằm bên bờ Bắc Sông Cầu. Vùng đất này còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa dân tộc. Các di tích mộ Hán, đền thờ Thạch Linh Thần Tướng, Ao Miếu, quần thể di tích chùa Bổ Đà, đền Độc Cước… phản ánh rất rõ về lịch sử văn hoá địa phương qua các thời kỳ.

Trong hệ thống di tích tiêu biểu ở Tiên Sơn còn có đền thờ Bà Chúa Kho - nơi thờ công chúa Thanh Bình, tương truyền là con gái vua Hùng có công trông coi kho lương giúp vua cha đánh giặc phương Bắc bảo vệ đất nước. 

Sự tích Bà Chúa Kho được lưu truyền ở địa phương: Theo truyền thuyết thời Hùng Vương, giặc phương Bắc sang xâm lược nước ta, thế giặc rất mạnh lại có tù trưởng Cao Bằng là Lục Đinh làm nội ứng. Nhà vua xuất quân từ núi Nghĩa Lĩnh gần ngã ba sông Việt Trì đem toàn Bản bộ đến trang Tiên Lát, nơi có địa hình thuận lợi cho việc phòng bị đánh giặc. 

Cổng vào đền thờ Bà Chúa Kho.

Các Bản bộ đóng trại tại vùng đất này còn ghi dấu tên địa danh như: Bộ Tre, Bộ Trạ, Bộ Ngạnh, Bộ Nứa, Bộ Trắng, Bộ Hồng... Mỗi bộ trông coi mỗi việc gọi là lục bộ. Nhà vua trao cho con gái Thanh Bình trực tiếp làm thủ kho giữ lương thực và binh sách tại Trại Cung. Công chúa tỏ ra có tài cung ứng kịp thời cho lục bộ, ba quân và cho Thạch Tướng quân đánh thắng giặc đem lại hoà bình cho đất nước.

Làm tròn nhiệm vụ, Thạch Tướng quân đã hoá trên núi Phượng Hoàng. Công chúa Thanh Bình là con cháu của các bậc tiên vương kế thừa dòng máu của các bậc tiên đế giản dị, trung thực, công tâm. Là thủ kho, công chúa đã cung ứng kịp thời cho ba quân, giúp ba quân đánh thắng giặc.

Sách địa chí Bắc Giang từ điển cũng ghi: Theo truyền tích ở địa phương, thời Hùng Tạo Vương ở trang Tiên Lát, có vợ chồng ông bà Nguyễn Hoà và Cao Thị Huyền ăn ở hiền lành, lương thiện, được trời cho đứa trẻ sinh ra từ đá. Khi đất nước có giặc Lục Đinh thần tướng, đứa trẻ bỗng lớn vụt lên, khí dũng hơn người, tài kiêm văn võ đòi đi đánh giặc. Vua ban cho voi đá, phong Thạch tướng quân, cầm quân đi đánh giặc, đánh một trận giặc tan. 

Thạch tướng quân dẫn quân trở về Tiên Lát, lên núi Phượng Hoàng rồi hoá tại đó. Trong cuộc chiến ấy, Thạch tướng quân giao cho công chúa Thanh Bình cai quản lục kho cho lục bộ: Bộ Tre, Bộ Trạ, Bộ Ngạnh, Bộ Nứa, Bộ Trắng, Bộ Hồng. Việc binh lương được công chúa lo chu tất. Đến khi công chúa hoá, vua cho lập đền thờ, gọi là đền Bà Chúa Kho.

Đền thờ Bà Chúa Kho được xây dựng từ lâu đời và đã được tu sửa qua nhiều giai đoạn. Khảo sát hiện trạng di tích cho thấy nhiều dấu ấn văn hoá qua các thời kỳ còn lưu lại. Xung quanh ngôi đền còn nhiều mảnh vỡ, đầu ngói mũi hài, gạch ngói cũ thời Lê (TK XVII-XVIII). Ông Nguyễn Thế Đoàn, người trông coi di tích cho biết: “Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, đền Bà Chúa Kho bị hư hỏng nặng. Đến những năm 1978 - 1980, nhân dân địa phương mới tu sửa tôn tạo lại ngôi đền thêm phần khang trang tố hảo để thờ Bà Chúa Kho theo truyền thống ở địa phương”.

Đền Bà Chúa Kho hiện nay có bình đồ kiến trúc kiểu chữ nhị gồm toà Tiền tế 3 gian và Hậu cung 3 gian. Trên đỉnh bờ nóc mái đền đắp nổi bức đại tự chữ Hán: “Chúa Kho từ”- đền Bà Chúa Kho. Hai trụ biểu phía trước đắp câu đối chữ Hán ca ngợi công lao của công chúa Thanh Bình: “Càn long tốn thuỷ lưu thắng cảnh/ Liệt nữ cao sơn hiển linh từ” (có nghĩa: Phía Tây Bắc có mạch nguồn, phía Đông Nam có dòng nước chảy là nơi cảnh đẹp/ Người nữ oanh liệt được tôn thờ ở ngôi đền linh thiêng trên đỉnh ngọn núi cao). 

Đền thờ Bà Chúa Kho là trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng, nơi tổ chức lễ hội truyền thống của nhân dân địa phương. Hội lệ hằng năm được tổ chức ngày 15 tháng Giêng âm lịch với nhiều nghi lễ và trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Ngôi đền nằm trong quần thể di tích danh thắng Bổ Đà gắn với truyền tích về Thạch Linh thần tướng cầm quân đánh giặc bảo vệ đất nước. Với giá trị lịch sử tiêu biểu, đền thờ Bà Chúa Kho được xếp hạng là di tích Lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 2009.

Đồng Ngọc Dưỡng

Dò tìm kho báu họ Mạc ở Hà Tiên

đăng 00:51, 30 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 00:54, 30 thg 8, 2020 ]


Phần 1

Ghé chơi Hà Tiên, du khách sẽ ngạc nhiên thích thú nếu tình cờ nghe dân địa phương kể về kho báu mà dòng họ Mạc từng cất giấu nơi đây hồi thế kỷ XVIII. Đúng tiết Nguyên tiêu Nhâm Ngọ (26-2-2002), nhân trở lại thị xã biên viễn này để dự lễ hội kỷ niệm 266 năm thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các, tôi bèn tranh thủ sưu tra tư liệu, gặp gỡ chứng nhân, kết hợp quan sát thực địa, những mong làm sáng tỏ đôi điều quanh câu chuyện ly kỳ.


Bản đồ địa giới hành chính thị xã Hà Tiên hiện thời


Từ 2 bài thơ ngắn

Hà Tiên trước kia là một tỉnh có lãnh thổ khá rộng trong Nam kỳ lục tỉnh. Hiện tại, địa danh này chỉ một thị xã nhỏ bé với diện tích 88,51km2 và số dân 38.133 người, trực thuộc tỉnh Kiên Giang (1). Đó là phần lục địa cuối cùng của Tổ quốc ở phía tây nam. Phần đông bạn đọc, dù chưa có điều kiện đặt chân đến đây song đều ít nhiều biết “Hà Tiên mến yêu đẹp như xứ thơ” (2) qua các ca khúc, hàng loạt tranh, ảnh, phim, và bao áng văn chương kim cổ. Quen thuộc nhất, phải kể “xê ri thơ” 河仙什詠 Hà Tiên thập vịnh của nhóm Chiêu Anh Các. Ấy là Tao đàn thứ nhì trong lịch sử văn học Việt Nam, được thành lập từ mùa xuân Bính Thìn 1736, tạo nên một hiện tượng văn hoá đột khởi ở Đồng bằng sông Cửu Long đạt dư âm vang xa. Thoạt đầu là 10 bài thơ chữ Hán của Mạc Thiên Tích thủ xướng theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Lần lượt, nhiều thi nhân trong lẫn ngoài nước hoạ vận, rồi tác phẩm được tập hợp khắc in. Nhà thơ kiêm nhà bác học cùng thời là Lê Quý Đôn (1726 – 1784) đọc xong, khen: “Không thể bảo rằng hải ngoại không có văn chương được.”

