Lịch sử và giai thoại

Bài mới

  • Về Hành Phước, theo dấu chân người xưa Nằm về phía đông nam của huyện Nghĩa Hành, xã Hành Phước vừa giáp dòng sông Vệ, vừa giáp với núi Đình Cương. Nơi đây là vùng đất bán sơn ...
    Được đăng 01:11, 7 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cuộc bình định vùng Tây Bắc của vua Lê Sau khi bình định vùng Tây Bắc, trên đường quay trở về, vua Lê Thái Tổ đã cho khắc vào vách đá bài văn bia để ghi nhớ sự kiện ...
    Được đăng 06:15, 18 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Giai thoại về tên gọi chùa Bổ Đà ở Bắc Giang Phía sau tên gọi của chùa Bổ Đà ở Bắc Giang là một câu chuyện mang màu sắc huyền bí mà không phải ai cũng biết.Nằm ở xã Tiên ...
    Được đăng 01:25, 17 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Những điều chưa biết về lăng mộ Hoàng gia Ông Phan Văn Dũng, người đang trông coi lăng mộ Hoàng gia nói với chúng tôi: “Lăng này xây dựng năm 1927. Đã có nhiều du khách đến đây tham ...
    Được đăng 00:55, 17 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Miếu đôi, hóa giải mâu thuẫn chốn non cao Mâu thuẫn nảy sinh khi cư dân hai làng tranh giành quyền được xây ngôi miếu thờ. Và cũng chính việc xây miếu đã hóa giải mâu thuẫn dân cư ...
    Được đăng 03:39, 6 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 15. Xem nội dung khác »


Về Hành Phước, theo dấu chân người xưa

đăng 01:11, 7 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm về phía đông nam của huyện Nghĩa Hành, xã Hành Phước vừa giáp dòng sông Vệ, vừa giáp với núi Đình Cương. Nơi đây là vùng đất bán sơn địa, với nhiều di tích lịch sử trải dài theo thời gian và không gian.

Trên vùng đất yên bình với những ruộng lúa xanh rì dưới nắng vàng, chúng tôi được người dân dẫn đến nhà lưu niệm Nguyễn Công Phương (1888 - 1972) tại thôn Hòa Thọ. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, lớn lên trên mảnh đất có bề dày lịch sử, văn hóa và truyền thống cách mạng, Nguyễn Công Phương đã sớm tích cực tham gia vào các hoạt động cách mạng, nhiều lần bị địch bắt tù đày.

Ông từng giữ các chức vụ Chủ tịch Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Lê Đình Cẩn (Nghĩa Hành), Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Quảng Ngãi, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt Nam Trung Bộ, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam... 

Nhà lưu niệm Nguyễn Công Phương tại thôn Hòa Thọ, xã Hành Phước (Nghĩa Hành). 


“Đó là tấm gương người chiến sĩ cách mạng trung kiên, bất khuất, trải qua thử thách tù đày, tra tấn của bọn thực dân và phong kiến vẫn trung với Đảng, hiếu với dân, nêu cao khí tiết cách mạng trước quân thù. Đó là tấm gương đạo đức cách mạng của một cuộc đời trong sạch, cần cù và giản dị, đến lúc tuổi già vẫn hăng hái nhận nhiệm vụ góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam thân yêu của chúng ta...” (trích điếu văn tại lễ truy điệu ông ngày 23.8.1972). Những dòng chữ được trưng bày tại nhà lưu niệm Nguyễn Công Phương làm cho nhiều người thêm tự hào về vùng đất giàu truyền thống này.

Tại thôn Hòa Vinh còn có bia kỷ niệm nơi thành lập Trường Trung học Bình dân Nam Trung Bộ do Thủ tướng Phạm Văn Đồng thành lập và làm hiệu trưởng danh dự từ năm 1947 - 1952. Tháng 4.1947, trường bị hư hại do pháo hạm của Pháp bắn và làm một vài người chết, bị thương. Sau đó, trường chuyển đến một vài địa điểm khác trên địa bàn huyện Nghĩa Hành. Mặc dù chỉ có hơn 3 khóa học trong điều kiện vô cùng gian khó, nhưng tại đây đã góp phần đào tạo nguồn cán bộ phục vụ kịp thời sự nghiệp kháng chiến ở Liên khu 5, cực Nam Trung Bộ, Bình Trị Thiên và còn làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và Campuchia.

Đến với Hành Phước, không thể không nhắc đến Di tích nơi làm lễ xuất quân quân tình nguyện Việt - Lào. Tại đây vào ngày 19.8.1948, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5 làm lễ xuất quân đưa ba đại đội quân tình nguyện Việt Nam đầu tiên đi làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào. 

“Chỉ có vận động nhân dân Lào đứng lên kháng chiến thì mới đánh thắng giặc Pháp xâm lược. Các đồng chí phải thương yêu đất nước, núi sông, cây cỏ và nhân dân Lào như thương yêu đất nước, núi sông, cây cỏ và nhân dân Việt Nam ta vậy”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã căn dặn tại lễ xuất quân.

Ông Dương Mạnh (72 tuổi) ở thôn Đề An kể lại: Năm 2005, những người trong đoàn quân tình nguyện khi xưa (nay đều đã nghỉ hưu) tìm về nơi làm lễ xuất quân. Từ đó, nhiều người dân biết thêm về một “địa chỉ đỏ” trên quê hương của mình. Ngày 24.3.2010, Sở VH-TT&DL và Ban Liên lạc quân tình nguyện Việt - Lào đã tổ chức khánh thành bia di tích ghi lại sự kiện lịch sử trong cuộc kháng chiến của quân và dân Liên khu 5, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc trong quan hệ Việt – Lào. 

Huyện Nghĩa Hành nói chung và xã Hành Phước nói riêng là vùng đất có nhiều di tích lịch sử. Đây đều là những di tích lịch sử có ý nghĩa với thế hệ trẻ. Bởi những di tích lịch sử không chỉ có giá trị thông tin, mà còn gửi gắm đến thế hệ hôm nay những thông điệp về niềm tự hào và lòng yêu nước, để sống xứng đáng với những hy sinh của các bậc tiền nhân.

Bài, ảnh: HUỲNH THẢO

Cuộc bình định vùng Tây Bắc của vua Lê

đăng 06:15, 18 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Sau khi bình định vùng Tây Bắc, trên đường quay trở về, vua Lê Thái Tổ đã cho khắc vào vách đá bài văn bia để ghi nhớ sự kiện này, đồng thời răn dạy các tù trưởng cai quản nơi biên giới. Ngày nay bia Lê Lợi đã được công nhận là Bảo vật quốc gia.

Nằm trong khuôn viên đền thờ vua Lê Thái Tổ thuộc xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, Lai Châu, bia Lê Lợi là một hiện vật lịch sử đặc biệt về một sự kiện lớn của nước Đại Việt đầu thời Hậu Lê.

