Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Cận cảnh lễ cúng bản độc đáo của người Cống ở Lai Châu Lễ cúng bản, một trong những sắc thái văn hóa cổ truyền trong đời sống tâm linh của đồng bào Cống được tổ chức thường niên vào tháng 4.Người ...
    Được đăng 18:19, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tới chợ vùng cao Lai Châu khám phá du lịch Tây Bắc Chợ phiên vùng cao ở Lai Châu không chỉ là nơi để mua bán, trao đổi hàng hóa mà còn là nơi để đồng bào gặp gỡ, tâm tình...Lai ...
    Được đăng 17:52, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • “Vương quốc” quýt hồng Lai Vung Nằm bên dòng sông Hậu được phù sa bồi đắp nên đất đai màu mỡ, huyện Lai Vung (Đồng Tháp) được biết đến là “vương quốc” quýt hồng của vựa ...
    Được đăng 09:24, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tinh hoa nghề mộc Chợ Thủ Được mệnh danh là “Đệ nhất nghề mộc và chạm khắc gỗ vùng Tây Nam bộ”, làng mộc Chợ Thủ ở huyện Chợ Mới (An Giang) đã tồn tại và ...
    Được đăng 09:14, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • “Xứ sở ngàn hoa” đất phương Nam Nằm bên dòng sông Tiền phù sa màu mỡ, làng hoa ở Tp. Sa Đéc (Đồng Tháp) đã tồn tại và phát triển hơn 100 năm qua, được ví như ...
    Được đăng 03:05, 3 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 22. Xem nội dung khác »


Cận cảnh lễ cúng bản độc đáo của người Cống ở Lai Châu

đăng 18:19, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Lễ cúng bản, một trong những sắc thái văn hóa cổ truyền trong đời sống tâm linh của đồng bào Cống được tổ chức thường niên vào tháng 4.

Người Cống trên cả nước hiện nay có khoảng hơn 2.000 người, trong đó chủ yếu sinh sống tập trung dọc sông Đà, thuộc địa bàn xã Nậm Khao, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

 

Lễ vật cúng bản gồm có 2 quả trứng vịt, 2 cuộn vòng bạc và hai bát gạo để cúng hai vị thần linh thiêng nhất trong đời sống tâm linh của người Cống là Thần rừng và Thần mó nước.

 

Ngoài ra, lễ vật trên mâm cúng còn có một ít tro bếp nhà thầy mo, một ít thuốc lào và một ít cơm cháy tượng trưng cho những vật chất rất thân thuộc trong đời sống của người Cống.

 

Mâm lễ cúng bản của người Cống. Đây là nghi lễ tín ngưỡng cộng đồng, nhằm cầu cho bản làng yên bình, đất trời mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống đủ đầy, ấm no.

 

Trên mâm lễ cúng bản của người Cống còn có hai lá ổi. Hai lá ổi này tượng trưng cho sự hiện diện của hai vị thần rừng và thần mó nước.

 

Vợ thầy mo Lò Văn Chờ sửa soạn trang phục truyền thống của người Cống trước giờ cúng bản.

 

Trước khi cúng ở đầu bản, lễ cúng được thực hiện tại nhà để mời tổ tiên người Cống về vui ngày cấm bản.

 

Đoàn thanh niên sửa soạn Lễ vật lên rừng làm lễ cúng bản

 

Thầy mo Lò Văn Chờ đã hơn 20 năm nay làm thầy cúng bản Nậm Pục. Ông cho biết: “Những bài cúng trong ngày cấm bản là do tổ tiên truyền lại. Trong bản Nậm Pục có nhiều người biết, thuộc nhưng để làm được thầy cúng thì gia đình phải có uy tín trong bản”.

 

Con gà trắng trong lễ cấm bản tượng trưng cho ma quái trên rừng. Thầy cúng sẽ giết con gà như để diệt trừ ma quái, bảo vệ bản làng.

 

Trai bản Nậm Pục làm bậc thang lên sàn cúng. Người Cống quan niệm, sàn cúng cũng giống như nhà sàn, phải có bậc thang thì các vị tổ tiên, thần linh mới lên sàn về chứng giám lòng thành của dân bản.

 

Thầy mo Lò Văn Chờ làm lễ tế sống gà, lợn mời thần mó nước và thần rừng về chứng giám.

 

Trong quá trình làm lễ, luôn có 1 đến 2 thanh niên phụ giúp hoàn thiện các công đoạn trong lễ cúng.

 

Những chiếc lông gà sau khi cúng sẽ được cắm ở đầu và cuối bản Nâm Pục xã Nậm Khao để trừ yêu ma.

 

Lễ chính là gà trắng để xua đuổi yêu ma.

 

Gà trắng được giết, tượng trưng cho việc yêu ma đã được diệt trừ.

 

Những chiếc lông gà được cắm xuống đất để trừ tà.

 

Sau khi lễ, quả trứng được bóc ra để làm phép, gửi lời cầu mong của dân bản tới thần rừng và thần mó nước.

 

Thầy mo Lò Văn Chờ làm lý để mời thần linh thụ hưởng lễ vật

 

Rót rượu mời thần linh

 

Thầy mo Lò Văn Chờ dùng vòng bạc để làm quẻ bói âm dương.

 

Sau khi cúng xong, nhưng tấm liếp được đan để cắm ở đầu bản và cuối bản như một lá chắn, cản trở sự xâm nhập của ma rừng vào bản. 

 

Niềm tin của người dân trong bản Nậm Pục là từ giờ phút này, bản Nâm Pục nội bất xuất ngoại bất nhập, bà con  dân bản sẽ có được cuộc sống yên bình.

 

Sau lễ cúng, người dân cùng nhau liên hoan. Đây là một hoạt động thắt chặt tình đoàn kết của bà con trong bản và chờ thời gian cấm bản hết hiệu lực để tiếp tục lao động, sản xuất. 


Khắc Kiên - VOV-Tây Bắc

Tới chợ vùng cao Lai Châu khám phá du lịch Tây Bắc

đăng 17:52, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chợ phiên vùng cao ở Lai Châu không chỉ là nơi để mua bán, trao đổi hàng hóa mà còn là nơi để đồng bào gặp gỡ, tâm tình...

Lai Châu có nhiều chợ phiên vùng cao, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là chợ phiên San Thàng (thành phố Lai Châu), chợ phiên Dào San (Phong Thổ), chợ phiên Pa Tần (Sìn Hồ), chợ Sừng Sì Lở Lầu....

 

Ai đã một lần ghé thăm Lai Châu, hẳn không thể nào quên những nét đặc sắc của các phiên chợ nơi đây.

 

Không ai nhớ chợ phiên có từ bài giờ, mà chỉ biết chợ phiên đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong đời sống của người dân vùng cao.

 

Ngoài mục đích mua bán, trao đổi hàng hóa, chợ phiên còn là nơi giao lưu văn hóa của đồng bào các dân tộc.

 

Các phiên chợ ở Lai Châu thường được họp vào ngày thứ 5 và Chủ nhật hàng tuần, nhưng có một phiên chợ đặc sắc đó là chợ Sừng Sì Lở Lầu (Phong Thổ).

 

Đến hẹn lại lên, từ sáng sớm các buổi chợ, những người Mông, Dao, Giáy, Hà Nhì, Thái… lại tụ họp về chợ phiên.

 

Bé cùng bà đi chợ.

 

Bà con dân tộc vùng cao đi chợ không chỉ để mua bán hàng hóa mà còn để gặp gỡ, giao lưu, trò chuyện tâm tình...

