Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • "Chợ đặc sản" trên quốc lộ 20 Khu vực cầu La Ngà (xã Phú Ngọc và La Ngà, H.Định Quán) lâu nay trở thành điểm dừng chân của nhiều khách đi đường trong và ngoài tỉnh ...
    Được đăng 18:45, 12 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Làng nghề nuôi cá lồng trên sông Kinh Thầy Người dân ở xã Nam Tân, (huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) đã có kinh nghiệm nuôi cá lồng từ lâu. Tận dụng lợi thế của con sông Kinh Thầy ...
    Được đăng 06:01, 10 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Độc đáo nón lá Phú Châu Vào những ngày này, chúng tôi có dịp được về thăm làng làm nón Phú Châu, (huyện Ba Vì, Hà Nội) nơi sản xuất ra những chiếc nón có độ ...
    Được đăng 05:49, 10 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bảo tồn, khôi phục nghề đan lát truyền thống của đồng bào M’nông Cũng như đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ sinh sống trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, đồng bào M’nông có nhiều nghề thủ công, trong đó ...
    Được đăng 01:47, 9 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nhà rông của dân tộc Brâu ở Pờ Y Cũng như cộng đồng các DTTS tại chỗ ở Kon Tum, nhà rông chiếm một vị trí khá quan trọng trong đời sống văn hóa, sinh hoạt cộng đồng của ...
    Được đăng 02:15, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


"Chợ đặc sản" trên quốc lộ 20

đăng 18:45, 12 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Khu vực cầu La Ngà (xã Phú Ngọc và La Ngà, H.Định Quán) lâu nay trở thành điểm dừng chân của nhiều khách đi đường trong và ngoài tỉnh mỗi khi có dịp đi qua, bởi sự hấp dẫn của những gian hàng bán các loại cá khô, cá tươi ngay cạnh sông La Ngà. 

Người đi đường chọn mua cá khô tại khu vực cầu La Ngà 


Các loại cá bày bán tại khu “chợ đặc sản” này được nuôi ngay trên sông La Ngà, khu vực tập trung hàng trăm hộ nuôi cá bè, cũng có khi là cá thiên nhiên được đánh bắt trên sông từ những ngư dân làng bè. 

* Món ngon từ sông nước 

Buổi chiều, dù nắng trên sông La Ngà đã xuống thấp nhưng những gian hàng cá khô và tươi vẫn đón khách ghé thăm. Khách hàng dừng chân vào thời điểm này phần lớn là những khách đường xa từ TP.HCM, Bình Dương, Vũng Tàu... dừng chân để mua cá khô, thậm chí cả cá tươi để mang về nhà sử dụng hoặc làm quà biếu. 


Ngoài “chợ đặc sản” bán các loại cá ở khu vực cầu La Ngà, trên địa bàn H.Định Quán còn một số khu vực bán các loại đặc sản khác như: xoài, chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, măng tre… do người dân địa phương bày bán dọc quốc lộ 20 và tại một số trạm dừng chân, trong đó tập trung chủ yếu ở khu vực xã La Ngà, Phú Ngọc. Những điểm bán đặc sản này đã tồn tại nhiều năm nay. Theo đánh giá của một số khách đi đường, tại những điểm bán đặc sản không có tình trạng “chặt chém” cũng như tranh giành khách.

Đã từng được chồng đi công tác ở TP.HCM về mua cho vài ký khô cá lóc từ các gian hàng cá khô khu vực cầu La Ngà, nay khi có dịp đi TP.HCM thăm bà con, chị Phùng Thị Phương (H.Đạ Huoai, T.Lâm Đồng) cũng không quên dừng xe mua thêm vài ký khô cá lóc để biếu bà con món đặc sản trên sông La Ngà. Chị Phương cho biết, lần đầu tiên ăn cá khô do chồng mua về, chị đã rất ấn tượng bởi hương vị thơm và độ ngọt của cá. Khô cá lóc tại đây được làm từ cá còn tươi nên thịt không bị bở và có mùi thơm tự nhiên. “Mấy đứa nhỏ lạ miệng ăn cơm ngon hơn, cá mua về tôi để tủ lạnh ăn được cả tháng nên rất yên tâm. Nay có dịp đi thăm người thân nên ghé mua để làm quà, gia đình tôi rất thích món ăn này nên mai mốt khi về lại Lâm Đồng tôi sẽ mua thêm để nhà dùng dần” - chị Phương chia sẻ. 


Cũng là khách hàng thường xuyên ghé khu “chợ đặc sản”, ông Nguyễn Văn Đông (TP.Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương) là “mối ruột” của những tiệm bán cá tươi. Mỗi khi dừng chân là tốn tiền triệu nhưng ông Đông chưa bỏ qua lần nào để mua về các loại cá lăng, cá chình, cá lóc…cho gia đình. Ông Đông chia sẻ, mua cá tươi ở đây không sợ cá chết khi về tới nhà vì người bán sẽ giúp thổi oxy vào bao đựng cá, bên trong có sẵn nước cho cá thở. “Nếu đi ngang khu vực này ngay giờ cơm thì chúng tôi sẽ dừng lại một số quán cơm ở khu vực cầu La Ngà để thưởng thức các món ăn được chế biến từ đặc sản trên sông như: khô cá lóc, canh chua cá lăng, cá lăng kho… những món ăn được chế biến rất ngon vì cá tươi và hợp khẩu vị” - ông Đông cho biết thêm. 

* Đa dạng sản phẩm 

Khu vực cầu La Ngà không chỉ trở thành điểm tập trung bán các loại cá đặc sản trên sông, mà nơi đây còn có những cơ sở sản xuất cá khô, những quán ăn với nhiều món ngon được chế biến từ cá thu hút ngày càng đông khách dừng chân thưởng thức. 


Bà Hồ Thị Thủy, chủ một cơ sở sản xuất cá khô tại xã Phú Ngọc cho biết, mỗi ngày cơ sở của bà sản xuất khoảng 150-200kg cá tươi các loại, với từng ấy cá, sau khoảng 2-3 ngày phơi nắng sẽ thu về khoảng 50-70kg. Theo bà Thủy, hầu hết cá để làm khô đều do các nhà nuôi cá bè, người đánh bắt trên sông cung cấp nên cá luôn tươi, thịt cá sau khi phơi khô vẫn giữ được vị thơm ngon nên cá làm ra được bà cung cấp cho các quán ăn, quầy bán cá khô khu vực cầu La Ngà. Ý thức được phải giữ gìn uy tín về sản phẩm để duy trì tiếng thơm cho đặc sản trên sông La Ngà cũng như “níu” thêm khách cho các cửa hàng đặc sản, không chỉ bà Thủy mà một số cơ sở sản xuất cá khô khác cũng luôn tuân thủ các nguyên tắc về lựa chọn nguyên liệu và giữ vệ sinh khi chế biến. 

Các sản phẩm từ cá khô cũng khá đa dạng như: khô cá kìm, cá lóc, cá cơm, cá sặc… có giá bán từ 130-350 ngàn đồng/kg. Cá tươi cũng có giá từ trên 100 ngàn đến trên 500 ngàn đồng/kg, chủ yếu là cá lăng, cá chình, cá lóc, diêu hồng. Ông Cường, chủ một quầy bán cá cho biết, không chỉ khách ngoài tỉnh, khách tại địa phương cũng ghé mua vì giá bán bình dân, khách địa phương cũng như khách qua đường đều bán cùng một giá nên khách hàng rất yên tâm khi mua. 

Thủy Mộc

Làng nghề nuôi cá lồng trên sông Kinh Thầy

đăng 06:01, 10 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Người dân ở xã Nam Tân, (huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) đã có kinh nghiệm nuôi cá lồng từ lâu. Tận dụng lợi thế của con sông Kinh Thầy chảy qua để lấy nước sạch nuôi cá lồng, mở ra hướng đi mới cho nghề nuôi trồng thủy sản ở nơi đây.

