Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Bí ẩn những căn hầm dưới nền biệt thự cổ ở Hà Nam Những căn hầm dưới nền nhà các biệt thự ở làng Nha Xá (Hà Nam) tồn tại gần 100 năm qua. Cách Hà Nội khoảng 50 km, làng Nha Xá ...
    Được đăng 01:54, 13 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Truyền thuyết đá nổi Theo truyền thuyết, đồng đá nổi (Thoại Sơn) rộng lớn xưa kia từng xuất hiện hàng hà loại đá có hình thù đa dạng. Xen lẫn trong đó là nhiều ...
    Được đăng 01:41, 10 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Giai thoại thú vị về quá trình dựng đình Long Thái Đình Long Thái nằm trên địa bàn xóm 5, xã Thái Sơn, huyện Đô Lương. Đây là Di tích lịch sử - văn hóa được nhân dân địa phương và đông ...
    Được đăng 01:16, 9 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ngôi đền thiêng ở Thanh Chương với “chuyện lạ” thời chiến tranh Chúng tôi có dịp theo chân cụ Trần Văn Chắt (81 tuổi) - một cao niên của xóm Sơn Lĩnh, xã Thanh Lâm, huyện Thanh Chương vào thắp hương tại đền ...
    Được đăng 01:07, 9 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bảy Thưa một thời hào hùng Những ngày này, tại Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành (xã Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú) vô cùng náo nhiệt, đông đảo người dân từ khắp nơi trong và ...
    Được đăng 01:49, 1 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 17. Xem nội dung khác »


Bí ẩn những căn hầm dưới nền biệt thự cổ ở Hà Nam

đăng 01:54, 13 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Những căn hầm dưới nền nhà các biệt thự ở làng Nha Xá (Hà Nam) tồn tại gần 100 năm qua. 

Cách Hà Nội khoảng 50 km, làng Nha Xá (Duy Tiên, Hà Nam) nổi tiếng với nhiều biệt thự mang kiến trúc Pháp có tuổi đời gần 100 năm. Ngôi làng rợp bóng cây xanh xen lẫn nét cổ kính, nhuốm màu thời gian.

Theo nhiều người lớn tuổi sinh ra và lớn lên ở đây, những năm đầu thế kỷ 20 dân làng có cuộc sống khấm khá, phát đạt nhờ nghề dệt lụa và thương mại.

Các sản phẩm vải lụa được thương lái từ TP.HCM ra mua hoặc xuất sang nước ngoài. Nhiều thương nhân của làng còn mở đại lý kinh doanh khắp các tỉnh thành lớn.

Trong bối cảnh đó, hàng chục ngôi nhà, biệt thự khang trang mọc lên. Đến nay, cả làng còn hơn 20 ngôi nhà cổ. Trải qua thăng trầm của lịch sử, chúng vẫn giữ được nét đẹp vốn có.

Những căn biệt thự mang dáng dấp kiến trúc Pháp ở làng Nha Xá.


Ngôi làng còn khiến chúng tôi tò mò với những căn hầm chạy ngầm dưới nền một số căn nhà, chúng tồn tại từ thời kỳ Pháp thuộc, có diện tích 20 - 40 m2.

Năm tháng trôi qua, những căn hầm gần như bị lãng quên. Tuy nhiên, mục đích xuất hiện của chúng ít ai nắm được.

Căn hầm bí ẩn nằm dưới nền nhà của dân làng.


Để rồi phía sau những căn hầm tồn tại không ít những câu chuyện bí ẩn, lời đồn thổi.

Có người cho rằng, chúng từng chứa đựng nhiều kho báu, vàng bạc...

Theo chân một người dân trong làng, chúng tôi tìm gặp chủ nhân những căn nhà đặc biệt đó để xác thực.

Bà Phạm Thị Ngần (SN 1954 - Nha Xá, Duy Tiên, Hà Nam) cho biết, bố chồng bà là thương nhân Lê Cao Chẩm.

Vợ chồng bà Phạm Thị Ngần.


Năm 1930, cuộc sống của người dân còn khó khăn, thiếu thốn nhưng cụ Chẩm thuộc hàng giàu có, bề thế ở làng.

Ngoài vải lụa do vợ làm ra, cụ thu mua cả vải lụa của các hộ dân quanh vùng, xếp thành đống lớn, đống bé, chuyển vào Nam.

Năm 1943, cụ khởi công xây dựng căn biệt thự vườn trên tổng diện tích đất khoảng 300
m2. Biệt thự này xây theo lối kiến trúc 3 gian, lợp mái ngói âm dương, trần ốp bằng gỗ. Bên cạnh nhà chính là nhà phụ 2 tầng lầu.

Dấu tích biệt thự cổ của thương nhân Lê Cao Chẩm. Nhà chính đề năm xây nhà 1943.


Chủ nhà còn chú trọng đến phong thủy, sự hài hòa của ánh sáng tự nhiên, lưu lượng gió ở mỗi phòng để luôn bảo đảm nhà thoáng khí. 

Ngoài ra, cụ Chẩm cho thiết kế một căn hầm, sâu dưới lòng đất khoảng 6m, rộng 40
m2. Căn hầm này có là các thanh sắt lớn chống đỡ, sau đó mới đổ bê tông lên.

Thời điểm gia đình gặp biến cố, cụ dỡ bỏ phần tầng 2 của căn nhà 2 tầng, mang gạch bán lấy tiền trang trải cuộc sống.

Sau này, khi cụ Chẩm mất đi, các con tiếp tục dỡ nốt phần còn lại, lấy gạch mang bán, chỉ còn lại căn hầm.

Căn nhà khoanh đỏ được xây trên nền nhà cũ, có tầng hầm.


“Căn hầm đó có hai cửa xuống. Ngày nhỏ tôi qua đó chơi thấy trên nền đất vẫn còn cửa vào căn hầm.

Khi tôi về làm dâu, hai vợ chồng phá bỏ luôn tầng hầm. Đến năm 2001 chúng tôi mới xây nhà cấp bốn”, bà Ngần nhớ lại.

Bà Ngần chỉ cho phóng viên địa điểm cửa căn hầm trong nhà.


Theo người phụ nữ này, từ khi về đây ở cho đến khi dỡ bỏ căn hầm, bà chưa bao giờ nghe thấy người trong gia đình hoặc ai đó nhắc đến việc các căn hầm được chôn kho báu.

Thời điểm phá hầm, xây nhà, gia đình bà cho thợ đào móng, chôn cọc rất sâu, không hề thấy gia tài nào như đồn thổi.

"Tôi lấy chồng, gia cảnh ông nhà tôi cũng sa sút, khó khăn. Vài năm nay, các con đi làm, hai vợ chồng mới đỡ vất vả", người phụ nữ sinh năm 1954 giãi bày.

Bà chia sẻ thêm từng nghe mẹ ruột kể, những năm Pháp thuộc, một nhà trong làng có cô con gái đẹp nức tiếng. Giai đoạn loạn lạc, Tây đi càn quét, người này sợ con bị giặc xâm hại đã giấu con gái xuống đó. Tình hình yên ổn mới dám đưa con lên.

Thời kỳ giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, căn hầm trở thành nơi trú ẩn, tránh bom mỗi khi nghe tiếng kẻng báo động.

"Nhà hàng xóm tôi hiện nay cũng có căn hầm tương tự rộng 20
m2. Chủ nhân xa xưa của căn nhà là một phú nông", bà tiết lộ.

Được sự đồng ý của gia chủ, bà Ngần đưa phóng viên xuống căn hầm của nhà hàng xóm.


