Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Độc đáo nghề làm đầu lân xứ Huế Những chiếc đầu lân xứ Huế với nhiều nét riêng biệt so với các vùng miền khác, được xuất đi mọi miền đất nước, mang niềm vui đến cho trẻ ...
    Được đăng 01:42, 19 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lưu luyến ‘hương cốm’ làng Nông Xá Ít ai biết ở làng Nông Xá (xã Tân Tiến, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng), nơi nổi tiếng về làm bánh đa, còn có một nghề truyền thống ...
    Được đăng 01:33, 19 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lễ cúng mừng sức khỏe của người Ê Đê Người Ê Đê sống trên vùng đất Tây Nguyên đại ngàn hùng vĩ. Từ xưa đến nay, đồng bào Ê Đê vẫn giữ gìn Lễ cúng mừng sức khỏe và ...
    Được đăng 01:20, 19 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Rộn rã mùa vàng dưới thung lũng Hoàng Liên Sơn Hòa cùng bức tranh mùa vàng quyến rũ tại những thửa ruộng bậc thang là người nông dân vùng cao bận rộn với ngày mùa, khiến lòng người say đắm ...
    Được đăng 00:57, 19 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đầu làng có một Thánh đường Buổi sáng thức dậy ở một vùng giáp biên. Chưa kịp tận hưởng cảm giác một mình bơ vơ xứ lạ thì đã thấy ngỡ ngàng khi trước mặt là ...
    Được đăng 00:45, 18 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 21. Xem nội dung khác »


Độc đáo nghề làm đầu lân xứ Huế

đăng 01:42, 19 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Những chiếc đầu lân xứ Huế với nhiều nét riêng biệt so với các vùng miền khác, được xuất đi mọi miền đất nước, mang niềm vui đến cho trẻ em trong ngày Trung thu. 

Những ngày đầu tháng 8 âm lịch, các lò làm đầu lân truyền thống ở TP Huế (Thừa Thiên - Huế) tất bật hoàn thành sản phẩm để đưa ra thị trường. Khuôn đầu lân được làm từ xi măng, người thợ dán giấy và hoàn tất các công đoạn cần thiết trên khuôn này. 


Ngoài làm lân bằng khuôn xi măng thì đầu lân làm bằng khung sườn cũng là môt đặc trưng của lân Huế 


Khung sườn được làm thủ công hoàn toàn, vật liệu chủ yếu là cây lồ ô và mây rừng. 


Anh Cao Xuân Thắng (ngụ đường Ông Ích Khiêm - TP Huế) với 18 năm kinh nghiệm làm đầu lân truyền thống cho biết, đầu lân Huế độc đáo hơn các đầu lân ở các vùng miền khác bởi các họa tiết trang trí, đây cũng là công đoạn khó nhất để có được một chiếc đầu lân đẹp. 


Lê Quang Nhật Trường (23 tuổi), có 4 năm trong nghề làm đầu lân cho đoàn Bạch Ngọc Đường tại TP Huế (Thừa Thiên - Huế) tâm sự làm đầu lân cực nhưng em vui và mê. Một chiếc đầu lân hoàn thành như tác phẩm nghệ thuật mà mỗi nghệ nhân muốn thổi hồn vào sản phẩm mình làm ra.


Một người thợ của cơ sở Thu Lan (đường Nguyễn Phúc Nguyên - TP Huế) đang dán giấy bồi lên lưỡi con lân. Gần đến Trung thu, các cơ sở miệt mài ngày đêm hoàn thành những đơn đặt hàng của khách trong và ngoài tỉnh. 


Sau khi đầu lân lên khuôn, người thợ sẽ dán vải đính kim tuyến lên đầu lân trước khi tiếp tục vẽ các họa tiết trang trí. Khâu vẽ là phần quan trọng nhất để tạo một con lân có hồn. 


Đầu ông Địa là một sản phẩm không thể thiếu khi múa lân. Đa số các xưởng làm đầu lân sẽ làm luôn đầu ông Địa để khách hàng có thể mua trọn bộ tại xưởng. 


Một người thợ đang may những viền trang trí, đuôi, mi mắt và nhiều chi tiết vải để trang trí trên con lân. Để các chi tiết được kỹ càng, chính xác, họ buộc phải làm việc trong bóng tối, nhường sự tập trung của ánh sáng vào các chi tiết cần sự tỉ mỉ và cầu kỳ. 


Hiện nay, ở TP Huế có hơn chục hộ gia đình vẫn giữ nghề làm đầu lân truyền thống. Những ngày đầu cận Tết Trung thu, các lò làm đầu lân hối hả hoàn thành sản phẩm để đưa ra thị trường, phục vụ khách hàng khắp nơi. 


Thời điểm này, các con phố bán đầu lân cũng bắt đầu nhộn nhịp. Nhiều bậc cha mẹ đi chọn đầu lân cho con chơi trong đêm rằm, các thanh thiếu niên tụ họp nhau lại mua lân để múa kiếm tiền trong dịp này. Trong trung tâm thành phố, đường Trần Hưng Đạo và chợ Đông Ba là nơi tập trung nhiều cửa hàng bán đồ chơi Trung thu nhất, trong đó có đầu lân Huế. 


Theo người làm đầu lân, để làm ra con lân hoàn chỉnh cần trải qua rất nhiều công đoạn như tạc khuôn, xẻ đầu lân khỏi khuôn, phun lót sơn, phủ bằng sơn Bạch Tuyết… Đối với một đầu lân cỡ vừa, trung bình, người thợ làm được một cái trong vòng 2 ngày. Với những người làm nghề lâu năm, một ngày có thể làm đến 2 đầu. Tuy nhiên với những chú lân nhỏ, có người trong vòng một ngày có thể làm được 5 đến 7 sản phẩm. 


Đầu lân xứ Huế được bán dao động từ 600.000 đồng đến 2,5 triệu đồng tùy loại. Đầu lân Huế đặc biệt đều được vẽ bằng tay nên có được nét đặc trưng riêng biệt. Mỗi chú lân mang biểu cảm khác nhau như được truyền thần từ tay mỗi người thợ. 


Lê Huy Hoàng Hải

Lưu luyến ‘hương cốm’ làng Nông Xá

đăng 01:33, 19 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Ít ai biết ở làng Nông Xá (xã Tân Tiến, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng), nơi nổi tiếng về làm bánh đa, còn có một nghề truyền thống lâu đời, đó là nghề làm cốm mộc.

Ông Bùi Văn Tuyển thường ngồi liên tục nhiều giờ để làm cốm. Ảnh Lê Tân 


Theo ông Nguyễn Ngọc Hà, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Tiến, thì nghề làm cốm ở làng Nông Xá tồn tại gần trăm năm nay, tập trung chủ yếu ở thôn Đông và thôn Nam. Lúc hưng thịnh nhất, cả làng đều làm cốm. Đến nay, vì nhiều lý do, chỉ còn 3, 4 hộ làm nghề. Trong đó, có gia đình các ông Bùi Văn Tuyển (60 tuổi) và Nguyễn Văn Đê (58 tuổi), đều ở thôn Nam, là duy trì làm cốm quanh năm.

Theo truyền thống các cụ để lại, cốm làng Nông Xá được làm từ lúa nếp cái hoa vàng, loại có hạt thóc to đẹp và rất thơm. Những người già trong làng bảo "thóc làm cốm phải nguyên chất lúa nếp cái, chỉ cần lẫn ít lúa tẻ là vứt, mất hương".

Thóc được phơi khô, cất trong bao. Trước khi đem đi làm cốm, thóc được ngâm nước, rửa sạch, đãi trấu rồi cho vào chảo gang rang. Bằng kinh nghiệm lành nghề, người thợ sẽ ước lượng được khi nào thóc chín tới để đổ ra cối giã. Thóc rang được giã đều tay đến khi vỏ thóc bung ra thành chấu còn hạt gạo thành cốm thơm mùi nếp chín. Cốm được giã 15 phút rồi đổ ra xảo để sảy, loại bỏ vỏ trấu thành cốm mộc. Cốm bán được nhiều nhất vào tháng 8, tháng 9 âm lịch hằng năm, số lượng đạt “đỉnh” vào dịp rằm Trung thu.

Quy trình làm cốm cứ liên tục khiến người thợ phải ngồi một chỗ liên tục cạnh bếp lò hồng rực nhiều giờ đồng hồ. Tiết trời thu dịu mát heo may mà người thợ vẫn nhễ nhại mồ hôi, mặt thì bám đầy bụi cám. 

Có lẽ nghề làm cốm ở Nông Xá vất vả, lại theo thời vụ nên đang dần mai một. Gần chục người trong 2 lò cốm ở thôn Nam toàn là người già. Đưa tay vốc một vốc cốm lên mũi hít hà, ông Nguyễn Văn Đê ngậm nùi: “Sau này chúng tôi yếu đi, có lẽ nghề truyền thống các cụ để lại cũng mất thôi” .

