Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Chợ Đầm - nơi kích thích vị giác du khách với đủ loại đồ khô Mực rim me, cá mai rim đường, ghẹ sữa rang giòn cùng nhiều loại khô khác được bày bán trong chợ lớn nhất Khánh Hòa. Xây dựng từ năm 1908 ...
    Được đăng 06:55, 30 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lễ mừng nhà mới của người Cơ Tu Lễ mừng nhà mới là nét văn hóa đặc sắc trong kho tàng văn hóa của đồng bào người Cơ Tu được trao truyền qua nhiều thế hệ. Với các ...
    Được đăng 08:09, 27 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hồn quê từ những chiếc cà ràng Trước sự phát triển của công nghệ, cái cà ràng không còn là một vật dụng tối quan trọng trong mỗi bếp ăn người Việt. Thế nhưng, ở xã Phú ...
    Được đăng 20:54, 21 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • “Tam tế” ở đền Nguyễn Trãi Việc tế lễ ở đền thờ Nguyễn Trãi được thực hiện 3lần. Đây là một trong những điểm mới của Lễ hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc năm nay ...
    Được đăng 01:47, 21 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sắc màu khăn đội đầu của người La Hủ Trong cộng đồng 54 dân tộc anh em ở Việt Nam, bộ trang phục truyền thống bao giờ cũng thể hiện những đặc trưng văn hoá của mỗi tộc người ...
    Được đăng 02:21, 15 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 22. Xem nội dung khác »


Chợ Đầm - nơi kích thích vị giác du khách với đủ loại đồ khô

đăng 06:55, 30 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Mực rim me, cá mai rim đường, ghẹ sữa rang giòn cùng nhiều loại khô khác được bày bán trong chợ lớn nhất Khánh Hòa. 

Xây dựng từ năm 1908, chợ Đầm là trung tâm giao thương cổ nhất của thành phố biển Nha Trang. Đang trong thời gian sửa chữa và xây mới, khu vực kinh doanh khô của ngôi chợ này vẫn tấp nập khách mỗi ngày. 


Đặt chân vào cổng chợ bạn sẽ ngửi thấy mùi khô thơm phức. Người dân Nha Trang cho biết, chợ Đầm có kế hoạch xây mới, nhiều gian hàng im lìm nhưng khu bán đồ khô thì vẫn nhộn nhịp tiểu thương. 


Chợ bày bán nhiều nhất là khô cá mai đã tẩm ướp và mực rim me. Món ăn nặng mùi nhưng ăn vào một miếng là chỉ muốn tiếp miếng thứ hai bởi vị cay của ớt, vị chua của me, vị mặn của nước mắm hòa lẫn rất vừa miệng. 


Các món khô tẩm ướp có thể ăn ngay chiếm gần nửa lượng khô bán trong chợ. Khô bày trong các thau to, khiến nhiều người trông thấy đã phải lao tới mua ngay vì thèm. 


Ghẹ sữa là một trong những đặc sản Nha Trang được nhiều người ưa thích. Ghẹ ở đây được làm sạch, tách bỏ vỏ cứng, ướp tẩm gia vị rồi mang đi rang đến khi giòn tan. Món này sau khi mua có thể ăn ngay. 


Cá cơm mờm hay cá mờm là loại cá nhỏ nhất trong các loại cá cơm. Loại cá này được đánh bắt từ tháng 4 đến tháng 8, con nhỏ nhưng cơm mờm chế biến có giá đắt hơn các loại cá cơm còn lại. Khô cá mờm tẩm gia vị ăn thường ăn kèm cháo trắng. 


Khô mực cán mỏng rim nước mắm tỏi ớt cũng là món có thể ăn ngay. Đây là món mồi nhậu ưa thích của quý ông. 


Khô cá bò được ép thành bánh. Khách mua về có thể chiên hoặc nướng lửa than. 


Trên ảnh là khô mực trứng một nắng con bằng ngón tay. Mua về chỉ cần nướng là dùng. 


Trên ảnh là khô cá cơm chưa qua chế biến. Đây là loại khô bình dân được bán nhiều nhất chợ. 


Trên ảnh là khô cá chỉ vàng. 


Tại chợ Đầm, tôm khô có đến hàng chục loại với nhiều mức giá khác nhau. 


Hải sâm được xem như loại khô quý cũng được bày bán tại đây. 


Bào ngư phơi khô cũng có mặt tại chợ. Giá bào ngư khô ở đây thấp hơn so với các chợ ở Sài Gòn. 


Vi cá mập, thứ hải sản cao cấp được phân thành nhiều chủng loại với các mức giá khác nhau. Theo một số khách có kinh nghiệm mua hàng tại chợ Đầm, giá khô ở đây rẻ hơn bên ngoài và chất lượng khô cũng cao hơn. Khách có thể dùng thử và có quyền từ chối nếu không ưng. 


Mr. True

Lễ mừng nhà mới của người Cơ Tu

đăng 08:09, 27 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Lễ mừng nhà mới là nét văn hóa đặc sắc trong kho tàng văn hóa của đồng bào người Cơ Tu được trao truyền qua nhiều thế hệ. Với các nghi lễ mang đậm những nét đặc trưng, đây là hoạt động sinh hoạt cộng đồng thể hiện tính nhân văn sâu sắc giữa con người với con người cùng chung sống, cùng giúp đỡ chung tay xây dựng bản làng ngày càng giàu đẹp. 

Khi dựng nhà xong, người Cơ Tu tổ chức Lễ mừng nhà mới, trước là để cảm tạ Giàng đã che chở sau là để cảm ơn mọi người trong buôn làng đã góp công, góp của giúp gia chủ dựng được ngôi nhà mới. Với họ thời điểm đẹp nhất để làm lễ là sau ngày rằm 3 ngày. Buổi lễ luôn bắt đầu vào buổi sáng bởi theo quan niệm buổi sáng là dương thể hiện cho sự sinh sôi phát triển của vạn vật. 

Các nghi thức chính trong Lễ mừng nhà mới bao gồm: Lễ tế vật sống, Lễ tảy rửa nhà; Cầu phúc, tạo lửa cho nhà mới; Lễ cảm ơn những người thợ, góp công làm giúp nhà mới; Thợ cầu phúc cho chủ nhà; Ăn mừng nhà mới…

Theo quan niệm của người Cơ Tu, cây nêu như là cầu nối giữa Giàng trên trời với dương gian. Trong những nghi lễ bắt buộc mọi người phải dựng cây nêu để mời các vị thần qua cây nêu về trần.


Người Cơ Tu ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế tái hiện Lễ mừng nhà mới, hay còn gọi là Lễ Moot DDooong tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.


Người Cơ Tu chuẩn bị lễ vật cho Lễ mừng nhà mới rất cẩn thận.


Người Cơ Tu làm lễ Cầu bếp lửa với những câu khấn cầu mong bếp luôn đỏ lửa, gia đình được ấm no, sung túc.


Những lễ vật chín được dâng lên cúng cho những vị thần bảo trợ cho người Cơ Tu.


Nghi thức quan trọng nhất trong Lễ mừng nhà mới là khấn cầu xin vào ở được người Cơ Tu gọi tên là Cha Pannee’ch abo’h.


Dân làng mang theo quà đến chung vui cùng gia chủ.


Trong Lễ mừng nhà mới những người thợ dựng nhà cũng mang đồ đến dự và làm lễ tặng quà cho gia đình. 