Ngoài 10 bài thơ nêu trên, Mạc Thiên Tích còn sáng tác 10 bài thơ chữ Nôm, tất cả đều giữ nguyên thể cùng tiêu đề y như 10 bài thơ chữ Hán. Điểm độc đáo là 10 bài thơ Nôm ấy đan cài một cách hài hoà trong tập thơ song thất lục bát quốc âm mang tên 河仙什景曲詠 Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh hoặc 河仙國音什詠 Hà Tiên quốc âm thập vịnh. Đến nay, không ít nhà nghiên cứu vẫn còn băn khoăn về tác giả đích thực của ngâm khúc tài hoa đó. Nhưng đó lại là chuyện khác.


Hà Tiên thập cảnh


Dính dáng đến kho báu họ Mạc có lẽ là bài thơ thứ 5: 石洞吞雲. Phiên âm: Thạch động thôn vân. Nghĩa: Động đá nuốt mây. Nguyên tác Hán tự của Mạc Thiên Tích:

山峰聳翠砥星河,
洞室玲瓏蘊碧珂。
不意煙雲由去往,
無垠草木共婆娑。
風霜久歷文章異,
烏兔頻移氣色多。
最是精華高絕處,
隨風呼吸自嵯峨。


Phiên âm:

Sơn phong tủng thuý để tinh hà,
Động thất lung linh uẩn bích kha.
Bất ý yên vân do khứ vãng,
Vô ngân thảo mộc cộng bà sa.
Phong sương cửu lịch văn chương dị,
Ô thố tần di sắc khí đa.
Tối thị tinh hoa cao tuyệt xứ,
Tuỳ phong hô hấp tự ta nga.


Vũ Đình Liên chuyển ngữ:

Non cao chót vót chạm trời xanh,
Trong núi lung linh động ẩn hình.
Mây khói ở đi không chủ ý,
Cỏ cây rung động cũng vô tình.
Văn chương thêm lạ, phong sương lắm,
Khí sắc càng nhiều, thay đổi nhanh.
Tuyệt đỉnh tinh hoa phong cảnh ấy,
Gió trời hô hấp ngọn chênh vênh.


Đông Hồ chuyển ngữ:

Xanh xanh ngọn đá chạm thiên hà,
Động bích long lanh ngọc chói lòa.
Chẳng hẹn khói mây thường lẩn quất,
Không ngăn, cây cỏ mặc la đà.
Phong sương càng dãi màu tươi đẹp,
Nhật nguyệt chi ngừng bóng lại qua.
Chót vót tinh hoa đây đã hẳn,
Theo chiều gió lộng vút cao xa.


Bản dịch của Đông Hồ bộc lộ đầy đủ ý tứ nguyên tác. Ví như dòng thừa đề Động thất lung linh uẩn bích kha cần được hiểu: “Trong động long lanh ẩn giấu ngọc bích”. Chữ kha 珂 ở đây thuộc bộ ngọc, chỉ một loại đá quý, cũng gọi bạch mã não.


Bạch mã não / 白瑪瑙 / white agate / agate blanche


Còn bài thơ Nôm tương truyền của Mạc Thiên Tích như sau:

Quỷ trổ thần xoi nổi một toà,
Chòm cây khóm đá dấu tiên gia.
Hang sâu thăm thẳm mây vun lại,
Cửa động thinh thinh gió thổi qua.
Trống rỗng bốn bề thâu thế giới,
Chang bang một dãy chứa yên hà.
Chân trời mới biết kho trời đấy,
Cân đái hèn chi rỡ ỷ la.


Cân đái nghĩa đen là khăn bịt đầu và đai thắt lưng, nghĩa bóng chỉ nhà quyền quý. Ỷ la là lụa gấm đẹp đẽ, chỉ chung đồ trang sức giá trị. Có kẻ suy đoán kho trời là “kho tàng của Thiên Tích nơi chân trời góc biển”.


Đền thờ họ Mạc ở núi Lăng / Bình San. Ảnh: Phanxipăng

Phần 2


Trong công viên Mũi Tàu ở Hà Tiên, tượng đá Mạc Cửu cao 7m do điêu khắc gia Nguyễn Hồng Phong tạc. Ảnh: Quang Trưởng 


Đến bức mật thư dài 

Năm ngoái (2001) ghé vội, tôi chưa kịp ngoạn du Hà Tiên thập cảnh. Tuy nhiên, dạo ấy, trong bữa tiệc sơ ngộ với một số bậc thức giả tại địa phương, tôi có hỏi về Thạch động thôn vân thì được nghe lắm chi tiết lý thú. Rằng “động đá nuốt mây” nằm trong ngọn núi cách trung tâm thị xã chừng 3km về phía tây bắc. Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi tên là 雲山 / Vân sơn / núi Mây: “Cao chừng 4 trượng, bốn bên dốc đứng như cái cột kình thiên, núi động rộng 4,5 trượng, trong có chùa Bạch Vân.” 

Thạch Động nhiều hang hốc, mà hang Đại Bàng và hang Âm Phủ liên quan cổ tích Thạch Sanh – Lý Thông. Các hang này, theo sách Du lịch Hà Tiên do Giang Lưu Minh Huấn và Giang Lưu Minh Đoán biên soạn (NXB Văn Nghệ TP.HCM 1998), cũng có khả năng dính dáng kho tàng họ Mạc: “Nghĩ vậy có người liều lĩnh cầm đuốc đi trong hang tối om. Lối đi hiểm trở, càng vào sâu càng nhiều ngõ ngách. Đi mãi không cùng, lên cao rồi xuống thấp, cuối cùng bỗng lại thấy mình trở về chỗ cũ. Trèo lên miệng hang hỏi người trong đoàn mới biết đã mất hết 1 đêm 2 ngày.” 

Chuyện kho báu dòng tộc Mạc gắn liền với lịch sử mở cõi về phương Nam của dân tộc Việt. Địa bàn Hà Tiên hiện nay vốn là một phần của vương quốc Phù Nam xa xưa, đến thế kỷ XVIII thì nằm trong tình trạng vô quản với tên gọi Mang Khảm / Man Khảm / Màng Khảm. Khoảng năm 1700, Mạc Cửu tới lập nghiệp. 

Mạc Cửu (1655 – 1735) quê ở huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa. Không chịu cạo tóc gióc bím theo triều Mãn Thanh, ông đã đưa mẹ cùng thuộc hạ phiêu dạt xuống khu vực Đông Nam Á. Đầu tiên, ông xin thần phục vua Chân Lạp, nhưng sau đấy thấy bất ổn, ông sang Mang Khảm định cư. Sách Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang (NXB Khai Trí, Sài Gòn, 1969) ghi nhận: “Ông đến ở đấy, mở sòng gá bạc để lấy xâu, lại đào được một hầm bạc chôn, nên trở thành giàu. Mạc Cửu bèn xây một ngôi thành trên bờ biển, mở phố xá rồi chiêu tập lưu dân đến (…), lập thành 7 xã thôn. Tương truyền đất Màng Khảm có người Tiên thường hiện trên sông, nên đặt là Hà Tiên.” 

Lịch sử Mang Khảm sang trang mới với tên gọi chính thức là trấn Hà Tiên kể từ năm Mậu Tý 1708, khi Mạc Cửu xin sáp nhập đất này vào Đàng Trong. Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 – 1725) ưng thuận, phong Mạc Cửu chức Tổng binh, cho thụ tước Cửu Lộc hầu. 

Mộ Mạc Cửu trên núi Lăng / Bình San. Ảnh: Phanxipăng 


Sau khi Mạc Cửu mất, chúa Nguyễn Phúc Thụ (1697 – 1738) sắc ban chức Khai trấn Thượng trụ quốc Đại tướng quân, truy phong tước Vũ Nghị công, và cử con trai độc nhất của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ thế tập sự nghiệp phụ thân, cho thăng Đô đốc trấn Hà Tiên, tước Tông Đức hầu. 