Mô hình nuôi cá lồng trên sông Kinh Thầy đã xuất hiện từ năm 2009. Theo lời chỉ dẫn của ông Bùi Hữu Chỉnh, Chủ tịch UBND xã Nam Tân, chúng tôi đã tìm đến nơi nuôi cá lồng của anh em anh Trần Văn Thiện, Trần Văn Tín ở thôn Trung Hà, xã Nam Tân. Đầu tư hàng chục tỷ đồng vào nuôi cá lồng từ khâu làm lồng, bè cá, nguồn cá giống, thức ăn cho cá, anh Trần Văn Thiện và anh Trần Văn Tín là những người tiên phong trong việc nuôi cá lồng trên sông và cho đến nay đã thu được những thành quả nhất định. 

Cám Cargill, nguồn thức ăn chính cho cá được đưa đến tận lồng. 


Cá điêu hồng – một trong những loại cá giống cho năng suất và hiệu quả cao khi được nuôi trong lồng. 


Anh Tín chia sẻ: “Nuôi cá lồng trên sông Kinh Thầy cho hiệu quả kinh tế cao. Ưu điểm của việc nuôi cá lồng trên sông là có mặt nước rộng, có thể tận dụng tối đa diện tích mặt nước. Mặt khác, xung quanh bờ sông Kinh Thầy ít có các nhà máy và khu công nghiệp. Là một nhánh của Lục Đầu Giang, sông Kinh Thầy ít có lũ cục bộ, lưu nước được thường xuyên thay đổi, tạo điều kiện cho cá tự điều tiết được lượng ôxy. Ngoài ra, lưu tốc nước không mạnh, cá không phải vận động nhiều, đã tạo ra môi trường nước thuận lợi và sạch cho cá, là những điều kiện thuận lợi để phát triển cá lồng”.

Anh Nguyễn Dương Khiêm đang cho cá trắm đen ăn. 



Cùng mong muốn làm giàu từ nghề nuôi cá lồng trên sông Kinh Thầy, quy mô bè cá lồng của gia đình anh Nguyễn Dương Khiêm, xã Nam Tân, huyện Nam Sách cũng rất công phu. Mỗi bè cá, anh Khiêm cho thả 8.000 - 10.000 con như bè cá điêu hồng, bè cá trắm đen hoặc cá chép thả 1.000 - 2.000 con. Hiện nay, gia đình anh Khiêm đang đầu tư 20 bè cá, nuôi chủ yếu là cá điêu hồng, ngoài ra còn nuôi cá đặc sản như cá lăng sông Hồng, cá trắm đen giòn, cá chép giòn... với số vốn ban đầu không nhỏ. Gia đình anh Khiêm cũng có dự định mở rộng quy mô các bè cá lên 30 bè trong thời gian tới. “Nuôi cá lồng quan trọng là vốn đầu tư ban đầu. Với khoảng hơn 10 bè cá của gia đình, chỉ riêng chi phí làm lồng đã lên đến hơn 1 tỷ đồng”, anh Khiêm cho biết. Tuy nhiên, theo anh Khiêm, bên cạnh nguồn vốn đầu tư ban đầu, thì chế độ ăn và chế độ chăm sóc cá cẩn thận cũng là yếu tố quan trọng để bảo đảm chất lượng của cá thương phẩm, phát triển nghề nuôi cá lồng. 

Mô hình nuôi cá lồng giờ rất phát triển ở xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. 


Nuôi cá lồng đã góp phần đem lại việc làm và thu nhập ổn định cho nhiều người dân ở xã Nam Tân. 


Hiện nay, nghề nuôi cá lồng trên sông Kinh Thầy rất phát triển, với hơn bốn chục hộ dân phát triển cá lồng ở xã Nam Tân, góp phần tạo ra diện mạo mới cho một vùng quê nhỏ bé, đồng thời tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương với mức thu nhập 5 - 6 triệu đồng/tháng. Về Nam Tân hôm nay chúng tôi đã thấy nghề nuôi cá lồng trên sông Kinh Thầy không chỉ là nét mới trong bức tranh kinh tế của vùng quê vốn thuần nông Nam Tân, Nam Sách, mà còn là sự bứt phá, vươn lên của những người dân chất phác nơi đây, trở thành những tỷ phú trên chính mảnh đất quê hương mình và làm giàu cho địa phương.

Gia Bằng

Độc đáo nón lá Phú Châu

đăng 05:49, 10 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Vào những ngày này, chúng tôi có dịp được về thăm làng làm nón Phú Châu, (huyện Ba Vì, Hà Nội) nơi sản xuất ra những chiếc nón có độ bền cao cung ứng cho toàn miền Bắc. 

Nghề làm nón tại xã Phú Châu bắt đầu hình thành từ năm 1939, khi đó có một cô gái làng Chuông tên Phạm Thị Nhàn ở huyện Thanh Oai lấy chồng về xã đã mang theo nghề từ quê rồi chuyền lại cho hàng xóm. Đến nay, toàn xã Phú Châu có đến 90% hộ làm nón, mang lại thu nhập ổn định cho người dân những lúc nông nhàn.

Người dân xã Phú Châu phơi lá đót ở trước sân đình làng. 


Xã Phú Châu có 3 thôn gồm: Phúc Xuyên, Phong Châu và Liễu Châu với 12 nghìn nhân khẩu thì hầu hết các hộ gia đình trong xã đều có người làm nón, mọi người thường tranh thủ buổi tối hoặc lúc nông nhàn. Riêng thôn Phúc Xuyên, có rất nhiều hộ gia đình chuyên sống bằng nghề nón lá.

Một người dân tại thôn Liễu Châu đang lựa chọn nan tre để làm vành nón.


Theo người dân Phú Châu, để làm ra được một chiếc nón đẹp phải trải qua nhiều công đoạn như chọn lá, làm vanh, giẽ lá, là lá, quay nón, nức, nhôi và sấy... Nguyên liệu làm nón thường là lá đót được người dân nhập về từ các vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Một chiếc nón đẹp đòi hỏi người thợ phải rất kỳ công từ cách chọn lá đến khi quay nón để làm sao không làm hở chúp, lá được xếp phẳng phiu không bị cộm.

Chị Nguyễn Thị Liệu người dân thôn Phúc Xuyên, Phú Châu cho biết: “Trung bình mỗi ngày một người có thể làm được 2 - 3 cái nón, nếu người làm thành thục có thể được 4 - 5 cái nón”.

Bà Nguyễn Thị Sáu, thôn Liễu Châu, Phú Châu đang làm các công đoạn để hoàn thiện nón. 


Sau khi chọn được nguyên liệu để làm nón, người dân Phú Châu sẽ xếp từng lá vào vòng nón, một lớp mo tre và một lớp lá đót rồi khâu lại bằng kim. Công đoạn khâu nón được đánh giá là khó nhất trong các công đoạn làm nón bởi nếu không khéo tay thì dẫn đến lá bị rách, nón sẽ hỏng. Người nào khâu chắc tay chiếc nón sẽ bền và đẹp hơn. 

Sau khi đã khâu xong thì bắt đầu tra nhôi. Đây cũng là công đoạn rất khó, vì nếu nhôi kỹ và chặt chiếc nón sẽ không bị sổ hoặc bung ra. Đó cũng là bí quyết làm nghề của những người dân Phú Châu. Công đoạn cuối cùng để cho ra chiếc nón thành phẩm, có độ bền và tránh bị mốc là người thợ sẽ mang chiếc nón đem hơ bằng diêm sinh để chiếc nón trở nên trắng, đẹp mắt. 

Trẻ em ở Phú Châu từ 6 tuổi đã biết làm các công đoạn đơn giản khi làm nón như cạp vành, khâu chỉ.... 