 

Những mặt hàng được bán ở chợ phiên khá phong phú nhưng chủ yếu là các sản vật của núi rừng.

 

Những bó rau rừng mang đậm bản sắc vùng cao...

 

...hay những cây măng tươi là sản phẩm không thể thiếu trong mùa tháng 4.

 

Đồng bào về chợ bán những sản vật từ rừng, để mua nhưng công cụ lao động mang về phục vụ cho lao động sản xuất.

 

Nhưng những mặt hàng có giá trị nhất được bà con mang xuống chợ thường là gà, lợn cắp nách và những con trâu...

 

...hay những loại chim cảnh mà cánh đán ông ưa thích.

 

Ngày nay, tại các chợ phiên, nhiều sản phẩm đặc trưng được làm thủ công từ đôi bàn tay khéo léo của đồng bào là mặt hàng không thể thiếu.

 

Kẹo kéo, món quà quê ngày xưa nay cũng xuất hiện ở tất các các chợ phiên vùng cao Lai Châu...

 

..hay những chiếc ghế mây, một sản phẩm thủ công nguyên liệu lấy từ núi rừng

 

Và cả các loại gia vị đặc trưng Tây Bắc như mắc khén, chẩm chéo, thảo quả, ớt thóc...

 

 Tranh thủ thêu thổ cẩm khi bán hàng.

 

Các mặt hàng váy áo thổ cẩm thu hút nhiều người dân vùng cao tại chợ phiên.

 

Trong những buổi chợ phiên, nhiều đứa trẻ chỉ vài ba tháng tuổi cũng được bố mẹ cho theo về chợ rồi ngủ ngon trên lưng trong suốt buổi chợ.

 

Vui nhất là những đứa trẻ theo bà, theo mẹ xuống chợ.

 

Đặc sắc trang phục truyền thống của phụ nữ Dao đầu bằng tại chợ phiên San Thàng.

 

Và nhiều người dân khi rời chợ chỉ mang về những bó mía làm quà cho con.


Khắc Kiên - VOV-Tây Bắc

“Vương quốc” quýt hồng Lai Vung

đăng 09:24, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm bên dòng sông Hậu được phù sa bồi đắp nên đất đai màu mỡ, huyện Lai Vung (Đồng Tháp) được biết đến là “vương quốc” quýt hồng của vựa trái cây Đồng bằng sông Cửu Long. Loại trái cây này đã trở thành sản vật đặc biệt với hương vị thơm, ngọt, vỏ mỏng ít hạt, đang là mặt hàng giúp người nông dân nơi đây làm giàu.

Dọc theo hai con đường liên xã ở huyện Lai Vung là màu sắc bắt mắt của quýt hồng đang vào độ chín. Quýt hồng chủ yếu được trồng tập trung nhiều nhất tại các xã Vĩnh Thới, Tân Phước, Tân Thành và Long Hậu. Với diện tích canh tác gần 2000ha, mỗi năm, vùng quýt hồng Lai Vung cung cấp cho thị trường khoảng 40.000 tấn. Hiện nay, quýt hồng Lai Vung có mặt ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước và đã được xuất khẩu đi một số nước trên thế giới.

Giá quýt hồng thường dao động từ 20 - 25 nghìn đồng/kg. Những năm được mùa, giá có thể lên đến 30.000đ/kg mà vẫn không đủ hàng để bán. Đặc biệt, cũng giống quýt hồng Lai Vung, cũng một kỹ thuật canh tác, nhưng khi đưa về trồng ở vùng khác, chủ yếu quanh khu vực châu thổ sông Cửu Long lại cho năng suất không cao, trái quýt cũng không ngon ngọt, đẹp, năng suất cao như ở Lai Vung. Chính vì vậy, vùng đất này được người dân Đồng bằng Sông Cửu Long mệnh danh là "Vương quốc quýt hồng".

Với diện tích gần 2.000 ha trồng quýt và hàng năm cung cấp cho thị trường trên 40.000 tấn/ năm, vùng đất Lai Vung được người dân Đồng bằng Sông Cửu Long mệnh danh là "Vương quốc' quýt hồng. Ảnh: Công Đạt


Cây quýt hồng được trồng nhiều nơi ở vùng châu thổ Sông Cửu Long nhưng do đặc điểm thổ nhưỡng của vùng đất Lai Vung này nên loại trái cây tại đây lại cho năng suất cũng như chất lượng cao hơn cả. Ảnh: Công Đạt


Với những cây đã lâu năm, thân cây khá cao, chủ vườn phải trèo lên cây để thu hoạch. Ảnh: Công Đạt


Chị Hồng, chủ một vườn rộng 4000 m2 tại Lai Vung cho biết, hằng năm có khoảng 4500 khách

từ khắp nơi đến tham quan, tìm hiều và mua trái cây tại vườn. Ảnh: Công Đạt

Trái quýt đường, loại quýt mọng nước và ít hạt, được nhiều hộ dân Lai Vung nhân giống trồng đại trà. Ảnh: Công Đạt


Người nông dân dùng dây buộc gia cố tránh gẫy cho những cành quýt sai quả. Ảnh: Công Đạt


Vào những dịp cuối năm là mùa quýt nở rộ, du khách có thể ghé những nhà vườn ở Lai Vung

để trải nghiệm cảm giác được làm nông dân. Ảnh: Kim Phương

Ấn tượng ban đầu của du khách là quýt ở đây quá nhiều, có những chùm trái sà xuống gần với mặt đất. Ảnh: Kim Phương


Sau một buổi thử nghiệm làm nông dân, du khách sẽ tự thưởng cho mình những trái quýt với mùi vị thơm ngon, ngọt lịm. Ảnh: Kim Phương


Khi gần đến mùa thu hoạch, các nhà vườn bắt đầu đón thương lái đến đặt hàng và du khách đến tham quan. Ảnh: Kim Phương


Ngoài những trái quýt hồng ngon ngọt, Lai Vung còn là một điểm tham quan hết sức độc đáo thu hút du khách trong và ngoài nước. Ảnh: Công Đạt


Quýt hồng được đóng vào những thùng xốp để vận chuyển đi cung cấp cho các vùng trong cả nước. Ảnh: Công Đạt


Quýt hồng Lai Vung là loại quả rất được thi trường ưa chuộng, đặc biệt mỗi dịp Tết, thương lái đổ về Lai Vung để mua quýt hồng mang đi tiêu thụ ở khắp nơi. Ảnh: Công Đạt


Quýt Lai Vung còn có tên dân gian là quýt “tiêu son” do người dân địa phương dùng để gọi một loại quýt quả ngọt, vỏ căng bóng, khi chín màu cam đỏ, có thể bày biện cúng đẹp, để được lâu trong điều kiện tự nhiên. Sau này thương lái gọi thành quýt hồng và từ đó tên gọi này nhanh chóng trở thành một thương hiệu nổi tiếng.
 Giá vé tham quan vườn quýt ở Lai Vung là 50.000 đồng đối với người lớn và 25.000 đồng đối với trẻ em. Thời gian các nhà vườn mở cửa đón khách bắt đầu từ 08h sáng đến 17h hằng ngày.

Sở dĩ cây quýt hồng nổi tiếng ở vùng đất Lai Vung là nhờ khí hậu và thổ nhưỡng thích nghi đã giúp cho cây trái sum sê, chất lượng thơm ngon ít nơi nào bì kịp.