Mạc Thiên Tứ còn có tên Mạc Tông, tự Sĩ Lân, là con của Mạc Cửu và Bùi Thị Lẫm – một phụ nữ Việt Nam quê ở trấn Biên Hoà. Thụ tước phong của chúa Nguyễn xong, Mạc Thiên Tứ đổi tên thành Mạc Thiên Tích, tiếp tục mở mang phát triển đất Hà Tiên về nhiều phương diện: khai hoang phục hoá, xây dựng cơ sở vật chất, đẩy mạnh mậu dịch mà quan hệ ngoại thương rất được chú ý, tổ chức chiến đấu chống bọn hải tặc lẫn quân ngoại xâm nhằm kiên quyết bảo vệ từng tấc đất quê hương và đảm bảo cuộc sống an bình cho dân chúng. Đại Nam liệt truyện tiền biên nhận xét về Mạc Thiên Tích: “Thông minh mẫn tiệp, đọc rộng kinh sử, tinh thông võ lược.” 

Không chỉ là võ tướng, Mạc Thiên Tích còn là văn tài mà việc thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các – nơi vừa quy tụ tao nhân mặc khách bốn phương vừa làm trung tâm giáo dục miễn phí – được xem là công lao nổi bật. 

Tương tự mặt trái chiếc huân chương, trấn Hà Tiên phồn vinh, xinh đẹp, lại toạ lạc vị trí chiến lược quan yếu đã khiến mảnh đất này thường xuyên đối mặt với thực tế: các thế lực phong kiến lân cận luôn dòm ngó bằng cặp mắt khát thèm! Suốt nhiều thế kỷ, Hà Tiên kinh qua bao phen binh lửa. Riêng tính giai đoạn Mạc Thiên Tích làm Tổng binh Đô đốc, sách sử còn ghi hàng loạt trận giao tranh ác liệt với quân Chân Lạp, Xiêm La, và chẳng phải lần nào họ Mạc cũng thắng. 

Tháng 10 Tân Mão (1771), quân Xiêm đánh chiếm Hà Tiên, Mạc Thiên Tích đành bỏ thành, theo đường sông chạy về Trấn Giang (Cần Thơ). Năm Quý Tị 1773, phong trào Tây Sơn bùng lên ở Bình Định rồi tiến quân vào Nam, ra Bắc. Mùa xuân Giáp Ngọ 1774, Phú Xuân thất thủ, Định vương Nguyễn Phúc Thuần bôn tẩu ở Quảng Nam rồi Gia Định, Định Tường, Cần Thơ, rốt cuộc bị quân Tây Sơn bắt giết ở Long Xuyên. Bấy giờ, Mạc Thiên Tích trấn giữ cửa sông Kiên (nay thuộc thị xã Rạch Giá (3)). Tây Sơn phái người đến chiêu dụ nhưng Mạc Thiên Tích không theo, lánh ra đảo Phú Quốc. Vua Xiêm là Phya Tek (sử cũ ghi Phi Nha Tân hoặc Trịnh Quốc Anh) cho thuyền tới đón. Cùng lúc đó, nhận lệnh Nguyễn Phúc Anh (thư tịch thường ghi Nguyễn Ánh tức vua Gia Long sau này), Tôn Thất Xuân – tức Chưởng cơ Nguyễn Phúc Xuân – qua Xiêm cầu viện. Vua Xiêm tiếp đãi trọng vọng, nhưng rồi nghe lời gièm pha, nghi ngờ Mạc Thiên Tích và Tôn Thất Xuân làm nội ứng để mưu chiếm kinh thành Vọng Các / Bangkok. Tôn Thất Xuân cùng tuỳ tùng đều bị hại. Mạc Thiên Tích bị lăng nhục. Các con ông là Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Duyên, Mạc Tử Thảng, Mạc Tử Thượng cùng nhiều gia nhân bị giết. Còn Mạc Tử Sanh, Mạc Tử Tuấn, Mạc Tử Thiêm may mắn được một viên quan sở tại thương tình che dấu nên thoát chết. Uất hận, Mạc Thiên Tích tuẫn tiết bằng cách mà sách xưa gọi là “kim thôn” nghĩa là nuốt vàng cho đến ngạt thở để tự sát! Sự kiện xảy ra vào mùng 5 tháng 10 Canh Tý (1780 – năm Nguyễn Phúc Anh lên ngôi vương ở Sài Gòn). 

Hơn hai thập niên sau, năm Giáp Tý 1804, con cháu của Mạc Thiên Tích sang Xiêm đem tẩu cốt (tro xương sau khi hoả táng) của người quá cố về Hà Tiên, lồng vào hình nhân bằng sáp để tẩm liệm rồi mai táng tại Bình San / núi Lăng; phía dưới lăng mộ Mạc Cửu và nằm trong khu nghĩa trang dòng họ Mạc. Năm 1822, niên hiệu Minh Mạng thứ III, Mạc Thiên Tích được triều đình Huế truy phong Đạt Nghĩa chi thần (4). 

Mộ Mạc Thiên Tứ / Tích – người sáng lập Tao đàn Chiêu Anh Các. Ảnh: Minh Phú 


Dân địa phương bấy lâu nay vẫn kính cẩn gọi Mạc Thiên Tích là đức Quốc lão quận công, hoặc ông Lịnh / Lệnh. Thiên hạ cũng kháo rằng một người giàu có, khôn ngoan, biết nhìn xa trông rộng như ông Lịnh chắc phải chôn giấu kho báu để phòng khi hữu sự. Nên nhớ năm Tân Mão 1771, lúc quân Xiêm vây hãm Hà Tiên, Mạc Thiên Tích cầm cự được 15 ngày đêm rồi bỏ thành. Trước khi rút đi khẩn cấp, ắt ông kịp cất kỹ lượng lớn ngọc vàng tiền bạc tại địa điểm bí mật nào đấy. Dân chúng kể có nhân vật tâm phúc trong Mạc phủ từng lỡ miệng nói ra: “Kho báu giấu dưới hang hiểm trở, có quỷ thần canh giữ”. Sau, người ta phát giác một tay thợ đá đột tử, trong mình có tờ giấy chép những vần điệu cực kỳ khó hiểu. Dư luận bàn tán: tay thợ đá được lệnh khắc nội dung bản văn bia kia lên vách núi, cạnh nơi cất giấu kho tàng, song do y tò mò tìm cửa hang nên lâm bạo bệnh mà chết bất ngờ! 

Vì thế, bức mật thư chẳng mấy chốc được quần chúng thuộc làu, rồi lưu hành từ thế hệ này sang thế hệ khác. Qua khẩu truyền, lẽ tất nhiên mật thư phát sinh lắm dị bản. Trong những bản mà tôi sưu tầm được, đây là bản có thể xem đầy đủ nhất, gồm 34 dòng cả thảy: 

Khả thuỷ sơn nhơn 
Nước xanh rờn rờn 
Núi xanh rờn rờn 
Nhị thập viết đại 
Ấp trồng cây trái 
Quả ngọt hoa thơm 
Tay vin tay hái 
Hoa nhỏ tí tí 
Quả nhỏ tí tí 
Tám chín xuân thu 
Hoa nào phong nhị 
Thượng hạ phân kỳ 
Tả hữu đồng quy 
Mười hai mười tám 
Toạ nơi hướng khảm 
Trông ra hướng kiền 
Hoa nở trước hiên 
Tiền là bạch thạch 
Thêm hoa thêm lá 
Thêm sơn thêm hà 
Phi vương phi bá 
Xưng cô xưng quả 
Trời có con trai 
Một cội bảy lá 
Bờ tre xanh xanh 
Hái lá nấu canh 
Canh ăn hết canh 
Vị cay thanh thanh 
Trời tây ngả bóng chênh chênh 
Soi vào hang đá long lanh ngọc vàng 
Vàng trong lòng đá 
Vàng chiếu sáng loà 
Vọng lên lầu các nguy nga 
Hoa sen nở trắng trước toà khói hương. 

