Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Nghề làm muối Vĩnh Châu Không rõ nghề làm muối ở Vĩnh Châu có tự năm nào, chỉ biết xứ Bạc Liêu xưa (vùng tiếp giáp với TX. Vĩnh Châu ngày nay) có đồng muối ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Nghề làm xá pấu Sóc Trăng Nghề làm xá pấu (củ cải muối) phát triển nhiều nhất ở TX. Vĩnh Châu, nơi tập trung nhiều người Hoa sinh sống. Vĩnh Châu là địa phương có diện ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Cây nhang Kho Dầu Ngày trước, vào những lúc nắng đẹp, khi vào khu vực Kho Dầu sẽ chứng kiến một cảnh tượng tuyệt vời bắt mắt trước một màu vàng và đỏ của ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Đặc sắc Tết hoa của dân tộc Cống Đối với đồng bào dân tộc Cống (Điện Biên), khi hoa mào gà bừng nở, đỏ rực trên các sườn đồi, nương núi cũng là lúc báo hiệu mùa màng ...
    Được đăng 03:01, 30 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đặc sắc nghi lễ cưới hỏi của người Mông xanh Là dân tộc ít người ở Việt Nam, người Mông xanh cư trú chủ yếu ở 2 thôn Nậm Tu Thượng và Nậm Tu Hạ của xã Nậm Xé (huyện ...
    Được đăng 02:49, 30 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 24. Xem nội dung khác »


Nghề làm muối Vĩnh Châu

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Không rõ nghề làm muối ở Vĩnh Châu có tự năm nào, chỉ biết xứ Bạc Liêu xưa (vùng tiếp giáp với TX. Vĩnh Châu ngày nay) có đồng muối rộng hơn 1.400ha.


Từ trước những năm 1940 đã có các lô muối xếp song song như nan quạt kể từ giồng nhãn ra đến nơi tiếp giáp dãy rừng ngập mặn cặp với mé biển. Nhiều tài liệu viết về công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (người dân Bạc Liêu gọi là cậu Ba, Hắc công tử), cha là ông Hội đồng Trần Trinh Trạch, sở hữu cả vùng đồng muối tất cả gồm 74 sở điền, với 110.000ha. Bạc Liêu lúc bấy giờ gồm 4 quận (Vĩnh Lợi, Cà Mau, Vĩnh Châu, Giá Rai). Tỉnh có 13 lô ruộng muối thì có 11 lô là của Hội đồng Trạch, 1 lô còn lại là của cha sở và chỉ có 1 lô là của dân thường. 

Ở Vĩnh Châu, năm 1976, được tổ chức lại sản xuất và hình thành nên 2 hợp tác xã tôm - muối (Vĩnh Phước và Lai Hòa) làm ăn rất hiệu quả từ đó đến nay. Từng lô muối được thiết kế thành ô đầm, mặt trảng rộng để nước biển bốc hơi nhanh: từ biển vào đầu tiên là đùn chứa có diện tích chiếm khoảng 2/3 diện tích lô muối (mỗi lô muối rộng 25 - 30ha); kế đến là lô sa kề cũng chiếm độ một phần ba diện tích còn lại; rồi lô dì kề, sắp - chuối (tên gọi số thứ tự lô gọi theo tiếng Hoa) và trong cùng mới là sân kết tinh. Sân kết tinh được đầm nén chặt và láng. Nước được bơm hay tát từ lô này sang lô khác được gọi là đi nước. Công đoạn cuối, nước được vào đến sân kết tinh là muối bắt đầu rớt hạt, sau đó là cào thu hoạch được muối, muối được xe bò cộ về đổ xá thành đụn cao cả chục mét, có mái lợp bằng lá xé. Đụn muối thường chọn nơi đầu mối giao thông nhằm thuận tiện cho việc bốc xếp, vận chuyển buôn bán. 

Ngoài công dụng cho đời sống tiêu dùng sản xuất nước đá, chế biến, bảo quản thủy sản, muối còn để làm mắm, nước mắm, cá khô, củ cải muối... Đặc biệt muối Vĩnh Châu chắc hạt nên tích trữ được lâu, nhiều hãng nước mắm ở miền Tây ưa chuộng. 

Vĩnh Châu là địa phương duy nhất của tỉnh Sóc Trăng có nghề làm muối truyền thống. Tuy nhiên nghề làm muối hiện nay ngày càng mai một. Cách đây 9 - 10 năm, diện tích làm muối khoảng 3.000ha, nay chỉ còn vài trăm hécta, trong đó diện tích sân muối kết tinh chỉ khoảng 100ha hàng năm. 

Từ xưa đến nay, muối Vĩnh Châu tiêu thụ qua thương lái là chủ yếu. Họ là dân địa phương hoặc trong vùng lân cận chở đi bán ở TP. Hồ Chí Minh, miền Đông, Nam bộ, hay ngược lên vùng thượng nguồn sông Mê Kông, Campuchia... Nghề làm muối tuy không giàu có, do đam mê và yêu nghề nên nghề làm muối Vĩnh Châu vẫn còn tồn tại đến ngày hôm nay. 

Lê Trúc Vinh

Nghề làm xá pấu Sóc Trăng

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Nghề làm xá pấu (củ cải muối) phát triển nhiều nhất ở TX. Vĩnh Châu, nơi tập trung nhiều người Hoa sinh sống. Vĩnh Châu là địa phương có diện tích trồng củ cải cao nhất tỉnh, với gần 400ha. Năng suất bình quân khoảng 23 tấn/ha, sản lượng hàng năm đạt trên 80.000 tấn.


Xá pấu được làm từ củ cải trắng, cách làm cũng khá đơn giản nên ai cũng có thể làm được, thông thường 1 tấn củ cải trắng sẽ làm được khoảng 600kg xá pấu. Vào tháng 10 đến tháng 12 (âm lịch) hàng năm, củ cải trắng đến mùa thu hoạch rộ. Củ cải trắng được chọn làm xá pấu, thường không cần lớn lắm, nhưng phải suôn và săn chắc. Củ cải sau khi đem phơi được 3 nắng cho se lại thì xếp vào lu hoặc khạp; cứ mỗi lớp củ cải thì được xen kẽ với một lớp muối hột, khi đầy khạp thì ém chặt lại và được đậy bằng lá chuối. Để khoảng hơn 2 tháng khi thấy củ cải đã thấm muối thì lấy ra phơi nắng, sau đó cho vào khạp và tiếp tục ủ thêm khoảng 1 tháng là có thể lấy ra dùng được. Nếu sản xuất với quy mô lớn hơn thì người ta cho vào hầm ximăng dưới lót rơm hoặc lá chuối và cách làm cũng tương tự như trên. 


Xá pấu gắn liền với cộng đồng người Hoa từ những ngày đầu đặt chân đến Việt Nam lập nghiệp. Nhiều người từ thuở cơ hàn phải ăn xá pấu quanh năm đến khi giàu sang cũng không vì cao lương mỹ vị mà quên đi món ăn dân dã của những ngày khốn khó. 