Nón lá Phú Châu làm ra đến đâu được các thương lái đến tận nơi thu mua hoặc được bán tại chợ phiên của xã, và đã có mặt ở khắp các phiên chợ các tỉnh phía Bắc như Hòa Bình, Phú Thọ...

Trao đổi với Phóng viên, ông Nguyễn Văn Quảng, Phó Chủ tịch UBND xã Phúc Châu cho biết, nghề làm nón đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế địa phương. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tập trung phát triển và xây dựng thương hiệu cho nón lá Phú Châu không chỉ ở trong tỉnh, các tỉnh lân cận mà ra toàn quốc. 

Ông Ngô Hữu Sang, thôn Liễu Châu phơi nón trước nhà để chuẩn bị đem xuất bán. 


Trải qua hàng chục năm hình thành và phát triển, nón Phú Châu ngày càng được cải tiến và tạo nên nét đẹp độc đáo truyền thống nhờ bàn tay khéo léo của những “nghệ nhân” làng. Tuy có lúc thăng trầm, nhưng phiên chợ xã Phú Châu chưa bao giờ vắng bóng hàng nón lá.

Trịnh Bộ

Bảo tồn, khôi phục nghề đan lát truyền thống của đồng bào M’nông

đăng 01:47, 9 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cũng như đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ sinh sống trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, đồng bào M’nông có nhiều nghề thủ công, trong đó có nghề đan lát truyền thống, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

Nghề đan lát của đồng bào M’nông thường do nam giới đảm nhận. Những lúc nông nhàn, đàn ông M’nông thường tạo nhiều vật dụng phục vụ sinh hoạt gia đình, dụng cụ đánh bắt cá. Đôi khi, các sản phẩm làm ra còn được dùng để trao đổi lấy lương thực, thực phẩm, công cụ lao động với gia đình khác để tăng thêm nguồn thu nhập. 

Nghệ nhân xã Quảng Sơn (Đắk Glong) đan gùi 


Trước đây, hầu hết thanh niên M’nông đến tuổi trưởng thành đều biết đan lát. Những chàng trai khéo léo, tạo ra nhiều sản phẩm đẹp còn được cộng đồng tôn trọng, các cô gái “để ý” nhiều hơn. Trong cuộc sống sinh hoạt, lao động, sản xuất hằng ngày, đồng bào cần rất nhiều vật dụng từ đan lát như: bồ lúa, gùi, nia, túi đựng cơm, rổ xúc cá, giỏ đựng cá… 

Theo nghệ nhân Y Ganh ở bon Yun Yúh, xã Đức Minh (Đắk Mil), nguyên liệu dùng trong đan lát của người M’nông thường được khai thác từ thiên nhiên ở các đồi núi quanh địa bàn cư trú, bao gồm các loại cây thuộc họ tre (tre, nứa, lồ ô…) hoặc loại dây leo (mây, cói, dây rừng…). Ngoài ra, còn có các loại vỏ cây (sâm lũ, sim rừng, cóc rừng, gạo…). Các loại vỏ cây này mềm nhưng có độ dai rất tốt để làm đế hoặc dây quai cho sản phẩm. Những nguyên liệu này được lựa chọn bằng kinh nghiệm thực tế của người đan lát. Bà con thường chọn những cây tre có độ tuổi từ 3 năm trở lên, vì nếu tre non thì rất giòn, dễ gãy và chỉ chặt vào những ngày cuối tháng không có trăng, bởi vì cây tre đầu tháng chứa nhiều nước nên mất nhiều thời gian khi sấy và dễ bị mọt. Mây thì chỉ lấy dây già, leo trên cây cao, có màu vàng hoặc xanh để bảo đảm độ dẻo. Đồng thời, những cây mây, tre phải thẳng đều và dài thì mới cho ra sợi nan suôn mượt, để khi đan không phải nối nhiều đoạn. 

Sau khi đã chọn được mây, tre đủ tiêu chuẩn, người đan sẽ bắt tay vào việc vót nan. Công đoạn vót nan cũng mang yếu tố quyết định để hoàn thiện cho một sản phẩm đẹp, do đó đòi hỏi người đan phải có kinh nghiệm. Chẻ nan mỏng hay dày là tùy thuộc vào sản phẩm sẽ được đan. Chẻ nan xong thì phải chuốt nan sao cho nan có độ mềm, nhẵn và đều, để khi đan các nan khít vào nhau và không tạo ra kẽ hở. Nan chuốt xong đem treo lên giàn bếp trong một thời gian nhất định mới đan được. 

Một số sản phẩm đan lát thủ công tinh xảo của đồng bào M'nông. Ảnh tư liệu 


Nghề đan lát đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ trong từng công đoạn, từ khâu chuẩn bị nguyên liệu cho đến khâu cuối cùng thành sản phẩm. Đồng bào có nhiều kỹ thuật đan như: cài lóng mốt, lóng đôi, lóng ba hoặc cài nan hình lục giác, cùng kết hợp lối kết nan, quấn nan rất phức tạp và tinh vi đầy sáng tạo. Vì vậy, đồng bào đã tạo ra được rất nhiều loại sản phẩm, từ đồ đựng, phương tiện vận chuyển đến một số vật dụng được dùng trong các nghi lễ, với các kiểu dáng phong phú như: gùi có thân cuốn hình trụ, đáy vuông; nia hình lá đề (hay còn gọi nia hình trái tim); rá đựng cơm miệng tròn, đế hình vuông; chụp mối hình chóp; lồng nhốt cá hình trụ tròn; chuồng nhốt gà các loại (hình khum có đáy chữ nhật; hình khối vuông có chóp tròn và vô vàn những hình khối khác). 

Tùy từng loại sản phẩm, đồng bào sử dụng những kỹ thuật đan khác nhau. Nghệ nhân K’Tiêng ở bon N’Jriêng, xã Đắk Nia (Gia Nghĩa) cho biết: “Thường thì những người đan lát giỏi sẽ được mời đến các gia đình khác trong cộng đồng để tham gia các công việc quan trọng của bon. Đây cũng là một trong những niềm tự hào của gia đình, dòng họ”. 

Hiện nay, đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh nói chung đã có nhiều thay đổi. Với sự xuất hiện của những vật dụng bằng nhựa, kim loại được bày bán nhiều trên thị trường, bà con đã ít dùng những vật dụng từ nghề đan lát truyền thống. Tuy nhiên, qua thống kê, trên toàn tỉnh vẫn còn 363 nghệ nhân biết nghề đan lát truyền thống; trong đó gần 300 nghệ nhân là đồng bào dân tộc M’nông. 

Để bảo tồn nghề đan lát truyền thống của đồng bào M’nông, trong những năm qua, ngành văn hóa phối hợp với chính quyền địa phương, các nghệ nhân ở các bon, buôn đã mở được nhiều lớp dạy đan lát. Đặc biệt, hiện nay Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang triển khai Dự án khôi phục làng nghề đan lát truyền thống của đồng bào M’nông ở bon Kon Hao, xã Đắk Ha (Đắk Glong). Mục đích của dự án là vừa bảo tồn vừa tạo sinh kế cho người dân thông qua các sản phẩm để bán cho khách du lịch. Hiện tại, làng nghề đan lát ở bon Kon Hao đã được đưa vào trong 44 điểm của tuyến du lịch thuộc Công viên địa chất Đắk Nông. 

Bài, ảnh: Hoàng Thanh

Nhà rông của dân tộc Brâu ở Pờ Y

đăng 02:15, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cũng như cộng đồng các DTTS tại chỗ ở Kon Tum, nhà rông chiếm một vị trí khá quan trọng trong đời sống văn hóa, sinh hoạt cộng đồng của dân tộc Brâu. Từ khi chọn vùng đất Đăk Mế (xã Pờ Y, huyện Ngọc Hồi) định cư đến nay, người Brâu đã 3 lần xây dựng nhà rông truyền thống. Với người Brâu, nhà rông gắn liền với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, là nơi sinh hoạt cộng đồng, là biểu tượng cho sức mạnh, sự che chở của thần linh đối với dân làng.