Phải chăng những vần điệu lạ kỳ vừa dẫn chính là sơ đồ kho báu của dòng họ Mạc ở Hà Tiên đã mã hoá? 

Bình San / núi Lăng. Ảnh: Phanxipăng


Phần 3

Cổng đền thờ họ Mạc nơi chân núi Lăng / Bình San.

Hoành phi: “Mạc công miếu”.
Đối liễn: “Nhất môn trung nghĩa gia thanh trọng / Thất diệp phiên hàn quốc sủng vinh” (Một nhà trung nghĩa, danh thơm cả họ / Bảy lá dậu che, khắp nước quý yêu).
Ảnh: Phanxipăng 

Lần tìm chìa khoá giải mã 

Bức mật thư truyền khẩu kia cứ như bài toán hóc búa, thách đố bao lớp người động não, thậm chí xả thân, để săn lùng đáp số. Lần này, rằm tháng giêng Nhâm Ngọ (26-2-2002), trở lại Hà Tiên, tôi thử tìm hiểu những cách lý giải mật thư đã và đang tồn tại ở địa phương. 

Ngay dòng đầu Khả thuỷ sơn nhơn, ai cũng biết là địa danh Hà Tiên. Theo phép chiết tự chữ Hán, Hà 河 gồm chữ khả kèm bộ thuỷ; Tiên 仙 gồm chữ sơn kèm bộ nhơn / nhân đứng. Cũng theo lối chiết tự thì dòng thứ 3 và 4 chỉ rõ họ tộc khai sáng đất này: 

Nhị thập viết đại 
Ấp trồng cây trái 

Bộ hai mươi ở trên, chữ viết nằm giữa, chữ đại nằm dưới, chính là ký tự trỏ họ Mạc 莫. Đó là cách ghi họ Mạc vẫn phổ biến nhiều nơi, cả Trung Hoa lẫn Việt Nam. Riêng trường hợp Mạc Cửu cùng hậu duệ của ông, chữ Mạc thường được thêm bộ ấp bên phải, thành 鄚. Kiểu viết ấy khởi phát bởi chúa Nguyễn muốn phân biệt với nhà Mạc từng tiếm ngôi nhà Lê hồi thế kỷ XVI; lại ngụ ý ghi công lập ấp, mở mang vùng biên địa của dòng họ mới. Nhiều người trong giới nghiên cứu đã thừa nhận điều này. Như 陈荆和 / Trần Kinh Hoà / Chen Ching Ho (1927 – 1995), chuyên gia người Hoa nổi tiếng về Việt Nam học, trình bày qua bài Họ Mạc và chúa Nguyễn ở Hà Tiên đăng trên tạp chí Văn Hoá Á Châu số 7 (Sài Gòn, 1958). Hoặc Phan Khoang với cuốn Việt sử xứ Đàng Trong (sđd), Nguyễn Văn Sâm với công trình Văn học Nam Hà, văn học Đường Trong thời phân tranh (NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1972), v.v. 

Tuy nhiên, lúc viếng thăm di tích 44 ngôi mộ cổ tại Bình San, trong đó có 2 mộ song táng, tôi thấy không ít tấm bia ghi chữ Mạc chẳng kèm bộ ấp. Ví dụ bia “Cáo phong Trấn quốc Nghị vũ Cửu Lộc hầu Mạc công chi mộ” (tức Mạc Cửu) do đích thân “hiếu nam Thiên Tứ (tức Thiên Tích) lập thạch”; hoặc bia “Hoàng Việt hiển tỉ Từ Thành thục nhân Mạc phủ Nguyễn Thị chi mộ” (tức vợ thứ của Mạc Thiên Tích). Ấy là chi tiết quan trọng mà tôi sẽ đề cập sau. 

Bia mộ Mạc Cửu: “Cáo phong Trấn quốc Nghị vũ Cửu Lộc hầu Mạc công chi mộ”. Lạc khoản phải: “Long phi Ất Mão trọng tiết”. Lạc khoản trái: “Hiếu nam Thiên Tứ lập thạch”. Lưu ý rằng họ Mạc được khắc 莫 chứ không phải 鄚. Ảnh: Phanxipăng 


Bình San / núi Lăng có quần thể tẩm mộ, chùa chiền, cùng Mạc công tam vị miếu, thực sự giữ vai trò đặc biệt đối với Hà Tiên xưa cũng như nay. Nếu chọn đây làm “toạ độ gốc”, có thể suy đoán một số câu chữ trong mật thư đang xét mang những ý nghĩa nhất định. Chẳng hạn: 

Toạ nơi hướng khảm 
Trông ra hướng kiền 

Là tên gọi đôi quẻ trong kinh Dịch, khảm và càn / kiền ở trường hợp cụ thể này ứng theo tiên thiên hay hậu thiên bát quái? Sử dụng tiên thiên bát quái của Phục Hy, thì khảm chỉ phương đoài, càn chỉ phương nam. Dùng hậu thiên bát quái của Chu Văn Vương, thì khảm chỉ phương bắc, càn chỉ tây bắc. Căn cứ địa hình thực tế, người ta dễ theo hậu thiên hơn. Song, đích xác là điểm nào để thoả mãn điều kiện toạ lạc hướng bắc và nhòm về hướng tây bắc? Núi Đề Liêm ư? Núi Địa Tạng ư? Hay là Vân sơn – Thạch động? Thắng cảnh “động đá nuốt mây” có vẻ hữu lý, nhất là nó tỏ ra phù hợp với cặp lục bát: 

Trời tây bóng ngã chênh chênh 
Soi vào hang đá long lanh ngọc vàng 

Sách Du lịch Hà Tiên (sđd) nhận định: “Hai câu này cho ta biết vị trí của hang. Vị trí này khi mặt trời chênh chênh về tây sẽ chiếu vào cửa hang. Có phải là cửa hang Đại Bàng ở Thạch Động không? Vì khi mặt trời ngả về tây thì ánh nắng chiếu xuyên qua hang Đại Bàng đến miệng hang Âm Phủ.” 

Anh Bùi Văn Thạnh, thường được gọi Tám Thạnh, nguyên chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Kiên Giang, nhiệt tình đưa tôi tới Thạch động. Hòn núi đá vôi nọ nằm bên quốc lộ 80, cách cửa khẩu Xà Xía chỉ quãng ngắn. Chẳng rõ vì sao lối vào động lại bị bê tông hoá với mấy chữ Hán tô đắp và sơn phết màu mè: 仙山洞. Phiên âm Hán-Việt: Tiên Sơn động. Cảnh chướng mắt đó từng khiến thi sĩ Đông Hồ khi biên soạn Hà Tiên thập cảnh (NXB Bốn Phương, Sài Gòn, 1960 – NXB Văn Hoá tái bản, Hà Nội, 1996) phải kêu than rằng “phần nhân tạo đã làm hỏng mất phần thiên nhiên, cảnh tiên đã bại hoại hư nát bởi tay phàm.

Thạch Động ở Hà Tiên. Ảnh: Phanxipăng 


Vào Thạch động, anh Tám Thạnh chỉ tôi xem hang Thạch Sanh, hang Đại Bàng, và hốc đá – chỗ mà cuối năm 1945, người ta tìm thấy thủ cấp của viên sĩ quan Nhật Bản gói trong mảnh vải trắng. Sách Truyện tích Việt Nam của Lê Hương (Sài Gòn, 1970) cho rằng đấy là kết cục một “pha” tự sát kiểu harakiri (5) vì… tình ái. 

Tôi hỏi: 

– Hang Âm Phủ đâu? 

