Những chuyến đi, những khám phá... và những điều suy tư...

Bài mới

  • Ði "săn" cá đồng Khi nước lũ từ thượng nguồn đổ về nhuộm đỏ những dòng sông, dòng kênh cũng là lúc các loài cá đồng bước vào thời điểm sinh sôi nhiều nhất ...
    Được đăng 06:54, 22 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lên núi “săn cua”! Khi nghe đến việc lên núi “săn cua”, nhiều người sẽ không thể tin rằng ở chốn rừng cao dốc đá lại tồn tại loài thủy sản này. Tuy nhiên ...
    Được đăng 06:48, 22 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đến Bãi Sau Vũng Tàu thử một lần ghé cảng xem mùa cá de tấp nập Đến mùa cá de, các ghe đánh bắt gần bờ ra khu vực Bãi Sau, TP.Vũng Tàu thả lưới. Sau gần 2 giờ, các ngư dân thu lưới về ...
    Được đăng 22:19, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Khám phá hang Chà Lòi Nhắc tới “vương quốc hang động Quảng Bình”, hầu như ai cũng nghĩ đến hệ thống hang động kỳ vĩ Sơn Đoòng, song, ít ai biết được rằng, dưới chân ...
    Được đăng 03:38, 19 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Độc đáo với team building ở A Nôr Lúc xe đang vượt đèo A Co (A Lưới), người tổ chức tour giới thiệu, team building (các trò chơi tập thể) lần này sẽ rất khác biệt, không chỉ ...
    Được đăng 03:22, 14 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 26. Xem nội dung khác »


Ði "săn" cá đồng

đăng 06:54, 22 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Khi nước lũ từ thượng nguồn đổ về nhuộm đỏ những dòng sông, dòng kênh cũng là lúc các loài cá đồng bước vào thời điểm sinh sôi nhiều nhất trong năm. Lúc đó, nhiều người bắt đầu vào mùa “săn” cá đồng để thưởng thức hoặc đem ra bán chợ. 

Kênh Vĩnh Tế những ngày cuối tháng 7 (âm lịch), màu nước nhuộm phù sa, thấp thoáng mấy đám lục bình trôi bồng bềnh về nơi vô định. Tôi tìm đến nhà Lê Trường Anh (xã An Nông, Tịnh Biên, An Giang) để làm một chuyến săn cá đồng miền biên giới cho thỏa thú tiêu dao. Đón tiếp tôi bên ngôi nhà nhỏ, Lê Trường Anh với nụ cười thân thiện, gương mặt đen sạm vì nắng gió đã sẵn sàng cho một chuyến đi kiếm cá đồng nơi biên giới An Nông. 

Với Lê Trường Anh, công việc hàng ngày là thả lưới kiếm mớ cá mang bán chợ để mưu sinh. Đã hơn 20 năm, anh gắn bó với tay lưới, tay chèo trên dòng kênh huyền sử Vĩnh Tế này như một cái nghiệp. Anh chia sẻ, bản thân chưa bao giờ nghĩ đến việc bắt cá bằng xung điện, bởi việc đó là tuyệt diệt thủy sản và cũng dần hạn chế nguồn mưu sinh của mình. Bởi thế, anh chỉ bủa lưới để bắt cá. Trong đó, cá quen thuộc nhất là mè vinh, loại “cá trắng” có thịt rất ngon, rất béo của xứ đồng quê. 


Tầm 10 giờ trưa, nắng chan chát. Mấy rặng núi bên kia biên giới rợp bóng mây tạo nên những mảng màu sáng tối trông khá siêu thực. Chúng tôi 3 người kéo nhau xuống chiếc vỏ lải buộc cặp bờ kênh đã được Trường Anh chuẩn bị sẵn. Người bạn mới quen của tôi cho biết, nó là phương tiện mưu sinh mỗi ngày nhưng là bạn đồng hành của anh mấy năm qua. Tiếng máy lạch tạch nổ giòn khuấy động một khúc sông quê. Chiếc vỏ lải từ từ tách bến, đưa chúng tôi đi bủa lưới. 

Nhanh tay thả lưới xuống mặt nước đục ngầu, Trường Anh giải thích tối hôm trước có mưa nên cá “không đi” như thường lệ. Tuy nhiên, việc thả vài tay lưới kiếm cá ăn thì không khó. Nghe vậy, tôi mở cờ trong bụng. Trời càng trưa, gió kênh thổi càng mạnh như xua đi cái nóng cháy da. Tay lưới trôi lềnh bềnh trên mặt kênh đầy nắng. Bỏ lưới chừng dăm phút, Trường Anh bắt đầu kéo lên. Thấy tôi có vẻ tò mò, anh giải thích: “Nếu có cá mình bỏ lưới độ vài phút là dính rồi, khỏi đợi lâu”. 


Quả thật, những con cá mè vinh to cỡ 2-3 ngón tay đã dính lưới lúc nào không biết. Chúng uốn éo thân mình trước khi bị giở lên khỏi mặt nước. Trường Anh nhanh chóng gỡ cá ném vào khoang vỏ lải. Những con cá tươi rói, lấp lánh vảy bạc nhảy soi sói dưới ánh nắng. Chúng tôi hứng khởi bởi đã có cá ngon thưởng thức. Trời càng trưa, mặt kênh no gió. Những chiếc tàu lớn chạy qua tạo nên mấy con sóng đánh "ì oạp" vào mạn vỏ lải, nước văng lên mặt tôi mát rượi. Sau 2 lần bủa lưới, chúng tôi kiếm được gần 20 con cá trèn vinh cỡ nhỏ. 

Trong khi bủa lưới, tôi lắng nghe câu chuyện mưu sinh của Lê Trường Anh. Mỗi ngày, anh kiếm được chừng 5-7kg cá mè vinh mang ra chợ bán, thu về gần 200.000 đồng. Gia đình nhỏ 4 nhân khẩu cứ sống nhờ vào con cá bấy lâu nay. Được cái, quê nghèo còn kế mưu sinh với chiếc vỏ lải và tay lưới dài chừng 50m. Cuộc sống dù vất vả nhưng khi có bạn đến thì anh sẵn sàng khoản đãi những con cá ngon kiếm được từ xứ biên giới An Nông này. 


