Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Truyền thuyết về Dinh Thầy Thím - huyền thoại và sự thật Truyền thuyếtTruyền thuyết kể rằng: Ngày xưa, vào những năm đầu thời Gia Long, ở Quảng Nam có một vị đạo sĩ võ thuật và phép thuật cao cường ...
    Được đăng 01:09, 23 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đền Bà Chúa Kho và sự tích công chúa Thanh Bình Tiên Sơn, huyện Việt Yên (Bắc Giang) là vùng đất cổ nằm bên bờ Bắc Sông Cầu. Vùng đất này còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa dân tộc ...
    Được đăng 02:00, 10 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Dò tìm kho báu họ Mạc ở Hà Tiên Phần 1 Ghé chơi Hà Tiên, du khách sẽ ngạc nhiên thích thú nếu tình cờ nghe dân địa phương kể về kho báu mà dòng họ Mạc từng cất ...
    Được đăng 00:54, 30 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cái giếng cổ ở Lò Heo - chuyện ngày xưa về quán Lẩu tôm Năm Ri Anh Bùi Thuận là dân sống lâu năm ở Biên Hòa nên biết nhiều chuyện hay ở đây thuở xa xưa. Rất may là anh có dịp kể lại đây ...
    Được đăng 02:11, 12 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện ly kỳ thót tim về pho tượng "đồng đen" khổng lồ ở Hà Nội Suốt nhiều thế kỷ, trong dân gian đã lưu truyền tin đồn rằng pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ ở đền Quán Thánh làm bằng đồng đen - một thứ kim ...
    Được đăng 01:31, 5 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 19. Xem nội dung khác »


Truyền thuyết về Dinh Thầy Thím - huyền thoại và sự thật

đăng 01:09, 23 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Truyền thuyết

Truyền thuyết kể rằng: 

Ngày xưa, vào những năm đầu thời Gia Long, ở Quảng Nam có một vị đạo sĩ võ thuật và phép thuật cao cường lại giàu lòng nhân ái. Ông được dân làng quý mến vì giúp đỡ người dân rất nhiều. Dân trong làng ao ước có ngôi đình làng để thờ phượng tiền nhân. Thế rồi sau một đêm mưa to gió lớn, sáng hôm sau có một ngôi đình to lớn hiện ra giữa làng. Dân làng chưa trọn niềm vui thì vài hôm sau dân làng bên tố cáo ông dùng tà thuật đánh cắp đình, âm mưu gây loạn. Vua xử ông tam ban triều điển (chọn một trong 3 cách chết: xử trảm, uống thuốc độc hoặc thắt cổ). Ông chọn cách thứ 3. Khi tấm lụa đào đến tay ông bỗng biến thành rồng nâng vợ chồng ông bay bổng lên không trung, bay về phương Nam.

Hoạt cảnh Thầy Thím lãnh án Tam ban triều điển

Hoạt cảnh Thầy Thím cỡi rồng về phương Nam

Nơi rồng đáp xuống là làng Tam Tân, tức xã Tân Tiến, thị xã La Gi ngày nay. Tại nơi này ông lại tiếp tục giúp đỡ người dân rất nhiều nhưng không cho ai biết tên. Dân làng kính yêu, gọi ông là Thầy, vợ ông là Thím. 

Một ngày mùa thu, Thầy - Thím qua đời. Nơi hai người tạ thế, thú rừng vun đắp thành hai ngôi mộ bằng cát trắng phau. Hàng năm, cứ đến mùng 05 tháng Giêng âm lịch, có đôi Bạch Hắc Hổ thường xuyên về tảo mộ, phủ phục canh gác cho ngôi mộ, Khi Bạch Hắc Hổ qua đời, dân làng an táng ngay sau ngôi mộ Thầy Thím để tường nhớ hai con vật tận trung với người.

Đến đời Thành Thái thứ 18, nhà vua đã xem lại án xử trước đây và ban sắc phong cho Thầy - Thím là "Chí Đức Tiên sinh, Chí Đức Nương Nương Tôn Thần".

Thầy Thím thực sự là ai? Cho đến giờ vẫn không ai biết nhưng có một điều chắc chắn: Thầy Thím là những nhân vật có thật. Đó là người có công lớn với dân làng và được người dân tưởng nhớ xây dựng nơi thờ cúng rất trang nghiêm và được duy trì mãi đến tận bây giờ. Đó là dinh Thầy Thím. Thầy Thím vẫn còn 2 ngôi mộ ở Tam Tân, hơn thế nữa phía sau 2 ngôi mộ này vẫn còn đó 2 ngôi mộ của Bạch Hắc Hổ. Địa điểm này cũng được tôn kính suốt hai trăm năm qua.

Có gì nơi phòng Truyền thống ở Dinh Thầy Thím?

Bây giờ ta ghé qua phòng Truyền thống ở Dinh Thầy Thím xem có gì hay không.


Nơi đây có trưng bày một số mô hình đồ vật ở Tam Tân thời của Thầy Thím, như thuyền đi biển, các trang phục thời đó...


Ngay giữa phòng là nơi trưng bày trang trọng Bằng công Nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia.

Và có cái này hay đây:


Đây là sắc phong do vua Thành Thái ban cho Thầy Thím vào năm 1906 (Thành Thái thứ 18). Mặc dù đây chỉ là bản phục chế, nhưng cũng có giá trị tham khảo. Nội dung sắc phong phục chế được ban quản lý dinh ghi lại như sau:
Phiên âm:

Sắc Bình Thuận tỉnh Hàm Thuận phủ Tuy Lý huyện Tam Tân thôn phụng sự Dực Bảo Trung Hình Linh Phù Tôn Thần, Trai Tinh Dực Bảo Trung Hung Tôn Thần, nẫm trứ linh ứng. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh miến niệm thần hưu trứ phong vi Chí Đức Tiên Sinh Chí Đức Nương Nương Tón Thần. chuẩn y cựu phụng sự, thần kỳ tương hựu bảo ngã lê dân.

Khâm tai!

Thành Thái thập bát niên... nguyệt... nhật.

Dịch nghĩa

Sắc làng Tam Tân huyện Tuy Lý phủ Hàm Thuận tỉnh Bình Thuận phụng thờ Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần, Trai Tĩnh Dực Bảo Trung Hung Tôn Thần lâu nay rất linh ứng. Nay trẫm gánh vác mệnh lớn, nghĩ đến công lao của Thần, phong cho là Chí Đức Tiên Sinh - Chí Đức Nương Nương Tôn Thần. Cho phép phụng thở như cũ, mong Thần hãy phù hộ và bảo vệ che chở cho dân đen của trẫm.

Mệnh ban!

Ngày... tháng... năm Thành Thái thứ 18 (1906)

Sự tích Thầy Thím có ghi nhận : Sau khi Thầy Thím mất, vua Thành Thái năm thứ 18 có xem xét lại án xử trước đây và ban sắc phong cho Thầy Thím là : “Chí Đức Tiên Sinh Tôn Thần, Chí Đức Nương Nương Tôn Thần”.  Với nhiều lý do khác nhau bản sắc phong nầy không còn lưu giữ tại Dinh.

Thể theo nguyện vọng của bà con dân làng, Ban quản lý di tích lịch sử Dinh Thầy Thím đã nhờ Ông Lê Công Sĩ – ở Bình Dương phục chế lại sắc phong cho Thầy Thím.

Xét về nội dung, sắc phong này không làm rõ hơn điều gì về lai lịch của Thầy Thím, cũng không nhắc gì về vụ án ngày xưa (có hay không có), chỉ khẳng định một điều: công ơn của Thầy Thím với dân làng là to lớn và triều đình công nhận điều đó.

Một giả thuyết táo bạo nhưng hợp lý

Lễ hội Dinh Thầy Thím

Có một giả thuyết được nhà nghiên cứu Trần Viết Điền đưa ra như sau:

Năm 1802, vua Gia Long cho hành tội các nhân vật nhà Tây Sơn. Xương cốt 7 “tử tội” cho vào giỏ mây, thả trôi trên sông Hương. Có lẽ xương cốt đã trôi theo dòng, rồi tấp vào bờ xóm Kim Bồng (nay là làng Hòa An, Phú Vang, Thừa Thiên - Huế).

Xóm này vốn là nơi ngụ cư của những lính thợ gốc Quảng Nam, chuyên đóng thuyền bè phục vụ thủy quân từ thời chúa Nguyễn, qua thời Tây Sơn, rồi đến thời các vua Nguyễn. Người dân xóm Kim Bồng phát hiện các giỏ mây có cốt đã hóa thạch, bí mật thờ phụng, theo thời gian tôn tạo thành Miếu Thất Vị.

Một vị quan nhà Tây Sơn từng biết bí mật về 7 giỏ mây có hài cốt, lui về ẩn dật ở làng La Qua (Quảng Nam), tạo nên thần thoại và dựng 7 bệ thờ (sau gọi là Bảy Miếu, hay Miếu Thất Vị), thực chất nhằm âm thầm hương khói các tướng lĩnh Tây Sơn bị hành hình năm xưa.

Vị cựu thần Tây Sơn này tinh thông lý số, từng giúp dân làng La Qua. Tiếng đồn đến tai triều đình, vị nho sĩ - đạo sĩ đã bị khép tội chết. Có khả năng ông đã tránh vào Bình Thuận, rồi từ đó hình thành nên truyền thuyết về Thầy - Thím ở La Gi.

Mộ Thầy Thím

Bản thân nhà nghiên cứu Trần Viết Điền cũng tự nhận thấy giả thuyết này táo bạo và có nhiều "điểm mờ", không thể kiểm chứng. Cá nhân tui cũng thấy vậy nhưng rất thích giả thuyết này và nhận thấy có nhiều điều hợp lý.
  • Là một vị quan lớn dưới triều Tây Sơn nên Thầy là một tội phạm của triều đình, do đó phải trốn tránh và giấu tên tuổi. Câu chuyện theo rồng bay về phương Nam có lẽ do thầy tự đặt ra để giải thích với người dân về việc mình phải mai danh ẩn tích nơi chốn xa này.
  • Là một vi quan lớn dưới triều Tây Sơn nên Thầy có kiến thức rộng về lý số cùng nhiều lãnh vực và có thể là quan võ nên tinh thông võ thuật. Điều đó khiến thầy có khả năng giúp đỡ dân làng về nhiều mặt.
  • Cặp Bạch Hắc Hổ có thể là chuyện thật, nhưng cũng có thể đó là 2 người hầu cận trung thành của vị quan Tây Sơn này, được người đời sau huyền thoại hóa.
Đã hai trăm năm qua rồi, truyền thuyết về Thầy Thím vẫn còn và có lẽ sẽ mãi mãi còn là những bí ấn không lời giải đáp, nhưng dù sao đi nữa ta cũng biết chắc rằng đó là những con người có thật, những danh nhân dù không để lại tên tuổi nhưng để lại cho đời những công ơn to lớn và lòng kính ngưỡng vô biên.

Phạm Hoài Nhân

Đền Bà Chúa Kho và sự tích công chúa Thanh Bình

đăng 02:00, 10 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Tiên Sơn, huyện Việt Yên (Bắc Giang) là vùng đất cổ nằm bên bờ Bắc Sông Cầu. Vùng đất này còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa dân tộc. Các di tích mộ Hán, đền thờ Thạch Linh Thần Tướng, Ao Miếu, quần thể di tích chùa Bổ Đà, đền Độc Cước… phản ánh rất rõ về lịch sử văn hoá địa phương qua các thời kỳ.

Trong hệ thống di tích tiêu biểu ở Tiên Sơn còn có đền thờ Bà Chúa Kho - nơi thờ công chúa Thanh Bình, tương truyền là con gái vua Hùng có công trông coi kho lương giúp vua cha đánh giặc phương Bắc bảo vệ đất nước. 

Sự tích Bà Chúa Kho được lưu truyền ở địa phương: Theo truyền thuyết thời Hùng Vương, giặc phương Bắc sang xâm lược nước ta, thế giặc rất mạnh lại có tù trưởng Cao Bằng là Lục Đinh làm nội ứng. Nhà vua xuất quân từ núi Nghĩa Lĩnh gần ngã ba sông Việt Trì đem toàn Bản bộ đến trang Tiên Lát, nơi có địa hình thuận lợi cho việc phòng bị đánh giặc. 

Cổng vào đền thờ Bà Chúa Kho.

Các Bản bộ đóng trại tại vùng đất này còn ghi dấu tên địa danh như: Bộ Tre, Bộ Trạ, Bộ Ngạnh, Bộ Nứa, Bộ Trắng, Bộ Hồng... Mỗi bộ trông coi mỗi việc gọi là lục bộ. Nhà vua trao cho con gái Thanh Bình trực tiếp làm thủ kho giữ lương thực và binh sách tại Trại Cung. Công chúa tỏ ra có tài cung ứng kịp thời cho lục bộ, ba quân và cho Thạch Tướng quân đánh thắng giặc đem lại hoà bình cho đất nước.

Làm tròn nhiệm vụ, Thạch Tướng quân đã hoá trên núi Phượng Hoàng. Công chúa Thanh Bình là con cháu của các bậc tiên vương kế thừa dòng máu của các bậc tiên đế giản dị, trung thực, công tâm. Là thủ kho, công chúa đã cung ứng kịp thời cho ba quân, giúp ba quân đánh thắng giặc.

Sách địa chí Bắc Giang từ điển cũng ghi: Theo truyền tích ở địa phương, thời Hùng Tạo Vương ở trang Tiên Lát, có vợ chồng ông bà Nguyễn Hoà và Cao Thị Huyền ăn ở hiền lành, lương thiện, được trời cho đứa trẻ sinh ra từ đá. Khi đất nước có giặc Lục Đinh thần tướng, đứa trẻ bỗng lớn vụt lên, khí dũng hơn người, tài kiêm văn võ đòi đi đánh giặc. Vua ban cho voi đá, phong Thạch tướng quân, cầm quân đi đánh giặc, đánh một trận giặc tan. 

Thạch tướng quân dẫn quân trở về Tiên Lát, lên núi Phượng Hoàng rồi hoá tại đó. Trong cuộc chiến ấy, Thạch tướng quân giao cho công chúa Thanh Bình cai quản lục kho cho lục bộ: Bộ Tre, Bộ Trạ, Bộ Ngạnh, Bộ Nứa, Bộ Trắng, Bộ Hồng. Việc binh lương được công chúa lo chu tất. Đến khi công chúa hoá, vua cho lập đền thờ, gọi là đền Bà Chúa Kho.

Đền thờ Bà Chúa Kho được xây dựng từ lâu đời và đã được tu sửa qua nhiều giai đoạn. Khảo sát hiện trạng di tích cho thấy nhiều dấu ấn văn hoá qua các thời kỳ còn lưu lại. Xung quanh ngôi đền còn nhiều mảnh vỡ, đầu ngói mũi hài, gạch ngói cũ thời Lê (TK XVII-XVIII). Ông Nguyễn Thế Đoàn, người trông coi di tích cho biết: “Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, đền Bà Chúa Kho bị hư hỏng nặng. Đến những năm 1978 - 1980, nhân dân địa phương mới tu sửa tôn tạo lại ngôi đền thêm phần khang trang tố hảo để thờ Bà Chúa Kho theo truyền thống ở địa phương”.

