Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Đi tìm câu trả lời cho phong tục đàn bà bị cấm cửa vào nhà rông Suốt đời phụ nữ không được bước vào nhà rông ở làng Điệp Lôk Người Ja Rai ở xã Điệp Lôk, xã Ya Tăng của huyện Sa Thầy (Kon Tum ...
    Được đăng 01:56, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cả làng nói 'tiếng lóng' độc đáo nhất ở Hà Nội Đình làng Đa Chất. Ảnh Đinh Nhật Làng Đa Chất, xã Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Nội khác lạ nhiều nơi khi người dân trong làng sử dụng thứ "tiếng ...
    Được đăng 01:48, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Làng mộc Minh Thành Hình thành và phát triển đến nay đã 40 năm, làng nghề mộc với khoảng 14 hộ gia đình ở xóm 2, thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh (Sơn Tịnh ...
    Được đăng 04:36, 21 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nghề đan bem của người Cống ở Táng Ngá Trong thời kỳ hội nhập, nhiều phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc có dấu hiệu mai một nhưng với người Cống ở bản Táng Ngá (xã ...
    Được đăng 03:34, 21 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Làng nghề bánh mè xát Tân An Làng nghề bánh mè xát Tân An ở huyện Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình) ra đời vào khoảng những năm 1900. Đây là làng nghề chuyên sản xuất loại bánh ...
    Được đăng 17:32, 20 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 26. Xem nội dung khác »


Đi tìm câu trả lời cho phong tục đàn bà bị cấm cửa vào nhà rông

đăng 01:56, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Suốt đời phụ nữ không được bước vào nhà rông ở làng Điệp Lôk 


Người Ja Rai ở xã Điệp Lôk, xã Ya Tăng của huyện Sa Thầy (Kon Tum) đến nay vẫn còn duy trì phong tục cấm phụ nữ bước và nhà rông.

Gần đây khi về làng Điệp Lôk, xã Ya Tăng của huyện Sa Thầy (Kon Tum), chúng tôi ngỡ ngàng khi phát hiện ở đây còn duy trì phong tục cấm cửa đàn bà vào nhà rông. 

Sợ Yàng quở phạt 

Chúng tôi về làng Điệp Lôk vào một buổi chiều muộn cuối năm. Đất này đã trở mùa, nắng ấm như hòa lẫn với màu hoa đỏ, xua đi cái lạnh se se Tây nguyên ngày cuối năm. Đây đó màu xanh mơn mởn của cây cối đã báo hiệu mùa xuân đã về. 

Ngôi làng của 127 hộ đồng bào dân tộc Ja Rai nằm bên bờ hồ thủy điện Ya Ly trù phú và thanh bình. Hầu hết các ngõ xóm đã được đổ bê tông sạch sẽ, phong quang. Đây đó là tiếng reo hò từ sân bóng chuyền của thanh niên đang tập luyện. 

Cuộc sống của người dân làng Điệp Lôk hôm nay đã đổi thay nhiều lắm, nhưng có một điều không thay đổi. Nó hằn sâu trong nếp nghĩ, vẫn đeo đẳng một quan niệm mà nhiều người cho là đã không còn phù hợp, đó là chuyện đàn bà làng này sinh ra lớn lên cho đến lúc chết cũng không được lên nhà rông, bất kể là ngày thường, lễ, tết hay mỗi khi làng có việc hệ trọng. 

Già làng Rơ Lan Glưu năm nay đã ngoài 70 tuổi, ông từng một thời xông pha trận mạc trong kháng chiến chống Mỹ. Vào nhà ông, chúng tôi thấy những tấm bằng khen, giấy khen, huy chương… được treo trang trọng trên bức tường chính của phòng khách gia đình. 

Khi hỏi về việc đàn bà không được lên nhà rông, ông Rơ Lan Glưu cho biết, phụ nữ bước vào nhà rông thì cả làng sẽ bị Yàng quở phạt. "Nhẹ thì bắt người trong làng đau ốm, nặng thì chết người. Phải cúng con trâu, con dê mới được Yàng chấp thuận bỏ qua", Rơ Lan Glưu quả quyết. 

Trong câu chuyện nói về chuyện Yàng phạt, dù giữa làng nhưng chúng tôi nghe như đang giữa rừng già sâu thẳm và hầu như chuyện văn minh không hề lý giải chuyện làng này. 

"Nhưng tại sao đàn ông được lên nhà rông, còn đàn bà lại bị cấm?", chúng tôi hỏi. Rơ Lan Glưu trầm ngâm nhả khói thuốc: "Cái này tao không biết đâu. Chỉ biết đời ông, đời cha trước đây đã như vậy rồi, bây giờ phải làm theo thôi. Mày có hỏi cũng không ai sửa được đâu!". 

Câu chuyện chùng xuống, mỗi người tự cố tìm một lý giải cho riêng mình để tự giải thoát ý nghĩ nặng nề đang đè xuống, nhưng không sao lý giải được một cách thuyết phục. 

Phạt trâu nếu phạm luật làng 

Chúng tôi tìm gặp Bí thư chi bộ làng Điệp Lôk là A Ngok. Anh là một cán bộ trẻ, nhiệt tình và cởi mở nên cuộc trò chuyện khá sôi nổi. Nhưng khi được hỏi về quy định bất thành văn “đàn bà không được lên nhà rông”, anh hơi dè dặt. Sau A Ngok cho rằng, đó là do quan niệm nhà rông là nơi trú ngụ của Yàng, nơi lưu giữ những chiến tích trong quá trình săn bắt, chiến đấu của trai làng. Vì vậy nơi này chỉ dành cho đàn ông thôi. 

