Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Quan niệm tâm linh về gà cúng của đồng bào vùng cao Nghệ An Gà là vật phẩm quan trọng trong những nghi lễ tâm linh của cộng đồng các dân tộc miền núi. Người Thái và Khơ mú thường cúng gà trong khi ...
    Được đăng 07:04, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Khám phá nét độc đáo trong Tết Bươn Xao của người Thái Hàng năm đến ngày 20 tháng 8 âm lịch, người dân xã Tiên Kỳ, huyện Tân Kỳ lại tưng bừng đón Tết Bươn Xao. Từ bao đời nay, Tết Bươn ...
    Được đăng 06:58, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Những điều ít biết về gói cơm trong lễ gọi vía của người Thái Nghệ An Một gói cơm nhỏ giấu kín sau những lớp áo là lễ vật mang theo của thầy mo khi đi gọi vía. Người ta tin rằng, hồn vía đi lạc ...
    Được đăng 07:06, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đặc sắc lễ hội tưởng nhớ nghĩa sỹ Lam Sơn ở miền Tây Nghệ An Lễ hội "ki mọc" - một sinh hoạt tâm linh của người Thái ở mường Khủn Tinh (Quỳ Hợp - Nghệ An) để tưởng nhớ công ơn của những nghĩa sỹ Lam ...
    Được đăng 06:36, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Óng ả làng nghề tằm tơ xứ Lường Từ xa xưa, xã Đặng Sơn (Đô Lương) được biết đến với nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, kéo sợi. Một thời, bát ngát đồng bãi ven sông Lam ...
    Được đăng 05:26, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 23. Xem nội dung khác »


Quan niệm tâm linh về gà cúng của đồng bào vùng cao Nghệ An

đăng 07:04, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Gà là vật phẩm quan trọng trong những nghi lễ tâm linh của cộng đồng các dân tộc miền núi. Người Thái và Khơ mú thường cúng gà trong khi gọi vía, cúng bản, lễ cầu mùa. Người Mông thường cúng một đôi gà gồm cả trống và mái trong khi làm vía cho người trưởng thành. 

Mâm cúng không thể thiếu con gà 

Còn hơn 4 tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán nhưng chị Lương Thị Cáng ở bản Xiềng Nứa, xã Yên Na, huyện Tương Dương đã chuẩn bị lứa gà để cúng Tết. Ngoài phục vụ gia đình, chị còn dành ra hơn chục con. Gần Tết, nếu ai hỏi mua thì chị sẽ đem bán, gọi là có tiền mua bộ quần áo mới cho hai đứa con nhỏ. Cũng như người miền xuôi, người Thái ở bản Xiềng Nứa khá cầu kỳ trong việc chọn gà cúng Tết. 

Con gà là vật phẩm quan trọng nhất xuất hiện trong hầu hết các dịp cúng lễ của người Thái. Khi gọi vía, mỗi gia đình người Thái cần từ 1 hoặc 2 con gà trở lên, tùy vào số lượng bàn thờ trong nhà. Khi có cưới hỏi, gà cũng là thứ đầu tiên người ta nghĩ đến. 

Trong mâm cúng dâng lên thần linh trong lễ cúng bản cũng chẳng thể vắng mặt chú gà trống mào đỏ. Khi một người chết đi, nghĩa là về với cõi trời, ngoài gà cúng trên đầu áo quan (người Thái gọi là “cáy tằng hua”), người ta còn phải đem 1 con gà thả ở khu rừng ma, nơi chôn cất để người chết cũng có vật nuôi như người sống. 


Con gà, trong quan niệm tâm linh người Thái quan trọng hệt như giấy bản dùng để thờ của người Mông hay thịt sóc sấy khô trong các nghi lễ tâm linh của người Khơ mú ở huyện Kỳ Sơn vậy. Chúng giản đơn thật nhưng người ta cho rằng nó không thể thiếu vắng. Có những thứ đó thì lễ mới thành.

Cách chọn gà cúng theo truyền thống

Người Thái cũng có quan niệm truyền thống khá là cầu kỳ về gà cúng, thể hiện ở việc chọn con gà như thế nào, cách giết mổ, tạo hình sao cho phù hợp với những việc cúng cụ thể.

Thầy mo Lô Văn Hoàn trú ở bản Khe Kiền, xã Lưu Kiền, huyện Tương Dương chia sẻ, trong truyền thống, nhất là thời phong kiến, người ta chọn gà cúng khá kỹ.

Gà trong mâm cúng vía. Ảnh: Hữu Vi 


“Trước đây người ta nhìn vào mào gà. Mào phải đỏ và cao. Sau đó mới xét đến lông, cánh và chân gà” - ông Hoàn cho biết và nói thêm, trong quan niệm của người Thái thì việc chọn gà không quan trọng bằng cách mổ và tạo hình con gà khi bày lên mâm cúng. Mổ xong gà, người ta thường cắt một đường nhỏ ở phao câu. Khớp gối cũng cắt nhưng không để lìa ra, sau đó thì chẻ mỏ và khóa cánh. Phần ruột được quấn quanh mề rồi bỏ vào bụng gà mới đem đi luộc. 

Khi bày mâm cúng cũng có một số điều rất được lưu ý. Gà thường được hướng đầu vào phía trong bàn thờ. Phía trước là rượu, nước chè; bên cạnh con gà là bát đũa. Ngày nay, nguyên tắc này không còn được tuân thủ nghiêm ngặt nhưng có một điều mà không mấy ai quên, đó là khi cúng vía cho người còn sống, người ta để ngửa con gà lên và chỉ để sấp khi cúng thần hay cho người đã khuất.

Người Thái thì như vậy, còn với một số cộng đồng người Mông ở huyện Kỳ Sơn, gà cũng là một vật phẩm quan trọng đối với tục cúng hồn vía và cúng thần. Dòng họ Lầu ở huyện Kỳ Sơn thường mổ 1 con gà trống khi cúng vía cho trẻ con và nhất thiết phải là gà trống. Hình thức xấu, đẹp, lớn, nhỏ không được đặt nặng. Còn khi cúng vía cho người lớn thì phải mổ 1 trống, 1 mái. Người Mông họ Lầu thường đặt sấp con gà, dù là cúng thần hay cúng vía cho người đang sống.

Người Mông họ Lầu thường cúng 2 lần. Điều này áp dụng cho cả cúng thần bản hay cúng vía. Lần đầu cúng gà sống, sau khi mổ và luộc chín lại cúng thêm lần nữa. 

Con gà là lễ vật không thiếu vắng trong lễ tế Đền Chiêng Ngam, huyện Quỳ Châu. Ảnh: Hữu Vi 


Với người Khơ mú ở xã Bảo Thắng (Kỳ Sơn), việc cúng gà cũng rất quan trọng trong những nghi lễ tâm linh, chỉ sau rượu cần. Người ta thường chỉ cúng gà trống trong khi làm lễ mừng năm mới. Khi gọi vía cho đàn ông, con trai thì dùng gà trống, cúng vía phụ nữ thì dùng gà mái.