Ngoài xá pấu mặn, Vĩnh Châu còn làm xá pấu ngọt, cách làm có khác với xá pấu mặn. Củ cải trắng được xắt nhỏ, đem phơi nắng, sau đó trộn đường, muối theo tỷ lệ thích hợp rồi đem ủ cho đến khi có màu vàng đặc trưng của xá pấu là có thể ăn được. Xá pấu ngọt ăn với cháo trắng mà không phải qua khâu nấu nướng gì cả, để ngon hơn người ta có thể thêm tỏi, chanh, ớt… hương vị đặc trưng của xá pấu trở nên đậm đà hơn, quyến rũ hơn. Hiện nay, xá pấu ngọt là sản phẩm rất được ưa chuộng trên thị trường, được bán rất nhiều ở TP. Hồ Chí Minh và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài. 

Không chỉ có ở TX. Vĩnh Châu mà nhiều địa phương khác trong tỉnh Sóc Trăng như Bố Thảo, Sóc Vồ, Phú Tâm, Phú Tân của huyện Châu Thành; Lịch Hội Thượng của huyện Trần Đề… cũng sản xuất xá pấu nhưng nhiều nhất là tại TX. Vĩnh Châu. 

Xá pấu là sản phẩm độc đáo nổi tiếng của tỉnh Sóc Trăng. Đến với Sóc Trăng không quên mua một ít xá pấu về thưởng thức, làm quà biếu tặng người thân và bạn bè. 

Lê Trúc Vinh

Cây nhang Kho Dầu

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Ngày trước, vào những lúc nắng đẹp, khi vào khu vực Kho Dầu sẽ chứng kiến một cảnh tượng tuyệt vời bắt mắt trước một màu vàng và đỏ của nhang trải dài khắp khu vực, đó là thời hưng thịnh của nghề làm nhang. Tuy vậy, thời kỳ hưng thịnh này đã qua.

Nghề làm nhang ở TP. Sóc Trăng đã có từ hơn trăm năm trước, đây là nghề chính của nhiều gia đình người Hoa, tập trung phần lớn ở khu vực Kho Dầu, nay là đường Lý Thường Kiệt, Phường 4, TP. Sóc Trăng. Nơi đây quy tụ hàng chục hộ (chủ yếu là các hộ người Hoa). Dụng cụ làm nhang rất đơn giản, các công đoạn làm nhang cũng hoàn toàn được làm bằng tay và cần đến sự khéo léo, tỉ mỉ của bàn tay chứ không cần nhiều sức mạnh nên những người làm nghề này đa số là phụ nữ và trẻ em. 

Sản xuất nhang tại cơ sở nhang Quế Mai (Phường 4, TP. Sóc Trăng). Ảnh: KGT 


Về nguyên liệu chính để làm thành cây nhang Kho Dầu là mạt cưa cùng các phụ kiện khác như keo, bột màu, nước trộn lại với nhau thành bột nhang và công đoạn se là thành phẩm. Trung bình mỗi ngày, mỗi thợ lành nghề có thể se 5 thiên nhang (5.000 cây). Ngày nay, có máy móc hỗ trợ nên mỗi thợ làm nhang có thể cho ra thành phẩm nhiều hơn gấp mấy lần. Công đoạn khó nhất, phức tạp nhất là khâu pha trộn bột nhang. Nhang sau khi se xong được đem đi phơi nắng, đóng gói và chuyển đi tiêu thụ khắp các địa phương trong tỉnh. 

Ngày nay, số lượng cơ sở sản xuất nhang tại khu vực Kho Dầu nói riêng, TP. Sóc Trăng nói chung ngày càng ít vì nghề làm nhang chỉ đảm bảo cho người làm nghề sống đủ ăn, chủ yếu là bán sỉ cho bạn hàng, đồng lãi không nhiều, lao động chủ yếu là tranh thủ lúc rảnh rỗi nên số người theo nghề này càng ít. Bên cạnh đó, do sự cạnh tranh của nhang công nghiệp từ TP. Hồ Chí Minh, hầu hết các cơ sở làm nhang trên địa bàn TP. Sóc Trăng mất dần thị phần nên họ cũng bắt đầu chuyển sang ngành nghề mới. 

Trên địa bàn thành phố gần như còn cơ sở nhang Quế Mai tại Phường 4 (TP. Sóc Trăng) là còn hoạt động. Anh Dương Văn Trường - chủ cơ sở nhang Quế Mai chia sẻ: “Nghề làm nhang ngày nay ở Sóc Trăng càng thu hẹp lại. Khu vực Kho Dầu ngày trước hiện thời chỉ còn lại cơ sở Quế Mai của gia đình tôi, chủ yếu là thu mua và gia công lại của các hộ dân ở các vùng lân cận, sau đó cung ứng cho thị trường TP. Sóc Trăng và các địa phương khác. Mỗi thiên nhang thu vào khoảng 30.000 đồng. Cơ sở cũng cung cấp luôn máy se nhang, nguyên liệu làm nhang cho các hộ se nhang nhỏ lẻ. Mấy năm nay, nhang công nghiệp từ các cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh chiếm thị phần Sóc Trăng cũng nhiều, sản phẩm của mình không theo kịp về mẫu mã và chủng loại của họ được nên chỉ làm cầm chừng. Cộng thêm thời gian qua tình hình dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ nên sản xuất nhang tại cơ sở cũng giảm so với những năm trước”. 

Ông Lâm Thanh Hùng, người cố cựu ở Khóm 1, Phường 4 (TP. Sóc Trăng) cho biết: “Nghề làm nhang tại địa phương thời trước rất hưng thịnh, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động rảnh rỗi nhưng ngày nay rất ít hộ còn giữ nghề tại khu vực Kho Dầu”. 

KGT

Đặc sắc Tết hoa của dân tộc Cống

đăng 03:01, 30 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đối với đồng bào dân tộc Cống (Điện Biên), khi hoa mào gà bừng nở, đỏ rực trên các sườn đồi, nương núi cũng là lúc báo hiệu mùa màng đã được thu hoạch, thời điểm tổ chức Tết hoa (Mền loóng phạt ai), lễ tết cổ truyền quan trọng nhất trong năm của người Cống cũng chính thức bắt đầu.

Nghi lễ cổ truyền

Tết hoa thường tổ chức vào tháng 9 âm lịch hàng năm (khoảng cuối tháng 11, đầu tháng 12 dương lịch). Do người Cống ở giáp biên giới Việt - Lào, nên tính theo lịch của người Lào, một năm chỉ có 10 tháng. Ðây là thời điểm khi vụ thu hoạch đã xong, công việc nương rẫy trong năm kết thúc. Để chuẩn bị đón Tết, ngay từ những ngày cuối tháng 9, đầu tháng 10 âm lịch, đồng bào đã dọn dẹp nhà cửa, vệ sinh làng bản, chuẩn bị địa điểm tổ chức vui xuân của bản, tạo nên một khung cảnh ấm áp, nhộn nhịp.