Đặc biệt, ngoài những trái quýt hồng ngon ngọt, Lai Vung còn là một điểm tham quan hết sức độc đáo thu hút du khách trong và ngoài nước. Những tour du lịch thăm vườn quýt hồng mang lại một nguồn thu không nhỏ cho các hộ gia đình nơi đây.

Từ một vài nhà vườn đón khách tham quan trong năm 2016, đến nay toàn huyện Lai Vung có 7 điểm tham quan vườn quýt hồng như nhà vườn Lan Anh, Hai Kiệt ở xã Long Hậu; Út Tường, Hồng Vân ở xã Tân Thành; Tư Ràng xã Vĩnh Thới và Phương Nghi ở xã Tân Phước.

Vào mùa quả chín, du khách có thể ghé những nhà vườn này để trải nghiệm cảm giác được làm nông dân thu hoạch quýt.

Sau một buổi thử nghiệm làm nông dân, du khách sẽ tự thưởng cho mình những trái quýt với mùi vị thơm ngon, ngọt lịm. Đây cũng là món quà rất thú vị và ý nghĩa của du khách mua về cho người thân và gia đình. Tại các điểm tham quan này, ngoài việc được quay phim, chụp ảnh lưu niệm, du khách còn được phục vụ giải khát, thưởng thức quýt hồng, quýt đường, đặc sản nem Lai Vung và thưởng thức đờn ca tài tử.

Thực hiện: Công Đạt – Kim Phương

Tinh hoa nghề mộc Chợ Thủ

đăng 09:14, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Được mệnh danh là “Đệ nhất nghề mộc và chạm khắc gỗ vùng Tây Nam bộ”, làng mộc Chợ Thủ ở huyện Chợ Mới (An Giang) đã tồn tại và phát triển hơn 200 năm với những sản phẩm vang danh, được người tiêu dùng gần xa ưa chuộng. 

Theo những cứ liệu lịch sử, đình Chợ Thủ được xây dựng vào năm 1786. Trong đình còn lưu giữ nhiều dấu tích khắc gỗ tinh xảo qua các bao lam, hoành phi, cột, kèo, điều đó cho thấy, nghề mộc nơi đây cũng có tuổi đời hơn 200 năm.

Hàng năm, làng mộc Chợ Thủ tổ chức cúng tế 2 lần vào ngày 13/ 6 và 20 tháng Chạp Âm lịch thờ tam vị thánh tổ là: Lịch Đại tổ sư, Lỗ Ban tiên sư và Cửu Thiên Huyền Nữ.
Nghề chạm khắc gỗ ở Chợ Thủ có nguồn gốc từ miền Bắc theo hành trang của người Việt trên đường khai phá Nam Bộ, nghề này đã sớm được hình thành ở vùng Cao Lãnh (Đồng Tháp).

Khi thực dân Pháp chiếm Cao Lãnh thì các nghệ nhân tản cư về vùng Chợ Thủ. Từ đó, cứ cha truyền con nối, dần dần nhiều thanh niên đến học nghề và phát triển nghề ra một vùng rộng lớn.

Trải qua gần 2 thế kỷ với biết bao thăng trầm, những tiếng đục gỗ, tiếng mài, cưa và mùi thơm của gỗ…vẫn là âm thanh và hương vị đặc trưng lên dọc tuyến đường tỉnh lộ chạy qua huyện Chợ Mới. Hai bên đường là những cửa hàng trưng bày đủ mọi sản phẩm từ gỗ. Chỉ cần nhìn vậy đã thấy được sự hưng thịnh của của nghề mộc Chợ Thủ.

Người thợ làng mộc Chợ Thủ miệt mài trong công đoạn bào láng cho các thớ gỗ được trơn và mịn.


Công đoạn vẽ bản thô cho bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát trước khi được chạm khắc. Công đoạn này đòi hỏi người thợ mộc phải cẩn thận, tỉ mỉ từng chi tiết, nếu vẽ sai một chi tiết đến khi đục, khắc

cũng có thể làm hỏng cả bức tượng.

Công đoạn giũa sản phẩm trước khi được quét dầu bóng.


Thợ mộc Chợ Thủ nổi tiếng vùng Tây Nam bộ bởi nghề khắc gỗ, đẹp, tinh xảo đến từng chi tiết.


Các đề tài khắc gỗ ở làng mộc Chợ Thủ thường là do khách hàng yêu cầu hoặc do thợ mộc sáng tạo. Các mô típ hoa văn thường theo mẫu có nội dung truyền thống nhưng vẫn pha thêm cảm hứng sáng tạo của người thợ.


Để tạo nên những sản phẩm tinh xảo, nghề chạm khắc gỗ ở Chợ Thủ cần đến rất nhiều dụng cụ chuyên dụng. Trong đó các loại đục giữ vai trò cực kì quan trọng của nghề mộc. 


Để làm ra một sản phẩm, người làm mộc ở Chợ Thủ phải qua rất nhiều công đoạn, gồm có sự tham gia của cả thợ mộc lẫn thợ chạm. Mộc Chợ Thủ nổi tiếng với sự đa dạng về mẫu mã và kiểu dáng. 


Để cho ra đời một sản phẩm, người làm mộc Chợ Thủ phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp như: cưa xẻ gỗ, cắt theo quy cách sản phẩm, bào láng, lấy kích thước, vào khung từng loại, đồ mực trên gỗ, vẽ, chạm, lắp ráp, sơn, gắn khóa…Anh Kiều (43 tuổi), một nghệ nhân làm ở cơ sở mộc Thanh Tím tại ấp Thị 2, thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới đã có thâm niên làm nghề mộc gần 30 năm nay chia sẻ : “Từ đôi bàn tay khéo léo, chúng tôi thổi hồn của những nét văn hóa truyền thống, những hình ảnh cuộc sống sông nước miền Tây… vào từng thớ gỗ qua những nét chạm trổ công phu, tỉ mẩn. Nhờ thế, mộc Chợ Thủ ngày càng nổi tiếng và khẳng định được thương hiệu”.

Anh Trần Phước Trí, 42 tuổi, chủ cơ sở mộc Thanh Tím cho biết thêm: “Chúng tôi còn cho thợ đi đến các làng mộc nổi tiếng ngoài Bắc, miền Trung để học hỏi thêm kinh nghiệm, năng cao tay nghề. Hiện nay, xưởng tôi có 45 người làm việc, Tùy từng công đoạn làm việc, mỗi người sẽ được trả lương từ 150 ngàn đến 350 ngàn đồng/ngày”.

Mộc Chợ Thủ nổi tiếng với sự đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng và đề tài trang trí. Tùy vào yêu cầu của khách hàng hay sự sáng tạo của những người thợ mà cho ra các sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao như: tủ thờ, tủ quần áo, bàn ghế, đi-văng, kệ, giường hộp cho đến các loại ban công, cầu thang lầu, bao lam, câu đối, các loại tượng, phù điêu... Hơn nữa, sản phẩm mộc Chợ Thủ có chất lượng gỗ tốt, sử dụng bền, đẹp theo thời gian nên tạo được uy tín rất cao với khách hàng. Nhiều sản phẩm của làng nghề đã tham gia các cuộc hội chợ đi khắp mọi miền đất nước.

Mộc Chợ Thủ có những sản phẩm có giá lên tới hàng trăm triệu đồng như các bộ bàn ghế gỗ hưng, cẩm lai… Hiện nay, huyện Chợ Mới có khoảng 1.900 hộ tham gia nghề mộc với trên 200 cơ sở lớn, nhỏ tập trung nhiều nhất ở thị trấn Mỹ Luông và xã Long Điền A. Nghề mộc đã giải quyết việc làm thường xuyên cho gần 3.500 lao động, góp phần tạo việc làm, giữ gìn và phát huy làng nghề truyền thống ở An Giang.