Anh Tám Thạnh trỏ một gờ tròn nhỏ bằng xi măng trồi sát nền đất, kề vách đá: 

– Đây nè. Hang bị lấp lâu rồi. Nghe mấy ông già bà lão bảo trước kia hang sâu lắm, thả quả dừa có đánh dấu xuống thì ít lâu sau ngư dân vớt được ngoài biển Mũi Nai. Lại nghe đồn thuở xưa có những kẻ to gan, dám leo xuống hang thăm dò. Phần lớn đều mất tích. Sống sót trở lên thì rất hiếm hoi, nhưng đều hoá điên vì quá hãi hùng! Quan đầu tỉnh Hà Tiên hồi đó là người Pháp, hạ lệnh lấp hang để tránh nguy hiểm. Thiên hạ nghĩ đó chỉ là cái cớ, chứ việc này hẳn che giấu ý đồ gì. 

– Việc lấp hang Âm Phủ rất có thể diễn tiến gần đồng thời với việc việc quật mồ Hiếu Túc Thái phu nhân họ Nguyễn – chánh thất của Mạc Thiên Tích – chăng? 

– Dân chúng nơi đây đoan chắc cả hai việc đều liên quan vấn đề kho báu, Phanxipăng à. 

Thạch nhũ / vú đá của Thạch Động. Ảnh: Đăng Định 


Chuyện xảy ra vào năm Tân Hợi 1911, lại đúng kỳ thanh minh trong tiết tháng ba / lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh (6). Lấy lý do khai thác đất đá phục vụ kế hoạch kiến thiết đô thị, tham biện Hà Tiên lúc bấy giờ là Roux-Serret điều động lực lượng tù khổ sai đào bới lăng mộ Thái phu nhân ở Bình San suốt 10 ngày ròng rã. Chiều hôm sau, chính quyền thực dân mới cho phép ông Mạc Tử Khâm – cháu 7 đời của Mạc Cửu – cùng thân bằng quyến thuộc và hội đồng hương chức đến chứng kiến cảnh tháo dỡ quan tài. Di cốt bà vợ cả của Mạc Thiên Tích được cải táng bên trái phía dưới lăng Mạc Cửu, cũng ở Bình San. 

Sự vụ có lắm điều khiến thiên hạ xôn xao không ngớt. Há lẽ cần lấy ít đất đá làm vật liệu xây dựng mà cam tâm phá huỷ mồ mả tiền nhân, hơn nữa lại là di tích đáng bảo tồn? Ví muốn khai thác đất đá thì khắp Hà Tiên thiếu gì đồi núi, hà tất phải xâm phạm nơi chốn được xem linh thiêng như Bình San? Di dời âm phần có kiến trúc nhỏ bé và chẳng mấy kiên cố, làm gì tốn hơn chục ngày với sự bảo vệ bí mật cực kỳ kỹ lưỡng vậy? Quật mồ rồi chôn lại, hai địa điểm rất gần nhau và cùng trong một khu vực, còn hơn 40 ngôi mộ khác cớ sao chẳng đụng chạm? 

Nơi đây, vào tiết thanh minh năm Tân Hợi 1911, tham biện Hà Tiên là Roux-Serret hạ lệnh quật mồ Hiếu Túc Thái phu nhân (vợ cả của Mạc Thiên Tứ / Tích). Ảnh: Kỳ Anh 


Qua cuốn Văn học Hà Tiên (NXB Quỳnh Lâm, Sài Gòn, 1970 – NXB Văn Nghệ TP.HCM tái bản, 1996), Đông Hồ tường thuật khá chi tiết vụ quật mồ Thái phu nhân, rồi rút ra kết luận: “Việc lấy đất đá là một cái cớ che đậy hành vi mờ ám của người dụng ý khai quật mộ phần. Họ muốn tìm trong đó một kho tàng.” 

Mộ Thái phu nhân Nguyễn Hiếu Túc hiện nay tại núi Lăng / Bình San. Ảnh: Kỳ Anh


Phần 4

Phanxipăng thám hiểm vùng cấm. Ảnh: Tám Thạnh 


Thâm nhập vùng cấm địa 

Trong Thạch động, không khí mát lạnh, thơm nức mùi nhang trầm. Đứng bên dấu tích miệng hang Âm Phủ và ngắm nghía hang Đại Bàng, tôi càng thấy nội dung bức mật thư mù mờ khó hiểu hơn mình tưởng. Trên nguyên tắc, muốn khám phá bạch văn của mật thư bất kỳ, điều thiết yếu là phải nắm cho được “code” tức chìa khoá giải mã. Hỡi ôi! Cái “code” dùng mở mật thư Khả thuỷ sơn nhơn dường nằm im dưới đáy hang khuất kín? 

Giả thiết mật thư này ẩn chứa sơ đồ kho báu, thì nhiều chi tiết chưa hẳn định vị Thạch động mà có thể chỉ dẫn một hang sâu động hiểm khác gần đấy: núi Đá Dựng. Ông Hứa Nhứt Tâm – thuộc Chi hội Văn nghệ Hà Tiên – nói: 

– Núi Đá Dựng cũng là một thắng cảnh liên quan cổ tích Thạch Sanh và chuyện cất giấu của cải thời trước. 

Lật tài liệu Hà Tiên đất nước và con người (NXB Mũi Cà Mau, 1999), ông Hứa Nhứt Tâm chỉ tôi đọc đoạn cần lưu ý về núi Đá Dựng: “Núi nhỏ, hình thang cân, cấu trúc tương tự Thạch động nhưng có nhiều hang và lớn hơn, địa thế hiểm trở, không khí u tịch và tăm tối, phải dùng đèn mới đi thăm được. (…) Vào thế kỷ XVIII, khi quân Xiêm tấn công Hà Tiên, những người giàu có đã đem của cải cất giấu ở đây.” 

Lâu nay, ai nấy thảy đinh ninh núi Đá Dựng là cảnh Châu Nham lạc lộ (Cò đáp gành Châu) được phản ánh qua tác phẩm của Tao đàn Chiêu Anh Các. Vừa rồi, ông Trương Minh Đạt – nhà giáo lão thành tại địa phương và là tác giả tập khảo luận Nhận thức mới về Hà Tiên (NXB Trẻ, 2001) – đã chứng minh rằng trong thực tế cũng như văn thơ cổ, Châu Nham chính là vùng Bãi Ớt. 

Tiếp xúc nhà Hà Tiên học tại tư thất của ông trên đường Tham Tướng Sanh, tôi thắc mắc: 

– Vậy người xưa gọi núi Đá Dựng bằng tên gì? Và sơn khối permien ấy bây giờ ra sao? 

Ông Trương Minh Đạt trưng dẫn cả lô tư liệu, rồi đáp: 

– Xưa, núi Đá Dựng còn có tên Bạch Tháp sơn. Hiện tại, đó là “vùng cấm” do quân đội quản lý nghiêm ngặt. Du khách cũng như dân địa phương lâu nay đều không được lai vãng núi Đá Dựng! 

Vì sao núi Đá Dựng trở thành nơi bất khả xâm phạm cả mấy chục năm nay? Chưa rõ! Liệu tôi có cách nào thâm nhập “vùng cấm” chăng? 

Nhà thư pháp Trương Thanh Hùng – tổng biên tập tạp chí mang tên Chiêu Anh Các – hứa: 

– Mình sẽ liên lạc với đơn vị bộ đội biên phòng ở đây để xin đi thực tế núi Đá Dựng. Kết quả ra sao, sẽ báo anh Phanxipăng sau. 

Tôi thấp thỏm trông tin. Cuối cùng, Trương Thanh Hùng cười: 

– Được rồi. Nhưng tuyệt đối cấm di chuyển tuỳ tiện. Nhất nhất phải bám theo các chiến sĩ cảnh vệ, nghen. 

Từ quốc lộ 80 rẽ vào con đường đất Sa Kỳ cỡ 1km, chỉ giây lát, tôi có mặt bên chân núi Đá Dựng. Đập vào mắt tôi là cột trụ gắn tấm biển bê tông cốt thép với nghiêm lệnh khắc trổ bằng song ngữ Việt – Anh: 

Vùng cấm – No admittance. 