Hữu Vi

Khám phá nét độc đáo trong Tết Bươn Xao của người Thái

đăng 06:58, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Hàng năm đến ngày 20 tháng 8 âm lịch, người dân xã Tiên Kỳ, huyện Tân Kỳ lại tưng bừng đón Tết Bươn Xao. Từ bao đời nay, Tết Bươn Xao đã là nét đẹp trong truyền thống văn hóa của bà con người Thái sống dưới chân Pù Pán. 

Theo bà con người Thái ở Tiên Kỳ, "Bươn Xao" có nghĩa là Tết vào ngày 20 tháng 8. Tết này, có nguồn gốc từ truyền thống uống nước nhớ nguồn, tín ngưỡng thờ mẫu và lịch sử đấu tranh giữ nước ở của địa phương. Trong ngày Tết Bươn Xao, có một món ăn không thể thiếu là món moọc . Dịp này, nhà nhà thi nhau gói moọc, nấu moọc để chuẩn bị Tết. 


Bánh moọc làm nên từ lá dong, gạo nếp, thịt, rau rừng... là món ăn truyền thống có từ lâu đời của người Thái. Tương truyền bánh moọc còn là vật phẩm mà người dân địa phương đã dùng để khao quân của Lê Lợi trong kháng chiến chống quân Minh thế kỷ XV. Theo lịch sử, nghĩa quân của Lê Lợi đã dừng chân tại Pù Pán khoảng 2 tháng để tuyển quân, luyện tập binh sĩ . 


Với bà con người Thái ở Tiên Kỳ, bánh moọc là thứ không thể thiếu trong ngày Tết Bươn Xao. Đây là vật phẩm để cúng thần linh và là một món ăn đặc biệt trên mâm cỗ ngày Tết. 


Trong ngày Tết Bươn Xao, chị em phụ nữ người Thái thường ăn vận những bộ trang phục đẹp nhất thể hiện đậm đà bản sắc của dân tộc mình. 


Một cụ già người Thái, răng đen hạt huyền rạng rỡ trong trang phục truyền thống khi tham dự ngày Tết Bươn Xao. 


Để tưởng nhớ công đức của tiền nhân, trong ngày Tết Bươn Xao, bà con người Thái thường tổ chức lễ cúng gia tiên ở các gia đình và tại nhà thờ các dòng họ. Nhằm tri ân công lao đánh giặc giữ nước của nghĩa quân Lê Lợi và thể hiện niềm tự hào về truyền thống của quê hương, trong ngày lễ này, người dân địa phương còn long trọng tổ chức nhiều hoạt động lễ hội có ý nghĩa, đặc biệt là lễ rước Thần lên đỉnh Pù Pán, nơi có di tích thành Lê Lợi. 


Mỗi dịp đến Tết Bươn Xao, bà con người Thái ở Tiên Kỳ lại tưng bừng mở hội chiêng, trống. Những gia đình có dàn chiêng, trống đều dựng bên hiên nhà để mọi người đến chung vui. 


Cũng như trong những ngày lễ, tết long trọng khác, ngày Tết Bươn Xao không thể thiếu các điệu múa sạp, gõ khắc luống, hát dân ca Thái với những làn điệu, suối, nhăm mượt mà, cuốn hút. 


Ngày Tết Bươn Xao đã đi vào tâm thức của bà con người Thái ở Tiên Kỳ như là một ngày lễ cổ truyền quan trọng nhất trong năm, mang nét đẹp riêng trong văn hóa truyền thống của người Thái quần cư dưới chân Pù Pán. 


Huy Thư

Những điều ít biết về gói cơm trong lễ gọi vía của người Thái Nghệ An

đăng 06:43, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 07:06, 21 thg 9, 2019 ]

Một gói cơm nhỏ giấu kín sau những lớp áo là lễ vật mang theo của thầy mo khi đi gọi vía. Người ta tin rằng, hồn vía đi lạc cũng cần ăn lấy sức để trở về nhà. Đó là ý nghĩa của một lễ vật tưởng chừng đơn giản nhưng lại rất quan trọng trong phong tục tâm linh của người Thái ở Nghệ An. 

Lễ vật không thể thiếu

Đi gọi vía mà thiếu cái gói cơm là không được đâu. Tôi tình cờ nghe được điều này trong một ngày gần đây khi chuẩn bị những lễ vật đem theo đi gọi vía cho người thân. Với người Thái, trong đó có làng bản của tôi thì gọi vía là một nghi lễ thường gặp nhất, mỗi năm không biết phải chứng kiến bao nhiêu lần? 

Lễ vật trong lễ gọi vía không cần quá cầu kỳ, nhưng nhất thiết phải có bát cơm/ gói cơm, cùng với đó là một ít đồ dùng, vật dụng của người được gọi vía. Ảnh: Hữu Vi 


Và nguyên cớ của cái lễ này cũng nhiều lắm. Một người sắp đến ngày sinh nở, gọi vía. Sản phụ mời từ bệnh viện sinh con trở về, gọi vía. Khi làm lễ đặt tên, gọi vía. Một đứa trẻ hay bất kỳ ai bị ốm lâu ngày, gọi vía… Người ta cũng làm lễ này cho người chuẩn bị đi xa hoặc lâu ngày mới trở về nhà. Hết năm thì gọi vía trẻ con về nhà ăn Tết. Lễ gọi vía còn cho những người già yếu mà cảm thấy họ không thể qua khỏi hay trường hợp có người thân vừa mất. 

Những ai quan tâm đến văn hóa người Thái cũng như các cộng đồng thiểu số chắc biết rõ rằng trong lễ gọi vía người Thái ở lưu vực sông Lam và các sông suối lớn ở miền Tây Nghệ An thường không thể thiếu những chiếc áo. Người Thái nhìn chung đều quan niệm ai cũng có nhiều hồn vía khác nhau và chiếc áo là nơi trú ngụ của hồn vía.

Quang cảnh một buổi lễ gọi vía. Ảnh tư liệu: Công Kiên 


Hồn vía không mất đi. Nó từ cõi trời xuống với người từ khi sinh ra và được tiễn đưa về trời khi người ta chết đi. Trong suốt cuộc đời, vía có nhiệm vụ ở bên người để bảo vệ thân thể tránh ốm đau, hoạn nạn. Chỉ còn vía rời xa cơ thể hay gặp một vấn đề nào đó thì người sẽ gặp bất trắc. Quan niệm này phổ biến với nhiều cộng đồng làng bản có người Thái sinh sống.