Dưới đây là những hình ảnh phóng viên Thanh Niên ghi lại quá trình làm cốm mộc ở làng Nông Xá:

Cốm được làm từ loại nếp cái hoa vàng thơm ngon nhất. Ảnh Lê Tân 


Thóc trước khi mang đi làm cốm sẽ được ngâm qua nước Ảnh Lê Tân


Những hạt thóc lép sẽ được loại bỏ. Ảnh Lê Tân 


Thóc sẽ được rang trong chảo gang khoảng 10 phút Ảnh Lê Tân


Thóc được rang chín rồi cho vào cối giã 15 phút. Người thợ sẽ phải luôn tay đảo thóc để vỏ vỡ thành trấu còn hạt dẹp thành cốm. Ảnh Lê Tân 


Việc rang và giã cốm đòi hỏi người thợ phải ngồi làm liên tục nhiều giờ đồng hồ. Ảnh Lê Tân


Việc làm cốm tạo ra rất nhiều bụi cám, ông Bùi Văn Tuyển phải đeo kính, mũ để bảo vệ. Ảnh Lê Tân


Cốm sau khi được giã 15 phút sẽ mang ra thổi cho bay hết trấu. Ảnh Lê Tân 


Bà Nguyễn Thị May (60 tuổi, vợ ông Tuyển) phải sàng 2 lần để cho ra mẻ cốm mộc sạch nhất. Ảnh Lê Tân 


Để tăng năng suất, ông Nguyễn Văn Đê đã sáng chế ra máy giã và máy rang cốm. Ảnh Lê Tân 


Nghề làm cốm vất vả lại chịu sự cạnh tranh của nhiều thứ quà bánh hiện đại nên đang dần mai một. Ở Nông Xá hiện nay chỉ còn 2 hộ làm cốm với toàn lao động lớn tuổi. Ảnh Lê Tân 


Có lẽ, trong tươi lai không xa "hương cốm" làng Nông Xá sẽ chỉ còn trong ký ức. Ảnh Lê Tân 

Lễ cúng mừng sức khỏe của người Ê Đê

đăng 01:20, 19 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Người Ê Đê sống trên vùng đất Tây Nguyên đại ngàn hùng vĩ. Từ xưa đến nay, đồng bào Ê Đê vẫn giữ gìn Lễ cúng mừng sức khỏe và coi đó là một nghi lễ không thể thiếu trong vòng đời của mỗi người. Lễ cúng mừng sức khỏe được tiến hành vào những thời gian rảnh rỗi, lúc nông nhàn và người được cúng phải hơn 60 tuổi. 

Trước đây đồng bào tổ chức lễ này rất lớn, nay quy mô tùy vào điều kiện hoàn cảnh kinh tế của mỗi nhà. Dù linh đình hay đơn giản, Lễ cúng mừng sức khỏe là để tỏ lòng thành kính tới các đấng thần linh với mong muốn các thần linh che chở phù hộ cho người được cúng sức khỏe và cả buôn làng.

Khi chuẩn bị đủ điều kiện kinh tế, chủ nhà sẽ mời anh em bên họ của vợ đến để bàn bạc và phân công việc tổ chức lễ. Sau đó tất cả các nghi thức cúng của lễ đều được thực hiện bên trong ngôi nhà dài mà đã từ lâu được ví von là dài như tiếng chiêng ngân.

Lễ cúng sức khỏe của người Ê Đê được tổ chức trong ngôi nhà dài của người được cúng sức khỏe.


Dân làng chuẩn bị rượu cần trong phần đầu buổi lễ.


Chủ lễ trong Lễ cúng sức khỏe đọc bài cúng mời thần linh, tổ tiên về dự.


Nghi thức quan trọng nhất trong Lễ cúng sức khỏe là lễ đeo vòng cho người được cúng.


Những thành viên trong gia đình chúc phúc cho người được cúng sức khỏe.


Người Ê Đê làm Lễ cúng sức khỏe trong tiếng cồng chiêng rộn rã.


Cúng cho cồng, chiêng cũng là nghi lễ bắt buộc có trong Lễ cúng sức khỏe này.


Người Ê Đê thực hiện nghi thức uống rượu cần có tên gọi Mnăm Ring.


Sau lễ cúng, dân làng cùng nhau ca hát với những lời hát chúc phúc cho gia chủ. 


Vào đầu lễ cúng, chủ lễ mời người được cúng sức khỏe ngồi vào chiếc chiếu hoa được trải sẵn bên bếp lửa. Những tiếng ngân vang của dàn chiêng, trống vừa dứt, chủ lễ sẽ đọc bài khấn mời thần linh về dự lễ. Sau bài khấn này thày cúng lấy một ít đồ ăn trong mâm cúng thần linh cho gia chủ dùng, tiếp đến là mời vợ và mọi người trong nhà.

Tiếp theo là nghi thức cúng sức khỏe, lúc này tiếng cồng chiêng lại rộn rã vang lên. Thầy cúng mời người được cúng ngồi xuống bên ché rượu. Đầu tiên ông đeo vòng cho gia chủ rồi trao cho cần rượu. Sau đó chủ lễ vừa nắm tay chủ nhà, miệng đọc lời khấn cầu sức khỏe.

Kế đến người thân trong gia đình và trong dòng họ sẽ thực hiện nghi thức chúc sức khỏe cho gia chủ. Đầu tiên là người vợ đến trao vòng, tiếp đến là mọi người theo thứ tự nữ trước, nam sau. Thường thì những người chúc ai cũng mang một món quà tặng chúc mừng sức khỏe cho gia chủ.

Nghi thức cuối cùng của buổi lễ mừng sức khỏe là nghi thức uống rượu cần theo một cách thức đặc biệt. Đó là cùng nhau uống rượu cần nối tiếp nhau được gọi là Mnăm Ring. Mọi người nâng cần rượu uống xong là trao cần ngay cho người kế tiếp. Trong tiếng cồng chiêng rộn rã, tất cả cùng thưởng thức đồ ăn, cùng nghe những bài ca chúc sức khỏe cho chủ nhà. Cứ thế cuộc vui sẽ kéo dài đến khi rượu nhạt mới dừng.

Bài và ảnh: Việt Cường

Rộn rã mùa vàng dưới thung lũng Hoàng Liên Sơn

đăng 00:57, 19 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Hòa cùng bức tranh mùa vàng quyến rũ tại những thửa ruộng bậc thang là người nông dân vùng cao bận rộn với ngày mùa, khiến lòng người say đắm.

Hoàng Liên Sơn - dãy núi hùng vĩ nơi đất trời Tây Bắc không chỉ được biết đến là nóc nhà Đông Dương, mà còn nổi danh bởi vẻ đẹp hùng vĩ của các triền ruộng bậc thang hút hồn du khách

 

Dưới các thung núi Hoàng Liên Sơn thuộc địa bàn các huyện Than Uyên, Tam Đường, Tân Uyên, tỉnh Lai Châu là nơi quần cư của các bản làng đồng bào người Mông, Dao, Giáy...

 

Dưới bàn tay cần cù, chịu khó của người dân bản địa, những thung lũng đất mầu mỡ đã được dệt thành những mùa vàng

 

Mùa vàng ở Lai Châu bắt vào cuối tháng 7, đầu tháng 8 âm lịch hàng năm

 

Do khó khăn về địa hình, nên đa phần diện tích đất nông nghiệp ở đây chi được bà con gieo cấy một vụ

 

Những năm gần đây, vào mùa lúa chín, các bản làng nơi đây đón hàng nghìn lượt du khách.

 

Khách du lịch về đây không chỉ thưởng ngoạn những thửa ruộng bậc thang, mà còn hòa mình vào không khí ngày mùa khi tham gia trực tiếp vào các công đoạn thu hoạch.

 

Dưới bàn tay lao động cần cù của người dân, các sườn núi đã biến thành những thửa ruộng bậc thang

 

Vào những dịp này, người dân địa phương hối hả, bận rộng với việc thu hoạch lúa mùa

 

Việc gặt lúa ở đây được bà con thực hiện thủ công.

 

Rồi lúa được vận chuyển ra các con đường nội đồng để tập kết và sử dụng máy tuốt.

 

Một số khác vẫn thu hoạch theo cách truyền thống là đập lúa tại ruộng.

 

Không chỉ trồng cấy các giống lúa mới năng suất cao, ngày nay bà con đã trồng tập trung nhiều giống lúa truyền thống, hiệu quả kinh tế cao

 

Niềm vui ngày mùa

 

Đàn ông là lực lượng chính để vận chuyển lúa từ ruộng về nhà

 

Các giống lúa truyền thống như tẻ dâu, xéng cù đã trở thành thương hiệu trong vùng và cả nước

 

Ngoài vận chuyển lúa về nhà bằng sức người...

 

...ngựa thồ là phương tiện hỗ trợ đặc trưng của bà con vùng cao

 

Phút giải lao dưới tán cây khi trời nắng

 

Có cả những người già tham gia thu hoạch cho kịp vụ

 

Cả những em học sinh tranh thủ ngày nghỉ giúp bố mẹ

 

Trong khi người lớn tham gia thu hoạch thì các cháu nhỏ giúp bố mẹ trông giữ em

 

 

Năm nay, nhờ thiên nhiên ưu đãi nên hầu hết các cánh đồng lúa ở địa phương đều được mùa.

