Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Vũ điệu nhảy sạp của người Lô Lô Trong những hình thái dân ca, dân vũ của đồng bào các dân tộc Tây Bắc không thể không nhắc tới múa sạp – những vũ điệu say đắm lòng người ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Làng nghề đúc gang Mỹ Đồng Mỹ Đồng là làng nghề đúc gang nổi tiếng của huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng. Ai đến đây cũng sẽ dễ dàng bắt gặp tiếng búa nện chan chát ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Phiên chợ đá quý Chợ đá quý Hà Nội họp phiên vào chủ Nhật hàng tuần tại số 456 Hoàng Hoa Thám. Đây là phiên chợ độc đáo do Hội đá quý Hà Nội ...
    Được đăng 17:44, 18 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bản Thái cổ bên dòng Nậm Xan Bản Tùng Hương, xã Tam Quang, huyện Tương Dương có 169 hộ dân, 782 nhân khẩu trong đó có gần 100% là cư dân đồng bào Thái với những phong ...
    Được đăng 16:21, 18 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Duyên dáng nón lá Ngọc Mỹ Nghề làm nón lá truyền thống ở xã Ngọc Mỹ (huyện Quốc Oai, Hà Nội) không chỉ được người dân nơi đây bảo tồn và gìn giữ mà còn đem ...
    Được đăng 20:46, 15 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 22. Xem nội dung khác »


Vũ điệu nhảy sạp của người Lô Lô

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Trong những hình thái dân ca, dân vũ của đồng bào các dân tộc Tây Bắc không thể không nhắc tới múa sạp – những vũ điệu say đắm lòng người qua từng bước đi, sự khéo léo, nhịp nhàng của các chàng trai, cô gái nơi miền sơn cước. Cũng như đồng bào Thái, người Lô Lô cũng dịu dàng đằm thắm trong vũ điệu nhảy sạp

Cũng giống như các tộc người khác, đồng bào Lô Lô thường tổ chức múa sạp trong các lễ hội, các buổi giao lưu. Có thể nói múa sạp ẩn chứa sự cố kết cộng đồng là sợi dây vô hình gắn kết mọi người gần nhau hơn. Dù khởi nguồn từ dân tộc Thái hay dân tộc Mường thì múa sạp vẫn chứa đựng một sức sống tiềm tàng với độ lan tỏa rất lớn, múa sạp không chỉ thu hút đồng bào Tây Bắc mà hình thức dân gian này còn cuốn hút đông đảo đồng bào Kinh tham gia. Khởi nguyên, múa sạp để ăn mừng chiến thắng Điện Biên (tháng 5-1954) để gắn kết tình quân và dân đến nay múa sạp đã được nghệ thuật hóa. Múa sạp không chỉ xuất hiện tại nhiều sân khấu, cuộc biểu diễn, mà còn theo chân các đoàn nghệ thuật dân tộc Việt Nam vươn ra trường quốc tế.


Để tổ chức múa sạp, đồng bào Lô Lô chuẩn bị hai cây tre to, thẳng và dài làm sạp cái, cùng đó là nhiều cặp sạp con bằng tre nhỏ hay nứa. Hai chiếc sạp cái đặt cách nhau một khoảng rộng vừa đủ để gác hai đầu các cây sạp con, từng cặp sạp con đặt song song, cách đều nhau khoảng 40 -50 cm, tạo thành dàn sạp. Số lượng các cạp sạp con tùy theo số lượng người đập sạp (thường là 5 cặp). Sạp được đặt trên một khoảng đất trống rộng rãi, bằng phẳng bởi múa sạp thu hút khá nhiều người tham gia.

Người tham gia thường là nam nữ trong bản, đượcc chia làm hai tốp: một tốp đập sạp còn một tốp nhảy sạp (hai tốp này có thể luân phiên đập sạp và nhảy sạp). Để người nhảy sạp dễ dàng thể hiện những vũ điệu khỏe khoắn thì những người đập sạp phải đều tay, tùy theo những bước nhảy khó hay dễ mà đập nhanh hoặc chậm cho phù hợp. Những người đập sạp thường được kết hợp bởi một cặp đôi trai gái mỗi người cầm một đầu, hai tay cầm hai đầu sạp, cứ 3 nhịp gõ sạp con lên sạp cái thì 1 nhịp gõ 2 sạp con vào nhau. 


Người nhảy sạp vừa theo đúng tiết tấu của người đập sạp vừa thể hiện sự khéo léo, nhanh nhẹn và dẻo dai của mình. lần lượt từng cặp trai gái nhảy vào dàn sạp, mỗi người cầm một chiếc khăn màu dài, khi tung lên, khi uốn lượn quanh người. Động tác khi lướt nhẹ nhàng, uyển chuyển, lúc dồn dập quay, nhảy, bay trên sạp; đội hình uốn lượn quấn quýt, biến đổi ngang, dọc, chéo, tròn, tất cả đều diễn ra trên dàn sạp và phải đúng nhịp, làm sao khi hai sạp con chập vào nhau thì không bị kẹp chân vào. Cứ hễ hai tốp gõ sạp và nhảy múa thay nhau trong tiếng cồng, tiếng trống nhịp nhàng, sôi động. Cuộc vui kéo dài không biết chán, cuốn hút mọi người rất hào hứng, say sưa.

Nhảy sạp không những vui mà còn luyện cơ thể dẻo dai khỏe mạnh. Điệu múa sạp cơ bản rất đơn giàn, thường chỉ sử dụng chỉ có vài động tác. Nhưng khi về với các đoàn văn công, điệu múa sạp còn được nâng cao về kỹ thuật vũ đạo, nhạc nền, phục trang, đạo cụ, trang trí sân khấu đế phục vụ đồng bào cả nước và khách quốc tế. 

Tố Oanh

Làng nghề đúc gang Mỹ Đồng

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Mỹ Đồng là làng nghề đúc gang nổi tiếng của huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng. Ai đến đây cũng sẽ dễ dàng bắt gặp tiếng búa nện chan chát và ánh lửa đỏ hừng hực suốt ngày đêm của các lò nấu gang.

Nghề đúc gang đã xuất hiện ở Mỹ Đồng cách đây hơn nửa thế kỷ. Người đầu tiên làm nghề đúc gang ở Mỹ Đồng là ông Nguyễn Văn Cáu. Ông Cáu đã học được nghề nối lưỡi cày và làm khuôn đúc gang từ những thợ đúc đồng ở Thanh Hóa. Sau khi đã thạo nghề, ông đã đưa nghề đúc gang về quê hương.

Sản phẩm đầu máy bơm nước được đúc bởi người dân làng nghề Mỹ Đồng. 


Đúc phôi đồng con lăn ròng rọc tại cơ sở đúc đồng Hoàng Văn Bàn, xã Mỹ Đồng, huyện Thủy Nguyên . 


Lò đúc gang tại Doanh nghiệp tư nhân đúc gang Thành Phương. 


