Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Tháng chay Ramadan của người Chăm Islam ở Đồng Nai Người Chăm ở Đồng Nai đa phần là Chăm Islam hiện có trên dưới 3.000 người, đa số sống tập trung tại ấp 4, xã Xuân Hưng, huyện Xuân ...
    Được đăng 01:57, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Có một “Chợ Huế” ở Đồng Nai Lần theo con đường quốc lộ 1A, tôi tò mò tìm ngôi chợ Quảng Biên mà người dân Đồng Nai gọi thân mật đó là “Chợ Huế”. Nghe nói có ...
    Được đăng 01:45, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đặc sắc Lễ cúng mừng được mùa của người M’nông Trong khuôn khổ Chương trình “Đắk Nông - Mùa bơ chín” do UBND tỉnh Đắk Nông tổ chức vào các ngày 18-23/7 tới, Lễ mừng Mùa bơ chín với ...
    Được đăng 01:10, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Người nước ngoài thích thú với chợ quê ở miền biển xứ Nghệ Phiên chợ quê Mai Hùng (TX. Hoàng Mai) với các món đồ dân dã và thức quà thơm ngon khiến các du khách ngoại quốc thích thú. Nằm kế bên ...
    Được đăng 00:49, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bếp lửa trong đời sống của người Cor Đối với người Cor ở huyện vùng cao Bắc Trà My (Quảng Nam), bếp lửa có vai trò, vị trí quan trọng, vừa là chỗ đun nấu, bảo quản lương ...
    Được đăng 19:59, 17 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 19. Xem nội dung khác »


Tháng chay Ramadan của người Chăm Islam ở Đồng Nai

đăng 01:57, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Người Chăm ở Đồng Nai đa phần là Chăm Islam hiện có trên dưới 3.000 người, đa số sống tập trung tại ấp 4, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc và ấp 6 xã Bình Sơn, huyện Long Thành, số còn lại sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh. 


Một năm theo Hồi lịch, người Chăm tổ chức nhiều lễ hội, trong đó có tháng Ramadan. Tháng Ramadan của người Chăm Islam còn được gọi đơn giản là Tháng ăn chay hay Tháng nhịn ăn. Tuy nhiên cách gọi chính xác nhất là tháng Ramadan vì các tín đồ Chăm Islam chẳng ăn chay hoàn toàn, cũng không nhịn ăn hoàn toàn. 

Ramadan là tên gọi tháng thứ 9 của âm lịch Ả Rập. Tháng Ramadan theo dương lịch thay đổi từng năm, không có ngày thống nhất. Năm nay, tháng Ramadan rơi vài khoảng thời gian từ 16/5 – 14/6/2018. Ramadan là 1 trong 5 tín bắt buộc đối với những người theo đạo Hồi. Trong đó bao gồm tin tưởng thượng đế, hành lễ, bố thí, lễ Ramadan và hành hương đến Mecca. 

Ý nghĩa của tháng Ramadan là nhịn ăn uống để có sự thông cảm với những người nghèo đói, những đồng đạo còn chưa đủ ăn, đủ mặc. Đồng thời, hành động này nhằm luyện cho con người một sự tiết chế, chống những cám dỗ vật chất, để tạo thuận lợi cho việc sau này lên thiên đàng. 


Trong suốt tháng lễ người Chăm nhịn ăn, nhịn uống, không hút thuốc và ngay cả yêu đương vào khi trời còn sáng và chỉ được phép ăn uống khi không có ánh sáng mặt trời, và đọc kinh Koran trong những ngày lễ. 


Mỗi ngày họ ăn chay từ 4 giờ đến 18 giờ, trong thời gian này mọi người không được ăn uống gì, kể cả nuốt nước miếng (chỉ được nuốt từ họng xuống), không được nhìn ngắm, tham gia vào các sinh hoạt vui chơi, giải trí… Thân thể, răng miệng phải luôn sạch sẽ. Buổi sáng có thể đi làm (thường là những việc nhẹ nhàng) buổi chiều nghỉ ngơi và chuẩn bị thức ăn cho buổi tối. 

Đây là tục ép xác, chịu khổ để nhớ lại những thời kỳ gian khố nhất của Giáo chủ Mohammed khi sáng lập đạo Islam cũng như răn dạy mọi người phải nên biết quý trọng thành quả lao động và tỏ lòng biết ơn thượng đế đã ban của cải cho mình. Trong tháng chay Ramadan, những người khá giả thường làm phúc cho người nghèo. Một điểm đặc biệt là trong tháng Ramadan, không chỉ đàn ông, mà phụ nữ cũng có thể tới thánh đường dự lễ nhưng phải mặc lễ phục mackhana và che kín khuôn mặt. 

Luật của đạo cũng quy định rõ những người đang ốm, phụ nữ có thai, trẻ em dưới 5 tuổi và những người đang đi du lịch ở nước ngoài mà nước này không lấy đạo Hồi làm quốc giáo, được miễn trừ. Nhưng họ phải bù vào những dịp khác. 

Người Chăm Islam hân hoan hạnh phúc khi tháng Ramadan kết thúc. Ngoài ý nghĩa thiêng liêng tự có của tháng Ramadan của Islam, người Chăm xem đây là dịp hội ngô. Dù đi làm ăn ở khắp mọi nơi đều quay trở về cùng gia đình, người thân, công đồng, cùng chia sẻ niềm vui hạnh phúc với những cảm nhận đói khát, để hiểu thêm người khó khăn hơn mình, để mở lòng nhiều hơn với những điều thiện nguyện. 

Mai Phương

Có một “Chợ Huế” ở Đồng Nai

đăng 01:45, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Lần theo con đường quốc lộ 1A, tôi tò mò tìm ngôi chợ Quảng Biên mà người dân Đồng Nai gọi thân mật đó là “Chợ Huế”. Nghe nói có những nét rất Huế, ẩm thực rất Huế và con người rất Huế tại nơi đây.

