Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Làng Mai Phước Định Vĩnh Long – Điểm du xuân thú vị Làng mai Phước Định được mệnh danh là “thủ phủ” của mai vàng miền Tây Nam Bộ, bởi nơi đây sở hữu rất nhiều gốc mai quý hiếm có hàng ...
    Được đăng 04:46, 20 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mùa chế biến nước mắm cá linh ở vùng đầu nguồn Nước đầu nguồn rút cũng là thời điểm nguồn nguyên liệu làm nước mắm cá linh dồi dào, các cơ sở chế biến ở xã đầu nguồn Vĩnh Xương (TX ...
    Được đăng 20:27, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mùa gói bánh Từ tháng 11 (âm lịch), các ngôi đình, miếu lần lượt tổ chức lễ Lạp miếu cũng là lúc những người thợ chuyên làm bánh, nấu xôi bắt đầu nhận ...
    Được đăng 20:23, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Thăm làng nghề dệt chiếu truyền thống ở Cà Mau Cà Mau có nhiều làng nghề dệt chiếu truyền thống như: Tân Thành (thành phố Cà Mau), Tân Duyệt (huyện Đầm Dơi), Tân Lộc (huyện Thới Bình)… Từ những nguyên ...
    Được đăng 04:23, 30 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lý giải tên gọi Âm Phủ của chợ đêm Đà Lạt Chợ Âm Phủ là điểm đến quen thuộc của du khách nhưng chắc hẳn không phải ai cũng biết câu chuyện đằng sau tên gọi này. Chợ đêm Đà Lạt ...
    Được đăng 05:26, 22 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 23. Xem nội dung khác »


Làng Mai Phước Định Vĩnh Long – Điểm du xuân thú vị

đăng 04:46, 20 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Làng mai Phước Định được mệnh danh là “thủ phủ” của mai vàng miền Tây Nam Bộ, bởi nơi đây sở hữu rất nhiều gốc mai quý hiếm có hàng trăm năm tuổi với giá tiền tỉ. Nếu muốn khám phá hương sắc mùa Xuân phương nam, hẳn đây sẽ là điểm du Xuân lý tưởng. Du lịch Vĩnh Long, ghé thăm làng mai bạn sẽ được tha hồ ngắm những “kiệt tác” mai, những thế mai đẹp, lạ, những bông mai đang hé nụ, khoe sắc trong nắng xuân. 

Làng Mai Phước Định Vĩnh Long 

Làng nghề mai vàng Phước Định ở ấp Phước Định 1 và Phước Định 2, thuộc xã Bình Hòa Phước, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Làng có khoảng 160 hộ dân trồng mai, với khoảng 800 gốc mai cổ thụ trên 100 tuổi, 19.200 gốc từ 50 đến 100 năm tuổi và hơn 30.000 gốc mai tiểu trên 30 năm tuổi, số mai nhỏ hơn thì nhiều vô số. 

Lần đầu đến đây chắc hẳn du khách sẽ không khỏi choáng ngợp vì người người, nhà nhà đều trồng mai đến không còn một khoảng trống. Mai tràn ra ngoài đường, trở thành hàng rào cây mai “độc nhất vô nhị” ở miền Tây này. 

Mai vàng Phước Định hình thành trên 60 năm và được công nhận làng nghề từ tháng 7/2009. Đây là bước ngoặt và động lực để những người dân phát triển làng nghề. Họ là những nghệ nhân, dùng tình yêu, sự cần mẫn, bền bỉ và đam mê để mỗi cây mai là một tác phẩm nghệ thuật. 

Đặc trưng của làng mai Phước Định là người dân tìm mua cây mai y 5 cánh nguyên thủy về chăm sóc, uốn tỉa tạo dáng, sau nhiều năm mới đem bán chứ không phải là mai tháp (mai ghép). Do những ưu điểm nổi bật về kiểu dáng, độ tuổi nên những cây mai ở Phước Định có giá khá cao. Nhờ nghề trồng mai vàng mà nhiều hộ dân ở đây vươn lên khá, giàu. 

Cây mai y 5 cánh nguyên thủy 

Là giống cây tự nhiên, cho nên mai y sống khỏe, phát triển mạnh, ít bị sâu bệnh và khô nhánh như mai ghép, phần lớn đều cho hoa rực rỡ. Các nghệ nhân nơi đây cho biết, để có được nguồn mai y, người trồng phải lặn lội tìm mua từ nhiều nguồn ở nhiều địa phương. Theo quan niệm, những nụ mai phải trổ hoa đúng đợt đón Tết, vui Xuân mới mang lại may mắn cho gia chủ, vì thế người trồng mai phải thật sự gắn bó, hiểu đặc tính sinh trưởng của mai để chăm sóc hoa nở đúng đợt. Thời tiết nắng nóng, mai dễ nở trước, mà lạnh quá mai lại khó nở, cho nên để có được những cây mai là tác phẩm nghệ thuật thật sự, đáp ứng đủ các tiêu chí bộ đế nở, thân uốn cong, chi tai đều, tán đều, đòi hỏi sự am hiểu kỹ thuật và cả sự dày công chăm sóc. Lặt lá mai vàng cũng là một công đoạn quan trọng quyết định mai nở hoa đúng tết, để bảo đảm hoa nở đúng tết thì phải tính toán ngày lặt lá mai và thời tiết, kích cỡ nụ hoa. Hiện nay, nhiều nhà vườn ở làng mai Phước Định đã bắt đầu ứng dụng khoa học công nghệ trên cây mai vàng, sử dụng phân thuốc đúng liều lượng và dùng hệ thống phun tưới tự động nên cây mai phát triển rất mạnh và đỡ công chăm sóc. 

Để mai nở đúng dịp tết đòi hỏi sự am hiểu kỹ thuật và cả sự dày công chăm sóc 

Nếu muốn du khách sẽ được người dân bản địa kể về làng mai với bao câu chuyện vui buồn để làng mai này tồn tại cùng thời gian qua bao cuộc thăng trầm. Còn nếu bạn là người muốn quan tâm đến đời sống của mai vàng thì hàng trăm nghệ nhân tại đây sẳn sàng chia sẻ những kinh nghiệm rất quý giá, thực tế, hiệu quả. 

Mai vàng nở rực đón xuân 

Người miền Bắc thường dùng hoa đào để chưng vào dịp Tết, còn người miền Nam dùng cây mai vàng để giúp mang lại may mắn, tài lộc và thịnh vượng cho gia đình. Chơi mai đã trở thành nét văn hóa đặc sắc, lâu đời được người dân Việt ở phương nam gìn giữ. 

Điểm du xuân thú vị 

Những ngày đầu xuân, mai vàng nở rực trong không gian yên tĩnh, thư thái, nhẹ nhàng mà khó nơi nào có thể có được. Màu vàng của mai, hương hoa thơm ngát hòa cùng làn gió thoang thoảng sẽ làm tan biến đi những ưu phiền, mệt mỏi. Không chỉ ngắm mai đến đây, nhiều người còn cảm nhận được không khí trong lành, cuộc sống bình yên của người miền Tây.

Mùa chế biến nước mắm cá linh ở vùng đầu nguồn

đăng 20:27, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Nước đầu nguồn rút cũng là thời điểm nguồn nguyên liệu làm nước mắm cá linh dồi dào, các cơ sở chế biến ở xã đầu nguồn Vĩnh Xương (TX. Tân Châu, An Giang) bắt đầu nhộn nhịp các khâu chuẩn bị để phục vụ thị trường cả năm, đồng thời tạo việc làm cho hàng chục lao động ở địa phương có thêm thu nhập. 