Năm 1938, một chiếc tàu cuốc của Pháp bị gãy bộ phận thăng bằng nặng 1 tấn, chủ tàu đi đặt hàng khắp nơi nhưng không làng nghề đúc nào nhận. Lúc đó, ông Cáu nhận và chỉ huy một đội thợ đúc thành công. Sau sự kiện này, làng Mỹ Đồng đã gây được tiếng vang và đi vào thời kỳ phát triển thịnh vượng. 

Điều khiển máy làm khuôn tại công ty cổ phần cơ khí đúc hợp kim Thịnh Hưng . 


Sản phẩm chảo gang đúc tại công ty đúc gang Hoàng Long. 


Ông Nguyễn Đăng Tâm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Mỹ Đồng cho biết: Năm 1992, xã kêu gọi những người đã thôi nghề nhưng có tay nghề giỏi truyền nghề lại cho bà con, nhờ đó nghề đã cơ bản phát triển trở lại. Hiện nay, xã đã quy hoạch khu vực làng nghề tập trung tại trung tâm xã Mỹ Đồng với diện tích hơn 5 ha, với 22 doanh nghiệp thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho hơn 100 lao động địa phương. Việc quy hoạch làng nghề tập trung đã hỗ trợ các doanh nghiệp về mặt bằng, nhà xưởng và hoạt động giao dịch trở nên thuận lợi hơn.

Phân tích thành phần gang tại Doanh nghiệp tư nhân cơ khí đúc gang Thành Phương . 


Làm khuôn chuẩn bị đổ sản phẩm đầu máy bơm nước . 


Đánh bóng sản phẩm lô cuốn tời tàu bằng đồng . 


Nghề đúc gang không chỉ có trong các hộ gia đình, được duy trì theo hình thức truyền nghề từ đời này sang đời khác, nhiều hộ gia đình đã phát triển thành công ty, doanh thu hàng chục tỷ đồng từ nghề đúc.

Đúc gang linh kiện máy bơm nước tại Công ty cổ phần cơ khí đúc hợp kim Thịnh Hưng, xã Mỹ Đồng.


Sản phẩm chảo gang nổi tiếng của làng nghề Mỹ Đồng.


Nghề đúc gang phát triển đã đem đến sức sống mới cho vùng quê Mỹ Đồng. Từ một địa phương nghèo, hiện nay Mỹ Đồng là điểm sáng về phát triển kinh tế làng nghề của huyện Thủy Nguyên. Về lâu dài, để mở rộng quy mô làng nghề, chính quyền xã Mỹ Đồng đã trình huyện Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng quy hoạch mở rộng làng nghề tập trung, động viên các hộ gia đình còn hoạt động nhỏ lẻ ở trong các thôn vào làng nghề tập trung với mục tiêu phát triển nghề truyền thống, đem lại thu nhập ổn định cho người dân, giữ vững thương hiệu nghề đúc gang nổi tiếng của Mỹ Đồng. 

Lê Linh - Ảnh: Trịnh Bộ

Phiên chợ đá quý

đăng 17:44, 18 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chợ đá quý Hà Nội họp phiên vào chủ Nhật hàng tuần tại số 456 Hoàng Hoa Thám. Đây là phiên chợ độc đáo do Hội đá quý Hà Nội tổ chức nhằm giao lưu và giới thiệu sản phẩm đá quý của Việt Nam tới người tiêu dùng.

Đến với phiên chợ, khách hàng có thể lựa chọn cho mình nhiều sản phẩm đá quý của Việt Nam như Shapphire, Thạch anh, Ruby… còn thô hoặc đã qua chế tác với giá giao động từ vài trăm nghìn đồng cho đến vài trăm triệu đồng. Những người bán hàng ở chợ đá quý là hội viên của Hội đá quý Việt Nam đến từ những tỉnh thành nổi tiếng về đá quý như Lục Yên (Yên Bái), Thanh Hóa, Nghệ An…

Chị Vũ Thị Nhung đến từ Lục Yên (Yên Bái) cho biết, kể từ khi chợ thành lập chị không bỏ một buổi nào. Chị bắt xe từ Tuyên Quang đến Hà Nội từ tối thứ 7 để sáng chủ Nhật kịp có mặt tại chợ. Khách đến mua hàng tại Chợ đá quý Hà Nội cũng rất đông.

Chợ đá quý trên phố Hoàng Hoa Thám được họp vào chủ nhật hàng tuần, do hội đá quý Hà Nội tổ chức nhằm giới thiệu sản phẩm đá quý Việt Nam đến người tiêu dùng.


Chợ đá quý có rất nhiều loại đá tự nhiên có xuất xứ từ những vùng đá nổi tiếng như Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An…


Khách hàng dùng nước và đèn để kiểm tra chất lượng đá shapphire.


Sản phẩm nhẫn được chế tác bằng đá shapphire sao.


Những viên đá ruby đỏ được bày bán tại Chợ đá quý.


Rất nhiều loại đá có giá thành từ vài trăm ngàn cho đến vài trăm triệu đồng được bày bán ở đây.


Sau khi đã lựa chọn được cho mình những viên đá ưng ý, khách hàng có thể đến quầy chế tác đá của nghệ nhân Nguyễn Bảo Thạch để làm ra những sản phẩm trang sức mà mình yêu cầu.


Nghệ nhân chế tác đá quý Nguyễn Bảo Thạch kiểm tra chất lượng đá quý cho khách hàng.


Viên đá thô sẽ được gọt giũa bằng máy mài.


Đá shapphire xanh tím là dòng đá quý hiếm, tự nhiên, độ cứng sau kim cương được nghệ nhân Nguyễn Bảo Thạch chế tác hình dạng giống như viên kim cương.


Vào mỗi phiên chợ, nghệ nhân Nguyễn Bảo Thạch nhận chế tác cho khách hàng rất nhiều viên đá quý với hình dạng khác nhau.


Một chiếc mặt dây truyền hình Phật bà Quan âm bằng đá shapphire do nghệ nhân Nguyễn Bảo Thạch chế tác tại chợ đá quý. 


Đặc biệt, đến đây khách hàng có thể yên tâm về chất lượng vì ở đây có quầy kiểm định chất lượng đá. Quầy kiểm nghiệm này do Hội đá quý Hà Nội mở ra và sử dụng những thiết bị máy móc hiện đại để giúp khách hàng kiểm tra giá trị thật của những viên đá.

Theo anh Lê Anh Tuấn Phó chủ tịch hội đá quý Hà Nội, khách hàng đến chợ mua đá yên tâm về chất lượng. Những người tham gia bán hàng nếu có dấu hiệu gian dối sẽ bị tẩy chay và không cho tham gia nữa.

Ngoài ra, đến với chợ đá quý du khách còn được chứng kiến công đoạn chế tác đá độc đáo của nghệ nhân Nguyễn Bảo Thạch. Những viên đá được mua tại đây sẽ được chế tác ngay tại chỗ nếu khách hàng có nhu cầu.