Chợ Quảng Biên hiện tại thuộc xã Quảng Tiến, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Thoạt nhìn, chợ cũng giống như bao ngôi chợ khác, có đầy đủ, đa dạng các mặt hàng, thực phẩm, nhu yếu phẩm, đồ dùng trong gia đình, rau củ quả, đồ khô và các món ăn chế biến sẵn…

Bỏ qua những điểm chung của các ngôi chợ, tôi luồn lách vào các ngách nhỏ, tìm kiếm những thứ mà chỉ có được ở xứ Huế. Bắt gặp đầu tiên là quầy hàng đồ mã, trong đó có mặt hàng nón Huế. Cô bán hàng nói đặc tiếng Huế, giới thiệu từng loại nón, quai nón và độ bền, độ đẹp của nón. Cầm trên tay chiếc nón lá mỏng, quai lụa, kết chỉ tạo họa tiết, lại được nghe giọng Huế từ cô bán hàng, cảm giác rất lạ, bởi bắt gặp một dáng Huế nơi xứ Đồng Nai này.


Định bụng sẽ phải thưởng thức ẩm thực đặc trưng Huế, nên tôi đảo mắt, bước nhanh tới những quầy thực phẩm chế biến sẵn. Không ít chút nào đâu nhé. Nào là bánh bột lọc, bánh ram ít, bánh bèo, bánh lưỡi mèo vị Huế….đến bún bò Huế, các loại chè Huế…

Người Huế làm bánh không phải để ăn cho thật no, mà để thưởng thức hương vị, thế nên tôi đều dùng thử mỗi món một ít, những thứ bột trắng, mềm ngọt, kết hợp với vị tôm tươi hay rắc chút bột tôm chấy màu gạch, quyện với nước chấm vị mặn ngọt đặc trưng lại khiến người thưởng thức mê mẩn đến vậy. 


Chị bán hàng tươi cười chia sẻ, ngày nào cũng bán bánh từ trưa tới sáu giờ chiều, những ngày thứ bảy hay chủ nhật, lượng khách đông, hàng hóa bán được gấp đôi ngày thường. Ở đây chủ yếu là dân Huế di cư vào sinh sống, nên những món Huế dễ bán và rất được ưa chuộng. 

Quầy chè Huế có từ bảy đến chín loại chè đủ loại. Chè chủ yếu là chè đặc, nguội, múc bằng chén nhỏ xíu, để khách ăn có thể thưởng thức đủ loại chè trong một lần ăn. Chè trôi nước vỏ mỏng, nhân bùi, vị gừng thơm ấm; chè hạt sen thơm sen, bùi hạt, mềm nhưng không nát; chè môn tím thơm dẻo khoai, ngậy béo ngọt cốt dừa; rồi các loại chè ngô, chè bưởi, chè đậu ngự, đậu xanh nguyên hạt, đậu xanh cà nhuyễn… Ăn đến no bụng mà miệng vẫn cứ thèm. 

Tiến sâu vào khu vực bên trong sẽ là những quầy hàng đồ khô, thấy ngay các hũ tôm chua Huế hiện diện giá giao động trên dưới một trăm ngàn đồng tùy lớn nhỏ, dưa mắm, ruốc Huế cũng có mặt tại đây. 


Một vòng quanh khu chợ Quảng Biên khiến tôi như lạc giữa chợ Đông Ba. Nơi xa xứ mà người Huế vẫn giữ được nếp sinh hoạt, lối ăn nói, cách bán mua. Giữa thời buổi hiện đại, những điều giản dị nhất khiến người ta lắng đọng, bình yên. Chợt nhớ ra một điều, chưa thưởng thức được bún bò Huế chính hiệu, vì theo các cô, các chị thì chỉ có vào buổi sáng. Hơi tiếc nuối, nhưng vậy có khi lại hay, tôi tự nhủ chắc chắn sẽ quay lại thêm lần nữa, để có cơ hội được nếm thử bún bò Huế từ dân Huế tại chợ Quảng Biên, Đồng Nai.

Mai Phương

Đặc sắc Lễ cúng mừng được mùa của người M’nông

đăng 01:10, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong khuôn khổ Chương trình “Đắk Nông - Mùa bơ chín” do UBND tỉnh Đắk Nông tổ chức vào các ngày 18-23/7 tới, Lễ mừng Mùa bơ chín với việc tái hiện nghi lễ cúng mừng được mùa sẽ được tổ chức tại xã Đắk R’moan (Gia Nghĩa) do Ban Quản lý Công viên địa chất núi lửa Krông Nô thực hiện. Đến thời điểm hiện tại, các nghệ nhân đang triển khai luyện tập các tiết mục theo đúng nghi lễ cổ truyền.

Dệt thổ cẩm, đan lát sẽ trình diễn tại Lễ mừng được mùa 


Cũng như các dân tộc anh em khác, đồng bào M’nông có một hệ thống lễ nghi vô cùng đa dạng, mỗi nghi lễ có một ý nghĩa riêng biệt. Trong đó, Lễ cúng mừng được mùa được đồng bào thực hiện ngay sau vụ thu hoạch, nhằm cảm tạ trời đất, thần linh đã che chở, phù hộ cho bon làng một mùa vụ no đủ, cây trái sum suê… 

Lễ cúng mừng được mùa là một nghi lễ quan trọng nên tất cả phải được chuẩn bị chu đáo và thực hiện theo đúng nghi lễ cổ truyền. Lễ vật cúng gồm: 1 ché rượu cần, 1 con gà, 1 ống bầu, cơm lam, thịt nướng, lòng heo và nhất là phải có sản vật của vụ mùa đó như lúa, cà phê, bơ…Trước khi lễ cúng diễn ra, tất cả mọi người từ già đến trẻ đều phải mang trang phục truyền thống của dân tộc và các nghệ nhân mang theo cồng chiêng để diễn tấu. 

Khi mâm cúng được soạn sẵn, già làng-chủ lễ khấn như sau: “Hôm nay, chúng tôi làm lễ mừng được mùa. Chúng tôi cho dao, xà gạc ăn trước. Chúng tôi cho rìu cào ăn trước. Nhờ xà gạc, rìu giúp mới có lúa. Nhờ con dao, cào giúp mới có bơ. Dụng cụ ăn trước, chúng tôi ăn sau. Chúng tôi nhờ dao, rựa, rìu, cào, giúp chúng tôi làm rẫy có lúa, có bơ. Chúng tôi trả công bằng ché rượu mới. Chúng tôi trả công bằng con gà, con dê. Chúng tôi sử dụng phát, chặt, cào, vót. Đừng đứt tay, đừng chém vào chân. Ơ Giàng…”. 