Người phụ nữ đang sinh sống trong căn nhà đó khoảng 30 tuổi. Gia đình chị mới lát lại nền đá, dự định làm kho chứa đồ.

Căn ngầm có hai tầng, mũi tền màu đỏ là ngăn thứ hai.


Thi thoảng trẻ con vẫn chui vào đó nghịch ngợm. Bản thân chị cũng không nắm rõ căn hầm đó sử dụng làm gì.

Nóc hầm có nhiều thanh sắt cỡ lớn.


Cận cảnh căn hầm được cho là chứa tài sản quý giá của gia đình phú hộ cách đây gần 1 thế kỷ.


Tạm biệt những người dân hiếu khách, chúng tôi ra về với nỗi băn khoăn chưa tìm được câu trả lời rõ ràng cho đến khi gặp ông Nguyễn Văn Thai (SN 1938 - chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi làng Nha Xá).

Ông Thai cho hay, phần lớn những căn nhà có hầm xưa kia đều thuộc sở hữu của lớp người giàu, có của ăn của để trong làng. Chủ nhân cũ của căn nhà đó thuộc hàng địa chủ trước đây.

“Ngày tôi còn bé, các cụ hay kể, trong vùng khi đó nổi lên một nhóm cướp. Dân làng nghe đến danh chúng xuất hiện là khiếp đảm. Tối đến cửa đóng, then cài, không dám đi đêm.

Các nhà giàu có nhiều hàng hóa và vàng bạc để trong nhà. Họ sợ bị nhóm này đến cướp nên đã xây những tầng hầm bí mật cất giữ của cải. Mỗi căn hầm có diện tích khác nhau, tùy số tài sản người đó có. 

Ngày đó, cửa hầm ít khi lộ thiên và thường được chủ nhà ngụy trang bằng bức tường hoặc cây cối”, ông Thai nói.

Trao đổi với VietNamNet, ông Lương Văn Hùng - Chủ tịch UBND xã Mộc Nam (Duy Tiên, Hà Nam), cho biết: "Theo một số tài liệu ghi chép, những năm đầu thế kỷ 20, đời sống người dân ở đây rất thịnh vượng nhờ phát triển thương nghiệp, buôn bán vải vóc. Nhiều biệt thự mang dáng dấp phương Tây ra đời trong thời kỳ này.

Các gia đình khá giả thường làm thêm một tầng hầm nhằm mục đích cất giữ tài sản, hàng hóa đắt tiền. Ví dụ như tơ chỉ - một nguyên liệu làm các tấm vải lụa được so sánh là có giá đắt ngang vàng.

Khi chiến tranh, giặc Mỹ ném bom, các căn hầm này trở thành nơi trú ẩn cho bà con dân làng. Hiện một số hộ đã phá dỡ, xây nhà mới, một số khác vẫn giữ lại làm kho...".

Thanh Tâm - Phùng Huy

Truyền thuyết đá nổi

đăng 01:41, 10 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Theo truyền thuyết, đồng đá nổi (Thoại Sơn) rộng lớn xưa kia từng xuất hiện hàng hà loại đá có hình thù đa dạng. Xen lẫn trong đó là nhiều câu chuyện về những tay “săn đá”, “săn vàng” với giấc mộng giàu sang. Cũng từ đó, hàng loạt câu chuyện kỳ bí xoay quanh đồng đá nổi cũng như miếu đá nổi được người dân lưu truyền đến nay. 

Ly kỳ chuyện lấy đá, “săn vàng” 

Người dân thờ cúng nhiều phiến đá trên đồng đá nổi ngày ấy 


Nằm lọt thỏm giữa vùng ruộng lúa mênh mông của xã Phú Thuận, đồng đá nổi xưa kia hiện hữu ở ấp Phú Tây - nơi duy nhất xuất hiện đá nổi. Và hiển nhiên, ngày nay trở thành một trong những điểm đến tâm linh nhất ở Thoại Sơn. Tìm về đồng đá nổi xưa kia, trước mắt chúng tôi chỉ toàn những mẫu ruộng còn thơm mùi lúa mới. Trưởng ban Quản lý di tích miếu Đá Nổi Văng Công Trạc chỉ tay về những ruộng lúa trước mặt giải thích: “Bây giờ không còn đá nổi trên những cánh đồng nữa. Trước đây, đá xuất hiện trên cánh đồng này nhiều lắm. Theo ông bà xưa thì đá nhiều không đếm xuể. Những viên đá to nhỏ, hình dạng khác nhau (tròn, dẹp, vuông…) như bàn tay con người tạo ra, thu hút sự hiếu kỳ của nhiều người. Thấy đá đẹp, nhiều người thích thú đem về nhà hoặc bán cho những “tay” săn cổ vật thời ấy. Nhưng không được bao lâu thì đá được người ta hoàn y chỗ cũ. Tất nhiên, đằng sau đó là những câu chuyện kỳ bí, khó lý giải. Được một thời gian, đồng đá nổi tự nhiên “biến mất” như cách nó xuất hiện - bí ẩn. Giờ, trên mảnh đất ấy, bà con nuôi cá, làm ruộng nhưng tuyệt nhiên không tìm được bất kỳ viên đá nào nữa. Chỉ còn sót số ít đá được tập trung trước sân miếu và thờ cúng ở miếu Đá Nổi ngày ấy là còn hiện hữu”. 

Đá nổi còn sót lại được chất ở sân miếu 


Ngồi giữa cánh đồng lộng gió, bóng cây xanh rợp mát, chúng tôi được nghe về những câu chuyện kỳ bí. Theo ông Trạc, gia đình ông nhiều đời đã gắn bó, quản lý miếu Đá Nổi nên hầu như chứng kiến nhiều chuyện lạ kỳ. Có người từng thích thú với phiến đá hình dáng như cái ghế ngồi trên đồng đá nổi xưa nên đã mang về nhà. Không bao lâu, người ta lại thấy người đó được người thân dìu đến miếu khấn vái trong tình trạng “sức tàn lực kiệt”, đồng thời trả lại đá đã lấy trước đây. Vừa quay lưng đi, ai cũng ngạc nhiên vì người này đã đi đứng được bình thường như chưa từng lâm bệnh. Cứ thế, hàng loạt câu chuyện kỳ bí được truyền tai... Hiện nay, đến đồng đá nổi hỏi người dân địa phương, ai cũng lắc đầu bảo rằng không dám lấy bất kỳ viên đá nào. Tương tự đá nổi, theo lời dân bản địa, cánh đồng đá nổi lúc xưa ngoài đá còn xen rất nhiều vàng. Điều này đã thu hút nhiều kẻ “săn vàng” tìm đến. “Số phận một số người tham gia cuộc đào vàng năm xưa (còn ở địa phương), nay cuộc sống không khá giả mà còn lâm cảnh nghèo túng” - ông Trạc chùn giọng. 

