Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Phiên chợ bán những sản vật độc đáo ở miền núi Đakrông Chợ chủ yếu bán các sản vật do người đồng bào thiểu số Vân Kiều, Pa Cô trồng hoặc hái lượm ở rừng. Đến chợ, tuyệt nhiên người bán không ...
    Được đăng 05:06, 21 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lễ hội cầu an của người Ba Na Lễ hội cầu an là lễ hội truyền thống có từ ngàn đời xưa của người Ba Na (nhánh Rơ Ngao). Đây là một trong những lễ hội đặc sắc ...
    Được đăng 04:20, 21 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Khèn - biểu tượng văn hóa của người Mông Vừa là nhạc cụ, vừa là đạo cụ, khèn của người Mông cũng vừa là nhạc khí thiêng kết nối giữa cõi trần và thế giới tâm linh nhưng cũng ...
    Được đăng 17:59, 19 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Độc đáo phiên chợ trâu lớn nhất vùng Tây Bắc Sáng chủ nhật hàng tuần, người dân khắp vùng lại nô nức đổ về Bắc Hà (Lào Cai) để tham dự phiên chợ trâu lớn nhất Tây Bắc. Chợ họp ...
    Được đăng 06:56, 14 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Những điều chưa biết về gạch Bát Tràng Những ngôi nhà xây bằng gạch Bát Tràng từng là biểu hiện của sự giàu có, sung túc. Nhiều chàng trai xưa còn dùng loại vật liệu này để gây ...
    Được đăng 01:49, 12 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Phiên chợ bán những sản vật độc đáo ở miền núi Đakrông

đăng 05:06, 21 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chợ chủ yếu bán các sản vật do người đồng bào thiểu số Vân Kiều, Pa Cô trồng hoặc hái lượm ở rừng. Đến chợ, tuyệt nhiên người bán không nói thách và người mua không trả giá. Phiên chợ này nằm trong khuôn khổ lễ hội Văn hóa - thể thao, du lịch các dân tộc huyện Đakrông (tỉnh Quảng Trị) lần thứ 2 năm 2019 (diễn ra từ 18-19.5.2019)

Đọt cây mây rừng, một sản vật của núi rừng Đakrông được nhiều du khách chọn mua tại phiên chợ vùng cao. Ảnh: Hưng Thơ.


Những người bán hàng ở phiên chợ luôn với nụ cười tươi rói. Ảnh: Hưng Thơ.


Phiên chợ vùng cao được tổ chức tại xã Đakrông (huyện Đakrông) có nhiều điểm đặc biệt. Trước khi phiên chợ diễn ra, mỗi thôn bản sẽ dùng tre, tranh làm một gian hàng ở Khu du lịch cộng đồng Klu (xã Đakrông).

Các loại cây trái được đồng bào Vân Kiều, Pa Cô trồng trên rẫy, đơm hoa kết trái tự nhiên chứ ít được không chăm bón bằng phân bón hoá học hoặc thuốc bảo vệ thực vật. Ảnh: Hưng Thơ.


Các mặt hàng được bày bán sẽ là sản vật đặc trưng của từng vùng với giá cả hợp lý, và tuyệt nhiên không có chuyện bán nói thách. Du khách ghé chợ, sau khi chọn mua cho mình những sản vật, có thể ghé những chòi tranh tre được thiết kế kiểu nhà sàn dọc con suối, rồi nhờ chủ chòi chế biến thành món ăn để thưởng thức…

Nếp đen là một đặc sản, được trồng trên rẫy. Đến vụ thu hoạch thì được tuốt bằng tay rồi giã bằng cối gỗ. Vì năng suất thấp, nên loại nếp này rất có giá trị và không phải có tiền là mua được. Ảnh: Hưng Thơ.


Theo bà Hồ Thị Kim Cúc – Phó Chủ tịch UBND huyện Đakrông, phiên chợ vùng cao tổ chức tại huyện Đakrông nằm trong khuôn khổ Lễ hội Văn hóa - Thể thao, du lịch các dân tộc huyện Đakrông lần thứ 2 năm 2019.

Loại cà xanh cũng được nhiều người chọn mua, bởi được người đồng bào trồng trên nương rẫy, cà rất giòn và chế biến được nhiều loại món ăn. Ảnh: Hưng Thơ.


Lễ hội là dịp để huyện Đakrông tôn vinh truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa các dân tộc Đakrông. Qua đó, quảng bá, giới thiệu tiềm năng và lợi thế của quê hương Đakrông trong phát triển du lịch cộng đồng, kêu gọi quảng bá, xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực mà Đakrông có lợi thế. Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đưa huyện Đakrông ngày càng phát triển bền vững.

Du khách ghé thăm phiên chợ. Ảnh: Hưng Thơ.


Rau rớng, đọt mây, măng tre, cà xanh và muối ớt là món ăn đặc biệt của đồng bào Vân Kiều, Pa Cô. Ảnh: Hưng Thơ.


Sau khi mua các sản vật, du khách có thể chọn các chòi tre để thưởng thức các món ăn bên dòng suối mát mẻ. Ảnh: Hưng Thơ.


Nơi tổ chức phiên chợ một bên là núi, một bên là sông, ở giữa là tuyến đường Quốc lộ 9 xuyên Á. Ảnh: Hưng Thơ

Lễ hội cầu an của người Ba Na

đăng 04:20, 21 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Lễ hội cầu an là lễ hội truyền thống có từ ngàn đời xưa của người Ba Na (nhánh Rơ Ngao). Đây là một trong những lễ hội đặc sắc liên quan đến cộng đồng làng, nhằm cầu mong cho dân làng ấm no, hạnh phúc...

Lễ hội cầu an, theo tiếng Ba Na (nhánh Rơ Ngao) gọi là Puh hơ drĭ. Ở đây từ “puh” nghĩa là “xua đuổi”, “hơ drĭ” mang ý nghĩa là “mọi tà ma”, “dịch bệnh”, “sự dơ bẩn”, “cầu mong bình an"… Puh hơ drĭ là xua đuổi mọi tà ma, dịch bệnh, điều xấu ra khỏi dân làng để cầu mong cho dân làng quanh năm được khỏe mạnh, ấm no, hạnh phúc, đoàn kết một lòng…

Ông A Thút (62 tuổi) - Nghệ nhân ưu tú, Đội trưởng đội nghệ thuật cồng chiêng làng Đăk Wơk (xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy) cho biết: Lễ hội cầu an được tổ chức sau khi dân làng đã thu hoạch hết mùa màng trên rẫy. Tùy vào điều kiện kinh tế của dân làng mà cúng cho Yàng những lễ vật hiến sinh cho phù hợp, có thể là con trâu hay con bò, heo, dê, gà.

Trước khi tổ chức Lễ hội cầu an, dân làng tiến hành phát dọn đường đi sạch sẽ, sửa sang nhà rông, bến nước, dọn vệ sinh sạch sẽ trong thôn làng, đóng góp của cải vật chất để sắm vật hiến sinh cúng Yàng, chế tác các đạo cụ như mặt nạ người và trang phục con thú dữ, hình nộm của con chim phượng hoàng…

Trong ngày lễ chính thức, già làng lựa chọn những nam thanh nữ tú hiền lành để đảm trách những công việc chính khi làm lễ, như lựa chọn một chàng trai khỏe mạnh mặc trang phục lông thú, đeo mặt nạ người và cầm giáo; một chàng trai khác khoác tấm chăn lên người, đầu đội hình nộm chim phượng hoàng; hai cô gái có nhiệm vụ cầm lá cây đót...

Lễ hội cầu an của người Ba Na (nhánh Rơ Ngao) ở làng Đăk Wớt, xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy. Ảnh: TN 


Khi vào nghi thức lễ, già làng cầu khấn: Hỡi thần nước! Thần núi! Thần sấm sét ở trên trời! Hôm nay, tất cả già, trẻ, gái, trai dân làng chúng tôi đều tập trung đông đủ giữa sân không gian nhà rông cao vút. Và chúng tôi đã chuẩn bị mọi thứ theo ý vị thần mách bảo. Tạo dựng hình nộm, vũ khí đao, kiếm, giáo mác, chiếc khiên và vật hiến sinh, giết mổ con heo đực thiến hết lớn đã nuôi mười năm tuổi và con gà lông đen chân chì để tế thần. Thường lệ như mọi năm, dân làng chúng tôi nguyện cầu các vị thần phù hộ cho buổi lễ cầu an này được hiệu nghiệm, để xua đuổi hết tà ma, mọi hoạn nạn dịch bệnh ốm đau và điều ác đang ẩn náu trong làng mau chóng đi ra khỏi làng…

Sau khi kết thúc lời cầu khấn thần linh, dân làng tiến hành nghi thức xua đuổi tà ma, dịch bệnh trong làng. Để thực hiện nghi thức này, già làng (chủ lễ) là người dẫn đầu. Tiếng hô vang và những bước nhún nhảy xông lên thể hiện hành động xua đuổi những điều xui xẻo, cái xấu, tà ma… Khi kết thúc tiếng hô và những bước nhảy, tiếng trống, tiếng cồng chiêng vang lên và kèm theo đó là những động tác múa xoang uyển chuyển của các thiếu nữ thể hiện sự vui mừng, niềm hân hoan vì các dịch bệnh, tà ma, xui xẻo… đã ra khỏi nơi trú ẩn và đi xa.