Ngay sau lời khấn, già làng lấy tiết gà pha rượu phết vào các vật dụng như dao, cào, rìu, xà gạc, cửa ra vào, kho lúa, gác bếp… để cúng các thần bếp, thần giữ cửa chính, thần kho lúa và mời tổ tiên về dự lễ với bà con và mong thần bảo vệ, phù hộ cho con cháu luôn bình an, no đủ… Khi cúng xong, già làng lấy tiết gà bôi lên ché rượu và cắm cần uống trước, rồi mời mọi người cùng chung vui. Lúc này, đội chiêng sẽ tiến hành diễn tấu và đi vòng tròn xoay quanh khu vực cúng, mọi người sẽ cùng nhau chung vui bên ché rượu cần và nhịp xoang truyền thống. 

Nhà truyền thống của bon Đắk R'moan, xã Đắk R'moan (Gia Nghĩa) trưng bày các dụng cụ sản xuất, sinh hoạt của đồng bào M'nông 



Ông Điểu M’Rưng ở xã Đắk R’moan cho biết: “Đối với người M’nông, Lễ cúng mừng được mùa vô cùng quan trọng trong đời sống. Bởi qua nghi lễ không chỉ thể hiện sự biết ơn đối với cây trồng mà còn thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần linh đã che chở, mang lại cuộc sống sung túc cho bon làng”. 

Theo bà Lê Thị Hồng An, Phó Giám đốc Ban Quản lý Công viên địa chất núi lửa Krông Nô, Lễ cúng mừng được mùa là một trong những nghi lễ nông nghiệp cổ truyền của người M’nông và hiện vẫn được đồng bào gìn giữ. Trong những ngày làm việc tại Đắk Nông, các chuyên gia UNESCO sẽ đánh giá các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc bản địa và đây là một trong những điểm nhấn quan trọng để họ đồng ý cho tỉnh Đắk Nông nộp hồ sơ xét duyệt danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu. 

Do đó, trong Chương trình “Đắk Nông - Mùa bơ chín”, tỉnh sẽ tái hiện nghi lễ cúng mừng được mùa và tất cả đều do các nghệ nhân ở bon Đắk R’moan, xã Đắk R’moan thực hiện. Đặc biệt, để các chuyên gia có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn, trong nhà truyền thống của bon Đắk R’moan (địa điểm diễn ra lễ cúng) cũng trưng bày đầy đủ các dụng cụ lao động sản xuất và sinh hoạt của đồng bào như chiêng, ché, gùi, rổ rá, bếp… 

Bài, ảnh: Mỹ Hằng

Người nước ngoài thích thú với chợ quê ở miền biển xứ Nghệ

đăng 00:49, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Phiên chợ quê Mai Hùng (TX. Hoàng Mai) với các món đồ dân dã và thức quà thơm ngon khiến các du khách ngoại quốc thích thú. 

Nằm kế bên cầu Hoàng Mai, chợ Mai Hùng là nơi buôn bán thân thuộc của bà con nhân dân trong vùng. Ảnh: Long Hồ 


Chợ họp tất cả các buổi chiều trong tuần. Hàng hóa tại chợ rất phong phú từ hoa tươi, hoa quả miền núi cho đến hải sản từ các xã miền biển. Đây là phiên chợ ngày 30 Âm lịch (12/7 Dương lịch) nên khá đông đúc. Ảnh: Long Hồ 


Những năm gần đây, chợ có nhiều du khách nước ngoài ghé thăm khám phá văn hóa, sản vật địa phương. Ảnh: Long Hồ 


Một đoàn du khách từ Guandeloupe (Pháp) ghé thăm chợ để mua sắm và thích thú khi thưởng thức các món quà vặt dân dã. Ảnh: Long Hồ 


Ngoài thực phẩm tươi ngon, chợ còn có nhiều quầy hàng bán những thức quà địa phương giản dị. Đây là những món bánh, chè gắn với tuổi thơ của nhiều người. Ảnh: Long Hồ 


Nhiều loại cây trái vườn nhà cũng được người quê mang ra chợ. Ảnh: Hồ Long 


Giản dị những nét quê. Ảnh: Hồ Long 


Một trong những đặc sản của chợ là những sản vật từ biển. Ảnh: Long Hồ 


Long Hồ

Bếp lửa trong đời sống của người Cor

đăng 19:59, 17 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Đối với người Cor ở huyện vùng cao Bắc Trà My (Quảng Nam), bếp lửa có vai trò, vị trí quan trọng, vừa là chỗ đun nấu, bảo quản lương thực, vừa đề phòng thú dữ và cầu mong sự may mắn, ấm no, hạnh phúc. Chính vì lẽ đó, các gia đình người Cor luôn quây quần sinh hoạt bên không gian bếp lửa.

Khởi nguồn sự sống

Khi tìm hiểu về bếp lửa, chúng tôi được ông Trần Văn Thái (74 tuổi), dân tộc Cor hiện đang sinh sống tại thôn 2A, xã Trà Kót, huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) chia sẻ: Bếp lửa với người Cor luôn chiếm một vị trí trong không gian sinh hoạt của gia đình. Bếp lửa tuy nhỏ bé, nhưng mang trong mình cả hơi thở cuộc sống sinh hoạt và nét đẹp văn hóa truyền thống của người Cor vùng cao, cho nên bếp lửa cũng có lúc vui, lúc buồn. Đối với đồng bào dân tộc Cor, ngọn lửa trong căn bếp không chỉ là biểu tượng của sự sống mà còn thể hiện sự chống chọi mãnh liệt của con người với thiên nhiên khắc nghiệt.

Xưa kia, người Cor sống ở những làng gọi là Plơi dựng ven lưng chừng núi, ven suối, sông hay thung lũng. Plơi là một nóc nhà sàn có khi dài tới hàng trăm mét, nhà được chia thành hai phần, một nửa chạy suốt hai cầu thang đầu hồi (Gưl) tức là nhà làng, làm nơi sinh hoạt chung, nơi ở cho già làng và thanh niên chưa vợ. Phần còn lại gọi là Tum được chia thành từng buồng, mỗi buồng có một bếp lửa, làm nơi ở cho các đôi vợ chồng và con cái, có cửa thông với Gưl.

Đồng bào Cor nhóm lửa nấu bánh. 


