Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Ngắm vẻ đẹp làng nước mắm truyền thống Nghệ An Nước mắm truyền thống xứ Nghệ vốn nổi tiếng bởi sự thơm ngon, chất lượng chắt lọc từ các bước chế biến cầu kỳ, được lưu truyền nhiều thế hệ ...
    Được đăng 04:41, 21 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chợ cá đồng lớn nhất miền Tây Mùa nước nổi, chợ số 10 (xã Vĩnh An, Châu Thành) là nơi tập kết và buôn bán cá đồng nhiều nhất miền Tây. Dù đêm hay ngày, nơi đây ...
    Được đăng 07:05, 20 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Về chơi Chuôn Ngọ Chuôn Ngọ - nơi thờ tự ông tổ nghề khảm trai của Việt Nam, cũng là nơi nhiều thợ làng nghề vượt khỏi ranh giới thủ công trở thành nghệ sĩ ...
    Được đăng 02:00, 17 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bên khung dệt của phụ nữ Chăm Tết này, nếu bạn chưa biết phải đi đâu chơi, có thể cân nhắc đến thăm làng Chăm (ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, TX. Tân Châu), ghé cơ sở ...
    Được đăng 01:52, 17 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Vén mây trẩy hội Gầu Tào Sapa (Lào Cai) vào Xuân, mùa mây kéo đến bảng lảng khắp thôn bản, hẻm núi, người Mông ở xã San Sả Hồ lại nô nức tổ chức hội Gầu ...
    Được đăng 06:39, 14 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 24. Xem nội dung khác »


Ngắm vẻ đẹp làng nước mắm truyền thống Nghệ An

đăng 04:41, 21 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nước mắm truyền thống xứ Nghệ vốn nổi tiếng bởi sự thơm ngon, chất lượng chắt lọc từ các bước chế biến cầu kỳ, được lưu truyền nhiều thế hệ tại các làng nghề lâu năm. 

Làng nghề nước mắm truyền thống ở Diễn Châu với quy mô sản xuất lớn. Từng dãy dài nhà thùng nước mắm tạo thành hình ảnh ấn tượng với bất cứ ai đến thăm làng nghề. Ảnh: Hải Vương 


Nước mắm truyền thống phải trải qua nhiều công đoạn công phu, thời gian chế biến đòi hỏi đủ lâu tới hàng năm, nguyên liệu chính là cá tươi và muối biển. Ảnh: Hải Vương 


Làng nghề nước mắm truyền thống ở Nghệ An dùng cá trỏng làm nguyên liệu chưng cất nước mắm. Các làng chài ở Quỳnh Lưu là nơi đánh bắt số lượng lớn cá trỏng cung cấp cho nhiều làng nghề nước mắm trong tỉnh. Ảnh: Sách Nguyễn 


Muối biển được chuẩn bị để bắt đầu quá trình sản xuất nước mắm. Ảnh: Nguyễn Thành 


Hình ảnh ấn tượng cánh đồng muối phục vụ làm nước mắm tại Quỳnh Lưu nhìn từ trên cao. Ảnh: Sách Nguyễn 


Hiện Diễn Châu là địa phương có làng nghề nước mắm lớn nhất Nghệ An. Ảnh: Nguyễn Thành 


Các xã ven biển của Quỳnh Lưu cũng có nhiều làng nước mắm truyền thống lâu năm. Ảnh: Sách Nguyễn 


Nhờ nguyên liệu chính từ cá biển, nước mắm truyền thống Nghệ An có được hương vị đậm đà, độ dinh dưỡng cao. Ảnh: Hải Vương 


Hải Vương - Nguyễn Thành - Sách Nguyễn

Chợ cá đồng lớn nhất miền Tây

đăng 07:05, 20 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Mùa nước nổi, chợ số 10 (xã Vĩnh An, Châu Thành) là nơi tập kết và buôn bán cá đồng nhiều nhất miền Tây. Dù đêm hay ngày, nơi đây cũng tấp nập ghe, xuồng của ngư dân, tạo nên bức tranh sinh động của làng quê trù phú... 

Tấp nập trong đêm 

Đêm. Không gian tối mịt. Dưới dòng kênh Mặc Cần Dưng, những chiếc xuồng câu, lưới của ngư dân chầm chậm cặp bến. Cảnh “trên bến dưới thuyền” lúc nào cũng đông đúc và rộn rã tiếng cười, nói huyên thuyên. Chợ cá đồng này có từ lâu đời. Năm nào lũ lớn, chợ nhóm họp rất xôm. Sản vật mùa nước nổi tại đây rất phong phú, với đủ loại cá, như: cá linh, cá mè vinh, cá trê, cá lóc, cá trèn răng, cá trèn bầu, cá kết bạc, cá chạch cơm, cá chạch lấu, cá chốt, cá heo… Loay hoay xách từng vợt cá rọng sống đổ lên xe, chú Phan Văn Phúc (Tư Phúc, ngụ xã Bình Mỹ, Châu Phú) cho biết: “Từ trước đến nay, hễ vào mùa lũ, tui đều đến chợ số 10 để cân cá đồng giao cho các chợ lớn. Mỗi đêm, nơi đây có trên 100 chiếc xuồng câu, lưới của bà con đến bán cá, rồi đi. Tui cân 3-4 tấn cá đồng các loại để vận chuyển xuống TP. Cần Thơ cân cho bạn hàng”. 

Xuồng ghe tấp nập trong đêm 


Trước đây, Tư Phúc vận chuyển cá từ chợ số 10 đến các chợ đầu mối ở miền Tây, chủ yếu bằng ghe đục. Buôn bán ngày càng “nở nồi”, Tư Phúc bán ghe lên bờ “tậu” 3 chiếc xe tải để chở cá. Ngày nào cũng vậy, trời vừa sụp tối, Tư Phúc lái xe đến chợ cá đồng số 10, đợi ngư dân đánh bắt cá mang về để cân. “Tui làm ăn uy tín mấy chục năm nay nên bà con mang cá về toàn cân cho mình. Hôm nào cá nhiều, dội chợ cũng phải ráng cân cho họ. Bởi, bà con đánh bắt cá rất khó khăn, mình phải tạo điều kiện để họ có thu nhập trong mùa lũ” - Tư Phúc cười sảng khoái. Có đến 3 chiếc xe tải, nhưng Tư Phúc vận chuyển cá không xuể, do nhu cầu cá đồng ở các tỉnh bạn ngày càng nhiều. 

Ngoài Tư Phúc, nhiều bạn hàng ở các tỉnh khác đến cân cá đồng trong đêm để phân phối tại các chợ quê. Theo những tiểu thương chuyên thu mua cá đồng, ngày trước ở huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp) có chợ Thường Phước chuyên buôn bán đặc sản cá đồng. Những năm gần đây, chợ số 10 là địa chỉ tập kết cá đồng bậc nhất. Bởi, hàng đêm tại bến chợ này, các tiểu thương cân khoảng 10 tấn cá đồng. Hôm nào đến con nước cá ra, bạn hàng tại chợ này cân đến 10-15 tấn cá các loại, trong đó cá linh chiếm số lượng lớn nhất. Năm 2018 lũ lớn, mực nước dâng nhanh, nhưng cũng rút lẹ hơn so với mọi năm, nên chợ cá đồng số 10 hoạt động rôm rả. 

Buôn cá đồng cho đến Tết 

Ghé thăm vựa cá đồng của chị Dương Thị Liễu (43 tuổi, ngụ xã Vĩnh An), nhiều chị phụ nữ mang chiếc đèn soi trên vầng trán, xúm xít bên nhau lựa cá chộn rộn trong đêm. Đến nay, chị Liễu đã có 18 năm trong nghề buôn cá đồng tại chợ thôn quê này. Chị Liễu kể, trước đây, vào mùa nước nổi, chị xuôi ngược bằng xuồng để cân cá bán. Năm nào cũng vậy, hễ đến mùa nước nổi, chợ hoạt động huyên náo suốt đêm. Lũ rút là thời điểm vựa cá của chị Liễu thu mua mỗi đêm 2-3 tấn cá các loại để cân cho các cơ sở làm mắm. Không những vậy, vựa cá của chị Liễu còn là “điểm hẹn” của hàng chục bạn hàng ở khắp nơi tập trung về đây thu mua, rồi vận chuyển cá về các tỉnh bán lẻ. “Lũ lớn, sản lượng cá nhiều hơn năm ngoái. Các mặt hàng như: cá khoai, cá heo, cá thác lác, cá trê, cá lóc… xuất hiện nhiều hơn. Mỗi đêm, vựa cá của tui thu mua từ 300-500kg cá ngon các loại. Riêng cá linh, cá chốt cân vài tấn mỗi đêm là chuyện bình thường. Cá nhiều lại được giá, bà con ngư dân có thu nhập khá hơn” - chị Liễu tâm sự.