Mặc dù chưa thỏa đáng lắm, nhưng cứ theo cách giải thích ngập ngừng này, thì hình như còn một lý do tế nhị nào đó liên quan đến phụ nữ. Tôi chuyển hướng: Vậy trong chi bộ có vận động xóa bỏ quan niệm này không, nam nữ phải bình đẳng chứ? A Ngok chỉ tủm tỉm cười: "Cái này khó đấy, phong tục mà. Chắc phải từ từ thôi". 

Phụ nữ người Ja Rai chấp nhận chuyện không được vào nhà rông của làng Ảnh: P.A 


Dạo quanh trên quãng đường làng, chúng tôi lân la hỏi chuyện một phụ nữ đang đập vỏ bời lời. Chị tên Y Nét, tuổi trạc 40 có đôi mắt biết cười thân thiện. "Mình chưa bao giờ lên nhà rông, đó là quy định của làng mà. Tất cả phụ nữ trong làng cũng không có ai lên nhà rông đâu, sẽ bị phạt đấy", chị Y Nét nói. Tôi hỏi: "Phạt gì hả chị?". “Thì phải nộp tiền mua trâu, mua dê, hoặc heo, gà về cho làng cúng Yàng”, chị Y Nét trả lời. 

Có lẽ ngay từ nhỏ, trẻ em gái trong làng đã được cha mẹ dặn dò, vì vậy tuyệt nhiên không ai tự ý lên nhà rông. Ngay khi làng tổ chức các hoạt động như lễ hội, phạt vạ… phụ nữ cũng chỉ quanh quẩn dưới sàn nhà rông, một ranh giới “bất khả xâm phạm”. 

Phong tục đàn bà không được lên nhà rông thực chất là một “lệnh cấm” bất thành văn. Trói buộc người phụ nữ vào những quy định khắt khe, cổ hủ. Lâu dần họ coi đó là lẽ đương nhiên, cam chịu và an phận. Tục lệ này cũng đã gây ra nhiều hệ lụy. 

Cách đây 4 năm, cô văn thư UBND xã Ya Tăng mới chân ướt, chân ráo về làng Điệp Lôk, vì không tìm hiểu phong tục nên đã vô ý phạm điều cấm kỵ. Già làng yêu cầu phải nộp phạt một con trâu để cúng Yàng. Với tiền lương hơn hai triệu đồng mỗi tháng, cô biết lấy đâu ra nộp phạt cho làng, xin mãi già làng mới “duyệt cho mức án” nộp phạt một con gà trống trưởng thành. 

Nhà rông là một biểu tượng văn hóa độc đáo của các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên. Đây là nơi lưu giữ những vật thiêng, tổ chức các lễ hội cộng đồng và hành xử luật tục… Vốn dĩ nó không phải là một thiết chế văn hóa, vì vậy những chức năng truyền thống cần được tôn trọng. Tuy nhiên trước yêu cầu thực tiễn nhà rông của mỗi thôn, làng cần phải bổ sung một số chức năng mới như: nơi tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; khoa học, kỹ thuật; nơi hội họp, vui chơi giải trí, học tập cộng đồng… Vì vậy, nếu cứ giữ quan niệm phụ nữ không được lên nhà rông, có nghĩa tất cả các hoạt động trên chỉ dành cho nam giới, thật là mất công bằng. 

Phong tục tốt đẹp có thể trở thành bản sắc văn hóa, nhưng những quan niệm lạc hậu sẽ là rào cản thì cần phải vận động giảm dần. 

Phạm Anh - Duy Tiên

Cả làng nói 'tiếng lóng' độc đáo nhất ở Hà Nội

đăng 01:48, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đình làng Đa Chất. Ảnh Đinh Nhật 


Làng Đa Chất, xã Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Nội khác lạ nhiều nơi khi người dân trong làng sử dụng thứ "tiếng lóng" như... chim hót, nếu như không có người phiên dịch sẽ không ai hiểu được họ đang nói gì. 

Nằm giữa ngã ba sông Lương và sông Nhuệ, làng Đa Chất bình yên như bao làng quê nông thôn miền Bắc khác. Theo sự chỉ dẫn, tôi may mắn gặp được ông Nguyễn Văn Sớm, 85 tuổi, quê gốc ở làng Đa Chất. Sinh ra và lớn lên tại ngôi làng này, ông Sớm là một trong hai người cao tuổi nhất làng Đa Chất, đến nay còn nắm được nguyên vẹn thứ ngôn ngữ riêng biệt không nơi nào có. 

“Mật ngữ” làng Đa Chất 

"Có nhát nóng ngoại về tõi rực?", ông Sớm nói với tôi. Hoá ra, câu đó có nghĩa là "Cháu ở cơ quan nào về đây?". 

Người đàn ông tiếp tục nhìn tôi bảo: "Ngáo nhát còn chớt" và "Nhát thít mận". Nếu như ông sớm không dịch lại, hai câu trên có nghĩa là "Cháu nhìn còn trẻ" và "Cháu uống nước", tôi vẫn ớ ra chưa hiểu ông vừa nói gì. Ông Sớm cười: “Đó là một thứ ngôn ngữ riêng của làng, không nơi nào có thể biết và nói được". 

Ông Nguyễn Văn Sớm. Ảnh Đinh Nhật 


Theo ông Sớm, tiếng lóng làng Đa Chất gắn liền với nghề đóng cối của làng, từ khi nghề làm cối được hình thành thì thứ ngôn ngữ này cũng bắt đầu xuất hiện. 