Bài và ảnh: Tất Sơn

Bản Thái cổ bên dòng Nậm Xan

đăng 16:21, 18 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Bản Tùng Hương, xã Tam Quang, huyện Tương Dương có 169 hộ dân, 782 nhân khẩu trong đó có gần 100% là cư dân đồng bào Thái với những phong tục, tập quán cổ xưa.

Cách trung tâm xã biên giới Tam Quang (Tương Dương) chừng 15km, men theo tuyến đường liên bản như dải lụa mềm vắt trên sườn núi để đến với bản Tùng Hương. Ảnh: Hồ Phương 


Đây là 1 trong những bản của đồng bào Thái có lịch sử hình thành lâu nhất ở huyện miền núi Tương Dương, đã có từ trăm năm. Ảnh: Hồ Phương 


Bản là nơi cư ngụ của hơn 700 cư dân đồng bào Thái, nằm bên dòng Nậm Xan hiền hòa. Ảnh: Hồ Phương 


Từ xưa đến nay, những người đàn ông ở bản Tùng Hương vẫn giữ thói quen đi săn cá vào những mùa nắng nóng dưới dòng Nậm Xan. Ảnh: Hồ Phương 


Những lúc rảnh rỗi, đàn ông bản Tùng Hương lại say với công việc đan lát. Những chiếc thúng, chiếc gùi, chiếc giỏ... ở bản đều do bàn tay khéo léo của họ làm ra. 


Phụ nữ bản Tùng Hương, từ trẻ nhỏ cho đến khi đã già, khi lên nương, xuống ruộng, đều gắn liền với chiếc gùi. Ảnh: Hồ Phương 


Họ cũng rất có ý thức trong việc giữ gìn trang phục truyền thống. Phụ nữ bản này vẫn giữ nghề dệt thổ cẩm để tạo nên tấm váy của người Thái Tày Mường. Ảnh: Hồ Phương 


Trẻ em gái ở bản Tùng Hương ngay từ nhỏ đã được mặc trang phục truyền thống. Ảnh: Hồ Phương 


Bản cổ còn lưu giữ nhiều vật dụng hay phương pháp lao động từ xa xưa. Chẳng hạn như đây là một dụng cụ ép măng được truyền lại qua nhiều đời. Măng được ép bằng cách này trước khi đưa ra phơi. Ảnh: Hồ Phương 


Măng là một "đặc sản" của bản. Người dân phơi chúng trên những liếp nứa đan thủ công, dưới nắng. Ảnh: Hồ Phương 


Một điều đặc biệt, làm nên nét khác lạ đặc trưng ở bản Tùng Hương là những đêm mùa đông lạnh giá, trên dòng suối Nậm Xan, những người dân bản lại í ới rủ nhau đi xúc cá đêm. Theo người bản thì tục này đã có hàng trăm năm và luôn mang đến nét thú vị cho những vị khách ghé thăm mảnh đất này. 


Hồ Phương

Duyên dáng nón lá Ngọc Mỹ

đăng 20:46, 15 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nghề làm nón lá truyền thống ở xã Ngọc Mỹ (huyện Quốc Oai, Hà Nội) không chỉ được người dân nơi đây bảo tồn và gìn giữ mà còn đem lại thu nhập kinh tế ổn định cho các hộ dân.

Để làm nón, người dân Ngọc Mỹ thường mua lá cọ non từ tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên đem phơi khoảng 2 - 3 nắng làm nguyên liệu. Khi lá đã khô, người thợ đặt trên nồi than lửa nóng đỏ, dùng cục vải nhỏ độn giống như củ hành tây để là lá cho thẳng và cắt nhọn đầu lá. Để làm thành một sản phẩm nón hoàn chỉnh, người thợ sẽ mua khuôn nón ở làng Chuông (Thanh Oai, Hà Nội). Sau đó sẽ dùng những que nứa được chẻ nhỏ cuốn thành vành quanh khuôn nón. Bằng sự khéo léo và tỉ mỉ, người thợ sẽ xếp từng lá vào vòng nón, một lớp mo tre và một lớp lá nứa rồi khâu. Khâu là một công đoạn khó nhất, vì lá dễ rách, nên đòi hỏi sự khéo léo và tỉ mỉ trong từng đường kim mũi chỉ. Sau khi khâu xong, người thợ sẽ dùng kéo cắt lớp lá thừa và làm nốt cạp nón.

Sau khi khâu xong, người ta sẽ dùng kéo cắt lớp lá thừa và làm nốt cạp nón. 


Các loại nguyên vật liệu để làm vành nón, quai nón… cũng được mua sẵn trong phiên chợ


Viền nón. 


Điều khiến mọi người ngạc nhiên nhất khi đến xem người dân Ngọc Mỹ làm nón là những đứa trẻ nhỏ trong làng cũng cầm kim đưa nhanh thoăn thoắt, khâu từng mũi thẳng, đều từ vòng trong ra vòng ngoài, từ chóp xuống quanh nón. 

Với chất lượng và mẫu mã bền đẹp sản phẩm nón lá Phú Mỹ được đem bán rộng rãi ở các tỉnh, thành phố trong cả nước . 


Chị Vương Thị Xuân đã có kinh nghiệm làm nón hơn 20 năm chia sẻ: “Người Ngọc Mỹ chúng tôi vừa làm nông vừa làm nón lá nên mỗi gia đình chỉ có một hoặc hai người tập trung vào làm. Hội trẻ con thì ngoài những giờ đến trường, chúng đều ở nhà phụ giúp khâu nón. Vì chúng tôi là những người làm nghề lâu năm rồi nhưng đều xuất phát điểm là được cha mẹ dạy từ thuở nhỏ nên đến giờ cũng muốn truyền dạy lại cho các con của mình nghề truyền thống này”.

Do mẫu mã nón giống nhau nên khung nón thường được đặt làm hoặc mua sẵn ở làng Chuông (Thanh Oai, Hà Nội) . 


Khâu là công đoạn khó nhất, vì lá dễ rách, nên đòi hỏi sự khéo léo và tỉ mỉ trong từng đường kim mũi chỉ . 


Ông Nguyễn Tiến Dũng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ngọc Mỹ cho biết: Nghề nón lá đến nay là một trong những nghề thủ công góp phần nâng cao thu nhập kinh tế cho các hộ dân. Đồng thời tạo công ăn việc làm cho người lao động của xã, đặc biệt lao động nữ. Với chất lượng và mẫu mã bền đẹp, sản phẩm nón lá Phú Mỹ được đem bán rộng rãi ở các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tuy nhiên, Ngọc Mỹ vẫn đang trong quá trình xây dựng thương hiệu nón lá để giúp người dân có nhiều mối tiêu thụ đầu ra, đồng thời giúp nghề truyền thống mang đậm nét bản sắc văn hóa và tinh thần của người dân xứ Đoài ngày càng phát triển.

