Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Trăm năm thuyển thúng Phong Thành Cách đây chừng mươi năm, khi đi qua vùng đất Nghi Phong, dễ bắt gặp hình ảnh những dãy dài thuyền thúng úp ngửa dọc đường làng. Đó là sản ...
    Được đăng 02:17, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lao xao bến cá Cửa Hội Cảng cá Cửa Hội là một trong những cảng cá lớn của tỉnh Nghệ An,không chỉ đón tàu thuyền trong tỉnh mà còn phục vụ hậu cần, thu mua ...
    Được đăng 02:04, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Những vật dụng kỳ bí của thầy mo người Thái ở Nghệ An Một thầy mo người Thái có khá nhiều những vật dụng vừa kỳ bí, vừa mang tính quyền uy. Thầy mo Vi Văn Quỳnh trong trang phục và binh khí ...
    Được đăng 01:51, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mộc mạc những trò chơi của trẻ em vùng cao xứ Nghệ Không có nhiều sự lựa chọn và điều kiện như ở vùng trung tâm thị thành, niềm vui của những đứa trẻ nơi vùng cao Nghệ An là vùng vẫy ...
    Được đăng 01:45, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nhịp sống người Mông dưới chân núi Pu Xai Dưới chân núi Pu Xai, xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn là những bản người Mông với nhịp sống chậm rãi và lưu giữ những nét văn hóa cổ xưa ...
    Được đăng 01:36, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 16. Xem nội dung khác »


Trăm năm thuyển thúng Phong Thành

đăng 02:17, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan


Cách đây chừng mươi năm, khi đi qua vùng đất Nghi Phong, dễ bắt gặp hình ảnh những dãy dài thuyền thúng úp ngửa dọc đường làng. Đó là sản phẩm đang chờ xuất bán của người dân Phong Thành. 


Ông Phạm Văn Lý, người gắn bó với nghề đan thuyền thúng hơn 50 năm trầm ngâm nhớ lại: “Nghề ni du nhập vô làng dễ chừng hàng trăm năm. Như tui lớn lên đã thấy cha, thấy chú, bà con trong làng làm nghề rồi. “Cha truyền, con nối”, vừa bỏ bút là tui theo nghề. Học cách vót nan, cách đan mê, lận vành… thành thạo, đan thuyền thúng thành “cần câu cơm” của cả nhà. Nghề phụ mà thu nhập chính đó”. 

Thuyền thúng là phương tiện được ngư dân lựa chọn để đi câu, bủa lưới, khai thác hải sản gần bờ như hái rong, bắt sò, ốc, tôm, cua hoặc làm phương tiện qua lại ở cửa sông, cửa lạch nhỏ… Ở những bãi ngang, tàu thuyền đánh cá thường neo đậu ngoài biển, cách bờ vài chục mét, thuyền thúng là phương tiện trung chuyển hữu hiệu, đưa ngư cụ, ngư dân lên thuyền; vận chuyển tôm, cá, mực vào bờ. 

Thuyền thúng là phương tiện gọn nhẹ, cơ động, an toàn cho ngư dân hành nghề trong những ngày sóng yên biển lặng. Rồi các bãi biển thành điểm du lịch nổi tiếng, thuyền thúng nan là phương tiện chở khách du lịch tham quan dọc biển, chở khách đi câu mực đêm… 


Có cung ắt có cầu, ngư dân vùng biển Cửa Lò, Cửa Hội hay tận Diễn Châu, Quỳnh Lưu và cả các tỉnh lân cận đều tìm về Phong Thành đặt hàng. Có thời điểm, người dân trong làng làm không xuể. 

“Là do “tiếng lành đồn xa”, thuyền thúng Phong Thành chắc, bền, độ an toàn cao. Đó là “bí quyết” riêng của dân làng nghề. Công phu lắm. Nguyên liệu đan phải chọn loại tre đặc, không non nhưng cũng không được quá già. Sau khi chọn được thân tre ưng ý, mang về chẻ, vót nan và phơi nắng đủ độ thì đem đan thành mê. Sau khi đan mê, đóng 4 cọc làm trụ để tạo hình cho thuyền. Khó nhất trong các công đoạn làm thuyền thúng là khâu lận vành. Nó đòi hỏi người thợ phải có kỹ thuật cao, độ khéo léo và tính cẩn trọng. Tre làm vành phải là loại tre tốt; dây cột vành là dây cước chuyên dụng, có khả năng chịu nước tốt. Sau đó, thuyền thúng được mang đi phơi nắng. Sau khi phơi, dùng phân bò tươi, quấy nhuyễn với nước, đem phết đều lên nan thuyền nhằm làm kín các khe, chống thấm nước. Cuối cùng, quét đều 1 lớp nhựa đường rồi phơi khô”, anh Nguyễn Văn Thành, một người làm nghề đan thuyền thúng ở làng cho biết. 

“Nghề này (đan thuyền thúng) chúng tôi thường tếu táo là nghề “bán cột sống” vì suốt ngày ngồi vót nan, đan mê cùng với một tư thế xiêu vẹo, cột sống vì thế cũng biến dạng theo. 100% các công đoạn đều làm thủ công bằng tay nên hai bàn tay khi nào cũng chi chít sẹo, sẹo cũ chưa kịp lên da non đã có những vết cứa, vết nứt mới… Đôi tay chẳng khi nào lành lặn. Nghề lắm công phu, vất vả nhưng ai cũng say nghề, nhiều gia đình có đến 3-4 thế hệ làm nghề như gia đình ông Long, ông Lý, ông Hoa… Hồi đó, cả làng Phong Thành này có đến vài ba mươi hộ theo nghề. Trong làng lúc nào cũng rộn tiếng chẻ tre, tiếng vót nan. Vào mùa đi biển, đơn hàng nhiều, cả làng chong đèn đan thuyền thâu đêm”, anh Phạm Bá Thành, xóm phó, kiêm công an viên xóm Phong Thành cho biết. 


