Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Khu chợ có cái tên "độc, lạ" bán đủ loại "thượng vàng, hạ cám" ở Hà Nội Chợ Trời (hay chợ Giời) là một khu chợ ở giữa trung tâm thủ đô Hà Nội với cái tên nghe vừa dân dã, vừa có tí chút "giang hồ ...
    Được đăng 06:59, 29 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lễ cúng sức khỏe cho voi Với người Mnông, Ê Đê sinh sống ở tỉnh Đắk Lắk, voi không chỉ là tài sản quý giá của gia đình mà còn được xem là người bạn, là ...
    Được đăng 01:17, 19 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Dàng Then, lễ hội cấp sắc độc đáo của người Tày Dân tộc Tày là cư dân bản địa cư trú sớm nhất ở vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc tổ quốc. Bà con có bề dày truyền thống văn ...
    Được đăng 00:30, 19 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mùa bắp ven sông vẫy gọi du khách Một mùa bắp bãi sông nữa lại về. Dọc các bãi bồi ven sông Trà, đâu đâu cũng ngút ngàn một màu xanh mởn của đồng bắp phất cờ đậu ...
    Được đăng 05:58, 9 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tục thờ tổ nghề rèn sắt ở Hiệp Hoà Tục thờ tổ nghề là nét đẹp trong văn hóa của người dân làng nghề rèn sắt ở xã Đức Thắng, nay là thị trấn Thắng (Hiệp Hoà, tỉnh Bắc ...
    Được đăng 21:16, 7 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Khu chợ có cái tên "độc, lạ" bán đủ loại "thượng vàng, hạ cám" ở Hà Nội

đăng 03:47, 21 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:59, 29 thg 3, 2021 ]

Chợ Trời (hay chợ Giời) là một khu chợ ở giữa trung tâm thủ đô Hà Nội với cái tên nghe vừa dân dã, vừa có tí chút "giang hồ".

"Hàng gì có ở trên đời, cứ đến chợ Giời là có" là câu cửa miệng của con buôn khi nhắc tới sự phong phú của hàng hóa tại khu chợ tồn tại đã lâu trên địa bàn hai phường giáp ranh Đồng Nhân và Phố Huế (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội).

Đây là nơi buôn bán đủ loại hàng, từ cái đinh, con ốc vít, cục pin đồng hồ đến cả hàng điện tử, điện lạnh... trong đó có không ít là linh kiện "độc" đã không còn sản xuất. Nhưng muốn mua được hàng xịn, bền với giá rẻ tại khu chợ này thì không dễ. Đó là lí do, sau nửa thế kỉ tồn tại, chợ Trời ( hay chợ Giời ) vẫn được gắn kèm cái mác "bán đồ rởm, lấy tiền thật".

"Đặc sản nổi tiếng" của chợ Trời Hà Nội mà người mua tại đây ít nhiều đã từng "thưởng thức" đó chính là mua phải đồ rởm với cái giá tưởng là hời.

Nhiều tiểu thương không ngần ngại bật mí: một phần không nhỏ hàng hóa ở chợ Trời là hàng nhái, kém chất lượng được trộn bán vào cùng các mặt hàng khác.

Theo tìm hiểu của PV, chợ được hình thành từ thời kì Pháp thuộc và được phát triển mạnh mẽ vào thời kì năm 1954 - 1955, do một số người dân tản cư vào miền Nam có nhu cầu cần phải bán các tài sản trong gia đình.

Từ đó chợ Trời được hình thành, mở rộng và phát triển cho đến ngày nay. Hiện nay, chợ họp từ khoảng 8h sáng đến 19h tối. Hầu như, mọi người dân Hà Nội đều đã quá quen với cái tên "chợ Trời" mà quên đi tên thật của chợ Trời là chợ Hòa Bình.

Quên đi cái tên gốc mà gọi bằng cái tên chợ Trời một phần cũng vì ở đây người ta buôn bán đủ các mặt hàng từ USB, chuột máy tính, loa điện tử, đến các mặt hàng lớn hơn như linh kiện ô tô, phụ tùng xe máy, thiết bị điện máy… nhưng lại được bày bán, phơi giữa trời.

Các mặt hàng tại chợ Giời hết sức phong phú và đa dạng với đủ các loại "thượng vàng hạ cám" để khách có thể lựa chọn bất kỳ một món hàng nào. Thậm chí, khách hàng có thể mua một chiếc bi đông, chiếc đèn dầu, các sản phẩm đồ giả cổ cho đến các loại máy móc, linh kiện điện tử phức tạp nhất.

Chợ Trời bày bán nhiều mặt hàng từ đồ điện nhỏ lẻ tới phụ tùng ô tô, máy công nghiệp. 

Các gian hàng trong chợ Trời nằm san sát. Ở đây có không ít món đồ tưởng chừng đã "tuyệt chủng". 

Không ít người mang hàng đến chợ Trời và bán "giữa trời" như thế này.

Trong nhiều sạp hàng cũ kĩ tại đây có bán những thứ đồ cổ mà không đâu ở Hà Nội có. 

Thượng vàng hạ cám, không gì ở chợ Trời không có, kể cả... quan tài.

Nhiều người từng đến chợ Trời truyền tai nhau: Khu chợ này không dành cho khách hàng "yếu tim". Đến đây mua hàng, người mua phải sành sỏi, tỉnh táo, am hiểu về thứ cần mua để không bị ép giá hay "lừa bán đồ giả".

Chợ Trời cũng là khu chợ "dính" nhiều lùm xùm tiêu thụ đồ ăn trộm, ăn cắp. Đó là lí do, nhiều người bảo nhau rằng, ai bị mất thứ gì, cần cái gì (đồ ăn cắp) cứ ra chợ Trời Hà Nội hỏi là sẽ "chuộc" hoặc mua được.

Đã từng có thời kỳ chính quyền muốn dẹp chợ Trời, và đã từng chuyển chợ Trời lên phố Phùng Hưng. Tuy nhiên khu chợ này vẫn tồn tại ở đây vì nhu cầu trao đổi thật sự tồn tại và vùng đặt chợ vốn đã thành "đất quen", không dễ thay đổi.


Hiện nay, chính quyền ngày càng quyết liệt loại bỏ bán hàng không rõ nguồn gốc tại chợ Trời.

Dù có những lùm xùm không hay nhưng không thể phủ nhận, khu chợ này đã gắn bó với nhiều người tiêu dùng Thủ đô.

Hiện nay, khu chợ đang thay đổi nhiều, trở nên văn minh, tích cực hơn; hàng hóa đa dạng và được kiểm soát kĩ càng hơn.

Nhiều thứ tưởng như phế thải bỏ đi lại trở thành "có giá" ở chợ Trời.

Chợ Trời Hà Nội được hình thành từ thời bao cấp, tính đến nay đây là ngôi chợ tạm lâu đời nhất Hà Nội vẫn còn hoạt động, với tuổi đời lên đến 60 năm. Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, hiện nay chợ còn bán thêm các sản phẩm mới tinh bên cạnh đồ cũ.

Toàn Vũ

Lễ cúng sức khỏe cho voi

đăng 01:17, 19 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Với người Mnông, Ê Đê sinh sống ở tỉnh Đắk Lắk, voi không chỉ là tài sản quý giá của gia đình mà còn được xem là người bạn, là thành viên trong gia đình. Vì vậy mà hàng năm, những gia đình có voi thường tổ chức cúng sức khỏe cho voi. Lễ cúng độc đáo này không chỉ mang yếu tố tâm linh mà nhắc nhở nhau phải trân trọng, chăm sóc, bảo vệ voi.

Ông Đàm Năng Long, sinh sống tại huyện Lắk chia sẻ: “Người Mnông quý voi như bạn nên năm nào cũng tổ chức cúng sức khỏe cho voi. Những năm qua, đàn voi nhà ở Tây Nguyên giảm hẳn, việc chăm sóc sức khỏe cho voi càng được chú trọng hơn”. Tùy theo từng dân tộc, điều kiện kinh tế của gia đình chủ voi sẽ có những cách cúng khác nhau, lễ vật khác nhau. Tuy nhiên, tất cả mang ý nghĩa cầu sức khỏe cho voi, để voi đỡ đần, gánh vác những phần việc nặng nhọc cho con người. Đồng thời nhắc nhở con người phải biết trân quý, chăm sóc loài voi.

Lễ cúng sức khỏe cho voi thường có những vật phẩm quen thuộc như: rượu cần, đầu heo, bộ lòng heo, bắp tươi, hoa tươi, chuối, một ít gạo, cá khô và thân cây chuối và mía để tặng thưởng cho voi.

