Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Dự lễ cúng thần bếp của người Thái Nghệ An Trong ngày đầu tiên dọn đến nhà mới, người Thái xứ Nghệ thường cúng thần bếp với một bát muối và một bát gạo Anh Vi Văn Canh, bản Nam ...
    Được đăng 22:49, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hàng Thiếc - con phố hàng trăm năm vẫn không thay đổi ở Hà Nội Khi đi vào phố cổ, bạn chỉ cần nghe theo tiếng búa gõ vang vọng là biết đang tới phố Hàng Thiếc. Hàng Thiếc là một phố nhỏ trong khu ...
    Được đăng 18:27, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chợ Nại – chợ quê hút khách ngoại Dù chỉ là ngôi chợ tạm quê mùa nhưng chợ Nại (thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận) thu hút rất đông du khách trong và ngoài ...
    Được đăng 17:55, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nghệ thuật làm đẹp của phụ nữ Thái Tây Bắc Nghệ thuật làm đẹp, giữ gìn sắc đẹp của phụ nữ các dân tộc vô cùng phong phú. Phụ nữ Thái có nét độc đáo rất riêng để họ phát ...
    Được đăng 17:43, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lễ đặt tên cho con của người Mạ Dân tộc Mạ là 1 trong 3 dân tộc thiểu số tại chỗ ở Đắk Nông, hiện có khoảng 10.000 người, chủ yếu cư trú ở xã Đắk Nia ...
    Được đăng 06:20, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 30. Xem nội dung khác »


Dự lễ cúng thần bếp của người Thái Nghệ An

đăng 22:49, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong ngày đầu tiên dọn đến nhà mới, người Thái xứ Nghệ thường cúng thần bếp với một bát muối và một bát gạo 

Anh Vi Văn Canh, bản Nam Đình xã Chi Khê (Con Cuông) vừa hoàn thành ngôi nhà sàn gỗ. Anh được những cao niên trong cộng đồng góp ý về tầm quan trọng của căn bếp, đặc biệt là cách chọn ngày giờ. Trong ngày lợp nhà, anh giao cho chị vợ làm người nhóm bếp. 

Theo quan niệm của cộng đồng người Thái nơi đây việc nhóm bếp là nhiệm vụ của phụ nữ trong nhà hoặc bên họ ngoại. Trước đó khi đắp khuôn bếp, người ta đã chọn hai thanh củi lớn tượng trưng cho họ nội và họ ngoại, còn những thanh nhỏ hơn gác lên hai thanh lớn là vợ chồng, con cái sum vầy. 

Trong quan niệm tâm linh của người Thái, bếp là nơi có nhiều điều linh thiêng. Ảnh : Hữu Vi 


Người ta cũng chuẩn bị sẵn một bát muối và một bát gạo đặt ở hai góc bếp. Theo các giải thích của những bậc cao niên trong cộng đồng thì bát gạo để gửi gắm sự sung túc, ấm no, còn bát muối là niềm mong mỏi về một tương lai tươi sáng cho gia chủ cũng như các thành viên trong gia đình. 

Sau khi nhóm bếp, lửa sẽ được duy trì luôn cháy đỏ suốt ngày hôm đó cho đến sáng hôm sau. Cộng đồng này quan niệm rằng lửa luôn cháy đỏ sẽ là điềm lành đối với gia đình. “Ngày dựng bếp cũng được coi là ngày đầu tiên sinh sống của một đôi vợ chồng ở ngôi nhà mới.” – Một cao niên ở xã Chi Khê (Con Cuông) chia sẻ. 

Muối và gạo được đựng trong chiếc bát bên mâm cúng trong ngày mừng nhà mới tại căn bếp của một gia đình người Thái. Ảnh: Hữu Vi 


Người Thái tại nhiều xã ở huyện Quỳ Hợp cũng có chung quan niệm. Ngoài ra lửa trong bếp cũng được duy trì trong suốt ngày 30 tháng chạp đến hết mồng 2 tết. Những ngày này nếu để tắt lửa mà đi xin nhờ hàng xóm sẽ chẳng ai cho. Quan niệm này tồn tại trong thời mà việc giữ lửa còn rất khó khăn.

Dù ngày nay đã thuận lợi hơn nhưng việc duy trì cho bếp lửa trong nhà cháy suốt 3 ngày tết vẫn được nhiều cộng đồng người Thái xứ Nghệ gìn giữ. Không chỉ vậy việc giữ lửa đã ăn sâu vào tiềm thức cũng như một số quan niệm tâm linh của cộng đồng người Thái.

Người Thái xứ Nghệ không quan niệm về ông Công, ông Táo như người Kinh nhưng “chủ bếp” là một trong những thần linh được thờ phụng. Theo quan niệm của cộng đồng người Thái ở huyện Con Cuông thì thần cai quản bếp gồm 1 ông và một bà. Họ được cho là “chủ bếp”. Khi xây dựng nhà, người ta thường có một lễ cúng cho “chủ bếp”. Ngoài ra hàng năm vào mồng một tết thì lặp lại lễ cúng này. 

Bếp lửa cháy suốt đêm trong ngày đầu tiên dọn đến nhà mới Ảnh : Hữu Vi 


Theo những người am hiểu về tục lệ của cộng đồng người Thái thì lễ cúng thường được thực hiện ngay cạnh bếp lửa vào ngày một Một tết. Có nơi là tối 30 tết. Mâm cúng có một con gà và một số đồ cúng khác như xôi, gà, một nắm đũa, một đĩa trầu, cau. Ngoài ra còn có 1 hoặc 2 chén rượu và một chén nước chè. 

Ông Lê Quốc Hoàng, một người sưu tầm văn hóa Thái ở huyện Con Cuông cho hay: Đối với người Thái ở xã Yên Khê người ta không cúng nước lạnh hoặc nước đun sôi vì cho rằng nước lọc thường là thứ dập lửa nên kiêng dùng. Mâm cúng cũng không có hoa quả. Người ta cũng không têm trầu, thay vào đó, thầy mo phết một ít vôi lên lá trầu. Cau cũng để cả quả.