Cái nghề tạo nên cuộc sống ấm no và danh tiếng cho làng, một thời hưng thịnh nhưng, giờ đây, chỉ còn vài ba hộ bám trụ với nghề… 


“Nhà tui 3 đời theo nghề. Cha tui là ông Nguyễn Văn Long, một trong những người tiên phong đưa nghề về làng. Sau ông truyền lại cho 3 đứa con trai, trong đó có tui. Đến đời con tui, trong 6 đứa chỉ 1 đứa theo nghề cha ông, còn lại đều mưu sinh bằng nghề khác cả. Bởi nghề ni vất vả, dừ cũng khó tiêu thụ, công lênh chẳng được bao nhiêu. Đan 1 thuyền thúng, mất đến 5 ngày công, bán 1,5-2 triệu đồng/chiếc, trừ chi phí nguyên vật liệu, tính ra mỗi ngày được khoảng 200.000 đồng, xấp xỉ công phụ hồ. Thứ nữa, giá nguyên liệu cao, trong khi đó giá thành phẩm không tăng nên để bám trụ với nghề khá nan giải. Hầu hết, người dân trong làng đều đã bỏ nghề, chuyển sang làm thợ xây, phụ hồ, buôn bán nhỏ hoặc đi xuất khẩu lao động. Rồi nay, mai khi thuyền thúng nhựa chiếm lĩnh, thuyền nan không bán được thì cũng đành bỏ nghề mà thôi. Nghề mai một là điều tất yếu!”, ông Nguyễn Văn Hoa, nay đã 60 tuổi, có hơn 40 năm theo nghề chia sẻ. 


Ấy là ông nói vậy, hiểu vậy và chấp nhận vậy, nhưng nhìn cách ông ngồi đan mê với tất cả sự tỉ mẩn, say mê, tôi hiểu rằng, ông chẳng muốn bỏ nghề. “Cụng nỏ đành rời xa nghề ni. Những ngày không có hàng để đan, thấy buồn, đôi bàn tay như thừa thãi. Giờ thì dân chài tỉnh mình hầu hết đã chuyển sang dùng thuyền nhựa, chỉ đôi hộ còn dùng thuyền nan. Nhưng dân vùng trong vẫn chuộng thuyền nan lắm”. 

Ông biết thế là vì ông cùng con trai đã bỏ công, bỏ của lặn lội vào các xã miền biển tận Hà Tĩnh, Quảng Bình để tìm mối đặt hàng. Như năm nay, ông nhận đơn hàng của các hộ dân huyện Quảng Trạch (Quảng Bình) mỗi đơn 10 chiếc thuyền thúng, trung bình mỗi năm 5-10 đơn. Như vậy hai cha con ông có việc làm quanh năm. “Có mối làm ăn, có tiền trang trải cuộc sống và vui nhất là giữ được nghề”, – ông tâm tư. 


Ông đọc báo, xem tivi, biết được rằng, làng nghề đan thuyền thúng Thọ Quang, Sơn Trà (Đà Nẵng) có ông Phan Liêm đan thuyền thúng xuất khẩu sang các nước Anh, Pháp, Úc… Ông bàn với con, cuối tháng 5 này, vào đó một chuyến, xem “họ làm ăn thế nào”, biết đâu, tìm được bạn hàng, nhận được đơn đặt hàng, và rồi nghề đan thuyền thúng lại thịnh như xưa? Bởi cầu còn thì cung còn. Dẫu nghề có vất vả nhưng niềm say nghề, mong muốn giữ lửa nghề thì ông luôn sẵn… 


Trong cái nắng chói chang đầu hè, dáng hai cha con ông Hoa cần mẫn, tỉ mẩn chuốt nan, đan mê mặc mồ hôi ướt đầm lưng áo dễ hiểu đan thuyền thúng với cha con ông không chỉ là nghề kiếm cơm mà còn là “nghiệp” theo suốt cuộc đời. 

Những chiếc thuyền thúng quét nhựa đường đen bóng nằm úp phơi nắng trong vườn chờ ngày theo xe vào Quảng Bình phục vụ người dân, nghĩ về những dự định sắp tới của ông Hoa, hy vọng rằng, lửa nghề vẫn còn, nghề truyền thống trăm năm của người dân Nghi Phong còn được giữ… 

Bài: Thanh Phúc
Ảnh: Thanh Phúc – Sách Nguyễn – Ngọc Anh

Lao xao bến cá Cửa Hội

đăng 02:04, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cảng cá Cửa Hội là một trong những cảng cá lớn của tỉnh Nghệ An,không chỉ đón tàu thuyền trong tỉnh mà còn phục vụ hậu cần, thu mua hải sản cho các tàu cá tỉnh bạn. Mỗi sáng,cảng đều tấp nập đón thuyền về sau chuyến biển. 

