Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Độc đáo nghề vẽ tranh trên kính ở Phú Tân Nói đến vẽ tranh trên kính thì phải nhắc đến ấp Phước Thuận, xã Phú Tân (Châu Thành), nơi đây đã nổi tiếng gần xa, là nơi ra đời của ...
    Được đăng 20:04, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chợ đêm Pác Ngòi- điểm nhấn của du lịch Ba Bể Sau gần hai tháng đi vào hoạt động, đến nay chợ đêm Pác Ngòi, xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể ngày càng thu hút, hấp dẫn du khách. Đây là ...
    Được đăng 01:17, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đi chợ “chồm hổm” trên đỉnh núi Cấm Trên đỉnh núi Cấm (Tịnh Biên), trong nhiều năm qua xuất hiện một cái chợ “độc nhất vô nhị”, mà người dân gọi vui là chợ "chồm hổm” hay "chợ ...
    Được đăng 00:15, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ngân mãi tiếng cồng chiêng Mơ Nâm Cũng như đồng bào các DTTS khác trên vùng đất Tây Nguyên, tiếng cồng, tiếng chiêng như đã thấm sâu vào máu thịt, vào linh hồn người Mơ Nâm (một ...
    Được đăng 19:30, 9 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đi chợ “lạ mà quen” Tình cờ, tôi được một người bạn đưa đi “Chợ Campuchia” trong dịp ghé TP. Hồ Chí Minh. Thật ra, người quê An Giang như tôi đã quá quen thuộc ...
    Được đăng 18:07, 9 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 16. Xem nội dung khác »


Độc đáo nghề vẽ tranh trên kính ở Phú Tân

đăng 20:04, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nói đến vẽ tranh trên kính thì phải nhắc đến ấp Phước Thuận, xã Phú Tân (Châu Thành), nơi đây đã nổi tiếng gần xa, là nơi ra đời của những bức tranh vẽ kể về câu chuyện cuộc đời của đức Phật Thích Ca, phong cảnh chùa hay địa danh nổi tiếng trên mặt kính thủy tinh trong suốt. Vùng đất này có nhiều làng nghề truyền thống được lưu truyền lâu năm. Tuy vẽ theo mẫu có sẵn nhưng những bức tranh trên kính là sản phẩm của sự cần cù, chăm chút từng nét vẽ, vẫn giữ nét độc đáo riêng, sắc thái văn hóa hội họa của đồng bào Khmer Sóc Trăng.

Tranh kính được nhiều gia đình mua về để thờ tự hoặc trang trí trong nhà. Vẽ tranh trên kính phải qua nhiều công đoạn mới hoàn thành. Tranh được vẽ trên tấm thủy tinh trong suốt, kích thước bức tranh không giới hạn, màu sắc thì phong phú. Trước tiên, người thợ đặt tấm kính lên tờ giấy hình mẫu, lưu ý có những chi tiết phải vẽ ngược để khi bức tranh hoàn thành, thì lật lại mặt sau mới khớp với hình mẫu. Tiếp đó, người vẽ dùng cọ chấm sơn (nước sơn được pha loãng bằng xăng, dầu hỏa) vẽ đồ theo hình mẫu. Tuy nhiên, phải tinh mắt và nhanh tay vẽ mới có những nét thanh, mảnh, mịn, không bị động sơn. Khi hỏi một bức vẽ hoàn thành trong bao lâu, người thợ vẽ cho biết cũng mất mấy ngày vì một bức tranh qua nhiều công đoạn. Nên khi vẽ, họ vẽ một loạt tranh chứ không vẽ hoàn thành riêng từng bức. Trước là vẽ nét đồ theo tranh mẫu, sau tô màu. Nhưng khi vẽ nét màu nào, phải phơi cho khô thì mới vẽ màu khác lên được. Mất thời gian là như vậy. 

Bà Triệu Thị Vui ở ấp Phước Thuận, xã Phú Tân (Châu Thành) chăm chút từng nét vẽ. 


Bà Triệu Thị Vui ở ấp Phước Thuận, xã Phú Tân (Châu Thành), người gắn bó với nghề vẽ tranh trên kính chia sẻ: “Sau khi lấy chồng về đây tôi biết nghề này. Thời đó, vẽ vui lắm, cả xóm, anh chị em lớn nhỏ đều làm nghề này. Trước nhà cất nhà mát để mọi người làm. Chia riêng hai nhóm, nhóm vẽ, nhóm sơn màu. Trước đây, tôi thường vẽ đường viền của bức tranh, công đoạn này khá đơn giản”. Theo bà Vui, điểm khó vẽ là mắt và miệng. Vì phải vẽ đôi mắt có hồn và miệng thì phải như đang cười. 

Tuy nhiên, theo thời gian, nghề vẽ tranh trên kính hầu như không còn bao nhiêu người kế nghiệp với lý do khó làm, không ai kiên trì với nghề được. Bà Vui chia sẻ, trước đây bà không chuyên về vẽ tranh trên kính nhưng thấy nhiều người bỏ nghề, vì không muốn nghề bị mai một nên bà tiếp nối và theo nghề cho đến ngày nay. Theo bà biết, tại ấp Phước Thuận chỉ còn 5 người theo nghề và con cháu của họ cũng không theo nghề. Hiện người trẻ tuổi nhất cũng 48 tuổi, bà năm nay cũng đã hơn 60 tuổi nhưng cứ canh cánh bên lòng cái nghề vẽ tranh trên kính. 

Khi nói chuyện về nghề vẽ tranh trên kính, bà Vui lại rơm rớm nước mắt và mong ước sẽ có người theo học, bà sẵn sàng truyền nghề ngay. Hiện bà nhận được nhiều đơn đặt hàng ở trong tỉnh, tỉnh Trà Vinh, An Giang nên nhiều khi làm không kịp, bà phải tranh thủ buổi tối để làm và chuyển kính đến các chị trong ấp cùng làm. 

Bà yêu nghề đến nổi có những sáng tạo riêng mình. Nhiều người mua cọ ngoài chợ về vẽ, còn bà thì mua về tháo bỏ phần lông cọ, thay vào đó bằng lông mèo, vì lông mèo sợ mịn, dễ vẽ hơn. Chia sẻ về cây cọ đặc biệt của mình, bà khoe ngay: “Trước đây, tôi cũng dùng lông chó nhưng thấy không êm, nên chuyển qua lông mèo. Thấy mèo nhà lông dài là tôi cắt lại lông, gói giấy lại để dành xài dần. Sau khi vẽ xong rửa sạch cọ bằng dầu hỏa là dùng được lâu hơn”. 

Tuy tồn tại lâu năm, nhưng nghề này vẫn làm thủ công, không có công đoạn nào dùng máy móc thay thế. Thêm nữa phải phụ thuộc vào thời tiết, nắng tốt thì tranh phơi mau khô màu sơn, tranh bóng đẹp hơn. Tuy nhiên, tranh trên kính ở Phú Tân rất bền, khi bức tranh hoàn thành thì màu sơn bám chặt vào kính, có làm cách nào cũng khó mà bong tróc hay phai màu được. 

Minh Huy

Chợ đêm Pác Ngòi- điểm nhấn của du lịch Ba Bể

đăng 01:17, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Sau gần hai tháng đi vào hoạt động, đến nay chợ đêm Pác Ngòi, xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể ngày càng thu hút, hấp dẫn du khách. Đây là một trong những hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc gắn với phát triển du lịch Ba Bể. 