Là người gắn bó với nhiều thăng trầm của cuộc sống và sự phát triển của ngôi làng, bà Y Pan (90 tuổi) già làng Đăk Mế nhớ rõ về lịch sử nhà rông văn hóa của dân tộc bà, từ khi dân làng còn sinh sống trong rừng sâu. Bà Y Pan kể, lúc bấy giờ ngôi làng chỉ có hơn 60 hộ dân. Nhà rông nằm ở vị trí chính giữa làng. Nhà của các hộ dân nằm ở vị trí xung quanh theo hình tròn, cửa chính đều hướng về nhà rông, thể hiện sự đoàn kết và hội tụ sức mạnh cho ngôi làng.

Nhà rông hay nhà ở của các hộ dân đều có sàn nhà cao hơn mặt đất 1 tong pa do (đơn vị đo chiều cao của người Brâu, 1 tong pa do bằng chiều cao của 1 người đàn ông trưởng thành đứng dơ tay). Nhà rông hình vuông nên có 4 phần mái hình tam giác chụm vào nhau hướng lên trên. Nhà ở của các hộ dân hình chữ nhật nên phần mái hình chữ A, có 2 mái chính và phụ (mái chính nằm bên dưới, mái phụ nằm bên trên và có kích thước nhỏ hơn mái chính).

Bà Y Pan chia sẻ, với người Brâu phần mái của ngôi nhà gắn liền hình ảnh cây giáo (vũ khí của người Brâu dùng để tự vệ). Còn mái chính và mái phụ gắn liền với hình ảnh của “Cha na can tơ nac” (lớp da sừng sau gáy của con Rồng). Từ thời tổ tiên cho đến các thế hệ người Brâu hiện tại, kiến trúc của nhà rông và nhà ở vẫn được giữ gìn và truyền lại cho cháu con. Làng có nhiều ngôi nhà, có nhiều phần mái cao vút lên trời thì càng có sức mạnh để bảo vệ và che chở cho mọi người.

Nhà rông của người Brâu ở làng Đăk Mế, xã Pờ Y, huyện Ngọc Hồi. Ảnh: Nguyễn Hưng 


Năm 1976, từ nơi định cư trong rừng sâu, làng của bà Y Pan được bộ đội đưa về định cư bên dòng suối Đăk Hnêng (thôn Đăk Mế hiện nay). Lúc đó, làng chỉ có 70 hộ dân. Vài năm sau, khi cuộc sống dần ổn định, bà con trong làng bàn với nhau lên rừng kiếm vật liệu về dựng nhà rông cho làng.

Lồ ô là loại cây người Brâu dùng nhiều nhất khi dựng nhà rông. Để lợp mái, bà con dùng thân cây lô ô nhiều tuổi, chẻ thành từng miếng có chiều rộng 1 gang tay, chiều dài 2 gang tay, xếp chồng và so le với nhau. Bà con dùng cây lồ ô chẻ ra, đan thành những tấm lớn làm phên vách và sàn nhà.

Sau 2 tháng thi công, nhà rông mới của người Brâu tại thôn tái định cư Đăk Mế (được dựng giống với nhà rông trong rừng) được khánh thành trong niềm vui phấn khởi của bà con trong làng. Dù cuộc sống lúc bấy giờ còn nhiều khó khăn, nhưng từ khi có nhà rông mới, bà Y Pan và dân làng rất phấn khởi, họ như được tiếp thêm tinh thần và có niềm tin hơn vào chính quyền, bởi sự quan tâm hỗ trợ họ giữ gìn truyền thống của dân tộc Brâu.

Đến năm 1986, chẳng may nhà rông thôn Đăk Mế bị cháy khiến người dân trong thôn u buồn nuối tiếc. Theo bà Y Pan kể lại: Bà con ai nấy đều ủ rũ vì không có nhà rông, các lễ hội như: Pi mươk (lễ phát rẫy), cha mu chẻ (tỉa lúa), pa tốt nơat (thu hoạch lúa)… không thể tổ chức được.

Được sự hỗ trợ từ Nhà nước, vài năm sau nhà rông Đăk Mế được xây mới. Nhà rông này to hơn nhà rông bị cháy. Mọi người sinh hoạt cộng đồng và tổ chức các lễ hội ở đây đến năm 2010 (thời điểm nhà rông bị hư hỏng, xuống cấp trầm trọng).

Khuôn viên nhà rông văn hóa của người Brâu. Ảnh: ĐT 


Ông Thao Lợi - Thôn trưởng thôn Đăk Mế nhớ lại, sau khi thấy nhà rông không đảm bảo an toàn cho bà con sinh hoạt, Nhà nước tiếp tục hỗ trợ kinh phí để làng xây dựng nhà rông mới. Với chủ trương nhà rông được xây dựng mới phải đúng với thiết kế nhà rông của người Brâu nên ông Thao Lợi và cán bộ của Ban Dân tộc tỉnh sang làng Mạc Kêng, làng có người Brâu sống lâu đời ở huyện Phu Vông, tỉnh Attapư (Lào) - nơi tổ tiên người Brâu sinh sống để tham khảo nguyên mẫu, sau đó về họp với những người lớn tuổi trong làng để thống nhất phương án thiết kế và xây dựng. Sau 2 năm thi công, bà con Brâu ở thôn Đăk Mế có 1 nhà rông mới và 2 nhà truyền thống trong khuôn viên rộng gần 2.000m2.

Nhà rông nằm chính diện với cổng vào của khuôn viên, thiết kế theo hình chữ nhật, diện tích hơn 120m2. Nhà rông được làm bằng gỗ. Phần mái theo kiểu “Cha na can tơ nac” gồm mái chính và mái phụ, được lợp bằng ngói. Phên vách theo kiểu hình thang. Nhà rông có 2 cửa chính ở 2 cửa bên hông, sau mỗi cửa là phần hiên rộng 1,2mx2,5m. Nối 2 phần hiên là lối đi chính trong nhà, lối đi này cao hơn 2 phần hiên 30cm và có diện tích gần 11m2. Lối đi này chia ngôi nhà thành 2 phần. Phông nền, sao, búa liềm, bục phát biểu và tượng Bác Hồ được đặt trang trọng chính giữa ngôi nhà.

Trong khuôn viên, bên phải và bên trái của nhà rông là 2 nhà truyền thống được thiết kế theo nhà ở của người Lào. Hai ngôi nhà được xây dựng giống nhau, có 2 bậc thang dẫn lối lên nhà. Nhà được chia làm 4 phần, ở giữa là phòng ngủ, nơi cất những đồ giá trị; hiên bên trái là nơi chủ nhà tiếp khách; hiên bên phải là nơi gia đình tổ chức các việc quan trọng như: đám cưới, đám ma và hiên đằng trước là khu bếp nấu.

Ông Thao Lợi chia sẻ, khi làng tổ chức lễ hội, nhà truyền thống bên trái là nơi phụ nữ tổ chức nấu nướng, nhà truyền thống bên phải là nơi đàn ông chuẩn bị các lễ vật. Khi chuẩn bị xong, phụ nữ dâng thức ăn đi theo cửa bên trái vào nhà rông, đàn ông dâng lễ vật đi theo cửa bên phải vào nhà rông. Lửa được đốt ở chính giữa ngôi nhà, phụ nữ ngồi 1 bên, đàn ông ngồi 1 bên, dân làng cùng nhau làm lễ.