Việc tế sống vật hiến tế được thực hiện dưới bóng cây nêu ở chân cầu thang ngôi nhà mới. Đây là thủ tục bắt buộc để mời các Giàng về nhà. Thông thường con vật được chọn hiến tế là con lợn và con gà trống. Tiếp theo là nghi lễ tẩy rửa, xua tà ma ẩn trong các vật liệu làm nhà. Chủ nhà và chủ lễ sẽ cầm những đoạn cây dài đi vào trong ngôi nhà. Họ đi vòng quanh, vung cây xua đuổi tà ma cũng là dọn chỗ cho sự tốt lành tới. Sau đó chủ lễ sẽ làm nghi thức cầu phúc, tạo lửa cho nhà mới. Họ sẽ dọn 3 mâm lễ vật ra giữa nhà để chủ lễ sẽ đọc lời khấn. Ba mâm lễ vật này dành cho các vị Giàng trên trời, vị Giàng nhà cửa và 1 mâm dành cho tổ tiên ông bà.

Tiếp đến là nghi thức cảm ơn thợ và những ai đã góp công làm giúp nhà. Chủ nhà sẽ mời mọi người ngồi vào mâm rồi thực hiện nghi lễ trao, nhận lễ vật. Tiếp đến những người thợ làm nhà sẽ làm lễ cầu phúc cho gia chủ. Thông thường họ mang đến 1 con lợn, 1 chum rượu mía, 5 thùng nếp để cầu phúc cho chủ nhà gặp nhiều may mắn, có được ngôi nhà mới bền lâu, mạnh khỏe, no đủ.

Sau những nghi lễ trịnh trọng, người Cơ Tu sẽ múa điệu múa Tung Tung-Za Zá truyền thống ngay trong ngôi nhà mới để mở đầu cho phần ăn mừng. Tất cả các thành viên trong nhà cùng khách mời sẽ liên hoan và múa hát. Hoạt động này thường kéo dài hết một ngày để thể hiện niềm vui của mọi người khi dựng xong ngôi nhà mới to đẹp.

Mọi người cùng nhảy múa quanh cây nêu trước cửa ngôi nhà mới dựng.


Những cô gái trong điệu múa Tung Tung-Za Zá đặc biệt của người Cơ Tu.


Mọi người cùng múa hát trong ngôi nhà mới như là những lời chúc phúc cho gia chủ gặp nhiều may mắn khi vào sống trong ngôi nhà mới.


Thông thường Lễ mừng nhà mới sẽ diễn ra trong một ngày, một đêm. Đây như là dịp để dân bản thắt chặt thêm tình nghĩa láng giềng, cùng chung tay xây dựng bản làng ngày thêm tươi đẹp. 


Vào thời điểm kết thúc Lễ mừng nhà mới, gia chủ sẽ chia quà cho mọi người mang về. Một lần nữa mọi người sẽ cùng tham gia múa điệu múa Tung Tung - Za Zá. Điệu múa thân thuộc với người Cơ Tu này như lời chúc tốt đẹp nhất gửi tới gia chủ cầu mong khi sinh sống trong ngôi nhà mới gia chủ sẽ gặp nhiều may mắn, khấm khá và bình an.

Bài và ảnh: Việt Cường

Hồn quê từ những chiếc cà ràng

đăng 20:54, 21 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Trước sự phát triển của công nghệ, cái cà ràng không còn là một vật dụng tối quan trọng trong mỗi bếp ăn người Việt. Thế nhưng, ở xã Phú Thọ (Phú Tân), những người thợ vẫn miệt mài lao động làm ra những chiếc lò cà ràng, không chỉ để mưu sinh, mà còn bảo tồn nghề truyền thống của cha ông…

Xóm làm cà ràng ở xã Phú Thọ được hình thành đến nay gần nửa thế kỷ. Ban đầu, sản phẩm làm ra chỉ phục vụ chuyện nội trợ của mấy bà, mấy cô ở địa phương, sau đó được người thợ làm lò bán cho các tỉnh khu vực ĐBSCL và Campuchia.


Nguyên liệu chính để làm làm cà ràng ở xã Phú Thọ là đất sét dẻo có lẫn cát mịn, được mua về từ Hòn Đất (Kiên Giang).


Nhận khuôn tạo hình cà ràng


Làm bóng cà ràng


Những cái cà ràng thành phẩm được đem đi phơi nắng cho khô…


… sau đó được thợ gọt lại cho đẹp trước khi đưa đi nung


Để làm ra một cái cà ràng hoàn chỉnh, người thợ phải thực hiện các công đoạn: In vỉ, nhận khuôn, nhận mỏ lò, làm bóng, phơi nắng, cạo gọt lại sản phẩm và cuối cùng là nung lò trong bồn suốt 24 giờ


Tùy theo bồn nung cà ràng lớn hay nhỏ, mà người thợ bỏ số bao trấu tương ứng để đốt. Khi đốt đủ lửa, cà ràng có màu đỏ rất đẹp. Những cái có màu da lu hay sạm đen do thiếu lửa phải đem đốt lại lần sau.


Nghề làm cà ràng ở xã Phú Thọ diễn ra quanh năm, nhưng nhộn nhịp nhất là từ tháng 6 đến tháng Chạp, khi thương lái đến "gom hàng", đưa lên ghe, đem bán khắp các vùng nông thôn tỉnh ĐBSCL và nước bạn Campuchia.


TRỌNG TÍN

“Tam tế” ở đền Nguyễn Trãi

đăng 01:47, 21 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Việc tế lễ ở đền thờ Nguyễn Trãi được thực hiện 3lần. Đây là một trong những điểm mới của Lễ hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc năm nay. 

Đội tế khu dân cư Trúc Thôn, phường Cộng Hòa (Chí Linh) thực hiện lễ tế tại đền thờ Nguyễn Trãi . Ảnh: Mai Anh


Lần đầu tế 3 lần

Tại Lễ hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc năm nay, lễ dâng hương tưởng niệm 575 năm ngày mất của Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi được xác định là một trong những nghi lễ quan trọng và nâng tầm…

“Theo thông lệ mọi năm, việc tế lễ ở đền thờ Nguyễn Trãi chỉ diễn ra một lần duy nhất vào ngày mất của cụ 16.8 âm lịch. Nhưng từ năm nay sẽ có thêm tế cáo yết vào ngày 15.8 âm lịch và tế tạ ngày 17.8 âm lịch. Ngày 16.8 âm lịch là lễ tế chính”, ông Lê Duy Mạnh, Phó Trưởng Ban Quản lý khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc cho biết. 

Nhiều năm nay, Đội nghi lễ khu dân cư Trúc Thôn, phường Cộng Hòa (Chí Linh) được mời tham gia lễ tế tại đền thờ Nguyễn Trãi. Từ mùng 10.8 âm lịch, các thành viên trong đội nghi lễ khu dân cư này gồm đội tế nam (18người), đội tế nữ (16người) tuổi đời từ 45 - 70 và đội cờ, đội nhạc (28 người) đã tập luyện tại sân đình Trúc Thôn để phục vụ lễ hội. 

