Làng nghề - Tập quán - Lễ hội - Văn hóa văn nghệ

Bài mới

  • Về miền Tây tận mắt xem nghề 'ăn dưới đất, làm trên trời' Thốt nốt là loại cây đặc trưng gắn liền với hình ảnh đời sống của đồng bào dân tộc Khmer An Giang. Thật thú vị khi chứng kiến nghề 'ăn ...
    Được đăng 06:16, 29 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nghề gác kèo ong Rừng U Minh Hạ – Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia Nghề gác kèo ong của người dân ở hai huyện U Minh và Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau là nghề truyền thống được truyền từ thế hệ này sang ...
    Được đăng 00:58, 28 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nét đẹp gùi nam Bao đời nay hình ảnh chiếc gùi luôn gắn liền với những người phụ nữ DTTS Bắc Tây Nguyên, nên ít người biết rằng, vật dụng gần gũi, quen thuộc ...
    Được đăng 01:38, 23 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Người Thái Nghệ An và tín ngưỡng về con trâu Cái hình đầu trâu khắc trên 2 cánh cửa kho thóc hợp tác xã ở bản Mộng (vùng Khủn Tinh, Quỳ Hợp) mà tôi thấy hồi nhỏ đã gây cho ...
    Được đăng 01:42, 20 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lên rẻo cao Nghệ An xem hội chọi bò của người Mông Chọi bò là một hoạt động văn hóa đặc sắc của đồng bào Mông ở vùng cao Nghệ An, thể hiện tinh thần thượng võ và sự gắn bó với ...
    Được đăng 01:23, 20 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 16. Xem nội dung khác »


Về miền Tây tận mắt xem nghề 'ăn dưới đất, làm trên trời'

đăng 06:16, 29 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Thốt nốt là loại cây đặc trưng gắn liền với hình ảnh đời sống của đồng bào dân tộc Khmer An Giang. Thật thú vị khi chứng kiến nghề 'ăn dưới đất, làm trên trời' để cho ra loại đường thốt nốt thơm phức, vàng óng. 

Đường thốt nốt An Giang vẫn được nấu thủ công nên hấp dẫn du khách 


Do đặc thù địa hình thổ nhưỡng, ở An Giang chỉ có hai huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên cây thốt nốt sinh sôi phát triển tốt. Tất cả các bộ phận của cây thốt nốt đều được tận dụng từ thân, cho đến lá, hoa, quả để phục vụ cho đời sống hằng ngày. 

Cây thốt nốt gắn chặt vớt đời sống người Khmer cũng như cây dừa gắn chặt với người Kinh vậy. Người ta xem đường thốt nốt là đặc sản của địa phương, nhưng đối với người Khmer, đó là món quà quý của đất trời. Những tán đường thốt nốt đã nuôi sống những gia đình người Khmer qua bao thế hệ. 

Đường thốt nốt làm từ đâu? 


Chuyện kể rằng, để làm ra đường từ cây thốt nốt là một phát hiện tình cờ và trở thành một huyền thoại của người Khmer được truyền miệng từ đời này sang đời khác. 

Có một người đàn ông Khmer buổi trưa chăn bò nằm ngả lưng dưới tán cây thốt nốt nghỉ trưa. Đang thiu thiu ngủ thì ông cảm thấy có những giọt nước ngọt lịm trong lành tí tách rơi xuống mặt mình. Tò mò, muốn biết những giọt nước ấy từ đâu xuất hiện, trong khi bầu trời lại không mưa, ông bèn leo lên cây thốt nốt thì phát hiện, những giọt nước rơi xuống ban nãy xuất phát từ đọt hoa thốt nốt bị gãy ngang. Ông bèn dùng ống tre hứng đầy những giọt nước thần kỳ ấy đem về khoe với vợ con. 


Do nước thốt nốt để lâu sẽ bị chua không dùng được nên người Khmer mới nghĩ cách chế biến thành rượu và làm đặc lại như đường tán hiện nay. 

Ở An Giang nhiều nghề truyền thống đang dần mai một thì nghề nấu đường thốt nốt vẫn tồn tại với thời gian, bởi nhu cầu sử dụng thiết yếu như một món gia vị đặc trưng làm nên linh hồn của các món ăn trong đời sống hằng ngày như làm nước màu cho món cá kho, nấu bánh canh ngọt... 

Nghề làm đường thốt nốt không diễn ra quanh năm. Sau lễ Ok Om Bok của người Khmer vào tháng 11, cũng là lúc bắt đầu công việc thu mật đường. Nhưng đến cuối tháng 5, khi An Giang bước vào mùa mưa, thân cây thốt nốt trơn trượt khó leo lên để lấy, mật đường không còn nhiều, cũng là lúc kết thúc mùa làm đường. 




Đường thốt nốt được nấu bằng nước tiết ra từ những vết cắt ở bông thốt nốt, chứ không phải từ nước trong trái thốt nốt như nhiều người vẫn nghĩ. Mỗi cây thốt nốt mất 15 năm mới có thể thu hoạch được, một cây chỉ có khoảng 2 - 3 bông cho nước tốt, phần còn lại sẽ chờ thu hoạch trái. Nếu cây cho nước tốt thì mẻ đường sẽ thơm ngon, dễ đánh, màu sắc bắt mắt, dùng để đổ đường tán. Nếu ít nước hoặc nước không trong thì sẽ dùng để nấu đường chảy. 




Sống chết với nghề 

Với cái nghề “ăn dưới đất, làm trên trời” này đòi hỏi sức khoẻ, sự dẻo dai và khéo léo đến từ những người đàn ông trung niên. 

Để lấy được nước về nấu đường, người thợ phải leo lên những thân cây thốt nốt cao vút. Hàng ngày, phải canh thời gian hoa cho nước thích hợp để trèo lên cây lấy nước. 

Khi lên đến ngọn cây, người ta cắt đi phần ngọn những cuống hoa, dùng thùng nhựa nhỏ để hứng lấy mật hoa. 


Trước đây, người ta dùng ống tre gai, ống to, để hứng nước, bên trong được cho vào một ít vỏ cây sến (một loại thảo dược đặc biệt ở núi Cấm) có tác dụng hạn chế độ lên men, xua đuổi ong và kiến, tăng độ ngọt cho nước thốt nốt. Nhưng sau này, quá trình chuẩn bị rất mất thời gian và tốn nhiều công sức nên được thay thế bằng các thùng nhựa loại nhỏ để nhẹ công mang lên và bên trong được bỏ một ít vôi để làm chậm lại sự lên men của nước thốt nốt. 

Sau công đoạn lấy mật đường đầy trở ngại và nguy hiểm, công đoạn nấu đường cũng lắm gian nan. Nước sau khi được lấy về, trong vòng 24 giờ đồng hồ phải thắng đường ngay, để lâu hơn đường sẽ bị chua. 

Đường được thắng trên một cái chảo lớn, đặt trên trên một cái lò đất để giữ nhiệt, nấu khoảng 4 giờ đồng hồ để cô đặc lại thành đường chảy. 

Với những người thợ nhiều năm kinh nghiệm, chỉ cần nếm qua nước mật đường, họ biết được hàm lượng đường bên trong, để tính toán lượng vôi thêm vào để khử độ chua của đường. 

Trong quá trình nấu, người thợ sẽ canh đổ thêm mật đường vào và khuấy đều để tránh bị khét dưới đáy, làm cho đường liên tục được đun sôi đều đặn. 