Hiện nay, khuôn viên nhà rông được đổ bê tông khang trang, sạch sẽ. Ngoài tổ chức các lễ hội, các buổi họp quan trọng, nơi đây còn là địa điểm các nghệ nhân trong làng truyền dạy lại nghề dệt, nghề đan, nhạc cụ truyền thống cho lớp trẻ; nơi chơi thể thao của các thanh niên và vui chơi của các em nhỏ. Thỉnh thoảng, tại bậc thang của 2 ngôi nhà truyền thống, nam thanh nữ tú của làng cũng về đây tìm hiểu, từ đó “kết tóc, se duyên”.

Đức Thành

Độc đáo kho lúa và chiếc hòm của người Giẻ Triêng ở Đăk Blô

đăng 02:09, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Dân tộc Giẻ Triêng là một trong những dân tộc tại chỗ chiếm đa số ở huyện Đăk Glei nói chung và xã Đăk Blô nói riêng. Dân tộc Giẻ Triêng có nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc được lưu giữ bao đời nay. Trong đó, kho lúa cất giữ lương thực và chiếc hòm là vật thể mang đậm văn hóa tâm linh. 

Ấn tượng kho lúa

Từ bao đời nay, người Giẻ Triêng sống dưới chân núi Nồi Cơm (xã Đăk Blô, huyện Đăk Glei) đã biết làm lúa nước. Lúa là nguồn lương thực chính nên họ rất quý trọng. Vì vậy, việc cất giữ lương thực cũng được người Giẻ Triêng nơi đây làm theo cách riêng của mình - làm kho cất giữ ở bên khu ruộng.

Kho lúa được lợp tranh, bốn vách được đan bằng nứa hoặc làm bằng gỗ chắc chắn, không hề rơi vãi lúa ra ngoài. Kho có 4 hoặc 6 trụ được chọn loại gỗ rất chắc và được đẽo gọt công phu, mối mọt khó phá hỏng. Kho lúa có một cửa duy nhất được làm bằng ván, dưới các trụ của kho lúa thường có các vòng tròn lớn nhằm hạn chế chuột tiếp cận kho lúa. Kho lúa nằm tách biệt với làng nhưng gần các đồng ruộng, rẫy lúa, khi thu hoạch người dân mang lúa đổ luôn vào kho (không phơi khô sau khi thu hoạch như người Kinh, không mang lúa về nhà mà chỉ mang một ít về đủ để làm lễ mừng lúa mới). Điều đáng nói là các kho lúa nằm tách biệt với làng nhưng không bao giờ bị mất trộm, kho lúa của nhà nào nhà đó dùng.

Kho lúa của người Giẻ Triêng tại Đăk Blô trước đây được lợp bằng tranh, nhưng nay gần như đều được lợp tôn thay thế và lợp rất cẩn thận, không bao giờ để bị mưa dột. “Nhà ở có thể bị mưa dột chứ kho lúa thì không bao giờ” - ông A Ngỗi nguyên Bí thư Đảng ủy xã Đăk Blô khẳng định.

Với người Giẻ Triêng, kho lúa không chỉ có giá trị về mặt vật chất mà cả về mặt tinh thần. Bởi kho lúa là nơi cất giữ nguồn lương thực chính mang lại nguồn sống cho họ bao đời nay trên mảnh đất này. Sự tích núi Nồi Cơm cũng xuất phát từ hạt gạo nơi này.

Kho lúa mới. Ảnh: PN - NL 


Người Giẻ Triêng có luật tục rất khắt khe, ai trộm cắp bị làng phạt rất nặng và nếu tái diễn sẽ bị đuổi ra khỏi làng (bị đuổi ra khỏi làng là một trong những hình phạt nặng nhất của người Giẻ Triêng). Xung quanh kho lúa luôn được phát quang thoáng mát, và dưới kho lúa luôn được quét dọn sạch sẽ, khô ráo, có khi sạch hơn nhà ở của họ.

Khi được hỏi sao không làm kho lúa gần nhà để tiện trong việc lấy lúa giã gạo mà để ngoài rẫy, già làng A Níc - làng Ping Lang (xã Đăk Blô) bộc bạch: “Để ở ngoài an tâm cái bụng hơn là để ở nhà, nếu có điều xấu xảy ra như cháy nhà thì vẫn còn lúa để ăn, chứ để lúa ở gần nhà, cháy nhà, là cháy lúa luôn, hết lúa nhà mình đói mà chết thôi”. Đây có thể là lý do chính mà người Giẻ Triêng không bao giờ cất lúa tại nhà. Khi nào nhà hết gạo họ mới ra kho gùi lúa về giã gạo ăn dần.

Khi họ gặt xong lúa được cất giữ hết vào kho, sau đó họ sẽ mổ gà, heo cúng thần lúa, trước khi lấy lúa về nhà ăn, khi chưa làm lễ mừng lúa mới cúng thần thì không được lấy lúa ra từ kho.

Có một điều rất lạ là người Giẻ Triêng luôn để lúa chín thật kỹ, gặt xong là đổ vào kho luôn không hề phơi thêm nắng. Vì các kho lúa luôn nằm ở vị trí thoáng mát, bốn bên là vách nứa hoặc ván có lỗ nhỏ thoáng khí nên lúa không phơi nhưng cũng không hề hư hay ẩm mốc.

Độc đáo chiếc hòm (Puộc) 

Không biết tự bao giờ, chiếc hòm (theo tiếng Giẻ Triêng gọi Puộc) là một vật thể mang đậm văn hóa tâm linh bên chân núi Nồi Cơm.

Chiếc hòm được đặt dưới kho lúa của mỗi gia đình và gia đình có bao nhiêu người thì được đẽo bấy nhiêu chiếc hòm. Người lớn thì được đẽo tương ứng với chiếc hòm lớn, trẻ em thì tương ứng với chiếc hòm nhỏ.

Chiếc hòm được làm từ gỗ nguyên khối xẻ ra làm 2 phần (phần hòm và phần nắp hòm), cả 2 được đục đẽo cẩn thận. Hai đầu mỗi chiếc hòm và nắp hòm được đẽo thêm cục gỗ nhỏ dùng để cầm, khiêng. Phần nắp đậy của chiếc hòm cũng được làm tương tự phần hòm nhưng được cắt mỏng hơn.

Người Giẻ Triêng dưới chân núi Nồi Cơm bao đời nay quan niệm rằng, mỗi người đều có phần thể xác và linh hồn nhưng khi chết đi thì linh hồn của họ sẽ trở thành hồn ma. Tuy đang sống nhưng họ vẫn quan niệm mỗi người đều có hồn ma riêng. Do đó, họ làm những chiếc hòm đặt dưới kho lúa để hồn ma của chính mình trú ngụ, không lang thang quấy rối, không quấy phá gia đình, người thân của họ. Ngoài việc bảo vệ gia đình mình, chiếc hòm còn có nhiệm vụ bảo vệ kho lúa không bị mất trộm, không bị kẻ xấu phá hoại, đồng thời giúp mỗi gia đình luôn có mùa màng bội thu, các thành viên trong gia đình luôn khỏe mạnh, đùm bọc yêu thương, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau.

Chiếc hòm (Puộc) luôn hiện hữu dưới các kho lúa của người Giẻ Triêng. Ảnh: PN - NL 


Để làm những chiếc hòm cho gia đình, họ phải vào rừng chọn những cây gỗ chắc và nhờ thanh niên trai tráng của làng chuyển gỗ về. Trước khi hoàn thành và đặt những chiếc hòm dưới các kho lúa, gia đình sẽ làm một lễ nhỏ để cúng thần linh, vật phẩm để cúng thường là heo. Trong trường hợp chiếc hòm bị hư hỏng thì sẽ được làm mới bổ sung, khi đó, họ cũng phải làm lễ cúng, nhưng đơn giản hơn, vật phẩm để cúng thường là một con gà trống. Trong buổi lễ, họ mời bà con, dòng tộc đến chung vui ăn nếp, thịt nướng và uống rượu cần.

