Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Về thăm ngôi làng được mệnh danh là "Á hậu" lụa Việt Nam Làng Nha Xá từ lâu vốn nổi tiếng bởi nghề dệt lụa, chỉ xếp sau lụa Vạn Phúc. Ngôi làng này nằm ven sông Hồng, ngay dưới chân cầu Yên ...
    Được đăng 06:07, 19 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Làng gốm nghìn năm tuổi ít người biết ở Hà Nội Làng gốm Kim Lan cùng với Phù Lãng, Bát Tràng trở thành 3 làng nghề gốm thịnh vượng nhất khu vực phía Bắc từ nhiều thế kỷ trước.Làng gốm ...
    Được đăng 05:59, 19 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Giữ nghề đan tre Cách thành phố Thanh Hóa về phía Đông Nam chừng 8 km đường chim bay và cách thị xã Sầm Sơn chưa đầy 30 phút xe gắn máy, quê tôi ...
    Được đăng 00:31, 18 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Xóm lồng chim Tân Biên Có một xóm làm lồng chim ngay trong lòng thành phố Biên Hòa, người ta hay gọi cái tên gần gũi là “Xóm lồng chim”. Ở đây, cả xóm làm ...
    Được đăng 00:19, 18 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Làng chiếu Cà Hom- Bến Bạ Làng dệt chiếu Cà Hom- Bến Bạ thuộc xã Hàm Tân, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh mỗi năm cung cấp cho thị trường vùng Đồng bằng Sông Cửu Long ...
    Được đăng 05:35, 17 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 27. Xem nội dung khác »


Về thăm ngôi làng được mệnh danh là "Á hậu" lụa Việt Nam

đăng 06:07, 19 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Làng Nha Xá từ lâu vốn nổi tiếng bởi nghề dệt lụa, chỉ xếp sau lụa Vạn Phúc. Ngôi làng này nằm ven sông Hồng, ngay dưới chân cầu Yên Lệnh nối liền hai tỉnh Hưng Yên và Hà Nam và được mệnh danh là "Á hậu" lụa Việt Nam.

Chỉ đứng sau Vạn Phúc, lụa ở làng Nha Xá (Hà Nam) mềm, mịn, bền đẹp là một trong những địa chỉ nổi tiếng về nghề lụa ở Việt Nam. 


Tương truyền khi xưa, tướng nhà Trần là Nhân Huệ Vương - Trần Khánh Dư đi thuyền qua đây, thấy đất tốt, dân lại nghèo nên ông đã chỉ cho dân cách trồng dâu, ươm tơ và dệt lụa, đến nay Nha Xá là làng lụa đã tồn tại hàng trăm năm tuổi. 


"Lụa ở đây mềm, mịn, bền và đẹp nên được xếp thứ hai trong số những làng lụa của nước Việt, chỉ đứng sau lụa Vạn Phúc", một người làm lụa lâu năm tại Nha Xá cho biết. 


Men theo con sông chảy giữa làng Nha Xá, có thể cảm nhận thấy tiếng máy rộn ràng thay cho âm thanh khung cửi, thoi đưa trong văn thơ xưa cũ. Đây là một dấu hiệu tích cực, vì người dân đã hiện đại hóa sản xuất. Một số nhà có hàng chục máy dệt, mua từ nhiều năm trước. 


Trước đây, tại Nha Xá, khoảng 60% hộ dân trong làng sống nhờ nghề, giờ chỉ còn khoảng 10%. Hiện nay, phần lớn tơ ở làng Nha Xá được nhập từ huyện Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng). 


Để làm nên một tấm lụa, người ta phải nhập tơ, quay tơ, rồi mới đưa qua máy dệt. 


Tấm lụa mộc dệt xong được đem ra tẩy, nhuộm màu rồi phơi khô. Mỗi công đoạn đều có cách làm riêng, rất kỳ công và đòi hỏi người thợ thật chuyên tâm, tinh tường. 


Tuỳ vào số lượng sợi mà vải lụa sẽ điều chỉnh độ dày mỏng, tạo nên nhiều loại vải lụa phong phú với đủ độ mỏng, rủ, trong, bóng hay mềm, cứng hay óng ánh. 


Kiểu dệt cổ truyền của Việt Nam là phối hợp pha trộn các loại sợi dọc và ngang để tạo ra những mặt hàng khác nhau. 


Trước đây, người ta dùng các nguyên liệu lấy từ thiên nhiên như vỏ cây, lá cây, các loại củ như củ nâu… để nhuộm vải. 


Ngày nay, kỹ thuật nhuộm hiện đại với phẩm màu công nghiệp cho màu sắc bền đẹp, nhiều hoa văn họa tiết hơn. 


Ông Nguyễn Tiến Quảng, Chủ tịch Hiệp hội sản xuất và kinh doanh lụa Nha Xá, cho biết hiện nay làng có 150 hộ sản xuất và kinh doanh với gần 400 máy dệt, cho sản lượng 1.200-1.500m lụa mỗi tháng. Tuy nhiên, do lụa Nha Xá chưa được nhiều người biết đến, cộng với việc cạnh tranh khốc liệt của vải lụa Trung Quốc, nên nhiều hộ sản xuất gặp nhiều khó khăn. 

Làng gốm nghìn năm tuổi ít người biết ở Hà Nội

đăng 05:59, 19 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Làng gốm Kim Lan cùng với Phù Lãng, Bát Tràng trở thành 3 làng nghề gốm thịnh vượng nhất khu vực phía Bắc từ nhiều thế kỷ trước.

Làng gốm cổ Kim Lan thuộc huyện Gia Lâm, nằm ở phía đông nam Hà Nội. Theo nhiều nghiên cứu về khảo cổ và lịch sử, nghề gốm ở Kim Lan đã xuất hiện từ rất lâu, có thời kỳ phát triển đến cực thịnh. 


Chỉ cách gốm Bát Tràng dòng kênh Bắc Hưng Hải, nhưng làng gốm Kim Lan nức danh một thời lại không được nhiều người biết đến mặc dù Kim Lan cùng với Phù Lãng, Bát Tràng là 3 làng nghề gốm thịnh vượng nhất khu vực phía Bắc. 


Các sản phẩm gốm Kim Lan không quá cầu kỳ, chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày. Bởi vậy, làng Kim Lan được biết đến là nơi sản xuất đồ gốm gia dụng của kinh thành Thăng Long xưa. 


Dựa vào các nghiên cứu của nhà khảo cổ Nhật Bản Nishimura Masanari (năm 2001) và đầu năm 2003, khi nhiều nhà nghiên cứu tìm thấy các con kê, mảnh bao nung, đồ gốm sống men, đồ phế phẩm... dấu tích của lò gốm thời Trần còn khá nguyên vẹn. Dựa trên kết quả những lần khai quật trên, các nhà khảo cổ đi đến kết luận: Kim Lan từng là trung tâm sản xuất gốm sứ cổ vào thế kỷ 13-14. 