Hà Linh - Ảnh: Công Đạt

Độc đáo vật dụng che mưa của các dân tộc vùng Tây Nguyên

đăng 20:37, 15 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Tây Nguyên đầy nắng gió nhưng mưa cũng dầm dề dai dẳng không kém, kéo dài suốt sáu tháng trong năm. Để chống chọi với thiên nhiên trong mùa mưa, đồng bào các dân tộc đã tự tạo cho mình những tấm áo, nón đi mưa khá độc đáo từ các nguyên vật liệu sẵn có của núi rừng.

Đa dạng về hình dáng và kích thước

Những vật dụng để che mưa của các dân tộc vùng Tây Nguyên rất phong phú, đa dạng về hình dáng và kích thước. Có cái hình tròn, cái hình vuông, hình chữ nhật và đặc biệt có loại thoạt trông người ta liên tưởng giống như nửa con thuyền. Nguyên liệu để làm chúng là một loại lá cây rừng gần giống với cây cọ rừng, hoặc lá của một loài cây hay mọc ở vùng đầm lầy mà người K’ho gọi là Tờm Sra. Ngoài ra, đồng bào còn dùng tre, lồ ô để làm khung, dây mây, hoặc vỏ cây để thắt kết làm quai đội.

Nón đội đầu


Loại hình tròn được tạo dáng giống với cái khiên, có đường kính từ 70 - 80 cm. Chính giữa có một khuôn tròn để tròng đầu khi đội như nón quai thao của người Kinh. Toàn bộ chiếc nón được đan, kết rất tỉ mỉ và khá chắc chắn, từ bộ khung xương đến phần quai đều toát lên vẻ thẩm mĩ cao.

Loại hình vuông có kích thước các cạnh từ 60 - 70 cm. Chính giữa có khuôn tròn để đặt lên đầu khi đội. Loại hình chữ nhật cũng có kết cấu tương tự nhưng có nhiều kích thước lớn, nhỏ khác nhau, phổ biến nhất là: 45 x 70 cm và 45 x 80 cm.

Các loại vật dụng nói trên cũng có thể gọi là nón che mưa vì người dùng chủ yếu là để đội trên đầu khi đi lại trong mưa. Mỗi chiếc nón thường có 3 lớp, trong đó lớp lá được chèn ở giữa, hoặc phủ bên ngoài khung xương bằng tre, lồ ô. Phần quai được làm bằng dây mây hoặc bằng lớp vỏ lụa mềm dẻo của một loại cây rừng. Quai nón được đan tết rất đẹp và khá cầu kỳ.

Những chiếc áo che mưa độc đáo


Ngoài những chiếc nón nói trên, đồng bào ở Tây Nguyên còn có một kiểu áo đi mưa khá đặc biệt, nó có hình dáng giống như nửa con thuyền khi cắt làm đôi. Phần khung áo thường được đan bằng tre hoặc lồ ô. Lớp lá được chèn ở giữa hoặc đan chằm phủ ở bên ngoài. Áo đi mưa có độ dài khoảng từ 140 - 150 cm. Khi mang người ta đội phần chóp nhọn lên đầu. Loại áo đi mưa này thường thấy nhiều ở vùng đồng bào Xơ Đăng ở Bắc Tây Nguyên. Người Xơ Đăng thường cư trú ở những vùng núi dốc nên áo mưa này rất thuận tiện cho việc di chuyển, đi lại trong mùa mưa. 

Áo đi mưa có hình dáng giống nửa con thuyền. 


Người K’ho ở Lâm Đồng trước đây cũng thường sử dụng những tấm áo đi mưa hình chữ nhật có kích thước khoảng từ 80 x 120 cm, được đan kết bằng lá cây Tờm sra và sợi mây rừng. Loại áo mưa này có thể cuộn lại cho vào gùi mang theo khi đi nương rẫy rất thuận tiện. Điều đặc biệt là nó không có dây hoặc quai đeo, nên người K’ho chỉ dùng để đội lên đầu che mưa. 

Ở vùng người Mạ sinh sống, bà con cũng dùng những chiếc áo đi mưa được kết bằng dây mây và lá cây rừng có hình dáng gần giống như chiếc áo tơi của người Kinh.


Những chiếc nón, áo đi mưa của các tộc người vùng Tây Nguyên hiện nay hầu như không còn hiện diện trong đời sống sinh hoạt của đồng bào trong các buôn làng. Bởi ngày nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, cùng với sự giao lưu kinh tế - văn hóa với các vùng, miền trong nước, cuộc sống của người dân đã có nhiều khởi sắc, họ đã biết chọn cho mình loại nón, áo che mưa gọn nhẹ và tiện lợi hơn có thể mua trên thị trường để thay thế chúng. Để tìm hiểu và khám phá nét văn hóa độc đáo cũng như cuộc sống của đồng bào các dân tộc nơi đây, du khách có thể đến các bảo tàng địa phương của vùng Tây Nguyên. 

Ts. Đoàn Bích Ngọ

Sắc màu văn hóa người Khmer

đăng 20:12, 15 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Về Ðồng bằng sông Cửu Long, thăm những vùng đất Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang… chúng tôi dễ dàng nhận ra những vùng dân cư có đồng bào người Khmer sinh sống. Bởi ở đó có những ngôi chùa Khmer được xây cất theo lối kiến trúc chùa chiền Phật giáo nguyên thủy rất độc đáo nằm nổi bật trên các khu đất cao, rộng rãi. Xung quanh những ngôi chùa ấy chính là các phum, sóc của đồng bào Khmer quây quần sinh sống bình yên, hạnh phúc với những lễ hội văn hóa đậm đà bản sắc. 

Ngôi chùa - “trái tim” của cộng đồng người Khmer

Chúng tôi theo chân anh bạn người Khmer tên là Thạch Ri Cơn về quê Trà Vinh chơi nhân dịp Tết Chol Chnam Thmay. Nơi mà Ri Cơn dẫn chúng tôi vào thăm trước tiên không phải là nhà của mình, mà là một ngôi chùa Khmer có tên là Xoài Xiêm Mới. Ri Cơn đến vái lạy vị sư cả Thạch Nhứt trong chùa, cũng là thầy dạy anh trước đây. Đó là cách mà một Phật tử người Khmer thể hiện sự tôn kính, lòng biết ơn đến vị sư già.

Thạch Ri Cơn cho biết, ngôi chùa là nơi thiêng liêng và quan trọng nhất của mỗi người dân Khmer, và cả cuộc đời của một người Khmer sinh sống ở Trà Vinh quê anh hầu như gắn bó với ngôi chùa.