Cá tươi được móc hầu, rửa sạch để nướng. Với chúng tôi, cá mè vinh nướng chấm mắm me là “nhứt xứ”. Sau một lát hì hục, chúng tôi cũng nhuốm được bếp than đỏ lửa. Những con cá núc ních bắt lửa bốc mùi thơm phức. Trường Anh ra vườn “huơ” ít rau càng cua, vài trái đậu rồng, mớ lá lốt để ăn kèm cá nướng. Bạn gắp cho tôi nguyên con cá nướng còn nóng hổi, rồi bảo: “Ăn đi! Xứ đồng mình chẳng có gì ngoài con cá, con cua, ngon không gì sánh được”. 

Tôi chấm miếng cá cặp lá lốt vào chén nước mắm me rồi cho lên miệng. Cái hương thơm đồng quê xộc vào mũi. Nước mắm me thấm đượm dư vị dân dã mà ngon không tả được! Chúng tôi ngồi trên kệ ván kê dưới gốc xoài mát rượi. Mấy cơn gió dưới kênh thi thoảng ùa lên làm cho cái thú tiêu dao càng thêm thong dong, thư thả. Quả thật, được thưởng thức cá đồng theo kiểu dân dã nhất bao giờ cũng có cái thú vị riêng. Bởi thế, chả trách dân phố thị cứ rủ nhau về xứ đồng ăn cá! Tôi tạm biệt người bạn mới quen khi nắng chiều đã ngã mà trong miệng vẫn còn dư vị của cá nướng và nước mắm me thấm đượm. 

Trong những ngày tháng ngược xuôi sắp tới, tôi sẽ còn nhớ cái hương vị của cá nướng đồng quê và tình cảm chân chất của người bạn chỉ quen bủa lưới, giăng câu trên dòng kênh Vĩnh Tế. 

THANH TIẾN

Lên núi “săn cua”!

đăng 06:48, 22 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Khi nghe đến việc lên núi “săn cua”, nhiều người sẽ không thể tin rằng ở chốn rừng cao dốc đá lại tồn tại loài thủy sản này. Tuy nhiên, bạn có thể trải nghiệm hoạt động này nếu đến núi Cấm (An Giang) vào mùa mưa, khi những dòng nước trời mang theo mùa cua núi về với “nóc nhà miền Tây”. 

“Hò ơi, gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng, về sông ăn cá, về đồng ăn cua”. Bất cứ ai lớn lên trên mảnh đất quê nghèo đều nằm lòng câu hát ru từ thuở nằm nôi. Và khi đi vào bài hát “hình bóng quê nhà”, câu hát ấy cứ như đóng đinh vào nỗi nhớ của mỗi người về tình yêu sâu nặng với xứ rẫy, xứ đồng qua hình ảnh con cá, con cua. Nhưng ở đây, tôi đang làm ngược lại khi quyết định làm một chuyến lên núi săn cua! 

Như đã hẹn, tôi đến núi Cấm vào một ngày giữa mùa mưa để trải nghiệm hoạt động săn cua trên núi. Anh Lê Gia Giang (người dân sinh sống trên núi Cấm) tình nguyện làm “hướng dẫn viên” giúp tôi có chuyến đi đặc biệt này. Gọi là “săn cua” cho oai, chứ người dân trên núi chỉ nói đơn giản là “câu cua”. Thoáng nghe, tôi có chút nghi ngờ. Bởi, miệt đồng bằng thường nói là “câu cá” và “bắt cua”, chứ “câu cua” thì chưa nghe thấy bao giờ. Nhưng anh Giang và những người bạn trên núi Cấm đi câu cua thật! 

Câu cua trong hốc đá 

Họ tìm những nhánh tre ngay ngắn, dài hơn 1m rồi buộc vào đầu cây vài sợi dây thun. Đó là chiếc cần câu cua độc đáo ở miền sơn địa này. Nếu đem xuống đồng bằng, tôi chẳng biết nó dùng để câu con gì! Anh Giang và những người bạn tìm những hốc đá sâu, nằm cạnh đường ô nước hoặc dọc theo mấy nhánh suối. Khi phát hiện những hốc đá có cua trú ngụ, họ cho đầu cần câu có buộc mấy sợi dây thun vào rồi nhấp nhấp. 

Anh Giang cho biết, với bản tính hung dữ sẵn có, cua núi sẽ kẹp lấy mấy sợi dây thun. Khi đó, người ta nhanh tay giật đầu cần câu ra khỏi hốc đá thì con cua văng ra theo. Việc cuối cùng là nhanh tay chộp lấy những con vật “8 cẳng 2 càng” này cho vào xô đựng. Cứ như thế, chúng tôi lang thang dưới màu xanh của lá độ vài giờ đồng hồ để tìm thêm những con cua chuyên sống ở vùng cao này. 

Anh Giang kể rằng, loài cua núi trước đây không được ưa chuộng như bây giờ. Chúng chỉ là món ăn chơi của người dân trên núi và cũng ít người tìm bắt. Khi du khách đến đây, họ có dịp được ăn loài động vật này đều khen thịt ngon, ngọt hơn hẳn so với cua đồng. Bởi thế, cua núi dần trở thành đặc sản. Mức giá của chúng cũng tăng theo thời gian, từ 150.000 đồng/kg vào năm 2018, đến nay đã đạt mốc 250.000 đồng/kg nhưng vẫn không đủ nguồn cung. Dù cua núi có quanh năm nhưng chúng chỉ xuất hiện nhiều vào những tháng mùa mưa. Muốn bắt được nhiều, người ta phải tranh thủ đi vào ban đêm vì khi đó là lúc cua ra kiếm ăn. 

Cua kẹp chặt đầu cần câu có dây thun 

Anh Giang chia sẻ, bản thân thường hay khuyên anh em làm nghề câu cua trên núi Cấm nếu gặp những con cua nhỏ hoặc cua cái sắp đẻ thì nên thả lại rừng để giữ gìn nguồn “lộc trời” này. Bởi, nếu chỉ khai thác mà không bảo tồn thì ngày nào đó loài cua núi chỉ còn là một phần ký ức về núi Cấm mà thôi. Bản thân anh Giang cũng không là dân câu cua chuyên nghiệp, chỉ khi bạn bè đến thăm thì mới đặt mua hoặc đi câu vài con làm món ngon đãi bằng hữu ở xa. 