Cảng cá Cửa Hội (phường Nghi Hải, Cửa Lò) trong buổi sáng tinh sương. Những con tàu lớn về từ giữa đêm sau khi giao cá xong nằm nghỉ ngơi yên bình bên dãy cầu tàu mới xây trong dự án nâng cấp cảng cá có giá trị hàng trăm tỷ đồng. . Ảnh: Trung Hà 


Những tàu về muộn thường neo phía ngoài, các khay cá được thuyền nhỏ và thuyền thúng chở vào bờ, bán cho thương lái ngay chân bến trong. Ảnh: Trung Hà 


Khách mua là thương lái có thể bán lại ngay tại bến hoặc tỏa đi các chợ trong tỉnh. Ảnh: Hải Vương 


Chuyển cá từ các thuyền thúng lên bờ. Ảnh: Hải Vương 


Cân bán hải sản ngay tại bến. Ảnh: Hải Vương 


Lao xao, chen vai thích cánh bán mua trong ban sớm. Ảnh: Hải Vương 


Mực mới đánh về tươi rói. Ảnh: Hải Vương 


Hải sản rất đa dạng, cá, tôm, cua, nhuyễn thể,... tươi ngon. Hải sản khu vực miền Trung được đánh giá là ngon nhất cả nước. Ảnh: Hải Vương 


Những thương lái thường thức dậy từ rất sớm để chờ thuyền về, chọn được những mớ hải sản tươi ngon. Ảnh: Hải Vương 


Một lão ngư trên con thuyền đã bán hết cá, chờ một chuyến ra khơi mới. Ảnh: Trung Hà 


Hải Vương - Trung Hà

Những vật dụng kỳ bí của thầy mo người Thái ở Nghệ An

đăng 01:51, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Một thầy mo người Thái có khá nhiều những vật dụng vừa kỳ bí, vừa mang tính quyền uy. 

Thầy mo Vi Văn Quỳnh trong trang phục và binh khí khi làm lễ. Ảnh: XuânThủy 


Thầy mo giữ vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng tâm linh của đồng bào Thái ở Nghệ An. Thầy mo được xem như là "cầu nối" giữa đấng siêu nhiên và con người. 

Gần đây, chúng tôi gặp thầy mo mùn Vi Văn Quỳnh (1946) ở bản Khe Sài 2 xã Nghĩa Lộc (Nghĩa Đàn) và được ông cho phép tìm hiểu về bộ đồ nghề bất ly thân gần 30 năm hành nghề. Người Thái có 2 ngành gọi là “mo một” và “mo môn” (mo mùn).

Mo mùn chuyên lo các việc xem giờ tốt xấu, đặt móng nhà, cưới hỏi, gọi hồn vía, xua đuổi tà ma yểm khiến trẻ con hay khóc... Khi đi làm lễ, thầy mo luôn mang theo chiếc túi đựng trong đó những đồ vật cần thiết cho buổi lễ. 

Trước khi làm lễ, thầy mo đội chiếc khăn trắng được gọi là “phái chước chạng” (dây trói voi) trên đầu. Khi mang dây này, thầy mo được cho là có sức mạnh trói được voi. Đây còn là trang phục để đấng siêu nhiên nhận biết đây là thầy mo, là người làm cầu nối trong buổi lễ. Trên mâm cúng luôn có một miếng vải trắng được gọi là “phen hoóng khài”, khăn này để trải vào mâm sau đó đặt các lễ vật lên trên.

Chiếc "dây trói voi" thầy mo thường buộc trên đầu khi làm lễ. Ảnh: Xuân Thủy 


Mỗi khi ngồi làm lễ, trên tay thầy mo luôn phe phẩy chiếc quạt (bì mo) để xua đuổi người khác lại gần, cũng như xua đuổi tà ma trong buổi làm lễ. Chiếc quạt được làm bằng giấy và nan tre. Trên quạt có những dòng chữ mà chỉ thầy mới biết ý nghĩa. 

Chiếc quạt làm phép của thầy mo Vi Văn Quỳnh. Ảnh: Xuân Thủy 


Khi bắt đầu lễ, thầy sẽ quàng chiếc khăn “mệ một" màu đỏ lên cổ. Đây là chiếc khăn được cho là của bà nội thầy mo để lại. 

Trong túi còn có nhiều chiếc chén nhỏ mang theo, mỗi chén tượng trưng cho một người thầy truyền nghề của mo và một cái chén riêng của chính thầy mo. Đây là một cách để thầy mo tưởng nhớ mang ơn công lao của các “pó khu” (thầy) đã dạy dỗ truyền thụ lại cho mình thành mo. 

Trong ảnh, ông Quỳnh có 4 người "pó khu" với 4 chén và một chén của ông. Ảnh: Xuân Thủy 


Trong túi còn có hai chiếc vòng bạc, hai đồng xu âm dương và sáp ong. Hai chiếc vòng bạc như là lá bùa hộ thân, hai đồng xu âm dương để xin đấng siêu nhiên có đồng ý hay là không đồng ý, còn sáp ong mang theo dùng để làm tên bắn ma quỷ và làm nến thắp trong mâm lễ. 

Ông còn mang theo chiếc sáo (pi một) được làm bằng nứa phải có tiếng trầm, trên sáo được thầy mo khắc những hoa văn rất cầu kỳ. Tiếng sáo dùng để đuổi tà ma, gọi hồn trở về với thân xác trong các nghi lễ. 

Cây kiếm là thứ thể hiện uy quyền, sức mạnh cũng như bản lĩnh của thầy mo. Kiếm thường được các thầy mo truyền lại cho học trò của mình. Ảnh : Xuân Thủy 


Ngoài ra mo còn mang theo cây kiếm gọi là “láp mùn”. Kiếm do thầy truyền nghề truyền lại cho học trò chính của mình qua các đời. Kiếm thầy mo thường được rèn riêng bằng thép và có in hoa văn. Chuôi kiếm được làm bằng gỗ tạc hình đầu hổ, vỏ kiếm được làm bằng gỗ pơ mu trạm trổ hình rồng phượng. Chiếc kiếm được dùng để đe dọa, xua đuổi ma quỷ, thể hiện quyền uy và sức mạnh cũng như bản lĩnh của thầy mo. 