Đối với người Khmer, ngôi chùa là nơi thiêng liêng và quan trọng nhất. Ảnh: Nguyễn Luân


Cồng và tường rào bao quanh ngôi chùa được trang trí bằng các hình tượng nghệ thuật cách điệu kể về sự tích Đức Phật, do các nghệ nhân Khmer thực hiện. Ảnh: Nguyễn Luân


Người Khmer có tục hỏa táng và tro cốt của người chết được đưa vào gìn giữ tại các tháp đặt trong khuôn viên chùa. Ảnh: Nguyễn Luân


Không gian chính điện của một ngôi chùa Khmer được bài trí nhiều bức bích họa lớn có nội dung kể về các tích Phật giáo. Ảnh: Nguyễn Luân


Một buổi sinh hoạt tôn giáo của người dân Khmer bên trong chánh điện của một ngôi chùa. Ảnh: Nguyễn Luân


Thiếu nữ Khmer biểu diễn điệu múa cổ truyền của dân tộc mình tại chùa Kh’Leng, một trong những ngôi chùa cổ kính nhất ở tỉnh Sóc Trăng. Ảnh: Minh Quốc 

Người Khmer đa phần theo Phật giáo Tiểu thừa nên ngôi chùa có ý nghĩa rất thiêng liêng và quan trọng trong đời sống. Ở khu vực Nam Bộ hiện có khoảng 600 ngôi chùa Khmer lớn, nhỏ với khoảng hơn 10.000 sư tăng, trong đó có những ngôi chùa được xây dựng cách đây vài thế kỉ, được công nhận là di tích văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia như: chùa Âng, chùa Mẹt, chùa Hang, chùa Dơi...

Theo sư cả Thạch Nhứt, từ lâu đời, phụ nữ Khmer không phải đi tu ở chùa, còn nam giới khi lớn lên phải có một thời gian đến chùa tu học để trau dồi đức hạnh và kiến thức. Nếu chưa tu trong chùa thì chưa được công nhận là người trưởng thành.

Cộng đồng Khmer có ngôn ngữ và chữ viết riêng. Những ngày tháng học chữ trong chùa sẽ góp phần giúp các thanh niên Khmer học viết và phát âm chuẩn ngôn ngữ Khmer và Pali. Ngoài ra, các tăng sinh, học sinh còn được học về Phật pháp, hiểu biết thêm những điều hay lẽ phải, góp phần gìn giữ và phát triển chữ viết, tiếng nói, cũng chính là gìn giữ văn hóa truyền thống của dân tộc.

Sau thời gian tu học tại chùa, họ có thể chọn con đường tu tập trọn đời theo giáo lí Phật giáo để trở thành các nhà sư, hoặc tự do xuất tu, trở về với cuộc sống gia đình, dùng kiến thức học được để giúp ích cho bản thân, cộng đồng như anh bạn Thạch Ri Cơn của tôi, hiện đang là biên dịch viên ngữ Khmer làm việc cho một tòa soạn báo đa ngữ ở Tp. Hồ Chí Minh.

Thạch Ri Cơn cho biết, những người bạn đồng tộc của anh ở Trà Vinh rất nhiều người theo học nghề mộc, nghề đóng ghe ngo, điêu khắc gỗ tại các chùa Khmer, giúp họ có công ăn việc làm và cũng là một cách để gìn giữ nghề truyền thống của dân tộc mình.

Ngôi chùa cũng là nơi đào tạo nghề mộc, điêu khắc gỗ truyền thống của người Khmer. Ảnh: Nguyễn Luân


Các tăng sinh chùa Kompong (Trà Vinh) dùng đất sét đắp bục thắp nhang trước tượng Phật chuẩn bị đón Tết Chol Chnam Thmay. Ảnh: Nguyễn Luân


Một tăng sinh học chữ Khmer trong chùa Kompong (Trà Vinh). Ảnh: Nguyễn Luân


Người dân thành kính thắp hướng khấn Phật trong ngày Tết Chol Chnam Thmay. Ảnh: Nguyễn Luân


Các Phật tử thành kính nghe nhà sư tụng kinh hồi hướng. Ảnh: Nguyễn Luân 


Bên cạnh đó, người Khmer vẫn còn giữ được nhiều nghề thủ công mĩ nghệ truyền thống như: dệt chiếu, đan lát, dệt vải, làm gốm, làm mặt nạ, làm đàn, trống... Sản phẩm làm ra ngoài việc giúp người dân phát triển kinh tế, còn phụng sự cho nhà chùa vào những dịp lễ hội.

Một nét văn hóa khác cho thấy ngôi chùa rất có ý nghĩa trong đời sống của người Khmer, đó là khi về với tổ tiên, thân xác của người Khmer sẽ được hỏa táng và tro cốt của họ sẽ được lưu giữ trong các tháp tro phía sau những ngôi chùa. Như vậy có thể thấy cả cuộc đời của người Khmer gắn liền với ngôi chùa, và ngay cả khi mất đi họ vẫn gắn bó với chốn linh thiêng này. 

Sinh động lễ hội của người Khmer

Chúng tôi đã nhiều lần cùng Thạch Ri Cơn về huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, huyện vùng sâu có cộng đồng Khmer sống nhiều nhất của tỉnh (62% dân số) để khám phá cuộc sống và văn hóa của đồng bào Khmer. Mỗi lần như vậy, chúng tôi đều nhận thấy sự vui tươi và những nét văn hóa truyền thống đặc sắc, lành mạnh được người dân gìn giữ qua bao đời.

Mỗi mùa vụ thu hoạch đến, Thạch Ri Cơn lại trở về quê hương, cùng bà con lối xóm vào chùa dâng hương, làm lễ cúng tạ ơn. Ri Cơn cho biết, người Khmer có nhiều nghi lễ liên quan đến vụ mùa, nhiều tập tục thể hiện nếp sống văn hóa nông nghiệp. Như nhân dịp Lễ Ok Om Bok (được tổ chức ngày 15/10 âm lịch) là ngày cuối cùng của mùa Hạ, sau khi thu hoạch hoa màu, để nhớ ơn Mặt Trăng họ thường làm cốm dẹp để làm Lễ cúng Trăng.

Vào dịp Tết Chol Chnam Thmay, lễ hội mừng năm mới theo lịch cổ truyền, người Khmer dâng lên Đức Phật, các vị sư sãi những thực phẩm do tự tay mình làm ra, nhờ các vị sư tụng kinh mong mang lại sức khỏe cho gia đình, đồng thời cầu mưa thuận gió hòa để mùa vụ sắp tới tươi tốt, thuận lợi. 

Hôm Ri Cơn dẫn chúng tôi tham quan một vòng chùa Xoài Xiêm thì bắt gặp những Phật tử cùng các nhà sư đang tất bật chuẩn bị cho Tết Chol Chnam Thmay. Cô Khâu Thị Hoa (54 tuổi, Phường 1, Tp. Trà Vinh) cho biết: "Trước Tết Chol Chnam Thmay khoảng vài ngày, bà con Phật tử trong vùng sẽ đến phụ giúp các nhà sư lau chùi chính điện, quét dọn rác, mạng nhện, thấy gì làm cái nấy. Tôi rủ thêm người chị và cháu gái vào phụ làm, vì là truyền thống của gia đình có từ lâu đời, nên ai cũng háo hức và tự nguyện”.