Về cách chế biến cua, người dân trên núi cho biết đem rang me là ngon nhất, bởi cái vị chua ngọt hòa lẫn với chất thịt cua thơm ngon khiến thực khách không thể nào quên. Đơn giản hơn, người ta cho cua vào nồi luộc rồi chấm muối ớt cũng “bá cháy”! Thịt cua ngọt thơm hòa lẫn vị mặn mòi, cay nồng của chén muối ớt sẽ khiến người thưởng thức vừa hít hà, vừa khen ngon đáo để. Chén muối ớt được đâm từ muối hột miền biển với ớt chim mọc hoang dã trên núi Cấm cũng là một góc ẩm thực riêng, đủ để những người dưới xuôi nhớ mãi. 

Cua núi trở thành đặc sản của núi Cấm 

Anh Giang kể rằng, có nhiều đoàn du khách quyết tâm lên núi tìm cua. Tất cả họ khi được trải nghiệm cảm giác này đều khẳng định rất thích thú cái hương vị dân dã, đậm chất núi rừng. Và càng thú vị hơn khi bạn phải leo dốc, lội suối, lần dò từng hốc đá để câu cua. Anh Giang còn thông tin, trên núi Cấm ngoài cua núi còn có ốc núi, cá suối (cá chành vục) cũng là món độc chiêu. Tuy nhiên, không nhiều du khách được thưởng thức loại cá suối hay ốc núi bởi chúng khá hiếm. 

Chia tay người bạn núi Cấm vào lúc xế chiều, tôi kết thúc chuyến đi với vài con cua núi mang về nhà làm quà. Có thể, cua núi không phải là cao lương mĩ vị nhưng vẫn là một phần của ngọn Thiên Cấm Sơn hùng vĩ. Và sự thú vị của việc lên núi câu cua, bắt ốc cũng đủ khiến du khách thích thú với trải nghiệm độc đáo này. Tuy nhiên, cần có biện pháp bảo tồn, gìn giữ sản lượng cua núi để sản vật này tiếp tục là một phần không thể thiếu của đỉnh núi cao nhất miền Tây này! 

THANH TIẾN

Đến Bãi Sau Vũng Tàu thử một lần ghé cảng xem mùa cá de tấp nập

đăng 22:19, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đến mùa cá de, các ghe đánh bắt gần bờ ra khu vực Bãi Sau, TP.Vũng Tàu thả lưới. Sau gần 2 giờ, các ngư dân thu lưới về cùng với chiến lợi phẩm là hàng trăm ký cá. 

Các ngư dân gỡ lưới cá de. Ảnh: Nguyễn Long 

Vào những ngày này, khi mặt trời vừa ló dạng, đến Bãi Sau (TP.Vũng Tàu, Bà Rịa – Vũng Tàu) bất cứ ai cũng thấy có nhiều ghe nhỏ đang nối đuôi nhau tấp vào bãi biển. Đó là những ghe đánh lưới cá de gần bờ. 

Ông Tân (ngụ P.2, TP.Vũng Tàu) có hơn 30 năm kinh nghiệm đánh bắt cá de cho hay chỉ có khu vực Bãi Sau loại cá này mới nhiều. 

Mặt trời lên cũng là lúc các ghe cá nối đuôi vào bờ. Ảnh: Nguyễn Long 

Ông Tân hốt cá vào rổ để đi rửa. Ảnh: Nguyễn Long 

Cá de có thân ngắn, da màu xanh nhìn như cá trích nhưng thịt thì ngọt, xương mềm. Cá de có theo mùa, chỉ xuất hiện từ tháng 5 – 9 âm lịch. Có những ngày, cá de chỉ cách bờ Bãi Sau không quá 1 hải lý. Từ bãi biển có thể nhìn thấy ngư dân đang thả lưới bắt cá de. 

Đến mùa đánh bắt cá de, các ngư dân đi bằng ghe nhỏ từ lúc 2, 3 giờ sáng. Sau khi thả lưới gần 2 giờ là có thể thu lưới về. 

Khi cá de vào mùa, mỗi ngày ngư dân có thể thả lưới thu về vài trăm ký, nhiều người thu về một mẻ lưới cả tấn cá. 

Ghe cá đánh bắt cá de gần bờ. Ảnh: Nguyễn Long 

Ngư dân thu cá de. Ảnh: Nguyễn Long 

“Hôm qua thôi, ghe lưới đằng kia thu về gần cả tấn cá de, bán non chục triệu đồng”, ông Tân chỉ về chiếc ghe cách chỗ mình đang gỡ lưới 20m khoe. 

“Họ đánh trúng lắm, còn tôi chỉ có vài trăm ký cá de, thu về đôi ba triệu đồng. Do là mùa cá de nên có ngày không trúng thì mỗi người cũng thu về 400.000 – 500.000 đồng tiền bán cá”, ông Tân cho hay. 

Cá de có thân nhỏ, da xanh. Ảnh: Nguyễn Long 

Nguyễn Long

Khám phá hang Chà Lòi

đăng 03:45, 14 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:38, 19 thg 9, 2020 ]

Nhắc tới “vương quốc hang động Quảng Bình”, hầu như ai cũng nghĩ đến hệ thống hang động kỳ vĩ Sơn Đoòng, song, ít ai biết được rằng, dưới chân dãi núi đá vôi phía Tây bắc huyện Lệ Thủy, thuộc xã Ngân Thủy cũng có hệ thống hang động tuyệt đẹp mang tên Chà Lòi, mang đến cho du khách những trải nghiệm mới lạ. 

Hệ thống hang động Chà Lòi tại Lệ Thủy nằm bên cạnh Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng cách trung tâm Đồng Hới tầm 40km theo hướng Tây Nam. Nơi đây đã từng in dấu chân của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Chính vì vậy cho tới tận bây giờ người dân huyện Lệ Thủy nơi có hệ thống hang động này nằm trên địa bàn luôn luôn tự hào khi nhắc đến. 