Đoàn khách do anh Vũ Xuân Hùng đến từ Sài Gòn say sưa nghe tiếng đàn tính, điệu then của người Tày Ba Bể. 


Chị Sằm Thị Lệ- người dân thôn Pác Ngòi vui vẻ cho biết đã đăng ký bán hàng ở đây từ khi có phiên chợ đầu tiên. Sau gần hai tháng, qua 6 phiên chợ (diễn ra vào tối thứ 6, thứ 7 hằng tuần), lượng du khách ngày một đông hơn. Khách rất thích nên chơi đến muộn, hết giờ quy định bán hàng rồi mà còn chưa muốn về. Hầu hết nông sản của tỉnh Bắc Kạn đều có bán tại đây. Những mặt hàng khách mua nhiều gồm trang phục người Tày, cây đàn tính, trà giảo cổ lam, mật ong, cá khô và tép chua… 

Đoàn khách do anh Vũ Xuân Hùng làm trưởng đoàn đã đi hơn 2.000km từ Sài Gòn đến tham quan hồ Ba Bể. Anh chia sẻ: Đoàn chúng tôi gồm 10 người, đều là các doanh nhân, đi du lịch và tìm kiếm cơ hội đầu tư. Chúng tôi ở lại qua đêm theo lời giới thiệu của bác lái thuyền máy, tối nay ngủ nhà sàn của bà con tại bản Bó Lù. Thật không ngờ khi thắng cảnh hồ Ba Bể vẫn còn hoang sơ đến vậy, rừng nguyên sinh tuyệt đẹp, không khí ở đây trong lành, người dân thân thiện, an ninh trật tự rất tốt vì xe máy ô tô dựng, đỗ dọc đường mà không cần ai trông coi. Từ chập tối đến giờ, sau khi mua sắm nông sản tại cửa hàng chị Lệ, chúng tôi đặt được một bàn tại quán ăn đêm của anh Toán. Món ăn là đồ nướng gồm cá sông, gà ta của bà con, sườn lợn bản uống với rượu ngô men lá. So với chợ đêm Sa Pa, chợ đêm Pác Ngòi độc đáo nhờ có hát then, đàn tính. Chúng tôi mong muốn được kết nối hợp tác đầu tư vào du lịch Ba Bể. 

Chỉ cần được chơi đàn tính và hát then cho du khách, anh Trường vui lắm. 


Phiên chợ càng về khuya, tiếng tính và điệu khèn của người Mông làm du khách khó đứng lên về nghỉ. Anh Trường- đến từ xã Cao Thượng (Ba Bể) chia sẻ: Là người Tày, chúng tôi rất có ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, số đông người Tày biết hát then và chơi đàn tính. Như anh Trường, năm nay 30 tuổi đã có 10 năm chơi đàn và hát then. Từ khi có chợ đêm, anh có cơ hội chơi đàn và hát then nhiều hơn. Hai tối cuối tuần anh thường xuyên có mặt để chơi đàn cho du khách. "Khách mời là chúng tôi chơi, không cần tiền đâu, khách quý thì khách cho thôi!". Anh Trường mong Ban quản lý chợ dành cho một khu vực chơi then, nhất là sân khấu cần được trang trí đẹp hơn để biểu diễn cho nhiều du khách cùng được xem và nghe... 

Thật sự ngỡ ngàng vì bây giờ đêm cuối tuần ở bản vùng cao Pác Ngòi đã có chợ đêm độc đáo và đầy cuốn hút. Khách lưu trú qua đêm tại đây đông hơn. Buổi tối khá nhộn nhịp, du khách ăn tối xong là vội vã đi chợ đêm. Đã có nhiều khách quay trở lại, đưa thêm bạn bè lưu trú qua đêm để khám phá phiên chợ đêm vùng cao ở ven hồ Ba Bể. 

Bà Nguyễn Thị Hằng- Chủ tịch UBND xã Nam Mẫu cho biết: Từ khi có chợ đêm Pác Ngòi đến nay, các cơ sở lưu trú tại xã khách tăng nhiều. Xã và thôn đã có ban quản lý chợ, tuy nhiên nguồn lực đầu tư chưa xứng tầm. Xã đang kêu gọi thêm nguồn xã hội hóa, mở rộng không gian, quảng bá về du lịch Ba Bể, nhất là văn hóa truyền thống, ẩm địa phương, điệu then và tiếng khèn của người dân tộc bản địa. Mời du khách hãy đến với Ba Bể vào hai tối thứ 6 và thứ 7 hằng tuần để được thưởng thức nét văn hóa truyền thống vùng hồ Ba Bể, mua về những món quà quê và đắm mình trong không gian văn hóa độc đáo của vùng cao Bắc Kạn.

Trần Tuyến

Đi chợ “chồm hổm” trên đỉnh núi Cấm

đăng 00:15, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Trên đỉnh núi Cấm (Tịnh Biên), trong nhiều năm qua xuất hiện một cái chợ “độc nhất vô nhị”, mà người dân gọi vui là chợ "chồm hổm” hay "chợ Mây núi Cấm", bởi chỉ họp chợ hơn một giờ đồng hồ...

Chợ ở ấp Thiên Tuế, thuộc xã An Hảo (Tịnh Biên) 


Chợ nhóm ngay trên mặt đường, cạnh bờ hồ Thủy Liêm, phía trước chùa Vạn Linh 




Ở chợ, người dân bán dưới đất, không có quầy, sạp cố định, bày bán đủ loại, từ gạo, muối, thịt, cá, khô, mắm cho đến trái cây, rau củ… 


Đầu chợ là những gánh hàng bán trái cây, đồ cúng phục vụ du khách đi chùa… 




…kế đến là các gánh hàng rau củ quả và đồ ăn sáng 


…cuối chợ là hàng cá, thịt 


Chợ nhóm họp khá nhanh, chỉ hơn một giờ đồng hồ. Sau đó, bạn hàng tiếp tục gánh hàng đi bán khắp nơi cho đến lúc xế bóng mới về nhà. 


TRUNG HIẾU

Ngân mãi tiếng cồng chiêng Mơ Nâm

đăng 19:30, 9 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cũng như đồng bào các DTTS khác trên vùng đất Tây Nguyên, tiếng cồng, tiếng chiêng như đã thấm sâu vào máu thịt, vào linh hồn người Mơ Nâm (một nhánh của dân tộc Xơ Đăng). Với họ, cồng chiêng không chỉ là một loại nhạc cụ mà còn là nét đẹp văn hóa được gìn giữ, lưu truyền bao đời nay; cồng chiêng hiện hữu trong đời sống hàng ngày, gắn liền với các tập tục, lễ hội…

Trong những chuyến công tác về Kon Plông, tôi rất hay được thưởng thức tiếng cồng, tiếng chiêng của đồng bào Mơ Nâm nơi đây. Những âm thanh trầm, bổng giữa đại ngàn Trường Sơn hoang sơ như hút hồn, đưa bước chân tôi tìm đến những nghệ nhân Mơ Nâm - chủ nhân của những âm thanh diệu kỳ.