Những người làm gốm ở đây cho biết, nghề làm gốm vất vả, nhưng hiện tại người dân Kim Lan vẫn quyết giữ nghề, 90% người dân ở đây theo nghề gốm. 


Gia đình anh Cường (xóm 2, Kim Lan) chuyên sản xuất các lọ gốm. Anh cho biết: "Một ngày làm việc 10 tiếng, công việc tuy vất vả nhưng nó đã ngấm vào máu của mình". 


Sau khi lấy gốm từ khuôn, chúng được mang ra ngoài nắng để phơi. Các lò nung gốm thường rất bé, người dân phải chen chúc để qua lại. Hầu hết gốm đều trải qua quá trình nung trong vòng 6 tiếng, nhiệt độ lên tới 1.700 độ. 


Từ những nguyên liệu thô này, người thợ phải thực hiện rất nhiều công đoạn chế biến như đánh tan, lọc đất (làm lắng), ép luyện, định hình (nặn, vuốt…). 


Một trong những kỹ thuật cổ truyền vẫn được người thợ làng gốm Kim Lan áp dụng là sử dụng đèn soi để sấy khô sản phẩm khi thời tiết có độ ẩm cao. 


Điểm đặc biệt của gốm Kim Lan là các sản phẩm không quá cầu kỳ về chi tiết mà tạo được sự tiện dụng, thoải mái cho người sử dụng. 


Gốm Kim Lan chính là sự cô đọng những điều tinh túy nhất của con người nơi đây. Bằng bàn tay khéo léo, sự tâm huyết gửi gắm trong từng sản phẩm, người dân làng Kim Lan, cùng với Phù Lãng (Bắc Ninh), Bát Tràng (Hà Nội), đang góp phần làm phong phú, đa dạng và phát triển nghề gốm khu vực phía Bắc nước ta. 


Nhiều gia đình khá giả từ nghề gốm.

Giữ nghề đan tre

đăng 00:31, 18 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cách thành phố Thanh Hóa về phía Đông Nam chừng 8 km đường chim bay và cách thị xã Sầm Sơn chưa đầy 30 phút xe gắn máy, quê tôi nằm giữa một bên là biển, một bên là quốc lộ 1A. Cùng với nghề làm ruộng, quê tôi được thừa hưởng nghề tre đan khá nổi tiếng, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. 


Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, quê tôi khá rộng, tên xã là Tán Thuật. Sau hòa bình (1954) xã Tán Thuật chia làm xã Quảng Đức và xã Quảng Phong. Tuy phân chia địa giới hành chính làm hai nhưng nghề tre đan thì gắn kết thành làng nghề theo đúng nghĩa của từ này. Xin liệt kê mấy nghề nổi tiếng: Đan thúng (mủng), rổ, rá, dần, sàng, nong, nia, dậm, lừ (lời), lồng bàn, dỏ đựng bình tích ủ chè xanh. 

Thời còn Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV 1949 -1991) của các nước xã hội chủ nghĩa, ngành lâm sản cử chuyên gia về tổ chức dạy cho bà con nông dân quê tôi sản xuất một số sản phẩm mỹ nghệ từ tre đan làm hàng xuất khẩu. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã làm cho nghề làm đồ mỹ nghệ mới khởi sắc tan rã theo, tuy nhiên nghề tre đan truyền thống phục vụ dân sinh và sản xuất nông nghiệp thì vẫn duy trì cho tới ngày nay. 

Nghề tre đan phụ thuộc vào truyền thống của từng làng vốn được tạo dựng từ xa xưa. Làng Xuân Uyên, Chính Trung (Quảng Phong) cận quốc lộ 1A, ngoài đan thúng, nhiều hộ chuyên đan lồng bàn, ấm dỏ rất tinh xảo. Theo tôi biết, lồng bàn và ấm dỏ ở Việt Nam không nơi nào có được ngoài làng Xuân Uyên và Chính Trung. 

Làng Thần Cốc (Quảng Đức) nằm sát vùng đồng trũng lại hình thành nghề đan lừ - dụng cụ dùng bắt cá đồng. Làng Tiền Thịnh, Quang Tiền, Hà Trung, Phú Đa (Quảng Đức) chuyên đan thúng. Riêng xóm Trang của làng Quang Tiền còn thêm nghề đan dậm - dụng cụ bắt tép đồng. 

Từ sau rằm tháng Giêng đến giữa tháng Tư âm lịch và các tháng mùa mưa là thời gian nông nhàn, nhà nhà tập trung đan lát. Người cao tuổi thì quét lá tre, gom trấu nhóm lò hong phên đan, hong nạp, đảm bảo độ bền của thúng, mủng, dần, sàng. Trẻ con đi học về thì ngồi nức thúng, nức mủng hoặc luồn nan rốt. 


Đàn ông khỏe mạnh ngoài đốn tre, bứt mây trong vườn nhà còn phải lên Cầu Bố, Cầu Cốc, Bến Than mua nứa đem về làm nguyên liệu đan. Đàn ông còn phải pha tre, chẻ nứa, róc nạp, uốn nạp... Phụ nữ thì ngồi đan, nức mây. Nói chung, ai cũng có việc làm thích hợp từ nghề tre đan. 

Cách nay ba thập niên, thời kỳ bao cấp, hạt thóc làm ra cùng lúc phải cõng hàng chục khoản đóng góp, sau vụ mùa vài tháng, cả xóm lại đôn đáo chạy gạo ăn. Trong hoàn cảnh ấy, nghề tre đan của xã Quảng Đức, Quảng Phong đã cứu đói cho hàng trăm nông hộ. Nhà nhà, người người đan lát rồi chuyển sản phẩm lên tàu lửa đưa ra bán ở các tỉnh phía Bắc. 

Những gia đình không phải chạy gạo cũng vẫn bám lấy nghề tre đan. Họ huy động lao động trong gia đình vừa để duy trì nghề đan lát, vừa tạo ra lượng sản phẩm dồi dào nhưng không vội đưa ra thị trường mà giữ lại chờ vào mùa thu hoạch lúa sẽ có thương lái từ các tỉnh đến thu gom, giá vừa cao lại hút hàng. 

Để đan được một sản phẩm như nói trên, nghề tre đan phải cần nguyên liệu như tre, nứa, mây... Xưa kia, quanh bờ ao, bờ vườn nhà nào cũng trồng dăm ba bụi tre, bụi mây. Nứa thì rừng xứ Thanh nhiều không đâu sánh nổi. 

Thợ sơn tràng chuyên khai thác gỗ, tre, nứa, mây và nhiều loại lâm sản khác coi sông Mã lắm thác ghềnh là tuyến đường huyết mạch vận chuyển tài nguyên về xuôi, tập kết ở bến Cầu Cốc, Bến Than rồi bán đi khắm nơi, trong đó có một phần bán cho người quê tôi đan lát. 