Miếu Đá Nổi thu hút khách thập phương 

Đương buổi ban trưa oi ả, cái nắng như thiêu đốt trên đầu mà miếu Đá Nổi cứ nhộn nhịp người viếng. Có điều vừa đặt chân đến miếu, không gian thoáng đãng, mát mẻ tràn ngập khắp nơi khiến lòng người dịu lại. Chúng tôi được Trưởng ban Quản lý miếu dẫn đi tham quan, giới thiệu khắp nơi. “Miếu này phải có từ cả trăm năm trước. Từ thời ông nội tôi đã thấy miếu này được lập bên cạnh cánh đồng đá nổi. Song, ngày đó, miếu chỉ được dựng đơn sơ bằng tre lá xập xệ. Sau này, được xây cất khang trang hơn với mái thiếc và cây kiên cố. Đến nay, đã nâng cấp chỉnh trang bằng tường vách vững chắc. Năm 2017, miếu Đá Nổi được Chủ tịch UBND tỉnh công nhận là Di tích khảo cổ cấp tỉnh. Mỗi năm, đến mùng 9, 10, 11 tháng 3 (âm lịch), hàng ngàn người từ khắp các nơi ồ ạt kéo đến miếu vái lạy, cúng viếng, nhộn nhịp cả cánh đồng thơ mộng” - ông Trạc cho biết. 

Cây “thạch đao” trong miếu Đá Nổi 


Miếu Đá Nổi thờ bà chúa và trăm quan (các vị thần). Ngoài miếu có nhiều miễu nhỏ thờ những phiến đá được mang về từ đồng đá nổi. Đặc biệt, có phiến đá hình dạng như cây đao được mọi người gọi là “thạch đao”. Ai đến miếu đều không quên vái lạy. Ông Văng Công Trạc chia sẻ thêm: “Lúc xưa, cây “thạch đao” này nằm trên đồng đá nổi. Một gia đình nhà nông phát hiện và tìm cách mang về nhà. Họ dùng sức 2 con trâu và 4 người đàn ông lực lưỡng nhưng không lay chuyển được. Nghe mách nước, họ lập bàn thờ cúng lạy. Sau đó, chỉ cần 2 người là có thể ôm được “thạch đao” về. Sau này, họ mang “thạch đao” đến miếu để thờ. Trước đây, mặt trước của “thạch đao” có khắc nhiều văn tự cổ, giờ bị mờ nhạt, gần như không còn. Tuy nhiên, người ta truyền tai rằng, ai “có duyên” sẽ nhìn thấy những chữ cổ ấy”. 

Đồng đá nổi một thời thu hút những kẻ săn đá, tìm vàng, giờ đây càng thu hút nhiều người tìm đến vì những câu chuyện huyền bí. Song, tất cả chỉ dừng lại ở niềm tin. Người ta đến chủ yếu để giải tỏa thắc mắc và thắp vài nén nhang thể hiện tấm lòng thành, cầu mong gia đạo bình an là chính. 

Bài, ảnh: PHƯƠNG LAN

Giai thoại thú vị về quá trình dựng đình Long Thái

đăng 01:16, 9 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đình Long Thái nằm trên địa bàn xóm 5, xã Thái Sơn, huyện Đô Lương. Đây là Di tích lịch sử - văn hóa được nhân dân địa phương và đông đảo du khách gần xa thường xuyên tìm đến chiêm bái, song ít người biết đến giai thoại thú vị về quá trình dựng nên ngôi đình này. 

Ngược dòng thời gian, khi nhà Mạc sụp đổ, Nguyễn Kim đưa Lê Trang Tông về triều, lập nên ngôi báu lấy niên hiệu là Nguyên Hòa. Lê Trang Tông tại vị được 16 năm (1533 - 1548), đến ngày 19/1 năm Mậu Thân thì mất. Tưởng nhớ ông, dân làng lập miếu thờ ở phía Nam làng Vĩnh Long (nay thuộc xã Thái Sơn). 

Đình Long Thái là công trình kiến trúc đồ sộ của người xưa để lại, đình gồm 6 vì, 24 cột bằng gỗ mít. Ảnh: Ngọc Phương 


Đất nước an bình, thần dân lo bề cày cấy làm ăn, mảnh đất làng Vĩnh Long ngày thêm thịnh vượng. Làng đã dựng lên một ngôi đình làm chốn hội hè, sinh hoạt văn hóa, gọi là đình Long Thái. 

Đình Long Thái xưa có 3 gian gỗ lim, tọa lạc ở vị trí thoáng mát, phía trước là ao cá, nối tới là cánh đồng làng. Sau đó, do điều kiện kinh tế - xã hội phát triển nên đình Long Thái đã được làm lại vào năm 1842, thuộc đời Vua Thiệu Trị năm thứ 2. 

Thời đó, có 18 bác Phó (chủ thợ mộc) tập trung về làng Vĩnh Long thề nguyện làm đình. Do có đến 18 người cùng muốn dồn tâm lực để làm đình nên làng đành phải chọn phương án bắt thăm để chọn lấy 1 người. Phiên bắt thăm hôm đó ai cũng hồi hộp. Cuối cùng, cụ Phó Lơn đã trúng thăm và được chủ trì làm đình. 

Chỉ trong vòng 1 tháng, việc “săn lùng” gỗ mít diễn ra ráo riết, thế rồi 24 cột gỗ mít thẳng tắp với đường kính trên 40 cm đã được hội tụ về để dựng đình. Đình được khởi công tháng 4/1842, đến tháng 8 cùng năm, gặp tiết trời mưa bão, sét đánh đúng ngay giữa bát hương. Dân làng cho đây là điềm gở, nên việc dựng đình hoãn lại, mãi đến gần 2 năm sau, tháng 6/1844 mới làm tiếp. 

Việc cắt ngắn cột và nới rộng mái đình nhằm tránh cho những người tế lễ bị ướt quần áo do mưa tạt vào. Ảnh: Ngọc Phương 


Sau khi đình được dựng xong, cụ Phó Đoan - một người chủ thợ mộc không bắt được thăm làm đình, đến xem thấy đình cao, mái ngắn, liền phán: “Quan viên ướt áo, Quan lão ướt quần..!”, ý muốn nói đình làm cao, mái ngắn, khi tế lễ gặp mưa sẽ tạt vào. 

Thấy cụ Phó Đoan nói đúng, ngay trong đêm đó, cụ Phó Lơn đã âm thầm cùng tổ thợ hạ dần đình xuống. Tất cả 24 cột gỗ mít mỗi cột dài 6,4m được cắt ngắn còn 5,7m. Việc cắt ngắn các cột đình được làm bí mật vì tổ thợ sợ làng phạt, 24 khúc gỗ đình bị cắt ngắn được cất giấu ở ao Khe và cầu Đồng Rao. Chuyện cắt ngắn cột đình được giấu bặt, những người thợ mãi đến cuối đời mới dám kể lại. 

Cùng với việc cột buộc phải cắt ngắn, mái đình Long Thái cũng được cụ Phó Lơn cho tổ thợ chắp kéo dài ra 40 cm nhằm tránh mưa tạt vào. Hàng trăm tấm gỗ đã được tổ thợ làm để ghép mái đình, như để cáo lỗi với dân làng, mỗi một đầu tấm gỗ gài vào mái đều được chạm trổ tinh vi, đề tài hoàn toàn khác nhau. 

Hàng năm đúng ngày 13 tháng Giêng, dân làng lại mang cỗ đến thắp hương nhân ngày lễ hội Đình Long Thái. Ảnh: Ngọc Phương 


Đến thăm đình Long Thái, mọi người đều thấy đây là một ngôi đình đồ sộ gồm 5 gian, chất liệu hoàn toàn bằng gỗ mít, với 24 cột. Đình được thiết kế theo kiểu cung - dục - oai bẩy - trông trụ với 20 chiếc bẩy được chạm trổ rất tinh vi. 

