Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Người Lự cúng vía trâu “Mo khoăn khoai” là một nghi lễ tâm linh của đồng bào Lự ở tỉnh Lai Châu, nhằm tỏ lòng biết ơn tới những "ông trâu" - loài vật gần gũi ...
    Được đăng 02:35, 17 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Độc đáo thổ cẩm truyền thống phụ nữ Chăm An Giang Qua bàn tay khéo léo, sự cần mẫn trong lao động của người phụ nữ Chăm cùng với những hoa văn, họa tiết độc đáo, sinh động, các sản phẩm ...
    Được đăng 01:12, 4 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Làng gốm Bát Tràng Cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 15km, làng Bát Tràng, thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm đã trở thành địa điểm tham quan lý tưởng trong những ngày ...
    Được đăng 00:44, 4 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nơi bốn khu chợ nằm cạnh nhau ở Hà Nội Giữa trung tâm Hà Nội có một "tổ hợp" chợ có thể nói là độc nhất vô nhị Việt Nam, nơi bốn khu chợ họp cạnh nhau tạo nên cảnh ...
    Được đăng 02:56, 30 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Người Xá Phó “rước hồn mẹ lúa” Khi những bông lúa trên nương bắt đầu chín, đồng bào Xá Phó (Lào Cai) xem lịch, chọn ngày tốt để chuẩn bị nghi thức tổ chức ăn cơm mới ...
    Được đăng 21:09, 18 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 24. Xem nội dung khác »


Người Lự cúng vía trâu

đăng 02:35, 17 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

“Mo khoăn khoai” là một nghi lễ tâm linh của đồng bào Lự ở tỉnh Lai Châu, nhằm tỏ lòng biết ơn tới những "ông trâu" - loài vật gần gũi với bà con nông dân. 

Lễ cúng vía trâu của người Lự ở xã Bản Hon, huyện Tam Đường thường được tổ chức sau khi kết thúc mùa màng, nhằm tạ ơn loài vật này đã nỗ lực đồng hành, cùng người dân lao động sản xuất để mang lại vụ mùa bội thu cho bản làng. Lễ này thường được tổ chức tại một khu bãi ruộng rộng, với sự tham gia của tất cả các hộ dân trong bản.

Để thực hiện lễ “Mo khoăn khoai”, đồng bào Lự mời 5 thầy cúng (1 thầy cúng chính và 4 thầy cúng phụ). Các thầy cúng được chọn là những người có uy tín trong cộng đồng, có cuộc sống gia đình hòa thuận, hạnh phúc.

Cộng đồng người Lự ở xã Bản Hon, huyện Tam Đường thường chọn thửa ruộng bậc thang bằng phẳng, có diện tích lớn để tiến hành nghi lễ cúng vía trâu.


Mâm lễ vật cúng vía trâu gồm có gà luộc, thịt lợn luộc, xôi, rượu, gạo, thóc...


Nghi lễ cúng vía trâu do thầy cúng Tao Văn Phòng (chủ lễ) tiến hành.


Nghi lễ mời vía trâu uống rượu.


Thầy cúng Tao Văn Phòng đọc các bài khấn xin các thánh thần xua đuổi những cái xấu, cái không may mắn, cái ốm đau và đem lại những điều tốt lành, sức khỏe cho trâu. Cúng xong mời trâu ăn xôi, uống nước sạch để tỏ lòng biết ơn trâu đã giúp gia chủ làm lụng vất vả và vụ tới mùa màng sẽ tốt tươi bội thu.


Cúng xong, trâu được thả ra đồng ăn cỏ, còn gia chủ mời anh em họ hàng, làng xóm láng giềng cùng chúc mừng ăn uống, mừng cho trâu khỏe mạnh, không bị ốm, bệnh tật.


Lễ cúng vía trâu của đồng bào dân tộc Lự mang đậm dấu ấn văn hóa của một nền văn minh lúa nước, đậm đà bản sắc dân tộc. Phong tục này không chỉ thể hiện sự coi trọng công sức của trâu đã vất vả nhọc nhằn giúp người có được thực phẩm quý hơn cả vàng ngọc, mà còn có ý nghĩa tôn vinh công sức lao động nói chung, chuyên chở những ý nghĩa nhân sinh cao đẹp. 


Các đồ vật dâng tại lễ cúng thường là những sản vật do người dân tự làm ra và những lễ vật này được bà con chuẩn bị từ trước, có sự giúp sức của hầu hết phụ nữ trong bản.

Cúng vía trâu là một nghi lễ văn hóa đặc sắc trong đồng bào Lự ở Lai Châu và cũng là dịp để bà con dân bản thắt chặt tình đoàn kết dân tộc, chia sẻ kinh nghiệm trong chăn nuôi, sản xuất.

Thực hiện: Khắc Kiên – Ngọc Thắng

Độc đáo thổ cẩm truyền thống phụ nữ Chăm An Giang

đăng 01:12, 4 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Qua bàn tay khéo léo, sự cần mẫn trong lao động của người phụ nữ Chăm cùng với những hoa văn, họa tiết độc đáo, sinh động, các sản phẩm thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) Chăm là sự kết tinh những giá trị lao động, sáng tạo, những quan niệm thẩm mỹ, tư duy nghệ thuật mang đậm bản sắc văn hóa riêng của đồng bào DTTS Chăm ở An Giang.

Đồng bào DTTS Chăm sinh sống tập trung ở huyện An Phú và TX. Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Phú Tân... Phần lớn đồng bào DTTS Chăm sống bằng nghề mua bán nhỏ, chăn nuôi, dệt vải, thêu đan, chài lưới, đánh bắt thủy sản. 

Theo các bậc cao niên, không ai biết rõ nghề dệt của người Chăm có từ lúc nào, nhưng lúc xưa hầu như gia đình nào cũng có khung dệt để sử dụng trong gia đình. 

Nghề dệt trở thành công việc mà bất cứ người phụ nữ Chăm nào cũng phải biết. Khi mới 10-12 tuổi, những thiếu nữ Chăm đã được hướng dẫn những thao tác đơn giản nhất của nghề dệt. 

Trải qua thời gian, nghề dệt của người Chăm ở An Giang được kế thừa qua nhiều thế hệ với những nét độc đáo trong kỹ thuật dệt và nhuộm sợi, nhuộm vải khéo léo, điêu luyện nên sản phẩm làm ra có chất lượng tốt, mịn, bóng và bền, được nhiều người ưa chuộng. 

Giao thương ngày càng phát triển, sản phẩm thổ cẩm mang đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Chăm cũng bắt đầu nổi tiếng gần xa, được giới thiệu rộng rãi qua các hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước… 

Người phụ nữ Chăm bên khung dệt 


Chị Fala (xã Đa Phước, An Phú) cho biết, để dệt được thành phẩm những tấm thổ cẩm đẹp, bắt mắt thì phải trải qua các công đoạn yêu cầu sự tỉ mỉ, chi tiết, khéo léo và cẩn trọng của người dệt. Đầu tiên là sang sợi từ ống bự sang ống nhỏ, tiếp đến bắt sợi vào. Sau đó là bắt sợi vào trục rồi kéo sợi qua các go trên khung dệt, rồi mới bắt đầu dệt từng tấm vải… Bên cạnh đó, việc nhuộm màu sợi, màu vải là một khâu quan trọng và luôn có những bí quyết khác nhau được lưu truyền nhiều đời trong cộng đồng người Chăm ở An Giang. 