Già A Vơng (thôn Kon Ke 1, thị trấn Măng Đen) là một người đã gắn bó cả đời với tiếng cồng, tiếng chiêng đã giúp tôi hiểu hơn về “đặc sản” này của người Mơ Nâm. Già chia sẻ, đối với nghệ thuật cồng chiêng, ở mỗi dân tộc sẽ có sự khác biệt. Người Mơ Nâm cũng vậy, cồng chiêng mang trong mình những nét đặc trưng riêng có. Thậm chí là cùng dân tộc Mơ Nâm, nhưng ở những vùng khác nhau, cách diễn tấu, nhịp điệu cũng có những khác biệt nhất định. Ở mỗi giai điệu, đòi hỏi người đánh cồng chiêng phải thể hiện được cái riêng, cái hồn của vùng đất đó…

“Trong đời sống của người Mơ Nâm không thể thiếu tiếng cồng chiêng. Nó gắn bó với chúng tôi từ sinh hoạt hàng ngày, cho đến các lễ hội, tập tục... Người Mơ Nâm có 2 bộ cồng chiêng chính là bộ 4 và bộ 11. Bộ 4 có 8 người tham gia đánh cồng chiêng, chủ yếu được dùng riêng tại các gia đình, để phục vụ các lễ hội tại gia như: Lễ mừng nhà mới, lễ hội rải cát… Đối với bộ 11, số người tham gia đánh cồng chiêng sẽ là 11 người, được sử dụng trong các lễ hội lớn của thôn làng, điển hình nhất là lễ hội mừng lúa mới, lễ mừng nhà rông mới... Để có thể sử dụng bộ 11, đòi hỏi người đánh cồng chiêng phải có kinh nghiệm và đã tiếp xúc nhiều với cồng chiêng, cần quá trình lâu dài để luyện tập; còn đối với bộ 4 thì đơn giản hơn, các giai điệu không quá phức tạp mà mang sự phổ biến nhất định đến tất cả bà con trong làng. Tuy nhiên, cũng như những loại nhạc cụ khác, tùy vào tay nghề của người sử dụng mà mỗi bộ cồng chiêng sẽ cho ra những giai điệu réo rắt, quyến rũ mê hoặc lòng người” - già A Vơng giảng giải.

Đồng bào Mơ Nâm (huyện Kon Plông) đánh cồng chiêng, thổi tà vẩu giới thiệu nét văn hóa đặc sắc với khách du lịch. Ảnh: TS 


Đối với người Mơ Nâm, cồng chiêng không chỉ là một nhạc cụ để phục vụ trong các dịp lễ hội ở thôn làng, mà bản thân nó còn là một phần của chính những lễ hội. Điển hình như trong lễ hội mừng lúa mới, người Mơ Nâm sẽ cắt tiết gà để rải lên lúa, lên gạo và bôi lên những chiếc cồng chiêng được đánh trong lễ hội. Tập tục này mang ý nghĩa thể hiện ước nguyện của bà con đến với thần linh, cầu chúc một mùa màng bội thu, để có một cuộc sống ấm no và đủ đầy. Hoặc trong lễ hội mừng nhà mới, sau khi bôi tiết heo lên các cột nhà, thì người Mơ Nâm cũng bôi lên những chiếc cồng chiêng với quan niệm để giữ gìn của cải trong nhà không bị lấy mất, bởi từ xa xưa, những chiếc cồng chiêng đã được coi là vật có giá trị, nhà nào có nhiều chiêng quý có nghĩa là giàu có, được người khác kính trọng.

Theo quan niệm của người Mơ Nâm, cồng chiêng là công cụ để giao tiếp với Yàng (trời). Trong các lễ hội, bà con thể hiện những ước muốn của mình qua các giai điệu cồng chiêng để mong nhận được sự chở che, phù hộ của Yàng.

Bên cạnh đó, không chỉ trong đời sống tâm linh, mà giá trị của cồng chiêng còn được thể hiện ở tính cộng đồng tại các thôn, làng. Trong đời sống hàng ngày, khi tiếng cồng chiêng ngân lên là lúc mọi người quy tụ. Trong tiếng cồng, tiếng chiêng âm vang, bà con dân làng cùng nhau ăn uống, cùng chung vòng xoang tưởng chừng như vô tận. Chính điều đó đã thắt chặt tình đoàn kết của tất cả mọi người.

Giá trị như thế nên cồng chiêng được người Mơ Nâm gìn giữ và bảo quản rất kỹ. Họ rất nhẹ nhàng, cẩn thận khi sử dụng cồng chiêng, tránh va quệt hay đánh rơi; sau những lần biểu diễn, các bộ cồng chiêng được sắp xếp ngăn nắp theo trình tự từ lớn đến bé.

Già A Vơng bảo dưỡng bộ cồng chiêng của mình. Ảnh: TT 


Nói về cách nhận biết chất lượng của một bộ cồng chiêng, già A Vơng chia sẻ: Người ta thường đánh giá chất lượng của một bộ cồng chiêng dựa vào âm thanh. Một bộ cồng chiêng chuẩn, sẽ được làm từ đồng nguyên chất, khi ta gõ, âm thanh phát ra sẽ vang, trong, có sự chi phối giữ độ trầm và bổng. Khi giai điệu được đánh lên, thậm chí cách vài cây số người ta vẫn có thể nghe rõ ràng. Còn đối với những bộ cồng chiêng kém chất lượng, sử dụng đồng bị pha, chất lượng âm thanh chỉ được một thời gian đầu, sau đó sẽ nhanh chóng xuống cấp, âm thanh của các bộ cồng chiêng này càng về sau càng bị lệch…

Già A Vơng cho hay: Một người đánh cồng chiêng được cho là giỏi khi có thể thuần thục các giai điệu của cồng chiêng. Ở từng giai điệu, phải nắm bắt được nhịp, “liên kết” với các thành viên trong đội qua chính tiếng cồng chiêng được cất lên, để không lạc nhịp. Chính vì vậy, để trở thành một người chơi cồng chiêng giỏi không hề dễ một chút nào, đòi hỏi phải có sự gắn bó, kiên trì và một niềm đam mê.

Có thể nói, đối với người Mơ Nâm, nghệ thuật cồng chiêng là những giá trị văn hóa trân quý, được lưu truyền, gìn giữ qua bao đời. Hiện tại, để góp phần cùng với bà con lưu truyền những giá trị văn hóa cồng chiêng, huyện Kon Plông tích cực thực hiện nhiều biện pháp bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này. Huyện đã phối hợp với các nghệ nhân mở nhiều lớp truyền dạy cho thế hệ trẻ, duy trì các lễ hội đặc sắc, xây dựng các làng văn hóa du lịch, thành lập các đội cồng chiêng tại địa phương để biểu diễn phục vụ du khách đến thăm mang lại thu nhập ổn định cho những nghệ nhân… Qua đó, tiếng cồng, tiếng chiêng của người Mơ Nâm mãi vang ngân giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ.

Tất Thành

Đi chợ “lạ mà quen”

đăng 18:07, 9 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tình cờ, tôi được một người bạn đưa đi “Chợ Campuchia” trong dịp ghé TP. Hồ Chí Minh. Thật ra, người quê An Giang như tôi đã quá quen thuộc với các món ẩm thực theo phong cách đồng bào dân tộc thiểu số Khmer, vì cùng sinh sống với họ và An Giang có đường biên giới dài gần 100km giáp Campuchia. Nhưng ngôi chợ hôm ấy vẫn níu chân tôi tham quan cho bằng được. Chợ nằm gọn trong hẻm 374, 382 Lê Hồng Phong - Hồ Thị Kỷ (phường 1, quận 10, TP. Hồ Chí Minh), vừa quen vừa lạ, trộn lẫn đủ phong vị cuộc sống.