Mùa làm nước mắm cá linh nhộn nhịp 

Thời vàng son của nghề mắm là vào những năm 1990 trở về trước. Khi con nước dần rút, cá linh đã lớn, người ta giăng lưới đánh bắt cá linh nhộn nhịp cả khúc sông, rồi thì công đoạn chế biến, làm cá nhộn nhịp không kém. Những nhân công nhanh tay, quen mắt tập trung ở các cơ sở chế biến từ rất sớm, chuẩn bị “hành trình” mang đến “đặc sản” có một không hai nơi quê nhà - nước mắm cá linh. 

Những năm gần đây, nước lũ về thấp và ngắn ảnh hưởng rất lớn đến nghề sản xuất nước mắm ở địa phương. Bởi thường là họ mua cá linh làm nước mắm dự trữ. Nhưng nếu lũ cạn kiệt như hiện nay thì e rằng, việc sản xuất nước mắm sẽ bị ảnh hưởng vì không có nguyên liệu cá linh. 

Trời mờ sáng không khí nhộn nhịp của công đoạn chuẩn bị nguồn nguyên liệu sản xuất nước mắm tại các hộ diễn ra nhộn nhịp. Theo cô Trần Thị Ngọc Hà (cơ sở sản xuất nước mắm ở ấp 5, xã Vĩnh Xương) cho hay, do ảnh hưởng nước năm nay lên trễ, rút nhanh nên lượng cá đồng vùng đầu nguồn rất ít so với mọi năm. Đến thời điểm này, cô chỉ thu mua được khoảng 5 tấn cá. Nguồn cá nguyên liệu khan hiếm, đồng nghĩa với việc giá cả tăng. 

Hiện nay, giá mua vào từ 17.000-20.000 đồng/kg cá nguyên liệu. Tuy nhiên, để đảm bảo cung ứng tốt cho thị trường, cô Hà chủ động tìm nguồn nguyên liệu đáp ứng đủ số lượng. “Những năm trước, mua cá linh dễ dàng lắm vì nguồn cá dồi dào. Năm nay, cá mua khó mà giá cao. Năm ngoái, tôi cân cá có 10.000-11.000 đồng/kg, năm nay giá tới 20.000 đồng/kg mà không có cá” - cô Hà chia sẻ. 

Hiện nay, các hộ chế biến nước mắm đã cải tiến các thiết bị máy móc, giảm nhẹ công lao động như cá cắt đầu xong được đưa vào máy đánh vảy, rửa sạch, ướp muối đưa vào thùng ủ một thời gian, sau đó mang ra rửa sạch mới cho thính vào tiếp tục ủ. “Hồi đó, làm cá linh để ủ mắm cực lắm. Bây giờ có máy xay cá, đánh vẩy, nhờ vậy mình làm được số lượng nhiều, nhẹ nhân công”. Cá mang đi ủ cũng không đơn giản. Bình quân, mỗi cái lu ủ khoảng 30kg cá sẽ cho ra 15 lít nước mắm. Trong thời gian ủ (hơn 6 tháng), phải thường xuyên mở nắp lu để cá… phơi nắng. Sau thời gian ủ, sẽ lấy cá ra khỏi lu để đun, nấu thành nước mắm. 

Để có sản phẩm thơm ngon, phải để bếp lửa cháy vừa phải, đến khi cá hòa tan thành nước mắm. Qua nhiều công đoạn, nghe có vẻ giản đơn nhưng phải có kinh nghiệm cộng với “bí quyết” gia truyền của riêng mỗi người thì nước mắm cá linh mới tròn vị. Chén nước mắm cá linh thơm nứt mũi, trong vắt mà mang đi kho hay làm món chấm thì... ngon “vô đối” chứ chẳng đùa. 

Theo kinh nghiệm dân gian, để biết nước mắm đến độ chín vừa phải, người nấu dùng cơm nguội bỏ vào nồi, khi nào hột cơm nổi lên lớp mặt, tức là nước mắm đã chín. Lúc này, nước mắm có màu đỏ vàng và bốc lên mùi thơm với hương vị cá linh đặc trưng. Tin rằng, ai đã từng thưởng thức vị nước mắm cá linh đậm đà không thể nào quên. Trung bình, mỗi ngày cơ sở của cô Hà làm từ 200-300kg/cá, có hôm có nguồn nguyên liệu nhiều có thể chế biến lên 2 tấn cá. 

Đây là điều kiện để hàng chục lao động nhàn rỗi ở địa phương có nguồn thu nhập. Với 1.500 đồng/kg tiền công cắt đầu cá, trung bình mỗi ngày 1 lao động có thu nhập từ 70.000-150.000 đồng. Cô Nguyễn Thị Hoa (ngụ ấp 5, xã Vĩnh Xương) bày tỏ: “Năm nay lũ nhỏ, cá không có nhiều, thu hoạch cũng ít. Dù cá ít nhưng tôi chăm chỉ làm cũng kiếm thêm 100.000 đồng/ ngày”. 

Hiện, Vĩnh Xương có 5 hộ làm nghề sản xuất nước mắm, ước tính mỗi năm cung ứng ra thị trường trên hàng chục tấn nước mắm các loại, dù nghề làm nước mắm hiện nay rất khó khăn về nguồn nguyên liệu, nhưng hầu hết các hộ làm nước mắm truyền thống ở đây luôn tìm cách duy trì đặc sản vùng đầu nguồn để phục vụ nhu cầu của người dân. 

Nước mắm cá linh khi nấu bốc “mùi hôi” khắp xóm. Lạ là cái mùi nước mắm ấy làm người ta thích chứ không hề cảm thấy khó chịu. Lấy nước cốt xong người ta tiếp tục nấu lấy nước nhì, nước này thường để kho cá cho ngon, không ai làm nước chấm vì sợ phí. 

Còn gì bằng khi mang vài chai nước mắm cá linh làm quà đem tặng bạn bè nơi thị thành. Dẫu mộc mạc nhưng vị nước mắm cá linh không thua gì những loại nước mắm có thương hiệu nổi tiếng nào. 

PHƯƠNG LAN - LÊ KIỀU

Mùa gói bánh

đăng 20:23, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Từ tháng 11 (âm lịch), các ngôi đình, miếu lần lượt tổ chức lễ Lạp miếu cũng là lúc những người thợ chuyên làm bánh, nấu xôi bắt đầu nhận đơn đặt hàng cho mùa Tết. Hình ảnh các bà, các cô ngồi tụm ba, tụm năm tỉ mỉ lau từng lá chuối, nồi bánh đỏ lửa bên góc nhà khiến người ta cảm thấy không khí Tết đang gần hơn. 

Vừa hoàn thành xong mấy xửng xôi lớn cho khách đặt đem cúng đình, bà Nguyễn Thị Lệ Thu (52 tuổi, xã Bình Thạnh Đông, Phú Tân, An Giang) tiếp tục bận rộn với những đơn đặt hàng mới. Cô khách hàng trạc tuổi bà Thu ghé ngang nhà nhấn giọng: “30 Tết bà còn gói không, phải bà gói mới được, từ chối là tui không chịu đâu. Con gái ở Đồng Nai mới gọi về nói thèm bánh tét nhân chuối, bà nhận đi”. Nhẩm tính ngày Tết cổ truyền còn cách hơn 1 tháng, bà Thu cho biết, hiện nay đã được mối quen đặt hàng không còn rảnh ngày nào. Mấy chục năm nay, bà Thu và em gái chuyên gói bánh tét, bánh ú, bánh ít, bánh tro, bánh cặp… là những loại bánh truyền thống được gọi chung là bánh lá. 