Tiểu thương cân cá 


Rảo một vòng bờ kênh Mặc Cần Dưng, chúng tôi nghe tiếng tát nước rột rạt của ngư dân cộng hưởng với tiếng cá nhảy lách chách dưới khoang xuồng, trông như ngày hội khai thác cá. Các loại cá đồng ở đây có giá rẻ hơn nơi khác. Cụ thể, cá khoai giá 35.000 đồng/kg, cá chạch loại lớn giá từ 80.000-100.000 đồng/kg, cá lóc to bằng cườm tay 80.000 đồng/kg, cá linh to bằng ngón tay 10.000 đồng/kg... Chiếc xuồng tam bản của anh Võ Văn Tường (29 tuổi, ngụ xã Vĩnh Thạnh Trung, Châu Phú) chở cá trên dòng kênh Mặc Cần Dưng lừ lừ cập bến. Mùa lũ năm nay, anh Tường đặt 30 miệng đú, bình quân mỗi đêm thu hoạch từ 30-40kg cá các loại. Hôm nào “trúng mánh”, anh Tường thu hoạch 50-60kg cá, trong đó chủ yếu là cá linh. Cá linh rọng sống thì anh Tường cân cho bạn hàng chợ, với giá từ 8.000-10.000 đồng/kg, cá linh chết thì bán cá mồi cho những chủ hầm nuôi cá bông, giá 4.000 đồng/kg. “Tui đặt đú ở cánh đồng ở xã Đào Hữu Cảnh (Châu Phú) và xã Tân Lập (Tịnh Biên). Lũ lớn, luồng đú của tui thu hoạch cá nhiều hơn các năm trước. Nhờ vậy, có thu nhập khá hơn, nuôi sấp nhỏ ăn học tử tế” - anh Tường bộc bạch. 

Anh Tường khoe “chiến lợi phẩm” 


Sở dĩ, nguồn cá đồng ở chợ số 10 phong phú là do hàng trăm ngư dân đánh bắt khắp các cánh đồng Tứ giác Long Xuyên. Từ lâu, nơi đây được ví như “túi cá” nước ngọt dồi dào nhất vùng. “Ngư phủ” Trương Văn Xuyên (65 tuổi, ngụ xã Lương An Trà, Tri Tôn) nói rằng, nhiều cánh đồng của các xã thuộc 4 huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú và Châu Thành được xả lũ nên cá đồng có môi trường sinh sôi mạnh, bà con khai thác được nhiều. 

Sản lượng cá chạch thu hoạch rất nhiều trong mùa lũ 


Cá linh chết, tiểu thương bán cá mồi cho chủ hầm nuôi cá 


Chợ số 10 hoạt động thâu đêm suốt sáng, lúc nào cũng náo nhiệt. Những chiếc ghe cuối cùng chở cá khẳm đừ mang về cân cho tiểu thương cũng là lúc trời vừa ửng sáng. Anh Nguyễn Thái Đủ, một thương lái chuyên thu gom cá mồi (cá chết các loại) dong chiếc vỏ lãi cặp tại bờ kênh Mặc Cần Dưng để thu gom cá. Nếu như các tiểu thương trên bờ cân cá rọng sống thì anh Đủ là bạn hàng chuyên cân cá mồi để giao lại cho các chủ hầm nuôi cá bông, cá lóc thương phẩm. Anh Đủ cho biết, nguồn cá mồi tại chợ số 10 rất nhiều, hàng đêm anh Đủ cân từ 3-4 tấn cá giao cho các chủ hầm. Bắt đầu từ tháng 7 đến cuối tháng 11 (âm lịch), anh Đủ đều có mặt tại chợ số 10 để thu gom cá mồi. Nước rút, anh Đủ tiếp tục cân cá dỡ chà theo các dòng kênh. Đây là thời điểm buôn bán cá, kiếm thu nhập khá trong năm. “Mùa lũ là mùa làm ăn. Nếu như bỏ sở hụi, tui kiếm được trên 500.000 đồng/ngày. Nhờ vậy, gia đình tui có tiền xài trong suốt mùa nước nổi kéo dài đến Tết Nguyên đán” - anh Đủ phấn khởi khoe. 

THÀNH CHINH

Về chơi Chuôn Ngọ

đăng 02:00, 17 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chuôn Ngọ - nơi thờ tự ông tổ nghề khảm trai của Việt Nam, cũng là nơi nhiều thợ làng nghề vượt khỏi ranh giới thủ công trở thành nghệ sĩ... Về chơi Chuôn Ngọ dịp đầu xuân là cơ hội khám phá những nét thú vị nơi làng quê Chuôn Ngọ. 

Họa sĩ Nguyễn Xuân Lục trong không gian “Bụi” của riêng mình 


Cách Hà Nội chừng 40 km, làng Chuôn Ngọ ở Chuyên Mỹ, Phú Xuyên tương truyền từ thời Lý đã có nghề khảm trai do Trương Công Thành - danh tướng phò Nguyên soái Lý Thường Kiệt đem quân chinh phạt giặc phương Bắc - sau khi dẹp loạn, trở về quê nhà, trong chuyến ngao du sơn thủy, phát hiện vẻ đẹp từ những mảnh vỏ sò, trai, ốc trôi dạt ven biển, cụ Trương đã nghĩ đến chuyện ghép những mảnh lấp lánh sắc màu ấy thành mảng trang trí sinh động. Nghề khảm trai ra đời, tính đến nay đã hơn ngàn năm tuổi. 

Đám rước cụ tổ làng nghề khảm trai Trương Công Thành từ đình xuống miếu ở hội đình Chuôn Ngọ 2019 


Tìm hiểu về nghề khảm trai, vị trưởng thôn Ngọ, anh Nguyễn Đắc Luyện cho biết: “Làng mình hiện giờ còn khoảng 30% hộ dân làm nghề khảm trai, số còn lại tứ tán đi khắp các tỉnh thành và cũng theo nghề khảm trai. Mỗi năm, dịp hội làng đầu xuân là dịp dân Chuôn Ngọ từ khắp nơi về đoàn tụ, dâng hương kính nhớ người khai sinh ra nghề khảm trai”. 

Về chơi Chuôn Ngọ đúng ngày hội làng, một lễ hội không xô bồ, ồn ào, không rình rang huyên náo như những lễ hội bị biến màu thương mại, thị trường khác. Lễ hội diễn ra long trọng với phần trọng tâm là đám rước cung nghênh Thành hoàng làng từ đình xuống miếu làng, rồi trở lại về đình để mọi người cùng khách mời thân hữu dự bữa tiệc vui chung trong không khí làng quê, thân tình và đầm ấm. 

Tác phẩm tranh sơn mài mang chủ đề “Bụi” của họa sĩ Nguyễn Xuân Lục 


Rời lễ hội, chúng tôi có dịp đồng hành cùng họa sĩ sơn mài Nguyễn Xuân Lục - một người dân Chuôn Ngọ, vào thăm các xưởng chế tác xà cừ làm nguyên liệu phân phối đi khắp cả nước. Khắp nơi trong làng, tiếng cưa máy cắt vỏ trai, vỏ ốc, tiếng đục đì đạch đã vang vọng khắp không gian, tạo không khí làm việc đầu xuân thật nhộn nhịp. Từ những vỏ ốc, vỏ trai thô sơ, qua bàn tay gọt đẽo, cắt xén, mài dũa tài tình của người thợ nghề, những miếng ốc trở nên bóng láng, phô diễn màu sắc lấp lánh, huyền ảo, tạo thành nguyên liệu đẳng cấp phục vụ cho việc khảm, ghép nên những tác phẩm mỹ nghệ đặc biệt, mang đậm dấu ấn riêng của làng nghề Chuôn Ngọ. 