Bếp lửa truyền thống của người Cor được kê nấu với ba hòn đá cuội lấy từ đầu nguồn con suối về. Bếp lửa được đặt ở sát buồng, sao cho ánh nắng không chiếu thẳng vào giữa bếp. Xung quanh bếp phải có một khoảng rộng để đi lại và cho các thành viên trong gia đình ngồi quây quần nói chuyện, ăn cơm trong những ngày đông giá rét. 

Ngay tại không gian nấu nướng của người Cor, bao giờ cũng có gác bếp là các thanh cây gỗ, lồ ô được bắc với nhau theo chiều dài của gian nhà tạo nên không gian bếp thoáng đãng. Gác bếp được treo ngay phía bên trên bếp lửa, trên tầm người đứng. Cạnh gác bếp là cầu thang bằng gỗ để tiện mỗi khi lên gác bếp lấy vật dụng sinh hoạt. Gác bếp là nơi bảo quản hạt giống, các công cụ nông nghiệp, củi, nơi để thức ăn, hay bó măng khô cũng được cất giữ trên đó. Bếp của người Cor suốt ngày đêm ấm lửa, ngay cả khi không đun nấu gì. Bởi trong bếp bao giờ cũng có một gốc củi to luôn cháy âm ỉ. 

Bếp người Cor luôn đỏ lửa

Theo quan niệm của người Cor, trong nhà lúc nào cũng phải có lửa để xua đuổi ma tà, thú dữ và thể hiện sự đầm ấm, no đủ. Đó là cách giữ lửa theo thói quen mà ông cha người Cor để lại. Do bếp lúc nào cũng đượm hơi lửa, hơi khói nên đồ vật để ở đây không sợ bị hư hỏng, mối mọt, ẩm mốc. Bên bếp lửa, sau một ngày làm lụng vất vả, buổi tối người Cor thường quây quần xung quanh bếp lửa sưởi ấm, nói chuyện mùa màng thời vụ, nương rẫy. Những đêm mùa đông của vùng cao yên ắng, tĩnh lặng và bếp lửa càng thêm phần ấm áp, giúp hong khô quần áo những ngày mưa dài.

Hai ông cháu bên bếp lửa. 


Những người già Cor vẫn kể cho con cháu nghe về chuyện cổ tích, về dòng họ, về phong tục tập quán dân tộc mình cũng như răn dạy con cháu điều hay lẽ phải. Theo quan niệm của người Cor, dù xưa hay nay thì họ luôn nhắc nhở trẻ nhỏ là khi ngồi cạnh bếp lửa không được đặt chân lên bếp. Theo họ, đây là nơi trú ngụ của Thần lửa. Khi lấy củi vào bếp không được đặt củi xuống nền mạnh, không được khạc nhổ ở xung quanh hay ngồi quay lưng lại bếp lửa, vì như vậy sẽ thiếu kính trọng với Thần bếp.

Ngày nay, dù cuộc sống của người Cor có nhiều thay đổi và chịu ảnh hưởng bởi sự du nhập của nhiều nét văn hoá các dân tộc khác. Nhiều hộ gia đình người Cor đã tách riêng ra trong từng ngôi nhà trệt và đa phần họ không còn dùng đá để làm bếp nữa mà thay vào đó là mua bếp dáng ba chân của người Kinh (Việt) về dùng, hoặc chuyển sang dùng bếp gas. Nhưng từ lâu, bếp lửa đã có vai trò rất quan trọng trong đời sống của đồng bào dân tộc Cor vùng cao huyện Bắc Trà My, tạo nên không gian văn hóa độc đáo, thể hiện đặc trưng trong đời sống sinh hoạt, của họ. 


Trong ký ức của người Cor, bếp lửa gắn liền với cái gác bếp tạo nên một không gian dù đã trở thành hoài niệm xa xôi nhưng mãi là hình ảnh thân thương không  thể nào quên được đối với đồng bào dân tộc Cor huyện Bắc Trà My.


Nguyễn Văn Gia Phúc

Lễ hội đình làng Trà Cổ hấp dẫn du khách gần xa

đăng 19:53, 17 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cùng với mũi Sa Vĩ, bãi biển Trà Cổ…lễ hội đình Trà Cổ đã trở thành thành điểm đến hấp dẫn của hàng nghìn du khách gần xa...

Đình Trà Cổ, thuộc phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh từ lâu vẫn được coi như cột mốc văn hoá nơi biên ải. Đến hẹn lại lên, vào ngày 1/6 âm lịch hàng năm, người dân miền biển nơi địa đầu Đông Bắc lại nô nức trẩy hội đình Trà Cổ.

Nằm giữa làng, ngôi đình gần 600 năm tuổi mang đậm phong cách kiến trúc Việt như cột mốc khẳng định chủ quyền văn hóa, sừng sững nơi biên cương của Tổ quốc. Một ngôi đình cổ kính, trầm mặc ‘trơ gan cùng tuế nguyệt” từng là cảm hứng để Nhạc sĩ Nguyễn Cường viết nên ca khúc nổi tiếng “Mái đình làng biển”.

Lễ hội Đình Trà Cổ được tổ chức thường niên, kéo dài 5 ngày từ ngày 30/5 - 3/6 âm lịch. 


Đình Trà Cổ được xây dựng từ thời Hậu Lê, thờ 6 vị Thành Hoàng đã có công lập nên xã Trà Cổ xưa. Đình được dựng theo kiểu chữ câu, mái lợp ngói vẩy, 4 góc đao cong vút, mái đình hướng ra biển Đông như truyền thống đình làng người Việt. Bên cạnh những giá trị đặc sắc về nghệ thuật, Đình Trà Cổ còn lưu giữ được nhưng hiện vật quý giá và 12 sắc phong của các triều vua thời Nguyễn phong cho các vị thần thờ tại đình…

“Ngày xưa 12 ông đắm thuyền bị dạt vào đây. 6 ông khi về Đồ Sơn (Hải Phòng) có nói rằng: “Ở đây ăn bổng lộc gì/Lộc sung thì chát lộc si thì già. 6 ông ở lại đã động viên nhau bằng câu nói: “Ở đây vui thú non tiên/Rạng ngày lọc nước lấy tiền nuôi nhau”, nghĩa là hàng ngày là mang lưới, chài ra cắm cá”. Với chất giọng chân chất, đặc trưng của người dân vùng biển, cụ bà Đoàn Thị Cư, 87 tuổi kể về những vị tiên công lập ra làng Trà Cổ xưa kia bằng những câu thơ quen thuộc như vậy. 