Từ bên ngoài nhìn vào, Chà Lòi vẫn chưa thực sự hấp dẫn bởi cửa hang khá nhỏ, chỉ rộng khoảng 4 m2. Thế nhưng bạn đừng vội thất vọng, vì sâu trong hang mới là một “mê cung thạch nhũ” đang chào đón bạn. Len lỏi qua cửa hang nhỏ hẹp là một thế giới hang động rộng thênh thang, cao lớn và hùng vĩ, như một lời chào đón bạn với vùng đất của vẻ đẹp huyền ảo, diệu kỳ. 

Dưới chân dãi núi đá vôi phía Tây bắc huyện Lệ Thủy, thuộc xã Ngân Thủy có hệ thống hang động tuyệt đẹp mang tên Chà Lòi. Ảnh: Lý Hoàng Long

Trải nghiệm hang Chà Lòi, du khách được cung cấp đầy đủ trang thiết bị thám hiểm để khám phá từng ngóc ngách cũng như chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hệ thống măng đá và thạch nhũ còn nguyên sơ. Ảnh: Lý Hoàng Long

Du khách cắm trại trong lòng hang bên dòng suối nhỏ. Ảnh: Lý Hoàng Long

Du khách trải nghiệm dưới dòng sông ngầm xanh biếc trong hang Chà Lòi với nhiệt độ luôn ổn định khoảng 220C. Ảnh: Lý Hoàng Long 

Hang Chà Lòi là địa chỉ lý thú thu hút giới nhiếp ảnh đến trải nghiệm và sáng tác. Ảnh: Lý Hoàng Long 

Chinh phục hang Chà Lòi thú vị nhất là du khách được trải qua các hoạt động: lăn, lê, bò, trườn, bơi qua những nghách hang nhỏ hẹp. Trong hang Chà Lòi, măng đá và thạch nhũ còn nguyên sơ tạo thành nhiều hình thù kỳ lạ như thử thách sự liên tưởng của mỗi người. Hang còn có sông ngầm nước biếc xanh, mát lạnh, hay các hồ nước nhỏ, là nơi sinh sống của một số loài tôm, cá có màu trong suốt rất đặc biệt. Thạch nhũ trong hang động chứa nhiều silic nên mỗi khi chiếu đèn vào trở nên lung linh, tuyệt đẹp.

Bên ngoài hang, nơi bản Còi có đồng cỏ trên thảo nguyên xanh mênh mông. Cắm trại ngủ đêm tại đây, du khách dường như quên những tất bật và ổn ào của cuộc sống, được hít thở không khí thiên nhiên tươi đẹp và có dịp khám phá nét văn hóa độc đáo, thưởng thức các sản vật nổi tiếng của đồng bào Vân Kiều nơi đây.

Bài và ảnh: Lý Hoàng Long

Độc đáo với team building ở A Nôr

đăng 03:22, 14 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Lúc xe đang vượt đèo A Co (A Lưới), người tổ chức tour giới thiệu, team building (các trò chơi tập thể) lần này sẽ rất khác biệt, không chỉ giúp du khách gắn kết với nhau, mà còn là sự trải nghiệm và khám phá văn hóa độc đáo của A Lưới, hòa mình vào cảnh sắc, thiên nhiên ở làng du lịch cộng đồng A Nôr... 

Hướng dẫn làm bánh A Quát 

Nơi đây chỉ cách trung tâm huyện A Lưới 3km về phía Đông Bắc, có thác A Nôr với diện tích trên 10ha, mây mù bao phủ quanh năm. 

Thử thách đầu tiên của chúng tôi là tham gia trò chơi giã gạo bằng chày và cối gỗ, sinh hoạt đặc trưng thường nhật còn lưu giữ của người Pa Cô ở A Lưới. Trong khi những thanh niên dùng sức mạnh của cơ bắp để giã gạo thì những cô gái với bàn tay khéo léo cùng làm bánh A Quát, loại bánh đặc trưng của đồng bào Pa Cô chỉ có ở bàn tiệc trong những ngày quan trọng, dưới sự hướng dẫn của các bà, các chị người Pa Cô. 

Sau khi lần lượt hoàn thành các thử thách, du khách dần di chuyển đến thác A Nôr, nơi có 3 thác nước liên hoàn, cao 8m, 60m và 120m, tựa như áng tóc bồng bềnh của các thiếu nữ miền sơn cước... Đến đây, du khách tham gia thử thách bắt cá suối. Trò chơi này đòi hỏi một chút khéo léo và cả may mắn nữa. Thành quả của trò chơi là món cá suối nướng thơm lừng ăn kèm với muối chấm đặc trưng của núi rừng A Lưới. Gỡ một miếng cá thơm, ngọt thịt chấm với tí muối cay cay, mặn mặn, rồi nhấp ngụm bia mát lạnh được ướp tự nhiên dưới dòng nước suối mát trong, bạn sẽ cảm thấy như nếm được hương vị đất trời giữa mênh mông núi rừng, cỏ cây... 

Du khách trải nghiệm giã gạo 

Sau khi hoàn thành các thử thách khám phá, trải nghiệm và giành những chiến công, du khách vui đùa, ngâm mình vào làn nước trong veo mát rượi của A Nôr. Tại đây, những nữ du khách còn được các bà, các mẹ, các chị người dân tộc Pa Cô gội đầu bằng những thảo dược quý, mà có lẽ họ chưa bao giờ được thử qua. 

“Đây là lần đầu tiên tôi đến với A Lưới, được tham gia giã gạo, hoạt động mà tôi vẫn thường xem trên truyền hình; được làm bánh truyền thống, khám phá thiên nhiên hoang sơ, hùng vỹ… Việt Nam còn quá nhiều nơi để đi và trải nhiệm. Trải nghiệm hôm nay không thể thú vị hơn”, anh Nguyễn Minh Thành, thành viên trong đoàn chia sẻ. 