Đền Bà Chúa Kho hiện nay có bình đồ kiến trúc kiểu chữ nhị gồm toà Tiền tế 3 gian và Hậu cung 3 gian. Trên đỉnh bờ nóc mái đền đắp nổi bức đại tự chữ Hán: “Chúa Kho từ”- đền Bà Chúa Kho. Hai trụ biểu phía trước đắp câu đối chữ Hán ca ngợi công lao của công chúa Thanh Bình: “Càn long tốn thuỷ lưu thắng cảnh/ Liệt nữ cao sơn hiển linh từ” (có nghĩa: Phía Tây Bắc có mạch nguồn, phía Đông Nam có dòng nước chảy là nơi cảnh đẹp/ Người nữ oanh liệt được tôn thờ ở ngôi đền linh thiêng trên đỉnh ngọn núi cao). 

Đền thờ Bà Chúa Kho là trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng, nơi tổ chức lễ hội truyền thống của nhân dân địa phương. Hội lệ hằng năm được tổ chức ngày 15 tháng Giêng âm lịch với nhiều nghi lễ và trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Ngôi đền nằm trong quần thể di tích danh thắng Bổ Đà gắn với truyền tích về Thạch Linh thần tướng cầm quân đánh giặc bảo vệ đất nước. Với giá trị lịch sử tiêu biểu, đền thờ Bà Chúa Kho được xếp hạng là di tích Lịch sử văn hoá cấp tỉnh năm 2009.

Đồng Ngọc Dưỡng

Dò tìm kho báu họ Mạc ở Hà Tiên

đăng 00:51, 30 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 00:54, 30 thg 8, 2020 ]


Phần 1

Ghé chơi Hà Tiên, du khách sẽ ngạc nhiên thích thú nếu tình cờ nghe dân địa phương kể về kho báu mà dòng họ Mạc từng cất giấu nơi đây hồi thế kỷ XVIII. Đúng tiết Nguyên tiêu Nhâm Ngọ (26-2-2002), nhân trở lại thị xã biên viễn này để dự lễ hội kỷ niệm 266 năm thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các, tôi bèn tranh thủ sưu tra tư liệu, gặp gỡ chứng nhân, kết hợp quan sát thực địa, những mong làm sáng tỏ đôi điều quanh câu chuyện ly kỳ.


Bản đồ địa giới hành chính thị xã Hà Tiên hiện thời


Từ 2 bài thơ ngắn

Hà Tiên trước kia là một tỉnh có lãnh thổ khá rộng trong Nam kỳ lục tỉnh. Hiện tại, địa danh này chỉ một thị xã nhỏ bé với diện tích 88,51km2 và số dân 38.133 người, trực thuộc tỉnh Kiên Giang (1). Đó là phần lục địa cuối cùng của Tổ quốc ở phía tây nam. Phần đông bạn đọc, dù chưa có điều kiện đặt chân đến đây song đều ít nhiều biết “Hà Tiên mến yêu đẹp như xứ thơ” (2) qua các ca khúc, hàng loạt tranh, ảnh, phim, và bao áng văn chương kim cổ. Quen thuộc nhất, phải kể “xê ri thơ” 河仙什詠 Hà Tiên thập vịnh của nhóm Chiêu Anh Các. Ấy là Tao đàn thứ nhì trong lịch sử văn học Việt Nam, được thành lập từ mùa xuân Bính Thìn 1736, tạo nên một hiện tượng văn hoá đột khởi ở Đồng bằng sông Cửu Long đạt dư âm vang xa. Thoạt đầu là 10 bài thơ chữ Hán của Mạc Thiên Tích thủ xướng theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Lần lượt, nhiều thi nhân trong lẫn ngoài nước hoạ vận, rồi tác phẩm được tập hợp khắc in. Nhà thơ kiêm nhà bác học cùng thời là Lê Quý Đôn (1726 – 1784) đọc xong, khen: “Không thể bảo rằng hải ngoại không có văn chương được.”

Ngoài 10 bài thơ nêu trên, Mạc Thiên Tích còn sáng tác 10 bài thơ chữ Nôm, tất cả đều giữ nguyên thể cùng tiêu đề y như 10 bài thơ chữ Hán. Điểm độc đáo là 10 bài thơ Nôm ấy đan cài một cách hài hoà trong tập thơ song thất lục bát quốc âm mang tên 河仙什景曲詠 Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh hoặc 河仙國音什詠 Hà Tiên quốc âm thập vịnh. Đến nay, không ít nhà nghiên cứu vẫn còn băn khoăn về tác giả đích thực của ngâm khúc tài hoa đó. Nhưng đó lại là chuyện khác.


Hà Tiên thập cảnh


Dính dáng đến kho báu họ Mạc có lẽ là bài thơ thứ 5: 石洞吞雲. Phiên âm: Thạch động thôn vân. Nghĩa: Động đá nuốt mây. Nguyên tác Hán tự của Mạc Thiên Tích:

山峰聳翠砥星河,
洞室玲瓏蘊碧珂。
不意煙雲由去往,
無垠草木共婆娑。
風霜久歷文章異,
烏兔頻移氣色多。
最是精華高絕處,
隨風呼吸自嵯峨。


Phiên âm:

Sơn phong tủng thuý để tinh hà,
Động thất lung linh uẩn bích kha.
Bất ý yên vân do khứ vãng,
Vô ngân thảo mộc cộng bà sa.
Phong sương cửu lịch văn chương dị,
Ô thố tần di sắc khí đa.
Tối thị tinh hoa cao tuyệt xứ,
Tuỳ phong hô hấp tự ta nga.


Vũ Đình Liên chuyển ngữ:

Non cao chót vót chạm trời xanh,
Trong núi lung linh động ẩn hình.
Mây khói ở đi không chủ ý,
Cỏ cây rung động cũng vô tình.
Văn chương thêm lạ, phong sương lắm,
Khí sắc càng nhiều, thay đổi nhanh.
Tuyệt đỉnh tinh hoa phong cảnh ấy,
Gió trời hô hấp ngọn chênh vênh.


Đông Hồ chuyển ngữ:

Xanh xanh ngọn đá chạm thiên hà,
Động bích long lanh ngọc chói lòa.
Chẳng hẹn khói mây thường lẩn quất,
Không ngăn, cây cỏ mặc la đà.
Phong sương càng dãi màu tươi đẹp,
Nhật nguyệt chi ngừng bóng lại qua.
Chót vót tinh hoa đây đã hẳn,
Theo chiều gió lộng vút cao xa.


Bản dịch của Đông Hồ bộc lộ đầy đủ ý tứ nguyên tác. Ví như dòng thừa đề Động thất lung linh uẩn bích kha cần được hiểu: “Trong động long lanh ẩn giấu ngọc bích”. Chữ kha 珂 ở đây thuộc bộ ngọc, chỉ một loại đá quý, cũng gọi bạch mã não.


Bạch mã não / 白瑪瑙 / white agate / agate blanche


Còn bài thơ Nôm tương truyền của Mạc Thiên Tích như sau:

Quỷ trổ thần xoi nổi một toà,
Chòm cây khóm đá dấu tiên gia.
Hang sâu thăm thẳm mây vun lại,
Cửa động thinh thinh gió thổi qua.
Trống rỗng bốn bề thâu thế giới,
Chang bang một dãy chứa yên hà.
Chân trời mới biết kho trời đấy,
Cân đái hèn chi rỡ ỷ la.


Cân đái nghĩa đen là khăn bịt đầu và đai thắt lưng, nghĩa bóng chỉ nhà quyền quý. Ỷ la là lụa gấm đẹp đẽ, chỉ chung đồ trang sức giá trị. Có kẻ suy đoán kho trời là “kho tàng của Thiên Tích nơi chân trời góc biển”.


Đền thờ họ Mạc ở núi Lăng / Bình San. Ảnh: Phanxipăng

Phần 2


Trong công viên Mũi Tàu ở Hà Tiên, tượng đá Mạc Cửu cao 7m do điêu khắc gia Nguyễn Hồng Phong tạc. Ảnh: Quang Trưởng 


Đến bức mật thư dài 

Năm ngoái (2001) ghé vội, tôi chưa kịp ngoạn du Hà Tiên thập cảnh. Tuy nhiên, dạo ấy, trong bữa tiệc sơ ngộ với một số bậc thức giả tại địa phương, tôi có hỏi về Thạch động thôn vân thì được nghe lắm chi tiết lý thú. Rằng “động đá nuốt mây” nằm trong ngọn núi cách trung tâm thị xã chừng 3km về phía tây bắc. Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi tên là 雲山 / Vân sơn / núi Mây: “Cao chừng 4 trượng, bốn bên dốc đứng như cái cột kình thiên, núi động rộng 4,5 trượng, trong có chùa Bạch Vân.” 

Thạch Động nhiều hang hốc, mà hang Đại Bàng và hang Âm Phủ liên quan cổ tích Thạch Sanh – Lý Thông. Các hang này, theo sách Du lịch Hà Tiên do Giang Lưu Minh Huấn và Giang Lưu Minh Đoán biên soạn (NXB Văn Nghệ TP.HCM 1998), cũng có khả năng dính dáng kho tàng họ Mạc: “Nghĩ vậy có người liều lĩnh cầm đuốc đi trong hang tối om. Lối đi hiểm trở, càng vào sâu càng nhiều ngõ ngách. Đi mãi không cùng, lên cao rồi xuống thấp, cuối cùng bỗng lại thấy mình trở về chỗ cũ. Trèo lên miệng hang hỏi người trong đoàn mới biết đã mất hết 1 đêm 2 ngày.” 

Chuyện kho báu dòng tộc Mạc gắn liền với lịch sử mở cõi về phương Nam của dân tộc Việt. Địa bàn Hà Tiên hiện nay vốn là một phần của vương quốc Phù Nam xa xưa, đến thế kỷ XVIII thì nằm trong tình trạng vô quản với tên gọi Mang Khảm / Man Khảm / Màng Khảm. Khoảng năm 1700, Mạc Cửu tới lập nghiệp. 

Mạc Cửu (1655 – 1735) quê ở huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Hoa. Không chịu cạo tóc gióc bím theo triều Mãn Thanh, ông đã đưa mẹ cùng thuộc hạ phiêu dạt xuống khu vực Đông Nam Á. Đầu tiên, ông xin thần phục vua Chân Lạp, nhưng sau đấy thấy bất ổn, ông sang Mang Khảm định cư. Sách Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang (NXB Khai Trí, Sài Gòn, 1969) ghi nhận: “Ông đến ở đấy, mở sòng gá bạc để lấy xâu, lại đào được một hầm bạc chôn, nên trở thành giàu. Mạc Cửu bèn xây một ngôi thành trên bờ biển, mở phố xá rồi chiêu tập lưu dân đến (…), lập thành 7 xã thôn. Tương truyền đất Màng Khảm có người Tiên thường hiện trên sông, nên đặt là Hà Tiên.” 

Lịch sử Mang Khảm sang trang mới với tên gọi chính thức là trấn Hà Tiên kể từ năm Mậu Tý 1708, khi Mạc Cửu xin sáp nhập đất này vào Đàng Trong. Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 – 1725) ưng thuận, phong Mạc Cửu chức Tổng binh, cho thụ tước Cửu Lộc hầu. 

Mộ Mạc Cửu trên núi Lăng / Bình San. Ảnh: Phanxipăng 


Sau khi Mạc Cửu mất, chúa Nguyễn Phúc Thụ (1697 – 1738) sắc ban chức Khai trấn Thượng trụ quốc Đại tướng quân, truy phong tước Vũ Nghị công, và cử con trai độc nhất của Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ thế tập sự nghiệp phụ thân, cho thăng Đô đốc trấn Hà Tiên, tước Tông Đức hầu. 

Mạc Thiên Tứ còn có tên Mạc Tông, tự Sĩ Lân, là con của Mạc Cửu và Bùi Thị Lẫm – một phụ nữ Việt Nam quê ở trấn Biên Hoà. Thụ tước phong của chúa Nguyễn xong, Mạc Thiên Tứ đổi tên thành Mạc Thiên Tích, tiếp tục mở mang phát triển đất Hà Tiên về nhiều phương diện: khai hoang phục hoá, xây dựng cơ sở vật chất, đẩy mạnh mậu dịch mà quan hệ ngoại thương rất được chú ý, tổ chức chiến đấu chống bọn hải tặc lẫn quân ngoại xâm nhằm kiên quyết bảo vệ từng tấc đất quê hương và đảm bảo cuộc sống an bình cho dân chúng. Đại Nam liệt truyện tiền biên nhận xét về Mạc Thiên Tích: “Thông minh mẫn tiệp, đọc rộng kinh sử, tinh thông võ lược.” 

Không chỉ là võ tướng, Mạc Thiên Tích còn là văn tài mà việc thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các – nơi vừa quy tụ tao nhân mặc khách bốn phương vừa làm trung tâm giáo dục miễn phí – được xem là công lao nổi bật. 

Tương tự mặt trái chiếc huân chương, trấn Hà Tiên phồn vinh, xinh đẹp, lại toạ lạc vị trí chiến lược quan yếu đã khiến mảnh đất này thường xuyên đối mặt với thực tế: các thế lực phong kiến lân cận luôn dòm ngó bằng cặp mắt khát thèm! Suốt nhiều thế kỷ, Hà Tiên kinh qua bao phen binh lửa. Riêng tính giai đoạn Mạc Thiên Tích làm Tổng binh Đô đốc, sách sử còn ghi hàng loạt trận giao tranh ác liệt với quân Chân Lạp, Xiêm La, và chẳng phải lần nào họ Mạc cũng thắng. 

Tháng 10 Tân Mão (1771), quân Xiêm đánh chiếm Hà Tiên, Mạc Thiên Tích đành bỏ thành, theo đường sông chạy về Trấn Giang (Cần Thơ). Năm Quý Tị 1773, phong trào Tây Sơn bùng lên ở Bình Định rồi tiến quân vào Nam, ra Bắc. Mùa xuân Giáp Ngọ 1774, Phú Xuân thất thủ, Định vương Nguyễn Phúc Thuần bôn tẩu ở Quảng Nam rồi Gia Định, Định Tường, Cần Thơ, rốt cuộc bị quân Tây Sơn bắt giết ở Long Xuyên. Bấy giờ, Mạc Thiên Tích trấn giữ cửa sông Kiên (nay thuộc thị xã Rạch Giá (3)). Tây Sơn phái người đến chiêu dụ nhưng Mạc Thiên Tích không theo, lánh ra đảo Phú Quốc. Vua Xiêm là Phya Tek (sử cũ ghi Phi Nha Tân hoặc Trịnh Quốc Anh) cho thuyền tới đón. Cùng lúc đó, nhận lệnh Nguyễn Phúc Anh (thư tịch thường ghi Nguyễn Ánh tức vua Gia Long sau này), Tôn Thất Xuân – tức Chưởng cơ Nguyễn Phúc Xuân – qua Xiêm cầu viện. Vua Xiêm tiếp đãi trọng vọng, nhưng rồi nghe lời gièm pha, nghi ngờ Mạc Thiên Tích và Tôn Thất Xuân làm nội ứng để mưu chiếm kinh thành Vọng Các / Bangkok. Tôn Thất Xuân cùng tuỳ tùng đều bị hại. Mạc Thiên Tích bị lăng nhục. Các con ông là Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Duyên, Mạc Tử Thảng, Mạc Tử Thượng cùng nhiều gia nhân bị giết. Còn Mạc Tử Sanh, Mạc Tử Tuấn, Mạc Tử Thiêm may mắn được một viên quan sở tại thương tình che dấu nên thoát chết. Uất hận, Mạc Thiên Tích tuẫn tiết bằng cách mà sách xưa gọi là “kim thôn” nghĩa là nuốt vàng cho đến ngạt thở để tự sát! Sự kiện xảy ra vào mùng 5 tháng 10 Canh Tý (1780 – năm Nguyễn Phúc Anh lên ngôi vương ở Sài Gòn). 