Khi quá trình cô đặc đường kết thúc, chảo sẽ được nhắc ra khỏi lò, khuấy liên tục để có được màu vàng tươi óng ánh đặc trưng của đường thốt nốt. 


Tại những lò nấu đường truyền thống, ngoài nước thốt nốt ra hầu như không sử dụng thêm bất kỳ một loại chất phụ gia nào cả. 

Khi nguội, những tinh thể đường sẽ kết tinh lại một cách sánh mịn, khi cắn thử sẽ có vị ngọt bùi tan chảy trong miệng. Đường được nấu xong là đường chảy thô sẽ được đem giao cho các cơ sở sản xuất đổ vào khuôn thành đường tán bán trên thị trường như hiện nay. 

Cuộc sống và thu nhập của những người làm đường phụ thuộc rất lớn vào tự nhiên. Những tháng mùa làm đường kết thúc, những người đàn ông trong gia đình phải trông chờ xem có ai gọi đi làm thuê thì mừng, cũng có những ngày cả gia đình không có một đồng thu nhập nào cả. Nhưng bằng tâm huyết và muốn duy trì cái nghề truyền thống đã có từ lâu đời này không muốn nó bị mai một, họ vẫn cứ bám trụ từ đời này sang đời khác, để cái nghề “ăn dưới đất làm trên trời" mãi tồn tại cùng thời gian.

Henry Dương

Nghề gác kèo ong Rừng U Minh Hạ – Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia

đăng 00:58, 28 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Nghề gác kèo ong của người dân ở hai huyện U Minh và Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau là nghề truyền thống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Theo các bậc cao niên trong nghề thì gác kèo ong hình thành rất sớm, từ những ngày đầu tiên con người đặt chân đến vùng đất này khai hoang mở cõi khoảng nửa cuối thế kỷ thứ XIX.

Người gác kèo giỏi cần phải có kỹ thuật, kinh nghiệm và bí quyết gia truyền. Nghề gác kèo mang đến cho đời nhiều mật ngọt và sinh ra nhiều thế hệ nghệ nhân lão luyện, có kinh nghiệm và tri thức, tâm huyết với nghề, yêu rừng và đàn ong.

Vào tháng 11 – 12 hằng năm, khi rừng U Minh hoa tràm nở rộ, các loài ong bay về chọn những nhánh tràm nằm xiên để đóng tổ. Biết quy luật này, những cư dân sống giữa rừng tràm bạt ngàn này phát hiện ra tập tính của loài ong mật là chỉ làm tổ ở những thân cây nghiêng như kèo nhà, từ đó họ tìm hiểu, nghiên cứu rồi nghĩ ra cách làm nhà cho ong, và nghề gác kèo ong ra đời như vậy.


Những người thợ cho hay khoảng cuối năm là thời điểm chuẩn bị vào mùa gác kèo ong. Đây là dịp để người thợ trình diễn tay nghề và kinh nghiệm của mình, đồng thời cũng là nguồn thu nhập chính của rất nhiều hộ gia đình theo nghề “ăn ong” lấy mật. Khoảng tháng 5 đến tháng 8, những thợ rừng lại tiếp tục công việc gác kèo. Tuy nhiên, mật ong mùa nước chất lượng không bằng mùa khô.

Để thực hiện việc gác kèo ong, người thợ đầu tiên phải chuẩn bị bộ kèo, gồm thân kèo, trụ đỡ và cây nạng. Bộ kèo này thông thường được làm từ cây tràm, thân suông, có đường kính từ 10-15 cm, lột sạch vỏ, khô ráo. Trước khi mang vào rừng kèo, thường thoa một lớp sáp ong để mời gọi ong trinh sát.

Người gác kèo phải chọn nơi cây tràm thấp và trổ bông kéo dài đủ cho ong lấy mật; kế đến chọn hướng gió, hướng ánh sáng rọi vào tổ và khoảng trống để ong bay lên đi lấy mật và đáp xuống dễ dàng.


Việc gác kèo ong đòi hỏi người thợ phải có kinh nghiệm, không phải ai gác ong cũng đến làm tổ. Người ăn ong phải chọn vị trí gác kèo sao cho có ánh mặt trời rọi vào hai cả hai bên của kèo, nghĩa là ở buổi nào, cũng phải có ánh mặt trời chiếu vào. Kèo được gác theo hình mái nhà. Thời gian gác kèo tốt nhất là từ lúc mặt trời mọc đến 9 giờ sáng vì thời điểm này sẽ xác định đúng hướng mặt trời mọc.


Sau khi chuẩn bị xong mọi thứ, thợ “ăn ong” phải xóa hết dấu vết, vì bị động, ong sẽ không đến “ốp” (làm tổ). Với người thợ dày dạn kinh nghiệm, gác kèo xong là họ có thể đoán được khi nào ong đến ốp và thời gian nào quay lại để “ăn ong”.

Thời gian ong làm tổ từ khoảng 20 đến 30 ngày nhưng cũng có khi buổi sáng gác, chiều đã có ong đóng tổ. Dựa vào kinh nghiệm để đánh giá thời điểm “ăn ong”: Khi thấy tổ ong bít kín không còn lỗ nào thì có thể lấy mật hoặc sau khi gác kèo khoảng 20 ngày. Những kèo không có ong thì kiểm tra lại trảng, ánh sáng, hướng gió,… để điều chỉnh cho hợp lý.


Nguồn gốc cái tên “ăn ong” là do người thợ khi lấy mật ở tổ ong thường ăn thưởng thức ngay một phần mật và tàng ong non như tự thưởng cho mình, đồng thời đây cũng là cách để người thợ thẩm định chất lượng của mật.


“Ăn ong” vào thời gian nào trong ngày cũng được, tuy nhiên tốt nhất vào sáng sớm (5 đến 8 giờ) vì ít gió, còn sương đêm nên khó bắt lửa, ít rủi ro cháy rừng.

Để lấy mật, người thợ phải mang theo một chiếc gùi, cái hộp quẹt, nhúm bùi nhùi bằng xơ dừa, hay vỏ tràm khô, một con dao và chiếc mạng che mặt. Sau đó, người thợ chọn vị trí thuận tiện, phía đầu gió mà đốt đuốc, đôi khi dùng sào dài đưa đến gần tổ. Gặp khói cay, ong bay đi, dùng dao cắt phần mật, tách phần mật ra khỏi phần tàng, rồi cắt bớt phần tàng có màu đen, chỉ chừa lại một phần tàng thường khoảng 1/3 tổ để ong làm tổ mới.


Vì tập quán của con ong là khi lớn lên sẽ tách đàn làm tổ ong mới tiếp tục cho mật. Các thao tác trên được tiến hành nhanh gọn trong khoảng 2 đến 3 phút. Một tổ ong nếu biết cách lấy mật sẽ lấy được 3 đến 4 lần, nếu không biết cách chỉ lấy một lần là ong bỏ đi. Mỗi tổ ong trung bình cho khoảng 3-5 lít mật, có tổ cho đến 10 lít. Vào mùa khô mật ong nhiều và chất lượng tốt hơn mùa mưa, vì mùa mưa ong sinh con ít làm mật và lượng nước trong mật nhiều.