Qua khỏi cổng sắt và hàng rào kim loại chắn ngang lối lên núi, tôi nhủ thầm: “Mình là một trong số rất ít người được tham quan thắng cảnh đặc sắc này, ít nhất vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. May mắn xiết bao!” 

Chân núi Đá Dựng. Ảnh: Vicgiang86 


Theo tài liệu Tìm hiểu Kiên Giang do Dương Tấn Phát chủ biên (Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Kiên Giang ấn hành, 1986) thì Đá Dựng thuộc loại hình “núi đá phiến chen lẫn đá phún trào núi lửa, được xếp vào thời kỳ vỏ trái đất uốn nếp dữ dội nhất, xảy ra cách đây gần 200 triệu năm.” 

Trong núi Đá Dựng có 14 hang động lớn bé (7), nhiều thạch nhũ lóng lánh, và rất nhiều dơi treo mình trên vách đá. Hai cái hang được đánh giá ngoạn mục nhất Đá Dựng, một nằm phía đông, một bên phía bắc. Ngoài những vẻ đẹp hang động tương tự Hạ Long, Hương Tích, Tam Cốc, Phong Nha, Ngũ Hành Sơn mà tôi từng được biết, liệu Đá Dựng còn sở hữu điều gì khác biệt? 

Đường lên đỉnh Đá Dựng. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên 


Ngẫm lại bức mật thư, bao người giàu tưởng tượng có thể nghĩ rằng chốn này mang nhiều yếu tố phù hợp hơn cả Thạch động, nếu quan sát nhũ đá tạo hình: 

Quả ngọt hoa thơm 
Tay vin tay hái 

Hoặc: 

Vàng trong lòng đá 
Vàng chiếu sáng loà 

Xét kỹ, mật thư dung nạp lắm yếu tố gây nhiễu mà người ta chẳng thể loại trừ một khi chưa nắm được “code”. 

Quang cảnh nhìn từ trên núi Đá Dựng. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên 


Đột nhiên, trên núi Đá Dựng (8), đầu óc tôi vụt loé ý nghĩ: ô hay, chắc gì loạt vần điệu “hũ nút” kia đã là mật thư? Tại sao mình không tiếp cận văn bản theo hướng khác, hướng truy tầm xuất xứ chẳng hạn? 

Phần 5

Mật thư hay sấm ký?

Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phát từng nhận xét trong cuốn Văn học Hà Tiên (sđd): “Việc dân gian nghĩ rằng họ Mạc phải có một kho tàng chôn giấu, tất cũng có một nguyên nhân, một duyên cớ nào mới được. Chơ không dưng, ai đồn đãi mà chi.” Thế nhưng, ông xem văn bản đang xét chẳng phải mật thư chỉ dẫn địa điểm chôn vàng giấu ngọc, mà là một bài sấm truyền. Đông Hồ viết: “Đó quả là một bài tiên đoán sự nghiệp của họ Mạc ở Hà Tiên, từ khi khai sáng cho đến lúc tàn mạt. Mỗi câu, mỗi chữ đều đúng như y, phân minh từng chi tiết. Thiệt là lạ lùng!”

Sách “Văn học Hà Tiên” của Đông Hồ (NXB Quình Lâm, Sài Gòn, 1970). Ảnh: Error


Đối chiếu một số sự kiện lịch sử từng được nhiều thư tịch ghi chép, Đông Hồ nêu kiến giải khá độc đáo. Sau khi phân tích lối chiết tự địa danh Hà Tiên và họ Mạc, ông lưu ý hai tiếng tí tí lặp đi lặp lại:

Hoa nhỏ tí tí
Quả nhỏ tí tí
Tám chín xuân thu 
Hoa nào phong nhị

Đông Hồ cho rằng tí trên ứng với năm Mậu Tý 1708, thời điểm Mạc Cửu dâng đất Mang Khảm cho Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu, xin sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong để trở thành Hà Tiên. Thời điểm ấy được xem là cắm mốc khai sáng sự nghiệp họ Mạc. Còn tí dưới ứng với năm Canh Tý 1780, Mạc Thiên Tích tuẫn tiết tại Xiêm, coi như thời điểm họ này suy tàn. Khoảng thời gian giữa hai niên điểm đó vừa đúng tám chín xuân thu tức 8 x 9 = 72 năm.

Vợ chồng nhà thơ-văn-báo-xuất bản Đông Hồ & Mộng Tuyết


Nếu bỏ công tra cứu sử liệu, hậu thế khó đồng ý rằng đến năm Canh Tý 1780 thì sự nghiệp họ Mạc “tan tành rơi rụng hết” như Đông Hồ luận giải. Chỉ cần lật Đại Nam liệt truyện tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn, cũng đủ thấy con cháu họ Mạc sau niên điểm ấy vẫn tiếp tục xênh xang cân đái hèn chi rỡ ỷ la; dẫu có nơi có lúc, có người không tránh khỏi gian truân trên nẻo hoạn lộ. Mạc Tử Sanh – con của Mạc Thiên Tích – thọ tước Lý Chánh hầu, được phong Tham tướng vào mùa xuân Giáp Thìn 1784, qua mùa thu Đinh Mùi 1787 đã giữ chức Lưu thủ Hà Tiên, năm kế tiếp thì mất và được truy tặng Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ Chưởng vệ sự Đô đốc Chưởng cơ. Mạc Công Bính – con của Mạc Tử Hoàng và là cháu nội của Mạc Thiên Tích – giữ chức Lưu thủ Long Xuyên. Mạc Tử Thiêm – con của Mạc Thiên Tích – làm Trấn thủ Hà Tiên, rồi được thăng Khâm sai Chưởng cơ vào niên hiệu Gia Long thứ V tức năm Ất Sửu 1805.

Bằng tham luận Vai trò họ Mạc ở Hà Tiên và quan hệ với triều Nguyễn, báo cáo tại hội nghị khoa học kỷ niệm 250 năm thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các được tổ chức hồi tháng 11-1986 ở Rạch Giá, nhà giáo Nguyễn Khuê (Đại học Tổng hợp TP.HCM) lẩn nữa khẳng định: “Các chúa Nguyễn, rồi các vua triều Nguyễn đãi ngộ họ Mạc rất trọng hậu. Ba người được chính quyền họ Nguyễn coi có công lớn là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, trong đó công lao của Thiên Tích được đánh giá cao hơn cả. Con cháu họ Mạc được nối đời làm quan ở đất Hà Tiên. Cho đến khi Công Du, Công Tài, Hầu Hi, Hầu Diệu nhận chức của Lê Văn Khôi thì triều Nguyễn mới không biệt đãi như trước nữa.”

Xin thêm rằng tuy không biệt đãi như trước, song triều Nguyễn vẫn ưu ái lục dụng hậu duệ của họ Mạc. Đại Nam thực lục chính biên còn ghi thêm sự kiện năm Thiệu Trị thứ V (Ất Tị 1845), Mạc Văn Phong được tập ấm Chánh thất phẩm Chánh đội trưởng ở Hà Tiên. Phần miếu đền và mồ mả họ Mạc tại Bình San cũng được triều Nguyễn năng quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tế tự, trùng tu.

Biết vậy, song chúng ta hãy dõi tiếp cách kiến giải của Đông Hồ về bài sấm ký:

Phi vương phi bá
Xưng cô xưng quả
Trời có con trai 
Một cội bảy lá

Đông Hồ biện luận: “Là nói về họ Mạc tuy không tước vương tước bá mà vẫn xưng cô xưng quả, trong một nước tự chủ, địa vị như một tiểu vương tự nhiệm ở biên thuỳ.”