Hơn hai thập niên sau, năm Giáp Tý 1804, con cháu của Mạc Thiên Tích sang Xiêm đem tẩu cốt (tro xương sau khi hoả táng) của người quá cố về Hà Tiên, lồng vào hình nhân bằng sáp để tẩm liệm rồi mai táng tại Bình San / núi Lăng; phía dưới lăng mộ Mạc Cửu và nằm trong khu nghĩa trang dòng họ Mạc. Năm 1822, niên hiệu Minh Mạng thứ III, Mạc Thiên Tích được triều đình Huế truy phong Đạt Nghĩa chi thần (4). 

Mộ Mạc Thiên Tứ / Tích – người sáng lập Tao đàn Chiêu Anh Các. Ảnh: Minh Phú 


Dân địa phương bấy lâu nay vẫn kính cẩn gọi Mạc Thiên Tích là đức Quốc lão quận công, hoặc ông Lịnh / Lệnh. Thiên hạ cũng kháo rằng một người giàu có, khôn ngoan, biết nhìn xa trông rộng như ông Lịnh chắc phải chôn giấu kho báu để phòng khi hữu sự. Nên nhớ năm Tân Mão 1771, lúc quân Xiêm vây hãm Hà Tiên, Mạc Thiên Tích cầm cự được 15 ngày đêm rồi bỏ thành. Trước khi rút đi khẩn cấp, ắt ông kịp cất kỹ lượng lớn ngọc vàng tiền bạc tại địa điểm bí mật nào đấy. Dân chúng kể có nhân vật tâm phúc trong Mạc phủ từng lỡ miệng nói ra: “Kho báu giấu dưới hang hiểm trở, có quỷ thần canh giữ”. Sau, người ta phát giác một tay thợ đá đột tử, trong mình có tờ giấy chép những vần điệu cực kỳ khó hiểu. Dư luận bàn tán: tay thợ đá được lệnh khắc nội dung bản văn bia kia lên vách núi, cạnh nơi cất giấu kho tàng, song do y tò mò tìm cửa hang nên lâm bạo bệnh mà chết bất ngờ! 

Vì thế, bức mật thư chẳng mấy chốc được quần chúng thuộc làu, rồi lưu hành từ thế hệ này sang thế hệ khác. Qua khẩu truyền, lẽ tất nhiên mật thư phát sinh lắm dị bản. Trong những bản mà tôi sưu tầm được, đây là bản có thể xem đầy đủ nhất, gồm 34 dòng cả thảy: 

Khả thuỷ sơn nhơn 
Nước xanh rờn rờn 
Núi xanh rờn rờn 
Nhị thập viết đại 
Ấp trồng cây trái 
Quả ngọt hoa thơm 
Tay vin tay hái 
Hoa nhỏ tí tí 
Quả nhỏ tí tí 
Tám chín xuân thu 
Hoa nào phong nhị 
Thượng hạ phân kỳ 
Tả hữu đồng quy 
Mười hai mười tám 
Toạ nơi hướng khảm 
Trông ra hướng kiền 
Hoa nở trước hiên 
Tiền là bạch thạch 
Thêm hoa thêm lá 
Thêm sơn thêm hà 
Phi vương phi bá 
Xưng cô xưng quả 
Trời có con trai 
Một cội bảy lá 
Bờ tre xanh xanh 
Hái lá nấu canh 
Canh ăn hết canh 
Vị cay thanh thanh 
Trời tây ngả bóng chênh chênh 
Soi vào hang đá long lanh ngọc vàng 
Vàng trong lòng đá 
Vàng chiếu sáng loà 
Vọng lên lầu các nguy nga 
Hoa sen nở trắng trước toà khói hương. 

Phải chăng những vần điệu lạ kỳ vừa dẫn chính là sơ đồ kho báu của dòng họ Mạc ở Hà Tiên đã mã hoá? 

Bình San / núi Lăng. Ảnh: Phanxipăng


Phần 3

Cổng đền thờ họ Mạc nơi chân núi Lăng / Bình San.

Hoành phi: “Mạc công miếu”.
Đối liễn: “Nhất môn trung nghĩa gia thanh trọng / Thất diệp phiên hàn quốc sủng vinh” (Một nhà trung nghĩa, danh thơm cả họ / Bảy lá dậu che, khắp nước quý yêu).
Ảnh: Phanxipăng 

Lần tìm chìa khoá giải mã 

Bức mật thư truyền khẩu kia cứ như bài toán hóc búa, thách đố bao lớp người động não, thậm chí xả thân, để săn lùng đáp số. Lần này, rằm tháng giêng Nhâm Ngọ (26-2-2002), trở lại Hà Tiên, tôi thử tìm hiểu những cách lý giải mật thư đã và đang tồn tại ở địa phương. 

Ngay dòng đầu Khả thuỷ sơn nhơn, ai cũng biết là địa danh Hà Tiên. Theo phép chiết tự chữ Hán, Hà 河 gồm chữ khả kèm bộ thuỷ; Tiên 仙 gồm chữ sơn kèm bộ nhơn / nhân đứng. Cũng theo lối chiết tự thì dòng thứ 3 và 4 chỉ rõ họ tộc khai sáng đất này: 

Nhị thập viết đại 
Ấp trồng cây trái 

Bộ hai mươi ở trên, chữ viết nằm giữa, chữ đại nằm dưới, chính là ký tự trỏ họ Mạc 莫. Đó là cách ghi họ Mạc vẫn phổ biến nhiều nơi, cả Trung Hoa lẫn Việt Nam. Riêng trường hợp Mạc Cửu cùng hậu duệ của ông, chữ Mạc thường được thêm bộ ấp bên phải, thành 鄚. Kiểu viết ấy khởi phát bởi chúa Nguyễn muốn phân biệt với nhà Mạc từng tiếm ngôi nhà Lê hồi thế kỷ XVI; lại ngụ ý ghi công lập ấp, mở mang vùng biên địa của dòng họ mới. Nhiều người trong giới nghiên cứu đã thừa nhận điều này. Như 陈荆和 / Trần Kinh Hoà / Chen Ching Ho (1927 – 1995), chuyên gia người Hoa nổi tiếng về Việt Nam học, trình bày qua bài Họ Mạc và chúa Nguyễn ở Hà Tiên đăng trên tạp chí Văn Hoá Á Châu số 7 (Sài Gòn, 1958). Hoặc Phan Khoang với cuốn Việt sử xứ Đàng Trong (sđd), Nguyễn Văn Sâm với công trình Văn học Nam Hà, văn học Đường Trong thời phân tranh (NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1972), v.v. 

Tuy nhiên, lúc viếng thăm di tích 44 ngôi mộ cổ tại Bình San, trong đó có 2 mộ song táng, tôi thấy không ít tấm bia ghi chữ Mạc chẳng kèm bộ ấp. Ví dụ bia “Cáo phong Trấn quốc Nghị vũ Cửu Lộc hầu Mạc công chi mộ” (tức Mạc Cửu) do đích thân “hiếu nam Thiên Tứ (tức Thiên Tích) lập thạch”; hoặc bia “Hoàng Việt hiển tỉ Từ Thành thục nhân Mạc phủ Nguyễn Thị chi mộ” (tức vợ thứ của Mạc Thiên Tích). Ấy là chi tiết quan trọng mà tôi sẽ đề cập sau. 

Bia mộ Mạc Cửu: “Cáo phong Trấn quốc Nghị vũ Cửu Lộc hầu Mạc công chi mộ”. Lạc khoản phải: “Long phi Ất Mão trọng tiết”. Lạc khoản trái: “Hiếu nam Thiên Tứ lập thạch”. Lưu ý rằng họ Mạc được khắc 莫 chứ không phải 鄚. Ảnh: Phanxipăng 


Bình San / núi Lăng có quần thể tẩm mộ, chùa chiền, cùng Mạc công tam vị miếu, thực sự giữ vai trò đặc biệt đối với Hà Tiên xưa cũng như nay. Nếu chọn đây làm “toạ độ gốc”, có thể suy đoán một số câu chữ trong mật thư đang xét mang những ý nghĩa nhất định. Chẳng hạn: 

Toạ nơi hướng khảm 
Trông ra hướng kiền 

Là tên gọi đôi quẻ trong kinh Dịch, khảm và càn / kiền ở trường hợp cụ thể này ứng theo tiên thiên hay hậu thiên bát quái? Sử dụng tiên thiên bát quái của Phục Hy, thì khảm chỉ phương đoài, càn chỉ phương nam. Dùng hậu thiên bát quái của Chu Văn Vương, thì khảm chỉ phương bắc, càn chỉ tây bắc. Căn cứ địa hình thực tế, người ta dễ theo hậu thiên hơn. Song, đích xác là điểm nào để thoả mãn điều kiện toạ lạc hướng bắc và nhòm về hướng tây bắc? Núi Đề Liêm ư? Núi Địa Tạng ư? Hay là Vân sơn – Thạch động? Thắng cảnh “động đá nuốt mây” có vẻ hữu lý, nhất là nó tỏ ra phù hợp với cặp lục bát: 

Trời tây bóng ngã chênh chênh 
Soi vào hang đá long lanh ngọc vàng 

Sách Du lịch Hà Tiên (sđd) nhận định: “Hai câu này cho ta biết vị trí của hang. Vị trí này khi mặt trời chênh chênh về tây sẽ chiếu vào cửa hang. Có phải là cửa hang Đại Bàng ở Thạch Động không? Vì khi mặt trời ngả về tây thì ánh nắng chiếu xuyên qua hang Đại Bàng đến miệng hang Âm Phủ.” 

Anh Bùi Văn Thạnh, thường được gọi Tám Thạnh, nguyên chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Kiên Giang, nhiệt tình đưa tôi tới Thạch động. Hòn núi đá vôi nọ nằm bên quốc lộ 80, cách cửa khẩu Xà Xía chỉ quãng ngắn. Chẳng rõ vì sao lối vào động lại bị bê tông hoá với mấy chữ Hán tô đắp và sơn phết màu mè: 仙山洞. Phiên âm Hán-Việt: Tiên Sơn động. Cảnh chướng mắt đó từng khiến thi sĩ Đông Hồ khi biên soạn Hà Tiên thập cảnh (NXB Bốn Phương, Sài Gòn, 1960 – NXB Văn Hoá tái bản, Hà Nội, 1996) phải kêu than rằng “phần nhân tạo đã làm hỏng mất phần thiên nhiên, cảnh tiên đã bại hoại hư nát bởi tay phàm.

Thạch Động ở Hà Tiên. Ảnh: Phanxipăng 


Vào Thạch động, anh Tám Thạnh chỉ tôi xem hang Thạch Sanh, hang Đại Bàng, và hốc đá – chỗ mà cuối năm 1945, người ta tìm thấy thủ cấp của viên sĩ quan Nhật Bản gói trong mảnh vải trắng. Sách Truyện tích Việt Nam của Lê Hương (Sài Gòn, 1970) cho rằng đấy là kết cục một “pha” tự sát kiểu harakiri (5) vì… tình ái. 

Tôi hỏi: 

– Hang Âm Phủ đâu? 

Anh Tám Thạnh trỏ một gờ tròn nhỏ bằng xi măng trồi sát nền đất, kề vách đá: 

– Đây nè. Hang bị lấp lâu rồi. Nghe mấy ông già bà lão bảo trước kia hang sâu lắm, thả quả dừa có đánh dấu xuống thì ít lâu sau ngư dân vớt được ngoài biển Mũi Nai. Lại nghe đồn thuở xưa có những kẻ to gan, dám leo xuống hang thăm dò. Phần lớn đều mất tích. Sống sót trở lên thì rất hiếm hoi, nhưng đều hoá điên vì quá hãi hùng! Quan đầu tỉnh Hà Tiên hồi đó là người Pháp, hạ lệnh lấp hang để tránh nguy hiểm. Thiên hạ nghĩ đó chỉ là cái cớ, chứ việc này hẳn che giấu ý đồ gì. 

– Việc lấp hang Âm Phủ rất có thể diễn tiến gần đồng thời với việc việc quật mồ Hiếu Túc Thái phu nhân họ Nguyễn – chánh thất của Mạc Thiên Tích – chăng? 

– Dân chúng nơi đây đoan chắc cả hai việc đều liên quan vấn đề kho báu, Phanxipăng à. 

Thạch nhũ / vú đá của Thạch Động. Ảnh: Đăng Định 


Chuyện xảy ra vào năm Tân Hợi 1911, lại đúng kỳ thanh minh trong tiết tháng ba / lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh (6). Lấy lý do khai thác đất đá phục vụ kế hoạch kiến thiết đô thị, tham biện Hà Tiên lúc bấy giờ là Roux-Serret điều động lực lượng tù khổ sai đào bới lăng mộ Thái phu nhân ở Bình San suốt 10 ngày ròng rã. Chiều hôm sau, chính quyền thực dân mới cho phép ông Mạc Tử Khâm – cháu 7 đời của Mạc Cửu – cùng thân bằng quyến thuộc và hội đồng hương chức đến chứng kiến cảnh tháo dỡ quan tài. Di cốt bà vợ cả của Mạc Thiên Tích được cải táng bên trái phía dưới lăng Mạc Cửu, cũng ở Bình San. 

Sự vụ có lắm điều khiến thiên hạ xôn xao không ngớt. Há lẽ cần lấy ít đất đá làm vật liệu xây dựng mà cam tâm phá huỷ mồ mả tiền nhân, hơn nữa lại là di tích đáng bảo tồn? Ví muốn khai thác đất đá thì khắp Hà Tiên thiếu gì đồi núi, hà tất phải xâm phạm nơi chốn được xem linh thiêng như Bình San? Di dời âm phần có kiến trúc nhỏ bé và chẳng mấy kiên cố, làm gì tốn hơn chục ngày với sự bảo vệ bí mật cực kỳ kỹ lưỡng vậy? Quật mồ rồi chôn lại, hai địa điểm rất gần nhau và cùng trong một khu vực, còn hơn 40 ngôi mộ khác cớ sao chẳng đụng chạm? 

Nơi đây, vào tiết thanh minh năm Tân Hợi 1911, tham biện Hà Tiên là Roux-Serret hạ lệnh quật mồ Hiếu Túc Thái phu nhân (vợ cả của Mạc Thiên Tứ / Tích). Ảnh: Kỳ Anh 


Qua cuốn Văn học Hà Tiên (NXB Quỳnh Lâm, Sài Gòn, 1970 – NXB Văn Nghệ TP.HCM tái bản, 1996), Đông Hồ tường thuật khá chi tiết vụ quật mồ Thái phu nhân, rồi rút ra kết luận: “Việc lấy đất đá là một cái cớ che đậy hành vi mờ ám của người dụng ý khai quật mộ phần. Họ muốn tìm trong đó một kho tàng.” 

Mộ Thái phu nhân Nguyễn Hiếu Túc hiện nay tại núi Lăng / Bình San. Ảnh: Kỳ Anh


Phần 4

Phanxipăng thám hiểm vùng cấm. Ảnh: Tám Thạnh 


Thâm nhập vùng cấm địa 

Trong Thạch động, không khí mát lạnh, thơm nức mùi nhang trầm. Đứng bên dấu tích miệng hang Âm Phủ và ngắm nghía hang Đại Bàng, tôi càng thấy nội dung bức mật thư mù mờ khó hiểu hơn mình tưởng. Trên nguyên tắc, muốn khám phá bạch văn của mật thư bất kỳ, điều thiết yếu là phải nắm cho được “code” tức chìa khoá giải mã. Hỡi ôi! Cái “code” dùng mở mật thư Khả thuỷ sơn nhơn dường nằm im dưới đáy hang khuất kín? 