"Khi nghề đóng cối trở thành nghề gia truyền của làng Đa Chất, “tiếng lóng” trở thành thứ tiếng riêng biệt của làng. Đó là ngôn ngữ của các thợ làm cối khi đi đóng cối thuê trên khắp cả nước, thợ cả truyền cho thợ phó, truyền từ đời này sang đời khác. Khi nghề đóng cối dần mai một vì người ta dùng nhiều máy móc, phương tiện hiện đại, ngôn ngữ của riêng những người thợ cối vẫn được giữ lại", ông Sớm cho hay. 

Ông Sớm dẫn các ví dụ: "Người thợ chính muốn thợ phụ đi chặt tre bổ củi thì sẽ nói “xảo sởn quần ớt, quất ông lông đi”. Khi thấy người thợ phụ làm sai thợ cả sẽ nhắc “mày xấn táo rồi, bệt ngáo kìa” (mày làm lỗi rồi, nhà chủ nó trông thấy kia kìa). “Thợ đóng cối làm việc ở nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều người, cần phải có cách xã giao tốt. Để có thể vừa bảo vệ mình, vừa không mất lòng thiên hạ, lại giữ được nếp làng thế nên chúng tôi giao tiếp với nhau chủ yếu bằng "tiếng lóng” ông Sớm kể lại. 

Theo ông Sớm, "tiếng lóng” làng Đa Chất được sử dụng tùy vào từng trường hợp. Nếu như không có người lạ đến mà chỉ có người trong làng thì người dân nơi đây sẽ không nói tiếng của mình, trừ khi các cụ ngồi nói chuyện, uống nước chè ôn lại những ngày tháng đi tứ phương đóng cối. 


Cối tre truyền thống của làng Đa Chất Ảnh Đinh Nhật 


Chị Nguyễn Thị Vân, 40 tuổi, người làng Đa Chất chia sẻ, bây giờ người dân vẫn sử dụng "tiếng lóng" khi có người lạ đến làng. Thấy người lạ có ý đồ không tốt, có những thói xấu, mắt la mày lém hay những hành động cử chỉ thô tục… thì người trong làng sẽ nói với nhau để mọi người cảnh giác. 

Gìn giữ "tiếng lóng" 

Theo chân ông Nguyễn Văn Sở, tôi đến ngôi đình làng Đa Chất gặp ông Nguyễn Ngọc Đoán, 81 tuổi, người trông coi đình làng Đa Chất. Ông Đoán là người thứ 2 trong làng còn thuộc nguyên vẹn "tiếng lóng" truyền thống từ thuở xa xưa. 

Ông Nguyễn Ngọc Đoán Ảnh Đinh Nhật 


"Thật ra làng còn 4 đến 5 cụ biết hết "tiếng lóng" nhưng do có tuổi nên các cụ không còn minh mẫn nữa”, ông Đoán nói. Ông Đoán là người duy nhất còn giữ cuốn được gọi “Thần phả” của làng, đó chính là cuốn sách ghi lại ngôn ngữ đặc biệt và lịch sử nghề truyền thống đóng cối của nơi này. Cuốn sách có tên “Văn hóa dân gian làng Đa Chất” của tác giả Chu Huy - Nguyễn Dấn. 

Hiện nay cuốn sách đã được đưa sang Đức để nghiên cứu, song ông Đoán vẫn là người nắm giữ từng câu chữ trong cuốn sách đó. "Từ xưa thứ ngôn ngữ này được lưu lại nhờ truyền miệng, còn cuốn sách này chúng tôi để giữ lại cho thế hệ sau”, ông Đoán cho hay. 

Lịch sử làng nghề làm cối tre làng Đa Chất được truyền từ đời này qua đời khác và ngôn ngữ “lạ” của làng cũng vậy. Cuốn "Thần phả" ghi lại cách phát âm được phiên âm của hơn 200 từ "lóng" thông dụng, ông Đoán giải thích rằng "tiếng lóng" được nói theo cách cấu tạo câu tiếng Việt bình thường, ghép các từ lại với nhau cũng có chủ - vị ngữ. 

Ví dụ “nhát choáng quá” (cô gái xinh quá) hoặc nói tiếng lóng xen lẫn tiếng Việt. Ví dụ “anh ra tớp cho tôi cái vẫy” (anh ra lấy cho tôi cái quạt). 

Con đường dẫn vào làng Đa Chất. Ảnh Đinh Nhật 


Chúng tôi hỏi ông Đoán, hiện nay có cần thiết dùng "tiếng lóng" hay không, ông Đoán quả quyết: "Có chứ, lên tàu xe có kẻ nhăm nhe móc túi, chúng tôi sẽ thông báo cho người làng biết là “ón, ón mẹ móm nó tớp hách” (này, này cẩn thận kẻo nó móc túi đấy).

Ông Dương Ngọc Hổ, Phó chủ tịch UBND xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên chia sẻ: “Trong các cuộc họp chi bộ ở thôn, để "tiếng lóng" phổ biến hơn với người dân, xã sẽ đưa ngôn ngữ này vào cuộc họp”. Theo ông Hổ, hiện ông Nguyễn Ngọc Đoán đã tập hợp những người thợ cối năm xưa để ghi lại những câu, từ "tiếng lóng" quen thuộc. Ông Đoán cũng đang là thầy dạy "tiếng lóng" làng Đa Chất cho thế hệ trẻ trong làng để con cháu không quên nếp truyền thống, phong tục của quê hương. 

Đinh Nhật

Làng mộc Minh Thành

đăng 04:36, 21 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Hình thành và phát triển đến nay đã 40 năm, làng nghề mộc với khoảng 14 hộ gia đình ở xóm 2, thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh (Sơn Tịnh) đã đào tạo thợ và tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lượt người, mang lại nguồn thu nhập khá cho nhiều hộ dân.