Ông Nguyễn Tiến Đạt, Trưởng Đội nghi lễ khu dân cư Trúc Thôn cho rằng việc tổ chức thêm tế cáo yết trước khi lễ dâng hương tưởng niệm cụ diễn ra là phù hợp với đạo lý, thuần phong mỹ tục. Tế cáo yết được hiểu là việc dâng hương báo cáo, mời các quan thần khu đất, anh linh tiên tổ, danh nhân Nguyễn Trãi và các hậu duệ về chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật của con cháu, phù trì quốc thái dân an, mùa màng tươi tốt, bội thu… Trong khi tế tạ được hiểu là việc tế kết thúc ngày giỗ của cụ. “Hôm trước tế cáo yết mời cụ về để hôm sau Ban tổ chức làm lễ dâng hương tưởng niệm, tri ân công lao của cụ là phù hợp. Mọi năm chúng ta tổ chức lễ tưởng niệm rồi mới làm lễ tế, việc này tuy không sai nhưng cũng chưa được phù hợp theo tín ngưỡng thờ cúng cho lắm. Việc tổ chức tam tế tại đền thờ cụ theo tôi là hay hơn cả”, ông Đạt nói.

Các dòng họ cùng tham gia

“Tam tế” tại đền thờ Nguyễn Trãi sẽ được Đội nghi lễ khu dân cư Trúc Thôn đảm nhiệm thực hiện từ 9 giờ đến khoảng 10 giờ 30 các ngày 15, 16 và 17.8 âm lịch. Trong đó, ngày 16.8 âm lịch, việc tế lễ sẽ được thực hiện ngay sau khi Ban tổ chức lễ hội làm lễ dâng hương tưởng niệm 575 năm ngày mất của Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. 

Theo ông Đạt, có nhiều vật phẩm dùng để tế lễ nhưng sẽ không thể thiếu được mâm ngũ quả, rượu, một mâm xôi và một thủ lợn luộc chín. Về cơ bản, quy trình 3 buổi tế tại đền thờ Nguyễn Trãi giống nhau, gồm 4 tuần. Tuần 1: dâng hương (đội tế dâng hương ngoài sân đền thờ, đội cờ đứng hai bên); tuần 2: dẫn rượu (đội tế dâng đài rượu từ ngoài sân vào bên trong đền); tuần 3 và tuần 4 tương tự như tuần 2. Điểm khác biệt duy nhất ở 3 lần tế đó là phần nội dung. Các bài văn tế cáo yết, tế chính kỵ, tế tạ đều đã được Đội nghi lễ rà soát, chuẩn bị kỹ lưỡng theo phong tục cổ truyền. Việc tế lễ sẽ diễn ra trên nền nhạc lưu thủy (nhạc nước) phối hòa với nhịp trống, chiêng.

Ông Lê Duy Mạnh cho biết Ban tổ chức đã gửi giấy mời tới 23 dòng họ con cháu của danh nhân Nguyễn Trãi ở khắp các tỉnh, thành phố như Bắc Ninh, Hà Nội, Thanh Hóa… về tham dự lễ dâng hương tưởng niệm 575 năm ngày mất của cụ. Trong thư mời có thông báo về nội dung lễ tưởng niệm và 3 buổi tế tại đền thờ Nguyễn Trãi. Việc làm này có ý nghĩa rất thiết thực, như một sợi dây vô hình kết nối các dòng họ con cháu Nguyễn Trãi cùng hướng về chốn tổ nhân ngày mất của ngài.

Trao đổi qua điện thoại, đại diện một số dòng họ của danh nhân Nguyễn Trãi ở Hà Nội, Bắc Ninh bày tỏ niềm phấn khởi trước thông tin Ban tổ chức đã nâng tầm cho các nghi lễ tại Lễ hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc, đặc biệt là lễ tưởng niệm ngày mất của Anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Ông Nguyễn Đức Thắng, Trưởng dòng họ Nguyễn (một trong những dòng họ con cháu cụ Nguyễn Trãi) ở thôn Canh Hoạch, xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai (Hà Nội) cho biết mọi năm chỉ đến sáng 16.8 âm lịch dòng họ mới tổ chức đoàn về khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc để tham dự lễ dâng hương tưởng niệm Nguyễn Trãi. Nhưng năm nay do Ban Quản lý khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc thực hiện "tam tế" ở đền thờ cụ nên đoàn đại biểu của dòng họ sẽ về từ sáng 15.8 âm lịch để tham gia cả lễ tế cáo yết. 

"Tam tế" ở đền Nguyễn Trãi góp phần làm cho Lễ hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc thêm nhiều sắc màu linh thiêng. Việc làm ý nghĩa này càng thể hiện sự trân trọng, lòng biết ơn sâu sắc của lớp lớp con cháu với vị Anh hùng dân tộc kiệt xuất, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. 

TIẾN MẠNH

Sắc màu khăn đội đầu của người La Hủ

đăng 02:21, 15 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Trong cộng đồng 54 dân tộc anh em ở Việt Nam, bộ trang phục truyền thống bao giờ cũng thể hiện những đặc trưng văn hoá của mỗi tộc người ở từng vùng với những nét rất riêng. Và với người phụ nữ La Hủ (Mường Tè – Lai Châu), chiếc khăn đội đầu cầu kỳ, độc đáo thể hiện khát vọng sinh sống hài hòa với thiên nhiên. 

Người La Hủ vấn khăn rất cẩn thận, đây là tập hợp của nhiều công đoạn để xếp chồng lên đầu bốn lớp tạo nên chiếc khăn liền với tóc hoàn chỉnh. Đầu tiên họ rẽ ngôi giữa mái tóc dài rồi cố định bởi một chiếc vòng làm bằng nhựa có màu nâu đỏ. Sau đó họ sẽ đội lên đầu chiếc khăn vải được thêu hoa văn cầu kỳ có đính cườm trắng. Là phần chính của chiếc khăn nên đây là nơi để mỗi người phụ nữ La Hủ thể hiện sự khéo léo, chăm chút trong thêu thùa.

Thường họ dùng vải màu xanh, đỏ làm nền rồi thêu hoa văn với chỉ màu để làm khăn. Tuy có nhiều màu nhưng qua những bàn tay khéo léo khăn được xử lý khi thêu khá hài hòa và quan trọng nhất nó phù hợp và đẹp theo quan niệm thẩm mĩ của người La Hủ.

Chiếc vòng làm bằng nhựa màu nâu đỏ dùng để cố định những nếp tóc là lớp đầu tiên của khăn đội đầu người La Hủ.


Lớp khăn thứ hai của chiếc khăn đội đầu của những người phụ nữ La Hủ. Nó được làm bằng vài nhiều màu và được gấp lại trước khi đội lên.


Người phụ nữ La Hủ cố định lớp thứ 2 của chiếc khăn truyền thống.


Sau khi đội lớp thứ 2, họ dùng dải dây thun vấn, che hết phần tóc còn lại.


Lớp thứ 3 của chiếc khăn đội đầu có những sợi tua rua dài che phía sau đầu những người phụ nữ La Hủ.


Thường từ lớp thứ 3 của chiếc khăn, họ cần một người khác giúp để hoàn thành chiếc khăn đội đầu sao cho đẹp nhất.


Dải tua rua là lớp cuối cùng trên chiếc khăn đội đầu.


Người con gái La Hủ luôn thường nuôi tóc dài để vấn tóc, đội chiếc khăn truyền thống rất cầu kỳ này.


Chiếc khăn đội đầu của người phụ nữ La Hủ nhìn từ phía sau.