“Phong tục này nay chỉ còn giữ tại thôn Pêng Lang và một vài hộ gia đình tại thôn Đăk Book (xã Đăk Blô, huyện Đăk Glei) còn lưu truyền với hy vọng con cháu chúng tôi tiếp tục lưu giữ và phát huy những mặt ưu điểm của phong tục này, và xem đây là một phần văn hóa tâm linh của người Giẻ Triêng còn giá trị đến ngày nay” - A Tôn già làng thôn Pêng Lang chia sẻ.

Vì vậy phong tục về chiếc hòm dưới mỗi kho lúa của người Giẻ Triêng được xem là một nét văn hóa truyền thống tâm linh quan trọng trong đời sống hàng ngày. Đây cũng là bản sắc riêng của dân tộc Giẻ Triêng ở dưới chân núi Nồi Cơm.

PN - NL

Độc đáo nghi lễ Lẩu Then

đăng 00:02, 3 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Lẩu Then, hay lễ “lên lầu”(lên trời) là một nghi lễ văn hóa truyền thống mang tính chất tín ngưỡng không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Tày ở Lạng Sơn, vừa đặc sắc về hình thức lại vừa chứa đựng giá trị cổ truyền, duy trì một phong tục mang đậm bản sắc văn hóa và gắn kết tình làng nghĩa xóm của đồng bào dân tộc nơi đây. 

Là hoạt động mang tính tín ngưỡng, nhưng Lẩu Then luôn hấp dẫn, gần gũi bởi nghi lễ là buổi diễn xướng nghệ thuật tổng hợp, bao gồm hát, múa, trò diễn. Giai điệu Then luyến láy, lúc trầm lúc bổng, khi trang nghiêm, khi rộn ràng, cuốn hút người hát, người xem. Nhạc cụ đệm cho nghi lễ gồm đàn tính tẩu, quả nhạc, thanh la, trống, chiêng... 

Các thầy Then là người có uy tín trong cộng đồng, có thể là nam hoặc nữ nhưng phải là người am hiểu về phong tục và có thể thực hiện tất cả những nghi lễ tâm linh truyền thống, từ ma chay, cưới hỏi đến mừng thọ...Với bà con người Tày, thầy Then càng có các cấp bậc cao càng có nhiều quyền năng và uy tín.

Không gian đầy sắc màu của nghi lễ Lẩu Then.


Chủ nhà chuẩn bị bàn thờ cho buổi lễ.


Bàn thờ trang nghiêm trong nghi lễ Lẩu Then.


Thày Then là người dẫn dắt các nghi thức tâm linh của người Tày.


Thày Then nhúng lá đào vào nước rồi vảy để làm trong sạch không gian tổ chức nghi thức Lẩu Then.


Lẩu Then như một cuộc diễn xướng nghệ thuật tổng hợp có hát, có múa, có diễn trò.


Người Tày thường gấp nhạn giấy làm rèm che cho bàn thờ.


Thày Then sau khi rước được tướng Then về với buổi lễ.


Nghi thức kiểm lễ vật dâng lên các vị thần.


Thày Then buộc chỉ màu đỏ cho gia chủ sau khi chúc phúc.


Gia chủ kính cẩn tạ lễ trước bàn thờ các vị thần.


Ngoài đàn tính tẩu là nhạc cụ chính để đệm hát múa trong Lẩu Then, quả nhạc cũng được dùng tạo nhịp.


Đàn tính tẩu - nhạc cụ chính cho đệm hát, múa và quá trình diễn xướng nghi lễ.


Múa hát hồi binh, hồi mã kết thúc buổi lễ. 


Lẩu Then thường được tổ chức trong 3 ngày và vào dịp đầu Xuân mới - Tết Âm lịch của người Tày. Nghi lễ lẩu Then gồm nhiều bước, đầu tiên các nhà Then tổ chức báo lễ, đón rước các vị tổ Then và tổ tiên gia chủ xuống nhân gian chứng kiến. Tiếp theo các thày Then sẽ kiểm đếm các loại lễ vật được dâng cúng lên các vị thần. Sau khi kiểm đếm sẽ tiến hành “khai Lẩu”. Đây là công đoạn quan trọng nhất, các thày Then sẽ hát, ban lộc, phát bùa chú, buộc sợi dây chỉ đỏ vào cổ tay từng người. Tùy vào hoàn cảnh hay mong muốn của gia chủ, các Thày then sẽ ban những lời chúc sức khỏe, bình an phù hợp cho mỗi người. Khi mọi việc xong xuôi, các thày Then sẽ hát báo trình buổi lễ suôn sẻ, hoan hỉ. Cuối cùng là múa chầu hầu tướng, rồi mời mọi người cùng hòa nhịp vui trong điệu hát để hồi binh, hồi mã kết thúc buổi lễ.

Tái hiện nghi lễ Lẩu Then là hoạt động thiết thực và ý nghĩa, nhằm giới thiệu bản sắc văn hóa truyền thống của người Tày ở Lạng Sơn tại làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam(Hà Nội), góp phần vào việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tôn vinh bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam.

Bài và ảnh: Việt Cường

Gùi của người Gia Rai

đăng 05:53, 2 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cũng như các dân tộc tại chỗ khác ở Tây Nguyên, chiếc gùi rất gần gũi trong đời sống sinh hoạt và trở thành một nét văn hóa truyền thống của người Gia Rai. Với người Gia Rai, chiếc gùi được tạo nên từ bàn tay khéo léo của những người đàn ông lớn tuổi trong làng. Ngày nay, người Gia Rai đan gùi vừa để góp phần gìn giữ nghề truyền thống, vừa để bán nhằm kiếm thêm thu nhập trang trải chi phí sinh hoạt cho gia đình.

Hàng ngày, ngoài công việc giữ cháu, ông A Dót (62 tuổi) ở làng Điệp Lốc, xã Ya Tăng (huyện Sa Thầy) tranh thủ những lúc nhàn rỗi để đan gùi. Đây là việc làm yêu thích của ông A Dót từ khi còn nhỏ. Khi A Dót biết đi rừng, ông đã được cha của mình - ông A Lết dẫn vào rừng tìm kiếm các vật liệu và truyền dạy cho ông cách đan gùi. Dần dần những đam mê với việc vót từng cọng nan và tỉ mẩn đan lát lên những chiếc gùi làm vật dụng trong gia đình thấm vào máu thịt A Dót lúc nào không biết. Ở tuổi ngoài 60, A Dót không thể nhớ hết có bao nhiêu chiếc gùi được bàn tay khéo léo của mình làm nên. 

Đến nay, ông A Dót đan gùi được hơn 40 năm. Ông chỉ còn 1 chân phải (do tai nạn lao động hồi trẻ), việc đi lại khó khăn nên vật liệu để đan gùi đều do các con của ông đi rừng kiếm được.

Đến nay, ông A Dót đan gùi được hơn 40 năm. Ảnh: ĐT 


Khi tôi tìm hiểu về chiếc gùi trong đời sống của đồng bào Gia Rai, ông A Dót nhiệt tình kể: Trong gia đình của mỗi người Gia Rai đều có chiếc gùi để làm vật dụng trong sinh hoạt hàng ngày và trở nên rất gần gũi. Gùi của người Gia Rai có nhiều loại: Reo (gùi lớn), Ro (gùi để củi, bắp, mì, để bầu chứa nước), Reo Bơ Nga (gùi nhỏ có hoa văn), Reo Bơ Lông (gùi nhỏ không có hoa văn).