Ông Thạch Ton, xã Lưu Nghiệp Anh, huyện Trà Cú đem các tượng Phật ra lau chùi sạch sẽ chuẩn bị mừng Tết Chol Chnam Thmay. Ảnh: Nguyễn Luân


Bàn thờ Phật trong nhà người dân Khmer được trang hoàng đẹp vào dịp Tết Chol Chnam Thmay. Ảnh: Nguyễn Luân


Đông đảo Phật tử người Khmer thực hiện Lễ đặt bát vào ngày đầu Tết Chol Chnam Thmay để thể hiện lòng biết ơn, kính nhớ tổ tiên. Ảnh: Nguyễn Luân


Người dân Khmer dùng nước thơm để tắm các bức tượng Phật trong dịp Tết Chol Chnam Thmay... Ảnh: Nguyễn Luân


... phần nước còn lại sẽ được các Phật tử mang về thực hiện nghi thức rửa chân cho ông bà, cha mẹ để thể hiện lòng hiếu kính. Ảnh: Nguyễn Luân


Các vị sư mặc y phục, xếp hàng trước chánh điện chùa Xoài Xiêm (huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh) nhận các lễ vật của các Phật tử, đây là nghi thức quan trọng và độc đáo của Lễ đặt bát mừng Tết Chol Chnam Thmay. Ảnh: Nguyễn Luân 


Trước Tết Chol Chnam Thmay vài ngày, người Khmer tổ chức Lễ đắp núi đất, núi cát trong sân chùa để cầu phúc duyên và mong tránh khỏi những kiếp nạn rồi dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị các loại bánh trái như: bánh tét, bánh ít, bánh gừng, hoa quả, nhang đèn... để đem vào chùa dâng cúng chư Phật và các nhà sư. 

Người Khmer ở Việt Nam có khoảng hơn 1,3 triệu người, sống tập trung ở khu  vực Đồng bằng sông Cửu Long, xếp thứ 2 về dân số ở khu vực này, sau người Kinh. Họ sống tập trung ở các tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Cần Thơ…
Đại đức Trần Dân, trụ trì chùa K’tưng cho biết, các ngôi chùa có nhiệm vụ thông báo đến người dân thời gian đón năm mới để người dân chuẩn bị, tụng kinh và đi diễu hành chào đón năm mới.

Theo truyền thống, gần đến thời khắc Giao thừa, mọi nhà sẽ chuẩn bị hoa quả, nhang đèn làm Lễ tiễn Tevôđa (còn gọi là bà Tiên, Chư Thiên) cũ về trời, rước Tevôđa mới giáng trần. Người Khmer tin rằng mỗi năm sẽ có một vị Têvôđa xuống trần để chăm lo cho đời sống của họ. 

Vào các đêm Tết, ở các chùa Khmer thường diễn ra hoạt động biểu diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống như: múa Rôbăm, hát Aday, hát dân ca với không khí vui tươi, thoải mái. Đặc biệt, những vở kịch hát Dù Kê, một loại hình sân khấu hát và múa truyền thống của người Khmer, được các diễn viên Khmer biểu diễn rất đặc sắc, hấp dẫn người xem.

Trong ba ngày Tết Chol Chnam Thmay, nhiều hoạt động văn hóa độc đáo của người Khmer diễn ra rộn ràng ở khắp các chùa chiền và phum sóc. Điển hình như phong tục mang cơm, thức ăn và các loại bánh trái đến chùa cho các sư sãi. Đáp lại, các nhà sư sẽ làm Lễ tạ ơn những người đã làm ra hạt gạo, trồng trọt, chăn nuôi, cầu chúc cho họ cuộc sống được ấm no, đầy đủ. Hay như Lễ tắm Phật với ý nghĩa cầu an và báo hiếu các bậc sinh thành…

Anh Thạch Sâm Khan (37 tuổi, xã Ngãi Xuyên) đi lễ ở chùa Xoài Xiêm Mới chia sẻ: “Tôi thành kính cầu mong Đức Phật phù hộ cho ông bà và các thành viên trong gia đình luôn được mạnh khỏe, an lành là tôi mừng lắm rồi!”.

Vào ngày Tết Chol Chnam Thmay, thanh thiếu niên dân tộc Khmer hóa trang thành các nhân vật dân gian, tham gia biểu diễn nhạc cụ dân tộc và trò chơi dân gian trên những con đường quanh các phum sóc. Ảnh: Nguyễn Luân


Các thanh niên người Khmer trong trang phục và mặt nạ truyền thống tái hiện lại các điệu múa của người Khmer. Ảnh: Nguyễn Luân


Vào những dịp lễ hội, người dân Khmer hào hứng tham gia nhiều trò chơi dân gian như: kéo co, nhảy bao bố, đập niêu, bóng chuyền… Ảnh: Nguyễn Luân


Lễ hội đua bò Polta vùng Bảy Núi, An Giang của đồng bào Khmer. Ảnh: Kim Phương


Người dân Khmer tỉnh Sóc Trăng tham gia Lễ hội đua ghe ngo truyền thống dịp mừng Lễ hội Ok Om Bok. Ảnh: Minh Quốc 


Trong một năm, cộng đồng người Khmer ở Nam Bộ có chừng hơn mười lễ hội, trong đó có 3 lễ hội chính: Lễ Đôn-ta, Tết Chol Chnam Thmay, Lễ cúng Trăng - Ok Om Bok.

Có thể nói, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào Khmer ở Trà Vinh nói riêng và Nam Bộ nói chung rất sinh động, mang đậm dấu ấn văn hóa riêng biệt, gắn bó mật thiết với đời sống tín ngưỡng và tôn giáo. Đồng thời, cộng đồng Khmer có một cuộc sống giản dị, yên bình, vui tươi, đa sắc màu, góp phần vào dòng chảy chung phong phú và đậm đà bản sắc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Bài: Sơn Nghĩa - Ảnh: Nguyễn Luân & Tư liệu Báo ảnh Việt Nam

Mùa cào hến trên sông La

đăng 22:07, 14 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nghề cào hến đem lại thu nhập ổn định cho người dân thôn Bến Hến. ẢNH PHẠM ĐỨC


Sau những ngày mưa lũ, dòng sông La trở nên hiền hòa trong mát. Đây cũng chính là thời điểm người dân thôn Bến Hến nằm cạnh dòng sông La, xã Trường Sơn, H.Đức Thọ (Hà Tĩnh) bước vào mùa cào hến.

Hơn 300 năm chung thủy với nghề

Sáng sớm tại bến hến, hàng chục chiếc thuyền máy công suất 12 CV đậu san sát, sẵn sàng cho chuyến “hành nghề” ngày mới. Trên bờ, những người đàn ông có khuôn mặt đen sạm nắng gió đang tất bật chuẩn bị dụng cụ bắt hến đưa lên thuyền. Biết tôi muốn tìm hiểu về nghề cào hến và cuộc sống của người dân địa phương, ông Nguyễn Văn Sinh (65 tuổi, cư dân của thôn Bến Hến) nghỉ tay tiếp chuyện. 