Thầy cúng dẫn đầu đoàn rước tiến hành nghi thức bắt đầu lễ cúng sức khỏe cho voi. Ảnh: Trịnh Bộ

Thầy cúng làm phép cho những chiến binh (giờ là nài voi). Ảnh: Trịnh Bộ

Thầy cúng thực hiện nghi thức cúng sức khỏe cho voi. Ảnh: Trịnh Bộ

Những chú voi quây quần bên cây nêu chuẩn bị làm lễ. Ảnh: Trịnh Bộ

Sau nghi thức cúng sức khỏe, buôn làng mở tiệc hoa quả thưởng cho những chú voi. Ảnh: Công Đạt

Những nài voi chuyển nhau vật tế để thực hiện nghi thức cúng sức khỏe cho voi. Ảnh: Tất Sơn

Tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, nơi có đàn voi nhà lớn nhất nước đang sinh sống, người dân thường tổ chức cúng sức khỏe tập thể cho voi. Thầy cúng được mời phải là thầy cúng giỏi, có uy tín và am hiểu tập tục của dân tộc. Thầy cúng cùng với các nài voi trong buôn đến nhà chủ voi chuẩn bị lễ vật, cùng ăn và uống rượu với gia đình. Nhiều làng sang trọng còn làm trâu ăn mừng cho lễ cúng sức khỏe tập thể cho đàn voi.

Lễ cúng sức khỏe cho voi thường diễn ra vào dịp cuối hoặc đầu năm âm lịch. Lễ cúng với ý nghĩa chính là cầu sức khỏe cho voi, nhắc nhở mọi người chăm sóc, bảo vệ voi và chứa đựng yếu tố văn hóa, tâm linh của mỗi dân tộc.

Bài và ảnh: Tất Sơn - Trịnh Bộ - Công Đạt

Dàng Then, lễ hội cấp sắc độc đáo của người Tày

đăng 00:30, 19 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Dân tộc Tày là cư dân bản địa cư trú sớm nhất ở vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc tổ quốc. Bà con có bề dày truyền thống văn hóa mà lễ hội Dàng Then là lễ hội rất tiêu biểu trong đời sống tín ngưỡng.

Một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian

Dàng Then là một chắc sắc mặc định trong đời sống tín ngưỡng dân gian của người Tày cư trú ở một làng, một vùng cụ thể có tài cao hiểu rộng về cúng bái và hát xướng.

Dàng Then đứng ra chủ trì tổ chức lễ hội một khi ước lệ được trời cấp cho tờ sắc để làm Dàng Then hoặc nâng cấp sắc này trở thành ngày hội sôi nổi, háo hức của cả một vùng người Tày rộng lớn với nhiều làng bản tham gia.

Thầy then phát bùa chú và buộc chỉ đỏ mong muốn bình an, tài lộc tới mọi người . Ảnh: Ngọc Thành

Nhà Then khi đứng ra chủ trì tổ chức chủ chuẩn bị một con lợn và năm chục cân gạo. Còn lại mọi chi phí bổ sung thêm là do sự tự nguyện đóng góp của cộng đồng và những người đi xem hội. Cũng chính vì thế lễ hội Dàng Then vượt ra khỏi phạm vi nhà Then trở thành lễ hội của quần chúng nhân dân trong cộng đồng làng bản, lễ hội đã tiếp cận nhu cầu thỏa mãn đời sống tâm linh, nhu cầu hưởng thụ đời sống văn hóa của người dân.

Trình tự của lễ hội Dàng Then

Bắt đầu lễ hội là các nghi thức tẩy rửa bàn thờ, dùng nước lá thơm làm thiêng cõi lễ, chỉnh trang điện thờ phù hợp với tín ngưỡng tâm linh. Sau đó dùng hai cây trúc để từ gốc rễ tới ngọn bắc ngang trên và trước bàn thờ tổ làm cầu hào quang. Cầu này có nhiều nhịp càng lễ trong càng tăng nhịp, mặt cầu phủ kín vải tấm hai màu đen trắng.

Thầy then chuẩn bị làm lễ tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (tháng 11/2019) . Ảnh: Ngọc Thành

Tiếp đó, lễ hội lập phủ Thành Lâu và lọc vía hào quang bằng các khúc hát lên trời xin cấp sắc độ dài khoảng 1242 câu thơ. Tổ chức nơi bãi rộng có lễ đài để hát xướng. Dưới lễ đài bày các mâm cúng.

Cuối lễ có nội dung cấp sắc cho Then. Đây là chứng chỉ công nhận người được cấp sắc phong là Then theo thứ bậc từ thấp đến cao. Sau đó nghi lễ sát hạch Then theo bài bản 435 câu thơ hỏi đáp và đạo đức ứng xử của Then.

Thầy then và các học trò tiến hành làm lễ tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (tháng 11/2019) . Ảnh: Ngọc Thành

Phần nghi lễ được kết thúc bằng đội mũ cấp sắc, xác lập môn đệ của Then và phong bạt tại hội lễ để diễn trò vui, nối tiếp những khúc hát Then đàn tính âm vang lễ hội. Trong lễ hội, người dự lễ thưởng thức các giá trị ẩm thực dân tộc bánh chay, xôi ngũ sắc…

Giá trị nhân văn của lễ hội Dàng Then

Then của người Tày không buôn thần bán thánh và hành nghề mê tín dị đoan. Then là người có hiểu biết, có uy tín và là người hướng dẫn thực hiện nghi thức, nghi lễ. Được người dân tôn trọng và cậy nhờ giao tiếp với cõi tâm linh khi cần thiết.

Trong tín ngưỡng của người Tày, thầy Then sử dụng chiếc ấn để đóng vào lá bùa và làm lễ với các sợi dây chỉ đỏ để trừ tà . Ảnh: Ngọc Thành

Lời hát lễ hội Dàng Then là những giáo lý răn người ta không sát sinh, không ẩu đả, không vu khống đặt điều, không bất kính, bất hiếu, không bất chính trong hôn nhân, không để mất tình ruột thịt…

Nghệ nhân quần chúng chuẩn bị đồ cúng trời đất tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (tháng 11/2019) . Ảnh: Ngọc Thành

Các khúc hát lễ hội Dàng Then theo tiếng đàn tính và dàn nhạc bộ gõ, bộ dây, bộ hơi dân gian dân tộc. Các làn điệu Lượn nàng hai, hát phù thuỷ, khỏa quan được sử dụng linh hoạt, uyển chuyển.

Ban thờ trong nhà được trang trí hai tầng với nhiều lễ vật . Ảnh: Ngọc Thành

Lễ hội Dàng Then là một di sản văn hóa dân gian độc đáo của người Tày ngày nay được bảo tồn trong cuộc sống của đồng bào.

Ngô Quang Hưng

Mùa bắp ven sông vẫy gọi du khách

đăng 05:58, 9 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Một mùa bắp bãi sông nữa lại về. Dọc các bãi bồi ven sông Trà, đâu đâu cũng ngút ngàn một màu xanh mởn của đồng bắp phất cờ đậu trái. Những trái bắp non còn bấm sữa, lá xanh mướt một màu được người dân thu hoạch vội mang về làm quà cho thực khách. Đó là món bắp luộc thơm phức và nóng hổi, thường được thưởng thức trong những ngày tiết trời đầu xuân se lạnh.

Với những đứa con được sinh ra từ làng quả quyết rằng, ở đâu cũng có thể trồng bắp, nhưng bắp trồng ven sông ngọt chắc chắn không nơi đâu sánh bằng. Có lẽ vì vậy, cứ đến mùa bắp ven sông, nhiều người lại tìm đến nơi bán bắp luột quen thuộc nằm trên Tỉnh lộ 23B đoạn qua xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Lâm (Tư Nghĩa) để lựa chọn cho mình một trái bắp còn đang nóng hôi hổi, rồi xuýt xoa bóc tách từng lớp lá, vừa thổi vừa thưởng thức những hạt bắp dẻo thơm và được uống bát nước bắp luộc thơm mát.

Những gian hàng bán bắp luộc trên Tỉnh lộ 623B đoạn qua xã Nghĩa Thắng (Tư Nghĩa)

Tỉnh lộ 623B là tuyến đường huyết mạch nối TP. Quảng Ngãi với các huyện miền núi. Ngoài ra, còn là tuyến đường kết nối với các huyện của tỉnh Kon Tum và Quảng Nam. Đứng trên tỉnh lộ, ta có thể dễ dàng quan sát toàn bộ cánh đồng bắp, khi khắp nơi là màu xanh mởn của đồng bắp phất cờ đậu trái, hình ảnh người dân nhộn nhịp thu hoạch trên những đồng bắp thu hoạch non nửa diện tích và dựng lều nổi lửa luộc bắp nối dài.