Đầu làng có một Thánh đường

đăng 00:45, 18 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Buổi sáng thức dậy ở một vùng giáp biên. Chưa kịp tận hưởng cảm giác một mình bơ vơ xứ lạ thì đã thấy ngỡ ngàng khi trước mặt là một Thánh đường Hồi giáo. Là tôi đang lọt thỏm giữa làng Chăm Đa Phước, một cộng đồng người hồi giáo ở huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Một giờ lễ ở Thánh đường Ehsan. Ảnh: H.V.M 


Ehsan – tên của Thánh đường Hồi giáo – mái nhà tâm linh và là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của hơn 2.000 người dân làng Chăm Đa Phước có dáng dấp như hầu hết những Thánh đường và tiểu Thánh đường Hồi giáo khác ở Việt Nam và trên thế giới. Thánh đường xây theo hướng Đông - Tây để khi quỳ lạy tín đồ hướng về phía Thánh địa Mecca 

Thánh đường Ehsan cũng tôn trọng những quy định chung về kiến trúc và cách bài trí bên trong với biểu tượng mặt trời và vầng trăng khuyết. Các cửa và nóc hình vòm. 

Màu chủ đạo là màu trắng. Đặc biệt, bên trong Thánh đường lúc nào cũng tràn ngập ánh sáng và thoáng mát nhờ dãy hành lang rộng xung quanh, mái vòm cao và nhiều cửa sổ lớn.  

Du Số - một trong những người hiếm hoi không “thoát ly” mà ở nhà làm cán bộ. Ảnh: H.V.M 


“Mẫu hệ nhưng mà… bình đẳng” 

Tôi đến gặp lúc khoảng hơn 30 người đàn ông quấn xà rông “thướt tha” và sơ mi trắng đang hành lễ sáng. Một ngày của một người Hồi giáo nơi đây gần như bị Thánh đường lấy hết thời gian với 5 lần lễ chia đều từ sáng đến tối. 

Loay hoay với vai khách lạ tham quan một hồi, tôi đánh bạo làm quen với một người đàn ông tên Du Sô sa la hud din. Đó là tên của một vị thánh trong kinh Coran, nghĩa là tài năng và mạnh khỏe. Thấy tôi loay hoay ghi và đánh vần cái tên, anh bảo thôi cứ gọi anh là Du Số cho tiện. “Tất cả người dân ở đây đều dùng tên các vị thánh để đặt tên cho con cái”. 

Bất ngờ khi biết Du Số là một vị thánh. Và bất ngờ hơn, vị thánh này đang là Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Đa Phước. Du Số là một trong không nhiều người dân Đa Phước tốt nghiệp 12, có bằng trung cấp kế toán nhưng không “thoát ly” mà ở nhà làm cán bộ. Tất nhiên là cán bộ, nhưng Du Số cũng xà rông “thướt tha” khi đến trụ sở theo đúng phong cách ăn mặc truyền thống của người Chăm. 

Làng Chăm Đa Phước đến giờ vẫn là một cộng đồng Hồi giáo thu mình khép kín với chung quanh. Họ vẫn duy trì chế độ “mẫu hệ nhưng mà… bình đẳng” nói như lời Du Số. Và ngay cả bản thân Du Số, vừa mới đây lấy vợ nhưng vẫn theo truyền thống mai mối của cha mẹ. “Vợ em là do ba mẹ và chị gái chọn và cho mãi đến ngày cưới em mới biết mặt mũi vợ như thế nào”. Hỏi thế có như hình dung và thất vọng không? Du Số cười cười: “Nói chung thì cũng được”.

Gia đình Du Số. Ảnh: H.V.M 


Du Số - cán bộ xã là một ví dụ về mối liên hệ giữa cộng đồng với bên ngoài. Hay như cô bé xinh đến ngẩn ngơ tên Akylah con ông chủ quán cà phê duy nhất ở đầu làng năm nay học lớp 11, và kiên quyết xấu hổ đến cùng khi từ chối không cho tôi chụp ảnh chung dù ông anh Du Số đã trình bày. 

Cô bé tâm sự với Du Số ước mơ của con là “sau này em sẽ thi vào ngành Y để cứu người”. Du Số bảo cộng đồng của anh, hiện cũng có một số người đi học rồi “thoát ly” ra ngoài làm bác sĩ, y tá, giáo viên… “nhưng đáng tiếc vẫn chỉ là thiểu số”. 

Thánh đường Ehsan cũng có thể coi là một mối liên hệ khi cùng với một “khu du lịch” – nơi trưng bày các khung dệt thổ cẩm và 2 điểm bán hàng lưu niệm là những sản phẩm truyền thống của người Chăm - là điểm đến của nhiều du khách, nhất là khách nước ngoài.

Thánh đường Ehsan. Ảnh: H.V.M 


Theo Du Số thì bình quân mỗi tháng có khoảng 3.000 lượt du khách đến với làng Chăm Đa Phước. Ngoài ra làng Chăm Đa Phước có 2 bến thuyền phục vụ đưa, rước khách tham quan. Một kiểu làm du lịch hoang sơ, tự phát kiểu làng xã. Và tất nhiên nguồn thu mang về cho người dân cũng không bao nhiêu so với thời gian và công sức họ bỏ ra để tiếp khách. 

Làng cổ hơn 120 năm 

Một bộ phận không nhỏ người dân lại thường xuyên ra ngoài làm ăn, buôn bán ở khắp nơi trong nước và sang tận Malaysia. Lạ nữa là người Chăm Đa Phước hiện nay có rất nhiều người thân, bà con… ở Malaysia và trong làng cũng có rất nhiều người thanh niên sang Malaysia “du học” về đạo sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học trong nước. Điều này khiến tôi không thể không đặt câu hỏi làng Chăm Đa Phước, họ là ai, từ đâu tới và tới bao lâu? 

Nhưng Du Số và những chức sắc trong Ban Giáo cả của Thánh đường Ehsan và cả những nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa địa phương chỉ trả lời được vế sau: Khoảng hơn 120 năm! Còn họ là ai, họ từ đâu tới thì tất cả đều mơ hồ. Một số người thì mơ hồ bảo nghe đâu tổ tiên họ từ ngoài miền Trung…

Một góc làng Chăm Đa Phước. Ảnh: H.V.M 


Theo nhiều cứ liệu lịch sử thì đúng tổ tiên của người Chăm Đa Phước hiện nay là người Chăm ở miền Trung từ xa xưa. Sau đó họ di cư sang sinh sống tại Chân Lạp (Campuchia). Khi sang đến Chân Lạp, họ đã chuyển sang đạo Hồi và sống cộng cư cùng người Mã Lai Hồi giáo bản địa. 

Mãi đến giữa thế kỷ 19, khi người Pháp thống trị ở toàn vùng Đông Dương, nhiều tín đồ đạo Hồi người Chăm đã di cư ngược từ Campuchia vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long và phát triển cộng đồng Hồi giáo ở Việt Nam như bây giờ. 

Đáng chú ý là khi người Chăm từ Chân Lạp về Tây Ninh và An Giang định cư, họ mang theo Hồi giáo có sẵn từ Chân Lạp về. Họ là cộng đồng theo Hồi giáo Chăm Islam, thuộc dòng Sunni, ít bị pha trộn với phong tục, tập quán, tín ngưỡng cũ và thường xuyên liên hệ với thế giới Hồi giáo Campuchia và Malaysia. Người Chăm cũng thường tìm sang Malaysia tu học giáo lý và tiếp nhận tư tưởng đạo Hồi qua sự diễn dịch của người Hồi Mã Lai. 

Theo Du Số, về giáo lý, hiện tín đồ đạo Islam ở làng Chăm Đa Phước luôn giữ gìn nghiêm ngặt những quy định về giáo lý, giáo luật của Hồi giáo chính thống, thể hiện qua việc thực hành nghiêm túc 5 cốt đạo. 

Hàng năm họ có nhiều ngày lễ khác nhau như: kỷ niệm ngày sinh của Thiên sứ Mohammad, ngày Mohammad trở về thánh địa Mecca, thánh lễ ngày thứ 6 hàng tuần, lễ trong tháng chay Ramadan, lễ hành hương về thánh địa Mecca, lễ đón năm mới theo Hồi lịch. 

Thật ra thì tôi là ai, tôi từ đâu đến giờ cũng không phải là chuyện gì quá to tát với cộng đồng người Chăm Đa Phước. “Thánh Ala đã tạo ra thế giới, mình phải biết tôn kính và chấp nhận” là câu “khẩu nhiệu” từ kinh Coran được cắt dán trang trọng ở ngay cửa chính của từng ngôi nhà trong cộng đồng. 

Và bao nhiêu năm hay họ đã sống rất an vui cùng với Thánh đường và những vị Thánh đã và đang hiển linh qua những phận người… 

Hiện nay tại Việt Nam có 41 thánh đường, 19 tiểu thánh đường Islam, tập trung nhiều nhất ở An Giang. Những người theo đạo Islam ở Việt Nam hiện nay có khoảng 26.000 tín đồ và 288 chức sắc Islam. 

“Cha chó, mẹ heo” (heo là hiện thân của mẹ, chó là hiện thân của cha) – người Chăm Đa Phước nói riêng và cộng đồng Hồi giáo Islam nói chung ở Việt Nam quan niệm như vậy nên họ không ăn thịt heo, thịt chó mà chỉ ăn thịt bò. 

Món ăn truyền thống mang bản sắc văn hóa riêng, độc đáo của họ là cà ri (xuất xứ từ Ân Độ) và cà púa (từ Thái Lan).

Tường Minh

Tập tục rào làng của người Xơ Đăng

đăng 00:38, 18 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Rào làng là tập tục lâu đời của đồng bào Xơ Đăng. Ngày nay, ít làng còn duy trì tập tục rào làng, nhưng đây vẫn là một trong những nét độc đáo trong tín ngưỡng tâm linh của người Xơ Đăng.