Hai thế hệ phụ nữ người La Hủ ở Bum Tở. Vào ngày thường phụ nữ La Hủ mặc chiếc áo tà dài có màu đen truyền thống. Nhưng trong dịp lễ họ mặc thêm một chiếc áo khoác ngắn được đính trang trí khá cầu kỳ.


Chiếc khăn đội đầu sặc sỡ là điểm nhấn làm nên sự khác biệt trong trang phục của người La Hủ.


Những dải tua rua trên chiếc khăn đội đầu tạo nên nét rất sinh động trong trang phục của người phụ nữ La Hủ.


Những cô gái La Hủ ở xã Bum Tở, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu trong trang phục truyền thống đang tập múa, hát trong sân nhà văn hóa của bản. 


Tiếp đến họ sẽ cột, che kín đuôi tóc dài bằng một sợi dây thun màu rồi vấn quanh đầu. Ở công đoạn vấn khăn cuối cùng, những người phụ nữ trẻ La Hủ sẽ đội lên đầu một chiếc khung tua rua đầy màu sắc. Đây là điểm dễ thấy để phân biệt lứa tuổi của phụ nữa La Hủ bởi thường thì người lớn tuổi không đội phần này.

Xưa, khi người La Hủ chưa sống quần tụ thành bản làng, mỗi quả núi có dăm ba hộ gia đình sinh sống, trong quá trình đi rừng, đi chợ, chắc khăn đội đầu là tín hiệu để họ nhận ra những người đồng tộc. Mặt khác, người La Hủ sinh sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, trong quán trình đi nương, đi rừng, chiếc khăn sắc màu để phân biệt giữa người và thú rừng, không bị thợ săn bắn nhầm.

Ngày nay, người La Hủ đã định cư, chiếc khăn đội đầu và bộ trang phục bắt mắt vẫn được các thế hệ người phụ nữ La Hủ giữ gìn để mặc trong những dịp lễ hội, cúng bản.

So với nhiều dân tộc khác vùng Tây Bắc, người phụ nữ La Hủ mặc những chiếc áo tà dài bó sát người duyên dáng có màu đen viền xanh khá giản dị. Bù lại chiếc khăn đội đầu sặc sỡ, cầu kỳ ôm sát đầu của họ lại tạo nét nổi bật, rất khác biệt. Không chỉ phản ánh một trình độ cao về thẩm mĩ, chiếc khăn đội đầu này là điểm nhấn tạo ra sự hài hòa trong bộ trang phục truyền thống tinh tế rất duyên dáng của người phụ nữ La Hủ.

 

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người La Hủ ở Việt Nam có dân số 9.651 người, cư trú tại 16 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Đa số người La Hủ cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (9.600 người, chiếm 99,47% tổng số người La Hủ tại Việt Nam. Trước kia người La Hủ sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy và săn bắn, hái lượm. Công cụ lao động chủ yếu là con dao, chiếc cuốc. Từ vài chục năm nay, người La Hủ đã phát triển cây lúa nước và lúa nương làm nguồn lương thực chính và dùng trâu cày kéo. Đàn ông La Hủ đan ghế, mâm, chiếu, nong nia, v.v. bằng mây rất giỏi và đa số biết nghề rèn.

 
Bài và ảnh: Việt Cường

Tìm hiểu nghi lễ then của người Tày ở Bình Liêu

đăng 01:41, 15 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nghi lễ Then của người Tày (gồm 3 tỉnh: Quảng Ninh, Lào Cai, Tuyên Quang) đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia từ năm 2012 (đợt 1). Tại Quảng Ninh, huyện Bình Liêu là nơi cư trú chủ yếu của người Tày. Tại đây, nghi lễ then từ lâu đời đã là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào Tày . Vậy, nghi lễ then ở Bình Liêu nói riêng, Quảng Ninh nói chung có gì độc đáo?

Một cách hiểu về nghi lễ then

Cũng như người Tày ở nhiều vùng khác, người Tày ở Bình Liêu không theo tôn giáo nào mà chỉ có tín ngưỡng dân gian với tục thờ cúng tổ tiên, thần thánh, ma quỷ mà người Tày gọi chung là Phi (có Phi lành, Phi dữ). Người Tày có nhiều nghi lễ cúng khấn để xin Phi lành phù hộ, xin những điều tốt đẹp, xua đuổi Phi dữ và những điều xấu. Những lời cúng khấn thực hiện trong các nghi lễ gọi là đường then do các Then thực hiện (nằm trong các nghi lễ cúng khấn còn có hệ thống lời gọi là đường Mo, Tào, Pật mà người thực hiện là các thầy mo, thầy tào, thầy pật – những tên gọi khác nhau của người hành nghề cúng bái). Bởi vậy, nghi lễ then là hệ thống lời hát có làn điệu, kèm với các nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng của dân tộc Tày.

Người thực hành được các nghi lễ then phải là những người có khả năng đặc biệt. Theo quan niệm của người Tày và trong thực tế, Then là người được trời cử xuống hoặc được tổ tiên có nghiệp then lựa chọn để giúp người trần gian thực hiện các nghi lễ then, đáp ứng nhu cầu tâm linh của cộng đồng, nếu đó là phụ nữ thì gọi là Mè Then (hay Mè Slin), còn là đàn ông – thường rất hiếm thì gọi là Pò Then (hay Pò Slin).

Các nghệ nhân Then nghi lễ ở Bình Liêu. Ảnh: La Lành (Trung tâm TT-VH huyện Bình Liêu) 


Con đường đến với then

Để trở thành một người làm then được cộng đồng công nhận, trước hết họ phải là những người có căn số, nhẹ vía và được trời hay tổ tiên có nghề then “hạm” (lựa chọn). Sau đó những đối tượng này thường có nhiều trận ốm thập tử nhất sinh, thứ duy nhất để họ cầm hơi là uống nước sôi để nguội có thả lá chanh tươi, nếu có ăn được thì chỉ là chút cháo hoa cùng muối trắng. Có nhiều trường hợp ly kì, người khác thấy họ như điên như dại. Có người suốt ngày ngồi vắt vẻo trên ngọn tre gai, dầm mình dưới suối trong mùa đông băng giá, hoặc ngày phải dầm mưa nắng, đêm phải dầu dãi phơi sương; cũng có khi họ mắc chứng bệnh lạ, không cách nào chữa khỏi. Họ chỉ trở lại bình thường khi đồng ý theo nghiệp then để gia đình lập bàn thờ then, thành tâm tu luyện và trải qua các kì làm lễ chính như sau:

Tíu bàn – Lảu son chàng: Đây là nghi lễ đầu tiên của người bắt đầu bước vào nghiệp then. Ý nghĩa của lễ là dựng bàn thờ then – làm lễ nhận thầy. Khi được một then có đầy đủ quyền năng cho phép theo làm đệ tử, gia đình có người cần phải theo nghiệp then sẽ sắm sửa lễ vật, mời thầy đến nhà làm lễ. Đến làm lễ cùng thầy còn có các đệ tử của thầy (là bạn đồng môn của người được thầy thu nhận lần này – gọi là bạn chàng).

Lảu son chàng là một buổi lễ thông báo cho tổ nghề có một người chính thức theo nghiệp then. Người này đã chính thức nhận thầy làm lễ là sư phụ và sẽ thực hiện đầy đủ các kiêng khem theo quy định.