Công việc mưu sinh của nhiều người ở chợ bắp

Hiện dọc Tỉnh lộ 623B đoạn qua xã Nghĩa Thắng, Nghĩa Lâm có khoảng trên 10 hộ làm nghề bán bắp luộc. Ngày đắt khách, mỗi hộ bán được 500-600 trái bắp. Hôm nào ế cũng được 200 trái. Trừ chi phí, mỗi hộ kiếm được từ 150.000 đến 250.000 đồng.

Bãi bồi dọc Tỉnh lộ 623B không còn nhiều diện tích bắp ven sông như trước. Những cánh đồng bắp đã dần nhường chỗ cho các loại nông sản ớt, đậu phụng... có giá trị kinh tế cao. Bắp đến chợ chủ yếu từ các vùng ven sông Trà có trồng nhiều nhất loại nông sản này mà nhiều nhất là ở Tịnh An, Tịnh Châu, Nghĩa Dũng…

Tháng 10 Âm lịch, những bãi bồi ven sông hạt bắp được rắc xuống. Tháng 2, tháng 3 sẽ là khoảng thời gian những cánh đồng bắp xanh mướt trải dài ven sông làm no cả mắt bạn. Một mùa bắp ven sông nữa lại về, đây cũng là lúc con đường bắp luộc trên Tỉnh lộ 623B nhộn nhịp hơn ngày thường.

Mỗi trái bắp luộc thơm dẻo như thế này giá rất rẻ, chỉ khoảng 3.000 đồng mỗi bắp.

Dưới tiết trời ấm áp, se lạnh của những ngày đầu xuân. Không còn gì tuyệt vời hơn khi được ngồi lựa chọn và thưởng thức những trái bắp còn bấm sửa nóng hổi vừa vớt ra khỏi nồi, được uống bát nước bắp luộc thơm mát ven đường. Cái vị chân quê, mộc mạc và giản dị của bắp luộc gợi cho ta cảm xúc về một miền bờ bãi sông Trà, nơi còn ẩn chứa bao món ngon trong kho báu ẩm thực đất Quảng. Cũng như chính bắp luộc là một món ngon, một món quà nhỏ của người quê ân tình dành riêng tới bạn.

Bài, ảnh: Thủy Tiên

Tục thờ tổ nghề rèn sắt ở Hiệp Hoà

đăng 21:16, 7 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Tục thờ tổ nghề là nét đẹp trong văn hóa của người dân làng nghề rèn sắt ở xã Đức Thắng, nay là thị trấn Thắng (Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Qua đó thể hiện lòng biết ơn đối với người có công truyền dạy và mở mang nghề nghiệp đem lại cuộc sống ấm no cho dân làng.

Đình Thắng Núi - nơi thờ Dương Tự Minh.

Ngày nay, nghề rèn sắt ở Đức Thắng tuy không còn nhưng tục thờ tổ nghề vẫn được nhân dân địa phương duy trì trong các dịp sự lệ. Nghề rèn sắt ở Đức Thắng có từ lâu đời. Sách Đại Nam nhất thống chí tập IV, mục Bắc Ninh tỉnh chép: “Xã Vân Thắng, huyện Hiệp Hoà có nghề đúc đồ sắt...”. Sách Phong thổ Hà Bắc đời Lê cũng ghi: “Đức Thắng (Hiệp Hoà) làm ra dao, kéo, búa, rìu và các đồ sắt bán khắp thành thị. Hai thôn giữ nghề rèn sắt từ lâu trong vùng Thắng là Liễu Ngoại và Hoè Thị. Ngày nay đào chỗ nào dưới lòng đất cũng gặp quặng sắt, xỉ sắt, xỉ than của lò rèn sắt xưa để lại”.

Tương truyền tổ nghề rèn sắt ở đây là ông Khổng Minh Không, người khai sáng kỹ thuật rèn, đúc kim loại và được nhân dân tôn là tổ sư nghề sắt thờ tại đình làng. Truyền thuyết vị tổ nghề được nhân dân vùng Đức Thắng lưu truyền như sau: Vào thời nhà Lý, trong vùng có người ham võ vật, hội thi vật nào ông cũng tham gia nhưng không đạt được vinh hiển.

Xỉ sắt của làng nghề còn nhiều tại vùng Thắng Núi.

Khi về già không còn đủ sức đi đó đây nữa ông mới chịu ở nhà. Khi ấy người vợ mới hạ sinh được cậu con trai, vốn mang theo uất ức của đời mình, ông đã đặt tên con là Thắng với niềm mong mỏi sau này con vào các cuộc tranh tài sẽ thắng được mọi người. Thắng lớn lên có vóc dáng, sức mạnh hơn người. Sau khi người cha qua đời, Thắng tìm đến phường rèn, làm ăn chăm chỉ lấy tiền nuôi mẹ. Một hôm mẹ Thắng vào rừng kiếm củi bị hổ vồ.

Nghe tin, lúc đang làm Thắng cầm vội cái thuổng chạy thẳng vào rừng vượt qua đám dân làng, đám thợ săn để xông lên giết hổ cứu mẹ. Chỉ bằng một lưỡi thuổng sắc bén con hổ đã bị ngã vật xuống như khúc gỗ. Cũng thời gian ấy, bọn giặc kéo đến, Thắng đã một mình một lưỡi thuổng xông vào đánh cho quân giặc tan tác nhiều trận.

Lập được công lớn, nhà vua biết đến mời về triều gả công chúa cho. Triều thần ban cho tấm áo tàng hình, sau đó ông dùng chiếc áo này để cứu giúp mọi người nên được nhân dân rất quý mến. Cũng từ đó mà Thắng nổi tiếng và đã được ghi nhớ trong mỗi người dân làng nghề.

Truyền thuyết về tổ nghề rèn sắt ở Đức Thắng có những dị bản khác nhau song có nhiều điểm trùng với sự tích Thần Dương Tự Minh được thờ ở đình Thắng Núi. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tổ nghề rèn sắt ở Đức Thắng chính là Thần Dương Tự Minh mà dân gian vẫn gọi là Khổng Minh Không.

Tục thờ tổ nghề rèn sắt còn thể hiện rõ qua nét sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng, qua lễ hội truyền thống hằng năm ở địa phương. Đình Thắng Núi thờ Thần Dương Tự Minh - một nhân vật lịch sử dưới thời Lý. Ông cũng là người khai sáng kỹ thuật rèn đúc kim loại và được nhân dân tôn là sư tổ nghề sắt. Hiện nay việc thờ ông tổ nghề vẫn được nhân dân trong vùng Thắng lưu truyền.

Xuân thu nhị kỳ, một năm tại đình Thắng Núi được mở hội hai lần. Ngày 10 tháng Giêng hội Xuân và ngày 10 tháng 9 hội Thu. Lễ hội truyền thống ở làng nghề thường có những đám rước, tế lễ, các trò chơi dân gian, trong đó có nhiều cuộc thi, trò chơi liên quan đến nghề nghiệp. Theo truyền thống xa xưa, trong ngày hội, những người thợ trưởng thành thường tự tay làm ra các sản phẩm độc đáo để dâng tiến vào đình, đền thờ tổ nghề hoặc bày bán trao đổi trong các phiên chợ quê.

Những người thợ rèn sắt ở Thắng cử ra các chàng trai khoẻ mạnh, rước tượng Khổng Minh Không ra quán Thái Bảo để tổ chức tế lễ. Trong dịp này, các phường rèn trưng bày sản phẩm của mình với đủ loại để bán cho dân từ các nơi về xem hội.

Vào chính hội có lễ tế thần, vui các trò chơi dân gian như đấu vật, thi chạy, cờ người, kéo co, kể chuyện, vật cầu... Tục kể chuyện thành hoàng là nội dung khá độc đáo của lễ hội làng nghề rèn sắt. Người tham gia kể chuyện là những người đạo cao đức trọng, hiểu biết sâu sắc về lịch sử và phong tục tập quán của làng. Qua đó nhằm nhắc nhở mọi người dân nhớ tới công ơn của tổ nghề.

Sau kể chuyện thành hoàng là đến lễ khao quân mở cỗ, ở giữa sân đình được trải 4 chiếu đỏ, trên bày 4 mâm cỗ đại diện của 4 giáp trong làng. Sau nghi lễ tế của quan cai đám thì 4 chàng trai của 4 giáp trong thế mình trần, khố đỏ, vai vác một đoạn tre còn nguyên rễ đi xung quanh chiếu trình diễn các động tác theo nhịp trống. Nghi lễ này tái hiện lại hình ảnh việc trồng tre trên chiến tuyến sông Như Nguyệt để chặn đánh quân xâm lược Tống xưa kia...

Ngày nay nghề rèn sắt ở Đức Thắng không còn nhưng những nghi lễ truyền thống của một làng nghề vẫn được nhân dân duy trì trong các dịp sự lệ và lễ hội dân gian. Đó là nét đẹp cổ truyền cần được bảo tồn và phát huy.