Trong quá trình ăn ong, khi bị ong đánh (đốt, chích) phải chạy ngược hướng gió. Việc bị ong đốt là chuyện thường xảy ra, có lúc gặp rắn độc, heo rừng thì tùy trường hợp mà có cách xử lý khác nhau. Vì thế, mỗi nhóm ăn ong thường có từ 3 người trở lên để hỗ trợ nhau.


Sau khi cắt lấy tàng ong ra khỏi tổ thì vắt hoặc ép lấy mật. Mật ong được trữ trong các bình bằng thủy tinh màu tối là tốt nhất, để nơi thoáng mát tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Không nên lược hoặc vớt hết phần sáp ong nổi trên mặt vì như vậy mật ong sẽ dễ bị chua. Mật ong thu hoạch vào mùa khô có thể để được 3 năm, mùa mưa thì thời gian để ngắn hơn, để lâu bị bọt vì lượng nước trong mật nhiều…


Mật ong rừng U Minh Hạ là đặc sản riêng của đất Cà Mau và nổi tiếng với chất lượng tốt nhất không nơi nào sánh được. Một số nghiên cứu cho thấy, mật ong rừng tràm là tự nhiên, chất lượng rất tốt, có nhiều dược tính, được dùng nhiều trong các sản phẩm dược đông y và sử dụng để bồi bổ sức khỏe. Tổ ong không chỉ cho mật mà còn cho các sản phẩm khác như sáp ong dùng để làm đèn cầy, ong non dùng chế biến các món ăn: tàng ong non chấm mật, gỏi ong non, tàng ong non lăn bột chiên,… Nhờ chất lượng hảo hạng, màu vàng óng, thơm mùi hoa tràm đặc trưng, để lâu vẫn giữ nguyên hương vị, cuối năm 2011, Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã công nhận sản phẩm mật ong U Minh Hạ là nhãn hiệu tập thể.


Để có được sản phẩm “Mật ong U Minh Hạ” nổi tiếng như hiện nay, người dân đã đầu tư rất nhiều thời gian và công sức cho nghề gác kèo ong. Nhằm ghi nhận sự sáng tạo và mang tính đặc trưng của người dân vùng đất rừng U Minh Hạ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận Nghề gác kèo ong ở huyện U Minh và Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau là Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia theo Quyết định số 4613/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019. Đây là động lực để những người gắn bó với nghề này có điều kiện phát triển kinh tế bền vững và góp phần bảo vệ rừng ngày một tốt hơn.

Gác kèo ong là nghề đặc trưng của vùng rừng U Minh Hạ, thể hiện rõ nét nhất những dấu ấn của các bậc tiền nhân. Họ đã để lại cho đời một nghề nghiệp hết sức độc đáo, để lại cho con cháu một sản phẩm tinh thần đặc sắc, đó là những kinh nghiệm, tri thức quý báu được tích lũy từ cuộc sống hàng ngày, thể hiện tính sáng tạo và thích nghi với môi trường trong quá trình khai hoang mở cõi.

Nghề gác kèo ong không chỉ có giá trị về kinh tế, là nguồn thu nhập nuôi sống bao gia đình bao thế hệ mà còn là nghề mang đậm bản sắc văn hóa địa phương, có sức sống bền bỉ, gắn chặt với rừng tràm và tồn tại hàng trăm năm qua. 

Mekong Delta Explorer

Nét đẹp gùi nam

đăng 01:38, 23 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Bao đời nay hình ảnh chiếc gùi luôn gắn liền với những người phụ nữ DTTS Bắc Tây Nguyên, nên ít người biết rằng, vật dụng gần gũi, quen thuộc này, vẫn còn một vẻ đẹp khác, mang hình dáng, đặc tính riêng dành cho người đàn ông. 

Ngày còn khỏe, thỉnh thoảng gặp chúng tôi, ông Phạm Liễm - cán bộ lão thành cách mạng ở thị trấn Đăk Rve (huyện Kon Rẫy) thường kể lại những kỷ niệm không thể nào quên ở vùng căn cứ cách mạng trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ gian khổ. Trong số những kỷ vật được ông nâng niu giữ kỹ có chiếc gùi do đồng bào Xơ Đăng vùng Đông Trường Sơn (huyện Kon Plông) đan tặng. Đó là chiếc gùi dành riêng cho nam giới, từng ở trên lưng, theo ông đi khắp nẻo vùng sâu từ trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Được đan chủ yếu bằng dây mây, nó thể hiện ngay trong hình hài của mình sự tinh tế, khéo léo của nghệ nhân và chứa đựng sức sống thật đáng kinh ngạc. “Đi rừng đi núi, len lỏi cây cối, phải có cái này mới được...” - Ông Liễm nói .

Nghệ nhân ưu tú A Lễ vừa giỏi thổi tà vẩu vừa khéo đan lát tre nứa ở làng Kon Chênh (xã Măng Cành, huyện Kon Plông) cho hay: Cũng như đồng bào các dân tộc Gia Rai, Ba Na, Giẻ Triêng…, người Xơ Đăng vùng Đông Trường Sơn không chỉ phổ biến loại gùi tròn dành cho các bà, các chị, các em, các cháu gái, mà còn có gùi dành cho nam giới.

Chiếc gùi ba ngăn của đàn ông người Giẻ Triêng. Ảnh: T.N 


Khác với gùi hình tròn ống đứng, thường đơn giản làm từ lồ ô, xăm lũ; gùi của đàn ông (klec) được đan cầu kỳ, kỹ lưỡng hơn và đặc biệt chỉ dùng nan là dây mây. Chủ yếu mang đi rừng, đi rẫy, nên gùi nam giới cấu tạo hình dẹp, phổ biến 1 ngăn hoặc 3 ngăn, có hai dây quàng trên vai, thân gùi ôm sát vào lưng, thuận tiện cho việc cơ động, nhanh nhẹn di chuyển. Dù có một ngăn hay ba ngăn, thì gùi đều chủ yếu để đựng các vật dụng “bất ly thân” của “chủ nhân” như con dao, bật lửa hay nắm cơm và cả con chuột, con sóc, con chim… khi săn bắt được.

Từ xưa đến giờ, làng nào cũng có người biết đan và đan gùi tròn thì nhiều người rất rành, nhưng đan gùi dành cho đàn ông thì chỉ nghệ nhân lão luyện mới có thể đảm nhận. Thực tế, đan loại gùi này đòi hỏi sự tỉ mỉ, tinh tế trong từng sợi lạt, đường đan, sự khéo léo trong từng bộ phận kết nối. Mỗi chiếc gùi đẹp đều có thể coi là một “tác phẩm” sáng tạo của nghệ nhân đan lát.

Theo Nghệ nhân ưu tú A Nan ở làng Kon Stiu (xã Ngọc Réo, huyện Đăk Hà): Gùi dành cho đàn ông của người Xơ đăng (nhánh Tơ Đrá) được gọi là kchui. Kchui phổ biến không chỉ với hình dẹp, mà còn có dạng hình chữ nhật đứng (phần nắp đậy hình thang). Với hai loại này, gùi đều có khung đỡ vững chắc, song gùi dẹp (một ngăn hoặc ba ngăn) thì khung bằng cật của cây lồ ô, xăm lũ được các mối đan bằng dây mây kết kín, mềm mại. Riêng kchui hình chữ nhật đứng thì khung lộ ra, dễ thấy. Nguyên liệu để đan kchui được chọn rất kỹ, riêng sợi mây để chẻ lạt phải là loại mây “vừa tuổi” hoặc hơi non một chút, có độ dẻo cao để dễ đan, dễ uốn. Vì đòi hỏi kỹ thuật cao, nên từ trước đến giờ, ở các làng tại địa bàn xã Ngọc Réo, kchui đều chỉ được các nam nghệ nhân rành nghề tạo nên. 