Đêm đến, bên ánh lửa hồng bập bùng, du khách giao lưu cùng đồng bào, nhấp từng chén rượu cần thơm nồng, say xưa cùng điệu múa Ra Zooc rộn ràng, hòa theo tiếng trống, chiêng, tiếng khèn bè, điệu Câr lơi ấm áp. Trong điệu nhảy vui tươi, khách và chủ cùng nắm tay trong tiếng cười rộn rã. Đêm cứ thế kéo dài như vô tận đến khi khách mệt nhoài. Chúng tôi về các homestay được đầu tư mới, sạch đẹp trên những ngôi nhà sàn cao ráo. 

Bình minh đón bằng gió mát bốn bề, không gian thanh thoát, tiếng chim hót líu lo. Hành trình kết thúc sau bữa sáng đậm chất núi rừng: Cháo tà lục tà lạo. Chúng tôi về phố mang theo bao ấn tượng đẹp của miền sơn cước. 

Giám đốc Công ty TNHH Du lịch Kết nối Huế Nguyễn Ngọc An, đơn vị tổ chức tour nói rằng, nếu khách có nhu cầu, doanh nghiệp có thể tổ chức thêm nhiều tour khác để hành trình có thể kéo dài, ở lại A Lưới lâu hơn và khám phá được nhiều điều thú vị hơn. 

Bài, ảnh: QUANG SANG

Non nước Na Hang

đăng 01:48, 10 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:06, 14 thg 9, 2020 ]

Sương mây bảng lảng trên các đảo đá vôi phủ đầy cây xanh ở hồ Na Hang, nơi được ví như vịnh Hạ Long thu nhỏ.

Một sớm yên bình trên hồ Na Hang thuộc hai huyện Lâm Bình và Na Hang, cách trung tâm TP Tuyên Quang khoảng 110 km. Na Hang là nơi hợp lưu giữa hai sông Gâm và Năng, quanh hồ là núi non hùng vĩ với diện tích bề mặt nổi khoảng 8.000 ha. 

Bộ ảnh Na Hang, sơn thủy hữu tình do nhiếp ảnh gia Nguyễn Tùng Dương, sống và làm việc tại Hà Nội, thực hiện trong một chuyến đi gần đây tới Tuyên Quang. 

Mây trôi bồng bềnh trên những hòn đảo đá vôi ở Na Hang, nơi vốn được xem như một vùng đất cổ. Hồ Na Hang xuất hiện trong truyền thuyết là nơi chim phượng hoàng bay về, tạo thành 99 ngọn núi, ngày nay được ví là "Hạ Long cạn giữa đại ngàn". 

Mây sớm bao phủ dãy núi, đảo đá vôi khiến người xem ngỡ như lạc vào chốn bồng lai. 

Du khách có thể bắt đầu hành trình từ bến thuyền Na Hang để ngao du sơn thủy, khám phá hồ thủy điện, ngắm các đảo đá như núi Pắc Tạ hay núi đá Cọc Vài Phạ (cọc buộc trâu trời).

“Na Hang nhìn ở góc nào cũng say đắm lòng người”, anh Tùng Dương chia sẻ khi chụp ảnh ở dãy núi soi bóng đối xứng trên mặt hồ. 

Cảnh hồ Na Hang nguyên sơ, nước trong xanh như ngọc, ven hồ là những cánh rừng nguyên sinh trải dài. 

Hồ Ha Nang không gợn sóng và mang nét riêng ngay cả khi bầu trời chuyển mưa. 

Hành trình khám phá hồ Na Hang thường dài 4 - 5 tiếng, ngoài việc ngắm cảnh quanh hồ, du khách có thể dừng chân ở đền Pắc Tạ, hang Phia Vài hay thác Mơ. Với người thích mạo hiểm, thác Khuổi Nhi là nơi không thể bỏ qua. 

Trốn phố về với non nước Na Hang khiến lòng người trở nên thư thái. 

Theo các tài liệu, rừng nguyên sinh Na Hang gồm những cây gỗ đinh, nghiến, trai quý hiếm hàng nghìn năm tuổi, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung. Khu bảo tồn này còn giúp bảo vệ nguồn nước cho hồ thủy điện và điều tiết lũ vùng hạ lưu. 

Hiện nay, Na Hang hội đủ những yếu tố làm nên quần thể du lịch sinh thái lý tưởng ở Tuyên Quang, khi vừa kết hợp du lịch sinh thái, mạo hiểm và du lịch hồ thủy điện. 

Từ trên cao nhìn xuống, hồ Ha Nang ẩn hiện trong màn mây, cuốn hút du khách. Sau hành trình, du khách có thể nghỉ ngơi tại các homestay ở bản Nặm Đíp, xã Lăng Can, huyện Lâm Bình. Tại đây, khách ngủ trong nhà sàn truyền thống của người Tày, nghe biểu diễn đàn tính và thưởng thức đặc sản vùng cao với trứng rán lá hôi, thịt lợn mán hay cá nướng bắt lên từ lòng hồ.

Huỳnh Phương

Ngắm những cung đường đẹp như mơ trên đỉnh Trường Lệ

đăng 02:24, 8 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ, lãng mạn, dãy núi Trường Lệ (TP Sầm Sơn) còn làm xao xuyến biết bao tâm hồn du khách bởi những cung đường quanh co, uốn lượn.

Tên núi Trường Lệ gắn liền với câu truyện thần thoại. Truyện kể rằng: Tại ngọn núi này xưa kia có một người phụ nữ đã qua đời sau khi sinh con, cậu bé có khuôn mặt khôi ngô tuấn tú, lớn nhanh như thổi, sức khỏe phi thường. Thương mẹ, chú bé nhặt đất đá đắp lên thi hài mẹ để nấm mồ lớn dần thành Núi Trường Lệ. Cậu bé đó trưởng thành trở thành một tràng trai khổng lồ, dũng cảm cùng nhân dân làng chài đánh tan loài quỷ biển, về sau trở thành thần Độc Cước, được nhân dân tôn kính và xây dựng đền thờ để tỏ lòng biết ơn.

Núi Trường Lệ được cấu thành từ những dải núi xếp liên tiếp nhau, hướng từ phía đất liền vươn dần ra tới biển. Trên dãy núi này, có một địa điểm du lịch hấp dẫn là Hòn Trống Mái.