Ông Sinh nói: “Nghề cào hến rất vất vả vì phụ thuộc về thời tiết. Thông thường người dân đánh bắt hến từ tháng Giêng cho đến hết tháng 8 âm lịch, gặp mùa nước lũ thì phải tạm dừng khai thác”. 

Bản thân ông Sinh cũng không biết nghề cào hến có tự bao giờ, ông cũng như bà con nơi đây biết đến nghề nhờ được cha ông truyền lại từ đời này sang đời khác. “Năm 12 tuổi, tui bắt đầu theo cha mẹ ra sông La bắt hến. Ở quê tui nhà mô cũng rứa, đàn ông, con trai thì đóng thuyền đi cào hến, còn phụ nữ thì luộc và đãi hến mang ra chợ bán. Con hến được người dân mang ơn và được ông cha lấy đặt tên cho thôn, nhưng cũng không biết là tên thôn Bến Hến có tự bao giờ”, ông Sinh nói. 

Cũng theo ông Sinh, tương truyền khoảng hơn 300 năm trước, có một học trò quê ở H.Đức Thọ (Hà Tĩnh) đỗ đạt làm quan, được vua ban áo mũ về quê vinh quy bái tổ. Hiềm thay, khi đi qua khúc sông La thuộc xã Trường Sơn ngày nay, gặp một con gió lớn làm bay mất sắc phong vua ban xuống sông. Dân làng gần đó đã lội xuống vớt giúp tờ chiếu chỉ và vô tình mò được rất nhiều hến. Dân làng mang hến về nấu ăn thử thì thấy nước hến rất ngọt nên rủ nhau đi bắt. Không lâu sau, hến trở thành một món ăn đặc sản nổi tiếng quanh vùng, nghề cào hến trở thành nghề truyền thống mưu sinh của cư dân nơi đây và được duy trì cho đến nay. 

Đổi thay nhờ con hến 

Buổi trưa ở thôn Bến Hến sôi động, tấp nập khi đoàn thuyền cào hến khoảng 20 chiếc nối đuôi nhau về bến, các khoang thuyền đều đầy ắp hến. Từng tốp phụ nữ và trẻ con hối hả nhặt cỏ rác lẫn lộn trong các mủng hến. Tiếng rây hến, tiếng gọi nhau í ới vang cả một vùng quê thanh bình. Thời điểm này cũng là lúc các lò nấu hến bắt đầu đỏ lửa. Hến sau khi rửa sạch được cho vào chảo đun sôi để tách vỏ, sau đó được đãi lấy ruột. Mùi hến bốc lên thơm lừng từng con ngõ. Ruột hến và nước hến được các thương lái ở các huyện Hương Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh) và Nghệ An đến thu mua tận nơi về bán lại cho các nhà hàng, còn vỏ hến được người dân trong vùng mua về xay nhỏ làm thức ăn cho gà, vịt. 

Bà Thái Thị Tuyên (56 tuổi), ngụ tại thôn Bến Hến, cho hay nghề cào hến là nguồn thu nhập chính của người dân trong làng. Nhờ con hến, người dân có tiền xây dựng nhà ở khang trang, cho con ăn học, mua sắm đồ đạc… 

“Trước đây cào bằng tay, người dân cầm rổ lội xuống sông, ngâm mình cả ngày để cào hến nên thu nhập cũng chỉ đủ ăn, vì làm thủ công. Bây giờ cào bằng máy thì thu nhập lớn hơn. Vợ chồng tui 1 ngày cũng bắt được vài tạ hến, trừ tiền dầu, tiền củi cũng lãi được khoảng 1 triệu đồng”, bà Tuyên nói. 

Hiện nay, hến sống (chưa luộc, đãi ruột) được các thương lái thu mua với giá từ 5.000-20.000 đồng/kg, tùy loại. Giá bán ruột hến từ 150.000 - 170.000 đồng/kg, kèm theo 2 lít nước luộc hến. Không những đánh bắt hến trên sông La, những năm gần đây, người dân thôn Bến Hến còn dong thuyền xuống sông Lam (Nghệ An) cách thôn khoảng 40 km để bắt hến nước lợ (còn gọi là giắt). Loại hến này có kích thước nhỏ, vỏ mỏng, nhiều ruột, giá ruột hến 40.000 - 50.000 đồng/kg. 

Ông Trần Đình Dung, Phó thôn Bến Hến, cho hay trước đây thôn Bến Hến có 200 hộ thì tất cả đều theo nghề cào hến. Tuy nhiên, khoảng 5 năm trở lại đây, do nhiều hộ chuyển sang kinh doanh hoặc xuất khẩu lao động, nên chỉ còn 100 hộ theo nghề. “Nếu vào mùa hến, một ngày người dân đánh bắt được hàng chục tấn, mỗi hộ trừ chi phí trung bình cũng lãi 500.000-700.000 đồng, thậm chí có hộ lãi hơn 1 triệu. Tiếng là nông thôn, nhưng ở thôn Bến Hến không hiếm nhà cao tầng khang trang. Tất cả cũng nhờ con hến”, ông Dung nói. 

Phạm Đức 

Chợ Năm Căn

đăng 03:22, 9 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Trước đây, quốc lộ 1A tới Năm Căn là hết. Từ Năm Căn ra tới mũi Cà Mau tận cùng đất nước bắt buộc phải đi bằng đường thủy. Du khách có thể chọn một trong hai cách để ra tới mũi Cà Mau. Một là khởi hành từ TP Cà Mau, đi tàu khách ra Đất Mũi, quãng đường (thủy) dài hơn 110 km. Hai là đi đường bộ tới Năm Căn rồi từ đó đi ca nô, vỏ lãi ra Đất Mũi, khoảng hơn 50 km. Tui đã từng ra Đất Mũi bằng cả 2 cách. Đi từ Năm Căn thì thú vị hơn. vì vừa có dịp dừng ở Năm Căn, vừa đỡ chán vì ngồi tàu khách quá lâu (khoảng 3 tiếng).


Đầu năm 2016, con đường nối từ Năm Căn tới Đất Mũi đã được thông xe. Từ ấy đã có thể đi một lèo tới Mũi Cà Mau bằng đường bộ.


Tui lại có dịp ra mũi Cà Mau vào tháng 4/2017. Đáng lẽ chạy thẳng bằng xe ra Đất Mũi, tui lại thèm và nhớ cái cảm giác bồng bềnh trên sông nước U Minh Hạ nên cho xe dừng ở Năm Căn và thuê vỏ lãi để ra Mũi.


Chợ Năm Căn ở vị trí phía ngoài bên tay phải của hình này, đi tới phía trước, rẽ trái đi dưới gầm cầu sang bên kia là bến tàu Năm Căn.


