Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Lễ hội Rija Praung của người Chăm Lễ hội Rija Praung được tái hiện tại Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô - Sơn Tây (Hà Nội) đã thu hút được đông đảo du ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Đám cưới người Giáy ở Tả Van Những phong tục cổ trong đám cưới được người Giáy ở xã Tả Van (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) gìn giữ cho tới ngày nay. Người Giáy xem đám ...
    Được đăng 07:55, 25 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lễ cầu mưa của đồng bào Gia Rai ở Tây Nguyên Vào tháng 3 – 5 hàng năm, khi Tây Nguyên vào mùa khô khát, đồng bào dân tộc Gia Rai ở tỉnh Kon Tum lại tiến hành làm lễ cầu mưa ...
    Được đăng 21:27, 22 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bình vôi trong văn hóa Việt Không đơn thuần là một vật chứa vôi phục vụ tập tục ăn trầu, bình vôi trải qua bao đời còn có mối liên hệ khăng khít với truyền thống ...
    Được đăng 20:40, 20 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lễ Dâng y Kathina Lễ Dâng y Kathina theo quan niệm của Phật giáo Nam Tông là việc Phật tử dâng y áo (áo cà sa) và các vật phẩm lên các nhà sư ...
    Được đăng 18:28, 20 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 23. Xem nội dung khác »


Lễ hội Rija Praung của người Chăm

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Lễ hội Rija Praung được tái hiện tại Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô - Sơn Tây (Hà Nội) đã thu hút được đông đảo du khách tới tìm hiểu. Rija Praung là một lễ hội thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của tộc họ đối với thần linh, thượng đế, đất trời đã giúp người Chăm ở Ninh Thuận vượt qua bệnh tật. 

Lễ hội Rija Praung là lễ hội múa lớn nằm trong hệ thống lễ hội dân gian của người Chăm, gắn bó chặt chẽ với nghệ thuật múa Chăm đặc sắc. Đây là lễ hội do tộc họ tổ chức, có ảnh hưởng của văn hóa Hồi giáo từ Malaysia. 

Theo tín ngưỡng của đồng bào Chăm ở Ninh Thuận, khi trong tộc họ có người bị bệnh tật, gặp phải tai ương, đã chữa trị bằng nhiều phương cách nhưng không khỏi thì người Chăm tổ chức lễ Rija Praung để cầu mong thần linh, tổ tiên phù hộ cho người bệnh tai qua nạn khỏi.

Ngoài ra, người Chăm còn tổ chức lễ Rija Praung để tôn chức vũ sư cho bà vũ sư dòng họ, hoặc khi các nghệ nhân đánh trống Baranưng, trống Ginăng, hay nghệ nhân thổi kèn Saranai… thăng quan, tiến chức. 

Vị sư cả người Chăm chuẩn bị các lễ vật để dâng lên tổ tiên, thần linh và thượng đế trong lễ hội Rija Praung.


Mân cơm được dâng cúng lên tổ tiên và các vị thần.


Tái hiện cảnh dân làng đội lễ dâng lên các vị thần.


Những người phụ nữ Chăm đội lễ lên đền thờ trong lễ Rija Praung.


Thuyền giấy là lễ vật không thể thiếu trong nghi lễ dâng lên các vị thần và thượng đế.


Nghi lễ múa dâng “thôn Hala" mở đầu buổi lễ Rija Praung.


Nghi thức cúng thần biển (Atuw tathi) trong lễ Rija Praung.


Sư cả và bà bóng tiến hành nghi lễ cúng tâu lên các vị thần linh và thượng đế.


Sư cả làm lễ trong nghi lễ Palao Ahaok.


Bà bóng cầu nguyện với thần linh trong nghi lễ Paradi Atuw.


Đối trống lễ của người Chăm trong lễ Rija Praung.


Một nghi thức múa thể hiện âm dương giao hòa khá vui nhộn ở lễ hội.


Nghi thức múa dân gian nện Cột Du trong lễ hội.


Điệu múa bắt cá vui nhộn của người Chăm ở lễ hội Rija Praung. 


Trong lễ Rija Praung, người Chăm phải làm hàng trăm cây nến sáp ong, trong đó có hàng chục cây nến lớn. Trong nhà lễ có bục giảng kinh và treo một vuông vải trắng gọi là “lam linh”, tượng trưng cho bầu trời và là nơi trú ngụ của thần linh. Cứ mỗi lần vũ sư học xong một điệu múa, lại có lễ ăn phép.

Điều đặc sắc là lễ hội Rija Praung chứa đựng một tập hợp những điệu múa thiêng và múa truyền thống dân gian Chăm. Lúc thực hiện nghi lễ dâng trầu thì có múa dâng “thôn hala”, lúc múa đồng thì có các điệu Biyen, Chahya, điệu Patra, lễ múa xít đu…

Lễ hội Rija Praung kết thúc với phần tiễn đưa thuyền ra sông về với biển, đúng với ý nghĩa của lễ hội được tổ chức từ ngàn xưa đến nay. Rija Praung là một lễ hội do dòng họ tổ chức, nhưng chứa đựng trong nó là cả một không gian văn hoá đậm chất dân gian Chăm. 

Bài & ảnh: Trịnh Bộ

Đám cưới người Giáy ở Tả Van

đăng 07:55, 25 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Những phong tục cổ trong đám cưới được người Giáy ở xã Tả Van (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) gìn giữ cho tới ngày nay. Người Giáy xem đám cưới là ngày hội vui và họ tin rằng đám cưới càng tổ chức lớn, càng đông vui thì hạnh phúc của đôi trai gái càng được bền lâu. 

Trước khi diễn ra lễ cưới, đôi trai gái người Giáy phải trải qua một số nghi lễ theo phong tục như: “Thả mối mai” (dạm hỏi) và “mai mối lại” (mặc cả). Hai nghi lễ này chủ yếu bàn việc hôn nhân của đôi trẻ. Khi đã tìm được ngày tốt, nhà trai nhờ ông mối, bà mai đến nhà gái thông báo ngày giờ đón dâu.

Lễ đón dâu của người Giáy là tục lệ khá cầu kỳ và nhiều nét độc đáo. Đoàn đi đón dâu bao giờ cũng đủ các thành phần gồm có đội “pí lè” bốn người, hai cụ già, chú rể, phù rể, hai cô gái, một chàng trai dắt ngựa cho cô dâu và một đoàn người để gồng gánh lễ vật.

Khi nhà trai đi đón dâu đến cổng nhà gái sẽ phải trải qua lễ giữ là bị chặn ngang bởi sợi chỉ hồng, mấy cành gai cản lối. Sau đó là chiếc bàn với đôi chén, hai chai rượu, hai chậu nước lã với hai chiếc chổi rơm chặn cửa để làm phép.

Qua lễ giữ, nhà trai lại trải qua một tục lệ rất thú vị. Muốn qua được “cửa ải” này, nhà trai cần phải biết hát đối đáp với nội dung xin nhà gái bỏ tấm vải hồng cấm ngay đường vào. Sau khi vào nhà, nhà gái đem phẩm đỏ đánh dấu lên má từng người của nhà trai.

Sợi dây hồng cùng bàn lễ bày ngay trước cửa nhà gái để chuẩn bị đón nhà trai sang rước dâu.


Rượu, nước lã và mấy cái chén làm bằng thân tre đặt trên bàn lễ.


Nhà trai trên đường đi tới nhà gái đón dâu.


Đội pí lè trong đoàn đón dâu của nhà trai.


Đoàn rước dâu vừa đi vừa nổi nhạc thể hiện niềm vui mừng.


Nhà gái hát đối khi nhà trai tới đón dâu.