Ngoài vẻ đẹp tình tứ của Hòn Trống Mái, du khách còn bị hút hồn với những cung đường quanh co, uốn lượn.

Con đường uốn lượn từ Hòn Trống Mái như một lời chào đón thân thiện của thành phố biển.

Những cung đường trên dãy Trường Lệ đều ngập mình trong sắc màu xanh mát.

Vẻ đẹp hoang sơ, lãng mạn nơi đây đã tạo nên một sức hút lạ kỳ.

Mùa cây thay lá, những con đường càng trở nên thơ mộng.

Những con đường được rải bằng thảm lá khô.

Con đường mang lại sự yên bình, nhẹ nhàng.

Con đường uốn lượn với khung cảnh lãng mạn dường như chỉ có trong phim điện ảnh Hàn.

Đây cũng là con đường đến các điểm thăm quan nổi tiếng của Sầm Sơn như: Hòn Trống Mái, đền Cô Tiên…

Sở hữu bức tranh phong cảnh hữu tình, đây là điểm tham quan được ví như thiên đường xanh.

Vẻ đẹp trên dãy Trường Lệ đã tạo cho Sầm Sơn một sức hút lạ kỳ, khó có nơi nào sánh được.

Hoài Thu – Hoàng Giang

Bảo tồn di tích núi Bân

đăng 05:55, 5 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:41, 8 thg 9, 2020 ]

Trong không gian trùng điệp rừng thông Tây Nam thành phố Huế, núi Bân và tượng đài Quang Trung mỗi ngày đón bình minh rực rỡ và hàng trăm lượt du khách chiêm bái; đây là một di tích khơi gợi quá khứ hào hùng của triều đại Tây Sơn những năm 1788 - 1802.

Một thời bị lãng quên

Núi Bân (Bân Sơn) cao 43,92m, tổng diện tích 80.956m²; ở cồn Mồ, xóm Hành (thôn Tứ Tây, xã Thủy An nay đổi tên là phường An Tây) - thành phố Huế. Tại đây, ngày 25/11 năm Mậu Thân (tức 22 - 12 năm 1788), Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ cho lập đàn, làm lễ tế cáo trời đất, lên ngôi Hoàng đế và xuất quân ra Bắc đánh quân Thanh. Từ sự tích ấy, người Huế gọi tên núi là Ba Tầng, Tam Tầng, Ba Vành, Hòn Thiên. Trong sách Hoàng Lê nhất thống chí (bản của Ngô Thì Chí) chép nhầm chữ Bân thành chữ Sam và khi phiên âm, ghi nhầm chữ Bân thành chữ Bàn. Quân sĩ Tây Sơn khi làm Đàn tế trời, xẻ núi Bân thành ba khối hình nón cụt chồng lên nhau; hiện còn lại dấu tích của một tầng thấp nhất, cao khoảng 1m. 

Núi Bân và tượng đài Hoàng đế Quang Trung ngày nay. 


Nhắc đến sự tích núi Bân, hiện tại ở đền thờ Quang Trung (xã Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa) còn lưu giữ hai câu đối treo trước cổng, như sau: Anh hùng thanh sất Bân Sơn cổ/Miếu mạo quang lưu Bạng hải kim (Tạm dịch: Tiếng thét của người anh hùng vang dậy từ núi Bân xưa/ Ánh sáng của tòa miếu mạo còn tỏa chiếu nơi cửa Bạng ngày nay).

Ở Huế, dưới triều Nguyễn (1802 - 1945) ít người biết núi Bân, nói đến núi Bân là điều cấm kỵ bất thành văn, chỉ biết duy nhất núi Ngự Bình. Đây là ý đồ của triều Nguyễn muốn xóa bỏ triệt để các “tàn tích” của triều Tây Sơn còn lại ở đất Phú Xuân. Điều này đã thể hiện khá rõ khi người Huế đời sau đặt tên cho đường phố và các trường học là “Nguyễn Huệ”, mà không hề nhắc đế hiệu của ngài là “Quang Trung”. Đến nay ở Huế vẫn còn một đường phố tên là đường “Nguyễn Huệ” và một trường THPT bề thế “Nguyễn Huệ” nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng, trong Thành Nội. Trái lại, đế hiệu của người anh hùng “áo vải cờ đào” là “Quang Trung” mãi đến năm 2011, mới được đặt tên cho một trường tiểu học ít người biết (ở phường Phú Nhuận TP. Huế). Dưới sự cấm đoán và truy xét hà khắc của triều Nguyễn, cái tên núi Ngự Bình “trước tròn, sau méo” hay được nhắc đến trong thi ca, nhạc, họa và văn học dân gian; còn núi Bân (Bân sơn) là cái tên không một văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ nào dám to gan nói hay viết, trong giai đoạn từ năm 1802 vua Gia Long lên ngôi cho đến năm 1945 Bảo Đại thoái vị.

Dựng lại một di tích hào hùng

Sau năm 1975 đất nước đã hòa bình, thống nhất, do điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, mãi đến năm 1988 núi Bân được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử quốc gia. Đến năm 2010, công cuộc trùng tu, tôn tạo, xây dựng khu di tích lịch sử núi Bân mới bắt đầu. Theo dòng lịch sử, chúng tôi nhận thấy không phải ngẫu nhiên mà Bác Hồ đã chọn ngày 22/12/1944 (năm Giáp Thân) làm ngày thành lập QĐNDVN. Trước đó, Nguyễn Huệ đã tế trời tại núi Bân rồi xuất quân đánh tan 20 vạn quân Thanh cũng chọn ngày 22/12/1788 (năm Mậu Thân), cũng là năm Thân; đây là một sự trùng hợp lịch sử có ý nghĩa, không phải hoàn toàn ngẫu nhiên. Rồi đến 180 năm sau, Bác Hồ và Bộ Chính trị cũng đã chọn ngày Tổng tiến công và nổi dậy toàn miền Nam vào tháng 1/1968 (lại là năm Mậu Thân). Căn cứ theo cách tính “lục thập hoa giáp” trong dịch số, tất cả 3 sự kiện lịch sử quan trọng này đều nhằm ngày 22/12 và cả 3 năm âm lịch đều là năm “Thân”.

