Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Lễ rước và thay y trang cho thần vua trong lễ hội Ka Tê Vào dịp năm mới người Chăm tổ chức lễ hội lớn gọi là lễ hội Ka Tê để tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc, ông bà tổ tiên ...
    Được đăng 01:14, 12 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mộc mạc làng nghề dệt choàng giữa đất sen hồng Từ bao đời nay, hình ảnh những cô bác nông dân mặc áo bà ba, đầu đội khăn rằn trở nên quen thuộc trên những cánh đồng mênh mông thẳng ...
    Được đăng 01:07, 12 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Độc đáo nhà sàn Ba Na Người Ba Na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời, có dân số đông thứ hai trong số các dân tộc thiểu số tại chỗ (sau người ...
    Được đăng 03:08, 11 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nhà sàn truyền thống ở làng Kleng Trải qua bao thăng trầm của cuộc sống cùng sự phát triển của xã hội, nhiều hộ dân người Gia Rai ở làng Kleng (thị trấn Sa Thầy, huyện Sa ...
    Được đăng 03:00, 11 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chiếc khiên của người M'nông Từ xa xưa, đồng bào Tây Nguyên nói chung và người M'nông nói riêng đã biết chế tạo nhiều công cụ, vật dụng để săn bắt thú rừng và ...
    Được đăng 01:37, 11 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 24. Xem nội dung khác »


Lễ rước và thay y trang cho thần vua trong lễ hội Ka Tê

đăng 01:14, 12 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Vào dịp năm mới người Chăm tổ chức lễ hội lớn gọi là lễ hội Ka Tê để tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc, ông bà tổ tiên và cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Các nghi lễ thiêng liêng thường được diễn ra tại khu đền tháp thờ thần vua. Nghi lễ quan trọng nhất trong lễ hội này là Lễ rước và thay y trang cho thần vua. Lễ hội được diễn ra trong 3 ngày đầu tháng 7 (theo lịch Chăm), khoảng cuối tháng 9 đến đầu tháng 10 Dương lịch. 

Nét đời sống tâm linh 

Đối với người Chăm, dù là vua hay là người bình thường, khi chết và trở thành thần linh ít nhất phải có ba bộ trang phục để dùng, (đồng bào gọi là: klau kaya anguei). Trang phục của vua gồm có: mão, áo, váy, dây lưng và giày. Trang phục của nữ thần hay hoàng hậu, công chúa gồm có mão, vòng tay, hoa tai, áo và khăn đội đầu. Ngày xưa, người Chăm sắm đầy đủ trang phục các vua chúa để dâng cúng trong lễ hội Ka Tê. Với lòng thành kính của mình người Chăm không chỉ sắm có 3 bộ trang phục cho vua mà còn có thể nhiều bộ, càng nhiều càng tốt, tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi năm. Trước đây, bộ trang phục của nữ thần hay vua chúa do người dân ở các làng Chăm tiến cúng mỗi dịp tổ chức lễ Ka Tê. Đó là những thứ vải vóc, lụa, hàng thổ cẩm hảo hạng, có hoa văn, màu sắc đẹp. Tuy nhiên, do thời gian, việc bảo quản không tốt, nhiều loại vải, y phục của thần vua đã bị hư hỏng hoặc mấc mác. Y phục xưa cũ của thần vua không còn nữa nên nó được đồng bào thay thế bằng nhiều loại vải vóc mới mua từ các làng dệt thổ cẩm Chăm hiện nay. 

Đoàn rước y trang lên tháp Po Klaong Girai trong hội Ka Tê. 

Lấy giỏ tre đựng y trang từ trong kiệu ra để cúng thần vua. 

Trong lễ hội Ka Tê, nghi lễ rước y trang diễn ra ở 3 địa điểm: Rước y trang vua Po Klong Girai (từ làng Phước Đồng lên tháp tại đồi Trầu, phường Đô Vinh, Tháp Chàm khoảng 7 km); rước y trang Po Rame (từ làng Phước Hậu lên tháp khoảng 2 km); rước y trang của Nữ thần Po Ina Nagar (từ xã miền núi Phước Hà về đền thờ ở làng Hữu Đức khoảng 15 km). Theo truyền thuyết “người Chăm và Raglai là chị em ruột, Chăm là chị cả, người Raglai là em út” (Cham sa-ai Raglai adei). Theo chế độ mẫu hệ, con gái út thừa kế tài sản và phụ trách thờ cúng tổ tiên nên người Raglai có nhiệm vụ giữ trang phục thần vua Chăm. 

Nghi lễ thiêng liêng 

Ngày đầu tiên người Chăm tổ chức Lễ rước y trang của nữ thần xứ sở Po Ina Nagar tại đền thờ bà ở thôn Hữu Đức. Ở đây diễn ra cuộc đón rước, trao y trang của nữ thần giữa người Chăm và người Raglai. Khi y trang về đến làng, bà con Chăm nô nức cùng nhau ra chào đón. Ngày hôm sau diễn ra nghi lễ rước y trang lên tháp thờ thần vua: tháp Po Klong Girai và tháp Po Rame. Vào lúc 6 giờ sáng, ngày mùng 01 tháng 7 (Chăm lịch) đồng bào tiến hành Lễ rước y trang (Raok khan aw Po Yang) lên đền tháp. Đây là nghi lễ mở đầu cho ngày hội, được diễn ra rất trọng thể. Trong ngày lễ rước y trang, đoàn người Raglai tập trung đầy đủ, ông từ giữ đền dâng cúng lễ vật như: rượu, trứng, trầu, cau,… xin phép Thần cho rước y trang về tháp cúng lễ. Đoàn người rước y trang được sắp xếp như sau: dẫn đầu là 05 đến 06 người Raglai đánh mã la (chiêng bằng, không có núm); tiếp đến là Cả sư chủ trì đền tháp; thầy kéo đàn Kanhi; bà Bóng (Muk Bajau); đội vũ nhạc; ở giữa là những thanh niên trai tráng khiêng kiệu đựng y phục của vua; hai bên là những thanh niên cầm cờ và những người phụ lễ đi theo. Đoàn rước đi trên con đường dài 4km từ đền thờ làng đến tháp Po Klong Girai. Nét sinh động nhất trong đoàn rước lễ là hàng chục thiếu nữ thướt tha trong bộ trang phục truyền thống, vừa đi vừa múa quạt trong nhịp trống Ginăng, kèn Saranai... Khi đoàn rước kiệu vua Po Klong Garai về đến tháp thì đội múa lễ của đoàn múa mừng trước tháp. Đây cũng là điệu múa mừng khi kết thúc một công đoạn trong nghi thức hành lễ rước y trang của người Chăm. 

Mặc y trang cho thần vua. 

Khi y trang đã được rước lên đền tháp, thầy cả Chăm, bà Bóng và các vị chức sắc tiến hành nghi lễ xin phép các thần linh cho mở cửa tháp, đền để đưa y trang vào tháp. Các nghi lễ thiêng liêng được thực hiện là lễ tắm rửa tượng và thay y phục mới cho vua. Cả sư mang bình nước thiêng ra để tưới tắm, tẩy rửa tượng vua (pamưnay yang) rồi dâng lễ, thay lễ phục cho vua. Thầy Kadhar vừa kéo đàn Kanhi vừa hát bài tụng ca, mô tả thao tác vua thần Chăm hiện về tháp: Vua tắm sạch sẽ, đội mão, mặc áo, váy, dây lưng và cuối cùng mang đôi giày về hưởng lễ vật Ka Tê. Những người tham gia cùng khấn tế mời vua nhận lễ và cầu xin vua thần phù hộ cho con cháu. 

Đón kiệu y trang vừa rước lên tháp. 

Lễ rước y trang và thay y trang là những nghi lễ thiêng liêng nhất, diễn ra trong Lễ hội Ka Tê của dân tộc Chăm. Lễ hội phản ánh rõ nét đời sống tâm linh của người Chăm, đó là tín ngưỡng thờ thần, vua. Lễ rước và thay y trang cho thần vua mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện lòng biết ơn của đồng bào đối với người đi trước qua nghi lễ dâng cúng y trang cho các vị thần vua, tái hiện nghi lễ đặc sắc nhất trong di sản văn hóa của người Chăm ở nước ta. 