Nhà trai hát đối lại.


Gia đình nhà gái bôi phẩm đỏ lên mặt các thành viên trong đoàn nhà trai.


Nhà trai trao lễ vật ngày cưới cho nhà gái. 


Hết phần lễ trong lễ trao dâu là đến bữa tiệc chung vui tại nhà gái. Trong mâm cỗ, mỗi người có mặt sẽ chúc mừng cô dâu chú rể bằng những chén rượu cùng những làn điệu đối đáp đượm nghĩa tình.

Cuối bữa tiệc, nhà gái sắp một mâm dài mời ông, bà, bố mẹ, họ hàng của người con gái đến ngồi bên ông mối nhà trai làm lễ xin dâu. Hai họ lại dùng những câu hát để nhắc nhở dặn dò đôi trai gái.

Nhà trai hát: “Phải phải đấy, đúng đúng đấy, bên ngoại, giờ tốt bên nội sắp tới rồi, nào ta hãy sẵn sàng, nào ta hãy đứng dậy...”. Và bên nhà gái hát đối lại: “Phải phải rồi, đúng đúng rồi, hai người mai mối, giờ tốt bên nội tới, cha mẹ xin một lời dặn con, từ nay trở về sau, đi bùn đừng tránh lội, chớ dối lời bạn thương, đừng cười người chồng mình, ban đêm nên thức khuya, buổi sáng cần dậy sớm...”.

Người Giáy quan niệm làm dâu là một việc khó, chính vì thế các lời hát trong nghi thức trao dâu là những lời tâm sự, dạy bảo chân thành của mọi người đối với cô dâu. Những lời dạy bảo này sẽ giúp cô dâu ứng xử tốt hơn với họ hàng nhà chồng, nhất là bố mẹ và anh em của chú rể. Sau khi đã xong thủ tục xin dâu, cô dâu đi từ buồng ra cùng chú rể đến trước bàn thờ cúi lạy tổ tiên.

Cô dâu được chị gái chuẩn bị trang phục trong ngày cưới.


Chú rể dùng ngựa giấy đi đón cô dâu.


Nhà trai cử một người phụ nữ to khỏe cõng cô dâu về nhà trai.


Cô dâu chú rể được thầy cúng dùng nước té lên người để đuổi tà ma trước khi lên đường sang nhà trai.


Cô dâu được nhà trai đón về nhà làm lễ.


Chú rể mở tấm khăn đỏ khi đón cô dâu về phòng cưới.


Cô dâu về nhà chồng, cởi băng đỏ cho chú rể. 


Khi đón cô dâu về tới nhà trai, trước khi cô dâu vào nhà, thầy cúng bên nhà trai chuẩn bị gà, rượu, hạt thóc, ngô, lá khô băm, chậu nước phép tung qua người cô dâu để trừ tà. Bởi theo quan niệm của người Giáy, trên đường đi có thể cô dâu sẽ bị ma xấu đi theo, sau đó cô dâu mới được vào nhà trong làm lễ tổ tiên. Cuối cùng, cô dâu và chú rể vào buồng bỏ khăn che mặt, tháo băng đỏ và chính thức là vợ chồng.

Bài & ảnh: Trịnh Văn Bộ

Lễ cầu mưa của đồng bào Gia Rai ở Tây Nguyên

đăng 21:27, 22 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Vào tháng 3 – 5 hàng năm, khi Tây Nguyên vào mùa khô khát, đồng bào dân tộc Gia Rai ở tỉnh Kon Tum lại tiến hành làm lễ cầu mưa xin các thần linh ban mưa xuống. Lễ hội đặc sắc này vừa được phục dựng tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội để phục vụ khách du lịch và công chúng tìm hiểu.

Theo những già làng đến từ các buôn người Gia Rai cho biết, trước khi làm lễ cầu mưa, bà con tổ chức họp và phân công nhiệm vụ cho các thành viên. Nhiệm vụ của đàn ông là lên rừng khai thác nguyên vật liệu để làm cây nêu và đi phát dọn ngoài bờ suối nơi tiến hành làm lễ cầu khấn các thần. Còn phụ nữ thì đi hái các loại rau rừng để chế biến các món ăn truyền thống dùng trong tiệc rượu của lễ hội.

Sau khi công tác chuẩn bị đã hoàn tất, già làng đánh trống tập trung toàn bộ dân làng đến nhà rông để làm lễ khấn thần linh. Tại đây, già làng sẽ cùng các thanh niên to khỏe lấy tiết các con vật hiến sinh (thường là lợn, gà) cùng ghè rượu cần linh thiêng để bắt đầu làm lễ tế. Già làng sẽ lấy phần gan và tiết của con vật hiến tế đặt trên tai ghè rượu cầu khấn các thần linh, vừa khấn già làng vừa rót rượu vào bầu nước đã đập vỡ một nửa, đồng thời lúc này dân làng hú to vang dội cả núi rừng.

Già làng tiến hành nghi lễ khấn thần linh tại nhà rông.


Sau khi làm lễ tại nhà rông, già làng cùng dân làng đi ra bờ suối để tiến hành làm lễ ở cây nêu.


Lễ vật cúng tế ở ngoài bờ suối là một con gà trống được cột vào cây nêu.


Già làng chọn một thanh niên khỏe mạnh để cột vào cây nêu cùng con gà trống để làm lễ tế.


Chàng thanh niên to khỏe đang được già làng cột vào cây nêu.


Dân làng tiến hành nghi lễ dùng tay té nước vào con gà và chàng thanh niên to khỏe.


Sau khi làm lễ xong tại bờ suối, người dân tiếp tục quay lại nhà rông để làm lễ.


Thanh niên trai tráng trong bản đánh trống mừng lễ hội cầu mưa.


Dân làng mở hội múa hát mừng lễ cầu mưa. 


Làm lễ tại nhà rông xong, già làng cùng dân làng mang cây nêu và một con gà trống ra bờ suối tiến hành làm lễ dựng cây nêu. Dân làng tập trung xung quanh cây nêu. Tại đây, già làng buộc con gà và một người thanh niên khỏe mạnh vào cây nêu rồi tiến hành nghi lễ cầu khấn các thần linh phù hộ cho được hạt mưa to để trồng trọt, để có nước uống, cơm ăn và dân làng được khỏe mạnh.

Tiếng cầu khấn của già làng vừa dứt, toàn thể dân làng sẽ tập trung xuống bến nước, dùng tay tát nước vào con gà cho đến chết, riêng người thanh niên bị buộc vào cây nêu thì phải chạy vòng quanh cho đến khi dây đứt mới được về. 

Kết thúc lễ cầu mưa là bài khấn tạ ơn của già làng tại nhà rông. Lời khấn có đoạn như sau: “Ơi thần núi, thần nước, thần sấm, thần sét... Chúng tôi kính mời các thần linh xuống uống rượu cùng ăn thịt heo, thịt gà và phù hộ cho dân làng được khỏe mạnh, cho dân làng cái mưa để sản xuất, có cơm ăn, vật nuôi đầy sân...”

Sau khi làm lễ cầu khấn xong, dân làng cùng nhau mở tiệc liên hoan đến khi mặt trời xuống núi, rượu nhạt, người say mới về nhà nghỉ ngơi. Lễ hội cầu mưa là một nét đẹp văn hóa truyền thống của người Gia Rai cho đến nay vẫn còn được lưu giữ, thể hiện sự tin tưởng mãnh liệt vào trời đất và ước nguyện của con người mong muốn cuộc sống được ấm no, hạnh phúc.