Bộ khung ngôi đình là một tác phẩm điêu khắc đồ sộ, độc đáo với các đề tài truyền thống phong phú. Các linh vật trên bờ nóc mái, bờ dải, hồi van, hệ thống xô, con kìm được thể hiện rất sắc sảo, tạo cho đình những đường cong mềm mại, uyển chuyển. Những nét hoa văn cầu kỳ, công phu, cách thể hiện nét to nhỏ, nét dày mỏng theo chủ ý của người thợ tài hoa đã đem lại sức sống và sự cuốn hút cho ngôi đình. 

Đến đây, du khách sẽ đi từ ngạc nhiên đến thán phục bởi sự hội tụ những tinh hoa tài trí của người xưa. Thông qua các mảng chạm khắc người xưa muốn gửi gắm, chuyển tải đến thế hệ mai sau những thông điệp về giá trị sống, giá trị nhân văn cao đẹp.

Ngọc Phương

Ngôi đền thiêng ở Thanh Chương với “chuyện lạ” thời chiến tranh

đăng 01:07, 9 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chúng tôi có dịp theo chân cụ Trần Văn Chắt (81 tuổi) - một cao niên của xóm Sơn Lĩnh, xã Thanh Lâm, huyện Thanh Chương vào thắp hương tại đền Phú Lĩnh và được nghe cụ kể những chuyện về ngôi đền thiêng “có một không hai” tại địa phương. 

Theo cụ Chắt, trong làng hiện không còn ai biết nguồn gốc hình thành của ngôi đền. Căn cứ vào các hoa văn, chữ viết lưu lại trên các kiện gỗ mà dân làng xác định đền thờ thiên tiên đức thánh Phú Lĩnh, ngôi đền được xây dựng vào đời Vua Thành Thái. Ngài có vị hiệu là Đức thánh Phú Lĩnh sơn dương tiền tiền kim triệu sắc phong tiền triệu sắc tặng. Đền hiện phối thờ 5 vị thiên tiên gồm: Bản cảnh Phú Lĩnh, cai trị Bản huyện phó tướng Quận công, Bản cảnh Cao Sơn, Bản cảnh Cao Các, Bản cảnh hậu vị Quan âm. 

Đền Phú Lĩnh tọa lạc trên ngọn núi cao, uy nghi giữa làng. Ảnh: Diệp Phương 


Sở dĩ, dân làng truyền nhau về ngôi đền thiêng bậc nhất tại địa phương và các vùng lân cận bởi lẽ mọi người đã tận mắt chứng kiến nhiều “chuyện lạ” xảy ra tại ngôi đền. Vào những năm 1960 - 1965, đế quốc Mỹ thả bom, bắn rocket dữ dội xuống làng, có lần rơi đúng vào giữa ngôi đền nhưng kỳ lạ thay quả bom nứt thành 2 nửa mà không nổ, dân làng không ai bị thương nên mọi người luôn biết ơn sự phù hộ độ trì của đức thánh Phú Lĩnh. Kể từ đó, đền trở thành nơi hương khói tâm linh của cư dân bản địa. 

Các cấu kiện gỗ chạm trổ tinh xảo bên trong đền Phú Lĩnh. Ảnh: Diệp Phương 


Trải qua hàng trăm năm tồn tại, những đạo sắc phong do triều đình phong tặng vẫn còn được lưu giữ tại đền. Nhìn chung ngôi đền vẫn vẹn nguyên, chỉ có một số kiện gỗ bị mai một do thời gian. 

Năm 2011, nhân dân cùng một số con em của làng đi làm ăn xa, có cuộc sống thành đạt đã góp công, góp của để tu sửa, dựng thêm ngôi nhà hạ phía trước đền, trang trí và xây tường gạch. Đầu năm 2018, dân làng tiếp tục xây dựng thêm khuôn viên đền, hình thành một quần thể tâm linh to đẹp giữa làng. 

Các kiện gỗ và hoa văn chạm trổ vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Ảnh: Diệp Phương 


Trong những ngày đầu Xuân, lượng du khách và phật tử ở khắp mọi miền Tổ quốc về đền Phú Lĩnh lúc nào cũng đông đúc. Người đi đền cũng không sắp lễ nhiều như ở những đền khác mà chỉ giản dị chút tiền vàng, hoa, trầu cau đựng trong một chiếc khay nhỏ, lễ mọn lòng thành dâng lên các bậc thiên tiên cầu cho quốc thái dân an, gia đạo dồi dào sức khỏe, công việc may mắn, hanh thông. 

Ngôi đền được dân làng trang trí đẹp mắt. Ảnh: Diệp Phương 


Diệp Phương

Bảy Thưa một thời hào hùng

đăng 01:49, 1 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Những ngày này, tại Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành (xã Thạnh Mỹ Tây, Châu Phú) vô cùng náo nhiệt, đông đảo người dân từ khắp nơi trong và ngoài tỉnh tề tựu về vùng đất Láng Linh để tưởng nhớ một thời hào hùng của cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa do Quản cơ Trần Văn Thành chỉ huy chống Pháp.

Hào khí Nghĩa binh Gia Nghị 

Ca dao Nam bộ có câu “Chiều chiều lại nhớ chiều chiều/Nhớ người áo trắng, khăn điều vắt vai”, nhiều người cho rằng, hình ảnh “người áo trắng” là nói đến Trần Văn Thành- một chí sĩ yêu nước, một trong những thủ lĩnh tiêu biểu của phong trào kháng Pháp ở Tây Nam Bộ giai đoạn gần cuối thế kỷ thứ XIX. Áo trắng và khăn điều là y phục đặc trưng của những tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và là quân phục của Nghĩa binh Gia Nghị do Quản cơ Trần Văn Thành chỉ huy lúc bấy giờ. Trần Văn Thành sinh năm 1818 trong một gia đình nông dân tại ấp Bình Phú, làng Bình Thạnh Đông, Tổng An Lương, quận Châu Phú Hạ, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc xã Phú Bình, Phú Tân). Năm 1840, ông gia nhập quân đội triều Nguyễn, nhờ giỏi võ nghệ, có chữ nghĩa và tài chỉ huy, ông được phong làm suất đội, chỉ huy 50 binh lính. Giai đoạn này, ông lập nhiều công trận, giữ yên bờ cõi, bảo vệ biên giới, trấn áp các cuộc nổi loạn nên được thăng chức Quản cơ, chỉ huy 500 quân sĩ, đồn trú trong địa phận tỉnh An Giang. 

Tượng Quản cơ Trần Văn Thành tại thị trấn Cái Dầu (Châu Phú) 


Tháng 6-1867, khi quân Pháp chiếm An Giang, với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường, Trần Văn Thành tổ chức nghĩa quân cùng nhân dân đứng lên chống quân xâm lược. Đầu năm 1868, Trần Văn Thành xây dựng căn cứ Láng Linh - Bảy Thưa, đây là vùng đất do ông và tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương khai hoang. Căn cứ Láng Linh - Bãi Thưa được xây dựng dựa vào thế đất hiểm trở, có hệ thống đồn phòng thủ xung quanh, tạo thế liên hoàn và có cả hệ thống rèn đúc, sản xuất vũ khí tại chỗ. 