 

Văn bia này ghi lại sự kiện lịch sử vua Lê Thái Tổ thân chinh chỉ huy các đạo quân dẹp phản loạn ở vùng Tây Bắc của đất nước. Đó là sự kiện năm 1431, tù trưởng Đèo Cát Hãn làm phản, liên kết với Kha Đốn - một kẻ phản nghịch ở Ai Lao (nước Lào) quấy nhiễu nơi biên ải, đánh chiếm vùng đất Mường Muỗi (Thuận Châu, Sơn La ngày nay)

 

Vua Lê Thái Tổ đã phái Quốc Vương Tư Tề và Quan Tư Khấu Lê Sát đem quân tiến đánh. Sau đó đích thân vua thân chinh đem quân theo đường từ sông Hồng, rồi ngược sông Đà, bằng đường thủy và đường bộ, đánh tan quân phản nghịch Đèo Cát Hãn

 

Khi quân của nhà vua tiến đến sào huyệt của Đèo Cát Hãn, Kha Lại và Đèo Cát Hãn bỏ trốn, sau đó nhân dân bắt được Kha Lại và giết chết.

 

Sau khi bình định vùng Tây Bắc, trên đường quay trở về qua địa phận xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn hiện nay, vua Lê Thái Tổ đã cho khắc vào vách đá bài văn bia để ghi nhớ sự kiện này, đồng thời răn dạy các tù trưởng cai quản nơi biên giới.

 

Tấm bia đề nghị thời gian dựng là tháng Chạp năm Tân Hợi (1431), địa điểm là động Ngọc Hoa, có nội dung được dịch nghĩa như sau: “Nỗi lo di địch nơi biên cương đã có từ xưa, đời nhà Hán đã có bọn Hung Nô, đời nhà Đường thì rợ Đột Quyết, các rợ man ở vùng Mường Lễ nước Việt ta cũng vậy…”

 

“…Mới đây có chính sự nhà Trần, nhà Hồ suy yếu, bầy tôi ở nơi phên giậu trở nên ương ngạnh, Cát Hãn nhờn theo thói cũ không chịu thay đổi. Nay ta đem quân đi chinh phạt, thủy bộ cùng tiến, chỉ một trận đã dẹp yên được. Nhân đây làm một bài thơ khắc vào đá để răn các tù trưởng rợ man ngang ngạnh với giáo hóa sau này”

 

“Bọn giặc cuồng sao dám tránh sự trừng phạt/ Dân biên thùy từ lâu mong ta đến cứu sống/ Kẻ bầy tôi làm phản từ xưa vẫn có/ Đất đai hiểm trở từ nay không còn/ Tiếng gió thổi hạc kêu làm cho quân giặc run sợ/ Sông núi từ nay nhập vào bản đồ/ Đề thơ khắc vào núi đá/ Trấn giữ phía Tây nước Việt ta”. 

 

Văn bia được khắc trên vách đá Pú Huổi Chỏ bên bờ Bắc sông Đà. Năm 2009, do xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La, khu vực này nằm trong vùng ngập nước của lòng hồ thủy điện, bia được khoan cắt di dời, đến năm 2012, được đưa về bảo quản và phát huy giá trị ở vị trí hiện nay.  

 

Với những giá trị lịch sử văn hóa đặc sắc, bia đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia từ năm 1981 và là Bảo vật quốc gia từ năm 2018. 

Giai thoại về tên gọi chùa Bổ Đà ở Bắc Giang

đăng 01:25, 17 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Phía sau tên gọi của chùa Bổ Đà ở Bắc Giang là một câu chuyện mang màu sắc huyền bí mà không phải ai cũng biết.

Nằm ở xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, chùa Bổ Đà hình thành từ thời nhà Lý, là một ngôi chùa cổ có tầm quan trọng đặc biệt của Phật giáo Việt Nam. Phía sau tên gọi của chùa là một câu chuyện mang màu sắc huyền bí mà không phải ai cũng biết

 

Tương truyền, vào khoảng thế kỷ thứ 11, vùng đất Tiên Sơn có một gia đình tiều phu tuy nghèo tốt bụng, nhưng đã ngoài 40 tuổi mà họ vẫn chưa có con. Một hôm người chồng vác búa cắp rìu lên núi kiếm củi. Khi chặt một gốc thông già, mỗi nhát bổ ông lại niệm "Quan thế âm Phật". 

 

Sau đó, ông bỗng thấy có 32 đồng tiền rơi ra từ gốc cây. Lấy làm lạ, ông hỏi vị cao tăng gần nhà thì vị này bảo rằng: "Đức Phật quan âm có 32 điều ứng". Người tiều phu quay lại gốc thông khấn cầu rằng: "Nhược bằng đức Phật quan âm phù hộ cho tôi sinh con trai, tôi xin dựng chùa thờ"

 

Quả nhiên sau đó người tiều phu có con trai thực, rồi ông dành dụm được ít tiền bèn dựng một ngôi chùa ngay gốc cây thông già linh thiêng, lợp gianh và tô một pho tượng Quan âm Tống Tử để hương khói phụng thờ

 

Sau dần dần nhiều người qua lại lễ bái, cầu việc gì cũng đều biến ứng, bèn trở nên nơi danh lam thắng cảnh, vì thế gọi tên là chùa ông Bổ (chữ bổ bắt nguồn từ hành động bổ củi của ông tiều phu). Vì là chùa thờ Phật Đà (gốc từ chữ Buddha – Đức Phật trong tiếng Phạn) nên lại gọi là chùa Bổ Đà. 

 

Ngoài câu chuyện trên, cũng có cách giải thích khác rằng, Bổ Đà là cách gọi chệch từ Phổ Đà - có nguồn gốc từ chữ Phật Đà. Đây là nơi đức Quán Âm Bồ Tát ứng hiện cứu đời nên còn được gọi là chùa Quán Âm. Sau này, chùa bao gồm cả chùa Tứ Ân, nên nó còn có tên Tứ Ân Tự…

 

Trong nhiều thế kỷ, chùa Bổ Đà là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của dòng thiền phái Trúc Lâm, đồng thời là một trong những ngôi chùa còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ cho đến nay.

 

Chùa có kiến trúc độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam, đó là lối kiến trúc "nội thông ngoại bế" tạo vẻ u tịch, thanh vắng, linh thiêng.

 

Hệ thống bố cục kiến trúc của chùa hài hòa, được xây dựng bằng các vật liệu gạch nung, ngói, tiểu sành, tường bao được làm bằng đất rất độc đáo

 

Hiện chùa Bổ Đà còn nhiều tài liệu, hiện vật, cổ vật quý có giá trị lớn về mặt văn hóa, lịch sử, kiến trúc và mỹ thuật. Đặc biệt là Mộc bản kinh Phật cổ nhất Việt Nam được khắc trên gỗ thị

 

Gần đây người ta phát hiện thấy một di vật rất thú vị của nhà văn Nguyên Hồng tại chùa, đó là một bản chép tay những quy chế của nhà chùa hồi ông trốn đời đi tu.

 

Với những giá trị to lớn về lịch sử, kiến trúc và văn hóa, vào năm 2016 chùa Bổ Đà đã được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam


Những điều chưa biết về lăng mộ Hoàng gia

đăng 00:55, 17 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ông Phan Văn Dũng, người đang trông coi lăng mộ Hoàng gia nói với chúng tôi: “Lăng này xây dựng năm 1927. Đã có nhiều du khách đến đây tham quan lầm tưởng đây là nơi thờ tự bà Phạm Thị Hằng (tức bà Từ Dũ, vợ vua Thiệu Trị, mẹ ruột của vua Tự Đức), nhưng thực tế đây là lăng mộ thờ ông Phạm Đăng Hưng (cha ruột bà Từ Dũ, tức ông ngoại vua Tự Đức). Tôi nghĩ, các cơ quan truyền thông, văn hóa, lịch sử cần giải thích rõ vấn đề này để tránh sự nhầm lẫn”. 