Việc xua đuổi các tà ma, dịch bệnh và mọi điều xấu… tiếp tục diễn ra trên khắp các đường đi lối vào trong thôn làng và ở các ngôi nhà với động tác được lặp đi lặp lại theo trình tự: sau tiếng hô xua đuổi “huih huih huih” là tiếng trống báo hiệu ba lần, rồi tiếng cồng chiêng nổi lên hòa với điệu múa xoang uyển chuyển của các thiếu nữ Ba Na (nhánh Rơ Ngao).

Nghi thức xua đuổi tà ma, dịch bệnh trong lễ cầu an. Ảnh: TN 


Kết thúc nghi thức xua đuổi tà ma, dịch bệnh, dân làng tập trung tại nhà rông để tiếp tục phần hội. Sau khi ghè rượu và các món ẩm thực đã chuẩn bị đầy đủ, già làng tiếp tục làm lễ cầu khấn mời các thần linh xuống cùng ăn, cùng uống, chung vui với dân làng để tạ ơn các thần linh đã bảo vệ dân làng; đồng thời, cầu xin các thần linh phù hộ cho dân làng sang năm tới được khỏe mạnh, có cuộc sống ấm no, cây trồng vật nuôi phát triển tốt, bảo vệ dân làng không bị các con ma xấu, các bệnh dịch, những xui xẻo, tai họa… đến với dân làng.

Lời cúng như sau: Ôi Yang! Dân làng chúng tôi tạ ơn các vị thần đã ban phước an lành trong suốt năm qua. Thành kính mời các thần xuống cùng ăn thịt, uống rượu chung vui với dân làng trong ngày Lễ cầu an hôm nay. Cầu mong trong những năm tiếp theo, dân làng chúng tôi được gặp nhiều may mắn, cho mưa thuận gió hòa, làm rẫy thu nhiều lúa, bắp, khoai…chất đầy nhà kho; chăn nuôi trâu, bò, heo, dê, gà phát triển chật làng, đầy cánh rừng… để bà con láng giềng được nhờ cứu giúp trong đời sống. Dân làng chúng tôi được bình an vô sự, có của ăn của để và có cuộc sống sung túc, trù phú, đoàn kết một lòng, yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong những ngày hoạn nạn hay ngày vui, một ý chí gây dựng thôn làng và không bao giờ xảy ra xung đột trong làng…

Già làng làm lễ xong, dân làng bắt đầu hòa nhập vào không khí phần hội uống rượu mừng. Những tiếng hò reo, mời mọc, chúc tụng nhau cùng với những điệu múa xoang uyển chuyển của các cô gái Ba Na (Rơ Ngao) hòa quyện với nhịp cồng chiêng hào hùng của các chàng trai càng tăng thêm sự nhộn nhịp, sôi động của lễ hội.

Với nét văn hóa dân gian độc đáo của Lễ hội cầu an, người Ba Na (nhánh Rơ Ngao) ở làng Đăk Wơt luôn luôn gìn giữ, kế thừa và phát huy; thế hệ đi trước truyền dạy cho thế hệ trẻ.

Chia sẻ với chúng tôi, ông A Hliuh, 70 tuổi, nghệ nhân cồng chiêng bộc bạch: Nghệ thuật cồng chiêng, múa xoang không thể thiếu trong các dịp dân làng tổ chức các nghi lễ cúng cầu an, mừng giọt nước, mừng lúa mới… Tôi biết đánh cồng chiêng từ năm mười mấy tuổi, học được từ cha và mấy nghệ nhân trong làng. Lễ hội cầu an không thể thiếu tiếng cồng, tiếng chiêng và múa xoang.

Còn em Y Sương, 15 tuổi, nghệ nhân múa xoang phấn khởi cho hay: Chúng em rất tích cực tham gia các lớp truyền dạy cồng chiêng, múa xoang do ngành Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức. Được tham gia tái hiện Lễ cầu an, đội nghệ nhân cồng chiêng làng Đăk Wơt luôn mang đến cho du khách trong nước và nước ngoài những ấn tượng khó quên, điều đó làm cho chúng em rất hãnh diện và tự hào về văn hóa của dân tộc mình.

Thảo Nguyên

Khèn - biểu tượng văn hóa của người Mông

đăng 17:59, 19 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Vừa là nhạc cụ, vừa là đạo cụ, khèn của người Mông cũng vừa là nhạc khí thiêng kết nối giữa cõi trần và thế giới tâm linh nhưng cũng là phương tiện kết nối cộng đồng, chia sẻ tâm tư tình cảm, giúp chủ thể văn hóa thăng hoa với tinh thần lạc quan yêu đời.

Từ trong truyền thuyết

Trong truyền thuyết truyền miệng của người Mông, nguồn gốc chiếc khèn được kể về một gia đình có 6 người con, ai cũng hát hay, sáo giỏi. Tiếng sáo của 6 anh em lại rời rạc khi không khi thổi cùng nhau. Khi cùng nhau thổi, tiếng sáo cất như vi vút như cây rừng gặp gió, véo von như chim trên cành và rì rào như suối reo, ào ạt như thác đổ. Đến khi họ đều có gia đình, những lúc không hợp đủ cả 6 người, tiếng sáo trở nên rời rạc, lạc điệu. Họ đã bàn nhau chế tác ra thứ nhạc cụ hợp nhất nhiều thứ. Người anh cả nghĩ ra cái bầu, anh thứ hai nghĩ ra ống thổi dài, 4 người còn lại nghĩ ra những ống thổi tiếp theo. Tất cả là 6 ống, thay cho 6 anh em. Lạ thay, thứ nhạc cụ lạ lùng ấy khi hoàn thiện, thổi lên tạo ra nhiều tầng âm thanh có sức quyến rũ kỳ lạ… Đó là chiếc khèn Mông ngày nay.

Diễn tấu khèn Mông. 


Bên cạnh đó cũng có những dị bản về truyền thuyết này, như câu chuyện về cái chết của vợ chồng già trong gia đình có sáu người con. Một ngày, khi đang ở nhà chờ các con đi nương về, đôi vợ chồng bị một cơn lũ cuốn trôi đi mất. Vì thương nhớ cha mẹ, sáu người con thảm thiết khóc lóc suốt chín ngày đêm. Khi giọng bị tắt, họ vào rừng để lấy ống trúc về thổi thay cho tiếng khóc. Cảm động về tình cảm của những người con hiếu thảo, thần núi đã ban tặng cho họ bí quyết để họ làm nên chiếc khèn có sáu ống nứa dài ngắn khác nhau, tượng trưng cho độ tuổi của sáu anh em. Từ đó, cây khèn giúp họ gửi gắm lời yêu thương và làm vơi bớt nỗi khổ đau vì mất cha mẹ. 

Dù những truyền thuyết có khác nhau về các chi tiết nhưng đều phản ánh những giá trị cốt lõi của chủ thể văn hóa về lòng hiếu thảo, tình cảm gia đình, sự kết nối cộng đồng. Hơn thế nữa, truyền thuyết cũng lý giải về chức năng ban đầu với tư cách là nhạc khí thiêng bên cạnh chức năng giải trí đại chúng của khèn. 

Chế tác khèn . 


Việc chế tác, diễn tấu khèn được người Mông coi là chuẩn mực đánh giá phẩm chất, tài năng của đàn ông. Theo TS.Trần Hữu Sơn, Phó Chủ tịch Hội văn nghệ dân gian chia sẻ: Trong cộng đồng người Mông, cùng với thầy cúng, thợ rèn, người làm khèn Mông – thầy khèn luôn được đồng bào kính trọng. Điều đó đã khẳng định vị trí của cây khèn trong đời sống của người Mông. Đây chính là nguồn cội tạo nên sức sống bền bỉ vượt thời gian của nhạc cụ độc đáo này.