Sau khi hết 3 ngày tết thì hãy ở lại gìn giữ cho bếp lửa của gia đình luôn cháy đỏ, không gặp phải hỏa hoạn, tai ương. 

Hữu Vi

Hàng Thiếc - con phố hàng trăm năm vẫn không thay đổi ở Hà Nội

đăng 18:27, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Khi đi vào phố cổ, bạn chỉ cần nghe theo tiếng búa gõ vang vọng là biết đang tới phố Hàng Thiếc. 

Hàng Thiếc là một phố nhỏ trong khu trung tâm Hà Nội. Qua thời gian, xã hội có nhiều đổi thay, Hàng Thiếc vẫn là một trong ít phố vẫn giữ được nghề truyền thống. 


Phố có chiều dài 136 m, bắt đầu từ ngã tư Bát Đàn - Thuốc Bắc tới ngã ba Hàng Thiếc - Hàng Nón, thuộc phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Phố xưa nằm trên đất thôn Yên Nội, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương. 


Xưa kia, phố Hàng Thiếc nổi tiếng với nghề đúc thiếc làm đồ gia dụng, những sản phẩm nổi tiếng khi đó là lư hương, ấm pha trà, khay đựng… Đến những năm giữa thế kỷ 20, do nhu cầu về đồ thiếc không còn nhiều, người thợ chuyển sang làm đồ sắt tây. Những thùng đựng dầu hỏa do người Pháp mang sang là nguyên liệu chính để gò chậu giặt, gáo múc, thùng gánh nước… Bởi vậy người Pháp đặt tên phố là Rue des Ferblanties (Phố thợ làm hàng sắt tây). Nhưng người dân Hà Nội vẫn quen gọi tên cũ là Hàng Thiếc. 


Sau này, thợ trên phố còn làm cả hàng từ tôn, kẽm tạo ra những sản phẩm gia dụng bền đẹp. Trong những năm gần đây, nhiều cửa hàng bán sản phẩm làm từ vật liệu mới là inox, phục vụ đời sống gia đình. 


Những năm 1930-1940 là thời hoàng kim của phố Hàng Thiếc. Bên cạnh nghề gia công kim loại còn có những cửa hàng làm gương, kính. Con phố nhỏ nhưng hoạt động buôn bán sản xuất luôn tấp nập. Hiện tại, do sự cạnh tranh của nhiều mặt hàng nhựa, người thợ ở đây cũng ít nhiều bị ảnh hưởng, song phố vẫn bền bỉ sống với nghề. 


Phố không còn nhiều nhà cổ, chỉ còn hiếm hoi một vài căn như số nhà 20. 


Hầu hết cửa hàng là những hộ kinh doanh nhỏ, cha truyền con nối. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp quy mô nhỏ nên quan trọng nhất không phải là vốn mà là sự khéo léo của đôi bàn tay người thợ. 


Xưa kia người thợ gia công kim loại phải có bếp lò, nhưng giờ đã có các thiết bị điện thay thế. 


Mỗi ngôi nhà vừa là nơi sản xuất vừa là cửa hàng giao dịch. Phụ nữ cũng tham gia vào công việc không hề nhẹ nhàng này. 


Trong không gian sản xuất chật hẹp, nhưng những người thợ vẫn miệt mài làm việc. 


Không chỉ sản xuất và bán sẵn sản phẩm trên phố, thợ Hàng Thiếc còn nhận thi công lắp đặt các loại sản phẩm, thiết bị ở công trình. 


Khách nước ngoài đang hỏi mua một món đồ nhỏ là chiếc máy xay hạt tiêu. 


Hà Thành

Chợ Nại – chợ quê hút khách ngoại

đăng 17:55, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Dù chỉ là ngôi chợ tạm quê mùa nhưng chợ Nại (thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận) thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước. Bởi chợ quê này tọa lạc tại ven đầm Nại nên thơ, đầy cá tôm giá rẻ. 

Chợ Nại, hay còn gọi là chợ Khánh Hải, nằm ven thị trấn Khánh Hải, cách trung tâm thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (tỉnh Ninh Thuận) khoảng 10km. Ngôi chợ này nằm bờ luồng nước nối Đầm Nại với biển, 1 bên là cây cầu Ninh Chữ, 1 bên là cầu Tri Thủy nối đôi bờ cửa biển và cạnh đó là bãi biển Ninh Chữ nổi tiếng. Chính nhờ vị trí độc đáo này mà chợ Nại rất thu hút khách du lịch đến tham quan dù đây chỉ là 1 chợ cá nhỏ, tạm bợ. 

Vị trí đắc địa của chợ Nại 


Đến chợ, du khách không chỉ có thể mua hải sản tươi sống mà còn được tận hưởng cảnh sắc thiên nhiên, trời xanh thoáng đãng của khu vực Đầm Nại; gió biển lồng lộng và biển xanh bao la, xa xa là những rặng núi xanh và thuyền đánh cá tấp nập gần bờ vẽ nên bức tranh tuyệt đẹp của một làng chài yên bình… 


Không chỉ có hải sản tươi sống, ở đây còn có phong cảnh hữu tình, làng chài bình yên 


Ở đây, dân chài làng Nại thường đánh bắt gần bờ bằng những chiếc thuyền cầu, chèo thúng. Vào mỗi sáng sớm và chiều tối, các thuyền câu lại cập bờ, chuyển từng giỏ hải sản tươi sống vào chợ Nại. Nhờ vậy, tôm cá ở chợ Nại luôn tươi ngon, không hóa chất bảo quản và giá cả rất mềm. 

Tôm cá được ngư dân đánh bắt ngay bên bờ biển hoặc trong Đầm Nại xong đem lên chợ để bán ngay 



Hải sản ở đây luôn tươi mới và rẻ hơn nơi khác rất nhiều 


Chợ Nại có lẽ là chợ hải sản duy nhất bán vào chiều muộn ở đây nên du khách đến tham quan thành phố Phan Rang - Tháp Chàm muốn mua hải sản tươi sống để tổ chức các buổi tiệc tối bên bờ biển chỉ có thể ghé nơi này. 