Chè Campuchia béo ngậy 



Một góc “Chợ Campuchia” 


Lý giải tên “Chợ Campuchia”, một số tiểu thương nơi đây cho biết, vào những năm 1970, nhiều người dân Campuchia sang Việt Nam sinh sống. Dần dần, họ lập nghiệp, kinh doanh các loại hàng hóa của Campuchia, ổn định đến hôm nay. Thấy việc làm ăn phát đạt, nhiều người Việt cũng kinh doanh theo, nhưng bán món khác. Thành thử, cái chợ nói to không to, nhỏ không nhỏ, hàng quán nối liền từ hẻm này sang hẻm khác, đi chưa kịp mỏi chân đã có thể dạo hết một vòng. Mỗi con hẻm còn trống chỗ cho 1 chiếc xe môtô và 2-3 người đi bộ cùng lúc, nhưng hễ có xe chạy ngược chiều là “mạnh ai nấy né” mới có thể qua được. Kể ra thì kiểu chợ này quá quen thuộc với người dân xứ mình, dù cái tên có khác nhau thế nào đi nữa. 

Thường thường, mọi người chọn hàng khô Tư Xê làm “điểm mốc” để bắt đầu quá trình tham quan khu chợ. Đơn giản là vì hàng khô nằm ngay ngã ba, tồn tại ngót nghét nửa thế kỷ, bảng hiệu to nổi bật, lại trưng bày rất nhiều loại khô đặc sản của Campuchia. Nơi đây chuyên bán khô cá lóc, cá sấy, khô sặc, tôm khô và các loại mắm, đặc biệt nhất là cá tra Biển Hồ (Campuchia). Loại nào nhìn cũng bắt mắt, được gói hoặc ép chân không kỹ lưỡng, màu sắc tươi mới. Chị Ngô Thị Xinh (người Việt gốc Campuchia, chủ gian hàng Tư Xê) cho biết, khách hỏi mua nhiều nhất là cá tra Biển Hồ, giá chỉ 280.000 đồng/kg. Mua xong, đem về bỏ vào ngăn đông tủ lạnh, khi cần thì rã đông rồi chế biến, bảo đảm “không bắt cơm không lấy tiền”. Ngoài ra, khô cá lóc cũng rất được ưa chuộng, dù giá không hề rẻ: 400.000 đồng (loại 3-4 con/kg); 480.000 đồng (loại 1 con/kg). Không chỉ vậy, hàng khô Tư Xê còn nổi tiếng với món bún Num Bo Chóc trứ danh, chỉ bán từ 7 đến 10 giờ mỗi buổi sáng. Bún được nấu từ cá lóc nhập từ Campuchia về, cộng với mắm bồ hóc, ngải bún… tạo nên một mùi vị rất đặc trưng, không thể trộn lẫn với món nào khác. Tô bún bình thường giá 45.000 đồng, còn loại đặc biệt là 55.000 đồng. Giá cao như vậy, nhưng khách đến ăn nườm nượp, thậm chí nhiều khi buồn lòng trở về vì đến trễ. “Tên gọi này xuất phát từ Campuchia. Món này cũng giống như bún cá ở miền Tây, nhưng cách chế biến nguyên liệu khắp TP. Hồ Chí Minh chỉ mình ên tôi có. Sau nhiều năm, hương vị của món ăn vẫn được giữ y như cũ, không hề thay đổi, gia giảm gì cả. Nếu mua về, không biết cách chế biến, món ăn không ngon như ăn tại quán” - chị Xinh chia sẻ. 

Sau mấy hàng khô, dời bước đến quán chè “Cô Có” (một trong hai quán chè nổi tiếng nhất ở chợ), chúng tôi gần như hoa mắt với đủ loại chè. Món nào cũng thơm lừng, màu sắc hấp dẫn đến mức… mọi người không biết nên ăn món gì trước. Nào là xôi xiêm thơm lừng mùi sầu riêng, bánh gan và chuối chưng rưới nước cốt dừa, sâm bổ lượng, cùng nhiều món chè truyền thống khác của người Việt. Tất cả món ăn đều được để trong tô, chứ không phải trong ly, chén như thường thấy. Đặc biệt nhất là món chè Campuchia, với gam màu vàng chủ đạo của trứng, đậu xanh, bánh bí đỏ, màu xanh ngọc của thạch rau câu, màu trắng sữa của nước cốt dừa… và đá lạnh đập nhuyễn. Các món chè tuy khác nhau về nguyên liệu, nhưng đều có điểm chung ở vị béo ngậy của nước cốt dừa và cái dừa già, vị ngọt thơm của bánh, vị mịn của đậu xanh quện nơi đầu lưỡi, cái mát lạnh của nước đá. Cùng một chút cảm giác thú vị giữa không gian hàng quán lề đường, trong một khu chợ nổi tiếng của “Sài thành”, món chè trở nên khó quên hơn hẳn. Khách cứ thủng thỉnh múc từng muỗng chè nhỏ xíu, nhâm nhi trò chuyện, còn chủ quán phải luôn tay làm hết món này đến món khác cho khách ngồi quanh sạp. Cái quán nhỏ xíu nhưng chẳng còn dư ghế nào, trong khi khách ngồi trên xe phía ngoài gọi món í ới… 

Nếu cứ nghĩ rằng, nơi đây chỉ toàn là món ăn của người Campuchia thì bạn đã lầm. Để hợp xu thế, rất nhiều món ẩm thực khắp mọi vùng, miền đều được bày bán trong chợ. Nào là bánh Huế (bánh bèo, bột lọc, bánh nậm, bánh ít ram); đậu hũ Singapore, bún chả cá Nha Trang; bún cá Châu Đốc, bún chả Hà Nội, cà na ngào đường… Chưa kể đến các món ăn uống thời thượng mà giới trẻ ưa thích, như: trà sữa, trà tắc siêu to, chè dưỡng nhan... chỉ cần chịu khó đi tìm là sẽ thấy rất nhiều quán phù hợp để sà vào ngồi. Lê la cả khu chợ suốt chiều tối, có khi chỉ tốn vài chục ngàn đồng mỗi người, là đủ no căng bụng. Rồi xen kẽ các sạp bán thức ăn, là quần áo các loại, đồ chơi, đồ trang sức, trái cây, thứ gì cũng có, thượng vàng hạ cám, đúng nghĩa của từ “chợ”! 

Những điều “quen mà lạ”, hòa trộn mỗi thứ một ít khiến “chợ Campuchia” Lê Hồng Phong đủ trở thành một điểm đến rất nổi tiếng và độc đáo ở TP. Hồ Chí Minh, hầu như chẳng bao giờ vắng khách. Báo chí, người làm truyền thông đến quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn suốt, đến nỗi người bán hàng trả lời gần như chuyên nghiệp, nhưng vẫn giữ được nét hồn hậu, ngọt ngào qua từng câu trò chuyện. Họ vẫn trân trọng, nâng niu và gìn giữ giá trị truyền thống trong sạp hàng mình bán, dù trải qua nhiều năm vật đổi sao dời. Đó chính là điều tôi thích nhất ở khu chợ trong chuyến đi hôm ấy… 

Bài, ảnh: GIA LẠC

Người Thái Nghệ An tổ chức nghi lễ "lạ" dưới gốc cây cổ thụ

đăng 18:01, 9 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cứ mỗi tháng 9 âm lịch, người Thái ở xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu lại diễn ra một lễ hội gọi là “pủ xừa”. Không gian của lễ hội là một gốc cổ thụ lớn trong bản. Vào ngày hội, mỗi gia đình trong cộng đồng đều biện cỗ đến cúng thần linh. 