Trong quan niệm lâu nay thì hồn vía cũng có cuộc sống như con người vậy. Nghĩa là hồn vía cũng có lúc vui buồn, giận hờn, khi khỏe yếu. Đôi khi vía còn đi lạc hoặc bị bắt giam, bắt làm nô lệ nữa. Trong trường hợp vía đi lạc hay đang lang thang rong chơi đâu đó, hẳn rằng sẽ đang đói bụng; nếu không đói thì cũng cần lấy sức để trở về nhà. Muốn vậy thì phải ăn no bụng đã. Đó là lý do người ta cầm theo một gói cơm khi đi gọi vía. 

Cơm nóng hay cơm nguội đều được

Người ta chuẩn bị gói cơm đi gọi vía thật đơn giản, ngắt lấy hai mảnh lá chuối đem hơ lửa cho mềm. Nếu không dùng lá chuối thì lá dong cũng được. Cơm cũng tùy. Nếu kịp nấu thì múc lấy một ít, còn không thì cơm nguội cũng chẳng sao. Đang trong cơn đói nên hồn vía cũng chẳng còn thời gian kiểm tra xem cơm nóng hay nguội. Một cách quan niệm vừa tâm linh và rất thực tế, song cũng không kém phần hồn nhiên.


Gói cơm sau đó được gói kỹ trong những chiếc áo và đem đến nhà thầy mo, người được gia chủ nhờ làm lễ. Chiếc gói khá nhỏ, được buộc bằng lạt chuối, lại giấu kín trong những lớp áo nên chẳng mấy ai để ý. 

Thế nhưng, trong bài cúng gọi vía, chẳng thấy thầy mo nhắc đến gói cơm. Kể cũng lạ. Điều này cho thấy nhiều khi những quan niệm tâm linh chẳng có một logic nào. Song xét cho cùng thì cơm, xôi là một lễ vật quen thuộc với nhiều cộng đồng dân tộc. Vì thế khi nó có mặt trong lễ gọi vía cũng là điều dễ hiểu.

Còn với riêng các làng bản người Thái, cơm và xôi về mặt nào đó đã vô tình len vào quan niệm tâm linh. Có lẽ những quan niệm đặt nặng tầm quan trọng của cơm gạo cũng xuất phát từ một quá khứ nghèo đói, khi cái ăn, cái mặc còn là mối lo lớn nhất của mỗi người. Sau mỗi bữa tối, những người mẹ đang nuôi con nhỏ thường để lại một ít cơm ở đáy nồi. Có người cho rằng để dành cho vía của bọn trẻ. Lỡ nửa đêm, chúng đói mà thức dậy lục nồi. Khi hồn vía đói, người có biết đâu. Cứ để dành cho chắc ăn.

Có những lễ vật trong các nghi lễ dân gian tưởng chẳng có gì to tát, nhưng chúng đều được gửi gắm vào đó những tâm niệm.

Hữu Vi

Đặc sắc lễ hội tưởng nhớ nghĩa sỹ Lam Sơn ở miền Tây Nghệ An

đăng 06:36, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Lễ hội "ki mọc" - một sinh hoạt tâm linh của người Thái ở mường Khủn Tinh (Quỳ Hợp - Nghệ An) để tưởng nhớ công ơn của những nghĩa sỹ Lam Sơn hồi thế kỷ 15. 

“Ki mọc” (ăn mọc) là lễ hội của cư dân các cộng đồng người Thái mường Khủn Tinh thuộc xã Châu Quang và một số làng bản thuộc xã Châu Cường, Châu Thái (huyện Quỳ Hợp). Lễ này thường diễn ra vào 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Dù đã có từ lâu đời nhưng lễ hội chỉ ở quy mô dòng họ. Ảnh: Lao Thanh Chương 


Trong truyền thống, "mọc" là vật phẩm duy nhất để cúng thần linh. Gần đây người ta thêm vào xôi, rượu để mâm cúng thêm phần hương sắc. Ảnh: Lao Thanh Chương 


Lễ hội này được cư dân bản địa tổ chức, duy trì qua nhiều thế hệ, để tưởng nhớ một vị tướng gọi là Pủ và người phụ nữ làm nội ứng cho nghĩa quân Lam Sơn gọi là Nhạ. Đây là hai người được cho là đã có công lớn giúp Lê Lợi và tướng lĩnh thu được những chiến thắng quan trọng trong cuộc khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh vào thế kỷ 15. Trong ảnh: Thầy mo đang thực hiện nghi thức mời thần linh về nhận lễ vật. Ảnh: Lao Thanh Chương 


Lễ hội chỉ diễn ra trong một ngày, được cư dân tổ chức như là một phong tục cổ truyền và thường không có sự tham gia của chính quyền địa phương như nhiều lễ hội khác. Ảnh: Lao Thanh Chương 


Sự kiện còn được ít người biết đến này diễn ra cùng thời điểm với Lễ hội Bươn Xao (Tân Kỳ, Con Cuông) và sau Lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa) 2 ngày. Đây đều là những sự kiện tưởng nhớ công đức của anh hùng dân tộc Lê Lợi - người đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427) đánh tan cuộc xâm lăng của triều đình nhà Minh. Ảnh: Lao Thanh Chương 


Nội dung: Hữu Vi, Ảnh: Lao Thanh Chương

Óng ả làng nghề tằm tơ xứ Lường

đăng 05:26, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Từ xa xưa, xã Đặng Sơn (Đô Lương) được biết đến với nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, kéo sợi. Một thời, bát ngát đồng bãi ven sông Lam qua địa bàn xã là những nương dâu xanh rì; song qua thời gian, làng nghề dần thu hẹp lại. Tuy không còn nhộn nhịp như trước đây, nhưng về Đặng Sơn hôm nay, du khách vẫn ngỡ ngàng trước những mảng vàng tằm tơ óng ả và tìm hiểu "nghề ăn cơm đứng" truyền thống nơi đây. 

Ở xã Đặng Sơn hiện có khoảng gần 40 hộ trồng dâu, nuôi tằm và khoảng 6 hộ làm nghề ươm tơ. Nghề không nhàn rỗi, vì đặc điểm thời gian tằm ăn cách khoảng 3 tiếng/lần. Nghề nuôi tằm vì thế còn được gọi vui là "nghề ăn cơm đứng", vì dù làm gì cũng phải đúng thời gian cho tằm ăn, như vậy tằm mới chín sớm và đạt năng suất cao. Ảnh: Hải Vương 


Tại đây, các hộ thường nuôi 2 loại tằm là tằm trắng và tằm vàng. Loại tằm trắng nuôi để ươm kén, lấy tơ và loại tằm vàng nuôi để làm thực phẩm. Tằm rất mẫn cảm với ánh sáng mặt trời và các loại thuốc trừ sâu nên nuôi tằm thường ở trong buồng riêng và có màn che để đảm bảo nhiệt độ. Ảnh: Hải Vương 