Tất cả các đồ nghề được ông Vi Văn Quỳnh cho vào túi treo ở bàn thờ ở trong nhà. Bàn thờ được đặt trang nghiêm ở góc cao gian buồng, có chai rượu, khăn, kiếm thầy mo và áo của những người từng được ông làm lễ cho. Bên cạnh bàn thờ có chiếc cồng bằng đồng, mỗi khi có ai đến gọi ông phải đánh cồng 3 hồi 9 tiếng rồi khấn thần chú mới được cầm túi đi làm lễ.

Xuân Thủy

Mộc mạc những trò chơi của trẻ em vùng cao xứ Nghệ

đăng 01:45, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Không có nhiều sự lựa chọn và điều kiện như ở vùng trung tâm thị thành, niềm vui của những đứa trẻ nơi vùng cao Nghệ An là vùng vẫy nơi sông suối, cười vui với chiếc xích đu, cầu bập bênh, đu quay... tự tạo từ dây thừng, thanh tre, tấm ván gỗ. Đơn giản, mộc mạc nhưng đầy ắp tiếng cười. 

Không có điều kiện như trẻ em miền xuôi, những ngày nghỉ, trẻ em vùng cao xứ Nghệ thường chọn cho mình niềm vui nho nhỏ xung quanh bản làng với các trò chơi đơn giản. Ảnh: Đào Thọ 


Một số em tập trung bên những dòng sông, con suối thỏa sức tắm mát. Nhưng nó tiềm ẩn nguy cơ đuối nước khi không có người lớn giám hộ. Ảnh: Đào Thọ 


Những đứa trẻ người Mông ở xã Tam Hợp (Tương Dương) với trò chơi đu quay bằng dây thừng và khúc gỗ treo lơ lửng trên cây cao. Ảnh: Đào Thọ 


Sân trường là nơi được nhiều em chọn để đá bóng. Ảnh: Đào Thọ 


Pha tung người bắt bóng của cầu thủ chỉ có một...chiếc giày. Ảnh: Đào Thọ 


Những đứa trẻ không có người chăm sóc phải theo mẹ ra ruộng. Ảnh: Đào Thọ 


Nhiều em gái trổ tài thêu thùa bên hiên nhà. Ảnh: Đào Thọ 


Niềm vui của những đứa trẻ khi chiếc dép cũng chẳng còn nguyên vẹn trên chiếc xích đu tự tạo. Ảnh: Đào Thọ 


Chị em thơ thẩn chơi bên đường với những niềm vui đơn giản. Ảnh: Đào Thọ 


Nét hồn nhiên của trẻ em người Mông trên chiếc bập bênh tự tạo. Ảnh: Đào Thọ 


Đào Thọ

Nhịp sống người Mông dưới chân núi Pu Xai

đăng 01:36, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Dưới chân núi Pu Xai, xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn là những bản người Mông với nhịp sống chậm rãi và lưu giữ những nét văn hóa cổ xưa... 

Bản Buộc Mú xã Na Ngoi vốn dĩ rất gian nan về giao thông. Chỉ cách đây hơn 1 năm, chẳng ai nghĩ rằng sẽ có một con đường rải nhựa phẳng phiu đi qua nơi ở của cộng đồng người Mông này. Ảnh: Hồ Phương 


Dẫu vậy thì sự "lên đời" về giao thông dường như chưa mấy ảnh hưởng đến những nét xưa cũ tồn tại từ nhiều thế hệ trong cộng đồng. Dưới triền núi, cư dân nơi đây vẫn bố trí các ngôi nhà thành từng nhóm nhỏ hướng mặt vào nhau. Ảnh: Hồ Phương 


Cạnh những ngôi nhà này là kho thóc chung cho cả nhóm. Cách bố trí cư dân của dân bản Buộc Mú có phần khác lạ so với những bản người Mông khác. Ảnh: Hữu Vi 


Trên mỗi ngôi nhà đều có những chiếc dao gỗ. Đây là cách người Mông xua đuổi các thứ tà ma làm hại cuộc sống con người, theo như quan niệm của cộng đồng. Ảnh: Hữu Vi 


Phụ nữ Mông nấu rượu. Công việc này đã được những phụ nữ duy trì qua nhiều thế hệ. Ảnh: Hồ Phương 


Trong nhà người Mông ở đây, một cái bếp được đúc bằng đất sét là vật dụng quen thuộc. Tuy nhiên, hiện nay, cái bếp này không còn được sử dụng nữa. Ảnh: Hữu Vi 


Trên vách nhà, những người đàn ông treo khèn và các nhạc cụ khác của người Mông. Ảnh: Hữu Vi 


Nơi thờ tự của người Mông ở bản Buộc Mú được đặt giữa gian chính ngôi nhà. Ảnh: Hồ Phương 


Những chiếc chậu trồng hành trên mái nhà nhằm tránh vật nuôi thả rông phá hoại. Ảnh: Hồ Phương 


Người đàn ông của gia đình vừa từ trên rẫy về nhà vào lúc chiều muộn. Ảnh: Hồ Phương 


Cặp vợ chồng ở bản Xiềng Xí miệt mài với công việc khai hoang ruộng nước. Hai người chỉ ngơi tay khi con gà chuẩn bị lên chuồng. Ảnh: Hữu Vi 


Hồ Phương - Hữu Vi

Cuộc sống đơn sơ và bình yên ở bản “tột cùng” của người Khơ Mú

đăng 01:27, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Bản Ca Da là nơi định cư của người Khơ Mú, nằm cách trung tâm xã Bảo Thắng (huyện Kỳ Sơn) chừng 7 km. Đây được xem là bản “tận cùng” của huyện biên viễn Kỳ Sơn.

