Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Người Hà Nhì đen “nhảy que” trong lễ hội cầu mùa Cũng giống như các trò chơi khác, "đu quay", "cầu bập bênh", "múa khăn", trò chơi “nhảy que” của người Hà Nhì vừa có tác dụng rèn luyện sức khỏe ...
    Được đăng 02:59, 17 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bếp lửa trong đời sống của người Xơ Đăng Đối với người Xơ Đăng huyện vùng cao Nam Trà My (Quảng Nam), bếp lửa không chỉ là nơi để đồng bào nấu cơm hàng ngày, nơi để họ sưởi ...
    Được đăng 19:39, 10 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lễ hội Hết Chá của đồng bào Thái ở Mộc Châu Lễ hội Hết Chá là hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh sâu sắc, là lễ hội đoàn kết cộng đồng, cùng giúp nhau vượt qua những khó khăn ...
    Được đăng 08:44, 8 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đặc sắc lễ hội hoa ban của người Thái Lễ hội hoa ban được tổ chức tháng 2 Âm lịch hằng năm vào mùa hoa ban nở rộ ở Chiềng Khoa, Vân Hồ (Sơn La) của người dân tộc ...
    Được đăng 08:34, 8 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lễ hội thành Tuyên Lễ hội thành Tuyên là Lễ hội rước đèn trung thu khổng lồ của người dân thành phố Tuyên Quang (Tỉnh Tuyên Quang) trong những ...
    Được đăng 02:49, 5 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Người Hà Nhì đen “nhảy que” trong lễ hội cầu mùa

đăng 02:59, 17 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Cũng giống như các trò chơi khác, "đu quay", "cầu bập bênh", "múa khăn", trò chơi “nhảy que” của người Hà Nhì vừa có tác dụng rèn luyện sức khỏe, vừa có ý nghĩa cố kết cộng đồng, tạo sự gần gũi, gắn bó, đoàn kết giữa các dân tộc trên địa bàn xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

Người Hà Nhì vui hội với trò “nhảy que”

Trong nhiều năm qua, các môn thể thao và trò chơi dân gian luôn là hoạt động không thể thiếu và là nét đẹp văn hóa tinh thần trong những ngày lễ hội của đồng bào các dân tộc.

Đối với người Hà Nhì đen, “Ngày tết” có tính chất vui chơi giải trí và cầu nguyện "Ngũ cốc được mùa". Trong thời gian ngày lễ, người của các thôn bản vào rừng chặt một cây gỗ chắc mà thẳng và một vài dây leo mang về để làm bàn đu trò vui chơi giải trí cho lễ hội. Lễ hội diễn ra khoảng từ 3 - 5 ngày. Mỗi năm ngày "Tết tháng 6" đến, cả bản nhộn nhịp với quần áo mới, đông đảo đồng bào vui chơi quanh bàn đu quay chào đón ngày hội.

Người Hà Nhì vui mùa lễ hội. 


Trò chơi "Nhảy que" của người Hà Nhì đen là một trò vui không thể thiếu trong các dịp hội làng, lễ cúng rừng, Tết cổ truyền, Tết thiếu nhi hay tham gia giao lưu văn hóa văn nghệ với các dân tộc khác… Để tiến hành trò chơi, người Hà Nhì chuẩn bị những chiếc que và nhiều công đoạn. Chiếc que được lựa chọn cho cuộc chơi thường to bằng ngón tay cái, là cành cây tre hoặc nhánh cây luồng, có độ dài khoảng 3 mét. Đầu tay cầm được hơ qua lửa cho dẻo rồi xoắn lại để khi quay không bị gãy. 

Trò chơi được bắt đầu khi một người bất kỳ quay chiếc que liên tục theo vòng tròn 360 độ, sát mặt đất. Người tham gia nhảy que không phân biệt lứa tuổi, giới tính, dân tộc cùng hòa vào cuộc chơi. Họ có thể nhảy đơn, nhảy đôi, hay xếp thành vòng tròn nắm tay nhau cùng nhảy. 

Hình thức nhảy đơn trong trò chơi nhảy que. 


Trong quá trình nhảy, mọi người phải khéo léo nhảy lên cao bằng một hoặc cả hai chân mỗi khi chiếc que quay tới, bởi nếu ai đó nhảy không kịp, bị chiếc que đập vào chân thì cuộc chơi sẽ bị tạm ngừng. 

Trò chơi nhảy que của người Hà Nhì có vai trò vô cùng quan trọng trong sinh hoạt, góp phần giáo dục về tính tập thể, tinh thần kỷ luật, ý chí vươn lên giành chiến thắng, rèn luyện thể chất, sức mạnh, dẻo dai, khôn khéo và sức chịu đựng của con người, giúp con người ngày càng phát triển toàn diện về trí, đức, thẩm, mỹ. Thông qua các trò chơi còn có thể nâng cao thể chất, ý chí phấn đấu của con người; giáo dục ý thức cộng đồng, bản sắc và truyền thống văn hoá dân tộc cho các thế hệ.

Bảo tồn trò chơi dân gian truyền thống 

Những trò chơi dân gian hình thành, phát triển qua lao động sản xuất, đấu tranh sinh tồn của mỗi cộng đồng dân tộc, những trò chơi dân gian truyền thống của mỗi dân tộc đều lưu giữ tinh hoa, hồn cốt của chính dân tộc trong đó. Bởi vậy, dù cách chơi có đơn giản hay phức tạp nhưng các trò chơi dân gian vẫn tồn tại và lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Đứng trước sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, trò chơi dân gian trong lễ hội cầu mùa cũng như bao trò chơi dân gian truyền thống của đồng bào Hà Nhì đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. 

Trò chơi rèn luyện sự dẻo dai của người Hà Nhì. 


Trò chơi dân gian truyền thống của đồng bào Hà Nhì có giá trị lịch sử, văn hóa vô cùng độc đáo. Đó còn thể hiện tính cộng đồng, tính tập thể, tinh thần đoàn kết trong nhân dân rất cao. Càng đặc biệt hơn khi các trò chơi dân gian này chỉ được lưu truyền bằng hình thức truyền miệng, truyền tay và được học hỏi trong quá trình biểu diễn hay thi đấu. 