Tịnh Minh vốn nổi tiếng với nghề rèn truyền thống, nhưng ít ai biết rằng nơi đây còn có làng nghề mộc với những người thợ có tay nghề cao. Đây là một trong những “lò đào đạo” nghề mộc lớn nhất huyện Sơn Tịnh.

Lò đào tạo nghề

Ông Nguyễn Chí Khải, người có hơn 30 năm làm nghề mộc ở thôn Minh Thành, tự hào bảo rằng, chỉ tính riêng xưởng mộc của gia đình ông đã cho “ra lò” hàng trăm thợ mộc. Những người đến thôn Minh Thành học nghề mộc đến từ khắp nơi trong tỉnh. Sau khi học nghề đã về mở xưởng riêng để làm ăn.

Ở xưởng mộc của ông Khải có em Vương, quê ở xã Tịnh Hiệp (Sơn Tịnh) vừa đến học nghề khoảng 4 ngày. Vương bảo: "Làm nông vất vả mà thu nhập lại bấp bênh. Nghe người quen bảo, nghề mộc ở Tịnh Minh nổi tiếng nên em đến đây “tầm sư học đạo”. Có cái nghề “làm vốn”, em hy vọng cuộc sống sau này sẽ đỡ vất vả hơn".

Các hộ dân làm nghề mộc ở thôn Minh Thành, xã Tịnh Minh (Sơn Tịnh) ngày càng chú trọng đầu tư máy móc, cải tiến sản phẩm làm ra. 


Nhiều hộ làm nghề mộc ở thôn Minh Thành cho biết, nghề mộc ở đây “khai sinh” từ sau năm 1975. Mới đầu chỉ có vài hộ làm, sau dần dà nghề thịnh lên, vì nhu cầu từ các sản phẩm từ mỹ nghệ ngày càng lớn. Bây giờ ở Tịnh Minh có nhiều xưởng mộc, nhưng tập trung nhiều nhất ở xóm 2, thôn Minh Thành. Người dân hay gọi vui đây là “xứ dùi đục”, vì bước chân vào đầu làng đã nghe tiếng dùi đục lách cách. Theo những người làm nghề mộc ở đây, tuy sản phẩm làm ra không tinh xảo như nhiều làng mộc nổi tiếng ở Quảng Nam, Thừa Thiên Huế... nhưng nếu xét về độ bền chắc thì sản phẩm của những người thợ nơi đây làm ra không kém cạnh với ai cả.

 

"Cùng với nghề rèn nổi tiếng thì nghề mộc ở thôn Minh Thành cũng là một nghề có từ lâu đời. Sản phẩm làm ra được thị trường ưa chuộng. Muốn nghề phát triển hơn, Nhà nước cần tạo điều kiện thông thoáng trong vay vốn để các hộ làm nghề mộc mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư nhiều hơn trong khâu máy móc, kỹ thuật".

Chủ tịch UBND xã Tịnh Minh Đoàn Văn Phú

Vào những năm đầu 90, những người làm nghề mộc rơi vào khó khăn, vì sản phẩm làm ra không cạnh tranh được với hàng từ ngoài tỉnh nhập vào. Tuy nhiên, nhờ nhanh chóng nắm bắt được thị hiếu khách hàng, cũng như đầu tư máy móc, nên nghề mộc ở Minh Thành vẫn đứng vững. “Thế mạnh lớn nhất của bà con chính là tay nghề. Như tụi tui đây, từ nhỏ đã nghe tiếng dùi đục, vậy nên khi được ông bà truyền dạy nghề là thạo nghề nhanh lắm. Những sản phẩm mộc “Made in Tịnh Minh” của chúng tôi rất được khách hàng trong tỉnh ưa chuộng, ông Khải cho hay.


Mong có thương hiệu

Làng mộc ở thôn Minh Thành thu hút khá nhiều lao động địa phương. Mức thu nhập tùy theo bậc thợ. Thu nhập trung bình của một thợ lành nghề dao động từ 5-6 triệu đồng/tháng. Nhìn chung, đời sống của những hộ dân làm nghề mộc ngày càng khấm khá vì nhận nhiều đơn đặt hàng. Nhưng, người dân ở làng mộc này không đơn thuần làm nghề để mưu sinh mà muốn đưa nghề truyền thống của cha ông ngày càng hưng thịnh hơn.

Trưởng thôn Minh Thành Võ Kim Một bộc bạch: "Tiếc nhất là những hội chợ nông nghiệp, sản phẩm từ mộc của người dân trong làng vẫn không được “góp mặt” giống như những sản phẩm của người dân làm nghề rèn ở xóm trên. Phải có thương hiệu thì bà con mới nhận nhiều đơn đặt hàng hơn. Nghề mới ngày càng lớn mạnh được!".

Người đi trước dìu dắt, chỉ bảo cho người đi sau. Bởi vậy mà trải qua thăng trầm, nghề mộc ở xóm 2, thôn Minh Thành vẫn luôn được các thế hệ “giữ lửa”. Những hộ làm nghề mộc ở đây rất mong Nhà nước có những chính sách đặc thù đối với nghề truyền thống này.

Bài, ảnh: ĐÔNG GIANG

Nghề đan bem của người Cống ở Táng Ngá

đăng 03:34, 21 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Trong thời kỳ hội nhập, nhiều phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc có dấu hiệu mai một nhưng với người Cống ở bản Táng Ngá (xã Nậm Chà, huyện Nậm Nhùn), nghề đan bem truyền thống (một loại hòm đựng đồ dùng trong gia đình) vẫn được bảo tồn, phát triển. 