Chị Salyha (xã Châu Phong, TX. Tân Châu), một trong những thợ dệt lâu năm với nghề chia sẻ, đồng bào DTTS Chăm dệt thủ công bằng tơ sợi được nhuộm từ lá cây, nhựa cây, vỏ cây… để có những màu sắc cơ bản, như: xanh, đỏ, vàng, đen… 

Ngoài ra, người thợ nhuộm còn có thể phối hợp tạo nhiều gam màu khác nhau để trang trí với những kiểu hoa văn truyền thống, như: ô vuông, con thoi, cánh quạt, răng cưa, mặt trời, hoa lá… độc đáo, nhiều màu sắc, chuyển tải hình ảnh về thiên nhiên, cảnh sinh hoạt trong cuộc sống lao động, phong tục tập quán, văn hóa. 

Đôi khi cũng có những kiểu hoa văn mới lạ, hiện đại kết hợp với kiểu hoa văn truyền thống để làm sinh động và mới mẻ hơn. Các sản phẩm thổ cẩm dệt thủ công của đồng bào DTTS Chăm rất đa dạng chủng loại, mẫu mã, như: vải, nón, áo, khăn choàng, sà rông, túi đeo, khăn đội đầu, túi xách… với kỹ thuật thủ công khéo léo, mang tính thẩm mỹ cao, dễ sử dụng, giá cả phải chăng, phù hợp với thị hiếu nên được các thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng. 

Đa dạng các sản phẩm thổ cẩm của đồng bào dân tộc thiểu số Chăm 


Những năm gần đây, loại hình du lịch làng nghề truyền thống ngày càng hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng mỗi vùng. Trước đây, các gia đình đồng bào DTTS Chăm chỉ sản xuất và gia công sản phẩm thổ cẩm truyền thống của đồng bào DTTS Chăm theo đơn đặt hàng hoặc phải đi chào hàng, bán ở khắp nơi với thu nhập không cao. 

Từ khi du lịch làng nghề dệt thổ cẩm ở các làng Chăm Châu Phong (TX. Tân Châu), Đa Phước (An Phú) phát triển, lượng khách du lịch đến tham quan ngày càng đông, trong đó có khách du lịch trong nước lẫn nước ngoài, kinh tế của các gia đình đồng bào DTTS Chăm đã khấm khá hơn trước. 

“Khách hàng rất thích thú với những sản phẩm thủ công truyền thống. Các ngày lễ, Tết, nhất là dịp cuối tuần… là lúc du khách đến đây tham quan rất đông. Ngoài việc chọn mua những món hàng lưu niệm về làm quà, du khách còn rất thích thú khi được tận tay thực hiện một số công đoạn trong quá trình dệt và được chụp ảnh cùng những người Chăm mặc trang phục truyền thống đang ngồi dệt…”- cô Saymah (cơ sở dệt thổ cẩm Chăm, ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, TX. Tân Châu) chia sẻ. 

TRỌNG TÍN

Làng gốm Bát Tràng

đăng 00:44, 4 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 15km, làng Bát Tràng, thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm đã trở thành địa điểm tham quan lý tưởng trong những ngày nghỉ cuối tuần. Gốm sứ Bát Tràng là một sản phẩm tiêu biểu của chương trình OCOP trên địa bàn Thành phố Hà Nội. 

Đến làng Bát Tràng, du khách không thể bỏ qua chợ Gốm. Đây là một khu trưng bày, mua bán của cả làng, đã được quy hoạch thành trung tâm thương mại từ năm 2004 chuyên về các sản phẩm gốm, sứ, phục vụ du khách gần xa.

Bước vào khu chợ gốm Bát Tràng, các sản phẩm gốm sứ đa dạng về kiểu dáng, màu sắc, từ cao cấp cho đến bình dân, như những đôi lục bình tinh xảo cỡ lớn, bộ đồ thờ, cốc chén, bát đĩa, tiểu cảnh non bộ, đồ lưu niệm, tranh sứ, trang sức gốm ... Giá cả ở đây vô cùng phong phú, có những sản phẩm tinh xảo giá lên đến chục triệu đồng, có những món đồ nhỏ nhắn, đáng yêu giá chỉ vài nghìn đồng, du khách tha hồ lựa chọn. Tại đây, du khách có cơ hội tự tay nhào nặn những sản phẩm gốm sứ, được trở thành một thợ gốm thực thụ, tha hồ sáng tạo từ đất sét và bàn xoay.

Lớp đào tạo nghề gốm cho thế hệ kế cận tại Trung tâm nghiên cứu, bảo tồn phát triển gốm Bát Tràng.


Thợ vẽ gốm miệt mài, tỉ mẩn từng nét vẽ trang trí sản phẩm.


Các em nhỏ thích thú bên chiếc bàn xoay.


Lò bầu cổ cuối cùng tại Bát Tràng là địa điểm thu hút đông đảo du khách tới tham quan, chiêm ngưỡng.


Du khách quốc tế tìm hiểu về văn hóa lịch sử của làng gốm Bát Tràng.


Du khách quốc tế thích thú khi tận mắt chứng kiến công đoạn vẽ của người thợ gốm Bát Tràng.


Du khách quốc tế tham quan mua sắm tại quầy hàng ở làng gốm Bát Tràng.


Hai em nhỏ đến từ đất nước Nhật Bản đang lựa chọn những chiếc cốc xinh xắn trong buổi dã ngoại của trường tại chợ gốm Bát Tràng. 


Bên cạnh đó, nếu muốn tìm hiểu sâu hơn về truyền thống nghề gốm hoặc lịch sử của ngôi làng cổ 500 tuổi này, du khách không thể bỏ qua Lò bầu cũ. Đây là nơi người dân Bát Tràng nung những đồ gốm sứ từ ngàn đời nay. Hiện lò đã nguội, lửa đã tắt, khu Lò bầu được chuyển sang làm nơi tham quan cho du khách. Vào dịp cuối tuần, rất đông các trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội và vùng lân cận đến đây để làm chương trình trải nghiệm giáo dục cho học sinh.

Ngoài ra du khách cũng có thể tham quan Nhà cổ Vạn Vân - top 10 nhà cổ đẹp nhất Việt Nam, nằm ở cuối làng. Rộng hơn 400m2, Vạn Vân gồm ba ngôi nhà cổ gần 200 năm tuổi và một khu xưởng mô phỏng lò gốm. Trưng bày những sản phẩm cổ của làng Bát Tràng như lọ rồng, ấm men lam, bộ khuôn bản dập làm gốm…

Những năm gần đây, làng gốm Bát Tràng đã không ngừng đổi mới công nghệ sản xuất, mẫu mã sản phẩm. Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng được nhiều quốc gia quan tâm, ưa chuộng và đã có mặt ở các thị trường lớn trên thế giới như: Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Italia…

Bát Tràng là một làng cổ, do đó vẫn còn nhiều những con ngõ rất hẹp, hai bên tường đắp đầy than, lối đi chỉ vừa cho một xe máy. Khi vào những con ngõ này, du khách như được lạc trong “mê cung” của làng gốm, vừa thú vị vừa bình yên đến kỳ lạ.