Do đó, lúc nào chợ Nại cũng có đông đảo người mua, kẻ bán; đông nhất là từ thứ năm đến cuối tuần, lượng người mua tăng lên gần gấp đôi, phần lớn là du khách từ nơi khác đến, có cả người nước ngoài. 


Chợ Nại luôn nhộn nhịp người mua, kẻ bán 


Du khách ở xa đến Ninh Thuận rất thích ghé mua hải sản ở đây 


Trong đó có rất nhiều khách nước ngoài 


Hải sản tươi rẻ và phong cảnh đẹp là 2 nét đặc sắc thu hút du khách 


Chợ Nại có khá nhiều loại hải sản cao cấp như các loại tôm, cua, ốc, ghẹ, cá... Do thuyền câu cung cấp ngay trong ngày nên hải sản rất tươi ngon và giá rẻ nên du khách đến đây thường mua rất nhiều, đóng thùng lạnh đem về làm quà cho người thân, hoặc mang về dùng dần. 

Ngoài hải sản tươi sống, chợ Nại còn có những mặt hàng hải sản khô. và đặc sản như hành, tỏi, gừng, bánh tráng… được khách du lịch ưa chuộng. Nhiều mặt hàng hải sản ở chợ Nại thấp hơn giá thị trường từ 30% trở lên. 

Do lượng khách đến chợ Nại ngày càng tăng cao nên xuất hiện tình trạng quá tải nhiều năm nay. Để phục vụ nhu cầu mua sắm và tham quan của du khách tại đây, UBND tỉnh Ninh Thuận đã xem xét xây dựng khu chợ mới với diện tích gấp 17 lần chợ Nại hiện nay.


Hải Bình

Nghệ thuật làm đẹp của phụ nữ Thái Tây Bắc

đăng 17:43, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Nghệ thuật làm đẹp, giữ gìn sắc đẹp của phụ nữ các dân tộc vô cùng phong phú. Phụ nữ Thái có nét độc đáo rất riêng để họ phát huy thế mạnh phái đẹp ở vùng Tây Bắc mộng mơ.

Vẻ đẹp trời cho ở xứ sở hoa ban

Một trong những yếu tố làm nên sự nổi trội của vẻ đẹp người con gái Thái đó là do sinh cảnh sinh sống, không gian cư trú, biết cách làm đẹp, biết cách giữ bền lâu vẻ đẹp trời cho của họ. Từ giữa thế kỷ trước vùng này đã lưu truyền những câu thơ nổi tiếng về vẻ đẹp phụ nữ Thái: “Má thơm mùi quả lê cao gạc/ Miệng nêu khiếu khi hát/ Chân nêu công khi xòe/ Biết làm nương đi xúc, dệt thêu/ Tung nắm tấm hóa ra đàn gà/ Khua cái chày hóa ra gạo trắng/ Đụng vào cơ là cơ chết nắng/ Vuốt bụi lúa bụi lúa trổ bông/ Êm ái ru con ngủ đêm khuya/ Thủ thỉ làm hiềm khi chồng đang giận…”

Phụ nữ Thái làm duyên bên chiếc khăn piêu. 


Phụ nữ Thái coi trọng vẻ đẹp cơ thể. Họ có vóc dáng cân đối. Có đôi tay mềm mại khéo léo. Đó chính là nhờ sự dày công luyện tập từ tấm bé thông qua công việc rừng ruộng, nương rẫy, tầm tang, canh cửi. Chính việc trồng bông, kéo sợi, dệt vải thổ cẩm, làm gối mềm, nệm êm, chăn ấm không chỉ làm nên nét duyên con gái mà còn hun đúc vẻ tươi tắn nhuần nhị thuần khiết ở họ. Một vẻ đẹp trẻ trung lâu bền gắn liền với bài ca lao động sáng tạo trên khung trời thổ cẩm nơi vùng đất bùa yêu.

Phụ nữ Thái đẹp người, đẹp nết bởi yêu văn nghệ. Họ đắm đuối mê hoặc trong nhiều làn điệu dân ca, trong nhiều vũ điệu của mây ngàn gió núi. Nghệ thuật dân gian là một kênh làm đẹp hữu hiệu của chị em. Phụ nữ Thái ai cũng biết múa xòe. Xòe hoa là đỉnh cao của vũ hội cộng đồng mường bản. Động tác múa truyền đời đã hun đúc nên vẻ đẹp tao nhã, cao sang, hấp dẫn. Vũ điệu luân hồi đã bồi đắp những đường cong gợi cảm để toát ra giai điệu quyến rũ của hình thể người con gái Thái Tây Bắc, làm rạng ngời xứ sở hoa ban.

Vóc dáng cân đối tôn thêm sự duyên sáng của phụ nữ Thái. 


Nhất dáng, nhì da, thứ ba mái tóc

Bí quyết bộ trang phục phụ nữ Thái là sự tôn vinh dáng vóc, dáng vẻ, dáng điệu làm cho họ trở nên thanh thoát bay bổng. Chiếc áo có hàng khuy bướm bạc trước ngực làm lộ rõ, nổi bật ngấn cổ trắng ngần. Làm cho vòng một được hào phóng nảy nở trong khuân mẫu của vẻ đẹp cơ thể kín đáo và ý nhị. Chiếc váy ôm khít vòng ba, buông chấm gót son cùng với dải khăn thắt đáy eo lưng đã làm cho thân hình cô gái Thái thướt tha, mềm mại quyến rũ.

Phụ nữ Thái có bí kíp dưỡng da, dưỡng tóc bằng tắm gội nước lá có tinh dầu thơm. Họ thường xuyên tắm suối - một hình thức mát xa da bằng dòng chảy của nước nguồn tinh khiết, lao động phù hợp, dưỡng da hợp lí, trang phục khéo léo, lối sống sạch sẽ, vệ sinh, gần gũi với hương hoa rừng đã làm cho nước da con gái Thái trắng trẻo hơn, mềm mại hơn, mịn màng hơn. Dường như trong da thịt của cô gái Thái toát ra mùi hương thảo thơm của núi rừng Tây Bắc.

Sức hút từ mái tóc của phụ nữ Thái. 