Đồng bào hát múa mừng lễ cúng kết thúc. 


Trước Tết một ngày, nhà nào nhà nấy đều lên nương chọn hái những bông hoa phạt loóng (hoa mào gà) đẹp nhất đem về chuẩn bị lễ vật dâng cúng trời đất tổ tiên tại gia đình và trang trí cây hoa ở địa điểm tổ chức Tết hoa của bản.Vào buổi chiều, đến giờ đã định, dân bản cùng trở về nhà già làng kiêm thầy mo của bản để dự lễ Tết hoa theo nghi lễ cổ truyền của dân tộc Cống. Nghi lễ có hai phần: Phần lễ và phần hội. 

Phần lễ gồm lễ cúng chung của bản và lễ cúng riêng ở mỗi gia đình thực hiện từ khoảng 4 giờ chiều hôm trước tới 7 giờ sáng hôm sau. Lễ vật dâng cúng có lợn, gà, vịt, rượu, cá, khoai sọ… nhất là không thể thiếu hoa phạt loóng một loài hoa biểu tượng cho sự may mắn, no đủ của đồng bào dân tộc Cống. Sau lễ cúng chung của bản là lễ cúng ở các gia đình do người đàn ông chủ nhà thực hiện. Trước đây, Tết hoa thường được bà con tổ chức từ ba đến bốn ngày, nay rút ngắn chỉ còn hai ngày, một đêm.

Nét văn hóa độc đáo

Để chuẩn bị cho lễ cúng chung, dân bản đã dựng tại nhà thầy cúng một cây tre hoặc nứa (hằn né hoặc hạ kha), trên có buộc những bông hoa mào gà, đặt một cây trước bàn thờ tổ tiên của gia chủ. Cây hoa này tượng trưng là cây cầu nối giữa hai thế giới âm dương, là con đường mà linh hồn tổ tiên đi từ thế giới thiêng về nơi thờ cúng ở trong nhà.

Nghi thức buộc chỉ cổ tay cầu an. 


Cạnh đó là bếp thờ đặt trong gian bếp cúng. Bếp được làm theo hình vuông, nền đất, không dùng để đun nấu mà chỉ dùng để thờ cúng. Gian bếp cúng thường để trống, không đựng đồ vật gì, ngoại trừ một số vật liên quan đến thờ cúng như cây tre, hòn đá, bát nước cúng... Đây là nơi linh thiêng của ngôi nhà, nơi các linh hồn tổ tiên trú ngụ mỗi khi trở về gia đình thăm con cháu. Và cũng được coi là nơi để tiến hành giao tiếp giữa những người còn sống với linh hồn của những người đã khuất. Lễ cúng bắt đầu, thầy cúng nhóm lửa, ngọn lửa trên bếp là dấu hiệu mời tổ tiên, thần linh về ăn Tết cùng con cháu và dân bản. 

Lễ cúng chung của bản gồm nghi lễ dâng lễ vật còn sống và dâng lễ vật khi đã chín. Khi giờ tốt đến, những hồi trống, chiêng vang lên khắp bản báo hiệu lễ cúng Tết hoa bắt đầu. Già làng kiêm thầy cúng trong trang phục truyền thống kính cẩn dâng lễ vật xin phép tổ tiên, trời đất, thần linh… cho tổ chức Tết hoa mừng năm mới.

Lễ cúng tiếp theo được tiến hành, một ở bếp thờ và một ở trước bàn thờ tổ tiên. Ở bếp thờ, thầy cúng trịnh trọng thông báo việc tổ chức Tết hoa cho bà con dân bản và kính mời tổ tiên về dự lễ.

Tết hoa - Tết cổ truyền quan trọng nhất trong năm của người Cống. 


Cúng trước bàn thờ tổ tiên gồm hai mâm lễ, mâm thứ nhất có các lễ vật như: thủ lợn, chân giò, rượu, thịt và nội tạng con lợn mỗi thứ một ít; mâm thứ hai có các lễ vật như: một bát gạo để cắm hương, một quả trứng và hai con vịt luộc. Thầy cúng trịnh trọng xướng mời các thần linh, tổ tiên về thụ lễ. Thầy thay mặt dân bản trình báo tình hình mùa màng, chăn nuôi, sức khỏe của dân bản trong năm qua và cầu xin các thần linh, tổ tiên phù hộ cho năm mới mọi người được dồi dào sức khỏe, mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển… 

Sau đó thầy làm lễ buộc chỉ cổ tay, cầu mong sức khỏe cho các thành viên trong gia đình, vừa buộc thầy vừa cầu xin tổ tiên phù hộ cho mọi người khỏe mạnh không ốm đau… thầy xé thịt, lấy xôi cho mọi người coi đó như phúc lộc tổ tiên ban cho.

Thắt chặt tình đoàn kết dân tộc

Nghi lễ cúng chung cho cả bản kết thúc, lễ cúng ở các gia đình bắt đầu. Mỗi nhà đều dựng một cây tre hoặc nứa (hằn né hoặc hạ kha) ở gian bếp cúng. Trên đoạn cây tre, khoảng đốt tre thứ 2 từ trên xuống người ta buộc hoa mào gà với các màu sắc đỏ, vàng đan xen, đây là dấu hiệu để tổ tiên nhận biết việc tổ chức Tết hoa. Dưới gốc đoạn tre, khoảng từ đốt tre thứ 2 từ dưới lên người ta buộc 2 ống rượu cần và những chiếc ống hút rượu cần để mời tổ tiên, thần linh uống rượu. Đây là rượu cần do các gia đình tự làm để dâng cúng lên tổ tiên.

Những cô gái dân tộc Cống rót rượu mời khách. 


Lễ cúng bắt đầu, chủ nhà kính cẩn mời tổ tiên, các vị thần linh về ăn Tết với gia đình và để con cháu báo với tổ tiên tình hình làm ăn và sức khoẻ của mọi người trong gia đình, đồng thời cầu xin tổ tiên phù hộ cho con cháu năm mới dồi dào sức khỏe, vạn sự an lành. 

Ngày thứ hai của Tết hoa, từ sáng sớm, chủ các gia đình đã thức dậy chuẩn bị lễ vật bày lêm mâm đặt trong gian thờ cúng của gia đình để cúng tổ tiên thần linh. Lễ vật dâng cúng có xôi, cá nướng, khoai sọ, sắn, bí đỏ, bí xanh, ớt, bánh chưng và hòn đá thiêng… chủ nhà thắp nến, thắp hương, trịnh trọng khấn mời tổ tiên, thần linh hưởng lễ vật và xin phép kết thúc Tết hoa để gia đình được tiếp tục các công việc lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống trong năm mới.