Tác phẩm tranh sơn mài mang chủ đề “Bụi” của họa sĩ Nguyễn Xuân Lục 


Với người ngoại đạo, những xù xì, thô ráp của vỏ ốc nhìn từ bên ngoài, thật khó hình dung về vẻ đẹp tiềm ẩn của ốc, nhưng với kinh nghiệm truyền đời của làng nghề, người làng Chuôn Ngọ biết rõ cách phân biệt chất lượng, màu sắc của từng con ốc, để tạo nên những miếng xà cừ tuyệt mỹ, giá trị sánh ngang với vàng ròng. 

Tác phẩm tranh sơn mài mang chủ đề “Bụi” của họa sĩ Nguyễn Xuân Lục 


Riêng với họa sĩ sơn mài Nguyễn Xuân Lục, hiện đã thành danh với công việc giảng dạy và sáng tác tranh sơn mài ở Hà Nội, mỗi chuyến về làng là dịp để anh lọ mọ qua các nhà xưởng, tìm trong đó những nguyên liệu thích hợp từ vỏ trai, ốc, đưa nét đẹp mộc mạc, nguyên sơ ấy vào các tác phẩm do anh sáng tác. Họa sĩ Nguyễn Xuân Lục cho biết: “Mình gắn bó với nghề khảm trai từ nhỏ, nên khi học mỹ thuật sơn mài, mình thường sử dụng chất liệu vỏ trai - ốc trong sáng tác. Tuy nhiên mình không quá nặng nề đến mức lạm dụng, chỉ là điểm xuyết, nhấn nhá, tạo cho tác phẩm nét thanh thoát, tự nhiên chứ không bị gượng ép, khô cứng như cách mà mọi người hay nhìn và gọi tranh có khảm xà cừ là tranh mỹ nghệ”. 

Thợ nghề của làng Chuôn Ngọ đang thực hiện chạm khảm xà cừ lên nền gỗ 


Những người trẻ như Nguyễn Xuân Lục được coi là nhân tố mới của làng nghề khảm trai nói chung và các làng nghề thủ công nói riêng khu vực phía Bắc. Họ là thế hệ trẻ, xuất phát từ làng nghề, được tiếp cận, giao lưu, cọ xát, cảm thụ thêm với mỹ học từ chính quy, bài bản, nhờ đó tạo nên lớp nghệ sĩ vững về tay nghề thủ công, độc đáo trong tư duy sáng tác. 

Những hạt mảnh li ti, tưởng như vô dụng của vỏ ốc bào ngư, người Chuôn Ngọ gọi là con cửu khẩu (9 miệng) được Lục tận dụng, phối kết tài tình vào chuỗi tác phẩm anh định danh là “Bụi”. Nhìn trong bộ tác phẩm “Bụi” của Lục (được ra mắt công chúng từ 11/3 tại Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam) có thể thấy rõ từng hạt bụi, vương trong không gian mênh mông bao la của vũ trụ đời người, nhưng cũng ẩn chứa trong đó là nhân sinh quan của con người, của những buồn vui thời cuộc. 

Chọn ốc xà cừ để chế tác nguyên liệu cho việc chạm khảm 


Bộ tranh Bụi đưa người xem đến vẻ đẹp của từng hạt bụi li ti qua kỹ thuật sơn mài, rồi từ đó Nguyễn Xuân Lục hóa thân cho bụi, biến bụi thành người, rồi đưa nhỏ bé của con người vào không gian mênh mông, bao la vô tận. Một lối sáng tác bán trừu tượng, khơi gợi đầy tính triết lý của tự nhiên, của tạo hóa rằng hãy nhớ mình là cát bụi, dù mình có là ai hay là gì đi nữa, rồi cũng sẽ trở về cát bụi. 

THIÊN Ý 

Bên khung dệt của phụ nữ Chăm

đăng 01:52, 17 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tết này, nếu bạn chưa biết phải đi đâu chơi, có thể cân nhắc đến thăm làng Chăm (ấp Phũm Soài, xã Châu Phong, TX. Tân Châu), ghé cơ sở dệt thổ cẩm Chăm Mohamad để được hòa mình vào văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số Chăm nơi đây. Chắc chắn, bạn sẽ nhận về nhiều thú vị khó quên!


Làng Chăm này có 3 hộ dân mở cơ sở dệt thổ cẩm. Mỗi nơi có nét đặc biệt riêng, tùy theo cảm nhận của du khách. Tại cơ sở của ông Mahamad (sinh năm 1958), các khung dệt chiếm phần lớn diện tích. Mỗi khung đều có tuổi đời mấy chục năm, phần gỗ được ma sát nhiều với bàn tay con người trở nên sáng bóng. Khung dệt cũng biết quyến luyến con người, nên cần cù làm việc, bền bỉ theo năm tháng. Chỉ có điều, chất liệu gỗ tốt đến mấy, theo thời gian sẽ hư hao dần. Vậy nên, thi thoảng vợ, chồng ông Mahamad phải sửa chỗ này, đóng lại chỗ kia. 

Đồng bào dân tộc thiểu số Chăm rất tự hào với tay nghề dệt, thêu thổ cẩm của mình. Hình ảnh thiếu nữ Chăm dịu dàng giấu mái tóc sau làn khăn mattơra, thoăn thoắt bên khung dệt hay tỉ mẩn với khung thêu in hằn trong tâm trí người đối diện. Thổ cẩm ra đời từ bàn tay tài hoa của họ luôn mang đậm nét văn hóa chân phương, mộc mạc và đầy màu sắc. Bà Saymah (sinh năm 1965) “thấm” nghề dệt, thêu từ nhỏ, do ông bà, cha mẹ truyền lại. Mấy chục năm nay, bà vẫn gắn bó với nghề, như một chuyện tất yếu, không hề nghĩ đến việc xa rời. “Hồi xưa, nam nữ đều có thể theo nghề. Đàn ông phụ trách chuyện nặng nhọc, như: nhuộm sợi, phơi… Phụ nữ chỉ tập trung dệt, thêu, làm chuyện nhà. Sau này, người theo nghề ít dần, chỉ sợi có thể mua từ công ty phân phối, nên công đoạn nhuộm, phơi không còn nữa. Việc truyền nghề cho tụi nhỏ vẫn được thực hiện, nhưng chúng không chịu nổi cách làm tỉ mỉ, phức tạp. Học xong, chúng chọn nghề khác để làm. Thấy vậy, tôi buồn lắm. Khi duy trì cơ sở dệt, tôi vừa muốn giữ lại nét văn hóa riêng, vừa có thể làm công việc mình yêu thích” - bà Saymah chia sẻ. Nghe bà Saymah diễn tả sơ bộ về cách bắt sợi, thêu thành chiếc khăn và hoa văn đơn giản nhất, chúng tôi đã cảm thấy phức tạp, kỳ công vô cùng. Điều quan trọng nhất nằm ở chỗ, chẳng có bất kỳ công thức cố định nào trong chuyện thêu hoa văn cả, đều do tài hoa và trí óc sáng tạo của người thêu tạo nên. Có khi, học cả đời chẳng thành thục, huống chi người học lại thiếu đam mê, yêu thích! 

Từ một cơ sở nhỏ lẻ, ít ai biết đến, vợ, chồng bà Saymah nhận được hỗ trợ của chính quyền địa phương và ngành chức năng, sự yêu thích mặt hàng thổ cẩm của khách du lịch xa gần nên cơ sở dần được phát triển. Mặt hàng bày bán nhiều hơn trước, lượng khách đến tham quan tăng dần. Không dừng lại ở việc dệt- bán đơn giản, vợ, chồng bà còn muốn chuyển tải nét đặc sắc của nền văn hóa dân tộc đến cộng đồng xã hội. Vì thế, bất kỳ du khách nào ghé lại cơ sở tham quan, sẽ được bà Saymah chia sẻ nhiều điều về bộ trang phục truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số Chăm; ý nghĩa và cách đội những chiếc nón của đàn ông, chiếc khăn mattơra của phụ nữ; cách tạo nên hoa văn tỉ mẩn trên món hàng lưu niệm thổ cẩm… Vợ, chồng chị Huỳnh Ngọc Trúc Phương (sinh năm 1993, ngụ TP. Long Xuyên) tình cờ đến thăm cơ sở dệt này, không ngờ bị cuốn hút với những gì được trải nghiệm. Chúng tôi đặc biệt ngưỡng mộ những phụ nữ ngồi bên khung dệt vì sự khéo léo, chuyên nghiệp của họ. Suốt thời gian ghé thăm, chúng tôi được họ tiếp đón rất nhiệt tình, sẵn lòng chia sẻ về cuộc sống, công việc, văn hóa, phong tục của họ. Sự thân thiện và cởi mở ấy khiến chúng tôi cảm thấy rất vui. Đặc biệt nhất, họ vẽ cho chúng tôi những hoa văn trên tay, gọi là henna, thật sự thú vị” - chị Phương hào hứng kể lại. 