Ngoài ra, bà còn thảo tay nghề làm các loại bánh ít trần, nấu xôi đủ vị, nhờ vào nghề này mà gia đình có cuộc sống ổn định. Vốn nhanh nhẹn, tháo vát, 2 người phụ nữ hoàn thành mỗi ngày hàng trăm cái bánh lá. “Gói bánh không có “bí quyết” nào đặc biệt, ông bà xưa chỉ làm sao thì theo y vậy, trong vùng có nhiều hộ làm bánh bán, chắc người ta ưng khẩu vị với bánh của tôi gói nên ủng hộ nhiều” - bà Thu chia sẻ. 

Mùa gói bánh cuối năm gợi không khí Tết đến gần hơn 

Để làm bánh lá, bà Thu chọn nếp rặt của Phú Tân, thu mua lá chuối ở tất cả các vùng lân cận, sử dụng đường thốt nốt và tự trồng lá dứa, lá cẩm sau vườn để tạo màu khi cần thiết. Một số công đoạn làm bánh đã có máy thay thế, song nhìn chung nghề này vẫn rất cực, làm xuyên suốt từ sáng đến tối. 

Bà Thu cho biết, mùa Tết năm ngoái, hoàn thành xong những đòn bánh cuối cùng thì tới giao thừa, bận đến nỗi không kịp chuẩn bị gì trong nhà. Khoảng 1 tháng nay, các loại bánh được khách hàng đặt làm số lượng nhiều hơn, bình quân 400-500 cái/ngày, chủ yếu phục vụ đám tiệc, cúng kiếng, lễ ở đình, miếu… 

Vất vả nhưng bù lại gia đình bà có thu nhập rất khá. Bánh tét được ưa chuộng vẫn là nhân truyền thống, gồm: ngọt, chuối, trắng. Ngày Tết, bánh gói phổ biến nhất là bánh tét 4 mùa, bánh tét lá cẩm 3 màu (nếp nhuộm màu tím lá cẩm, đậu xanh vàng, mỡ heo trắng), bánh tét ngũ sắc (nếp nhuộm màu xanh lá dứa và màu đỏ trái gấc), bánh nhân đậu ngọt, nhân dừa, nhân chay, nhân chuối… 

Thời điểm này, cơ sở bánh Út Bế (xã Bình Long, Châu Phú) đã tất bật hơn ngày thường. Các loại bánh được đặt làm nhiều nhất là bánh tét, bánh ít, bánh ú cho các gia đình cúng giỗ. Cuối năm, con cháu đi làm xa trở về, nên nhà nào có đám giỗ sẽ lo tươm tất hơn, phần bánh sẽ là quà không thể thiếu cho bà con cũng như con cháu trong nhà. Từ nhỏ, chị Nguyễn Thị Hồng Yến (32 tuổi) đã quấn quýt bên mẹ học làm bánh. Mẹ mất mấy năm nay, chị Yến kiên trì giữ nghề, dù có giai đoạn khó khăn. 

Chị kể ngày xưa chỉ nhờ vào mấy đòn bánh mà mẹ nuôi 3 đứa con khôn lớn, đến lượt chị thì cả gia đình nhỏ đều làm bánh, duy trì mười mấy năm nay. Mỗi ngày cơ sở Út Bế gói 100 đòn bánh tét và hàng trăm bánh ít, bánh ú, thời điểm này, loại nào cũng tăng số lượng gấp đôi. Theo nhu cầu của khách, bánh tét có rất nhiều loại nhân, như: nhân trắng, nhân trứng, nhân thịt, nhân ngọt, thập cẩm. Năm nay, chị Yến làm thêm mẫu bánh tét mới, có nhân xanh được ướp từ lá dứa, giá bán vẫn giữ nguyên, 30.000 đồng/đòn. 


Khác với những hộ làm bánh, ngày nay sử dụng một số nguyên liệu cho tiện lợi hơn trong quá trình làm, nhưng bánh tét Út Bế bao giờ cũng được cột bằng dây chuối, mọi công đoạn đều làm thủ công và đặc biệt dùng nguyên liệu, màu sắc tự nhiên. Sử dụng dây chuối cột bánh thì khi nấu chỉ cần quan sát sự co giãn của dây mà biết được nếp nở “đúng” độ, đòn bánh nào bị chai sẽ được loại bỏ. Chị cũng không đồng tình cách cột bánh bằng dây ny-lon như một số người áp dụng hiện nay, vì nấu trong nhiệt độ cao sẽ có những ảnh hưởng nhất định không tốt cho sức khỏe. 

Theo chị Yến, một đòn bánh tét ngon đòi hỏi nếp phải dẻo, nêm nếm vừa ăn, bánh vớt ra khô ráo và để được lâu. Bánh không mặn, không lạt, khoanh bánh khi cắt có bề mặt mịn và dẻo, miếng thịt mỡ còn nguyên được bao bọc bởi nhân đậu xanh. Trong quá trình nấu, nhân mỡ thấm vô đậu, qua nếp tạo thành mùi thơm hòa quyện với gia vị. 

Thời hiện đại, không còn nhiều người biết gói bánh lá truyền thống, chủ yếu đặt mua vì sự nhanh gọn, tiện lợi. Dù sao, nhờ những người tâm huyết giữ nghề, ngày đám tiệc trang trọng của gia đình vẫn còn hiện hữu hình ảnh những loại bánh truyền thống cùng với nét văn hóa ứng xử “đến có quà, về có lộc” của người dân. Ngoài chuyện duy trì nghề để làm kế sinh nhai, những hộ theo nghề bánh còn góp phần lưu giữ lại nét văn hóa truyền thống trong ẩm thực vùng, miền. 

P.V

Thăm làng nghề dệt chiếu truyền thống ở Cà Mau

đăng 04:23, 30 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cà Mau có nhiều làng nghề dệt chiếu truyền thống như: Tân Thành (thành phố Cà Mau), Tân Duyệt (huyện Đầm Dơi), Tân Lộc (huyện Thới Bình)… Từ những nguyên liệu như sợi lác, dây đay, dây bố… được nhuộm nhiều màu sắc, những người thợ đã dệt nên những tấm chiếu đa sắc, hoa văn trang trí tinh xảo, độ bền cao, mang thương hiệu riêng của chiếu Cà Mau. 

“Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm 
Công anh cực lắm mưa nắng dãi dầu 
Chiếu này tôi chẳng bán đâu 
Tìm em không gặp tôi gối đầu mỗi đêm…” 

Chiếu Cà Mau là thương hiệu nổi tiếng cả nước, không phải chỉ bởi bản vọng cổ lừng danh “Tình anh bán chiếu” của soạn giả Viễn Châu do cố nghệ sĩ Út Trà Ôn thể hiện, mà chiếu ở đây được làm bằng thủ công với những bí quyết riêng để tạo nên những chiếc chiếu đẹp và bền. 

Nằm trên chiếu Cà Mau, chúng ta sẽ cảm nhận được cái “mát rượi” khi trời nóng bức và cảm thấy “ấm áp” khi trời mưa sa gió lạnh. Hơn thế, chiếu còn cho người sử dụng cảm nhận được mùi thơm dìu dịu từ cây lác, sợi đay, mùi hương đồng nội Cà Mau. 