Phụ nữ Thái đặc biệt coi trọng nuôi tóc, giữ tóc, dưỡng tóc. Chiếc khăn Piêu là tấm choàng, tấm bùa hộ mệnh bảo vệ tóc, làm đẹp tóc cho họ. Các cô gái Thái có hẳn một lễ hội gội tóc trên bến sông vào ngày giáp Tết để đón mùa xuân. Có thể nói đây là cuộc thi sắc đẹp của mái tóc, tôn vinh, ngưỡng mộ, sùng bái mái tóc, một thứ quyền năng cơ thể phụ nữ Thái.

Khi đã có chồng, phụ nữ Thái túi tóc trên đỉnh đầu gọi là tằng cẩu. Hình thức búi tóc này thể hiện rằng tấm thân ngà ngọc này đã có chủ, đã thuộc về duy nhất một người con trai mà mình gắn bó thủy chung trọn đời. Tằng cẩu bộc lộ vẻ đoan trang phúc hậu, đúng mực và đức độ của người con gái có chồng gắn liền với trách nhiệm gia đình, họ tộc.

Nét đẹp của phụ nữ Thái còn thể hiện ở sự giao hòa với thiên nhiên. 


Từ vẻ đẹp trời cho thủa nguyên sơ ban đầu, nhờ có tri thức bản địa về nghệ thuật sống và làm đẹp, người phụ nữ Thái Tây Bắc đã tạo ra một xứ sở người đẹp nơi miền ban trắng, một vùng đất bùa yêu quyến rũ mê hồn say đắm lòng người.

Nhà văn Ngô Quang Hưng

Lễ đặt tên cho con của người Mạ

đăng 06:20, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Dân tộc Mạ là 1 trong 3 dân tộc thiểu số tại chỗ ở Đắk Nông, hiện có khoảng 10.000 người, chủ yếu cư trú ở xã Đắk Nia (Gia Nghĩa), huyện Đắk Glong và một phần của huyện Đắk R’lấp.

Người Mạ có rất nhiều nghi lễ độc đáo như lễ cúng thần rừng, lễ cúng bến nước, lễ mừng lúa mới... Trong đó, nghi lễ đặt tên cho con mang ý nghĩa quan trọng đặc biệt của vòng đời người. Nghi lễ này nhằm để dòng họ công nhận đứa trẻ chính thức là một thành viên mới trong gia đình và là dấu mốc đầu tiên trong đời người. 

Sau khi chủ lễ làm Lễ đặt tên xong, các thành viên trong gia đình đứa trẻ đeo dây hạt cườm để cầu chúc cho đứa trẻ luôn khỏe mạnh, chóng lớn 


Theo phong tục của người Mạ, khi đứa trẻ mới sinh ra được 7 ngày tuổi người nhà phải làm lễ đặt tên và gọi hồn để đứa trẻ được Yàng, tổ tiên che chở, phù hộ không ốm đau, chóng lớn. 

Để làm lễ đặt tên cho con, người nhà đứa trẻ phải thông báo cho họ hàng biết trước từ 2-3 ngày để mọi người sắp xếp thời gian, công việc đến chung vui. Trong khi đó, gia đình đứa trẻ lên rừng lấy lá bép, đọt mây, bắt cá suối, chuẩn bị củi, gạo... để làm đồ cúng và thức ăn trong buổi lễ. 

Người được mời tham gia buổi lễ gồm có già làng, bà đỡ, người mẹ và đứa con mới sinh, bà con bên nội bên ngoại của em bé để làm chứng. Những người được mời tham gia buổi lễ, ai cũng chuẩn bị tặng cho trẻ một món quà như lúa nương, đôi gà trống mái, lắc tay... 

Nghi lễ được tổ chức tại gia đình đứa trẻ. Ðồ cúng gồm có thịt heo, tiết heo, rượu cần và một số món ăn truyền thống. Sau khi đồ cúng đã chuẩn bị sẵn, chủ lễ (thường là già làng hay người lớn tuổi trong dòng họ) lấy ngón tay chấm vào chén tiết heo được dùng để hiến tế, bôi lên trán đứa trẻ. 

Tiếp đến, chủ lễ đọc lời khấn để mời Yàng, tổ tiên về chứng kiến lễ đặt tên và gọi hồn cho đứa trẻ. Sau đó, các thành viên hai bên gia đình chấm tay lên tiết, bôi lên trán, đeo dây hạt cườm để cầu mong thần linh ban cho con gái thì xinh đẹp, chăm chỉ, khéo tay; con trai thì được khỏe mạnh để lên rừng săn bắt, giỏi việc nương rẫy. 

Ðồ cúng trong lễ đặt tên gồm có thịt heo, tiết heo, rượu cần và một số món ăn truyền thống 


Sau khi làm lễ đặt tên xong cho con, bố của đứa trẻ sẽ mời ông bà nội, ngoại, những người trong gia đình và bà con trong bon ăn uống, ca hát nhưng không được đánh chiêng. 

Theo ông K'Hô ở xã Đắk P'lao (Đắk Glong) thì lễ đặt tên con có từ thuở xa xưa, được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Người Mạ theo chế độ mẫu hệ nên con cái thường được đặt theo họ mẹ. Họ thường chọn tên của ông bà đã khuất, tên những người giỏi giang có tiếng tăm trong dòng họ hoặc tên các con vật, cây cối để đặt tên cho con cháu. Mọi người cũng kiêng không lấy tên các thần linh để đặt cho con vì họ tin rằng những tên này sẽ mang đến tai họa, điềm dữ cho đứa trẻ trong suốt cuộc đời. 

Cũng như nhiều dân tộc khác trên địa bàn tỉnh, lễ hội truyền thống của bà con đồng bào dân tộc Mạ đang ngày càng mai một. Những năm gần đây, tỉnh ta đã chú trọng việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, nhất là lễ hội, trong đó có lễ đặt tên. 

Bài, ảnh: Y Krăk

Sáng lửa nghề rèn xứ Phuống

đăng 06:16, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Đã thời cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, nhưng nghề rèn truyền thống ở chợ Phuống, xã Thanh Giang (Thanh Chương) vẫn luôn đỏ lửa, tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ đời sống và sản xuất của người dân địa phương này. 