Vẽ henna là cách làm đẹp cho bàn tay mềm mại của người phụ nữ Chăm- giống như sơn móng tay - cả tuần mới bay mất. Chị SaY (sinh năm 1984) là thợ thêu hoa văn, khéo tay nên học được cách vẽ henna. Mỗi khi có đoàn khách đến tham quan, chị ngồi vẽ “mệt xỉu”. Đổi lại, khách thích thú mang “kỷ niệm” ấy rời đi, văn hóa của dân tộc thiểu số Chăm sẽ được nhiều người biết đến hơn nữa. 


VẠN LỘC

Vén mây trẩy hội Gầu Tào

đăng 06:39, 14 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Sapa (Lào Cai) vào Xuân, mùa mây kéo đến bảng lảng khắp thôn bản, hẻm núi, người Mông ở xã San Sả Hồ lại nô nức tổ chức hội Gầu Tào. Gầu Tào từ hội của một dòng họ, đến nay đã thành hội chung vui của cả vùng Hoàng Liên Sơn với ý nghĩa cầu tự, cầu mùa. 

Theo truyền thuyết dân gian vùng Sapa kể lại, trước đây những cặp vợ chồng người Mông nào lấy nhau nhiều năm chưa sinh được con cái thì người chồng sẽ lên một quả đồi nào đó cầu xin thần đồi, thần núi phù hộ gia đình sinh được người con trai... Trong 3 năm hoặc 5 năm liên tiếp sau khi sinh hạ, gia đình đều tổ chức lễ Gầu Tào mời anh em, họ hàng, bà con người Mông đến chia vui và tạ ơn các vị thần đã giúp đỡ. 

Nguồn gốc Lễ hội Gầu Tào của người Mông ở xã San Sả Hồ bắt đầu từ đó. Sau này, lễ hội được tổ chức thường xuyên và trở thành lễ hội của cộng đồng làng xã. Bởi vậy, Lễ hội Gầu Tào ngoài việc cầu con, còn cầu sức khỏe, cầu may mắn, cầu cho mùa màng bội thu, dân bản có cuộc sống ấm no, thịnh vượng.

Bà con người Mông vùng Hoàng Liên Sơn nô nức trẩy hội Gầu Tào. Ảnh: Trọng Chính 


Hội Gầu Tào được tổ chức trên thửa ruộng bậc thang sau vụ mùa ở xã San Sả Hồ. Ảnh: Trần Hiếu


Trong phần lễ, người Mông treo tù và để thổi mời gọi thần núi, thần rừng và treo túm ngô, bó lúa trên cây nêu với mong ước cuộc sống no đủ. Ảnh: Tất Sơn


Trẻ em Mông thích thú xem hội Gầu Tào. Ảnh: Việt Cường 


Các em thiếu nhi người Mông biểu diễn múa ô tại lễ hội Gầu Tào. Ảnh: Trọng Chính 


Trẻ em Mông xem biểu diễn các tiết mục văn nghệ truyền thống. Ảnh: Trang Linh 


Trẻ em Mông thi đi trên cây tre. Ảnh: Trần Hiếu 


Trẻ em Mông thi leo cột. Ảnh: Thông Thiện 


Lễ hội Gầu Tào với nhiều hoạt động sinh hoạt văn hóa độc đáo như: múa khèn, thi leo cây, múa gậy, thi bắn nỏ, thi đấu võ, hát giao duyên... Du khách thì đứng ngoài vỗ tay, reo hò, cổ vũ làm không khí của lễ hội trở nên nhộn nhịp. Đến khi màn đêm buông xuống là khoảng thời gian dành cho các chàng trai thi thố, thổ lộ tâm tình, tình cảm của mình với người bạn gái qua tiếng đàn môi, tiếng sáo dặt dìu nơi vách đá, hay những lời tâm tình kín đáo qua hát ống.

Thực hiện: CLB Nhiếp ảnh Khoảnh Khắc Vàng

Lễ hội lớn nhất Lạng Sơn: Dân ùa ra đường chật kín các con phố

đăng 06:14, 12 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Lễ hội Đền Kỳ Cùng - Tả Phủ diễn ra từ ngày 22 - 27 tháng Giêng âm lịch hàng năm, là một trong những lễ hội quy mô lớn và dài nhất tại thành phố Lạng Sơn. Đoàn rước kiệu di chuyển từ đền Tả Phủ về đền Kỳ Cùng thu hút hàng vạn người dân địa phương cũng như du khách thập phương. 

Là một trong những lễ hội quy mô lớn và dài nhất tại thành phố Lạng Sơn, lễ hội đền Kỳ Cùng - Tả Phủ thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương tham dự. Từ năm 2016, lễ hội đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. 


Ngày 27.1 âm lịch (3.3.2019) là lễ rước kiệu quan Tuần Tranh (đền Kỳ Cùng) và quan Thân Công Tài (đền Tả Phủ) xuất phát từ đền Tả Phủ quay lại đền Kỳ Cùng. Dòng người nườm nượp đi theo đoàn rước kiệu, chật kín các con phố. Năm nay lễ hội được tổ chức quy củ, đảm bảo an toàn giao thông trên nhiều tuyến phố. 


Thời khắc được trông đợi nhất của lễ hội là khi kiệu quan đi qua, người dân địa phương và du khách thập phương được khấn vái cầu mong may mắn trong năm mới.


Nhiều người dân đặt tiền lên kiệu thánh lấy may mắn, lộc đầu năm mỗi khi được rước qua nhà mình. 


Cụ Đinh Kim Dần (áo đỏ) 88 tuổi - Chánh tế đền Tả Phủ cho biết đây là lễ hội lớn nhất Lạng Sơn với những nghi lễ cầu cúng, cầu mong những ước vọng về một cuộc sống tốt đẹp may mắn cho một năm mới no đủ, hạnh phúc.


Lễ hội nhằm tôn vinh, tưởng nhớ các vị khai quốc công thần hiển thánh trong phong tục thờ Đạo Mẫu. 


Những người tham gia rước kiệu là thanh niên trai tráng mặc trang phục lộng lẫy gọi là đồng nam. 



Kiệu Long Đình của quan lớn Tuần Tranh gồm 20 nam người dân tộc Tày, Nùng tại xã Lục Yên, huyện Cao Lộc khiêng. 


Đoàn rước đi vòng qua các dãy phố, đến ngã ba, ngã tư lại thực hiện động tác quay vòng thu hút sự chú ý của du khách. 


Hai bên đường có đoàn rước đi qua, các gia đình bày biện mâm lễ để cầu an, cầu lộc, cầu tài. Tương truyền, nhà nào được đội múa lân, múa rồng đến xông đất sẽ làm ăn may mắn, phát đạt trong cả năm. 


Các nữ sinh trường THPT Việt Bắc trong trang phục quân của triều đình nhà vua. 


Lễ hội cũng gây chú ý bởi sự góp mặt của nhiều thanh đồng. 


Người dân thành tâm cầu khấn cầu mong những điều an lành trong năm mới khi đoàn rước đi qua. 



Lễ hội đền Kỳ Cùng - Tả Phủ là hoạt động văn hóa tín ngưỡng dân gian truyền thống sinh động, trở thành điểm đến hấp dẫn của nhân dân trong tỉnh và khách thập phương dịp đầu năm 


Tiếng trống chiêng của lễ hội làm rộn ràng cả khu phố, các em nhỏ được bố cõng lên vai đi chơi hội. 