Nếu quỹ thời gian hạn hẹp, du khách có thể vào tham quan tại khu nhà 7 tầng ngay đầu làng Bát Tràng, trưng bày đầy đủ các công đoạn làm gốm, các sản phẩm gốm và các mô hình lò gốm cổ, đủ thông tin cho du khách tìm hiểu.

Đến với làng gốm Bát Tràng, du khách sẽ có một chuyến tham quan, mua sắm và trải nghiệm thú vị.

Các sản phẩm gốm sứ Bát Tràng luôn giữ được những nét truyền thống.


Các sản phẩm gốm được bài trí bên trong lò bầu để du khách chiêm ngưỡng.


Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng phong phú đa dạng.


Sản phẩm đa dạng phong phú, Bát Tràng thu hút du khách trong và ngoài nước tham quan, mua sắm.


Ngoài những sản phẩm gốm truyền thống, Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm kiểu mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài. 


Bài và ảnh: Khánh Long – Công Đạt

Nơi bốn khu chợ nằm cạnh nhau ở Hà Nội

đăng 02:56, 30 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Giữa trung tâm Hà Nội có một "tổ hợp" chợ có thể nói là độc nhất vô nhị Việt Nam, nơi bốn khu chợ họp cạnh nhau tạo nên cảnh phố chợ nhộn nhịp hiếm có. Đó là bốn chợ: Đồng Xuân - Bắc Qua - Cầu Đông - Thanh Hà.

1. Nằm ở phía Bắc khu phố cổ Hà Nội, Chợ Đồng Xuân là khu chợ có lịch sử lâu đời và nổi tiếng bậc nhất của mảnh đất Hà thành. Tiền thân của chợ là hai khu chợ họp ở cạnh chùa Cầu Đông và cạnh đền Bạch Mã. Năm 1889, người Pháp giải tỏa hai chợ này và dồn vào khu đất trống của phường Đồng Xuân, tạo thành chợ Đồng Xuân

 

Năm 1890 chính quyền thuộc địa cho xây dựng chợ Đồng Xuân theo kiến trúc Pháp. Khi mới khánh thành, chợ Đồng Xuân là khu chợ có quy mô lớn nhất và hiện đại bậc nhất Việt Nam. Đây cũng là một trong những công trình tạo nên diện mạo kiến trúc Hà Nội thời thuộc địa

 

Sau năm 1954, chợ Đồng Xuân khẳng định vai trò của một khu chợ đầu mối lớn nhất Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Năm 1991, chợ Đồng Xuân được xây dựng lại nhưng vẫn giữ những nét kiến trúc cũ ở mặt tiền. Năm 1994, chợ bị hỏa hoạn, lửa thiêu trụi gần như toàn bộ các gian hàng. Sau vụ cháy kinh hoàng, chợ đã được tu sửa.

 

Ngày nay chợ Đồng Xuân vừa là một chợ đầu mối dành cho bán buôn, vừa là một “thiên đường” bán lẻ dành cho người dân và du khách. Trong bản đồ du lịch Hà Nội ngày nay, chợ Đồng Xuân đã trở thành một địa điểm thăm quan không thể bỏ qua của du khách trong và ngoài nước

 

2. Nằm ở mặt sau chợ Đồng Xuân, chợ Bắc Qua là một khu chợ có lịch sử khá thú vị. Đây vốn là một khu chợ tạm được hình thành vào khoảng thập niên 1960, ban đầu chỉ là khu đất trống dành cho những người nông dân từ bờ Bắc sông Hồng qua bán rau quả rồi dần dần trở nên sầm uất

 

Như vậy, tên gọi “Bắc Qua” có hai yếu tố, “Bắc” là chỉ địa điểm bờ Bắc sông Hồng, còn “Qua” là chỉ luồng vận chuyển hàng hóa từ bờ Bắc qua bờ Nam của sông. Do chợ Bắc Qua “dính liền” với chợ Đồng Xuân nên người Hà Nội thường gọi cả hai chợ là bằng cái tên chung là chợ Đồng Xuân – Bắc Qua

 

Ngày nay, chợ Bắc Qua họp chủ yếu trên hai tuyến phố, là phố Nguyễn Thiện Thuật giới hạn bởi mặt sau chợ Đồng Xuân và phố Cao Thắng. Khu chợ trên phố Nguyễn Thiện Thuật chủ yếu bán mặt hàng khô. Phố Cao Thắng thì ngược lại, bán các loại nông sản tươi như rau, củ, quả...

 

Nằm ở trung tâm phố cổ Hà Nội, chợ Bắc Qua là một địa điểm thu hút khá đông du khách tới tham quan. Do chợ họp trên các trục đường sầm uất, người đi chợ có thể mua hàng khi vẫn ngồi trên xe máy. Đây là một điểm độc đáo của khu chợ này...

 

3. Nằm ở đầu phố Cầu Đông, cạnh chợ Đồng Xuân, chợ Cầu Đông là một khu chợ được mở sau khi chợ Đồng Xuân được xây lại năm 1991. Chợ được xây cao tầng khang trang, cổng chính hướng ra phố Nguyễn Thiện Thuật, cổng phụ thông ra phố Cầu Đông

 

Tầng một của chợ là nơi chuyên kinh doanh các mặt hàng kim loại, đồ cơ khí, tầng hai bán các mặt hàng may mặc, các tầng 3, 4 được dùng làm văn phòng hoặc phòng chức năng. Từ tầng hai của chợ Cầu Đông có một lối đi trên cao dẫn sang chợ Đồng Xuân

 

Do chợ Cầu Đông là một chợ mới xây và lại nằm sát chợ Đồng Xuân nổi tiếng nên có khá nhiều người Hà Nội không biết đến sự tồn tại của khu chợ này, hoặc nghĩ rằng đây chỉ là một phần mở rộng của chợ Đồng Xuân

 

Tên chợ Cầu Đông khiến nhiều người liên tưởng đến câu ca dao “Bà già đi chợ Cầu Đông". Nhưng thực tế khu chợ trong câu ca dao không còn nữa, chợ Cầu Đông hiện tại chỉ mang một cái tên gợi nhớ về khu chợ cũ nơi "bà già xem bói"

 

4. Họp dọc ngõ Thanh Hà và phố Nguyễn Thiện Thuật, đoạn từ đầu phố Cầu Đông đến phố Hàng Chiếu, chợ Thanh Hà là một khu chợ tạm phát sinh từ chợ Đồng Xuân.

 

Các mặt hàng buôn bán ở chợ Thanh Hà khá phong phú, trong đó thực phẩm tươi sống là nhiều nhất. Thực phẩm ở chợ Thanh Hà được giới nội trợ đánh giá là thuộc hàng tươi ngon nhất Hà Nội

 

Đoạn đầu phố Nguyễn Thiện Thuật giáp phố Hàng Chiếu thì tập trung nhiều hàng đồ ăn chế biến sẵn, như các loại giò chả, thịt trâu, bò sấy, mắm tép và các loại đồ khô

 

Sắc màu dân dã của các quầy hàng kết hợp với không gian chật chội đặc trưng của ngõ hẻm phố cổ đem lại cho chợ Thanh Hà một sự hấp dẫn khó cưỡng. Ngày nay, chợ là một điểm tham quan lý thú dành cho du khách ở phố cổ Hà Nội.