Theo bà Châu Thị Niệm, nghệ nhân đã theo nghề dệt chiếu 72 năm, nghề dệt chiếu Cà Mau hình thành từ hàng trăm năm trước, có nguồn gốc từ nước ngoài và truyền vào miền Nam vào khoảng thế kỷ 15, thời vua Lê Thánh Tông chiến thắng Chiêm Thành. 

Để có được một chiếc chiếu đẹp đòi hỏi những người thợ phải qua nhiều công đoạn như chặt, chẻ, phơi khô và nhuộm lát; chấp trân lắp vào khuôn và dệt. 

Đầu tiên là khâu chọn lác. Lác phải cao đều, không lớn cũng không nhỏ, thân lác không đốm và gốc ít ù. Thông thường từ tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, khi cây lác đã trổ bông và cao hơn đầu người (khoảng 2 m) thì được cắt về, chẻ nhỏ, phơi khô. 

Phơi lác 

Nếu dệt chiếu lẫy (chiếu hoa, chiếu bông) thì từ những cọng lác đã phơi khô phải được nhuộm 3 màu cơ bản: đỏ, xanh, vàng và trắng bằng màu cây lá tự nhiên. Lác được mua xong rồi cạo bỏ lớp da ngoài, chẻ nhỏ, phơi cho khỏi bị úng. Những ngày nắng tốt, trong nhà mọi người tất bật chẻ lác; bên ngoài tác được phơi chật sân, chật đường. 

Nghệ thuật nhuộm lác của người thợ đạt đến kỹ thuật cao, làm nên chiếu không phai màu 

Sau ba ngày phơi nắng, lác mềm nên dễ dàng xé mịn để rồi đem se thành sợi. Người dùng tay chùi, đập những sợi với nhau, nhanh tay lấy từng sợi lác sao cho chúng đúng màu, đúng hình vẽ. Phải mất ít nhất bốn ngày, người dệt giỏi mới hoàn thành đôi chiếu. Với họ, ngoài việc mưu sinh thì nghệ dệt chiếu là niềm đam mê, nếu không được ngồi chẻ lác, se sợi… họ lại nhớ nghề. 

Ở Cà Mau có những gia đình đã ba, bốn đời theo nghề dệt chiếu. Có nhiều gia đình họ lấy nghề dệt chiếu để sáng tạo. Thay vì một đôi chiếu làm trong đôi ba bữa, họ lại dày công gần cả tháng trời để tạo hoa văn trang trí hình nổi độc đáo trên mặt chiếu, họ chẳng khác gì những nghệ sĩ. 

Từ đôi bàn tay khéo léo, hàng trăm nghìn chiếc chiếu đẹp tỏa đi muôn nơi 

Ngày nay, tuy bị cạnh tranh dữ dội với những loại chiếu ngoại nhập, nhưng thương hiệu chiếu Cà Mau vẫn âm thầm, bền bỉ tồn tại và phát triển. Nghề làm chiếu vẫn luôn bền bỉ duy trì, được nhiều người sử dụng và trở thành một làng nghề truyền thống đặc sắc, đóng góp cho du lịch những giá trị văn hóa sâu sắc về đất và người Cà Mau. 

Một chiếc chiếu đã được hoàn thành 

Du lịch Cà Mau, đến thăm làng nghề dệt chiếu Tân Duyệt, Tân Lộc, Tân Thành trong những ngày vào vụ bạn sẽ thích thú khi nơi này lúc nào cũng đầy màu sắc từ trong nhà ra ngoài ngõ bởi những sợi lát xanh, đỏ, vàng, trắng, tím… Tận mắt chứng kiến cảnh tất bật của những người thợ lành nghề từ già, trẻ, gái, trai bên khung dệt, cọng lát, sợi trân… để sản xuất ra những manh chiếu xinh xắn, đẹp mắt; cùng với đôi tay khéo léo của những người thợ nhuộm màu lát, in hoa văn, vành, viền…du khách sẽ có được những trải nghiệm hết sức thú vị với nghề truyền thống độc đáo này.

Lý giải tên gọi Âm Phủ của chợ đêm Đà Lạt

đăng 05:26, 22 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Chợ Âm Phủ là điểm đến quen thuộc của du khách nhưng chắc hẳn không phải ai cũng biết câu chuyện đằng sau tên gọi này. 

Chợ đêm Đà Lạt ngày nay, hay còn được gọi là chợ Âm Phủ. 

Vào những năm 70 của thế kỷ 20, tại trung tâm thành phố Đà Lạt bắt đầu hình thành một chợ rau tự phát về đêm. Những hộ có nhà vườn vào mùa thu hoạch thường phải gánh rau củ nhiều cây số đến chợ bán. Những năm sau đó, dịch vụ xe ngựa nhận chở rau ra chợ khá thịnh hành. Khu chợ rau này bắt đầu họp từ khoảng 23h và kéo dài tới sáng sớm.

Dân số Đà Lạt vào thời điểm đó rất thưa thớt. Khu chợ tuy nằm ở trung tâm thành phố nhưng ban đêm gần như không có hệ thống chiếu sáng. Người mua, kẻ bán dùng đèn dầu để xem xét hàng hóa và trả giá. Sương mù về đêm ở Đà Lạt những năm đó dày đặc, khắp chợ chỉ leo lét ánh sáng đèn dầu của các tiểu thương. Dòng người di chuyển dưới ánh sáng mờ ảo đó tạo nên một khung cảnh rất huyền bí, liêu trai trong không khí se lạnh nơi phố núi. Cảnh tượng này khiến người dân Đà Lạt ví như cõi âm. Từ đó, tên gọi chợ Âm Phủ ra đời.

Chợ Âm Phủ hiện nay không còn không khí liêu trai như xưa mà vô cùng tấp nập, sáng sủa. Do vị trí nằm ở trung tâm, theo thời gian khu chợ ngày càng phát triển và trở thành một trong những địa điểm được nhiều du khách ghé thăm nhất khi đến Đà Lạt. 

Hiện nay chợ Âm Phủ luôn tấp nập, đông đúc mỗi tối. 

Ẩm thực đường phố thu hút du khách với những món ăn vặt như bánh tráng nướng, súp cua, dâu lắc muối ớt, sữa chua phomai... Khách đến chợ còn có thể mua quần áo, quà lưu niệm, hoặc vẽ tranh chân dung. Vào hai ngày cuối tuần du khách có thể trải nghiệm phố đi bộ tại đây.

Hiện tại thì chợ cũng được họp sớm hơn, bắt đầu vào 18h đến 19h hàng ngày. Dần dần, khách du lịch quen gọi khu chợ này là chợ đêm Đà Lạt nhiều hơn thay vì chợ Âm Phủ. Tuy nhiên, có dịp nghe đến tên chợ Âm Phủ, nhiều du khách vẫn cảm thấy hiếu kỳ và muốn được thử tận hưởng bầu không khí đặc biệt ở đây vào ban đêm. 

Sữa đậu nành, các loại bánh ngọt, bánh tráng nướng, bánh tiêu... là những món du khách có thể thưởng thức khi đến chợ đêm Đà Lạt. Ảnh: Trung Nghĩa 

Trung Nghĩa

Mùa săn nấm mối ở miền núi Hà Tĩnh

đăng 19:32, 13 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:13, 18 thg 12, 2020 ]

Tháng 10 âm lịch, sau những cơn mưa ngắn bất chợt, thời tiết hơi nồng ẩm là lúc nấm mối nở rộ ở các vùng miền núi Hà Tĩnh.m2

Nhiều ngày nay, người dân huyện miền núi Hương Khê liên tục tìm được nhiều nấm mối sau những đợt mưa.