Gíá nguyên liệu tre, nứa, mây từ rừng đưa về tương đối rẻ nên sản phẩm tre đan vì thế cũng không cao. Vào thập niên 1990, giá bán một "lồng thúng" (hai chiếc) chừng 7.000 đồng, lồng thúng ba chiếc giá 9.000 đồng. Một chiếc lồng bàn đường kính 0,8 mét vừa bền vừa đẹp, có hoa văn của người thợ tài hoa tạo ra chỉ bán được 12.000 đồng. 

Giá rẻ là vậy, nhưng để có những sản phẩm tinh xảo như ấm dỏ, lồng bàn ánh màu khói như màu véc ni, người ta phải đắp lò đất hình trụ, băm nhỏ rơm rạ, lá cây khô nén chặt mồi lửa lấy khói hong. Sản phẩm được xếp trên mặt lò, nhờ khói âm ỷ mà ươm vàng, mối mọt không ăn được. 

Ngày nay do nạn phá rừng nên cây nứa, cây mây theo đường sông Mã xuôi về cạn kiệt dần, trong khi đất vườn trồng tre, trồng mây gần như bị xoá sổ vì dân số ngày càng đông, không đủ đất cất nhà lấy đâu đất trồng cây lưu niên. 

Đi kèm với nguồn nguyên liệu cạn kiệt, lực lượng thanh niên ly nông vào các khu công nghiệp ở mọi miền đất nước cộng với sự "lên ngôi" của các loại dụng cụ đựng sản phẩm nông nghiệp và đồ gia dụng được sản xuất từ nhựa, nhôm đang dần thay thế đồ tre đan đã làm nghề tre đan quê tôi thu hẹp trên 80% so với cách nay nửa thế kỷ. Thế nhưng, nhiều gia đình làm nghề đan ấm dỏ, lồng bàn, đan thúng, đan lừ vẫn duy trì công việc và truyền nghề cho con cháu. 

Ông Nguyễn Văn Quyền ở thôn Xuân Uyên (Quảng Phong) tâm sự: "Gia đình tôi có sáu nhân khẩu nhưng chỉ được một sào rưỡi đất sản xuất, hằng năm thu chừng 1 tấn lúa, không đủ sống. Vì thế, gia đình tôi phải bám lấy nghề đan thúng, đan mủng như các cụ xưa". 

Hai con đi làm công nhân, hai vợ chồng ông Quyền ở nhà vừa lo làm lúa, nuôi heo kết hợp đan lát. Cứ 7 ngày vợ chồng ông đan được 10 lồng thúng cặp đôi, năm 2018 giá bán 80.000 đồng/cặp, trừ chi phí, lãi 50%. Hiện nay thôn Xuân Uyên có 170 hộ canh tác 35ha lúa, nhưng chỉ có 40 hộ duy trì nghề tre đan. 

Bà Đỗ Thị Hiệp người làng Thần Cốc có nghề đan lừ, lấy chồng về làng Hà Trung mang theo nghề về quê chồng. Suốt hơn nửa thế kỷ, nay bà có cháu nội, cháu ngoại mà vẫn miệt mài đan lừ, lại còn chỉ dạy các con, các cháu giữ nghề. Từ tháng 4 đến tháng 8 âm lịch, gia đình bà Hiệp tập trung đan lừ. Nghỉ đan lừ, bà và các con, các cháu chuyển sang đan thúng. 

Bà Hiệp tính toán, một ngày hai lao động của gia đình đan được 10 cái lừ, nguyên liệu hết 10.000 đồng, mỗi lừ lãi 5.000 đồng. Nhờ có nghề đan lát nên bà không phải đem lúa bán lấy tiền đóng học phí cho các cháu và chi phí hằng ngày trong gia đình. Bà Hiệp tâm sự: "Chục năm trước, nhà tôi nghèo nhất làng, nay nhờ con dâu đi làm ngoài khu công nghiệp Lễ Môn, mẹ con tôi ở nhà vừa làm ruộng vừa đan lát nên đã xóa được nghèo, lại xây được ngôi nhà vừa to vừa đẹp". 

Hơn nửa thế kỷ xa quê, mỗi khi có dịp trở về, lòng tôi nao nao thương quê nghèo âm thầm giữ được nghề tre đan...

KHUYNH DIỆP

Xóm lồng chim Tân Biên

đăng 00:19, 18 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Có một xóm làm lồng chim ngay trong lòng thành phố Biên Hòa, người ta hay gọi cái tên gần gũi là “Xóm lồng chim”. Ở đây, cả xóm làm lồng chim. Từ trẻ con lên 10 cho đến những cụ ông, cụ bà gần 80 tuổi đều tham gia làm lồng chim. Sản phẩm lồng chim của xóm đã có mặt ở thị trường trong và nước ngoài, mang lại thu nhập ổn định cho người dân. Đó chính là xóm thuộc tổ 4, khu phố 10, phường Tân Biên, TP. Biên Hòa. 


Theo lời kể của người dân trong xóm, nghề làm lồng chim có cách đây chừng hơn 20 năm trước. Khi đó, vùng này chỉ chuyên trồng táo và có khoảng 20 hộ sinh sống. Cuộc sống vất vả, thiếu thốn nên một số người đàn ông trong xóm đã quyết định đi học thêm nghề gì đó để tranh thủ làm kiếm thêm tiền. Lúc đó, nhận thấy nhu cầu sử dụng lồng chim ngày càng cao nên một số ít người trong làng đã lặn lội đi khắp nơi để học nghề và sau đó truyền lại cho mọi người. Rồi người này học truyền lại cho người kia, cha mẹ truyền nghề cho con cháu. Ngoài trực tiếp làm lồng chim, cũng có những hộ chuyên phân phối nguyên vật liệu, hoặc làm đầu mối thu mua lồng chim để phân phối đi các nơi. Thời gian đầu, chỉ có chừng hơn 20 hộ làm nghề này dần dần cả xóm có gần 200 cơ sở, hộ gia đình chuyên làm lồng chim. 


Ngày trước tất cả các công đoạn sản xuất lồng chim đều phải làm thủ công, trải qua nhiều công đoạn, như: vót nan, làm đáy, vành, ráp lồng… Nhưng điều kiện đầu tiên khi làm lồng chim là phải chuẩn về công đoạn vót nan. Vót nan trăm cái đều phải như một, vì người sành chơi chim sẽ có cách nhận biết lồng tốt, đạt tiêu chuẩn. Lồng chim phải đáp ứng được 3 tiêu chí: bền, sang và đẹp, nên đòi hỏi người thợ phải rất tỉ mỉ, kỳ công. 


Ngày nay, các cơ sở, các hộ làm lồng chim đều đã đầu tư máy móc, thiết bị để phục vụ sản xuất, chứ không còn làm thủ công như trước. Máy móc được sử dụng vào hầu hết các công đoạn, kể cả chuốt tre để làm lồng. Nhờ có máy móc nên nâng suất lao động tăng, người thợ có nhiều thời gian hơn để trau chuốt, chạm trổ làm đẹp và nâng cao giá trị của sản phẩm. Đáp ứng mọi nhu cầu tùy theo đơn đặt hàng. Từ hàng đại trà theo kiểu lồng chợ, giá rẻ cho người mới tập chơi với giá khoảng hơn 100.000 đồng/cái hay loại lồng chim cao cấp cẩn xà cừ, chạm trổ long phụng có giá đến cả chục triệu đồng đều có. Thu nhập tăng, cuộc sống của người dân xóm lồng chim ngày càng phát triển. 