Bên ngoài lăng mộ. 


Huyện Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang, sau đó chia tách thành 4 đơn vị hành chính là: TX. Gò Công, huyện Gò Công Đông, huyện Gò Công Tây và huyện Tân Phú Đông. Lăng mộ Hoàng gia nay thuộc ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, TX. Gò Công. 

Nhiều du khách cùng thống nhất nhận xét: Đến Gò Công mà không biết đến 3 địa danh lịch sử nổi tiếng là: Lăng mộ Hoàng gia, đền thờ Anh hùng dân tộc Trương Định và ao Trường Đua thì coi như chưa biết Gò Công. 

Riêng về tên gọi chính xác là lăng Hoàng gia, nhưng người dân địa phương quen gọi là lăng mộ Hoàng gia vì có mộ ông Phạm Đăng Hưng đang an vị tại đây. Bên cạnh đó có người gọi bà Từ Dũ là Từ Dụ, nhưng đến nay chưa xác định tên nào là chính xác. 

Ông Phạm Đăng Hưng thông minh, văn võ song toàn. Năm 1784, lúc 20 tuổi, ông thi đỗ Tam trường, nổi tiếng hiền đức và siêng năng, có 4 người con làm quan to trong triều Nguyễn. Năm 1825, ông Phạm Đăng Hưng mất, được đưa về gò Sơn Qui chôn cất. Năm 1849, ông được vua Tự Đức truy phong Đức Quốc công.

Ông Sơn Thê, 87 tuổi, cư dân tại đây kể lại câu chuyện rất kỳ bí đầy vẻ tâm linh: Lúc ông Phạm Đăng Hưng đến gò Rùa (hiện là Sơn Qui) thấy đất rất đẹp nhưng không có chỗ nào đào được giếng có nước ngọt. 

Sau đó ông phát hiện ra mạch nước ngầm ở gò Sơn Qui, liền quy tập mồ mả gia đình về đây và xây nhà ở gò đất này. Khi sinh bà Phạm Thị Hằng (tức bà Từ Dũ) thì có một vầng trăng chiếu sáng lòa cả gò Sơn Qui, nên ông Phạm Đăng Hưng đặt tên cho con là Hằng (nghĩa là mặt trăng). Hiện nay, tại lăng mộ Hoàng gia vẫn còn cái giếng ngầm rất trong và mát”. 

Sẵn chuyện vui, ông Thê kể tiếp câu chuyện thứ hai càng hấp dẫn hơn. Chuyện rằng: Thời mở đất, dân gian thường thấy một người luôn mang trong mình ba cái bị lớn (giống như bao tải nhưng có quai đeo bên mình). Ông “Ba Bị” đi đến đâu thì con nít rất sợ nhưng người lớn thì ngược lại, bởi ông mang đủ loại hạt giống đi phát cho dân và hướng dẫn cách trồng. Nhà nào quá nghèo, ông “Ba Bị” cho người mang gạo đến giúp. Đó chính là ông Phạm Đăng Hưng. 

Câu chuyện thứ ba thì có vẻ bí hiểm. Chuyện kể rằng: Tại lăng mộ Hoàng gia có một tấm bia bằng đá trắng làm từ đá quý chở về từ tỉnh Quảng Nam. Bia đá này do ông Phan Thanh Giản và Trương Quốc Dụng xây dựng vào năm Tự Đức thứ 10 (1857) nhằm ca ngợi công đức của Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng. Nhưng sau đó tấm bia đá này mất tích một cách bí hiểm. 

Năm 1983 khi giải tỏa nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (quận 1, TP. Hồ Chí Minh) để xây dựng công viên Lê Văn Tám, người ta thấy còn sót lại một tấm bia đá cổ hoang phế. Ngay lập tức các nhà chuyên môn đến khảo sát và xác định đây là tấm bia có xuất xứ từ lăng mộ Hoàng gia ở Gò Công bị đánh cắp. 

Lần theo lịch sử, người ta xác định, người đánh cắp tấm bia trên là trung úy người Pháp tên Barbé đã có thời gian đóng quân tại Gò Công xưa. Barbé chính là nhân vật chính trong vở cải lương rất nổi tiếng một thời “Nàng Hai Bến Nghé”, kể về câu chuyện cô gái tên Hai đã giúp nghĩa quân Trương Định phục kích giết chết trung úy người Pháp Barbé vào đêm 7-12-1860 tại Thị Nghè, TP. Sài Gòn (nay là TP. Hồ Chí Minh). 

Như vậy, sau 140 năm lưu lạc (từ năm 1858 đến 1998) tấm bia do vua Tự Đức sắc phong cho ông ngoại mình là ông Phạm Đăng Hưng mới trở về chốn cũ (lăng mộ Hoàng gia). 

Hiện tại, lăng mộ này có gian điện chính thờ Quốc công Phạm Đăng Hưng; Gian tả thờ Phước An hầu Phạm Đăng Long, là cha của Phạm Đăng Hưng. Gian tả ngoài cùng thờ Khả tự Phạm Đăng Tiên. 

Gian hữu thờ Bình thạnh bà Phạm Đăng Danh. Trước bàn thờ ông Phạm Đăng Hưng là bức tượng bằng đá quý màu xanh lục tạc hình bà Phạm Thị Hằng (bà Từ Dũ). 

Mộ ông Phạm Đăng Hưng táng trên gò cao có hình dáng mai rùa, được xây theo kiểu dáng “đỉnh trụ” hình bát giác, trông vừa như chiếc nón lá vừa như búp sen. Mặt sau mộ, xây bình phong hình bán nguyệt, trên có chạm 4 con rồng, dưới có 5 con kỳ lân. 

Vòng quanh mộ ông Phạm Đăng Hưng có một số phù điêu trang trí (búp sen, cá hóa long…), lại mang phong cách điêu khắc phương Tây. 

Bà Mặc Thùy, du khách đến từ TP. Bắc Kinh, Trung Quốc, sau khi tham quan mộ đã cho biết cảm nghĩ: “Có quá nhiều câu chuyện bí ẩn tâm linh tại lăng mộ này khiến du khách cứ phải ấn tượng mãi. Kiến trúc lăng quá đẹp, tinh xảo, pha lẫn phong cách Âu - Á một cách hài hòa. Chúng tôi rất thích khi đến đây”. 

TÔ PHỤC HƯNG

Miếu đôi, hóa giải mâu thuẫn chốn non cao

đăng 03:39, 6 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Mâu thuẫn nảy sinh khi cư dân hai làng tranh giành quyền được xây ngôi miếu thờ. Và cũng chính việc xây miếu đã hóa giải mâu thuẫn dân cư vùng giáp ranh Quảng Ngãi- Bình Định. Đấy là chuyện hơn 300 năm trước ở vùng non cao nằm cạnh biển Sa Huỳnh (Đức Phổ).

Hoang tàn cổ miếu

Anh Lê Thanh Phong - Trưởng thôn Đồng Vân, xã Phổ Thạnh (Đức Phổ) điều khiển xe máy chở tôi men theo con đường mòn uốn lượn ven xóm nhà lưng chừng núi, rồi dừng lại trước miếu cổ ven đường bị hư hại theo thời gian. Miếu nằm cạnh nhau dưới tán rừng với những thân cây cao lớn, khu vực núi Đôi - gò Vung, địa giới phân chia hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định thuở trước (giờ ranh giới lùi về phía Bình Định 2km).