Từ bao đời nay, chợ Phuống (xã Thanh Giang) luôn là nơi thợ rèn khắp nơi tìm đến bởi vị trí địa lý thuận lợi với nhiều đồng bãi canh tác và là trung tâm mua bán của cả cụm Bích Hào của huyện Thanh Chương gồm 6 xã: Thanh Giang; Thanh Lâm; Thanh Xuân; Thanh Mai; Thanh Hà; Thanh Tùng. Ảnh: Diệp Phương 


Vợ chồng thợ rèn anh Lê Văn Đại vốn quê ở tỉnh Thanh Hóa, đã gắn bó với nghề rèn gần 20 năm ở xứ Phuống. Ảnh: Diệp Phương 


Để làm ra một nông cụ, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn: thổi lửa, tôi sắt, quai búa đập. Khi sản phẩm thành hình thì chuyển qua khâu gia công bào, gọt, làm chuôi, tra cán, lau chùi. Ảnh: Diệp Phương 


Tất cả đều được làm thủ công. Ảnh: Diệp Phương 


Công đoạn mài có sự hỗ trợ của máy móc. Ảnh: Diệp Phương 


Ngoài việc làm mới, lò rèn xứ Phuống còn là “bệnh viện” nông cụ của những người nông dân nơi đây: mài sắc dao, cuốc, cắt chấu liềm... Ảnh: Diệp Phương 


Trải thời gian, dù đã có rất nhiều người thợ đến và đi, nhưng nơi đây vẫn còn đó những người thợ rèn cần mẫn, gắn bó với cái bễ rèn đỏ lửa ở xứ Phuống hàng chục năm liền. Từ những đôi bàn tay tài hoa không kém phần tỉ mỉ, những sản phẩm rèn của thợ rèn xứ Phuống được người dân khắp nơi tin dùng. Ảnh: Diệp Phương 


Diệp Phương

Vang tiếng gà xứ Tân Lân

đăng 00:00, 13 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Về vùng đất Long An thường nghe người dân truyền miệng câu “Gà Tân Lân, rau Phước Hậu”, ngụ ý nói về nghề truyền thống nổi tiếng ở xã Tân Lân, huyện Cần Đước là nuôi gà và xã Phước Hậu, huyện Cần Giuộc với nghề trồng rau. Đặc biệt, việc phát triển thành Hợp tác xã (HTX) nuôi gà cho trứng thương phẩm như hiện nay đang trở thành mô hình kinh tế hiệu quả nhất ở Tân Lân. 

Nếu như trước đây việc nuôi gà theo hộ gia đình cho thu nhập không cao thì trong nhiều năm trở lại đây, người chăn nuôi đã biết liên kết lại với nhau tạo thành những tổ hợp tác, HTX, nhằm giúp đỡ nhau về kỹ thuật, giống, kinh nghiệm và sản phẩm đầu ra.

Chúng tôi đến thăm trang trại gà của ông Nguyễn Văn Lai, Giám đốc HTX Chăn nuôi và Dịch vụ Ao Gòn ở xã Tân Lân đúng lúc công nhân của trang trại đang thu gom trứng gà. Trang trại gà của ông Lai có diện tích 10.000m2 với 10 khu trại nuôi khoảng 20.000 con gà đang cho trứng thương phẩm.

Các chuồng gà đều được thiết kế 3 tầng như bậc tam cấp giúp tiết kiệm diện tích. Lồng gà được thiết kế trên cao phù hợp với đặc tính của giống gà vừa giúp thuận lợi trong việc vệ sinh chuồng trại. Bên cạnh các trại gà đều có các hồ nước nhằm điều hòa nhiệt độ trong trang trại vừa là hồ nuôi cá rô phi. Cách thiết kế chuồng trại của ông Lai cũng như các thành viên của HTX Ao Gòn rất tiện lợi, mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi.

Những bầy gà của HTX Ao Gòn luôn mạnh khỏe, phát triển tốt nhờ phương pháp chăm sóc theo hướng an toàn sinh học, khép kín của các thành viên HTX.


Công nhân của trang trại ông Nguyễn Văn Lai đang cho gà ăn theo đúng giờ và đúng lượng thức ăn quy đinh.


Thức ăn cho gà luôn đảm bảo chất lượng, do các nhà cung cấp thức ăn uy tín cung cấp và hướng dẫn kỹ thuật.


Khu vực dành cho gà chưa đến thời kỳ cho trứng.


Công nhân trang trại của ông Lai đang phun thuốc khử trùng chuồng trại phòng dịch bệnh.


Công nhân thực hiện tiêm thuốc ngừa bệnh cho đàn gà theo định kỳ.


Ông Nguyễn Văn Lai đi kiểm tra theo dõi kỹ lưỡng quá trình phát triển của đàn gà.


Công nhân trang trại gà ông Nguyễn Văn Lai đi thu gom trứng vào mỗi sáng.


Trung bình một ngày trang trại của ông Lai thu khoảng 15.000 trứng gà thương phẩm.


Công nhân của HTX Ao Gòn đang phân loại và đóng trứng vào vỉ.


Trứng gà thương phẩm của HTX Ao Gòn được đưa đi tiêu thụ mạnh ở TP.HCM và các thị trường lân cận. 


“Gia đình tôi có nghề nuôi gà truyền thống từ những năm 1990, nhưng chỉ nuôi theo hộ gia đình. Đến năm 2014 nhận thấy việc nuôi gà đẻ thuận lợi và có đầu ra ổn định nên tôi cùng 9 hộ gia đình ở Ao Gòn mới thành lập Tổ hợp tác chăn nuôi để mở rộng quy mô sản xuất và hỗ trợ lẫn nhau. Đến tháng 7/2017 thì thành lập HTX Chăn nuôi và Dịch vụ Ao Gòn, số thành viên cũng tăng lên con số 16 với tổng số đàn gà trên 80.000 con” - ông Lai cho biết.