Theo truyền thuyết, đền Kỳ Cùng (phường Vĩnh Trại) thờ quan Tuần Tranh thuộc nhà Trần, do oan khuất nên ông nhảy xuống sông Kỳ Cùng tự vẫn. Sau này, Tả đô đốc Hán quận công Thân Công Tài được nhà Lê cử lên Lạng Sơn đã minh oan cho cái chết của ông Tuần Tranh, sau khi ông mất người dân lập đền Tả Phủ (phường Hoàng Văn Thụ) để thờ cúng. 

Cảm kích trước công ơn của ông Thân Công Tài, ngày 22 tháng Giêng hàng năm, vào đúng giờ Ngọ người dân địa phương mở hội rước bát hương ông Tuần Tranh từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ tạ nghĩa. Sau đó, đến ngày 27 sẽ rước kiệu quay ngược lại, đặc biệt ngày 27 diễn ra lễ cướp đầu pháo, theo quan niệm dân gian ai cướp được đầu pháo năm ấy sẽ gặp may mắn tài lộc.

Đàm Duy

Bí ẩn lễ cúng rừng của người Mông ở khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu

đăng 05:46, 12 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đến giờ lành, thầy cúng kính cẩn dâng hương, lần lượt quay về 4 phía gõ mõ và khấn mời thần linh về chứng giám, hưởng lễ vật, phù hộ, ban lộc rừng cho người dân, cầu cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu.

Cứ vào ngày cuối cùng của tháng Giêng hằng năm, đồng bào dân tộc Mông ở xã Nà Hẩu lại tổ chức Lễ hội cúng rừng - nghi lễ truyền thống có ý nghĩa lớn nhất, quan trọng nhất trong năm đối với người dân nơi đây và còn được gọi là “Tết rừng”. 

Tờ mờ sáng, ông Mùa A Vừ (bản Tát, xã Nà Hẩu, Văn Yên, Yên Bái) cùng thanh niên trong thôn đi bắt lợn về thịt chuẩn bị cho ngày “Tết rừng”. Ông Vừ cho biết, cứ đến ngày cuối cùng của tháng Giêng, bà con các thôn lại góp tiền mua lợn, mang ra bìa rừng mổ và chế biến sau khi cúng thần rừng. Mọi người trong thôn sẽ cùng nhau ăn ngay tại bìa rừng, hoặc trong rừng. “Năm nay kinh tế khá nên bản mổ con lợn to, con này hơn 1 tạ đấy”, ông Mùa A Vừ khoe với PV Dân Việt. 

Ông Mùa A Vừ: “Năm nay kinh tế khá nên bản mổ con lợn to, con này hơn 1 tạ đấy”. Ảnh: Hoàng Hữu 


Đàn ông vào bếp chế biến thức ăn ngay bìa rừng. Ảnh Hoàng Hữu 


Gần đó chị em phụ nữ ngồi thêu thùa, trông con. Ảnh: Hoàng Hữu 


Lễ hội cúng rừng của người Mông xã Nà Hẩu thể hiện nét sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tôn thờ các vị thần suối, thần núi, thần rừng, thần cây... Theo quan niệm của người Mông tại đây, thần rừng, thần cây, thần suối là những vị thần giúp con người xua đuổi thú dữ, cho gỗ làm nhà, cho nguồn nước uống. Bởi vậy, lễ hội cúng rừng nhằm cầu an lành cho con người, súc vật và cỏ cây. 

Đồng thời, đây cũng là dịp nhắn nhủ mỗi người dân nâng cao ý thức giữ gìn, bảo vệ và phát triển rừng, tạo nguồn sinh thủy phục vụ đời sống, sản xuất, cải tạo môi sinh... 

Đoàn rước lễ từ UBND xã đi vào rừng. Ảnh: Hoàng Hữu 


Lễ hội cúng rừng mở đầu bằng phần rước lễ vật từ UBND xã lên khu cửa rừng. Nghi thức diễn ra dưới gốc cây Táu Mật cổ thụ. Lễ vật để dâng cúng rừng gồm một cặp gà trống mái, một con lợn được 2 nam, 2 nữ khiêng, rượu, cơm xôi... 

Lễ vật là con lợn được 2 nam, 2 nữ khiêng. Ảnh Hoàng Hữu 


Đến giờ lành, thầy cúng kính cẩn dâng hương, lần lượt quay về 4 phía gõ mõ và khấn mời thần linh về chứng giám, hưởng lễ vật, phù hộ, ban lộc rừng cho người dân, cầu cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu… Sau đó, thầy cúng cùng một số thanh niên trong xã thực hiện việc cắt tiết gà, tiết lợn, lông của gà được phết máu và dán lên gốc cây cổ thụ. 

Thầy cúng Sùng A Sềnh làm lễ: “Các thần rừng về chứng giám, ăn tết rừng dân bản đã cúng vào cây, mong thần rừng phù hộ gió vào, gió qua đi không làm sập nhà, trời mưa đất không sập, mưa thuận gió hòa cho bà con làm ăn.” Ảnh: Hoàng Hữu 


Đặc biệt, lễ hội cúng rừng còn được xem như một cuộc họp tổng kết của thôn bản về công tác bảo vệ rừng, có sự tham gia của tất cả các chủ hộ trong thôn, cán bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền xã. Việc thực hiện hương ước, quy ước về bảo vệ rừng đầu nguồn góp phần quan trọng trong việc bảo vệ rừng nguyên sinh Nà Hẩu. 


Người dân thụ lộc giữa đại ngàn rừng Táu Mật. Ảnh: Hoàng Hữu 


Thầy cúng Sùng A Sềnh cho biết: "Tết rừng là truyền thống của người Mông chúng mình, để cầu mong thần rừng sẽ mang lại cuộc sống ấm no cho dân bản. Trong ba ngày tết rừng, cả bản bảo nhau không ai được lên chặt cây, săn bắt, đào măng, lấy củi từ rừng. Tết rừng cũng là dịp để nhân dân trong bản lên kế hoạch cho việc bảo vệ rừng cho cả năm nữa." 

Con lợn sẽ được mổ ngay tại địa điểm tổ chức lễ cúng. Ảnh: Hoàng Hữu 


Ông Vũ Xuân Bá, Chủ tịch UBND xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cho biết: Hằng năm xã cùng các thôn đều tổ chức lễ tết rừng. Thông qua hoạt động này, ý thức của người dân về bảo vệ rừng được nâng cao. Ngoài ra, Tết rừng cũng là dịp tuyên truyền, quảng bá các phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Mông xã Nà Hẩu. 


Tại lễ hội cúng rừng người dân còn tham gia các hoạt động thể thao truyền thống... Ảnh: Hoàng Hữu 



Và các hoạt động giao lưu văn hóa văn nghệ. Ảnh:Hoàng Hữu 


Lễ hội “Tết Rừng” của người Mông thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Quốc gia Nà Hẩu, huyện Văn Yên (Yên Bái) là một trong những nghi lễ truyền thống tốt đẹp. Đây là nghi lễ truyền thống gắn con người với thiên nhiên, mang giá trị nhân văn sâu sắc, đồng thời nâng cao ý thức của người dân địa phương trong việc bảo vệ rừng, bảo vệ thiên nhiên.

Hoàng Hữu

Độc đáo củi hứa hôn của thiếu nữ Giẻ-Triêng

đăng 01:30, 5 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Trước khi cưới, các cô gái phải chuẩn bị hàng trăm bó củi rừng để đưa sang nhà chồng. Họ gọi đó là củi hứa hôn. Đây là nét văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc của người Giẻ-Triêng ở vùng biên giới 2 huyện Ngọc Hồi và Đăk Glei. Bây giờ, tục này vẫn duy trì...

Chuẩn bị củi hứa hôn từ tuổi 15

Đầu năm 2019, theo chân ông A Xíu - cán bộ Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Đăk Glei về làng Đăk Ung (xã Đăk Nhoong), chúng tôi chứng kiến nhiều nhà có "núi" củi hai đầu phẳng phiu xếp ngay ngắn bên hiên nhà, trước sân.

A Xíu cho biết đó là "củi hứa hôn" của con gái người Giẻ -Triêng trong làng, phần lớn là củi đã "bắt chồng" rồi (nghĩa là đã làm đám cưới).