Ngày nay, người Trà Cổ vẫn còn lưu truyền câu ca “Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn” để nhớ về gốc gác của mình… Và dù mắt đã mờ, chân đã chậm, nhưng khi tiếng trống hội đình làng Trà Cổ vang lên, những bậc cao niên lại cùng con cháu đến đình làng thắp nén nhang tri ân những bậc tiền nhân.

Ngay từ 30/5 âm lịch, đình làng Trà Cổ đã rộn ràng với hội thi ông voi. Đó là cuộc thi giữa 12 chú lợn được 12 ông đám chăm sóc và nuôi nấng như vật linh mà mọi người vẫn gọi một cách thành kính là “ông voi”. Cai đám phải là những người trung tuổi, khoẻ mạnh, biết làm ăn, có đạo đức và lối sống lành mạnh, gia đình thuận hoà, không vướng tang ma. 

Sau lễ tế gia tiên, các cai đám sẽ dùng cũi sơn đỏ có mái che nắng rước “ông voi” ra xếp thành hai hàng trước sân đình để chầu thần. Sau lễ tế cáo yết thần, Ban tổ chức lễ hội sẽ chấm chọn “ông” nào thân dài nhất, vòng cổ to nhất, đẹp nhất sẽ đoạt giải và được mổ tế thần. 

Vừa hoàn thành nhiệm vụ trong năm qua, ông đám Nguyễn Tuấn Tài, người đoạt giải Nhất hội thi ông voi năm 2018 với trọng lượng kỷ lục 188kg cho biết, chế độ ăn uống của ông voi là ăn ngon, thực phẩm sạch, không ăn thừa. Khi được nhận giải thấy rất vinh dự bởi công sức đã được đền đáp làm vẻ vang cho làng, cho nước.

Ở hội đình làng Trà Cổ, đám rước đi từ đình ra miếu Đôi, làm lễ cáo yết thành hoàng rồi quay trở lại đình. Dọc hai bên đường đám rước đi qua, các gia đình bày các mâm quả, sản vật biển như tôm, cua... thắp hương thành kính để tỏ lòng biết ơn trời đất, thần linh và tổ tiên năm qua đã phù hộ cho mạnh khoẻ, cuộc sống ấm no, đi khơi đánh bắt được nhiều tôm cá. Các nghi lễ tế thần được tiếp diễn trong các ngày hội còn lại. Trong những ngày hội thường có một số trò chơi được tổ chức như cướp cờ, kéo co, đi cà kheo, hội thi nấu ăn và nhiều trò chơi dân gian khác.

Ông Nguyễn Đình Cư người dân thành phố Móng Cái và bà Đinh Thị Phượng du khách đến từ Hải Phòng cảm nhận, lễ hội là truyền thống từ đời xa xưa để lại, nên đời này phải tiếp tục duy trì và mọi người dân phải có Tâm mới gìn giữ và phát triển di sản văn hóa này.

“Lễ hội năm nay đông vui nhưng trật tự. Các ông voi được nuôi to, đẹp, sạch sẽ hơn năm ngoái. Năm nay cũng có nhiều đoàn và du khách nước ngoài đến đây quay phim, chụp ảnh”, ông Cư cho biết.

Lễ rước thần trên bãi biển Trà Cổ - nét văn hóa độc đáo của người dân miền biển nơi địa đầu Đông Bắc. 


Lễ hội đình Trà Cổ diễn ra từ ngày 29/5 – 3/6 âm lịch. Ông Nguyễn Văn Phước, Chủ tịch UBND phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái cho biết, cùng với mũi Sa Vĩ, bãi biển Trà Cổ, chùa Nam Thọ, mũi Ngọc…đình Trà Cổ đã trở thành thành điểm đến hấp dẫn của hàng nghìn du khách gần xa.

“Chính quyền địa phương cùng với thành phố sẽ bảo tồn, phát huy giá trị của di tích đồng thời duy tu, tôn tạo để nơi đây trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn vùng biên ải của Tổ quốc”, ông Phương khẳng định.

Đến với lễ hội Trà Cổ, thăm mái đình làng biển, mỗi người như được sống lại không gian trong các lễ hội truyền thống với những phong tục độc đáo đặc trưng cho nền văn minh lúa nước sông Hồng. 

Về với vùng đất biên cương cực Ðông Bắc này, du khách gần xa kính cẩn thắp một nén nhang thơm dưới mái đình làng biển. Sự vươn lên mạnh mẽ của vùng đất và con người Trà Cổ cùng với những giá trị văn hóa không thể phủ nhận là minh chứng rõ ràng nhất về sự trường tồn và lớn mạnh của đất nước.

Chùm ảnh: Độc đáo Lễ hội Đình Trà Cổ 

Cách đây hơn 600 năm, người dân Trà Cổ đã xây dựng một ngôi đình để thờ các vị tổ - tức là các vị Thành Hoàng làng. Lễ hội đình Trà Cổ là dịp để tưởng nhớ và thể hiện lòng biết ơn tới các vị Thành Hoàng đã có công xây dựng lên ngôi làng Trà Cổ. Lễ hội Đình Trà Cổ 2018 được khai mạc sáng nay (13/7 nhằm 1/6 âm lịch). Lễ hội kéo dài trong 5 ngày.

 

Các ông Đám vinh dự đã hoàn thành nhiệm vụ trong một năm qua. Đó phải là những người trung tuổi, khoẻ mạnh, biết làm ăn, có đạo đức và lối sống lành mạnh, gia đình thuận hoà, không vướng tang ma

 

Bắt đầu nghi lễ rước thần qua các tuyến phố tới miếu Trà Cổ.

 

Theo phong tục truyền thống, Lễ hội đình Trà Cổ rước thần qua các tuyến phố, trên bãi biển tới miếu Trà Cổ và nghinh thần trở lại đình Trà Cổ (phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái).