Đồng Ngọc Dưỡng

Tìm hiểu nghề nấu đường thốt nốt đặc sản nổi tiếng của An Giang

đăng 20:47, 7 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Cây thốt nốt từ lâu đã gắn liền với cuộc sống của bà con dân tộc Khmer ở vùng Bảy Núi An Giang. Cây dễ trồng, thông thường thốt nốt được người dân trồng cặp các bờ ruộng, vừa giữ đất không bị xối mòn, vừa đem thu nhập cho gia đình. Cây thốt nốt có dáng dấp của cây dừa, cũng mang dáng dấp của cây cọ. Quả thốt nốt gần giống quả dừa và cùi thốt nốt cũng gần giống với cùi dừa non. Mỗi quả thốt nốt thường có ba múi, mỗi múi to gấp hai hay ba lần múi mít, trắng ngần, mềm, ngọt mát và thơm hơn cùi dừa non là món giải khát hấp dẫn níu lòng khách đường xa.

Cây thốt nốt

Đến vùng biên giới của hai huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên của tỉnh An Giang, hình ảnh những hàng cây thốt nốt cao vút, đầy sức sống với những tàu lá màu xanh thẫm, ngả bóng xuống cánh đồng lúa tuyệt đẹp trong nắng vàng. Cạnh những hàng thốt nốt là những quán giải khát thốt nốt ướp lạnh, thoáng đãng, mát rượi dẫu đang trưa hè, quán nào cũng giăng võng để khách có thể nghỉ ngơi thưởng thức nước và cùi thốt nốt ướp lạnh. Du lịch An Giang, bạn hãy ghé vào quán cảm nhận sự thảnh thơi, dễ chịu. Rồi sau đó, thưởng thức một cốc thốt nốt ướp lạnh thì những mệt mỏi, nóng bức sau mỗi chặng đường rong ruổi trưa hè sẽ nhanh chóng tan biến. Nước thốt nốt có vị ngọt, thơm nhưng cơm thốt nốt lại có vị nhạt. Khi dùng chung với nhau, 2 mùi vị hòa quyện sẽ cho vị ngon rất riêng, đậm đà mà không quá gắt. Cái ngòn ngọt, thanh thanh của nước, mềm mềm dai dai của cơm thốt nốt như tan dần trong miệng. Một thứ nước rất ngon mà đa phần du khách trải nghiệm một lần đều khó quên.

Nước thốt nốt là món giải khát hấp dẫn

Cơm trái thốt nốt già ngả mầu vàng, thơm như mùi mít chín, dùng chế biến bột để làm nhiều loại bánh (phổ biến là bánh bò) hoặc nấu chè, nhưng nguồn lợi đáng kể nhất là lấy nước để làm đường. Đường Thốt nốt – loại đường đặc sản được nấu từ mật hoa và quả của cây thốt nốt nổi tiếng của vùng đồng bào Khmer ở tỉnh An Giang. Đây cũng là món quà không thể thiếu của du khách khi đến với vùng đất bán sơn địa này.

Do đặc thù về khí hậu, thổ nhưỡng, hiện nay chỉ có hai địa phương là Tịnh Biên và Tri Tôn là hai huyện miền núi thuộc An Giang phát triển được nghề nấu đường thốt nốt. Nghề nấu đường có từ rất lâu, người Khmer xem đó là món quà quý của trời đất. Nhiều gia đình theo nghề nấu đường từ đời nọ qua đời kia.

Câu chuyện làm ra đường từ cây thốt nốt này là cả một huyền thoại được đồng bào Khmer truyền tụng qua nhiều đời. Chuyện kể rằng, có một người đàn ông Khmer buổi trưa chăn bò nằm ngả lưng dưới tán cây thốt nốt nghỉ trưa. Đang thiu thiu ngủ thì ông cảm thấy có những giọt nước ngọt lịm trong lành tí tách rơi xuống mặt mình. Tò mò, muốn biết những giọt nước ấy từ đâu xuất hiện, trong khi bầu trời lại không mưa, ông bèn leo lên cây thốt nốt thì phát hiện, những giọt nước rơi xuống ban nãy xuất phát từ đọt hoa thốt nốt bị gãy ngang. Ông vội vàng mang ống tre đựng nước uống của mình lên hứng những giọt nước do trời ban tặng đem về nhà khoe với vợ con. Do nước thốt nốt để lâu ngày sẽ bị lên men chua không dùng được, đồng bào Khmer mới nghĩ cách chế biến thành rượu và cô đặc lại thành đường tán như hiện nay.

Người dân thường dùng tre làm thang leo

Theo người dân ở đây, thốt nốt có tuổi thọ rất cao, bình quân cây thốt nốt trồng từ 12-15 năm mới cho trái và nước đường, cây càng già càng cho nhiều nước sản lượng mỗi năm lại tăng thêm và có trữ lượng đường cao. Cây thốt nốt khoảng 30-40 năm tuổi hầu như ra bông, cho trái và nước quanh năm. Mùa khai thác nước thốt nốt và nấu đường khoảng 6 tháng, bắt đầu vào tháng 11 Âm lịch đến đầu mùa mưa năm sau. Nếu năm nào nắng kéo dài thì thời gian thu hoạch, chế biến lại tăng lên, càng nắng gắt, lại càng làm được nhiều thành phẩm đường.

Đã bao năm trôi qua, nghề nấu đường, hái trái thốt nốt vẫn luôn tuần hoàn giữa dòng chảy của thời gian. Và những người dân Khmer vẫn luôn miệt mài với nghề này. Trở thành thông lệ, để bắt tay vào vụ làm ăn mới, người làm nghề này phải lo sắm sửa đồ đạc đầy đủ: Tre làm thang leo, keo nhựa đựng nước, dự trữ trấu hoặc lá cây làm chất đốt, kiểm tra nồi, lò tươm tất…

Công đoạn làm đường thốt nốt cũng lắm công phu và tùy theo tay nghề của người thợ mà chất lượng đường có thể khác nhau. Đường thốt nốt nấu bằng nước tiết ra từ những vết cắt ở bông cây thốt nốt, chứ không phải từ nước trong trái thốt nốt. Tuy nhiên, mỗi cây thốt nốt chỉ có khoảng 2 – 3 bông cho nước tốt, phần còn lại sẽ chờ thu hoạch trái.

Hái thốt nốt đòi hỏi sức khỏe, sự dẻo dai, khéo léo nên công việc này thường dành cho cánh đàn ông trung niên. Để lấy được nước, nông dân dùng những cây tre dài, có nhiều nhánh làm thang leo. Khi lên đến ngọn cây, người ta cắt phần ngọn những cuống hoa, sau đó dùng can nhựa hứng nước. Trước đây, thường dùng ống tre gai, ống to, giao lóng để hứng nước thốt nốt, nhưng ngày nay không còn dùng ống tre nữa, mà thay vào đó là thùng nhựa loại nhỏ để nhẹ công mang lên cây. Nếu cây cho nước tốt thì mẻ đường sẽ thơm ngon, dễ đánh, màu sắc đẹp, có thể dùng để đổ đường tán (đường cục). Nếu ít nước hoặc nước không trong thì chỉ dùng để nấu đường chảy.

Đường thốt nốt được nấu bằng nước tiết ra từ những vết cắt ở hoa.

Hàng ngày, người dân phải canh thời gian hoa cho nước thích hợp để trèo lên cây cất nước. Sau khi lấy nước, thợ tiếp tục dùng dao cắt một khoanh tròn mới ở phần đầu hoa bỏ đi và tạo phần nốt cắt mới cho hoa để tích nước tiếp.

Người dân dùng can nhựa hứng nước.

Xong công đoạn lấy nước thốt nốt đầy vất vả và nguy hiểm, công đoạn nấu đường cũng lắm gian nan. Nước thốt nốt sau khi lấy xuống được lọc qua miếng màng mỏng cho sạch bụi, côn trùng và phải được nấu ngay để tránh bị chua.

Nước thốt nốt sau khi lấy xuống được lọc qua miếng màng mỏng cho sạch bụi, côn trùng

Người ta đắp lò đất, đặt chảo to rồi đổ nước thốt nốt vào nấu. Nước thốt nốt được cho vào 1 cái chảo lớn, nấu khoảng 4 giờ là cô đặc lại thành đường chảy. Thoạt nhìn, công đoạn này có vẻ khá dễ dàng nhưng để tạo ra mẻ đường ngon lại là cả kinh nghiệm nhiều năm.

Công đoạn nấu đường

Lửa nấu đường phải đượm, cháy đều, vừa lửa, người thợ vừa nấu vừa dùng đũa cả quấy đảo kẻo liên tục để không bị bén đáy nồi. Đũa cả người Khmer dùng để đảo đường được làm bằng cật tre già, đẽo tựa mái chèo nhỏ.