Chính những trò chơi dân gian đã làm nên bản sắc đặc trưng và khác biệt của mỗi cộng đồng. Việc khôi phục lại các lễ hội truyền thống, trong đó có các trò chơi dân gian như đu quay, nhảy que, đu dây… cần được quan tâm hơn nữa. Bên cạnh đó, các phong trào tổ chức ngày hội văn hóa - thể thao diễn ra sôi nổi cũng góp phần không nhỏ vào việc bảo tồn các trò chơi dân gian. Nhưng cần thiết hơn nữa là việc tổ chức thường xuyên tạo thành nếp sinh hoạt của đồng bào. Để mọi người có thể tham gia cùng nhau thi tài, cũng là cơ hội truyền dạy cho thế hệ trẻ cũng như gìn giữ được nét văn hóa tốt đẹp trong đời sống.

Việc bảo tồn phát huy những giá trị văn hóa đã được đồng bào Hà Nhì chú trọng. Nhiều tổ chức xã hội và cá nhân đã nỗ lực hết mình góp phần xây dựng những phong tục tập quán, gìn giữ những giá trị của trò chơi dân gian truyền thống trong lễ hội cầu mùa nhằm nâng cao nhu cầu hưởng thụ văn hóa của đồng bào.

Thu Hằng - Ảnh: Minh Tiến

Bếp lửa trong đời sống của người Xơ Đăng

đăng 19:39, 10 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đối với người Xơ Đăng huyện vùng cao Nam Trà My (Quảng Nam), bếp lửa không chỉ là nơi để đồng bào nấu cơm hàng ngày, nơi để họ sưởi ấm vào những đêm rừng Trường Sơn lạnh giá...

Bếp lửa còn là nơi để người già kể sử thi, người trẻ học những câu chuyện cổ tích, nơi gắn kết tình làng nghĩa xóm, nơi tụ hội cho những câu hát, giao duyên, khởi nguồn cho tình yêu đôi lứa. 

Lửa trong đời sống tâm linh

Theo một số người già Xơ Đăng lớn tuổi ở làng Măng Tó (thôn 2), xã Trà Cang, huyện Nam Trà My cho biết: Từ xa xưa, bắt đầu từ trong đời sống tâm linh, người Xơ Đăng luôn có một lòng tin tuyệt đối vào thần Lửa - vị thần hiện thân cho sự may mắn phù hộ con người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. 

Bếp lửa trong một gia đình người Xơ Đăng ở thôn 3, xã Trà Dơn,huyện Nam Trà My, Quảng Nam. 


Thần Lửa có một vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày và cả những ngày lễ hội của gia đình như: Lễ thổi tai, lễ cúng lúa mới... Hàng năm, cứ đến ngày đầu năm mới, mỗi gia đình người Xơ Đăng bao giờ cũng cử 1 người đi rước thần Lửa từ nhà rông về nhà mình, trang trọng châm vào bếp, lửa đỏ bừng đón mừng ngày đầu năm mới, lửa cháy sáng đem đến niềm tin được mùa no đủ, gia đình an vui sung túc, con trai, con gái khoẻ đôi vai, dẻo đôi chân. 

Theo phong tục cổ truyền, người Xơ Đăng thường tổ chức lễ lấy lửa trong lễ hội máng nước vào mùa xuân. Buổi lễ cúng gọi thần Lửa đã được chuẩn bị từ nhiều ngày trước, đến đêm hành lễ thì dân làng tụ tập đầy đủ dưới khoảng sân trước nhà rông. Già làng giết gà, heo hoặc dê hiến tế, dùng máu con vật hiến sinh bôi lên những ngọn đuốc đã chuẩn bị chờ sẵn và cọ hai thanh tre vào nhau để phát ra ngọn lửa. Từ đây, ngọn lửa được chia về với từng bếp lửa cộng đồng.

Hình ảnh bếp lửa được tái hiện trong lễ mừng lúa mới của dân tộc Xơ Đăng tại Làng Văn hóa - Du lich các dân tộc Việt Nam. 


Trong đời sống sinh hoạt thường ngày

Sinh sống trong môi trường rừng núi, bếp lửa đối với người Xơ Đăng không chỉ là không gian sinh hoạt hàng ngày của cả gia đình. Ngoài làm nương rẫy, đồng bào Xơ Đăng còn có nghề săn bắt để dành thức ăn trong mùa giáp hạt, bếp lửa chính là nơi lưu trữ thức ăn tốt nhất, đặc biệt là món thịt rừng treo trên gác bếp. 

Khách đến nhà, được chủ nhà trân trọng mời ngồi quanh bếp lửa tiếp chuyện, nhưng không được lấy đũa hoặc cây củi gạt cời bếp, gõ vào bếp vì theo quan niệm làm như vậy là làm tổn hại đến thần Lửa, thần nổi giận gây xấu cho gia đình chủ. Khi một gia đình xây nhà, việc đặt bếp cũng được chú ý, phải xem xét kĩ vì mang nhiều ý nghĩa tâm linh. Sau khi thực hiện các nghi lễ liên quan, chủ nhà tổ chức giết heo, gà để cúng thần Lửa trước khi các thành viên vào nhà ở, sinh hoạt, nấu nướng. 

Đồng bào Xơ Đăng trong lễ mừng lúa mới. 


Người Xơ Đăng quan niệm rằng, lửa sẽ xua tan đi bao điều không tốt lành và đem đến những điều may mắn, ấm áp. Khách đến nhà, ngồi bên bếp lửa trò chuyện, thưởng thức thịt rừng gác bếp, thêm chút rượu ghè, thật khó có khoảng khắc nào tuyệt vời hơn. Bếp lửa luôn luôn đỏ để đem đến sự no đủ, giữ cái hồn trong gia đình. Bếp thiêng luôn đem lại sự bình yên cho dân làng, mang đến sự hòa thuận, cuộc sống ấm no hạnh phúc, tạo ra của cải vật chất dồi dào cho mỗi gia đình… 

Một số người già Xơ Đăng lớn tuổi ở làng Măng Tó cho biết thêm: Trên nương rẫy, mỗi gia đình Xơ Đăng có cái chòi nhỏ để canh lúa ngô, trên chòi này bao giờ cũng đặt một bếp lửa nhỏ để nấu nướng, canh giữ những sản phẩm của họ trên nương rẫy. Ban đêm, bếp lửa trong chòi nhỏ để che chở cái lạnh mùa đông, còn là tín hiệu báo cho nhau biết để xua đuổi thú rừng hay cho những ai lỡ độ đường rừng mà có chỗ nương nhờ. Trước khi rời khỏi nương rẫy, bao giờ chủ nhân cũng vùi lửa, vun tro than thành đụn và đặt lên đó một hòn đá như là dấu hiệu báo cho người khác biết nơi ngự trị của thần lửa, không được giẫm đạp hoặc bước ngang qua. 