Để làm nên một chiếc gùi, với người Gia Rai không chỉ tốn thời gian mà cần cả sự khéo léo, tỉ mẩn của những bàn tay tài hoa; bởi với người Gia Rai thì mỗi chiếc gùi làm ra không chỉ để sử dụng lâu bền mà cần phải đẹp đẽ. Trước đây, chàng trai nào khéo tay, giỏi giang thường lọt vào “mắt xanh” của các thiếu nữ Gia Rai trong làng và được chọn “bắt chồng” (người Gia Rai theo tục mẫu hệ và phụ nữ chọn người con trai mình yêu để cưới về làm chồng).

Gùi có 3 bộ phận chính: Pang (chân gùi), Rơi Zéng (thành gùi) và Grạ Reo (miệng gùi). Phần chân gùi cao hơn 1 ngón tay được làm từ thân cây chao, đây là loài cây dai và dẻo. Để làm được phần chân gùi, thân cây chao được chẻ mỏng, ngâm nước 3 ngày, sau đó vớt lên rồi uốn thành hình vuông.

Gùi của người Gia Rai có hoa văn với 2 màu chủ đạo đỏ và đen. Ảnh: ĐT 


Thành gùi được đan bởi các thanh ngang và thanh dọc. Thanh ngang làm từ cây giang, thanh dọc làm từ cây lồ ô. Thành gùi có hoa văn đặc trưng của người Gia Rai với 2 màu đỏ và đen. Để có thanh ngang màu đỏ, người Gia Rai dùng hạt lấy từ hoa của cây sút chà lên, sau đó phơi nắng 1 buổi cho khô màu. Để có thanh ngang màu đen, người Gia Rai lấy cây giang hơ khói trên bếp lửa được đốt bằng củi cây chày.

Miệng gùi được làm từ phần vỏ của 2 cây lồ ô (kẹp thành gùi ở giữa). Miệng gùi hình tròn nên để uốn và tạo hình cho 2 cây lồ ô, người đan gùi phải rất tinh mắt và khéo tay.

Phần phụ của gùi là hai dây đeo được làm từ cây mây. Hai dây đeo được đan giống như tết tóc của phụ nữ nhưng phức tạp hơn. Do vậy, người đan gùi cần 1 ngày mới đan xong 2 dây đeo.

Gùi của người Gia Rai có 2 kích cỡ, lớn (đường kính 30cm, cao hơn 50cm) và nhỏ (đường kính 20cm, cao hơn 40cm).

Ông A Dót chia sẻ, việc đan gùi được thực hiện theo thứ tự: Đan phần đáy, phần trên đáy, phần thành không có hoa văn, phần có hoa văn, phần giữa hoa văn, phần đỡ miệng gùi, phần miệng gùi, làm chân gùi, đan 2 dây đeo, đan nối các bộ phận lại với nhau.

Công đoạn đầu tiên của đan gùi là đan phần đáy. Ảnh: ĐT 


Vì phần chân gùi hình vuông nhưng miệng gùi hình tròn, do vậy, trong quá trình đan từ đáy gùi lên, người đan gùi sẽ dùng chiếc vòng Ne Reo để hỗ trợ việc tạo hình cho chiếc gùi. Chiếc vòng này giúp cố định các thanh dọc. Khi đan gần đến miệng gùi, người đan gùi sẽ tháo chiếc vòng này ra.

Ông A Dót cho biết, đan gùi rất khó, cần nhiều công sức và thời gian nên hiện tại trong làng Điệp Lốc chỉ có ông, ông A Klyk và ông A Te làm việc này. Việc đan gùi không chỉ giúp các ông gìn giữ được nghề truyền thống do cha ông để lại, tạo ra những chiếc gùi để đi rẫy mỗi ngày mà còn giúp có thêm thu nhập cải thiện đời sống. “Trung bình 1 tháng tôi đan được 2 - 3 chiếc gùi. Mỗi chiếc tôi bán với giá 500.000 đồng”, ông A Dót nói.

Ở xã Ya Tăng, ngoài các ông A Dót, A Klyk, A Te ở làng Điệp Lốc còn có ông Puih Jới và ông A Nhang ở làng Trấp, họ là những người đang góp phần gìn giữ và phát triển việc đan gùi.

Vòng Ne Reo, chiếc vòng hỗ trợ người đan gùi cố định các thanh dọc. Ảnh: ĐT 


Ông Puih Jới (68 tuổi) được mọi người trong làng Trấp biết đến là người đan gùi lâu năm. Ngoài đan những chiếc gùi truyền thống, ông còn đan những chiếc gùi “cách tân”, đủ kích cỡ và màu sắc. Những chiếc gùi ông đan được rất nhiều người tìm mua để phục vụ việc sinh hoạt, lao động hàng ngày cũng như việc biểu diễn trong các lễ hội.

Ông Puih Jới cho hay, cha ông là người truyền nghề đan lát, trong đó có nghề đan gùi của người Gia Rai cho ông. Từ khi ở huyện Đức Cơ (Gia Lai) qua làng Trấp lấy vợ và định cư, ông làm nghề đan gùi để kiếm sống, bên cạnh việc làm rẫy. 

Ông chia sẻ, trước đây khi làng Trấp ở vị trí cũ (dưới lòng hồ thủy điện Ya Ly bây giờ), các loài cây dùng để đan gùi mọc xung quanh làng nên việc đan gùi có nhiều thuận lợi. Ngày nay, để tìm các cây như cây chao, cây giang, cây chày… phải đi vào tận rừng sâu, mất nhiều ngày mới tìm thấy.

Ông Puih Jới giới thiệu chiếc Ro - gùi người Gia Rai hay dùng để chứa củi. Ảnh: ĐT 


Trong đan gùi, đan thành gùi là một trong những công đoạn mất nhiều thời gian nhất. Lúc đan, 2 ngón tay trỏ phải lật các thanh dọc đều và cẩn thận. Đối với đoạn thành gùi có hoa văn, các thanh ngang phải vừa xỏ vừa xoay (lật màu) và vừa kéo. Bên cạnh công đoạn này, việc đan gia cố các bộ phận của gùi với nhau cũng cần nhiều thời gian.

“Chính vì việc đan gùi cần tỉ mỉ nên những chiếc gùi nhỏ cần nhiều công sức để hoàn thành hơn so với những chiếc gùi lớn. Gùi nhỏ nhiều hoa văn bán với giá trên 1 triệu đồng/cái. Còn gùi lớn ít hoa văn tôi bán với giá từ 500.000 - 700.000 đồng/cái”, ông Puih Jới nói.

Ngày nay, ngoài những chiếc gùi được làm theo kiểu truyền thống, người Gia Rai còn sử dụng những chiếc gùi (Ro) được đan bằng những sợi thép, màu được tạo bởi sơn, có độ bền và sử dụng được lâu hơn. “Dù được chế tạo bằng vật liệu khác nhưng những chiếc gùi vẫn không mất đi hình dáng và hoa văn truyền thống của dân tộc Gia Rai”, ông Puih Jới chia sẻ.

Đức Thành

“Làng sứa lá dung” miền biển Hà Tĩnh rộn ràng vào mùa

đăng 04:10, 1 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Sau Tết Nguyên đán, “làng sứa lá dung” với hơn cả trăm hộ tại xã Kỳ Ninh (TX Kỳ Anh, Hà Tĩnh) lại tất bật đánh bắt, chế biến những con sứa trắng nõn thành những miếng sứa vàng ươm, thơm phức. Người dân làng biển như rộn ràng hơn bởi “lộc biển” đầu mùa mang lại nguồn thu nhập khá.