 

Lễ hội Đình Trà Cổ, thành phố Móng Cái là một trong những lễ hội đặc sắc mang đậm bản sắc văn hóa vùng biển địa đầu Tổ quốc, thể hiện nếp sống cộng đồng. Đây là 1 trong 4 hoạt động tiêu biểu của thành phố Móng Cái, hưởng ứng năm Du lịch Quốc gia 2018 Hạ Long - Quảng Ninh

 

Nhiều nhà dân sắm mâm lễ trước nhà, mong các Thành Hoàng phù hộ cho xóm làng được bình yên, ngư dân đi biển được xuôi chèo mát mái

 

Rước thần về đình Trà Cổ

 

Lễ hội là dịp để dân làng chài Trà Cổ tưởng nhớ công ơn các vị Tiên công đã mở làng, gìn giữ và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc


Vũ Miền

Làng gốm Thanh Hà 500 năm tuổi

đăng 06:27, 16 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Những gì còn lại ở làng gốm hơn 500 tuổi này vẫn là một minh chứng sống động về một nghề thủ công đã từng có thời kỳ phát triển rực rỡ ở Hội An.

Làng gốm Thanh Hà nằm bên sông Thu Bồn, cách khu phố cổ Hội An 3 km về phía tây, có nguồn gốc từ Thanh Hóa, được hình thành từ cuối thế kỷ 15; tiếp thu những tinh hoa của xứ Quảng và đã phát triển rực rỡ vào thế kỷ 16, 17 cùng đô thị Hội An. Gốm Thanh Hà từng là một mặt hàng được mua bán trao đổi khắp các tỉnh miền trung.

 

Miếu thờ Thành Hoàng làng gốm Thanh Hà. Gốm Thanh Hà trên xứ Quảng, có nguồn gốc từ Thanh Hóa đã có trên 500 năm tuổi. Làng gốm Thanh Hà cùng với các làng nghề khác như làng mộc Kim Bồng, làng chiếu Cẩm Kim, làng rau Trà Quế… tạo thành một hệ thống vành đai làng nghề bao quanh khu phố cổ, gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế thương mại của đô thị và cảng thị Hội An.

 

Gốm Thanh Hà nguyên gốc có đặc điểm là gốm mộc, không phủ men; đây là một nét riêng, nét duyên của gốm Thanh Hà. Các sản phẩm truyền thống của Thanh Hà đa phần là để phục vụ đời sống như chum, vại, nồi niêu, bình, lọ… và gạch ngói sử dụng trong xây dựng. Về sau, khi đô thị Hội An suy thoái, không còn là thương cảng chính của miền trung nữa thì làng gốm Thanh Hà cũng bị ảnh hưởng, nghề gốm cũng mai một dần. Ảnh: Phương thức sản xuất truyền thống và cho sản phẩm truyền thống là những vật dụng tròn, được làm từ bàn xoay thủ công. 500 năm qua cách làm này vẫn không thay đổi.

 

Trong xu hướng phục hồi để bảo tồn nghề truyền thống, phát triển du lịch, gốm Thanh Hà hướng tới các sản phẩm mỹ nghệ - lưu niệm. Cùng với các sản phẩm cũ như nồi, niêu, chén, bát, bình, hũ… những người làm gốm ở Thanh Hà sản xuất các loại tượng mỹ nghệ, phù điêu, con giống, đồ trang trí… Hiện nay ở Thanh Hà có khoảng 20 hộ làm gốm nhưng thực ra chỉ có 4 hộ sản xuất có tính quy mô kinh doanh, có lò nung lớn; các hộ còn lại chỉ có lò nung nhỏ, chỉ nung được các đồ gốm mỹ nghệ lưu niệm rất nhỏ như các con giống đồ chơi. Ảnh: Lò nung gốm cũng vẫn được đốt bằng củi như thế kỷ 15

 

Đất sét nguyên liệu hiện được lấy từ huyện Điện Bàn cách Thanh Hà 15km, chở về bằng đường sông. Nhào đất là một công đoạn quan trọng trong quá trình làm gốm. Để nhào 1m3 đất sét làm gốm, một người đàn ông làm phải mất 2 ngày đêm.

 

Những người làm gốm Thanh Hà hay kết hợp thành một cặp trong quá trình sản xuất. Một người ngồi chuốt gốm trên bàn xoay, người kia đứng, tay nhào đất và chân đạp bàn xoay.

 

Chuốt gốm - tạo dáng. Đây là nghệ thuật làm gốm, là tinh hoa và linh hồn của gốm Thanh Hà. Những sản phẩm gốm được tạo hình qua bàn tay khéo léo của nghệ nhân chính là ở công đoạn này. Tất cả dựa trên cảm giác và kinh nghiệm của người làm gốm, không có một khuôn thước định lượng nào.

 

Những sản phẩm sau khi chuốt xong được phơi khô trước khi đưa vào lò nung. Sản phẩm chính của gốm Thanh Hà truyền thống là những đồ gia dụng như chén, bát, nồi, chum, vại, bình, lọ…

 

Trong những năm gần đây, cùng với việc phát triển du lịch ở Hội An nói chung và Thanh Hà nói riêng, làng gốm sản xuất thêm cả những sản phẩm gốm thủ công mỹ nghệ, hàng lưu niệm; mở rộng thị trường và phục vụ du khách. Để đáp ứng nhu cầu sản phẩm đó, đã có những cách thức sản xuất mới bên cạnh cách dùng bàn xoay truyền thống. Ảnh: Anh Hoàng Thành Truyền (cơ sở gốm Lê Quốc Tuấn) đang tạo mẫu trên chất liệu thạch cao. Đây là mẫu dương bản; mẫu này là cơ sở tạo mẫu âm bản để sản xuất gốm theo cách thức đổ khuôn với chất liệu đất sét thật nhão

 

Một bộ khuôn thạch cao mẫu Chùa Cầu, sau khi dỡ khuôn được vệ sinh và phơi

 

Phù điêu mới được dỡ khuôn

 

Chùa Cầu, một trong những sản phẩm lưu niệm phổ biến ở làng gốm Thanh Hà

 

Một phương thức gốm mới là cách làm như điêu khắc. Cách này được thực hiện với những sản phẩm rỗng, nhiều lỗ khó tạo khuôn; hoặc các sản phẩm đòi hỏi chi tiết tinh tế. Ảnh: Chị Nguyễn Thị Hậu (Cơ sở gốm Ngụy Trung) cho biết: Hiện nay đa phần các hộ làm gốm làm những sản phẩm mỹ nghệ nhỏ, nên nếu làm những sản phẩm truyền thống có kích thước lớn như chum vại, hầu như không có người làm được.