Lảu khay pác – khay tàng (mở lời – mở đường): Nghi lễ này được thực hiện sau khi tíu bàn (lập bàn thờ) được một thời gian. Sau thời gian ốm kéo dài, lúc này nhân vật được tổ tiên “hạm” đã hồi phục, đủ điều kiện về sức khỏe và nhiều điều kiện khác để theo học các đường then (các bài then khi hành lễ). Thực hiện buổi lễ này là sư phụ và các bạn chàng. Ý nghĩa của buổi lễ là báo cáo với tổ nghể là người này đã đủ điều kiện để theo nghiệp then, xin các bậc tiền bối và tổ tiên ban cho quyền năng để có thể thực hiện được thông thạo các nghi lễ then.

Khay pác – khay tàng là một nghi lễ tương đương với nghi lễ khai quang trong tín ngưỡng hầu đồng. Sau lễ khay pác – khay tàng, người này sẽ được sư phụ cho phép đi theo khi hành lễ để quan sát và học. Theo như các then kể lại thì sau buổi lễ này, mỗi lần các then hành lễ sẽ được tổ nghề “nhập” sau công đoạn thỉnh mời. Bởi vậy, có những đường then dài thâu đêm suốt sáng mà các then vẫn diễn xướng trôi chảy; khi trao đổi bình thường thì các then không thể nhớ được hết nội dung của các đường then.

Lảu khao binh (Lễ tiệc khao binh mã): Đây là nghi lễ để sư phụ cấp binh mã cho then. Sau Lảu khao binh, then sẽ có đủ quyền năng để chính thức độc lập đi thực hiện các nghi lễ then.

Trong lễ này, ngoài sư phụ và các bạn chàng đến để hành lễ, gia đình còn mời thêm họ hàng thân cận đến để liên hoan chúc mừng sự trưởng thành của then. Then sẽ nhận được quà tặng như đàn tính, quạt, vải tơ..., được nhận những lời chúc mừng liên quan đến việc hành nghề.

Lảu Khẩn làu (lễ lên lầu): Là công đoạn quan trọng nhất của nghi lễ. Tổ chức lễ lần này, ngoài những nghi thức tương tự như các lễ then trước, còn có nghi lễ lên lầu – tức là đoàn quân then sẽ dẫn người làm lễ lên lầu then làm nghi thức trình Ngọc Hoàng để ngài ban phép, ban quyền cho then. Sau nghi lễ này, người làm then bắt đầu được phép nhận và truyền nghề cho đệ tử. Then lúc này vừa là đệ tử của sư phụ mình (cùng với nhiều bạn chàng khác), đồng thời lại vừa là sư phụ của một số đệ tử theo nghiệp then.

Gian nan hành nghề

Sau thời gian thử thách và thực hiện một số thủ tục quan trọng, người làm then được chính thức hành nghề. Từ đây cộng đồng gọi họ là các Then, kèm với tên gọi hàng ngày, như Then Sin, Then Viên, Then Phương...

Hai nghệ nhân dân gian Việt Nam- cũng là nghệ nhân then gạo cội của Bình Liêu: Hà Thị Phương và Nông Thị Sin. Ảnh: La Lành (Trung tâm TT-VH huyện Bình Liêu) 


Khi đã là then, đồng nghĩa với việc đã được trao một sứ mệnh cao cả là cứu giúp người đời. Khi có người đến cậy nhờ thì không kể ngày hay đêm, mưa hay nắng, gần hay xa then đều phải lập tức đến nhà thân chủ để hành lễ. Đa số lễ then phải làm trọn trong một ngày hoặc trong một đêm. Người làm then phải luôn giữ mình trong sạch, kiêng khem nhiều thứ như: Không đến gần người hoặc súc vật mới sinh đẻ, không đến đám tang của người không phải người thân trong họ. Không được làm những việc như phơi hoặc gánh phân chuồng để bón rau, bón lúa. Không bao giờ được phép ăn những thức ăn có liên quan đến thịt gia súc.

Các then đi hành lễ đương nhiên là không thể có thời gian chuyên tâm sản xuất cùng gia đình. Công xá họ được trả đôi khi chỉ là miếng thịt, con gà và vài đồng tiền lẻ. Gian nan là vậy, các then vẫn luôn hoàn thành tốt sứ mệnh. Bởi thế dưới những nếp nhà xinh xắn của các bản làng vẫn luôn rộn rã tiếng cười, tiếng hát then đàn tính vẫn cất lên trầm bổng với ước vọng đem đến bình yên và sung túc cho gia chủ.

Vị trí của then trong cộng đồng

Từ xưa, trên vùng đất Bình Liêu, cộng đồng người Tày thường cư trú thành các bản cạnh suối hoặc trong các thung lũng thuận tiện cho việc canh tác lúa nước. Ở thời kì cuộc sống còn nghèo nàn, y tế chưa phát triển, sự hưởng thụ văn hóa chưa có thì Then được coi như một biện pháp trị liệu tinh thần của cộng đồng người Tày. Ốm đau, tai họa hay cầu mong, ước vọng... họ đều tìm đến then. Mỗi dịp tháng giêng, các gia đình lại sắm sửa lễ vật để mời then về nhà làm lễ. Anh em, họ hàng cùng bà con trong bản lại được dịp quây quần nghe then giải hạn. Tan buổi lễ vào lúc trời gần sáng, không ai thấy mệt mỏi mà trái lại, như thấy mình phấn chấn hơn, khỏe mạnh hơn để bắt tay vào công việc mới.

Cảnh lên lầu trong nghi lễ Lảu then. Ảnh: Tô Đình Hiệu 


Then đã thấm sâu vào tiềm thức mỗi người con dân tộc Tày, là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của họ. Ngày nay, mỗi khi ốm đau, song song với việc chạy chữa tại các cơ sở y tế, người Tày vẫn tìm đến then để giải tỏa tâm lý lo âu với một niềm tin vốn có. Không chỉ các gia đình người Tày, một số gia đình người Kinh cũng có xu hướng mời then đến thực hiện một số nghi lễ trong cuộc sống, đặc biệt là nghi lễ Giải hạn đầu năm.

Như vậy, trước đây và bây giờ then luôn giữ vị trí quan trọng trong cộng đồng người Tày. Then cũng là một bộ phận cấu thành nên đời sống văn hóa của tộc người này.

Tô Đình Hiệu (Phó Giám đốc Trung tâm TT-VH huyện Bình Liêu)

Lễ cầu mùa của người Sán Chỉ

đăng 19:14, 13 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp, lễ cầu mùa là nét đẹp văn hóa độc đáo của dân tộc Sán Chỉ, rất cần gìn giữ và phát triển.

Nghệ nhân Lỷ A Tàu, thôn Kéo Cai, xã Đại Thành, huyện Tiên Yên, sửa soạn trang phục đi lễ. 


Người Sán Chỉ làm lễ cầu mùa để tôn vinh những vị thần có công lập làng, tạo mưa, tạo gió, cho mùa màng bội thu, canh giữ xóm làng. Người Sán Chỉ cũng khấn nguyện các vị thần mang đến cuộc sống tốt đẹp, bình an và mạnh khỏe đến cho người dân.

Tuy nhiên, hiện nay, lễ cầu mùa không còn được bà con Sán Chỉ tổ chức một cách phổ biến nữa. Gần đây, nghệ nhân ưu tú Lỷ A Sáng, ở thôn Phài Giác, xã Đại Dực, huyện Tiên Yên đã giúp ngành Văn hoá tỉnh sưu tầm, phục dựng lễ cầu mùa. Người được chọn làm thầy cả như già làng Sáng phải trên 50 tuổi, có uy tín, được dân chúng trong thôn, bản kính trọng, gia đình ấm êm và phải truyền dạy được nhiều học trò thì mới có thể kết nối được con người với siêu nhiên.