Lễ cúng Tết hoa kết thúc theo nghi thức cổ truyền được tiến hành một cách trang trọng tại địa điểm tổ chức chung của bản. Thầy cúng và các già làng dâng lễ xin tổ tiên trời đất, thần linh chứng giám lòng thành của dân bản và phù hộ cho mọi người năm mới mạnh khỏe, sản xuất phát triển, cuộc sống yên vui, gia đình hạnh phúc… Thầy cúng khấn mời tổ tiên, thần linh thụ lễ và xin phép kết thúc Tết hoa để mọi người được tiếp tục các công việc trong năm mới. Lễ cúng kết thúc, mọi người cùng vui vẻ uống rượu và múa hát tưng bừng.

Thanh Nga

Đặc sắc nghi lễ cưới hỏi của người Mông xanh

đăng 02:49, 30 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Là dân tộc ít người ở Việt Nam, người Mông xanh cư trú chủ yếu ở 2 thôn Nậm Tu Thượng và Nậm Tu Hạ của xã Nậm Xé (huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai). Người Mông xanh hiện vẫn còn lưu giữ được phong tục tập quán, giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, đặc biệt là nghi lễ cưới hỏi đặc sắc. 

Thổi sáo vầu xin mở cửa, treo ô

Theo phong tục truyền thống của người Mông xanh, nghi lễ cưới hỏi cũng giống như một số dân tộc khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam như: lễ ăn hỏi, lễ cưới và lễ lại mặt. Để tổ chức lễ ăn hỏi, người Mông xanh thường chọn ngày Hợi, ngày Tuất hoặc ngày Thìn. Đoàn đi ăn hỏi chỉ có 3 người, thường đi vào buổi chiều tối, đi đầu là ông mối, tay cầm sáo vầu, tiếp đến là chú rể và sau cùng là phù rể. Ông mối được chọn phải là người giỏi giao tiếp, có tài hát đối đáp và đặc biệt phải biết thổi sáo vầu - để thổi bài sáo xin mở cửa vào nhà, xin treo ô…

Trước ngày cưới ông mối phải dẫn đầu đoàn nhà trai tay cầm sáo vầu đến nhà gái làm lễ ăn hỏi. 


Khi đến trước cửa chính của nhà cô gái, ông mối lấy sáo ra thổi ba hồi sáo báo hiệu để nhà gái ra mở cửa cho đoàn vào nhà. Bố cô gái ra mở cửa mời đoàn nhà trai vào, đoàn nhà trai được gia đình nhà gái mời ngồi ở bên bếp lửa chính của gia đình. Sau khi nghe ông mối trình bày xong lý do, bố cô gái sẽ hỏi ý kiến con gái mình. Nếu con gái nhất trí làm vợ người ta thì nhà gái sẽ dọn cơm, mỗi người phải ăn một bát cơm thật đầy thể hiện tấm chân tình. Nếu cô gái không đồng ý, mẹ cô gái sẽ rót 3 bát rượu và lạy trả nhà trai 3 lạy. Khi cô gái đồng ý, đoàn ăn hỏi sẽ ngủ lại một đêm, sáng hôm sau được nhà gái đưa đi phát nương hoặc đắp bờ ruộng. 

Chú rể mặt bôi phẩm màu, cô dâu trùm khăn đen dài

Sau khi nhà trai chuẩn bị xong đồ sính lễ gồm: thịt, gạo, rượu, 2 đồng bạc trắng hoa xòe, thì tổ chức sang nhà gái từ chiều hôm trước. Đoàn đón dâu gồm: vợ chồng ông mối, chú rể, phù rể, chị hoặc em gái của chú rể, phù dâu, một cặp vợ chồng làm người đón thông gia, một người gùi đồ lễ. 

Cô dâu trùm vải đen kín đầu được chị gái chú rể dắt tay về nhà chồng. 


Khi đến nhà gái, ông mối xin phép vào nhà chào bố cô dâu và anh em bên nhà gái. Ông cậu bên nhà gái đại diện đón tiếp đoàn và trực tiếp nhận, kiểm tra lễ vật. Vào nhà, ông mối lấy thuốc lào mời anh em bên nhà gái, sau đó rót rượu vào 2 bát to để trình bày lý do xin cưới. Đêm đó, đoàn đón dâu ngủ lại nhà gái, đến 12 rưỡi trưa hôm sau, ông mối làm thủ tục xin đón dâu về. Đoàn đón và đưa dâu đều mặc trang phục truyền thống dân tộc, đặc biệt cô dâu đầu đội khăn đen dài phủ che kín mặt, khi đi về nhà chồng không được phép quay mặt nhìn về nhà bố mẹ vì sợ sau này cuộc sống không hạnh phúc. Trên đường về nhà, đoàn đón dâu dừng lại ăn cơm rồi mới đi tiếp.

Tục mời thuốc lào của nhà trai trong lễ ăn hỏi. 


Đoàn về đến nhà trai, cô dâu được đưa thẳng vào buồng. Đại diện nhà trai đem thuốc lào, nước chè mời đoàn nhà gái, rồi cùng tổ chức tiệc cưới. Đêm đó, hai họ hát đối, giao duyên… Nhà gái ngủ lại một đêm. Sáng sớm hôm sau, nhà trai tặng đùi lợn cho nhà gái mang về. Cùng ngày hôm đó, nhà trai sẽ tổ chức ăn thủ lợn, còn nhà gái mời anh em thân thiết trong dòng họ cùng đến ăn đùi lợn.

Theo phong tục dân tộc Mông xanh khi đến đón dâu, mặt chú rể được bôi phẩm màu. 


Sau khi cưới 3 ngày, cô dâu chú rể sẽ về bên nhà gái để gặp gỡ, lại mặt và nhận đồ, tặng phẩm do nhà gái tặng mang về. Từ đó, vợ chồng chăm chỉ lao động, tăng gia sản xuất, xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc. 

Thanh Cường – Ngọc Thanh

Lễ cầu mưa của người H’rê

đăng 02:42, 30 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Dân tộc H'rê có khoảng 11 vạn người sinh sống ở miền núi phía Tây 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Bà con chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước và nương rẫy. Săn bắt, hái lượm, đánh cá, dệt, rèn là nghề phụ nhưng có ý nghĩa đáng kể. Người H'rê định cư thành từng làng (còn gọi là Plây) ở nhà sàn, có già làng đứng đầu đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng.

Người H'rê coi trọng tín ngưỡng hồn lúa cùng các lễ thức trong quá trình sản xuất lúa: gieo cấy, thu hoạch, cất lúa vào kho. Việc giữ gìn thần lúa, thần núi, thần sông, thần mưa, thần cây, thần đá cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, mọi vật sinh sôi được người H'rê coi trọng.

Vũ điệu sôi nổi của đồng bào H’rê. 