Nghệ nhân ưu tú A Nan. Ảnh: T.N 


Đồng bào các DTTS sinh sống lâu đời tại địa bàn tỉnh đều có thói quen sử dụng các loại gùi, song riêng gùi dành cho nam giới vẫn có các kiểu dáng và cách đan, cách kết cấu thành tổng thể chiếc gùi khác nhau. Kích thước và độ dày, mỏng của gùi cũng không giống nhau.

Ở làng Pu Tá, xã Măng Ri (huyện Tu Mơ Rông), công việc đan lát của những người đàn ông Xơ Teng (một nhánh của dân tộc Xơ Đăng) thường được tập trung vào những lúc nông nhàn, những khi rảnh rỗi, như sau mùa thu hoạch rẫy vào tháng 11 năm này sang tháng 1, tháng 2 năm sau. Gùi dành cho nữ có tên gọi kchoi santa, còn gùi dành cho nam là k'choi poong.

Chiếc gùi ba ngăn của đàn ông vùng núi Ngọc Linh. Ảnh: T.N 


Trong khi kchoi santa dành cho phụ nữ được đan cầu kỳ với nhiều hoa văn (hình quả trám, mắt cáo, chân chim, tai thỏ, đuôi sam…), thì hoa văn của k'choi poong đơn giản hơn, nhưng nan đan lại tinh xảo hơn. Kchoi poong thường có ba ngăn: Ngăn chính ở giữa lưng, hai ngăn hai bên, ôm trọn khuôn lưng. Theo ông A Duân - Già làng Pu Tá, người đan thường sử dụng kỹ thuật đan nong đôi (bắt hai nan đứng, đè 2 nan đứng). Để đan chiếc gùi một ngăn, trước hết, đan một tấm nan bằng dây mây theo kích thước nhất định rồi gấp đôi lại, sau đó, đan viền hai bên cho nối vào nhau theo cách đan tết đuôi sam. Phần miệng gùi cũng đan theo kiểu tết đuôi sam. Dùng hai thanh cây xăm lũ đã được vót sẵn kẹp vào giữa thân kchoi poong để tạo thành ngăn hai bên riêng biệt, sao cho đầu nhô của hai thanh này gắn với 2 viền của ngăn chính ở giữa thân gùi. Quai đeo của k'choi poong cũng được đan bằng sợi mây bánh tẻ, khoác êm lên hai vai. Nhiều khi, chiếc kchoi poong còn được trang trí bằng những sợi tua được se từ cây rừng. 

Mạnh mẽ và lâu bền chính là đặc tính nổi bật của những chiếc gùi dành cho đàn ông, do chính các nghệ nhân, những người thợ là nam giới người đồng bào dân tộc Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng… tạo ra. Theo thời gian, tuy không còn nhiều và phổ biến sử dụng như trước, song những chiếc klec, kchui, kchoi poong… bình dân mà độc đáo vẫn được tạo tác và trao truyền, là niềm tự hào về một nghề thủ công truyền thống, góp phần bồi đắp thêm một nét đẹp văn hóa dân gian của đồng bào các DTTS Bắc Tây Nguyên.

THANH NHƯ

Người Thái Nghệ An và tín ngưỡng về con trâu

đăng 01:40, 20 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:42, 20 thg 7, 2020 ]

Cái hình đầu trâu khắc trên 2 cánh cửa kho thóc hợp tác xã ở bản Mộng (vùng Khủn Tinh, Quỳ Hợp) mà tôi thấy hồi nhỏ đã gây cho tôi một ấn tượng rất mạnh. 

Sừng trâu được chạm trổ trên cửa của ngôi nhà người Thái. Ảnh tư liệu: Hồ Phương 


Tôi đi học vỡ lòng, từ nhà qua khu rừng Pả Đông (rú mồ), lội một con suối nhỏ, lên hết dốc là thấy ngay “cái đầu trâu”. Thú thật, tôi thấy sờ sợ. Ai đã khắc cái đầu trâu thật khéo léo? Mỗi cánh cửa là 1 cái sừng cong vút, ở giữa, chỗ buộc mũi (sẹo) là 1 cái khóa sắt to, đen. Hai con mắt trâu nhìn chòng chọc như muốn húc chết ngay kẻ nào dám bén mảng đến trộm.

Nhưng dần dần tôi cũng không sợ nữa! Tôi nghĩ đến con trâu nhà mình, con trâu thân thương dưới sàn nhà tôi. Nó biết quỳ xuống để cho tôi trèo lên lưng. Nó biết bơi ra dòng Nặm Huống chơi với tôi… Còn khi bố đem đi cày thì nó rạch những đường cày thẳng tắp… Không có trâu thì khó mà làm ruộng! “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, đó là câu tục ngữ của người Kinh, người Thái cũng vậy! 

Tượng trâu phủ phục, trong đó có 6 trâu đen và 3 trâu trắng được đặt trước đền Chín Gian. Ảnh: P.V 


Và còn hơn thế nữa! Con trâu đối với người Thái còn đi vào tín ngưỡng. Người Thái thờ trâu, tôn vinh trâu. Trong bài cúng mời trâu về ăn Tết, có đoạn: “Đừng để con hổ vằn nó bắt/Đừng để trâu ăn gần bờ vực mà giật thột/Đừng để trâu ăn gần hố khoai mài mà ngã/Con rận đừng vào kẽ chân/Con sên đừng chui vào mũi/Trâu ăn cỏ lau, cỏ gianh cho lớn/Trâu ăn cỏ bãi bằng cho khỏe/Để cho mỗi gốc cây có một dây buộc/Mỗi gốc cây có một con trâu/Cho trâu về bản rào rào như trời nổi cơn dông/Trâu vào gầm sàn ào ào như mưa trút/Cho có con trâu đực sừng thuôn/Cho có trâu sừng cong cọ lưng ken két dưới gầm thang/Cho có trâu sừng xoắn là trâu lộc/Sao cho đi xuống dưới được tiếng là trâu lắm/Đi lên trên được tiếng là trâu nhiều/Được đẹp nhờ có thần tổ chủ/Có được trâu già trâu mộng nhờ thần tổ chăn trâu…”.

Tôi nhớ lễ tế trâu trong đám tang ông bác tôi cách đây nửa thế kỷ. Người ta dựng 1 cái nhà thờ nhỏ, bằng tre nứa dưới sân. Dắt con trâu đến buộc vào cái cột chôn giữa sân. Chủ tế đọc bài cúng, dâng trâu cho hồn ma. Sau khi chọc tiết, trâu chết, người ta lấy chạc mũi trâu buộc vào cột nhà thờ. Dâu rể mặc áo đỏ (áo ma), thắt lưng xanh, đi vòng quanh trâu, vẩy nước vào trâu, châm bó đuốc vào trâu (tỏ ý làm thịt). Xong, trâu được mổ. Người ta cắt lấy đầu trâu đặt lên bàn thờ (trên nhà thờ đó). 