Bài: Quỳnh Anh - Ảnh: Trịnh Bộ

Bình vôi trong văn hóa Việt

đăng 20:40, 20 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Không đơn thuần là một vật chứa vôi phục vụ tập tục ăn trầu, bình vôi trải qua bao đời còn có mối liên hệ khăng khít với truyền thống và văn hoá, đặc biệt sự tích trầu cau và tục ăn trầu của người Việt.

Không chỉ với người Việt, ăn trầu còn là một tập tục xuất hiện từ rất lâu đời ở khu vực Đông Nam Á. Miếng trầu còn là cầu nối trong các mối quan hệ xã hội ở mọi cấp độ. Ca dao Việt Nam có câu: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, nhất là trong dịp cưới hỏi, trầu cau bao đời nay đã là một hình thức tượng trưng cho ước nguyện gắn bó bên nhau son sắt trọn đời của đôi trẻ. Các cụ hai bên gia đình sẽ ăn trầu, quét vôi với cau tươi, từ đó mà bình vôi lần lượt ra đời, cái nhỏ có thể bỏ trong bóp, khay cho đến những cái lớn có thể chứa cả mấy ký vôi. 

Bình vôi thường có hình cầu, trên thân bình có một miệng nhỏ, nơi để lấy vôi từ bình ra bằng chiếc chìa vôi. Mỗi khi chiếc chìa vôi đi qua miệng bình, hoặc do chủ ý của người sử dụng mà vôi bị quệt lại miệng bình. Theo thời gian, miệng bình sẽ dày lên hình thành cổ bình, thậm chí lấp kín miệng bình, đó cũng là lúc bình vôi không còn sử dụng được nữa. Trong đời sống các gia đình Việt Nam, bình vôi thường được sử dụng nhiều trong sinh hoạt hàng ngày. Khi đã sử dụng lâu, vôi trong bình cứng hoặc bình rạn nứt thì chủ nhà sẽ mua bình mới. Bình vôi cũ được mang ra đặt cạnh các cây đa cổ thụ hoặc cạnh miếu thờ, đền thờ…

Bình vôi có niên đại từ thời nhà Lý (1009 - 1225).


Bình vôi có niên đại từ đầu thời nhà Trần (1226 - 1400).


Bình vôi thể hiện sự giao lưu văn hóa Trần – Chăm-Pa, giai đoạn công chúa Huyền Trân được vua Trần gả cho vua Chăm-Pa đầu thế kỷ 14.


Bình vôi có niên đại nhà Mạc (1527 - 1592).


Bình vôi còn vôi có niên đại từ thời Hậu Lê (1427-1789) làm bằng đất nung.


Bình vôi có niên đại từ thời nhà Nguyễn (1802-1945).


Bình vôi bằng gốm Cây Mai còn nguyên màu men xanh đặc trưng.


Màu men gốm trên bình vôi vẫn còn nguyên qua hàng trăm năm.


Bình vôi có kích cỡ lớn.


Bình vôi có thể được làm từ các chất liệu như bằng gốm sứ có tráng men.


Cách trang trí trên bình vôi cũng rất phong phú với nhiều họa tiết khác nhau.





Bình vôi có quai xách được thiết kế khác nhau qua các thời đại.


Các loại bình vôi đa dạng về kiểu dáng và kích cỡ. 


Bình vôi có thể được làm từ các chất liệu khác nhau như gốm sứ có tráng men trắng, xanh hay bằng đồng; có quai xách hoặc không có quai xách. Kích thước của bình vôi cũng rất đa dạng, có chiếc là bình cá nhân, kích cỡ vừa phải, nhưng có những chiếc bình thuộc nghi lễ, thường có kích cỡ rất lớn. Họa tiết trang trí trên bình vôi cũng rất phong phú với nhiều họa tiết hoặc những hình vẽ màu nhẹ nhàng, thơ mộng. Cũng có loại bình mang hình ấm tích, hay chiếc lọ tùy theo ngẫu hứng của nghệ nhân làm bình vôi.

Không đơn thuần là một vật chứa vôi phục vụ tập tục ăn trầu, bình vôi trải qua bao đời còn có mối liên hệ khăng khít với truyền thống và văn hoá Việt. Đặc biệt, khi nói tới bình vôi, người Việt thường dùng đại từ “ông” thay vì dùng lượng từ “cái” hoặc “chiếc” thông thường. Khi gọi bình vôi là “ông bình vôi” là người ta đã sử dụng biện pháp nhân cách hoá chiếc bình, ở đây là thể hiện sự tôn trọng của người Việt, coi bình vôi như một thành viên trong gia đình. Và tất nhiên, “ông bình vôi” giữ một vị trí quan trọng, thân tình trong cuộc sống hàng ngày của mỗi gia đình.

Hình ảnh “ông bình vôi” nhiều khi dễ làm con người ta gợi nhớ đến hình ảnh thân thương của người bà, người mẹ; nhớ đến những đám cưới hỏi mọi người quây quần xúm lại bổ cau, quệt vôi, têm trầu với tiếng cười, câu chuyện râm ran… Tất cả đều là những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc trong đời sống tinh thần của người Việt qua bao thế hệ.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Đặng Kim Phương

Lễ Dâng y Kathina

đăng 18:28, 20 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Lễ Dâng y Kathina theo quan niệm của Phật giáo Nam Tông là việc Phật tử dâng y áo (áo cà sa) và các vật phẩm lên các nhà sư để thể hiện sự gắn bó, bền chặt. Lễ hội độc đáo này vừa được tổ chức tại chùa Khmer ở Làng Văn hóa – Du lịch các Dân tộc Việt Nam thu hút đông đảo Phật tử mọi miền tổ quốc tham gia. 

Kathina – theo ngôn ngữ kinh điển của Phật giáo Nam Tông, dùng trong việc chép kinh cùng tụng niệm thì có nghĩa là sự vững bền, chặt chẽ. Lễ dâng y của Phật tử người Khmer sẽ gieo nhiều phúc đức và việc người nhận y áo là các nhà sư, sẽ viên mãn trong quá trình tu hành.

Trong truyền thống văn hóa Khmer, trong năm mỗi chùa sẽ tổ chức đại lễ Dâng y Kathina một lần vào bất cứ ngày nào trong vòng một tháng ngay sau mùa an cư kiết hạ (thời gian 3 tháng sư tăng tập hợp tại một ngôi chùa để chuyên tâm tu học) kết thúc. Nghi lễ Dâng y của Phật giáo Nam Tông Khmer do một Phật tử đứng đầu khởi xướng và thông báo với các nhà sư về thời gian tổ chức lễ để nhận y.

Trong không khí kết thúc mùa an cư kiết hạ năm nay, Lễ Dâng y Kathina thu hút không chỉ bà con Phật tử Khmer Nam Tông ở miền Nam mà cả những Phật tử ở miền Bắc từ các tỉnh như Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Nam Định.... cũng hội tụ về ngôi chùa Khmer ở Làng Văn hóa – Du lịch các Dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội).

Trước khi bắt đầu buổi Lễ, các nhà sư và Phật tử diễu hành 3 vòng, rước y phục và các vật phẩm như thuốc men, hoa quả… xung quanh chùa. Sau đó Lễ Dâng y Kathina được thực hiện trang nghiêm trong Chánh điện. Một nhà sư đại diện sẽ giảng giải về ý nghĩa Lễ Dâng y và tụng kinh chúc phúc các gia đình Phật tử. 

Lễ Dâng y Kathina tổ chức tại chùa Khmer ở Làng Văn hóa – Du lịch các Dân tộc Việt Nam, là ngày lễ lớn và quan trọng của những Phật tử theo Phật giáo Nam Tông.