Anh Lê Thanh Phong thắp hương trước ngôi miếu cổ. 


Hai ngôi miếu hướng về phía biển Sa Huỳnh, bốn mùa lộng gió và ầm ào sóng vỗ. Mỗi ngôi miếu chiều cao hơn 4m, rộng hơn 2m, được xây dựng bằng gạch đất nung, mái lợp ngói âm dương. Bên trong có ban thờ, vách vẽ hình rồng lướt trên mây ở miếu phía bắc và phượng tung cánh bay ở miếu phía nam. 

Nét vẽ còn khá rõ nét và tinh xảo, thể hiện kỹ thuật pha chế sơn đạt trình độ cao và sự tài hoa của người họa sĩ thuở xưa. Trước mỗi ngôi miếu có ban thờ xây bằng gạch nung, là nơi dâng hương lễ bái trước khi vào bên trong. Bao quanh miếu cổ là bức tường bằng đá cao hơn 50cm, bên trên có lợp ngói âm dương. Miếu thêm vẻ thâm nghiêm với hai trụ cổng cao lớn cùng bình phong đắp nổi hình rồng tràn đầy uy vũ chắn phía trước.

Trải qua hàng trăm năm mưa nắng, miếu cổ bị hư hại, nằm ẩn mình dưới tán rừng thâm u. Nhiều dây leo bằng bắp tay người lớn phủ quanh khiến cho khung cảnh thêm u tịch. Anh Phong lách người bước đến ban thờ trước mỗi ngôi miếu, rồi đặt bánh ngọt lên đĩa, thắp hương lầm rầm khấn nguyện. 

“Hai ngôi miếu kích thước bằng nhau, nên người dân nơi đây gọi là miếu đôi. Nhiều người đi rừng thường vào đây thắp hương cầu mong gặp điều may mắn. Bằng chứng là có người vừa mang chiếc đĩa sứ đến đây để cúng hoa quả, bánh trái trước khi chúng ta đến”, anh Phong cho hay. 

Mâu thuẫn và hòa giải

Sau nhiều năm tìm hiểu, anh Nguyễn Ly - Công chức văn hóa - xã hội xã Phổ Thạnh cho biết: Hai ngôi miếu được những bậc tiền nhân xây dựng thờ thổ địa, vị thần cai quản vùng đất họ đang cư trú và cấy cày. Còn cụ Nguyễn Hữu Hạnh - nguyên Bí thư chi bộ thôn Đồng Vân (Phổ Thạnh) vẫn nhớ lời kể của cha về hai ngôi miếu cổ. Hơn 300 năm trước, dân làng Đồng Vân (giờ thuộc xã Phổ Thạnh) sống cạnh khu làng của người dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

Thuở ấy, nghe tin dân làng Đồng Vân chuẩn bị xây dựng miếu thờ thì một số người dân Hoài Nhơn kéo đến ngăn cản, tranh chấp vị trí xây miếu. Hai bên không chịu nhường nhau, nên mâu thuẫn ngày càng gay gắt và cùng trình đơn khiếu kiện lên quan trên. Ngày nọ, vị quan cưỡi ngựa về làng với binh lính hộ vệ hai bên. 

Sau khi gặp gỡ và lắng nghe ý kiến của dân chúng, ông liền phán: Dân mỗi làng được quyền xây dựng một ngôi miếu tại địa giới phân định từ trước đó. Hai ngôi miếu kích thước phải bằng nhau và chung tường rào bao quanh. Dân hai làng tuân lời quan trên, vui vẻ góp tiền của và công sức xây miếu thờ theo nguyện ước bấy lâu.

Hằng năm, người dân hai làng đóng góp kinh phí sửa soạn mâm cỗ mang đến ngôi miếu cúng tế cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Sau đó, họ dọn mâm cỗ ra bãi đất cạnh ngôi miếu cùng chung ăn uống khá vui vẻ. Tình nghĩa hai làng thêm gắn bó, giúp đỡ nhau vượt qua cuộc sống khó khăn nơi núi rừng. 

Chiến tranh loạn lạc, cư dân hai làng phiêu dạt khắp nơi, không thể duy trì lệ cúng miếu thuở trước. Đất nước yên bình, người dân tìm về gắng sức cấy cày trên mảnh đất cha ông nhọc công khai khẩn. Dẫu cuộc sống còn bao khó nhọc, nhưng cư dân hai làng vẫn gắn bó, chia sẻ những buồn vui như thuở trước. “Dân trong thôn chúng tôi và thôn Phú Nông (xã Hoài Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định) vẫn duy trì tinh thần đoàn kết, thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau. Mỗi khi gặp nhau, mọi người chuyện trò rất vui vẻ”, anh Phong cho biết.

Buổi trưa ở Đồng Vân, ngôi làng ẩn hiện dưới tán rừng xanh mướt, chợt nghe sóng biển Sa Huỳnh ầm ào vỗ vào bờ. Gió từ khơi xa thổi vào bờ, ngược chốn non cao, nơi có ngôi cổ miếu hóa giải mâu thuẫn giữa cư dân hai làng vùng giáp ranh Quảng Ngãi - Bình Định. 

Bài, ảnh: TRANG THY

Chuyện thần bí ở ngôi đền thiêng giữa phố cổ Hà Nội

đăng 00:05, 31 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Những câu chuyện ly kỳ về thần Long Đỗ đã nhuốm một bức màn huyền bí lên đền Bạch Mã, khiến ngôi đền càng trở nên linh thiêng trong tâm thức của những người con nước Việt.

Nằm ở số 76 phố Hàng Buồm, Hoàn Kiếm, Hà Nội, đền Bạch Mã là một trong Thăng Long Tứ Trấn nổi tiếng ở đất kinh kỳ. Đền là nơi thờ thần Long Đỗ, vị thần được coi là Thành hoàng của đất Thăng Long

 

Sự tích về thần Long Đỗ gắn liền với các sự kiện lớn của kinh thành Thăng Long. Được kể lại nhiều nhất là câu chuyện năm 1010, khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, định đắp thành nhưng nhiều lần thành đắp lên lại bị sụp đổ

 

Vua cho người cầu khấn ở đền thờ thần Long Đỗ thì thấy một con ngựa trắng từ đền đi ra... Vua lần theo vết chân ngựa, vẽ đồ án xây thành, thành mới đứng vững. Từ đấy đền thờ thần Long Đỗ có tên nữa là đền Bạch Mã

 

Ngoài sự tích trên, còn một sự tích kể về việc thần Long Đỗ phá sự trấn yểm của Cao Biền. Câu chuyện bắt đầu vào cuối thời Đường, khi sự phản kháng của nhân dân ta ngày càng tăng lên, Cao Biền được triều Đường cử sang làm tiết độ sứ cai trị dân ta

 

Vốn là một bậc thầy về phong thủy và bùa chú, Cao Biền đã cưỡi chim thần đi khắp nước Việt để xem hết các phúc địa. Hễ thấy chỗ đất nào có “long mạch” thì dùng tà phép trấn yểm hết để người Việt mãi mãi không vùng lên được

 

Giai thoại dân gian kể rằng Cao Biền dùng rất nhiều phép thuật khác nhau để triệt linh khí nước Nam như chuyện vãi hạt đậu thành binh lính, trồng cây, đào hào để phá long mạch…

 

Cao Biền tài phép vậy nhưng đã thất bại ở ngay trong chính đất Đại La – thủ phủ mà y chọn để cai trị người Việt. Sách Việt Điện U Linh chép: Khi Cao Biền đang cho đắp thành Đại La thì thấy trời đất tối đen lại, một vị thần ngồi trên lưng rồng vàng lượn quanh thành mới đắp một vòng

 

Cao Biền rất sợ hãi, vội đem vàng và đồng đúc thành một tượng theo hình dáng vị thần trong mơ rồi dùng bùa để trấn yểm. Đêm đó, Cao Biền nằm mơ thấy vị thần ấy nói rằng: "Ta là thần Long Đỗ, tinh anh của khí thiêng sông núi nơi đây việc gì mà phải trấn yểm".