Cặp sừng trâu được gọi là "sừng chồng, sừng vợ" thường được người Thái sử dụng trong ngày cưới. Ảnh tư liệu: Hồ Phương 


Ở đền Chín Gian (Quế Phong) vật tế lễ cũng là trâu. Và con trâu trở thành đối tượng trung tâm của các hoạt động tế lễ: “Hãy xem nhé, chá gốc (dẫn đầu) sắp được dắt trâu/Chá ngọn (thành viên) sắp được vác mía/Vác mía cây nhỏ để nhử trâu xuống/Cháu trai xuống bến giữa để tắm trâu “chủ trời”/Chá nhỏ lại bến rộng hôm nay để tắm trâu Then (trời)/Trông thấy các ông Đẳm (tổ tiên) hôm nay xuống bến rạt rạt/Nước ống bạc ống vàng lại tắm trâu “chủ trời”/Chá gốc dắt trâu vào với cọc/Hãy tắc trâu vào với chạc/ Buộc kỹ vào với cột nhiều vòng/Nhưng khi trâu chưa gục ta - mình đây hãy dậy bắt/ Khi trâu chưa chết hãy dậy đuổi/ Trâu trắng đó ta hãy vây riết/ Trâu đen ta - mình mọi người đuổi vây ngặt/Buộc nhiều con hãy nghỉ đấy nhé!/Dáo lưỡi nhỏ lại giơ quá vai/ Gươm lưỡi sắc lại giơ chém trâu/ Nhưng đừng chém trâu ngã về nước kẻo mất vía cá đấy nhé!/Đừng chém trâu ngã về ruộng kẻo mất vía lúa/Ngã về bản mất vật nuôi của cải trong nhà/Chém, hãy khéo chém cho trâu già gục về núi Pu Căm”. 

Người Thái quan niệm người chết thì hồn về sống với tổ tiên ở mường Trời nên phải có trâu để làm ăn. 

Nghi lễ rước trâu. Ảnh: Đặng Cường 


Trở lại với đám tang ông bác tôi đã nói ở trên. Thầy mo đọc bài cúng dâng trâu: Con cháu phải: “Nộp cả trâu sừng ngoác, sừng quặp cho bố (mẹ) về Bôn (trời) cày ruộng cày mạ/Con cháu cho trâu sừng gộc/Lên trời để cày ruộng (mà) cấy/Lấy trâu 1, ra trâu đàn/ Bố (mẹ) hãy dắt trâu đi trước/Tôi (thầy mo) vác gươm lưỡi sắc đi áp tải sau/Hãy dắt trâu đi lộp cộp/Tắc trâu đi xăm xăm/Cái roi (của mo) thì vung vẩy theo sau”.

Bây giờ đã công nghiệp hóa. Đã xuất hiện những con “trâu sắt” làm việc trên đồng nhưng trên nhiều miền quê xứ Nghệ, con trâu vẫn sẽ mãi gắn với đời sống của người Thái. 

Quán Vi Miên

Lên rẻo cao Nghệ An xem hội chọi bò của người Mông

đăng 01:23, 20 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Chọi bò là một hoạt động văn hóa đặc sắc của đồng bào Mông ở vùng cao Nghệ An, thể hiện tinh thần thượng võ và sự gắn bó với vật nuôi trong gia đình. Những cuộc chọi bò đã mang đến sự háo hức, hồi hộp và phấn chấn cho cư dân sinh sống trên đỉnh cao sương phủ. 

Một buổi sáng đầu tháng 7/2020, anh Xồng Bá Dênh ở bản Ca Nọi, xã Na Ngoi (Kỳ Sơn) dắt chú bò lớn và khỏe nhất của gia đình đến sân tham gia hội chọi bò. Không riêng gì anh Dênh mà nhiều gia đình có bò khỏe ở các bản khác cũng đưa bò đến tham gia hội chọi, số lượng "đấu sĩ" bò lên tới hàng chục con. Ảnh: Công Kiên 


Hôm ấy, bò của Xồng Bá Dênh thi đấu với bò của anh Già Bá Chư (màu trắng). Hai "đấu sĩ" có kích thước và cặp sừng tương đương. Bò của anh Chư ít tham gia các trận đấu ở bản, vì chủ nhân thường hay đi làm xa. Trong khi đó, con bò mộng lông đen của Dênh đã giành chiến thắng trong rất nhiều cuộc đấu. Ảnh: Công Kiên 


Hai "đấu sĩ" vào cuộc quyết liệt với nhiều miếng võ nguy hiểm nhằm làm cho đối phương lúng túng, dẫn đến sơ hở, buộc phải bỏ chạy. Ảnh: Công Kiên 


Trong một tình huống bất ngờ, bò của Già Bá Chư đã nhanh chóng dùng sừng gì chặt mũi đối phương xuống đất, đẩy đối phương vào thế bị động. Ảnh: Công Kiên 


Bị đối phương ghì chặt, nguy cơ bị thương ở mắt, cuối cùng chú bò đen của anh Xồng Bá Dênh buộc phải bỏ chạy, kết thúc chuỗi những trận bất bại của "đấu sĩ" bò đen. Phần thắng thuộc về chú bò của Già Bá Chư. Để đảm bảo an toàn cho người dân xem chọi bò, Ban tổ chức đã cắt cử những thanh niên to khỏe, cầm sào và thòng lọng, sẵn sàng ngăn cản những chú bò hiếu chiến tiến về phía khán giả. Ảnh: Công Kiên 


Hội chọi bò thường tổ chức theo thể thức thi đấu theo từng vòng, những "đấu sĩ" thắng trong các cuộc đấu được chọn vào chọi ở vòng tiếp theo, cuối cùng là trận chung kết để chọn danh hiệu vô địch. Hôm đó, giải vô địch thuộc về chú bò của Già Bá Chư sau khi đánh bại đối thủ ở trận chung kết. Ảnh: Công Kiên 


Kết thúc trận đấu, bà con dân bản ra sân chúc mừng Già Bá Chư và "đấu sĩ" trắng. Sau hội chọi ở bản, dù thắng hay thua, những "đấu sĩ" bò vẫn tiếp tục được chủ nhân chăm sóc, là gia tài lớn của gia đình. Và tiếp tục tham gia ở các hội chọi bò lần sau. Già Bá Chư tâm sự, để có được con bò khỏe, anh phải chăm sóc thường xuyên. Hàng ngày, ngoài chăn thả trên rẫy, tối về anh còn cho thêm cỏ sữa. Bò chiến thắng là một niềm tự hào của cả gia đình, cả bản. Ảnh: Công Kiên 


Hội chọi bò từ lâu đã trở thành truyền thống của cộng đồng người Mông. Mỗi khi có hội chọi, người dân không kể già trẻ, trai gái đều tập trung về bãi chọi để theo dõi và cổ vũ cho các chú bò của bản mình. Bà con nói vui rằng: "dân bản ta, cứ có niềm vui là đưa bò đi chọi. Nhờ có hội chọi bò mà người Mông gắn kết với nhau hơn". Ảnh: Công Kiên 


Công Kiên

Làng rèn ở Hà Tĩnh “rực lửa” trong những ngày nắng nóng

đăng 04:49, 18 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Mặc dù nắng nóng gay gắt nhưng những người làm nghề rèn ở phường Trung Lương (TX Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh) vẫn hăng say lao động bên lò lửa rực đỏ…

Nghề rèn ở phường Trung Lương, TX Hồng Lĩnh nổi tiếng từ bao đời nay, nhưng hiện toàn phường chỉ còn 110 hộ theo nghề.