Năm 1872, Trần Văn Thành phất cờ khởi nghĩa, lấy hiệu “Binh Gia Nghị” tuyên bố chống Pháp. Sau nhiều lần tấn công, chiêu dụ Trần Văn Thành không thành công, với sự giúp sức của nhiều tên Việt gian, ngày 19-3-1873 (nhằm 20-2 âm lịch năm Quý Dậu), quân Pháp tổ chức tổng tấn công căn cứ Bảy Thưa. Sau 1 ngày cầm cự, trước hỏa lực mạnh của Pháp, căn cứ Bảy Thưa thất thủ, Trần Văn Thành kịp ra lệnh cho các nghĩa binh và gia đình rút lui, tránh được tổn thất lớn lao. Riêng ông bị mất tích, có lẽ đã hy sinh trên đường rút lui. Tưởng nhớ công lao khai hoang, phục hóa và chống giặc ngoại xâm của Quản cơ Trần Văn Thành, nhân dân Châu Phú đã lập đền thờ ông tại trại ruộng Láng Linh. Năm 1986, Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích văn hóa - lịch sử cấp quốc gia. 

Tiếp nối tinh thần yêu nước 

Tuy Quản cơ Trần Văn Thành đã ra đi và cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa thất bại nhưng tiếng vang về lòng yêu nước của Nghĩa binh Gia Nghị ngày ấy vẫn sống mãi. Đối với người dân Châu Phú, cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa do Quản cơ Trần Văn Thành khởi xướng và chỉ huy mãi là niềm tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm, là mốc son quan trọng khơi dậy tinh thần yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau. Tiếp nối tinh thần yêu nước của thế hệ cha anh, trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Châu Phú một lòng chống giặc, kiên cường, bất khuất, vượt qua muôn vàn gian khổ, không tiếc hy sinh xương máu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Ghi nhận những đóng góp to lớn ấy, ngày 28-5-2010, huyện Châu Phú đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”.

Lễ kỷ niệm ngày Quản cơ Trần Văn Thành chống Pháp hy sinh và cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa được tổ chức hàng năm 


Thời bình, nhân dân Châu Phú tiếp tục ra sức thi đua xây dựng và phát triển quê hương thông qua những mô hình hay, cách làm tốt để phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, nhờ đó đời sống vật chất và tinh thần của người dân tăng dần qua các năm. Năm 2018, thu nhập bình quân đầu người của huyện đạt 44 triệu đồng/người/năm; giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân 1ha đạt 169 triệu đồng/năm; sản lượng lương thực đạt 573.672 tấn. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đến nay, Châu Phú đã có 6/12 xã đạt chuẩn. 

Phó Chủ tịch UBND huyện Châu Phú Nguyễn Văn Bé Tám chia sẻ: “Để nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau tiếp nối, phát huy truyền thống yêu nước, ra sức xây dựng quê hương, năm 2003, nhân kỷ niệm 130 năm ngày Quản cơ Trần Văn Thành chống pháp hy sinh, huyện Châu Phú đã quyết định chọn ngày 21-2 (âm lịch) hàng năm tổ chức Lễ hội văn hóa truyền thống của huyện. Năm nay là lần thứ XVII huyện Châu Phú tổ chức lễ hội văn hóa truyền thống, kỷ niệm 146 năm ngày Quản cơ Trần Văn Thành chống Pháp hy sinh và cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa. Nhằm tạo không khí náo nhiệt, sôi nổi phục vụ người dân trong và ngoài địa phương đến viếng Quản cơ Trần Văn Thành, bên cạnh phần lễ chính ôn lại khí thế hào hùng của cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, trong khuôn khổ lễ hội còn có nhiều hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao, trò chơi dân gian, hội thi bon-sai…”. 

MỸ LINH

Bảo tháp tổ sư Nguyên Thiều-Siêu Bạch &Tổ đình Quốc Ân Kim Cang ở Đồng Nai

đăng 06:53, 23 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tổ đình Quốc Ân Kim Cang là ngôi chùa cổ do Tổ sư Nguyên Thiều húy Siêu Bạch khai sơn cách đây hơn 300 năm vào thế kỷ XVII, năm Chánh Hòa thứ 19 (1698) đời chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu, tọa lạc ấp Bình Thảo, xã Bình Phước, dinh Trấn Biên. Ngày nay thuộc ấp Bình Lục, xã Tân Bình, H.Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. 


Hiện nay chùa xưa chỉ còn lưu dấu nền Tổ đình và hai tháp cổ. 

1. Bảo tháp của Tổ Sư Nguyên Thiều húy Siêu Bạch: 

Theo năm tháng bảo tháp tuy bị xuống cấp nhưng vẫn còn dáng vẻ uy nghi và đồ sộ với: 
  • Mộ bia: bằng đá xanh. Trên mặt bia có khắc 3 hàng chữ Nho, phiên âm như sau: * Hàng chính giữa: Quốc Ân Kim Cang đường thượng, tam thập tam thế, húy Siêu Bạch Quán Bích Hòa thượng Tổ sư chi tháp; * Hai hàng hai bên: Phổ Quang tự Yết ma Chủ hương; - Hội Khánh tự Giáo thọ Thiền chủ lập thạch; - Sắc tứ Từ Ân tự Hòa thượng Pháp sư; Chứng minh lịnh - Long Thạnh tự Hòa thượng; - Đức Sơn tự Hòa thượng; - Hưng Long tự Hòa thượng; Chư sơn đồng tạo.
  • Tháp Tổ: hình lục giác cao ba tầng, chiều cao từ mặt đất lên đến đỉnh tháp là 5,2m. Tháp dựng trên nền xây đá xanh hình chữ nhật, ngang 3m, dài 4m, cao 0,8m… - Mặt trước là bia tháp: khắc nổi trên ô dước với 3 hàng chữ Nho, gồm: dòng giữa ghi: Quốc Ân Kim Cang đường thượng, tam thập tam thế, húy Siêu Bạch Quán Bích Tổ sư chi tháp; dòng bên mặt ghi: Tuế tại Kỷ Dậu niên, mạnh Thu, cát nhựt, hiệp chư sơn thiền đức đồng tái tạo; dòng bên trái ghi: Thập ngoạt, thập cửu nhựt viên tịch.

HT.Thích Minh Chánh bên cạnh bảo tháp Tổ sư


2. Tháp Phổ Đồng

Tương truyền đây là tháp của công chúa Ngọc Vạn, con của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, bà là vợ vua Chân Lạp Chey Chetta II, là người có công hộ trì Phật pháp và ủng hộ việc xây dựng Tổ đình Quốc Ân Kim Cang lúc bấy giờ. 

Sau khi chùa bị giặc Pháp đốt và lấy đi nhiều bảo tượng quý và đại hồng chung, một số cổ vật còn lại được chư Tăng chuyển về tôn trí ở Kim Long cổ tự gồm: - Tượng Đức Chuẩn Đề bằng đồng; - Long vị của Đại lão Hòa thượng Minh Vật-Nhất Tri là vị trụ trì kế tiếp Tổ sư ở Tổ đình Quốc Ân Kim Cang, viên tịch ngày 10-10 năm Bính Ngọ (1786); - Tiểu hồng chung trên có khắc chữ “Kim Cang tự”; - Thánh tượng Địa Tạng Vương Bồ tát cỡi con đề thính bằng gỗ. 

Bảo tháp của Tổ sư và Tổ đình Quốc Ân Kim Cang là một di tích lịch sử Phật giáo rất quan trọng, đánh dấu công lao to lớn của Tổ sư hoằng hóa ở đất phương Nam nhưng từ lâu bị bỏ hoang phế… Hữu duyên thay cho hàng hậu học, năm 1988, TT.Thích Minh Lượng, trụ trì Kim Long cổ tự được nhân dân phát hoang báo tin có tháp cổ của chùa, ngay sau đó thầy cùng chư Tăng đến dọn dẹp, cạo mối, chùi rửa và nhà nghiên cứu Nguyễn Hiền Đức, tác giả quyển Lịch sử Phật giáo Đàng Trong đã đến sưu tầm cùng quý cụ đồ nho giúp đọc văn bia, mới phát hiện là bảo tháp của Tổ sư… Kế đó được cố Đại lão Hòa thượng Thích Huệ Thành, Phó Pháp chủ, nguyên Trưởng ban Trị sự THPG Đồng Nai, làm lễ chứng minh, nguyện hương cho công cuộc trùng tu ngôi bảo tháp của Tổ sư. 