T.B (tổng hợp)

Người Xá Phó “rước hồn mẹ lúa”

đăng 21:09, 18 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Khi những bông lúa trên nương bắt đầu chín, đồng bào Xá Phó (Lào Cai) xem lịch, chọn ngày tốt để chuẩn bị nghi thức tổ chức ăn cơm mới. Tết cơm mới của người Xá Phó có lịch sử hơn 300 năm, đến nay vẫn được bà con đồng bào Xá Phó duy trì và bảo tồn, trở thành nét văn hóa độc đáo trong cuộc sống thường nhật của họ. Để năm sau mùa màng tươi tốt, người Xá Phó thường tổ chức Tết cơm mới từ tháng Tám âm lịch. 

Trong tín ngưỡng Tết cơm mới, độc đáo nhất vẫn là nghi lễ giữ hồn lúa mẹ ở nương và nghi lễ rước hồn lúa mẹ về kho thóc hoặc sàn nhà. Ngày đầu tiên đi gặt, chỉ có hai vợ chồng chủ nhà, dậy sớm chuẩn bị cơm gói và chiếc hái, gùi qua đầu và đặc biệt là hòn đá thần (loại đá trắng có nhiều hạt hình ngũ giác tạo thành - trông giống hạt gạo). Ngày đi hái lúa đầu tiên giống như đi đón hồn lúa về nhà nên mọi việc phải được kiêng kỵ thì hồn lúa mới về đến nhà, nên gia chủ phải đi một mạch đến nương, không đi đường tắt, trên đường đi không được hỏi chuyện hay trả lời người khác. 

Người Xá Phó thu hoạch lúa để tổ chức Tết cơm mới. 


Khi đến gần nương, bà chủ làm lý rào nương để không cho ai đi qua vì sợ làm ảnh hưởng đến hồn lúa nương. Bà chủ hái ba lá ngái để bọc hòn đá thần rồi đi vào giữa nương, hướng về phía mặt trời mọc, nín thở hai tay quơ ba gốc lúa, rồi dùng lá lúa buộc vào thành một bụi to, cho “hòn đá thần” vào giữa bụi lúa để làm hồn lúa mẹ “Xè mạ”. Buộc xong lạt, bà chủ mới được thở nhẹ nhàng... Giữ hồn lúa xong, bà xuống chân nương hái ba bông lúa rồi nhổ ba gốc rạ để ủ hồn lúa ở chân nương. Thực hiện xong nghi lễ giữ hồn lúa mẹ, bà chủ nương cùng chồng đi từ chân nương đến đỉnh nương để hái từng bông lúa. 

Mọi người gùi lúa trở về nhà. 


Sang ngày thứ hai, bà chủ cùng người anh em đến đổi công giúp hái lúa. Người Xá Phó quan niệm rằng, khi hái lúa mọi người tuyệt đối không được chớp mắt vì nếu chớp mắt khi lúa hái và buộc thành từng cum sẽ bị rụng hạt. Khi hái, mọi người không được thở mạnh vì nếu thở mạnh sợ sẽ làm hồn lúa hoảng sợ mà bỏ đi khỏi nương. Khi chuẩn bị thu lúa nương, bà chủ nương ra chỗ ủ hồn lúa, lấy bông lúa đó ra chân nương hô thật to “Mọi người hãy thu lúa đi, tôi giữ hồn lúa đây rồi”. Nghe xong, người đến giúp vác từng cum lúa đem về vị trí tập kết ở chân nương. Bà chủ lấy ba bông lúa nhét vào bó lúa nương tốt nhất để làm lúa giống năm sau. Mọi người tiếp tục hái lúa đến khi xong mảnh nương. Bà chủ nương bắt đầu đi đón hồn lúa mẹ. Lúc này, bà chủ lại nín thở, tháo lạt để lấy hòn đá thần cất đá vào túi đeo. Sau đó, bà chủ kiểm đếm số cum lúa, cứ xếp ba cum thành một đống, nếu số cum sau cùng là số cum lẻ một cum thì báo hiệu năm tiếp theo lúa nương sẽ được mùa. Sau đó, mọi người gùi lúa trở về nhà. Phụ nữ Xá Phó dùng địu qua đầu để gùi, còn đàn ông thì dùng đòn sóc xiên qua hai cum lúa gánh trên vai trở về nhà. Trước đây, người Xá Phó thường hay làm kho thóc ở bên cạnh rừng, vị trí gần nhà để tiện sử dụng, kho thóc làm như vậy tránh được hỏa hoạn.

Biểu diễn nhạc cụ dân tộc Xá Phó trong lễ mừng cơm mới. 


Ngày nay, người Xá Phó đưa thóc cất trữ trên sàn gác, khi mang lúa vào nhà, chủ nhà đóng hết các cửa để tránh hồn lúa mẹ sợ mà bỏ đi. Khi mang lúa về nhà, người hái lúa sẽ đặt những cum lúa ở mẹt, chia thành 1 nắm lúa tẻ, 1 nắm lúa nếp dùng để dâng cúng. Số lúa còn lại, đặt lên sàn gác bếp để sấy khô. Người ta xếp 3 cum thóc chồng lên cao tạo thành hoa lúa. Cuối cùng, bà chủ nhà đặt hồn lúa mẹ vào trong giữa đống lúa và bảo “Hồn lúa mẹ hãy ở yên trong nhà nhé”. Khi nấu cơm mới, gia chủ chỉ cần làm lý có một ít thóc mới trần qua nước sôi, sau đó đem phơi, sấy khô trên gác bếp rồi vò, giã thành gạo đem đồ cùng gạo cũ - nhưng gọi là cơm mới.

Bà chủ nương đi đón hồn lúa mẹ. 


Xong các nghi thức rước hồn mẹ lúa, người Xá Phó cùng nhau tổ chức múa hát; thổi kèn ma nhí, thổi sáo cúc kẹ chúc mừng gia chủ và chúc cho cả bản năm sau canh tác được mùa lúa nương, nhà nhà bội thu, no ấm.

Thanh Cường

Nghi lễ nghề nông của đồng bào Thổ

đăng 20:48, 18 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Người Thổ là cư dân bản địa mang nặng dấu ấn văn hóa Việt Mường xa xưa, được bảo tồn tới ngày nay. Nét độc đáo đậm đà bản sắc Thổ chính là tín ngưỡng dân gian về nghi lễ nông nghiệp.

Lễ xuống giống cội nguồn của canh tác nương rẫy

Trong hệ thống quan niệm vạn vật hữu linh, người Thổ tồn tại bền vững tín ngưỡng thờ hồn lúa, vía lúa hay còn gọi là mẹ lúa. Coi cây lúa là loại cây trồng linh thiêng mang lại nguồn sống lớn nhất để cho con người tồn tại và phát triển. 

Tái hiện lễ bốc Mó của đồng bào Thổ tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam (4/2017). 


Khi bông lúa ngả vàng óng ả trên nương, dưới ruộng, cũng là lúc người Thổ chọn lấy một vạt lúa trổ bông tốt nhất, hạt mẩy nhất ngắt dam ba bông đẹp nhất. Họ mang lúa về nhà coi đó là hồn vía của lúa là linh thiêng mẹ lúa treo cạnh bàn thờ gia tiên. Họ cho rằng hồn vía mẹ lúa trú ngụ nơi này sẽ giúp cho việc sinh sôi nảy nở của ruộng nương lúa mùa sau.