 

Sáng hôm sau, Cao Biền sai người đi xem lại những chỗ đã trấn yểm ở Đại La thì thấy mọi thứ đã bị hóa giải cả. Sau đó, Cao Biền sợ hãi lập đền Long Đỗ thờ thần ở trong thành

 

Đánh giá về giai thoại này, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Thuần cho rằng, đó là một biểu hiện phản kháng trong lĩnh vực văn hóa. Nếu như nhà Đường cố tạo cho Cao Biền nhiều tài phép để hù dọa dân ta, thì dân ta cũng có một vị thần không sợ tài phép của Cao Biền

 

Những câu chuyện ly kỳ về thần Long Đỗ đã nhuốm một bức màn huyền bí lên đền Bạch Mã, khiến ngôi đền càng trở nên linh thiêng trong tâm thức của những người con nước Việt

Thăm khu vườn họ ngoại vua ở

đăng 21:09, 23 thg 6, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Quán cà phê Vườn Thích Lý tuy nằm phía sâu trong làng cà phê ở tổ 22, phường Nghĩa Lộ (TP.Quảng Ngãi), nhưng dịp cuối tuần, nhiều gia đình vẫn hay đến uống cà phê để trò chuyện cùng người thân, bạn bè. Có một điều ít ai biết được, khu vườn này từng là phía họ ngoại của vua ở, vì thế trước đây dân gian hay gọi là vườn Thích Lý...

Họ Phạm Đăng ở đây là phía ngoại của vua Tự Đức (sinh năm 1829, trị vì năm 1847 - 1883), con thứ của vua Thiệu Trị và bà Phạm Thị Hằng. Bà Phạm Thị Hằng (còn có tên là Nguyệt) là con gái thứ ba của ông Phạm Đăng Hưng, từng giữ chức Thượng thư Bộ Lại.

Cổng hậu của đền thờ Tích Thiện Từ còn lại. 


Tư liệu của dòng họ Phạm Đăng để lại cho hay: Ông Phạm Đăng Khoa là thủy tổ dòng họ theo chúa Nguyễn vào Đàng Trong ở Quảng Trị, rồi di chuyển vào Huế. Con trai ông Khoa là Phạm Đăng Tiên tiếp tục vào Nam làm Huấn đạo phủ Tư Nghĩa (tỉnh Quảng Ngãi bây giờ). Con trai ông Tiên là Phạm Đăng Dinh sinh ra ông Phạm Đăng Long. Theo con cháu của dòng họ Phạm Đăng, phần mộ của ông Long ở xã Tịnh Khê (TP. Quảng Ngãi), sau này chuyển về gần mộ ông Trương Đăng Quế. Dòng họ Phạm Đăng phát triển nhiều ở Gò Công (Tiền Giang).

Con ông Long là Phạm Đăng Hưng đã sinh ra bà Phạm Thị Hằng, trở thành vợ vua Thiệu Trị. Và sau này bà trở thành thái hậu (Từ Dụ) Từ Dũ, nổi tiếng là người phụ nữ thông minh, cao quý, thương dân. Tên bà còn được đặt cho bệnh viện phụ sản nổi tiếng ở TP.Hồ Chí Minh là Bệnh viện Từ Dũ.

Có thông tin cho rằng: Sau khi vua Tự Đức lên ngôi đã cho xây dựng hai nhà thờ bên phía ngoại ở Huế và Quảng Ngãi. Cũng có tư liệu cho rằng Thái hậu Từ Dũ với tấm lòng nhớ về gốc gác, quê hương đã xây nhà thờ. Tại Quảng Ngãi, nhà thờ có tên là Tích Thiện Từ mà dân làng xung quanh hay gọi là chùa Thích Lý.

Khi đó, khu vườn có diện tích 10.000m2, cổng thành nội được xây bằng đá ong, vôi và mật mía, nhà làm bằng gỗ. Còn phía trước trồng mía, lúa bao bọc dưới hàng tre của thành ngoại. Trải qua thời gian, hầu như khu đền thờ không còn lại nhiều dấu tích. Bây giờ chỉ còn lại bốn cây cột của thành nội, cửa sau trong khuôn viên quán cà phê Vườn Thích Lý, còn lũy tre già mới vài năm trước cũng đã bị chặt bỏ. Diện tích khu vườn hiện còn khoảng 4.000m2.

Hai cây thiên tuế cao lớn ước chừng trên dưới 150 năm tuổi trong khuôn viên Vườn Thích Lý. 


Điều đặc biệt tại Vườn Thích Lý là vẫn còn giữ lại hai cây thiên tuế ước chừng khoảng trên dưới 150 năm tuổi. Có thể từ khi xây dựng nhà thờ Tích Thiện Từ, người ta đã trồng hai cây thiên tuế sau cổng vào, trước nhà thờ, hai bên bức bình phong.

Đến nay, hai cây thiên tuế cao lớn tầm vài mét, gốc cây phải hai vòng tay người ôm mới xuể. Nhiều lần bão lớn, cây bị gãy ngọn, sau đó đẻ nhánh mới và chia làm nhiều nhánh to như bây giờ. Chính giữa hai cây thiên tuế, người chủ nhà vẫn còn giữ lại tấm biển đá có khắc chữ Tích Thiện Từ.

Trước đây, quán cà phê Vườn Thích Lý còn có tên là Tuế Mai Viên, vì nơi này có nhiều cây mai già và hai cây thiên tuế lớn. Sau này, con cháu dòng họ sinh sống, phát triển, nên đất đai được chia cho nhiều người, trong đó một phần đất kề bên được thiết kế thành không gian cà phê sân vườn thú vị vẫn có tên Tuế Mai Viên.

Đây là hai trong số các quán cà phê vẫn giữ lại không gian sân vườn tự nhiên tại TP. Quảng Ngãi, với nhiều tán cây lớn tỏa bóng mát, thích hợp cho những ai muốn hít thở khí trời tự nhiên.

Bài, ảnh: HUỲNH THẢO

Võ tướng đất Hoan Châu chỉ huy vạn quân đào sông, đắp lũy chỉ trong 1 đêm

đăng 00:00, 16 thg 6, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Năm 1591, chỉ trong 1 đêm, vị tướng trấn thủ đất Hoan Châu này đã dẫn hàng vạn quân đào xong sông gọi là "Sông Nhà Mạc" và đắp nhiều thành lũy gọi là "Nhất dạ thành" ở vùng Duyên Hà, Hậu Tái, Thái Bình.