Và mãi cho đến 20 năm sau, HT. Thích Minh Chánh, Thành viên HĐCM GHPGVN, Trưởng ban Trị sự THPG Đồng Nai, trụ trì chùa Giác Minh mới đủ túc duyên phát nguyện xây dựng và trùng tu ngôi Tổ đình. Nhân đây, Hòa thượng Trưởng ban và Ban Kiến thiết Tổ đình xin tán thán công đức của chư tôn giáo phẩm, chính quyền địa phương đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện đền bù, cấp phép xây dựng trùng tu và hai Phật tử Tâm Lộc và Diệu Hương đã phát tâm cúng dường tài thí (số tiền hơn 1,1 tỷ đồng) để đền bù giải tỏa trên khuôn viên chùa có được 4.609 
 m2. 

Ngày 19-10 Mậu Tý (16-11-2008), tại bảo tháp Tổ sư và trên nền chùa xưa, Ban Trị sự THPG Đồng Nai hân hoan cung đón chư vị tôn đức giáo phẩm và chính quyền địa phương cùng đông đảo Tăng Ni, Phật tử trong vùng đến dự lễ húy kỵ Tổ sư khai sơn và lễ đặt đá trùng tu Tổ đình Quốc Ân Kim Cang…

Bài, ảnh: PHÁP TUỆ

Huyền thoại heo rừng Bảy Núi

đăng 07:11, 20 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Bảy Núi xưa vốn là “giang sơn” của muôn thú, với rừng rậm âm u và nhiều loài đã trở thành một phần lịch sử của vùng đất này. Trong ngày xuân Kỷ Hợi, những huyền thoại linh thiêng thường được các bậc cao niên mang ra kể cho con, cháu nghe bên ly trà thơm, nhất là chuyện về loài heo rừng Bảy Núi.

Đi tìm huyền thoại 

Từ sự chỉ dẫn của những người bạn “thổ địa” tại Tịnh Biên, tôi đi tìm huyền thoại về loài heo rừng Bảy Núi. Theo người dân địa phương, heo rừng ngày trước chỉ tập trung ở một vài ngọn núi, nhiều nhất là núi Phú Cường, núi Dài Năm Giếng và núi Cấm. Tuy nhiên, những bậc cao niên sống quanh chân núi hầu như không nhớ nhiều về loài vật huyền thoại này, chỉ loáng thoáng nghe qua lời kể của người đi trước. Tuy nhiên, tôi may mắn được gặp ông Đào Tấn Sỹ (Ba Sỹ), một chiến sĩ cách mạng hoạt động thời chống Mỹ. Từng làm nhiệm vụ “đi thư” cho các đơn vị đóng trên địa bàn Bảy Núi, nên dấu chân ông ngang dọc khắp mấy chục ngọn núi trong vùng, vì vậy, chuyện chạm mặt heo rừng “như cơm bữa”. 

Ông Đào Tấn Sỹ kể chuyện về loài heo rừng 


“Thời chống Mỹ, loài heo rừng còn rất nhiều, nhất là khu vực Ô Tà Bang dưới chân núi Dài Năm Giếng. Những lần “đi thư”, tôi gặp heo rừng đi thành từng đàn hàng chục, thậm chí hàng trăm con. Người xưa nói rằng, heo rừng đặt dưới sự quản lý của Ông Chuồng, Bà Chuồng. Ban ngày, heo đi kiếm ăn, tối đến nghe tiếng Ông Chuồng, Bà Chuồng kêu thì chạy về ngủ. Mà cũng lạ, chính tôi cũng từng nghe tiếng người kêu heo “ột ột” vang cả núi rừng, sau đó heo chạy về ào ào như thác khiến mình một phen hú vía” - Ba Sỹ nhớ lại. 

Nhấp ly trà, Ba Sỹ mô tả cho tôi nghe về đặc tính loài heo rừng Bảy Núi. “Chúng có hình dáng thon dài, lông đen trùi trũi, mắt trừng trừng rất hung dữ. Lông gáy của chúng dài và thường xù lên khi gặp kẻ thù hoặc khi cảm thấy bị đe dọa. Bản thân tôi chạm trán heo rừng nhiều lần, bởi mình cũng sống trên rừng như chúng. Người ta thì nghe kể lại, còn tôi mắt thấy, tay đụng vô con heo rừng nên dám khẳng định những điều đã nói” - ông Ba Sỹ khẳng khái. 

“Chạm vào” huyền thoại 

Cuộc gặp gỡ với Ba Sỹ đã cho tôi cơ hội tìm hiểu rất nhiều về loài heo rừng, nhất là huyền thoại xoay quanh chúng. Như đã nói ở trên, heo rừng lẫn heo nhà đều thuộc quyền cai quản của Ông Chuồng, Bà Chuồng nên người dân thường cúng vái 2 vị thần này mỗi khi heo nuôi trong nhà đau yếu. Tuy nhiên, với loài phá phách như heo rừng thì chúng thường xuyên xuống giẫm rẫy của người dân. Khi đó, nếu ai lỡ miệng chửi mắng chúng thì lần sau cả đàn sẽ quay lại “trả thù” bằng cách phá phách dữ hơn. “Lúc đó, người ta vái Ông Chuồng, Bà Chuồng đừng cho heo xuống phá nữa thì tự dưng chúng đi mất, không bao giờ trở lại. Tôi cũng “ngang” lắm nhưng thật tình có thấy chuyện này. Còn nhớ lần đi công tác trên núi Dài Năm Giếng, khi đi ngang đám cỏ tranh cao quá đầu người, tôi vô tình giẫm phải một con heo rừng nái đang nằm cho con bú. Con heo đau quá tốc bỏ chạy rầm rầm như cọp chạy. Còn tôi ngã lăn ra và một phen hết hồn, bởi từ nào giờ ít thấy con heo nào lớn như vậy. Nếu lúc đó nó quay lại tấn công thì nguy hiểm vô cùng” - Ba Sỹ nhớ lại. 

Khi chúng tôi hỏi về tác dụng “thần kỳ” của chiếc nanh heo rừng, Ba Sỹ cho rằng, đó là quan điểm dân gian nên khó xác định đúng hay sai. Tuy nhiên, cuộc đời cầm súng chiến đấu khắp vùng Bảy Núi đã giúp ông hiểu được những điều kỳ lạ về chiếc nanh của chúng. “Người ta quan niệm nanh heo rừng nếu đeo lên người sẽ xua đuổi được tà ma nhưng đó là truyền miệng dân gian. Còn tôi thấy rằng, những con heo rừng chết rủ (chết già) thì nanh của nó rất đặc biệt. Hồi đó, anh em trong căn cứ nói với nhau, chỗ nào có nanh heo rừng chết rủ thì khi có đám cháy ở đó, chiếc nanh heo sẽ không cháy và cỏ xung quanh nó vẫn xanh tốt. Thực tế, tôi có lần nhìn thấy hiện tượng này nhưng thời bom đạn ác liệt, mình lo cầm súng chiến đấu, chứ đâu có thời gian đi kiếm nanh heo rừng!” - Ba Sỹ cười hiền.