Phật tử mặc những trang phục đẹp nhất tụ tập về chùa Khmer để chúc mừng nhà sư sau ba tháng cấm túc, chuyên lo tu học (ba tháng kiết hạ) trong ngày Lễ Kathina.


Phật tử chúc mừng các nhà sư sau ba tháng kiết hạ.


Phật tử chuẩn bị những bó hoa đẹp để dâng lên chùa trong ngày Lễ Dâng y.


Trong ngày Lễ Kathina, các Phật tử lên chùa dâng y phục và những vật dụng nhằm đề cao sự tương trợ trong việc tu tập, chia sẽ khó khăn và tri ân với những người xuất gia.


Một quy định bắt buộc trong Lễ Dâng y Kathina đó là việc dâng y được thực hiện tại chùa. Đồ vật cúng dường được Phật tử dâng lên, đặt tại chùa và không dâng trực tiếp cho nhà sư.


Một mâm đồ chay được dâng lên chùa trong ngày Lễ Kathina.


Người dân đội đồ cúng dường trên đầu và rước những y phục dâng lên chùa.


Trong tâm niệm của tín đồ theo Phật giáo Nam Tông, cúng dường sẽ tạo nên nhiều duyên lành.


Lễ Dâng y được tổ chức long trọng, trang nghiêm trong Chánh điện.


Phật tử tập trung trong Chánh điện với những đồ cúng dường nhằm tri ân với những người xuất gia.


Lễ Kathina không chỉ là dịp để Phật tử tri ân công đức với nhà sư mà còn là dịp người xuất gia nhớ về công đức của những người cư sĩ tại gia cúng dường cho nhà chùa.


Những nhánh hoa đẹp nhất dâng lên ban thờ Phật trong Lễ Kathina.


Những nhà sư cùng đọc kinh cảm tạ Phật tử trong ngày Lễ.


Sau khi làm Lễ tại Chánh điện, những nhà sư thực hiện Lễ khất thực có truyền thống hơn hai ngàn năm của Phật giáo Nam Tông.


Người Khmer quan niệm, Lễ Kathina như một ngày hội lớn của cộng đồng.


Đại Lễ dâng y mang lại sự an lạc cho tất cả mọi người theo Phật giáo Nam Tông. 


Trong ngày Lễ, các Phật tử dâng lên chùa không chỉ y áo mà còn có các lễ vật thiết yếu phục vụ việc sinh hoạt của các nhà sư. Lý giải về ý nghĩa của chiếc áo cà sa trong Lễ, Hòa thượng Thích Gia Quang, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự T.Ư Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho biết: “Lễ Dâng y Kathina trong Phật giáo Nam Tông thể hiện được đầy đủ ý nghĩa của Lễ Dâng y được lưu truyền từ thời đức Phật còn tại thế. Áo cà sa được làm theo như hình khu ruộng. Khi các Phật tử cúng dường áo cà sa cho nhà chùa, thì sẽ được nhiều phúc đức, nên mới còn gọi áo ấy là phước điền y”.

Khi tham gia ngày Lễ, những Phật tử miền Bắc cũng hiểu biết sâu hơn về hệ phái Phật giáo Nam Tông ở miền Nam. Lễ Dâng y Kathina không chỉ góp phần gìn giữ những giá trị tốt đẹp của đạo Phật mà còn tạo nên sự gần gũi và thân thiện trong cộng đồng người theo đạo Phật ở Việt Nam.

Bài: Thục Hiền - Ảnh: Việt Cường

Lễ cưới của người Chăm Bà la môn

đăng 21:11, 18 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Có phần đơn giản hơn so với đám cưới ngượi Chăm Bani, nhưng cũng bao gồm nhiều bước với những lễ nghi phong phú. Người Chăm Bà la môn không rước rể về nhà gái trước một ngày như ỏ Chăm Bani, họ tiến hành việc này vào sáng ngày tổ chức lễ thành hôn, tức là ngày thứ tư trong tuần.

Đoàn đưa rể đi đến cách nhà gái chừng 100 - 200 mét thì dừng lại nghỉ. Lúc đó nhà gái cử một phái đoàn do một người đàn ông cao tuổi có uy tín về mọi mặt trong tộc họ cô dâu dẫn đầu mang chiếu, trầu cau, nước non ra tiếp đón họ hàng nhà trai. Họ trải chiếu ra mời ông mai và chú rể ngồi, còn mọi người trong đoàn ngồi hay đứng là tùy ý. Họ cùng nhau trò chuyện, uống nước khoảng dăm mười phút như có ý chờ cho đúng giờ lành. Một số người trong phái đoàn ra đón khách của nhà gái quay trở vào nhà để thông báo cho phía nhà gái biết là đoàn nhà trai đã đến để chuẩn bị đón tiếp chính thức. 

Đúng giờ lành, đoàn đưa rể từ từ tiến vào khuôn viên gia đình nhà gái. ở cổng nhà gái lúc đó để một chậu nước lớn, có người cầm gáo múc nước dội cho từng người trong họ nhà trai rửa chân và mời họ đi theo hàng chiếu trải từ chỗ rửa chân vào trước cửa nhà, ở đấy đã trải chiếu sẵn và có ông mai cùng họ hàng nhà gái tiếp đón. Thường thường hàng chiếu giữa dành cho hai ông mai, chú rể cùng những người cao tuổi, hàng chiếu bên phải dành cho họ nhà trai, bên trái cho họ nhà gái.


Đến giờ quy định, ông mai đàng trai đứng dậy kéo tay chàng rể tiến về hướng phòng the, nơi cô dâu đang hồi hộp đợi chờ. Ông mai đàng gái từ phòng the đi ra đón nhận chàng rể từ tay ông mai nhà trai rồi dẫn chàng vào phòng the. Tại đây, cô dâu và chú rể ngồi đối diện với nhau, ông mai ngồi bên cạnh họ, lấy một lá trầu to và đẹp từ trong hộp đựng trầu cau xẻ đôi ra và đưa cho cô dâu một nửa, cô ta lại xẻ đôi miếng trầu ra làm hai phần, đưa cho chú rể một phần. 

Chú rể cầm quả cau bửa đôi cho cô dâu một phần, sau đó cô dâu lấy ít vôi bôi vào trầu của chú rể và của mình rồi hai người cùng ăn những miếng trầu cay nồng ấy trong niềm vui hạnh phúc. Sau đó, chàng rể cởi áo ngoài đưa cho cô dâu như trao thân gởi mạng cho cô gái nhà người từ đây. Lễ xong, chú rể chính thức trở thành thành viên của gia đình nhà gái nên phải làm mọi việc như người trong nhà, từ tiếp khách đến dọn dẹp. Sau lễ này, mẹ cha của cô dâu mới bắt đầu xuất hiện, họ đến chào ông mai nhà trai và các quý khách của cả hai bên, cùng vui liên hoan cho đến khuya và tiếp tục đến hết ngày hôm sau nữa.


Sau ngày cưới, đôi vợ chồng trẻ của người Chăm Bà la môn cũng phải trải qua những nghi lễ như người Chăm Bani. Trong ba ngày, họ ở trong phòng the, mỗi người nằm một bên giường, mâm tơ hồng với ngọn đèn cầy bổn mạng vẫn để ở giữa không được xê dịch. Họ chỉ được nói chuyện với nhau chứ chưa được gần nhau. Cho nên ba ngày sau lễ cưới là những ngày dài nhất đối với tuổi trẻ Chăm. Ba ngày chậm chạp trôi qua, nhà gái lại phải chuẩn bị thêm bánh trái, hoa quả để cho hai vợ chồng trẻ về nhà trai thăm viếng mẹ cha và họ hàng nhà trai y như đôi vợ chồng trẻ người Chăm Bani.