Lễ hội cầu mưa với mong ước gắn bó con người với các đấng siêu nhân trong sự giao lưu với các thần linh. Cầu các vị thần ban cho những dòng nước mát tắm tưới cánh rừng, thửa ruộng để muôn vật sinh sôi, cây cối đơm hoa kết trái, mùa vụ bội thu. 

Trước ngày mở hội, các gia đình đều đến hầu lễ tại nhà chủ mang theo rượu cần, rượu trắng để mời thần. Vật tế lễ được cả làng chuẩn bị gồm 1 con heo đen, một con gà đen, 2 vò rượu cần, mấy chai rượu trắng và trầu cau, lập đàn ở nơi bến nước để hành lễ.

Buổi sáng già làng thổi tù và hú gọi dân làng về dự hội. Chủ lễ, thầy cúng và 8 người trong làng ăn mặc chỉnh tề, trang phục lễ hội là áo dài màu đen có viền hoa văn bằng chỉ đỏ, chít khăn chùm đầu khiêng lễ vật vào nơi tế lễ.

Lễ hội cầu mưa của đồng bào H’rê mang đậm bản sắc tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp lúa nước miền núi Trung Trung Bộ. 


Khi chủ lễ và mọi người trong làng tập trung đông đủ quanh dàn cúng, 1 thầy cúng bắt đầu hành cỗ đốt sáp ong trầm hương, lấy gà sống lậy 3 lậy, khấn vái mời các thần. Khấn vái xong thầy cúng tiến hành nghi lễ mổ gà. Cắt tiết rưới lên lá cây trên đài cúng. Các bộ phận con gà đặt lên dàn cúng. 

Sau lễ cúng bến nước tiến hành nghi lễ chọc tức thần mưa, thả vò rượu. Ba chén rượu khấn được tưới xuống đất. Thầy cúng, già làng, chủ lễ lấy vò rượu cúng thần đổ rượu ra cành lá rẩy rượu tưới lên mặt đất với ý niệm tượng trưng cầu mong được những giọt mưa rơi xuống mặt đất. Chủ lễ cùng dân làng rót rượu mời các thần cùng uống. Đội cồng chiêng tấu lên đoạn nhạc để mọi người nhảy múa cảm tạ thần. Chủ lễ, thầy cúng kéo vò rượu thiêng dưới vực lên đặt vào dàn cúng. Lễ vật được nấu ăn tại chỗ, dân làng chia nhau uống rượu phép. Họ dùng cây gậy khua khoắng đập xuống đất, xuống nước để chọc giận cho thần đổ mưa xuống. Đây là trò vui với sự hứng khởi của cả cộng đồng. Mãn cuộc, cả làng tề tựu làm lễ tạ lỗi thần mưa.

Tiếng chiêng H’rê ngân vang. 


Lễ vật là một con heo đen, một con gà mái đen. Heo được tế sống treo ở cửa giữa ra vào, gà luộc chín bày trên dàn cúng cùng trầu cau, gạo nếp, rượu trắng. Cúng lễ xong heo được làm thịt thiết đãi dân làng. 

Tiếng chiêng H’rê vang ngân, điệu nhảy H’rê say đắm lời ca: ca choi, ca liêu đối đáp giao hòa đằm thắm. Tiệc rượu cần, vũ điệu H’rê và dân ca H’rê kéo dài mãi đến khi gà gáy mới tàn hội. Mọi người ra về trong niềm tin sẽ có một mùa vụ bội thu nhờ mưa thuận gió hòa.

Lễ hội cầu mưa của người H’rê là lễ hội truyền thống giàu bản sắc được lưu giữ từ nhiều đời nay. Đây là lễ hội mang đậm màu sắc tín ngưỡng của dân cư nông nghiệp lúa nước miền núi Trung Trung Bộ.

Ngô Quang Hưng

Tục Teh Bo’k và lễ quay đầu trâu của người S’tiêng

đăng 01:14, 23 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trong nhiều phong tục tập quán thể hiện văn hóa lâu đời của người S’tiêng ở Bình Phước, tục Teh Bo’k và lễ hội quay đầu trâu là loại hình văn hóa thuộc phạm vi nhóm cộng đồng, khu vực.

Teh Bo’k có nội dung và hình thức tương tự lễ kết nghĩa của một số dân tộc khác. Có một điều rất dễ nhận diện là tục này gắn liền với lễ hội quay đầu trâu. Teh Bo’k chỉ phổ biến ở nhóm người S’tiêng ở 2 huyện Bù Gia Mập, Bu Đăng và một số ít người Mơnông của địa phương này.

Theo lời kể của nhiều già làng ở vùng Bù Đăng, tục Teh Bo’k và lễ hội quay đầu trâu của người S’tiêng đã hình thành từ lâu đời. Những người con trai trong một nhà sau khi lập gia đình, họ ở nhiều sóc khác nhau. Sợ lâu ngày tình cảm gia đình không còn gắn kết nên họ phải hình thành tục này để các thành viên trong gia đình có dịp kết nối với nhau. Ngoài ra, hình thức này còn tồn tại với những người không phải là anh em ruột trong một gia đình. Song đều có chung đặc điểm về hình thức thực hiện phong tục và tổ chức lễ hội.

Hình ảnh giã gạo quen thuộc của người S’tiêng (Bình Phước) - Ảnh tư liệu


Việc tổ chức lễ hội để duy trì tục Teh Bo’k có nhiều cách thức thực hiện, có thể la người anh lớn nhất trong gia đình tổ chức trước, nhưng cũng có thể là người có điều kiện kinh tế tốt hơn sẽ tổ chức trước. Khi thỏa thuận được vấn đề này, gia đình tổ chức lễ hội và mời người có tục Teh Bo’k với mình về sóc dự lễ hội. Lễ hội thường diễn ra giữa 2 gia đình nhưng cũng có thể nhiều hơn.

Lễ hội được tổ chức với thời gian 2 ngày trở lên, tùy thuộc vào số lượng người tham gia và nhu cầu giao lưu giữa các gia đình. Đến ngày tổ chức lễ hội, gia đình chuẩn bị các vật lễ, vật dụng và thực phẩm để tiếp đón gia đình “bạn”, trong đó, không thể thiếu trâu. Các hộ được mời phải đi từ chiều hôm trước khi diễn ra ngày lễ chính. Khi đi đến cách sóc khoảng 500m thì dùng cồng chiêng để đánh báo hiệu, gia đình tổ chức lễ hội nghe được dùng cồng chiêng đánh đáp trả để thông báo việc đã sẵn sàng và mời họ vào. Nếu có nhiều hộ cùng được mời đến dự thì gia đình nào thong báo trước sẽ được mời vào trước... Khi đến khu vực lễ, chủ nhà mang 2 ống tre đựng đầy rượu cần để mời người đàn ông của đoàn đi dự lễ. 2 người phải uống cạn, coi như nghi thức đón tiếp nhau. Sau đó, các thành viên được mời vào khu vực dự lễ, trong đó những thành viên chính được mời vào nhà để nghỉ ngơi. Khi đi qua cửa, mỗi thành viên được chủ nhà dùng máu gà trát vào chân với tâm niệm để trừ khử tà ma.