Trước khi hành lễ, các thầy phải giữ mình thanh tịnh, không được ăn những loại thịt chó, trâu, không được sát sinh, không nhận làm các đám tang ma và không quan hệ nam nữ. Hai người khiêng kiệu rước lễ vật dâng thần cũng phải kiêng ra đường không được gặp trâu hoặc chó chết, có gia đình song toàn, vợ chồng không lục đục.

Theo nghệ nhân Lỷ A Tàu, thôn Kéo Cai, xã Đại Thành, huyện Tiên Yên, người Sán Chỉ dự lễ theo tinh thần tự nguyện cộng đồng cao, tự đóng góp gạo, thịt, rau và cùng lấy tre, lá, dựng lều. Họ chọn khu đất bằng phẳng, không gần miếu thờ, không được cách trở sông suối, không gần nơi xú uế. Các vật liệu dùng để dựng lều buộc phải để trên cao, tránh chó, mèo, phụ nữ bước qua. Đồ cúng như: Lợn, gà luộc, bánh, xôi ngũ sắc nhất thiết phải là sản vật địa phương nuôi, trồng trong thôn, bản, không mua của nơi khác.

Ở trong lều, các thầy cùng nhau viết tấu sớ. (Ảnh do ông Sáng cung cấp). 


Tiến trình tổ chức lễ diễn ra như sau: Sáng sớm, dân làng tập trung tại địa điểm đã giao ước. Một nhóm được cử đi lấy cỏ gianh đan thành mảng; nhóm khác lên rừng chặt tre; một nhóm đào lỗ để chôn cọc; một nhóm chẻ lạt, đan các cây cắm nến, bát hương, thúng đựng các sớ, điệp, phong hàm, v.v.. Những người khéo tay thì chẻ tre, pha nan để đan ống đựng hương, đựng nến và sọt để đựng tấu sớ, phong hàm. Khi đã có tre nứa và mảng rồi thì đến công việc dựng lều. Lều được dựng lên phải có 2 ban thờ, ban phía trên thờ Tam thanh, ban thờ phía dưới thờ sư phụ của thầy cả, người đã truyền dạy và cấp sắc cho thầy.

Các thầy tập trung tại nhà thầy cả để làm lễ “phoóng ọp”, xin các thần trong nhà bảo hộ tất cả nhóm thầy, người dân và những người tham gia hành lễ khoẻ mạnh, thời tiết thuận hoà, tránh tà ma xâm nhập khu vực làm lễ, tránh ma tà quấy rối nhà cửa lúc các thầy ra khỏi nhà. Thầy cả phải đeo mặt nạ cải trang làm thổ địa đề phòng khi thầy múa đẹp quá ma quỷ cũng nhảy vào múa theo. Ma quỷ sẽ không nhận ra khuôn mặt thật của thầy mà nghĩ thầy là thổ địa.

Tập múa “Trâu đạp lúa”. (Ảnh do ông Sáng cung cấp). 


Khi đến lều, thầy cả sẽ viết các loại sớ, điệp, phong hàm, các loại cờ thần. Trong khi đó bà con làm công tác hậu cần chuẩn bị cho lễ chính vào buổi chiều, đêm. Trong quá trình cúng lễ, các thầy hát và múa các điệu múa: Chim câu, trâu đạp lúa, bắt quyết, mài dao, phát nương, tra hạt, múa đi lấy hào quang, khai đăng, múa xúc tép, múa tắc xình, hát đi bắt kiệu phu, v.v.. Màn hát múa tái hiện hành trình của người Sán Chỉ đi lấy bảo vật, lấy hạt giống gieo trồng, thu hoạch mùa vụ, v.v.. Thầy cả vừa làm phép vừa đánh âm dương xin thần thánh cho phép, cầm kiếm đi 2 vòng cắt tất cả các tờ giấy treo trên mái nhà và bàn thờ.

Khoảng 6 giờ sáng, các thầy khua chiêng, đọc bài khấn cảm tạ thần thánh đã về dự lễ, xin thần ban phúc cho dân làng và tiễn các thần về trời. Các thầy gom tất cả giấy, vàng tại các mâm ra phía ngoài hóa đi rồi cùng nhau thụ lộc. Cuối buổi lễ, thầy cúng sẽ khao quân, cúng các thần và tiến hành bố thí đồ cúng cho các vong linh vô chủ, ma quỷ. Họ cùng nhau hát những bài ca dân gian, diễu hành vòng quanh lều và ăn cơm đoàn kết để thể hiện sự gắn bó của bà con trong bản.

Thầy cả và các thầy phụ cùng hát múa. (Ảnh do ông Sáng cung cấp). 


Huỳnh Đăng

Nét đẹp trong trang phục truyền thống của người Dao Thanh Phán

đăng 19:05, 13 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Trang phục của người Dao Thanh Phán ở Quảng Ninh rất đẹp bởi được thêu từ những sợi len với đủ các màu sắc và hoa văn, ẩn chứa chiều sâu văn hóa độc đáo.

Theo Nghệ nhân ưu tú Diềng Chống Sếnh (thôn 3, xã Quảng Sơn, huyện Hải Hà), một bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Dao Thanh Phán khá cầu kỳ, gồm quần, áo, thắt lưng, mũ đội đầu được thêu tỉ mỉ, tinh tế. Áo dài tay xẻ tà của phụ nữ Dao Thanh Phán,ở bên vạt áo thường được thêu hoa văn sóng nước, hình núi, hình chữ Vạn, hoa hồi 8 cánh, và các đường viền chạy song song, luôn là những cặp màu tương sinh trong thuyết ngũ hành. Áo cắt theo kiểu mở ngực, ống tay dài, gấu áo xẻ hai bên, nẹp cổ to thêu họa tiết trang trí ở phía cổ và trước ngực. Ở phần ngực, gấu áo, tay áo, gấu quần được nối thêm vải màu đỏ, rồi đến một đoạn được khâu bằng các đường chỉ màu trắng. Phần trước ngực được đắp miếng vải thêu những hoạ tiết đặc sắc, bắt mắt. Nội y ở ngực thêu hoạ tiết về mặt trời xen giữa là núi đồi, cỏ cây, hoa lá cách điệu chạy vòng xung quanh.

Nghệ nhân ưu tú Diềng Chống Sếnh, thôn 3, xã Quảng Sơn, huyện Hải Hà (thứ hai, phải sang), hướng dẫn kinh nghiệm may, thêu trang phục dân tộc Dao Thanh Phán. 


Phụ nữ Dao Thanh Phán thường mặc ống ngố hoặc quần lửng, thêu hình chân chó và hình chim gấp. Hình móng chân và chân chó được thêu ở hàng đầu tiên, từ trên xuống của gấu quần. Chân con chó phản ánh tín ngưỡng thờ vật tổ là Bàn Vương (theo truyền thuyết gọi là con long khuyển có mình dài ba thước, lông đen vằn vàng, mướt như nhung, từ trên trời giáng xuống trần đầu thai làm người, sinh hạ được 12 người con chia ra 12 dòng họ khác nhau). Thêu họa tiết này ở gấu quần, người Dao Thanh Phán tin rằng tổ tiên luôn đi theo để phù hộ, tránh được mọi tai ương, bất trắc. Họa tiết đôi chim luôn được thêu các cặp màu tương sinh trong ngũ hành thể hiện mong ước sự sinh sôi.