Theo phong tục của người Chăm, sau khi đã làm xong những lễ nghi trên đây, đám cưới coi như được kết thúc, đôi vợ chồng trẻ đã hoàn toàn được hợp pháp hóa đối với xã hội Chăm. Sau này, chịu ảnh hưởng của hình thức giá thú của nhà nước nên mới thêm một bước sau đám cưới cổ truyền nữa là khai báo với chính quyền địa phương để làm giá thú nhằm hợp thức hóa cuộc sống vợ chồng về mặt pháp luật.

Sơn Nguyễn

Người Mông ở Đồng Văn se lanh dệt vải

đăng 20:48, 18 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Từ bao đời nay, công việc dệt vải từ lanh đã trở thành biểu tượng cho sự cần cù, dẻo dai, khéo léo của phụ nữ Mông trên Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang). Những bộ váy áo sắc màu vui tươi, rực rỡ như tô điểm thêm cho sức sống của người Mông trên chập chùng núi đá tai mèo. 

Người Mông ở Đồng Văn dệt trang phục truyền thống từ sợi cây lanh. Không chỉ là để phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày, phụ nữ Mông nơi đây còn coi đó là công việc truyền thống, là tinh hoa văn hóa tạo nên sự khác biệt trong cách ăn mặc với các dân tộc khác trong vùng.

Ở Đồng Văn, hầu hết phụ nữ biết se lanh, dệt vải và tự may trang phục cho cả gia đình. Ngay cả những bé gái cũng bắt đầu học từ bà, từ mẹ chuyện may vá từ rát sớm. 

Cây lanh sau khi thu hoạch sẽ được phơi khô, tước vỏ rồi cho vào cối để giã cho mềm. Sau đó người ta bắt đầu thực hiện công đoạn mất nhiều thời gian nhất là nối sợi. Hình ảnh dễ bắt gặp nhất ở nơi đây là những người phụ nữ Mông luôn tay tranh thủ nối sợi trước cửa nhà, trên đường lên rẫy, đi chợ.... Ở công đoạn tưởng chừng đơn giản này lại đòi hỏi sự bền bỉ, khéo léo, kỹ thuật chính xác nâng đến tầm nghệ thuật.

Để tạo một mối nối hoàn hào, họ phải tước vỏ lanh cùng một cỡ. Trình tự hợp lý để nối vỏ lanh lại là nối ngọn với ngọn, gốc với gốc. Hai đầu đoạn vỏ lanh được xoắn vào nhau và se dọc theo chiều dài của vỏ về hai phía. Nối được bao nhiêu họ lại quấn vào lòng bàn tay tạo thành cuộn. Sau khi nối, cuộn vỏ lanh được ngâm trong nước rồi se thành sợi. Khi đó chúng vẫn có màu nâu nhạt của vỏ, người ta sẽ luộc sợi cùng tro của cây gỗ trai để tẩy trắng.

Để tạo độ bền, dẻo dai, bóng đẹp của sợi người Mông luộc chúng lại một lần nữa cùng với nước sôi pha sáp ong rồi đem đi lăn ép cho hết nước. Sợi sau khi được sơ chế phụ nữ Mông đem ra phơi lên một chiếc dàn phơi có thể quay được. Công đoạn này để gỡ những sợi lanh, tuy đơn giản nhưng cần cẩn thận để không bị rối. Đến lúc này việc chế biến sợi nguyên liệu dệt được hoàn thành, sợi được đưa vào khung dệt.

Người Mông không dùng bông để dệt thành vải làm trang phục truyền thống. Họ dùng vỏ cây lanh dể se thành sợi.


Se sợi từ vỏ cây lanh là công đoạn mất nhiều thời gian nhất trong quá trình chuẩn bị nguyên liệu cho công đoạn dệt vải. Người phụ nữ Mông thường tranh thủ mọi thời gian rảnh để làm công đoạn này.


Qua nhiều công đoạn, từ vỏ cây lanh đã hình thành lên những sợi thô rồi phơi lên khung phơi.


Người Mông lại dùng kỹ thuật nối sợi khéo léo để tạo lên nguyên liệu hoàn chỉnh cho quá trình dệt.


Sợi hoàn chỉnh để dệt được cuốn vào thoi dệt làm bằng gỗ.


Sợi làm từ vỏ lanh tuy không mịn màng như sợi từ bông nhưng lại có nhiều ưu điểm phù hợp với cuộc sống vùng cao Đồng Văn. Vải dệt từ sợi lanh rất ấm và bền chắc.


Khung dệt của người Mông Đồng Văn có một đặc điểm rất khác biệt so với nhiều loại khung dệt của đồng bào dân tộc khác là khung có đai lồng vào thắt lưng người dệt. Đặc điểm này khiến chiếc khung như hòa quyện với người phụ nữ Mông khi dệt.


Để tạo nên hoa văn của vải dệt từ lanh, người Mông Đồng Văn dùng kỹ thuật vẽ sáp ong. Đây là kỹ thuật đòi hỏi người làm phải có kinh nghiệm lâu năm, thường do người già làm.


Từ vỏ cây lanh thô ráp, bằng sự kiên trì, dưới bàn tay khéo léo của những phụ nữ Mông họ đã tạo ra những bộ trang phục đầy màu sắc, phù hợp với cuộc sống của người vùng cao. 


Khung dệt lanh làm từ gỗ và có cấu trúc khá đơn giản nhưng điểm độc đáo tạo khác biệt là chiếc đai kéo căng mặt vải của khung sẽ được lồng vào quanh lưng người dệt. Người phụ nữ Mông dùng lưng kéo căng mặt vải, tay lồng thoi đồng thời dùng chân để giật một sợi dây trên khung để cuốn sợi. Cách thức dệt độc đáo này đòi hỏi sự nhịp nhàng tạo sự hòa quyện giữa người thợ và chiếc khung dệt truyền thống.

Người ta thường dệt theo kiểu nong mốt nghĩa là dệt đan sợi thẳng với khổ vải nhỏ dưới 50cm. Khi dệt xong, tấm vải được giặt đi giặt lại nhiều lần cho đến khi trắng rồi được lăn giữa một khúc gỗ to và một phiến đá lớn để tạo độ phẳng và mịn.

Để tạo hoa văn, họa tiết trên vải sau khi dệt, người Mông dùng kỹ thuật sẽ sáp ong lên vải lanh rồi đem nhuộm. Đầu tiên họ đun nóng sáp rồi dùng bút vẽ có cán bằng gỗ, ngòi bằng đồng nhúng sáp nóng chảy để vẽ trực tiếp lên vải. Không giống như nhiều người lầm tưởng sáp ong tạo ra màu sắc mà thật ra do không ngấm nước sáp sẽ giữ được màu ban dầu của vải khi đem nhuộm. Ví dụ để tạo họa tiết trắng trên nền chàm họ vẽ sáp lên tấm vải mới dệt, để khô rồi nhúm chàm. Nhuộm xong, đem vài phơi khô rồi giặt nước nóng tẩy sáp. Phần phủ sáp ong sẽ giữ được màu trắng nguyên thủy.

Để tạo ra hoa văn có màu chàm đậm nhạt, họ lại vẽ sáp lên vải màu chàm đã nhuộm rồi tiếp tục nhuộm để ra kết quả phần không dính sáp ong sẽ là màu chàm đậm. Cứ thế tùy theo nhu cầu, họ sẽ thực hiện công việc này nhiều lần để tạo nên hoa văn đường nét khác nhau trên vải. Đây là công việc thường do người lớn tuổi có kinh nghiệm, kỹ thuật làm.