Sáng hôm sau thì thực hiện nghi lễ cúng thần linh tại sân của sóc, trong đó có nghi lễ hiến sinh (giết trâu). Sau nghi lễ này, các vật lễ cúng thần linh (thường là trâu, heo) sẽ được đưa ra chế biến để mọi người cùng thưởng thức. Trong đó, phần đầu trâu luôn được để dành cho gia đình là khách mời dự lễ, nếu có 2 gia đình được mời dự, gia đình chủ lễ phải giết 2 con trâu để có đủ số đầu trâu tặng. Sau khi lễ hội kết thúc, tối thiểu 3 năm sau, các gia đình là khach mời sẽ tiến hành tổ chức lễ hội, mời gia đình là chủ lễ của buổi lễ hôm nay về dự. Khi đó, phần đầu trâu cũng được dành cho gia đình là khách mời như một sự trả lễ. Chính hình thức trao đầu trâu xoay vòng này mà nhiều người đã gọi đây là lễ hội quay đầu trâu.

Tục Teh Bo’k là phong tục mang tính bắt buộc, phổ biến ở nhóm người S’tiêng ở 2 huyện Bù Gia Mập, Bù Đăng. Nếu có điều kiện thì họ làm thịt trâu thết đãi và để dành đầu trâu trao cho gia đình khách mời. Còn không có điều kiện, các gia đình chỉ giết gà, heo để tổ chức và phần đầu của heo, gà cũng được để dành cho gia đình khách mời. Hiện nay, ở vùng Bình Minh, huyện Bù Đăng, nhiều gia đình con duy trì tục này và vẫn tổ chức lễ hội với quy mô khác nhau, tùy điều kiện kinh tế của mỗi gia đình. 

Hưng Điền - Bảo tàng tỉnh Bình Phước

Độc đáo điệu múa sư tử mèo của người Tày, Nùng

đăng 21:24, 19 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 21:25, 19 thg 5, 2020 ]

Trải qua quá trình sinh sống, phát triển, đồng bào dân tộc Tày, Nùng ở Ðắk Nông vẫn còn gìn giữ, lưu truyền những nét văn hóa đặc trưng, mang đậm bản sắc dân tộc; trong đó, phải kể đến điệu múa sư tử mèo.

Ðây là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống được biểu diễn trong các dịp lễ, tết của người Tày, Nùng. Theo quan niệm của họ, sư tử là tượng trưng cho sự thịnh vượng, sư tử đi đến đâu là mang theo hạnh phúc, no đủ và niềm vui đến đó. Người Tày, Nùng cho rằng, múa sư tử mèo để xua đi những điều xấu, do vậy khuôn mặt mèo càng dữ tợn càng tốt, điệu võ càng mạnh mẽ càng hấp dẫn. Nếu thiếu điệu múa sư tử mèo là thiếu đi một phần linh hồn của ngày hội và màu sắc rực rỡ của ngày xuân. 

Múa sư tử mèo đã trở thành nét văn hóa đặc sắc của người Tày, Nùng mỗi dịp lễ, tết 


Ðể múa sư tử mèo, người múa phải điều khiển một chiếc đầu có hình dáng gần giống đầu sư tử, nhưng có khuôn mặt của con mèo. Ðể làm được đầu sư tử mèo bền đẹp, bắt mắt phải mất hơn 1 tuần. Nghệ nhân phải tìm chọn loại đất lấy ở giữa dòng sông, suối, sau đó được đem giã nhuyễn, cho nước quánh mịn. Ðầu sư tử phải được nặn giống nguyên mẫu, dáng hình phong phú, đẹp. Nặn xong hình mặt thì đem phơi, cho đất sét khô lại rồi dán giấy bồi, sau đó là công đoạn sơn vẽ các màu, tạo nên hình thù, gương mặt mèo hợp lý, bắt mắt. Cuối cùng là gắn các mảnh vải nhiều màu sắc, bông, lông vào đầu và tạo đuôi sư tử mèo. 

Đầu sư tử mèo hoàn chỉnh có hình tròn giống chiếc nón vành rộng, đường kính khoảng 60 cm, có mắt mũi to, mồm rộng, tai nhỏ, lông mày, 3 chiếc sừng, lưỡi và râu mép trông dữ tợn. Thân sư tử mèo rộng khoảng 1 m, dài 2 m được may vá với nhiều màu sắc sặc sỡ. Phía trong đầu có 2 thanh ngang bằng gỗ để làm tay cầm khi múa. Mỗi con sư tử mèo có khuôn mặt, sắc thái riêng, không con nào giống con nào. 

Múa sư tử mèo có các động tác cơ bản là xuống tấn, đi đường, múa chào, kính bái các miếu, các gian thờ cúng. Trong bài múa sư tử mèo, không thể thiếu phần biểu diễn các động tác võ thuật như các bài quyền, kiếm, binh khí thể hiện sức mạnh, sự dẻo dai của con người. 

Trên địa bàn tỉnh hiện nay có rất ít hộ đồng bào dân tộc Tày, Nùng còn lưu giữ sư tử mèo, các loại nhạc cụ dùng múa sư tử mèo 


Những người có kinh nghiệm từ 10 năm trở lên mới được múa đầu sư tử mèo đen (sư tử có uy thế trong đội múa). Đây phải là người rất sành sỏi, giỏi giang, có thể biết người nào múa sai để chỉnh đốn. Vào những ngày hội lớn hay công việc hệ trọng của địa phương mới được múa sư tử mèo đầu đen, trước đó phải làm lễ cẩn thận, theo đúng cách thức truyền thống. Thông thường một đội múa sư tử mèo ít nhất phải có 8 người, càng nhiều người múa thì càng hay, mỗi con sử tử mèo chỉ được một người múa. 

Cũng như múa sư tử của các dân tộc khác, múa sư tử mèo của người Tày, Nùng không tách rời khỏi nhạc và trò diễn; dàn nhạc phải đủ trống, chiêng, chũm chọe, thanh la. Trong đội múa sư tử mèo, dẫn đầu thường là những thanh niên khỏe mạnh, mặc sắc phục truyền thống, mang gậy đôi, kiếm, tẳng giảo (binh khí của người Nùng)..., thể hiện các thế võ mạnh mẽ, dứt khoát. 