Sự độc đáo của khèn Mông

Khèn trong cuộc sống của người Mông là một nhạc cụ không thể thiếu và là một phần quan trọng tạo nên nét văn hóa đặc sắc của đồng bào. Khèn có mặt hầu hết trong mọi mặt đời sống sinh hoạt, văn hóa và tâm linh của người Mông. Là một loại nhạc cụ độc đáo, không chỉ bởi tính đại chúng của nó mà còn bởi đó vừa là nhạc cụ, vừa là đạo cụ. Khèn là nhạc khí thiêng kết nối giữa cõi trần và thế giới tâm linh, được sử diễn tấu trong tang ma nhưng cũng là phương tiện kết nối cộng đồng, chia sẻ tâm tư tình cảm, giúp chủ thể văn hóa thăng hoa với tinh thần lạc quan yêu đời. Ngay cả cấu tạo, quy đình chế tác nhạc cụ này cũng hết sức độc đáo.

Diễn tấu khèn Mông. 


Dù mang tính đại chúng nhưng người diễn tấu khèn lại dành đặc quyền của nam giới. Với nam giới, ngay khi còn nhỏ đã được hướng đến việc phải học hỏi cách diễn tấu khèn để khi hơn 10 tuổi đều có cây khèn trên vai khi lên nương, xuống chợ. Người Mông khi buồn, khi vui đều mang khèn diễn tấu, đều nghe khèn và tâm tư, tình cảm cũng như nhu cầu, giao tiếp, kết nối của mình qua tiếng khèn. 

Dù việc chế tác hay diễn tấu khèn là độc quyền của nam giới nhưng việc thưởng thức, thụ hưởng nhạc điệu của nó lại dành cho cả cộng đồng, không phân biệt tuổi tác, địa vị. Sự cảm nhận âm nhạc từ nhạc cụ này đã khẳng định trình độ thẩm âm và thẩm mỹ khá cao của người Mông. Chỉ cần nghe tiếng khèn Mông cất lên, cả cộng đồng sẽ hướng tới, hòa mình vào từng giai điệu – dù buồn hay vui – tạo sự cộng cảm đặc biệt. 

Khèn Mông độc đáo bởi hình dạng, cấu tạo và chức năng tạo âm thanh của nó. Âm thanh được phát ra theo cả luồng hơi thổi ra, hít vào. Khèn có 6 ống làm từ 1 loại trúc gắn trên 1 cái bầu bằng gỗ khoét rỗng, kết nối bằng nhựa cây và vỏ cây đào rừng. Thứ duy nhất từ kim loại là lam đồng (lưỡi gà). Mọi công đoạn đều làm thủ công với những dụng cụ đồng bào tự chế. Bầu đàn thường được làm từ loại gỗ thông như thông đá, kim giao hoặc pơ mu. Chế tác khèn cũng vô cùng độc đáo, không có quy chuẩn chung. Các nghệ nhân làm khèn đều đo bằng tay và ngắm bằng mắt để chế tác. Không có nguyên tắc chung nhưng để có được cây khèn ưng ý, thổi được đúng các làn điệu dân ca Mông, cần sự khéo léo, kiên nhẫn và kinh nghiệm. Vì vậy, có thể nhiều người học diễn tấu được nhưng chế tác nó thì không nhiều. 

Diễn tấu khèn là cả một nghệ thuật hết sức độc đáo bởi nhạc cụ này không chỉ để thổi mà còn để nhảy múa với sự biến hóa vô cùng sinh động mà không chỉ đòi hỏi sự khéo léo mà còn đòi hỏi cả sức khỏe vì có cả những động tác nhào lộn, trồng chuối...

Song hành suốt cả vòng đời của người Mông chính là tiếng khèn. Trong các lễ hội mùa vụ và vòng đời, tiếng khèn vừa là tiếng nói tâm linh kết nối với thần linh, tổ tiên, vừa là âm thanh vui vẻ kết nối cộng đồng để giải tỏa những khúc mắc, buồn lo...

Trần Quang Giới

Độc đáo phiên chợ trâu lớn nhất vùng Tây Bắc

đăng 06:56, 14 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Sáng chủ nhật hàng tuần, người dân khắp vùng lại nô nức đổ về Bắc Hà (Lào Cai) để tham dự phiên chợ trâu lớn nhất Tây Bắc. Chợ họp trên khu đất rộng cả nghìn mét vuông “ken đặc” trâu. Cảnh người mua, kẻ bán diễn ra tấp nập từ sáng sớm cho đến lúc chiều tà. 

Chợ trâu Bắc Hà 

Chợ trâu Bắc Hà (Lào Cai) nổi tiếng và là phiên chợ trâu lớn nhất vùng Tây Bắc. Chợ họp vào sáng chủ nhật hàng tuần và kết thúc chiều cùng ngày. 


Phiên chợ trâu diễn ra trên khu đất rộng hàng nghìn mét vuông, nằm ngay bên bờ sông cách trung tâm thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà (Lào Cai) chưa đầy cây số. Từ sáng sớm cho đến lúc tan chợ, khu đất này lúc nào cũng "ken đặc" trâu. 


Vào ngày diễn ra phiên chợ, người dân khắp vùng lại nô nức kéo nhau đến chợ trâu tham dự. Người mua, kẻ bán làm cho không khí nhộn nhịp khắp một vùng. 


Đưa trâu đến chợ bán đa số là bà con dân bản, nhà nào có trâu bán thì đem xuống chợ. Có những hộ ở cách chợ cả chục kilomet phải đi từ lúc 4h sáng để kịp phiên chợ. 


Chợ trâu họp rất sớm, từ mờ sáng khi mây mù vẫn chưa rời các đỉnh núi chợ đã có người đem trâu đến và đến lúc trời sáng thì tấp nập người đến mua. 


Người dân vùng cao xem "con trâu là đầu cơ nghiêp" nên gia đình nào cũng cần có một con trâu để sản xuất nông nghiệp, vì thế phiên chợ trâu là nơi mua bán quan trọng với bà con vùng cao Bắc Hà. 


Xưa kia, phiên chợ trâu đa số là trâu của bà con trong vùng đưa đến. Tuy nhiên, ngày nay trước sự nhộp nhịp của chợ trâu, nhiều thương lái cũng đã đưa trâu từ Nghệ An, Thanh Hóa ra tham dự phiên chợ tạo nên sự đa dạng của phiên chợ trâu lớn nhất vùng Tây Bắc. 


Trâu đem đến chợ bán đủ chủng loại, vùng miền, độ tuổi khác nhau. Trâu nái có, trâu đực có, trâu già có, ghé con cũng có. 


Trâu ở chợ Bắc Hà thường được chia ra các loại mặt hàng như trâu mua về để sinh sản, mua về để sản xuất, mua về để tham dự trọi trâu, hay mua về để giết thịt... 


Nhiều con trâu màu mạc cũng được mang xuống chợ bán. Giá trâu màu lông trắng, da hồng này thường cao hơn các loại trâu đen. Trong ảnh, một con trâu nái được bán kèm theo nghé con. 


Một em bé theo bố xuống chợ bán trâu. Nhiều hộ dân ở Bắc Hà sống chủ yếu bằng nghề nuôi trâu nên việc tham dự phiên chợ trâu để bán hàng diễn ra hàng tuần, đây được xem như công việc thường xuyên của họ. 


Nhiều người dân đến chợ mua trâu về nuôi sinh sản hay để phục vụ sản xuất thường xem rất kỹ để chọn trâu. Các chi tiết như chân, sừng, khoang khoáy... được lấy làm tiêu chí chọn trâu. 


Đôi vợ chồng đến tận một xe chuyên chở trâu từ nơi khác đến chợ để chọn hàng. 


Tại phiên chợ, cảnh mua bán diễn ra tấp nập. Người đi mua trâu cũng nhiều mà người đến chợ xem, đi chợ trâu cho vui cũng không ít. Phiên chợ nổi tiếng này ngày nay cũng đã thu hút rất đông khác đến tham quan. 


Ngay tại "sàn giao dịch trâu lớn nhất Tây Bắc" việc mua bán được trao đổi bằng tiền mặt, tiện lợi mà nhanh chóng. Giá cả của từng con trâu cũng được trả nhanh gọn "thuận mua vừa bán". 


Tùy thuộc từng con trâu to nhỏ, tuổi đời, đực hay cái để định giá khác nhau. Trâu giá rẻ cũng từ 15 - 20 triệu đồng, có con đắt lên đến 60 triệu đồng. 