Khi tằm đang đóng kén, người nuôi phải canh nắng nhẹ sao cho kén khô, thơm, để khi ươm tơ kén không bị tan, cho sợi tơ vàng óng. Ảnh: Lê Thắng 


Một hình ảnh đẹp dễ bắt gặp khi về với làng nghề tằm tơ xứ Lường. Những mảng kén vàng óng ả, nụ cười rạng rỡ của người làm nghề hồn hậu gây cảm tình cho bất kỳ du khách nào có dịp ghé chân. Ảnh: Lê Thắng 


Tằm nuôi để ươm kén, lấy tơ phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp. Trước đây dùng guồng quay tơ thủ công nhưng gần đây có máy móc hỗ trợ nên người dân cũng đỡ vất vả hơn. Ảnh: Hải Vương 


Những sợi to mỏng manh bắt đầu được kéo lên. Ảnh: Lê Thắng 


Chị Hường ở xóm 4, xã Đặng Sơn năm nay 53 tuổi. Chị cho biết, bản thân đã gắn bó với nghề khoảng 20 năm, trải qua bao thăng trầm của làng nghề này. Hiện tại, mỗi ngày chị làm 8 tiếng, thu nhập khoảng 150.000 đồng/ngày, tuy không cao nhưng ổn định vì nghề làm quanh năm. Ảnh: Hải Vương 


Từ khi tằm nhả tơ cho đến lúc dệt thành vải phải trải qua nhiều giai đoạn: ươm tơ, lấy tơ, nhập tơ, guồng tơ, đánh ống, mắc cửi… rồi nối cửi, rồi dệt. Ở Đặng Sơn, tơ tằm được cuộn lại thành những nén tơ hoặc ống tơ. Ảnh: Hải Vương 


Những nén tơ óng ả hong trên đường làng. Ảnh: Hải Vương 


Hải Vương - Lê Thắng

Lò hủ tiếu ba đời ở Cần Thơ

đăng 22:03, 17 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tờ mờ sáng, ông Của cùng người thân nhóm lửa, đợi nước sôi rồi bắt đầu làm sợi hủ tiếu đến 14h. 

Từ bao đời nay, nghề làm hủ tiếu được nhiều gia đình ở quận Cái Răng, Cần Thơ duy trì như nét truyền thống của địa phương.

Ông Dương Văn Của, 49 tuổi (thứ hai từ trái qua) cho hay, ông bắt đầu làm công việc này từ năm 1982. "Làm hủ tiếu không chỉ là nghề truyền thống của gia đình tôi mà còn nhiều người dân khác sống ở quanh khu An Bình này. Tôi học việc từ ông bà khi còn nhỏ rồi và theo nghề đã gần 30 năm", ông Của nói. 

Vừa đặt chân đến căn nhà lợp mái lá nằm sâu trong con đường làng, bạn sẽ bắt gặp cảnh khói bốc nghi ngút quanh chiếc lò, theo ông Của, tuổi thọ của nó đã hơn nửa thế kỷ. Từ 4h sáng, lò được nổi lửa đợi khoảng nửa tiếng cho nước sôi thì bắt đầu đổ bột. 

Hiện công việc tại lò hủ tiếu này được người thân gồm vợ, con cháu và anh em của ông Của cùng nhau làm. 

Ông Quách Tĩnh (sinh năm 1964), anh họ ông Của, cho biết, cách pha bột tại nhà không có gì khác biệt so với các lò trong vùng. Muốn sợi hủ tiếu có màu trắng đục, thơm thì phải chọn được loại gạo ngon. Công đoạn pha bột được làm từ đêm hôm trước. 

"Bột năng và bột gạo được pha theo tỷ lệ cùng nước sạch, để lắng qua đêm là sáng hôm sau có thể dùng tráng bánh", ông Tĩnh giải thích khi có du khách thắc mắc về quy trình làm. 

Công đoạn tráng bánh đòi hỏi người làm phải nhanh tay lấy bánh ngay khi bột chín để trên rá tre. "Nếu chậm tay, bánh sẽ bị dính, khó lấy khỏi nồi, thậm chí bị rách", vợ ông Của nói. Thời gian hấp chín bột khoảng 1 - 2 phút. 


Thoạt nhìn, chiếc lò tráng bánh hủ tiếu không khác gì lò làm bánh cuốn, tuy nhiên kích thước to hơn. 


Ông Của nhanh tay trải bánh lên ré. 


Mỗi chiếc ré tre dài gần 2 m, phơi được 4 chiếc bánh. Theo ông Của, thời tiết là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng của sợi hủ tiếu. "Bánh cần một đến 2 con nắng mới ráo và phải biết canh những ngày nắng gắt để bánh không bị quá khô", ông Của nói. 


Bánh sau khi phơi nắng sẽ được đưa vào cắt. Đều tăm tắp, ông Tĩnh đặt miếng bánh lên trên máy. Những sợi hủ tiếu to tròn trôi ra ở đầu bên kia, nơi có đôi bàn tay của chị Hai, em ông Của đợi sẵn. 


Hiện tại, lò nhà ông Của sản xuất 5 loại hủ tiếu. Ngoài loại cơ bản có màu trắng đục, có thêm 4 màu khác từ lá cẩm, nghệ, trái gấc và lá dứa. Chủ lò cho biết, các loại trên mới đưa vào sản xuất để phục vụ nhu cầu khách hàng. 

Hủ tiếu ở đây sau khi đóng gói, ngoài làm quà để khách đến tham quan mua sắm, sẽ được chuyển đến các cửa hàng ở Cần Thơ và nhiều tỉnh, thành lân cận như Trà Vinh, Vĩnh Long, TP HCM. 

"Năm 1991 lò hủ tiếu của gia đình nằm ngoài lộ, đón đông khách Nhật. Đến năm 1995, khi gia đình dời vào sâu trong làng, ở vị trí hiện tại, thì lò mới bắt đầu có khách Âu ghé chân", ông Của nói. Khách đến đây không chỉ tìm hiểu quy trình thực hiện mà còn được trải nghiệm đổ bánh và mua sản phẩm về làm quà. Ảnh: Thái Tăng Tùng. 


Lò hủ tiếu Chín Của nằm gần chợ nổi Cái Răng. Bạn có thể sắp xếp lịch trình đến đây bằng thuyền ngay sau khi tham quan chợ nổi. Hoặc nếu đi bằng đường bộ, bạn có thể chạy đến Lộ Vòng Cung (Đường 923), rồi rẽ vào hẻm 476, chạy thêm một đoạn là đến. 


Điểm này không thu phí tham quan. Giá mỗi kg hủ tiếu từ 40.000 đồng, tuỳ loại. 