Bản Ca Da (xã Bảo Thắng - Kỳ Sơn) nằm bên dòng khe Com với hơn 100 hộ và 490 nhân khẩu, là nơi định cư lâu đời của cộng đồng dân tộc Khơ Mú. Tuy chỉ cách trung tâm xã 7 km, nhưng phải mất gần 1 giờ đồng hồ mới vào tới bản, bởi con đường dốc và trơn trượt, gập ghềnh. Ảnh: Đào Thọ 


Người dân Khơ Mú ở Ca Da chủ yếu sống cuộc sống tự cung tự cấp là chính. Nguồn thức ăn của họ chủ yếu dựa vào các sản vật đánh bắt được ở khe suối và trên nương rẫy. Trong ảnh: Đàn ông bản Ca Da săn cá suối. Ảnh: Đào Thọ 


Ngoài trồng lúa, một số hộ còn nuôi lợn đen để phát triển kinh tế và phục vụ lễ cúng trong gia đình. Lợn đen bản Ca Da được ưa chuộng bởi thịt thơm và săn chắc. Ảnh: Đào Thọ 


Do chưa có nhà văn hóa cộng đồng, nên những lúc muốn họp bản, trưởng bản phải báo hiệu bằng cách đánh trống cho mọi người tới nhà mình họp. Ảnh: Đào Thọ 


Người Khơ Mú nơi đây có thói quen trồng cây thuốc lá, chế biến để hút. Ảnh: Đào Thọ 


Một chàng trai Khơ Mú đốt lửa vót mũi tên dưới ánh lửa để chuẩn bị cho cuộc đi săn. Ảnh: Đào Thọ 


Phụ nữ Khơ Mú bản Ca Da với chiếc vòng trang sức bằng đồng độc đáo là món của hồi môn do bố mẹ để lại. Ảnh: Đào Thọ 


Đứa trẻ Khơ Mú hồn nhiên bên chiếc bát đựng thức ăn. Ảnh: Đào Thọ 


Trưa hè nắng nóng, dòng khe Com là nơi tụ tập của đám trẻ. Tất cả gợi lên một cuộc sống đơn sơ nhưng rất đỗi yên bình. Ảnh: Đào Thọ 


Đào Thọ

Cuộc sống “bộ lạc” giữa đại ngàn xứ Nghệ

đăng 01:13, 24 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Người dân vùng cao Nghệ An thường rời làng bản đi đến các vùng rừng hẻo lánh để lập trại sản xuất, sống cuộc sống tự cung tự cấp, tách biệt với thế giới bên ngoài. Họ được ví như “bộ lạc” giữa đại ngàn xứ Nghệ.

Những hẻm lũng hẻo lánh sâu trong đại ngàn là nơi nhiều người dân đồng bào Thái, Mông, Khơ Mú Nghệ An tìm đến để lập trại sản xuất. Có nhiều nơi được tổ chức như một khu dân cư đông đúc, nhưng cũng nơi chỉ 1-2 hộ thưa thớt. Trong ảnh: Khu trại của những hộ dân bản Huồi Thợ (xã Hữu Kiệm - huyện Kỳ Sơn). Ảnh: Đào Thọ 


Những nơi được chọn để dựng trại làm nương rẫy thường nằm cách xa khu dân cư cả buổi đi bộ, bởi chỉ có những địa điểm như vậy mới có đất tốt và không bị ảnh hưởng dịch bệnh của môi trường bên ngoài. Tại đây, những căn chòi tạm được dựng lên vừa làm nơi cư trú vừa là chỗ để chăn nuôi. Ảnh: Đào Thọ 


Trên những lán trại tạm bợ, họ thường ở lại hàng tuần để trồng lúa, ngô. Mọi khâu từ sản xuất đến thu hoạch đều diễn ra tại chỗ. Ảnh: Đào Thọ 


Tuy chăn nuôi ít dịch bệnh, nhưng những lúc dịch bùng phát, đường sá xa xôi, cách trở là một khó khăn lớn trong công tác phòng chữa cho gia súc. Ảnh: Đào Thọ 


Những chú lợn được đeo gông để tránh đi lung tung phá hại hoa màu. Ảnh: Đào Thọ 


Hàng ngày ngoài sản xuất, họ tranh thủ lên rừng, xuống suối kiếm những cây rau, con chuột, con cá trong tự nhiên về cải thiện bữa ăn. Ảnh: Đào Thọ 


Những kho đựng lương thực được dựng lên ngay giữa rừng để tiện bề thu hoạch. Ảnh: Đào Thọ 


Thời gian chính xác đối với nhiều người là một khái niệm mơ hồ nên tại đây những con gà trống chính là chiếc "đồng hồ" báo thức hữu hiệu nhất. Ảnh: Đào Thọ 


Một lão nông ở xã Yên Na (Tương Dương) "thâm niên" hơn 20 năm sống giữa rừng để sản xuất như thế, cho hay: "20 năm nay tôi vào rừng chăn nuôi sản xuất, trồng cây và tính trong ngần ấy thì chỉ có khoảng 1 năm là tôi về với vợ con, 19 năm còn lại là ở rừng". Băn khoăn là, tập quán "ở rẫy" ấy của đồng bào liệu có hệ lụy như thế nào đến an toàn sức khỏe, an ninh trật tự và công tác bảo vệ rừng? Vấn đề ấy cần sự quan tâm lưu ý của các cấp chính quyền sở tại. Ảnh: Đào Thọ 