Tái hiện cảnh sinh hoạt hàng ngày của đồng bào Xơ Đăng. 


Những ngày mùa đông về, không gì ấm áp hơn cảnh cả gia đình quần tụ bên bếp lửa ấm áp, nghe già làng kể chuyện xưa, sử thi, con cháu ngồi xung quanh, lắng nghe từng câu chuyện. Vào những ngày hội, cả dân làng cùng tập trung tại nhà rông, người già ngồi với nhau, cùng ôn lại kỷ niệm xưa. Những người lớn biết đan gùi, dệt vải, biết âm nhạc… mải mê truyền dạy cho lớp trẻ biết mà qua đó gìn giữ vào bảo tồn vốn văn hóa của tộc người. Đây còn là nơi để những thanh niên vừa ca hát, vui chơi, là dịp để trai gái gặp nhau ngỏ lời, bày tỏ lòng mình mà nên duyên chồng vợ.

Nhà kho trên núi của đồng bào Xơ Đăng. 


Có thể nói, bếp lửa là nơi diễn ra mọi sinh hoạt hàng ngày giản dị. Nơi người lớn gặp gỡ nhau, bàn tính chuyện làm ăn, dựng vợ gả chồng cho con cái, chia sẻ những buồn vui... Ngày nay, khi có dịp đến các xã vùng cao Trà Nam, Trà Linh, Trà Cang, Trà Dơn… thuộc huyện Nam Trà My, nơi có số đồng đồng bào Xơ Đăng sinh sống, kinh tế ngày một phát triển, các Chương trình mục tiêu quốc gia đã mở ra một diện mạo mới cho vùng cao về nhà ở, đường giao thông và nhiều công trình phúc lợi xã hội khác đã giúp đại bộ phận người Xơ Đăng xóa đói giảm nghèo. Trong điều kiện ấy, để phù hợp với môi trường sống mới, nhiều cặp vợ chồng trẻ Xơ Đăng sau khi cưới xong đã xin phép hai bên gia đình ra ở riêng, làm nhà riêng nhưng những tập tục chung quanh bếp lửa vẫn giữ nguyên vẹn.

Văn Gia Phúc

Lễ hội Hết Chá của đồng bào Thái ở Mộc Châu

đăng 08:44, 8 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Lễ hội Hết Chá là hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh sâu sắc, là lễ hội đoàn kết cộng đồng, cùng giúp nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. 

Lễ hội Hết Chá - bản sắc của đồng bào Thái

Khi hoa ban, hoa mạ nở cũng là dịp nông nhàn của đồng bào Thái. Để Lễ được tổ chức trên một khu đồi gần trung tâm bản. Thầy mo thông báo thời gian làm lễ cho các con nuôi, gia đình họ hàng ở các nơi, đội xòe và bà con trong bản cùng tham dự.

Từ thời xa xưa, xưa kia, người Thái rất nghèo, không có tiền mua thuốc chữa bệnh, thường đến nhờ thầy mo. Thầy mo dùng mẹo và nhờ thần linh nên đã chữa được bệnh cho dân làng. Mang ơn thầy mo, nhiều người xin được làm con nuôi của ông. Và rồi, cứ mỗi dịp cuối năm (vào 29, 30 Tết), con cháu lại đến tạ ơn thầy mo, nhưng thời điểm đó đang bận rộn cho tết nên thầy mo ấn định lễ tạ ơn sẽ tổ chức vào tháng 3 hàng năm... Lễ hội Hết Chá từ đó mà thành.

Cây vạn vật (cây sẳng chá) trong lễ Hết Chá 


Đây cũng là dịp để người dân tạ ơn đất trời, tạ ơn đấng sinh thành, giáo dưỡng, cầu chúc cho vạn vật hòa hợp, sinh sôi nảy nở, cuộc sống yên vui, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt bội thu, mọi người ấm no hành phúc. Lễ hội còn thể hiện ý thức gắn kết cộng đồng dân tộc Thái, cùng nhau bước vào mùa vụ mới. Cũng từ Lễ hội Hết Chá, đã có rất nhiều đôi trai gái bén duyên, rồi nên nghĩa vợ chồng. 

Con chim, con cá và con ve trên cây vạn vật (sắng chá). 



Theo ông Vì Văn Phịnh (bản Áng 1, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La), để chuẩn bị cho nghi lễ, bà con trong bản cần 20 sải vải thổ cẩm, 20 sải vải bông địa phương, lương thực, thực phẩm... Đàn ông lên rừng chặt tre dựng cây nêu hay còn gọi là cây vạn vật (sẳng chá). Đồng bào Thái lấy cây giang già về chẻ nan; phụ nữ ghép trống, đẽo thuyền, làm hoa, đan các con vật nhuộm màu đỏ, vàng, xanh để treo lên cây nêu. Vật treo gồm: 17 trống to, 12 trống nhỏ làm bằng len, 20 trống làm bằng gỗ (cống mạy), 20 thuyền gỗ (chắn đôi), 20 con ếch đan bằng tre (tô cốp), 20 con chim đan bằng tre (tô nộc), 20 quả còn nhỏ, 1.200 con ve sầu đan bằng tre (tô chắc chắn), 400 bông hoa trắng, hoa vàng (pó píp), 5 sải vải khít... Cây nêu là thân tre bương già to, dài 3m, không bị sâu bệnh. Thân cây đục 5 tầng lỗ để cắm các cành tre treo hoa, chim muông, ve sầu, quả còn... Gốc cây nêu ghép 4 thanh gỗ làm thành chân đế, đan 4 phên xếp thành hình vuông và quây vải thổ cẩm màu đỏ, bên cạnh đặt 2 chum rượu cần.

Diễn trình lễ hội

Bắt đầu nghi lễ, thầy mo hát Chá giới thiệu với tổ tiên, sư phụ đã khuất về việc làm Chá của gia đình mình trong năm, mong muốn được phù hộ công việc suôn sẻ và hát bài “Xên Chá” mời sư phụ “Phị mun” từ trên trời xuống trần gian chứng kiến.