 

Đèn gốm mỹ nghệ được bán nhiều ở thị trường trong nam như TP Hồ Chí Minh, Bình Dương…, và phục vụ cho chính Hội An ở các công trình nhà hàng, khách sạn, quán xá…

 

Một tác phẩm gốm mỹ nghệ làm theo lối điêu khắc.

 

Nhiều cửa hàng bán đồ gốm mỹ nghệ ở Thanh Hà có bày sẵn bàn xoay gốm để biểu diễn cho khách, và cũng là để khách “thử sức” với nghề gốm.

 

Hai bạn trẻ là sinh viên đi du lịch đang tự làm sản phẩm kỷ niệm.

 

Con sông Thu Bồn chảy qua Thanh Hà xưa kia tấp nập tàu thuyền, giờ đây tĩnh lặng.

 

Năm 2016, Công viên văn hóa đất nung Thanh Hà, với nhiều hạng mục như: bảo tàng gốm, khu mô hình đất nung, nhà trưng bày, trại sáng tác… được hoàn thành, trở thành một điểm nhấn của làng gốm Thanh Hà, thu hút nhiều khách du lịch tới tham quan và chiêm ngưỡng; cũng là một động lực thúc đẩy sự hồi sinh của làng gốm cổ.

Chiếc nỏ trong đời sống văn hóa miền núi

đăng 05:19, 16 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Bắn nỏ ngày nay đã trở thành một bộ môn thể thao chính thức của dân tộc. Tại các hội thi thể thao, môn bắn nỏ luôn thu hút được sự chú ý và tham dự của đông đảo bà con. Với người Việt Nam, đặc biệt là đồng bào miền núi, chiếc nỏ có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống thường nhật.

Nguyên mẫu chế tác nỏ từ ngàn xưa

Mặc dù được chế tác từ cây rừng nhưng ở mỗi một Mường hay một vùng địa lý khác nhau thì sẽ có cây rừng khác nhau để làm cánh nỏ. Thân nỏ thường dùng gỗ dẻo để làm vì cây này chắc, rắn, chịu khô tốt nên không bị cong vênh. Người ta cũng hay dùng gỗ dổi để làm thân nỏ, bởi dổi có mùi thơm khi đi săn bắn thú rừng khó phát hiện thợ săn. Còn gỗ để làm cánh thường dùng hai loại gỗ, gỗ hai bên núi đá là loại cây rất dẻo, dai đàn hồi tốt. Gỗ này nhân dân thường dùng để làm cán cuốc, cán búa hoặc làm các bẫy thú. Cánh nỏ chọn loại tre đặc biệt để làm, tre không quá già không quá non cây không bị cụt ngon, không bị cớm.

Chiếc nỏ của đồng bào miền núi. 


Lẫy nỏ còn gọi là cò nỏ. Lẫy có thể dùng tre hay dùng gỗ như thân nỏ. Đẽo hình giống thân nỏ nhưng nhỏ bằng ngón tay cái, dài vừa tầm tay người bắn. Còn dây nỏ người ta thường lấy vỏ cây gai, cây lanh để bện thành cây to, nhỏ, dài ngắn khác nhau tùy thuộc vào sở thích và sức lực của mỗi người.

Tên nỏ thường dùng gốc tre già rắn chắc thân dọc một gióng, vót tròn dài từ 40 đến 50 cm, tùy theo độ dài của chiếc nỏ mà cắt độ dài của tên cho phù hợp, chính xác. Cái nỏ một đầu trổ nhọn như hình đầu đinh, còn đầu để tiếp xúc với dây bắn cắt bằng đầu và dùng lạt mỏng làm cánh tên để giữ thăng bằng chiếc tên đi thẳng trúng mục tiêu.

Cây nỏ - vũ khí tự vệ, công cụ thể thao

Nỏ chủ yếu dùng để làm vũ khí tự vệ của gia đình, đồng thời để hạ thủ các con vật, con thú hay phá hoại mùa màng. Ngoài ra nỏ còn có tác dụng săn bắn con vật rừng để cải thiện bữa ăn gia đình. Nỏ còn là dụng cụ thể thao của đồng bào, có tác dụng rèn luyện sức khỏe qua lực kéo của dây và cơ bụng làm bệ tỳ khi lên nỏ.

Ngày xưa, người ta chưa biết làm súng kíp, súng hoa mai thì nỏ là vật dụng thông thường nhất ở các làng bản và từng gia đình. Hàng năm, cứ vào dịp thu hoạch lúa mùa, ngày lễ, tết ăn cơm mới, bà con tổ chức cúng tổ tiên và vui hội ca hát múa xòe vòng, đồng thời tổ chức thi bắn nỏ để chọn ra nhân tài của bản Mường.

Cuộc thi bắn nỏ của đồng bào miền núi phía Bắc. 


Cây nỏ mũi tên đã đi vào truyền thuyết dân gian và lịch sử dân tộc. Trong truyện cổ các dân tộc đã đề cao những tráng sĩ dũng mãnh trong cánh nỏ, đường tên. Những thiện xạ bách phát, bách trúng, một mũi tên bắn trúng tới hai đích hoặc xuyên hai vật cản. Một mũi tên bắn trúng nhiều đích đã là ước nguyện của cộng đồng có những người sử dụng một mũi tên bắn xuyên được qua đôi ba con chim con thú.

Câu chuyện nỏ thần là một khúc tráng ca vừa hào hùng vừa bi thương trong thời kỳ đầu dựng nước. Các mũi tên đồng đào được ở nhiều nơi đã chứng tỏ cha ông ta từng chế tác ra những cây cung, cây nỏ lợi hại đánh giặc ngoại xâm, giữ yên dân, bảo vệ bờ cõi. Ngày nay, cây nỏ vẫn giữ nguyên giá trị văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc. Nhiều vận động viên bắn nỏ đã đạt được những thành tích rất đáng khâm phục trong các hội thi thể thao dân tộc ở địa phương và các vùng miền trong cả nước.

Nhà văn Ngô Quang Hưng

Làng nghề mây tre Long Thành Trung

đăng 05:13, 16 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 05:14, 16 thg 7, 2018 ]

Ai đã đến xã Long Thành Trung, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh sẽ bắt gặp ở hai bên đường những khúc tre, lồ ô, mây... với kích thước ngắn dài, to nhỏ khác nhau. Đây chính là nguyên liệu của làng nghề mây tre nứa truyền thống vốn đã tồn tại và phát triển gần nửa thế kỷ qua trên mảnh đất này.