Trung bình, mỗi thành viên của HTX Ao Gòn có số lượng đàn gà khoảng 7.000-8.000 con, tất cả đều tuân thủ quy chuẩn nuôi gà theo phương pháp an toàn sinh học, đạt tiêu chuẩn VietGAP. Ông Lai cho biết thêm, nuôi gà với quy mô lớn chỉ sợ nhất là dịch bệnh cũng như các bệnh liên quan đến đường hô hấp, đường tiêu hóa. Nhưng nhờ phương pháp nuôi hiện đại, khoa học, cộng với kinh nghiệm nuôi gà lâu năm của các thành viên chia sẻ cho nhau đã giúp hạn chế rất nhiều về vấn đề này.

Thông thường, các trang trại nuôi gà con giống 1 ngày tuổi đến tháng thứ 4 thì có thể cho trứng. Trung bình một lứa gà cho trứng thương phẩm khoảng 12 tháng mới thải loại và thay bằng con giống mới. Trang trại của ông Lai cung cấp ra thị trường khoảng 15.000 trứng/ngày, với giá bán trung bình hiện tại khoảng 2.000 đồng/trứng, tổng doanh thu hàng tháng của trang trại lên đến 900 triệu đồng. Trứng gà vùng Tân Lân có kích cỡ tròn đều, đảm bảo vệ sinh, an toàn, chất lượng, được người tiêu dùng ở khu vực Tp. Hồ Chí Minh và các địa phương lân cận ưu chuộng.

Từ cuối năm 2017 đến nay, giá trứng gà luôn đạt mức ổn định, vì thế nghề nuôi gà cho trứng thương phẩm ở Tân Lân hiện nay đang mang lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi. Ngoài ra, các trang trại còn tạo việc làm thường xuyên cho hàng chục lao động ở địa phương, góp phần cải thiện thu nhập cho người dân vùng nông thôn.

Xã Tân Lân có khoảng trên 100 trang trại gà có số lượng nuôi từ 2.000 con trở lên, lớn nhất phải kể đến 2 HTX Ao Gòn và HTX Tân Mỹ. Lãnh đạo địa phương thường xuyên phối hợp với các tổ chức chuyên môn mở các lớp tập huấn cho người chăn nuôi gà theo hướng an toàn sinh học, cũng như hướng dẫn các kỹ thuật đệm lót sinh học, khử trùng tiêu độc theo định kỳ trong chăn nuôi…

(Bà Nguyễn Thị Cẩm Vân, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Cần Đước, tỉnh Long An)
 
Thực hiện: Thành Đạt – Sơn Nghĩa

Vinh-vút: nhạc cụ giữ hồn tre nứa của người H’rê

đăng 23:53, 12 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Nhạc cụ truyền thống của người H’rê rất phong phú và đa dạng, có đàn brook, ống tiêu talía, đàn môi pơpel, nhị rađang, "chiêng tre", ching kala, chiêng, đàn vroat, nhưng độc đáo nhất phải kể đến ống vinh-vút, loại nhạc cụ truyền thống dành riêng cho phụ nữ H’rê.

Âm vang từ núi rừng

Là một nhạc cụ đơn giản nhưng với âm thanh trầm bổng, vinh-vút trở thành nhạc cụ đặc trưng thể hiện được tài nghệ khéo léo và tâm hồn nghệ sĩ của người phụ nữ dân tộc H’rê.

Cây đàn Vinh-vút của người H’rê ở huyện Ba Tơ (tỉnh Quảng Ngãi) được làm từ lồ ô. Người H’rê chọn cây lồ ô làm ống vinh-vút vì loại cây này có đốt dài và mỏng, lúc vỗ sẽ phát ra âm thanh rất to, vang. Lồ ô được chọn làm vinh-vút là những cây đã già, thẳng, dài. Cây còn tươi, người ta cắt bỏ phần mắt, chọn những ống bằng nhau để làm thành một cặp. Cây đàn vinh-vút gồm có hai ống, một ống dài khoảng 1,2 m và một ống dài khoảng 1 m. Chiều dài hay ngắn, to hay nhỏ của cây đàn tuỳ theo ống lồ ô. 

Những ống vinh-vút được làm từ lồ ô. 


Hai đầu cây đàn được những người có hoa tay chạm khắc lên những hoạ tiết hoa văn tuỳ thích, trông thật đẹp mắt. Đã thành những bộ cây đàn, người ta lấy dây rừng bó lại từng cặp với nhau, đem phơi ngoài nắng chừng vài ba ngày, rồi đưa lên trên giàn bếp lửa nhà sàn (Carinh) tiếp tục phơi càng lâu càng tốt, quá trình sử dụng ít bị ảnh hưởng về âm thanh, khói bếp bám vào làm cho ống nứa có màu vàng đen, cây đàn đẹp hơn.

Những sắc thái riêng từ ống lồ ô

Biểu diễn đánh (vỗ) vinh-vút là tư thế ngồi quỳ hai gối, gồm có ba người: Một người ngồi bịt, thả đầu bên kia (đầu ngọn, thế dọc, gọi là Dhât); một người ngồi giữ đầu bên này (đầu gốc, thế ngang, gọi là Rup); một người ngồi vỗ đầu bên này (đầu gốc, gọi là Hpoh). Hpoh vinh-vút gồm có 7 bài (điệu) cơ bản.

Trong 7 bài của đàn vinh-vút đều có giai điệu, tiết tấu, sắc thái riêng. Vì vậy, khi đánh một bài nào đó đòi hỏi cả người bịt - thả và người vỗ (Dhât và Hpoh) đều phải có những kỹ năng xử lý thật ăn ý và phối hợp một cách hài hòa với nhau thì âm thanh của "bản nhạc" vinh-vút mới độc đáo và hấp dẫn người nghe. Bà con người H’rê ở huyện Ba Tơ có rất nhiều điệu vỗ ống vinh-vút, như điệu “vái-mang”, điệu “pý-mang”, điệu “ching-htùm”… 

Phụ nữ H’rê diễn tấu vinh-vút . 


Nhạc sĩ người dân tộc H’rê Phạm Minh Đát cho biết: Làm được cây đàn vinh-vút bằng nứa, lồ ô không khó, nhưng để “thổi hồn” vào hai ống nứa phát ra những âm thanh, tiết tấu, giai điệu hay là một việc làm không dễ. Đây là loại nhạc cụ cổ truyền của người phụ nữ H’rê. Chị em nào biết cách sử dụng đôi bàn tay nhuần nhuyễn, khéo léo, vỗ nhịp thì âm thanh phát ra rất hay.