Anh Lò Văn Hiền kiểm tra bem trước khi giao cho khách hàng. 


Nằm yên bình bên cạnh những ngọn núi phủ kín cây xanh, bản Táng Ngá có 90 hộ đồng bào dân tộc Cống. Nghề đan bem của dân bản đã được duy trì từ lâu và là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ trong bản. Bem được đan từ cây mây, giang, tre lấy từ rừng, việc đan lát hoàn toàn do đàn ông thực hiện. Để đan thành chiếc bem hoàn hảo, người thợ phải chọn cây giang, mây bánh tẻ để chẻ lạt cho thật mảnh, dai; mây chỉ lấy dây già, leo trên cây cao, có màu vàng hoặc xanh đảm bảo độ dẻo và không bị mọt. Bem gồm 4 phần chính: khung, thân, nắp và quai đeo. Công đoạn đan được tiến hành từ đáy trở lên. Phần thân đan 2 lớp chắc chắn; khung bằng tre bọc bên ngoài là lạt mây; nắp đan như phần thân nhưng không đan kín; quai đan bằng cây giang nhờ vậy mềm, dễ đeo. Thời gian hoàn thiện một chiếc bem, người thợ cần ít nhất một tuần. Việc đan bem diễn ra quanh năm, người đan chậm một năm có thể đan 12 chiếc; chăm chỉ, khéo tay có thể lên tới 20 chiếc. Hiện nay, sản phẩm bem của bà con trong bản được người dân địa phương khác đến tận nhà hỏi mua, chủ yếu vẫn là người Thái dùng đựng quần áo hay làm của hồi môn cho con gái về nhà chồng. Với giá bán 1 triệu đồng/chiếc, nghề đan bem đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể giúp các hộ trang trải cuộc sống hàng ngày. 

Chúng tôi đến thăm gia đình anh Lò Văn Hiền (người dân bản Táng Ngá) vừa lúc anh đang hoàn thiện những công đoạn cuối của chiếc bem để giao cho khách hàng đã đặt từ trước. Anh Hiền cho biết: “Từ khi còn nhỏ, tôi được bố dạy cách chọn nguyên liệu, kỹ thuật đan. Có thể nói đan bem trở thành nghề cha truyền - con nối ở bản tôi. Đan bem rất công phu, đòi hỏi người đan tính kiên nhẫn, tỷ mỷ. Bem bán rất đắt khách, thậm chí hàng không kịp giao cho khách, nhất là dịp cuối năm nhiều gia đình tổ chức đám cưới cho con. Nghề đan bem chỉ truyền cho con trai trong nhà, vì vậy con trai tôi năm nay học lớp 8 cũng đã biết làm nghề”. 

Còn với ông Lùng Văn Ún - Trưởng bản Táng Ngá, để nghề đan bem không bị mai một, trong các buổi sinh hoạt cộng đồng, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể bản thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở bà con truyền dạy nghề cho con cháu và khai thác hợp lý nguồn nguyên liệu từ tự nhiên, tuyệt đối không được khai thác tận diệt, chung sức giữ gìn nghề truyền thống của dân tộc. 

Bem là vật dụng có thể sử dụng linh hoạt khi di chuyển hoặc cất giữ đồ dùng. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, đồ dùng sinh hoạt truyền thống bắt đầu có sự mai một, nhưng những chếc bem tinh xảo của người Cống ở Táng Ngá vẫn được khách hàng ưa 
chuộng, trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây. 

Ngọc Duy

Làng nghề bánh mè xát Tân An

đăng 17:32, 20 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Làng nghề bánh mè xát Tân An ở huyện Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình) ra đời vào khoảng những năm 1900. Đây là làng nghề chuyên sản xuất loại bánh mè- một loại bánh biến thể khéo léo từ chiếc bánh tráng, thường gọi là bánh đa. Bánh có mặt từ thuở khai canh, lập làng, bởi một ông tổ nghề người Hà Tĩnh mang theo cả vợ con, người thân vào làng Tân An để sinh sống, lập nghiệp. 

Người Tân An ban đầu chế biến bánh mè xát với mục đích khoe khéo tay nghề, xa hơn nữa là nhằm trao đổi cho xóm giềng các loại lương thực, thực phẩm mà bản thân họ tự tay làm ra được. Dần dà, đặc tính thơm giòn cộng với vẻ ngoài chân chất của bánh mè xát Tân An đã được nhân dân khắp vùng Bắc, Nam Quảng Trạch biết đến qua lời giới thiệu của người thân, hay qua những chồng bánh làm quà biếu thân tình. Nắm bắt được thị trường, người làm bánh mè xát bằng vốn liếng sẵn có là sự khéo tay cũng như kinh nghiệm và kỹ thuật làm bánh thành thạo được người thân truyền nghề, đã từng bước chuyên môn hóa, cơ giới hóa nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và tính thẩm mỹ của sản phẩm để giới thiệu ra thị trường.

Công đoạn tráng bánh. 


Nhờ thế mà khoảng những năm 1990 trở lại đây, cả vùng Ba Đồn, Quảng Trạch rộng lớn, đi đâu cũng phảng phất hương vị thơm ngon của bánh mè xát Tân An. Không chỉ ở trong tỉnh, hiện tại, loại bánh này còn được tiểu thương các chợ đầu mối lớn Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế đặt hàng thường xuyên. Bánh còn được bán sang tận bên các nước bạn Lào, Thái Lan.