Xóm lồng chim ngày nào giờ đông đúc hơn, xôm tụ, nhộn nhịp hơn, hòa cùng với nhịp sống hiện đại nơi thành phố công nghiệp. Người dần lành nghề, sản phẩm dần tinh sảo, nườm nượp được chuyển đi muôn nơi, qua tận nước ngoài để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nghề nào cũng có nỗi vất vả, nhưng đây chính là động lực cho người thợ, người nghệ nhân tâm huyết với nghề làm lồng chim. 

Mai Phương

Làng chiếu Cà Hom- Bến Bạ

đăng 05:35, 17 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Làng dệt chiếu Cà Hom- Bến Bạ thuộc xã Hàm Tân, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh mỗi năm cung cấp cho thị trường vùng Đồng bằng Sông Cửu Long hàng trăm nghìn đôi chiếu có độ bền, đẹp, hoa văn độc đáo.

Chúng tôi theo chân anh bạn quê ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh về tham quan quá trình làm chiếu của làng nghề truyền thống Cà Hom- Bến Bạ nằm bên bờ sông Hậu. Hình ảnh đầu tiên chúng tôi gặp khi tới đầu làng nghề là những người phụ nữ ngồi bên những khung dệt chiếu và miệt mài làm để có thể hoàn thành từ 1-2 chiếc có kích thước 1m-1,9m hoặc 1,6m-2m/ ngày. 

Cánh đồng cây lác ở Cà Hom - Bến Bạ để làm nguyên liệu dệt chiếu.


Công đoạn chẻ cây lác.


Công đoạn phơi cây lác sau khi được nhuộm xong.


Đến nay 450 hộ của làng Cà Hom- Bến Bạ thuộc xã Hàm Tân, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh đang ngày càng tăng thu nhập từ nghề dệt chiếu.


Công đoạn phơi sợi lác.


Công đoạn nhuộm cây lác để tạo màu cho chiếu.


Những bó cây lác sau khi nhuộm được phơi khô.


Công đoạn kiểm tra sợi lác để đảm bảo các sợi lác đồng đều nhau. 


Bà Ngô Thị Pho là một nghệ nhân lão luyện trong nghề dệt chiếu Cà Hom- Bến Bạ cho biết, ngày xưa khi làm chiếc chiếu chỉ làm thủ công thô ráp, kỹ thuật làm vụng về, cốt sao cho đỡ tốn tiền ra mua chiếu chợ. Rồi sau dần càng làm thì những chiếc chiếu trông vừa mắt hơn, đẹp hơn. Từ một vài hộ mua khung dệt để làm sau đã lan ra cả vùng Cà Hom - Bến Bạ. Người lớn dạy cho trẻ con làm để giữ nghề truyền thống cho làng và cũng là để kiếm thêm thu nhập.

Toàn xã đã có trên 35 ha đất trồng cây lác. Công đoạn đầu tiên để làm chiếu là phải sử dụng nguyên liệu là cây lác già, sau đó chọn lựa chiều dài của lác cho phù hợp với khổ chiếu cần dệt. Lác được phân cỡ xong đem rửa sạch, rồi vót lại bằng lưỡi dao thật sắc và nhỏ. Công việc này đòi hỏi có nhiều thành viên tham gia mới đảm bảo được một lượng lác lớn đủ dệt trong nhiều ngày. 

Sản phẩm chiếu của làng Cà Hom- Bến Bạ chủ yếu là chiếu hoa với 5 màu chủ đạo là trắng, đỏ, xanh, vàng và tím. Hình ảnh hay hoa văn thường được các nghệ nhân chọn lựa rất công phu cho từng sản phẩm của mình, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, hoặc theo yêu cầu của các thương lái đến đặt hàng để đem bán ở các tỉnh thành lân cận trong vùng. Đặc biệt là chiếu hoa dệt 2 mặt, đòi hỏi sự khéo léo và thể hiện sự tinh tế, tính thẩm mỹ trong từng đường dệt của nghệ nhân.

Các cây lác được nhuộm những màu sắc khác nhau để đem đi dệt.


Công đoạn dệt chiếu bằng máy.


Sản phẩm chiếu Cà Hom – Bến Bạ rất được thị trường ưa chuộng.


Công đoạn cắt chiếu thừa để vuông vức.


Sau khi dệt xong chiếu được đem phơi nắng.


Trung bình mỗi năm làng chiếu Cà Hom - Bến Bạ cung cấp trên dưới 100 nghìn đôi chiếu cho thị trường vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.


Nhờ lưu truyền nghề qua ba, bốn thế hệ, sản phẩm chiếu Cà Hom - Bến Bạ tạo được uy tín trên thương trường các tỉnh Nam Bộ với các chủng loại chiếu trắng, chiếu màu, chiếu in hoa, in chữ… Đến nay, trung bình mỗi năm làng chiếu Cà Hom - Bến Bạ cung cấp trên dưới 100 nghìn đôi chiếu cho thị trường các tỉnh, thành trong nước, nhiều nhất là các tỉnh thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Thực hiện: Thông Hải - Nguyễn Luân

Kéo co ngồi - Di sản độc đáo giữa lòng Hà Nội

đăng 05:28, 17 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nghi lễ và trò chơi kéo co được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại bốn nước Việt Nam, Hàn Quốc, Campuchia, Philippines. Ở Việt Nam, ngay giữa lòng Hà Nội, có nghi lễ kéo co ngồi vô cùng độc đáo.

Độc đáo ngồi kéo co 

Theo truyền thuyết, xưa kia làng Ngọc Trì (nay là Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội) gặp hạn hán, làng có 12 cái giếng thì 11 giếng đã cạn nước chỉ còn 1 giếng thuộc xóm Đìa (hay còn gọi là mạn Đìa). Trai mạn Đường, mạn Chợ xuống giếng mạn Đìa lấy nước bị trai mạn Đìa ngăn không cho lấy nước. Thời đó, nước được gánh bằng quang làm bằng dây song. Hai bên giằng co nhau cái quang đựng nước. Bên giằng, bên giữ, lại sợ đổ mất nước nên ngồi xuống đất mà ôm lấy cả thùng nước. Giằng co nhau, có khi đứt cả dây quang. Hạn hán qua đi, nhớ lại tích ấy, các cụ nghĩ ra trò kéo co ngồi để trình diễn trong hội làng với mong muốn cầu cho mưa thuận, gió hòa.