Thầy mo mời phụ trên về
Xuống chơi làm Chá chớ đừng quên đi
Mời cả đồ đệ phu phen
Trần gian mở hội đã quen lâu rồi
Nghe mời thầy xuống cho mau
Trăm công ngàn việc mai sau hãy làm
Xuống đây ăn tết trần gian
Vào mùa hoa mạ, hoa ban sắc màu

Sau lời mời sư phụ, thầy mo đốt nến cắm vào ngọn kiếm, tay cầm quạt, vác kiếm đứng dậy đi về bên mâm lễ mặn, giơ kiếm gắn nến soi một vòng quanh cây xẳng chá để kiểm tra rồi quay về mâm lễ chay ngồi niệm bài chú. 

Nghi thức nhập ve vào cây nêu. 


Sau khi cúng trên nhà sàn xong mời đại biểu cùng bà con tham gia lễ rước con ve di chuyển xuống dưới nhà sàn về cây hoa ban nhập vào cây nêu “Sắng Chá”. Từ đây thầy cúng mời trưởng làng cùng các nghệ nhân, bà con nhân dân và du khách cùng rước cây nêu “Sắng Chá” về trước sân nhà sàn cùng tham gia phần hội trong lễ hội Hết Chá. 

Lễ rước cây nêu (sắng chá) ra địa điểm tổ chức lễ hội. 


Tiến hành nghi lễ, thầy Mo nhập tâm, “thoát xác lên trời” mời sư phụ xuống nhập vào 2 thầy cúng phụ “lãm”. Đội giúp việc nổi nhạc tắng bụ theo nhịp 2/4, 4/4. Hai ông lãm nhảy theo nhịp đấu kiếm, ông hề tay cầm mẹt đập theo nhịp tắng bụ ra cổ vũ. Hết đấu kiếm, ông lãm cầm khăn nhảy qua xẳng chá, ném cho các đôi trai gái, từng lượt nhảy múa theo nhịp tắng bụ quanh xẳng chá 3 vòng. Thầy mo dẫn sư phụ đi duyệt xẳng chá, vác kiếm đi theo nhịp tắng bụ, đến gốc cây xẳng chá dừng lại uống rượu cần, xem cây.

Thầy Mo chứng lễ cho con nuôi dâng quà tặng. 


Con nuôi ở khắp bản trên, mường dưới lần lượt đến tặng quà “sống chướng liểng” như: gạo, gà, cá nướng, xôi, trứng, rượu trắng,… Thầy mo đang nhập hồn, cởi áo, đầu quàng khăn mọ mun, thử tấm lòng của con nuôi bằng cách lấy mũi kiếm chọc vào gói quà và đưa lên tai để nghe ngóng. Con nuôi nào thực lòng yêu quý bố nuôi, thì khi ông chọc mũi kiếm vào gói quà, đưa lên môi nếm sẽ gật đầu cười. Sau đó, ông dạy bảo con nuôi. Lời cúng thể hiện bằng hát dân ca, gọi là khắp chá, với làn điệu lúc vui nhộn, khi du dương sâu lắng, rạo rực, đệm thêm tiếng sáo mo “pí mun”.

Độc đáo các trò vui hội

Phần hội diễn ra sôi nổi, các trò chơi, trò diễn được mô phỏng lại cuộc sống bình dị thường ngày của đồng bào dân tộc thái trong suốt quá trình dựng bản, dựng Mường và xây dựng đời sống mới. Với nhiều hình ảnh được tái hiện vô cùng dí dỏm, sinh động như: một chuyến đi săn, một buổi lên nương, một buổi đi bắt cá, hay một lần lên rừng lấy măng... và ấn tượng hơn cả là hình ảnh tập trâu cày ruộng, nhắc về nền văn minh lúa nước của dân tộc ta từ xa xưa với những kinh nghiệm hay trong sản xuất. 

Tái hiện trò chơi tập trâu cày ruộng. 


Bên cạnh đó, là những làn điệu dân ca, điệu múa dân gian và cảnh sinh hoạt đời thường được các nghệ nhân gửi gắm qua các tiểu phẩm ngắn, sinh động ẩn hiện trong vòng xòe lễ hội Hết Chá. Các hoạt động này còn phản ánh chân thực sức sống mãnh liệt của dân tộc Thái trước cuộc sống lao động và sự đấu tranh sinh tồn giữa con người với cuộc sống thiên nhiên.

Nam nữ cùng đi đào măng. 


Không khí lễ hội càng thêm sôi động bởi âm thanh của nhạc cụ tăng bu và điệu múa xòe của những cô gái Thái duyên dáng trong trang phục truyền thống, bước đi uyển chuyển, nhịp nhàng. 

Mô phỏng hoạt động xúc tép của đồng bào. 


Điều đặc biệt trong lễ hội Hết Chá của đồng bào Thái chính là nam giả nữ, nữ giả nam để tái hiện những nghề nghiệp, những nét sinh hoạt vô cùng phong phú và bình dị, mang đặc trưng của cư dân lúa nước.

Trai gái ghẹo nhau trong ngày hội.


Làng Việt Online

Dẫn lại từ Báo Ảnh Dân tộc và Miền núi - 07/09/2017

Đặc sắc lễ hội hoa ban của người Thái

đăng 08:34, 8 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Lễ hội hoa ban được tổ chức tháng 2 Âm lịch hằng năm vào mùa hoa ban nở rộ ở Chiềng Khoa, Vân Hồ (Sơn La) của người dân tộc Thái để tưởng nhớ tới hai cô gái (hai nàng), những người phụ nữ đảm đang và tinh khiết như hoa ban rừng được dân tộc Thái tôn thờ như 'hai bà chúa'. 

Thầy mo và dân bản rước Hai nàng về nhập đền thờ 


Chuyện xưa kể rằng, có một gia đình sinh được hai người con gái, chẳng may người bố bị bệnh mất sớm. Gia đình gặp khó khăn, mẹ phải vào rừng hái lượm để nuôi hai con. Hai nàng khôn lớn, ngày càng xinh đẹp, nết na, tài sắc và chăm chỉ khéo léo trong trồng bông dệt vải, thêu thùa. 

Dân bản ai cũng yêu quý Hai nàng. Một hôm chị cả tắm ở suối, vua đi qua thấy đẹp, yêu mến, muốn đưa về cung, nhưng nàng không đồng ý và đằm mình xuống dòng suối tự vẫn. Cô em bị tạo bản ép về làm vợ lẽ, không đồng ý nên nàng bỏ vào rừng nơi chôn cất người chị khóc thảm thiết. 

Nàng kiệt sức chết và biến thành cây Ban. Người dân thương tiếc và cảm phục những đức tính tốt đẹp của Hai nàng nên góp công sức xây đền thờ để thờ cúng.