Múa sư tử mèo tại Lễ hội lồng tồng được tổ chức hằng năm ở xã Nam Xuân (Krông Nô) 


Với những giá trị văn hóa truyền thống đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận Múa sư tử mèo của người Tày, Nùng là loại hình Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2017. Tuy nhiên hiện nay, được biết trên địa bàn tỉnh không còn nghệ nhân biết làm đầu sư tử mèo, có rất ít các nghệ nhân biết múa sư tử mèo và chỉ còn vài hộ còn gìn giữ được sư tử mèo. Trong khi đó, nhu cầu thưởng thức, sử dụng sư tử mèo trong các lễ hội của người dân lại rất cao. Người Tày, Nùng ở Đắk Nông phải đặt mua sư tử mèo ở các tỉnh phía Bắc mang vào để sử dụng, lưu giữ cẩn thận. 


 

Anh Mã Văn Tá, nghệ nhân có kinh nghiệm múa sư tử mèo lâu năm ở thôn Thanh Sơn, xã Nam Xuân (Krông Nô) cho biết: Múa sư tử mèo của người Tày, Nùng là hình thức múa trò với nhiều loại như: bái lạy, chào nhau, sư tử đẻ con, nhảy bàn, múa võ... Để phục vụ các trò diễn, sự ngẫu hứng của dàn nhạc khi diễn tấu là vô cùng quan trọng. Người đánh trống phải nắm bắt nhanh sự chuyển động của động tác múa để sáng tạo kịp thời những tiết tấu phù hợp. Người đánh trống càng giỏi, sự hòa theo của thanh la, chũm chọe càng nhịp nhàng thì trò múa càng hấp dẫn.


Sau khi sử dụng trong các lễ hội, sư tử mèo và các loại nhạc cụ phục vụ múa được người Tày, Nùng trân trọng, cất giữ cẩn thận, coi đó là tài sản quý giá của gia đình, dòng tộc và địa phương nơi sinh sống.

 

Bởi vậy, để bảo tồn và phát huy hơn nữa các giá trị di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh, công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các tầng lớp Nhân dân cần tăng cường hơn nữa. Tỉnh, ngành chức năng cần quan tâm, nghiên cứu đào tạo thế hệ trẻ biết chế tạo, múa sư tử mèo. Qua đó góp phần gìn giữ, phát huy và quảng bá loại hình di sản văn hóa truyền thống này; tạo nên sự đa dạng, phong phú trong kho tàng văn hóa dân gian trên địa bàn tỉnh. 


Bài, ảnh: Y Krăk

Cây mây "quấn quýt" bon làng, "gắn kết" cộng đồng

đăng 21:19, 19 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, mây chiếm một vị trí quan trọng trong sinh hoạt, đời sống và ẩm thực. Từ bao đời nay, dù sướng khổ, thăng trầm, dây mây vẫn luôn "quấn quýt" với bon làng, "gắn kết" cộng đồng.

Mây là một loại cây rừng mọc thành bụi, có dây dài đến hàng chục mét. Đồng bào Ê đê, M’nông thường dùng thân mây làm dây buộc các cấu kiện để cất nhà ở, dùng lá mây để lợp mái nhà. Khi lợp, các lá mây rừng được nối kết với nhau bằng dây mây chẻ nhỏ, chuốt nhẵn để tăng độ dẻo dai. Những ngôi nhà lợp bằng lá mây có độ bền còn cao hơn so với cỏ tranh. Có nhiều căn nhà lợp lá mây chịu được mưa gió, nắng nóng hàng chục năm mới phải lợp lại. 

Canh thụt là sự hòa quyện đặc biệt của các loại nguyên liệu, có vị đắng, cay, ngọt, bùi béo khiến ai ăn một lần là nhớ mãi. Ảnh tư liệu 


Trong các vật dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt, lao động sản xuất hằng ngày, có nhiều vật dụng tinh xảo được làm từ sợi dây mây rừng như dụng cụ săn bắt voi, các loại gùi, dần, sàng, nia… Trong đó, khá độc đáo là bộ dụng cụ săn bắt và thuần dưỡng voi rừng của đồng bào M’nông. Các vật dụng sinh hoạt như gùi, bắt cá, săn bắt muốn có những hoa văn tỉ mỉ, chi tiết (hình đường xương cá, hình con cuốn chiếu, xà gạc, bông zớn…) phải dùng dây mây mới đan được. 

Ngoài ra, dây mây còn được trang trí trên cây nêu, đan giỏ treo các vật dụng nhỏ như túi đựng cơm, dây gùi, nỏ… Sở dĩ mây được các nghệ nhân đan lát người M’nông chọn bởi tính năng bền, bóng, dẻo. Mỗi khi các thành viên trong gia đình đi rẫy, vào rừng, đi chơi xa gặp dây mây đều tranh thủ lấy về treo trên dàn bếp, tích lũy đến khi cần thì sử dụng. 

Trong ẩm thực của người Ê đê, M’nông, đọt (ngọn) mây là món ăn phổ biến, dù chế biến kiểu gì đều có vị béo, ngọt, đắng dịu. Món ăn đơn giản nhất từ đọt mây là món mây nướng, luộc hoặc hấp cơm, sau đó chấm với muối ớt tươi giã nhỏ. Cầu kỳ hơn, đọt mây được dùng làm món canh thụt - món ăn đặc trưng của người M’nông. Để chế biến món ăn này, ngoài đọt mây phải có lá bép, cà đắng, cá hoặc thịt, tất cả được bỏ vào ống lồ ô nướng trên lửa. Trong quá trình nấu dùng một que tre chọc (thụt) cho nhuyễn. Có lẽ vì thao tác này mà món ăn được đặt tên là canh thụt. 

Tại các lễ nghi trong gia đình và cộng đồng, canh thụt là món ăn, lễ vật cúng thần linh không thể thiếu. Theo kinh nghiệm, để có món canh thụt ngon phải chọn ống lồ ô kỹ càng, nếu chọn ống non sẽ không ngon vì nhựa cây sẽ hăng và đắng, nếu chọn ống quá già, lửa sẽ làm nứt ống, canh sẽ chảy ra ngoài. Khi nấu không được dựng ống lồ ô thẳng đứng mà phải để nghiêng trên lửa, vừa thụt vừa quay tròn để canh chín đều, đồng thời đun lửa riu riu đến khi các loại nguyên liệu nhuyễn thành một thứ hỗn hợp sền sệt như súp. Khi món canh chín, người ta thêm các loại gia vị như muối, ớt, một chút rau thơm vào là có thể dùng được. 

Khi thưởng thức, thực khách sẽ cảm thấy mùi thơm của lá bép, vị cay của ớt, vị bùi, béo của đọt mây. Đặc biệt, khi ăn miếng đầu tiên, thực khách sẽ thấy có vị đắng của đọt mây tưởng như khó ăn, nhưng vị ngọt sẽ nhanh chóng lan tỏa, khiến muốn ăn thêm miếng nữa. 

Theo kinh nghiệm của đồng bào, đọt mây ăn nhiều không bị nặng bụng như măng. Vì thế, không chỉ là món ăn, đọt mây còn là một vị thuốc thường được đồng bào M’nông dùng để giải độc rượu, trị đầy hơi, trướng bụng và cũng là món ăn rất tốt cho phụ nữ mới sinh, cho người già sức yếu và những em bé còi xương. 