Nghề rèn là nghề vất vả, quanh năm phải tiếp xúc với hơi than độc hại. Những ngày nắng nóng gay gắt khiến người làm nghề càng vất vả thêm.


Từ 4h sáng, những tiếng búa, tiếng đe, tiếng kim loại va vào nhau vang lên khắp các xưởng rèn ở Trung Lương.


Anh Nguyễn Trọng Hà, tổ dân phố Tân Miếu, phường Trung Lương cho biết: Người làm nghề rèn ở phường Trung Lương thường thức dậy, bắt đầu công việc từ lúc 4h sáng và kết thúc công việc lúc 19h mỗi ngày.


Gia đình anh Hà có 4 đời làm nghề rèn. Trước kia, các sản phẩm từ nghề rèn ở Trung Lương được làm thủ công. Từ năm 2004, anh là người đầu tiên ở Trung Lương đầu tư máy dập.


Hiện, toàn phường Trung Lương, chỉ gia đình anh Hà đăng ký sản phẩm OCOP.


Mỗi ngày, vợ chồng anh sản xuất được 25-30 sản phẩm như dao, liềm…, cho thu nhập 500-600 nghìn đồng.


“Cái nghề này nó khác với những nghề khác, cứ ráo mồ hôi là đói. Nghề rèn là nghề truyền thống và cũng là nguồn thu nhập chính, nên dù vất vả nhưng gia đình tôi vẫn phải mưu sinh”, anh Hà chia sẻ


Anh Nguyễn Tiến Chương ở tổ Trung Hậu, phường Trung Lương cũng là người đã có hàng chục năm gắn bó với nghề rèn


Thời tiết nắng nóng cộng với bụi than, nhiệt độ cao... nhưng với anh Chương, dường như chuyện đó chẳng thấm vào đâu...


Ở Trung Lương, không những đàn ông miệt mài với công việc dù thời tiết nắng nóng, mà nhiều phụ nữ trực tiếp làm nghề rèn cũng luôn bận rộn


Chị em ở làng rèn...


...thường tham gia ở công đoạn làm nguội như: mài, gọt...


Sản phẩm từ nghề rèn của Trung Lương nhiều người tiêu dùng ưa chuộng, được xuất bán ở trong và ngoài tỉnh.


Nam Giang

Làng nghề ươm keo lai Hòa Hải

đăng 02:56, 16 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Nghề ươm cây keo lai đã giúp cho sự phát triển kinh tế của thôn miền núi Hòa Hải (xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, Đà Nẵng) ngày càng đi lên, đời sống của người dân nơi đây khấm khá hơn so với những năm trước đây.

Quy trình trồng và chăm sóc khép kín

Có dịp về thăm thôn miền núi Hòa Hải vào những ngày này, chúng tôi thấy hai bên QL14G bạt ngàn những cánh rừng trồng và những vườn ươm cây keo lai giống. Trao đổi với chúng tôi, ông Võ Sơn, trưởng thôn kiêm Bí thư Chi bộ thôn Hòa Hải cho hay, hiện nay, toàn thôn có trên 120 hộ dân với khoảng 500 nhân khẩu đều làm giàu chính đáng đó là nghề ươm cây keo lai.

Chị Nguyễn Thị Năm đang chăm sóc vườn ươm. 


“Keo lai này trồng vào khoảng 5 - 6 năm là khai thác. Khi khai thác, thân cây để xuất khẩu, nhánh và vỏ để đun, lá để làm phân xanh. Nghề ươm giống cây keo lai và trồng rừng nơi đây đã mang lại tổng thu nhập từ 400 đến 500 triệu đồng/năm cho nhiều hộ gia đình. Hiện nay, Hòa Hải có hơn 200 ha rừng trồng. Gần 80% hộ dân trong thôn đều gắn bó với kinh tế rừng, dựa vào rừng để thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu. Đặc biệt là nghề ươm giống cây keo lai để trồng rừng sau khai thác phát triển mạnh, bình quân mỗi hộ thu lãi từ 80 đến 100 triệu đồng/năm... Nếu không mạnh dạn mở ra hoạt động ươm cây và triển khai trồng rừng, có lẽ đến nay tỷ lệ hộ nghèo trong thôn còn cao. Hiệu quả từ việc trồng rừng nguyên liệu theo hình thức chuyên canh đã được khẳng định qua vài vụ, nhưng hiệu quả sẽ còn tăng lên, giá trị từ đất rừng sẽ thu về xứng đáng một khi bà con tiếp thu và áp dụng kỹ thuật ươm, trồng, chăm sóc để khép kín quy trình sản xuất…” - Ông Võ Sơn cho biết.

Anh Trần Văn Lai đang vận chuyển cây keo lai giống để xuất bán. 


Anh Trần Văn Lai (58 tuổi), một trong những người ươm cây keo tai tượng nhiều nhất trong thôn cho hay, hơn 10 năm trở lại đây, phong trào trồng rừng bắt đầu phát triển mạnh do áp dụng nhiều biện pháp khoa học - kỹ thuật nên các hộ dân dần thay đổi phương pháp canh tác từ hình thức quảng canh sang chuyên canh như việc áp dụng bón phân DAP cho trồng rừng. Với việc thực hiện giải pháp trồng rừng chuyên canh dựa trên cơ sở áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp và liên hoàn để nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, hiệu quả kinh tế không chỉ nâng cao thu nhập cho người trồng rừng mà còn bồi dưỡng được chất đất và môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển trồng rừng ổn định lâu dài và bền vững. Nhờ đó, cây rừng sinh trưởng và phát triển nhanh đạt tỷ lệ sống hơn 90%. Chu kỳ trồng rừng chuyên canh cũng được rút ngắn từ 1 đến 2 năm, năng suất lại tăng gần 1,5 lần so với trồng rừng quảng canh.

Làm giàu chính đáng từ nghề ươm keo lai

“Nhờ thu nhập từ bán giống cây keo tai tượng, 100% các hộ không xâm phạm tài nguyên rừng và chuyển đổi sang trồng rừng có thu nhập khá. Riêng gia đình anh Trần Văn Lai (2 lao động chính và 1 lao động phụ), trung bình mỗi năm ươm 1 triệu cây, giá bán mỗi cây là 500 đồng, sau khi trừ chi phí, anh còn lãi được 200 triệu đồng. Chị Nguyễn Thị Năm, mỗi năm ươm và xuất bán khoảng 200.000 cây, sau khi trừ chi phí, mỗi năm lãi được 60 triệu đồng. Mỗi năm 2 vụ, mỗi vụ có đến 50 hộ ươm, mỗi năm ươm khoảng 10 triệu cây keo lai để trồng và bán, mang lại nguồn thu đáng kể (lãi khoảng 2 tỷ đồng/năm). Đến nay, đa số các hộ đã có rừng cây keo lai, có hộ có từ 20 đến 30 ha rừng trồng, hàng năm đem lại nguồn thu đáng kể. Toàn thôn có gần 100% nhà xây, xe máy, phương tiện nghe nhìn, 100% các hộ sử dụng điện và nước sạch, 100% các hộ có điện thoại cố định và di động và hộ nghèo trong tiêu chí mới cơ bản đã được xóa. Có nhiều hộ thu nhập mỗi vụ từ 50 triệu đến 100 triệu đồng như chị Nguyễn Thị Năm, anh Trần Đình Phùng, Nguyễn Tuy, Nguyễn Thị Kim Thoa… và đem lại công ăn việc làm cho hàng trăm lao động, nhất là giới thanh thiếu niên. Không chỉ đáp ứng đủ cây giống chất lượng cao tại chỗ mà bà con còn xuất bán cây con cho nhiều địa phương ở Quảng Nam, Thừa Thiên Huế…” - Ông Võ Sơn cho hay.