Sức hấp dẫn của bánh mè xát nằm ở mùi vị thơm nồng chế biến từ hạt gạo quê và công lao không quản khuya sớm, nắng nôi của người làm bánh. Gạo để xay làm bánh có mùi cám tự nhiên, hạt gạo bóng đẹp và dẻo thơm. Người làm bánh đong đúng lượng gạo vừa đủ, đem vò qua vài lần rồi tiếp tục ngâm qua nước giếng đã lóng phèn sạch khoảng độ vài ba tiếng đồng hồ, tiếp tục vớt ra đãi hết tạp chất. Ngày trước bột được xay trong những chiếc cối đá nhưng bây giờ công việc xay bột hoàn toàn do máy móc làm. 

Bánh tráng xong được đem phơi giữa trời nắng. 


Chất lượng và vẻ ngoài hấp dẫn của mỗi chiếc bánh mè xát phụ thuộc rất nhiều vào lớp mè đã xát vỏ. Nếu trộn mè vào bột nước đậm quá thì chiếc bánh làm ra sẽ không kết hợp hài hòa được giữa mùi thơm ngào ngạt của lúa gạo và vị bùi ngậy của hạt mè. Còn tỉ lệ mè trong bánh quá nhạt thì cho ra vẻ ngoài không bắt mắt và còn ảnh hưởng đến mức độ hài hòa của bánh. Tỉ lệ tương đối mà những người làm bánh Tân An lấy làm quy chuẩn là 10 lon gạo đi cùng khoảng 1,5 đến 2 lon mè.

Trong quy trình làm bánh, mỗi chiếc bánh được tráng lên nguyên vẹn chỉ mới thành công được phân nửa. Công đoạn phơi bánh mới thực sự công phu. Nói không quá thì tất cả sự khéo tay, kỹ lưỡng và tỉ mẫn của người làm bánh dường như tập trung vào công đoạn này hết. Bởi lật trở làm sao cho bánh hấp thụ đủ nắng để bánh giòn, dai, nức nao mùi thơm của gạo và vừng là một công việc còn đòi hỏi đức tính kiên nhẫn và chịu khó. Bánh phơi quá nắng thì khi gom lại sẽ dễ cong queo, vỡ viền, còn chiếc bánh phơi không được nắng thì mất luôn vị hương gạo quê đã đành, lại còn nhanh chóng chuyển sang màu nâu buồn, ỉu xìu và dễ mốc meo khi bảo quản. 

Bánh tráng Tân An vào vụ. 


Cùng có tên gọi là bánh mè xát nhưng người Tân An đã sáng tạo ra tới 3 thứ bánh có mùi vị và hình thức khác nhau. Đầu tiên là bánh mè xát mỏng có đường kính khoảng 20cm. Người ta giã mịn hạt mè trộn với bột gạo rồi đem tráng ra thật mỏng dùng để làm ram cuốn hay bánh cuốn với rau, thịt, cá, ăn cũng hết sức hấp dẫn. Tiếp đến là bánh mè xát dày là loại bánh tráng theo kiểu truyền thống. Bánh này khi nướng lên có một lớp mè có màu nâu nhạt, trông rất bắt mắt. Cuối cùng là bánh mè xát đường, có vị ngọt thanh đặc trưng, thích hợp nhất cho việc ăn vặt, nhấm nháp lúc thảnh thơi...

Gìn giữ và phát huy nghề làm bánh truyền thống. Tháng 10-2010, HTX bánh mè xát Tân An ra đời bởi người phụ nữ tâm huyết của làng: chị Phan Thị Cẩm Tú. HTX chịu trách nhiệm đầu tư máy móc (hiện tại Tân An đã có gần 50 máy làm bánh, mỗi máy sử dụng trên 10 nhân công), cải tiến mẫu mã sản phẩm, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, cung cấp nguyên liệu, thu mua cũng như đóng gói sản phẩm và cả khâu tiêu thụ. Bánh mè xát từ ngày danh chính ngôn thuận đến tay người tiêu dùng và được HTX bảo hộ nên không sợ thương lái ép giá, người làm nghề phấn khởi vì thu nhập đã tăng cao và ổn định.

Bánh mè xát đồng hành cùng bao nỗi gian truân với người Tân An. Cuộc sống nay đã khấm khá, nhà cửa khang trang mọc lên san sát, quê hương đổi thay từng ngày, người làm bánh Tân An càng yêu hơn hạt gạo quê mình, càng gắn bó hơn với nghề truyền thống của ông cha... 

Nguyễn Tiến Dũng (Báo Quảng Bình)

Đi chợ phiên Tam Thái mua thịt chuột, nhái, ốc…

đăng 20:35, 19 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chợ phiên Tam Thái (Tương Dương) họp vào các ngày 10, 20, 30 (Dương lịch) hàng tháng. Tại đây có bán nhiều món hàng đặc biệt của bà con vùng cao như: chuột, nhái, ốc, cá tôm khe…

Chợ phiên xã Tam Thái (Tương Dương ) họp phiên đầu tiên vào ngày 14/9/2014. Trước kia chợ chỉ họp mỗi tháng một lần vào ngày 14 và 15, nay mỗi tháng họp 3 ngày. Chợ phiên là nơi để bà con trên địa bàn tham gia trao đổi các mặt hàng chủ yếu do mình săn bắt, hái lượm trong rừng, trong vườn nhà. Ảnh: Đình Tuân. 


Chị Kha Thị Duyên - Bản Na Tổng cho biết thời gian qua, gia đình chị bắt được rất nhiều nhái. Nhái sau khi bắt về, làm sạch, treo trên bếp để đến chợ phiên đem bán. Nhái được bà con mua về để nấu món nhoọc - là món ăn được ưa thích của đồng bào dân tộc Thái miền Tây Nghệ An. Mỗi xâu nhái như thế này có giá bán 10.000 đồng. Ảnh: Đình Tuân. 