Bức phù điêu phía sau tượng đài. 


Như vậy, núi Bân không chỉ là một thắng cảnh thiên nhiên, mà còn là một di tích lịch sử đặc biệt. Đây chính là Đàn tế cáo với Trời - Đất của vương triều Tây Sơn - Nguyễn Huệ, để người anh hùng chính danh lên ngôi Hoàng đế với niên hiệu Quang Trung. Đây là nơi xuất phát điểm của cuộc hành binh thần tốc, táo bạo, bất ngờ tiêu diệt hai vạn quân Thanh ở Thăng Long mùa xuân Kỷ Dậu 1789; viết nên trang sử hào hùng trong sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền của tổ quốc. 

Sự kiện lịch sử hào hùng này đã được mô tả rất chi tiết trong tác phẩm “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Gia Văn phái. 

Theo sách, các mưu sĩ tâu với Nguyễn Huệ: “Chúa công với vua Tây Sơn (Nguyễn Nhạc) có sự hiềm khích, đối với ngôi chí tôn, lòng tôn phò của mọi người chưa thật vững bền, nay nghe quân Thanh sang đánh, càng dễ sinh ra ngờ vực hai lòng. Vậy xin trước hết hãy chính vị hiệu, ban lệnh ân xá khắp trong ngoài, để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người rồi sau sẽ cất quân”. Bắc bình vương Nguyễn Huệ nghe lời các mưu sĩ tâu lấy làm phải. Liền cho đắp đàn ở trên núi Bân, tế cáo trời đất cùng các thần sông, thần núi; chế ra áo cổn mũ miện mặc vào, làm lễ lên ngôi hoàng đế. Lễ xong, hạ lệnh xuất quân, hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu thân (1788). Theo các nhà nghiên cứu, việc chọn núi Bân làm Đàn vì điều kiện thời gian vô cùng cấp bách, nhằm tận dụng địa thế của núi không cao lắm, dễ xây dựng đàn, xung quanh là cánh đồng rộng dễ tập trung hàng vạn quân. 

Phù điêu trích chiếu lên ngôi của Hoàng đế Quang Trung. 


Để lưu giữ hào khí của người anh hùng dân tộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã đầu tư xây dựng tượng đài vua Quang Trung trên núi Bân. Bức tượng cao 21m, trong đó phần tượng cao 12m, phần đài và bệ cao 9m, làm bằng 18 tảng đá Thanh Hóa, mỗi tấm nặng từ 10 - 60 tấn. Sau tượng đài có bức phù điêu dài 60m với họa tiết miêu tả quá trình từ lúc khởi nghiệp đến lúc vua Quang Trung phát lệnh tiến quân ra Bắc đánh tan quân Thanh. Chính giữa bức phù điêu trích chiếu lên ngôi của Hoàng đế Quang Trung: “Nhân, Nghĩa, Trung tín là đầu mối lớn lao của đạo làm người. Nay cùng nhân dân đổi mới, sẽ cùng dìu dắt dân lên con đường lớn, đặt vào đài xuân…”. Bên trái bức phù điêu trích khắc lời thề của Hoàng đế Quang Trung tuyên thệ giữa ba quân ở Nghệ An trước khi tiến ra giải phóng Thăng Long. Di tích lịch sử Núi Bân hoàn tất và được khánh thành vào ngày 9/1/2010. 

Chỉ cách trung tâm thành phố 2 cây số, du khách đến viếng núi Bân rất dễ dàng bằng xe máy, xe đạp. Hàng ngày, núi Bân đã trở thành một điểm đến thu hút đông đảo học sinh, sinh viên - Huế đi dã ngoại, cắm trại picnic.

Vũ Hào

Mã giang… thơ mộng, trữ tình

đăng 07:02, 2 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Không hiền hòa, cũng chẳng náo nhiệt, tráng lệ, sông Mã giữ cho mình một nét đẹp riêng ít nơi nào có được.

Sông Mã, theo tiếng Mường cổ gọi là sông Mạ, có nghĩa sông mẹ, với tổng chiều dài 512km (trên lãnh thổ Việt Nam dài 410 km). Sông Mã bắt đầu bằng hợp lưu các con suối ở vùng biên giới Việt – Lào tại tỉnh Điện Biên, xuyên qua đất Sơn La, đến biên giới Lào - Việt thì đổ vào Thanh Hóa qua vùng biên giới Tén Tằn, Mường Lát, ra Biển Đông qua cửa Hới (Sầm Sơn), hai cửa phụ là sông Lèn và Lạch Trường.


Ngoài sự mênh mang rộng dài của sông nước, dòng sông Mã còn cho chúng ta nhiều cảnh sắc đẹp đến nao lòng.


Hai bên bờ sông là màu xanh ngút ngàn của điệp trùng núi đồi, đồng bãi.


Thi thoảng, lại bắt gặp hình ảnh những chiếc thuyền nan nhỏ, bồng bềnh giữa bao la sông nước. Bao năm qua, dọc hai bên bờ sông Mã người dân vẫn lặng lẽ mưu sinh.


Mỗi khi hoàng hôn buông xuống đã khiến biết bao người phải bâng khuâng, xao xuyến để rồi đã bao lần sông Mã đi vào thơ ca, nhạc họa...


Không chỉ thơ mộng, trữ tình… sông Mã còn được biết đến với nhiều địa danh danh lịch sử, văn hóa gắn liền với các vùng đất hai bên bờ sông.


Đền Cô Bơ, nằm ngay bên bờ tả ngã ba sông thuộc đất Hà Trung là địa danh nổi tiếng thờ hóa thân của Mẫu Liễu Hạnh, đây là nét đặc trưng của tục thờ Đạo Mẫu ở xứ Thanh.


Phủ Vàng, nơi thờ Mẫu Liễu Hạnh, ở núi Chùa, làng Vàng, xã Hoằng Xuân (huyện Hoằng Hóa)…


Mã giang từ thượng nguồn trở về với mẹ biển cả, đi qua thành phố Thanh Hóa cùng với dãy núi Hàm Rồng đã tạo nên một danh thắng Hàm Rồng không nơi nào có được. Đến với xứ Thanh, chúng ta không thể bỏ qua cây cầu Hàm Rồng bắc qua dòng dòng sông Mã, nơi đây đã gắn liền với những biến cố, thăng trầm lịch sử trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc.