Người Thổ đặc biệt coi trọng lễ nghi xuống giống lúa, còn gọi là lễ tra hạt, lễ cầu mộm. Trước mùa gieo cấy người Thổ lựa chọn ngày tốt xuống giống. Bà con kiêng kỵ ngày gà, ngày chuột. Hai ngày này vía xấu mùa màng sẽ bị tàn phá, thất bát. Vào ngày tốt nhà nào cũng làm mâm cỗ đến đặt ở đám ruộng nương. Chủ nhà ngồi trước mâm, thầy mo thì cầu khấn bẩm báo với thổ địa cậy nhờ trông coi mùa vụ. Cúng xong thụ lộc tại ruộng nương và gieo trồng ngay vụ mới. 

Đồng bào Thổ coi cây lúa là cây trồng linh thiêng mang lại nguồn sống để con người tồn tại và phát triển. 


Đây là nghi thức cầu mùa, cầu cho trời đất mưa thuận gió hòa, ông bà tổ tiên phù hộ cây trồng tươi tốt mùa vụ bội thu. Tuy không rầm rộ như lễ hội xuống đồng, khai hạ Tày, Thái, Mường… nhưng truyền cảm hứng tới từng nóc nhà, từng vạt nương, mảnh ruộng.

Lễ báo ân, Tết cơm mới, nét cội nguồn văn hóa Thổ

Người Thổ có phong tục đẹp, sau mùa vụ, gia đình nào cũng làm lễ báo ân, trả ơn, trả nghĩa thần linh thổ địa ngự trị ruộng nương nhà mình. Nhà nào cũng mâm cao cỗ đầy dâng ra tận ruộng nương để cúng báo ân, trả ơn, trả lễ. Lời khấn bày tỏ lòng thành hàm ơn thần linh canh coi mùa lúa xua đuổi muông thú sâu bệnh làm cho cây lúa xanh tốt, vụ lúa bội thu. Cúng xong hóa vàng, gia chủ thụ lộc tại ruộng rẫy. 

Nét độc đáo đậm đà bản sắc Thổ chính là tín ngưỡng dân gian về nghi lễ nông nghiệp. 


Sau mùa vụ lễ cúng cơm mới tổ chức tại nhà. Đây là hình thức tín ngưỡng dân gian thờ cúng tổ tiên. Các gia đình chọn lấy thúng lúa ngon nhất mang đi xay giã dần sàng kỹ lưỡng. Số gạo đó được đồ xôi, thổi cơm làm vật cúng tế chính. Ngoài cơm gạo mới ra còn có gà, cá, vàng hương. Thầy mo cúng tế theo bài bản lễ tết cơm mới. Lời cúng ca ngợi công đức và mời tổ tiên ông bà cha mẹ đã khuất về ăn cơm mới phù hộ cho con cháu.

Tết cơm mới với người Thổ rất thiêng liêng bởi có ý nghĩa sâu sắc. Ngoài việc báo hiếu ra, tết cơm mới đánh dấu sự khép lại một chu kỳ sản xuất đã qua, đồng thời mở ra một chu kỳ mới với những khát khao mong ước may mắn thuận hòa, no đủ trọn vẹn cho gia đình và cộng đồng.

Tết cơm mới cũng là dịp xum họp gia đình dòng họ, tình làng nghĩa xóm làm phong phú thêm đời sống tình cảm, tinh thần của mỗi người, mỗi nhà. Đây cũng là dịp nhắc nhở cháu con không quên ơn nguồn cội, không quên bảo vệ rừng, đất rừng và thâm canh ruộng nương phù hợp với tập quán sản xuất truyền thống của người Thổ.

Ngô Quang Hưng

Làng mỹ nghệ từ sừng

đăng 05:36, 17 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Từ những nguyên liệu thô ráp và đơn giản như chiếc sừng trâu, sừng bò, qua bàn tay của người thợ ở làng Sừng – làng Thụy Ứng (huyện Thường Tín – Hà Nội) đã trở thành những sản phẩm tinh xảo, hấp dẫn đối với khách phương xa, thể hiện tài năng khéo léo của người thợ ở một vùng quê.

Dọc theo những ngôi nhà trên trục đường chính của làng chúng tôi vẫn thấy nét đặc trưng truyền thống của làng nghề này, với những cặp sừng mỹ nghệ vươn lên ngạo nghễ, những con rồng, phượng, rùa, khung tranh ảnh, lược, móc khóa, trâm cài tóc và rất nhiều sản phẩm mỹ nghệ khác được trưng bày. Tất cả đã cho thấy sự phát triển của các sản phẩm mỹ nghệ từ sừng ở vùng quê này. 

Dù năm nay đã ở tuổi ngoại thất tuần, song nghệ nhân Nguyễn Văn Kiến vẫn ngày ngày dành đam mê với sừng mỹ nghệ, tìm tòi những tác phẩm tinh xảo hơn . Ảnh: Nguyễn Quyền 


Người dân làng Sừng có nghề làm sừng từ hơn 400 năm qua. Theo người cao tuổi ở đây cho biết thì vào khoảng thế kỷ XVI, cụ tổ nghề là một người thợ thủ công của làng. 

Ở tuổi 76, ông Nguyễn Văn Kiến hiện là một trong những nghệ nhân giàu kinh nghiệm nhất làng Sừng. Ông Kiến làm nghề từ năm 13 tuổi, bắt đầu từ làm chiếc lược sừng. Tuy nhiên, ông Kiến không chỉ dừng lại ở việc làm các sản phẩm đơn giản như lược sừng, mà ông còn tìm tòi, và học hỏi để làm các sản phẩm tinh xảo hơn. Tất cả đều xuất phát từ lòng yêu nghề. 

Sản phẩm sừng mỹ nghệ được bày bán, trưng bày tại nhiều thành phố lớn, góp phẩn quảng bá tài hoa người thợ làng Sừng . Ảnh: Nguyễn Quyền 


Làm sản phẩm sừng mỹ nghệ rất khó, bởi mỗi chiếc sừng đều khác nhau, không cái nào giống cái nào, người thợ phải tùy theo từng chiếc sừng mà hơ, ép, cắt, uốn... Để làm hoàn thiện những đồ đơn giản như chiếc lược sừng cũng đã tốn công. Mua sừng về rồi người thợ sẽ cắt tạo phôi, hơ ép thành khuôn... rồi mới cắt răng, chà và đánh bóng. Còn đối với những sản phẩm sừng mỹ nghệ càng đòi hỏi nhiều công đoạn, và cả sự tinh tế về mỹ thuật và tạo hình. Ví dụ để làm hoàn thiện một con rồng phải qua mấy chục công đoạn, từ cưa thành phôi, mài, đục, đến uốn sản phẩm, sau đó là tạo dáng sản phẩm và đục chi tiết trên sản phẩm sao cho tinh xảo... Một số tác phẩm, ông Kiến phải miệt mài hàng tháng mới xong. Có cái sừng phải uốn cả chục lần chỉ để vừa ý, và khó nhất là lúc tạo dáng sản phẩm. Song kỹ thuật cộng với trí tưởng tượng phong phú và sự khéo tay của người thợ vẫn có thể tạo ra những sản phẩm có độ tinh xảo cao. 