Võ tướng trấn thủ đất Hoan Châu 

Nằm gần dòng Lam giang, miếu Tiên Đô hay còn gọi là đền Tiên Đô thuộc làng Đặng Lâm, xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương là nơi thờ Mạc Đăng Lượng, tự là Cát Giang Tử, tước hiệu Minh Nghĩa Đại Vương. 

Trong suốt 14 năm trấn thủ đất Hoan Châu, ông đã xây dựng nơi đây thành một vùng đất trù phú, lương thực đầy đủ, ngành nghề phát triển, đời sống nhân dân no ấm. 

Nhà thờ họ Hoàng Trần được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia, nơi thờ thần tổ Mạc Đăng Lượng. Ảnh: Ngọc Phương 


Mạc Đăng Lượng tức Hoàng Đăng Quang sinh năm 1496, quê ở xã Cao Đôi, huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương). Ông là cháu 7 đời của Mạc Đĩnh Chi và có quan hệ họ hàng với hoàng tộc nhà Mạc.

Năm 17 tuổi, ông đỗ tiến sĩ và làm quan tước Quốc Công dưới triều hậu Lê, do chán ghét các phe phái tranh giành ngôi vua, ông cáo quan về ở ẩn tại nơi sinh ra là làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương xưa (nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng). Năm 1527, Mạc Thái Tổ lập lên triều Mạc, cho mời ông ra phò tá, ban tước Hoàng Quận Công. 

Trong chiến tranh, Nam - Bắc triều ngày 16/2/1535 (năm Đại Chính thứ 7) phụng chiếu Mạc Thái Tông, ông cùng em trai Mạc Đăng Tuấn đã đưa hơn 1 vạn quân vào trấn thủ đất Hoan Châu, đóng quân xứ Tiên Đô, lập 2 tuyến phòng thủ từ huyện Nam Đường tới phủ Anh Sơn. 

Tuyến 1 ở Phủ Anh Sơn, cả một vùng Tây Bắc giáp động núi Lĩnh Sơn, Đông Nam giáp sông Lam ngày nay. Tuyến 2 ở các huyện Hưng Nguyên, Nghi Xuân, Nam Đường, Thanh Chương; phía Nam giáp động núi Lĩnh Sơn, phía Bắc giáp núi Đại Huệ. Ngài có công chiêu lập 137 hộ dân tiền thân các dòng họ lớn ở Tổng Đặng Sơn (ngày nay thuộc 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An). 
Những trận chiến lịch sử 

Từ tháng 7/1571 tới năm 1575, dưới sự chỉ huy của Phụ Chính Khiêm Vương Mạc Kính Điển, Hoàng Quận Công Mạc Đăng Lượng, Thạch Quận Công Nguyễn Quyện cùng các tướng nhà Mạc tiến đánh vùng Thanh Nghệ. Trong trận Lèn Hai Vai (Yên Thành), đội quân đã đánh thắng Lai Quận Công Phan Công Tích. Tháng 10/1584, nhà Mạc tấn phong ông Hoàng Quận Công Phủ Tả Đô Đốc tước Minh Nghĩa Đại Vương, sau tấn phong Phó Quốc Vương Triều Mạc. 

Kiệu cổ rước Mạc Đăng Lượng (Hoàng Đăng Quang) từ nhà thờ họ Hoàng Trần đến miếu Tiên Đô vào dịp tế họ đầu năm. Ảnh: Ngọc Phương 


Năm 1591, ông dẫn hàng vạn quân chỉ 1 đêm đã đào xong sông gọi là "Sông Nhà Mạc" và đắp nhiều thành lũy gọi là "Nhất dạ thành" ở vùng Duyên Hà, Hậu Tái, Thái Bình. Năm 1592, Thăng Long thất thủ, nhà Mạc thất thế, ông đổi tên thành Hoàng Đăng Quang (sau này là thần tổ của dòng họ Hoàng Trần - Nhà thờ Hoàng Trần đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia) về ở ẩn vùng Chân Lộc, Thanh Chương, Nam Đường. Tại đây ông sống ẩn dật, chiêu dân lập ấp, dạy học, làm thuốc, làm nông trang đến cuối đời.

Năm Hoằng Định thứ 2 (1602), ông đến dâng hương chứng kiến việc di dời mộ cụ Nguyễn Cảnh Hoan từ Rú Nguộc, huyện Thanh Chương về Rú Cấm, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương. Sinh thời, mặc dù Mạc Đăng Lượng và Nguyễn Cảnh Hoan ở 2 chiến tuyến khác nhau nhưng rất trọng nghĩa khí của nhau. 

Năm 1604, Mạc Đăng Lượng (Hoàng Đăng Quang) qua đời, hưởng thọ 108 tuổi. Sau khi mất, mộ ông và vợ được song táng tại Rú Cật thuộc dãy núi Đại Huệ. Duệ hiệu của ông là: Lê triều Tiến sỹ tước Quốc Công, Mạc Triều Hoàng đại tướng (Hoàng Quận Công) Phó Quốc Vương, gia phong Thái Quốc Công, tặng Hiển Công Vương, gia tặng Minh Nghĩa Đại Vương, thăng Tiên Đô miếu (Đền Tiên Đô)... 

Hàng năm, con cháu thuộc 5 chi đều đến viếng mộ ông. Việc chăm sóc thường xuyên do chi họ Hoàng Văn ở Nam Lĩnh trông coi. Mộ ông và vợ được xây dưới chân núi Đại Huệ theo hình chữ nhật, dài 4,25m và rộng 2,50m. Năm 1992, con cháu 5 chi họ Hoàng đã di chuyển mộ phần hai ông, bà Mạc Đăng Lượng và Mai Thị Huệ về hợp táng tại nghĩa trang họ Hoàng Trần ở Hòn Lửa, xã Nam Sơn, huyện Đô Lương. 

Trải qua thời gian, miếu Tiên Đô không còn, mãi đến năm 2014, chính quyền địa phương xã Đặng Sơn và con cháu dòng họ Hoàng Trần đã cho xây dựng lại bia miếu Tiên Đô trên nền đất xưa. Ngày 16/6 âm lịch hàng năm, chính quyền địa phương tổ chức trang trọng lễ húy nhật tại bia miếu này.

Bí ẩn những căn hầm dưới nền biệt thự cổ ở Hà Nam

đăng 01:54, 13 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Những căn hầm dưới nền nhà các biệt thự ở làng Nha Xá (Hà Nam) tồn tại gần 100 năm qua. 

Cách Hà Nội khoảng 50 km, làng Nha Xá (Duy Tiên, Hà Nam) nổi tiếng với nhiều biệt thự mang kiến trúc Pháp có tuổi đời gần 100 năm. Ngôi làng rợp bóng cây xanh xen lẫn nét cổ kính, nhuốm màu thời gian.

Theo nhiều người lớn tuổi sinh ra và lớn lên ở đây, những năm đầu thế kỷ 20 dân làng có cuộc sống khấm khá, phát đạt nhờ nghề dệt lụa và thương mại.

Các sản phẩm vải lụa được thương lái từ TP.HCM ra mua hoặc xuất sang nước ngoài. Nhiều thương nhân của làng còn mở đại lý kinh doanh khắp các tỉnh thành lớn.

Trong bối cảnh đó, hàng chục ngôi nhà, biệt thự khang trang mọc lên. Đến nay, cả làng còn hơn 20 ngôi nhà cổ. Trải qua thăng trầm của lịch sử, chúng vẫn giữ được nét đẹp vốn có.