Lễ cúng dưới gốc cây cổ thụ

Mỗi năm, ở bản Hồng Tiến 2, xã Châu Tiến diễn ra 2 lễ hội lớn. Hội Hang Bua vào cuối tháng Giêng âm lịch được tổ chức lại từ hơn 20 năm nay và khá nổi tiếng đối với du khách gần xa. Có một lễ hội nữa diễn ra vào tháng 9 âm lịch mà cư dân nơi đây cũng như nhiều làng bản khác gọi là “pủ xừa”. 

Trước khi đến với lễ hội, chúng tôi đã được ông Sầm Thanh Hoài - Phó Chủ tịch UBND xã Châu Tiến thông tin rằng: “Pủ xừa” là lễ hội thường niên của cộng đồng người Thái xã này. Tuy nhiên, vì ít được quảng bá nên không có nhiều người biết đến”. 

Người dân bản Hồng Tiến 2 chuẩn bị mâm cúng để đi ra khu vực tổ chức lễ pủ xừa. Ảnh: Hữu Vi 


Từ sáng tinh mơ, chúng tôi đã có mặt tại bản Hồng Tiến 2. Không cờ quạt, loa đài như những lễ hội lớn. Từ sớm tinh mơ, trong những ngôi nhà sàn ven lối lên đền Mường Chiêng Ngam, nhà nhà đang lặng lẽ chuẩn bị mâm cỗ. 

Trong một gian bếp như thế, một người phụ nữ tên là Vinh đang bày những gói “mọc” lên chiếc mâm nhôm. Một con gà đã luộc chín từ đêm trước được bày ra chiếc đĩa cổ, loại chỉ chuyên dùng bày gà cúng. Xong đâu đấy, bà bỏ tất cả lễ vật vào chiếc gùi. Bà Vinh không quên mang theo một chiếc chiếu, một chiếc mâm xách trên tay. Chuẩn bị xong xuôi, bà Vinh cất bước xuống cầu thang, nhằm hướng ngôi đền đi tới. Ngoài đường cũng đã lác đác xuất hiện người đi lễ. Ai nấy đều mang theo xôi, gà và đặc biệt là những gói “mọc”.

Lễ "pủ xừa" tổ chức dưới gốc cây thị cổ thụ. Ảnh: Hữu Vi 


Lễ hội không diễn ra ở trong đền như chúng tôi đã tưởng. Trong Lễ hội Hang Bua vào mùa Xuân, cúng đền là một nghi lễ quan trọng. Tuy nhiên, lễ “pủ xừa” lại diễn ra ở gốc cây thị trước cửa đền một quãng. Cây thị dễ chừng đã đến trăm năm tuổi tỏa bóng rợp cả một không gian rộng rãi. 

Trước kia, đền Mường Chiêng Ngam từng được xây dựng dưới gốc cây này. Dựng đền thờ thần linh dưới gốc cổ thụ là một đặc điểm đáng chú ý và khá phổ biến trong quan niệm tâm linh của cộng đồng người Thái và Khơ mú ở miền núi Nghệ An.

Cầu mong mùa màng bội thu 

Không khí của buổi lễ khá trang nghiêm. Dù đến trước hay đến sau, ai nấy đều lặng lẽ tìm cho mình một chỗ cạnh gốc cây rồi trải chiếu bày mâm lễ. 8 giờ sáng, khi hơn trăm hộ dân ở bản Hồng Tiến 2 đã đến đông đủ, ông Lữ Văn Dũng - thầy mo của bản bắt đầu lễ cúng. Ngoài những mâm cúng của từng hộ gia đình còn có mâm chính của cả bản, bày một con lợn, xôi, gà và 1 vò rượu cần. 

Các gia đình dự lễ "pủ xừa" đều chuẩn bị mâm cúng riêng. Ảnh: Hữu Vi 


Lễ cúng diễn ra khá nhanh gọn. Thầy mo mời các “pủ”, tức là những người xưa đã khuất nay trở thành thần cai quản bản mường về hưởng lộc, để rồi phù hộ cho người dân được ấm no, vụ mùa bội thu. 

Ông Lữ Văn Dũng giải thích: Xưa kia, khi người dân trong vùng còn làm rẫy thì lễ hội này có ý nghĩa cầu mong mùa màng bội thu. Đến nay thì ý nghĩa của lễ hội cũng thay đổi, đó là dịp người dân bày tỏ tri ân với thần linh đã phù hộ cho mọi người được mạnh khỏe. Những người thuộc thế hệ sau không còn mấy ai biết được ý nghĩa gốc của nghi lễ này nữa.

Vào ngày 12 tháng 9 âm lịch, khắp các bản có người Thái sinh sống ở xã Châu Tiến đều tổ chức lễ “pủ xừa”. Nghi lễ tổ chức đều giống nhau. Tuy nhiên, theo ông Lữ Văn Chính ở bản Hoa Tiến 1 thì trước kia có một thời gian dài, nghi lễ này không được tổ chức. Khoảng gần 10 năm trở lại đây, được sự cho phép của chính quyền địa phương, người dân mới tổ chức trở lại. 

“Vì có nhiều năm không tổ chức nên khi làm lại, nghi lễ cũng có phần nhạt đi” - người từng chứng kiến lễ “pủ xừa” từ những năm 1970 nhận xét. 

Qua tìm hiểu những nghi lễ tâm linh từ nhiều địa phương khác nhau ở miền núi Nghệ An thì nhận thấy rằng, lễ “pủ xừa” thuộc một trong hàng chuỗi các lễ hội diễn ra vào mùa thu hoạch lúa nương, kéo dài từ tháng 8 âm lịch cho đến cuối năm. Trong số này có các lễ như “ki mọc” (Quỳ Hợp), “bươn xao” (Tân Kỳ, Con Cuông), “khàu cắm”, “cắm phạ” (Quỳ Châu, Quế Phong) và lễ mừng lúa mới của cộng đồng các dân tộc thiểu số như Thái, Khơ mú, Mông. Tất cả những lễ hội chung này đều có mục đích cầu mùa và tri ân thần linh đã mang lại vụ mùa bội thu cho cư dân.


Hữu Vi

Phong tục lạ: Chú rể được nhà gái biếu tiền trong lễ cưới

đăng 17:51, 9 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đối với người Thái ở huyện Con Cuông (Nghệ An), trong lễ cưới, chú rể và cô dâu sẽ phải đi rót rượu mời họ hàng trong tư thế quỳ gối để tỏ lòng trân trọng. Đổi lại, họ sẽ nhận được tiền từ người dự cưới. Tập tục này đã tồn tại từ nhiều thế hệ nay. 

Chú rể miền Tây Nam bộ lạ lẫm trong lễ cưới của chính mình 

Càng về những tháng cuối năm, nhiều làng bản ở huyện Con Cuông rộn ràng không khí vui tươi của nhiều đám cưới. Nhiều năm trở lại đây, những đám cưới ở địa bàn người Thái này đã có nhiều thay đổi, nhất là khi những người trẻ đi làm ăn xa kết hôn với người địa phương khác. Dẫu vậy thì một số tục lệ xa xưa vẫn được người dân duy trì. Điều này tạo nên nhiều thú vị đối với những người đến từ địa phương khác. 