Một số các mặt hàng, sản phẩm đặc sắc của làng mộc Chợ Thủ:









Bài: Nguyễn Oanh - Ảnh: Thông Hải

“Xứ sở ngàn hoa” đất phương Nam

đăng 03:05, 3 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm bên dòng sông Tiền phù sa màu mỡ, làng hoa ở Tp. Sa Đéc (Đồng Tháp) đã tồn tại và phát triển hơn 100 năm qua, được ví như “xứ sở ngàn hoa” của đất phương Nam. Sản phẩm hoa, cây cảnh của Sa Đéc hiện đang cung cấp cho nhiều thị trường trong và ngoài nước. 

Nghề trồng hoa ở Sa Đéc có từ đầu của thế kỷ 20, xuất phát từ một số hộ trồng hoa cảnh ở xã Tân Quy Đông. Ban đầu, họ trồng chủ yếu để trang trí và làm quà biếu trong dịp Tết. Dần dần, số hộ trồng hoa tăng lên và mục đích trồng hoa cũng thay đổi, chuyển sang lĩnh vực kinh doanh, mua bán.

Hoa ở Sa Đéc không có mùa rõ rệt, dường như quanh năm lúc nào cũng có hoa, hoa từ các vườn nhỏ, ruộng to được tập kết về bến sông chuẩn bị cho cuộc hành trình đến tay những người tiêu dùng. Hoa cảnh Sa Đéc theo mọi ngả đường đi khắp miền Nam, miền Trung, thậm chí ra cả miền Bắc để phục vụ thú chơi của người dân cả nước.

Một vườn ươm hoa giống của làng hoa tại Sa Đéc. Ảnh: Công Đạt


Người nông dân ở Sa Đéc ươm giống cây con trong những chiếc cốc nhựa. Ảnh: Công Đạt


Rồi sau đó chuyển sang những chậu lớn hơn. Ảnh: Công Đạt


Công tác ươm giống cây con và cung cấp cây hoa giống được những người nông dân ở Sa Đéc thực hiện quanh năm. Ảnh: Công Đạt


Những chậu ươm giống hoa la lan, khi nở ra bông rất đẹp. Ảnh: Công Đạt


Do đặc điểm sinh trưởng của từng loại hoa khác nhau nên người dân Sa Đéc trồng hoa gối vụ, thu hoạch loại hoa này là trồng tiếp ngay loại hoa khác. Ảnh: Công Đạt


Ngoài những giống hoa truyền thống, người dân Sa Đéc cũng luôn quan tâm đến việc cập nhật những giống hoa mới. Ảnh: Công Đạt


Cũng do đặc điểm sinh trưởng khác nhau nên cách chăm sóc mỗi loài hoa cũng không giống nhau. Vì thế người dân Sa Đéc quanh năm tất bật với những vườn hoa của mình. Ảnh: Công Đạt 


Thời điểm đẹp nhất của làng hoa ở Sa Đéc là từ ngày 10 cho đến ngày 22 tháng Chạp âm lịch hàng năm. Từ khoảng ngày 23 tháng chạp, người dân khắp làng hoa lại rộn ràng chuẩn bị vận chuyển hoa đi cung cấp cho các vùng trong cả nước phục vụ Tết Nguyên Đán. 
Hiện nay, Sa Đéc có hơn 1.500 hộ trồng hoa, cây cảnh với trên 1.000 chủng loại khác nhau, tạo nên một nét riêng độc đáo rực rỡ sắc màu bên con sông Tiền. Ngoài thâm canh truyền thống, người nông dân ở Sa Đéc còn ứng dụng khoa học kỹ thuật về ghép lai tạo giống, làm kiểng bonsai…

Bình quân mỗi ha trồng hoa kiểng thu lãi hơn 200 triệu đồng/năm, lãi gấp 5-10 lần trồng lúa. Đơn cử như mô hình của ông Đào Văn Ty, ở ấp Khánh Hòa, xã Tân Khánh Đông với diện tích hơn 3 công đất (khoảng 3000 m2), chuyên trồng hoa vạn thọ Pháp với việc ươm giống và bán cây con, trừ hết chi phí, gia đình ông cũng thu lãi cả trăm triệu đồng mỗi vụ.

Ngoài ra, làng hoa ở Sa Đéc còn như một “phim trường” thỏa mãn các tay máy chuyên và không chuyên săn tìm vẻ đẹp của khung cảnh xuân miền sông nước với không khí và hình ảnh rất đặc sắc. Đặc biệt, ở “xứ sở ngàn hoa” của đất phương Nam này, mọi người thoải mái dạo chơi, hoặc thuê xe đạp dạo một vòng qua các vườn hoa, thưởng cảnh và tìm cho mình một loài hoa ưng ý.

Hoa cảnh truyền thống ở Sa Đéc là một thứ hàng hóa đặc thù, không chỉ hiệu quả về kinh tế, mà bao hàm cả văn hóa, nghệ thuật, thẩm mỹ, bảo vệ môi trường sinh thái nên đã trở thành một điểm du lịch lý thú mang sắc thái độc đáo riêng của vùng sông nước Cửu Long.

Được ví như “xứ sở ngàn hoa” của đất phương Nam, làng hoa ở Sa Đéc đã tồn tại và phát triển hơn 100 năm qua. Ảnh: Công Đạt


Những vườn cúc mâm xôi là một "đặc sản" của làng hoa Sa Đéc mỗi dịp Tết đến, Xuân về. Ảnh: Kim Phương


Dọc những con đường trong làng hoa ở Sa Đéc, những giỏ hoa rực rỡ sắc màu được treo rất đẹp mắt. Ảnh: Công Đạt


Hoa và kiểng Sa Đéc không chỉ mang lại nguồn lợi kinh tế cao cho địa phương mà đây là nơi thu hút nhiều du khách trong nước, nước ngoài đến tham quan du lịch. Ảnh: Công Đạt


Hoa được trồng và thu hoạch quanh năm nên vào bất cứ thời gian nào trong năm du khách cũng có thể đến tham quan, thưởng ngoạn. Ảnh: Công Đạt


Du khách có thể thuê xe đạp dạo một vòng qua các hàng hoa, ngắm nghía, trả giá. Ảnh: Công Đạt


Những thiếu nữ dạo chơi bên những luống hoa ở Sa Đéc. Ảnh: Kim Phương 


Thực hiện: Công Đạt – Kim Phương

Đi tìm câu trả lời cho phong tục đàn bà bị cấm cửa vào nhà rông

đăng 01:56, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Suốt đời phụ nữ không được bước vào nhà rông ở làng Điệp Lôk 


Người Ja Rai ở xã Điệp Lôk, xã Ya Tăng của huyện Sa Thầy (Kon Tum) đến nay vẫn còn duy trì phong tục cấm phụ nữ bước và nhà rông.

Gần đây khi về làng Điệp Lôk, xã Ya Tăng của huyện Sa Thầy (Kon Tum), chúng tôi ngỡ ngàng khi phát hiện ở đây còn duy trì phong tục cấm cửa đàn bà vào nhà rông. 

Sợ Yàng quở phạt 

Chúng tôi về làng Điệp Lôk vào một buổi chiều muộn cuối năm. Đất này đã trở mùa, nắng ấm như hòa lẫn với màu hoa đỏ, xua đi cái lạnh se se Tây nguyên ngày cuối năm. Đây đó màu xanh mơn mởn của cây cối đã báo hiệu mùa xuân đã về. 