Nấm mối xuất hiện nhiều nhất trong các lô cao su, rừng tràm.

Mùa nấm mối rất ngắn, chỉ kéo dài 10-15 ngày, số lượng thường không nhiều. Bởi vậy, nấm mối hiếm khi xuất hiện trên thị trường.

Nấm mối có thân màu trắng, mặt ngoài màu nâu xám, hơi giống màu cành, lá khô, khi nở, nấm xòe ra giống hình cây dù.

Chúng thường mọc nơi đất tơi xốp, độ ẩm cao như phía trên các tổ mối hoặc nơi có nhiều lá mục, xen lẫn bụi rậm.

Sau đợt mưa, gia đình chị Tâm ở xã Hà Linh, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) lại ra khu rừng tràm của gia đình tìm nấm mối.

Những ngày này, đi dọc các mô đất, tổ mối, bình quân mỗi ngày chị Tâm săn được từ 3-5 kg nấm mối. Với mỗi kg nấm, chị bán với giá 300.000-400.000 đồng. Có những ngày may mắn, tìm được khoảng 5 kg nấm thì gia đình có thêm khoản thu hơn xấp xỉ 2 triệu đồng.

“Nấm mối ngon nhất là lúc còn búp, khi đã nở xòe gặp mưa sẽ nhanh bị hư và kém phần ngon hơn. Nấm mọc từng đám, tìm nấm không vất vả nhưng cần may mắn…”, chị Tâm nói.

Tương tự, gia đình anh Trần Xuân Loát ở xã Hương Trạch cũng tìm được khá nhiều nấm mối, tuy nhiên anh coi đây là quà “trời ban” và chỉ để làm thực phẩm trong gia đình.

Nấm mối cho đến nay ở Hà Tĩnh chưa trồng được nên được xem là đặc sản tự nhiên. Nhiều người biết đến đặc sản này cũng sẵn sàng thu mua với giá khá cao. Nhờ đó, người nông dân tìm được nhiều nấm mối sẽ có thêm một khoản thu nhập khá.

Dân gian truyền miệng rằng: “Nấm tháng năm nằm lăn trong bụi, nấm tháng mười nằm cười giữa đàng” ý nói mỗi năm có 2 mùa nấm. Mùa tháng 10 thì dễ tìm và nhiều hơn vụ tháng 5 (âm lịch).

Nấm mối chế biến được rất nhiều món ăn khác nhau, có thể xào tỏi, xào với mướp hương; nấm nấu cháo và chế biến nhiều món ăn khác.

Hương Lĩnh

Nét đẹp thờ cá voi của ngư dân Hà Tĩnh

đăng 03:13, 13 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Để gìn giữ, phát huy nét văn hóa chôn cất và thờ cúng cá voi trong đời sống, nhiều địa phương ở Hà Tĩnh đã chú trọng công tác trùng tu, tôn tạo các di tích thờ cá voi.

Miếu Đức Ngư Ông xã Cẩm Nhượng (Cẩm Xuyên) vừa được trùng tu với kinh phí 1,8 tỷ đồng

Nằm ngay sát mép biển của làng chài thôn Bắc Hải (xã Thạch Hải, Thạch Hà), đền thờ Đại Thần Ngư hay còn gọi là thờ Cá Ông vừa được bà con nhân dân ở đây trùng tu, tôn tạo. Với kinh phí hơn 200 triệu đồng từ sự đóng góp của người dân các làng chài trên địa bàn và con em xa quê, ngôi đền được cơi nới từ diện tích khoảng 20 m2 đến hiện tại là 56 m2, gồm 3 tòa điện thờ khang trang.

Ông Hoàng Dương (bên phải) Trưởng thôn Bắc Hải (Thạch Hải, Thạch Hà) tại đền thờ Đại Thần Ngư vừa được bà con nhân dân ở đây trùng tu, tôn tạo.

Ông Hoàng Dương - Trưởng thôn Bắc Hải cho biết: “Từ nhỏ, chúng tôi luôn được thế hệ đi trước dạy rằng, việc thờ cúng đức Ngư Ông nhằm bày tỏ lòng biết ơn vì ngài đã cứu giúp chúng tôi qua những cơn hoạn nạn trên biển. Vì thế, ai cũng dành tâm thành kính cho đền thờ Đại Thần Ngư của làng. Không chỉ dâng lễ vật vào dịp giỗ ngài, bà con còn đồng lòng quyên góp để thường xuyên trùng tu, tôn tạo đền thờ và lăng mộ”.

Xã Thạch Hải có 5/5 thôn, hơn 75% số hộ dân sinh sống chủ yếu dựa vào nghề biển. Riêng thôn Bắc Hải có 234 hộ, 100% đều làm ngư nghiệp. Vì thế, tín ngưỡng thờ cá voi ở đây rất được coi trọng. Tương truyền, đền thờ cá voi tại thôn Bắc Hải được thành lập từ cuối thế kỷ XIX, sau khi một xác cá voi lớn dạt vào đây và được người dân chôn cất tử tế. Cho đến nay, đã có 5 xác cá voi dạt vào bờ biển này, tất cả đều được chôn cất bằng nghi lễ thiêng liêng tại khu vực đền.

Đền thờ Đại Thần Ngư ở thôn Bắc Hải (Thạch Hải, Thạch Hà) vừa được Nhân dân đóng góp kinh phí 200 triệu đồng để trùng tu, tôn tạo.

Ngoài đền Đại Thần Ngư được gọi là đền Cá Ông, ở Thạch Hải còn có một đền thờ cá voi khác gọi là đền Cá Bà hay Quản Bà nằm ở thôn Nam Hải. Thời gian gần đây, đền cũng đã được bà con địa phương đóng góp để trùng tu, tôn tạo. Rất nhiều hoạt động của người dân bản địa đã được tổ chức tại đây, nhất là việc thực hiện các nghi lễ liên quan đến nghề nghiệp của ngư dân.

Tục thờ cá voi hầu như có ở khắp các làng biển Hà Tĩnh. Chính vì thế, nhiều xã ven biển khác ở Hà Tĩnh cũng có đền thờ cá voi. Đền Ngư Ông còn có ở các xã như: Cẩm Nhượng (Cẩm Xuyên), Thạch Kim (Lộc Hà), Cương Gián, Xuân Yên (Nghi Xuân), Kỳ Xuân (huyện Kỳ Anh)… Ở đâu, người dân cũng quan tâm đến công tác trùng tu, tôn tạo di tích.

Gian điện thờ khang trang bên trong miếu Đức Ngư Ông ở xã Cẩm Nhượng (Cẩm Xuyên)

Ông Nguyễn Văn Hùng - Chủ tịch UBND xã Cẩm Nhượng cho biết: “Ở đây, miếu Đức Ngư Ông là di tích thiêng liêng được bà con ngư dân dày công chăm sóc. Vừa qua, miếu đã được đầu tư 1,8 tỷ đồng để tôn tạo. Trong đó, con em xa quê cùng bà con đóng góp 400 triệu đồng”.

Miếu Đức Ngư Ông ở xã Cẩm Nhượng được công nhận di tích văn hóa cấp tỉnh. Theo lịch sử, miếu được thành lập vào thế kỷ XV theo chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông. Tương truyền, khi vị vua này công du vào Hà Tĩnh đi qua vùng biển Cửa Nhượng thì gặp dông tố và được một con cá voi hộ thuyền. Sau khi vào bờ an toàn, vua Lê Thánh Tông đã ban lệnh lập miếu thờ để bày tỏ lòng biết ơn với loài cá có công hộ giá này.