Chú rể Võ Thành Nam bên vợ mới cưới của mình. Ảnh: Hữu Vi 


Gần đây, anh Võ Thành Nam vượt hơn 1.000 km từ tỉnh Trà Vinh về miền núi Nghệ An đón dâu. Vợ của anh Nam là chị Lương Thị Duyên ở bản Tờ, xã Yên Khê (Con Cuông). Anh Nam gặp vợ khi chị này vào làm công nhân tại một doanh nghiệp ở tỉnh Bình Dương. Đôi trẻ nhanh chóng cảm mến nhau, dù có nhiều khác biệt về nơi ăn chốn ở cũng như tập quán. Ngày cưới cũng là lần đầu tiên anh Nam đặt chân đến quê vợ và trải nghiệm tục cưới mà theo anh rất đỗi lạ lẫm, thú vị.

Trong 2 ngày ở Yên Khê, anh Nam phải ra mắt tổ tiên bằng việc lạy trước bàn thờ. Trước đó, ở tục cưới người Thái, Nam còn được yêu cầu phải chuẩn bị một chiếc áo đặt lên bàn thờ để ma nhà nhận mặt chú rể. Theo quan niệm của người dân bản địa thì khi áo của chú rể được bày lên mâm cúng trên bàn thờ mới được tổ tiên nhận là con rể của gia đình. 

Họ nhà trai tập trung trước cổng nhà gái để làm lễ xin dâu. Người dẫn đoàn gõ chiêng rộn ràng, tạo không khí vui tươi cho buổi lễ. Ảnh: Hữu Vi 


Nhà gái “biếu tiền” cho chú rể ngay trong đám cưới

Đó chưa phải điều thú vị nhất mà chàng rể người miền Tây Nam bộ chứng kiến trong đám cưới kéo dài 2 ngày của chính mình. Vào ngày đầu, nhà gái bày cỗ mời họ hàng gần xa. Trước cửa cũng có một chiếc hộp đựng tiền như những đám cưới khác để mọi người “mừng rể mới”. Nhưng đó không phải chỗ duy nhất chú rể được nhận quà. 

Sau bữa cơm gia đình, những “bô lão” trong họ ngoại làm lễ cho chú rể lạy tạ và nhận quà. Họ hàng gần, xa đều được gọi lại ngồi cùng. Chàng rể được giao cho một chai rượu và những chiếc chén bày trên một cái đĩa nhỏ. Anh Nam được hướng dẫn đến từng người rót rượu mời, qua đó sẽ biết cách xưng hô và vị trí của mình đối với mỗi người trong họ. 

Chú rể Võ Thành Nam thực hiện tục mời trầu với các bậc cao niên trong họ nhà gái. Ảnh: Hữu Vi 


Sau màn rót rượu là màn mời trầu. Cũng như khi rót rượu, chàng rể đều phải trong tư thế quỳ gối khi mời người đối diện để tỏ sự trân trọng.

Xong những thủ tục này, chàng rể ngồi cạnh cô dâu quan sát màn “biếu quà” của họ gái. Một “bô lão” lĩnh xướng thủ tục sẽ nhận tiền từ từng người và đọc to tên người biếu quà và số tiền nhận được. Sau khi nhận quà từ người cuối cùng, người chủ lễ sẽ kiểm đếm tiền và công khai trước mọi người rồi giao tất cả cho chú rể. Theo quy định của tập tục cưới thì đây là quà mừng rể của họ gái và chú rể được quyền quyết định sẽ dùng số tiền cho mục đích gì.

Tập tục này đã xuất hiện từ lâu trong đám cưới người Thái. Từ nhiều thế hệ nay, hình thức tổ chức của lễ mừng rể gần như không thay đổi. Nó diễn ra tại nhà gái và thường là trước ngày chú rể đón cô dâu về nhà mình.

Cũng theo tục cưới của người Thái ở huyện Con Cuông thì nhà trai cũng sẽ “đáp lễ” lại bằng lệ “mừng dâu”. Tất nhiên là lễ này diễn ra khi cô dâu đã về nhà chồng. Trong đám cưới chính thức diễn ra vào ngày thứ 2, nhà trai sẽ tổ chức “mừng dâu”. Trong lễ này, cô dâu cũng thực hiện các nghi thức như chú rể đã làm. 

Trước đây, khi chưa xuất hiện rạp cưới, nhạc đám cưới và chiếc hộp đựng tiền hình quả tim thì lễ mừng dâu và mừng rể khá phổ biến trong đám cưới người Thái ở huyện Con Cuông. Ngày nay, để cho đám cưới gọn ghẽ hơn, nhiều làng bản, dòng họ đã bỏ tục này. Người đến dự đám cưới chỉ mừng một lần ở một chỗ duy nhất là chiếc hộp đựng tiền. Tục mừng dâu, mừng rể chỉ còn được duy trì tại những bản người Thái ở xã Yên Khê. 

Hữu Vi

Những “kho vàng” ở làng ươm tơ Cổ Chất

đăng 20:22, 7 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

“Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông”, câu ca vẫn được các cụ lưu truyền bao đời đã thay cho chỉ dẫn địa lý về một thương hiệu quý giá trên mảnh đất thành Nam – làng nghề tơ Cổ Chất, Cả đời gắn bó với nghề tằm tang, thăng trầm cũng nhiều, nhưng người làng dệt Cổ Chất không thể nghĩ hướng rẽ mới của nghề truyền thống quê hương mình lại gắn với du lịch. 

Vàng son một thuở

Những ngày cuối hè, làng Cổ Chất (xã Phương Định, huyện Trực Ninh, Nam Định) rực rỡ bởi những bó tơ vàng, tơ trắng óng ả buông theo những thanh sào tre dựng san sát bên đường. Người làng vẫn hay nói vui, nhà nào còn giữ nghề ươm tơ thì đều có những kho vàng trong nhà, đó là những bó tơ tự nhiên được làm bằng mồ hôi, công sức của các thành viên trong gia đình. 

Người thợ đang kéo tơ. 


Làm nghề tằm tang cũng bận rộn theo mùa vụ. Qua tháng Giêng, sang tháng hai âm lịch là mọi người bắt đầu vào vụ ươm tơ đầu tiên. Đến tháng 9 âm lịch là hết chính vụ. Nếu có kén, người làng có thể làm thêm vụ tằm ép cuối năm vào tháng 12 dương lịch. Bởi thế, vào tháng 8, tháng 9 là vào mùa thu hoạch cuối năm trước khi nghỉ ngơi, nên đến đây sẽ thấy không khí tất bật, nhộn nhịp của làng nghề truyền thống.

Nồi đun nước luộc kén bốc lên nghi ngút. 


Bà Nguyễn Thị Đan, người làng Cổ Chất cho biết, sống ở làng nghề đã vài trăm năm, thế hệ bà ai cũng biết quay tơ se sợi, con gái 11, 12 tuổi đã có thể phụ giúp gia đình. “Đúng là nuôi tằm ăn cơm đứng, vất vả thật, nhưng nghề cha ông để lại nên cứ vậy rồi học theo, giờ thì gắn bó với mình cả một đời. Con cháu có ngăn cản thì tôi vẫn cứ làm, vì nhớ nghề”, bà chia sẻ. Ở thời kỳ phát triển cực thịnh, cả làng Cổ Chất sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, quay sợi. Mấy trăm hộ gia đình nhà nào cũng có tới hai lò ươm, thoi dệt làm việc ngày đêm không ngơi nghỉ. Cánh đồng trước làng bạt ngàn một màu xanh của lá dâu, làm vùng nguyên liệu cho sản xuất, nổi tiếng khắp miền gần xa bởi thứ tơ lụa óng ả, bền đẹp và rực rỡ sắc màu. 