Trước hết, nói về làng của người Xơ Đăng. Cũng như đồng bào các DTTS trên địa bàn tỉnh, người Xơ Đăng sống thành từng làng, đây là đơn vị xã hội dân gian nhỏ nhất. Mỗi làng của người Xơ Đăng có một ranh giới nhất định, tách biệt với các làng khác. Ranh giới giữa các làng thường là một khu rừng vô chủ. Làng thường hội tụ nhiều yếu tố như có đất sản xuất, đất ở của từng hộ gia đình, đất làm kho thóc, máng nước, đất làm nghĩa địa, đất rừng chung để cả làng săn bắn, chăn nuôi, thu hái lâm sản, những khúc sông, con suối chảy qua làng...

Ông A Jar (làng Plei Đôn, phường Quang Trung, thành phố Kon Tum) - một người am hiểu về văn hoá các DTTS trên địa bàn tỉnh cho biết: Mỗi làng có một tên gọi riêng. Tên gọi làng có thể là tên gọi của người đứng ra lập làng, ví dụ như tên Ui – tên người trưởng làng có uy tín ở vùng Tơ Đrá hoặc có thể đặt tên theo đặc điểm tự nhiên trong vùng như làng Con Cheng nghĩa là làng Cây đeng hoa tím, làng Con Đui tức là làng Cây đa, làng Tơ Ma Rông nghĩa là làng Máng nước... Quan hệ giữa các làng là bình đẳng với nhau, nhiều làng trong vùng còn kết nghĩa với nhau để xây dựng mối đoàn kết giao hảo.

Xưa kia, người Xơ Đăng coi làng là khu dân cư tập trung phòng thủ kiên cố, rào kín xung quanh, có hào sâu, đặt bẫy, chông để bảo vệ làng trước thú dữ và kẻ thù bên ngoài. Mỗi làng chỉ có một số cổng ra vào nhất định, cổng chính án ngữ đường đi thường quay ra phía cửa rừng, được bảo vệ cẩn mật.

Ngày trước, người Xơ Đăng có tập tục rào làng. Việc rào làng này không phải để phòng thủ mà nhằm mục đích “để cho con ma, con quỷ không vào phá làng, lấy lúa, để con sâu, con mối không phá lúa giống đã tỉa”…, nói chung là ngăn cản những thế lực xấu theo tín ngưỡng tâm linh của người Xơ Đăng.

Ngày nay, do những yếu tố tác động từ ngoại cảnh và thay đổi trong nếp sống của người Xơ Đăng chỉ còn rất ít làng duy trì tập tục này, tiêu biểu là ở xã Tu Mơ Rông (huyện Tu Mơ Rông).

Theo tài liệu nghiên cứu tại Bảo tàng tỉnh Kon Tum, phong tục rào làng của đồng bào Xơ Đăng thường được tổ chức vào tháng 5, 6 dương lịch. Tuy nhiên, tùy theo từng làng mà việc rào làng được thực hiện hằng năm hoặc 3 năm một lần.

Có làng, việc tổ chức rào làng khi trong làng có nhiều người chết hoặc bị ốm đau, mùa màng thất bát. Có những làng lại quan niệm khi trong làng có những người “chết xấu” như chết do tự tử hoặc phạm tội, làng không thương tiếc, chỉ quấn chiếc chiếu rồi đưa vào rừng mai táng; chôn xong không ai quay lại đó nữa. Những người đưa đám khi về cũng không đi đường cũ mà tìm đường khác để về vì sợ con ma đi theo và khi về đến làng, họ lập tức tổ chức lễ rào cổng làng để con ma không có đường tìm vào.

Làng của người Xơ Đăng. Ảnh: T.H 


Nhưng cũng có làng cứ phải đợi đủ 3 năm người dân mới tiến hành rào làng bất kể trong làng có xảy ra biến cố gì, kể cả khi trong làng có người ngủ mơ thấy điều xấu xảy ra đối với làng mình, hôm sau lập tức báo cho già làng biết về những gì mình đã mơ thấy, nhưng cũng phải chờ đủ 3 năm họ mới làm.

Để tổ chức lễ rào làng, già làng sẽ tiến hành chọn ngày và được sự thống nhất của cộng đồng làng. Lễ vật mà người dân chuẩn bị bắt buộc phải có cua, cá và trứng gà sống, tùy từng làng mà có số lượng khác nhau.

Lễ rào làng thường được tổ chức trong 2 ngày. Ngày thứ nhất các thành viên được phân công vào rừng chặt các loại cây như gỗ, lồ ô, dương xỉ về làm cổng, làm hình nộm - công việc này thường dành cho đàn ông. Còn phụ nữ thường được phân công ra sông, suối bắt cua, cá và chuẩn bị các món ăn để cúng thần linh và để cả làng ăn uống. Sau khi mọi việc chuẩn bị đã xong xuôi, ngày thứ ngày thứ 2, dân làng sẽ tiến hành làm cổng và rào làng.

Trước khi tiến hành làm lễ rào làng, nếu trong làng có người lạ hoặc người ở làng khác đến chơi thì dân làng nhất định phải chờ cho khách ra khỏi làng và mọi thành viên trong làng mình tập trung đầy đủ thì mới rào. Bởi, nếu không chờ cho khách về thì khi rào làng xong họ sẽ không được ra khỏi cổng làng. Tất cả lối đi của làng từ đường đi rừng; đường đi rẫy; đường đi sang làng khác... đều được làm cổng, xung quanh làng thì được bao bọc bằng dây lạt được chẻ từ cây nứa và treo thòng lọng. Các cổng phụ thì được làm đơn giản, riêng cổng chính thì được làm công phu hơn, được trang trí hình người bằng cây dương xỉ, tay cầm giáo đứng gác cổng gọi là tượng cổng làng.

Với người Xơ Đăng, tượng cổng làng không chỉ được xem như một vị thần bảo vệ làng, chống lại tà ma về làng gây nhũng nhiễu cho người dân mà còn là biểu tượng cho sức mạnh của làng. Người làng khác khi đến làng Xơ Đăng thấy làng có tượng cổng làng họ rất kính nể, mến phục. Vì thế, tượng cổng làng được xem là một biểu tượng thiêng liêng và đã ăn sâu vào tiềm thức trong đời sống của bao thế hệ người Xơ Đăng.

Sau khi công việc rào làng thực hiện xong, già làng sẽ đứng tại cổng chính của làng và khấn mời thần linh chứng giám phù hộ cho dân làng được khỏe mạnh, làm ăn được mùa, không để con ma, con quỷ vào phá làng, gây ốm đau, bệnh tật và cái chết cho dân làng.

Sau khi rào làng, mọi thành viên trong làng không được ra ngoài và những người ngoài cũng không được vào làng; vì làm vậy có thể mang những điều xấu, điều không may đến cho dân làng. Nếu vi phạm họ sẽ gặp những điều xấu hoặc sẽ bị phạt theo lệ làng.

Có thể thấy, việc tổ chức lễ rào làng thực ra là cách để người Xơ Đăng cúng cầu an, mong bình yên, hạnh phúc, mùa màng thuận lợi và những điều tốt đẹp đến với dân làng. Đồng thời, qua đây, người dân trong mỗi cộng đồng làng sẽ thể hiện tinh thần đoàn kết, thể hiện ý chí, quyết tâm bảo vệ làng quê.

Thuỳ Hương

Rộn ràng trò chơi “đánh gụ” của phụ nữ Sán Chỉ

đăng 20:27, 11 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Đánh quay (gụ) là trò chơi dân gian có từ lâu đời, một thời là môn chơi độc quyền của giới mày râu. Nhưng những năm gần đây, môn chơi này thu hút nhiều chị em Sán Chỉ tham gia. Đây là nét sinh hoạt thể hiện quan niệm nhân sinh, tượng trưng cho sức khoẻ, sự dẻo dai và tính kiên trì của đồng bào nơi đây.

Khéo léo trò chơi đánh quay

Cứ đến cuối tháng 10 âm lịch mỗi năm, khi mùa gặt hái xong xuôi cũng là lúc các chàng trai, cô gái Sán Chỉ bắt đầu tổ chức thi đấu đánh quay từ thôn đến huyện. Đặc biệt trong dịp Tết thì đánh quay như một món ăn tinh thần không thể thiếu của họ.

Con quay của phụ nữ Sán Chỉ. 


Con quay của người Sán Chỉ nặng hơn, có kích thước lớn hơn, quay nhanh và lâu hơn, mỗi lần quay có thể lên đến 20 phút, hình dáng cũng có nhiều sự khác biệt. Con quay của nam kích thước to hơn của nữ. Để có một con quay bền, tốt người ta thường sử dụng gỗ lim hoặc phổ biến nhất là gỗ dẻ. Mặt trên của con quay hình tròn, bằng phẳng, đường kính từ 10-20cm. Con quay dành cho phái nữ có đường kính khoảng 10 cm, nhỏ hơn của nam. Mặt dưới hình chóp nón, đầu chóp được đóng một cây đinh nhỏ, hai đầu bằng nhau, không có mũi nhọn. 

Quanh con quay có rãnh để quấn dây. 