Tấn Khải

Mộc mạc làng nghề dệt choàng giữa đất sen hồng

đăng 01:07, 12 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Từ bao đời nay, hình ảnh những cô bác nông dân mặc áo bà ba, đầu đội khăn rằn trở nên quen thuộc trên những cánh đồng mênh mông thẳng cánh của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đó cũng là sản phẩm làng nghề truyền thống của chính quê hương Đồng Tháp Mười - làng nghề dệt choàng Long Khánh, xã Long Khánh A, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. 

Trăm năm nghề dệt choàng 

Mảnh đất trù phú Đồng Tháp cũng được xếp vào vùng đất trăm nghề của Nam Bộ, nơi có nhiều làng nghề nổi tiếng với tuổi đời cả trăm năm như làng nghề dệt chiếu Định Yên, làng nghề đóng xuồng, ghe Bà Đài, nghề làm bột, trồng hoa kiểng Sa Đéc, làm nem Lai Vung hay nghề dệt choàng Long Khánh... Các nghệ nhân dệt choàng Long Khánh tự hào vì quê hương mình là một trong những làng nghề tiểu thủ công nghiệp tiêu biểu của tỉnh, với những chiếc khăn rằn giản dị đã gắn bó với cuộc sống của những người nông dân thôn quê bao đời. 

Nghệ nhân dệt choàng . 

Theo người dân ấp Long Tả, do mảnh đất trù phú nên từ xa xưa, cha ông họ đã có nghề trồng dâu nuôi tằm, cung cấp nguyên liệu sản xuất lụa cho những làng nghề nổi tiếng trong vùng. Những thếp vải lãnh Mỹ A nổi tiếng cũng có một phần đóng góp của những nghệ nhân đất Long Khánh. Từ việc cung cấp nguyên liệu, dần dần, người trong làng chuyển qua tự sản xuất, nghề dệt khăn rằn trở nên hưng thịnh từ đó. 

Trong suốt một thế kỷ qua, làng nghề này trở thành nơi cung cấp khăn rằn cho các làng quê Nam Bộ và xuất khẩu qua Campuchia. Với nghề dệt, máy móc đã thay thế sức người trong nhiều công đoạn. Nhiều gia đình đầu tư nồi hấp, máy dệt để đáp ứng nhu cầu sản xuất với số lượng lớn nhưng trình tự thực hiện, từ đảo chỉ, nấu, nhuộm màu, khấy hồ, phơi khô, quay chỉ, móc cửi, dệt không hề thêm bớt đi một khâu nào. Nhìn những chiếc khăn có phần mộc mạc nhưng cũng kỳ công chẳng kém các sản phẩm tơ lụa quý phái. 

Những sợi chỉ màu sắc tạo nên sức sống mới cho khăn rằn. 

Thống kê từ Hợp tác xã dệt khăn rằn ấp Long Tả, trong làng có khoảng 150 khung dệt các loại của gần 50 hộ sản xuất, mỗi năm có thể xuất bán hàng triệu chiếc khăn và các sản phẩm họa tiết khăn rằn. Không khí của một làng nghề truyền thống sôi động với tiếng khung dệt lách cách bền bỉ bên những máy móc hoạt động liên tục. Bên sân nhà, những cuộn sợi đủ màu sắc vẫn được phơi trong nắng để thêm óng ả, rực rỡ, là minh chứng rõ nhất của sự hồi sinh này. 

Món quà của đất sen hồng 

Năm 2014, làng nghề dệt choàng Long Khánh A được UBND tỉnh Đồng Tháp chọn làm sản phẩm công nghiệp nông nghiệp tiêu biểu. Điều đặc biệt, cùng với những giai đoạn thăng trầm của làng nghề, từ khi nghề dệt choàng Long Khánh được đầu tư hướng tới phát triển du lịch, các khuôn dệt, công đoạn làm thủ công vẫn giữ vị trí quan trọng để giới thiệu cho du khách tới tham quan, trải nghiệm. Đến năm 2020, hai bộ sản phẩm là bộ quà tặng của Hợp tác xã dệt choàng Long Khánh và bộ sản phẩm quà tặng của cơ sở dệt choàng Kim Chiều được công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu của huyện Hồng Ngự. Không chỉ mang khăn rằn tới với những người dân miệt vườn, những nghệ nhân ở làng dệt choàng Long Khánh đã biến những sản phẩm của quê hương trở thành những món quà lưu niệm, đồ thời trang “độc” và “lạ” phục vụ khách du lịch, người dân thành phố. 

Các sản phẩm của làng nghề trở thành quà lưu niệm độc đáo. 

Lần đầu đến ấp Long Tả, chị Nguyễn Thị Thanh Hậu (Thị xã Sơn Tây, Hà Nội) khá bất ngờ vì chỉ dự định mua khăn rằn về làm quà cho bạn bè, nhưng khi đến nơi, chị đã có thêm rất nhiều đồ lưu niệm mang về, từ áo, túi, phụ kiện thời trang… được làm bằng chất liệu vải khăn rằn nhiều màu sắc. Chị chia sẻ: “Trước kia tôi chỉ biết mỗi sản phẩm khăn rằn đen trắng, nên khi tới đây thấy những cửa hàng bán đủ màu sắc như hồng, đỏ, xanh, vàng…, với nhiều chủng loại, kiểu dáng khiến tôi rất bất ngờ. Chuyến đi này tôi gom được nhiều đồ về làm quà, chắc chắn bạn bè cũng sẽ rất thích thú với những sản phẩm mới mẻ này”. 

Không chỉ bày bán tại làng nghề, rất nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, đồ du lịch, đồ cho giới trẻ tại các thành phố lớn cũng nhập các sản phẩm này về bán. Bạn Nguyễn Quỳnh Anh, sinh viên đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh cho biết, các sản phẩm “made in Vietnam” của các làng nghề truyền thống này được bạn bè nước ngoài rất thích thú. “Tôi đã từng đặt mua một chiếc áo dài truyền thống làm bằng vải khăn rằn của làng dệt Long Khánh để tặng một người bạn đến từ Hàn Quốc. Cô bạn ấy rất thích thú. Sau đó, có một lần chúng tôi đi chơi ở Đồng Tháp, bạn ấy đã mặc đúng chiếc áo dài đó và tạo dáng giữa đồng sen hồng. Những sản phẩm truyền thống của Việt Nam được bạn bè quốc tế rất ưa chuộng. Họ còn chủ động đặt để mang về làm quà cho bạn bè, người thân ở quê nhà”, Quỳnh Anh tự hào kể lại. 

Điều để những sản phẩm làm từ vải khăn rằn có thể chinh phục được khách hàng và tìm chỗ đứng trên thị trường chính là sự sáng tạo của những nghệ nhân làng dệt đã biết khai thác dấu ấn rất riêng của sản phẩm truyền thống. Trong mỗi sản phẩm vẫn thấy dấu ấn quê hương Đồng Tháp vừa có sự biến tấu hiện đại, trẻ trung, năng động hơn. 

Bảo Lâm

Độc đáo nhà sàn Ba Na

đăng 03:08, 11 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Người Ba Na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời, có dân số đông thứ hai trong số các dân tộc thiểu số tại chỗ (sau người Xê Đăng) ở tỉnh, địa bàn cư trú tập trung ở quanh thành phố Kon Tum và một phần ở các huyện Đăk Hà, Kon Rẫy, Sa Thầy... Cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, người Ba Na ở Kon Tum có những phong tục tập quán, văn hóa phong phú và giàu bản sắc, trong đó nhà sàn là một di sản văn hóa độc đáo. 

Thoạt nhìn bề ngoài, nhà sàn của người Ba Na cũng giống như nhà sàn của những DTTS tại chỗ khác, nhưng tìm hiểu kỹ thì mới biết nhà sàn của người Ba Na lại có những nét độc đáo riêng. 