Tạm gác những chuyến xa khơi, gia đình chị Lê Thị Thủy (SN 1970, thôn Tiến Thắng, xã Kỳ Ninh) chuyển sang đánh bắt ven bờ “săn” sứa biển


Sứa sau khi đưa từ thuyền về được sơ chế trên bãi cát để loại bỏ tanh, nhớt


Ra khơi từ lúc tinh mơ và trở về khi rạng sáng, chỉ trong ít tiếng đồng hồ, gia đình chị Thủy bắt được 1,5 tấn sứa. Ngay khi lên bờ, sứa được sơ chế, cắt nhỏ, ủ cát để loại bỏ tanh nhớt, sau đó rửa sạch với nước biển, trộn ủ với lá lấu, lá dung ngay tại bờ biển. Nếu nhập sứa trắng nguyên con thì nhanh gọn, nhưng đầu mùa sứa lá dung có giá 70-80.000/kg, nhu cầu rất cao nên bà con đánh bắt về chủ yếu chế biến để bán. (Trong ảnh: Chị Lê Thị Thủy vui mừng vì chuyến đi biển thu được số lượng lớn sứa)


Huy động cả gia đình 5 người cùng tham gia chế biến sứa, nhà chị Lê Thị Làn (SN 1972, thôn Tiến Thắng, xã Kỳ Ninh) làm hết công suất để kịp các đơn hàng sĩ, lẻ. “Gia đình tôi ngày đi khoảng 3 chuyến. Cứ 20 kg sứa tươi được 1kg sứa lá dung, từ đầu mùa tới nay (gần 1 tháng) gia đình thu được khoảng hơn 20 triệu đồng” - chị Làn nói (Trong ảnh: Gia đình chị Làn huy động mọi nhân lực trong gia đình cùng đánh bắt và làm sứa lá dung truyền thống).


Mùa sứa thường bắt đầu từ độ tháng Giêng đến hết tháng Ba âm lịch, tháng Tư, khi mùa hè bắt đầu, những cơn mưa nhiều hơn kéo theo sấm chớp trên mặt biển, sứa có hiện tượng “teo” dần và chết. Năm nay, ngư dân cho hay, mùa sứa bắt đầu muộn hơn do thời tiết lạnh kéo dài. (Trong ảnh: Sứa sau khi sơ chế sạch được ướp với lá lấu)


Theo ông Lê Công Đường, Chủ tịch UBND xã Kỳ Ninh cho biết: “Nghề làm sứa lá dung có từ lâu đời và dần trở thành nghề truyền thống của bà con Kỳ Ninh. Hiện, toàn xã có khoảng hơn 100 hộ theo nghề này, không chỉ mang lại thu nhập khá cho bà con mà sứa lá dung đang dần trở thành thương hiệu cho xã Kỳ Ninh nói riêng, TX Kỳ Anh nói chung.... (Trong ảnh: Sứa được lên mâm cùng các gia vị nước chấm, rau thơm truyền thống).


Thu Trang

Tìm về chợ Két

đăng 03:48, 29 thg 2, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm ở thôn Xuân Phổ Tây, xã Nghĩa Kỳ (Tư Nghĩa), chợ Két hình thành và tồn tại hơn một thế kỷ qua. Tại đây, các mẹ, các chị bày bán những mặt hàng dân dã, cây nhà lá vườn hoặc chính tay "nhà làm". Bởi thế, dù là chợ nhỏ, nhưng nơi này đã tồn tại qua nhiều biến cố và cái tên chợ được người dân đặt từ loài chim két trú ngụ khá nhiều ở nơi đây.

Xuân Phổ Tây là một thôn nằm dọc theo ven sông Trà Khúc. Mỗi năm, sau khi kết thúc mùa mưa, lượng phù sa đổ về đây khá lớn, do đó những bãi bắp, ruộng mía phát triển xanh mướt. Theo nhiều người dân sống ở đây, trước kia, mảnh đất Xuân Phổ được mệnh danh là đất của những loại cây trồng như bắp, đậu, mía, khoai, sắn. Vì thế, hằng năm cứ tới ngày mùa, chim két lại kéo về đây sinh sản, làm tổ khiến mùa màng trở nên vui tươi hơn. Từ đó, người dân đặt tên cho chợ cóc của thôn là chợ Két. 

Hình thành và tồn tại hơn một thế kỷ qua, chợ Két là nơi giao thương buôn bán đầu tiên của người dân thôn Xuân Phổ Tây, xã Nghĩa Kỳ (Tư Nghĩa). 


Bà Nguyễn Thị Thanh, một người buôn bán lâu năm ở đây, cho biết: “Hồi trước chim két nhiều vô kể, chúng có phá bắp, phá đậu, nhưng không đáng kể. Người dân thường làm cây bù nhìn để đuổi két. Thế nhưng, có điều lạ là, nếu năm nào két không về thì năm đó chắc chắn là mất mùa. Và cái tên chợ Két cũng được các ông, các bà đặt theo loài chim này cho dễ gọi, dễ nhớ”.

Chợ Két gắn liền với đời sống của đa số người dân không chỉ ở thôn Xuân Phổ Tây, Xuân Phổ Đông của xã Nghĩa Kỳ, mà nơi đây còn là điểm đến của rất nhiều người ở các vùng lân cận. Họ đến đây để tìm mua những món hàng, thức ăn dân dã do chính tay các mẹ, các chị làm ra, hay những phẩm vật “cây nhà, lá vườn” được nhiều người bày bán. Nhờ nằm ngay ngã ba thôn, nên chợ Két rất thuận tiện cho mọi người giao thương, buôn bán. 
 
“Hồi trước chim két nhiều vô kể, chúng có phá bắp, phá đậu, nhưng không đáng kể. Người dân thường làm cây bù nhìn để đuổi két. Thế nhưng, có điều lạ là, nếu năm nào két không về thì năm đó chắc chắn là mất mùa. Và cái tên chợ Két cũng được các ông, các bà đặt theo loài chim này cho dễ gọi, dễ nhớ”.
 
 NGUYỄN THỊ TÂM, người bán rau ở chợ Két


Bà Nguyễn Thị Tâm, một người buôn bán rau ở chợ Két cho biết: “Những ngày nắng, chừng 5 giờ sáng là chợ bắt đầu hoạt động, còn những ngày mưa thì họp chợ muộn hơn. Được cái, chợ này buôn bán cả buổi chiều nên rất thuận tiện cho nhiều người dân không có thời gian, rảnh rỗi vào buổi sáng. Hồi trước, chợ chỉ là những chòi tranh, gỗ tạm bợ. Nay có điều kiện, nên tiểu thương nào cũng “tân trang” sạp của mình. Chính quyền cũng tạo điều kiện cho chúng tôi buôn bán ở đây để tìm kế sinh nhai”. 

Chợ Két cũng như bao chợ quê khác, những mặt hàng được bày bán ở đây chủ yếu là rau quả, thịt, cá và những món ăn dân dã như bánh bèo, bánh đúc... Đặc biệt hơn, sau mỗi mùa lũ, người dân trong vùng lại mang ra chợ đặc sản mà chỉ ở các thôn Xuân Phổ mới có, đó là món dế rang, sùng đất chiên mắm để bày bán cho thực khách.

Anh Nguyễn Văn Cường, một người dân ở thôn Xuân Phổ Tây, cho hay: “Sau mỗi mùa lụt, thì dế và sùng đất là những con vật được nhiều người dân trong thôn săn lùng. Chúng phát triển rất nhanh, chỉ cần vài đêm đi săn thì có thể kiếm được vài ký mang ra chợ bán. Có năm sùng đất, dế lên đến 200 nghìn đồng/kg, nhờ đó mà nhiều người có nguồn thu nhập sau mùa mưa”.

Dù những đàn chim két tìm về làm tổ không còn nhiều như trước, nhưng trong ký ức của rất nhiều người dân ở Xuân Phổ, thì đây là mảnh đất của nhiều ký ức đẹp. Và đến nay, chợ Két vẫn còn tồn tại, người dân vẫn tổ chức buôn bán, giao thương hằng ngày. Đây được xem là nét văn hóa xưa, được người dân nơi đây gìn giữ mãi đến bây giờ.

Bài, ảnh: HOÀI BIỆT

1-10 of 20