Phiên chợ trâu họp từ sáng sớm cho đến lúc chiều tà. Trong thời gian họp, người mua được trâu thì mang về luôn. Trâu được người bán mang đến chợ, người mua đem đi, cứ thay nhau luân phiên khiến cho phiên chợ lúc nào cũng tấp tập người mua kẻ bán. 


Nhiều người đến phiên chợ trâu để xem cho vui. Ông Giàng Seo Nử một người đến xem chợ châu chia sẻ: "Tuần nào chợ phiên Bắc Hà họp tôi xuống chợ cũng đến chợ trâu để chơi, ngắm trâu cho vui. Ngoài xem những con trâu đẹp, còn để nắm bắt giá cả trâu biến đổi theo từng ngày". 


Trâu "ken đặc" cả một khu đất rộng hàng nghìn mét vuông ở chợ trâu Bắc Hà. 


Trâu nằm la liệt khắp nơi chờ người mua. 


Một người phụ nữ Mông đem trâu xuống chợ bán chờ người mua. 


Chợ trâu Bắc Hà (Lào Cai) là chợ trâu lớn nhất ở vùng Tây Bắc. Phiên chợ diễn ra từ xưa đến nay và vẫn giữ nguyên giá trị độc đáo của bà con vùng cao. 


Thái Bá

Những điều chưa biết về gạch Bát Tràng

đăng 01:49, 12 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Những ngôi nhà xây bằng gạch Bát Tràng từng là biểu hiện của sự giàu có, sung túc. Nhiều chàng trai xưa còn dùng loại vật liệu này để gây chú ý với cô gái mà mình muốn kết hôn.

Lò gốm cổ nhất Hà thành

Lò gốm cổ còn sót lại ở Bát Tràng


Làng Bát Tràng (Gia Lâm) cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km. Trước đây phần lớn người dân nung gốm bằng lò bầu. Trước thập niên 90 của thế kỷ 20, cả làng có khoảng 20 lò bầu nhưng hiện chỉ còn duy nhất một lò cổ.

Lò bầu nung gốm giống những mảnh vỏ sò úp ngược


Ông Phạm Văn May - CT UBND xã Bát Tràng cho biết, lò bầu có tổng diện tích hơn 1000 m2, dài khoảng 15m. Tất cả các lò bầu đều sử dụng củi để đốt.

Sau khi người thợ xong công đoạn nặn gốm, các sản phẩm được phơi khô, xếp vào lò. Lúc này lò sẽ được đậy kín, nung từ 1 - 3 ngày tùy theo sản phẩm. Lò bầu có kiến trúc vòm cuốn liên tiếp, tựa vào nhau như những mảnh vỏ sò úp ngược.

Thực chất đây là hệ thống các lò nung được nối với nhau. Mỗi lò có từ 4 - 20 bầu (buồng nung).

Quá trình nung, nhiệt độ của lò có thể đạt tới 1.300 độ C. Vì vậy, các vòm cuốn của lò được xây bằng gạch chịu lửa.

Lò bầu sử dụng lượng củi lớn để đun


Ông May chia sẻ, với cấu tạo đơn giản, lò bầu đã từng rất phổ biến tại làng gốm Bát Tràng. Trải qua thời gian, với sự phát triển của công nghệ hiện đại, các lò gốm như vậy đã bị phá bỏ. 

Lý giải sự mai một của loại lò này, ông May thông tin thêm: ‘Để vận hành lò bầu, tốn rất nhiều thời gian và củi. Hơn nữa, người điều chỉnh nhiệt độ trong lò phải có trình độ cao, là thợ lành nghề, kinh nghiệm lâu năm nếu không mẻ gốm có thể bị hỏng vì nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp.

Thời gian nung lâu, năng suất thấp cùng sự phát triển của công nghệ nung mới cũng là nguyên nhân những lò gốm như vậy mất vị thế và bị phá bỏ’.



Vị chủ tịch xã cho hay, lần cuối cùng lò bầu cổ làng Bát Tràng hoạt động là năm 1990. Gần 30 năm không sử dụng nhưng đến nay lò gốm không hề bị rêu mốc phủ lên.

Bên cạnh lò bầu cổ, làng Bát Tràng còn nổi tiếng với loại gạch ‘trai xưa tìm mua về cưới vợ’.

Bí ẩn loại gạch ‘trai xưa tìm mua về cưới vợ’

Bước chân trên những con ngõ nhỏ quanh co ở làng cổ Bát Tràng, du khách sẽ được chìm đắm trong một không gian thanh bình, yên ả.

Nơi đây không chỉ là địa danh nức tiếng về nghề sản xuất đồ gốm, có truyền thống hàng trăm năm mà còn được biết đến với sản phẩm đặc biệt: ‘Gạch Bát Tràng’.


Theo một số người dân trong làng, gạch Bát Tràng cổ có đặc điểm: ‘Gạch không bị bám rêu mốc sau thời gian dài sử dụng, có tác dụng cách nhiệt tốt.

Những căn nhà xây bằng loại gạch này có độ bền chắc, mùa hè sẽ cảm nhận rõ sự mát mẻ, mùa đông ấm áp’.

Gạch Bát Tràng


Ông Phạm Văn May - Chủ tịch xã thông tin, gạch Bát Tràng không chỉ dùng xây nhà mà hàng trăm năm trước từng được dùng để xây thành và một số công trình kiến trúc lớn. Trong đó có thông tin, gạch Bát Tràng được dùng tại Hoàng thành Thăng Long và kinh thành Huế.

Gạch Bát Tràng được nung đi nung lại cùng hàng gốm sứ. Nguyên liệu làm gạch là đất sét trắng có khả năng chịu nhiệt. Do được nung ở nhiệt độ cao trong một thời gian dài nên gạch có thể chịu được những va đập mạnh.

‘Hiện nay ở Bát Tràng không còn hộ nào sản xuất gạch Bát Tràng. Một số người ở nơi khác tìm hiểu công thức làm, sản xuất và đưa ra thị trường loại gạch mang thương hiệu Bát Tràng. Tuy nhiên, sản phẩm đó không hoàn toàn giống gạch Bát Tràng cổ’, ông May khẳng định.

Lò bầu xây bằng gạch Bát Tràng. Trải qua quá trình nung ở biệt độ cao nhiều lần, gạch trở lên đanh, không bị bám rêu mốc


Vị chủ tịch xã tiết lộ, khởi nguồn, người dân Bát Tràng xưa không chủ ý sản xuất gạch xây nhà mà họ dùng loại gạch này làm vỏ bao quanh đồ gốm.

‘Thợ gốm Bát Tràng lấy 6 viên gạch (gạch Bát Tràng) xếp xung quanh sản phẩm gốm. Lớp gạch này như một vỏ bọc để giúp sản phẩm không bị bụi, muội và táp lửa.

Một viên gạch được dùng làm vỏ nhiều lần, nung đi nung lại. Qua các làn nung đó bề mặt gạch càng thêm đanh, chắc, còn có lớp nhựa chảy ra như men, giúp gạch không bị ngấm nước. Đó là nguyên nhân vì sao gạch Bát Tràng không bị rêu mốc bám. Thấy gạch đó tốt, người dân mang về lát nền, xây nhà và sản xuất đại trà.

Có thời điểm, những ngôi nhà được dùng gạch Bát Tràng lát sân là biểu hiện của sự giàu có, sung túc của một gia đình.

Các chàng trai khi tỏ tình với cô gái mình thích thường nhắn nhủ: ‘Ước gì anh lấy được nàng/Để anh mua gạch Bát Tràng về xây/Xây dọc rồi lại xây ngang/Xây cầu bán nguyệt cho nàng rửa chân’.

Lò nung gốm bằng gas


‘Bây giờ các lò bầu đã được thay thế bằng lò gas, việc sử dụng lò nung bằng gas giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm tiêu hao nhiên liệu, chi phí sản xuất và tiết kiệm thời gian nung.

Tuy nhiên, từ khi lò gas ra đời, việc sản xuất gạch Bát Tràng dần bị mai một. Nếu sản xuất, chất lượng cũng không đạt yêu cầu. Vì gạch Bát Tràng đòi hỏi phải nung nhiều lần, trong khoảng thời gian dài. Nếu nung một ngày, không đạt chất lượng sản phẩm như gạch cổ. 

Trong khi đó, lò gas có kích thước nhỏ, thời gian nung khoảng 13 tiếng. Nếu nung gạch, mỗi mẻ chỉ nung được số lượng rất ít. Như vậy vừa không đảm bảo được chất lượng cũng như số lượng của sản phẩm gạch, hiệu suất kinh tế không cao', ông May nói.