Khách hàng mua giống cây keo vận chuyển bằng ô tô. 


Nhiều nhà xây bề thế nhờ ươm và trồng cây keo lai. 


Về Hòa Hải hôm nay toàn một màu xanh của các vườn ươm cây keo lai xanh ngút mắt. Hai bên QL14G, những căn nhà tôn rỉ sét, lụp xụp ngày nào, nay được thay bằng những ngôi nhà xinh đẹp, khang trang; các con đường kiệt hẻm, ngày xưa nắng bụi, mưa bùn nay đã 100% bê tông và nhựa hoá, đường sá khang trang sạch đẹp. Trong những thành quả nói trên, thu nhập từ nghề ươm cây keo lai đóng vai trò không nhỏ trong việc xóa đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng và góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.

Tiên Sa

Dân ca M’nông chứa đựng bao nhiêu cái hay, cái đẹp!

đăng 01:47, 14 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trong quá trình sinh sống và phát triển, đồng bào M’nông trên địa bàn tỉnh Đắk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung đã sáng tạo các giá trị văn hóa độc đáo như cồng chiêng, múa xoang, ẩm thực. Trong đó, hát dân ca (Nau M’pring) M'nông được lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác. 

Nét văn hóa độc đáo 

Dân ca là hình thức diễn xướng dân gian được người M’nông sáng tác, lưu truyền, thực hành trong cuộc sống, lao động hàng ngày như hát ru con, hát khấn thần trong các nghi lễ, hát đố, hát đồng dao, hát kể sử thi… 

Dân ca M'nông được khai thác, trình diễn trên sân khấu 


Dân ca M’nông gồm hai thành phần cơ bản là âm nhạc và lời ca, gắn bó và hỗ trợ cho nhau. Nội dung của những bài dân ca chứa đựng, phản ánh cuộc sống thường ngày như tình yêu đôi lứa, ca ngợi bon làng, ca ngợi những chàng trai anh dũng, có sức khỏe phi thường chiến đấu chống lại cái ác để bảo vệ bon làng, ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp. 

Bên cạnh đó còn có những bài hát dùng để khấn cầu các thần linh làm cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cuộc sống con người no ấm… Điều này được biểu hiện qua nhiều thể loại như dân ca lao động, dân ca phong tục, tập quán, dân ca nghi lễ, tín ngưỡng... 

Về cách thể hiện thì có 2 hình thức diễn xướng là độc diễn (hát một người) và hát đối đáp giao duyên nam nữ hoặc những người lớn tuổi với nhau. Ngày nay, dân ca của người M’nông vẫn còn hiện diện trong đời sống, trong các cuộc vui, lễ hội, liên hoan, giao lưu giữa các nhóm cộng đồng, và còn được khai thác bằng trình diễn nghệ thuật trên sân khấu. 

Dân ca như một lời ước vọng 

Dân ca gắn liền với cuộc sống mỗi người từ khi lọt lòng cho đến khi về với đất mẹ. Vì vậy, ở các bon làng trên địa bàn tỉnh, dân ca M’nông vẫn hòa mình với cuộc sống dân dã của đồng bào. Hiện nay, vẫn còn không ít người say mê hát dân ca, thuộc lời hát cổ và đang miệt mài sưu tầm để lưu giữ, truyền dạy cho lớp trẻ... 

Dân ca gắn liền với cuộc sống hàng ngày của người M'nông 


Chị Thị Nớp bon Bu Prăng 1, xã Quảng Trực (Tuy Đức) năm nay gần 40 tuổi nhưng có thể thuộc và hát hơn 30 bài dân ca M''nông. Từ nhỏ, chị đã được nghe mẹ, bà hát ru nên chị thuộc rất nhiều làn điệu dân ca. Những làn điệu dân ca nằm lòng từ thuở nhỏ cứ bồi tụ theo thời gian và biến thành hơi thở, lời nói, giọng ca của chị. Giờ đây, mỗi khi cảm xúc một điều gì thì cho dù ở đâu, làm gì, chị đều hát dân ca. 

Chị Thị Nớp cho biết: “Tôi thích dân ca, dân vũ từ nhỏ, đến bây giờ vẫn thích, không thể bỏ được những gì ông cha để lại. Có hát và thấu hiểu những bài dân ca của người M’nông thì mới thấy được cái hay, cái đẹp chứa đựng trong những lời ca”. 

Nghệ nhân ưu tú Y Nhép ở bon Pi Nao, xã Nhân Đạo (Đắk R’lấp) cũng cho hay: “Đối với đồng bào M’nông chúng tôi, dân ca là chỗ dựa tinh thần mỗi khi gặp khó khăn, vui buồn. Dân ca như một lời ước vọng, khao khát về một ngày mai tươi sáng hơn. Cho dù ở đâu, làm gì thì tôi cũng hát dân ca”. 

Theo rà soát, thống kê chưa đầy đủ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Nông, toàn tỉnh hiện có 169 người biết hát dân ca của người M’nông (Krông Nô 22 người, Tuy Đức 54 người, Đắk R'lấp 39 người, TP. Gia Nghĩa 6 người, Đắk Song 15 người, Đắk Mil 18 người). Trong đó, khoảng 20 nghệ nhân có thực hành và truyền dạy dân ca M’nông. Tuy nhiên, có một thực trạng đáng buồn là hiện nay, số nghệ nhân biết hát dân ca ở các bon làng không còn nhiều, đa phần là già yếu, lớp trẻ cũng chẳng mấy mặn mà với loại hình dân ca này. 

Phát huy giá trị của di sản 

Để phát huy di sản văn hóa độc đáo này của người M’nông, ngành Văn hóa đã xây dựng 4 chương trình hoạt động cho hai bon văn hóa điển hình là bon Pi Nao, xã Nhân Đạo (Đắk R'lấp) và bon N’Jriêng, xã Đắk Nia (TP. Gia Nghĩa). Bên cạnh tổ chức 14 lớp truyền dạy dân ca tại các huyện, thành phố với 300 người tham gia, hiện đã có 7 đội văn nghệ dân gian điểm được thành lập. 

Ngành Văn hóa, các địa phương tổ chức sưu tầm, tư liệu hóa, ghi âm, quay phim, chụp hình, phỏng vấn già làng, nghệ nhân am hiểu về dân ca để lưu trữ thông tin phục vụ công tác nghiên cứu, bồi dưỡng kỹ năng cho lớp trẻ tại chỗ. Trên cơ sở đó, hiện nay ngành Văn hóa đã xây dựng hồ sơ trình Chính phủ công nhận dân ca M’nông là di sản phi vật thể cấp quốc gia. 