Phong Vinh

Nửa đêm theo nông dân Đức Thọ ra bờ sông La bắt cáy

đăng 21:42, 17 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Vào khoảng 2-3h sáng, khi thủy triều sông La xuống thấp, là lúc người dân thôn Vĩnh Đại, xã Đức Vĩnh, Đức Thọ (Hà Tĩnh) ra bờ sông săn bắt cáy. Săn cáy không chỉ kiếm thêm thu nhập, mà còn góp phần lưu giữ một nghề truyền thống của người dân ven sông La.

Khi thủy triều trên sông La xuống kiệt cũng là lúc người dân thôn Vĩnh Đại đi đặt bẫy bắt cáy


Có dịp được cùng chị Lữ Thị Hồng Trinh (thôn Vĩnh Đại) ra bãi bồi ven sông La để bắt cáy, chúng tôi mới cảm nhận được cái nghề hết sức thú vị này.

Trông những con cáy đang cố thoát ra ngoài chiếc bẫy được người dân tận dụng từ những chiếc chai nhựa rất vui mắt.

Địa điểm thích hợp nhất để đặt bẫy bắt cáy là dọc các triền sông, bờ ruộng và bờ kênh có nước lên xuống


Chị Lữ Thị Hồng Trinh cho biết: "Thời điểm thích hợp nhất để đặt bẫy bắt cáy là vào khoảng 2 - 3h sáng, bởi lẽ thời điểm này cáy bắt đầu đi kiếm ăn, đến khoảng 7 - 8h sáng là đi thu bẫy, nếu để quá trưa khi nắng lên con cáy sẽ bị chết.

Chiếc bẫy được người dân tận dụng từ chai nhựa có thể bắt được từ 3-5 con cáy


Bắt cáy là nghề truyền thống, nghề phụ của người dân nơi đây, đã lưu giữ từ nhiều đời nay, mỗi đêm một người đặt khoảng 500 cái bẫy và bắt được từ 5-7 kg cáy.

Người dân đặt bẫy để nhử cáy


Mùa cáy chỉ rộ lên từ tháng 4 đến tháng 8, khi gió Lào lên. Cáy sống chủ yếu ở các bờ ruộng, bờ sông, bờ kênh, hay bãi bồi ven sông. Ngày nắng càng to, thì đêm tối cáy bò ra đi tìm thức ăn càng nhiều.

Có rất nhiều kiểu săn cáy khác nhau. Người thì đào hang, người đi soi đèn bắt vào ban đêm, hay dùng chai nhựa cắt phần đầu, dùng mồi nhử bằng cám gạo rang thành thính trộn với mắm tôm bỏ vào chai rồi đặt rải rác dọc bờ sông. Trong lúc bò lên miệng chai để ăn mồi, con cáy sẽ bị rơi xuống và nằm gọn trong chai.

Tuy nhiên, theo người dân ở đây cho biết, cũng không dễ mà bắt được loài nổi tiếng “nhát” này. Chỉ cần thấy có động nhẹ thì cáy đã nhanh chóng chui tọt xuống hang.

Trên cả những mảnh ruộng đã thu hoạch cũng có thể đặt bẫy để bắt cáy


Mặc dù phải vất vả đi săn bắt cáy vào thời điểm nửa đêm về sáng, giờ mà ai cũng đang say giấc ngủ, nhưng bù lại, trong khoảng 3 đến 4 tiếng đồng hồ, mỗi người có thể bắt được từ 5 đến 7 kg cáy, bán với giá dao động từ 40 - 60 nghìn đồng/kg. Đây được xem là nguồn thu nhập tương đối khá đối với bà con nông dân.

7 - 8 giờ sáng là thời điểm thích hợp nhất để đi thu bẫy cáy


Anh Nguyễn Văn Lạc, thôn Vĩnh Đại, xã Đức Vĩnh cho biết: "Tôi làm nghề bắt cáy được gần chục năm rồi, mỗi đêm bình quân được khoảng vài ba trăm nghìn, lúc nhiều có thể kiếm được 4 đến 5 trăm ngàn đồng.

Sau mỗi đêm đặt bẫy có thể bắt được từ 5-7 kg cáy


Cũng như cua đồng, cáy là loại thực phẩm có tính mát, thường được dùng để nấu canh ăn vào mùa hè. Đặc biệt, cáy xay nhuyễn, trộn lượng muối, nước vừa đủ, rồi đem phơi nắng khoảng 10 ngày sẽ cho ra mắm cáy, ruốc cáy, một thứ nước chấm vừa ngon, vừa bổ dưỡng, được nhiều người ưa chuộng.

Cáy được thương lái thu mua tận nhà với giá từ 40 đến 60.000/1kg tùy vào ngày cáy nhiều hay ít


Ông Trần Văn Thi, Trưởng thôn Vĩnh Đại cho biết: "Nghề bắt cáy mang lại thu nhập khá cho nhiều hộ gia đình. Hiện chúng tôi đang đề xuất với chính quyền địa phương xây dựng mô hình OCOP: mắm cáy, ruốc cáy, ruốc rươi để góp phần nâng cao đời sống của nhân dân, đồng thời lưu giữ một nghề truyền thống của người dân ven sông La.

Người thu mua làm giá cho cáy, leo tránh tình trạng cáy dẫm đạp lên nhau mà chết


Đức Phú

Lễ cúng cây nêu cầu an của đồng bào Êđê

đăng 03:03, 10 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Lễ cúng cây nêu cầu an là một trong những sinh hoạt văn hoá, phản ánh đậm nét đời sống, tinh thần của đồng bào dân tộc Êđê sinh sống tại tỉnh Đăk Lăk. 

Trong đời sống của cộng đồng người Tây Nguyên nói chung và người Êđê nói riêng, cây nêu là biểu tượng của tâm linh, mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong các nghi lễ, lễ hội truyền thống.

Trước buổi lễ, mọi người trong gia đình chuẩn bị cây nêu, trang trí rồi dựng lên giữa bãi đất trống phía trước nhà rông. Lễ vật dâng cúng gồm 3 chén cơm trắng, 3 món thịt lợn và 3 ché rượu cần, bày bên dưới cây nêu.

Sau tiếng chiêng báo các vị thần và tổ tiên về chứng giám, tiếng chiêng chào mời, đón khách đến dự lễ cũng đã dừng hẳn, lễ cúng được bắt đầu với nghi thức “cúng sức khỏe”.

Cây nêu dựng giữa bãi đất trống trước nhà rông và được trang trí sặc sỡ.


Già làng chuẩn bị lễ vật cho lễ cúng.


Thầy cúng và già làng lấy rượu để cúng thần linh.


Thầy cúng làm lễ cúng sức khỏe cho chủ nhà.


Già làng làm lễ cúng thần linh trước cây nêu.


Lễ cũng được bắt đầu với nghi thức “cúng sức khỏe”.


Những hồi tù và vang vọng trong lễ cúng.


Thầy cúng đeo vòng cầu sức khỏe, bình an cho chủ nhà. 