Bến tàu


Chỗ đậu xe là trung tâm thị trấn Năm Căn. Bên này đường là chợ Năm Căn, bên kia đường là bến tàu Năm Căn, ra sông Cửa Lớn.Đã tới đây rồi thì vì cớ làm sao ta chẳng bỏ chút thời gian để tham quan chợ Năm Căn cho biết ha? Lần trước tui tới đây là năm 2001, chỉ vài ngày sau khi chợ Năm Căn bị một trận hỏa hoạn cháy rụi nên không có dịp thăm chợ!


Cũng cần nói thêm cho rõ, đây không phải chợ trôi Năm Căn (một kiểu chợ trên sông nước, nhưng... không phải chợ nổi, hiện giờ vẫn còn), và cũng không phải chợ Năm Căn cách đây mấy chục năm như Đoàn Giỏi đã tả trong bài Sông nước Cà Mau sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6. Đây là ngôi chợ hiện đại, mới xây và ở trên đất liền (gần, nhưng không phải cạnh bờ sông).



Dù không mang những nét độc đáo như trên, nhưng chợ Năm Căn vẫn có những dáng vẻ riêng của nó. Là một ngôi chợ tương đối lớn của vùng quê sông nước, không phải chợ thành phố. Sản phẩm trong chợ rất tiêu biểu cho vùng đất này, rất nhiều thủy hải sản. Và điều mà tui thấy thích nhất là chợ rất hiền lành, dễ thương. Đông, nhưng không ồn ào, người mua người bán nói chuyện với nhau nhỏ nhẹ, thân mật. 


Minh chứng rõ nét nhất cho cái chuyện hiền lành dễ thương là: một thằng cha lơ ngơ như tui đi vô chợ, giơ máy chụp hình búa xua mà chả ai càm ràm; hỏi những câu ngớ ngẩn như "con này kêu là con gì" mà ai cũng sẵn lòng trả lời; hỏi giá đủ thứ mà hổng mua gì ráo trọi cũng không ai chửi, chỉ vui vẻ nói giá và cười cười thôi!


Thôi, không biết nói gì nữa, kể bằng hình vậy!










Phạm Hoài Nhân

Nghề làm mắm 200 tuổi trứ danh Phan Thiết

đăng 03:14, 9 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:15, 9 thg 8, 2017 ]

Người dân làm nước mắm từ thời Phan Thiết mang tên Tổng Đức Thắng (1809), mỗi năm ủ chượp được 25 triệu lít. 

Nước mắm Phan Thiết xếp loại "lão làng", được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng. Cách đây 200 năm, ngư dân ở nhiều tỉnh (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) đã vượt biển đến sinh sống ở vùng đất mới - chính là Phan Thiết ngày nay. Do lượng cá đánh bắt ở biển không tiêu thụ hết, nên họ nghĩ ra phương pháp ủ chượp cá với muối để làm nên nước mắm.

Đến đầu thế kỷ 20, thương hiệu nước mắm Liên Thành của Phan Thiết bắt đầu nức tiếng trong Nam ngoài Bắc. Đời cha truyền con nối, nghề làm nước mắm được giữ gìn, tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Đặc sản trứ danh Phan Thiết được bảo hộ chỉ dẫn địa lý từ năm 2007. Hiện có khoảng 200 cơ sở sản xuất trong thành phố, cung cấp 25 triệu lít mỗi năm cho thị trường.

Nhờ có nguồn hải sản lớn, khí hậu ôn hòa, nhiều nắng ít mưa, Phan Thiết có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển nghề làm nước mắm theo phương pháp ủ chượp truyền thống. Mắm Phan Thiết có hương thơm nồng đặc trưng, hậu vị ngọt chứ không gắt. 

Theo người dân, nước mắm Phan Thiết làm từ cá cơm sọc phấn trắng và sọc than ở vùng biển Bình Thuận có màu vàng rơm là ngon nhất. Mùa cá đánh bắt bắt đầu rộ vào tháng 4-8 âm lịch theo phương pháp lưới vây, lưới vó. 

Để mắm ngon đạt độ đạm cao nhất, người dân sẽ cẩn thận chọn những con cá cơm to bằng ngón tay út hoặc chiếc đũa. Hết mùa, vẫn có thể làm nước mắm từ cá nục, song phải chọn con nhỏ 9-12cm, mắt trong, da và vảy sáng, mới cho độ đạm cao và hương vị ngon không kém.

Nguồn cá nục dồi dào có thể thay thế cá cơm khi hết mùa đánh bắt. Ảnh: Bizmedia 


Cá tươi được trộn đều với muối theo tỷ lệ 3:1. Muối phải sạch tinh khiết, ủ ít nhất sáu tháng nhằm giảm đi độ chát và đắng. Trước đây, người dân tốn nhiều sức lực để trộn cá với muối theo phương pháp thủ công. Song ngày nay quy mô sản xuất lớn hàng tấn cá, hầu hết các nhà lều ở Phan Thiết đều đầu tư hệ thống máy đảo trộn hiện đại, giúp tiết kiệm sức người, chượp cá thấm đều muối, đồng thời đảm bảo vệ sinh.

Hiện Phan Thiết chủ yếu ủ chượp theo phương pháp gài nén. Cá chượp được ủ trong thùng gỗ (thùng lều) cao 2,5-3m, đường kính 2,5m dung tích chứa 4-6 tấn. Thùng lều được làm từ gỗ bằng lăng hoặc bời lời. Gỗ già được xử lý cẩn thận mới có thể chịu được độ mặn của muối; không bị mục, mối mọt trong thời gian dài và đặt trong hầm lợp tôn kín.

Sau khi chượp đầy thùng lều, người dân sẽ phủ tiếp lên lớp muối dày, cài vỉ tre trên bề mặt và nén cá xuống thật chặt. Hỗn hợp ủ trong thời gian dài khoảng 10 tháng, đảo trộn và cho nước cá chảy tự nhiên vào thùng trổ bằng gỗ, rồi pha với nước muối bơm lên lại thùng lều. Thời gian ủ chượp phải trên 12 tháng mới đảm bảo cá lên men và phân hủy hoàn toàn.

Nhà lều làm mắm truyền thống tại Phan Thiết. Ảnh: Bizmedia 


Sau 12 tháng, thùng lều cho nước mắm có độ đạm cao nhất 30-35. Người dân rút mắm khoảng 3-4 lần cho đến khi độ đạm giảm dần còn 10 thì ngưng. Thành phẩm phải được giữ lại ít nhất một tháng trong các thùng chứa ở nhiệt độ thường, giúp phần muối bão hòa tiếp tục kết tinh tự nhiên, cho vị nước mắm dịu và thanh hơn. Đây cũng là bí quyết tạo nên hương vị đặc trưng của mắm Phan Thiết.

Công đoạn cuối cùng là kiểm tra bằng cảm quan và lý hóa để đóng chai tự động theo từng độ đạm. Bản thân muối là chất bảo quản tự nhiên, nên nước mắm Phan Thiết có thể ăn dần cả năm mà không cần chất bảo quản.

1-10 of 22