Để tìm hiểu kỹ hơn về nhà sàn của người Ba Na, chúng tôi tìm gặp anh A Nhưk - một thợ chuyên làm nhà sàn ở làng Kon Xăm Lũ (xã Đăk Tờ Re, huyện Kon Rẫy). 

Anh A Nhưk cho biết: Nhà sàn của người Ba Na có hình chữ nhật, chiều ngang dài khoảng 10m. Mỗi căn nhà đều có 12 cây cột chia mỗi bên 6 cây, sàn nhà thường được làm bằng tre, nứa, lồ ô; vách được trát bằng đất với rơm hay bằng phên tre nứa. Nhà nào “giàu” hơn thì vách và sàn được lót bằng gỗ dầu, vừa mát, vừa giữ được mặt phẳng và chắc. 

Anh A Nhưk, làng Kon Xăm Lũ giới thiệu về ngôi nhà sàn của người Ba Na. Ảnh: D.Đ.N 

Anh A Nhưk đưa chúng tôi đến ngôi nhà sàn lâu năm nhất ở giữa làng để giới thiệu về nét độc đáo của nó. Đây là ngôi nhà của cha anh để lại cho cô em gái anh trước khi qua đời. Ngôi nhà nằm ẩn khuất giữa vườn cây um tùm, tạo một không gian yên bình và mát mẻ. 

A Nhưk đưa tay chỉ vào các cây cột nhà nói: Thông thường người ta thường chọn cây gỗ cà chít để làm trụ cột, bởi loại cây này có vị đắng và cứng, chắc, ít bị mối ăn, cột được chôn sâu dưới đất khoảng 1m. Tuy nhiên, gỗ cà chít ngày càng hiếm và qua kinh nghiệm nhiều năm, ngày nay người dân thường không chôn cột mà tán đế bằng xi măng hoặc bằng đá rồi dựng cột. Làm theo kiểu này thì cột không bị lún và không bị mối ăn, dù cột được làm bằng loại gỗ khác. 

Quan sát ngôi nhà sàn theo sự giới thiệu của A Nhưk, chúng tôi nhận thấy phần mộc bên trong ngôi nhà có những nét sau: Các cột nhà được đẽo tròn hoặc vuông có đường kính phần gốc khoảng 30cm và xuôi về ngọn đường kính còn khoảng 20cm. Trên ngọn cột có đục một lỗ hình vuông để kết nối cột và trính thượng. 

Gian nhà chồ làm nơi hóng mát. Ảnh: D.Đ.N 

Vào giữa gian nhà sàn, điều gây chú ý nhất là khoảng không gian thoáng đãng, mát mẻ bởi sàn nhà và vách được đóng bằng những tấm gỗ dầu phẳng lì. Phía trên hai chái nhà là cây trính thượng và trính hạ được đẽo thành khối hình chữ nhật, cách nhau khoảng 2m, hai cây đà được gác lên hai hàng trên đầu cây cột. Ở chính giữa trính thượng có một trụ lỏng để chống đỡ đòn dông, các rui gác lên đòn dông để lợp mái. 

Qua tìm hiểu, một ngôi nhà sàn của người Ba Na bao giờ cũng có hai mái chính và hai mái phụ ở hai đầu gọi là chái. Thông thường nhà sàn có 6 gian (tùy theo số người ở mà tăng, giảm số gian, nếu đông người ở thì gọi là nhà dài), trong đó gian đầu cùng hoặc gian cuối có vách ngăn phòng dành cho cha mẹ. Mái lợp thông thường bằng cỏ tranh hoặc ngói. Cách đánh tranh để lợp mái cũng không mấy dễ dàng, chỉ có những người thợ điêu luyện mới làm được. 

Tranh lợp mái cần phải biết chọn loại tranh tốt, to và dài nhưng phải là loại tranh già mới giữ được độ chắc, bền. Việc cắt tranh đem về cũng cần tuân thủ theo nguyên tắc của nó. Khi cắt tranh, cần sự khéo léo để cắt cho bằng gốc và chải sạch các loại cỏ rác, sau đó bó lại thành từng bó nhỏ, nhiều bó nhỏ bó lại thành bó to để tranh không bị rối, rồi mới đưa về. 

Cầu thang bước lên nhà chồ để vào nhà chính. Ảnh: ĐN 

Khi đánh tranh làm mái lợp, phải đánh từng tấm dài khoảng 1m, dùng thanh hai cây le chẻ đôi kẹp lại rồi dùng lạt mềm, dẻo buộc chặt. Thông thường, người Ba Na thường dùng dây mây hoặc các loại dây rừng khác có độ dẻo để làm dây buộc mái, rui, mè… 

Nhà sàn người Ba Na có cửa chính ngay ở gian giữa và ngay phía trước cửa chính được cất thêm một gian nữa ló ra ngoài gọi là nhà chồ. Vì vậy, nhìn ngôi nhà sàn của người Ba Na giống như một chữ T. 

Sàn nhà chồ được làm bằng ván gỗ dày và to. Đây là nơi dành cho phụ nữ giã gạo vào những buổi sáng sớm hoặc chiều tối khi đi làm nương rẫy về. Nhà chồ cũng là nơi gia đình ra ngồi chơi hóng mát trong những đêm hè nóng nực. Sở dĩ nhà chồ được thoáng đãng là bởi không có vách như nhà chính, mặt trước thường hướng về phía nam nên mát mẻ. Để bước lên nhà chính, người ta bắc một chiếc cầu thang sát vách nhà chính, sau đó phải lên nhà chồ trước rồi mới tới cửa nhà chính. 

Gian nhà giữa làm nơi tiếp khách. Ảnh: D.Đ.N 

Bước vào cửa là gian nhà giữa. Gian nhà này thường dùng để tiếp khách. Đối với khách quý, chủ nhà thường trải chiếu mời và mang bầu nước đầy, mát lạnh mời khách uống hay ché rượu cần mỗi khi có những buổi giao lưu, tiếp đãi long trọng. 

Hiện tại, nhà sàn của người Ba Na ở xã Đăk Tờ Re còn lại rất ít. Nhiều ngôi nhà sàn xuống cấp, hư hỏng nhưng người Ba Na không thể tu sửa, cất mới lại vì gỗ làm nhà sàn ngày càng trở nên hiếm hoi. 

Trước đây, nhiều ngôi nhà sàn của người Ba Na xưa được làm bằng gỗ quý như trắc, hương… Nhưng theo thời gian khi các loại gỗ quý trở nên hiếm hoi, những thế hệ con cháu sau này đã bán cho tư thương săn lùng gỗ quý. Số tiền trên họ dùng xây cất một căn nhà bằng gạch, xi măng tân thời, hiện đại. 

Chia tay với những người Ba Na ở trong ngôi nhà sàn mà tôi vừa đặt chân tới, trong lòng bỗng trỗi lên một cảm giác xốn xang: Liệu rằng trong tương lai xa, nhà sàn của người Tây Nguyên nói chung, người Ba Na nói riêng có còn tồn tại giữa dòng chảy đô thị hóa? 

Dương Đức Nhuận

Nhà sàn truyền thống ở làng Kleng

đăng 03:00, 11 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trải qua bao thăng trầm của cuộc sống cùng sự phát triển của xã hội, nhiều hộ dân người Gia Rai ở làng Kleng (thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy) vẫn gìn giữ được bản sắc riêng, sống và sinh hoạt trong những ngôi nhà sàn truyền thống của dân tộc mình. Xen kẽ với những ngôi nhà được xây dựng kiên cố bằng gạch và xi măng là những ngôi nhà sàn được làm bằng gỗ theo lối kiến trúc truyền thống của người Gia Rai góp phần tô đẹp thêm cho ngôi làng. 