Trước lễ hội, người dân làng Ngọc Trì đã chuẩn bị tuyển lựa người kéo co. Tiêu chuẩn đầu tiên để được lựa chọn là gia đình có năm đời sinh sống ở làng trở lên và có nền nếp, gia giáo chuẩn mực. Ngọc Trì có ba mạn: mạn Đường, mạn Đìa, mạn Chợ. Mỗi mạn được cử một đội kéo co đại diện. Đến ngày hội làng, các mạn dâng lễ vật lên Thánh tại đền Trấn Vũ rồi mới bước vào thi đấu. Khi kéo co chia làm 2 mạn: mạn Chợ và mạn Đường. Trai kéo co mỗi mạn phải đủ 24 người và một Tổng cờ. Trai kéo co đóng khố điều, chít khăn điều. Tổng cờ mặc áo đỏ, đội khăn đỏ. Sau khi lễ Thánh xong, hai phe bắt đầu tiến hành kéo co.

Trước khi kéo, dây song được nêm chặt ở lỗ cột. Trai kéo co ngồi chân co chân duỗi. Trong đội hình từng phe, lần lượt ngồi xen kẽ, người quay mặt bên này, người bên kia của song. Mỗi người một tay duỗi thẳng, tay kia co trước ngực, song được kẹp chặt dưới nách của tay co. Sau khi có hiệu lệnh bằng ba hồi trống khẩu, nêm được tháo ra, hai Tổng phất cờ hô "í a, kéo". Tổng cờ chạy lên chạy xuống, quệt lá cờ lệnh vào mặt, vào đầu các trai kéo của phe mình vừa để làm hiệu khi nào kéo, khi nào nghỉ, vừa để cổ vũ, tiếp thêm sức mạnh cho đội kéo.

Điểm độc đáo là mặc dù mỗi mạn có một đội kéo co, song dù là người dân ở mạn nào cũng đều mong đội mạn Đường thắng. Vì họ quan niệm mạn Đường (cộng đồng cốt lõi về trồng trọt) mà thắng nghĩa là năm đó dân làng làm ăn rất tốt, mùa màng bội thu, người dân khỏe mạnh...

Giao lưu quảng bá, phát huy giá trị di sản

Lần đầu tiên sau khi nghi lễ và trò chơi kéo co tại bốn nước Việt Nam, Hàn Quốc, Campuchia, Philippines được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể của nhân loại, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu và phát huy giá trị Di sản văn hóa (thuộc Hội Di sản Văn hóa Việt Nam) phối hợp cùng Hiệp hội bảo tồn nghi lễ và trò chơi kéo co truyền thống Hàn Quốc tổ chức giao lưu trình diễn giữa các đội kéo co Juldarigi đến từ Yeongsan, Hàn Quốc và kéo co ngồi đền Trấn Vũ, phường Thạch Bàn, quận Long Biên, Hà Nội ngay tại đền Trấn Vũ.

Kéo co mang tính nghi lễ tâm linh.... 


Tại buổi giao lưu, các nhà quản lý, nhà nghiên cứu văn hóa hai nước đã trao đổi về những quy trình đề cử hồ sơ đa quốc gia nghi lễ và trò chơi kéo co; bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại nghi lễ và trò chơi kéo co; giới thiệu về nghi lễ và trò chơi kéo co ở Hàn Quốc; giới thiệu về kéo co ngồi đền Trấn Vũ, phường Thạch Bàn, quận Long Biên, Hà Nội; giới thiệu về kéo mỏ đền Vua Bà, huyện Sóc Sơn (Hà Nội). Bên cạnh đó,các nhà quản lý, nhà nghiên cứu văn hóa thảo luận về các biện pháp và hợp tác bảo vệ kéo co trong tương lai. 

Đặc biệt, tại buổi giao lưu, các đội kéo co đã trình diễn kéo co của hai nước Việt Nam và Hàn Quốc. Với nghi lễ kéo co ngồi đền Trấn Vũ, ba đội tham gia nghi lễ và trò chơi kéo co gồm: Mạn Chợ, Mạn Đường và Mạn Đìa, mỗi đội có 15 trai đinh của làng và một tổng cờ.

Cũng trong buổi giao lưu, Hiệp hội bảo tồn nghi lễ và trò chơi kéo co truyền thống Hàn Quốc đã mang sang dây bện lớn bằng rơm để thực hành trò chơi. Sợi dây chính được nối với hàng chục dây kéo phụ dùng để kéo. Các đội kéo co đền Trấn Vũ đồng thời tham gia thực hành trò chơi kéo co của Hàn Quốc. Sau hai lần kéo phân thắng bại là nghi thức ăn mừng chiến thắng với các nhạc cụ truyền thống và các vũ điệu của Hàn Quốc. Kết thúc chương trình giao lưu, dây bện rơm kéo co của đội bạn sẽ được đưa về Bảo tàng Hà Nội trưng bày.

Tại buổi giao lưu, ông Ngô Quang Khải, Trưởng Ban Quản lý Di tích đền Trấn Vũ chia sẻ: Mặc dù nền văn hóa, phong tục tập quán của hai nước có khác nhau, song kéo co lại mang tính tương đồng giống nhau ở một số quan điểm suy nghĩ và tương truyền. Nhân buổi giao lưu, ông cũng như cộng đồng dân cư phường Thạch Bàn mong muốn cùng với Hiệp hội trò chơi kéo co truyền thống Hàn Quốc giao lưu thường xuyên ở Việt Nam cũng như trên đất nước Hàn Quốc.

... Góp phần thúc đẩy sự đoàn kết, cố kết cộng đồng. 


Kéo co ngồi là diễn xướng dân gian mang tính nghi lễ tâm linh trong Hội đền Trấn Vũ của nhân dân thôn Ngọc Trì, thuộc phường Thạch Bàn, được tổ chức vào ngày 3-3 Âm lịch. Điểm độc đáo của trò diễn kéo co phải được tuân thủ nhiều nghi thức chặt chẽ, từ việc chọn người tham gia, cho đến việc thực hành kéo co. Nghi lễ kéo co được người dân Thạch Bàn gìn giữ bền vững suốt những năm qua. Cả cộng đồng tham gia tự nguyện, không hề vụ lợi hoặc mang tâm lý thắng thua. Mặt khác, nghi lễ kéo co cũng như nhiều nghi lễ, tập quán xã hội khác của làng đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự đoàn kết, cố kết cộng đồng.

Phường Thạch Bàn nói riêng, quận Long Biên đang cố gắng giữ gìn, phát huy nghi lễ và trò chơi kéo co ngồi, chú trọng trao truyền cho thế hệ trẻ. Khóa học 2018-2019, khoảng 4.570 học sinh của 15 trường trên địa bàn quận Long Biên đến ngoại khóa về di tích đền Trấn Vũ cùng nghi lễ và trò chơi kéo co ngồi.

Nguyễn Minh Đức

Vẻ đẹp trang phục dân tộc Cor

đăng 00:31, 16 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cũng giống như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, trang phục của đồng bào Cor (Quảng Ngãi) không chỉ mang vẻ đẹp độc đáo, mà còn thể hiện nét văn hoá, bản sắc riêng của toàn thể cộng đồng.