Quanh thân con quay có một đường rãnh để quấn dây. Con quay phải nặng, tròn đều và nhẵn thì quay mới lâu và tít. Người chơi phải dùng một đoạn dây dài khoảng 4 m, buộc cố định một đầu vào khúc cây dài khoảng 50 cm, dây sẽ được cuốn đều vào con quay rồi đánh. Dây quay được làm từ sợi có độ bền cao như dây đay, dây gai. Để có lực đánh mạnh và con quay quay được lâu hơn, chị em cần quấn dây thật chặt, không để dây chồng chéo lên nhau.

Chuẩn bị đánh quay. 


Trò chơi đánh quay được diễn ra trên nền đất rộng và bằng phẳng, Trò chơi không thể chơi được trên nền cứng như bê tông vì con quay nặng khi đánh mạnh xuống nền cứng rất dễ vỡ và bắn các mảnh vỡ vào người xung quanh, con quay cũng sẽ nhanh mòn và tụt đinh vào sâu mất đi điểm trụ. 

Chơi đánh quay cần có ít nhất 2 người, khi chơi người chơi phải dùng lực của toàn thân để đánh quay xuống đất. Lượt chơi đầu tiên cả 2 đội xuống quay cùng lúc, bên nào quay được ít hơn thì lượt 2 phải xuống quay trước. Đội còn lại phải tìm cách chọi trúng con quay của đối thủ mới được tính điểm và người cùng chơi tiếp theo phải tìm cách chọi trúng vào con quay của đối thủ khiến nó ngừng quay. Có nhiều trường hợp do lực đánh mạnh khiến con quay của đối thủ vỡ đôi. Đội nào có nhiều con quay còn trụ lại và thời gian quay được lâu hơn là đội thắng cuộc. Ngoài ra người Sán Chỉ còn hình thức thi quay trên tấm gỗ, con quay của ai quay được lâu trên tấm gỗ hơn sẽ thắng. Người chơi đánh quay phải dùng lực toàn thân để đánh quay xuống đất, Theo luật chơi một đội sẽ quay con quay còn đội kia sẽ đánh (bổ) quay, sau đó họ dùng khúc cây hất con quay lên miếng đáy của chiếc bát rồi di chuyển cho lên bàn gỗ để thi, con nào quay lâu thì sẽ thắng. Những con quay được thi trên bàn gỗ có thể quay được 5 đến 7 phút, có khi lên đến hàng chục phút.

Triết lý trong trò chơi đánh quay của người Sán Chỉ

Trò chơi đánh quay là một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của đồng bào Sán Chỉ ở Tiên Yên (Quảng Ninh) mỗi khi Tết đến Xuân về. Đánh quay không đơn giản là trò chơi để giải trí, để người chơi thể hiện tài năng, trình độ bản thân mà còn thể hiện phong cách, cá tính và bản lĩnh người đàn ông Sán Chỉ. 

Người Sán Chỉ mong cho con quay của mình được quay lâu, quay tít cũng là sự thể hiện một quan niệm nhân sinh. Đó là mong ước có được sức khỏe, sự dẻo dai để chinh phục được thiên nhiên, duy trì cuộc sống trên những đỉnh non cao vời vợi. Hội chơi quay của đồng bào Sán Chỉ trong dịp lễ Tết cũng thể hiện sự đoàn kết, kiên trì và rèn luyện cho sự khéo léo của đôi tay.

Trò chơi đánh gụ thu hút nhiều phụ nữ Sán Chỉ tham dự. 


Con quay xoay tròn được người Sán Chỉ ví như sự xoay vần của cuộc sống và đất trời. Người đàn ông giữ được con quay quay lâu chứng tỏ là người biết xoay theo thời thế, đảm bảo cuộc sống trong gia đình.Với người phụ nữ, giữ được con quay lâu chính là người khéo léo biết đối nhân xử thế và gìn giữ hạnh phúc gia đình. Chính vì vậy, xưa kia người Sán Chỉ còn chọn vợ và kén chồng qua những hội “chơi quay”.

Không chỉ vậy, trò chơi đánh gụ của người Sán Chỉ còn thể hiện sức mạnh, sự khéo léo, điêu luyện của đôi tay và và tinh thần thượng võ, hấp dẫn cả người chơi và người xem. Trò chơi đánh quay của phụ nữ Sán Chỉ không chỉ góp phần gìn giữ, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc mà còn thể hiện tình đoàn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân và tập thể trong việc giữ gìn nét đẹp văn hóa của dân tộc.

Ths. Nguyễn Thị Trang. Ảnh: Minh Cương

Độc đáo nghi lễ hát Quan làng trong Lễ cưới của người Tày ở Tùng Bá

đăng 20:05, 11 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong lễ cưới truyền thống của người Tày ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và xã Tùng Bá, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang nói riêng diễn ra nhiều nghi thức, hát Quan làng là một nghi lễ không thể thiếu trong đám cưới của người Tày ở Tùng Bá.

Hát Quan làng trong đời sống văn hóa người Tày

Văn hóa dân tộc Tày có nhiều làn điệu dân ca như: Lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng. Trong đó, hát Lượn là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng, gồm: Lượn cọi, lượn slương, lượn then... thường xuất hiện trong hội Lồng Tồng, đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến chơi thôn, bản. Hát Quan làng được coi là nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc trong đám cưới người Tày xã Tùng Bá. 

Hát Quan làng có nơi gọi là nai lùa, có nơi gọi là văn ví quan làng… bởi người hát dùng lối hát ví von, lời hay ý đẹp để thách đố tài ứng xử của ông, bà Quan làng bên nhà trai hay ông, bà Quan làng bên nhà gái khi đoàn nhà trai đi đón dâu hoặc đoàn nhà gái đi đưa dâu sang nhà trai. Hát Quan làng còn gọi là thơ lẩu của dân tộc Tày. Đây là một phong tục đẹp trong đám cưới truyền thống của người Tày, với hệ thống các bài thơ, bài hát được chia thành các cung đoạn cụ thể. Những người hát Quan làng (tiếng Tày gọi là Pú Quan làng) là những người làm nhiệm vụ thay mặt họ nhà trai mang trầu cau đến nhà gái từ việc dạm hỏi, xin lộc mệnh, chuẩn bị đồ sính lễ cho ngày cưới đến khi đón dâu về. 

Đoàn nhà trai mang lễ vật cưới sang nhà gái. 


Các bài hát được Quan làng hát có nội dung chủ yếu là cách chỉ bảo, lối ứng xử tinh tế, tao nhã của con người trong đời sống, mang tính giáo dục truyền thống cao, răn dạy việc ứng xử giữa nàng dâu với chồng và bên nhà chồng, chàng rể ứng xử với vợ và bên nhà vợ. Quan làng phải là người thông minh, khéo ứng xử, giàu tri thức và am hiểu phong tục tập quán của dân tộc mình. Vậy nên, trước khi đám cưới, nhà trai thường rất cẩn trọng trong việc tìm quan làng để đón dâu; nhà gái cũng hết sức cẩn trọng trong việc lựa chọn người để đưa con gái mình về nhà chồng. 

Hát Quan làng trong đám cưới của người Tày

Trong đám cưới của người Tày ở xã Tùng Bá, lễ vật cưới gồm: 40 kg thịt lợn, rượu 40 lít, 40 kg gạo nếp, chè thuốc... Các lễ như: Lễ cho họ hàng, lễ cho ông bà ngoại cô dâu, lễ cho chị gái. Trong đó, đoàn đón dâu nhà trai cũng như đoàn nhà gái đều bao gồm: Hai ông, hai bà Quan làng (một chánh, một phó), chú rể, phù rể và những người bạn, người em của chú rể (những người gánh lễ vật). Quan làng là người đại diện cao nhất của họ nhà trai (nhà gái), thay mặt bố, mẹ và họ hàng ứng xử mọi việc. Vì vậy, Quan làng phải là người đứng tuổi, đức độ, có uy tín, phong thái đĩnh đạc, người có vợ con, gia đình êm ấm hạnh phúc, có tài ứng khẩu thành thơ… Nhưng quan trọng là phải biết hát Quan làng.

Tục căng dây chặn đường (Hát để xưng danh, chào hỏi) là tục đầu tiên trong lễ cưới của người Tày. 


Hát Quan làng trong đám cưới truyền thống của người Tày thường được chia làm 3 cung đoạn: Đón (nhà trai đến xin dâu), nộp (trong lúc nhà gái nộp dâu), đưa (nhà trai đưa dâu về). Khi thực hiện các nghi lễ để đón rước dâu, người hát Quan làng đều phải hát để nhà gái nghe thuận tai và cho công việc được thực hiện đúng trình tự. Trong hát Quan làng không có đạo cụ kèm theo mà chủ yếu là những lời đối đáp mộc mạc nhưng đầy tình ý của ông Quan làng. 

Những phong tục độc đáo trong đám cưới 

Lễ cưới của người Tày, xã Tùng Bá có nhiều tục như: Tục căng dây chặn đường; tục xin nước rửa chân; tục giữ cửa; tục xin trải chiếu; hát mời nước, mời trầu; lễ trình tổ nộp gánh; lễ dâng tiền và tấm vải khô (rằm khấu); lễ xin đón dâu; đến nhà trai. Mỗi tục, hát Quan làng được thể hiện một cách khác nhau. Ví như, tục căng dây chặn đường (Hát để xưng danh, chào hỏi) là tục đầu tiên trong một lễ cưới. 

Hát Quan làng ở tục xin trải chiếu trong đám cưới của người Tày. 