Từ những tấm vải lanh thấm đượm nhiều mồ hôi công sức của những người phụ nữ Mông đã tạo ra những bộ trang phục cầu kỳ, tinh xảo. Cho đến tận ngày hôm nay, trải qua bao thăng trầm, việc dệt vải lanh vẫn được những người phụ nữ Mông ở Đồng Văn gìn giữ. Đây như một minh chứng về giá trị thẩm mỹ của một dân tộc giàu văn hóa nơi vùng cao địa đầu.

Khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, tuyệt đẹp của Cao nguyên đá Đồng Văn được tô điểm bởi sắc màu tươi vui của những bộ trang phục dân tộc Mông.


Người Mông trên mảnh đất địa đầu vùng Đông Bắc rất để ý đến chuyện mặc. Họ chọn cho mình những bộ trang phục phù hợp với từng mùa.


Trẻ em người Mông ở đây biết khâu vá từ nhỏ. Thông thường lũ trẻ nhỏ làm quen với những công đoạn giản đơn ban đầu như đính cườm, kết tua cho váy áo sau mới làm những việc khó như se lanh, dệt vải, may trang phục.


Ngày nay ngoài việc xe lanh dệt vải theo kiểu truyền thống, người phụ nữ Mông Đồng Văn còn tạo ra nhiều sản phẩm làm từ vải truyền thống với sắc màu đa dạng phù hợp với thị hiếu của mọi người. 


Thực hiện: Việt Cường

Chợ An Bình - Cần Thơ

đăng 20:47, 16 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đi Chợ nổi Cái Răng thì tới chân cầu Cái Răng bạn rẽ phải qua tỉnh lộ 923 để tới bến tàu. Ngay đó, ở chỗ đậu xe và mua vé tàu đi chợ nổi, bạn sẽ thấy một ngôi chợ nho nhỏ: chợ An Bình. Anh Lâm văn Sơn, thổ địa và là chuyên gia du lịch ở Cần Thơ, dặn tui: nhớ dành chút thời giờ ghé thăm chợ An Bình, chợ nhỏ nhỏ mà dễ thương lắm.



Thú thiệt là tui hổng quen đi chợ, nhưng nghe lời ảnh tui cũng rảo rảo và chụp vài tấm hình đăng lên đây để mọi người ngắm coi... nó có dễ thương hông.


Mặt trước chợ. Trước mặt là chỗ đậu xe, bên phải là chỗ bán vé tàu và đường xuống tàu đi chợ nổi Cái Răng.



Chợ có một dãy quay ra đường và một dãy quay ra sông. Dọc đường đi giữa 2 dãy bạn hàng bày bán rau củ, trái cây, hoa.



Hàng bày bán dọc lối đi



Sạp bên trong chợ, mặt quay ra sông


Chợ An Bình, nhìn từ sông. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên


Chợ An Bình mang tên này vì nó thuộc phường An Bình, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Đây không phải là một ngôi chợ lớn hay nổi tiếng gì cả nên hầu như không được nhắc đến trong các tour du lịch hay bài báo về du lịch nào hết. Tui cũng không biết nói gì thêm về ngôi chợ, chỉ thấy nó có vẻ hiền hiền, dễ thương như lời anh Sơn nói thôi.


Đừng cười vì tui viết bài này chẳng có nội dung gì ráo trọi, miễn có hình coi là được rồi. Và nếu bạn có đi chợ nổi Cái Răng thì trong khi chờ tàu thì hãy bắt chước tui đi dạo dạo chụp hình chơi, cũng vui lắm á. Nếu là phụ nữ thì có thể mua vài thứ bánh trái gì đó ăn vặt.


Còn tui, mục đích chính khi viết bài này là gì? Là ai đi chợ nổi Cái Răng thì cũng đều viết và kể về cái chợ nổi trên sông nổi tiếng này, nên tui viết về cái chợ trên bờ cho khỏi đụng hàng thôi mà!


Phạm Hoài Nhân

Lễ hội Phủ Dầy

đăng 20:34, 16 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Người Việt có câu “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”, ý muốn nói đến tục giỗ Mẹ vào tháng Ba Âm lịch để tưởng nhớ công đức của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Ở Việt Nam, tục thờ Mẫu có ở nhiều nơi, nhưng Phủ Dầy (Nam Định) được xem là cái nôi của loại hình tín ngưỡng độc đáo thuần Việt này. Lễ hội Phủ Dày được tổ chức từ 3 – 8/3 Âm lịch hàng năm là dịp để du khách có dịp tìm hiểu, tri ân công đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh. 

Phủ Dầy ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản (Nam Định) là một quần thể kiến trúc nổi tiếng liên quan đến Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt. Ở đây, mọi hoạt động văn hóa, tín ngưỡng liên quan đến tục thờ Mẫu diễn ra sôi động quanh năm, mà cao điểm và ấn tượng nhất là dịp Lễ hội Phủ Dầy. 

Phủ chính Tiên Hương rực sáng với màn pháo bông trong đêm rước lửa. Nơi đây là trung tâm các hoạt động của Lễ hội Phủ Dầy. Ảnh: Công Khánh


Sự hoan hỉ trong Lễ rước lửa thể hiện trên khuôn mặt của người dân Phủ Dầy. Ảnh: Tất Sơn


Đoàn rước đuốc đi quanh Phủ Dầy với chiều dài hơn 3km. Ngọn lửa thiêng trong Lễ rước đuốc tượng trưng cho  niềm tin đến từng gia đình, dân thôn và du khách thập phương, đồng thời, mong muốn mang lại cuộc sống hòa bình ấm no, tươi vui hạnh phúc cho toàn dân. Ảnh: Công Đạt


Sự hân hoan trong Lễ rước lửa thể hiện trên khuôn mặt Thanh đồng Trần Thị Kim Huệ (áo hồng). Ảnh: Công Đạt


Lễ hội Phủ Dầy được trang hoàng lộng lấy cờ hoa. Ảnh: Công Khánh


Rồng kết bằng bóng bay được thả lên trời tượng trưng cho 1 trong 3 vị Thánh Mẫu thăng thiên. Ảnh: Tất Sơn


Du khách thập phương hành lễ Tam Mẫu tại phủ chính Tiên Hương trước khi làm Lễ rước. Ảnh: Tất Sơn


Rước Thánh Mẫu trong Lễ hội Phủ Dầy đi đầu là hoà thượng cùng 2 vị sư niệm kinh Phật. Ảnh: Công Đạt


Kiệu rước Mẫu Đệ Nhất (Thánh Mẫu Liễu Hạnh) được bắt đầu từ phủ chính ra Chùa Tiên Hương. Ảnh: Công Đạt


Kiệu rước Mẫu Đệ Nhị (Mẫu Thượng Ngàn). Ảnh: Trần Thanh Giang


Kiệu Mẫu Đệ Tam (Mẫu Thoải). Ảnh: Trần Thanh Giang


Đoàn rước Mẫu Đệ Nhất được phủ khăn màu đỏ với những phu kiệu mặc trang phục cùng màu tạo nên vẻ trang nghiêm, kính cẩn. Ảnh: Trần Thanh Giang


Lễ rước thu hút rất đông người dân Nam Định và du khách thập phương đến tham dự. Ảnh: Trần Thanh Giang


Đoàn rước trên đường từ phủ chính Tiên Hương đến chùa Tiên Hương. Ảnh: Công Khánh


Đoàn rước tại Chùa Tiên Hương. Ảnh: Tất Sơn


Đoàn rước Mẫu Đệ Nhất vào Chùa Tiên Hương. Ảnh: Tất Sơn


Người dân hành hương đi dâng lễ tại Lễ hội Phủ Dầy. Ảnh: Trần Thanh Giang


Đoàn rước Mẫu trở về phủ chính Tiên Hương. Ảnh: Công Đạt 


Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thờ cúng ở nhiều nơi nhưng ở Phủ Dầy là trung tâm và còn lưu giữ nhiều nghi lễ độc đáo. Bởi nói như các nhà nghiên cứu văn hóa thì Lễ hội Phủ Dầy là một thành phần quan trọng tạo nên “bản đại diễn xướng sử thi Liễu Hạnh”. Điều đó cho thấy Phủ Dầy có ý nghĩa rất lớn trong tiềm thức văn hóa và tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.
Tam phủ gồm: Thiên phủ (miền Trời), Nhạc phủ (miền rừng núi) và Thoải phủ (miền sông nước). Đứng đầu mỗi phủ là một vị Thánh Mẫu gồm: Mẫu Thượng Thiên (Mẫu Đệ Nhất) cai quản bầu trời, Mẫu Thượng Ngàn (Mẫu Đệ Nhị) trông coi miền rừng núi, và Mẫu Thoải (Mẫu Đệ Tam) trông coi miền sông nước.