Hoài Anh - Huy Hùng

Giá trị nhân văn trong lễ cưới truyền thống của người M’nông

đăng 04:59, 9 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ngoài những nghi lễ liên quan đến lao động, sản xuất, người M’nông còn có hệ thống nghi lễ liên quan đến vòng đời người như: lễ mừng sức khỏe, lễ đặt tên cho con, lễ trưởng thành, lễ cưới… Trong đó, lễ cưới bao gồm các bước: dạm ngõ, ăn hỏi, cưới, lại mặt. 

Quá trình cộng cư, giao lưu văn hóa và hội nhập đời sống hiện đại, lễ cưới của người M’nông có sự thay đổi theo hướng tối giản hơn, nhiều hủ tục xóa bỏ. Mặc dù vậy, một số nghi thức truyền thống độc đáo vẫn được người M’nông lưu giữ, chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc.

Nhà trai chuẩn bị lễ vật đến hỏi cưới cô gái 


Trong lễ cưới của người M’nông, giá trị nhân văn thể hiện qua nhiều khía cạnh, nhưng nhìn chung đều có thể thấy việc đề cao những giá trị đẹp đẽ của con người. Tính nhân văn được thể hiện qua các giá trị của vẻ đẹp tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, hướng đến khẳng định và đề cao giá trị con người... 

Tính nhân văn đầu tiên thể hiện ở cách hành xử của hai bên gia đình trong lễ dạm ngõ, được tiến hành trước lễ cưới 1 – 3 năm. Sau khi đôi trai gái quen biết nhau, cảm thấy ưng nhau thì cha mẹ chàng trai và người có trách nhiệm sẽ đến nhà cô gái để ướm hỏi cho con trai mình. Chuyến đi thực hiện vào lúc xẩm tối với lý do nếu bị nhà gái từ chối, họ ra về không bị xấu hổ bởi trong bon làng vắng vẻ, trời tối sẽ không nhìn rõ mặt… 

Dù cuộc dạm ngõ thành công hay không, trước tiên nhà gái sẽ mời nhà trai ăn một bữa cơm tối. Sau khi ăn cơm xong, đại diện nhà trai bày lên chiếc nia một bát gạo trắng, một con gà nướng, một chiếc vòng cườm đeo cổ, một chiếc váy. Đồng thời, họ thay mặt chàng trai ngỏ lời hỏi cưới cô gái làm vợ. 

Hai bên gia đình đọc gia phả để tránh việc lấy cùng người trong dòng họ. Khi không có trở ngại gì, nhà gái hỏi ý kiến con gái mình trước mặt hai bên gia đình. Nếu cô gái ưng thuận, lễ vật của nhà trai sẽ được nhận. Lúc này, cha mẹ cô gái sẽ lấy chén máu gà pha với rượu bôi lên cột nhà chính để khấn thần linh báo cáo về việc kết hôn của con cái trong gia đình. Hai bên gia đình uống rượu cần và bàn về việc tổ chức lễ ăn hỏi. 

Các nghi thức diễn ra trước sự chứng kiến của hai bên gia đình và cộng đồng 


Sau thời gian đã định, chàng trai và cô gái vẫn khẳng định yêu nhau thì hai bên gia đình sẽ tiến hành lễ ăn hỏi. Mọi nghi thức trong lễ này đều nhằm mục đích mong muốn cho đôi trai gái được đến với nhau, xây dựng gia đình hạnh phúc. Đây là một trong những ý nghĩa mang tính nhân văn sâu sắc trong lễ cưới của người M’nông. 

Giá trị nhân văn ở đây là giá trị vì con người, lấy con người làm trung tâm, chủ thể để hướng tới sự phát triển và hoàn thiện con người. Vì vậy, trong lễ này, một lần nữa hai bên gia đình hỏi lại ý kiến của đôi trai gái có gì thay đổi không trước khi chính thức tiến hành nhận lễ vật. 

Lễ vật mà nhà trai mang đến gồm heo, gà, ché rượu, gạo trắng, con dao, chiếc lao, chiếc lược chải tóc bằng sừng trâu… Khi đoàn nhà trai ra khỏi cửa hoặc cổng làng, người dẫn đầu (bà mối hoặc bố chàng trai) sẽ đọc lời khấn cầu các vị thần linh phù hộ cho cặp vợ chồng trẻ gặp nhiều may mắn, hạnh phúc, con cái trưởng thành giỏi giang… 

Trên đường đi hỏi vợ, nếu gặp những dấu hiệu không lành như vượn kêu, quạ kêu, chim ó bay ngang đường, rắn bò ngang đường… thì đoàn hỏi vợ phải quay về đợi đến hôm sau khởi hành. Sự hiểu biết, tôn trọng thiên nhiên và khát vọng chinh phục, chế ngự, giải thích thiên nhiên hiển hiện trong đời sống tâm linh của người M’nông. Đây cũng là một trong những khía cạnh thể hiện tính nhân văn trong lễ cưới cũng như một số nghi lễ khác của người M’nông. 

Nghi thức trùm chăn trong lễ cưới M'nông 


Lễ ăn hỏi còn có các nghi thức đặc biệt như hát đối đáp giữa bà mối và bố cô gái; nhà gái nhận lễ vật nhà trai trao; nhà gái làm lễ cúng thần linh, tổ tiên; chàng trai cô gái mời rượu hai bên gia đình, họ hàng; nhà gái bàn bạc tính công nuôi dưỡng cô dâu để thách đố lễ vật đối với nhà trai xin làm lễ cưới; hai bên giao ước về lễ cưới; nhà gái đáp lễ và tiễn nhà trai ra về… 

Người M’nông có tập tục làm lễ cưới liền với lễ ăn hỏi. Các nghi thức trong lễ cưới có nhiều nét tương đồng với lễ ăn hỏi. Nhà trai sẽ mang lễ vật đến nhà gái. Nhà gái cử người đại diện kiểm tra số lễ vật mang đến, nếu đủ sẽ lấy xà gạc gõ vào đầu chú heo để xác nhận. Nhà gái tiến hành làm lễ cúng thần linh. Già làng cùng bố cô dâu khấn các vị thần linh bên ché rượu cần, cầu chúc cho đôi vợ chồng trẻ sống với nhau hạnh phúc lâu dài. 

Nghi thức uống rượu cần của những người có mặt chứng kiến trong niềm vui hân hoan của đôi vợ chồng trẻ. Tục trùm chăn diễn ra sau đó cũng để chúc phúc và chính thức công nhận đôi vợ chồng mới trong cộng đồng. Lễ ăn gà trong ngày cưới là nghi lễ hai vợ chồng đút cơm cho nhau, thể hiện tình cảm gắn bó của hai vợ chồng. Họ phải ăn hết bát cơm, không được bỏ dở để thể hiện sự trân trọng từng hạt gạo làm ra cũng như mong muốn mọi điều trong cuộc sống đều được trọn vẹn. 

Tiếp đến, đôi vợ chồng sẽ đút thịt, mời rượu và tặng quà (xâu cườm, vòng đồng, váy, khố…) cho mọi người tham dự buổi lễ để bày tỏ sự sẻ chia, lòng tôn kính và biết ơn. Lễ vật từ đôi bàn tay cần cù làm ra mà nhà trai mang đến như heo, gà, gạo… trong lễ ăn hỏi hay lễ cưới đều được gia chủ đem chia cho các gia đình người M’nông trong bon làng, kể cả những người không đến tham gia được. 

Tính nhân văn một lần nữa được thể hiện rõ trong suy nghĩ, lối hành xử của mỗi thành viên đối với cộng đồng người M’nông. Hai bên gia đình còn giao kết về những trường hợp có thể xảy ra trong cuộc sống của đôi vợ chồng sau này. Trong không khí vui vẻ, đầm ấm, mọi người cùng nhau vui hát đối đáp, nhảy múa điệu chúc mừng. 

Cô dâu chú rể mời cơm, rượu và tặng quà cho họ hàng hai bên gia đình 


Người M’nông đã biết tích lũy kinh nghiệm sống và phát triển chúng để trở thành bản sắc văn hóa đặc sắc. Các nghi thức, cư xử trong lễ cưới thể hiện rất sinh động, biện chứng trong quan niệm nhân sinh, đồng thời, nó cũng thể hiện cả những yếu tố tâm linh của người M’nông và sự ứng xử giàu tính nhân văn trong cuộc sống cộng đồng từ thuở xa xưa. Tất cả dựa trên sự yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và giúp nhau xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn. 