Người làng Cổ Chất tất bật vào vụ ươm tơ. 


Giống với nhiều làng nghề truyền thống, nghề tơ lụa làng Cổ Chất không thoát khỏi tình trạng mai một, bấp bênh giữ người giữ nghề. Đến nay, cả làng còn khoảng 20-30 hộ ươm tơ, chủ yếu là công việc của phụ nữ, người trung niên hay ông già bà cả. Trong những xưởng kéo tơ, dù ngày mưa hay ngày nắng, mọi người vẫn đều đặn làm những công việc thường ngày, từ việc lựa chọn và phân loại kén tằm, cho đến việc đảo kén lấy mối tơ, tay thoăn thoắt mắt không rời để kéo tơ đều sợi, tạo nên những nén tơ căng chắc.

Giữ thương hiệu làng nghề

“Hỡi cô thắt dải lưng xanh/ Có về Nam Định với anh thì về/ Nam Định có bến Đò Chè/ Có tàu Ngô Khách, có nghề ươm tơ”, câu ca lưu truyền xưa giờ trở thành lời mời gọi những dukhách thập phương về với làng ươm tơ Cổ Chất. Ở làng bây giờ, ngoài những xe hàng đưa tơ đi khắp nơi để làm nên vải lụa, còn có những đoàn du lịch tới tìm hiểu văn hóa, nghề truyền thống của địa phương. 

Kén tằm. 


Trong hơi nước trong những nồi đun nước luộc kén bốc lên nghi ngút, các cô các bà luôn tay bỏ những nong kén tằm vào rồi khỏa nước liên tục. Sợi tơ chui qua một lỗ nhỏ rồi cuốn mình vào guồng đang quay tít. Dù cuộc sống hiện đại, nhưng các công đoạn kéo tơ dệt vải ở làng Cổ Chất vẫn phần nhiều làm thủ công, phần nhiều dành cho phụ nữ. Khâu nào cũng đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận. Như khi chỉnh tơ, ai cũng phải căng mắt để nhặt tạp chất, quấn cho khuôn tơ được suôn và đều, sao cho tơ được sạch sẽ. Hay khi gỡ tơ, bí quyết se sợi đẹp chính là phải gỡ kỹ rồi mới từng bó tơ phơi khô dưới nắng. Sợi tơ thanh mảnh, mềm mại nhưng rất bền và có màu sắc tươi sáng, là niềm tự hào của bà con giới thiệu với du khách.

Tơ được phơi nắng. 


Chị Trịnh Thu Thảo (phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội) từng tham gia một tour du lịch khám phá mảnh đất thành Nam cho biết, làng Cổ Chất để lại ấn tượng với các thành viên trong đoàn bởi không khí nhộn nhịp và không gian đa sắc màu tại đây. Chị chia sẻ: “Chúng tôi háo hức được nhìn những nghệ nhân hướng dẫn cách kéo tơ, cũng hiểu thêm được vì sao ngày xưa bà chúng tôi vẫn hay bảo – Một nong tằm là năm nong kén, một nong kén là chín nén tơ. Nhưng điều ấn tượng nhất là tình yêu nghề của những người dân làng Cổ Lễ. Dù công việc có cực nhọc, vất vả nhưng họ luôn hào hứng, nhiệt huyết khi nói về nghề cha truyền con nối này”.

Những sợi tơ vàng óng ánh. 


Không chỉ có vậy, du khách đến đây có thể tìm hiểu văn hóa, phong tục tập quán truyền thống khi thăm đền Vạn Cổ Hương và chùa Phổ Quang tự - một quần thể kiến trúc của làng Cổ Chất hoàn chỉnh, tôn thêm nét đẹp văn hóa, lịch sử cho vùng quê yên bình này, góp chung cho diện mạo văn hóa đặc trưng vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Trà Lĩnh

Nghề “dụ” cá trên sông

đăng 00:47, 5 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Trong những nghề hạ bạc, dỡ chà được xem là khá nhất, bởi người hành nghề không phải lặn lội trên sóng nước mênh mông để tìm từng con tôm, con cá mà “dụ” chúng gom lại một chỗ để đánh bắt. Tuy nhiên, đã là nghề “bà cậu” thì đều có nỗi vất vả riêng.

Thăng trầm với “nghiệp” 

Gắn bó với nghề dỡ chà từ lúc tóc còn xanh đến khi đã là ông lão ngoài 60 tuổi, ông Trần Văn Xem (xã Bình Mỹ, Châu Phú) không nhớ rõ mình đã đi qua bao nhiêu mùa nước nổi và bao nhiêu lần dỡ chà trên xép Năng Gù. Có lẽ, cuộc đời ông cũng bình yên như mặt nước Năng Gù, quanh năm lặng sóng. Có chăng là nghề dỡ chà trên sông cứ thăng trầm theo con nước, khi trúng, khi thất nhưng vẫn nuôi sống gia đình ông mấy chục năm qua. 

Dỡ chà bắt cá trên xép Năng Gù 


Trong đôi mắt đã hằn dấu thời gian, ông Xem vẫn nhớ mồn một những ký ức của mấy chục năm về trước, khi mà mỗi lần dỡ chà là cá phóng vùn vụt trông mê cả mắt. Cứ thế, mỗi lần cất lưới là thu được 700-800kg cá đủ loại, đủ cỡ. Bạn hàng tấp ghe vô mua cá, xong trả tiền tại chỗ để ông Xem trang trải cuộc sống gia đình. 

Cứ như thế, mỗi tháng ông Xem dỡ chà 1 lần là dư tiền “cơm gạo” cho các con, phần còn lại để dành chi tiêu cho những tháng mùa khô. Cá lăng, cá mè vinh, cá ngựa, cá chốt… đủ hết. Phần ông đem bán, phần để lại ăn, nếu không hết lại đổ vô lu ủ mắm. 

Ông Xem chia sẻ, dù thời đó cá sông có rẻ thật nhưng với số lượng nhiều thì chúng vẫn giúp dân “bà cậu” có thu nhập trong mấy tháng nước ngập “linh binh” khắp nơi. Với lại, cá nhiều giúp bữa ăn mùa lũ ngày trước phong phú lắm. Canh chua, mắm đồng, cá nướng đủ kiểu, hết món nọ đến món kia. Người ta nói đùa rằng, dân dỡ chà như ông ăn uống “sang” lắm! Mỗi lần cất cá thì ông và những anh em phụ việc đều có những bữa tiệc hoành tráng từ những con cá bắt dưới sông lên. Tuy nhiên, không phải nghề dỡ chà “dễ ăn” như nhiều người nghĩ. Bởi, có những con nước cá ít thì chủ chà như ông Xem không đủ tiền trả công người lao động. Đó là chưa kể bản thân ông phải ngụp lặn hàng giờ đồng hồ cùng mọi người cất cá. 

Vì người ta chất rất nhiều cây để đủ độ ấm "dụ" cá vào ở, nên lúc dỡ chà cũng phải gạn lên cho thật kỹ nếu không muốn bị rách lưới khiến chúng thoát ra ngoài. Những con cá nhảy xoi xói phản chiếu ánh nắng qua lớp vảy khiến người xem trầm trồ, nhưng với dân trong nghề như ông Xem thì niềm vui chỉ trọn vẹn khi cầm trên tay số tiền bán cá để biết mình có lãi hay không. Tuy nhiên, vì đã gắn bó với cái nghiệp dỡ chà nên nhiều lần muốn từ bỏ nhưng rốt cuộc ông vẫn quay về với nó. 