Nghi lễ cúng Hai nàng xong, dân bản cùng vui chung bên ché rượu cần 


Tiết trời ấm áp, già làng, thầy mo, cùng với các vị chức sắc trong bản chọn ngày, giờ tốt để tổ chức Lễ hội Hoa ban. Chuẩn bị xong lễ vật và các thủ tục cần thiết dâng lên đền. 

Thầy mo mặc trang phục truyền thống, đầu đội khăn xếp dẫn đầu, tiếp theo là 9 thiếu nữ trong trang phục váy cóm, quàng khăn piêu rước Hai nàng. Đến cửa đền, đặt Hai nàng xuống, thầy mo nói với dân bản: “Hôm nay, ngày lành tháng tốt, người dân Chiềng Khoa làm lễ cúng mời các thần linh về phù hộ và chứng kiến lòng thành của dân làng Chiềng Khoa”.

Trai, gái trổ tài trò chơi tó má lẹ 


Thầy mo kiểm tra các mâm lễ vật xong, rồi thực hiện lễ cúng: “Mời các thần linh/ Thần cao thần thấp/ Các thần linh thiêng/ Mời thần núi hai bên/ Thần thác trên thác dưới/ Thần núi trước núi sau/ Thần bản trên bản dưới/ Mời các thần về ngồi mâm trên/ Mời các thần ăn cỗ/ Mời các thần uống rượu/ Mời ăn thịt trâu đen/ Ăn thịt vịt béo/ Ăn rồi phù hộ cho dân bản Chiềng Khoa/ Làm việc gì được việc đấy/ Bản mường ngày giàu hơn/ Chăn nuôi không bị dịch/ Bản mường xin cảm tạ các vị thần linh”.

Cô gái Thái uyển chuyển, xinh tươi như những bông hoa ban núi rừng 


Thực hiện nghi lễ cúng xong, thầy mo mời dân bản vào uống rượu cần và gửi tới nhau lời chúc tốt lành. Nam thanh, nữ tú tham gia chơi các trò chơi dân tộc truyền thống (tó má lẹ, đẩy gậy, kéo co, bắt cá, ném còn). 

Người chơi thi nhau tranh tài quyết liệt, để phân bua ai thắng được thưởng... Tiếng trống, chiêng vang lên, già trẻ, gái trai cầm tay nhau bước theo nhịp xòe hoa và cất theo giọng hát “inh lả ơi”.

Lễ hội Hoa ban được truyền từ đời này sang đời khác, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái. Phần lễ cảm tạ tổ tiên và “Hai bà chúa”, các thần linh đã phù hộ cho dân bản khỏe mạnh, mùa màng tốt tươi, cuộc sống ngày càng phát triển. 

Phần hội diễn ra vui vẻ, khẳng định tình đoàn kết, tính sáng tạo trong lao động sản xuất của dân bản Chiềng Khoa.

TTXVN

Lễ hội thành Tuyên

đăng 02:49, 5 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Lễ hội thành Tuyên là Lễ hội rước đèn trung thu khổng lồ của người dân thành phố Tuyên Quang (Tỉnh Tuyên Quang) trong những ngày Tết Trung thu (15/08 âm lịch hàng năm). 

Bắt nguồn từ Tết Trung thu năm 2004, với mong muốn tạo thêm niềm vui cho trẻ, những người dân tổ 12 thành phố Tuyên Quang đã làm một chiếc đèn lồng khổng lồ là mô hình một chiếc máy bay với chiều dài gần chục mét. Đêm Trung thu năm ấy, chiếc đèn khổng lồ này khi rước trên phố đã là tâm điểm của đêm rằm, đem lại niềm vui bất ngờ cho tất cả mọi người. Thấy thú vị, vào rằm tháng tám những năm sau, các nơi khác ở thành phố Tuyên Quang nhanh chóng làm theo.

Từ năm 2014, hoạt động rước đèn Trung thu khổng lồ này đã trở thành Lễ hội quy mô cấp tỉnh và được gọi tên là Lễ hội thành Tuyên. Đây được coi là Lễ rước đèn trung thu lớn, độc đáo nhất trong cả nước.

Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh đã đến vui Tết Trung thu và tặng quà cho các cháu thiếu nhi trong Lễ hội thành Tuyên.


Đèn lồng Trung thu hình Rồng của bà con tổ dân phố tổ 9.


Lễ hội thành Tuyên 2017 diễn ra từ ngày 30/9 - 04/10/2017, đã có 100 chiếc đèn lồng khổng lồ

của các khu phố tham gia rước đèn.

Đèn lồng Trung thu với mô hình là Trống đồng - biểu tượng của nền văn hóa Việt được người dân tổ dân phố 2, phường Tân Quang, TP Tuyên Quang chọn làm để diễu hành trong lễ hội.


Năm nay theo âm lịch là năm Ất Dậu nên hình ảnh chú gà được nhiều khu ở TP Tuyên Quang chọn làm đèn Trung thu.


Lễ rước đèn Trung thu đã thực sự đã trở thành ngày hội của tất cả người dân Tuyên Quang và rất nhiều du khách.


Ngoài những mô hình truyền thống, để thêm sinh động người dân còn chọn những nhân vật hiện đại

để đem lại nhiều niềm vui cho trẻ con khu mình.

Vẻ đẹp của những làng quê thanh bình ở Việt Nam.


Nhiều khu vực dân cư cũng làm nhiều chiếc đèn lồng để giới thiệu, quảng bá những tiềm năng của địa phương mình.


Lễ rước đèn Trung thu độc đáo đã đem lại nhiều niềm vui cho tất cả mọi người đặc biệt là trẻ nhỏ.


Thiếu nhi TP Tuyên Quang vui Tết trung thu.


Không chỉ có rước đèn, nhiều hoạt động văn nghệ, văn hóa khác được tổ chức cho trẻ trong Lễ hội thành Tuyên. 


Năm nay, có hơn 100 chếc đèn lồng khổng lồ của các khu phố tham gia Lễ hội. Thông thường thì người dân ở đây hay chọn mô hình cho đèn lồng là các nhân vật dân gian Việt Nam nhưng mỗi năm các khu lại thay đổi mô hình cho mới, cho thêm sinh động.

Trong dịp này, người dân chung tay làm đèn ngay từ những ngày đầu tháng tám âm lịch. Trung bình mỗi chiếc đèn đặc biệt này có giá khoảng từ 4-50 triệu đồng. Với phương châm xã hội hóa, phần lớn kinh phí được người dân trong khu tự nguyện đóng góp. Trong những năm gần đây, nhận thấy đây là cơ hội tốt để quảng bá hình ảnh nên nhiều doanh nghiệp trên địa bàn đẫ ủng hộ một phần kinh phí cho Lễ hội.