Khi đoàn đón dâu của nhà trai đến ngõ nhà gái, nhà gái cho chăng dây qua đường, có nơi đóng cổng hoặc chăng dải vải rồi hỏi, chất vấn một số vấn đề liên quan đến họ nhà trai. Bên nhà trai phải hát đối cho hợp ý, hợp cảnh mới được nhà gái cho dỡ dây đi qua. Trong khi đó, Lễ xin đón dâu là nghi lễ trang trọng cuối cùng tại nhà gái. Thông thường việc đón dâu được đoàn nhà trai tính toán sao cho đoàn đón dâu về đến nhà đúng giờ đã định. Vị Quan làng nhà trai trịnh trọng hát bài cảm ơn sự chu đáo của nhà gái, rồi xin ông bà, cha mẹ và họ hàng nhà gái cho phép nhà trai được đưa cô dâu về nhà. Bài hát xin dâu được ông Quan làng hát gọi là “So lùa lòng lang”... 

Ông Mã Văn Lưu, Chủ tịch Hội Nghệ nhân dân gian xã Tùng Bá cho biết: Hát Quan làng trong đám cưới truyền thống của dân tộc Tày xã Tùng Bá mang tính nhân văn, lòng nhân ái và là hình thức giao lưu, gắn chặt tình đoàn kết cộng đồng dân cư. Nét văn hóa đặc sắc này cần được lưu truyền và giữ gìn, góp phần làm phong phú kho tàng dân ca đám cưới của các dân tộc Việt Nam nói chung và của người Tày xã Tùng Bá nói riêng.

Hải Đăng

Tranh kiếng Nam bộ

đăng 19:35, 5 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Ở Nam Bộ, tranh thờ ngày xưa, cực hiếm hoi là các bức chạm gỗ, phù điêu sơn son thiếp vàng và phổ biến là các bài vị khắc chữ Hán trên gỗ; kế đó là các sản phẩm cẩn xà cừ hay phổ biến là viết vẽ trên giấy hồng đơn... Đến đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện của tranh kiếng đã cung ứng cho nhu cầu trang trí, thờ tự một loại đặc phẩm mỹ thuật thích dụng và đặc biệt, nhờ chúng có giá thành hạ nên nhanh chóng phổ biến khắp cả miền Nam, trong cả đình, chùa, đền, miếu đến tận gia đình, tiệm quán...

Nghề vẽ tranh kiếng được truyền vào Việt Nam do những di dân người Hoa vào đầu thế kỷ XX. Lúc đầu, các tiệm kiếng ở Chợ Lớn chỉ buôn bán các loại kiếng soi mặt, cắt kiếng lộng khuôn hình, lắp tủ kiếng và những loại kiếng màu xanh, vàng, đỏ để gắn khung cửa chớp, cửa gió... về sau họ còn vẽ những tấm đại tự trên kiếng thủy, chữ nhũ vàng dùng để mua tặng nhân dịp hiếu hỷ khai trương, tân gia, đám cưới, chúc thọ... và cả những bộ tranh thư họa.

Ngũ Công Vương Phật, Chợ Lớn.


Đến thập niên 1920, một số thợ vẽ tranh kiếng này theo về Lái Thiêu, cái nôi của ngành thủ công nghiệp lúc bấy giờ. Lái Thiêu thuộc Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương), cách Sài Gòn-Chợ Lớn không xa, là vùng đất giàu tài nguyên, giao thương thuận tiện, lại có đường xe lửa Sài Gòn-Lộc Ninh nên nơi đây là chợ đầu mối tập trung hàng hóa bán buôn, phân phối đi khắp nơi. Nghề vẽ tranh kiếng Lái Thiêu khởi phát nhanh chóng, lại được bổ sung bằng đội ngũ họa sĩ được đào tạo từ Trường Mỹ nghệ Thủ Dầu Một nên càng ngày càng có chất lượng hơn, chiếm được thị phần quan trọng khắp Nam Kỳ. Bấy giờ, ghe buôn tấp nập đậu chờ dưới bến lấy hàng ngày đêm... 

Sau, Cách mạng Tháng Tám bùng lên, thực dân Pháp tái chiếm Đông Dương. Đầu năm 1946, quân đội Anh-Pháp tiến chiếm Thủ Dầu Một (Bình Dương), lập đồn bót, bắt bớ dân lành. Nhà tiệm đóng cửa, chợ búa không nhóm, mọi ngành nghề đều ngưng hoạt động. Nghề làm tranh kiếng cũng không tránh khỏi ảnh hưởng đó. Qua Tết Bính Tuất 1946, hoạt động mua bán chợ Lái Thiêu mới hoạt động trở lại nhưng còn thưa vắng, giao thương khó khăn, trì trệ. Lúc bấy giờ, nguyên liệu để làm tranh kiếng rất khan hiếm. Đến thập niên 1950, tình hình tạm lắng, nhưng công việc làm tranh kiếng thì ế ẩm, song vẫn còn duy trì và phát tán ra các địa phương khác. Ở đây, nghề vẽ tranh kiếng vẫn được bảo lưu và duy trì bởi một số nhóm thợ vốn là học trò của những lớp nghệ nhân vẽ tranh kiếng tài hoa ngày trước, song không thịnh đạt như trước. 

Cửu Thiên Huyền Nữ, Lái Thiêu.


Về kỹ thuật, tranh kiếng là loại tranh vẽ phía sau mặt kiếng. Khi bắt đầu vẽ thì người thợ đặt tấm kiếng trên tờ giấy mẫu vẽ ngược, rồi dùng bút lông chấm mực vẽ đồ theo tờ giấy mẫu ấy, từ chuyên môn được gọi là “tách”. Người thợ tách phải có bàn tay khéo léo để nét bút được sắc sảo. Sau khi tách xong, người thợ chấm sơn tô màu theo quy định vào những ô đã tách và “tán” tức pha ô màu từ đậm tới lợt. Tô màu theo trình tự nhất định: vật thể tiền cảnh trước, hậu cảnh sau. Cuối cùng là màu phông. Rồi đem phơi khô. Sau khi tranh đã khô thì mới cẩn ốc xà cừ, dán vàng quỳ, tô nhũ kim, hay dán giấy trang kim vào phía sau bức tranh để tăng thêm phần rực rỡ. Sau cùng họ phủ thêm lớp sơn để bảo vệ rồi mới đặt vào khuôn gỗ đóng hậu, hoàn thành sản phẩm. 

Khởi thủy, nguyên liệu để vẽ tranh kiếng là màu bột pha với đồng du (dầu cây du đồng), mực tàu. Về sau người thợ vẽ dùng cả sơn tây, sơn ta, bột màu pha a dao. 

Đặc điểm nổi bật trong quá trình phát triển của tranh kiếng là tại mỗi tọa độ địa lý - văn hóa, nó luôn tích hợp những nội dung mới để phù hợp với phong hóa cộng đồng dân cư, dân tộc và từ đó, mỗi dòng tranh kiếng hình thành những sắc thái riêng biệt, độc đáo. 

1. Dòng tranh Chợ Lớn 

Tranh kiếng người Hoa ở Chợ Lớn có lịch sử lâu đời nhất và trước hết, chúng đáp ứng nhu cầu văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa, người Minh Hương và kế đó là người Việt. Loại tranh sản xuất ở Chợ Lớn có đặc trưng thường dùng màu đỏ, dán giấy quỳ vàng, quỳ bạc và áp dụng kỹ thuật tráng thủy tạo nên những đường nét hay nền bức tranh thường ánh lên sắc sáng bạc tăng thêm phần lung linh. Ở kỹ thuật tráng thủy, trước tiên người thợ đổ một lớp sáp lỏng lên mặt sau của tấm kiếng, chờ sáp khô rồi khắc những đường nét muốn tráng thủy lên. Việc khắc vẽ này là tạo nét đường viền, trang trí hay nhằm cạo sạch lớp sáp để tráng thủy: thực hiện phản ứng hóa học giống như phản ứng tráng gương. Dòng tranh Chợ Lớn luôn tiếp nhận những kỹ thuật mới nên có nhiều cải tiến, áp dụng các kỹ pháp tạo hình đa dạng. Đó là đặc trưng khác biệt với các dòng tranh khác. Cái hay của tranh kiếng Chợ Lớn là sự tân kỳ, song về giá trị mỹ thuật lại giảm sút, nặng về kỹ thuật. 

Tử Vi, Chợ Lớn.


Dòng tranh kiếng Chợ Lớn chủ vào tranh chúc tụng và tranh thờ. Loại tranh khánh chúc rất đa dạng về chủ đề cũng như kiểu thức thể hiện. Chúng thường được tặng vào dịp lễ Tết, mừng thọ, mừng tân gia, khai trương các tiệm quán, cơ sở kinh doanh, sản xuất.... như tranh Ngư ông đắc lợi với lời chúc Niên Niên đại lợi tặng vào dịp khai trương công việc làm ăn, cốt chúc cho chủ đạt được thành công, gặt hái nhiều lợi lộc. Còn tranh Bát Tiên biểu thị cho những điều chúc lành. Tranh Mã đáo thành công hàm ý chúc người được tặng gặt hái được thành công trong công việc, sự nghiệp... Tranh Ngũ lộ tài thần thể hiện năm vị thần tài cùng câu chúc Chiêu tài tiến bảo nhằm mong cầu giàu sang, phát tài. 