Chuột là một trong những mặt hàng bán chạy nhất tại phiên chợ. Ảnh: Đình Tuân. 


Chuột rừng sau khi đã làm sạch sẽ được bán với giá 40.000 đồng/ con nhỏ. Ảnh: Đình Tuân. 


Thời gian gần đây nhân dân các bản ở xã Tam Thái bắt được rất nhiều tôm khe, Tôm khe được bán với giá 100.000 đồng/kg. Ảnh: Đình Tuân. 


Vị khách hàng này đến từ huyện Đô Lương có dịp qua đây đúng vào phiên chợ cũng kịp mua cho mình chiếc nỏ. Ảnh: Đình Tuân. 


Mặt hàng thổ cẩm cũng được bán khá nhiều. Ảnh: Đình Tuân. 


Ngọn cây lụy dùng để nấu canh ăn. Món này cũng chỉ có ở vùng cao. Theo bà con ở đây thì món canh ngọn cây lụy sẽ giúp cho bà mẹ đang cho con bú có thêm nhiều sữa. Ảnh: Đình Tuân. 


Hàng hóa bán ở chợ phiên này hầu hết được trồng trong vườn nhà và bà con kiếm được khi đi rừng, đi rẫy. Ảnh: Đình Tuân. 


Đình Tuân

Những đồi chè xanh ngút tầm mắt ở Yên Bái

đăng 04:50, 18 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Những đồi chè xanh ngút tầm mắt được chăm sóc tỉ mỉ, chạy dài bên những đồi cọ và đồng lúa xanh tươi đã tạo nên bức tranh tươi đẹp.

Yên Bái hiện đang vào vụ thu hái chè xuân, là vụ cho năng suất và chất lượng cao trong năm. 

 

Những đồi chè ngút ngàn tầm mắt, được chăm sóc tỉ mỉ, chạy dài bên những đồi cọ và đồng lúa xanh tươi đã tạo nên bức tranh tươi đẹp, trù phú trên miền đất tiếp nối giữa trung du và miền núi này.

 

Yên Bái là tỉnh có diện tích trồng chè lớn nhất cả nước, với hơn 12.000 héc ta, tập trung nhiều nhất ở các huyện Văn Chấn, Trấn Yên và Yên Bình.

 

Sản lượng chè búp tươi đạt trên 91.000 tấn mỗi năm. Tổng giá trị sản phẩm chè qua chế biến đạt gần 500 tỷ đồng.

 

Việc phun thuốc kích thích, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tràn lan trong sản xuất chè một thời nhưng đến nay đã có sự thay đổi. 

 

Người dân đã chuyển sang sản xuất chè sạch, chè an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, từng bước nâng cao chất lượng, vươn ra thị trường.

 

Các giống chè được người dân trồng nhiều hiện nay là LDT1, Phúc Vân Tiên và Bát Tiên… 

 

Mỗi năm người trồng chè sạch ở Yên Bái có thể thu 5 lứa búp. 1 sào chè cho thu gần 1 tạ búp tươi (sau chế biến thu về khoảng 20 cân chè khô). 

 

Với một hộ gia đình có 1 héc ta chè thì thu nhập mỗi năm hơn 100 triệu đồng.

 

Những búp chè tươi vừa được hái.

 

Sản phẩm chè sạch được nhiều người ưa chuộng

 

Chè sạch Yên Bái cho ra màu nước tựa mật ong với vị chát ngọt thơm mát

 

Sau mỗi lứa thu hái người dân vẫn ra thăm đồi chè thường xuyên để để phòng sâu bệnh.

 

Bên dưới những rừng cọ đồi chè là ruộng đồng tươi tốt - hình ảnh đặc trưng của miền trung du.


Đinh Tuấn - VOV-Tây Bắc

Khám phá cuộc sống đời thường trên cao nguyên đá Đồng Văn

đăng 04:40, 18 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Hà Giang không chỉ có núi non hùng vĩ mà còn có những con người luôn chân thành, mộc mạc với tấm lòng thật đáng quý.

Đến với mảnh đất Hà Giang, du khách không chỉ ngỡ ngàng bởi thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ mà còn lưu luyến bởi vẻ đẹp và cuộc sống sinh hoạt độc đáo của những con người vùng cao thân thiện.

 

Vẻ đẹp của những con người vùng cao chính là sự hồn nhiên, chân thật như chính hơi thở của núi rừng.

 

Cuộc sống của người vùng cao dù còn nhiều khó khăn nhưng họ vẫn bền bỉ một sức sống mãnh liệt vươn lên, cần cù trong lao động, vui vẻ trong cuộc sống hằng ngày.

 

Có lẽ vì thế mà trong lao động vất vả, người ta vẫn thấy những điều thật đẹp đẽ. Đó là sự yêu đời, lạc quan hiếm có với tiếng hát và những nụ cười như bừng sáng cùng màu nắng.

 

Nụ cười hồn nhiên, ngây thơ của những em bé vùng cao trong lành như những dòng nước mát.

 

Giữa đại ngàn hoang sơ, rộng lớn, sự xuất hiện của con người bỗng trở nên thật thân thuộc và gần gũi.

 

Những chiếc váy rực rỡ sắc màu đã làm nên vẻ đẹp riêng cho những cô gái vùng cao.

 

Người dân Hà Giang chân tình, mến khách, đến đây một lần du khách sẽ không nỡ rời xa bởi thiên nhiên non nước hữu tình và con người thì quá đỗi mộc mạc, thân thương.

 

Người Hà Giang chân tình, mộc mạc.