Những người có kinh nghiệm chỉ cần nếm nước thốt nốt là biết được hàm lượng của đường bên trong, nếu chưa đủ độ ngọt có thể tính được số lượng vôi thêm vào để khử độ chua của đường.

Mẻ đường thơm ngon, màu sắc bắt mắt

Sau khi cô đặc đạt yêu cầu, chảo được nhắc ra khỏi lò, khuấy liên tục để còn màu vàng tươi đặc trưng của đường thốt nốt. Khi nước thốt nốt đã được cô sền sệt, ấy là lúc đổ sang chảo thứ hai, lại đều lửa đun tiếp cho đến độ thành hạt đường.

Dùng máy đánh để đường cô đặc lại.

Bên cạnh đó, người thợ nấu đường cũng phải biết dùng khuôn để đổ đường thành từng cột đường tròn đều, sau đó dùng dao cắt ra từng khoanh đường có độ dày 2-3cm, lại được xếp 10-12 khoanh làm thành một cây đường.

Nhưng cũng có nhiều hộ gia đình lại đổ đường ra đầy bát ăn cơm hoặc bất kì vật dụng tạo khuôn nào để làm thay khuôn truyền thống. Đường khô trong lòng khuôn, được lấy ra gói lại, thường gọi là bánh đường. Tại những lò nấu đường truyền thống, ngoài nước thốt nốt ra hầu như không sử dụng thêm bất kỳ một loại chất phụ gia nào cả. Bình quân khoảng 8-10 lít nước thốt nốt sẽ thu về 1kg đường.

Đường thốt nốt thơm dịu, ngọt thanh không dùng phụ gia nên được người tiêu dùng yêu thích

Đường thốt nốt thơm dịu, ngọt thanh được gói trong những chiếc lá thốt nốt trông như những đòn bánh tét đẹp mắt. Đặc biệt, ngoài vị ngọt thanh nhẹ, đường thốt nốt còn mang đến cho người thưởng thức vị béo, khi ăn rất dễ gây “nghiền”. Mặc dù đường thốt nốt có độ ngọt kém hơn các loại đường làm từ nguyên liệu khác nhưng lại thơm hơn và có lẽ do sản lượng đường thốt nốt cũng ít hơn nên cũng quý hơn.

Vị ngọt thanh, thơm ngon của đường thốt nốt rất phù hợp để nấu chè. Chính vị thanh mát của đường thốt nốt làm cho món ăn thêm ngon miệng và còn có tác dụng làm mát, chữa viêm họng. Nếu bị đau họng hay họng khô rát chỉ cần nhai một miếng nhỏ đường thốt nốt nốt sẽ cảm thấy dễ chịu ngay. Bà con ở địa phương vùng An Giang đôi khi thường dùng đường thốt nốt ăn với cơm nguội, hoặc dùng thay cho bánh ngọt trong tiệc trà.

Đường thốt nốt dạng viên

Ngày nay, những gia đình ở An Giang theo nghề nấu đường thốt nốt bằng phương pháp thủ công truyền thống mỗi năm xuất ra thị trường khoảng 8.000 tấn đường mang tính túy của đất trời miền biên viễn Tây Nam của tổ quốc.

Sản phẩm đường thốt nốt không chỉ được người tiêu dùng trong nước biết đến mà ở nước ngoài cũng rất ưa chuộng, bởi đặc tính thơm ngon và đặc trưng vùng, miền của sản phẩm. Không chỉ là nguyên liệu để sử dụng trong nấu các món chè hay là phụ gia đem lại cho những ly nước có vị ngọt tự nhiên, đường thốt nốt còn được dùng như một gia vị nêm nếm trong các món ăn khác, như nước chấm, kho cá… Góp phần làm phong phú thêm cẩm nang gia vị chế biến các món ăn của người Việt, đường thốt nốt của người Khmer đang ngày càng quen thuộc hơn với người tiêu dùng.

Có dịp du lịch An Giang, ghé thăm những lò nấu đường ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, tìm hiểu quy trình làm đường thủ công từ những giọt nước thốt nốt hứng từ trên cây, thưởng thức hương vị béo ngậy của từng hạt đường tan vào trong miệng, du khách sẽ hiểu vì sao mà đường thốt nốt trở thành một đặc sản của An Giang.

Ảnh: Lý Minh Khoa, sưu tầm.

Tục cúng vía trâu của đồng bào Thái Tây Bắc

đăng 17:32, 1 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Con trâu giữ vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào Thái Tây Bắc, không chỉ giúp bà con sản xuất, mà còn là tài sản lớn của các gia đình. Quý trọng trâu nên từ xa xưa, đồng bào Thái Tây Bắc đã có tục cúng vía trâu để tạ ơn vật nuôi sau khi mùa cày cấy đã xong.

Trong các truyền thuyết của đồng bào Thái, trâu là con vật luôn gắn với con người. Khi Then (trời) cho loài người xuống trần gian sinh sống thì cũng có trâu đi cùng. Trâu cùng người lọt qua cửa "Đán kẹo ưởng" (đá biết nhai) để xuống trần gian. Cho nên, đồng bào coi trâu là thánh vật, vì thế thường dùng làm vật tế lễ, là biểu tượng cho cầu nối giữa người và thần linh để xin thần linh ban phước lành cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, bản mường an bình.

Ngày xưa, đồng bào thường cúng tế thần sông, thần núi bằng cặp trâu đen, trắng (tế đăm, đón). Ông Cà Văn Chung, người am hiểu về văn hoá Thái, hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, ở xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La cho biết: “Trâu còn được chọn là một trong mười hai con vật tượng trưng cho thời gian (năm, tháng, ngày, giờ) trong lịch Thái, nó là con vật đầu tiên của ngày mới, sau nửa đêm là giờ con chuột. Mỗi khi có người chết, người Thái đều mổ trâu để làm đám. Đầu, thịt làm cỗ để tiễn đưa hồn người chết lên trời siêu thoát. Nhưng quan trọng nhất là, hồn của trâu sẽ được theo hồn người chết lên trời, để người chết có tài sản cũng như sức kéo khi làm ruộng trên cõi trời. Hồn người chết sẽ gửi trâu lại tại "Đông koai ha" - nơi ranh giới giữa người và ma, đến mùa làm ruộng mới lấy trâu lên trời để cày bừa”.

Trâu đã được đồng bào Thái nuôi nhốt, chăm sóc tốt.

Ngày xưa, đồng bào Thái ở miền núi Tây Bắc thả trâu vào nơi quy định gọi "púng quai", tức bãi chuyên thả trâu, để không phá hoại mùa màng của con người, đến vụ mới tìm trâu về để cày bừa ruộng nương. Nên đối với đồng bào, trâu là vật nuôi rất quan trọng trong đời sống, trâu là cả một tài sản có giá trị lớn của gia đình. Trâu thay sức người trong công việc ruộng nương, kéo gỗ dựng nhà…

Trước đây chỉ làm ruộng một vụ, buổi sáng dắt trâu đi cày, buổi chiều trẻ con sẽ đi chăn trâu. Mặc dù chỉ dùng sức trâu ít như vây, nhưng đồng bào Thái vẫn băn khoăn rằng mình đã dùng quá sức.... Bởi vậy hàng năm, sau khi cấy xong vụ mùa, bà con có tục "pành khuồn quai" (cúng vía trâu) vào ngày lành, giờ tuất, tiếng Thái là "chơ mệt", nghĩa là giờ kín đáo, với hàm ý là cầu phúc cho trâu hàng ngày ăn cỏ trong rừng nơi kín đáo ít gặp tai hoạ do hổ báo, lang sói....

Ông Cầm Vui, nghệ nhân, hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La cho biết: "Sau khi trồng cấy xong, trước khi thả trâu vào rừng người ta làm lễ cúng sửa vía cho trâu. Nhà nào nhà ấy tự làm lấy, để tạ ơn trâu đã có công giúp con người cày bừa mệt nhọc, mới có thóc, lúa để ăn. Khi thả vào rừng ăn cỏ, mong trâu không bị hổ báo ăn thịt, không bị trượt chân rơi xuống vực sâu. Đến mùa cày cấy thì lại về với chủ nhà, bản mường để tiếp tục giúp con người cày bừa ruộng nương”.

Trâu là tài sản lớn của đồng bào Thái.

Tục cúng vía trâu không cầu kỳ. Chủ nhà chuẩn bị mâm cúng vía trâu gồm: Một con gà luộc sẵn, cùng bát canh, chén rượu, trầu cau và đĩa xôi. Mâm cúng sau khi chuẩn bị xong được bê xuống dưới sàn nhà, đặt vào trung tâm đàn trâu.