Bài, ảnh: H’Mai

Lễ mừng nhà Rông mới của người Bahnar

đăng 01:47, 7 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đối với cư dân Bắc Tây Nguyên nói chung, nghi lễ mừng nhà Rông mới được coi là lễ hội lớn nhất trong các nghi lễ của người Bahnar. Lễ hội này được tiến hành ở nhà Rông của làng nơi cộng đồng dân tộc Bahnar sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hội họp và là địa điểm để phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất đến bà con nhân dân. 

Nghi lễ mừng nhà Rông mới là dịp để toàn thể dân làng thực hiện lời hứa và trả ơn thần linh về những giúp đỡ của các thần linh đối với cộng đồng dân làng. 

Trong khi thực hiện nghi lễ, già làng sẽ khấn, cầu xin thần linh tiếp tục giúp đỡ để cả cộng đồng được mạnh khỏe, bình yên và có những mùa vụ sắp tới tốt tươi. Cộng đồng dân làng thường dùng 2 con heo, 3 con gà và từ 5-6 ghè rượu cần để tế thần linh trong nghi lễ này. Mỗi hộ gia đình thường đóng góp một ghè rượu để cột vào các cột trong nhà Rông mới nhằm cùng chung vui với dân làng.

Điều hành công việc tế lễ mừng nhà Rông mới của người Bahnar là những già có uy tín trong làng và do một già làng (Bok Kra) đứng đầu. Dân làng tin rằng, Bok Kra là người được thần linh thừa nhận, giao trọng trách hướng dẫn bà con trong làng nên uy tín rất cao. 

Khi tiếng chiêng báo hiệu cất lên, mọi người trong buôn từ già, trẻ, gái, trai đều tập trung về khu vực nhà Rông để chuẩn bị làm lễ.


Các già làng chuẩn bị những lễ vật cho lễ cúng mừng nhà rông mới.


Cây nêu được dựng trước cửa nhà rông chuẩn bị cho lễ cúng.


Những vật phẩm được chuẩn bị cho lễ cúng trước cửa nhà rông.


Các già làng thực hiện nghi lễ.


Rượu cần và thịt được chuẩn bị bên trong nhà rông.


Quang cảnh nơi làm lễ bên trong nhà rông.


Các già làng làm nghi lễ cúng trong nhà rông và thực hiện nghi thức uống rượu cần.


Đội cồng chiêng nhí người Bahnar vừa đi xung quanh các già làng vừa diễn tấu cồng chiêng trong lúc diễn ra các nghi thức cúng mừng nhà Rông mới.


Già làng làm phép lên những chi tiết bên trong nhà Rông.


Sau khi kết thúc nghi lễ cúng mừng bên trong, mọi người cùng tập trung trước nhà Rông để tiếp tục làm lễ.


Các nghệ nhân nhí đánh cồng chiêng


Các già làng và người dân thưởng thức rượu cần trước nhà Rông.


Đội cồng chiêng diễn tấu trong suốt quá trình diễn ra nghi lễ cúng mừng nhà Rông mới.


Sau khi kết thúc lễ cúng mừng nhà rông mới, các già làng, nghệ nhân cồng chiêng và du khách tạo thành vòng xoang cồng chiêng, nhảy múa và thưởng thức rượu cần.


Khi nhà Rông được cả làng chung tay hoàn thành, già làng sẽ tập hợp các già khác trong làng lên nhà Rông và bàn bạc thống nhất vật chất hiến tế và chọn thời gian phù hợp để làm lễ mừng nhà Rông mới.

Theo truyền thống, già làng và những người giúp việc dựng một giàn tế nhỏ ngay dưới chân cầu thang nhà Rông để làm lễ thông báo với ông bà tổ tiên về lễ hội được tiến hành. Lễ vật dâng cúng là 2 con heo, 3 con gà và 6 ghè rượu.

Sau khi 3 già làng có uy tín cùng đọc lời khấn tổ tiến, già làng chính lấy huyết gà trộn với rượu khấn ngay chân nhà Rông. Thanh niên trong làng chuẩn bị nến, ghè, chén đồng, bầu và ghè rượu, thịt rượu bố trí theo đúng yêu cầu của già làng. Theo đó, ghè rượu cúng tế thần linh được cột ngay chính giữa nhà Rông, vị trí quan trọng nhất. Ghè rượu thứ 2 được cột chỗ dựng cây Nêu có sẵn trong nhà Rông và sau đó các ghè của hộ gia đình cột nối theo.

Công tác chuẩn bị xong, những người già có uy tín trong làng bắt đầu làm lễ khấn báo lên ông bà tổ tiên. Hướng về phía mặt trời mọc, đồng thanh đọc lời khấn, sau đó già làng lấy rượu pha với huyết đổ từng cột nhà Rông, đọc lời khấn, rồi các già làng cùng nhau uống rượu trước.

Sau khi làm xong những nghi lễ ở ngoài sân, các già làng tiến vào nhà rông, buộc 1 ghè rượu cúng vào cây Nêu cố định có sẵn đã được trang trí ở chính giữa nhà Rông đối diện cửa ra vào. Và dàn trống chiêng, xoang bắt đầu đánh, múa 3 vòng quanh sân nhà Rông.

Cúng khoảng 45 phút các già làng di chuyển để thực hiện những công việc có tính chất nghi lễ tiếp theo: Rượu hòa với huyết sẽ được dùng làm nước tẩy rửa những vật linh thiêng (lấy rượu với huyết quét lên từng cột nhà Rông) sau đó cái bầu đựng huyết với rượu được cất giữ trong nhà Rông.

Cuộc vui với những điệu xoang uyển chuyển và điệu cồng chiêng rộn ràng vẫn tiếp tục như thế trong vòng 3 ngày.

Ngày nay, dù cuộc sống có nhiều đổi thay nhưng lễ cúng nhà Rông mới của người Bahnar ở Tây Nguyên vẫn được tổ chức, góp phần bảo tồn, gìn giữ, quảng bá một nét đẹp trong đời sống văn hóa các dân tộc Tây Nguyên.

Thực hiện: Công Đạt

Độc đáo nhà nửa sàn nửa đất của người Dao

đăng 05:07, 29 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Sống ở miền núi, trong môi trường tự nhiên có rừng cây, đồng bào người Dao đã dùng các loại cây gỗ, tre nứa, lá để làm nhà ở. Đây là các loại cây mọc tự nhiên trong rừng nơi nào cũng sẵn, đồng bào chỉ việc vào rừng lấy về, gia công thành cột, kèo, xà rồi dựng thành nhà ở.

Cấu trúc ngôi nhà

Nhà truyền thống người Dao (Nga Hoàng, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) là nhà nửa sàn, nửa đất, tiếng Dao gọi là “gẳng pằng gẳng thin’’. Nhà được làm trên nền đất dốc, phổ biến là nhà ngoãm nên vì kèo đơn giản. 


Khi xưa còn khó khăn về kinh tế và do tập quán sống du canh du cư, phần lớn nhà ở của người Dao Quần Chẹt ở đây đều thuộc dạng nhà cột ngoãm, 3 gian nhưng cũng đạt tới trình độ vì ngoãm hay còn gọi là vì kèo. Nhà có 12 cột, 4 vì ngoãm, 2 mái. Mỗi vì ngoãm có 3 cột (1 cột cái ở giữa, 2 cột quân ở 2 bên), 1 quá giang và 1 bộ kèo đơn. Loại nhà cột ngoãm có đặc điểm là tất cả các cột đều chôn sâu xuống đất. Trong mỗi vì ngoãm 2 đầu quá giang được gác lên ngoãm ở đầu của 2 cột quân rồi buộc chắc chắn bằng dây rừng, tiếp theo tại chỗ ngoãm của cột quân người ta buộc kèo. Riêng cột nóc còn được buộc chặt với quá giang tại điểm giao giữa cột đó với quá giang. Tuy nhiên cũng có trường hợp người ta gác 2 chiếc xà dọc bằng đoạn cây lên 2 đầu của tất cả quá giang tại chỗ ngoãm của hai hàng cột con, sau đó mới đặt kèo lên xà ngang tại chỗ ngoãm của cột quân.

Nhà của người Dao có 12 cột, 4 vì ngoãm, 2 mái. 