Đúng là họ Mạc từng có thời nghênh ngang một cõi biên thuỳ / kém gì cô quả, kém gì bá vương (6); được chúa Nguyễn cấp thuyền Long bài, miễn thuế má, lại ban cả đặc ân khó ngờ: cho phép mở Cục đúc tiền riêng để lưu hành. Dưới quyền quản lý của họ Mạc, trấn Hà Tiên thuở đó khác nào một phiên quốc tự trị nơi hải ngoại. Nhưng như tôi từng nêu, họ Mạc dẫu chưa ai được vua chúa Nguyễn phong vương, song Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Sanh, Mạc Tử Thiêm từng thọ tước công, tước hầu – cao hơn tước bá.

Họ Mạc truyền thừa theo thể lệ “thất diệp phiên hàn”: dùng 7 chữ Thiên, Tử, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam làm chữ lót / tên đệm để phân thế thứ. Đông Hồ cho rằng trời có con trai thì trời đây ứng với chữ Thiên, và con trai ứng với chữ Tử. Từ Mạc Cửu tới Mạc Tử Khâm vừa đúng 7 đời, một cội bảy lá, thì tuyệt tự vì chẳng có con nối dõi. Kể ra, đó là một cách lý giải thú vị và không xa thực tế.

Đông Hồ (1906 – 1969)


Đông Hồ cắt nghĩa những dòng sấm ký kế tiếp ra sao? Bờ tre xanh xanh là dãy Trúc Bằng thành (tức Trúc Bàn thành – còn gọi trường luỹ Thị Vạn hoặc Bờ Đồn Lớn). Hái lá nấu canh là “thành quách đến thời kỳ tàn tạ, bị phá huỷ.” Canh ăn hết canh là “vừa hết năm Canh Tuất (1910).” Vị cay thanh thanh là “sang năm Tân Hợi (1911), tiết Thanh minh. Tân có nghĩa là cay. Thanh thanh là tiết Thanh minh. Ứng về việc khai quật mộ bà phu nhân.”

Trời tây bóng ngả chênh chênh
Soi vào hang đá long lanh ngọc vàng

Đông Hồ diễn giải cặp lục bát ấy: “Ứng về việc trong lúc mở được cửa mộ thì trời đã chiều, phải soi đèn vào thì mới tìm được chiếc trâm vàng cẩn ngọc trong đó. Hai tiếng Trời tây còn ứng về việc khai quật này là do người Tây, hành động không chánh đáng (chênh chênh) do lòng tham.”

Đoạn cuối sấm ký, theo Đông Hồ, lại nói về Mạc Thiên Tích:

Vàng trong lòng đá
Vàng chói sáng loà
Vọng lên lầu các nguy nga
Hoa sen nở trắng trước toà khói hương.

Đông Hồ cho rằng vàng trong lòng đá chỉ sự kiện Mạc Thiên Tích nuốt vàng để tuẫn tiết ở Vọng Các / Bangkok. Câu lục có 2 chữ vọng  các, nếu ghép lại sẽ thấy địa danh. Kết thúc, Đông Hồ ca tụng bài sấm “được vần điệu lưu loát, đọc lên có một khí vị hay hay” và “chứa đựng một ý nghĩa, một tài liệu kể như là một bài thơ sử ký sự, đáng truyền.”

Bài viết vừa trích dẫn mang tiêu đề Lịch sử Hà Tiên và một bài sấm truyền do Đông Hồ chấp bút ngày 5-4-1962, đăng trên Văn Hoá nguyệt san số tháng 4-1963, sau đưa vào cuốn Văn học Hà Tiên (sđd).

Mộng Tuyết (1914 – 2007)


Vần đề đặt ra: bài sấm ký kia khởi nguyên từ đâu?

Phần 6

Sự thật sáng tỏ

Chính thi sĩ Đông Hồ đã chỉ rõ trong bài viết ấy rằng bản sấm truyền được ông chép lại từ thiên tiểu thuyết Nàng Ái Cơ trong chậu úp của Mộng Tuyết – vợ ông. Tác phẩm này còn được Mộng Tuyết ghi Hà Tiên ngoại sử ký sự tiểu thuyết, hoàn tất bản thảo dịp Trung thu Mậu Tuất 1958, do NXB Bốn Phương tại Sài Gòn in lần đầu năm 1961, NXB Văn Hoá tại Hà Nội tái bản năm 1996, NXB Văn Nghệ TP.HCM tái bản năm 2000. Trong tiểu thuyết, lời sấm nằm trong chương 10 và được tác giả đặt vào miệng nhân vật tiểu thư Mạc Mi Cô – con gái thứ 5 của Mạc Thiên Tích và chánh thất họ Nguyễn. Mộng Tuyết mô tả Mạc tiểu thư vừa chào đời liền lớn phổng, cất tiếng đọc bài sấm bằng “giọng hoà hoãn như gió đêm thanh”, đoạn “từ từ nhắm mắt, nằm yên, tắt thở, thân hình cũng thu nhỏ lại như đứa bé sơ sinh.”

Cúng giỗ nơi mộ tiểu thư Mạc Mi Cô. Ảnh: Lê Văn Toàn


So với văn bản Khả thuỷ sơn nhơn gồm 34 dòng mà tôi sưu tầm, bài sấm trong tiểu thuyết Nàng Ái Cơ trong chậu úp ngắn hơn: 25 dòng – thiếu từ dòng thứ 12 đến dòng thứ 20. Vậy nguyên bản vốn từng lưu truyền lâu đời trong dân gian, hay do Mộng Tuyết sáng tác rồi về sau quần chúng thêm thắt? Lẽ nào văn bản xuất hiện từ thế kỷ XVIII nhằm mã hoá sơ đồ như người ta đồn thổi?

Xét kỹ ngôn ngữ, thật khó tin văn bản đã ra đời trong thời Mạc Thiên Tích. Nội lối chiết tự họ Mạc kèm bộ ấp 鄚 đủ gây nghi hoặc về niên đại. Cứ cho rằng cách viết đó do chúa Nguyễn muốn biệt hoá dòng Mạc ở Hà Tiên với Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên, v.v. Song, chính xác thì chữ Mạc có bộ ấp chỉ thực sự định hình vào thế kỷ XIX, khi Quốc sử quán triều Nguyễn soạn thảo thư tịch. Lê Quý Đôn – sống cùng thời Mạc Thiên Tích – lúc viết Phủ biên tạp lục  Kiến văn tiểu lục cũng chẳng phân biệt cách ghi 2 họ Mạc. Đề tựa tập Hà Tiên thập vịnh, Mạc Thiên Tích ghi “Mạc thành, Mạc Thiên Tứ Sĩ Lân thị tự tự ư Thụ Đức hiên” với 2 chữ Mạc đều chẳng có bộ ấp. Ngay những tấm bia đá được tạo dựng vào thời Mạc Thiên Tích hiện còn trong khu mộ cổ Bình San – mà tôi đã lưu ý ở đoạn trước – cũng khắc chữ Mạc không kèm bộ ấp.

Sách “Nàng Ái Cơ trong chậu úp” của Mộng Tuyết (NXB Bốn Phương, Sài Gòn, 1961). Ảnh: Vũ Hà Tuệ


Sách “Nàng Ái Cơ trong chậu úp” của Mộng Tuyết (NXB Văn Nghệ TP.HCM tái bản, 2000), bìa in thiếu từ “sử” trong cụm “Hà Tiên ngoại sử ký sự tiểu thuyết”. Ảnh: Harypham1986


Thế thì bài sấm khởi phát bao giờ?

Trao đổi với tôi, nhà thư pháp Trương Thanh Hùng phát biểu:

– Trước tiên, mình không nghĩ đây là sấm truyền. Sống ở Hà Tiên suốt thời gian dài (1963 – 1987), sau này lại có nhiều năm làm công tác sưu tầm văn học dân gian và biên soạn lịch sử địa phương, mình đảm bảo trước khi tiểu thuyết Nàng Ái Cơ trong chậu úp ấn hành thì dân chúng nơi đây chẳng ai biết bài Khả thuỷ sơn nhơn.