Với kinh nghiệm làm nghề gần nửa thế kỷ, người dân ở Long Thành Trung có thể tạo ra các sản phẩm từ mây, tre, nứa công phu, bền, đẹp theo nhiều mẫu mã, được khách hàng ưa chuộng, tiêu biểu như: bàn ghế, tủ, kệ, salon, nhà lều… Để sản phẩm đạt chất lượng cao hơn nữa nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, làng nghề cần thiết phải có một tổ chức định hướng phát triển theo hướng bền vững và Hợp tác xã Mây tre Long Thành Trung đã ra đời vào tháng 11/2010 theo xu thế đó. Hoạt động chính của Hợp tác xã là sản xuất, kinh doanh các mặt hàng mây, tre, nứa nhằm phục vụ nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước. 

Máy chẻ lạt đều phục vụ cho việc đan được thuận tiện tốt hơn. 


Nghề mây, tre đan truyền thống tạo nhiều việc làm, thu nhập ổn định cho người dân nơi đây


Thăm làng nghề mây tre nứa ở Long Thành Trung, các sản phẩm tại đây đều được chuyên môn hóa qua từng công đoạn, từ chẻ, vót tre, nứa thành từng nan nhỏ đến việc phơi, gia công sản phẩm… Đặc biệt, công đoạn chẻ đã được sử dụng bằng máy, thay vì chẻ bằng tay như trước đây. Theo anh Hà Ngọc Quyết, chủ một cơ sở làm sản phẩm mây tre nứa, máy chẻ cho năng suất cao gấp 10 lần so với làm thủ công. Để cho ra một sản phẩm mây tre nứa đạt chất lượng về tính năng sử dụng và mẫu mã, ngoài việc chọn được cây nguyên liệu đẹp, người thợ còn phải rất cẩn thận ở mọi khâu, nhất là khi gia công những sản phẩm khó. Do vậy, từ những nguyên liệu mây, tre, nứa thô sơ, qua đôi bàn tay khéo léo, tỉ mỉ của người thợ, đã biến thành những chiếc bàn ghế, tủ, kệ, salon đủ các kích cỡ, màu sắc đẹp và tinh xảo. Hiện tại, mỗi ngày cơ sở của anh Quyết tạo công ăn việc làm cho 3 thợ chính với thu nhập của mỗi người bình quân trên 100.000 đồng/ngày, 4 thợ phổ thông mỗi người khoảng 70.000 - 80.000 đồng/ngày. 

Tre, nứa là nguyên liệu của làng nghề mây truyền thống. 


Những thanh nứa được cắt và phơi khô trước khi sử dụng. 


Nghề mây, tre đan đòi hỏi bàn tay khéo léo, sáng tạo của người thợ. 


Thực tế, lãnh đạo xã Long Thành Trung đã tạo điều kiện về mặt bằng cho Hợp tác xã Mây tre Long Thành Trung làm văn phòng, đồng thời xin cấp trên 100 triệu đồng để trang bị các phương tiện cho Hợp tác xã. Điều này cho thấy, chính quyền địa phương rất quan tâm đến sự phát triển của làng nghề truyền thống. Phòng Nông nghiệp huyện Hòa Thành cũng hỗ trợ Hợp tác xã máy móc cần thiết để sản xuất như: máy cắt, cưa, bào… Đối với các hộ sản xuất nhỏ lẻ trong Hợp tác xã thì được Quỹ hỗ trợ khuyến công hay Ngân hàng chính sách xã hội cho vay với mức 20 triệu đồng và hoàn trả trong 3 năm. 

Nghề mây, tre đan đòi hỏi bàn tay khéo léo, sáng tạo của người thợ. 


Thương lái các tỉnh đến thu mua sản phẩm mây tre . 


Ngoài ra, Hợp tác xã Mây tre Long Thành Trung còn phối hợp với Trung tâm hướng nghiệp dạy nghề huyện Hòa Thành tổ chức dạy nghề cho các xã viên có nhu cầu học nghề hay nâng cao tay nghề làm sản phẩm mây tre nứa. Đây là một cách thức hợp lý để nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm mây tre nứa Long Thành Trung, góp phần giúp cho làng nghề ngày càng phát triển, có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế. 

Thu Hằng

Thăm chợ xép vùng cao với 'đặc sản' chuột, nòng nọc, ấu trùng

đăng 20:44, 11 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Chợ xép là những lán nhỏ được dựng lên bên đường trong các bản làng, lề đường, vỉa hè thị trấn…; bày bán những mặt hàng được coi là đặc sản vùng cao như: Chuột rừng, ấu trùng chuồn chuồn, cá khe, các loại rau rừng… 

Những lán dựng tạm ở các bản làng là nơi người dân bày bán những sản vật hái, đánh bắt được trên rừng như: rau, quả rừng; thú rừng; cá khe, suối. Ảnh: Hùng Cường 


Những quả dưa nại, đào Mông được đưa từ núi rừng biên giới Việt - Lào về với phố huyện Kim Sơn (Quế Phong). Ảnh: Hùng Cường 


Dâu da rừng được nhiều khách là phụ nữ chọn mua. Ảnh: Hùng Cường 


Cỏ rau choóc (tiếng Thái gọi là “phắc bớ hín”) có vị ngọt thanh, ăn sống với canh ột, măng chua, cũng có thể nấu với cá sông, thịt gà tạo món ăn rất hấp dẫn; ngoài ra còn có tác dụng giải nhiệt, trị táo bón. Ảnh: Hùng Cường 


Nòng nọc ếch, nhái được coi là một đặc sản sạch. Ảnh: Hùng Cường 


Chuột rừng để nấu canh “ột” được người dân vùng cao ưa chuộng, có giá bán từ 40.000 - 60.000 đồng/con. Ảnh: Hùng Cường 


Ấu trùng chuồn chuồn (tiếng Thái gọi là niêu, khuộc) ăn có vị ngọt, tính thanh nên rất được ưa dùng cho bữa ăn giải nhiệt mùa hè. Ảnh: Hùng Cường 


Những gắp cá sông, suối nướng là đặc sản được nhiều khách miền xuôi chọn mua. Ảnh: Hùng Cường 


Hùng Cường

1-10 of 19