Đến nhà bà Y Lép, thấy đống củi cao còn mới, hỏi thì quả là nhà vừa làm đám cưới cho con trai.

"Con gái Giẻ -Triêng là vậy. Muốn cưới chồng phải chuẩn bị củi hứa hôn. Bây giờ mỗi đứa chỉ làm 100-200 bó củi thôi, còn ngày xưa phải làm gấp 2-3 lần" - bà Y Lép nói.

Giúp thiếu nữ chuẩn bị củi hứa hôn 


Bà kể, xưa bà phải làm 400 bó củi. Mỗi ngày vào rừng, tìm cây dẻ, lựa thân cây thẳng, ít mắt mà chặt thành từng bó, mỗi bó 4 cây, dài khoảng 1m. Độc đáo là cây củi nào cũng được chẻ ra nhưng dính chặt, không bị tách rời, hai bên đầu thẳng láng như mài.

"Củi càng đẹp thì càng thể hiện lòng thành của nàng dâu. Cứ nhìn vào bó củi là biết cô gái khéo léo hay không"- bà Y Lép nói.

- "Mất bao lâu mới xong mấy trăm bó củi"- chúng tôi hỏi.

Bà Y Lép cho biết, để chuẩn bị mất rất nhiều thời gian, nhanh là nửa tháng, còn thường là đến cả tháng. Tuy nhiên, đó là nhờ bà con dòng họ trong làng giúp đỡ, còn một thân một mình thì không biết bao nhiêu thời gian mới xong.

Uống rượu cần bên bếp lửa ấm, nghe người Giẻ-Triêng làng Đăk Ung kể chuyện, chúng tôi mới hay, con gái người Giẻ -Triêng mới 15 tuổi đã đi tập làm, chuẩn bị củi hứa hôn.

Theo chị Y Nhớ, con gái Giẻ-Triêng phải chặt củi ít nhất từ 400-500 bó củi, tất cả phải thể hiện được sự khéo léo. Hành trang vào rừng chặt củi là cây rìu, cây rựa thật sắc và cái gùi. Con gái cũng cần sức khỏe, khéo léo mới lấy được nhiều củi.

“Tuy nhiên, cái khó nhất của củi hứa hôn là tập bổ củi cho hai đầu láng bóng, củi chẻ ra thành 3 miếng khác nhau nhưng dính chùm. Có người phải mất 2 năm mới tập xong việc bổ củi. Những ai tập làm đều được những phụ nữ lớn tuổi trong làng cầm tay chỉ việc" - chị Y Nhớ cho biết.

Đó là chưa kể, trong hàng trăm bó củi hứa hôn, ít nhất phải có 30 bó củi bằng cây xà nu đỏ (cây thông đỏ). Loại này chỉ cần bỏ vào bếp là cháy bùng lên, nhựa xà nu thơm lừng và dù cháy to nhưng không có than đỏ bắn ra ngoài. Khi củi đã chuẩn bị xong, trước ngày cưới, cô gái và gia đình phải tự cõng về nhà chồng, bao giờ đủ số mới được "bắt chồng".

Gìn giữ nét văn hóa và giữ rừng

Củi hứa hôn không chỉ người Giẻ-Triêng ở Đăk Glei mà người Giẻ -Triêng ở Ngọc Hồi cũng có phong tục tương tự.

Tìm về làng Dục Nhày 2 (xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi), chúng tôi chứng kiến cảnh những phụ nữ lớn tuổi trong làng đang đưa các sơn nữ đi làm củi hứa hôn.

Chị Y Thông (30 tuổi) cho biết, ở đây khi con gái 15 đến17 tuổi là được người lớn lựa ngày ít đi rẫy, dẫn vào rừng tập bổ củi làm củi hứa hôn. Cứ sáng đi vào rừng, trưa ăn cơm tại rừng và chiều cõng củi về. Đi khoảng 3 ngày như vậy thì làm được 70-80 bó củi.

"Củi bây giờ không còn cây dẻ, cây thông nữa đâu, vì cán bộ tuyên truyền không phá rừng. Vì vậy, giờ các em phải dùng cây bời lời thay củi dẻ"- Y Thông cho biết.

Cây bời lời được người Giẻ-Triêng trồng rất nhiều, vỏ bán ra để làm nhang hương thắp, thân thì bán làm củi.

Già A Nghe (81 tuổi, làng Đăk Dục) giải thích: đã là con gái người Giẻ-Triêng thì phải làm củi hứa hôn. Chúng tôi xem củi này như giúp cho tình yêu vợ chồng ngày càng bền chặt, tốt đẹp hơn, nó thể hiện khéo léo, chăm chỉ của người con gái. Chính vì ý nghĩa này nên bó củi hứa hôn bao đời nay luôn được duy trì.

Cũng theo già A Nghe, dù tìm củi rừng đẹp có khó hơn trước đây, nhưng cái cốt vẫn giữ được phong tục tốt đẹp này. Do đó, đồng bào Giẻ-Triêng không vào rừng tìm cây gỗ để làm củi hứa hôn, mà chuyển sang cây trồng như cây bời lời để vừa duy trì nét văn hóa đặc sắc, vừa giữ được rừng, lại còn mang lại hiệu quả kinh tế.

Ông A Xíu - Cán bộ Phòng Văn hóa- Thông tin huyện Đăk Glei cho hay, xưa và nay thì củi hứa hôn có nét khác nhau. Nếu ngày xưa, con gái Giẻ vào rừng tìm cây dẻ và thông đỏ, thì nay người dân chọn cây bời lời làm củi hứa hôn.

Ông Trần Hữu Thảo - Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh (huyện Đăk Glei) cho biết: Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh có 64 cộng đồng thôn làng bao bọc, chủ yếu là người dân tộc Giẻ-Triêng, hoạt động khai thác củi để làm củi hứa hôn là nét truyền thống văn hóa bao đời nay của đồng bào dân tộc thiểu số người Giẻ -Triêng. Để phục vụ công tác quản lý bảo vệ rừng tốt, đồng thời giữ được phong tục tập quán văn hóa của người địa phương trong khu bảo tồn, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh phối hợp chính quyền các xã, thị trấn trên địa bàn tổ chức tuyên truyền công tác quản lý bảo vệ rừng, trong đó đề cập công tác khai khác lâm sản làm củi hứa hôn cho đồng bào dân tộc thiểu số. Theo đó, đã hướng dẫn bà con sử dụng củi ở vườn rừng sau khai thác như cà phê, bạch đàn, keo lai để làm củi hứa hôn... vì vậy, không có tình trạng bà con vào chặt cây rừng lấy củi hứa hôn. 

Đã là con gái người Giẻ-Triêng thì phải chuẩn bị củi hứa hôn 


Củi hứa hôn là nét văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc của người Giẻ- Triêng ở Kon Tum. Trải qua nhiều năm, nét văn hóa truyền thống này vẫn được thiếu nữ Giẻ- Triêng ở huyện vùng biên Ngọc Hồi và Đăk Glei duy trì. Điều đáng nói, với sự tuyên truyền vận động của chính quyền địa phương, đồng bào Giẻ- Triêng có những linh hoạt trong việc chuẩn bị củi hứa hôn của các cô gái sắp về nhà chồng nên vừa giữ được tập tục văn hóa của dân tộc mình, vừa bảo đảm không chặt củi phá rừng. 

P.N - P.A

Dân làng Kon Braih vui lễ hội Kă Pơ Lêh

đăng 01:19, 5 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Theo phong tục truyền thống trước đây và bây giờ đã được đưa vào quy ước, hương ước của thôn (làng), cứ đúng ngày 25 tháng 2 hàng năm - thời điểm chuẩn bị bước vào vụ sản xuất rẫy - bà con dân làng Kon Braih (xã Ngọc Réo, huyện Đăk Hà) lại tổ chức lễ hội Kă Pơ Lêh (tết làng) dưới góc độ cộng đồng làng.

Khác với mọi ngày, sáng nay, gian bếp của gia đình chị Y Dênh (ở thôn Kon Braih) đỏ lửa từ rất sớm để chế biến các món ăn truyền thống kịp đầu giờ chiều mang lên nhà rông cùng bà con trong làng tổ chức lễ hội Kă Pơ Lêh.