Mũ xếp đội đầu của phụ nữ Dao Thanh Phán được làm cầu kỳ nhất, tốn nhiều thời gian, công sức nhất. Chiếc mũ có hình vuông, cao khoảng 30cm, mỗi một chiếc mũ được cấu tạo bởi 110-120 tấm vải được thêu viền màu đỏ và xếp chồng lên nhau, xen giữa các tấm vải là lần xốp mềm (thường, phụ nữ trẻ làm mũ cao hơn người già). Lúc đi rừng, mũ được quấn thêm một lần vải hoa đỏ bên ngoài để tránh bụi bẩn. Cô dâu còn đội thêm một chiếc khăn thêu cầu kỳ kín từ ngoài vào trong và có buộc vài sợi chỉ đỏ cùng với hạt cườm.

Học sinh người Dao Thanh Phán, huyện Bình Liêu được khuyến khích mặc trang phục dân tộc vào thứ hai hằng tuần và các ngày lễ. 


Cũng theo Nghệ nhân ưu tú Diềng Chống Sếnh, để thêu được một bộ trang phục của người Dao, đặc biệt là trang phục nữ là không hề đơn giản. Muốn thêu theo kiểu truyền thống phải có những sợi chỉ màu và cây kim thêu to bằng cây tăm, dài chừng 5cm. Khó nhất là thêu những họa tiết hình sông núi, sóng nước… trên áo, đòi hỏi người thêu phải rất tinh tế, công phu. Hơn nữa, nghề thêu đều do “mẹ truyền, con nối”, chứ không có sách vở nào dạy. Kỹ năng thêu là thách thức bắt buộc với người phụ nữ Dao để đánh giá sự trưởng thành.

Mỗi hoạ tiết trên trang phục của người Dao Thanh Phán là cả một câu chuyện mà người thêu muốn gửi gắm. Màu sắc và họa tiết thêu trên trang phục phản ánh tín ngưỡng, quan niệm và đời sống văn hóa của người Dao Thanh Phán. Màu sắc được chọn là các màu xanh, đỏ, vàng, trắng kết hợp thêu trên nền vải màu đen, hội đủ ngũ hành: Kim, mộc, thủy, hỏa thổ. Đồng bào Dao Thanh Phán tin rằng, khi mặc trên mình bộ áo sặc sỡ thì thú dữ nhìn thấy sẽ tránh đi, không dám đến làm hại. Các họa tiết hoa văn còn phản ánh đời sống văn hóa của người Dao: Chiếc bừa dùng trong canh tác lúa, hoa đậu đũa trên nương, hoa sâm, hoa kiệu, ruộng bậc thang, v.v..

Phụ nữ Dao Thanh Phán và Dao Thanh Y huyện Tiên Yên trong một cuộc thi thêu trang phục dân tộc. 


Nhìn chung, phụ nữ Dao Thanh Phán Quảng Ninh còn bảo tồn nhiều nét trang phục truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, ở mỗi nơi, trang phục của người Dao Thanh Phán lại có chút khác biệt. Ở huyện Tiên Yên, phụ nữ Dao Thanh Phán thường cạo trọc đầu, mũ hình hộp chữ nhật xếp bằng nhiều lớp vải chồng lên. Phụ nữ Dao Thanh Phán ở huyện Hoành Bồ lại để tóc dài và không đội mũ. Áo của họ tương đối ngắn, ít hoa văn, may hơi mở ngực. Người Dao Thanh Phán ở Hoành Bồ thêu thêm chim công ở vạt trước. Dây lưng cũng vậy, nếu ở Tiên Yên được làm bằng vải in hoa thì ở Hoành Bồ lại được làm bằng lụa nhiều màu chập lại...

Huỳnh Đăng

Về nơi còn lưu giữ tục nhuộm răng đen

đăng 02:24, 10 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Là một trong những bản đầu tiên của cả nước được đón nhận danh hiệu văn hóa, đến nay bản Bộng vẫn còn lưu giữ được những nét đẹp cổ truyền, trong đó có tục nhuộm răng đen. 

Bà con dân tộc Thái ở bản Bộng, xã Thành Sơn (Anh Sơn) vẫn còn lưu giữ được những ngôi nhà sàn cổ. Ảnh: Công Khang


Từ ngã ba Cây Chanh – nơi dòng sông Con hòa vào sông Cả (sông Lam), men theo con đường gập ghềnh tiến vào thung lũng Thành Sơn (Anh Sơn). Từ trung tâm xã qua chiếc cầu treo bắc qua sông Con, phía bên kia là bản Bộng. Con đường dẫn về bản thấp thoáng bóng cây cọ và những ngôi nhà sàn cổ kính. Trước mái hiên, những cụ già ngồi nhai trầu bỏm bẻm, lưng địu cháu nhỏ, tay thoăn thoắt với xe chỉ và con thoi.

Chúng tôi tìm đến nhà ông Ngân Văn Thiện (hơn 80 tuổi), một trong những người cao tuổi còn minh mẫn và được nghe ông kể về làng bản mình. Ông bà nội của ông từng kể, bản Bộng được hình thành cách đây cả trăm năm. Thưở ấy, cuộc sống còn đói khổ, mất mùa liên tục, lại bị quan quân bắt ép sưu cao, thuế nặng, người Thái khắp nơi trong vùng tìm đường di cư mong tìm được nơi đất đai màu mỡ để làm ăn, sinh sống.

Một bộ phận trong cộng đồng người Thái từ mạn Phủ Qùy xuôi theo dòng sông Con về phía hạ nguồn và từ Phủ Tương xuôi theo sông Lam, rẽ vào ngã ba Cây Chanh cùng tìm nơi khai bản, lập làng. Họ đã chọn dải đất cao phía tả ngạn để dựng nhà cửa và tìm kế sinh nhai. Từ đó đến nay, các dòng họ luôn đoàn kết và gắn bó, cùng nhau chống chọi với thú dữ, với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, vượt qua những thăng trầm để xây dựng bản làng bình yên, no đủ.

Đặc biệt, năm 1998, bản Bộng được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận danh hiệu Làng Văn hóa, là một trong những đơn vị đầu tiên trong toàn tỉnh và cả nước được công nhận danh hiệu này. Trải qua gần 20 năm, bà con người Thái nơi đây luôn tự hào về làng bản của mình và luôn có ý thức giữ gìn những danh hiệu đã đạt được.

Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào Thái vẫn còn được lưu giữ ở bản Bộng. Ảnh: Công Khang 


Mấy năm trước, do áp lực gia tăng dân số, bản Bộng được xã chia thành 2 xóm (xóm 6 và xóm 8) để thuận lợi hơn trong công tác quản lý và phát triển kinh tế - xã hội. Tổng số hộ của cả 2 xóm hiện tại là trên 200, trên thực tế chỉ chia tách về mặt hành chính, còn đời sống văn hóa và các mối quan hệ vẫn được duy trì.

Ghé thăm nhà bà Lô Thị Thường (64 tuổi) – nơi của tổ dệt thổ cẩm của bản đang mải miết bên khung cửi. Tổ dệt của bản có 10 người, hầu hết ở độ tuổi trên 60, là những người có tay nghề cao, say mê với nghề dệt truyền thống và khao khát được truyền nghề cho con cháu.