Ngôi làng của 127 hộ đồng bào dân tộc Ja Rai nằm bên bờ hồ thủy điện Ya Ly trù phú và thanh bình. Hầu hết các ngõ xóm đã được đổ bê tông sạch sẽ, phong quang. Đây đó là tiếng reo hò từ sân bóng chuyền của thanh niên đang tập luyện. 

Cuộc sống của người dân làng Điệp Lôk hôm nay đã đổi thay nhiều lắm, nhưng có một điều không thay đổi. Nó hằn sâu trong nếp nghĩ, vẫn đeo đẳng một quan niệm mà nhiều người cho là đã không còn phù hợp, đó là chuyện đàn bà làng này sinh ra lớn lên cho đến lúc chết cũng không được lên nhà rông, bất kể là ngày thường, lễ, tết hay mỗi khi làng có việc hệ trọng. 

Già làng Rơ Lan Glưu năm nay đã ngoài 70 tuổi, ông từng một thời xông pha trận mạc trong kháng chiến chống Mỹ. Vào nhà ông, chúng tôi thấy những tấm bằng khen, giấy khen, huy chương… được treo trang trọng trên bức tường chính của phòng khách gia đình. 

Khi hỏi về việc đàn bà không được lên nhà rông, ông Rơ Lan Glưu cho biết, phụ nữ bước vào nhà rông thì cả làng sẽ bị Yàng quở phạt. "Nhẹ thì bắt người trong làng đau ốm, nặng thì chết người. Phải cúng con trâu, con dê mới được Yàng chấp thuận bỏ qua", Rơ Lan Glưu quả quyết. 

Trong câu chuyện nói về chuyện Yàng phạt, dù giữa làng nhưng chúng tôi nghe như đang giữa rừng già sâu thẳm và hầu như chuyện văn minh không hề lý giải chuyện làng này. 

"Nhưng tại sao đàn ông được lên nhà rông, còn đàn bà lại bị cấm?", chúng tôi hỏi. Rơ Lan Glưu trầm ngâm nhả khói thuốc: "Cái này tao không biết đâu. Chỉ biết đời ông, đời cha trước đây đã như vậy rồi, bây giờ phải làm theo thôi. Mày có hỏi cũng không ai sửa được đâu!". 

Câu chuyện chùng xuống, mỗi người tự cố tìm một lý giải cho riêng mình để tự giải thoát ý nghĩ nặng nề đang đè xuống, nhưng không sao lý giải được một cách thuyết phục. 

Phạt trâu nếu phạm luật làng 

Chúng tôi tìm gặp Bí thư chi bộ làng Điệp Lôk là A Ngok. Anh là một cán bộ trẻ, nhiệt tình và cởi mở nên cuộc trò chuyện khá sôi nổi. Nhưng khi được hỏi về quy định bất thành văn “đàn bà không được lên nhà rông”, anh hơi dè dặt. Sau A Ngok cho rằng, đó là do quan niệm nhà rông là nơi trú ngụ của Yàng, nơi lưu giữ những chiến tích trong quá trình săn bắt, chiến đấu của trai làng. Vì vậy nơi này chỉ dành cho đàn ông thôi. 

Mặc dù chưa thỏa đáng lắm, nhưng cứ theo cách giải thích ngập ngừng này, thì hình như còn một lý do tế nhị nào đó liên quan đến phụ nữ. Tôi chuyển hướng: Vậy trong chi bộ có vận động xóa bỏ quan niệm này không, nam nữ phải bình đẳng chứ? A Ngok chỉ tủm tỉm cười: "Cái này khó đấy, phong tục mà. Chắc phải từ từ thôi". 

Phụ nữ người Ja Rai chấp nhận chuyện không được vào nhà rông của làng Ảnh: P.A 


Dạo quanh trên quãng đường làng, chúng tôi lân la hỏi chuyện một phụ nữ đang đập vỏ bời lời. Chị tên Y Nét, tuổi trạc 40 có đôi mắt biết cười thân thiện. "Mình chưa bao giờ lên nhà rông, đó là quy định của làng mà. Tất cả phụ nữ trong làng cũng không có ai lên nhà rông đâu, sẽ bị phạt đấy", chị Y Nét nói. Tôi hỏi: "Phạt gì hả chị?". “Thì phải nộp tiền mua trâu, mua dê, hoặc heo, gà về cho làng cúng Yàng”, chị Y Nét trả lời. 

Có lẽ ngay từ nhỏ, trẻ em gái trong làng đã được cha mẹ dặn dò, vì vậy tuyệt nhiên không ai tự ý lên nhà rông. Ngay khi làng tổ chức các hoạt động như lễ hội, phạt vạ… phụ nữ cũng chỉ quanh quẩn dưới sàn nhà rông, một ranh giới “bất khả xâm phạm”. 

Phong tục đàn bà không được lên nhà rông thực chất là một “lệnh cấm” bất thành văn. Trói buộc người phụ nữ vào những quy định khắt khe, cổ hủ. Lâu dần họ coi đó là lẽ đương nhiên, cam chịu và an phận. Tục lệ này cũng đã gây ra nhiều hệ lụy. 

Cách đây 4 năm, cô văn thư UBND xã Ya Tăng mới chân ướt, chân ráo về làng Điệp Lôk, vì không tìm hiểu phong tục nên đã vô ý phạm điều cấm kỵ. Già làng yêu cầu phải nộp phạt một con trâu để cúng Yàng. Với tiền lương hơn hai triệu đồng mỗi tháng, cô biết lấy đâu ra nộp phạt cho làng, xin mãi già làng mới “duyệt cho mức án” nộp phạt một con gà trống trưởng thành. 

Nhà rông là một biểu tượng văn hóa độc đáo của các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên. Đây là nơi lưu giữ những vật thiêng, tổ chức các lễ hội cộng đồng và hành xử luật tục… Vốn dĩ nó không phải là một thiết chế văn hóa, vì vậy những chức năng truyền thống cần được tôn trọng. Tuy nhiên trước yêu cầu thực tiễn nhà rông của mỗi thôn, làng cần phải bổ sung một số chức năng mới như: nơi tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; khoa học, kỹ thuật; nơi hội họp, vui chơi giải trí, học tập cộng đồng… Vì vậy, nếu cứ giữ quan niệm phụ nữ không được lên nhà rông, có nghĩa tất cả các hoạt động trên chỉ dành cho nam giới, thật là mất công bằng. 

Phong tục tốt đẹp có thể trở thành bản sắc văn hóa, nhưng những quan niệm lạc hậu sẽ là rào cản thì cần phải vận động giảm dần. 

Phạm Anh - Duy Tiên

Cả làng nói 'tiếng lóng' độc đáo nhất ở Hà Nội

đăng 01:48, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đình làng Đa Chất. Ảnh Đinh Nhật 


Làng Đa Chất, xã Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Nội khác lạ nhiều nơi khi người dân trong làng sử dụng thứ "tiếng lóng" như... chim hót, nếu như không có người phiên dịch sẽ không ai hiểu được họ đang nói gì. 

Nằm giữa ngã ba sông Lương và sông Nhuệ, làng Đa Chất bình yên như bao làng quê nông thôn miền Bắc khác. Theo sự chỉ dẫn, tôi may mắn gặp được ông Nguyễn Văn Sớm, 85 tuổi, quê gốc ở làng Đa Chất. Sinh ra và lớn lên tại ngôi làng này, ông Sớm là một trong hai người cao tuổi nhất làng Đa Chất, đến nay còn nắm được nguyên vẹn thứ ngôn ngữ riêng biệt không nơi nào có. 