Giả thiết mật thư này ẩn chứa sơ đồ kho báu, thì nhiều chi tiết chưa hẳn định vị Thạch động mà có thể chỉ dẫn một hang sâu động hiểm khác gần đấy: núi Đá Dựng. Ông Hứa Nhứt Tâm – thuộc Chi hội Văn nghệ Hà Tiên – nói: 

– Núi Đá Dựng cũng là một thắng cảnh liên quan cổ tích Thạch Sanh và chuyện cất giấu của cải thời trước. 

Lật tài liệu Hà Tiên đất nước và con người (NXB Mũi Cà Mau, 1999), ông Hứa Nhứt Tâm chỉ tôi đọc đoạn cần lưu ý về núi Đá Dựng: “Núi nhỏ, hình thang cân, cấu trúc tương tự Thạch động nhưng có nhiều hang và lớn hơn, địa thế hiểm trở, không khí u tịch và tăm tối, phải dùng đèn mới đi thăm được. (…) Vào thế kỷ XVIII, khi quân Xiêm tấn công Hà Tiên, những người giàu có đã đem của cải cất giấu ở đây.” 

Lâu nay, ai nấy thảy đinh ninh núi Đá Dựng là cảnh Châu Nham lạc lộ (Cò đáp gành Châu) được phản ánh qua tác phẩm của Tao đàn Chiêu Anh Các. Vừa rồi, ông Trương Minh Đạt – nhà giáo lão thành tại địa phương và là tác giả tập khảo luận Nhận thức mới về Hà Tiên (NXB Trẻ, 2001) – đã chứng minh rằng trong thực tế cũng như văn thơ cổ, Châu Nham chính là vùng Bãi Ớt. 

Tiếp xúc nhà Hà Tiên học tại tư thất của ông trên đường Tham Tướng Sanh, tôi thắc mắc: 

– Vậy người xưa gọi núi Đá Dựng bằng tên gì? Và sơn khối permien ấy bây giờ ra sao? 

Ông Trương Minh Đạt trưng dẫn cả lô tư liệu, rồi đáp: 

– Xưa, núi Đá Dựng còn có tên Bạch Tháp sơn. Hiện tại, đó là “vùng cấm” do quân đội quản lý nghiêm ngặt. Du khách cũng như dân địa phương lâu nay đều không được lai vãng núi Đá Dựng! 

Vì sao núi Đá Dựng trở thành nơi bất khả xâm phạm cả mấy chục năm nay? Chưa rõ! Liệu tôi có cách nào thâm nhập “vùng cấm” chăng? 

Nhà thư pháp Trương Thanh Hùng – tổng biên tập tạp chí mang tên Chiêu Anh Các – hứa: 

– Mình sẽ liên lạc với đơn vị bộ đội biên phòng ở đây để xin đi thực tế núi Đá Dựng. Kết quả ra sao, sẽ báo anh Phanxipăng sau. 

Tôi thấp thỏm trông tin. Cuối cùng, Trương Thanh Hùng cười: 

– Được rồi. Nhưng tuyệt đối cấm di chuyển tuỳ tiện. Nhất nhất phải bám theo các chiến sĩ cảnh vệ, nghen. 

Từ quốc lộ 80 rẽ vào con đường đất Sa Kỳ cỡ 1km, chỉ giây lát, tôi có mặt bên chân núi Đá Dựng. Đập vào mắt tôi là cột trụ gắn tấm biển bê tông cốt thép với nghiêm lệnh khắc trổ bằng song ngữ Việt – Anh: 

Vùng cấm – No admittance. 

Qua khỏi cổng sắt và hàng rào kim loại chắn ngang lối lên núi, tôi nhủ thầm: “Mình là một trong số rất ít người được tham quan thắng cảnh đặc sắc này, ít nhất vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. May mắn xiết bao!” 

Chân núi Đá Dựng. Ảnh: Vicgiang86 


Theo tài liệu Tìm hiểu Kiên Giang do Dương Tấn Phát chủ biên (Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Kiên Giang ấn hành, 1986) thì Đá Dựng thuộc loại hình “núi đá phiến chen lẫn đá phún trào núi lửa, được xếp vào thời kỳ vỏ trái đất uốn nếp dữ dội nhất, xảy ra cách đây gần 200 triệu năm.” 

Trong núi Đá Dựng có 14 hang động lớn bé (7), nhiều thạch nhũ lóng lánh, và rất nhiều dơi treo mình trên vách đá. Hai cái hang được đánh giá ngoạn mục nhất Đá Dựng, một nằm phía đông, một bên phía bắc. Ngoài những vẻ đẹp hang động tương tự Hạ Long, Hương Tích, Tam Cốc, Phong Nha, Ngũ Hành Sơn mà tôi từng được biết, liệu Đá Dựng còn sở hữu điều gì khác biệt? 

Đường lên đỉnh Đá Dựng. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên 


Ngẫm lại bức mật thư, bao người giàu tưởng tượng có thể nghĩ rằng chốn này mang nhiều yếu tố phù hợp hơn cả Thạch động, nếu quan sát nhũ đá tạo hình: 

Quả ngọt hoa thơm 
Tay vin tay hái 

Hoặc: 

Vàng trong lòng đá 
Vàng chiếu sáng loà 

Xét kỹ, mật thư dung nạp lắm yếu tố gây nhiễu mà người ta chẳng thể loại trừ một khi chưa nắm được “code”. 

Quang cảnh nhìn từ trên núi Đá Dựng. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên 


Đột nhiên, trên núi Đá Dựng (8), đầu óc tôi vụt loé ý nghĩ: ô hay, chắc gì loạt vần điệu “hũ nút” kia đã là mật thư? Tại sao mình không tiếp cận văn bản theo hướng khác, hướng truy tầm xuất xứ chẳng hạn? 

Phần 5

Mật thư hay sấm ký?

Thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phát từng nhận xét trong cuốn Văn học Hà Tiên (sđd): “Việc dân gian nghĩ rằng họ Mạc phải có một kho tàng chôn giấu, tất cũng có một nguyên nhân, một duyên cớ nào mới được. Chơ không dưng, ai đồn đãi mà chi.” Thế nhưng, ông xem văn bản đang xét chẳng phải mật thư chỉ dẫn địa điểm chôn vàng giấu ngọc, mà là một bài sấm truyền. Đông Hồ viết: “Đó quả là một bài tiên đoán sự nghiệp của họ Mạc ở Hà Tiên, từ khi khai sáng cho đến lúc tàn mạt. Mỗi câu, mỗi chữ đều đúng như y, phân minh từng chi tiết. Thiệt là lạ lùng!”

Sách “Văn học Hà Tiên” của Đông Hồ (NXB Quình Lâm, Sài Gòn, 1970). Ảnh: Error


Đối chiếu một số sự kiện lịch sử từng được nhiều thư tịch ghi chép, Đông Hồ nêu kiến giải khá độc đáo. Sau khi phân tích lối chiết tự địa danh Hà Tiên và họ Mạc, ông lưu ý hai tiếng tí tí lặp đi lặp lại:

Hoa nhỏ tí tí
Quả nhỏ tí tí
Tám chín xuân thu 
Hoa nào phong nhị

Đông Hồ cho rằng tí trên ứng với năm Mậu Tý 1708, thời điểm Mạc Cửu dâng đất Mang Khảm cho Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu, xin sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong để trở thành Hà Tiên. Thời điểm ấy được xem là cắm mốc khai sáng sự nghiệp họ Mạc. Còn tí dưới ứng với năm Canh Tý 1780, Mạc Thiên Tích tuẫn tiết tại Xiêm, coi như thời điểm họ này suy tàn. Khoảng thời gian giữa hai niên điểm đó vừa đúng tám chín xuân thu tức 8 x 9 = 72 năm.

Vợ chồng nhà thơ-văn-báo-xuất bản Đông Hồ & Mộng Tuyết


Nếu bỏ công tra cứu sử liệu, hậu thế khó đồng ý rằng đến năm Canh Tý 1780 thì sự nghiệp họ Mạc “tan tành rơi rụng hết” như Đông Hồ luận giải. Chỉ cần lật Đại Nam liệt truyện tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn, cũng đủ thấy con cháu họ Mạc sau niên điểm ấy vẫn tiếp tục xênh xang cân đái hèn chi rỡ ỷ la; dẫu có nơi có lúc, có người không tránh khỏi gian truân trên nẻo hoạn lộ. Mạc Tử Sanh – con của Mạc Thiên Tích – thọ tước Lý Chánh hầu, được phong Tham tướng vào mùa xuân Giáp Thìn 1784, qua mùa thu Đinh Mùi 1787 đã giữ chức Lưu thủ Hà Tiên, năm kế tiếp thì mất và được truy tặng Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ Chưởng vệ sự Đô đốc Chưởng cơ. Mạc Công Bính – con của Mạc Tử Hoàng và là cháu nội của Mạc Thiên Tích – giữ chức Lưu thủ Long Xuyên. Mạc Tử Thiêm – con của Mạc Thiên Tích – làm Trấn thủ Hà Tiên, rồi được thăng Khâm sai Chưởng cơ vào niên hiệu Gia Long thứ V tức năm Ất Sửu 1805.

Bằng tham luận Vai trò họ Mạc ở Hà Tiên và quan hệ với triều Nguyễn, báo cáo tại hội nghị khoa học kỷ niệm 250 năm thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các được tổ chức hồi tháng 11-1986 ở Rạch Giá, nhà giáo Nguyễn Khuê (Đại học Tổng hợp TP.HCM) lẩn nữa khẳng định: “Các chúa Nguyễn, rồi các vua triều Nguyễn đãi ngộ họ Mạc rất trọng hậu. Ba người được chính quyền họ Nguyễn coi có công lớn là Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích và Mạc Tử Sanh, trong đó công lao của Thiên Tích được đánh giá cao hơn cả. Con cháu họ Mạc được nối đời làm quan ở đất Hà Tiên. Cho đến khi Công Du, Công Tài, Hầu Hi, Hầu Diệu nhận chức của Lê Văn Khôi thì triều Nguyễn mới không biệt đãi như trước nữa.”

Xin thêm rằng tuy không biệt đãi như trước, song triều Nguyễn vẫn ưu ái lục dụng hậu duệ của họ Mạc. Đại Nam thực lục chính biên còn ghi thêm sự kiện năm Thiệu Trị thứ V (Ất Tị 1845), Mạc Văn Phong được tập ấm Chánh thất phẩm Chánh đội trưởng ở Hà Tiên. Phần miếu đền và mồ mả họ Mạc tại Bình San cũng được triều Nguyễn năng quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tế tự, trùng tu.

Biết vậy, song chúng ta hãy dõi tiếp cách kiến giải của Đông Hồ về bài sấm ký:

Phi vương phi bá
Xưng cô xưng quả
Trời có con trai 
Một cội bảy lá

Đông Hồ biện luận: “Là nói về họ Mạc tuy không tước vương tước bá mà vẫn xưng cô xưng quả, trong một nước tự chủ, địa vị như một tiểu vương tự nhiệm ở biên thuỳ.”

Đúng là họ Mạc từng có thời nghênh ngang một cõi biên thuỳ / kém gì cô quả, kém gì bá vương (6); được chúa Nguyễn cấp thuyền Long bài, miễn thuế má, lại ban cả đặc ân khó ngờ: cho phép mở Cục đúc tiền riêng để lưu hành. Dưới quyền quản lý của họ Mạc, trấn Hà Tiên thuở đó khác nào một phiên quốc tự trị nơi hải ngoại. Nhưng như tôi từng nêu, họ Mạc dẫu chưa ai được vua chúa Nguyễn phong vương, song Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Sanh, Mạc Tử Thiêm từng thọ tước công, tước hầu – cao hơn tước bá.

Họ Mạc truyền thừa theo thể lệ “thất diệp phiên hàn”: dùng 7 chữ Thiên, Tử, Công, Hầu, Bá, Tử, Nam làm chữ lót / tên đệm để phân thế thứ. Đông Hồ cho rằng trời có con trai thì trời đây ứng với chữ Thiên, và con trai ứng với chữ Tử. Từ Mạc Cửu tới Mạc Tử Khâm vừa đúng 7 đời, một cội bảy lá, thì tuyệt tự vì chẳng có con nối dõi. Kể ra, đó là một cách lý giải thú vị và không xa thực tế.

Đông Hồ (1906 – 1969)


Đông Hồ cắt nghĩa những dòng sấm ký kế tiếp ra sao? Bờ tre xanh xanh là dãy Trúc Bằng thành (tức Trúc Bàn thành – còn gọi trường luỹ Thị Vạn hoặc Bờ Đồn Lớn). Hái lá nấu canh là “thành quách đến thời kỳ tàn tạ, bị phá huỷ.” Canh ăn hết canh là “vừa hết năm Canh Tuất (1910).” Vị cay thanh thanh là “sang năm Tân Hợi (1911), tiết Thanh minh. Tân có nghĩa là cay. Thanh thanh là tiết Thanh minh. Ứng về việc khai quật mộ bà phu nhân.”

Trời tây bóng ngả chênh chênh
Soi vào hang đá long lanh ngọc vàng

Đông Hồ diễn giải cặp lục bát ấy: “Ứng về việc trong lúc mở được cửa mộ thì trời đã chiều, phải soi đèn vào thì mới tìm được chiếc trâm vàng cẩn ngọc trong đó. Hai tiếng Trời tây còn ứng về việc khai quật này là do người Tây, hành động không chánh đáng (chênh chênh) do lòng tham.”

Đoạn cuối sấm ký, theo Đông Hồ, lại nói về Mạc Thiên Tích:

Vàng trong lòng đá
Vàng chói sáng loà
Vọng lên lầu các nguy nga
Hoa sen nở trắng trước toà khói hương.

Đông Hồ cho rằng vàng trong lòng đá chỉ sự kiện Mạc Thiên Tích nuốt vàng để tuẫn tiết ở Vọng Các / Bangkok. Câu lục có 2 chữ vọng  các, nếu ghép lại sẽ thấy địa danh. Kết thúc, Đông Hồ ca tụng bài sấm “được vần điệu lưu loát, đọc lên có một khí vị hay hay” và “chứa đựng một ý nghĩa, một tài liệu kể như là một bài thơ sử ký sự, đáng truyền.”

Bài viết vừa trích dẫn mang tiêu đề Lịch sử Hà Tiên và một bài sấm truyền do Đông Hồ chấp bút ngày 5-4-1962, đăng trên Văn Hoá nguyệt san số tháng 4-1963, sau đưa vào cuốn Văn học Hà Tiên (sđd).

Mộng Tuyết (1914 – 2007)


Vần đề đặt ra: bài sấm ký kia khởi nguyên từ đâu?

Phần 6

Sự thật sáng tỏ

Chính thi sĩ Đông Hồ đã chỉ rõ trong bài viết ấy rằng bản sấm truyền được ông chép lại từ thiên tiểu thuyết Nàng Ái Cơ trong chậu úp của Mộng Tuyết – vợ ông. Tác phẩm này còn được Mộng Tuyết ghi Hà Tiên ngoại sử ký sự tiểu thuyết, hoàn tất bản thảo dịp Trung thu Mậu Tuất 1958, do NXB Bốn Phương tại Sài Gòn in lần đầu năm 1961, NXB Văn Hoá tại Hà Nội tái bản năm 1996, NXB Văn Nghệ TP.HCM tái bản năm 2000. Trong tiểu thuyết, lời sấm nằm trong chương 10 và được tác giả đặt vào miệng nhân vật tiểu thư Mạc Mi Cô – con gái thứ 5 của Mạc Thiên Tích và chánh thất họ Nguyễn. Mộng Tuyết mô tả Mạc tiểu thư vừa chào đời liền lớn phổng, cất tiếng đọc bài sấm bằng “giọng hoà hoãn như gió đêm thanh”, đoạn “từ từ nhắm mắt, nằm yên, tắt thở, thân hình cũng thu nhỏ lại như đứa bé sơ sinh.”