Dân tộc Cor cư trú chủ yếu ở hai huyện Trà Bồng, Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi- đây là chiếc nôi, là quê hương ruột thịt của họ. Ngoài ra còn có một bộ phận nhỏ di cư từ Trà Bồng sang sinh sống ở huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam. Người Cor mang nhiều tên gọi phiếm xưng khác nhau như Cùa, Khùa, Của, “Mọi Thanh Bồng”, “Mọi Trà Bồng”, “Mọi Trầu”, “Ta- Kua” hay “Mọi Quế. Tuy dân số không đông, địa bàn cư trú không rộng nhưng đồng bào Cor vẫn còn lưu giữ nhiều vốn văn hóa cổ truyền mang đậm bản sắc tộc người, nhất là lễ hội dân gian, trong đó bộ trang phục truyền thống mang nhiều dấu ấn văn hóa tộc người đặc sắc. 

Trang phục thường nhật

Đối với trang phục đời thường của người Cor, nam thường ở trần, đóng khố, khố thường có màu xanh hoặc màu đen có ít dải hoa văn, khố có chiều rộng khoảng từ 25 cm đến 30 cm và có chiều dài khoảng 3m5 đến 4m, khi trời lạnh thường khoác thêm tấm choàng buộc thắt ở trước ngực. Trang phục đời thường của phụ nữ dân tộc Cor thường có áo màu trắng, váy xanh đen, các đường viền trang trí thường dùng màu xanh, đen hoặc màu trắng. Phụ nữ Cor thường mặc áo yếm hoặc áo cộc tay, váy thường vấn và giắt mối bên hông. Trên lưng thường mang gùi phục vụ lao động sản xuất hằng ngày. Trai, gái Cor không những đảm đang, tháo vát cần cù lao động mà đôi tay còn rất khéo léo. Sau thời gian lao động nương rẫy hàng ngày, những cô gái Cor còn xuống suối bắt cá, hái rau rừng, còn các chàng trai dùng nỏ lên rừng săn bắt con chim, con sóc mang về sử dụng làm thức ăn hàng ngày.

Các thiếu nữ bên thúng nếp thơm chuẩn bị cho lễ cưới. 


Trang phục lễ hội

Trang phục lễ hội của dân tộc Cor thì càng được chăm chút. Trong ngày hội làng, nam mặc xà pôn và đóng khố, xà pôn là 1 tấm thổ cẩm hình chữ nhật tương đối rộng phủ đến đùi và dài đến gần bắp chân. Tấm thổ cẩm này thường có nền đen, các dải hoa văn ngang dọc trên mặt vải, tua trang trí màu đỏ ở dọc biên và cuối khố. Khi mặc cố ý để lộ một bên vai, ngực và đùi thể hiện sự mạnh mẽ, khoe được sự vạm vỡ các cơ bắp săn chắc. Trong các lễ hội, đạo cụ mà nam thường dùng là chiêng, trống. Trang phục lễ hội của người phụ nữ Cor khá rực rỡ. Áo váy luôn mới và đẹp đi cùng là đồ trang sức cầu kỳ và đắt giá, trong đó nổi trội nhất là các loại chuỗi cườm ngũ sắc, gồm có cườm đầu, cườm cổ, cườm hông và có các tua màu góp phần tô thêm vẻ đẹp duyên dáng của người phụ nữ Cor. Đẹp nhất là những chuỗi cườm ở hông, chúng được buộc chặt với nhau để vừa cùng tôn tạo sắc màu vừa hiện rõ hơn đường cong quyến rũ của cơ thể của người phụ nữ. Trong ngày hội làng, chúng ta sẽ thấy được sự dịu dàng uyển chuyển của các cô gái trong điệu múa cà đáo, sự vạm vỡ, lực lưỡng cơ bắp với tiếng chiêng ngân vang cả núi rừng với đôi tay khéo léo của chàng trai.

Trang phục cô dâu chú rể dân tộc Cor. 


Đặc sắc trang phục cưới

Trong các loại trang phục thì trang phục lễ cưới của đồng bào Cor là đặc sắc nhất. Trong lễ cưới, cô dâu đội chiếc nón bằng nan rất đẹp do chú rể đan tặng, cùng với nhiều món trang sức giá trị như tay đeo vòng ống bằng đồng, vòng cổ bằng bạc, chuỗi hạt cườm đeo cổ và trên hông. Ngoài đồ trang sức, cô dâu vai đeo chiếc gài dẹt một ngăn (kxui năh), tay cầm chiếc rựa và chiếc khăn gói các miếng trầu cau. Chú rể mặc khố và choàng khăn, cổ tay đeo nhiều khoen đồng thau, vai mang chiếc gùi dẹt 3 ngăn (kxui pót) đựng ít gạo, chai rượu trắng... Trên vai chú rể còn vác thanh kiếm phép có vỏ bao bằng gỗ, bên ngoài được trang trí bằng tua len nhiều màu. Thanh kiếm vừa là vũ khí để phòng thủ ở dọc đường vừa là vật trang sức, biểu hiện sự mạnh mẽ của người con trai trưởng thành. Chú rể còn khoác trên thân mình tấm choàng màu xanh hoặc màu chàm, có điểm xuyết vài đường nét hoa văn sọc dọc màu đỏ, đầu chít cái mũ lễ (ch’rấc) có hai mấu chìa ra tựa như cánh chuồn, tai đeo mấu bằng gỗ...Với lối phục sức này, chú rể hiện rõ lên diện mạo đầy nam tính.

Trang sức hạt cườm trên trang phục của thiếu nữ dân tộc Cor. 


Trang phục của đồng bào Cor thể hiện nét văn hóa đặc sắc riêng, chứa đựng giá trị sáng tạo, tính thẩm mỹ và nhân văn cao cả. Những giá trị di sản độc đáo của đồng bào luôn được gìn giữ trân trọng, nhất là các dịp lễ hội của làng và giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, góp phần vào kho tàng văn hóa trong cộng đồng 54 dân tộc anh em trên cả nước. 

TS.Trần Tấn Vịnh

Vui buồn nghề làm hương ở Quảng Phú Cầu

đăng 00:45, 15 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Làng nghề làm hương truyền thống ở làng Quảng Phú Cầu đã có cách đây cả trăm năm. Nhờ có nghề mà hơn một nửa dân số trong xã có việc làm, thu nhập ổn định, trung bình từ 5 - 6 triệu đồng/người/tháng. Mặc dù vậy, trước bối cảnh hội nhập làng nghề cũng đang phải đối mặt với khá nhiều thách thức. 

Làng nghề đẩy mạnh xuất khẩu hàng 

Cách Hà Nội 40 km, làng Quảng Phú Cầu, (huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội) từ lâu đã nổi tiếng bởi nghề làm tăm hương. Về làng tăm hương những ngày này sẽ thấy một màu đỏ rực của chân hương và không khí nhộn nhịn sản xuất, bán buôn. 