Vinh-vút trong đời sống người H’rê

Ngoài chiếc sáo tà-vố làm bằng đất sét, hầu như tất cả các nhạc cụ cổ truyền của người H’rê đều làm bằng tre, nứa, lồ ô... Chẳng hạn như, đàn ống vinh-vút của người phụ nữ H’rê thường sử dụng trong các dịp lễ, Tết được làm bằng các ống lồ ô, nứa. Người H’rê sử dụng các chất liệu có sẵn trong tự nhiên để chế tác, đây là vấn đề địa văn hóa, các bản nhạc khí phát ra từ đàn vinh-vút cũng phản ánh rõ những âm hưởng từ thiên nhiên: các bản nhạc mô phỏng tiếng ếch nhái, mô phỏng âm thanh của thác nước hay mô phỏng tiếng hót của một loài chim báo mưa… Tiếng đàn vinh-vút đóng một vai trò rất lớn trong việc thể hiện tâm tư, tình cảm cũng như quy tụ và cố kết cộng đồng.

Nhạc cụ tre nứa luôn gắn với đời sống của người H’rê . 


Nghệ nhân Phạm Thị Huyền cho biết: “Ống vinh-vút của người H’rê ra đời lâu lắm, từ thời cha ông đã có. Bà con ở đây rất yêu thích vỗ ống vinh-vút, trong các dịp lễ như đâm trâu, đám cưới... Bây giờ bà con vẫn thích vỗ ống vinh-vút trong dịp Tết đến, ngày hội đại đoàn kết của khu dân cư. Bà con cùng nhau vỗ ống vinh-vút, nhảy sạp rất vui”.

Trăn trở trước nguy cơ thất truyền

Hiện nay, vinh-vút của người H’rê ở Ba Tơ đang đứng trước nguy cơ bị mai một, thất truyền. Để bảo tồn nhạc cụ truyền thống của người H’rê trong đó có vinh-vút, cần tổ chức những cuộc liên hoan, những hội diễn nghệ thuật do ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch và tỉnh Quảng Ngãi tổ chức, cần có một định hướng chiến lược cụ thể, bởi nghệ thuật dân gian là do chính nghệ nhân dân gian sáng tạo ra, đồng thời họ cũng chính là khán giả, là diễn viên và chủ thể của nghệ thuật. Mở thêm các lớp dạy nhạc khí và hát dân ca, cũng có thể đưa nhạc khí của người H’rê vào chương trình âm nhạc trong các trường trung học. Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ngãi cần phát động những đợt thi sáng tác ca khúc, có vận dụng phát triển chất liệu âm nhạc của đồng bào H’rê, cần có chế độ khen thưởng, động viên những tác giả âm nhạc, những nghệ nhân dân gian để họ tiếp tục trao truyền vốn âm nhạc cho con cháu trong làng.

Bá Thanh

Nghề làm đũa ở Tân Sơn

đăng 23:48, 12 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cách thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 30 km, Tân Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận từ lâu đã nổi tiếng xa gần với nghề làm đũa phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng và nghề sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ gỗ.

Đũa Tân Sơn vừa đẹp, bền, sản phẩm đa dạng được làm bằng phương pháp thủ công. Đặc biệt, đũa được sơn bằng sơn ta nên nhìn rất bóng mà không gây độc hại dù thời gian sử dụng lâu dài. Những chiếc đũa thẳng đều, hai đầu đũa bo tròn, nước sơn bóng loáng nhưng cầm rất mịn tay và thoải mái. Vì thế, đũa Tân Sơn rất được ưa chuộng và làm hài lòng những người khó tính nhất.

Công đoạn làm cắt cho đều đũa . Ảnh: Đặng Kim Phương 


Nhìn đôi đũa thường ngày con người sử dụng có vẻ đơn giản, nhưng để làm ra được như vậy, những người thợ ở đây phải trải qua 12 công đoạn mới cho ra thành phẩm. Từ những thanh gỗ, người thợ dùng máy cưa xẻ nhỏ theo nhiều kích cỡ, chủng loại, sau đó đưa vào máy tiện để cho ra sản phẩm thô. Tiếp đến là công đoạn chà nhám, khử trùng, nhuộm, sấy, khảm xà cừ… Tất cả đều được những đôi bàn tay khéo léo làm rất tỉ mỉ để cho sản phẩm vừa đồng đều lại vừa có tính thẩm mĩ cao. Họ coi đôi đũa không chỉ là vật dụng trong bàn ăn mà còn là một nét văn hóa của vùng đất Tân Sơn mang đến với mọi người.

Một công đoạn làm sạch đũa . Ảnh: Đặng Kim Phương 


Nguyên liệu dùng để khảm xà cừ lên đũa . Ảnh: Đặng Kim Phương 


Nghề làm đũa ngày càng phát triển, trở thành nguồn thu nhập chính vững chắc cho nhiều hộ gia đình ở Tân Sơn. Nhờ vào nghề làm đũa, nhiều gia đình tại địa phương đã có cuộc sống ổn định, thậm chí vươn lên khá giả và làm giàu. Anh Nguyễn Văn Hồ, Trưởng ban Tài chính - Kế hoạch huyện Ninh Sơn cho biết về tình hình phát triển của nghề làm đũa ở đây: “Hiện nay, Tân Sơn có gần 500 hộ làm đũa, giải quyết 900 lao động địa phương. Với mức thu nhập bình quân hàng tháng 3,6 triệu đến 5 triệu đồng/người đã làm cho họ yên tâm theo nghề”.

Cấn xà cừ lên đũa . Ảnh: Đặng Kim Phương 


Đóng gói đũa để đưa ra thị trường . Ảnh: Đặng Kim Phương 


Phát triển nhanh là thế, nhưng nghề làm đũa ở Tân Sơn cũng gặp nhiều khó khăn. Anh Trần Lộc than thở: “Giá gỗ nguyên liệu càng ngày càng cao và nguồn cung cấp lại khan hiếm. Chúng tôi không thể dùng gỗ non vì chất lượng sẽ không đảm bảo. Đây thực sự là thách thức với người làm đũa”.