Cúng giỗ nơi mộ tiểu thư Mạc Mi Cô. Ảnh: Lê Văn Toàn


So với văn bản Khả thuỷ sơn nhơn gồm 34 dòng mà tôi sưu tầm, bài sấm trong tiểu thuyết Nàng Ái Cơ trong chậu úp ngắn hơn: 25 dòng – thiếu từ dòng thứ 12 đến dòng thứ 20. Vậy nguyên bản vốn từng lưu truyền lâu đời trong dân gian, hay do Mộng Tuyết sáng tác rồi về sau quần chúng thêm thắt? Lẽ nào văn bản xuất hiện từ thế kỷ XVIII nhằm mã hoá sơ đồ như người ta đồn thổi?

Xét kỹ ngôn ngữ, thật khó tin văn bản đã ra đời trong thời Mạc Thiên Tích. Nội lối chiết tự họ Mạc kèm bộ ấp 鄚 đủ gây nghi hoặc về niên đại. Cứ cho rằng cách viết đó do chúa Nguyễn muốn biệt hoá dòng Mạc ở Hà Tiên với Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên, v.v. Song, chính xác thì chữ Mạc có bộ ấp chỉ thực sự định hình vào thế kỷ XIX, khi Quốc sử quán triều Nguyễn soạn thảo thư tịch. Lê Quý Đôn – sống cùng thời Mạc Thiên Tích – lúc viết Phủ biên tạp lục  Kiến văn tiểu lục cũng chẳng phân biệt cách ghi 2 họ Mạc. Đề tựa tập Hà Tiên thập vịnh, Mạc Thiên Tích ghi “Mạc thành, Mạc Thiên Tứ Sĩ Lân thị tự tự ư Thụ Đức hiên” với 2 chữ Mạc đều chẳng có bộ ấp. Ngay những tấm bia đá được tạo dựng vào thời Mạc Thiên Tích hiện còn trong khu mộ cổ Bình San – mà tôi đã lưu ý ở đoạn trước – cũng khắc chữ Mạc không kèm bộ ấp.

Sách “Nàng Ái Cơ trong chậu úp” của Mộng Tuyết (NXB Bốn Phương, Sài Gòn, 1961). Ảnh: Vũ Hà Tuệ


Sách “Nàng Ái Cơ trong chậu úp” của Mộng Tuyết (NXB Văn Nghệ TP.HCM tái bản, 2000), bìa in thiếu từ “sử” trong cụm “Hà Tiên ngoại sử ký sự tiểu thuyết”. Ảnh: Harypham1986


Thế thì bài sấm khởi phát bao giờ?

Trao đổi với tôi, nhà thư pháp Trương Thanh Hùng phát biểu:

– Trước tiên, mình không nghĩ đây là sấm truyền. Sống ở Hà Tiên suốt thời gian dài (1963 – 1987), sau này lại có nhiều năm làm công tác sưu tầm văn học dân gian và biên soạn lịch sử địa phương, mình đảm bảo trước khi tiểu thuyết Nàng Ái Cơ trong chậu úp ấn hành thì dân chúng nơi đây chẳng ai biết bài Khả thuỷ sơn nhơn.

Nhà Hà Tiên học Trương Minh Đạt (9) tiếp:

– Cũng không thấy bất kỳ tư liệu viết nào công bố trước thập niên 1960 nhắc tới bài sấm đó, dù chỉ đôi dòng. Tôi đủ chứng cứ để khẳng định đây hoàn toàn là sản phẩm tưởng tượng của đôi vợ chồng văn nghệ sĩ Đông Hồ – Mộng Tuyết. Chẳng riêng gì cái bài gọi là sấm, hầu hết chi tiết trong tập Nàng Ái Cơ trong chậu úp đều hư cấu cả, dù cốt truyện chủ yếu dựa theo Hà Tiên địa phương chí do Trần Thiêm Trung soạn thảo từ tháng 3-1957. Mà cuốn địa phương chí đó lại chứa lắm điều thiếu chính xác, vô căn cứ. Kể ra, sáng tác tiểu thuyết thì nữ sĩ Mộng Tuyết hoàn toàn có quyền tưởng tượng, hư cấu. Đáng tiếc rằng không ít người trong giới nghiên cứu lại dùng tiểu thuyết làm cơ sở xây dựng các công trình sử học. Vậy là “lộng giả thành chân”. Nếu không phát hiện để hiệu đính kịp thời, e di hại cho hậu thế!

Nhà lưu niệm Đông Hồ – Mộng Tuyết tại Hà Tiên. Ảnh: Quang Trưởng


Nhằm xác minh tận gốc, tôi liền liên hệ nữ sĩ Mộng Tuyết. Năm nay, Nhâm Ngọ 2002, đã 88 tuổi, song bà vẫn nói năng rõ ràng, mạch lạc:

– Chuyện cũ, có chuyện tôi nhớ, có chuyện tôi quên. Nhưng cái bài Khả thuỷ sơn nhơn thì tôi nhớ kỹ. Hồi viết Nàng Ái Cơ trong chậu úp, chính tôi sáng tác bài đó, thì hỏi sao không nhớ?

Chân thành cảm ơn nữ sĩ Mộng Tuyết đã vui lòng tiết lộ sự thật. Dẫu sao, câu chuyện ly kỳ về kho tàng họ Mạc cũng tô điểm “những màu mè diễm ảo, những sương khói say mê” cho quê nhà Hà Tiên như Mộng Tuyết cùng Đông Hồ (10) từng ao ước. Hơn thế, điều ấy thực sự góp phần tạo sức hấp dẫn đáng yêu đối với một thị xã biên viễn duyên hải tuy nhỏ bé song giàu đẹp, lại có bề dày lịch sử – văn hoá đặc sắc mà trong đó ẩn chứa lắm vỉa tầng chưa thể khám phá đủ đầy nên chưa được đầu tư bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị đúng mức.

Trong nhà lưu niệm Đông Hồ – Mộng Tuyết. Ảnh: Dũng Nguyễn


Ngẫm kỹ, càng thấy mảnh đất “giang sơn gấm vóc mini” này rất xứng đáng được UNESCO sớm “trước bạ” vào danh mục Di sản thế giới. Bởi lẽ, Hà Tiên là “siêu kho báu” của Việt Nam, của châu Á, và của cả toàn cầu. ♥
____________

(1) Quý bạn đọc vui lòng tham khảo thêm bài Hà Tiên luôn mới của Phanxipăng từng đăng tạp chí Kiến Thức Ngày Nay 422 (1-5-2002), sau đó đã truyền vào weblog này:

http://phanxipang.wordpress.com/2013/03/02/ha-tien-luon-moi-i/
http://phanxipang.wordpress.com/2013/03/03/ha-tien-luon-moi-ii/

(2) Trích ca từ bài hát Hà Tiên của Lê Dinh.


(3) Thị xã Rạch Giá được nâng cấp lên thành phố theo nghị định số 97/2005/NĐ-CP do Thủ tướng Chính phủ ký ngày 26-7-2005. 

(4) Sách Đại Nam liệt truyện tiền biên chép: “Con Thiên Tứ là Tử Hoàng, Tử Thượng cũng bị giết”. Tham luận khoa học Vai trò họ Mạc ở Hà Tiên và quan hệ với triều Nguyễn của Nguyễn Khuê ghi: “Tử Duyên, Tử Hoàng, Tử Thảng bị giết”. Tuy nhiên, trên bia mộ Mạc Thiên Tích dựng năm Giáp Tý 1804 nơi Bình San ở Hà Tiên lại đề: “Hiếu nam Tử Hoàng lập thạch”. Tại sao? Đây là một nghi vấn sử học.

(5) Harakiri còn gọi seppuku, tiếng Nhật ghi 切腹 , phiên âm Hán-Việt thành thiết phúc, nghĩa là mổ bụng. 

(6) Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du.

(7) 11/14 hang động ở núi Đá Dựng đã được đặt tên: Mẹ Sanh, Cổng Trời, Thần Kim Quy, Khổ Qua, Bồng Lai, Trống Ngực, Thác Bạc, Xã Lộc Kỳ, Chỉ Huy, Biệt Động, Lê Công Gia. 

(8) Được Bộ Văn hóa & Thông tin ban hành quyết định số 44/2007/QĐ-BVHTT ngày 3-8-2007 công nhận di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, hiện núi Đá Dựng đã trở thành khu du lịch. 
9) Chào đời năm Bính Tý 1936 tại Hà Tiên, Trương Minh Đạt là soạn giả sách Nhận thức mới về Hà Tiên (NXB Trẻ, 2001), Nghiên cứu Hà Tiên (NXB Trẻ, 2008).

(10) Đông Hồ (1906 – 1969) chào đời tại Hà Tiên. Thuở nhỏ, có họ tên Lâm Kỳ Phát. Lớn, chuyển thành Lâm Tấn Phát, tiểu tự Quốc Tỉ, tự Trác Chi. 1926 – 1934, lập Trí Đức học xá chuyên dạy Việt ngữ tại Hà Tiên. 1935, thực hiện tuần báo Sống tại Sài Gòn. 1940, sáng lập NXB Bốn Phương & nhà sách Yiểm Yiểm thư trang tại Sài Gòn. 1953, ấn hành tập san Nhân Loại tại Sài Gòn. 1964, ẩn cư trong Quình Lâm thư thất tại Sài Gòn. 1965, giảng dạy môn Văn học miền Nam tại Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ngoài thơ, Đông Hồ còn viết ký và khảo cứu; lại là người đầu tiên dùng cọ lông chấm mực xạ thể hiện thư pháp chữ quốc ngữ. Bên cạnh bút danh Đông Hồ, còn ký Thuỷ Cổ Nguyệt, Đại Ẩn Am, Nhị Liễu tiên sinh.

Sau khi vợ Linh Phượng (sinh Lâm Mỹ Tuyên) qua đời (1926), Đông Hồ lấy Thái Nhàn Liên / Thái Thị Thân (sinh Lâm Yiễm Yiễm). Nhàn Liên mất (1946), Đông Hồ tái hôn với người vừa là học trò vừa là em vợ: Thái Thị Úc, tức nữ sĩ Mộng Tuyết.

Mộng Tuyết (1914 – 2007) chào đời tại Hà Tiên. 12 tuổi, tập làm văn ở Trí Đức học xá. 1939, với thi phẩm Phấn hương rừng, được bằng khen về thơ của Tự Lực văn đoàn. Cùng chồng là Đông Hồ, với Lư Khê và Trúc Hà tạo nên “Hà Tiên tứ tuyệt”. Ngoài thơ, Mộng Tuyết còn viết tuỳ bút và truyện. Bên cạnh bút danh Mộng Tuyết, còn ký Hà Tiên Cô, Nàng Út, Bách Thảo Sương, Bân Bân nữ sĩ, Thất tiểu muội.


Phanxiphăng
Đã đăng trên tạp chí Thế Giới Mới
từ số 479 (25-3-2002) đến số 481 (8-4-2002)

Cái giếng cổ ở Lò Heo - chuyện ngày xưa về quán Lẩu tôm Năm Ri

đăng 02:11, 12 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Anh Bùi Thuận là dân sống lâu năm ở Biên Hòa nên biết nhiều chuyện hay ở đây thuở xa xưa. Rất may là anh có dịp kể lại đây đó những câu chuyện ấy qua những bài báo, quyển sách đã phát hành cho đám hậu sinh như tui và các bạn cùng biết. Từng mảnh vụn trong những câu chuyện kể của anh có thể thành một câu chuyện riêng thú vị. Thí dụ như câu chuyện về quán Lẩu tôm Năm Ri mà tui mạn phép trích ra ở đây.


Quán Lẩu tôm Năm Ri nằm cạnh ngôi chùa Bửu Sơn, cũng rất nổi tiếng


Câu chuyện này là cắt một miếng trong bài viết về ông Lương văn Lựu - tác giả bộ sách nổi tiếng Biên Hòa sử lược toàn biên - và bài này lại là cắt một phần trong bộ sách Rạng rỡ tài danh đất Đồng Nai gồm nhiều tập do anh Bùi Thuận biên soạn.


Ghi chú: Do bài trích cắt ngang hông nên xin chú thích thêm một chút: ông Hai Quan tức Võ văn Quan là người kể chuyện, thành viên ban quý tế đình Tân Lân. Thầy Tư Lựu là ông Lương văn Lựu.


Cái giếng cổ ở Lò Heo


Ông Hai Quan còn cho biết một câu chuyện khá dặc biệt về thầy Tư Lựu mà đến giờ nhiều người ở xóm Lò Heo (nay thuộc khu phố 2, phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa) còn nhớ và nhắc hoài. Đó là chuyện anh Nâm Ri (hiện là chủ một hệ thống nhiều quán lẩu tôm rất nổi tiếng) từ vùng kinh tế mới dắt vợ con lếch thếch về lại Biên Hòa xin ở đậu bên mé nhà của ông Hai xích lô trong xóm lưới cạnh bờ sông Đồng Nai. Trong lúc anh em bè bạn cùng thất nghiệp ở xóm Lò Heo xúm vô phụ với Năm Ri sửa lại góc nhà lụp xụp cho vợ con anh tạm trú, thì thấy dưới nền nhà có mấy viên đá cũ có hình dáng lạ mắt. Tò mò, Hai Quan lấy một viên đá mang đến "báo cáo" với thấy Tư Lựu.

Sau một hồi ngắm nghía viên đá lạ, thầy Tư dẫn giải: Đây là đá xây giếng của người Chăm. Theo tài liệu mà tôi nghiên cứu dược thì khu vực Lò Heo - Cây Chàm mà mình đang ở đây có 2 cái giếng cổ của người Chăm: một ở dưới xóm chài sát bờ Sông Đồng Nai, một cái nằm ở khu vực Hoa Lư. Ai làm chủ cái giếng cổ và chịu khó cúng kiếng thì làm ăn phát đạt, tài lộc vô như nước! Chú em nên khuyên bảo người anh em đang cai quản cái giếng nên coi sóc chu đáo, thế nào sau này cũng giàu có.

Nghe Hai Quan nói lại, ai cũng cười ngất. Năm Ri đang thất nghiệp, không có chỗ ở, phải nương nhờ nhà người quen, vợ ra chợ Biên Hòa phụ việc cho vựa cá để kiếm tiền nuôi chồng con thì ngóc đầu lên đã không muốn nổi rồi, nói gì đến chuyện giàu có.

Nhưng thật không ngờ, từ những con tôm ế, thừa sau buổi chợ được vợ Năm Ri mang về làm món nhậu cho chồng cùng mấy người bạn "quá rảnh" (vi không có việc làm trong giai đoạn đất nước vừa thống nhất, đang còn khó khăn) trở nên nổi tiếng đến mức con hẻm Mạch Nha sâu hoắm dẫn vào nhà Năm Ri trở thành hẻm mang danh hiệu “Lẩu tôm Năm Ri". Ban đầu, bạn bè, khách khứa kéo đến ngồi bệt dưới đất nhậu ké, sau đó trả tiền để mua sắm bàn ghế, bia rượu. Từ người ở nhờ bên mái, chỉ một thời gian sau Năm Ri trở thành chủ toàn bộ ngôi nhà và cả khu đất rộng lớn. Thương hiệu “Lẩu tôm Năm Ri" vang xa. Từ một quán Năm Ri đầu tiên, nơi có cái giếng cổ, ngày nào cũng đông khách, thêm mấy quán Năm Ri nữa ra đời. Nghe đâu chuyện đếm tiền hàng đêm khá là vất vả.