Bên cạnh lập đền/miếu thờ những xác cá voi dạt bờ cũng được người dân chôn cất xây mộ tử tế. Ảnh: Khu mộ cá voi ở thôn Bắc Hải (Thạch Hải, Thạch Hà)

Theo ông Cao Trọng Tình (60 tuổi, ở thôn Lê Lợi, xã Kỳ Xuân), bản thân ông đã nhìn thấy cá voi giúp đỡ hộ thuyền mình vào mùa hè cách đây 15 năm. Ký ức về trận cuồng phong khủng khiếp trên biển Kỳ Xuân cũng như sự may mắn được cá voi hộ thuyền thoát nạn vào đêm 1/5/2015 khiến ông Tình nhớ mãi. Vì lý do đó, chính ông là một trong những người đầu tiên đã chôn cất một xác cá voi dạt vào bờ biển thôn Lê Lợi và lập miếu thờ Ngư Ông tại đây...

Tục thờ cúng đức ngư Ông - cá voi thể hiện nét đẹp “đền ơn, đáp nghĩa” trong truyền thống văn hóa của người Hà Tĩnh nói riêng và người Việt nói chung. Việc chính quyền và người dân tại nhiều vùng biển Hà Tĩnh quan tâm trùng tu di tích đền/miếu thờ cá voi gần đây cho thấy nét đẹp văn hóa tín ngưỡng này đang được phát huy rõ nét.

Thiên Vỹ

Về làng đục dó tìm trầm ở Hà Tĩnh

đăng 00:39, 11 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Là loại cây quý, nổi tiếng ở Hương Khê, nhưng trước đây, người dân chỉ coi dó trầm là cây gỗ bình thường. Sau năm 1980, nhiều người ở Huế, Đà Nẵng… đến khai thác, dó trầm trở nên có giá trị cao. Phong trào trồng dó ở Hà Tĩnh và nghề xoi trầm ở xã Phúc Trạch cũng từ đó mà thành.


Ở xã Phúc Trạch không chỉ có giống bưởi ngon, thơm nức tiếng gắn liền với địa danh của của địa phương này mà còn có cây dó trầm được đánh giá rất cao về chất lượng. Từ những cây dó trầm, người dân sẽ chế tác ra nhiều loại sản phẩm khác nhau như: trầm cảnh, đồ mỹ nghệ, trang sức, các sản phẩm tâm linh… Đến nay, phần lớn các công đoạn chế tác vẫn phải làm thủ công.


Ông Đinh Công Ánh năm nay đã bước sang tuổi 93 – là một trong những người đầu tiên mang nghề xoi dó tìm trầm về Phúc Trạch. Vào tuổi xưa nay hiếm, song ông vẫn khoẻ mạnh và minh mẫn, theo ông, đó là nhờ lộc của trầm hương - thứ được ví là loại hương thơm của trời ban cho thế gian.

Trước đây, vợ chồng ông Ánh từng là công nhân nông trường 20-4 (nay thuộc xã Hương Trà, huyện Hương Khê). Nhưng với mức lương thấp, ông học thêm nghề phụ xoi trầm hương từ những người thợ khắp nơi đổ về Hà Tĩnh tìm trầm. Đến năm 1982, khi nghỉ hưu, ông trở về xã Phúc Trạch và gắn bó với cây trầm hương đến nay.


Những ngày đầu làm nghề, khoảng vào những năm 1980, trầm hương chủ yếu lấy từ tự nhiên, từ trong rừng hoặc từ vườn tạp của người dân. Khi đó giá trầm hương cũng rất rẻ, hầu hết người dân ít ai biết được giá trị thật của trầm. Kể cả người lão luyện như ông Ánh cũng vậy. “Nếu may mắn thì gặp cây có hàng “tốc bông” (trầm đẹp, thơm và bền) thì có khi lãi cả chục triệu đồng. Nhưng không may thì đẽo mỏi mắt cũng không tìm thấy miếng trầm nào, cả cây dó to cũng chỉ làm củi, nghề làm trầm hay là vậy” - ông Ánh kể lại.


Công việc của ông khi đó cũng chỉ đơn giản là đốn cây dó trầm về, sau đó chặt, cưa, và xoi hết phần gỗ thịt, chỉ lấy phần trầm mà người trong nghề thường gọi là “trai” để bán cho thương lái.

Từ mỗi cây dó chu vi hàng trăm centimet cũng chỉ chắt lọc được một vài kilogam trầm. Công việc rất mệt nhọc và đòi hỏi sự tỉ mẩn.


Để lấy được trầm, thông thường phải qua nhiều công đoạn gồm: đẽo phá, xổ phá, ép sát và xổ gạn (tỉa sạch). Trong đó xổ gạn là công đoạn khó nhất. Gạn cần nhất là sự dẻo dai của cổ tay và tinh mắt, chỉ cần thiếu tập trung hoặc lỡ tay là có thể “phạm”, làm hỏng, thất thoát trầm hương. Ngay cả với ông Ánh – một người làm nghề lâu năm vẫn không đủ tự tin để thực hiện công đoạn này. “Tôi già rồi, cổ tay cứng nên không gạn được” - ông Ánh nói.

Do tuổi cao, ông Ánh không còn làm nghề xoi dó trầm. Thi thoảng nhớ nghề, ông lục lại bộ dụng cụ rồi làm cho khuây khoả. Hoặc khi gặp cây dó trầm có “dầu” đẹp, ông lại thích thú ngồi chế tác, vẽ ra những “thế” đẹp để con, cháu xổ gạn.


Toàn bộ “bí kíp” nghề nghiệp được ông Ánh truyền lại cho con, cháu. Hiện, ông có 2 con trai vẫn đang theo nghề xoi trầm hương. Trong đó, anh Đinh Công Tuấn được ông đánh giá là kỹ năng gạn còn cao hơn cha nhiều lần. Anh Tuấn là một trong số ít người ở Hương Khê thuần thục công đoạn gạn trầm.


Nghề sản xuất trầm hương ở Hương Khê hiện được nhiều người trẻ phát triển, sản phẩm cũng ngày càng đa dạng hơn trước. Như anh Đinh Công Tuấn, ngoài việc gạn lấy trai, anh còn gạn trầm cảnh, làm vòng trầm (vòng đeo tay), làm hương trầm nụ…

Riêng về trầm cảnh, có những khúc chỉ nặng hơn 1 kg nhưng có giá đến hàng trăm triệu đồng. Theo người dân địa phương, chất lượng trầm thường được đánh giá qua độ dầu, tức là dầu càng nhiều thì trầm càng sánh, càng có giá trị cao. Về giá trầm không có định mức cụ thể theo cân nặng, kích cỡ như các loại sản phẩm kinh doanh khác mà chỉ theo đánh giá cảm quan của người mua và người bán.


Nếu như trước đây, trầm hương hoàn toàn tự nhiên thì ngày nay, người dân đã có nhiều phương pháp can thiệp để cây dó sinh trầm như dùng khoan và bơm thuốc tạo trầm vào cây. Việc này sẽ giúp rút ngắn thời gian tạo trầm.

Hiện tại vẫn có trầm tự nhiên – là do sâu đục, hoặc cây dó tự tạo ra, để phân biệt, người trong nghề gọi trầm tự nhiên là “hàng kiến”, còn trầm nhân tạo là “trầm khoan”.



Các công đoạn thu hoạch cây dó trầm và tạo trầm thành phẩm hầu hết đều thực hiện thủ công. Khi chặt cây, ở những các mạnh cưa, cắt cũng phải do người có kinh nghiệm lựa chọn, đánh dấu để lấy may mắn với hi vọng sẽ có trầm chất lượng cao, nhiều dầu.