“Mật ngữ” làng Đa Chất 

"Có nhát nóng ngoại về tõi rực?", ông Sớm nói với tôi. Hoá ra, câu đó có nghĩa là "Cháu ở cơ quan nào về đây?". 

Người đàn ông tiếp tục nhìn tôi bảo: "Ngáo nhát còn chớt" và "Nhát thít mận". Nếu như ông sớm không dịch lại, hai câu trên có nghĩa là "Cháu nhìn còn trẻ" và "Cháu uống nước", tôi vẫn ớ ra chưa hiểu ông vừa nói gì. Ông Sớm cười: “Đó là một thứ ngôn ngữ riêng của làng, không nơi nào có thể biết và nói được". 

Ông Nguyễn Văn Sớm. Ảnh Đinh Nhật 


Theo ông Sớm, tiếng lóng làng Đa Chất gắn liền với nghề đóng cối của làng, từ khi nghề làm cối được hình thành thì thứ ngôn ngữ này cũng bắt đầu xuất hiện. 

"Khi nghề đóng cối trở thành nghề gia truyền của làng Đa Chất, “tiếng lóng” trở thành thứ tiếng riêng biệt của làng. Đó là ngôn ngữ của các thợ làm cối khi đi đóng cối thuê trên khắp cả nước, thợ cả truyền cho thợ phó, truyền từ đời này sang đời khác. Khi nghề đóng cối dần mai một vì người ta dùng nhiều máy móc, phương tiện hiện đại, ngôn ngữ của riêng những người thợ cối vẫn được giữ lại", ông Sớm cho hay. 

Ông Sớm dẫn các ví dụ: "Người thợ chính muốn thợ phụ đi chặt tre bổ củi thì sẽ nói “xảo sởn quần ớt, quất ông lông đi”. Khi thấy người thợ phụ làm sai thợ cả sẽ nhắc “mày xấn táo rồi, bệt ngáo kìa” (mày làm lỗi rồi, nhà chủ nó trông thấy kia kìa). “Thợ đóng cối làm việc ở nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người, cần phải có cách xã giao tốt. Để có thể vừa bảo vệ mình, vừa không mất lòng thiên hạ, lại giữ được nếp làng thế nên chúng tôi giao tiếp với nhau chủ yếu bằng "tiếng lóng” ông Sớm kể lại. 

Theo ông Sớm, "tiếng lóng” làng Đa Chất được sử dụng tùy vào từng trường hợp. Nếu như không có người lạ đến mà chỉ có người trong làng thì người dân nơi đây sẽ không nói tiếng của mình, trừ khi các cụ ngồi nói chuyện, uống nước chè ôn lại những ngày tháng đi tứ phương đóng cối. 


Cối tre truyền thống của làng Đa Chất Ảnh Đinh Nhật 


Chị Nguyễn Thị Vân, 40 tuổi, người làng Đa Chất chia sẻ, bây giờ người dân vẫn sử dụng "tiếng lóng" khi có người lạ đến làng. Thấy người lạ có ý đồ không tốt, có những thói xấu, mắt la mày lém hay những hành động cử chỉ thô tục… thì người trong làng sẽ nói với nhau để mọi người cảnh giác. 

Gìn giữ "tiếng lóng" 

Theo chân ông Nguyễn Văn Sở, tôi đến ngôi đình làng Đa Chất gặp ông Nguyễn Ngọc Đoán, 81 tuổi, người trông coi đình làng Đa Chất. Ông Đoán là người thứ 2 trong làng còn thuộc nguyên vẹn "tiếng lóng" truyền thống từ thuở xa xưa. 

Ông Nguyễn Ngọc Đoán Ảnh Đinh Nhật 


"Thật ra làng còn 4 đến 5 cụ biết hết "tiếng lóng" nhưng do có tuổi nên các cụ không còn minh mẫn nữa”, ông Đoán nói. Ông Đoán là người duy nhất còn giữ cuốn được gọi “Thần phả” của làng, đó chính là cuốn sách ghi lại ngôn ngữ đặc biệt và lịch sử nghề truyền thống đóng cối của nơi này. Cuốn sách có tên “Văn hóa dân gian làng Đa Chất” của tác giả Chu Huy - Nguyễn Dấn. 

Hiện nay cuốn sách đã được đưa sang Đức để nghiên cứu, song ông Đoán vẫn là người nắm giữ từng câu chữ trong cuốn sách đó. "Từ xưa thứ ngôn ngữ này được lưu lại nhờ truyền miệng, còn cuốn sách này chúng tôi để giữ lại cho thế hệ sau”, ông Đoán cho hay. 

Lịch sử làng nghề làm cối tre làng Đa Chất được truyền từ đời này qua đời khác và ngôn ngữ “lạ” của làng cũng vậy. Cuốn "Thần phả" ghi lại cách phát âm được phiên âm của hơn 200 từ "lóng" thông dụng, ông Đoán giải thích rằng "tiếng lóng" được nói theo cách cấu tạo câu tiếng Việt bình thường, ghép các từ lại với nhau cũng có chủ - vị ngữ. 

Ví dụ “nhát choáng quá” (cô gái xinh quá) hoặc nói tiếng lóng xen lẫn tiếng Việt. Ví dụ “anh ra tớp cho tôi cái vẫy” (anh ra lấy cho tôi cái quạt). 

Con đường dẫn vào làng Đa Chất. Ảnh Đinh Nhật 


Chúng tôi hỏi ông Đoán, hiện nay có cần thiết dùng "tiếng lóng" hay không, ông Đoán quả quyết: "Có chứ, lên tàu xe có kẻ nhăm nhe móc túi, chúng tôi sẽ thông báo cho người làng biết là “ón, ón mẹ móm nó tớp hách” (này, này cẩn thận kẻo nó móc túi đấy).

Ông Dương Ngọc Hổ, Phó chủ tịch UBND xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên chia sẻ: “Trong các cuộc họp chi bộ ở thôn, để "tiếng lóng" phổ biến hơn với người dân, xã sẽ đưa ngôn ngữ này vào cuộc họp”. Theo ông Hổ, hiện ông Nguyễn Ngọc Đoán đã tập hợp những người thợ cối năm xưa để ghi lại những câu, từ "tiếng lóng" quen thuộc. Ông Đoán cũng đang là thầy dạy "tiếng lóng" làng Đa Chất cho thế hệ trẻ trong làng để con cháu không quên nếp truyền thống, phong tục của quê hương. 

Đinh Nhật

Làng mộc Minh Thành

đăng 04:36, 21 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Hình thành và phát triển đến nay đã 40 năm, làng nghề mộc với khoảng 14 hộ gia đình ở xóm 2, thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh (Sơn Tịnh) đã đào tạo thợ và tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lượt người, mang lại nguồn thu nhập khá cho nhiều hộ dân.

Tịnh Minh vốn nổi tiếng với nghề rèn truyền thống, nhưng ít ai biết rằng nơi đây còn có làng nghề mộc với những người thợ có tay nghề cao. Đây là một trong những “lò đào đạo” nghề mộc lớn nhất huyện Sơn Tịnh.