Bên trong quán Lẩu tôm Năm Ri hiện nay, "cái giếng cổ" ngày xưa.


"Những con tôm ế" ngày xưa, giờ hấp dẫn thế này


Ông Hai Quan cho rằng việc giếng cổ Chăm linh thiêng hay không thì thực hư khó biết, nhưng lời tiên đoán của thấy Tự Lựu về sự thịnh vượng của chủ quán Năm Ri quả không sai. Chỉ một chuyện mất thấy tai nghe này, ông Hai Quan đã phục sát đất “thấy Tư" Lương Văn Lựu.


Bùi Thuận

(Trích trong Rạng rỡ tài danh đất Đồng Nai - Tập 2)

Chuyện ly kỳ thót tim về pho tượng "đồng đen" khổng lồ ở Hà Nội

đăng 01:31, 5 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Suốt nhiều thế kỷ, trong dân gian đã lưu truyền tin đồn rằng pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ ở đền Quán Thánh làm bằng đồng đen - một thứ kim loại kỳ diệu. Điều này đã dẫn đến một vụ việc chấn động Hà Nội năm 1966... 

Nằm trong Thăng Long tứ trấn, đền Quán Thánh là ngôi đền lớn và nổi tiếng bậc nhất của Hà Nội. Tương truyền, đền được Vua Lý Thái Tổ cho xây dựng ở phía Bắc thành Thăng Long xưa để trấn tà khí từ phương Bắc tràn xuống

 

Một điểm nhấn của ngôi đền này là sự hiện diện của một pho tượng đồng khổng lồ. Đó là pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ được đúc bằng đồng vào đời vua Lê Hy Tông, năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677)

 

Theo quan niệm dân gian, Huyền Thiên Trấn Vũ là thần trấn quản phương Bắc đã nhiều lần giúp nước Việt đánh đuổi ngoại xâm. Lần thứ nhất vào đời Hùng Vương thứ 6 đánh giặc từ vùng biển tràn vào, lần thứ hai vào đời Hùng Vương thứ 7 đánh giặc Thạch Linh...

 

Ngoài ra, Huyền Thiên Trấn Vũ còn giúp dân thành Thăng Long trừ tà ma và yêu quái, giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa, diệt Hồ ly tinh trên sông Hồng đời Lý Thánh Tông..

 

Từ hàng trăm năm qua, người dân Hà Nội đã coi tượng Huyền Thiên Trấn Vũ của đền Quán Thánh là một pho tượng linh thiêng. Đặc biệt, trong dân gian xuất hiện tin đồn pho tượng này được làm bằng đồng đen.

 

Theo niềm tin của người xưa, đồng đen là một kim loại cực kỳ quý hiếm Nó được chế tạo từ hợp kim của đồng và những kim loại khác như vàng, bạc, thiếc hoặc kẽm... tạo thành một hợp kim màu đen. 

 

Đồng đen được gán cho những tính chất kỳ diệu, trong đó có khả năng trừ tà ma và chữa ốm đau, bệnh tật. Theo mẹo dân gian, nếu bị trúng gió, thương hàn, chỉ cần áp đồng đen vào trán là sẽ khỏi bệnh

 

Giá trị của đồng đen được cho là cao hơn vàng nhiều lần. Điều này dẫn đến nhiều vụ trộm cổ vật ở đền chùa cũng như chuyện lừa đảo liên quan đến đồng đen trong giới buôn bán, sưu tầm cổ vật trong những năm qua

 

Liên quan đến vấn đề này là một vụ việc hy hữu ở xảy ra ở đền Quán Thánh hơn nửa thế kỷ trước. Đó là vào năm 1966, lợi dụng thời điểm Mỹ ném bom Hà Nội, hai kẻ bất lương đã lèn vào đền cưa bàn tay tượng Huyền Thiên Trấn Vũ vì tin rằng tượng làm bằng đồng đen

 

Rất may là hai kẻ gian này đã bị tóm gọn sau khi cụ thủ từ phát hiện kịp thời và báo công an. Câu chuyện được đăng trên báo khiến dân Hà Nội xôn xao một thời gian

 

Dù các nhà khoa học nhiều lần khẳng định tượng Huyền Thiên Trấn Vũ ở đền Quán Thánh không phải là đồng đen, nhưng cho đến nay nhiều người vẫn giữ niềm tin có từ hàng trăm năm trước

 

Họ tin tượng phải làm bằng một thứ kim loại huyền thoại như đồng đen thì mới đủ sức mạnh để ngăn chặn tà ma và kẻ thù từ phương Bắc, như dụng ý của người xây đền và đúc tượng...

Huyền thoại dũng sĩ núi Bà Đen

đăng 21:59, 1 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Nhìn từ xa núi Bà Đen tựa một chiếc nón úp nên thơ bên dòng sông Vàm Cỏ Đông ở Tây Ninh. Khi đến gần mới thấy núi Bà Đen hùng vĩ với độ cao 986 mét và được coi là “nóc nhà miền Đông Nam Bộ”. 

Núi trải rộng 24 cây số vuông, rừng cây rậm rạp và hệ thống hang đá hiểm trở trên núi đã ghi dấu bao kỳ tích của đội quân giải phóng anh hùng. Họ đã minh chứng: “Người cộng sản chúng ta về ở đó/ Để núi hừng lên làm núi mặt trời” (Huyền Kiêu). 

Đội quân báo anh hùng 

Dãy núi Bà Đen liên tiếp những đỉnh cao nhấp nhô trải rộng mênh mông trên cánh rừng của thung lũng Ma Thiên Lãnh. Đặc biệt vị trí của Núi Bà Đen án ngữ ngã ba đường đi lên chiến khu cách mạng sát biên giới nước bạn Campuchia. Quốc lộ 22B và đường số 793 nối khép kín căn cứ địa “Trung ương Cục miền Nam” tại hai khu rừng Rừm Đuôn và Chàng Riệc. 

Đầu thập niên 60, khi Bộ chỉ huy của “Trung ương Cục miền Nam” hình thành, giặc Mỹ đã sớm chiếm đỉnh núi Bà Đen do thám những hoạt động của quân đội ta. Nhất là sự ra đời của Mặt trận Giải phóng Miền Nam càng làm chúng điên cuồng đổ quân muốn đánh vào tận Bộ Chỉ huy quân đội ta ở chiến khu. Những thông tin và quan sát thực địa từ núi Bà Đen rất quan trọng.

Tượng dũng sĩ núi Bà Đen.


Ngay từ đầu năm 1962, một đơn vị trinh sát và thông tin (Liên đội 7) của mặt trận Tây Ninh được cử lên núi Bà Đen hoạt động. Nhưng tình thế gay go lúc đó giặc Mỹ đã chiếm lĩnh đỉnh cao nhất trên núi Bà Đen. Đội quân báo đã đổ bộ sườn núi phía Bắc núi Phụng. Ở đó có nhiều hang động chạy quanh núi và vị trí quan sát thuận lợi ở độ cao 600 mét. 

Khi biết tin quân đội Mỹ hùng hổ tấn công muốn đánh bắt Liên đội 7 nhưng chúng không thể vào sâu trong hang núi. Chiến sĩ ta đã biến hang động thành nơi cư trú và chất lương thực, súng đạn. Hệ thống các ụ súng được rải thành một chiến hào đá nhiều tầng lớp thoắt ẩn thoắt hiện như một ma trận. Nhiều tên lính giặc bị những hỏa lực bí mật bắn bất ngờ không sao vượt lên được núi. Cứ thế cuộc chiến đấu giằng co, các chiến sĩ bắt đầu hoạt động nghiệp vụ trinh sát và thông tin. Sau này Liên đội 7 được bổ sung quân lực và mở rộng hoạt động tạo thành một đại đội chiến đấu lâu dài. 

Tuy nhiên điều kiện nhiều khó khăn vì giặc Mỹ đóng quân phía dưới chân núi để kiếm soát và ngăn chặn tiếp tế của quân đội ta. Những ngôi chùa bị tàn phá. Những phật tử và ni cô trong chùa cũng bị dồn xuống núi nên không còn cơ sở liên lạc với đơn vị. Các chiến sĩ phải chắt chiu từng bình nước, bát gạo, lá rau. Không ít ngày các chiến sĩ đã phải bắt ốc và thằn lằn núi để làm lương thực, thực phẩm. 

Hơn nữa giặc Mỹ nhiều lần đã thả bom xăng và bắn phá dữ dội để hòng tiêu diệt Đại đội trinh sát. Đã không ít lần chúng cho quân đổ bộ lên, và lực lượng từ trên cao tấn công tập hậu phía sau từ trên đỉnh núi Bà Đen xuống. Nhưng lợi thế chiến địa hang động tạo cho chiến sĩ ta giữ vững trận địa. 

Nhiều khi kẻ thù chỉ ngồi phía trên hang mà không hề phát hiện ra các chiến sĩ ta đang nằm phục ngay phía dưới. Chỉ cần một cử động nhỏ là chúng đã bị bắn lộn cổ xuống núi. Thời gian trôi đi hơn mười năm, cuộc chiến đấu thực kiên cường ác liệt. Các chiến sĩ trinh sát bền bỉ bám trụ địa bàn, vừa cầm súng, bảo đảm cung cấp thông tin quan trọng vào chiến khu chỉ huy mặt trận. Cuối năm 1972 Liên đội 7 trinh sát đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân. 

Trận đánh chiếm đỉnh cao 

Tuy đã có lợi thế ở hệ thống hang động nhưng vị trí đỉnh núi Bà Đen mới là lý tưởng cho không gian bốn phía. Trên đó giặc Mỹ đã cho xây ba sân bay trực thăng và đưa một tiểu đoàn biệt kích lên chế ngự. Việc các dũng sĩ Liên đội 7 đánh lên núi không dễ dàng. Nhưng sau khi giặc Mỹ phải rút khỏi nước ta công cuộc cách mạng giải phóng miền Nam càng trở nên sôi động. 

Được chỉ thị của bộ chỉ huy mặt trận, bằng mọi giá phải chiếm trụ sở thông tin núi Bà Đen. Liên đội 7 phối hợp với tiểu đoàn trinh sát 47 (thuộc phòng Quân báo Miền) mở cuộc tấn công chiếm đỉnh cao vào ngày 6-12-1974. Đó là đêm hành quân bí mật qua những hẻm núi đá lên rừng. Những chiến sĩ quân báo của ta tiếp cận những vị trí đã chuẩn bị sẵn và nổ súng. 

Dưới chân núi một lữ đoàn của địch cũng bị cầm chân bởi những đơn vị quân đội địa phương phối hợp tập kích. Máy bay ngụy dưới sự chỉ huy của sĩ quan Mỹ liên tục bắn phá và thả bom để bảo vệ trụ sở thông tin trên núi Bà Đen. Nhưng đêm đến là vòng vây lại được khép chặt và tiến dần lên đỉnh núi. Do nghiên cứu địa hình trong mười ba năm các chiến sĩ trinh sát Liên đội 7 đã thiết kế sơ đồ cho từng vòng vây khép kín nên Tiểu đoàn đặc nhiệm của chúng bị tiêu hao lực lượng mỗi lần định đánh xuống mở đường thoát. 

Cho dù được tiếp tế vũ khí và đạn dược nhưng tâm lý giặc đã hoảng loạn. Trong khi đó các chiến sĩ ta ngày thì phục trong các hang đá, bắn rơi khá nhiều máy bay tiếp tế, khi đêm tối lại tiến công và nã pháo cối vào trụ sở địch trên đỉnh núi. Không ngày nào máy bay địch không thả bom tàn phá rừng cây. Cuộc chiến đấu giằng co từng mảnh đất và hang đá kéo dài cả tháng trời.

Cung đường hang động đá mà các dũng sĩ núi Bà Đen bám trụ chiến đấu.


Thời cơ đã đến khi đồng loạt các mặt trận Tây Ninh được triển khai. Các chiến sĩ quân báo tiến công dũng mạnh lên đỉnh núi. Giặc hoảng loạn đầu hàng. Liên đội 7 đã chiếm được trụ sở thông tin và đài quan sát của địch vào ngày 6-1-1975 sau 31 ngày đêm chiến đấu. Núi Bà Đen được giải phóng hoàn toàn. 

Nhưng đâu đã chấm dứt sự đổ máu trên đỉnh núi Bà Đen. Liên tiếp những ngày sau, quân địch đã huy động nhiều trận đánh hòng chiếm lại đỉnh núi. Lần cuối cùng vào đầu tháng 3-1975, chúng huy động hàng ngàn quân sĩ tổ chức càn quét hòng chiếm lại căn cứ Bà Đen. 

Nhưng sau mười ngày bắn phá điên cuồng, quân địch không sao tiến lên cao được. Chúng đành rút lui xuống chân núi và rải quân vây các chiến sĩ quân báo bám trụ trên đỉnh Bà Đen. Nhưng chúng biết đâu chỉ ít ngày sau chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Toàn bộ lực lượng Quân đội tỉnh Tây Ninh đồng loạt tấn công dồn dập tại các huyện và thị xã. Tây Ninh được giải phóng vào trưa 30-4-1975. Đỉnh núi Bà Đen vẫn được trụ vững cho đến ngày cuối cùng. 

Tượng đài 

Đến dự lễ hội ở chùa Bà Đen du khách thường dừng lại trước tượng đài “Dũng sĩ Bà Đen” thắp hương. Những câu chuyện được kể lại trong cuộc hành hương vía Bà càng thêm lung linh huyền ảo. Hình tượng những người anh hùng đã gieo vào tâm hồn những phật tử biết bao điều ấm áp mỗi khi bước chân lên đền Linh sơn Thánh mẫu. 

Bởi một thời những tu sĩ trong chùa đã từng là một phần của cuộc chiến đấu. Họ đã tiếp tế gạo và thuốc cho các dũng sĩ Bà Đen. Chùa Hang là nơi cán bộ chiến sĩ làm việc thời kỳ đầu an toàn nhờ sự bảo vệ của những tu sĩ tại đây. Trên cửa hang có bia tưởng niệm những người anh hùng trên núi Bà Đen khắc ghi: “Nơi đây 181 cán bộ, chiến sĩ trinh sát thuộc phòng Quân báo Miền (B2), đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. 

Thắp hương để dâng lên chúa Bà cũng là tưởng nhớ đến hương hồn các dũng sĩ đã dâng hiến cho cách mạng. Những vần thơ ngợi ca người anh hùng đã vang lên bên những đài tưởng niệm với mỗi người tham gia hành hương hàng năm. Đó là sự ngưỡng mộ và tưởng nhớ: “Trước tượng đài ta chiêm ngưỡng. Công tích của người đi mở đường. Từ nơi gió lộng này ta suy tưởng. Sống sao cho xứng đáng với quê hương” (Bóng núi trong tôi-Văn An). 

Ngay sau ngày Tây Ninh giải phóng “Quán thơ” trên núi Bà Đen đã được hình thành và sinh hoạt đều đặn. Đây là nơi tập hợp những cây bút đầu tiên của tỉnh làm tiền đề cho việc tiến tới thành lập Hội Văn nghệ Tây Ninh.