Chủ nhà mời rượu, mời cơm những người có vai vế trong dòng họ.


Mọi người cùng nhau nhảy múa và uống rượu cần. 


Thầy cúng ngồi trước lễ vật, khấn bài cúng “Ơ yàng phía tây, ơ yàng phía đông! Là các thần cai quản dân làng, tôi gọi mời từ nơi xa, nơi gần về chứng giám cho làng. Hôm nay là lễ cúng cho chủ nhà được khỏe mạnh, cuộc sống no đủ, con cháu không ốm đau, bệnh tật….”.

Kết thúc bài cúng, thầy cúng mời các thành viên trong gia đình chủ nhà ra rồi đeo vòng đồng vào tay cho từng người. Nghi thức cúng đeo vòng và dây chuỗi hạt được người Êđê rất quan tâm trong các nghi lễ vòng đời người. Chiếc vòng như là minh chứng cho tấm lòng thủy chung, son sắc, là vật hộ mệnh và sẽ được lưu giữ bên mình suốt đời.

Sau khi các nghi thức trong lễ cúng thực hiện xong, chủ nhà mời rượu, mời cơm những người có vai vế trong dòng họ, đặc biệt là những người phụ nữ theo thứ tự vai vế trong dòng tộc. 

Kết thúc buổi lễ, chủ nhà ôm khiên và kiếm ra giữa buổi tiệc rồi hòa mình vào tiếng chiêng, vừa nhảy vừa múa kiếm. Điệu nhảy mang ý nghĩa xua đuổi điều ác, mong sự bình yên, hòa thuận. Già trẻ gái trai cùng hát những làn điệu dân ca và cùng chúc cho chủ nhà và gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc.

Lễ cúng cây nêu cầu an được dân tộc Êđê trân trọng, gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ, thể hiện khao khát điều tốt đẹp, ấm no đến với người dân bản làng.

Bài và ảnh: Công Đạt

Trống đất, nhạc cụ cổ xưa độc đáo

đăng 02:24, 10 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, cùng với trống đồng Đồng Sơn ở Bắc Bộ và đàn đá Tây Nguyên, trống đất có lẽ là một trong những nhạc cụ cổ xưa và độc đáo nhất. Nếu như trống đồng, trống bịt da có mặt sớm và còn được diễn tấu trong hiện tại thì trống đất chỉ còn được sử dụng hiếm hoi ở một số dân tộc như Mường, Sán Chay, Cor ở Việt Nam.

Nguồn gốc cổ xưa 

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, trống đất được coi là “thủy tổ” của các loại trống vì xuất hiện từ rất sớm, có thể trước cả trống đồng. Đó là sản phẩm được sáng tạo của những người lao động và được bồi đắp, bổ sung, trao truyền qua nhiều thế hệ.

Nghi thức cầu mưa của người Cor ở Quảng Ngãi với trống đất. 


Trống đất theo tiếng Mường là “Toòng Tửng”. Theo truyết thuyết của người Mường vùng Phú Thọ, trống đất được sáng tạo trong quá trình chống ngoại xâm của ông cha từ thời Hùng Vương. Sau khi đánh trận trở về, quan quân hạ trại nghỉ ngơi và ăn mừng chiến thắng tại làng Thể Cần (làng Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ ngày nay). Trong quá trình đào hố chôn cột trại, những âm thanh vang lên từ lòng đất chính là gợi ý cho sự sáng tạo nên nhạc cụ độc đáo này. Từ nguồn gốc đó mà trống đất thuở ban đầu là nhạc cụ sử dụng để ăn mừng khao quân thắng trận. 

Tổ tiên người Cor ở Quảng Ngãi đã sáng tạo nên trống đất của mình từ âm thanh thình thình của tiếng đào đất dội lại trong quá trình làm như những người Cor lớn tuổi am hiểu về phong tục, tập quán tại thôn 2A, xã Trà Kót, huyện Bắc Trà My cho biết. 

Dù sáng tạo trong những hoàn cảnh khác nhau nhưng trống đất là sản phẩm được chủ thể văn hóa sáng tạo trong quá trình lao động sản xuất và chống giặc ngoại xâm. Với khả năng thẩm âm bẩm sinh, từ những âm thanh cộng hưởng của đất trong các hoạt động này, chủ thể đã làm nảy sinh ý tưởng làm trống đất. 

Từ buổi sơ khai nhất của lịch sử âm nhạc Việt Nam, dù đời sống còn nhiều khó khăn vất vả khi sự hiểu biết còn hạn chế nhưng chủ thể văn hóa đã tìm tòi và sáng tạo nên một nhạc cụ độc đáo, thỏa mãn nhu cầu về thẩm mỹ âm nhạc của mình và gửi gắm vào đó những khát vọng về mùa màng tốt tươi, đời sống ấm no. Đấy còn là minh chứng của một đời sống tâm hồn phong phú, lạc quan, yêu đời.

Sự khác biệt của trống đất 

Thuộc bộ gõ nhưng khác với hầu hết các nhạc cụ cùng loại về cấu tạo, hình dáng, chế tác, trống đất được tạo nên từ việc khoét dưới đất và chỉ sử dụng 1 lần. Người diễn tấu ngồi thấp xuống đất để gõ vào các sợi dây được căng kết nối với mặt trống.

Múa Tắc xình được đệm bởi trống đất và các nhạc cụ tre nứa của người Sán Chay ở Thái Nguyên. 


Trống đất không khó làm, từ việc khoét 1 hay 5 hố đất và các công đoạn khác cũng không đến 30 phút nếu đã có sẵn như mo cau, tre nứa, dây rừng, thừng, dây lạt… nhưng quan trọng nhất là chất lượng âm thanh của trống đất. Âm thanh vang hay không, phụ thuộc vào sự thuần thục của đôi tay, khả năng thẩm âm đặc biệt của nghệ nhân. Sự độc đáo của trống đất chính là tính cá biệt hóa, tính cá nhân của nhạc cụ này rất rõ nét, mỗi cái trống đất, mang dấu ấn riêng của mỗi một cá nhân chế tác nên. 

Sự độc đáo của trống đất không chỉ ở hình dáng, chất liệu tạo nên mà còn ở tính đa dạng trong công năng của nó ở mỗi vùng, mỗi cộng đồng dân tộc. Để làm trống đất, cả người Mường và người Cor ở Quảng Ngãi đều thực hiện những nghi thức cúng thần linh để xin phép trước khi làm trống đất. 

Tuy nhiên, với người Cor ở Quảng Ngãi, trống đất thực sự là nhạc cụ thiêng. Già làng hay những người lớn tuổi, am hiểu phong tục tập quán của người Cor mới được đánh trống và thường làm trống đất để cầu mưa, khi thời tiết khô hạn kéo dài với ý nghĩa mong những tiếng trống đất mang những lời cầu nguyện của dân làng đến các vị thần linh để được ban mưa xuống cho mọi vật được sinh sôi, xanh tốt. 