Ngồi bên bếp lửa ở góc nhà sàn, bà Y Chép (56 tuổi) vừa địu đứa cháu ngoại đang ngủ trên lưng vừa chuẩn bị bữa cơm chiều cho gia đình. Bà cặm cụi lấy tay vun củi cho ngọn lửa cháy đều. Bên hơi ấm từ bếp lửa, đứa cháu ngoại của bà cũng ngủ ngoan hơn. 

Ngôi nhà sàn này đã gắn bó với bà Y Chép cùng các thành viên trong gia đình hơn 26 năm nay. Ngôi nhà nằm giữa khu vườn rộng với nhiều cây xanh xung quanh, được thiết kế theo kiểu nhà sàn truyền thống của người Gia Rai gồm 3 phần: nhà chồ (phần hiên phía trước) dài 4m, rộng 3m; nhà ngang (7 gian) dài 14m, rộng hơn 4m và nhà nhỏ phía sau dài 4m, rộng 4m. 

Ngôi nhà có phần sàn cao hơn mặt đất khoảng 1,5m. Phần khung chính của ngôi nhà được làm từ gỗ cà chít; phần khung cửa được làm bằng gỗ bò ma và những tấm ván sàn được làm từ gỗ pờ lũ. Đây đều là những loại gỗ quý, có ưu điểm nhẹ và chống mối mọt rất tốt, thường được người Gia Rai sử dụng để dựng nhà ở, làm kho lúa và nhà rông cho làng. 

Ngôi nhà sàn của gia đình bà Y Chép được xây dựng hơn 26 năm trước. Ảnh: Đ.T 

Cũng giống như những ngôi nhà sàn của các hộ dân khác trong làng Kleng, ngôi nhà sàn của gia đình bà Y Chép có phần tường bằng đất và mái lợp bằng ngói. Theo bà Y Chép, đây là điểm kiến trúc mà người dân trong làng học hỏi từ dân tộc Ba Na anh em cách đây hàng chục năm. Bởi, theo thiết kế nguyên bản nhà ở của người Gia Rai nơi đây, phần tường hay còn gọi là phên vách được đan bằng tre hoặc nứa và phần mái được lợp bằng cỏ tranh hoặc những thân cây lồ ô lớn được đập dập, xếp chồng nhiều lớp lên nhau. 

Ngoài cửa chính nằm ở giữa, ngôi nhà sàn của gia đình bà Y Chép còn có 2 cửa phụ nằm ở 2 bên cửa chính, tuy nhiên phần cầu thang dẫn lên 2 cửa phụ này đã bị xuống cấp và được gia đình bà dỡ bỏ. 

Bà Y Chép chia sẻ, người Gia Rai có truyền thống sống chung nhiều thế hệ trong 1 ngôi nhà, do vậy các cửa phụ được mở ra nhằm tạo thuận lợi cho việc di chuyển từ buồng ngủ ra ngoài sân và ngược lại. 

Ngoài 2 cửa phụ này, ngôi nhà sàn của gia đình bà Y Chép còn có 1 cửa phụ khác ở phần nhà nhỏ phía sau. Bà Y Chép tâm sự, dù nằm ở phía sau của ngôi nhà sàn nhưng phần nhà nhỏ này lại có ý nghĩa rất đặc biệt. 

Dù nằm ở phía sau của ngôi nhà sàn nhưng phần nhà nhỏ lại có ý nghĩa rất đặc biệt đối với người Gia Rai. Ảnh: Đ.T 

“Vì quá trình dựng 1 ngôi nhà sàn mất rất nhiều thời gian từ việc tìm vật liệu gỗ, đục và đẽo gỗ, ráp thành khung, trét đất làm tường, dựng nhà chồ…nên người Gia Rai dựng trước 1 ngôi nhà nhỏ để ở và sinh hoạt tạm thời trong quá trình làm ngôi nhà chính. Ngôi nhà nhỏ này giống như một sự khởi đầu, mang nhiều hy vọng cho một tương lai tốt đẹp. Khi ngôi nhà chính được dựng xong, ngôi nhà nhỏ này được sử dụng làm gian bếp, làm buồng ngủ hoặc làm nơi cất giữ những đồ vật giá trị của gia đình như: ghè, cồng chiêng, lương thực”- bà Y Chép nói. 

Sinh sống trong ngôi nhà sàn truyền thống, bà Y Chép vẫn giữ thói quen sử dụng chày và cối để giã gạo, giã các loại rau, củ để chế biến thức ăn, nấu cơm cho gia đình mỗi ngày. Ngoài ra, bà còn giữ cả khung cửi để dệt thổ cẩm mỗi khi rảnh rỗi. 

Cách không xa ngôi nhà của gia đình bà Y Chép là nhà sàn của gia đình anh A Glách. Ngôi nhà này được làm từ năm 1998, cũng được thiết kế theo kiến trúc truyền thống của người Gia Rai. Ngôi nhà có 5 gian (dài 12m, rộng hơn 4m) và phần khung của ngôi nhà được làm bằng gỗ hương và gỗ pờ lũ. 

Bà Y Chép vừa địu cháu trên lưng vừa nấu cơm trong gian bếp ngôi nhà sàn của gia đình. Ảnh: Đ.T 

Ngồi trên chiếc ghế dài trước hiên nhà, anh A Glách kể về thời gian dựng ngôi nhà sàn của gia đình. Để có đủ vật liệu dựng nhà, anh và người thân phải vào rừng sâu kiếm cây gỗ mang về, sau đó tự tay dùng rìu đẽo từng cây và dựng khung nhà trong suốt 3 tháng liền. Nhờ có truyền thống giúp đỡ lẫn nhau của người dân trong làng nên ngôi nhà của anh chỉ mất khoảng 1 tuần đã hoàn thành việc lợp mái ngói và trét đất làm tường. Hiện nay, anh A Glách đang sinh sống cùng vợ và 2 người con trong ngôi nhà sàn của mình. Ngôi nhà sàn được tô thêm vẻ đẹp với hàng rào cây chuỗi ngọc và những giò hoa mười giờ treo dưới phần mái nhà phía trước. 

Bên cạnh gìn giữ nhà sàn truyền thống của dân tộc mình, anh A Glách còn tích cực trong việc truyền dạy cồng chiêng cho thế hệ thanh thiếu niên trong làng. Vừa qua, anh A Glách mới hoàn thành lớp dạy đánh những bài chiêng cho 8 thanh niên trong làng. Theo anh A Glách, ngoài anh ra còn có nhiều người lớn tuổi trong làng cũng tích cực truyền dạy cồng chiêng cho thế hệ trẻ, nên hiện nay, làng Kleng có 3 đội cồng chiêng với hơn 45 thành viên. 

Ngoài 2 ngôi nhà sàn của anh A Glách và bà Y Chép, làng Kleng hiện nay còn có 10 ngôi nhà sàn truyền thống được dựng bằng gỗ khác. Dù đã bị ảnh hưởng bởi yếu tố tự nhiên nhưng những ngôi nhà sàn ấy vẫn đứng vững, góp phần gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa, thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng cho người Gia Rai nơi đây. 

Đức Thành

Chiếc khiên của người M'nông

đăng 01:37, 11 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Từ xa xưa, đồng bào Tây Nguyên nói chung và người M'nông nói riêng đã biết chế tạo nhiều công cụ, vật dụng để săn bắt thú rừng và chống kẻ thù như nỏ, xà gạc, cung tên, khiên… Trong đó, chiếc khiên vừa là dụng cụ che chắn cho người sử dụng vừa là binh khí quan trọng khi chiến đấu. 

Khiên của người M’nông có hình dáng chiếc nón, màu nâu đen, có đường kính chừng 70 cm và được chia thành hai phần: thân khiên, tay cầm và hoa văn trang trí. Thân khiên có hình chóp nón, được người thợ đục đẽo từ một cây gỗ nguyên thân có độ đày trung bình 2 cm. Tay cầm có hình dấu ngoặc kép được gắn vào chính giữa lòng chiếc khiên có tác dụng giúp cho người cầm khi chiến đấu hoặc sử dụng. 