Vương Tâm

Huyền thoại đồi Bà Nài

đăng 01:13, 23 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Vừa bước chân tới khu di tích văn hóa trên đồi Bà Nài (phường Phú Hài, Phan Thiết-Bình Thuận), tôi đã bị cuốn hút bởi giai điệu dân ca Chăm buồn và dịu dàng. Lời bài hát "Ai kia đang ở phía xa" như gieo vào lòng người nỗi trống vắng mộng mị. Giọng hát của Chế Tuấn trầm ấm vang lên: "Chim về rừng chim chắp cánh bay. Chứ anh một mình mà anh nhớ thương em. Chứ em một mình mà em nhớ thương ai...". 

Chuyện tình nàng Pô Sah Inư 

Người dẫn tôi lên đồi là nhà thơ La Văn Tuân (HVN Bình Thuận). Chúng tôi dừng chân bên khu đền tháp Chăm ở độ cao chừng 80 mét. Tháp chính mang tên nàng công chúa Pô Sah Inư và hai tháp nhỏ. Nhà thơ nói đây là một trong những tháp Chăm còn giữ được khá nguyên bản với sắc gạch đỏ au. 

Khu đền tháp thờ thần Silva đã từng bị tàn phá do chiến tranh và sự khắc nghiệt của mẹ thiên nhiên đã trải qua hơn 800 năm. Công chúa Pô Sah Inư gắn bó với dân Phú Hài này từ hàng trăm năm qua. Nàng xinh đẹp và dịu dàng nức tiếng khắp vùng. Pô Sah Inư được lãnh chúa trẻ vùng Chăm kế bên yêu say đắm. Trớ trêu thay chàng lại theo đạo Hồi, còn nàng theo dòng Bà la môn. Tình yêu của hai người đã vượt khỏi những ràng buộc khe khắt giữa hai dòng đạo. Bởi theo quy định hai người không được lấy nhau. 

Tình yêu của chàng lãnh chúa đã phá bỏ luật lệ. Họ làm lễ thành hôn và sống hạnh phúc bên nhau. Dân hai vùng đạo đều vui mừng và chúc phúc cho họ. Nhưng rồi đột nhiên chàng lãnh chúa phải về Ấn Độ lãnh chỉ giáo từ bề trên. Hai người tạm xa nhau và hẹn ngày trở lại. Pô Sah Inư sống trong nỗi thắc thỏm lo âu. Người em trai lãnh chúa chớp cơ hội tìm cách chia rẽ tình yêu của hai người. 

Nhà thơ La Văn Tuân (bên phải) với tác giả.


Thời gian đã trôi qua. Khi lãnh chúa trở về , Pô Sah Inư không được báo tin ra đón. Lãnh chúa đã bị người em trai xúc xiểm nói xấu chị dâu. Chàng đau khổ buôn bã rời bỏ tình yêu của Pô Sah Inư đi về phương Nam. Ở xứ sở mới, chàng đã bị người đẹp khác chinh phục và tỏ lòng thương yêu. Đó là một cô gái dân tộc Raglây. 

Khi biết chuyện bị chia rẽ hạnh phúc Pô Sah Inư quyết chí đi tìm chồng để bày tỏ nỗi lòng. Nàng mong chàng quay lại với gia đình của mình. Nhưng tình yêu của chàng không còn nữa. Chàng đã thuộc về người khác. Pô Sah Inư đau khổ trở về quê hương. Nàng chỉ còn biết xóa tan nỗi đau khổ bằng cách tìm niềm vui ở công việc và lao động bên làng biển dưới dẫy núi Phú Hài. Pô Sah Inư đã dậy nghề thêu dệt thổ cẩm và cách trồng cấy lúa nước cho bà con quanh vùng. Nàng hướng dẫn cả nghề chài lưới và đánh bắt cá cho đồng bào Chăm thân thiết của mình. Hằng đêm nàng còn dạy ca múa cho con trẻ. Người dân quanh vùng đã coi Pô Sah Inư là thần tiên Apsara với những điệu múa uyển chuyển đầy bí ẩn. 

Lúc này đến bên tôi nhà thơ La Văn Tuân đọc những câu thơ Chăm được ghi lại bên tháp rằng: "Nỗi nhớ lóe lên như tia chớp/ Thắp lên ngọn buồn cháy buốt đêm đen/ Khóe mắt em ngơ ngác màn sương lạnh/ Bước giang hồ nhỏ lệ bên thềm…". Nắng bừng trên đồi tháp. Cụm lá bàng xanh biếc trên cao. Ngắm bức tượng nàng Apsara bên tháp cổ, tôi bỗng nhớ đến những câu thơ của thi sĩ Inrasa người Chăm đã viết: "Tôi khẽ chạm vào em/ Tôi vỗ mạnh vào em/ Em vỡ tiếng nói/ Em cất tiếng hát/ Khi tôi đánh thức em/ Đường nét và hình khối, dáng đứng với điệu cười. Apsara. Ap sa ra" (Apsara). 

Người anh hùng đánh đồn Phú Hài 

Đã từ lâu đồi Bà Nài làng Phú Hài là thắng cảnh đẹp bên bờ biển với chiều cao hơn 100 mét. Một thời đồi còn được mang tên lầu ông Hoàng bởi trên đỉnh đồi có một biệt thự được xây dựng trong khuôn viên rộng hơn 500 mét vuông. Đây là nhà nghỉ dưỡng của một công tước người Pháp vào năm 1910. Nhưng do chiến tranh tàn phá, ngôi nhà đã bị đổ nát chỉ còn nền móng (khá gần khu đền tháp Pô Sah Inư). Những đồn bốt của giặc Pháp đã được xây trên nền lầu ông Hoàng cũ. 

Ở vị trí cao giặc Pháp có thể quan sát và khống chế đường biển và đường bộ vào thành phố Phan Thiết. Chúng đã tàn sát và khống chế đồng bào Chăm và ngăn chặn những cuộc kháng chiến của quân dân Bình Thuận. Khu vực quân sự cùng hệ thống lô cốt trên đồi được mang tên là "Đồn Phú Hài". Đây là hệ thống quân sự giặc Pháp kiên cố mà quân và dân ta có kế hoạch cần phải chiếm lĩnh từ lâu. 

Thời cơ đã đến vào tháng 6 năm 1947. Nhiệm vụ đánh đồn Phú Hài được trao cho Đại đội trưởng Nguyễn Minh Châu (Bí danh Năm Ngà) chỉ huy tác chiến. Đây được coi là sự kiện đầu tiên của quân và dân miền Nam đánh trực tiếp chiếm lĩnh đồn giặc Pháp. Trận đánh có ý nghĩa khởi đầu cho việc làm thay đổi tình hình quân sự của tỉnh Bình Thuận. 

Trước đó Đại đội trưởng Nguyễn Minh Châu đã trinh sát cùng đồng đội để tìm ra quy luật hoạt động giữa đồn Phú Hải với đồn chỉ huy của Pháp nằm cách đó chừng 6 cây số. Sau mấy ngày đêm trinh sát, đại đội trưởng Nguyễn Minh Châu đã nảy ra một cách đánh thật táo bạo. Anh đã dùng chính những hàng binh Pháp tham gia tấn công đồn Phú Hài. 

Đại đội trưởng đã cho các chiến sĩ bao vây và tiếp cận từ dưới chân đồi Phú Hài. Anh đã cùng với nhóm chiến sĩ tiến hành đóng giả cuộc giao ban thường ngày của giặc Pháp. Trong đó có bốn hàng binh Pháp đóng vai các sĩ quan của chỉ huy sở. Mọi người bình tĩnh đi lên đồn Phú Hài một cách bất ngờ trước khi đội quân giao ban chính thức của Pháp xuất phát. Lính trên đồn không hề nghi vấn mà còn nghiêm chào như mọi ngày. Tên chỉ huy đồn còn đang ngái ngủ. 

Múa bên tháp Pô Sha Inư.


Hay tin đội giao ban dưới chỉ huy sở lên hắn vội vã chạy ra đứng nghiêm chào các sĩ quan Pháp đóng giả của ta. Bất ngờ một người nổ súng làm tên Đồn trưởng đổ gục. Đó cũng là hiệu lệnh cho các chiến sĩ phục kích tấn công chớp nhoáng lên đồn. Những tên lính Pháp còn lại hoảng loạn đồng loạt giơ tay hàng. 

Đại đội trưởng Nguyễn Minh Châu đã cho lệnh bắt giữ tù binh Pháp và thu hồi vũ khí. Chỉ trong mươi phút quân đội ta đã chiếm lĩnh đồn Phú Hài và tạo nên thế trận đánh bật những toán lính Pháp đến tiếp ứng xuống chân đồi. Chiến thắng mang ý nghĩa lịch sử đầu tiên của quân và dân Bình Thuận. 

Nhà thơ La Văn Tuân cho tôi biết thêm về Đại đội trưởng chỉ huy trận đánh đồn Phú Hài ngày đó sau đã trở thành một vị tướng anh hùng quân đội. Đó là cố Thượng tướng Nguyễn Minh Châu (1921-1999). Ông tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn trong Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng 8-1945 và trưởng thành qua nhiều mặt trận. Đến năm 1974, ông được phong hàm Thiếu tướng và là tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Mặt trận giải phóng miền Nam. Ông được phong hàm Trung tướng (1981), rồi Thượng tướng (1986), giữ chức Tư lệnh quân khu 7 và còn là Trưởng đại diện Bộ quốc phòng tại phía Nam. Ông mất năm 1999 và được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2010). 

Người đánh trống 

Làn gió biển quét bụi tung đám đất đỏ của những người đang làm gạch đắp vào chân tháp. Nắng nghiêng nghiêng soi bóng tháp Pô Sah Inư đổ xuống chân đồi. Tiếng kèn tiếng trống rộn ràng vọng lên làm xáo động không gian như đang chín ửng trên từng viên gạch hồng. Lại một bài hát buồn mang hồn Chăm ngân vang. Tiếng trống cứ thắc thỏm trong từng bước chân chúng tôi. Chàng trai hát bài "Tôi đi tìm em" mỗi lúc một hụt hẫng trong tiếng trống ghi năng. 

Khi xuống tới chân đồi, chúng tôi gặp mấy nghệ nhân đang sửa trống. Họ vừa tập một tiết mục để chuẩn bị đón du khách vào tối nay. Tiếng trống được vỗ lên giữ nhịp cho dàn nhạc hòa tấu. Người nghệ nhân thả hồn trong bản nhạc tình ca. Bờ vai ông run run theo nhịp điệu mơ màng. Tiếng hát của chàng trai buồn tênh. Đó là nỗi niềm vấn vương đi tìm người yêu đã bỏ rơi chàng. Một bi kịch không khác gì câu chuyện của Pô Sah Inư. Tiếng trống nghẹn trong tay người nghệ sĩ như tiếng lòng thổn thức của nàng công chúa mong ước ngày chồng trở về. Nhưng mãi mãi vô vọng. Đó là một giấc mơ Chăm bất tử trên đồi Bà Nài đầy trăng.

Vương Tâm

Chuyện huyền bí về ngôi đền thiêng nổi tiếng xứ Nghệ

đăng 02:29, 30 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Vào năm 1990, đền Cuông được trùng tu một cách quy mô và năm 1995 lễ hội đền Cuông được tổ chức trở lại. Từ đây, lại xuất hiện nhiều lời đồn về sự linh thiêng của ngôi đền...

Nằm ở núi Mộ Dạ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, đền Cuông là ngôi đền cổ có lịch sử hình thành gắn với một giai thoại lạ về Thục Phán – An Dương Vương, người sáng lập nhà nước Âu Lạc trong lịch sử Việt Nam

 

Theo đó, vào năm 208 TCN, do mất cảnh giác, Thục An Dương Vương bị Triệu Đà đem quân bất ngờ tấn công, phải rút lui về phương Nam và tuẫn tiết tại Cửa Hiền, phía Bắc chân núi Mộ Dạ. Để tưởng nhớ Ngài, nhân dân vùng Diễn Châu đã lập miếu thờ ở Cửa Hiền. 

 

Theo truyền thuyết, sau ngày lập miếu thờ, mỗi khi màn đêm buông xuống lại có những đốm lửa lập lòe trên sườn núi Mộ Dạ. Các bậc cao niên trong vùng luận rằng, đó chính là linh hồn của vua Thục muốn yên ngự trên sườn núi.

 

Từ niềm tin đó, nhân dân trong vùng đã lập đền thờ và rước linh hồn Ngài về để thờ phụng. Đó chính là câu chuyện lịch sử về đền Cuông – ngôi đền thờ An Dương Vương trên núi Mộ Dạ

 

Trải qua thăng trầm lịch sử, đền Cuông đã có một thời gian dài bị rơi vào quên lãng. Đến năm 1990 đền được trùng tu một cách quy mô và năm 1995 lễ hội đền Cuông được tổ chức trở lại. Từ đây, lại xuất hiện nhiều lời đồn về sự linh thiêng của ngôi đền.

 

Đúng ngày khai mạc Lễ hội đền Cuông 1995, trong khi mọi người đang ngắm nhìn màn cưỡi ngựa diễu hành của một nông dân, thì bất ngờ một con hạc trắng hạ cánh trên tay người cưỡi ngựa. Giữa sự chứng kiến của hàng ngàn người, con hạc khoe dáng mà không hề tỏ ra sợ hãi.

 

Người ta tin rằng, con hạc trắng chính là hóa thân của Mỵ Châu - con gái An Dương Vương Thục Phán - về tham gia lễ hội cùng mọi người. Sau đó, hạc được rước vào đền, cho đậu ở một nơi trang trọng, có không gian thoáng để người người chiêm ngưỡng

 

Đúng một ngày sau khi lễ hội kết thúc, hạc cũng chết. Điều này càng khiến dân chúng tin rằng con hạc có mối liên hệ với câu chuyện cổ xưa về tấm lòng trong sạch và cái chết oan khốc của nàng Mỵ Châu

 

Sau khi tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia, hạc đã được mang ra Hà Nội để nhồi xác và sau đó được đưa vào lồng kính chuyển về trưng bày ở đền Cuông. Ngày nay, con hạc đã trở thành một linh vật, được nhiều người chiêm bái khi ghé thăm ngôi đền.

 

Tại lễ hội đền Cuông 1996, ở bờ biển Cửa Hiền phía sau đền, một con cá voi chết dạt vào bờ, ở nơi được cho là có miếu thờ An Dương Vương khi xưa. Dân chúng lại tin rằng chuyện này ứng nghiệm với truyền thuyết sau khi giết Mỵ Châu, An Dương Vương gieo mình xuống biển Cửa Hiền

 

Lễ an táng xác cá voi năm ấy có sự tham gia của hàng vạn người với những nghi thức trang trọng nhất. Ngày nay, nhiều du khách về tham quan đền Cuông cũng không quên ghé qua mộ cá voi thắp nén nhang, như để tưởng nhớ đến công ơn của vị vua năm xưa...

Chuyện về danh tướng Đào Nhã và di tích đình Đồng

đăng 05:46, 9 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đình Đồng thuộc thôn Đồng Xá Bắc, xã Đồng Cẩm (trước là xã Đồng Gia, Kim Thành) thờ danh tướng Đào Nhã - người có công đánh giặc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII. 