Nhà Hà Tiên học Trương Minh Đạt (9) tiếp:

– Cũng không thấy bất kỳ tư liệu viết nào công bố trước thập niên 1960 nhắc tới bài sấm đó, dù chỉ đôi dòng. Tôi đủ chứng cứ để khẳng định đây hoàn toàn là sản phẩm tưởng tượng của đôi vợ chồng văn nghệ sĩ Đông Hồ – Mộng Tuyết. Chẳng riêng gì cái bài gọi là sấm, hầu hết chi tiết trong tập Nàng Ái Cơ trong chậu úp đều hư cấu cả, dù cốt truyện chủ yếu dựa theo Hà Tiên địa phương chí do Trần Thiêm Trung soạn thảo từ tháng 3-1957. Mà cuốn địa phương chí đó lại chứa lắm điều thiếu chính xác, vô căn cứ. Kể ra, sáng tác tiểu thuyết thì nữ sĩ Mộng Tuyết hoàn toàn có quyền tưởng tượng, hư cấu. Đáng tiếc rằng không ít người trong giới nghiên cứu lại dùng tiểu thuyết làm cơ sở xây dựng các công trình sử học. Vậy là “lộng giả thành chân”. Nếu không phát hiện để hiệu đính kịp thời, e di hại cho hậu thế!

Nhà lưu niệm Đông Hồ – Mộng Tuyết tại Hà Tiên. Ảnh: Quang Trưởng


Nhằm xác minh tận gốc, tôi liền liên hệ nữ sĩ Mộng Tuyết. Năm nay, Nhâm Ngọ 2002, đã 88 tuổi, song bà vẫn nói năng rõ ràng, mạch lạc:

– Chuyện cũ, có chuyện tôi nhớ, có chuyện tôi quên. Nhưng cái bài Khả thuỷ sơn nhơn thì tôi nhớ kỹ. Hồi viết Nàng Ái Cơ trong chậu úp, chính tôi sáng tác bài đó, thì hỏi sao không nhớ?

Chân thành cảm ơn nữ sĩ Mộng Tuyết đã vui lòng tiết lộ sự thật. Dẫu sao, câu chuyện ly kỳ về kho tàng họ Mạc cũng tô điểm “những màu mè diễm ảo, những sương khói say mê” cho quê nhà Hà Tiên như Mộng Tuyết cùng Đông Hồ (10) từng ao ước. Hơn thế, điều ấy thực sự góp phần tạo sức hấp dẫn đáng yêu đối với một thị xã biên viễn duyên hải tuy nhỏ bé song giàu đẹp, lại có bề dày lịch sử – văn hoá đặc sắc mà trong đó ẩn chứa lắm vỉa tầng chưa thể khám phá đủ đầy nên chưa được đầu tư bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị đúng mức.

Trong nhà lưu niệm Đông Hồ – Mộng Tuyết. Ảnh: Dũng Nguyễn


Ngẫm kỹ, càng thấy mảnh đất “giang sơn gấm vóc mini” này rất xứng đáng được UNESCO sớm “trước bạ” vào danh mục Di sản thế giới. Bởi lẽ, Hà Tiên là “siêu kho báu” của Việt Nam, của châu Á, và của cả toàn cầu. ♥
____________

(1) Quý bạn đọc vui lòng tham khảo thêm bài Hà Tiên luôn mới của Phanxipăng từng đăng tạp chí Kiến Thức Ngày Nay 422 (1-5-2002), sau đó đã truyền vào weblog này:

http://phanxipang.wordpress.com/2013/03/02/ha-tien-luon-moi-i/
http://phanxipang.wordpress.com/2013/03/03/ha-tien-luon-moi-ii/

(2) Trích ca từ bài hát Hà Tiên của Lê Dinh.


(3) Thị xã Rạch Giá được nâng cấp lên thành phố theo nghị định số 97/2005/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 26-7-2005. 

(4) Sách Đại Nam liệt truyện tiền biên chép: “Con Thiên Tứ là Tử Hoàng, Tử Thượng cũng bị giết”. Tham luận khoa học Vai trò họ Mạc ở Hà Tiên và quan hệ với triều Nguyễn của Nguyễn Khuê ghi: “Tử Duyên, Tử Hoàng, Tử Thảng bị giết”. Tuy nhiên, trên bia mộ Mạc Thiên Tích dựng năm Giáp Tý 1804 nơi Bình San ở Hà Tiên lại đề: “Hiếu nam Tử Hoàng lập thạch”. Tại sao? Đây là một nghi vấn sử học.

(5) Harakiri còn gọi seppuku, tiếng Nhật ghi 切腹 , phiên âm Hán-Việt thành thiết phúc, nghĩa là mổ bụng. 

(6) Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du.

(7) 11/14 hang động ở núi Đá Dựng đã được đặt tên: Mẹ Sanh, Cổng Trời, Thần Kim Quy, Khổ Qua, Bồng Lai, Trống Ngực, Thác Bạc, Xã Lộc Kỳ, Chỉ Huy, Biệt Động, Lê Công Gia. 

(8) Được Bộ Văn hóa & Thông tin ban hành quyết định số 44/2007/QĐ-BVHTT ngày 3-8-2007 công nhận di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, hiện núi Đá Dựng đã trở thành khu du lịch. 
9) Chào đời năm Bính Tý 1936 tại Hà Tiên, Trương Minh Đạt là soạn giả sách Nhận thức mới về Hà Tiên (NXB Trẻ, 2001), Nghiên cứu Hà Tiên (NXB Trẻ, 2008).

(10) Đông Hồ (1906 – 1969) chào đời tại Hà Tiên. Thuở nhỏ, có họ tên Lâm Kỳ Phát. Lớn, chuyển thành Lâm Tấn Phát, tiểu tự Quốc Tỉ, tự Trác Chi. 1926 – 1934, lập Trí Đức học xá chuyên dạy Việt ngữ tại Hà Tiên. 1935, thực hiện tuần báo Sống tại Sài Gòn. 1940, sáng lập NXB Bốn Phương & nhà sách Yiểm Yiểm thư trang tại Sài Gòn. 1953, ấn hành tập san Nhân Loại tại Sài Gòn. 1964, ẩn cư trong Quình Lâm thư thất tại Sài Gòn. 1965, giảng dạy môn Văn học miền Nam tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ngoài thơ, Đông Hồ còn viết ký và khảo cứu; lại là người đầu tiên dùng cọ lông chấm mực xạ thể hiện thư pháp chữ quốc ngữ. Bên cạnh bút danh Đông Hồ, còn ký Thuỷ Cổ Nguyệt, Đại Ẩn Am, Nhị Liễu tiên sinh.

Sau khi vợ Linh Phượng (sinh Lâm Mỹ Tuyên) qua đời (1926), Đông Hồ lấy Thái Nhàn Liên / Thái Thị Thân (sinh Lâm Yiễm Yiễm). Nhàn Liên mất (1946), Đông Hồ tái hôn với người vừa là học trò vừa là em vợ: Thái Thị Úc, tức nữ sĩ Mộng Tuyết.

Mộng Tuyết (1914 – 2007) chào đời tại Hà Tiên. 12 tuổi, tập làm văn ở Trí Đức học xá. 1939, với thi phẩm Phấn hương rừng, được bằng khen về thơ của Tự Lực văn đoàn. Cùng chồng là Đông Hồ, với Lư Khê và Trúc Hà tạo nên “Hà Tiên tứ tuyệt”. Ngoài thơ, Mộng Tuyết còn viết tuỳ bút và truyện. Bên cạnh bút danh Mộng Tuyết, còn ký Hà Tiên Cô, Nàng Út, Bách Thảo Sương, Bân Bân nữ sĩ, Thất tiểu muội.


Phanxiphăng
Đã đăng trên tạp chí Thế Giới Mới
từ số 479 (25-3-2002) đến số 481 (8-4-2002)

1-10 of 20