Đào Thọ

Nét đẹp trang phục và trang sức của đồng bào Êđê

đăng 20:29, 21 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Người Êđê ở Dak Lak có nhiều nhóm địa phương khác nhau, nhưng đều giống nhau về hình thức trang sức và trang phục. Trang sức và trang phục của người Êđê mang những nét chung của nhiều cư dân vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Nữ mặc váy dài và có ngăn chui đầu. Nam đóng khố và mặc áo cánh dài quá mông. Nam, nữ đều thích mang nhiều trang sức như vàng, bạc, đồng…

Chiếc váy cổ truyền của người phụ nữ Êđê gọi là m’yêng. Đó là loại váy mở, màu đen đậm, quấn quanh thân, khi mặc váy phủ kín đến mắt cá chân. Chạy dọc phía dưới chân váy là những hoa văn hình hạt thóc, hạt bắp và đường lưỡng hà… với màu đỏ, kết hợp với màu vàng, màu trắng trông rực rỡ nhưng kín đáo. Căn cứ vào chất lượng vải và hoa văn trên váy, người Êđê có nhiều tên gọi khác nhau cho từng loại váy: m’yêng đêch, m’yêng drai, m’yêng kdru êch piek, m’yêng mut; trong đó m’yêng đếch là quý hơn cả (trước đây trị giá từ hai đến ba con trâu). Đó là những chiếc váy đẹp mà phụ nữ Êđê thường mặc trong những dịp lễ lớn của cộng đồng.

Thanh niên người Êđê trong trang phục truyền thống tại Lễ hội Văn hóa của cộng đồng. Ảnh: Minh Quân


Áo chui đầu truyền thống của phụ nữ Êđê (còn gọi là ao đêch) được thêu dệt các đường hoa văn ngang dọc ở vai, nách, cổ tay và phần gấu áo (các hoa văn này cũng giống như hoa văn ở váy). Đặc biệt ở áo chui đầu được thêu màu đỏ pha màu vàng, màu trắng làm nổi bật trên nền đen của thân áo. Có loại áo cổ vuông thấp bằng vai, đây là áo kín tà, hai vạt trước và sau bằng nhau. Có loại áo mở ở hai vai được đơm một hàng cúc bấm bằng đồng lấp lánh, có những tua chỉ màu đính vào vai áo, trông rất duyên dáng.

Phụ nữ Êđê thường búi tóc ở đằng sau gáy, cài trâm bằng đồng hoặc ngà voi. Trâm có loại thẳng, có loại hình chữ U. Phụ nữ Êđê có hai kiểu chít khăn: kiểu chít khăn ra đằng sau gáy, kiểu chít khăn ra trước trán vận chéo hình chữ nhân. Các bà, các chị thường đeo vòng bạc hoặc chuỗi hạt trong những dịp lễ hội của cộng đồng, tạo nét đẹp duyên dáng, kín đáo.

Đàn ông Êđê thường có tập quán mang khố (k’pin). Khố màu đen được dệt bằng sợi bông xe săn. Trên mặt khố có nhiều đường hoa văn chạy dọc theo hai bên mép vải, ở hai đầu khố có tua dài khoảng 25 cm. Người Êđê căn cứ vào dải hoa văn trên khố mà đặt tên cho từng loại khố: khố ktek, khố drai, khố bông, khố mlang; trong đó trị giá nhất là khố ktek, khố drai (xưa kia mỗi cái trị giá từ hai đến ba con trâu).

Áo của đàn ông Êđê là áo dài tay, chui đầu, cổ áo hình chữ V. Đây là loại áo lửng che kín mông, buông dài đến điểm giữa đùi và đầu gối, thân sau dài hơn thân trước. Áo cánh của đàn ông Êđê thường mặc trong các dịp lễ hội được trang trí cầu kỳ hơn. Loại áo này giữa ngực được mở ra một khoảng dài từ 10-15cm, có đính hàng khuy đồng, khuyết khuy áo được bện bằng chỉ đỏ. Hai mảng ngực áo được trang trí bằng hai mảng hoa văn màu đỏ rực hình cánh chim đại bàng, tượng trưng cho khí phách và khát vọng chinh phục thiên nhiên của người Êđê. Gấu áo được viền chỉ màu đính cườm trắng và tua chỉ màu đỏ dài khoảng 15 cm. Áo này có tên gọi là ao đêch kwich gru, thường được mặc trong dịp lễ hội, cưới hỏi, mừng nhà mới… Mùa lạnh, đàn ông Êđê thường khoác thêm chiếc mền (a băn) dệt bằng sợi bông, màu nâu chàm, có trang trí hoa văn ở hai đầu (giống hoa văn ở khố). Khi ra khỏi nhà, dự lễ hội, hay đi thăm bà con ở buôn xa, họ thường đeo gùi, ngậm tẩu, đó cũng là cách làm nổi bật bộ trang phục cổ truyền. 

Đàn ông Êđê thường đeo vòng đồng hoặc vòng bạc ở cổ tay, khi có lễ hội của cộng đồng. Người cao tuổi của những gia đình khá giả thường đeo chuỗi hạt ở cổ và ngà voi ở tai, thể hiện vẻ đẹp quyền quý.

Ngày nay, do ảnh hưởng của cuộc sống đương đại, trang phục, trang sức truyền thống của người Êđê tuy có phần bị mai một, nhưng chúng ta vẫn gặp những bộ trang phục, trang sức này của các amí, ama trong các dịp lễ hội truyền thống của cộng đồng dân tộc Êđê. Nó thể hiện bản sắc độc đáo của đồng bào Êđê, cần được gìn giữ, phát huy trong thời kỳ hội nhập.