"Bà một" (tức bà cúng) ngồi xổm cúng. Cúng xong, bà cúng xé thịt gà với ít muối trộn nắm xôi, gói lá chuối, nắm cỏ non cho từng con trâu ăn và đổ chén rượu lên đầu trâu. "Trâu đã giúp cho chủ được nhiều việc, vậy mà nhiều khi chủ còn đối xử không tốt với trâu, nên chủ làm mâm cúng này để tạ lỗi với trâu và hứa sẽ đối xử tốt hơn trong thời gian tới. Cầu chúc trâu luôn khỏe mạnh" - ông Cà Văn Chung chia sẻ.

Xã hội ngày một phát triển, nông dân nhiều vùng hiện đã cơ giới hóa trong sản xuất thay sức người, sức trâu; nhưng con trâu vẫn là con vật góp phần mang lại giá trị kinh tế lớn cho nhiều gia đình. Vì thế, ở nhiều nơi, đồng bào Thái vẫn duy trì tục cúng vía trâu.

Tục cúng vía ít nhiều mang tính duy tâm, song nội dung, hình thức lại giản đơn, lành mạnh, không tốn kém. Đó cũng là một tập quán tốt đẹp, biểu thị lòng nhân hậu, tính nhân văn sâu sắc của người Thái Tây Bắc.

Tòng Đức Anh

Độc đáo tục lên lão ở Phương Khê

đăng 16:56, 1 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Từ nhiều đời nay, người dân thôn Phương Khê, xã Chi Lăng Bắc (Thanh Miện) vẫn giữ gìn tục lên lão được tổ chức vào mùng 6 tháng giêng. Đây là địa phương duy nhất ở Thanh Miện có tục lệ độc đáo này.

Đoàn lễ rước kiệu đi quanh làng. Ảnh tư liệu

Tục lệ lâu đời


Với người dân Phương Khê, lễ lên lão vào mùng 6 tháng giêng và ngày dâng lễ thành hoàng làng 1.12 âm lịch là hai sự kiện quan trọng nhất. Bà con chuẩn bị chu đáo có khi trước cả năm trời. Ông Vũ Văn Đình 68 tuổi, trưởng lão làng cũng là người đã nhiều năm tham gia chuẩn bị cho tục lên lão cho biết, tục có từ xa xưa nhằm tỏ lòng biết ơn của dân làng Phương Khê với thành hoàng làng Vũ Vị Phủ.

Khi Vũ Vị Phủ về làng dẹp nạn hỏa tai, làng đã cử 7 người cao tuổi nhất lúc bấy giờ ra nghênh đón, trong đó người thấp tuổi nhất là 55 tuổi. Từ đó về sau, cứ ai 55 tuổi sẽ làm lễ ra đình lên lão. Hằng năm, dân làng Phương Khê tổ chức tục lên lão vào 6.1 âm lịch.

Trước đây, những người chuẩn bị lên lão làng sẽ thi nuôi lợn. Lợn thi phải là lợn đen, không được có đốm trắng và nuôi bí mật giữa người trình lão, bảo đảm sự bất ngờ khi thi.

Vào sáng mùng 5, những người lên lão và những người từ 55 tuổi trở lên tập trung tại đình rước lễ vật gồm 1 cái bánh chưng, 1 bình rượu và 3 quả cau cùng với đội cầm cờ, trống của làng ra lần lượt 5 miếu: Hàng Trào, Anh Tràng, Mả Lâu, Tính Mộ Đồng Lâm, Thiên Quan thờ các vị thổ thần.

Chiều 5.1, lợn của từng gia đình lên lão được tắm rửa sạch sẽ, đặt trong cũi, lưng phủ vải đỏ đợi đoàn người cầm cờ và cầm trống của làng đến rước ra đình. Lợn do 4 người trong gia đình có người lên lão mặc quần áo màu đỏ, thắt lưng màu vàng, đầu chít khăn đỏ khiêng theo sau đoàn người cầm cờ và cầm trống.

Lợn rước ra đình sẽ được xếp thành hàng ngay ngắn trên sân đình để đo bằng gang tay xem con lợn nào dài nhất. Gia đình lên lão có con lợn thắng cuộc sẽ được hưởng toàn bộ lá mỡ và một khoanh bí (cổ lợn).

Đúng 7 giờ sáng 6.1, lễ rước kiệu được tổ chức. Lợn được làm thịt sẵn và đặt trên mâm xà, khiêng ra sân đình làm lễ tế. Lễ tế thần được tiến hành trang trọng. Đoàn tế gồm 22 người do làng bầu từ trước (gồm những người từ 55-65 tuổi, khỏe mạnh, gia đình song toàn, có con trai, con gái).

Về trang phục, những người lên lão đều mặc giống nhau: áo tế màu xanh, quần trắng. Chủ tế mặc áo màu đỏ, đội mũ đỏ, đi hia đỏ và tế theo nghi thức. Tế xong, phần lễ vật gồm sỏ lợn, nây bụng và khoanh bí biếu các cụ cao tuổi nhất làng; 1 cân thịt và 1 cân xôi biếu các bà góa thờ chồng nuôi con; số thịt và xôi còn lại chia cho 8 giáp và dân làng tại đình.

Từ khi trình làng lên lão, trong suốt một năm đó, vợ chồng lão làng mới sẽ tham gia vào công việc của đình làng như dọn dẹp, tu bổ, làm cỗ... Có năm làng có tới 50 người đến tuổi lên lão, tổ chức khao 70 mâm cỗ. Những người làm ăn ở xa không về được cũng nhờ họ hàng đóng góp.

Những người trình lão dâng lễ thành hoàng làng

Giữ cho đời sau


Ngày nay, lễ lên lão có phần rút gọn hơn so với trước, trong đó không còn phần thi lợn và nghi thức đơn giản hơn. Về trang phục, nam giới từ 55-70 tuổi sẽ mặc áo the đen, từ 71-80 tuổi sẽ mặc áo the vàng và trên 80 tuổi sẽ mặc áo the đỏ. Việc tiếp nước, mời cỗ cũng theo thứ tự từ các cụ mặc áo the đỏ đến áo the vàng rồi đến áo the đen.

"Tục lên lão là nét đẹp văn hóa của người dân thôn Phương Khê. Tham gia tục lệ này, các gia đình luôn răn dạy con cháu hướng về quê hương, hiếu thảo với ông bà, bố mẹ và thắt chặt tình đoàn kết giữa dân làng với nhau", ông Vũ Văn Hanh, Trưởng thôn Phương Khê cho biết.

Từng có thời gian, tục lệ này bị ảnh hưởng bởi chiến tranh nên quy mô thu nhỏ. Năm 1953, đình làng bị giặc Pháp phá, dân làng không còn nơi sinh hoạt văn hóa. Hơn nửa thế kỷ, nhân dân Phương Khê tổ chức tục lên lão đơn giản, bí mật ở chùa Hoa Diên trong thôn. Hình thức tổ chức chỉ là dâng hương và tế lễ. Năm 2007, khi ông Vũ Văn Tiệp (70 tuổi) là người làng ủng hộ 10 triệu đồng và dân làng đóng góp xây đình thì tục lên lão được khôi phục lại quy mô. Kể từ đó, bà con làng trên xóm dưới có dịp gặp gỡ nhau, thắt chặt thêm tình đoàn kết.

Năm nay, dù dân làng đã kỳ công chuẩn bị nhưng việc tổ chức lên lão phải tạm hoãn do dịch Covid-19.

HẢI HÒA

Năm Sửu, đến chợ trâu Nghiên Loan - Phiên chợ thật thà

đăng 06:14, 26 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Chị mời chào: "Trâu cái 14 tháng tuổi, của nhà nuôi thả, mông to, làm giống tốt lắm." Ông khách đứng ngắm nghía một lúc rồi cầm thừng trâu kéo hếch mũi nó lên để xem răng có đều không, có bị mòn không, răng đều là trâu ăn tốt, khỏe...

7h chợ bắt đầu đông. Trên bãi đất trống rộng chừng 1.000 m2, người và trâu đứng xen vào nhau, san sát như trận đồ - Ảnh: ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

Người Việt có câu thành ngữ "Thật thà cũng thể lái trâu" với hàm ý hoàn toàn ngược lại. Thôi thì ngược rừng xem lái trâu người Tày thế nào.

Chợ trâu, bò xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn nằm trong một thung lũng thuộc bản Đính và bản Khuổi Ún, cách tỉnh lộ 258B khoảng 500m nên rất thuận tiện cho việc đi lại, tập kết hàng hóa.

Sáu giờ sáng, cả một khu vực rộng lớn đã ồn ào. Ôtô chạy rầm rầm, bấm còi inh ỏi. Tiếng Tày, Hmông, Dao, Việt… ríu ran. Tiếng trâu nghé ọ, bò ụm ò… Người, xe, vật từ khắp nơi chảy xuống, trồi lên tụ về bãi đất bằng phẳng rộng 2.000 m2 đắc địa.