Chị Y Dênh cho biết, để chuẩn bị cho lễ hội đặc biệt quan trọng trong năm này, ngày hôm trước, chồng chị - anh A Thu phải tranh thủ đi rừng để bẫy chuột, bẫy sóc; còn chị thì cùng chị em phụ nữ trong làng đi rừng để hái lá ming, đọt mây về chế biến các món ăn.

Bà con dân làng cùng chẻ ống cơm lam cho vào nia để già làng làm lễ cúng thần linh 


Với lễ hội Kă Pơ Lêh, gia đình chị Y Dênh không thể thiếu các món ăn truyền thống của đồng bào Tơ Đrá (Xơ Đăng) như cơm lam, thịt chuột (hoặc thịt sóc) nấu mè, thịt chuột nấu lá môn, đọt mây nướng, đọt mây luộc… Năm nay, anh A Thu bẫy được gần chục con chuột, con sóc nên chị Y Dênh cố gắng chế biến món ăn với số lượng nhiều hơn để thết đãi bà con dân làng.

Anh A Thu cho biết, con chuột, con sóc sau khi lấy từ rừng về sẽ được làm sạch ruột, thui lông rồi treo ở gác bếp. Hôm sau - đúng ngày diễn ra lễ hội - vợ anh sẽ lấy xuống để chế biến các món ăn.

Từ xa xưa cho đến ngày nay, đồng bào Tơ Đrá ở làng Kon Braih luôn quan niệm, trong lễ hội Kă Pơ Lêh, nếu gia đình nào nấu càng nhiều món ăn truyền thống ngon thì chứng tỏ phụ nữ trong gia đình ấy càng khéo léo, giỏi giang.

Với chị Y Dênh, năm nào cũng vậy, luôn dành nhiều thời gian để chăm chút nấu từng món ăn truyền thống bằng cả tâm huyết của mình nên rất được bà con dân làng khen ngợi.

Theo chị Y Dênh, món ăn truyền thống chế biến kỳ công nhất là thịt chuột hoặc thịt sóc nấu với lá ming. Kỳ công ở đây là để làm ra món ăn này phải tốn nhiều công sức tìm kiếm các nguyên vật liệu; từ việc chịu khó đi bẫy chuột, bẫy sóc, đến việc hái lá ming, đều phải lặn lội vào tận rừng sâu.

Lá ming lấy về rửa sạch rồi mang giã nhuyễn. Thịt chuột, thịt sóc sau lấy về làm sạch ruột, thui lông, bằm nhỏ, ướp muối và bột nêm rồi trộn với lá ming giã nát cho vào ống lồ ô nướng trên bếp than.

Cách nấu món thịt chuột với hạt mè theo chị Y Dênh có phần đơn giản hơn. Hạt mè sau khi hái ở rẫy về rửa sạch, bỏ phần hạt lép, rang sơ qua rồi mang giã nhuyễn. Thịt chuột được cắt thành từng đoạn nhỏ ướp ít muối và bột nêm. Chuẩn bị xong nguyên liệu đâu đó, chỉ cần lấy một ít nước cho vào nồi đun sôi lên rồi cho thịt chuột và hạt mè đã giã nhuyễn vào nấu chín là được.

Cùng với hộ gia đình chị Y Dênh, dạo một vòng quanh làng Kon Braih, chúng tôi nhận thấy gian bếp nhà nào cũng đỏ lửa để nướng cơm lam và các món ăn truyền thống. Nhà có điều kiện khá giả thì chế biến nhiều món ăn hơn, nhà không có điều kiện thì chế biến với số lượng ít hơn, nhưng cơm lam và thịt chuột thì gần như nhà nào cũng có. Bà con Tơ Đrá nơi đây chuẩn bị cho lễ hội Kă Pơ Lêh thật vui vẻ và đầm ấm.

Chị Y Tuyết (thôn Kon Braih) nói trong niềm vui: Hôm nay là tết làng nên nhà nào cũng đều vui vẻ. Ngoài nấu các món ăn truyền thống để mang lên nhà rông, gia đình tôi còn chuẩn bị ghè rượu thật to trước để cúng thần linh, sau để thết đãi dân làng, cầu chúc cho mọi nhà, mọi người có được sức khỏe để chuẩn bị bước vào vụ mùa mới bội thu hơn.

Ông A Téo - bố của chị Y Tuyết là người rất am hiểu về văn hóa truyền thống của đồng bào Tơ Đrá cho chúng tôi biết: Với bà con dân làng nơi đây, lễ hội Kă Pơ Lêh mang một ý nghĩa hết sức quan trọng. Vì trước đây mỗi năm bà con chỉ có một vụ lúa nên đây là thời điểm tổng kết vụ mùa năm cũ nhắc nhở bà con dân làng chuẩn bị tâm thế để bước vào vụ mùa mới. Lễ hội là dịp để bà con dân làng gặp gỡ nhau, chia sẻ cho nhau những thành quả, kinh nghiệm trong sản xuất. Lễ hội cũng gắn kết tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng hơn qua nghi lễ các gia đình cùng chẻ cơm lam trộn chung vào một cái nia sau đó già làng phân chia lại cho từng người. Trong một cái nia cơm với đủ các loại gạo nếp, gạo tẻ, gạo trắng, gạo đỏ lẫn lộn; người này ăn cơm của nhà kia chứ không hẳn là ăn cơm của nhà mình, thể hiện được sự chia bùi sẻ ngọt, đồng cam cộng khổ, sự yêu thương, gắn kết với nhau trong một cộng đồng làng…

Mặc dù bận rộn cùng gia đình chuẩn bị các món ăn truyền thống để đầu giờ chiều mang lên nhà rông cùng bà con dân làng tổ chức lễ hội Kă Pơ Lêh, nhưng từ sáng, già làng A Pu và thôn trưởng A Cường đã tranh thủ lên nhà rông để dọn dẹp cho sạch đẹp.

Bên mái nhà rông cao vút của làng, già làng A Pu kể chuyện, với bà con Tơ Đrá ở xã Ngọc Réo nói chung và dân làng Kon Braih nói riêng, lễ hội Kă Pơ Lêh có ý nghĩa rất quan trọng. Lễ hội cầu mong thần linh phù hộ sức khỏe, một mùa vụ mới được mưa thuận, gió hòa để cho bà con có được cuộc sống no đủ. Từ bao đời nay, dù cuộc sống có nhiều thay đổi nhưng bà con dân làng Kon Braih vẫn lưu giữ được văn hóa truyền thống này, từ hình thức tổ chức cho đến các nghi lễ và đặc biệt là việc chế biến các món ăn truyền thống.

Phụ nữ làng Kon Braih chuẩn bị các món ăn truyền thống để mang lên nhà rông 


Già A Pu cho biết, trước kia cũng như hiện nay, lễ hội Kă Pơ Lêh chỉ diễn ra trong vòng 1 ngày. Buổi sáng, bà con chế biến các món ăn tại gia đình mình, đến đầu giờ chiều mọi người cùng mang thức ăn và rượu ghè lên nhà rông để già làng làm lễ khấn cầu mong thần linh phù hộ cho bà con dân làng có được sức khỏe để bước vào một vụ mùa mới bội thu hơn.

Đúng như lời của già A Téo giới thiệu trước đó, tại lễ hội Kă Pơ Lêh, chúng tôi đã được chứng kiến già làng A Pu thực hiện một nghi lễ hết sức độc đáo và quan trọng đó là ra hiệu cho từng gia đình cùng chẻ ống cơm lam đã được nướng sẵn trước đó cho vào cùng một chiếc nia lớn đặt ở giữa nhà rông để làm lễ khấn thần linh. Sau khi khấn xong, già làng cẩn thận gói từng phần cơm trong chiếc lá vả rồi chia lại cho bà con dân làng cùng ăn.

Già làng A Pu cho biết, nghi lễ này luôn được bà con dân làng Kon Braih gìn giữ và duy trì từ bao đời nay mỗi khi tổ chức lễ hội Kă Pơ Lêh, càng thể hiện được tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng của bà con dân làng.