Trương Bi

Nét riêng biệt trong trang phục truyền thống của người Ê Đê

đăng 20:23, 21 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Đến với Tây Nguyên hùng vĩ, ai cũng ngưỡng mộ trước một không gian văn hóa dân gian vô cùng sống động, phong phú, đa dạng của các dân tộc cư trú ở vùng cao nguyên này. Các nền văn hóa dân gian ấy thống nhất trong sự đa dạng, tạo thành một bức tranh văn hóa đặc sắc. Một trong những nét riêng biệt ấy phải kể đến trang phục – nét cốt cách của người Ê Đê ở Tây Nguyên.

Để tạo ra những sản phẩm trang phục độc đáo này, người phụ nữ Ê Đê sử dụng khung dệt cổ truyền để dệt vải. Họ dệt ra những tấm vải để rồi từ đó làm ra váy, áo, khố, mền hoặc địu... thông qua kỹ thuật khâu đáp, khâu viền. Người Ê Đê (cả nam và nữ) đều có các kiểu mặc như choàng quấn, chui xỏ.


Trang phục của phụ nữ... và của nam giới người Ê Đê hiện nay.


Nữ váy tấm, áo chui...

Ở trang phục nữ, người Ê Đê mặc miếng (váy tấm) bằng thao tác choàng quấn quanh eo, che nửa thân dưới. Đó là một tấm vải hình chữ nhật, chiều rộng quấn trục thân dài khoảng 1,3m, chiều dài buông xuôi khoảng gần 1m. Khi mặc, gấu váy có thể buông dài tới mắt cá chân. Mép ngoài ở đầu trên, quần đè dang sườn bên phải. Ao mniê (áo nữ) là loại áo chui đầu (xẻ ngang bờ vai trái sang vai phải), ôm sát vào thân (không rộng thùng thình, cũng không may bó), buông xuôi tới thắt lưng, vạt trước và sau bằng nhau, không hở tà, có loại dài tay, ngắn tay và cộc tay. Váy và áo đều bằng vải sợi bông xe xăn, nhuộm màu xanh chàm ngả đen. Trên nền váy và áo bao giờ cũng có vài dải hoa văn dệt, bố cục nằm ngang (vòng ngang trục thân). Màu chủ đạo của hình họa và những đường diềm trang trí là đỏ, trắng, vàng. Căn cứ vào số lượng và chất lượng các dải hoa văn trên váy, áo, người Ê Đê phân biệt cho từng loại váy, áo như: miêng dec, miêng kdruêc piêk, miêng bơng...; ao dec, ao dêc kuưk grưh, ao Jik, ao băl...

Trong khoảng từ giữa thế kỷ XX trở về trước, nữ giới còn phổ biến để tóc dài và búi thành búi ở đằng sau gáy rồi cài trâm bằng gỗ, đồng hoặc ngà voi. Họ thường có 2 cách chít khăn để che mái đầu: đặt chéo chữ nhân trước trán rồi bít về phía sau như kiểu chít ở phụ nữ Chăm; hoặc bịt khăn tròn qua trán rồi thả 2 bên ra đằng sau để ôm lấy búi tóc. Đồ trang sức phổ biến có vòng đồng hay vòng bạc rỗng đeo ở cổ tay; dây hột bột, dây hạt cườm hay mã não quàng quanh cổ, buông chùng trước ngực áo. Một số người đeo nhẫn, mang bông tai. Phụ nữ nhóm Bih còn mang vài đôi vòng bằng chì hay đồng mạ kền ở cổ chân, có chiếc nón đan đội đầu, gọi là duôn bai, có quai giữ ở dưới cằm. Họ thường đi chân đất, khi rời khỏi buôn, luôn mang ở sau lưng một chiếc bung (gùi) với đề bằng gỗ vuông, cao khoảng một gang tay.

Nam đóng khố, mặc áo tấm

Trong xã hội cổ truyền, còn rõ nét từ thế kỷ XX về trước, đàn ông Ê Đê thường vận kpin (khố). Đó là một dải vải dệt, khổ rộng khoảng gần 30 cm, dài ngắn tùy vào địa vị xã hội. Khổ thường phục dài khoảng 3m. Khố vận theo lễ phục, có cái dài đến ngoài 5m, khố của nhà giàu dài tới 7m. Khố được vận bằng cách cuốn vòng quanh eo rồi luồn qua háng. Một đầu khố được thả buông mành ở phía trước, đầu còn lại giắt mối bên sườn. Khố thường phục có các loại như: kpin bơng, kpin băl, kpin mlang... Hai đầu cùng ở khố thường phục đều không có tua. Dọc theo 2 mép vải được trang trí vài đường diềm đơn giản với các màu thường gặp: đỏ, vàng, trắng hay xanh lơ. Khố dùng trong nghi lễ có bề ngang rộng hơn (khoảng 35-40cm) và 2 dải dọc trang trí ở đường diềm cũng rộng bản hơn. Đặc biệt tại 2 đầu cũng đều thả tua dài (khoảng 25-40cm). Người ta khâu đáp một dải hoa văn trang trí nằm ngang rất bắt mắt ở 2 đầu khổ, chỗ bắt đầu thả tua. Khi vận loại khố dài này, người ta buông mành 2 đầu cùng cả về phía trước và phía sau, đồng thời bỏ mối mắc võng bên sườn phía phải. Khố nghi lễ cũng có nhiều loại như: kpin kteh, kpin drai, kpin kdruêc piêk... ngang giá với 1-3 con trâu.