Bãi đỗ xe chật kín ôtô tải tải trọng từ 2,4 tấn đến 10 tấn mang biển số Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Yên, Thanh Hóa, Bắc Giang, Hà Nội, Nghệ An…

Đây là chợ bán trâu, bò lớn nhất trong vùng. Mỗi phiên giao dịch từ 400 con đến 500 con trâu, bò, nhiều phiên lên đến cả nghìn con. Thế nhưng số bò chỉ chiếm khoảng ¼. Đơn giản vì dân ở đây đa phần là người Tày, những cư dân làm ruộng nước. Mà cày, bừa ruộng nước thì không gì hợp bằng con trâu.

Chả thế mà họ thường nói "con trâu là vạn năng." Cũng bởi thế mà chợ Nghiên Loan bán cả trâu và bò nhưng người ta thường quen gọi là chợ trâu.

7h, chợ bắt đầu đông. Trên bãi đất trống rộng chừng 1.000
m2, những hàng cọc bê tông, cọc gỗ, cọc tre san sát nhìn như trận đồ. Chủ trâu cứ tùy chọn vị trí mà dắt trâu đến buộc, ném cho chúng nắm cỏ rồi ngồi đợi khách.

Chị Lý Thị Chung (phải) người thôn Khuổi Ún, xã Nghiên Loan - Ảnh: ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

Chị Lý Thị Chung người thôn Khuổi Ún, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn cùng người em dắt bốn con trâu ra chợ. Miệng tươi cười, ăn nói nhỏ nhẹ, tính tình xởi lởi nên ra đến chợ lúc bảy giờ là chị đã có khách ngay.

Chị mời chào: "Trâu cái 14 tháng tuổi, của nhà nuôi thả, mông to, làm giống tốt lắm." Ông khách đứng ngắm nghía một lúc rồi cầm thừng trâu kéo hếch mũi nó lên để xem răng có đều không, có bị mòn không, răng đều là trâu ăn tốt, khỏe; bóp mũi rồi một lát rồi thả tay ra xem trâu có thở đều không, sâu không, trâu thở gắt, khò khè là yếu; rồi vỗ lưng, mông, vén đuôi xem cẩn thận đến cả cái đít xem trâu ỉa phân xuê hay nát.

Ưng ý rồi, mới cười hỏi:

- Chị bán bao nhiêu?

- 25 triệu.

- Bớt đi!

- Phát giá 25 bán 21, bớt hẳn cho anh năm trăm (nghìn đồng) cho thoải mái.

Không còn gì để phàn nàn nên người mua cười tươi tắn rồi hai bên bắt tay đếm tiền. Người mua mau mắn trong có mười phút ấy là anh Đặng Phụ Hiền, từ thôn Trì Đòi, xã Yên Lạc, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xuống chợ mua trâu về làm giống.

Trả tiền xong, anh dắt trâu ra đến cổng chợ là có chủ xe nhận chở thuê về tận nhà với giá 500.000 đồng.

Chọn được con trâu ưng ý, kết thúc đẹp là bắt tay, đếm tiền - Ảnh: ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

Trái với không khí mua bán nhanh gọn của anh Hiền, chị Chung, khi tôi đến một đám ở cuối chợ, không khí đang rất căng thẳng. Một chủ trâu phát giá 45 triệu đồng mà khách chỉ trả có 35 triệu đồng.

Anh la oai oái: "Ối, 35 thì có mà chết. Trâu này nuôi thả mà, có phải như họ nuôi nhốt đâu mà trả giá đấy."

Một đám khác thì mặc cả sát sạt:

- Con này bán bao nhiêu?

- 29.

- 25 thôi.

- Thêm nữa.

- Thêm 500 nữa.

- Úi, mất bao công chăn nuôi.

- Hết giá đi!

- 24.

- Không.

Đến một đám khác thì đúng lúc ông chủ đang hết lời khen con trâu đực của mình:

- Cao to đẹp trai, ăn tốt, cày khỏe, đùi to, mông to, khoáy tròn.

- 25 (khách trả giá).

- 25 thì anh cứ tìm hết chợ này xem có con nào đẹp bằng không thì bảo em mua cho. Nhà cần tiền mới bán chứ trâu non mà, răng mới mòn một tí (trâu hai tuổi thì thay răng - NV). Đúng 27 đếm tiền.

- Bớt cho hai trăm tiền xe đi!

- Hai trăm anh kỳ kèo làm gì.

- Được. Chơi.

Chủ trâu cầm trịch cuộc ngã giá nghẹt thở nhất phiên chợ mà tôi chứng kiến ấy là anh Dung Văn Ngai, người thôn Phja Đeng, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. Nhà anh có hai bung (2.000
m2) ruộng nên nuôi bốn con trâu để cày, bừa, làm giống.

Ngày nông nhàn thì trâu cứ được lùa lên đồi thả cho ăn cỏ dại, tối về chuồng mới cho chúng ăn thêm rơm, lá ngô, cỏ voi. Trâu thả nên khỏe, săn thịt, lanh lợi. Con trâu đực 12 tháng tuổi này là "mua con mẹ về nuôi đẻ ra con con", mất bao nhiêu công sức mới được bán nên chả trách anh ra chiều lưu luyến và chắc giá.

Người mua dạo khắp chợ, ưng con trâu nào thì xem xét kỹ càng từ răng, mũi, mông, dáng… đến cả phân để đánh giá sức khỏe của trâu - Ảnh: ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

Trái ngược với phong thái ấy, ai là lái buôn nhìn biết ngay. Họ ăn to nói lớn, mua bán ào ào và không bao giờ nói những lời trìu mến về những con trâu của mình. Có ông bán một lúc năm con trâu mà con nào cũng tuyên bố "bán lỗ lấy may, phiên sau kiếm bù."

Người chào trâu cho khách thì chỉ gọn lỏn: "Chả có bệnh tật gì." Lúc đồng ý bán thì bảo: "Này, dắt về đi! Bớt cho hai trăm tiền lộc. Tao còn lên chợ chứ có bỏ chợ đâu mà mày lo." Người thoáng hơn thì phát giá: "23 triệu rưỡi, chơi đi, bớt một triệu tẹo anh em đi ăn vịt ngay."

12h, nắng hầm hập, mặt đất nhão nhoẹt nước đái, phân trâu, bò, mùi khai, thối càng nồng. Người dắt trâu, bò đi bộ về bản, người bắc cầu dắt chúng lên thùng ô tô tải rồi lên ngược, về xuôi.

Anh Hoàng Văn Hữu, người xã Mỹ Phương, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. 34 tuổi và có thâm niên mười năm trong nghề lái buôn, ngày ngày đi gom trâu, bò ở các nơi mang về nhốt trong chuồng nhà để vỗ béo rồi cứ quay vòng các phiên chợ trong vùng mà lái ô tô chở đi bán.

Phiên này anh chở lên 20 con trâu, bò thì bán được cả. Anh cho biết: "Giá cao nhất là 65 triệu, thấp nhất là 11 triệu rưỡi." Anh đang hể hả cùng hai người đồng nghiệp bá vai bá cổ mấy người nữa vào quán ăn uống.

Họ là những thanh niên người địa phương đến chợ làm cò, dắt trâu, bò, chỉ trỏ, mặc cả, đếm tiền giúp các chủ trâu, bò rồi ai trả đồng nào thì tùy tâm. Họ lấy việc đi chợ ngắm trâu, bò, xem người ta mua bán làm vui.

Con trâu với người Tày là con vạn năng

Chợ trâu, bò Nghiên Loan họp năm ngày một phiên, vào các ngày 3, 8, 13, 18, 23, 28 âm lịch hằng tháng.

Nhưng thường từ 10 giờ ngày hôm trước các lái buôn ở xa đã đánh xe tải chở trâu, bò đến để người và vật đều được nghỉ ngơi, chuẩn bị cho ngày quan trọng nhất tuần. Những dãy hàng ăn uống, nhà trọ, dãy hàng cỏ cũng tấp nập từ đó.

Đây là chợ đầu mối quan trọng trong tỉnh Bắc Kạn và cả khu vực, thông thường lượng trâu bò được mang ra giao dịch trong chợ được tập trung từ rất nhiều nơi nhưng chủ yếu là ở trong huyện, các huyện lân cận như Ba Bể, Ngân Sơn và cả các tỉnh lân cận như Cao Bằng, Tuyên Quang.