Theo thôn trưởng A Cường, hiện nay, thôn Kon Braih có 88 hộ (340 khẩu). Bà con trong thôn luôn đoàn kết, giúp nhau vượt qua khó khăn hoạn nạn cũng như trong làm ăn để phát triển kinh tế gia đình. Từ chỗ chỉ trồng mì, trồng lúa rẫy, đến nay, nhờ hỗ trợ từ các chương trình giảm nghèo và sự giúp đỡ, học hỏi lẫn nhau, bà con trong thôn đã phát triển được 50ha cao su, 45ha bời lời, gần 40ha cà phê, 23ha lúa nước…, qua đó giúp giảm tỉ lệ hộ nghèo của thôn xuống còn 38,6%.

Sau phần nghi lễ, theo hiệu lệnh của già làng, bà con dân làng cùng đánh cồng chiêng, múa xoang, mời nhau thưởng thức những món ăn truyền thống và uống rượu cần chung vui đến tối. 

Bài và ảnh: TÚ QUYÊN

Độc đáo sáo mũi Khơ Mú

đăng 06:08, 2 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chị Quàng Thị Dua, (bản Púng Giắt 1, xã Mường Mươn, Mường Chà, Điện Biên) là một trong số ít nghệ nhân diễn tấu và chế tác được sáo mũi của người Khơ Mú. Không chỉ lưu giữ một di sản văn hóa quý báu của người Khơ Mú đang bị thất truyền, chị còn tích cực truyền dạy cho thế hệ trẻ. 

Nắm giữ di sản âm nhạc dân gian quý báu 

Người Khơ Mú vốn gắn liền tập quán canh tác nương rẫy và cuộc sống sinh hoạt với thiên nhiên, đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào vì thế mang đậm dấu ấn của núi rừng. Nhạc cụ truyền thống của đồng bào hầu hết được làm bằng tre, nứa và đều có nguồn gốc từ những vật dụng quen thuộc để sản xuất, sinh hoạt. Phụ nữ Khơ Mú không những chăm chỉ, tháo vát mà còn có khả năng đặc biệt trong thẩm âm, cảm thụ âm nhạc cũng như khéo léo chế tác và diễn tấu nhạc cụ tre nứa. Hầu hết phụ nữ ở bản Púng Giắt 1 đều biết sử dụng thành thạo các nhạc cụ tre, nứa như đao đao, tăng bu hoặc sáo và gìn giữ được làn điệu Tơm trong sinh hoạt văn hóa. Những di sản văn hóa dân gian đơn sơ, mộc mạc như chính cuộc sống của đồng bào, được đồng bào lưu truyền qua bao thế hệ. 

Chị Quàng Thị Dua diễn tấu sáo mũi . 


Tuy nhiên, với sáo mũi hay còn gọi là pí tót thì đến nay rất ít người còn biết sử dụng. Chị Quàng Thị Dua là 1 trong 2 người ở bản Púng Giắt 1 và số ít người trong cộng đồng dân tộc Khơ Mú ở Điện Biên thành thạo diễn tấu cũng như chế tác loại nhạc cụ độc đáo này.

Những nhạc cụ truyền thống bằng tre, nứa của người Khơ Mú khá đơn giản nhưng có hiệu quả cao về nhạc điệu. Nhiều nhạc cụ, trong đó có sáo mũi - chỉ là những ống tre, nứa cắt thành đoạn để sử dụng - tận dụng độ vang theo dạng ống và kinh nghiệm sử dụng nguyên liệu (độ già của tre, nứa) hoặc đục lỗ, cắt khe để tăng hiệu quả âm thanh. 

Sáo mũi phải làm từ ống tre (tơ la) thẳng, dài hơn nửa mét, loại bánh tẻ để có độ vang tốt nhất. 2 đầu là 2 đốt mắt để sáo có độ kín hơi. Sau khi phơi trong râm để ống tre khô, đục 2 lỗ nhỏ - 1 lỗ trên dùng thổi hơi vào, 1 lỗ dưới dùng để bấm chỉnh âm thanh phát ra của sáo. Âm thanh phát ra từ việc dùng hơi từ mũi. Người thổi phải biết cách lấy hơi, giữ nhịp để tạo âm và tiết tấu bằng hơi từ mũi, theo làn điệu dân ca đang hát. Khi diễn tấu, người diễn tấu sử dụng một tay, 1 tay bấm vào lỗ ở 1 phía đầu sáo, 1 lỗ sẽ được dùng hơi từ mũi để thổi. Tay còn lại sẽ dùng để múa theo nhịp điệu bài dân ca. Sáo được sử dụng vào những dịp lễ tết, ngày hội và các buổi giao lưu văn nghệ.

“Tôi học thổi sáo mũi từ mẹ tôi đấy. Bà ấy là 1 trong những người thổi sáo hay nhất bản. Tôi được mẹ hát ru với cây sáo mũi và được nghe bà thổi Tót tơm - sáo dọc. Năm 16 tuổi, tôi bắt đầu tự học thổi các loại sáo. Lúc đầu thổi sáo rất khó khăn vì không biết lấy hơi nên thổi không ra tiếng nhưng kiên nhẫn một chút và quyết tâm học, ngày qua ngày rồi biết thổi thôi” - chị cho biết.

Thổi niềm đam mê tới giới trẻ 

Ngoài việc ruộng nương và chăm sóc gia đình, chị Quàng Thị Dua dành nhiều thời gian cho tình yêu và niềm đam mê với các giá trị văn hóa truyền thống, dân gian của dân tộc mình. Đây là phần làm nên sức sống mãnh liệt, vượt lên gian khó, lạc quan yêu đời của người Khơ Mú mà các thế hệ cha ông xưa đã sáng tạo, tích lũy trong lao động.

Tình yêu với sáo, những làn điệu dân ca và những giá trị văn hóa của người Khơ Mú ở chị Quàng Thị Dua không chỉ dừng lại ở sự đam mê cá nhân. Mỗi ngày chị âm thầm lan tỏa tình yêu đó sang những người xung quanh, nhất là thế hệ trẻ. Chị vừa diễn tấu thành thục sáo dọc, sáo mũi, vừa hát và sáng tác các làn điệu dân ca với lời mới. 

Sáo mũi của người Khơ Mú. 


Điều mà Quàng Thị Dua lo lắng là khi một ngày nào đó không xa, không ai còn nhớ cách thổi sáo, hát Tơm. Vì vậy, chỉ cần bạn trẻ quan tâm, chị không tiếc thời gian, công sức để truyền dạy. Ở Púng Giắt 1, Quàng Thị Dua là hạt nhân đội văn nghệ, kết nối các thành viên lan tỏa tình yêu và trách nhiệm gìn giữ vốn quý của cha ông.

Được sự quan tâm của phòng Văn hóa thông tin huyện Mường Chà và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên, chị đã phối hợp để truyền dạy các bạn trẻ ở bản hát dân ca, diễn tấu sáo. Chị tận tình hướng dẫn các bạn trẻ cách sử dụng và chế tác các sáo dọc, sáo mũi cũng như diễn xướng dân ca Khơ Mú. Quàng Thị Típ là người trong bản được Quàng Thị Dua truyền dạy thành công diễn tấu sáo mũi.

Chị cũng là người am hiểu và nắm vững những phong tụ tập quán, lễ hội truyền thống của người Khơ Mú. Đặc biệt, với khả năng truyền đạt tốt cả tiếng nói, ngữ văn dân gian, các trò chơi dân gian, các chuẩn mực đạo đức, nghề dệt, trang phục, tri thức dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian của người Khơ Mú. 

Chị tham gia tích cực hoạt động giới thiệu nét văn hóa độc đáo của người Khơ Mú nói chung, sáo mũi nói riêng trong và ngoài tỉnh. Tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, tiết mục diễn tấu sáo mũi của chị trong Ngày hội sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc năm 2018 đã thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước thưởng thức và tìm hiểu. 

Năm 2018, chị là một trong 26 nghệ nhân được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị Nhà nước phong tặng Nghệ nhân ưu tú về trình diễn dân gian thổi sáo bằng mũi.

Không có chị với tình yêu dành cho sáo mũi, có lẽ, đến một lúc nào đó không xa, người Khơ Mú đã đánh mất đi một giá trị văn hóa vô cùng độc đáo của mình.

Trịnh Thị Hiền

1-10 of 24