Ao êkei, tấm áo cổ truyền của nam giới Ê Đê cũng là một loại áo chui đầu, nhưng rộng, dài hơn áo nữ, cổ khoét tròn nghiêng về phía trước rồi xẻ xuống một đoạn giữa ngực. Ao êkei cũng có cái dài tay, ngắn tay và ao kok (áo cộc tay). Ngoài ao kok, thường phục là áo băl hay ao bal băl. Áo lễ phục luôn có tay dài, vạt sau dài hơn vạt trước. Vạt trước che hết bụng dưới, vạt sau che hết mông, hở tà. Riêng vạt sau để tua dài khoảng gần 20 cm. Chỗ xẻ dọc ở phần ngực áo, người ta đính một mảng chỉ đỏ (đã được bện thành lọn) có hình thang cân, đáy dài ở trên gọi là kiêr nuh. Mảng trang trí ấy được hiểu là “cánh chim đại bàng”. Gấu áo cũng được đính một dải hoa văn nằm ngang thêu rất bắt mắt bằng kỹ thuật kteh. Những ngày giá lạnh, một số người già thường khoác thêm trên mình một tấm mền.

Nhận xét về loại trang phục này, TS Buôn Krông Tuyết Nhung- Trưởng bộ môn Ngôn ngữ Trường ĐH Tây Nguyên cho biết: “Cộng đồng người Ê Đê tuy có nhiều nhóm địa phương như: Kpă, Adham, Mdhur, Krung, Ktul, Hwing..., nhưng đều có chung một mô-típ, một cốt cách trong trang phục cổ truyền. Cốt cách đó tuy có những nét riêng biệt nhưng lại hòa chung trong một truyền thống về cách dệt, may của các dân tộc người ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên”...

TRÍ TÍN

Độc đáo làng nghề chế tác từ đá ong

đăng 19:16, 21 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Với những sản phẩm mang nét cổ kính pha lẫn chút nghệ thuật được chế tác từ đá ong đã giúp cho huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội trở nên nổi tiếng từ Bắc vào Nam với nghề gạch đá ong. 

Khác hẳn với gạch đất nung phải qua lò nung, gạch xỉ than phải trộn lẫn một số vật liệu như xỉ than và vôi bột, gạch đá ong chỉ việc đào từ khu đất đá ong lên. Hầu hết người dân Thạch Thất đều biết thuốn gạch đá ong, nhưng thợ khai thác đá ong thì không nhiều. 

Cổng đình làng Yên Mỹ, xã Bình Yên . 


Để được một viên đá hoàn chỉnh, người thợ cần phải trải qua các công đoạn và kỹ thuật cầu kỳ. Đầu tiên sẽ bắt đầu bằng việc thăm dò mỏ đá. Thường thì việc khai thác đá ong được đào ở ruộng lên hay ở đồi. Người ta dùng thuổng đào, nhấc lên đâm xuống liên tục để lấy lên tảng đá ong 10 - 12 kg. 

Nghệ nhân Nguyễn Văn Dũng đang chế tác đá ong . 


Theo những người thợ có thâm niên làm nghề thì có 3 lớp đá được khai thác để làm gạch đá ong là đá sản, đá thăn và đá chân. Trong đó, đá thăn là loại đá tốt nhất vì nó được đào ở độ sâu 1 - 1.5 m, trung bình 1 ngày người ta chỉ đào được 18 - 22 viên và sau đó dùng cách đẽo để gia công. Gạch đá ong có vẻ đẹp tự nhiên và tiện ích cũng khá đặc biệt. 

Nghệ nhân Trần Văn Nghiêm tạc đá ong thành voi khổng lồ . 


Người dân xã Bình Yên khai thác gạch đá ong. 


Đi qua một số xã của huyện Thạch Thất như Đông Trúc, Hạ Bằng, Tân Xã, Bình Yên, Cần Kiệm, Kim Quan... sẽ thấy có một điều đặc biệt là các nhà đều thiết kế theo tường nhà gạch đá ong được xây không phải bằng vôi vữa, xi măng mà gắn mạch bằng đất màu hoặc đất trộn trấu nhào kĩ nhưng lại vô cùng chắc chắn với chiều rộng 1 m, cao 2 m và dài 3 - 5 m. Hay một nơi mà người ta không thể không rẽ qua thăm nếu muốn tìm hiểu thêm về nghề làm gạch đá ong và chiêm ngưỡng tác phẩm nghệ thuật bằng gạch đá ong là đình làng Yên Mỹ, xã Bình Yên với trụ cao 10 m.

Đá ong được tạc thành cột đèn trang trí . 


Hỏi thăm về nghệ nhân nổi tiếng trong chế tác gạch đá ong, chúng tôi được chỉ đường đến gặp nghệ nhân Nguyễn Văn Dân - chủ một cơ sở làm gạch đá ong ở thôn Yên Mỹ, xã Bình Yên, Thạch Thất, Hà Nội. Với đôi bàn tay khéo léo cùng 12 năm kinh nghiệm trong nghề chế tác gạch đá ong, anh Dân đã tạo ra những tác phẩm nghệ thuật mang vẻ đẹp tự nhiên từ vật liệu thô sơ này. Khéo léo, cẩn thận, tỉ mỉ trong từng chi tiết thuốn gạch chỉ bằng một chiếc thuổng sắt mà các tác phẩm nào là rồng, voi, hổ, báo, sư tử đến trâu, gà, heo hay đến những chiếc đèn cổ, cổng chùa đều được anh chế tác ra giống như thật từ bàn tay tài hoa của mình. Anh tâm sự: “Ngày xưa thì người dân vùng này lấy gạch đá ong để xây nhà còn giờ đây gạch đá ong lại được dùng để chế tác ra một số sản phẩm dành cho người nhà giàu”.

Để được một viên đá hoàn chỉnh phải qua nhiều công đoạn. 


Người dân Thạch Thất, Hà Nội coi đá ong là biểu trưng cho tâm hồn, cốt cách, nét văn hóa không thể thiếu trong đời sống tâm linh của mình.

Lê Linh

1-10 of 16