Những căn biệt thự mang dáng dấp kiến trúc Pháp ở làng Nha Xá.


Ngôi làng còn khiến chúng tôi tò mò với những căn hầm chạy ngầm dưới nền một số căn nhà, chúng tồn tại từ thời kỳ Pháp thuộc, có diện tích 20 - 40 m2.

Năm tháng trôi qua, những căn hầm gần như bị lãng quên. Tuy nhiên, mục đích xuất hiện của chúng ít ai nắm được.

Căn hầm bí ẩn nằm dưới nền nhà của dân làng.


Để rồi phía sau những căn hầm tồn tại không ít những câu chuyện bí ẩn, lời đồn thổi.

Có người cho rằng, chúng từng chứa đựng nhiều kho báu, vàng bạc...

Theo chân một người dân trong làng, chúng tôi tìm gặp chủ nhân những căn nhà đặc biệt đó để xác thực.

Bà Phạm Thị Ngần (SN 1954 - Nha Xá, Duy Tiên, Hà Nam) cho biết, bố chồng bà là thương nhân Lê Cao Chẩm.

Vợ chồng bà Phạm Thị Ngần.


Năm 1930, cuộc sống của người dân còn khó khăn, thiếu thốn nhưng cụ Chẩm thuộc hàng giàu có, bề thế ở làng.

Ngoài vải lụa do vợ làm ra, cụ thu mua cả vải lụa của các hộ dân quanh vùng, xếp thành đống lớn, đống bé, chuyển vào Nam.

Năm 1943, cụ khởi công xây dựng căn biệt thự vườn trên tổng diện tích đất khoảng 300
m2. Biệt thự này xây theo lối kiến trúc 3 gian, lợp mái ngói âm dương, trần ốp bằng gỗ. Bên cạnh nhà chính là nhà phụ 2 tầng lầu.

Dấu tích biệt thự cổ của thương nhân Lê Cao Chẩm. Nhà chính đề năm xây nhà 1943.


Chủ nhà còn chú trọng đến phong thủy, sự hài hòa của ánh sáng tự nhiên, lưu lượng gió ở mỗi phòng để luôn bảo đảm nhà thoáng khí. 

Ngoài ra, cụ Chẩm cho thiết kế một căn hầm, sâu dưới lòng đất khoảng 6m, rộng 40
m2. Căn hầm này có là các thanh sắt lớn chống đỡ, sau đó mới đổ bê tông lên.

Thời điểm gia đình gặp biến cố, cụ dỡ bỏ phần tầng 2 của căn nhà 2 tầng, mang gạch bán lấy tiền trang trải cuộc sống.

Sau này, khi cụ Chẩm mất đi, các con tiếp tục dỡ nốt phần còn lại, lấy gạch mang bán, chỉ còn lại căn hầm.

Căn nhà khoanh đỏ được xây trên nền nhà cũ, có tầng hầm.


“Căn hầm đó có hai cửa xuống. Ngày nhỏ tôi qua đó chơi thấy trên nền đất vẫn còn cửa vào căn hầm.

Khi tôi về làm dâu, hai vợ chồng phá bỏ luôn tầng hầm. Đến năm 2001 chúng tôi mới xây nhà cấp bốn”, bà Ngần nhớ lại.

Bà Ngần chỉ cho phóng viên địa điểm cửa căn hầm trong nhà.


Theo người phụ nữ này, từ khi về đây ở cho đến khi dỡ bỏ căn hầm, bà chưa bao giờ nghe thấy người trong gia đình hoặc ai đó nhắc đến việc các căn hầm được chôn kho báu.

Thời điểm phá hầm, xây nhà, gia đình bà cho thợ đào móng, chôn cọc rất sâu, không hề thấy gia tài nào như đồn thổi.

"Tôi lấy chồng, gia cảnh ông nhà tôi cũng sa sút, khó khăn. Vài năm nay, các con đi làm, hai vợ chồng mới đỡ vất vả", người phụ nữ sinh năm 1954 giãi bày.

Bà chia sẻ thêm từng nghe mẹ ruột kể, những năm Pháp thuộc, một nhà trong làng có cô con gái đẹp nức tiếng. Giai đoạn loạn lạc, Tây đi càn quét, người này sợ con bị giặc xâm hại đã giấu con gái xuống đó. Tình hình yên ổn mới dám đưa con lên.

Thời kỳ giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, căn hầm trở thành nơi trú ẩn, tránh bom mỗi khi nghe tiếng kẻng báo động.

"Nhà hàng xóm tôi hiện nay cũng có căn hầm tương tự rộng 20
m2. Chủ nhân xa xưa của căn nhà là một phú nông", bà tiết lộ.

Được sự đồng ý của gia chủ, bà Ngần đưa phóng viên xuống căn hầm của nhà hàng xóm.


Người phụ nữ đang sinh sống trong căn nhà đó khoảng 30 tuổi. Gia đình chị mới lát lại nền đá, dự định làm kho chứa đồ.

Căn ngầm có hai tầng, mũi tền màu đỏ là ngăn thứ hai.


Thi thoảng trẻ con vẫn chui vào đó nghịch ngợm. Bản thân chị cũng không nắm rõ căn hầm đó sử dụng làm gì.

Nóc hầm có nhiều thanh sắt cỡ lớn.


Cận cảnh căn hầm được cho là chứa tài sản quý giá của gia đình phú hộ cách đây gần 1 thế kỷ.


Tạm biệt những người dân hiếu khách, chúng tôi ra về với nỗi băn khoăn chưa tìm được câu trả lời rõ ràng cho đến khi gặp ông Nguyễn Văn Thai (SN 1938 - chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi làng Nha Xá).

Ông Thai cho hay, phần lớn những căn nhà có hầm xưa kia đều thuộc sở hữu của lớp người giàu, có của ăn của để trong làng. Chủ nhân cũ của căn nhà đó thuộc hàng địa chủ trước đây.

“Ngày tôi còn bé, các cụ hay kể, trong vùng khi đó nổi lên một nhóm cướp. Dân làng nghe đến danh chúng xuất hiện là khiếp đảm. Tối đến cửa đóng, then cài, không dám đi đêm.

Các nhà giàu có nhiều hàng hóa và vàng bạc để trong nhà. Họ sợ bị nhóm này đến cướp nên đã xây những tầng hầm bí mật cất giữ của cải. Mỗi căn hầm có diện tích khác nhau, tùy số tài sản người đó có. 

Ngày đó, cửa hầm ít khi lộ thiên và thường được chủ nhà ngụy trang bằng bức tường hoặc cây cối”, ông Thai nói.

Trao đổi với VietNamNet, ông Lương Văn Hùng - Chủ tịch UBND xã Mộc Nam (Duy Tiên, Hà Nam), cho biết: "Theo một số tài liệu ghi chép, những năm đầu thế kỷ 20, đời sống người dân ở đây rất thịnh vượng nhờ phát triển thương nghiệp, buôn bán vải vóc. Nhiều biệt thự mang dáng dấp phương Tây ra đời trong thời kỳ này.

Các gia đình khá giả thường làm thêm một tầng hầm nhằm mục đích cất giữ tài sản, hàng hóa đắt tiền. Ví dụ như tơ chỉ - một nguyên liệu làm các tấm vải lụa được so sánh là có giá đắt ngang vàng.