Bài, ảnh: Mỹ Hằng

Đặc sắc trang phục truyền thống của người Thái ở Kiến Đức

đăng 05:52, 12 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Váy, áo, thắt lưng, khăn đội đầu… với những đường thêu chỉ xanh đỏ, hoa văn tượng trưng cây cối, hoa lá, chim muông. Những bộ phận ấy phối hợp hài hòa với nhau tạo nên một bộ trang phục uyển chuyển, thể hiện được vẻ đẹp, sự duyên dáng của người con gái Thái. Trang phục được mặc vào những dịp quan trọng như lễ cưới hỏi, lễ cúng tổ tiên, tham gia lễ hội cộng đồng và địa phương, tết nguyên đán…

Ở khối 8, thị trấn Kiến Đức (Đắk R’lấp) hiện có làng người Thái với hơn 50 hộ sinh sống. Người Thái nơi đây chủ yếu là Thái đen, có nguồn gốc ở các tỉnh Thái Nguyên, Thanh Hóa vào định cư từ trước năm 2000. Hơn 20 năm làm ăn, gắn bó với cao nguyên M’nông, đồng bào Thái nơi đây có nhiều đổi thay trong đời sống. Dù vậy, họ vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình trên mảnh đất đỏ bazan. 

Đồng bào Thái ở khối 8, thị trấn Kiến Đức (Đắk R'lấp) với trang phục truyền thống nhân các ngày lễ, hội 


Ấn tượng đầu tiên là sự tự hào với bản sắc văn hóa của mỗi người con Thái với dân tộc mình. Đó là những bộ trang phục đặc sắc, những nghi lễ độc đáo hay những món ăn mang cả hương vị núi rừng. Hầu hết những người phụ nữ Thái đen nơi đây đều cất giữ cẩn thận trong tủ đồ một bộ trang phục truyền thống. Váy, áo, thắt lưng, khăn đội đầu… với những đường thêu chỉ xanh đỏ, hoa văn tượng trưng cây cối, hoa lá, chim muông. Những bộ phận ấy phối hợp hài hòa với nhau tạo nên một bộ trang phục uyển chuyển, thể hiện được vẻ đẹp, sự duyên dáng của người con gái Thái. Trang phục được mặc vào những dịp quan trọng như lễ cưới hỏi, lễ cúng tổ tiên, tham gia lễ hội cộng đồng và địa phương, tết nguyên đán… 

Bà Vi Thị Là, 70 tuổi, dân tộc Thái đen ở Khối dân phố 8, thị trấn Kiến Đức (Đắk R’lấp) chia sẻ, dù sống ở nơi đâu, bà vẫn mang theo bên mình bộ trang phục truyền thống của người Thái đen. 

Chị Vi Thị Thu, người Thái đen ở khối 8 là một trong những người phụ nữ luôn tích cực, năng động trong các hoạt động giới thiệu văn hóa người Thái đen. Những bộ trang phục sặc sỡ màu sắc, kết hợp với điệu múa Thái, điệu khua luống hay những món ăn truyền thống độc đáo được chị giới thiệu đến mọi người trong các dịp lễ tại địa phương. Với chị, được thể hiện văn hóa Thái trên quê hương thứ hai là cả tâm tình gửi trọn cho nơi gắn bó đến suốt đời. 

Người Thái đen phát huy văn hóa ẩm thực trên cao nguyên M'nông 


Theo Bí thư Chi bộ khối 8, thị trấn Kiến Đức (Đắk R’lấp) Ngân Thị Nga thì đồng bào Thái nơi đây sống đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau. Những năm qua, các hộ dân luôn nỗ lực lao động sản xuất, phát triển kinh tế. Bản thân cũng là người Thái, bà luôn vận động và khuyến khích bà con người Thái còn giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống của mình. Tiêu biểu như việc giữ gìn trang phục và nếp sinh hoạt truyền thống ngày lễ tết. Dịp tết nguyên đán, mọi người tụ họp tổ chức khua luống, đốt lửa đêm nhảy sạp, múa vũ hội rượu cần trong không khí ấm cúng, tươi vui. Trong các ngày lễ như 8/3, 20/10 hay Ngày hội Đại đoàn kết các dân tộc tại địa phương, chị em người Thái nhiệt tình tham gia biểu diễn văn hóa văn nghệ, thi nấu ẩm thực… Các hoạt động tạo sự gắn kết, gắn bó hơn giữa bà con người Thái với địa phương. Đồng thời tạo nên sự đa dạng, tô điểm thêm nét đẹp văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. 

Bài, ảnh: Nguyễn Nam

Làm cá khô ở làng biển

đăng 20:48, 5 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cắt đầu, xẻ, ướp muối, phơi không ngừng tay suốt 8 giờ, mình mẩy ám mùi tanh là công việc của những người làm cá khô ở thị trấn Phước Hải.


Thị trấn Phước Hải (huyện Đất Đỏ) hiện có 40 hộ làm cá khô. Trong đó, cơ sở bà Nguyễn Thị Bích Vân rộng 1.800 m2, là nơi sản xuất lớn nhất. Mỗi ngày, ở đây phơi hơn 3 tấn cá đù, đuối, ó..., thu khoảng 1,5 tấn cá khô. 


Cá được bà Vân thu mua của những người đi biển tại bến cách nhà một km, trong đó chủ yếu là cá đù, giá 20.000-50.000 đồng mỗi kg, tùy loại.


Đầu tiên, cá được cho vào máy đánh vảy. "Trước đây đánh vảy thủ công tốn thời gian và công sức lắm. Bây giờ dùng máy làm sạch mỗi mẻ cá hàng trăm kg chỉ sau vài phút", ông Lê Tâm, 45 tuổi, công nhân nói.


Công đoạn tiếp theo, cá được đổ ra sàn để hơn 20 nhân công, đa số là phụ nữ ở địa phương, cắt đầu, đuôi, mổ bụng.


Trước khi phơi, cá được rửa sạch bằng nước biển để giữ độ tươi, sau đó để ráo nước trước khi ướp gia vị mặn hay nhạt tùy theo thị trường. "Để có sản phẩm ngon, dai và không bị mốc, cá tuyệt đối không rửa nước ngọt trong khi chế biến", một công nhân chia sẻ.


Giữa trưa nắng, từng rổ cá được các công nhân đưa lên xe kéo ra sân phơi, cách nơi sơ chế chỉ vài chục mét.


Liếp phơi cá làm bằng khung gỗ căng lưới rộng một mét, dài hơn 1,7 m. Mùa nắng cá phơi khoảng 2-4 ngày. Còn mùa mưa, thời gian phơi lâu hơn, nhiều khi phải đưa cá vào lò sấy.


Cứ vài giờ bà Nguyễn Thị Năm, 53 tuổi, phải đảo để cá đuối khô đều. "Đây là loại cá lâu khô nhất", bà Năm cho biết.

Mức thu nhập của các công nhân phụ thuộc vào vị trí và năng suất làm việc. Trong đó, công đoạn cắt đầu và phơi là 2.000 đồng mỗi kg. Mỗi ngày bà Năm kiếm khoảng 200.000 đồng. Riêng những phụ nữ trẻ và đàn ông được 300.000 - 400.000 đồng.


Những liếp cá đuối phơi khô xong được hất xuống tấm thảm trước khi đóng thùng.


Cá đuối được bán 100.000 đồng mỗi kg, còn cá đù dao động từ vài chục nghìn đến 150.000 đồng mỗi kg.

Mỗi năm thị trấn Phước Hải cung cấp hàng nghìn tấn cá khô cho các thị trường ở Bà Rịa - Vũng Tàu, TP HCM, Bình Dương, Tây Ninh... "Năm ngoái, sau khi trừ hết các chi phí, gia đình tôi kiếm khoảng 200 triệu đồng", bà Vân cho biết.

Đăng Khoa

1-10 of 16