Để xoi trầm, mỗi người thợ đều tự trang bị cho mình một bộ đồ nghề, gồm rất nhiều những chiếc đục, cưa đặc biệt được đặt rèn dành riêng cho nghề này. Ở mỗi công đoạn, người thợ sẽ lựa chọn những dụng cụ phù hợp.


Không chỉ những người lớn tuổi, khi trầm hương ngày càng có giá trị, nghề xoi trầm thu nhập khá ổn định nên nhiều người trẻ sẵn sàng học và giữ nghề truyền thống. Em Nguyễn Văn Nam (sinh năm 2002, xã Phúc Trạch, Hương Khê) là một trong những người trẻ nhất quyết tâm học và làm giàu từ nghề chế tác dó trầm.

“Em học nghề từ cha rồi sau đó xin vào làm ở một cơ sở sản xuất trầm trong xã. Ban đầu, mình chỉ được đi chặt cây, đẽo phá, dần dần em đã thuần thục công đoạn xổ phá và đang học thêm kỹ năng gạn trầm. Thu nhập trung bình mỗi ngày từ 200 – 250 nghìn đồng” – Nam chia sẻ.


Từ một vài người ban đầu, đến nay toàn xã Phúc Trạch đã có hàng chục cơ sở với hàng trăm thợ trầm đang ngày đêm chế tác, xổ, gạn… Ông Trần Quốc Khánh - Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch cho biết, toàn xã hiện có khoảng 100 người theo nghề xoi dó trầm và kinh doanh các sản phẩm mỹ nghệ từ trầm. Với khoảng 3 ha cây dó, tổng thu nhập toàn xã năm 2020 dự kiến đạt khoảng 90 tỷ đồng (bao gồm từ hoạt động bán hạt, cây giống và cây thương phẩm và các thành phẩm từ dó trầm).



Người ta ví rằng, ở Phúc Trạch, đứng ở đâu cũng có thể nhìn thấy cây dó trầm. Nhiều thế hệ người dân Phúc Trạch vẫn đang nỗ lực phát triển sản phẩm của làng nghề đa dạng hơn, đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu của người tiêu dùng, góp phần giúp danh tiếng của trầm hương Hà Tĩnh ngày càng vươn xa hơn.

Dương Chiến


Cận cảnh quy trình làm mật mía ở làng nghề nổi tiếng Hà Tĩnh

đăng 00:21, 11 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cuối tháng 10 âm lịch là thời điểm làng nghề ép mật ở xã Thọ Điền, Vũ Quang (Hà Tĩnh) hối hả chuẩn bị hàng tết. Sự ra đời của mô hình HTX cùng với ứng dụng máy móc hiện đại đang giúp người dân mở rộng thị trường, tăng thu nhập.

Nghề ép mật mía ở xã Thọ Điền có từ bao đời nay, trải qua thời gian, toàn xã hiện còn khoảng 100 hộ lưu giữ nghề truyền thống này. Thời điểm này, trên những vùng trồng mía, đi đâu cũng thấy người dân nhanh tay thu hoạch nguyên liệu để kịp cho ra đời những mẻ mật thơm ngon.

Năm nay, thay vì cách làm nghề truyền thống dùng trâu, bò kéo mật như những năm trước, người dân “vựa mật” Thọ Điền đã ứng dụng máy móc hiện đại để ép mía nhằm giảm sức lao động, tăng năng suất.

Với mong muốn phát triển sản phẩm đặc sản truyền thống của địa phương, tháng 7/2020, anh Lương Sỹ Đức (SN 1993) và chị Đoàn Thị Nhàn (SN 1993) ở thôn 1, xã Thọ Điền thành lập HTX Dịch vụ mật mía Sơn Thọ với 12 thành viên tham gia.

Để đưa HTX đi vào hoạt động, các thành viên đã xây dựng nhà xưởng 150 m2 với đầy đủ các khu vực bếp nấu, khu vực sơ chế, tập kết nguyên liệu, khu vực bán hàng và khu vực đóng gói. Đặc biệt, HTX đầu tư mua máy ép mía công suất lớn với trị giá 150 triệu đồng để ép mía. Công suất ép mỗi ngày đạt 3 - 4 tấn mía nguyên liệu, tương đương với hơn 300 lít mật mía thành phẩm. Toàn xã Thọ Điền hiện có 2 chiếc máy ép công suất lớn.

Hơn 40 năm làm nghề ép mật, ông Lương Sỹ Công - thành viên của HTX cho biết, những năm trước chưa có máy móc, gia đình ông phải dùng trâu để ép. Tuy nhiên, từ khi thành lập HTX, công đoạn ép mật đã đơn giản và năng suất hơn rất nhiều. Không chỉ phục vụ cho HTX, máy ép mía còn phục vụ nhiều hộ dân làm nghề.

Ông Công chia sẻ: Việc dùng trâu, bò và sức người cả ngày cũng chỉ ép được 1 tạ mía cây, hiện nay nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật nên năng suất cao hơn hẳn, một ngày có máy có thể ép được từ 3 - 4 tấn mía cây.

Mật sau khi được ép xong sẽ cho vào một chiếc chảo lớn để nấu. Nấu mật mía trải qua rất nhiều công đoạn, từ chuẩn bị nguyên liệu từ ngoài ruộng, làm sạch mía, ép nước mía, nấu và chắt lọc mật. Trong tất cả các công đoạn thì quan trọng nhất là công đoạn keo mật (nấu mật).

Anh Lương Sỹ Đức chia sẻ: “Quan trọng nhất là giữ lửa trong lò luôn ổn định. Nếu lửa quá to, tay đảo không đều mật dễ bị cháy. Nếu lửa quá nhỏ thì công đoạn keo mật sẽ rất lâu. Muốn mật ngon phải đứng “canh” các chảo mật lớn trong nhiều giờ để đảo liên tục và đều tay, khi mật sôi thì vớt váng. Nếu không chú ý mật sẽ bị cháy có màu đen và không được thơm ngon, khi nước mía bắt đầu sền sệt chuyển sang màu nâu vàng thì mới hoàn thành việc nấu mật”.

Sau khi nấu xong, mật sẽ được cho vào một chiếc nồi lớn để lắng cặn, rồi nấu cho đến khi mật sánh lại và chuyển màu vàng sẫm.

Khi thành mật thương phẩm sẽ có một lớp bọt đường ở phía trên.

Mật sau khi được nấu xong sẽ được để nguội trong vòng 3 giờ. Khi mật lắng và sánh lại thì lúc đó mới đóng chai.

Những dòng mật óng vàng được cẩn thận cho vào chai.

Chị Đoàn Thị Nhàn - Giám đốc HTX Dịch vụ mật mía Sơn Thọ cho biết: Dù mới chỉ đầu vụ tết, nhưng những ngày này, HTX của chúng tôi đã làm việc hết công suất, khu vực bếp nấu gần như đỏ lửa cả ngày lẫn đêm. Mỗi ngày chúng tôi ép 3 - 4 tấn mía tươi, tương đương nấu được khoảng 300 lít mật thương phẩm. Sản phẩm làm ra đến đâu được khách hàng và thương lái đặt mua hết đến đó, thậm chí có những lúc cháy hàng. Tuy nhiên, với công suất của máy như hiện nay và nhu cầu khách hàng thì nguồn nguyên liệu mía trên địa bàn vẫn chưa cung ứng đủ. Vì vậy HTX mong muốn bà con trồng mía quanh năm thay vì trồng 1 năm 1 vụ như trước và HTX cam kết sẽ thu mua mía cho bà con.