Với mục đích duy trì truyền thống văn hóa tốt đẹp, hoạt động có ý nghĩa này còn gắn kết bà con trong cộng đồng dân cư. Đến nay, Lễ hội thành Tuyên không dừng lại là ngày Tết vui nhất của thiếu nhi ở thành phố Tuyên Quang mà đã thực sự trở thành ngày hội của mọi người. 

Thực hiện: Việt Cường

Làng gốm Thanh Hà

đăng 02:40, 5 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Trải qua năm thế kỷ, đến nay gốm Thanh Hà (Tp. Hội An, tỉnh Quảng Nam) vẫn giữ cách thức sản xuất thủ công và gần như độc nhất, đó là tạo hình bằng tay hoặc bàn xoay đạp chân, không dùng khuôn. Đặc biệt, các sản phẩm gốm Thanh Hà không tráng men và nung bằng lò củi truyền thống để tạo sản phẩm sau nung có nhiều sắc màu khác nhau như: vàng, đỏ, đỏ gạch, nâu, hồng, đen... 

Làng gốm Thanh Hà nằm ngay bên bờ sông Thu Bồn, thuộc địa bàn phường Thanh Hà, cách khu phố cổ Hội An hơn 3km về hướng Tây. Sử cũ kể rằng, đầu thế kỷ 16, các cư dân từ vùng Thanh Hóa di cư vào xứ Quảng mang theo nghề gốm dựng làng, xây lò, sản xuất những mặt hàng gốm gia dụng như nồi, bát, đĩa, ấm chén phục vụ cả một khu vực miền Trung Trung Bộ rộng lớn.

Gốm Thanh Hà thịnh vượng nhất vào khoảng TK 17 – 18 gắn với thương cảng Hội An. Các sản phẩm của làng gốm được lên thuyền đi khắp vùng xứ Quảng, Thừa Thiên, rồi lên cả tàu biển vượt đại dương đến Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Ban Nha…

Nguyên liệu chính để làm ra những sản phẩm gốm Thanh Hà là đất sét nâu dọc sông thu Bồn. Đất sét lấy về được nhào nhuyễn rồi dùng kéo xén đất, cắt mỏng 3 đến 4 lần. Sau đó dùng sức người đạp đi đạp lại để tăng độ liên kết trước khi sử dụng để tạo dáng sản phẩm gốm. Ảnh: Tất Sơn


Công đoạn chuốt đất (tạo hình sản phẩm) phải có hai người (thường do phụ nữ đảm nhận), một người đứng 1 chân còn chân kia đạp bàn xoay trong khi đó 2 tay nhào đất. Ảnh: Tất Sơn


Khi đất đã được chuốt thành hình sẽ được đem ra phơi nắng. Ảnh: Công Đạt


Trang trí tùy ý theo từng mẫu sản phẩm. Ảnh: Công Đạt


Những sản phẩm gốm cứ lần lượt ra đời từ đôi bàn tay khéo léo và điêu luyện của những người thợ gốm Thanh Hà. Ảnh: Tất Sơn


Gốm Thanh Hà được nung hoàn toàn bằng lò củi truyền thống. Ban đầu nhóm lửa khoảng 7-8 tiếng đồng hồ sau đó mới bắt đầu đốt thật lớn cho đến độ thì nghỉ lửa. Ảnh: Tất Sơn


Trải qua năm thế kỷ, đến nay gốm Thanh Hà vẫn giữ cách thức sản xuất thủ công và gần như độc nhất: tạo hình bằng bàn xoay và tay, không có khuôn, không tráng men và nung bằng lò củi truyền thống. Ảnh: Công Đạt


Làng gốm Thanh Hà ở Hội An hiện là một địa điểm du lịch thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước đến tham quan và trải nghiệm. Ảnh: Tất Sơn 


Suốt mấy trăm năm qua, nghề gốm Thanh Hà có lúc thịnh lúc suy, nhưng tình yêu và sức sáng sạo của nghệ nhân làng gốm thì không bao giờ tắt. Đến nay làng gốm Thanh Hà vẫn giữ cách thức sản xuất thủ công và gần như độc nhất, đó là tạo hình bằng tay hoặc bàn xoay đạp chân, không có khuôn, không tráng men và nung bằng lò củi truyền thống.

Đặc biệt, người Thanh Hà nung gốm bằng kinh nghiệm và cảm giác trực quan về ngọn lửa chứ không không dùng đến các dụng cụ đo nhiệt. Nghệ nhân Nguyễn Văn Chín ở xóm Nam Diêu cho biết, người làm nghề lâu năm chỉ cần nghe tiếng lửa réo, hơi nóng của lò phả ra cộng với thời gian đốt lò là biết gốm đã đủ độ chín hay chưa.

Một điều đặc biệt nữa là gốm Thanh Hà do không dùng men và bất kỳ thứ hóa chất nào, chỉ dựa vào kinh nghiệm của người làm gốm khi pha trộn đất và sử dụng nhiệt độ nên sản phẩm sau nung có nhiều sắc độ màu khác nhau như vàng đỏ, đỏ gạch, nâu, hồng, đen...

Để đáp ứng nhu cầu thị trường, ngoài dòng sản phẩm truyền thống, các xưởng gốm ở Thanh Hà còn nghiên cứu làm ra nhiều sản phẩm tượng gốm mỹ thuật nhằm phục vụ du khách cũng như nhu cầu trang trí trong xây dựng.

Ngày nay, đến thăm làng gốm Thanh Hà, ngoài việc thỏa sức lựa chọn các đồ lưu niệm bằng gốm, du khách còn được tận mắt chứng kiến kĩ thuật làm gốm truyền thống vừa dân dã nhưng cũng vừa điêu luyện của các nghệ nhân làng nghề này.