Từng chi tiết nhỏ nhặt như vẩy, vân mây được người thợ thể hiện tinh xảo, khéo léo trên tác phẩm sừng mỹ nghệ . Ảnh: Nguyễn Quyền 


Các sản phẩm của làng nghề sừng Thụy Ứng hiện được bán khắp nơi trong nước, nhất là trong các siêu thị, các cửa hàng mỹ nghệ lưu niệm tại các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ðặc biệt, các mặt hàng sừng mỹ nghệ có thế mạnh trong xuất khẩu và là sản phẩm du lịch độc đáo của Việt Nam.

Làm sản phẩm sừng mỹ nghệ rất khó, bởi mỗi chiếc sừng đều khác nhau, không cái nào giống cái nào, người thợ phải tùy theo từng chiếc sừng mà hơ, ép, cắt, uốn . Ảnh: Nguyễn Quyền 


Đến nay, sản phẩm nổi tiếng nhất của làng Sừng là những cặp sừng mỹ nghệ vút cong ngạo nghễ, uy nghi được trưng bày trong những khu du lịch hay trong gia đình, hay những sản phẩm có hình tượng mô phỏng rồng, phượng với độ sáng tạo cao, được khách hàng từ châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc... rất thích thú và thậm chí khách hàng phương Tây cũng ưa chuộng, do được chế tác hoàn toàn thủ công mà vẫn tinh xảo. 

Sản phẩm sừng mỹ nghệ tinh xảo được làm ra bởi bàn tay của người thợ làng Sừng . Ảnh: Nguyễn Quyền 


Những sản phẩm mỹ nghệ từ sừng nhỏ bé đã chinh phục được thị trường trong nước và những thị trường lớn trên thế giới. Âu đó cũng là niềm vui đối với những người dân làng Sừng, bởi tài hoa của ông cha và của cả thế hệ người làng Sừng hôm nay đã đem lại cho họ cuộc sống no đủ, khấm khá. 

Gia Bằng

Phố “nôi” miền Hương - Ngự

đăng 05:30, 17 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đường Lê Duẩn bắt đầu từ đèn xanh đèn đỏ cầu Giả Viên ra phía Bắc đến cửa Chánh Tây người Huế đặt tên là “phố nôi”. Xóm đan nôi khoảng chục hộ; trong số đó là họ hàng với nhau, gọi cửa hiệu theo tên tục như hiệu nôi ông Thành, ông Tuấn, nôi mệ Hoa, chị Thương... 

Nghề “gia truyền”

Xóm đan nôi mây tre ở đây không nhiều, khoảng chục hộ theo nghề truyền thống. Không ai nhớ chính xác nghề đan nôi mây tre ở đây có từ bao giờ. Chỉ biết đến bây giờ, họ đều là đời thứ 3, thứ 4 theo nghề gia truyền. Tới phố “nôi” tôi được gặp bà Trần Thị Hoa, cái tên nổi bật nhất ở đây. Đã hơn 70 tuổi bà vẫn ngồi đan nôi mà không cần đeo kính lão. Tay liên tục rút tao mây nhanh nhẹn, bà Hoa cho biết: Dọc theo đường Lê Duẩn ở Huế có đến chục gia đình theo nghề làm nôi mây tre từ những năm 40 đến nay. 

Sản xuất nôi trẻ em loại bình dân (bốn tao nôi bằng dây thừng) ở làng nghề Bao La (Phong Điền, Thừa Thiên - Huế). 


Bà Hoa tỏ ra vui vẻ khi có ai đến hỏi chuyện nghề nôi mây tre: “Ngày đầu mới học thì theo ba mạ phụ việc xếp mây và làm công việc lặt vặt. Dần dần được dạy cho cách đan, cách rút từng tao để làm sao cho chiếc nôi cân đối, đẹp mắt. Rồi tay nghề theo năm tháng trở nên lão luyện, tinh xảo. Người giỏi làm mỗi chiếc nôi chưa kể công đoạn chẻ mây, tre thì mất đến hai, ba ngày mới hoàn thành”. 

Mây rừng, nguyên liệu cần thiết để làm nôi, phải dự trữ từ mùa khô (xuân-hè). 


Hồi trước 1975, sản phẩm được đem ra chợ Đông Ba “ký gửi” theo giao kèo người bán ăn 10%; hoặc bày bán hai bên đường Nguyễn Hoàng (tên cũ của đường Lê Duẩn). Mỗi chiếc nôi tùy theo cỡ vừa hay lớn, có giá từ 200.000 đến 300.000 nghìn đồng. Nôi mây tre thường được đồng bào các dân tộc miền núi Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Quảng Nam và Tây nguyên ưa dùng – bà Hoa cho biết thêm.

Phố “nôi tre” trên đường Lê Duẩn - Huế vẫn còn đây dù nghề nôi công nghiệp đang phát triển. 


Ngày nay, nghề đan nôi mây tre ở Huế vẫn được duy trì một cách âm thầm mà bền bỉ từ tình yêu nghề của cha ông. Để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, họ biến hóa chiếc nôi từ kiểu treo bốn tao dây đu đưa kẽo kẹt bằng cái giá gỗ dễ dàng lắp ghép, dựng ngay trên nền gạch rất gọn gàng. Cũng tùy nhu cầu người mua họ còn thiết kế thêm bộ phận đong đưa nôi sử dụng nguồn điện dân dụng.

Sản phẩm mang nét riêng

Nói về nghề đan nôi xứ Huế không thể không nhắc đến nghề “đệm bàng” làng Phò Trạch (xã Phong Bình, Phong Điền, Thừa Thiên- Huế). Hai nghề truyền thống này gắn liền công việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với nhau một cách cần thiết. Ngày trước lúc đi mua nôi cho trẻ, người ta không quên mua thêm chục chiếc “chẹ” (tiếng Huế gọi chiếc chiếu nhỏ), sản phẩm của làng Phò Trạch. Chẹ là tên gọi một loại sản phẩm đa năng tương tự như “chiếu” nhưng bé hơn. Chẹ lớn gọi là đệm, rộng bằng cái giường cá nhân 1m x 1,8m. Chẹ nhỏ hơn, dành trải trong nôi trẻ nằm, diện tích bằng 1/3 chiếc đệm trải giường. Thiên phú cho dân làng Phò Trạch một loại cây “cỏ bàng” hoang hóa sinh trưởng trên vùng đồng sâu ngập nước lợ (nửa ngọt nửa mặn) quanh năm. Từ tháng 2 âm lịch trở đi, dân làng chèo ghe xuồng ra đó, dùng liềm cắt từ 1,5 đến 2m ngang gốc. Chở về nhà phơi khô 5-7 ngày, sau đó bỏ vào cối giã thật mềm, tước ra thành sợi, ép thật mỏng để đan thành sản phẩm (chẹ, túi xách, giỏ). 

Bà Trần Thị Hoa tỉ mỉ chăm chút từng nuột lạt, tao đan. 