Với loại nhà cột ngoãm, toàn bộ khung nhà gồm các cột, quá giang, kèo và xà ngang thường làm bằng gỗ. Bộ xương mái thường có sự kết hợp giữa tre và gỗ hoặc hoàn toàn bằng tre. Xung quanh nhà cũng như phần cần được ngăn cách ở trong nhà được thưng bằng những tấm phên mai hoặc phên nứa. Nhà truyền thống của người Dao hầu như không có cửa sổ, có ngôi nhà toàn bộ từ cột, quá giang, kèo cho đến tấm lợp đều làm bằng tre. Thuộc loại này chủ yếu là những ngôi nhà tạm ở trên nương để cư trú trong mùa sản xuất. Nhà cột ngoãm chỉ cho phép sinh sống được vài ba năm lại phải thay cột, lợp lại mái. Đối với những tấm phên thưng xung quanh chỉ sau một năm đều phải thay hoặc làm lại.

Mặt bằng sinh hoạt 

Nhà nửa sàn, nửa đất chia theo chiều dọc nửa sau là nền đất, nửa trước là sàn. Nền đất người Dao: gian bên phải có chạn bát, đặt bếp, cối xay, cối giã và bàn thờ. Kề với gian này ở phía ngoài còn có chuồng gà, gian bên trái đặt bàn thờ nhìn ra cửa giữa. Mùa rét gian này còn có bếp khách. Nửa nhà trước là nền sàn, phần này dùng làm nơi ngủ của các thành viên trong gia đình nó được chia thành các buồng nhỏ. Có gian bên phải là buồng ngủ, kề với gian này là máng nước và cũng là buồng tắm, gian bên trái là buồng ngủ của khách và có vách ngăn với lối xuống sàn. Phần sàn có một cửa lớn đối diện với bàn thờ đặt ở phần nền đất, cửa này gọi là cửa ma. Lợn để cúng Bàn vương được nuôi ở gầm sàn dưới cửa này.

Gian đặc biệt trong ngôi nhà – nơi đặt bàn thờ của người Dao. 


Nhà nửa sàn nửa đất do cấu tạo của sàn thấp nên gầm sàn chỉ nhốt lợn, gà, còn trâu, bò có chuồng riêng. Trong ngôi nhà có một gian đặc biệt, gian này có vách ngăn đôi theo chiều dọc và một đoạn vách ngăn ngắn với gian bên hai đoạn vách này được ráp vào nhau tạo thành một góc nhỏ. Góc này chính là nơi đặt bàn thờ. Người Dao ở đây đã biết lợi dụng nền đất làm nền bếp bảo đảm an toàn hơn, sử dụng phần sàn để nằm khỏi phải làm giường. Vì cuộc sống du canh du cư mỗi lần di chuyển người ta không mang giường phản theo. 

Tuỳ thuộc vào địa hình và diện tích của miếng đất dựng nhà người Dao Quần Chẹt không nhất thiết phải để hiên và có sân ở phía trước nhà. Sân nhà của họ có thể ở một hoặc cả hai bên đầu hồi . Người Dao ở đây không có tập quán dựng hàng rào xung quanh nhà và làm cổng ra vào ngôi nhà chính của họ. Nếu còn diện tích nhiều xung quanh nhà họ trồng nhiều cây ăn quả khác nhau như chuối , bưởi , ổi .. đặc biệt trồng nhiều chuối. Bên cạnh nhà thường có một mảnh vườn nhỏ để trồng rau xanh và cây ăn quả. Nơi có điều kiện họ có thể đào ao thả cá và nuôi ngan, vịt.

Nhà truyền thống của người Dao là nhà nửa sàn, nửa đất. 


Nhà ở truyền thống người Dao là một yếu tố văn hóa cổ truyền .Nhà ở phản ánh quá trình lịch sử cư trú của người Dao trước kia. Ngôi nhà nửa sàn, nửa đất chính là kết quả của sự thích ứng tự nhiên của người Dao. Thông qua nhà ở chúng ta thấy được những nét văn hóa đặc trưng tiêu biểu của tộc người qua các nghi lễ và kiêng kỵ trong việc làm nhà và trong quá trình cư trú. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay nhà ở người Dao đang có nhiều sự biến đổi mạnh mẽ.

Hoàng Đăng Quý

Độc đáo Lễ lên nhà mới của người Mạ

đăng 02:25, 25 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nhà là nơi cư trú, sinh hoạt, gắn kết các thành viên trong gia đình của cộng đồng người Mạ ở Đắk Nông. Để dựng được ngôi nhà, đặc biệt là ngôi nhà dài dành cho đại gia đình nhiều thế hệ cần có sự chung sức, đồng lòng, tương trợ của các thành viên trong gia đình, dòng tộc và bà con trong bon làng.

Mỗi khi làm xong ngôi nhà sàn, việc chuyển về nhà mới là sự kiện rất hệ trọng. Người Mạ sẽ làm lễ cúng thần nhà trước khi lên ở nhà mới. 

Nghi thức hiến tế để kết nối với thần linh tại cây nêu 


Chủ lễ là gia trưởng (người đứng đầu gia đình lớn) hoặc người có uy tín, tiếng nói nhất trong dòng tộc, bon làng. Chủ lễ phân công nhiệm vụ, công việc cụ thể để chuẩn bị lễ cúng đến từng thành viên trong gia đình. Nhà nghèo có thể cúng lợn, gà, nhà giàu cúng trâu, bò để tạ ơn thần linh, bon làng. Tuy nhiên, lễ vật bắt buộc phải có gồm con gà trống, ché rượu cần, cơm lam, thịt nướng, trái bầu khô đựng nước, trái bầu khô đựng tiết con vật hiến tế, cục than hồng và một số loại hạt giống... Bà con trong bon làng đến chúc mừng thường mang theo ché rượu cần, xếp thành hàng dài từ đầu nhà đến cuối nhà gia chủ… 

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ lễ vật, lễ lên nhà mới được tiến hành trước sự tham gia, chứng kiến đông đủ của các thành viên trong gia đình và bà con trong bon làng. Các nghi thức chính trong lễ lên nhà mới bao gồm: hiến tế, tạ ơn, cầu phúc, tạo lửa cho nhà mới, tẩy rửa nhà… Lễ lên nhà mới bắt đầu với nghi thức cúng mời thần linh về chứng giám ngày lễ lên nhà mới của gia đình. 

Sau khi lễ vật đã bày ra, chủ lễ sẽ đưa con gà (con vật hiến tế) cắt tiết, bôi máu lên cây nêu, kèm theo lời khấn thần. Đây là thủ tục bắt buộc để tạo thành sợi dây kết nối với các vị thần linh. Chủ lễ mời các vị thần về hưởng lễ vật mà gia đình dâng cúng, xin phép dọn về nhà mới cùng với mong muốn gia đình được bảo hộ nơi ở mới được bình an, có nhiều con cháu, có sức khỏe, mùa màng tốt tươi, cây cối, con vật nuôi sinh sôi nảy nở,... 

Nghi thức bôi máu lên trán cầu may mắn, sức khỏe cho tất cả mọi người 


Các nghi thức cúng tại cây nêu kết thúc cũng là lúc chủ lễ thực hiện nghi thức bước vào nhà mới để cầu may mắn. Ông mang theo bầu nước, một số hạt giống cùng cục than hồng từ nhà cũ sang nhà mới. Bước lên cầu thang, chủ lễ đặt bầu nước trước cửa xin thần nhà cho phép được dọn về nhà mới. Sau đó từng người trong gia đình mang đồ đạc bước vào nhà. Chủ lễ cất hạt giống trên kho lúa và giàn bếp rồi khấn xin thần lửa, thần bếp cho phép nhóm lửa ở bếp chính trong ngôi nhà sàn. 

Sau khi lửa thiêng ở bếp chính bùng cháy lên, ngọn lửa sẽ lần lượt được chia về từng bếp phụ của các gia đình nhỏ cùng sinh sống trong ngôi nhà sàn. Các gia đình nhỏ phải giữ cho bếp lửa liên tục cháy suốt ngày đêm hôm đó. Mọi người bắt đầu nấu nướng các món ăn truyền thống như cơm lam, thịt nướng, canh thụt… để đãi khách đến chung vui. 

Lúc này, chủ lễ cầm theo chén máu gà, ống rượu thực hiện nghi thức bôi máu trong nhà. Máu gà được bôi lên mọi vật dụng trong ngôi nhà từ vách tường, kho lúa, bàn thờ đến ché rượu cần, bếp lửa, dàn chiêng,… để tẩy rửa, xua đuổi tà ma và những điều xấu xa. Sau đó, chủ lễ cùng người nhà bôi máu con vật hiến tế lên trán nhằm xua đuổi bệnh tật, những điều không may và cầu chúc may mắn, sức khỏe cho nhau. Nghi thức bôi máu con vật hiến tế được xem như là một thông điệp cầu an gửi đến các thế lực siêu nhiên. 