Đây vừa là tranh khánh chúc vừa là tranh thờ. Loại tranh thờ, phổ biến là tranh kiếng vẽ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tranh thờ Bồ tát cùng rất nhiều đề tài hỗn hợp về các vị thần linh Hoa, Việt như Nhị phủ Bổn Đầu Công, Quan Thánh Đế Quân, Huê Quang Đại Đế, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Lão Tử... Quan Thánh Đế quân tức Quan Công, một nhân vật đời Tam Quốc, được coi là một võ quan trung nghĩa. Dân gian tin tưởng Quan Đế có đầy đủ vạn năng uy lực nên được xác tín là “Vạn Năng thần”. 

Tranh Quan Thánh Đế vẽ mỗi Quan Công và đa phần có tùng tự Quan Bình và Châu Xương. Bộ ba Quan Đế, Quan Bình, Châu Xương tích hợp với Vương Thiên Quân và Trương Tiên Đại Đế trở thành tranh Ngũ Công Vương Phật, gồm các đối tượng đồng quyền năng tạo nên một sức mạnh phù trợ đa năng, nhiều uy lực.

Các tranh thờ nữ thần rất phong phú. Bà Chúa Ngọc, Chúa Tiên là các thần độ mạng phổ biến, chiếm tỷ lệ lớn trong số lượng tranh kiếng Chợ Lớn. Các nữ thần bản xứ như bà Chúa Xứ (Châu Đốc), Linh Sơn Thánh Mẫu (Tây Ninh) cũng được vẽ làm loại tranh thờ trên kiếng. 

Tranh Ông Táo là một loại tranh thờ phổ biến khác. Ở Nam Bộ, tranh thờ Ông Táo gồm Táo Quân và hai phụ tá: Tả Mạng thần quan có trách nhiệm ghi công đức của chủ nhà và Hữu Mạng thần quan ghi chép tội lỗi của chủ nhà để Táo Quân có chứng cớ tâu báo với Ngọc Hoàng mỗi dịp về trời vào ngày 23 tháng Chạp hằng năm. 

Đặc trưng của dòng tranh kiếng Chợ Lớn là đề tài phong phú, đa tạp được thể hiện bằng nhiều kỹ pháp tân kỳ.

2. Dòng tranh Lái Thiêu

Dòng tranh Lái Thiêu có loại vẽ nhiều màu, tiêu biểu như màu hường, màu xanh lông két, màu trắng, màu vàng, xanh dương..., nhưng cũng có loại màu nền đen hoặc đỏ, đặc biệt các hoa văn, hình họa đều dán ốc xà cừ để tạo nên sắc trắng bạc phản quang. Sắc màu phản quang truyền thống là lớp màu điệp trong tranh mộc bản, kế đó là sản phẩm cẩn ốc xà cừ và hiện đại là tráng thủy và dán giấy trang kim đa sắc, chủ yếu là vàng kim và bạc.

Đặc phẩm của tranh kiếng Lái Thiêu là bộ tranh thờ tổ tiên: bức tranh sơn thủy vẽ núi ở hậu cảnh với dòng sông chảy ngoằn ngoèo, thấp thoáng trong khóm cây vài nếp nhà, và trung tâm là một ngôi nhà khang trang với sân vườn gần mé sông, có cây cầu bắc qua, ngụ ý nhắc câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Lái Thiêu có thể coi là xứ sở mở đầu cho loại tranh thờ tổ tiên lừng danh ở xứ Nam Bộ. Về sau, bộ tranh thờ tổ tiên có thêm đồ án cây đại thụ: gốc lớn cành lá sum suê, biểu ý “Cây có cội, nước có nguồn”.

Kỹ pháp cẩn xà cừ là đặc trưng tiêu biểu của dòng tranh kiếng Lái Thiêu cũng được thể hiện trong tranh thờ các nữ thần như Bà Địa Mẫu, Quan Âm nương nương hay các tranh thờ thần Độ Mạng như Bà Chúa Tiên độ mạng cho nữ có tuổi thuộc can Canh-Tân, Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng cho nữ giới có tuổi thuộc can Giáp-Ất, Nhâm-Quý; Chúa Ngọc Thần độ mạng cho nữ có tuổi thuộc can Bính-Đinh...

Tranh thờ tổ tiên, Bà Vệ (An Giang) nhưng ký là tranh Lái Thiêu


Dòng tranh Bà Vệ

Dòng tranh Bà Vệ thuộc xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang ra đời muộn. Tục truyền, từ xưa ở bến sông ghe thuyền qua lại, có một phụ nữ bán bánh và một số hàng nhật dụng cho những người qua lại đường sông. Đó là Bà Vệ. Sau, nơi đó thành chợ - gọi là chợ Bà Vệ, rồi dần dà trở thành địa danh chỉ vùng đất bao quanh ngôi chợ làng nhỏ nhoi ấy.

Tranh kiếng Bà Vệ hình thành khi tranh kiếng Lái Thiêu, đặc biệt là tranh thờ tổ tiên, chiếm thị phần chính ở Nam Bộ. Bởi vậy, trên những bức tranh kiếng Bà Vệ buổi đầu, mặc dù không mang một đặc điểm gì của tranh kiếng Lái Thiêu vẫn thấy hai chữ “Lái Thiêu” ở phần dưới tranh, hẳn là để... nhái thương hiệu.

Tranh kiếng Bà Vệ khởi phát từ những năm 1950. Người trực tiếp đưa nghề vẽ tranh kiếng về xứ này là ông Trần Văn Tú. Ông học nghề vẽ tranh kiếng ở Cần Thơ theo trường phái Lái Thiêu. Từ đó, nghề vẽ tranh kiếng được nhiều người học theo trở thành làng nghề tranh kiếng. 

Các đề tài trong tranh Bà Vệ rất phong phú và khá đặc biệt. Ở dòng tranh thờ thần Phật, được nói nhiều là bức“xà lanh” treo trên xà ngang, chạy dài suốt ba gian của ngôi nhà có nội dung kể về các kỳ tích trong cuộc đời Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni. Tranh kiếng tuồng tích cũng là một “phát minh” của dòng tranh Bà Vệ, được cho là sáng tạo của nghệ nhân Trần Văn Ty (Mười Ty) vào khoảng năm 1954. Ông được xem là người sáng tác ra loại tranh treo cửa buồng theo tích Tấm Cám, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Phạm Công - Cúc Hoa, Lưu Bình - Dương Lễ... Dòng tranh trang trí cũng là một đặc sản khác của tranh Bà Vệ, phổ biến với các bộ tranh tứ bình, tranh treo cửa buồng hay vẽ cảnh sắc thôn quê với ngôi nhà gạch khang trang, cây cầu bắc ngang cho thấy sự giàu sang, “phú quý vinh hoa”, hoặc trẻ mục đồng cưỡi trâu thổi sáo, cảnh tượng thanh bình nơi thôn dã... Nói chung ở thể loại tranh trang trí, đề tài mở rộng không cùng, song tất cả đều chứa nội dung mong ước sự an bình, mọi việc được cát tường như ý. 

Tranh Gà đàn, Lái Thiêu, sưu tập Nguyễn Anh Kiệt.


Dòng tranh Khmer

Dòng tranh Khmer tập trung ở hai khu vực có đông người Khmer sinh sống là Trà Vinh và Sóc Trăng, trong đó tranh kiếng Khmer Trà Vinh ra đời vào khoảng những năm 1935, 1936, còn làng tranh kiếng Phú Tân (Sóc Trăng) ra đời muộn hơn một chút và còn tồn tại đến nay. 

Một chủ đề được quan tâm hàng đầu ở tranh kiếng Khmer là tranh thờ tổ tiên, tranh “Ông, Bà” (tranh “Donta”), trong đó các nhân vật phải mặc trang phục Khmer truyền thống như xàm pốt, áo cổ vuông, quàng khăn rằn hoặc khăn “sen sầm nak tho” màu trắng chéo trước ngực.

Loại tranh này thường vẽ sẵn trên kính hình ảnh một người phụ nữ hoặc nam giới Khmer mặc y phục truyền thống, có đầu nhưng không có mặt. Khi có ai đặt vẽ chân dung ông bà, cha mẹ thì mới vẽ thêm khuôn mặt vào bức tranh có sẵn. Trong tranh các cụ già mặc trang phục trang trọng ngồi trên chiếc ghế bọc nệm hoặc ghế gỗ chạm trổ, bên cạnh là chiếc bàn nước nhỏ phủ khăn trắng, trên bàn đặt bộ ấm trà, bình hoa sặc sỡ. Phía sau là khung cửa sổ có treo rèm. Nền nhà lát gạch hoa... Ngoài tranh thờ tổ tiên, người Khmer có tập quán thờ Phật, đa phần người ta thờ tranh vẽ Phật, ít khi thờ tượng. Tranh Phật để thờ là Đức Phật lịch sử, tức Phật Thích Ca Mâu Ni với nhiều kiểu hình họa khác nhau dựa vào các kỳ tích lấy từ tiểu sử của Đức Phật. Một đặc phẩm của tranh kiếng Khmer là tranh Witsowan trấn trạch. Đây là Tỳ Sa Môn Thiên Vương thống quản phương Bắc, chủ tướng của bộ chằn Dạ xoa (yasha) rất uy mãnh. Loại tranh này có nhiều “dị bản” tùy theo từng nghệ nhân. Do đó, đề tài này là một tập thành mỹ thuật đặc biệt độc đáo.