Với người Mường, trống đất được dùng trong các lễ hội hội như: Đâm đuống, Sắc bùa, Trống đu, đình Lưa, Xôi mới 10/10… hay cùng diễn tấu với các nhạc cụ khác khi hát Giang, hát Ví... Với người Sán Chay, lễ hội cầu mùa không thể thiếu trống đất. Trong đó, điệu múa Tắc xình trong lễ hội được đệm bằng trống đất và các nhạc cụ tre nứa.

Người Cor ở Quảng Ngãi trong lễ hội cầu mưa làm lễ với 5 chiếc trống đất. 


Nghệ nhân Đinh Hữu Tự - Một trong số rất ít nghệ nhân biết làm và diễn tấu trống đất của người Mường ở huyện Thanh Sơn, Phú Thọ chia sẻ: “Thực sự thời gian qua có rất ít cơ hội để cho mọi người thưởng thức trống đất. Thế nên điều quan trọng của việc duy trì, bảo tồn nhạc cụ dân dã này là làm sao có thể cải tiến để trống đất dễ chơi hơn và phù hợp hơn với đời sống hiện đại hơn”. Đây cũng là thực trạng chung đối với các loại trống đất.

Trống đất hầu như đã vắng mặt khá lâu trong đời sống văn hóa nói chung, âm nhạc nói riêng của các cộng đồng dân tộc Việt Nam. Sự xuất hiện trở lại gần đây của trống đất trong sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng ở một số địa phương là tín hiệu tốt trong việc bảo tồn, giữ gìn di sản độc đáo này. Nhưng để trống đất thực sự được “sống” trong đời sống, cần có sự nỗ lực chung tay của các cơ quan chuyên trách với nghệ nhân cũng như các nhà nghiên cứu văn hóa. 

Thu Loan

Để tiếng cồng chiêng ở làng Kon Drei mãi âm vang

đăng 01:30, 7 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cồng chiêng gắn liền với đời sống văn hóa, tâm linh và là linh hồn trong mọi hoạt động lễ hội từ bao đời nay của đồng bào các DTTS trên địa bàn tỉnh nói chung và dân tộc Ba Na nói riêng. Để âm vang tiếng cồng chiêng nối dài mãi trong các lễ hội của cộng đồng làng, trong các nghi lễ vòng đời của người Ba Na; suốt mấy năm qua, người Ba Na ở làng Kon Drei (xã Đăk Blà, thành phố Kon Tum) đã bảo ban, truyền dạy cho nhau nghệ thuật cồng chiêng nhằm giữ gìn những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng dân tộc nơi đây.

Làng Kon Drei nép mình bên dòng Đăk Bla hiền hòa. Giữa làng, nhà rông được làm theo đúng nguyên mẫu truyền thống của dân tộc Ba Na với mái tranh cao vút, sừng sững như một lưỡi rìu vươn lên trời. Chống đỡ cho nhà rông trước những khắt nghiệt, giông bão là những hàng cột gỗ cao to, vách thưng bằng lồ ô… Nhà rông này được dân làng phục dựng đầu năm 2018. Và, mấy năm nay, khoảng sân rộng rãi trước nhà rông luôn rộn ràng tiếng trống, tiếng cồng chiêng và nối vòng xoang vào những tối thứ bảy, chủ nhật trong những tháng hè hay những dịp làng có lễ hội và tổ chức các sự kiện trọng đại.

Thôn trưởng A Trich tự hào khoe: Đội cồng chiêng của làng có hơn 40 thành viên, người già nhất năm nay tròn 88 tuổi, trẻ nhất mới 13 tuổi; đội xoang nữ có hơn 30 người chủ yếu là thanh thiếu niên. Riêng đội chiêng được chia làm 3 lứa tuổi là đội người già, đội trung niên và một đội chiêng nhí lứa tuổi học sinh. Mấy năm qua, các thành viên trong đội chiêng, xoang người lớn chỉ dạy cho người nhỏ, mọi người bảo nhau cùng gìn giữ, bảo tồn các giá trị của cồng chiêng, múa xoang. Rồi cứ thế, các thế hệ nối tiếp nhau để tiếng cồng, tiếng chiêng của dân tộc mình vang vọng mãi mãi.

Già A Khiu năm nay đã 82 tuổi, dù đôi chân không còn nhanh nhẹn, mắt không còn tinh anh, nhưng cứ nói đến cồng chiêng là già phấn chấn, vui vẻ khác thường. Mấy năm rồi, già dành rất nhiều thời gian, tâm huyết để “truyền lửa” và dạy bảo các con cháu cách đánh cồng chiêng.

Già A Khiu say sưa kể: Già có may mắn là ngay từ nhỏ được đắm mình trong các lễ hội văn hóa truyền thống của dân tộc Ba Na cùng với những tiếng cồng, tiếng chiêng vang vọng núi rừng. Thứ âm thanh ấy khi ngân nga sâu lắng, trầm hùng, khi thôi thúc… cứ vang lên theo từng lễ hội của làng, theo bước chân nhịp nhàng của các thiếu nữ thể hiện trong các điệu xoang, rồi hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió đã làm già mê mẩn nên theo người lớn học cho bằng được.

Dừng lại một lúc như để hồi tưởng lại một thời tuổi trẻ sôi nổi, đắm say với các lễ hội của làng, già A Khiu tiếp tục câu chuyện: Từ khi còn thanh niên, già đã trở thành người đánh cồng chiêng giỏi nhất làng và biết cả chỉnh chiêng nữa. Nhiệm vụ của già bây giờ là phải chỉ dạy cho lũ trẻ hiểu được “tiếng nói” của cồng chiêng, tình yêu với cồng chiêng và kỹ năng đánh cồng chiêng để khi về với tổ tiên, núi rừng thì vẫn có lớp con cháu tiếp nối.

Già A Khiu dạy các em nhỏ đánh cồng chiêng. Ảnh: TH 


Theo già A Khiu, cồng chiêng là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của đồng bào Ba Na nói chung và dân làng Kon Drei nói riêng. Trong tất cả các lễ hội của làng từ lễ mừng nhà rông mới, lễ hội nước giọt, các ngày lễ tết khác trong năm, cho đến các nghi lễ vòng đời trong mỗi gia đình như lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, đám ma... đều phải có tiếng cồng chiêng. Âm thanh của cồng chiêng có sức “quyến rũ” lạ thường, nghe cồng chiêng người ta như thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội, như tiếng vọng âm vang của đại ngàn…

Về tín ngưỡng, đồng bào Ba Na quan niệm cồng chiêng là nhạc của quyền uy, linh thiêng do Yàng ban phát cho con người. Tiếng cồng, tiếng chiêng là ngôn ngữ thay thế tiếng nói của con người giao tiếp với thần linh. Vì thế mà, người xưa sáng tạo ra rất nhiều bài chiêng khác nhau phù hợp với từng nghi lễ, trong đó có các bài chiêng cơ bản như đón khách đến thăm nhà, đâm trâu mừng nhà rông mới, mừng lễ hội nước giọt, mừng lúa mới… Tùy vào từng lễ nghi mà giai điệu cồng chiêng khác nhau, có khi thong thả, nhịp nhàng khoan thai; có khi rộn ràng, sôi nổi; có khi trầm buồn, sâu lắng...