Lò đào tạo nghề

Ông Nguyễn Chí Khải, người có hơn 30 năm làm nghề mộc ở thôn Minh Thành, tự hào bảo rằng, chỉ tính riêng xưởng mộc của gia đình ông đã cho “ra lò” hàng trăm thợ mộc. Những người đến thôn Minh Thành học nghề mộc đến từ khắp nơi trong tỉnh. Sau khi học nghề đã về mở xưởng riêng để làm ăn.

Ở xưởng mộc của ông Khải có em Vương, quê ở xã Tịnh Hiệp (Sơn Tịnh) vừa đến học nghề khoảng 4 ngày. Vương bảo: "Làm nông vất vả mà thu nhập lại bấp bênh. Nghe người quen bảo, nghề mộc ở Tịnh Minh nổi tiếng nên em đến đây “tầm sư học đạo”. Có cái nghề “làm vốn”, em hy vọng cuộc sống sau này sẽ đỡ vất vả hơn".

Các hộ dân làm nghề mộc ở thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh (Sơn Tịnh) ngày càng chú trọng đầu tư máy móc, cải tiến sản phẩm làm ra. 


Nhiều hộ làm nghề mộc ở thôn Minh Thành cho biết, nghề mộc ở đây “khai sinh” từ sau năm 1975. Mới đầu chỉ có vài hộ làm, sau dần dà nghề thịnh lên, vì nhu cầu từ các sản phẩm từ mỹ nghệ ngày càng lớn. Bây giờ ở Tịnh Minh có nhiều xưởng mộc, nhưng tập trung nhiều nhất ở xóm 2, thôn Minh Thành. Người dân hay gọi vui đây là “xứ dùi đục”, vì bước chân vào đầu làng đã nghe tiếng dùi đục lách cách. Theo những người làm nghề mộc ở đây, tuy sản phẩm làm ra không tinh xảo như nhiều làng mộc nổi tiếng ở Quảng Nam, Thừa Thiên Huế... nhưng nếu xét về độ bền chắc thì sản phẩm của những người thợ nơi đây làm ra không kém cạnh với ai cả.

 

"Cùng với nghề rèn nổi tiếng thì nghề mộc ở thôn Minh Thành cũng là một nghề có từ lâu đời. Sản phẩm làm ra được thị trường ưa chuộng. Muốn nghề phát triển hơn, Nhà nước cần tạo điều kiện thông thoáng trong vay vốn để các hộ làm nghề mộc mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư nhiều hơn trong khâu máy móc, kỹ thuật".

Chủ tịch UBND xã Tịnh Minh Đoàn Văn Phú

Vào những năm đầu 90, những người làm nghề mộc rơi vào khó khăn, vì sản phẩm làm ra không cạnh tranh được với hàng từ ngoài tỉnh nhập vào. Tuy nhiên, nhờ nhanh chóng nắm bắt được thị hiếu khách hàng, cũng như đầu tư máy móc, nên nghề mộc ở Minh Thành vẫn đứng vững. “Thế mạnh lớn nhất của bà con chính là tay nghề. Như tụi tui đây, từ nhỏ đã nghe tiếng dùi đục, vậy nên khi được ông bà truyền dạy nghề là thạo nghề nhanh lắm. Những sản phẩm mộc “Made in Tịnh Minh” của chúng tôi rất được khách hàng trong tỉnh ưa chuộng, ông Khải cho hay.


Mong có thương hiệu

Làng mộc ở thôn Minh Thành thu hút khá nhiều lao động địa phương. Mức thu nhập tùy theo bậc thợ. Thu nhập trung bình của một thợ lành nghề dao động từ 5-6 triệu đồng/tháng. Nhìn chung, đời sống của những hộ dân làm nghề mộc ngày càng khấm khá vì nhận nhiều đơn đặt hàng. Nhưng, người dân ở làng mộc này không đơn thuần làm nghề để mưu sinh mà muốn đưa nghề truyền thống của cha ông ngày càng hưng thịnh hơn.

Trưởng thôn Minh Thành Võ Kim Một bộc bạch: "Tiếc nhất là những hội chợ nông nghiệp, sản phẩm từ mộc của người dân trong làng vẫn không được “góp mặt” giống như những sản phẩm của người dân làm nghề rèn ở xóm trên. Phải có thương hiệu thì bà con mới nhận nhiều đơn đặt hàng hơn. Nghề mới ngày càng lớn mạnh được!".

Người đi trước dìu dắt, chỉ bảo cho người đi sau. Bởi vậy mà trải qua thăng trầm, nghề mộc ở xóm 2, thôn Minh Thành vẫn luôn được các thế hệ “giữ lửa”. Những hộ làm nghề mộc ở đây rất mong Nhà nước có những chính sách đặc thù đối với nghề truyền thống này.

Bài, ảnh: ĐÔNG GIANG

Nghề đan bem của người Cống ở Táng Ngá

đăng 03:34, 21 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Trong thời kỳ hội nhập, nhiều phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc có dấu hiệu mai một nhưng với người Cống ở bản Táng Ngá (xã Nậm Chà, huyện Nậm Nhùn), nghề đan bem truyền thống (một loại hòm đựng đồ dùng trong gia đình) vẫn được bảo tồn, phát triển. 

Anh Lò Văn Hiền kiểm tra bem trước khi giao cho khách hàng. 


Nằm yên bình bên cạnh những ngọn núi phủ kín cây xanh, bản Táng Ngá có 90 hộ đồng bào dân tộc Cống. Nghề đan bem của dân bản đã được duy trì từ lâu và là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ trong bản. Bem được đan từ cây mây, giang, tre lấy từ rừng, việc đan lát hoàn toàn do đàn ông thực hiện. Để đan thành chiếc bem hoàn hảo, người thợ phải chọn cây giang, mây bánh tẻ để chẻ lạt cho thật mảnh, dai; mây chỉ lấy dây già, leo trên cây cao, có màu vàng hoặc xanh đảm bảo độ dẻo và không bị mọt. Bem gồm 4 phần chính: khung, thân, nắp và quai đeo. Công đoạn đan được tiến hành từ đáy trở lên. Phần thân đan 2 lớp chắc chắn; khung bằng tre bọc bên ngoài là lạt mây; nắp đan như phần thân nhưng không đan kín; quai đan bằng cây giang nhờ vậy mềm, dễ đeo. Thời gian hoàn thiện một chiếc bem, người thợ cần ít nhất một tuần. Việc đan bem diễn ra quanh năm, người đan chậm một năm có thể đan 12 chiếc; chăm chỉ, khéo tay có thể lên tới 20 chiếc. Hiện nay, sản phẩm bem của bà con trong bản được người dân địa phương khác đến tận nhà hỏi mua, chủ yếu vẫn là người Thái dùng đựng quần áo hay làm của hồi môn cho con gái về nhà chồng. Với giá bán 1 triệu đồng/chiếc, nghề đan bem đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể giúp các hộ trang trải cuộc sống hàng ngày. 

Chúng tôi đến thăm gia đình anh Lò Văn Hiền (người dân bản Táng Ngá) vừa lúc anh đang hoàn thiện những công đoạn cuối của chiếc bem để giao cho khách hàng đã đặt từ trước. Anh Hiền cho biết: “Từ khi còn nhỏ, tôi được bố dạy cách chọn nguyên liệu, kỹ thuật đan. Có thể nói đan bem trở thành nghề cha truyền - con nối ở bản tôi. Đan bem rất công phu, đòi hỏi người đan tính kiên nhẫn, tỷ mỷ. Bem bán rất đắt khách, thậm chí hàng không kịp giao cho khách, nhất là dịp cuối năm nhiều gia đình tổ chức đám cưới cho con. Nghề đan bem chỉ truyền cho con trai trong nhà, vì vậy con trai tôi năm nay học lớp 8 cũng đã biết làm nghề”. 