Những con vật quen thuộc được nặn thủ công bằng tay hoàn toàn. Ảnh: Công Đạt


Ngày nay, sản phẩm gốm Thanh Hà chủ yếu phục vụ cho mục đích trang trí, trưng bày. Ảnh: Công Đạt


Những chú tò he (người xứ Quảng hay gọi là con tu huýt hoặc con thú thổi), mang hình dáng những con vật rất thân quen như trâu, bò, mèo, lợn…, phía bụng của con vật có trổ lỗ nhỏ, thổi hơi vào sẽ tạo ra âm thanh như tiếng sáo. Đây cũng là một sản phẩm du lịch rất độc đáo và hấp dẫn du khách. Ảnh: Công Đạt


Những chiếc lọ nhỏ bằng đất nung được tạo hình và trang trí hoa văn hết sức giản dị. Ảnh: Công Đạt


Chùa Cầu Hội An là một sản phẩm không thể thiếu ở làng gốm Thanh Hà. Ảnh: Công Đạt


Biển hiệu một quán cà phê ở Hội An được thiết kế và làm từ gốm Thanh Hà. Ảnh: Tất Sơn


Những nhà vườn hiện đại ở Hội An ngày nay cũng sử dụng gốm Thanh Hà để trang trí, tạo cảnh quan rất độc đáo. Ảnh: Tất Sơn 


 

Công viên đất nung Thanh Hà nằm trên diện tích 6000 mét vuông được những người thợ tài hoa ở làng gốm Thanh Hà chế tác những công trình nổi tiếng của Việt Nam và thế giới như: Bến cảng Nhà rồng, phố cổ Hội An, Văn miếu Quốc Tử Giám, Lăng Bác Hồ, Đấu trường La Mã (Ý), Tử Cấm Thành (Trung Quốc), Kim tự tháp (Ai Cập), Tượng Nữ thần tự do (Mỹ)...


Thực hiện: Tất Sơn – Công Đạt

Nhà trình tường độc đáo ở Hà Giang lên báo nước ngoài

đăng 16:52, 3 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nhà trình tường được xây dựng bằng đất với những nét độc đáo của đồng bào trên vùng cao Quản Bạ, Hà Giang.

Nhà trình tường là nhà có những bức tường bằng đất, trong đất làm tường phải có độ dẻo tạo kết dính cao, trong đất phải có sỏi nhỏ tạo nên độ cứng. 

 

Mỗi bức tường được trình dày khoảng 40-80 cm tùy theo mỗi căn nhà. 

 

Khi xây dựng, tường được trình từng đoạn theo khuôn và phải đợi cho khô mới trình lên tiếp.

 

Nện đất tạo độ kết dính giữa tường trình trước và sau. 

 

Các bức tường đất rất dày được trình trên nền đá.

 

Đây là ngôi nhà được xây dựng để tổ chức sinh hoạt cộng đồng và homestay cho khách du lịch nghỉ lại.

 

 

Cầu thang được thiết kế bên ngoài ngôi nhà, đây là nét mới trong xây dựng nhà trình tường.

 

Những ngôi nhà trình tường thường được làm trên đỉnh núi với ruộng bậc thang đẹp như tranh vẽ

 

Nhà trình tường thường được xây dựng theo kiểu nhà có gác, sàn gác được làm bằng gỗ.

 

 

Tầng một để ở, trên gác để lương thực và các vật dụng sản xuất.

 


Trà My - Theo Arch Daily

Về An Giang coi chợ bò mùa nước nổi

đăng 21:55, 1 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Cứ vào mùa lũ hàng năm, chợ bò Tà Ngáo (xã An Phú, huyện Tịnh Biên, An Giang) lại trở nên nhộn nhịp.

Thương lái Campuchia đưa bò bơi qua kênh Vĩnh Tế (kênh tiếp giáp giữa Việt Nam và Campuchia) sang chợ bò tại Việt Nam để bán - Ảnh: HỮU KHOA


Thời điểm này, bên nước bạn Campuchia nước lũ đã ngập trắng đồng. Vì thế, nhiều người nuôi bò ở Campuchia phải mang bò qua Việt Nam bán để có tiền xoay xở và đỡ lo khi lũ về.

Chợ bò Tà Ngáo đã hình thành hơn chục năm nay và thu hút khá đông giới thương lái ở các tỉnh vùng biên giới đến mua bò về nuôi hoặc làm thịt bán. Giá bò tại đây so với giá ngoài thị trường rẻ hơn rất nhiều. Mỗi con có giá dao động 1-6 triệu riel Campuchia (tương đương 5-30 triệu đồng/con).

Chợ hoạt động từ 6h và đến 14h hàng ngày. Nếu như mùa khô chợ chỉ buôn bán vài chục con bò mỗi ngày thì mùa lũ, bò từ Campuchia đưa qua bán đến 100-300 con. Tất cả bò vào chợ giao dịch đều phải đóng thuế mới được buôn bán.

Ông Nguyễn Văn Đông, phó ban quản lý chợ bò Tà Ngáo, cho biết mỗi con bò từ nước bạn Campuchia sang đây bán phải mất các loại phí, khoảng 300 riel (1,5 triệu đồng/con). Bò cũng được tiêm phòng và kiểm dịch đầy đủ.

Chiếc ghe chở bò từ Campuchia sang Việt Nam qua đường biên giới trên kênh Vĩnh Tế (kênh tiếp giáp giữa hai nước) - Ảnh: HỮU KHOA


Chợ bò bắt đầu nhộn nhịp từ sáng sớm - Ảnh: HỮU KHOA


Khách lên ghe để chọn mua những con bò ưng ý nhất - Ảnh: HỮU KHOA


Người bán bò từ Campuchia ngồi chờ thương lái người Việt đến mua bò - Ảnh: HỮU KHOA


Người dân ở huyện Tịnh Biên, An Giang cũng đưa bò đến chợ bán - Ảnh: HỮU KHOA


Chọn được bò ưng ý rồi trả giá - Ảnh: HỮU KHOA


Nét đặc biệt của chợ bò là sử dụng tiền của nước bạn Campuchia để thanh toán - Ảnh: HỮU KHOA


Sau khi chọn mua xong, những con bò được thương lái người Việt đưa lên xe chở về - Ảnh: HỮU KHOA 


BỬU ĐẤU - HỮU KHOA 

Xem người Thái Nghệ An đan ép xôi

đăng 04:33, 28 thg 9, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Trong quá trình lao động, người Thái đã tạo ra các vật dụng, dụng cụ thủ công bằng tre nứa mang dấu ấn bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc mình trong đó phải kể đến ép xôi.