Theo Phan Kế Bính trong sách “Việt Nam phong tục”, ngày xưa khi đứa trẻ đến tuổi cho vào nôi ngủ gia đình phải coi ngày lành tháng tốt, chọn giờ nước lên (nước sông) để trẻ được ăn no ngủ kĩ. Người bồng đứa trẻ đặt vào nôi cũng phải chọn người ăn, ngủ tốt gọi là lấy cái “nết”. Đôi khi giàu có nhưng gia đình không mua cái nôi mới. Họ chọn nhà nào có đứa trẻ khỏe mạnh chóng lớn để “xin” cái nôi cũ. Hoặc dùng lại cái nôi cũ của anh, chị đứa trẻ. Hồi tôi làm việc ở vùng biển Thừa Thiên - Huế, dân làng biển nói họ rất quý cái roi làm bằng đuôi con cá đuối phơi khô để cột vào nôi; họ tin cái roi này đem lại sự “ăn no, ngủ kĩ ” cho trẻ.

Cái nôi và chiếc đệm bàng Phò Trạch truyền thống vẫn được người Huế ưa dùng . 


Đến nay các nghệ nhân đan nôi Huế không bỏ nghề. Cũng không bám víu vào mẫu mã xưa cũ. Họ biết làm theo cách của mình, tạo ra nét đặc trưng duyên dáng riêng của chiếc nôi miền sông Hương - núi Ngự. Vì thế mà “phố nôi” Huế cứ có người mua tìm đến… 

Vũ Hào

Duyên dáng trang phục dân tộc Dao Khâu

đăng 01:13, 16 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Từ lâu đời, người Dao Khâu đã biết trồng cây bông, kéo sợi, làm nguyên liệu để thêu, dệt tạo ra những sản phẩm thổ cẩm riêng biệt mang đậm bản sắc tộc người.

Tinh tế trong từng đường thêu

Người Dao Khâu hay còn gọi là Kim Miền (hoặc Kìm Miền), là một trong những nhánh Dao di cư sang Việt Nam sớm nhất nên họ được xem như thuộc nhóm Dao đại bản. Đây là nhóm người Dao tiêu biểu trong cộng đồng dân tộc Dao ở Việt Nam. Hiện nay, đồng bào sinh sống tập trung ở các huyện Than Uyên, Sìn Hồ, Phong Thổ thuộc tỉnh Lai Châu. Người dân địa phương gọi nhóm dân tộc Dao này là Dao Khâu, bởi chiếc khăn của người phụ nữ quấn trên đầu trông giống như chiếc sừng. Trong tiếng Thái, “khâu” có nghĩa là “cái sừng”.

Trang phục lễ hội của thiếu nữ Dao Khâu. 


Ngay từ khi còn bé, cô gái Dao đã được các bà mẹ dạy cho những đường tơ, sợi chỉ, may vá, thêu thùa. Bằng cách truyền nghề, chỉ dẫn thấu đáo của các bà, các mẹ, tạo cho phụ nữ Dao một nếp nghĩ ăn sâu vào tiềm thức, đó là luôn tận dụng thời gian nhàn rỗi để sắm sửa bộ trang phục đẹp nhất cho mình và cho chồng con của mình. 

Trang phục của dân tộc Dao Khâu không sặc sỡ như các nhóm Dao khác mà rất đỗi dung dị với màu chàm là chủ đạo. Phụ nữ Dao thường mặc áo dài, vạt áo thường gập ngược lại và thắt dây lưng. Áo của người Dao Khâu dài đến bàn chân, vạt áo được thêu rất tỉ mỉ, viền áo được trang trí bằng những viên bông màu đỏ và hàng cúc bạc. Cổ áo được thiết kế hình tròn, lưng được đính 7 hào bạc trắng cùng sợi tơ màu hồng. Dọc hai bên nẹp áo từ cổ xuống bụng là những tua chỉ màu bã trầu với gấu tay áo được nẹp bằng vải màu xanh. Đằng sau lưng áo là 1 chùm 5 đồng bạc, mỗi đồng bạc là một dây hạt cườm đủ màu.

Trang phục cô dâu chú rể dân tộc Dao Khâu. 


Quần của người Dao Khâu may theo kiểu chân què, đũng quần thấp doãng và rộng, khi mặc cạp vắt chéo hai bên rồi dùng dây lưng bằng vải đỏ buộc chặt bên ngoài. Chiếc quần thêu chỉ màu giống như người Dao ở nhiều vùng khác song sự độc đáo ở đây thể hiện màu trắng và màu cam là chủ đạo chứ không phải là màu đen. Quần được thêu nhiều hoa văn sặc sỡ, nhiều họa tiết phong phú như hình cỏ cây, hoa lá, chim chóc hay bất kỳ vật dụng nào mà người dân nơi đây cảm thấy gần gũi trong sinh hoạt hàng ngày. 

Đẹp tựa bông hoa rừng

Điểm nhấn trên trang phục phụ nữ Dao Khâu chính là chiếc khăn quấn trên đầu. Khăn được làm từ vải tự dệt, nhuộm chàm đen có chiều dài khoảng 5 - 10 sải, khổ hẹp, chiều rộng 25 – 30 cm. Khi quấn người phụ nữ Dao Khâu phải khéo léo để tạo ra một góc theo hình lục giác, nhìn đằng sau giống như hình tam giác cân. Khăn quấn phải vừa chắc chắn, vừa ôm khít đầu tôn lên khuôn mặt tròn trịa như trăng rằm của người con gái vùng cao.

Trang điểm và quấn khăn cho cô dâu dân tộc Dao Khâu. 


Vào những ngày lễ, phụ nữ Dao Khâu không thể thiếu trưng diện những bộ trang sức bằng bạc gồm hoa tai, vòng cổ, vòng tay, xà tích. Độc đáo hơn cả là khi thiếu nữ dân tộc Dao Khâu thường mang trên tay chiếc chuông đồng. Đây là một loại nhạc cụ độc đáo và đặc sắc của cộng đồng dân tộc Dao. Với chiếc chuông nhỏ xinh xắn, thiếu nữ dân tộc Dao không những duyên dáng rực rỡ trong bộ trang phục truyền thống mà còn là người luôn say mê nghệ thuật diễn xướng: hát hay, múa dẽo, luôn biết thể hiện các làn điệu dân ca, dân vũ của dân tộc mình.

Chiếc mũ với nét tạo hình độc đáo của phụ nữ Dao Khâu. 


Trang phục của người Dao Khâu tạo cho người con gái một vẻ đẹp duyên dáng, thùy mỵ. Với sắc phục màu chàm và chiếc mũ tạo hình độc đáo họ rất dễ nhận ra, đặc biệt là ở các phiên chợ, các lễ hội truyền thống của địa phương. Giữa màu xanh của đại ngàn, thấp thoáng dáng hình của các cô gái Dao Khâu khoác trên mình bộ trang phục truyền thống đẹp tựa bông hoa rừng, tô điểm cho vẻ đẹp của núi rừng, bản làng.

Tấn Vịnh

Bí ẩn những lễ hội nhảy lửa của các cộng đồng dân tộc Việt Nam

đăng 01:07, 16 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Lửa là yếu tố tâm linh, được thần hóa - đại diện cho lực lượng siêu nhiên trong tín ngưỡng nguyên thủy của nhiều cộng đồng dân tộc, tiêu biểu như người Dao, Pà Thẻn, Chăm... Những lễ hội gắn với lửa là nét văn hóa độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc, là mạch nguồn sức mạnh giúp cộng đồng gắn kết, lạc quan, yêu đời, vượt qua muôn vàn khó khăn.