Chiếc khiên của người M'nông 

Khiên được người M’nông sử dụng khi đi săn bắn, tránh đánh nhau với thú dữ; trong chiến đấu thì khiên dùng để che chắn đỡ mũi tên, ná… 

Để làm ra được một chiến khiên mất rất nhiều công đoạn và phải tuân thủ các luật tục, nghi thức thần linh một cách nghiêm ngặt. Người M’nông thường chọn những cây thân gỗ có kích thước lớn và cây được chọn làm khiên chỉ được ước lượng đường kính, kích thước, chiều cao, tuyệt đối không được dùng thước để đo tránh làm náo động đến thần cây. Khiên được làm từ gỗ nguyên thân và sử dụng các dụng cụ như dao, rìu, đục…để làm tại nơi lấy cây. 

Sau đó, người thợ dùng rìu, dao để tu chỉnh và đục cho đến khi thông nhau. Khi khiên được hoàn thiện, người thợ không đưa về nhà ngay mà để lại trong rừng cho đến khô (khoảng 10-15 ngày). Để lấy khiên về nhà, nhất định phải làm lễ cúng rước khiên, lễ vật tùy thuộc vào kinh tế của từng gia đình, thường thì 1 con heo hoặc 1 con gà. 

Người chịu trách nhiệm cúng khiên phải là người lớn tuổi nhất trong gia đình và lấy máu con vật hiến sinh (chủ yếu là gà) bôi lên chiếc khiên để cầu mong thần linh che chở và ban những điều may mắn khi sử dụng khiên. 

Ngày nay, việc chế tác cũng như sử dụng khiên hầu như không còn. Nhưng một số gia đình đã mang khiên tặng Bảo tàng tỉnh để lưu giữ và phục vụ trưng bày lâu dài. 

Bài, ảnh: Mỹ Hằng

Hơn 40 năm giữ nghề đan kiềng ở Hà Tĩnh

đăng 00:30, 7 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Hơn 40 năm giữ nghề đan kiềng, vợ chồng ông Trần Xuân Liên và bà Nguyễn Thị Quy ở thôn Ái Quốc, xã Cẩm Duệ (Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) là hộ duy nhất trong xã còn quyết tâm giữ nghề truyền thống này...

Ông Trần Xuân Liên (SN 1955), thường được mọi người trong thôn Ái Quốc gọi là “ông kiềng giang”, bởi đã có hơn 40 năm gắn bó với nghề đan kiềng. Thôn Ái Quốc trước đây có tên là làng kiềng Triều Thượng, nghề đã có từ hàng trăm năm nay và đã nuôi lớn bao thế hệ. Trải qua bao thăng trầm, phần vì sự xuất hiện của những sản phẩm công nghiệp giá cạnh tranh, phần vì tính chất đặc thù đòi hỏi sự tỉ mẩn cao nên nghề đan kiềng bị mai một...

Hiện tại, vợ chồng ông Liên là hộ duy nhất ở xã Cẩm Duệ còn giữ nghề đan kiềng. Để hoàn thiện được một chiếc kiềng phải trải qua nhiều công đoạn như: vót giang, gầy giang, vào giang, đan giang, nấn giang... Trong đó, công đoạn khó nhất là vào giang, bởi chiếc kiềng làm ra có đúng tỷ lệ với khuôn nồi hay không đều phụ thuộc vào bước này. Với kinh nghiệm lâu năm, ông Liên thường mất khoảng 15 phút để “đúc” ra một chiếc kiềng vừa thẩm mỹ vừa có độ bền cao.

Để làm ra được những chiếc kiềng có độ bền cao, khâu chọn vật liệu cũng rất quan trọng, ông Liên thường chọn những cây giang ở trong rừng, loại giang để làm kiềng là loại cây vừa và nhỏ nên khi chặt về làm kiềng sẽ không tác động lớn đến phát triển rừng mà còn có tác dụng phát quang cho rừng. Giang sau khi được chặt từ trong rừng về sẽ được vót nhỏ, sau đó đem phơi 1 - 2 nắng. Đặc tính của giang rất sắc, nên trong quá trình làm bị giang cứa đứt tay là điều không tránh khỏi, bởi vậy, phải cắt những ống nước để làm “áo giáp” bảo vệ.

Vợ ông Liên, bà Nguyễn Thị Quy (SN 1957) là người thợ rành nghề, khéo tay. Học nghề đan kiềng từ bà ngoại năm 16 tuổi, đến nay đã ngoài lục tuần, bà Quy giờ đây “nhắm mắt cũng vào giang đều, đẹp, không sai một giang nào”. Cũng nhờ kinh nghiệm được tích lũy hàng chục năm, sản phẩm kiềng của vợ chồng ông Liên được người dân trong và ngoài huyện tìm mua.

Dẫu đôi tay của bà ấy đã già đi theo năm tháng, nhưng kỹ thuật đan của bà vẫn như thuở còn xuân sắc. Bà vẫn nhanh nhẹn ở mỗi công đoạn, đều tay bên những chiếc kiềng.

Công đoạn đan kiềng đòi hỏi người làm phải tập trung, vừa đan, vừa uốn để sản phẩm khi hoàn thiện không được sai mắt nào.

Sau khi chuẩn bị xong phần vật liệu, ông Liên chuyển sang đan cùng vợ. Thời gian trôi qua, nghề đan kiềng cũng lận đận, lời lãi ít dần, hầu hết những người từng gắn bó “máu thịt” với nghề đã từ bỏ. Riêng vợ chồng ông Liên, từ bé đã được gia đình truyền cho lòng kiêu hãnh của một người con làng nghề, đã tự hứa sẽ gắn bó và gìn giữ công việc này, như cách ông nội và mẹ đã truyền nghề cho tôi.

Mỗi ngày vợ chồng Liên làm được khoảng 50 - 60 chiếc kiềng, công việc mang lại thu nhập quanh năm cho gia đình. Với giá bán dao động từ 6.000 - 12.000 đồng/cái, tùy vào kích cỡ, mỗi ngày vợ chồng ông cũng kiếm được gần 300.000 đồng.

Kỳ công trong từng công đoạn, tỉ mẩn trong từng chi tiết là những gì mà vợ chồng ông Liên thường nói về cái nghề đã gắn bó với mình suốt gần 45 năm nay.

Để chiếc kiếng được tròn đều, không bị méo, vợ ông Liên thường dùng chân hoặc cán dao để nấn xung quanh vành kiềng.

Đôi mắt chăm chú, đôi tay thoăn thoắt, chỉ trong chốc lát, vợ ông có thể làm được một chiếc kiềng chắc chắn, mắt kiềng đều như được đúc ra từ một khuôn. Mỗi ngày bà có thể làm được khoảng 30 - 40 chiếc kiềng.

Nghề đan kiềng được vợ chồng ông Liên duy trì quanh năm, nhưng cao điểm nhất là dịp tết, mỗi ngày vợ chồng ông phải đan trên 100 cái. Trong khoảng thời gian đó, chúng tôi phải dậy từ sớm và thức đến khuya để kịp các đơn hàng. Tuy nhiên, những tháng còn lại, nhu cầu ít hơn, trung bình mỗi ngày chỉ đan khoảng 40 cái.

Tuy nghề đan kiềng không mang lại thu nhập cao, nhưng có ưu điểm là tận dụng được thời gian rảnh rỗi. Vợ chồng ông Liên có 7 đứa con, nhưng cả 7 đứa không đứa nào giữ nghề của bố mẹ. Vợ chồng ông Liên vẫn thường hay bảo nhau: Thôi thì cố gắng đến khi nào mắt còn tỏ, tay còn chưa run để giữ lấy nghề, để không phụ nghề đã nuôi sống cả gia đình mình suốt gần cả cuộc đời.

Nghề đan kiềng tuy vất vả nhưng đã giúp cho nhiều gia đình thoát nghèo, có kinh tế ổn định, nuôi dạy con cái trưởng thành. Từ nghề đan kiềng, vợ chồng ông đã nuôi dạy được 5 đứa con học đại học. Đó là niềm tự hào, động lực để vợ chồng càng thêm yêu nghề.