“Nếu không có cồng chiêng, ngày tết, các ngày lễ hội của dân làng cũng sẽ không vui, không tập trung được lũ trẻ, trai, gái và nhiều người nữa” - già A Khiu chia sẻ thêm.

Cùng với già A Khiu, những người lớn trong làng thạo cồng chiêng cũng nỗ lực truyền dạy cho con cháu. Hiểu được ý nghĩa, tấm lòng của những người đi trước, lớp người trẻ trong làng ra sức luyện tập. Có những em chưa xách nổi chiếc chiêng to nhưng cũng theo người già để học. Đây là tín hiệu đáng mừng, cho thấy thế hệ trẻ ở làng Kon Drei không thờ ơ với văn hóa dân tộc.

Anh A Nglứp giãi bày: Cồng chiêng là bản sắc của dân tộc mình, là tài sản vô giá cần phải gìn giữ, bảo tồn và phát huy nên mình cũng như những đàn ông khác trong làng luôn nỗ lực học hỏi, sau này còn chỉ dạy cho con cháu để các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình không bị mai một.

Cùng với cồng chiêng, những vũ điệu xoang là một phần không thể thiếu trong một lễ hội.

Đội xoang gồm toàn chị em nữ nên mỗi buổi tập luyện luôn được bắt đầu từ tiếng cười, tiếng hát vui nhộn và kết thúc bằng những điệu múa duyên dáng, nhịp nhàng. Có những cô bé bình thường khi nói chuyện thì bẽn lẽn, ngại ngùng; ấy vậy mà khi tiếng chiêng cồng ngân lên là đôi mắt sáng rực lên, lại nhịp tay, nhịp chân, tràn đầy sức sống, dường như âm vang tiếng cồng chiêng và điệu xoang đã “chảy trong huyết quản” của các em từ khi mới lọt lòng mẹ.

Y Na kể: Em bắt đầu tập điệu múa xoang này từ năm 14, đến giờ đã được 10 năm rồi. Em cảm thấy rất vui và hạnh phúc khi được múa những điệu xoang của dân tộc mình. Cô Y Dzoar là người chỉ dạy cho em múa và em cũng đang cố gắng để chia sẻ, dạy lại cho các em nhỏ trong làng.

“Trước đây, tôi cũng học hỏi từ những người già, giờ mình biết thì phải chỉ dạy cho những người trẻ. Tôi tập cho mấy em từ nhỏ để các em hiểu và giữ lấy những nét văn hóa truyền thống của dân tộc và tiếp tục truyền dạy cho các thế hệ sau. Được cái, các em cũng rất đam mê nên hăng hái tập múa. Mặt khác, điệu xoang như điều tự nhiên sẵn có trong tâm hồn của mỗi người nên chỉ cần mình biết cách “đánh thức” là các em tiếp thu rất nhanh” - chị Y Dzoar bày tỏ.

Theo các nghệ nhân trong làng, múa xoang là sự phối hợp giữa co chân, duỗi tay, nhún nhảy thể hiện sự dịu dàng và uyển chuyển của người phụ nữ. Điệu xoang của người Ba Na mang chất liệu khỏe khoắn, hồn nhiên, mộc mạc như chính mảnh đất và con người Tây Nguyên. Trong các điệu múa, mọi người di chuyển bằng những bước đi ngắn, nhịp nhàng, trong khi tay mô phỏng các động tác lao động sản xuất như làm cỏ, dệt vải, xúc cá, hái rau…

Mỗi bài xoang trong mỗi dịp, mỗi lễ hội được thể hiện một cách khác nhau, ví như trong không khí vui tươi của đám cưới, của lễ mừng nhà mới thì nhảy nhanh để cảm thấy vui vẻ, còn như trong đám ma thì không khí buồn thì điệu nhảy cũng khác, chậm hơn, buồn hơn…

Người dân làng Kon Drei còn khôi phục được nhiều lễ hội dân gian như lễ mừng lúa mới, lễ bỏ mả, lễ cưới truyền thống của người Ba Na. Đây là “đất” để cồng chiêng được phát huy. Âm thanh cồng chiêng vang lên không chỉ là lời tạ ơn của người dân trong làng với thần linh, thể hiện niềm vui và ước mong mùa màng bội thu, dân làng no ấm, yên bình mà nó còn là chất men say lôi cuốn các chàng trai, cô gái vào những điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội của làng. Bên ché rượu cần tình cảm làng xóm nhờ đó được thắt chặt hơn. Rồi sau khi men rượu chuếnh choáng, những người già lại say sưa bày cho những người trẻ những nhịp chiêng, điệu xoang. Cứ thế, người đi trước dẫn đường, người đi sau “tiếp lửa”, dân làng Kon Drei đang từng ngày, từng ngày tạo nên sức sống cho cồng chiêng của dân tộc.

Thế nhưng, theo Thôn trưởng A Trich, để có được niềm tự hào này, câu chuyện bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc của dân làng Kon Drei cũng đã trải qua bao thăng trầm. Một thời gian trước, người dân trong làng vì lầm lỡ tin theo tà đạo Hà Mòn mà bỏ bê mọi công việc, trong đó có cả việc xây dựng đời sống văn hóa, tổ chức sinh hoạt cộng đồng và gìn giữ bản sắc truyền thống. Từ năm 2015, khi được các cấp chính quyền và đoàn thể địa phương tuyên truyền, giải thích, mọi người trong thôn Kon Drei hiểu chuyện, từ bỏ tà đạo, quay về chăm chỉ làm ăn và cùng nhau làm “sống dậy” tiếng cồng chiêng cùng những điệu xoang nhịp nhàng của dân tộc Ba Na.

Chỉ với những chiếc cồng, chiếc chiêng rất đơn giản, nhưng với tài hoa, tình yêu của người dân làng Kon Drei, âm thanh cồng chiêng và những điệu xoang dặt dìu làm say lòng bất kỳ ai khi có dịp thưởng thức.

Già A Khiu khẳng định với chúng tôi trong vẻ phấn chấn, tự hào rằng: “Khi giữ được những giai điệu cồng chiêng tức là dân làng Kon Drei đã giữ được cái hồn, cái cốt của văn hóa dân tộc mình”.

Thùy Hương

1-10 of 23