 

Em bé đứng ở cửa đợi mẹ về khiến nhiều người vừa thương mến ánh mắt hồn nhiên, vừa thương cảm cho cuộc sống còn nhiều khốn khó nơi đây.

 

Sự tảo tần, chân thành, mộc mạc làm nên vẻ đẹp của người vùng cao. 

 

Vẻ đẹp ấy theo bước chân vượt núi rừng của họ, hay từ những giọt mồ hôi lăn dài trên má hoặc đơn giản là một nụ cười hiền lấp lánh niềm vui.

 

Đến Hà Giang, hòa mình vào cuộc sống của người dân địa phương nơi đây, người ta tưởng như mình đang bước vào một thế giới khác. Đó là một cuộc sống mộc mạc, nguyên sơ mà yên bình và thanh thản đến lạ kỳ.


CTV Khôi Minh - Kiều Anh

Phiên chợ nón chỉ họp lúc nửa đêm ở Bình Định

đăng 02:09, 15 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Những người bán và mua nón trao đổi bằng giọng “xứ Nẫu” thân quen dưới ánh đèn dầu leo lắt ở phiên chợ nón An Hành Tây (Phù Cát, Bình Định).

Chợ nón làng An Hành Tây (Ngô Mây, Phù Cát, Bình Định) họp từ nửa đêm (khoảng 2h) và kết thúc khi trời vừa hửng sáng. 


Không sạp, không mái che, không đèn điện, chợ họp trên nền đất, dưới ánh đèn dầu của những người dân theo nghề làm nón lâu đời ở vùng đất Phù Cát. 


Người bán dùng ánh sáng đèn dầu đỏ và ấm nên không bị lóa, người mua soi rõ được những đường kim, mũi cước trên từng chiếc nón. 


Các gia đình trong làng An Hành Tây làm nón từ đời này truyền sang đời khác. Dù thu nhập từ nghề làm nón thấp, người dân vẫn duy trì làng nghề và coi đó như nếp văn hóa của vùng Phù Cát. 


Khách đến chợ nón thường là khách quen, các thương lái từ đây sẽ mang nón đi khắp nơi ở Bình Định và các tỉnh lân cận. Khách du lịch thường tìm đến đây để tìm hiểu về chợ nón đặc biệt và cuộc sống nơi làng nghề truyền thống. 


Trời hửng sáng, khoảng 5-6h là lúc người dân thu dọn hàng. Ngoài chợ An Hành Tây, Bình Định còn có nhiều chợ nón lâu đời khác như chợ Gò Căng, chợ Cát Tân cũng chỉ họp lúc nửa đêm dưới ánh đèn dầu. 


Huyện Phù Cát còn có làng nghề thêu nón ngựa Phú Gia (xã Cát Tường) làm ra chiếc nón cầu kỳ, đẹp mắt, trở thành sản phẩm du lịch được giới thiệu ở Festival Bình Định hàng năm và thu hút du khách. 


Má Lúm - Ảnh: Bảo Lâm 

Ghé Hà Giang tìm lanh thổ cẩm nổi danh cả trời Tây

đăng 01:36, 15 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Sản phẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Mông (Hà Giang), thấm đượm tinh thần văn hóa Việt đã trở nên nổi tiếng trong nước và quốc tế.

Hà Giang ngoài khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ còn nổi tiếng với vải lanh thổ cẩm được sản xuất bởi HTX lanh Lùng Tám (thôn Hợp Tiến, xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ).

 

Thành lập năm 2001 với vỏn vẹn chỉ 10 người, giờ HTX đã có hơn 100 thành viên cả già - trẻ, trai - gái đều là người dân tộc Mông.

 

Bà Vàng Thị Mai - chủ nhiệm HTX chỉ dẫn cho em nhỏ học việc.

 

Vải thổ cẩm Lùng Tám được làm từ chất liệu lanh địa phương, trải qua 41 công đoạn thủ công mới ra được sản phẩm hoàn chỉnh.

 

Lanh trồng sau 2 tháng sẽ được thu hoạch, tước sợi, giã sợi...

 

Sợi lanh nhìn mỏng manh nhưng sau nhiều công đoạn sẽ trở nên chắc chắn, và đặc biệt dai, khó đứt.

 

Sau khi quay, sợi lanh được tuốt qua sáp ong cho mềm và trơn.

 

Trải qua 6 - 7 lần phân loại, sợi lanh sẽ được tra lên khung dệt.

 

Những sợi dài sẽ được gài vào khung làm sợi dọc, sợi ngắn gài vào thoi làm sợi ngang.

 

Vải lanh sau khi dệt sẽ được tẩy trắng bằng tro bếp, nấu, phơi, rồi đặt dưới phiến đá lớn để lăn cho mềm vải.

 

Sau nhiều lần nhuộm và lăn vải, sẽ có những tấm vải màu để làm thành phẩm.

 

Màu được nhuộm hoàn toàn tự nhiên với các loại cây, thuốc như nấu rơm nếp để cho màu xanh lá, củ dong rừng cho màu nâu hoặc hồng...

 

Những mẫu hoa văn truyền thống của người Mông được khâu tỉ mỉ bằng tay.

 

Sau cùng, vải sẽ được dán mếch cho chắc chắn và khâu thành nhiều sản phẩm như khăn, túi, ví.

 

Nơi trưng bày sản phẩm cho khách, cũng đồng thời là nhà của bà Vàng Thị Mai

 

Lanh Lùng Tám đã được giới thiệu tới khắp cả nước và 20 nước bạn Châu Âu, đem lại thu nhập tốt cho bà con

 

Tham quan khu xưởng của HTX cũng là một hoạt động thu hút du khách trong và ngoài nước.

1-10 of 26