Kiềng sau khi đan xong sẽ được vợ chồng ông Liên đem đến chợ đầu mối Hà Tĩnh để nhập cho tiểu thương hàng nồi đất, hàng tre, nứa, mây, giang...

Những chiếc nồi đất được “khoác” trên mình những kiềng giang chắc chắn, dày công của những người thợ rành nghề.

Trải qua hàng trăm năm, nghề đan kiềng vẫn còn được lưu giữ, những chiếc kiềng theo chân các mẹ, các chị đi đến mọi miền quê. Để khi vô tình bắt gặp, chúng ta lại nao nao nhớ về thuở gian khó, nơi chôn nhau, cắt rốn của mình...

Về An Giang đi chợ nổi

đăng 00:38, 23 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Chợ nổi là nét văn hóa lâu đời của miền Tây sông nước. Chợ nổi mang vẻ đẹp chân chất, mộc mạc của con người Nam Bộ. Về An Giang, bạn có thể đi tham quan chợ nổi để cảm nhận và trải nghiệm một phần nét đẹp của vùng đất đầu nguồn châu thổ. 

An Giang là vùng đất của sông núi hữu tình và trong bức tranh tổng thể đó, chợ nổi tồn tại như lẽ đương nhiên. Dù không tấp nập như chợ nổi Cái Răng (TP. Cần Thơ), nhưng chợ nổi Long Xuyên và chợ nổi Châu Đốc vẫn có sức hút riêng, với vẻ đẹp hiền hòa, bình dị và pha chút hữu tình. 

Chẳng ai biết chính xác chợ nổi Long Xuyên ra đời khi nào nhưng hình ảnh những chiếc ghe từ “miệt trên”, “miệt dưới” tề tựu về khúc sông thoáng đãng cạnh thành phố trẻ để mua bán đã trở nên quen thuộc với người dân vùng đất này. Có một thời, chợ nổi không thể thiếu trong cuộc sống người dân khi đường bộ còn bất tiện. Ngày nay, chợ nổi vẫn tồn tại bên cạnh sự ồn ào, náo nhiệt của một Long Xuyên đang vươn mình phát triển. 

“Bẹo hàng” là văn hóa đặc trưng của chợ nổi 

Nét đặc thù của chợ nổi Long Xuyên chính là tính nguyên bản của nó. Nhiều người đến với chợ nổi Long Xuyên đều thừa nhận nơi này phảng phất chút gì đó “xưa cũ” nằm ở những nụ cười, cách giao tiếp “nói sao bán vậy” của thương hồ. Đến chợ nổi vào buổi sớm mai, bạn có thể thưởng thức những tô bún riêu cua, bún cá ngon lành rồi nhấp một ngụm cà phê để tận hưởng khung cảnh lộng gió của dòng sông Hậu hiền hòa vừa chớm nắng. 

Khoảng 6 giờ sáng, bạn hàng từ trong bờ tất bật “ra ghe” mua nông sản để kịp mang về bán chợ. Cảnh tượng mưu sinh của thương lái, bạn hàng và người bán thức ăn, nước uống ở chợ nổi hiện ra một cách dung dị và bình yên đến lạ. Để từ đó, du khách sẽ cảm nhận được đang có một “dòng đời” hối hả chảy trên một dòng sông! Đến chợ nổi Long Xuyên, bạn có thể cầm trên tay trái dừa Bến Tre, củ khoai ngọt Long An, trái bí Vĩnh Long hay trái khóm Tắc Cậu của xứ Kiên Giang. Bởi, thương hồ chợ nổi Long Xuyên là dân tứ xứ nên nông sản ở đây “gắn mác” nhiều vùng. 

Thương hồ mua bán ở chợ nổi Long Xuyên 

Dạo một vòng quanh chợ nổi, du khách có thể thỏa thích chụp ảnh với khung cảnh những chiếc ghe “bẹo hàng” nằm san sát nhau, hay cảm nhận tình người qua nụ cười chất phác của dân thương hồ. Gần gũi hơn, du khách còn có thể lắng nghe câu chuyện mưu sinh của những con người gắn đời mình với sông nước miền Tây. 

Giới trẻ đến tham quan chợ nổi Long Xuyên cũng là để tìm cho mình chút bình yên giữa cuộc sống xô bồ, trở về với văn hóa sông nước đã tồn tại từ rất lâu ở đất Chín Rồng. Ngoài ra, bạn còn có những tấm ảnh “trong veo” về sông nước, về cuộc mưu sinh của những con người tuy vất vả nhưng cởi mở, lạc quan. 

Cùng với chợ nổi Long Xuyên, chợ nổi Châu Đốc tồn tại với vài chục chiếc ghe ở khắp nơi về đậu cạnh nhau để mua bán. Khác với chợ nổi Long Xuyên vốn bày bán nhiều mặt hàng rau củ, thương hồ tại chợ nổi Châu Đốc chủ yếu bán trái cây như: chuối, dưa hấu, khóm, dừa… Bởi, cả đời trôi nổi trên sông, nên cách sống của thương hồ cũng phảng phất chút gì đó rất riêng. Đó là những bữa cơm bồng bềnh trên sóng nước, những buổi chiều ngồi “quần ẩm” cùng anh em tứ xứ mà thân như hàng xóm hay sự chân thật trong cư xử của họ cũng tạo ấn tượng đặc biệt đối với du khách. 


Gắn với chợ nổi, người ta còn thấy hình ảnh những người đưa đò hoạt bát. Họ đưa bạn hàng ra ghe mua nông sản với tiền công vài chục ngàn đồng mỗi chuyến. Đôi lúc, họ hiểu chợ nổi còn rõ hơn cả thương hồ. Giờ nào chợ đông, giờ nào chợ vãn, ghe nào bán hàng gì, bán mắc hay bán rẻ đều “nằm trong bụng” của dân đưa đò. Bạn hàng từ trong bờ ra chỉ cần nói muốn mua nông sản nào thì họ chở tới ghe, tiếp chất hàng xuống đò rồi đưa trở vô bờ. Khi bạn nói muốn tham quan chợ nổi, họ sẽ là “hướng dẫn viên du lịch” và có thể nói vanh vách về nhịp sống của khu chợ đậm chất miền Tây này. 

Bởi chợ nổi mang hơi thở của văn hóa sông nước miền Tây nên vẫn có tiềm năng du lịch. Tuy nhiên, cần có sự vào cuộc của ngành chuyên môn và các công ty kinh doanh du lịch với các tour, tuyến tham quan kết hợp ẩm thực hoặc thưởng thức âm nhạc tài tử để tăng tính độc đáo, tạo điểm nhấn cho chợ nổi. 

Với vẻ đẹp bình yên, mộc mạc, chợ nổi Long Xuyên, chợ nổi Châu Đốc vẫn có nét hấp dẫn riêng, thu hút du khách ghé thăm để tận hưởng cuộc sống và cách mưu sinh “rặt” chất miền Tây. Bởi thế, bạn hãy đến An Giang và thử một lần đi chợ nổi! 

THANH TIẾN

Mùa thu hoạch bòn bon 'ăn hoài mệt nghỉ' ở xứ Quảng

đăng 22:39, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Mỗi năm, bòn bon ra trái từ tháng 4 âm lịch. Đến tháng 8 âm lịch thì trái chín, bà con Cơ Tu bắt đầu thu hoạch trước khi mùa mưa đến. Cây bòn bon khó trồng, chịu mát nên chỉ nằm gần các khe suối và năng suất phụ thuộc nhiều vào thời tiết. 

Người dân Cơ Tu leo lên cây để hái bòn bon

Mùa thu tháng 9 ở huyện Đông Giang (một huyện miền núi tỉnh Quảng Nam) thấp thoáng những chiếc gùi đi khắp các cánh rừng già trên rẻo cao. Đó là mùa thu hoạch bòn bon của người Cơ Tu ở đây.