Ông Vang Trần Nhị, trú tại bản Can, xã Tam Thái (Tương Dương) được người dân trong và bản biết đến là một người khéo tay, đan ép xôi đẹp. Ông cho biết:“ Vật liệu thường được dùng để đan ép xôi là loại cây cùng họ với cây luồng nhưng nó lại có ống dài hơn và chỉ to bằng cổ tay là hết cỡ, tiếng Thái gọi là mày quắn. Ngoài ra có thể đan bằng giang, tre và cũng có thể là nứa” Ảnh: Đình Tuân 


Sau khi lấy nguyên liệu từ trong rừng về, những lóng mày quắn này sẽ được chẻ nhỏ, lước mỏng. Ảnh: Đình Tuân 


Ông Nhị chia sẻ, đan ép xôi cũng như đan các vật dụng khác đều không khó lắm, miễn là đó phải cần cù chịu khó và đặc biệt là sáng dạ một tý thì đều có thể đan được. Để dễ dàng trong khi đan cũng như không làm các nan đang gẫy, người đan thỉnh thoảng sẽ xịt nước vào để nan thêm dẻo. Khi đan gần như người đan đều sử dụng kiểu nan nong 3. Ảnh: Đình Tuân 


Khi công đoạn đan đã xong thì sẽ tiến hành rút để tạo vòng điểm tựa để khâu đáy của ép. Ảnh: Đình Tuân 


Cơ bản hoàn thành phần đan thân ép. Ảnh: Đình Tuân 


Trong các công đoạn thì đan đáy ép được xem là khó nhất. Ông Nhị cho biết thêm có một số người biết đan thân ép chứ đáy không biết đan. Ảnh: Đình Tuân 


Lắp đáy ép xong sẽ tiến hành khâu thân đáy vào thân ép. Vật liệu dùng để khâu là mây. Ảnh: Đình Tuân 


Công đoạn cuối cùng là khâu đế của ép. Ảnh: Đình Tuân 


Bằng bàn tay tài hoa, người Thái đã tạo ra những chiếc rất đẹp. Ép được đan bằng vật liệu tự nhiên nên hơi nước của cơm xôi sẽ thoát đều ra bốn phía, xôi không bị hấp hơi và ướt. Ép xôi này còn có thể sử dụng đựng các món đồ ăn nóng mà không sợ nhiệt độ cao làm ảnh hưởng đến sức khỏe như một số vật liệu khác. Hiện nay, mỗi chiếc ép được bán với giá dao động từ 80 - 250 ngàn đồng/cái tùy theo kích thước to hay nhỏ. Ảnh: Đình Tuân 


Ép được dùng đựng xôi, đựng cơm trong bữa ăn hàng ngày, những lúc bà con đi nương rẫy hay những dịp có cỗ bàn, cưới xin ma chay…Ảnh: Đình Tuân 


Đình Tuân

Nơi cả làng làm rượu cần

đăng 04:23, 28 thg 9, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Phải mất thời gian ít nhất 3 tháng mới cho ra một chum rượu cần, từ khâu làm men rượu từ nhân trần, mía khỉ, lá mít…, tiếp đến là hông trấu nếp và ủ, vì vậy rượu cần Mậu Đức có vị thơm nồng rất riêng.

Bà Ngân Thị Thơm, người có gần 30 năm trong nghề làm rượu cần ở bản Chòm Muộng cho biết: Ở đây nhà nào cũng biết làm rượu cần, cũng nấu rượu cần để mỗi khi trong gia đình có việc, lễ thì có chum rượu mời khách. Nay được nhiều người biết và tìm đến mua, chị em đã thành lập tổ để làm rượu cần kiếm thêm thu nhập.

Theo bà Thơm, để làm được một chum rượu cần rất kỳ công, trước hết đó là khâu làm men. Để có được men rượu ngon phụ thuộc bí quyết tìm lá của mỗi người, theo đó không thể thiếu nhân trần, mía khỉ, là mít, mía ngọt, quế...

Phụ nữ bản Chòm Muộng làm rượu cần. Ảnh: Tường Vi 


Khi lá đem về thì cắt, giã, hông để lấy nước, sau đó đem trộn với gạo nếp thơm và trấu, vo lại từng viên to như cái đĩa, để dưới gầm giường cho mốc, sau đó chuyển lên gác bếp hong khô, vừa để bảo quản men vừa làm cho men ngon. Quá trình ủ men khoảng 1 tháng.

Nếp ngon ngâm qua đêm và trấu sạch được trộn với nhau để hông lên (trấu đem giã sẽ ngon hơn xay nhỏ bởi chất xơ trong trấu sẽ thấm vào làm lên men nhanh hơn và rượu sẽ ngọt hơn), đổ ra để nguội sau đó mới trộn với men được giã nhỏ, ủ trong túi bóng khoảng 3- 4 ngày sau đó trút vào chum ủ. Rượu cần uống được phải ủ trên 3 tháng và để được từ 2-3 năm trở lên thì rượu càng thơm ngon.

Nếp ngon ngâm qua đêm và trấu sạch được trộn với nhau để hông lên, đổ ra để nguội sau đó mới trộn với men được giã nhỏ, ủ trong túi bóng khoảng 3-4 ngày sau đó trút vào chum ủ. Ảnh: Tường Vi


Hiện nay, không chỉ có chị em hội phụ nữ ở bản Kẻ Mẻ, Kẻ Trằng, Chòm Muộng, xã Mậu Đức thành lập tổ làm rượu cần, mà Hội Người cao tuổi cũng thành lập tổ từ năm 2011, họ được coi là những người truyền bí quyết làm rượu. Bà Ngân Thị Viện chia sẻ, mỗi nhà ít nhất có 5-6 chum rượu cần và nhất thiết phải là chum sành. Khi khách đến mua, sẽ chuyển rượu từ chum cũ sang chum mới cho khách mang về. Bà con lại làm tiếp mẻ mới từ những chiếc chum có tuổi đời từ hàng chục năm.

Trong thời gian ủ phải mở chum ra nếm thử rượu đã chín và ngọt mới thành công. Ảnh: Tường Vi 


Ông Vi Văn Vương – Phó Chủ tịch UBND xã Mậu Đức cho biết: Trước đây, bà con Mậu Đức làm rượu cần để phục vụ cho gia đình mình trong các dịp lễ, tết, mừng nhà mới, mừng đám cưới…, nhưng nay đã trở thành sản phẩm hàng hóa để bán ra thị trường. 

Niềm vui của nhân dân Mậu Đức đó là ngày 19/5/2017 bản Chòm Muộng được UBND huyện Con Cuông công nhận làng có nghề. Hiện, bản có 45/91 hộ làm nghề rượu cần, doanh thu đạt 1,9 tỷ đồng, chiếm 20,17% tổng số doanh thu của bản.

Tường Vi- Thu Trang

1-10 of 18