Witsôwan trấn trạch, Khmer.


Điều rất dễ nhận thấy là tranh kiếng, tranh tường và tranh vẽ trên vải Khmer có sự tương đồng về chủ đề, hình tượng, phong cách tạo hình và thị hiếu về màu sắc. Chúng ta có thể xác định rằng tranh tường có điểm khởi phát trước nhất rồi mới đến tranh vải, và kế tiếp là tranh kiếng vì chất liệu kiếng/thủy tinh là rất hiếm vào thời xưa. Chỉ mới sau này, khi trình độ kỹ thuật phát triển con người mới tạo nên kiếng. Và những tấm kiếng này thời đó là rất quý hiếm. Phải đến gần đây thì kiếng mới sản xuất đại trà và việc vẽ tranh trên kiếng mới thịnh hành. Rồi khi tranh kiếng đã lần lượt giành lấy vị trí vốn có của các loại tranh thờ vẽ trên các chất liệu truyền thống, nó không ngừng khai thác kho tàng dữ liệu phong phú của di sản mỹ thuật Phật giáo Tiểu thừa cho sáng tác của mình. Do vậy mà ngày nay, tranh kiếng Khmer có đủ loại đề tài truyền thống, từ các kỳ tích của Đức Phật lịch sử đến các sự tích rút từ Phật thoại, kinh bổn sanh Jataka đến các bộ long thần, hộ pháp..., được thể hiện bằng kỹ pháp vẽ tranh dân gian đơn tuyến bình đồ với không gian phẳng hai chiều lẫn kỹ thuật vờn màu, tạo khối và cả tranh vẽ theo kỹ pháp hiện đại, xử lý tốt hiệu ứng ánh sáng tạo nên các bức tranh ba chiều sinh động.

Nghệ nhân Khmer với phong cách đa dạng, kỹ pháp điêu luyện đã tạo nên những tác phẩm tranh kiếng đặc sắc. Tuy cùng chủ đề Đức Phật và các tích chuyện tiền kiếp Đức Phật nhưng không bức tranh của nghệ nhân nào giống nghệ nhân nào. Bên cạnh đó, khi nhìn vào những bức tranh kiếng Khmer, chúng ta vẫn có thể phân biệt ngay chúng với những dòng tranh Huế, Chợ Lớn, Lái Thiêu và An Giang. Mỗi dòng tranh kiếng với những đặc trưng riêng đã hình thành nên một tập đại thành mỹ thuật đồ sộ mang sắc thái riêng của mỗi cộng đồng dân cư, dân tộc góp phần làm phong phú cho bảng màu đa dạng của văn hóa Việt Nam

Bài: Huỳnh Thanh Bình. Ảnh: Tư liệu 

Tục cúng rẫy của người Khơ Mú

đăng 17:45, 5 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cũng như các cộng đồng thiểu số khác ở miền núi Nghệ An, nguồn lương thực của người Khơ Mú chủ yếu là lúa rẫy. 

Cuộc sống ở rẫy của người vùng cao xứ Nghệ. Ảnh: Hữu Vi 


Cộng đồng Khơ Mú cư trú nhiều nhất ở huyện Kỳ Sơn và Tương Dương. Địa bàn cư trú của họ thường cao hơn người Thái và thấp hơn người Mông, vì vậy tập quán canh tác lúa rẫy cũng phụ thuộc vào đặc điểm địa lý. 

Người Khơ Mú chọn đất làm rẫy trên những độ dốc khác nhau và trước đây, hình thức canh tác vốn rất lạc hậu. Theo nghiên cứu của PGS Ninh Viết Giao, nông cụ chủ yếu của người Khơ Mú trước kia là dao quắm, rìu… Chỉ một số nơi biết dùng cuốc. Chiếc gậy chọc lỗ trao hạt là nông cụ quen thuộc nhất của họ. Ban đầu nó là gậy hái lượm, chỉ được dùng tạm thời, về sau trở thành nông cụ. Đây cũng là vật dụng được người Thái dùng thuở xa xưa, gọi là “cha lum”. 

Cũng theo ông Ninh Viết Giao, người Khơ Mú làm rẫy theo một “lịch” chặt chẽ. Đó là những nghiên cứu dựa trên những thực tế cách đây đã nhiều thập niên về trước. Ngày nay, những nguyên tắc này đã có những thay đổi và giống hơn với “nông lịch” của người Thái. 

Giàn cúng rẫy của người Khơ Mú ở Kỳ Sơn Ảnh: Lữ Phú 


Trong quan niệm của người Khơ Mú ở xã Bảo Thắng, huyện Kỳ Sơn, thời điểm phát rẫy tốt nhất là khi bắt đầu có những cơn mưa đầu hạ. Phát xong rẫy, chờ có nắng lên sẽ đốt và trỉa rẫy. Ông Cụt Phò Mạnh, một người cao tuổi ở bản Cha Ka 1, xã Bảo Thắng, chia sẻ: Trước mùa phát rẫy, người ta thường đi tìm nơi có địa thế tương đối bằng phẳng để chọn đám rẫy. Để tránh tranh chấp, người chọn rẫy chặt một cái cây làm thành hình chữ thập gắn lên đầu gậy rồi cắm xuống đất để đánh dấu cho người khác biết là “đất đã có chủ”. Sau đó mới cùng người nhà đi phát rẫy. Ngày đi tìm nơi làm rẫy cũng như phát, trỉa và gặt lúa đều được chọn lựa bởi những người hiểu biết về lịch trong cộng đồng. Họ thường là thầy cúng, thầy mo. 

Ngày trỉa rẫy được tính là bắt đầu một mùa vụ mới. Sau khi đã chọn được ngày tốt, một người phụ nữ trong nhà sẽ lên rẫy trỉa những khóm lúa đầu tiên. Người đàn ông trụ cột hoặc một ai đó trong cộng đồng hiểu biết phong tục được gia chủ nhờ cậy sẽ lên rẫy làm một bùa trừ tà gọi là “ta leo” dựng ở giữa, hoặc góc phía trên của đám rẫy. "Ta leo" được đan bằng nan nứa hình lưới mắt cáo. Chiếc "ta leo" cũng rất quen thuộc trong những nghi lễ tâm linh của người Thái. Với người Khơ Mú, chiếc “ta leo” có ý nghĩa xua đuổi tà ma, thú dữ không đến quấy nhhiễu cây lúa và người làm rẫy. 

Bên cạnh cây “ta leo”, người ta trồng thêm một khóm cây sạ. Chúng tôi cũng chưa rõ ý nghĩa của khóm sạ này như thế nào. Những người Khơ Mú ở xã Bảo Thắng cũng chỉ giải thích rằng, trồng sạ trên rẫy lúa là việc quan trọng. 

Sau khi dựng cây "ta leo", trồng sạ, người ta làm nghi lễ cúng thần linh cai quản rừng núi phù hộ cho người làm rẫy được khỏe mạnh, cầu cho mưa về để hạt lúa nảy mầm. Xin thần rừng núi phù hộ cây lúa khỏe mạnh, con chuột, con chim, lợn rừng không biết đường tìm đến moi hạt lên ăn. 

Vào vụ làm cỏ, một nghi lễ gọi là “xê hrê” tức là cúng rẫy được tổ chức. Tại căn chòi canh rẫy, người ta mổ gà cúng cho thần linh để tạ ơn các thế lực siêu nhiên đã bảo trợ cho cây lúa được tốt tươi. Trong lễ cúng, người ta dùng lạt kết thành hình con ve, chim, sóc dựng lên giữa rẫy để cầu mong những loài muông thú, sâu bệnh không đến phá lúa. Sau khi xong các nghi lễ là cuộc vui của những người làm rẫy. Họ ăn thịt, uống rượu trong ngày lễ cúng đầu tiên của mùa rẫy. Buổi lễ thêm phần vui tươi khi diễn ra trong không gian màu lúa non và rừng cây xanh mát. 

Những lễ vật dâng thần linh trong ngày cúng rẫy. Ảnh: Hữu Vi 


Lễ thứ 2 và trong một mùa rẫy của người Khơ Mú là mừng lúa mới. Người Thái thường tổ chức mừng lúa mới tại nhà nhưng người Khơ Mú thì làm nghi lễ này trên rẫy. Trong ngày lễ này, một nhóm các hộ làm rẫy gần nhau cùng tổ chức cúng và ăn mừng tại một căn chòi thuận tiện nhất. 

Một giàn cúng được dựng lên. Trên giàn treo những bông lúa, các món ăn như thịt gà, lợn, món moọc được chế biến từ thịt sóc, gạo tấm gia vị gói trong lá chuối đem hấp lên. Váy, áo, vải vóc cũng được đem cúng cho thần linh. Lễ mừng lúa mới là dịp vui lớn nhất của người Khơ Mú ở trên nương rẫy. 

Ngày nay, người Khơ Mú ở một số vùng đã ăn mừng lúa mới tại nhà như người Thái. Chúng ta có thể chứng kiến điều này khi về những bản làng người Khơ Mú ở Tương Dương như xã Lượng Minh, Yên Na. Ngoài lễ mừng lúa mới, người Khơ Mú ở xã Yên Na còn có lễ đưa lúa nhập kho. Trong lễ này người ta mổ gà cúng cho ma nhà (nếu kho lúa dựng gần nhà), ma cai quản kho lúa (nếu kho dựng trong rừng)... 

Hữu Vi

1-10 of 21