Ông Kỳ Xuân Bình (nhà ở xã Kà Dăng, huyện Đông Giang) cho biết từ ngày xưa, ông cha đi khai hoang rừng núi, giữ lấy những chỗ đất có cây bòn bon mọc tự nhiên rồi để lại cho các thế hệ sau. Con cháu giữ đất và tiếp tục trồng thêm cây bòn bon ở đó. Vậy nên ngày nay mỗi gia đình người Cơ Tu sở hữu nhiều vườn bòn bon nằm rải rác trên núi rừng. Nhà có ít thì tầm chục cây, nhiều thì bốn năm chục cây. Có chỗ phải lội bộ hơn hai ba cây số vào rừng để thu hoạch. 

“Cây già nhất cũng hơn 70 tuổi, cao hơn 10 mét, mùa sai quả có khi ra gần 100 ký trái bòn bon. Từ thời còn con gái, tôi đã hái ăn trái của cây đó”, cô A Lăng Thị Giấy (60 tuổi) kể.

“Bòn bon thích nhiệt độ mát mẻ nhưng nếu mưa hay nắng nhiều quá cũng sẽ làm nứt trái, không bán được. Những năm trúng mùa thì thu hoạch được mấy trăm ký, có gia đình bán được hơn 20 triệu đồng, những năm thất mùa thì vài chục ký, cũng có năm không có ký nào”, chú Kỳ Xuân Bình chia sẻ.

Khắp rừng núi Đông Giang có những cây bòn bon đã cao to, lớn tuổi hơn cả một đời người qua nhiều thế hệ. Những mùa bòn bon cũng đã nằm trong một phần ký ức tuổi thơ của người Cơ Tu dù ở nơi đâu.

“Ngày còn bé tôi đã theo ba mẹ đi hái bòn bon. Mỗi khi mùa thu hoạch bòn bon tới là lòng háo hức lắm. Những năm trúng mùa, bữa cơm gia đình lại được thêm phần thịnh soạn”, anh Kỳ Xuân Núi (31 tuổi), hiện đang sống và làm việc ở Đà Nẵng, nói. 

Mùa thu hoạch bòn bon đã từng vào âm nhạc qua khúc "Quảng Nam - Đà Nẵng đất nặng nghĩa tình" của Nguyễn Văn Tý: "Anh đưa em đi ăn trái bòn bon, ăn hoài mệt nghỉ..."

Khách đến nhà người Cơ Tu mùa này được đãi bằng món quà quê tươi ngon mới hái từ trên rừng

Ngay sau khi thu hoạch xong, bòn bon được gùi ra ngoài đường lộ ven rừng để bán liền cho thương lái

Một số cây bòn bon có tuổi lớn hơn cả đời người và cao hơn 10 mét

Cây sai quả nhất có thể ra gần 100 kg trái bòn bon

Ông Kỳ Xuân Bình năm nay đã 61 tuổi vẫn còn leo trèo hái bòn bon mỗi mùa thu hoạch đến

Những năm trúng mùa, bòn bon góp phần không nhỏ vào kinh tế của nhiều gia đình người Cơ Tu

Cô A Lăng Thị Giấy cho biết bòn bon khi trúng mùa thì dễ bán và giá cao hơn nhiều loại nông sản khác

Từ lúc có đường xá thuận tiện cho giao thông trên vùng rừng núi Đông Giang, giá bòn bon ngày càng tăng do dễ vận chuyển. Giá bán cho thương lái năm nay dao động khoảng 22 ngàn đồng/1 ký

Bài và ảnh: TRẦN DUY MINH 

Làng trải lừng danh xứ Huế

đăng 03:39, 19 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:02, 20 thg 9, 2020 ]

Nằm biệt lập với thành phố, cách một con sông Phổ Lợi Hà, một bên là vùng thấp trũng Rú Chá tiếp giáp biển Đông, làng cổ Dương Nổ vẫn còn là một ẩn số với nhiều người Huế và du khách. 

Làng lúa làng “trải” 

Làng Dương Nổ (thuộc xã Phú Dương, Phú Vang, Thừa Thiên-Huế) nằm về hướng Đông, cách trung tâm thành phố 6 km. Dương Nổ là một làng cổ hơn 500 năm tuổi, gốc tích do di dân từ Thanh Hóa vào. Làng gồm có 7 họ: Nguyễn, Trần, Đoàn, Lê, Võ, Huỳnh, Dương; trong đó vị khai canh, khai khẩn là võ tướng Nguyễn Đức Xuyên, được vua Gia Long phong làm Khoái Châu Quận Công, trong vùng thường gọi là Khoái Công; tên ông được đặt cho một con đường lớn ở trung tâm huyện lỵ Phú Vang. 

Đua trải đường trường đòi hỏi các vận động viên phải có sức khỏe dẻo dai . 

Khách muốn đến thăm làng trải, đi theo đường Nguyễn Sinh Cung TP. Huế, mất 15 phút chạy xe máy là đến chiếc cầu bắc ngang sông Phổ Lợi Hà (cầu Chợ Nọ), trước mắt bạn sẽ hiện ra đình làng, nhà thờ trải. Mục sở thị mới biết hiếm có làng nào yêu quý những chiếc trải đua như Dương Nỗ. Trong khuôn viên đình làng và nhà thờ 7 họ, dân làng xây một ngôi nhà cực lớn (năm 1808) để thờ các chiếc trải đua. 

Dân làng Dương Nổ trai gái đều yêu thích môn đua trải. Mỗi khi trải làng tham dự cuộc đua ở đâu, mọi người đều nghỉ việc, thuê xe đi theo cổ vũ. Từ khi thành lập làng đến nay, dân làng luôn duy tu, bảo dưỡng hai chiếc trải đua, đặt trong ngôi nhà thờ trải. Đây là nơi tôn nghiêm, cấm trẻ em và phụ nữ lai vãng. Người già kể: có đứa trẻ tò mò tọc mạch, vào thấy chiếc trải có hai con mắt nên lấy tay sờ. Về nhà, tự nhiên mắt nó không thấy được nữa. Cha mẹ hỏi chuyện, vội vàng đến nhà thờ trải dâng lễ tạ, nó mới khỏi. Đối với phụ nữ, cũng không được đến đó, thần trách phạt, trải đua sẽ thua xiểng liểng. 

Sau hội đua, chiếc trải tháo rời từng mãng, đưa vào trong nhà thờ. Đến hội đua mới, các bộ phận trải lại được đưa ra gian bên phải đình làng, mời thợ đóng ghép lại thành trải đua. Muốn sắm một chiếc trải đua phải tốn hàng trăm triệu đồng, gồm tiền gỗ kiền, tiền mây rừng, vỏ tràm, tiền công thợ/ tháng. Mê “đua trải” tốn kém, do đó nhiều làng không có tiền để sắm và bảo dưỡng chiếc trải. Có hội đua, làng đó phải đi thuê trải của làng khác. 

Tinh hoa nghề trải đua 

Nghề đóng mới hay lắp ghép trải đua xưa nay “cha truyền con nối”, không truyền dạy bí quyết cho người ngoài. Huyền thoại trong nghề làm trải ở Huế thuộc về cụ Lê Sắc, người làng Quy Lai (xã Phú Thanh, Phú Vang). Dân gian kể chuyện cụ Sắc tài hoa như: mỗi khi đến hội đua trải, các làng tranh nhau bày biện một mâm cau, trầu, rượu mời cụ đến đóng ghép (nẹt) trải, tiền công cực kỳ hậu hĩnh. 

Hai chiếc trải của làng Dương Nổ đang được “nẹt” (lắp ghép) để dự hội đua ngày 2/9. 

Chiếc trải đua Huế có hai loại: trải “mực” dài gấp rưỡi trải “thường”, ngồi được 25 người, trải thường 15 người. Chiếc trải gồm năm tấm ván kiền kiền, dài 15 - 20 m. Kết nối các tấm ván bằng mây rừng già, mới đạt độ bền, căng. Giữa khe ván chèn vỏ cây tràm gặp nước sẽ nở ra bịt kín. Đến đoạn chỉnh trải (gọi là nẹt) quan trọng nhất, cụ Sắc tự tay gài bốn cái nêm gỗ vào đằng mũi và lái. Cụ cầm chiếc búa nhỏ, gõ khe khẻ, xong thì chiếc trải ấy hạ thủy, lướt như bay... 