Những bó đũa nhìn rất đẹp và bắt mắt . Ảnh: Đặng Kim Phương 


Để nghề làm đũa ở Tân Sơn phát triển bền vững, huyện Ninh Sơn đang nỗ lực xây dựng thương hiệu đặc thù của địa phương là đũa Tân Sơn mạnh về chất lượng và có chỗ đứng trên thị trường. Nhiều chính sách cụ thể để hỗ trợ làng nghề như hỗ trợ vốn cho các hộ dân, quy chuẩn chất lượng đối với sản phẩm, xây dựng vùng nguyên liệu lâu dài cho nghề đũa, tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm…

Gia Bằng

Bưởi Diễn ở Hoàng Nông

đăng 18:05, 11 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ nghề trồng lúa sang làm mô hình trồng cây bưởi Diễn, người dân ở xã Hoàng Nông (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) ngày càng có thu nhập kinh tế cao. 

Xã Hoàng Nông nằm cách trung tâm thị trấn Đại Từ khoảng 13km. Điều khiến chúng tôi ngạc nhiên khi mới đặt chân vào đến đây là xung quanh các khu nhà đều bạt ngàn màu vàng chín mọng của những lứa bưởi Diễn đang chuẩn bị được thu hoạch. 

Chúng tôi ghé thăm vườn bưởi Diễn được Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Nguyên cấp chứng nhận mô hình trồng đạt tiêu chuẩn VietGAP của hộ nhà anh Nguyễn Văn Chức. Anh Chức cho biết, ban đầu bắt tay trồng cây bưởi Diễn, vợ chồng anh chỉ đơn giản học hỏi từ bạn bè và tự về dưới đất bưởi Diễn ở Hà Nội để mua giống về trồng. Sau đó được cán bộ khuyến nông của xã Hoàng Nông cũng như huyện Đại Từ quan tâm đến mô hình, gia đình anh được cho đi tập huấn về chăm sóc và kỹ thuật để nâng cao an toàn chất lượng sản phẩm và bắt đầu chuyển sang tập trồng theo quy trình VietGAP.

Các hộ dân ở xã Hoàng Nông chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ trồng lúa sang trồng bưởi Diễn đã đem lại hiệu quả về kinh tế.


Sau khi được tập huấn về quy trình chăm sóc, những hộ dân trồng bưởi Diễn đều áp dụng đúng quy trình để đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng.


Đất cũng được người làm bón vôi để tạo độ phì nhiêu cho cây phát triển tốt.


Bưởi ra quả sẽ được bọc lót để chống sâu bọ.


Mùa thu hoạch bưởi Diễn ở xã Hoàng Nông thường từ tháng 11 đến tháng 1 âm lịch.


Những quả bưởi được cho thu hoạch sẽ được dùng gậy hái xuống để không bị rụng nát.


Được trồng theo tiêu chuẩn VietGAP, nên các hộ dân trồng bưởi Diễn dùng bẫy để bắt sâu bọ chứ không phun thuốc trừ sâu.


Hệ thống nước tưới tự động được sử dụng để phun tưới hàng ngày cho ngày.


Bưởi thu hoạch sẽ được chọn lựa theo chất lượng và mẫu mã để mang bán với những giá khác nhau.


Với mô hình trồng bưởi Diễn, người dân ở xã Hoàng Nông ngày càng có thu nhập kinh tế, ổn định cuộc sống. 


Từ số lượng trồng 100 cây khi mới bắt đầu trồng bưởi Diễn gia tăng thu nhập kinh tế gia đình, đến nay gia đình anh Nguyễn Văn Chức tăng lên đến 250 cây, với thu nhập hàng năm khoảng 300 triệu/đồng.

Đối diện nhà anh Chức là hộ gia đình chị Nguyễn Thị Nga với số lượng 300 cây bưởi Diễn. Vì bưởi diễn chín muộn hơn so với những gia đình khác nên chúng tôi có dịp chiêm ngưỡng khoảng vườn rộng khoảng gần 1ha và choáng ngợp bởi mùi thơm của những trái bưởi Diễn chín của hộ dân này.

Chị Nga chia sẻ, gia đình nhà chị cũng như hầu hết các hộ dân ở xã Hoàng Nông đều trồng Dưởi diễn theo quy trình tuyệt đối an toàn nên được rất nhiều người tìm đến tận nhà để mua buôn và mua về ăn. Mùa thu hoạch bưởi diễn thường từ tháng 11, 12 âm lịch. Với những ưu điểm như dễ trồng, cho thu nhập cao, quả bưởi có thể bảo quản 3-4 tháng sau thu hoạch mà vẫn giữ được màu sắc. Những năm đầu tiên mới trồng, gia đình chị bán 20.000 đồng -25.000 đồng/quả, sau nữa thì chị bán 35.000 đồng- 37.000 đồng/quả. 

Chị Phùng Thị Hưởng- cán bộ xã Hoàng Nông dẫn chúng tôi đi thăm vườn bưởi Diễn của các hộ dân cho biết, Xã Hoàng Nông đang có 3 xóm là Cổ Rồng, Cầu Đá, Đoàn Kết với khoảng 119 hộ tham gia chuyển đổi làm kinh tế từ trồng lúa sang trồng bưởi Diễn. Những năm qua, xã Hoàng Nông đã tích cực phối hợp với các phòng chuyên môn của huyện Đại Từ để hỗ trợ người dân cây giống, tập huấn kỹ thuật chăm sóc và tiêu thụ sản phẩm cây ăn quả. Với hiệu quả ban đầu của cây bưởi Diễn đã được khẳng định, song để tránh việc trồng dàn trải, không đem lại hiệu quả như một số cây trồng khác, xã Hoàng Nông cũng như huyện Đại Từ đang tiến hành quy hoạch và tìm thêm đầu mối tiêu thụ để phát triển cây bưởi Diễn thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, góp phần tăng thu nhập cho người dân địa phương.

Bài: Ngân Hà - Ảnh: Khánh Long

1-10 of 30