Heo rừng Bảy Núi xuất hiện trong nhiều huyền thoại 


Trong ký ức, Ba Sỹ vẫn còn in rõ câu chuyện về con heo rừng “vua” ở khu vực Ô Tà Bang. Gọi là “vua” vì nó rất to, có thể đứng ngang ngực người lớn và đặc biệt là chỉ có 3 chân. Lý giải cho việc con heo chỉ có 3 chân, Ba Sỹ kể rằng, do khi dính bẫy của thợ săn nó đã cắn bỏ 1 chân trước để thoát thân. “Dù chỉ có 3 chân nhưng nó chạy nhanh như gió nên không ai bắt được. Mới nghe hơi người cách đó trăm thước, con heo này đã lủi mất nên anh em rình bắn hoài không được. Với lại, nhìn hình thù của nó ai cũng ngán nên con heo cứ ngang dọc khắp núi rừng. Chỉ cần nghe nó “khẹc” là mình đã “ớn”, làm gì còn bình tĩnh mà bắt. Sau ngày giải phóng, tôi không nghe ai nhắc đến con heo này nữa, dù thỉnh thoảng vẫn có anh em mang biếu tôi ít thịt heo rừng”- Ba Sỹ thật tình. 

Chuyện săn heo rừng 

Theo lời Ba Sỹ, những ngày còn “lấy rừng núi làm nhà”, ông và những anh em khác cũng đi săn heo rừng để tẩm bổ, vì thời đó chuyện ăn uống thiếu thốn vô cùng. Với những người chiến sĩ cách mạng, thịt heo rừng là món quà quý của núi rừng nhưng không phải lúc nào cũng bắt được mà ăn. “Mắt tôi nhìn thấy heo rừng nhưng không thể giương súng bắn vì nếu mình bóp cò, chốc lát, địch đóng ở cao điểm trên đỉnh núi sẽ nã đạn M79 xuống ngay. Do đó, anh em chọn cách bắt sống để an toàn. Đa phần sẽ dùng bẫy hoặc tay không. Việc dùng tay không chỉ áp dụng trong trường hợp may mắn, khi con heo mê đào củ mài, củ từ rừng mà không để ý xung quanh. Tuy nhiên, cách này vất vả lắm”- Ba Sỹ thật tình. 

Ba Sỹ cho biết, heo rừng rất thích ăn củ từ rừng nhưng loại này gai góc rất nhiều, có thể đâm trổ giày đinh. Do đó, quân địch ngày xưa rất sợ càn vô đám từ rừng vì chúng biết đó là bãi chông tự nhiên. Có điều, heo rừng mê loại củ đó nên muốn bắt chúng thì phải rình theo mấy đám từ rừng. “Do củ nằm sâu dưới đất nên con heo đào xuống cả nửa thước. Đợi nó “lúc nửa con” xuống đất, mình đi êm êm lại rồi bất thình lình nhận đầu nó xuống, một người khác sẽ lấy dây cột chân heo lại. Nói vậy chứ ít khi bắt dính vì con heo rừng 50-60kg mà giẫy thì thanh niên đôi mươi cũng phải bật ngửa. Bởi vậy, anh em tôi ngày đó chủ yếu làm bẫy cò ke” - Ba Sỹ nhớ lại. 

Bẫy cò ke được Ba Sỹ và những anh em khác làm bằng dây lấy ra từ ruột trái pháo sáng của quân địch. Sau đó, người ta chọn những nhánh cây chắc chắn rồi buộc một đầu dây vào đó để gài bẫy. Về cơ bản, loại này giống như chiếc thòng lọng nằm sát đất. Khi heo đi ngang, bẫy giật lên sẽ buộc vào thân chúng. Tuy nhiên, khi dính bẫy con heo vẫn chống cự quyết liệt nên việc hạ được nó cũng là công đoạn khó khăn. 

Bây giờ, Ba Sỹ đã 77 tuổi đời và gần 60 năm tuổi Đảng. Với ông, niềm vui lớn nhất là được thấy mảnh đất Bảy Núi bom đạn cày xới năm xưa chuyển mình đổi mới. Và, ông sẽ tiếp tục mang những câu chuyện thú vị của thời kháng chiến, trong đó có loài heo rừng Bảy Núi, kể lại cho cháu con nghe trong những ngày Tết đến, xuân về. 

THANH TIẾN

Huyền bí lăng mộ võ tướng nuốt chửng mắt mình khi đánh giặc

đăng 03:31, 12 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Quận công Võ Tá Sắt là một vĩ võ tướng trứ danh ở đất Hà Tĩnh. Xung quanh sự nghiệp của ông có một giai thoại rất kỳ lạ.

Toàn cảnh lăng mộ Quận công Võ Tá Sắt ở xã Thạch Liên, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Theo sử sách, Quận công Võ Tá Sắt tên thật là Võ Tá Kế (húy là Khanh) con thứ 4 của Tăng Lộc Hầu, năm 14 tuổi học tại Quốc Tử Giám

 

Ông làm quan vào thời kỳ nửa đầu thế kỷ XVIII, khi đất nước có nhiều diễn biến phức tạp, quyền tối cao nhất của vua Lê tập trung vào chúa Trịnh, nạn kiêu binh và các thủ lĩnh ở các địa phương nổi lên

 

Vì là ấm sinh xuất thân nên Võ Tá Sắt được bổ làm quan với chức quản binh, nhiều lần phụng chỉ đi đánh giặc lập công, được vua Lê, chúa Trịnh tin dùng

 

Theo tư liệu dân gian, khi làm chức Tổng trấn Sơn Nam (vùng Hà Nam ngày nay) trong một lần dẫn quân đánh nhau với quân phản loạn Nguyễn Hữu Cầu, ông bị một viên đạn bắn vào mắt làm bật con ngươi ra ngoài…

 

Không chút chần chừ, ông đã dứt con ngươi ấy bỏ vào mồm nuốt chửng rồi lại thúc quân tả xung hữu đột đánh giặc.

 

Vì thế, người thời ấy đều phục ông dũng cảm, mến mộ gọi là Sắt – Võ Tá Sắt

 

Với chiến tích của mình, ông cũng được triều đình ban tặng tước Quận Công

 

Sau khi mất, ông được táng tại Cầu Già, thuộc xóm Đông, xã Thạch Liên

 

hững năm gần đây, khu lăng mộ cổ của ông đã được xây cất lại uy nghiêm và rất bề thế. (Bài có sử dụng tư liệu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh)

 

Một số hình ảnh khác về lăng mộ Quận công Võ Tá Sắt

 

 

 

Sự tích huyền bí ngôi chùa lớn nhất thế giới ở Việt Nam

đăng 00:28, 6 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Tam Chúc - ngôi chùa lớn nhất thế giới ở Việt Nam - được xây bên một ngôi chùa cổ cùng tên, gắn với truyền thuyết “Tiền Lục nhạc - hậu Thất Tinh” huyền bí. 