Còn với ông Lùng Văn Ún - Trưởng bản Táng Ngá, để nghề đan bem không bị mai một, trong các buổi sinh hoạt cộng đồng, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể bản thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở bà con truyền dạy nghề cho con cháu và khai thác hợp lý nguồn nguyên liệu từ tự nhiên, tuyệt đối không được khai thác tận diệt, chung sức giữ gìn nghề truyền thống của dân tộc. 

Bem là vật dụng có thể sử dụng linh hoạt khi di chuyển hoặc cất giữ đồ dùng. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, đồ dùng sinh hoạt truyền thống bắt đầu có sự mai một, nhưng những chếc bem tinh xảo của người Cống ở Táng Ngá vẫn được khách hàng ưa 
chuộng, trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây. 

Ngọc Duy

Làng nghề bánh mè xát Tân An

đăng 17:32, 20 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Làng nghề bánh mè xát Tân An ở huyện Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình) ra đời vào khoảng những năm 1900. Đây là làng nghề chuyên sản xuất loại bánh mè- một loại bánh biến thể khéo léo từ chiếc bánh tráng, thường gọi là bánh đa. Bánh có mặt từ thuở khai canh, lập làng, bởi một ông tổ nghề người Hà Tĩnh mang theo cả vợ con, người thân vào làng Tân An để sinh sống, lập nghiệp. 

Người Tân An ban đầu chế biến bánh mè xát với mục đích khoe khéo tay nghề, xa hơn nữa là nhằm trao đổi cho xóm giềng các loại lương thực, thực phẩm mà bản thân họ tự tay làm ra được. Dần dà, đặc tính thơm giòn cộng với vẻ ngoài chân chất của bánh mè xát Tân An đã được nhân dân khắp vùng Bắc, Nam Quảng Trạch biết đến qua lời giới thiệu của người thân, hay qua những chồng bánh làm quà biếu thân tình. Nắm bắt được thị trường, người làm bánh mè xát bằng vốn liếng sẵn có là sự khéo tay cũng như kinh nghiệm và kỹ thuật làm bánh thành thạo được người thân truyền nghề, đã từng bước chuyên môn hóa, cơ giới hóa nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và tính thẩm mỹ của sản phẩm để giới thiệu ra thị trường.

Công đoạn tráng bánh. 


Nhờ thế mà khoảng những năm 1990 trở lại đây, cả vùng Ba Đồn, Quảng Trạch rộng lớn, đi đâu cũng phảng phất hương vị thơm ngon của bánh mè xát Tân An. Không chỉ ở trong tỉnh, hiện tại, loại bánh này còn được tiểu thương các chợ đầu mối lớn Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế đặt hàng thường xuyên. Bánh còn được bán sang tận bên các nước bạn Lào, Thái Lan.

Sức hấp dẫn của bánh mè xát nằm ở mùi vị thơm nồng chế biến từ hạt gạo quê và công lao không quản khuya sớm, nắng nôi của người làm bánh. Gạo để xay làm bánh có mùi cám tự nhiên, hạt gạo bóng đẹp và dẻo thơm. Người làm bánh đong đúng lượng gạo vừa đủ, đem vò qua vài lần rồi tiếp tục ngâm qua nước giếng đã lóng phèn sạch khoảng độ vài ba tiếng đồng hồ, tiếp tục vớt ra đãi hết tạp chất. Ngày trước bột được xay trong những chiếc cối đá nhưng bây giờ công việc xay bột hoàn toàn do máy móc làm. 

Bánh tráng xong được đem phơi giữa trời nắng. 


Chất lượng và vẻ ngoài hấp dẫn của mỗi chiếc bánh mè xát phụ thuộc rất nhiều vào lớp mè đã xát vỏ. Nếu trộn mè vào bột nước đậm quá thì chiếc bánh làm ra sẽ không kết hợp hài hòa được giữa mùi thơm ngào ngạt của lúa gạo và vị bùi ngậy của hạt mè. Còn tỉ lệ mè trong bánh quá nhạt thì cho ra vẻ ngoài không bắt mắt và còn ảnh hưởng đến mức độ hài hòa của bánh. Tỉ lệ tương đối mà những người làm bánh Tân An lấy làm quy chuẩn là 10 lon gạo đi cùng khoảng 1,5 đến 2 lon mè.

Trong quy trình làm bánh, mỗi chiếc bánh được tráng lên nguyên vẹn chỉ mới thành công được phân nửa. Công đoạn phơi bánh mới thực sự công phu. Nói không quá thì tất cả sự khéo tay, kỹ lưỡng và tỉ mẫn của người làm bánh dường như tập trung vào công đoạn này hết. Bởi lật trở làm sao cho bánh hấp thụ đủ nắng để bánh giòn, dai, nức nao mùi thơm của gạo và vừng là một công việc còn đòi hỏi đức tính kiên nhẫn và chịu khó. Bánh phơi quá nắng thì khi gom lại sẽ dễ cong queo, vỡ viền, còn chiếc bánh phơi không được nắng thì mất luôn vị hương gạo quê đã đành, lại còn nhanh chóng chuyển sang màu nâu buồn, ỉu xìu và dễ mốc meo khi bảo quản. 

Bánh tráng Tân An vào vụ. 


Cùng có tên gọi là bánh mè xát nhưng người Tân An đã sáng tạo ra tới 3 thứ bánh có mùi vị và hình thức khác nhau. Đầu tiên là bánh mè xát mỏng có đường kính khoảng 20cm. Người ta giã mịn hạt mè trộn với bột gạo rồi đem tráng ra thật mỏng dùng để làm ram cuốn hay bánh cuốn với rau, thịt, cá, ăn cũng hết sức hấp dẫn. Tiếp đến là bánh mè xát dày là loại bánh tráng theo kiểu truyền thống. Bánh này khi nướng lên có một lớp mè có màu nâu nhạt, trông rất bắt mắt. Cuối cùng là bánh mè xát đường, có vị ngọt thanh đặc trưng, thích hợp nhất cho việc ăn vặt, nhấm nháp lúc thảnh thơi...

Gìn giữ và phát huy nghề làm bánh truyền thống. Tháng 10-2010, HTX bánh mè xát Tân An ra đời bởi người phụ nữ tâm huyết của làng: chị Phan Thị Cẩm Tú. HTX chịu trách nhiệm đầu tư máy móc (hiện tại Tân An đã có gần 50 máy làm bánh, mỗi máy sử dụng trên 10 nhân công), cải tiến mẫu mã sản phẩm, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, cung cấp nguyên liệu, thu mua cũng như đóng gói sản phẩm và cả khâu tiêu thụ. Bánh mè xát từ ngày danh chính ngôn thuận đến tay người tiêu dùng và được HTX bảo hộ nên không sợ thương lái ép giá, người làm nghề phấn khởi vì thu nhập đã tăng cao và ổn định.

Bánh mè xát đồng hành cùng bao nỗi gian truân với người Tân An. Cuộc sống nay đã khấm khá, nhà cửa khang trang mọc lên san sát, quê hương đổi thay từng ngày, người làm bánh Tân An càng yêu hơn hạt gạo quê mình, càng gắn bó hơn với nghề truyền thống của ông cha... 

Nguyễn Tiến Dũng (Báo Quảng Bình)

1-10 of 22