Ngày nay, đọt mây đã trở thành món ăn phổ biến, đặc trưng của Đắk Nông. Nhiều nhà hàng có tiếng trên địa bàn đã đưa món đọt mây vào thực đơn. Du khách khi đến Đắk Nông hầu như ai cũng muốn thưởng thức và đều nhớ đến món đọt mây, nhất là món đọt mây nấu với ruột bê, cà đắng, lá bép. 

Hoàng Thanh

Tục đòi nợ đậm tính nhân văn của người M’nông

đăng 21:16, 19 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Người M’nông xưa có nhiều tập tục mang đậm tính nhân văn, trong đó có tục đòi nợ. Khi lâm vào tình cảnh khó khăn, người nghèo khó phải đi vay mượn của anh em họ hàng hay bạn bè trong bon. Khi vay, người vay thường hứa với chủ nợ trả bằng heo nếu thời gian ngắn, hoặc trả bằng trâu nếu lâu năm; nếu vay mượn nhiều, thời gian dài thì có thể phải trả bằng chiêng, ché.

Đối với những món vay ít giá trị thì việc trả nợ thường đơn giản. Tuy nhiên, nếu món vay có giá trị lớn, đến thời gian lấy nợ, người cho mượn có cách đòi nợ rất đặc biệt, đó là lễ đòi nợ. Theo đó, đến ngày hẹn trả nợ, vợ chồng chủ nợ sẽ bàn bạc làm lễ đòi nợ. Trước khi làm lễ, chủ nhà mời già làng (có khi là thầy cúng) và anh em dòng họ đến nhà mình để dự lễ và chứng kiến. 

Người M’nông có nhiều phong tục đầy tính nhân văn 


Để làm lễ đòi nợ, chủ nhà thường chuẩn bị một ché rượu cần. Nếu món nợ có giá trị cao họ sẽ thịt một con heo, nếu khoản nợ vừa vừa thì thịt một con gà. Khi ché rượu đã châm đầy nước, heo đã mổ xong, người phụ nữ chủ nhà nấu nồi cơm mới. Sau đó, chủ nhà thông báo với những người được mời tới rằng, gia đình có cho người ta mượn tài sản, bây giờ đã đến hẹn lấy nợ, cho nên mời anh em họ hàng đến chứng kiến việc mình đi đòi nợ. Sau khi được mọi người chấp thuận, già làng sẽ cúng cho người đàn ông chủ nhà. 

Trước khi làm lễ cúng, già làng sẽ rót một ít rượu cần ra chén có tiết heo, dùng bông gòn để bôi tiết lên ngực người đàn ông trực tiếp đi đòi nợ, với ý muốn cho người này luôn bình tĩnh trong mọi tình huống. Dù có đòi được nợ hay không thì cũng phải gặp gia đình người ta nói chuyện cho ra nhẽ, cho đúng phải trái, luôn giữ bình tĩnh, để người ta trả nợ mình dễ dàng. 

Tiếp theo, chủ nhà sẽ ngồi bên ché rượu, đối diện với già làng (hoặc thầy cúng), tay phải cầm cần rượu. Lúc này già làng bắt đầu cất lời cúng: “Hỡi thần nhà, thần bếp, hỡi linh hồn ông bà tổ tiên, hôm nay gia đình làm lễ cúng cho chủ nhà để đi đòi nợ, mong cho thần linh bảo vệ, giúp đỡ, đi đến nơi về đến chốn, đòi được nợ”. Sau khi cúng, già làng khuyên bảo thêm, đại ý đến đòi nợ thì nói chuyện cho trôi chảy lưu loát, nói cho hay cho đúng để người ta hiểu và trả tài sản cho mình. Lấy được nợ rồi thì trở về an toàn. 

Khi chủ nợ đến nhà đòi nợ, nếu gia chủ đồng ý trả nợ thì ở lại nhiều ngày. Còn trường hợp gia chủ chưa có để trả ngay và hẹn tiếp vài ba năm sau trả nợ, thì chủ nợ có thể ở lại làm khách đôi ba ngày. Việc ở lại làm khách nhằm mục đích vừa để chủ nợ hiểu hơn về điều kiện sống, khả năng kinh tế của gia đình vay mượn, và cũng là tăng thêm tình cảm thân mật giữa hai nhà. Dù có đòi được nợ hay không thì tình cảm giữa hai gia đình vẫn không thay đổi, họ vẫn là anh em, là người thân quen của nhau. 

Trường hợp đòi được nợ, mang tài sản về thì chủ nhà sẽ mời anh em họ hàng tới để thông báo và cúng mừng cho tài sản mà mình có được. Khi họ hàng đã đến đông đủ, chủ nhà mời già làng làm lễ. Gia đình chủ nhà cũng sẽ cột một ché rượu cần và thịt một con heo để thông báo với già làng, họ hàng rằng mình đã đòi được nợ. Ví dụ đòi được bộ chiêng, thì đây là tài sản được người ta trả nợ, không phải lấy không, lấy cắp. Sau đó, chủ nhà tiếp tục làm lễ cúng chiêng mới với mong muốn linh hồn của chiêng từ nay sẽ về ở cùng với gia đình, là tài sản của nhà mình, bảo vệ và mang nhiều điều may mắn cho gia đình chủ mới. 

Lời cúng của chủ nhà như sau: “Hỡi thần nhà, thần bếp, thần buôn làng, hôm nay chúng tôi cúng mừng chiêng mới, mong các thần giúp đỡ và bảo vệ chúng tôi. Mong từ nay gia đình sẽ gặp nhiều may mắn, có thêm nhiều của cải, nuôi trâu trâu đẻ thành đàn, nuôi bò nuôi dê đầy chuồng đầy sân. Mong cho có nhiều lúa, ăn cơm còn thừa trong nồi, uống nước còn thừa trong bầu, ché rượu cần còn một hàng đầy, buôn làng ngày càng đông vui…”. 

Kết thúc lễ cúng, chủ nhà sẽ uống rượu trước, tiếp theo là già làng, người phụ nữ, con cái theo thứ tự và cuối cùng là khách mời. Mọi người cùng ăn uống vui vẻ, chúc tụng nhau những điều hay, điều tốt. 

Ngày nay, cuộc sống của đồng bào M’nông đã có nhiều đổi thay. Khi cần tiền để đầu tư vào sản xuất, bà con đến ngân hàng để vay vốn làm ăn. Nếu có vay mượn với nhau, mọi người thường làm giấy tờ để làm chứng nên việc đi đòi nợ theo phong tục cũng dần mai một. Tuy vậy, trong các bon làng, khi vay hay trả nhau, người M’nông vẫn cho đó là một dịp để gặp gỡ, sum vầy. 

Hoàng Thanh

1-10 of 24