Làng nghề tăm hương Quảng Phú Cầu rơi vào tình trạng thiếu nguồn nhân lực trẻ. Ảnh: Nguyệt Tạ 


Ông Lê Văn Thanh - Chủ xưởng sản xuất tăm hương ở xã Quảng Phú Cầu cho biết, nhiều năm gần đây thị trường ổn định nên gia đình anh đã mở xưởng sản xuất tăm hương phục vụ xuất khẩu. Hiện nay, anh Thanh đã đầu tư máy móc cả chục tỷ đồng mở rộng xưởng, anh cũng thuê thêm 30 công nhân làm hương. 

Trung bình mỗi tháng cơ sở của anh thu mua gần 200 tấn nguyên liệu và xuất đi khoảng 50 tấn hương và tăm hương thành phẩm. Lao động làm cho xưởng nhận mức lương khá cao, từ 5 - 6 triệu đồng/tháng. Với những lao động làm lâu năm có kinh nghiệm nhuộm, sấy hương và pha tẩm bột sẽ có mức lương khá cao từ 6 - 8 triệu đồng/người. 

“Trước đây, bố mẹ, ông bà tôi cũng làm nghề tăm hương, tuy nhiên khoảng 20 năm trở lại đây làng nghề mới phát triển mạnh mẽ. Thị trường ổn định, kèm theo đó là sự mở rộng thị trường xuất khẩu khiến cung không đáp ứng đủ cầu” - ông Thanh nói. 


Ông Nguyễn Văn Dịu - Chủ tịch UBND xã Quảng Phú Cầu cho biết: “Nghề này là nghề chính, đem lại thu nhập ổn định, trung bình từ 5 - 6 triệu đồng/tháng. Cá biệt có những gia đình đầu tư cơ sở chế biến tăm hương, mỗi năm thu về cả tỷ đồng. Đặc biệt làng nghề không chỉ mang lại việc làm cho lao động địa phương mà còn tạo việc làm cho hàng nghìn lao động ở các nơi khác tới làm việc”. 

Thiếu hụt lao động trầm trọng 

Nhờ có nghề làm tăm hương mà xã Quảng Phú Cầu đã vươn lên dẫn đầu toàn huyện về thu nhập bình quân đầu người. Tuy nhiên, bên cạnh những cái được, làng nghề làm hương và tăm hương cũng đang đặt ra nhiều hệ luỵ về môi trường, công tác quản lý lao động, phòng chống cháy nổ…


Theo ông Lê Văn Dịu, khó khăn lớn nhất lúc này chính là sự thiếu hụt lao động làm nghề. Ông Dịu cho biết: “Nghề làm tăm hương là nghề chính của địa phương, mang lại thu nhập cao, giải quyết việc làm cho lao động, tuy nhiên hiện chủ yếu chỉ có lao động trung niên, lao động lớn tuổi. Hầu hết lao động trẻ của địa phương đều ra thành phố làm việc trong các khu công nghiệp”. 

Cơ sở của ông Nguyễn Đức Năm (48 tuổi) ở làng Quảng Phú Cầu có 20 lao động, nhưng người trẻ nhất cũng 45 tuổi, người già nhất cũng 60 tuổi. Đa phần họ đều là lao động nữ, làm ăn công nhật, làm ngày nào ăn ngày đó, không có ký hợp đồng, không đóng BHXH. 

Nguyễn Trọng Nam (24 tuổi) cho biết, trước đây gia đình Nam có làm cơ sở sản xuất tăm hương, Nam cũng tham gia làm tăm hương giúp gia đình. Thế nhưng từ ngày ra thành phố học, Nam không thích làm hương nữa. Nam chọn học nghề và xin vào làm ở khu công nghiệp, công việc nhàn hơn, thu nhập cũng khá hơn nhiều. 

Bên cạnh những khó khăn từ sự thiếu hụt lao động, thời gian vừa qua làng nghề Quảng Phú Cầu cũng được biết đến như là địa điểm của sự ô nhiễm trầm trọng. Nước, hoá chất nhuộm màu từ các cơ sở chế biến tăm hương không qua xử lý được đổ trực tiếp xuống cống, rãnh khiến cho nguồn nước bị ô nhiễm trầm trọng. Những ngày nắng khói bụi từ các cơ sở bay ra, cộng với mùi hôi thối từ cống rãnh khiến môi trường ngột ngạt. 


Ông Năm cho biết, những năm trước, tre, vầu được người dân làm nghề đưa về ngâm dưới nước khoảng một thời gian, khi vớt lên để làm tăm thì bốc mùi khó chịu. Nhưng hiện nay, nhận thấy sự ô nhiễm của nguồn nước, của nguyên liệu làm tăm, nên người làm nghề chuyển sang làm tăm bằng cật giang. Tuy nhiên, công đoạn xử lý hóa chất thủ công như NaOH của các cơ sở sản xuất được người làm nghề “vô tư” sử dụng.

Bà Nguyễn Thị Lan, một hộ dân sống ngay cạnh các xưởng làm tăm hương cho biết: “Ngày mưa thì đường bẩn, cống ngập nước hoá chất tẩy nhuộm, trời nắng thì khói bụi mù mịt. Mấy đứa cháu tôi không đứa nào được ra khỏi nhà vui chơi vì cứ ra khỏi nhà là hít khói, bụi bẩn về lại mắc bệnh hô hấp”. 

“Hiện nay, trong xã chưa có hộ nào đăng ký kinh doanh về việc sản xuất tăm tre nên việc quản lý sản xuất của chính quyền địa phương tới các hộ dân vẫn khó khăn. Việc cấp bách bây giờ là vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng từ việc các hộ gia đình dùng hóa chất tẩy tăm thải thẳng ra môi trường” - Ông Lê Văn Dịu - Chủ tịch UBND xã Quảng Phú Cầu chia sẻ.

Nguyệt Tạ

Tỉ mỉ các bước làm cơm lam của đồng bào dân tộc Thái

đăng 00:55, 14 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Khi mùa lúa rẫy kết thúc, mâm cơm mới cúng tổ tiên đã xong, thì đó cũng là lúc người Thái ở vùng cao Tương Dương, Kỳ Sơn (Nghệ An) vào rừng chặt cây tre gai non về làm cơm lam - món ăn giản dị mang hương vị đặc trưng núi rừng của đồng bào. 