Lửa thiêng trong đời sống tâm linh các dân tộc việt Nam

Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nhiều dân tộc có tục thờ thần lửa với cách thức, hình thức, mức độ thể hiện khác nhau. Tục thờ thần bếp, thắp nhang (hương), thắp đèn, nến hay đốt mã trong nhiều nghi thức cúng hay trong các lễ hội của hầu hết các cộng đồng dân tộc Việt Nam là một trong những dấu hiệu rõ nhất, phổ biến nhất của tục thờ thần lửa. Cùng với nước, lửa là đại diện cho những vị thần được tôn kính, có sức mạnh phi thường và đem đến cuộc sống ấm no, sung túc, an lành. Mặt khác, lửa còn có ý nghĩa là nguồn năng lượng tốt, mạnh mẽ nhất ngăn các năng lượng xấu, xua đuổi tà ma và cầu nối giữa thế giới người sống và thế giới người chết. Lửa cũng là 1 trong những yếu tố quan trọng trong quan niệm về ngũ hành. Tuy nhiên, dù lửa được thờ quanh năm ở nhiều dân tộc nhưng không phải dân tộc nào cũng có lễ cúng hay lễ hội dành riêng cho nó. 

Nhảy lửa của người Pà Thẻn. 


Trong cổ ngữ Việt Mường, tiếng “táo” có nghĩa gốc là “tá”, chỉ các vị thần thuộc dòng lửa (như Tá Cần, Tá Cài…). Dân tộc Kinh có tục thờ ông Táo và nghi thức cúng ông táo vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch hàng năm, đặc biệt, tục lấy lửa ngày Tết ở Cát Đằng (xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) vào đúng đêm giao thừa tại đình làng với ý nghĩa xin lửa của Thánh được các gia đình luôn giữ không để tắt trong suốt 4 ngày Tết ở bàn thờ và ở bếp.

Không chỉ người Kinh, nhiều dân tộc như người Tày, người Thái, người Mường… đều có nghi lễ này, coi bếp là thần linh với những kiêng kỵ và lễ nghi chặt chẽ. Mỗi dân tộc có những quy định và nghi lễ khác nhau nhưng nhìn chung, khi dựng xong nhà mới, muốn dọn về ở thì bao giờ cũng có nghi lễ, làm bếp, nhóm lửa và cúng thần bếp. Các cộng đồng bản địa Tây Nguyên cũng rất coi trọng vai trò của thần lửa. Trong các lễ hội, lửa luôn được đốt thành đống to tại sân chung. Ngọn lửa thiêng phải được lấy từ nhà cộng đồng (nhà Rông), già làng khấn vái xin được phép đốt và được thắp suốt mùa lễ hội để truyền hơi ấm và sức mạnh cho dân làng. Đồng thời, bếp lửa cũng luôn được chủ thể văn hóa coi trọng, coi là nơi trú ngụ của thần linh nên trong tất cả các nghi lễ về tín ngưỡng, tâm linh, không bao giờ thiếu nghi lễ bôi huyết con vật hiến tế xung quanh bếp lửa. 

Nghi thức cúng trước khi nhảy hay múa lửa của người Chăm . 


Ở một số dân tộc như Dao, Pà Thẻn, Chăm… lại có cả một lễ hội được lưu truyền gần như trọn vẹn sự nguyên sơ của nó với những nghi lễ, những quy tắc kiêng cữ chặt chẽ cùng yếu tố tâm linh kỳ bí trong thờ thần lửa. 

Bí ẩn và sự linh thiêng của những nghi lễ về lửa 

Người Dao ở Hà Giang, Điện Biên và người Chăm ở Ninh Thuận (Lễ hội Rija Nagar hay còn gọi là lễ hội đạp lửa) có Lễ hội lửa cầu may của mình vào đầu năm mới, mở đầu cho ngày Tết âm lịch. Người Pà Thẻn ở Tuyên Quang (huyện Bắc Quang và Quang Bình - tỉnh Hà Giang và Chiêm Hóa) lại có tục nhảy lửa vào tháng Giêng. Đây là những lễ hội mang đậm nét Shaman giáo, sơ khai và huyền bí. 

Nghi thức cúng trước khi nhảy hay múa lửa của người Dao đỏ. 


Theo truyền thống của người Pà Thẻn (Hà Giang), nhảy lửa gắn liền với lễ truyền nghề thầy cúng - được tổ chức cho các thầy cúng nhận học trò và truyền nghề. Ngoài việc tổ chức để cầu may, người Dao đỏ ở Hà Giang, Điện Biên thường tổ chức lễ hội này vào các lễ cấp sắc của thầy Tào, lễ trưởng thành cho những thanh niên trọng cộng đồng. Cộng đồng người Chăm thực hiện nghi lễ múa lửa theo lời hứa cho cha ông mình trước thánh mẫu Po Inư Nưgar, thượng đế “Pô Aloăh” và linh hồn tổ tiên. Khác với các cộng đồng người Dao, Pà Thẻn, người nhảy lửa là nam giới (bất cứ ai) thì trong nghi lễ múa đạp lửa của người Chăm lại do thầy múa lễ (được gọi là Ka-ing) thực hiện.

Các dân tộc tổ chức lễ hội lửa nhằm tạ ơn trời đất, thần linh hay tổ tiên đã cho một mùa vụ tươi tốt và cũng cầu mong mùa vụ mới bội thu. Những tà ma cùng rủi ro sẽ nhường chỗ cho sự may mắn. 

Nét chung sự kỳ bí của những lễ hội này là người thực hành nghi lễ là nam giới đi chân trần và nhảy múa trực tiếp lên than đang cháy đỏ mà không hề bị bỏng hay chịu bất kỳ tổn thương gì. Trước khi thực hành nhảy múa trên lửa, người thực hiện đều tiến hành hay được tiến hành những nghi lễ cúng theo quy định. Đây là cách họ nhận được nguồn năng lượng đặc biệt trong một không gian văn hóa tâm linh đậm đặc với tâm niệm các thần, tổ tiên đã nhập vào những người đó. Và họ chính là người đại diện cho cộng đồng giao thoa với thần linh để cầu xin những điều tốt đẹp trong cuộc sống. 

Múa lửa của thầy Ka-ing trong Lễ hội Rija Nagar của người Chăm. 


Thầy cúng Sìn Văn Phong (thôn My Bắc, xã Tân Bắc, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang) cho biết: Khi đã được phù phép, các chàng trai sẽ có được lòng dũng cảm và tin tưởng đã được thần linh che chở, bảo vệ khỏi bị bỏng. Mỗi người có thể tham gia nhảy nhiều lần, thể hiện sức mạnh, sự khéo léo và nhanh nhẹn. 

Đây đều là tín ngưỡng nguyên thủy sơ khai, với niềm tin vào thế giới thần linh và những thế lực siêu nhiên, nó chứng tỏ sức mạnh và ước mơ chế ngự thiên nhiên và là nguồn tư liệu quan trọng giúp cho việc nghiên cứu truyền thống, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng của chủ thể văn hóa. Nét văn hóa đặc sắc này đang được bảo lưu, gìn giữ và thu hút sự tìm hiểu, khám phá của du khách trong du lịch văn hóa. 

Mộc Miên

1-10 of 24