Sau khi phần lễ kết thúc, tiếng chiêng, tiếng khèn bầu được tấu lên rộn ràng theo từng lời hát, điệu múa,… mừng gia chủ có được ngôi nhà mới. Chủ lễ cắm cần vào ché rượu đặt giữa nhà. Mọi người quây quần bên ché rượu cần, ăn uống vui vẻ, hát dân ca, đối đáp với những lời chúc gia chủ có cuộc sống an lành, hạnh phúc trong ngôi nhà mới. 

Bài, ảnh: H’Mai

Củi hứa hôn của thiếu nữ Rơ Ngao ở Pô Kô

đăng 02:00, 25 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Bắt đầu tuổi cập kê, những cô gái Rơ Ngao (Ba Na) ở xã Pô Kô, huyện Đăk Tô đã biết vào rừng kiếm củi mang về chất đầu nhà, sau bếp đợi đến khi tìm được ý trung nhân, tổ chức đám cưới sẽ mang tặng mẹ chồng. Không chỉ là sính lễ về nhà chồng, củi hứa hôn còn là thước đo sự giỏi giang, khéo léo và tình yêu dành cho chồng của người con gái.

Sính lễ về nhà chồng

Dù đã “theo chồng bỏ cuộc chơi” 4 năm rồi nhưng Y Nhung (làng Tu Peng) vẫn nhớ như in chuyện ngày còn thiếu nữ từng lặn lội vào tận rừng sâu, lên núi cao kiếm những bó củi đẹp đẽ để làm lễ vật mang tặng mẹ chồng lúc cưới.

Y Nhung kể: Mình lấy chồng năm 19 tuổi, nhưng từ hồi 14 tuổi, cha mẹ đã giục mình là phải lo kiếm củi để sau này làm lễ vật khi lấy chồng. Suốt 5 năm ròng, lúc nào có thời gian là mình đều đi kiếm củi mang về chất đầy đầu nhà, che đậy cẩn thận. Đến lúc cưới, mình kiếm được hơn 100 bó to bằng cái gùi. Trước hôm cưới 2 ngày, mình nhờ anh em, bạn bè đưa sang nhà chồng, mẹ chồng vui lắm. Bà đem củi chia cho anh em trong nhà, còn lại để đun mấy năm rồi vẫn chưa hết.

Ghé qua nhà hàng xóm của Y Nhung, tôi thấy, sau bếp có 2 đống củi được để riêng biệt, trong đó, có 1 đống củi được xếp đẹp đẽ, che đậy rất kỹ càng.

Thấy tôi có vẻ tò mò, chị chủ nhà tên Y Râm phân trần: Đống củi xếp lộn xộn, có cây to, cây nhỏ kia là củi để đun hằng ngày; còn đống củi xếp ngay ngắn, đều tăm tắp từ dưới lên đến lưng chừng tường là củi hứa hôn của con gái mình tên Y Rủ. Y Rủ còn đang đi học, nhưng vợ chồng mình đã nhắc nó việc kiếm củi. Hè rồi, nó kiếm được một ít, vợ chồng mình đi làm gặp cây củi đẹp cũng lấy về giùm cho con, sau này, khi Y Rủ kết hôn, chắc chắn nó sẽ có nhiều củi tặng cho mẹ chồng và sẽ được cả nhà chồng thương yêu.

Theo già làng Tu Peng - A Hanh, củi hứa hôn hay nói cách khác là của hồi môn hay sính lễ các cô gái mang đến nhà chồng khi cưới là một tập tục lâu đời của người Rơ Ngao. Loại cây được chọn để làm củi có tên theo tiếng địa phương là kà sa (loại cây nhỏ, thuộc lâm sản phụ) thường mọc ở những khu vực rừng sâu, núi thẳm. Vì củi của loại cây này săn chắc nên cháy rất đượm, đặc biệt củi kà sa thẳng và suôn nên nhìn rất đẹp mắt, thích hợp với việc nấu nước, sưởi ấm. Sau khi nam nữ tìm hiểu nhau kỹ càng, quyết định tiến tới hôn nhân, hai gia đình sẽ chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức đám cưới. Trước hoặc sau cưới khoảng 1 tuần, các cô gái phải nhờ người mang lễ vật này về nhà chồng.

Củi hứa hôn có kích cỡ theo đúng quy định của làng xưa nay là, các thanh củi có chiều dài đồng đều 60cm hoặc 70cm, thanh củi phải thẳng, chắc, tất cả vỏ ngoài được lột sạch sẽ, đầu của mỗi thanh củi phải được chặt bằng hoặc nhọn, lóng nào to quá thì phải chẻ ra để cho các thanh củi to bằng nhau.

Đây là lượng củi con gái chị Y Thoan kiếm được để chuẩn bị cho lễ cưới trong năm nay 


Nghe người dân bảo rằng, chỉ cần nhìn thấy thiếu nữ Rơ Ngao đi tìm củi kà sa về để ở đầu hồi, sau bếp thì đó là thông điệp nói rằng trái tim cô gái “đã mở” để “dẫn lối” cho các chàng trai tìm đến.

Thước đo phẩm hạnh của người con gái

Theo quan niệm của người Rơ Ngao ở Pô Kô, củi hứa hôn chính là thước đo phẩm hạnh, sự đảm đang của các cô gái. Nhìn vào đống củi chất bên hông nhà, người ta biết ngay rằng cô gái đó có chịu thương chịu khó, có khéo léo hay không để các chàng trai chọn ý trung nhân. Nghĩa là cô gái nào có số lượng củi kiếm được càng nhiều, củi càng đẹp, các chàng trai sẽ đánh giá cô gái đó rất mạnh khỏe, đảm đang, tháo vát, có đôi bàn tay khéo léo và có tình yêu sâu đậm với chàng trai... Từ đó mà các chàng trai sẽ để ý rồi đến tìm hiểu, cưới về làm vợ. Tất nhiên, những cô gái giỏi giang này chắc chắn sẽ lấy được một chàng trai khỏe mạnh và đẹp trai, có tài.

Ngược lại, cô gái nào đến tuổi lấy chồng mà vẫn có quá ít củi, chứng tỏ cô gái ấy không phải là người siêng năng; cũng không quan tâm đến chuyện vun vén hạnh phúc gia đình. Khi về làm vợ, các cô gái này sẽ thiếu đi sự cần cù, chịu khó, đảm đang cần thiết trong vai trò người “giữ lửa” gia đình. Dĩ nhiên, những cô gái này sẽ có ít chàng trai để ý và cũng khó lòng lấy được người chồng tài giỏi.

“Thậm chí, có trường hợp cô gái được chàng trai ưng bụng, cha mẹ người con trai cũng đồng ý “dạm hỏi”, nhưng đến khi cô gái đem củi qua tặng cha mẹ chồng làm của hồi môn mà ít quá, thì gia đình chàng trai sẵn sàng trả lễ vật và từ chối đám cưới” – già làng A Hanh cho biết thêm.

Vì không ai muốn mình bị đánh giá thấp, rồi lấy phải người chồng kém cỏi nên hầu hết các cô gái đều rất chăm chỉ kiếm củi, nỗ lực chặt, chẻ cho ra những bó củi đẹp nhất để “lọt vào mắt xanh” của các chàng trai tuấn tú. Từ việc làm đó đã hình thành thói quen hay lam hay làm, chỉn chu, khéo léo của các cô gái trong lao động, trong cuộc sống....

Xã Pô Kô hiện có 5 làng đồng bào dân tộc thiểu số, thế nhưng, theo người dân nơi đây, phụ nữ làng Tu Peng là giỏi kiếm củi nhất, khi về nhà chồng luôn mang được nhiều củi đẹp để dành tặng cho nhà chồng. Có lẽ vì vậy mà các cô gái của làng Tu Peng luôn “đắt chồng”.

Tuy nhiên, hiện nay, vì việc kiếm củi ngày càng khó khăn, đời sống phát triển, tập tục này cũng được đổi mới theo xu hướng thoáng hơn, thuận lợi hơn cho người phụ nữ. Các cô gái có thể nhờ bố mẹ, người thân trong gia đình kiếm thêm củi giùm mình để có được lượng củi như ý.

Để đáp lại tấm lòng của cô gái, bố mẹ chồng sẽ tổ chức tiệc cưới thật đầm ấm cho đôi bạn trẻ với đầy đủ họ hàng đôi bên và bà con dân làng...

Bài và ảnh: THÙY HƯƠNG

1-10 of 18