Cũng theo chị Nhàn, cùng với việc đưa máy móc hiện đại vào sản xuất, các quy trình chế biến đảm bảo vệ sinh nên sản phẩm mật mía của HTX bán rất được giá với 60 nghìn đồng/lít. Bên cạnh đó, những chai mật được đóng cẩn thận, có dán tem của HTX sẽ giúp sản phẩm mật mía Thọ Điền được người tiêu dùng tin tưởng hơn khi sử dụng.

Tết Nguyên đán Tân Sửu đang đến gần, không khí lao động, sản xuất tại HTX cũng tất bật, nhộn nhịp hơn. Với truyền thống của làng nghề cộng với sự cần cù chịu khó, không ngừng đổi mới phương thức sản xuất, người dân làng nghề mật mía Thọ Điền đang từng bước tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng tốt, vừa đáp ứng được nhu cầu của Nhân dân, vừa tăng thêm nguồn thu nhập.

Để sản phẩm mật mía có chỗ đứng trên thị trường và không bị mai một dần, chính quyền địa phương đã hỗ trợ người dân xây dựng HTX dịch vụ mật mía Sơn Thọ và hiện đang tiếp tục vận động người dân tham gia vào HTX. Từ đó nhằm mở rộng quy mô, sản xuất tập trung, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiến tới xây dựng mật mía Thọ Điền thành sản phẩm OCOP, từng bước đưa sản phẩm đến các thị trường tiêu thụ lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh...

Ông Nguyễn Đăng Nhàn - Chủ tịch UBND xã Thọ Điền

Văn Chung - Thu Hà

Kinh lá buông và giá trị văn hóa Khmer

đăng 23:59, 10 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể, kinh lá buông ẩn chứa những nét đẹp tinh túy trong văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) Khmer vùng Bảy Núi. Đây là nơi lưu giữ những giá trị tri thức cũng như sự sáng tạo độc đáo được người Khmer lưu giữ qua nhiều thế hệ. 

Chùa Soài So (xã Núi Tô, Tri Tôn, An Giang) từ lâu được biết đến là nơi còn lưu giữ kỹ thuật viết kinh trên lá buông của đồng bào DTTS Khmer vùng Bảy Núi. Nơi đó có vị hòa thượng Chau Ty, người nghệ nhân duy nhất nắm rõ những tinh túy của kỹ thuật viết kinh trên lá buông. Tuy nhiên, thời điểm tôi đến ông không có mặt tại chùa nhưng vẫn dặn dò sư phó Chau Bane gặp gỡ phóng viên. 

Nói về lý do ra đời của những bộ kinh lá buông, sư Chau Bane cho biết: “Nghe kể lại, kinh lá buông có từ thế kỷ XIX. Hồi trước, vì thiếu sách vở để giáo dục phật tử nên các sư nghĩ ra cách này để viết kinh nhằm lưu giữ được lâu. Tính đến nay, những bộ kinh cổ nhất đã có tuổi đời hàng trăm năm. Sãi cả Chau Ty rất muốn truyền dạy kỹ thuật viết kinh lá buông cho nhiều người cùng biết để giữ gìn truyền thống”. 

Sư Chau Bane giới thiệu về bộ kinh lá buông 

Theo sư Chau Bane, để có được bộ kinh lá buông hoàn chỉnh là quá trình công phu, nhiều tâm huyết. Trước tiên, phải chọn những chiếc lá buông đủ lớn, không bị rách mang về chùa. Sau đó, các sư mang lá đi phơi nắng cho đủ khô nhằm đảm bảo những bộ kinh không bị ẩm mốc. Khi đã có đủ số lá cho một bộ kinh, các sư bắt tay vào công đoạn viết chữ. Những nét chữ Pali hoặc chữ Khmer cổ được các sư cẩn thận, tỉ mỉ, chăm chút sao cho thẳng hàng, ngay lối và đẹp mắt. Bởi, mỗi một bộ kinh hoàn thành sẽ trở thành “di sản” cho đời sau nên chất chứa nhiều tâm huyết của người viết. 

“Giai đoạn trước đây, kỹ thuật viết kinh chỉ được chân truyền cho các đệ tử giỏi nhất nên không nhiều sư sãi biết được. Bây giờ, kinh lá buông cần được bảo tồn nên nhiều người có cơ hội tiếp cận với kỹ thuật này. Bản thân sư cũng được hòa thượng Chau Ty dạy bảo mới biết cách viết kinh lên lá buông. Sư ráng học hỏi để giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình” - sư Chau Bane chia sẻ. 

Về nội dung, kinh lá buông thể hiện những lời dạy của đức Phật, những câu vè, câu chuyện dân gian, trò chơi dân gian gắn liền với văn hóa của đồng bào DTTS Khmer. Vì chủ yếu giảng giải giáo lý của đức Phật, khuyên bảo con người hướng thiện nên những bộ kinh lá buông mang giá trị văn hóa vô cùng độc đáo. Ở kinh lá buông, người ta nhận ra những nét đẹp dung dị trong tâm hồn người Khmer qua nhiều thế hệ, nhất là những lời Phật dạy được thấm nhuần và đi vào đời sống hàng ngày của họ. 

Các bộ kinh lá buông tại chùa Soài So 

Đặc biệt, sự độc đáo của kinh lá buông còn nằm ở cách những người Khmer sáng tạo ra nó. Để viết chữ trên lá buông, họ dùng một loại bút đặc biệt được làm bằng gỗ, vừa tay cầm, một đầu có mũi nhọn bằng kim loại gọi là đek-cha để “khắc” chữ lên lá buông. Những nghệ nhân như hòa thượng Chau Ty có thể viết khoảng 6 lá kinh/ ngày. Với các đệ tử, con số này sẽ ít hơn. Mỗi bộ kinh có độ dài từ 20-60 lá. Như vậy, việc hoàn thành một bộ kinh thực sự là kỳ công! Khi công việc khắc chữ hoàn thành sẽ tẩm lên lá buông một hỗn hợp gồm nước, dầu lửa và than. Khi đem phơi khô, những dòng chữ sẽ hiện ra rõ nét và đẹp mắt. 

Hiện nay, nguồn lá buông để viết kinh khá khan hiếm. Do vậy, UBND huyện Tri Tôn đang thực hiện việc bảo tồn, phát triển loại cây nguyên liệu để tạo ra kinh lá buông. Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Du lịch huyện Tri Tôn Chau Vuth Thi thông tin: “Hiện nay, chúng tôi đang giữ gìn một số cây lá buông trên địa bàn để làm nguồn phát triển cho kinh lá buông sau này. Vì đây là giá trị văn hóa tồn tại qua nhiều thế hệ nên mỗi người Khmer đều rất trân quý. Hiện nay, chùa Svay Ton là nơi lưu giữ nhiều bộ kinh lá buông cổ tại huyện Tri Tôn”. 

Với những giá trị văn hóa cùng kỹ thuật thể hiện độc đáo, kinh lá buông cần tiếp tục được bảo tồn, phát huy và trở thành nét riêng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu và du khách. Tuy nhiên, phải có những biện pháp tích cực hơn nhằm hỗ trợ các chùa Khmer duy trì, phát triển cách viết kinh lá buông để nhiều thế hệ tiếp nối lưu truyền trong dòng chảy văn hóa Khmer. 

THANH TIẾN

1-10 of 23