 Vào dịp này, Phủ Dầy được trang hoàng lộng lẫy cờ hoa. Du khách thập phương đến đây cũng đông hơn ngày thường. Dòng người về đây cầu may mắn, sức khỏe với niềm tin sẽ được Tam tòa Thánh Mẫu hiển linh để phổ độ chúng sinh, mang lại may mắn cho mọi nhà.

Trong Lễ hội, du khách còn được thưởng thức nhiều hoạt động độc đáo như nghi Lễ rước đuốc, Rước kiệu Mẫu, nghệ thuật hát văn, đồng, hội xếp chữ…

Nghi Lễ rước đuốc được diễn ra đầu tiên vào tối mùng 3 tháng 3 Âm lịch. Đây là nghi lễ có từ lâu đời và ngày càng được tổ chức quy mô hơn. Ngọn lửa thiêng được xin từ phủ chính Tiên Hương rồi chia sẻ với 1000 ngọn đuốc khác và trao cho bà con trong vùng rước đi quanh Phủ Dầy. Tục rước đuốc này diễn ra với mong muốn ngọn lửa tượng trưng cho ánh sáng để thắp sáng niềm tin, hy vọng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người.

Đặc biệt, trong Lễ hội Phủ Dầy, nghi thức rước kiệu Mẫu là nghi thức quan trọng nhất. Tam tòa Thánh Mẫu sẽ được rước bằng kiệu hoa từ phủ Mẫu Tiên Hương đi tới Chùa Tiên Hương thỉnh Phật rồi quay trở lại. 

Lễ hội Phủ Dầy với các hoạt động trung tâm liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ đã chính thức là một phần Di sản Văn hóa Phi vật thể địa diện của nhân loại được UNESCO công nhận. Di sản này, đã góp phần tô điểm thêm cho "bức tranh" văn hóa đặc sắc của người Việt.
Lễ rước kiệu Mẫu được diễn ra náo nhiệt với sự tham gia của dân chúng quanh vùng và hàng ngàn du khách thập phương. Những đội múa rồng, múa lân …. với nhiều sắc màu tạo nên một không khí vui nhộn và trang nghiêm mang đậm nét lễ hội của người Việt. Đặc biệt, trong đám rước, từ phủ chính Tiên Hương có 3 con rồng được kết bằng bóng bay sẽ được thả lên trời để tượng trưng cho Tam tòa Thánh Mẫu thăng thiên.

Thanh đồng Nguyễn Tất Kim Hùng thực hành nghi lễ diễn xướng hầu đồng, một nghi lễ đặc sắc trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt tại phủ chính Tiên Hương. Ảnh: Trần Thanh Giang


Du khách thập phương nô nức tham dự những hoạt động tại Lễ hội Phủ Dầy. Ảnh: Trần Thanh Giang


Hội xếp chữ của Phủ Dầy với chữ "Thiên" trong bộ chữ "Mẫu Nghi Thiên Hạ" tại phủ chính Tiên Hương. Ảnh: Nguyễn Long Hưng


Thực hiện: Tất Sơn, Thanh Giang, Công Đạt, Công Khánh, Nguyễn Long Hưng
Báo Ảnh Việt Nam - 05/04/2017

Vang danh Trò Chiềng

đăng 20:09, 16 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Người dân châu Ái (tên gọi vùng Thanh Hóa dưới thời phong kiến) còn lưu truyền câu ca dao: “Trò Chiềng, vật Bộc, rối Si/Cơm đắp kẻ Lở, cơm thi kẻ Lào...” để tôn vinh Trò Chiềng là Lễ hội đông vui bậc nhất xứ Thanh.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072) sai tướng Trịnh Quốc Bảo đi đánh giặc Chiêm Thành xâm lấn bờ cõi. Biết quân Chiêm Thành dùng tượng binh thiện chiến, Trịnh Quốc Bảo đã sáng chế hai đội tượng binh bằng tre đan và phết giấy để luyện tập cùng với kỵ binh và bộ binh. Khi giặc Chiêm Thành tiến sâu vào nước ta, đội tượng binh bằng tre đan của Trịnh Quốc Bảo ở vòi voi được bố trí pháo hoa nên lúc xung trận phát hỏa, kèm theo tiếng nổ đinh tai tựa như sấm ran khiến cho quân Chiêm Thành bất ngờ và đoàn tượng binh chạy toán loạn”.


Tam Công Trịnh Quốc Bảo (998 - 1085) còn có tên là Trịnh Bạn, người làng Trịnh Xá (hay còn gọi là Làng Chiềng). Trịnh Quốc Bảo làm quan dưới triều Lý, lần lượt giữ chức Hành Khiển, Đại phu, sau đó phong chức Tổng binh rồi Thái Bảo. Ông là người có công giúp vua Lý Thánh Tông đánh Tống ở phía Bắc, dẹp yên giặc Chiêm Thành ở phía Nam nên được phong là Đông Phương Hắc Quang Đại Vương. Năm 1065 ông được phong là Phúc thần làng Trịnh Xá (Trịnh Xá phúc thần, Đông phương vị hựu Hắc Quang Đại Vương).
Năm 1068, đất nước thái bình, triều Lý mở hội du Xuân và trò voi trận của Trịnh Quốc Bảo diễn lại được nhà vua và quần thần thích thú, hài lòng. Năm 1085, Trịnh Quốc Bảo đã 80 tuổi, ông từ quan trở về quê nhà là làng Trịnh Xá (xã Yên Ninh, huyện Yên Định) rồi tổ chức cho con cháu diễn lại trò voi trận, đồng thời tiếp thu thêm các trò diễn từ đất Thăng Long về truyền lại cho dân làng.

Lễ hội trò Chiềng được diễn ra từ ngày 11 - 12 tháng Giêng hàng năm. Người chỉ huy Lễ hội được gọi là Thượng Soạn phụ trách điều khiển các Cái (người phụ trách các trò) như: Cái chèo, Cái voi, cái ngựa, cái Rồng, Cái pháo, Cái tàu, Cái Thiên Vương. Trước khi mở hội, Thượng Soạn và các Cái lên đình làng họp bàn rồi dẫn người đi chặt tre, mây và chuẩn bị đồ lễ cho hội trò. Đặc biệt, từ 7 đến 9 giờ sáng, không nhà nào được giữ bất kỳ vật dụng gì khi các Cái muốn lấy, nhưng sau giờ ấy thì bắt buộc phải mua.

Sáng ngày 11, dân làng làm lễ rước Thành hoàng ra bãi trò gồm các đội: voi, ngựa, rồng, đội cờ, đội Thiên vương, đội tế, phường bát âm, đội hát chèo, quan viên và dân làng xếp thành đoàn dài với màu sắc rực rỡ và âm thanh vui nhộn.