Gắn bó với nghề 

Đã mấy mươi năm “mặt nám tay chai” với nghề, ông Xem nghĩ rằng nó vẫn có thể nuôi sống ông khá lâu nữa. Giờ con cá dẫu ít hơn nhưng bán được giá cao nên ông Xem vẫn có “đồng vô đồng ra” chứ, không đến nỗi trắng tay. Ông Xem cho biết, bản thân đã lớn tuổi nên không thể chọn nghề nào khác mà sẽ tiếp tục cái nghề "dụ" cá. Các con ông giờ đã tìm được cuộc sống ổn định hơn. Họ đi lao động ngoài tỉnh với đồng lương đều đặn hàng tháng, chứ không thể ở nhà dỡ chà cùng cha mình như những năm trước. 


Hiện giờ, những mặt hàng như: cá kết, cá leo có giá hàng trăm ngàn đồng/kg. Những loại cá dễ kiếm hơn như: cá linh, cá lăng khoảng 60.000-80.000 đồng/kg nên ông Xem vẫn có thể tiếp tục với nghề dỡ chà trên sông. Sản lượng cá cất lên vài chục kg mỗi mẻ lưới mới đủ bán ở chợ nhưng ông cùng những “đồng nghiệp” khác vẫn có thể trang trải cuộc sống. 

Mạnh tay ném từng nhánh chà đầy rong rêu lên bờ, anh Nguyễn Văn Thuận (ngụ xã Vĩnh Hội Đông, An Phú) không giấu được sự thất vọng cho mùa nước năm nay. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi dân “bà cậu” như anh chỉ có 6 tháng mùa nước để kiếm đồng vô kha khá mà chuẩn bị cho cái Tết Nguyên đán gần kề, hay toan tính các khoản chi tiêu khác trong năm. Nhưng lũ bất thường khiến anh không biết đường mà tính. Đầu vụ nước lên chậm. Giữa mùa nước lên nhanh. Giờ cũng là lúc nước rút băng băng. Con cá, con cua chưa kịp lớn đã trôi đi đâu hết. Đống chà anh chất bên bờ sông Vĩnh Hội Đông thu được rất ít cá khiến cuộc sống gia đình khó khăn hơn. 

Tuy nhiên, anh Thuận cho biết mình vẫn tiếp tục ngóng con nước tháng 10 (âm lịch) với hy vọng sẽ thu được mẻ cá khá hơn. Khi đó, anh mới có đủ tiền để sắm sửa trong nhà đón Tết hay mua thêm cho mấy đứa con cái quần, cái áo đi học. Khó khăn là vậy nhưng anh cho biết vẫn sẽ tiếp tục với nghiệp dỡ chà, bởi nó là kỷ niệm mà cha anh để lại. Hơn nữa, các anh em trong gia đình đã đi Bình Dương hết, chỉ còn anh ở lại quê nhà. Bởi thế, anh vẫn cứ bám vào mùa lũ với niềm ước mong những mẻ lưới bội thu, khi con nước cuối mùa sẽ mang cá ra sông. 

THANH TIẾN

Thăm xứ sở trầm hương nổi tiếng nhất Hà Tĩnh

đăng 20:56, 4 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Người dân xã Phúc Trạch (Hương Khê – Hà Tĩnh) thực sự “đổi đời” nhờ trồng cây dó trầm. Từ cây dó trầm, họ đã năng động, sáng tạo chế tác ra những sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương.

Theo chân anh Pham Văn Vinh (Giám đốc HTX Hương trầm, vòng trầm và TMDV Thành Vinh) tìm chọn mua cây dó trầm trong làng về để chế tác ra những sản phẩm phục vụ thị trường cuối năm, chúng tôi đến khu vườn với hàng trăm cây dó trầm có độ tuổi từ 7 – 20 năm tuổi của một ông lão năm nay cũng đã gần 90 tuổi.


Anh Vinh chia sẻ: Vườn cây dó trầm này tính sơ sơ có trị giá gần một tỷ đồng. Bởi nhiều cây trong vườn có chất lượng trầm rất tốt, có nhiều cây khách hàng trả giá từ 100 – 120 triệu đồng nhưng gia chủ chưa muốn bán.


“Lượng trầm không phụ thuộc vào độ tuổi của cây mà quan trọng là, người trồng phải tự tạo hoặc do sâu đục phá tạo thành “vết thương” trên cây dó trầm. Còn về chất lượng trầm thì không phải vùng đất nào trồng cây dó trầm cũng mang lại hương thơm đặc biệt như ở xã Phúc Trạch bởi phù hợp với thổ nhưỡng ở đây” - anh Vinh cho biết thêm.


Cây dó trầm dễ trồng, lợi nhuận cao nên nhiều hộ dân ở xã Phúc Trạch xóa bỏ các cây trong vườn cho thu nhập thấp, mua giống về trồng. Khi cây dó trầm có độ tuổi từ 7 năm trở lên thì người dân có thể khai thác.


Vài năm gần đây, người dân Phúc Trạch đã năng động, sáng tạo chế tác nhiều sản phẩm từ trầm, được thị trường đón nhận, mang lại thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.


Ông Lê Văn Hãn – một người có thâm niên về trồng, khai thác cây dó trầm ở đây cho biết: Hiện nay, một số hộ dân ở xã Phúc Trạch đã chế tác ra được nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú như trầm cảnh, trầm sạch, vòng trầm, tượng điêu khắc và trầm hương. Những sản phẩm trên được sản xuất chủ yếu bằng thủ công nhưng đòi hỏi người thợ phải có tay nghề, tính kiên trì và có tính thẩm mỹ.


Qua tìm hiểu được biết, các sản phẩm từ trầm đang rất “đắt khách” như vòng trầm các loại, trầm cảnh và tượng điêu khắc... Mỗi sản phẩm có trị giá khác nhau nhưng đều mang lại lợi nhuận rất cao. Tính bình quân, mỗi năm, các cơ sở chế tác trầm hương trên địa bàn thu nhập từ 600 – 700 triệu đồng.


Theo ông Phan Văn Tịnh – Phó Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch, ngoài bưởi Phúc Trạch thì dó trầm là một trong những cây chủ lực, đưa lại hiệu quả kinh tế rất cao trên địa bàn. Trong nhiều năm qua, cây dó trầm được người dân phát triển rất mạnh, được xem là “cây làm giàu” với tổng diện tích trên 300 ha.


Hiện tại, trên địa bàn xã có 3 hợp tác xã đó là HTX Trầm hương Trung Trực, HTX Trầm hương Thọ Nga và HTX Trầm hương Thành Vinh. Các sản phẩm trầm hương chủ yếu bán ra các tỉnh Bình Định, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh...


Với những lợi thế phát triển và hiệu quả kinh tế mà cây dó trầm mang lại, người dân địa phương mong các cấp có thẩm quyền sớm đưa “đặc sản” này trở thành cây chủ lực phát triển bền vững. Có như vậy người dân mới được thụ hưởng các chính sách hỗ trợ, được chuyển giao khoa học kỹ thuật và từng bước xây dựng thương hiệu trầm hương Phúc Trạch - Hà Tĩnh


Hữu Trung – Lê Tuấn

1-10 of 16