Theo kinh nghiệm của đồng bào Thái ở huyện Tương Dương (Nghệ An), để làm được "bong khàu lám" (cơm lam) ngon phải mất nhiều công đoạn. Trước hết, phải chọn được cây tre gai - một loại cây mọc tự nhiên trong các khu rừng. Khi chọn cây tre làm ống lam, người ta thường chọn những cây không quá già và cũng không quá non bởi đây là những cây đang trong giai đoạn chuyển từ măng thành cây. Ảnh: Lữ Phú 


Ưu tiên lựa chọn vẫn là những cây có đốt ống dài, thẳng đẹp, không bị sâu, chặt bỏ một đầu mắt, tạo thành ống có đáy. Loại tre được người Thái tìm chọn để lam cơm là loại tre khi cơm lam chín, bóc hết lớp vỏ tre cứng còn để lại một lớp màng mỏng bao bọc lấy phần cơm đã chín, vì thế khi cầm cơm không bị dính vào da tay, khi ăn có vị ngọt của tre, vị thơm của nếp mới. Đây cũng là điểm khác biệt của tre gai so với cây nứa khi dùng để lam cơm. Ngoài ra, ống lam từ cây tre có lớp vỏ dày hơn nên khi lam không sợ cơm bị cháy như các loại ống khác. Ảnh: Lữ Phú 


Gạo để làm cơm lam là gạo nếp mới được thu hoạch trên nương về, có thể là nếp trắng hoặc nếp cẩm thơm ngon. Trước khi cho gạo vào ống lam, người ta thường cho một ít nước vào trước, sau đó cho gạo vào ống và đổ nước đầy miệng ống ngâm qua đêm. Trước khi lam, miệng ống tre được nút bằng lá chuối rừng để khi lam cơm không bị nghe mùi khói và vẫn giữ nguyên được hương vị của nếp mới hòa quyện với mùi thơm của ống lam. Ảnh: Lữ Phú 


Khi lam cơm cũng cần phải khéo tay, giữ lửa sao cho ống lam không bị cháy và cơm trong ống được chín. Khi lam, lửa phải to và thực hiện lam từ đáy ống lên hoặc miệng ống xuống, tùy từng nơi khác nhau và luôn trở ống đều tay để cơm lam chín đều và không bị sượng. Lam khi nào ống cháy sém, có mùi cơm nếp tỏa ra là dấu hiệu cơm đã chín. Ảnh: Lữ Phú 


Trước khi ăn, dùng dao chẻ bỏ lớp vỏ ngoài đã bị nướng cháy, sau đó tước lớp vỏ dày, chỉ để lại một lớp mỏng màu trắng bên trong thấy cơm lam định hình ở dạng ống đặc và được bao quanh một lớp màng mỏng màu trắng của ruột tre. Ảnh: Lữ Phú 


Khi đã chín, bóc hết vỏ cứng của tre, còn lại một lớp màng giấy mỏng giúp cơm không dính vào da tay. Cơm lam là món ăn mang nhiều ý nghĩa tâm linh. Đồng bào Thái thường có quan niệm nhờ mưa thuận, gió hòa, mùa màng mới tươi tốt, mới có được hạt gạo dẻo thơm để làm cơm lam. Ảnh: Lữ Phú 


Lữ Phú

Làng nghề bánh đa Lộ Cương

đăng 00:22, 10 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Thăm làng nghề bánh đa Lộ Cương (phường Tứ Minh, TP. Hải Dương) vào bất cứ mùa nào trong năm, chúng ta đều gặp một màu vàng khắp con đường quanh co trong làng khung cảnh vô cùng đặc biệt của những phên bánh đa vừa ra lò còn nóng hổi.

May mắn chúng tôi có mặt tại làng nghề bánh đa Lộ Cương vào sáng sớm, cả một vùng rộng lớn ở đây được bao phủ bởi những mảng màu vàng, trắng, cùng nhiều màu sắc khác đan xen, tạo nên một bức tranh nhiều màu sắc vô cùng đẹp mắt, mang đậm truyền thống về một không gian làng nghề Việt. Khi mặt trời bắt đầu nhô ra tia nắng của một ngày mới còn le lói thì những phên bánh đa được các hộ dân làng nghề tráng xong đưa ra khỏi lò vẫn còn nghi ngút khói, bưng ra phơi trắng cả những con đường quanh co trong làng.

Nếu trời nắng to thì bánh đa chỉ phơi nắng khoảng 3 tiếng là được. 


Nghề làm bánh đa xuất hiện ở làng Lộ Cương từ những năm 60 đến năm 1990 mới phát triển mạnh. Tháng 3/2006, làng Lộ Cương chính thức được công nhận là làng nghề. Hiện nay, làng có khoảng 600 hộ làm nghề, mỗi ngày sản xuất ra khoảng 60 tấn bánh đa các loại.

Gạo được xay xong đưa vào chậu để ngâm. 


Xưa người dân chủ yếu làm bánh đa thủ công bằng tay, bột được xay bằng cối thủ công, tráng thủ công trên nồi đồng đun củi, nhưng những năm gần đây đã được thay thế bằng máy tráng, máy cắt… nên cũng phần nào giúp cho người làm bánh đa đỡ vất vả hơn trước và năng suất lao động cũng được tăng theo.

Phên được chuẩn bị đưa vào để tráng bánh đem đi phơi. 


Cụ Nguyễn Thị Thành, 76 tuổi, người làng nghề cho biết: Làm nghề này vô cùng vất vả, phải thức khuya dậy sớm. Muốn bánh ngon phải đảm bảo được các yếu tố cơ bản như: gạo phải chuẩn, bột mịn tơ, mịn hơn cả bột làm bánh trôi, nhiệt độ cao, người làm bánh đòi hỏi phải có một thái độ làm việc cẩn thận, tỷ mỷ, để có thể cho ra lò những phên bánh đa vào buổi sáng sớm, người làm bánh đa phải thức dậy từ 4h sáng để xay bột, tráng bánh, chưa kể việc, phơi bánh mà gặp mưa thì lại phải thu vào...

Bánh đã được tráng xong đưa vào phên đem đi phơi. 


Những phên bánh đa được mang ra phơi trên mọi nẻo đường, ngõ xóm trong làng. Công đoạn phơi bánh là khó khăn và vất vả nhất vì phải phụ thuộc thời tiết như nhiệt độ, nắng, độ ẩm, không khí, nếu không cẩn thận, bánh sẽ bị nứt, phải bỏ đi. Nếu trời nắng nhẹ, bánh được phơi khoảng từ 3 - 5 tiếng. Nếu trời nắng to thì chỉ phơi nắng khoảng 3 tiếng là được. Mỗi ngày, mỗi hộ làm bánh đa trong làng sản xuất được từ 2 - 2,5 tạ bánh đa thành phẩm các loại.


Mỗi ngày, làng nghề bánh đa Lộ Cương cho ra lò khoảng 60 tấn bánh, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của dân thành phố và ngoài huyện, ngoài tỉnh. Bánh đa Lộ Cương có mặt ở khắp các cửa hàng, cửa hiệu, các quán phở trên TP. Hải Dương, sang Hưng Yên, lên Hà Nội rồi xuất cả vào miền Nam. Bánh đa Lộ Cương được nhiều người tin tưởng, bởi là thứ bánh không dùng hóa chất, không hàn the, phẩm màu.

Bánh đa phơi xong được đem đi cất xong sẽ tiếp tục mang phơi từ 1 - 2 tiếng để bánh khô. 


Làng nghề bánh đa đã góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân nơi đây. Mỗi hộ gia đình làm nghề có thu nhập trung bình từ 7 - 10 triệu đồng/tháng. Điều mà người dân Lộ Cương mong muốn là xây dựng thương hiệu bánh đa quê hương mình vươn xa hơn nữa và mang đậm bản sắc làng quê Việt.

Trịnh Bộ

1-10 of 27