Mở đầu Lễ hội Trò Chiềng, các bô lão tế ở Đình Nhất báo cáo Thành hoàng làng về tình ăn ở, sản xuất của dân làng trong năm vừa qua.


Các bô lão tiến hành nghi thức rước bát hương thờ Thành hoàng làng ra sân trò.


12 đội trò tề tựu đầy đủ ở Đình Nhất để tiến hành nghi lễ rước Thành hoàng làng ra sân trò.


Theo lệ làng, đoàn rước lễ đi vòng quanh làng Trịnh Xá để nhân dân bái vọng.


Đội hát chèo vừa hát, vừa múa trong đoàn rước.


Lễ hội trò Chiềng mở đầu là trò kén rể. Tương truyền, con gái làng Trịnh Xá vốn nổi tiếng đẹp người, đẹp nết, mỗi khi làng mở hội thì giai nhân, tài tử khắp chốn xa gần nô nức kéo đến tham dự kén rể. Kén rể đã vượt khỏi phạm vi làng xã mà còn mở rộng tới người nước ngoài đến thi tài như hoàng tử nước Ai Lao, Sứ Hung Nô, Quốc sư Tiêu Hà, Tướng Nghiêm Quang, Hàn soái Hàn Tín, tướng Cảnh Cam... của nước Trung Hoa. Ngay trong trò kén rể, ý thức độc lập dân tộc cũng khẳng định rõ, đó là khi Thượng Soạn chỉ vào bồ lễ vât và hỏi thì Sứ Hung Nô đoán “Đây là bồ sản vật cống nạp Bắc quốc”; còn Quốc sư Tiêu Hà trả lời “Bồ này là bồ sản vật cống nạp”, sau đó Thượng Soạn mới nói: “Sai to, Nam quốc sơn hà chẳng tiến cống ai”.

Theo quy định của làng, Trò Chiềng chia thành đại trò, trung trò và tiểu trò. Năm nào được mùa, dân no đủ thì tổ chức đại trò: diễn cả 12 trò; còn năm nào mùa màng giảm thì làm trung trò: từ 5 đến 6 trò; năm nào mất mùa, thiên tai địch họa thì làm tiểu trò, chủ yếu là tế rước, để giữ lễ trò là chính.
Trò chọi Voi là tiết mục khá độc đáo trong ngày Hội. Voi chọi được đan bằng tre và mây, do 4 thanh niên lực lưỡng vác 4 chân và một lão nông khỏe mạnh, dày dạn kinh nghiệm cầm cần điều khiển đầu voi để chọi. Khi phát lệnh, 2 con voi xông vào nhau, chọi bằng hai chiếc ngà. Lệ làng quy định chọi voi 2 vòng, mỗi vòng 3 hiệp, con nào bị đẩy lùi, bị đánh đúng chữ “Đích” trên đầu thì thua cuộc. Sau khi trò kết thúc, tất cả voi được đem hóa để yết cáo trời đất và tri ân công đức của cha ông, các thế hệ tiền hiền làng Chiềng. Tương truyền, những cặp vợ chồng muộn con nếu chui qua bụng voi thì trong năm đó sẽ có con.

Trong Lễ hội Trò Chiềng có trò chọi Rồng, với 2 con Rồng, trong đó đầu và đuôi hình Rồng, còn giữa thân có hình con cá chép. Khi hai con chọi nhau, con nào thắng thì con cá chép chui hẳn vào đầu Rồng thành cá chép hóa Rồng. Trò diễn này khẳng định tính chất cung đình là chủ đạo, bởi vì rồng là biểu tượng cho vương quyền của nhà vua, cá chép hóa rồng phản ánh tư tưởng của Nho giáo, tiến thân, làm quan bằng con đường khoa cử, học hành của sĩ tử Làng Chiềng.

Thượng Soạn chỉ huy trò kén rể. Trước là màn kén rẻ của hoàng tử nước Ai Lao, Sứ Hung Nô, Quốc sư Tiêu Hà, Tướng Nghiêm Quang, Hàn soái Hàn Tín, tướng Cảnh Cam... của nước Trung Hoa, sau là màn kén rể của 4 chàng trai đại diện cho 4 tầng lớp trong xã hội phong kiến Việt Nam là sỹ, công, nông, thương. 


Cuối cùng cô thôn nữ chọn anh nông dân làm chồng bởi phù hợp với nghề cày cấy của người Làng Chiềng. Thượng Soạn tặng đôi trai gái một đôi gà nhép, một túi hạt giống để phát triển nghề chăn nuôi và trồng trọt.


Hoạt cảnh tái hiện hình ảnh thuyền buôn nước Nhật Bản, Hà Lan ngược dòng sông Mã đến Làng Chiềng mua bán sản vật.


Hoạt cảnh thương lái Nhật Bản mua tơ lụa ở Làng Chiềng.


Hoạt cảnh thương lái Hà Lan mua thóc gạo.


Trai Làng Chiềng đóng vai thương lái đến từ đất nước Hà Lan. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa vẫn chưa lý giải được trò buôn bán với thương lái Nhật Bản, Hà Lan lại xuất hiện trong Lễ hội Trò Chiềng. Có ý kiến cho rằng, xưa, Làng Trịnh Xá vốn là một vùng đất trù phú, nhiều sản vật nên có nhiều thương lái đến buôn bán và dấu ấn để lại là tích, trò trong Hội đến ngày nay.


Trò Thiên Vương mô phỏng lại những trận đánh quân Chiêm Thành của tướng quân Trịnh Quốc Bảo.


Tái hiện hoạt cảnh các Thiên Vương đang vây đánh quân xâm lược Chiêm Thành.


Trình trò Ngựa tàu tại sân trò Làng Chiềng. 


Ngựa tàu là màn trình diễn của các chàng trai đóng vai ngựa, dùng gậy đánh vào quả cầu treo ở giữa sân trò. Đội nào đánh trúng quả cầu nhiều hơn thì đội đó giành chiến thắng.


Trình trò chú Tễu leo cây.


Trình trò chọi Rồng tại sân trò. Trước khi bước bào màn chọi, các con Rồng phun lửa chào dân làng và để tăng sĩ khí.


Trò chọi Rồng, với 2 con Rồng, trong đó đầu và đuôi hình Rồng, giữa thân có hình con cá chép. Khi hai con Rồng chọi nhau, con nào thắng thì con cá chép chui hẳn vào đầu Rồng thành cá chép hóa Rồng. 


Trình trò chọi voi. Hai con voi trong Hội được cách điệu và phun lửa trước khi bước vào màn chọi.


Khi Thượng Soạn phát lệnh, 2 con voi xông vào nhau, chọi bằng hai chiếc ngà. Lệ xưa quy định chọi voi 2 vòng, mỗi vòng 3 hiệp, con nào bị đẩy lùi, bị đánh đúng chữ “Đích” trên đầu thì thua cuộc.


Kết thúc Lễ hội, 12 đội trò lại rước bát hương Thành hoàng đi quanh làng về Đình Nhất.


Trải qua thăng trầm hơn 10 thế kỷ của lịch sử, nét vàng son của văn hóa thời Lý đã bị mai một, nhưng may mắn thay, chính vùng đất Trịnh Xá với trò Chiềng được các thế hệ con cháu của Trịnh Quốc Bảo đời nối đời lưu giữ, trao truyền cho đến hôm nay nhằm thư giãn sức dân sau những ngày mùa vụ vất vả trong năm.

Thực hiện: Thông Thiện - Công Đạt

1-10 of 23