Chùa Tam Chúc - ngôi chùa lớn nhất thế giới ở Việt Nam - được xây dựng bên cạnh ngôi chùa cổ cùng tên ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Ảnh: Cattour.vn

 

Theo sử sách, chùa Tam Chúc cổ được xây dựng từ thời nhà Đinh, gắn với truyền thuyết “Tiền Lục nhạc - hậu Thất Tinh”. Ảnh: Báo Tin Tức

 

Truyền thuyết kể lại rằng: Ngày xửa ngày xưa, vùng đất này rừng núi trập trùng, trên dãy núi đó có 99 ngọn, nằm ở phía Tây Nam hướng về động Hương Tích (chùa Hương), trong đó có 7 ngọn núi gần làng Tam Chúc. Ảnh: Báo Lao Động

 

Trước đây, cả 7 ngọn núi này đều xuất hiện những đốm sáng lớn tựa như 7 ngôi sao, sáng suốt đêm ngày. Ánh sáng lung linh từ trên cao rọi xuống một vùng rộng lớn, dân làng gọi đó là núi Thất Tinh (nghĩa là 7 ngôi sao). Ảnh: VTC

 

Trên núi có một ngôi chùa cổ kính, cũng mang tên của ngọn núi, là chùa Thất Tinh. Ảnh: Zing

Một ngày nọ, có người đã đến núi Thất Tinh đục đẽo, hòng lấy đi 7 ngôi sao sáng nhất. Họ chất củi thành đống lớn và đốt. Ảnh: VietnamBiz

 

ửa cháy nhiều ngày khiến cho 4 ngôi sao sáng nhất bị mờ dần, mờ dần và cuối cùng chỉ còn lại ba ngôi sao không tắt. Ảnh: Báo Lao Động

 

Vì thế, chùa Thất Tinh sau này được đổi thành chùa Ba Sao (chùa Tam Chúc cổ) và thị trấn Ba Sao ngày nay cũng được lấy tên gọi từ tích ấy. Ảnh: Zing


T.B (tổng hợp)

Điều ít biết về nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn

đăng 00:40, 22 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:29, 2 thg 2, 2019 ]

Di tích Ngọa Vân ngày nay là một quần thể chùa tháp lớn được bố trí thành 3 lớp trên núi Bảo Đài. Lớp thấp nhất là 15 di tích dưới chân núi như: khu rừng già Tàn Lọng, Phủ Am Trà, Đô Kiệu, Thông Đàn, Đá Chồng, Ba Bậc… 

Trong chuyến hành phương “Về miền đất Phật” 2018 mới đây, Đại đức Thích Quảng Hiếu cùng hơn 2000 phật tử chùa Tân Hải (Đan Phượng, Hà Nội) đã làm lễ dâng hương và chiêm bái Phật hoàng Trần Nhân Tông tại chùa Ngọa Vân thuộc thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. 

Đây được coi là hoạt động nghi lễ lớn với sự tham gia của nhiều người mang ý nghĩa khép lại năm đại lễ tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập cõi niết bàn tại Khu di tích Chùa – am Ngọa Vân.

Khung cảnh chùa Ngọa Vân - nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn cách đây 710 năm. 


Chùa – am Ngọa Vân là một di tích quan trọng nằm trong vùng thánh địa linh thiêng của Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử. Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt, chùa – am Ngọa Vân có vị trí đặc biệt quan trọng bởi nơi đây chính là điểm dừng chân cuối cùng trong cuộc đời tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông. 

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 5 năm 1307, Trúc Lâm Đại Sĩ (tên hiệu của Phật hoàng) đã lên tu tại một am trên đỉnh Ngọa Vân- một đỉnh cao quanh năm mây phủ nằm trên núi Bảo Đài thuộc dãy Yên Tử linh thiêng. Ngày 1 tháng 11 năm 1308, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nhập niết bàn tại am Ngọa Vân (nay thuộc xã An Sinh và xã Bình Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh). 

Di tích Ngọa Vân ngày nay là một quần thể chùa tháp lớn được bố trí thành 3 lớp trên núi Bảo Đài. Lớp thấp nhất là 15 di tích dưới chân núi như: khu rừng già Tàn Lọng, Phủ Am Trà, Đô Kiệu, Thông Đàn, Đá Chồng, Ba Bậc… 

Những di tích này được kết nối với nhau bằng một con đường uốn lượn chạy dần lên đỉnh núi. Lớp thứ 2 của khu di tích là chùa Ngọa Vân Trung nằm ở sườn phía Nam của núi Bảo Đài. 


Tháp Phật hoàng - Nơi chứa một phần xá lợi của Phật hoàng sau khi ngài nhập diệt. 


Sau khi được trùng tu xây dựng trên nền chùa cũ vào năm 2014, Ngọa Vân Trung ngày nay là một ngôi chùa khang trang với lối kiến trúc kiểu chữ Nhị (mô phỏng kiến trúc của chùa Ngọa Vân được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng) và được tạo thành bởi hai tòa chính: Tiền đường và Hậu đường. 

Chùa Ngọa Vân Trung cũng được xem là khu vực trung tâm của lễ hội xuân Ngọa Vân (diễn ra từ mùng 9 tháng Giêng đến hết tháng 3 Âm lịch hàng năm). Những nghi lễ quan trọng của lễ hội như lễ hội khai xuân, lễ cầu quốc thái dân an… đều được tổ chức tại chùa Ngọa Vân Trung. 

Lớp thứ 3, cũng là lớp cao nhất của di tích Ngọa Vân, là nơi được người xưa ca tụng: “Vạn cổ anh linh tự/ Tứ thời cảnh sắc tân” (Dịch thơ: “Muôn thuở chùa linh ứng/ Bốn mùa cảnh sắc tươi”)

Chùa Ngọa Vân ngày nay chìm trong sương, mây... 


Đỉnh núi huyền ảo, quanh năm mây phủ này chính là nơi còn lưu giữ được nhiều dấu tích thiêng liêng liên quan đến những ngày tháng cuối cùng trong cuộc đời tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông, như chùa Ngọa Vân Thượng, am Ngọa Vân - nơi mà theo truyền thuyết, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã nhập cõi niết bàn trên một tảng đá lớn trong dáng nằm sư tử, Phật hoàng Tháp- nơi lưu giữ một phần xá lị của Phật hoàng và Bàn Cờ tiên nằm trên đỉnh cao nhất, nhìn ra xung quanh là một vùng núi non sơn thủy hữu tình. 

Không chỉ lưu giữ những dấu tích thiêng liêng về Phật hoàng Trần Nhân Tông, khu di tích Ngọa Vân còn là một nơi có khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ và tuyệt đẹp. 

Nằm trong khu vực vòng cung Đông Triều, Ngọa Vân như được bao bọc, ôm ấp bởi những ngọn núi xanh mướt, trùng trùng điệp điệp. Thảm thực vật nơi đây gần như còn nguyên vẹn với rất nhiều loài thực vật và động vật quý hiếm. Đến với Ngọa Vân, người ta có dịp được chiêm ngưỡng những cây thông trăm tuổi, những rừng trúc bạt ngàn. 

Hơn 2000 Phật tử chùa chùa Tân Hải (Đan Phượng, Hà Nội) cùng Đại đức Thích Quảng Hiếu làm lễ dâng hương và chiêm bái Phật hoàng Trần Nhân Tông tại chùa Ngọa Vân. 


Hành hương lên đỉnh Ngọa Vân, thắp một nén nhang chiêm bái Phật hoàng rồi bước ra sân tiền đường, cả một vùng núi non tuyệt đẹp nằm xen lẫn trong mây trắng mở ra trước mắt như một bức tranh thủy mặc. Đó là lúc con người ta như được trở về với tất cả những gì đẹp đẽ, nguyên sơ nhất trong tâm hồn cũng là món quà mà đất Phật Ngọa Vân ban tặng cho mỗi người. 

Hà Tùng Long - Ảnh: Tùng Long

1-10 of 17