Nhịp thời gian đã về cuối năm, công việc nhà nông đã bớt bận rộn cũng là lúc mùa cưới hỏi, lễ tết bắt đầu nên các mặt hàng thổ cẩm truyền thống bắt đầu “chạy”. Những dịp ấy, chị em phụ nữ không thể thiếu những bộ váy áo mới, khăn piêu và túi mang để “ ăn diễn” và “khoe” với các bạn xa gần. Chưa kể, theo phong tục, cô dâu người Thái về nhà chồng phải có đủ các loại trang phục truyền thống và chăn, nệm làm của hồi môn.

Sản phẩm dệt thổ cẩm của bà con bản Bộng vẫn còn giữ được những nét hoa văn cổ truyền, mang đậm bản sắc. Ảnh: Công Khang 


Vì thế, nhu cầu đang tăng cao, các bà, các chị làm không hết việc. Bà Thường cho hay: “Nghề dệt phù hợp với tuổi già, vừa giữ gìn được một nét văn hóa truyền thống, vừa có thu nhập phục vụ chi tiêu hàng ngày nên ai cũng vui và phấn khởi”.

Từ nhà bà Thường, chúng tôi sang nhà bà Lô Thị Hương (gần 80 tuổi) – dân bản thường gọi trìu mến là mế Hương, người được biết đến với tài hát khắp – một làn điệu dân ca đặc sắc của dân tộc Thái. Trong ngôi nhà sàn, giữa không gian làng bản cổ kính, giọng hát vang lên mộc mạc và sâu lắng nhưng không kém phần nhuần nhị và mượt mà, biểu lộ tâm hồn thiết tha yêu đời của người phụ nữ Thái.

Về bản Bộng, chúng tôi còn được chiêm ngưỡng bộ chiêng cổ của gia đình bà Lương Thị Thơi đang lưu giữ, tương truyền được truyền lại từ thuở khai bản, lập làng. Biết tin, những tay chơi đồ cổ ở các vùng tìm đến trả bộ chiêng với giá cao nhưng bà nhất quyết không bán. Bởi bà nghĩ rằng tiền bao nhiêu rồi cũng tiêu hết, chiêng đã bán đi rồi sẽ không bao giờ tìm lại được, sẽ có lỗi với tổ tiên và con cháu đời sau.

Hầu hết những phụ nữ cao tuổi ở bản Bộng đều có hàm răng đen nhánh. Tục ăn trầu và nhuộm răng đen đến nay vẫn được lưu giữ. Thông thường, phụ nữ khi bước vào tuổi trung niên đều nhuộm để có hàm răng đen, đẹp, chắc và ít khi bị sâu. Ảnh: Công Khang 


Có một điều đặc biệt, hầu hết những phụ nữ cao tuổi ở bản Bộng mà chúng tôi được gặp đều có hàm răng đen nhánh. Người già nơi đây bảo rằng tục ăn trầu và nhuộm răng đen có từ rất lâu đời, đến nay vẫn còn được lưu giữ. Thông thường, phụ nữ khi bước vào tuổi trung niên đều nhuộm để có hàm răng đen, đẹp, chắc và ít khi bị sâu. 

Rời bản bản Thái nơi hạ nguồn sông Con, chúng tôi vẫn còn lưu giữ trong tâm tưởng không gian cổ kính với những mái nhà sàn rêu phong, đường nét hoa văn và sắc màu thổ cẩm, tiếng thoi đưa lách cách, tiếng khắp mượt mà, tha thiết của mế Hương và cả những hàm răng đen nhánh của các bà mế ở bản Bộng. 

Công Khang

Độc đáo giàn phơi lúa rẫy của đồng bào vùng cao .

đăng 02:19, 10 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Những chiếc giàn phơi lúa rẫy từng gắn bó với cuộc sống nương rừng của người vùng cao. Sau khi gặt về người ta xếp lên giàn phơi chờ cho khô hẳn mới chuyển vào kho.

Một chiếc kép hình thang ngược của người dân bản Na Khốm, xã Yên Na, huyện Tương Dương. Ảnh: Hồ Phương 


Bản Na Khốm xã Yên Na huyện Tương Dương là bản Thái cổ có lịch sử hàng trăm năm, nơi có nhiều người từng là chức sắc thời phong kiến nay vẫn sống chủ yếu nhờ nghề làm rẫy.

Những ngày cuối tháng 9 âm lịch, gần như cả bản đã gặt xong lúa rẫy. Sau lễ mừng lúa mới người ta dựng những chiếc giàn phơi lúa. Giàn hình hộp hoặc hình thang dựng cạnh nhà bằng nứa và gỗ. Có người thiết kế kiểu hình thang ngược, đáy dưới ngắn hơn đáy trên. Nói chung tùy thích, chỉ miễn sao cho tiện dụng. Những bó lúa được xếp lên giàn, cuống bó lúa hướng ra ngoài, bông lúa như bị kẹp chặt bên trong giàn nứa. Người miền xuôi quen mắt gọi nôm na là “kẹp lúa”.

Suốt một thời gian rất dài, những chiếc giàn phơi lúa là một phần cuộc sống của người làm rẫy. Người Thái gọi là “lắc” cất lúa. Những chiếc giàn phơi lúa được dựng khi mùa gặt bắt đầu. Người Thái thường chọn một ngày đẹp để dựng “lắc”. Đó là một ngày trong tuần theo lịch riêng của người Thái. Một tuần có 8 ngày. Người ta gọi đó là ngày “được lộc”.

Đồng bào Thái coi việc phơi lúa trên giàn là phương pháp hữu hiệu. Ảnh: Hồ Phương 


Vào ngày đã định, người ta đi chặt tre, nứa, gỗ về dựng giàn phơi lúa. Rẫy gần thì dựng ngay tại nhà. Rẫy xa thì dựng gần chòi canh nương. Lúa gặt xong, người ta gùi về xếp thành từng dãy gọi là liền. Hết một dãy, thợ dựng giàn nẹp xung quanh bằng những cây nứa để giữ cho giàn thêm vững.

Ngày trước, khi muốn biết nhà ai đó năm nay được hay mất mùa, người ta thường hỏi: Chiếc “lắc” lúa của nhà anh cao mấy sải?” Chiếc thấp của nhà ít lúa cũng cao hai sải tay. Chiếc cao nhất đến 3, 4 sải. Nếu lúa quá nhiều người ta làm thêm chiế giàn phơi thứ hai.

Thật tình thì chiếc giàn phơi chỉ là nơi cất tạm lúa rẫy. Sau khi lúa đã khô, người ta sẽ chuyển vào kho. Chiếc kho lúa hình nhà sàn, thường dựng 4 cột. Người ta còn bọc một khoanh nhôm quanh cột để chuột khỏi trèo lên phá lúa.

Lúa được chất đầy trên giàn báo hiệu một mùa bội thu. Ảnh: Hữu Vi 


Trước khi chuyển lúa từ giàn phơi lên kho, dân bản thường tổ chức một lễ nhỏ gọi là lễ nhập kho lúa. Kể từ đó, chiếc giàn phơi coi như đã xong nhiệm vụ của nó. Người ta sẽ bỏ bẵng cho mục nát và sẽ dựng chiếc giàn mới vào mùa lúa sang năm.

Hữu Vi - Hồ Phương

1-10 of 22