Khi chiến tranh, giặc Mỹ ném bom, các căn hầm này trở thành nơi trú ẩn cho bà con dân làng. Hiện một số hộ đã phá dỡ, xây nhà mới, một số khác vẫn giữ lại làm kho...".

Thanh Tâm - Phùng Huy

Truyền thuyết đá nổi

đăng 01:41, 10 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Theo truyền thuyết, đồng đá nổi (Thoại Sơn) rộng lớn xưa kia từng xuất hiện hàng hà loại đá có hình thù đa dạng. Xen lẫn trong đó là nhiều câu chuyện về những tay “săn đá”, “săn vàng” với giấc mộng giàu sang. Cũng từ đó, hàng loạt câu chuyện kỳ bí xoay quanh đồng đá nổi cũng như miếu đá nổi được người dân lưu truyền đến nay. 

Ly kỳ chuyện lấy đá, “săn vàng” 

Người dân thờ cúng nhiều phiến đá trên đồng đá nổi ngày ấy 


Nằm lọt thỏm giữa vùng ruộng lúa mênh mông của xã Phú Thuận, đồng đá nổi xưa kia hiện hữu ở ấp Phú Tây - nơi duy nhất xuất hiện đá nổi. Và hiển nhiên, ngày nay trở thành một trong những điểm đến tâm linh nhất ở Thoại Sơn. Tìm về đồng đá nổi xưa kia, trước mắt chúng tôi chỉ toàn những mẫu ruộng còn thơm mùi lúa mới. Trưởng ban Quản lý di tích miếu Đá Nổi Văng Công Trạc chỉ tay về những ruộng lúa trước mặt giải thích: “Bây giờ không còn đá nổi trên những cánh đồng nữa. Trước đây, đá xuất hiện trên cánh đồng này nhiều lắm. Theo ông bà xưa thì đá nhiều không đếm xuể. Những viên đá to nhỏ, hình dạng khác nhau (tròn, dẹp, vuông…) như bàn tay con người tạo ra, thu hút sự hiếu kỳ của nhiều người. Thấy đá đẹp, nhiều người thích thú đem về nhà hoặc bán cho những “tay” săn cổ vật thời ấy. Nhưng không được bao lâu thì đá được người ta hoàn y chỗ cũ. Tất nhiên, đằng sau đó là những câu chuyện kỳ bí, khó lý giải. Được một thời gian, đồng đá nổi tự nhiên “biến mất” như cách nó xuất hiện - bí ẩn. Giờ, trên mảnh đất ấy, bà con nuôi cá, làm ruộng nhưng tuyệt nhiên không tìm được bất kỳ viên đá nào nữa. Chỉ còn sót số ít đá được tập trung trước sân miếu và thờ cúng ở miếu Đá Nổi ngày ấy là còn hiện hữu”. 

Đá nổi còn sót lại được chất ở sân miếu 


Ngồi giữa cánh đồng lộng gió, bóng cây xanh rợp mát, chúng tôi được nghe về những câu chuyện kỳ bí. Theo ông Trạc, gia đình ông nhiều đời đã gắn bó, quản lý miếu Đá Nổi nên hầu như chứng kiến nhiều chuyện lạ kỳ. Có người từng thích thú với phiến đá hình dáng như cái ghế ngồi trên đồng đá nổi xưa nên đã mang về nhà. Không bao lâu, người ta lại thấy người đó được người thân dìu đến miếu khấn vái trong tình trạng “sức tàn lực kiệt”, đồng thời trả lại đá đã lấy trước đây. Vừa quay lưng đi, ai cũng ngạc nhiên vì người này đã đi đứng được bình thường như chưa từng lâm bệnh. Cứ thế, hàng loạt câu chuyện kỳ bí được truyền tai... Hiện nay, đến đồng đá nổi hỏi người dân địa phương, ai cũng lắc đầu bảo rằng không dám lấy bất kỳ viên đá nào. Tương tự đá nổi, theo lời dân bản địa, cánh đồng đá nổi lúc xưa ngoài đá còn xen rất nhiều vàng. Điều này đã thu hút nhiều kẻ “săn vàng” tìm đến. “Số phận một số người tham gia cuộc đào vàng năm xưa (còn ở địa phương), nay cuộc sống không khá giả mà còn lâm cảnh nghèo túng” - ông Trạc chùn giọng. 

Miếu Đá Nổi thu hút khách thập phương 

Đương buổi ban trưa oi ả, cái nắng như thiêu đốt trên đầu mà miếu Đá Nổi cứ nhộn nhịp người viếng. Có điều vừa đặt chân đến miếu, không gian thoáng đãng, mát mẻ tràn ngập khắp nơi khiến lòng người dịu lại. Chúng tôi được Trưởng ban Quản lý miếu dẫn đi tham quan, giới thiệu khắp nơi. “Miếu này phải có từ cả trăm năm trước. Từ thời ông nội tôi đã thấy miếu này được lập bên cạnh cánh đồng đá nổi. Song, ngày đó, miếu chỉ được dựng đơn sơ bằng tre lá xập xệ. Sau này, được xây cất khang trang hơn với mái thiếc và cây kiên cố. Đến nay, đã nâng cấp chỉnh trang bằng tường vách vững chắc. Năm 2017, miếu Đá Nổi được Chủ tịch UBND tỉnh công nhận là Di tích khảo cổ cấp tỉnh. Mỗi năm, đến mùng 9, 10, 11 tháng 3 (âm lịch), hàng ngàn người từ khắp các nơi ồ ạt kéo đến miếu vái lạy, cúng viếng, nhộn nhịp cả cánh đồng thơ mộng” - ông Trạc cho biết. 

Cây “thạch đao” trong miếu Đá Nổi 


Miếu Đá Nổi thờ bà chúa và trăm quan (các vị thần). Ngoài miếu có nhiều miễu nhỏ thờ những phiến đá được mang về từ đồng đá nổi. Đặc biệt, có phiến đá hình dạng như cây đao được mọi người gọi là “thạch đao”. Ai đến miếu đều không quên vái lạy. Ông Văng Công Trạc chia sẻ thêm: “Lúc xưa, cây “thạch đao” này nằm trên đồng đá nổi. Một gia đình nhà nông phát hiện và tìm cách mang về nhà. Họ dùng sức 2 con trâu và 4 người đàn ông lực lưỡng nhưng không lay chuyển được. Nghe mách nước, họ lập bàn thờ cúng lạy. Sau đó, chỉ cần 2 người là có thể ôm được “thạch đao” về. Sau này, họ mang “thạch đao” đến miếu để thờ. Trước đây, mặt trước của “thạch đao” có khắc nhiều văn tự cổ, giờ bị mờ nhạt, gần như không còn. Tuy nhiên, người ta truyền tai rằng, ai “có duyên” sẽ nhìn thấy những chữ cổ ấy”. 

Đồng đá nổi một thời thu hút những kẻ săn đá, tìm vàng, giờ đây càng thu hút nhiều người tìm đến vì những câu chuyện huyền bí. Song, tất cả chỉ dừng lại ở niềm tin. Người ta đến chủ yếu để giải tỏa thắc mắc và thắp vài nén nhang thể hiện tấm lòng thành, cầu mong gia đạo bình an là chính. 

Bài, ảnh: PHƯƠNG LAN

1-10 of 15