Người mua xem xét kỹ càng để đánh giá sức khỏe của trâu. Ảnh: ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

Những năm gần đây, nhiều thương lái còn thu mua trâu, bò từ các chợ bán trâu, bò lớn ở phía bắc như: Tổng Cọt (Cao Bằng), Mèo Vạc (Hà Giang)… về bán lại ở chợ Nghiên Loan. Hầu hết số lượng trâu, bò được bán trong chợ sẽ được mang đến lò mổ chuyên nghiệp cung cấp thịt cho nhiều tỉnh và thành phố như Thái Nguyên, Hà Nội, Nam Định, Lạng Sơn…

Những thương lái thu mua trâu, bò cũng là những người đến từ các tỉnh miền xuôi như: Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Hải Phòng…

Ảnh: ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

Chợ trâu, bò Nghiên Loan là một trong những chợ có quy mô lớn vào bậc nhất ở miền núi phía bắc với lưu lượng trâu, bò trung bình giao động khoảng 400 - 500 con vào mỗi phiên, dịp tháng một, tháng chạp là chợ đông nhất vì người ta mua để thịt ăn tết, có nhiều phiên lượng trâu, bò giao dịch lên tới hàng nghìn con.

Cũng như người Việt, coi con trâu là đầu cơ nghiệp nên người Tày chọn mua trâu, nuôi trâu, chăm sóc trâu rất cẩn thận. Họ có những tri thức bản địa rất độc đáo.

Ông Hoàng Văn Vè ở thôn Phja Đeng, xã Nghiên Loan là một người chuyên nuôi vỗ béo trâu, bò, cho thu nhập vài trăm triệu đồng mỗi năm. Ngày ngày ông bỏ công sức đi vào thôn bản trong huyện để tìm mua trâu, bò của những gia đình có trâu, bò nhưng thiếu nhân lực chăn nuôi hoặc cần tiền nên buộc phải bán.

Ông cũng đến các chợ phiên tại các tỉnh lân cạn như Cao Bằng, Tuyên Quang để tìm mua trâu, bò. Sau khi nuôi từ khoảng 5 - 7 tháng vỗ béo, bán mỗi con có thể lãi từ 10 triệu đến 15 triệu đồng, xuất khẩu được sang Trung Quốc thì giá còn cao hơn. Mỗi năm nếu có kinh nghiệm và chịu khó có thể nuôi được bốn lứa vỗ béo trâu, bò.

Về chọn giống, theo ông, con trâu tốt là: trường thân (mình dài), lông màu đen, bốn khoáy đều, sừng đều, đuôi dài và chóp lông đuôi rậm, bụng thon, tai lá mít, đít lồng bàn (tròn), bốn móng chân khít, răng đều.

Con trâu có những tiêu chuẩn như thế thì là giống tốt, dễ nuôi, kéo cày khỏe, chịu nắng, chịu nước giỏi và bán được giá. Tục ngữ Tày nói về việc chọn con trâu cái giống là Vài mẻ lẻ xa tua toọng tòa (Trâu cái giống thì chọn con bụng to).

Còn khi sử dụng thì Vài theng thây nà chẻ, vài mẻ thây nà pàn (Trâu đực cày ruộng lầy, trâu cái cày ruộng khô). Muốn trâu thuần, thạo việc thì phải Phấc vài vửa on múp (Vực trâu từ lúc còn non).

Trong thời gian nuôi trâu, nếu chúng bị bệnh, người ta áp dụng nhiều bài thuốc dân gian với những cây, lá hái trên rừng về để chữa bệnh cho trâu. Trâu mắc bệnh thổ tả (thảo páng) thì lấy mấy củ tỏi và một nắm rau răm giã nát, hòa nước cho trâu uống.

Trâu bị nhọt dòi thì cho ăn lá mỗm giã với muối hoặc nhờ thầy tào kiêm thầy lang mẳn dòi chui ra khỏi người con trâu (mẳn non). Khi con trâu uống nước ở suối, bị một loại vắt nhỏ (tặc tè) chui vào mũi, con trâu sẽ ngứa và mất máu vì bị đốt, để chữa người ta kéo mũi trâu hếch lên rồi đổ nước điếu cày vào mũi, con tặc tè xót quá phải bò ra theo những cái hắt hơi của trâu.

Khi trâu bị thương, vết thương bị viêm nhiễm, người Tày lấy bột lông quả của cây bông bét (cây lật lá) rắc vào chỗ ròi bọ lúc rúc, khi đó lũ ròi tự chui ra ngoài, vết thương chóng khỏi.

Người Tày nuôi trâu để cày kéo, cho phân bón. Họ làm ruộng nước, nhiều nơi là ruộng thụt (ruộng sâu, lầy, bùn lún thụt) nên chỉ có con trâu mới cày bừa được. Ngoài ra, con trâu còn là của để dành. Bởi vậy người Tày thường nói "con trâu là vạn năng" trong đời sống của mình.

Vào dịp đầu năm mới, người Tày thường mời thầy bụt đến cầu phú quý vinh hoa cho gia đình, một trong số những tiêu chuẩn đó là: Liệng pết cáy têm cai/ Liệng mò vài têm lảng (Nuôi gà vịt đầy sân/ Nuôi trâu bò đầy chuồng).


ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

Chui qua bụng ngựa cầu may trong ngôi chùa người Hoa

đăng 05:49, 26 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 05:51, 26 thg 2, 2021 ]

Ngày mùng 4 Tết, nhiều người đến chùa Ông (quận 5) hành lễ và chui qua bụng tượng ngựa để cầu mong may mắn, lộc tài.

Chùa Ông hay còn gọi là Miếu Quan Đế hoặc Hội quán Nghĩa An, do người Hoa xây dựng. Chùa thờ Quan Công (hay Quan Thánh đế quân), một nhân vật thời Tam Quốc tài đức vẹn toàn. Chùa có thêm một gian thờ dành riêng cho ngựa Xích Thố - con chiến mã của Quan công.

Sau khi dâng lễ xong, người hành lễ chui qua bụng ngựa từ một đến 3 lần. Họ hy vọng rằng làm như vậy sẽ giúp cả năm hanh thông, thoải mái.

Sau khi chui qua bụng ngựa, người đi lễ sẽ rung chuông trên cổ Xích Thố cho tiếng kêu vang. Người Hoa tin rằng, tiếng leng keng vang vọng sẽ đem lại may mắn suốt cả năm cho người tự tay rung quả chuông đó.

Không chỉ chui qua bụng ngựa và rung chuông; khách đi lễ chùa còn sờ vào các tượng ngựa, Quan Công ở gian thờ với hy vọng có thêm lộc năm mới. "Tết nào gia đình tôi cũng đến chùa Ông viếng, mong một năm nhiều may mắn, sức khoẻ đến với gia đình", chị Lưu Mỹ Linh (quận 10) nói, đồng thời chỉ dẫn con trai sờ vào tượng ngựa lấy may.

Chính điện chùa ở vị trí trung tâm, giữa có gian thờ Quan Thánh đế quân trang trí bao lam lưỡng long tranh châu cùng nhiều câu đối sơn son thếp vàng ở các cột. Chùa được xây dựng khoảng đầu thế kỷ 19, vốn là hội quán của người Triều Châu và người Hẹ sang Việt Nam sinh sống thành lập. Như phần lớn các đền miếu của người Hoa, công trình có kiến trúc tổng thể hình chữ khẩu. Chùa gồm các hạng mục như tiền điện, sân thiên tỉnh, nhà hương, chính điện và văn phòng hội quán dọc hai bên các điện thờ.

Những ngày đầu năm mới, khách đến viếng chùa đông đúc cả ngày. Tất cả đều phải đo thân nhiệt, rửa tay và đeo khẩu trang trước khi vào trong. Nhà chùa thường xuyên nhắc nhở du khách không đốt quá ba cây nhang và không cắm nhang trong chánh điện.

Nhiều người đến chùa còn xin quẻ ngày đầu năm.

Kiến trúc và trang trí ở chùa thể hiện rõ nét phong cách Trung Hoa qua thiết kế, cách bài trí các tượng, phù điêu bằng gốm trên mái ngói hay tượng kỳ lân, diềm gỗ... trên bộ vì kèo sơn màu đỏ thắm.

Xuyên suốt hệ thống mái là các hàng tượng to nhỏ, phong phú thể loại, được trang trí liên hoàn. Loại hình này được gọi là tiếu tượng. Mỗi tượng thể hiện một nhân vật, câu chuyện như: Cá chép hóa rồng, ông Nhật bà Nguyệt, Kim Đồng - Ngọc Nữ, các tuồng tích của Trung Quốc...

Với diện tích khoảng 4.000 m2, chùa là điểm tham quan thu hút du khách ở TP HCM. Hàng năm lễ cúng Quan Đế được tổ chức vào ngày 24 tháng 6 âm lịch là lễ cúng quan trọng nhất ở miếu.

Năm 1993, chùa được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Quỳnh Trần

1-10 of 20