Cảnh quan của khu di tích đình Đồng 


Thôn Đồng Xá Bắc và Đồng Xá Nam hiện nay nguyên là làng Đồng Xá, tên nôm là Đồng - một làng cổ với thiết chế xã hội chặt chẽ. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, vùng đất này xưa là đất Phí Gia thuộc Trà Hương. Đời Lê Thánh Tông có tên là huyện Kim Thành (năm 1469) thuộc phủ Kinh Môn. Năm Minh Mệnh 14 (năm 1833) đổi thuộc phủ Kiến Thụy. Đầu thế kỷ XIX, Đồng Xá là một xã thuộc tổng Phí Gia, huyện Kim Thành, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, xã Đồng Xá chuyển thành thôn và sáp nhập với thôn Phí Gia, lập thành xã mới lấy tên là Đồng Gia. Năm 1990, do địa bàn rộng, dân số đông, thôn Đồng Xá tách thành hai thôn Đồng Xá Bắc và Đồng Xá Nam. Đình Đồng nằm tại thôn Đồng Xá Bắc, nhưng nhân dân địa phương vẫn gọi là đình Đồng theo tên nôm và di tích là công trình tín ngưỡng chung của hai thôn.

Di tích đình Đồng gắn liền với việc tôn thờ danh tướng Đào Nhã. Các tài liệu như sắc phong, câu đối, đại tự, bản thần tích do Nguyễn Bính soạn vào năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) cho biết: D­ưới triều vua Trần Nhân Tông (1279 - 1293), ở trang Thịnh Liệt, huyện Quế D­ương, phủ Thuận An, đạo Kinh Bắc có một gia đình họ Đào, tên húy là Hùng, vợ cũng là người bản quận, tên húy là Tuân, tiên tổ đều được vua phong chức tước. Hai ng­ười sống với nhau thuận hòa, lấy nghề làm thuốc để sinh sống, một điều thiện dù nhỏ cũng làm, điều ác dù bé cũng không, nổi tiếng là người không tơ hào điều lợi nên luôn được khen là gia đình tích thiện.

Sau đó, họ sinh đ­ược một người con trai thiên tư khác lạ, thể diện khôi ngô đặt tên là Đào Nhã và năm 7 tuổi cho đi học. Năm Đào Nhã 9 tuổi, cha mẹ đều đột ngột qua đời. Từ đó, Đào Nhã chăm chỉ việc hương hỏa phụng thờ cha mẹ. Khi Đào Nhã 16 tuổi đã học thành tài, văn võ song toàn.

Bỗng năm đó, giặc Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp dẫn thủy lục quân sang chiếm nước ta, vua sai đình thần đi khắp nơi tìm ngư­ời tài giúp nư­ớc. Khi được triệu vào triều, Trần Quốc Tuấn tâu với vua rằng: "N­ước ta giàu, quân ta mạnh, uy đức của bệ hạ ra đến tận ngoài nước, lòng ng­ười x­ương tủy gắn bó, lại đ­ược lòng trời sai nhiều nhân tài xuống giúp. Thần nghe nói có một ng­ười họ Đào tên Nhã văn võ toàn tài, anh hùng thao l­ược, trí dũng hơn người, thần sẽ triệu ngay người ấy đến, hỏi han và ban chức t­ước, giao cho quân sĩ đi tuần tra các đạo, lựa chọn t­ướng tài, phân chia đội ngũ, tiến đánh quân Nguyên, ngày kia có thể dẹp yên đ­ược”. Nhà vua nghe tin rất mừng cho ngư­ời gọi Nhã công đến, phong làm “Thống chế thủy đạo t­ướng quân” tuần phòng hai đạo Đông và Bắc.

Khi đến đất Hải Dương trời vừa tối, Đào Nhã cho quân đóng tại trang Đồng Xá, xã Lạc Thiện, tổng Phí Gia (nay là xã Đồng Cẩm, huyện Kim Thành) và dựng một đồn lớn để chống quân Nguyên. Vùng đất mà ngài quản binh trấn giữ có vị trí quan trọng nhằm chặn đánh trước sự tiến lui của giặc. Nơi đây có dòng sông Kinh Thầy chạy qua tiến về Vạn Kiếp - đại bản doanh của Trần Hưng Đạo. Và cũng từ đây ngược sông Kinh Thầy tiến về cửa biển Bạch Đằng. Nhận thấy vị trí, vai trò trọng yếu của địa bàn canh giữ, Đào Nhã không ngừng quy tụ dân binh trong vùng luyện tập võ nghệ… thanh thế ngày càng vang xa khắp vùng rộng lớn. Sau đó, ngài nhận đư­ợc lệnh của Trần Quốc Tuấn, kết hợp với các cánh quân khác đánh trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng. Do thế trận thuận lợi và ý chí quyết chiến quyết thắng của quân đội nhà Trần, trận Bạch Đằng đã toàn thắng.

Đất nư­ớc sạch bóng quân Nguyên Mông, vua hạ chiếu vời các t­ướng có công về triều ban thưởng. Đào Nhã phụng chiếu, lúc thuyền vừa ra khỏi sông Bạch Đằng về trung l­ưu, không may bị đắm và ông mất tại đó. Nghe tin ông mất, vua vô cùng th­ương tiếc, liền sai đình thần đến hành lễ, đồng thời truyền cho nhân dân lập miếu thờ, tặng phong “Đ­ương cảnh Thành hoàng”, giúp vua giữ nư­ớc, bảo vệ dân, xứng đáng là Trung đẳng Thần.
Do có công lao to lớn với nước, với dân, danh tướng Đào Nhã được nhân dân làng Đồng Xá thờ tự từ đó đến nay.

Theo các cụ cao tuổi trong làng, ban đầu đình Đồng có quy mô nhỏ. Trải qua thời gian, ngôi đình bị xuống cấp. Năm 1936, lý trưởng Bùi Thế Siêu đứng ra huy động tiền của và sức lực của nhân dân địa phương xây dựng lại, đến năm 1942 thì hoàn thành.

Đình có kiến trúc kiểu chữ Đinh gồm 5 gian đại bái và 2 gian hậu cung, tọa lạc trên một mảnh đất cao ráo, thoáng rộng. Cùng với đình, các công trình phụ trợ khác và hệ thống cây xanh cũng đang được xây dựng, quy hoạch tạo cho cảnh quan của khu di tích ngày một khang trang.

Việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của đình Đồng luôn được chính quyền và nhân dân quan tâm. Hằng năm, cứ đến ngày mùng 10 tháng giêng, nhân dân địa phương lại mở hội để tưởng nhớ công đức của danh tướng Đào Nhã. Trong lễ hội có rước kiệu quanh làng, qua cổng nhà thờ Thiên chúa, chùa Bùi, chùa Hưng Long, sau đó về đình tế lễ, tổ chức các hoạt động hội. Ngoài lễ hội chính, trong các ngày mùng 1 và 15 hằng tháng, nhân dân vào tổ chức thắp hương lễ thánh. Di tích là nơi hội họp của dân làng trong những ngày lễ, ngày Tết cũng như các hoạt động cộng đồng khác.

Kháng chiến chống thực dân Pháp (từ năm 1946 - 1954), di tích là địa điểm bầu cử Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hội nghị hiệp thương giữa hai làng Đồng Xá và Phí Gia, thống nhất lấy tên xã là Đồng Gia; là nơi tổ chức các lớp “Bình dân học vụ". Trong kháng chiến chống Mỹ, đình là trụ sở làm việc của UBND xã, đồng thời cũng là nơi tập trung tiễn đưa hàng trăm con em địa phương lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa, đình Đồng được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử năm 2010. 

ĐẶNG THU THƠM

Bốn người con còn sống sót của Nguyễn Trãi

đăng 01:09, 24 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Vụ án Lệ Chi Viên đã giết hại nhiều người trong gia đình, họ tộc Nguyễn Trãi. May mắn là vẫn còn những người sống sót. 

Nhà thờ dòng họ Nguyễn Trãi ở thôn Chi Ngãi, phường Cộng Hòa (Chí Linh). Ảnh: Thành Chung 


Họ đã phải phiêu tán khắp nơi, mai danh ẩn tích song vẫn duy trì được dòng tộc cho đến ngày nay.

Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi là người có đóng góp to lớn cho dân tộc, nhưng cũng chịu nỗi oan khuất đau xót nhất trong lịch sử. Vụ án xảy ra vào năm Nhâm Tuất (1442) khi vua Lê Thái Tông đi tuần thú miền Đông. Sau khi duyệt võ ở thành Chí Linh, nhà vua về Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi. Ngày 4.8 (âm lịch), trên đường về Thăng Long, vua Lê Thái Tông nghỉ tại ly cung Lệ Chi Viên, nay thuộc xã Đại Lai, huyện Gia Bình (Bắc Ninh). Đêm đó, nhà vua đột ngột băng hà. Triều đình đã khép Nguyễn Trãi vào tội sai vợ là Nguyễn Thị Lộ đầu độc giết vua và kết án tru di tam tộc. Ngày 16.8, Nguyễn Trãi và ba họ đã rơi đầu tại pháp trường Thăng Long.

Theo gia phả họ Nguyễn ở Chi Ngãi, phường Cộng Hòa (Chí Linh), Phương Quất (Kinh Môn) và gia phả ở Nhị Khê (Thường Tín, Hà Nội), thì Nguyễn Trãi có 5 bà vợ và 7 người con. Vợ cả là bà Trần Thị Thành sinh được 3 người con là Nguyễn Khuê, Nguyễn Ứng, Nguyễn Phù (tức Nguyễn Hồng Quý hay Hồng Quỳ). Vợ thứ hai họ Phùng (quê ở xã Nguyệt Áng, Thanh Trì, Hà Nội) sinh được 3 người con là Nguyễn Thị Trà, Nguyễn Bản, Nguyễn Tích. Vợ thứ ba là bà Nguyễn Thị Lộ (quê ở Hưng Hà, Thái Bình) không có con. Vợ thứ tư là bà Phạm Thị Mẫn (quê ở làng Nỗ Vệ, Thuỵ Phú, Phú Xuyên, Hà Nội) sinh được 1 người con là Nguyễn Anh Vũ. Vợ thứ năm là bà Lê Thị phu nhân (người làng Chi Ngãi, phường Cộng Hòa, Chí Linh) sinh được 1 người con là Nguyễn Năng Đoán.

Sau vụ án Lệ Chi Viên, nhiều người trong gia đình, họ tộc Nguyễn Trãi đã bị hành hình, có những người lánh nạn trốn án. Căn cứ vào các gia phả, kết hợp với kết quả khảo sát thực tế tại các chi họ Nguyễn, bước đầu xác định nhiều người trong gia đình Nguyễn Trãi còn sống sót. Ngoài một số anh em của Nguyễn Trãi, các gia phả ghi lại còn 2 trong tổng số 5 người vợ của ông thoát nạn là bà Phạm Thị Mẫn và Lê Thị phu nhân. Theo một số nhà nghiên cứu lịch sử, trong 7 người con của Nguyễn Trãi, còn 3 người con trai và 1 người con gái thoát nạn tru di. Người đầu tiên là Nguyễn Phù. Sau vụ án Lệ Chi Viên, Nguyễn Phù chạy về Phù Đàm (nay là Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh) ẩn tích, sau đó phát triển chi họ Nguyễn ở đó. Trong gia phả “Nguyễn Thị gia kê” viết đời Lê Chính Hòa năm thứ 17 (1698), trong phần dẫn tích trang 2 có ghi: “Họ ta trước ở xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, xứ Sơn Nam, sau do gặp đại biến con cháu phải chạy tản mát nhiều nơi. Một chi về sau cư trú ở nguyên quán xã Nhị Khê. Một chi về ở tại xã Phù Đàm, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc”.

Người con thứ 2 của Nguyễn Trãi sống sót là Nguyễn Anh Vũ. Khi vụ án Lệ Chi Viên xảy ra, bà Phạm Thị Mẫn (vợ thứ tư của Nguyễn Trãi) đang mang thai Nguyễn Anh Vũ tháng thứ ba. Bà được người học trò cũ của Nguyễn Trãi là Lê Đạt đưa vào trốn tại xứ Bồn Man (phía tây Thanh Hóa). Sau khi vụ án lắng xuống, bà về thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia nương náu, ẩn dật. Tại đây, bà sinh Nguyễn Anh Vũ. Để tránh sự truy sát của triều đình, Nguyễn Anh Vũ được đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông ban chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, kết thúc vụ án Lệ Chi Viên. Lúc này, Nguyễn Anh Vũ là đại diện duy nhất của gia tộc ra nhận chiếu chỉ của triều đình. Đồng thời, Nguyễn Anh Vũ được vua Lê Thánh Tông phong chức Đồng Tri phủ Tĩnh Gia, cấp cho 100 mẫu ruộng gọi là “miễn hoàn điền” (ruộng không phải trả lại) để con cháu đời đời phụng thờ, hương khói. Nhớ ơn cha ông tổ tiên, Nguyễn Anh Vũ xây dựng mộ Nguyễn Trãi tại làng Dự Quần, lấy ngày mất của Nguyễn Trãi (16.8 âm lịch) là ngày giỗ họ. Sau này, con cháu chuyển lấy ngày mất của Anh Vũ làm ngày giỗ họ.

Nguyễn Anh Vũ lấy 2 bà vợ sinh được 7 người con trai và 1 người con gái. Khi các con phương trưởng, ông cử các con về các nơi để phục hồi lại dòng họ ở Nhị Khê (Hà Nội), Chi Ngãi (Hải Dương), Thuỵ Phú (Phú Xuyên, Hà Nội) và hình thành, phát triển một số chi họ Nguyễn ở Hải Anh (Hải Hậu, Nam Định), Xuân Dục (Mỹ Hào, Hưng Yên), Dự Quần (Xuân Lâm, Tĩnh Gia, Thanh Hóa)...

Người con thứ ba của Nguyễn Trãi sống sót là Nguyễn Năng Đoán. Khi gia đình bị triều đình khép tội tru di, bà Lê Thị phu nhân đang mang thai tháng thứ ba. Bà bỏ chạy về Phương Quất (Kinh Môn), sinh con rồi đặt tên là Nguyễn Năng Đoán. Sau này, Nguyễn Năng Đoán đã phát triển thành nhiều chi họ Nguyễn ở Phương Quất, Quế Lĩnh (Kinh Môn), Triều Bến (Đông Triều, Quảng Ninh)…

Nguyễn Thị Đào là người con thứ tư và cũng là cô con gái duy nhất của Nguyễn Trãi sống sót. Theo công trình nghiên cứu của Trúc Khê về Nguyễn Trãi thì Nguyễn Thị Đào bị câm từ nhỏ. Khi gia biến, các phụ nữ trong nhà bị sung làm thiếp, nàng còn nhỏ và được một hoạn quan đưa về nuôi. Sau khi viên hoạn quan mất, Nguyễn Thị Đào lưu lạc giáo phường tự nhiên nói được, sau vào cung ca hát, được vua Lê Thánh Tông chiếu cố, phong làm Chiêu nghi trong cung.

Như vậy, sau vụ án Lệ Chi Viên năm 1442, nhiều người trong gia tộc Nguyễn Trãi thoát nạn. Nhờ sự che chở và đùm bọc của nhân dân nên những người con của Nguyễn Trãi đã sống sót, tạo dựng cơ nghiệp, sinh ra các đời con cháu. Với ý thức về tông tộc, cội nguồn, họ đã phân các con cháu đi các nơi khởi dựng lại dòng họ, lập từ đường để thờ cúng. Hơn 5 thế kỷ hồi sinh phát triển, dòng họ Nguyễn Trãi hiện đã trở thành một dòng họ lớn có mặt ở nhiều nơi và có nhiều đóng góp. 

BÌNH MINH

1-10 of 19