Du khách thường nhầm đua trải với đua ghe. “Trải” tiếng Huế là chiếc thuyền đua hoàn toàn bằng gỗ, còn “ghe” là chiếc thuyền đan bằng tre. Do vật liệu, kích cỡ khác nhau nên chiếc trải chở nhiều vận động viên (15 - 20 người), chiếc ghe nhỏ (10 người). Tốc độ chiếc trải đua so sánh với ghe không khác gì xe mô tô với xe đạp, khi tăng tốc đạt đến 50 km/giờ. 

Trong môn đua trải, người Huế sử dụng nhiều phương ngữ khó hiểu. Bơi (chèo) trải thì gọi là “lạu”. Điều chỉnh chiếc trải đua gọi là “nẹt”. Dụng cụ để người bơi trải gọi là cái “chằm”. Xác định đường đua người ta cắm trên dòng sông 3 cây tre báo hiệu. Cây tre phía thượng lưu là “vè tiền”, cây chính giữa là “vè trung tâm” cây cuối cùng là “vè hậu”; mỗi cây “vè” cách nhau từ 1 km trở lên. Khi đua bắt buộc chiếc trải nào cũng phải vòng qua “vè” rồi mới đi thẳng đường trường, gọi là “lộn vè”. Hết một cuộc đua gọi là “3 vòng, 6 tráo”, ước tình dài 12 đến 15 km. 

Lộn vè trung tâm các trải đua đang phấn khởi về đích . 

Trong khi đua, các vận động viên vừa chèo vừa đồng thanh hò khoan “dồn là dồn là dồn/ lạu là lạu là lạu”; chưa ai cắt nghĩa được, nhưng câu hò này thúc dục các tay chèo cố gắng vượt lên đối phương. Cuộc đua chia thành ba hiệp: “tráo cúng”, “tráo tiền” và “tráo phá”; “tráo phá” quan trọng nhất, như hiệp đấu chung kết. Giữa mỗi hiệp có nghỉ ngơi, bồi dưỡng và trao giải. Vận động viên dùng xôi với thịt bò, thịt heo, gà; không bao giờ sử dụng thịt vịt vì sợ xui. Giải thưởng cao quý nhất không phải nhiều tiền lắm bạc, mà ở mâm cau trầu rượu, bên trên đặt một tấm lụa điều (đỏ), dài khoảng 2 - 3 m; các bô lão đem về làng, treo lên một cây tre cao chót vót; chọn nơi đền miếu thiêng liêng nhất, để dân làng chiêm ngưỡng và tự hào. 

Do quy mô tổ chức rất tốn kém, lễ hội đua trải thường tổ chức cấp tỉnh, vào các ngày lễ lớn (30/4, 19/5, 2/9). Đua ghe đơn giản, tổ chức theo phạm vi xã, huyện. Trước 1945, môn đua trải trên sông Hương cực thịnh dưới triều vua Minh Mạng. 

Đến nay, người dân Dương Nổ vẫn tôn trọng tín ngưỡng “Thần Trải”, cùng các lễ thức tịch điền, trong quá trình sản xuất nông nghiệp; để cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt. 

Vũ Hào

Gốm Chu Ðậu - Làng nghề truyền thống Việt

đăng 03:26, 19 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Nét đặc trưng của sản phẩm gốm Chu Ðậu (Trúc Thôn, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) thể hiện ở kiểu dáng, màu men và các hoa văn họa tiết tinh xảo mang bản sắc văn hóa dân tộc… 

Gốm Chu Ðậu thuộc dòng gốm cổ cao cấp của Việt Nam từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII. Nguyên liệu để làm gốm Chu Đậu là đất sét trắng được lấy từ vùng Trúc Thôn (thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Đất sét sau khi lấy về sẽ được hòa trong nước, sau đó lọc qua hệ thống máng dẫn và bể ngắn. Quá trình lắng lọc sẽ tạo ra hai hợp chất gồm lỏng và nhuyễn, thêm chất phụ gia rồi phối luyện thành hồ gốm. Gốm được lắng lọc càng lâu thì màu gốm càng bóng, đẹp và trong. Đất sau khi được luyện kỹ, đạt độ dẻo, mịn cần thiết sẽ được người thợ chuốt nặn trên bàn xoay. Sản phẩm gốm Chu Đậu từ xưa đến nay, từ khâu nặn, đúc đến trang trí hoa văn đều được làm thủ công với đôi bàn tay khéo léo, tài hoa của những nghệ nhân dày dạn kinh nghiệm. Điều này khiến cho gốm Chu Đậu không thể lẫn với các loại gốm khác. 

Hình ảnh cá chép được vẽ trên bình gốm là một chủ đề văn hóa dân gian quen thuộc trên gốm Chu Đậu . Ảnh: Trịnh Bộ 

Công ty Cổ phần gốm Chu Đậu đã thu hút hơn 500 lao động của làng nghề Gốm Chu Đậu tham gia làm việc . Ảnh: Trịnh Bộ 

Một trong những điểm nổi bật của gốm Chu Đậu là các đường nét hoa văn phản ánh đời sống, tín ngưỡng, triết lý và tâm hồn người Việt, trong đó chủ yếu là hình ảnh hoa sen, hoa cúc, chim Lạc Việt. Đặc biệt, hoa văn trên gốm Chu Đậu được trang trí theo phương pháp vẽ dưới men, tức là trang trí hoa văn trước rồi tráng men sau. Men gốm Chu Đậu được làm từ vỏ trấu, đa phần là men trắng trong, hoa lam, men lục, xanh nâu, tam thái. 

Không gian trưng bày gốm Chu Đậu như một Bảo tàng các sản phẩm gốm Chu Đậu với nhiều kiểu dáng, chủ đề . Ảnh: Trịnh Bộ 

Một góc xưởng sản xuất gốm sứ . Ảnh: Trịnh Bộ 

Hiện, gốm Chu Đậu chủ yếu được sản xuất theo phương pháp thủ công truyền thống với 3 dòng sản phẩm chính là hàng phục chế theo các mẫu gốm cổ, hàng gia dụng và hàng xuất khẩu. Trong đó nổi tiếng và được ưa chuộng nhất là bình gốm hoa lam (còn gọi là bình củ tỏi) và bình tỳ bà. Ngoài ra, những sản phẩm khác như: bình cúp Ngũ Hành, ấm rượu Rồng, hũ Hổ Phù… cũng là những sản phẩm làm nên thương hiệu gốm Chu Đậu. Sản phẩm của làng gốm Chu Đậu được xuất khẩu sang hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng thời được trưng bày tại 46 bảo tàng của 32 nước trong khu vực và trên thế giới. 

Các mẫu ấm chén gốm Chu Đậu không chỉ đẹp về tạo hình mà còn đẹp về kiểu dáng và màu men . Ảnh: Trịnh Bộ 

Các sản phẩm được người thợ kiểm tra kĩ trước khi cho vào lò. Ảnh: Trịnh Bộ 

Cùng với việc khôi phục nghề gốm cổ, những năm gần đây, các doanh nghiệp và người dân ở Chu Đậu đã bắt đầu chú trọng phát triển du lịch làng nghề với nhiều hoạt động phục vụ nhu cầu tham quan, mua sắm của du khách như: xây dựng các gian trưng bày rộng hàng nghìn m2 để giới thiệu các sản phẩm phục chế các mẫu gốm cổ hay không gian vườn gốm thư pháp, nhà thờ Tổ gốm... Đến với Chu Đậu, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên thanh bình, yên ả của làng quê đồng bằng châu thổ sông Hồng mà còn có dịp tìm hiểu nghệ thuật làm gốm cổ xưa, trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất, tạo dáng, vẽ, viết chữ, ký tên lên sản phẩm để làm kỷ niệm. 

Gia Bảo

1-10 of 24