Nào là ngọn đồi C4 anh hùng, Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng, núi Ngọc, núi Cánh Tiên, đến những bãi ngô xanh mướt… tất cả đã tạo nên một bức tranh sơn thủy, hữu tình.


Hay một làng cổ Đông Sơn (Phường Hàm Rồng, TP Thanh Hóa) mằm nép mình bên bờ Nam sông Mã thơ mộng, được bao bọc với các dãy núi đá nhỏ, đồi đất thấp nằm xen kẽ lẫn nhau, tất cả hiện lên như một bức tranh thu nhỏ của một làng quê Việt Nam truyền thống, mang đậm nét văn hóa lâu đời.


Bên kia sông đối diện dãy núi Rồng là một bãi bồi rộng lớn. Vào mùa đông, bà con trồng rau cải, hoa tam giác mạch, hoa cánh bướm… đã trở thành điểm đến ý tưởng để du khách lưu lại những khoảnh khắc tuyệt đẹp khi về với xứ Thanh.


Mạn sông này còn có chùa Sùng Nghiêm đến Nghè Yên Vực, thuộc làng Yên Vực, phường Tào Xuyên, TP Thanh Hóa.


Dòng Mã giang đã góp phần tạo nên cho vùng đất quê Thanh những di tích, danh thắng, những nét văn hóa độc đáo mà ít nơi nào có được.


Hoài Thu

Những cây cầu bắc qua sông Hàn

đăng 02:22, 1 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 05:54, 5 thg 9, 2020 ]

Đến Tp. Đà Nẵng, bạn không chỉ trải nghiệm biển xanh, cát trắng, nắng vàng của một thành phố biển năng động mà bạn còn được có dịp khám phá những cây cầu nổi tiếng nối đôi bờ sông Hàn. 

Có thể nói, sông Hàn chảy giữa lòng thành phố Đà Nẵng là con sông có nhiều cây cầu nối đôi bờ nhất Việt Nam. Trong đó, có ít nhất 9 cây cầu ở quận trung tâm thành phố như: cầu Thuận Phước, cầu quay Sông Hàn, cầu Nguyễn Văn Trỗi, cầu Rồng... hấp dẫn nhiều du khách với những nét độc đáo riêng của một công trình kiến trúc nghệ thuật.

Trong toàn cảnh quan Đà thành, những cây cầu vừa là công trình giao thông, vừa là điểm nhấn kiến trúc của đô thị. Mỗi cây cầu có một nét đặc trưng riêng, một câu chuyện kể của riêng mình, hấp dẫn du khách gần xa trong những lần đến với thành phố biển Đà Nẵng. 

Cầu Nguyễn Văn Trỗi là một trong những cây cầu lâu đời nhất ở quận trung tâm, được xây dựng năm 1965, gắn liền với lịch sử của thành phố. Kể từ khi cầu Rồng và cầu Trần Thị Lý khánh thành, cầu Nguyễn Văn Trỗi đã dừng lưu thông xe cộ, trở thành cầu đi bộ. Cây cầu mái vòm giờ đây như chốn “hẹn hò” của người Đà thành tìm về với kỷ niệm, và là một điểm đến hấp dẫn những du khách trẻ “check-in”, ngắm sông Hàn trong không gian yên bình của một cây cầu đã vắng xe cộ qua lại.

Những cây cầu bắc qua sông Hàn rực sáng về đêm. Ảnh: Bá Ngọc



Cầu Rồng là cây cầu biểu tượng cho sự năng động và phát triển vươn lên của Đà Nẵng. Ảnh: Nhung Nguyễn 


Cầu Thuận Phước bắc ngang sông Hàn ngay cửa biển là cây cầu dây võng dài nhất Việt Nam (1.856m). Ảnh: Nhung Nguyễn


Cầu Tình yêu không bắc ngang sông Hàn, song lại là một công trình kiến trúc độc đáo bên bờ đông sông Hàn rất hấp dẫn du khách. Ảnh: Nhung Nguyễn


Cầu quay sông Hàn là cây cầu quay duy nhất của Việt Nam hiện nay. Cây cầu là niềm tự hào của người dân địa phương đã chung tay góp sức dựng xây.

Ảnh: Bá Ngọc 

Cầu quay sông Hàn do chính các kỹ sư, công nhân Việt Nam thiết kế và thi công. Đây cũng là cây cầu quay duy nhất của nước ta hiện nay. Cây cầu gắn liền với biểu tượng của thành phố Đà Nẵng, là niềm tự hào của người dân địa phương đã chung tay góp sức dựng xây. Trước đây, cầu sông Hàn quay vào lúc 2h sáng mỗi ngày để tàu thuyền lớn qua lại. Song để thuận tiện hơn cho du khách, cầu sông Hàn có lịch quay từ 23h - 24h mỗi thứ bảy, chủ nhật.

Ra đời cùng với cầu Trần Thị Lý mang vẻ đẹp thanh lịch của một công trình kiến trúc hiện đại, cầu Rồng là chốn “hẹn hò” của cả người dân và du khách xem cầu Rồng phun lửa, phun mưa từ 21h tối thứ bảy, chủ nhật. Cùng với những màn phun mưa, phun lửa độc đáo trên nền âm nhạc, ánh sáng cộng hưởng trong vòng bán kính 300m, cầu Rồng còn ấn tượng bởi chính thiết kế ánh sáng trên thân rồng khiến cho cây cầu như một viên ngọc nổi bật giữa Đà thành - nơi vốn được mệnh danh là thành phố ánh sáng về đêm.

Cầu Thuận Phước bắc ngang sông Hàn ngay cửa biển là cây cầu dây võng dài nhất Việt Nam (1.856m). Từ cầu Thuận Phước nhìn về trung tâm thành phố là sông Hàn hiền hòa, nhìn sang bên kia lại là biển khơi mênh mông, và xa xa là bán đảo Sơn Trà chiều chiều mây phủ ôm lấy rừng già. Về đêm, những trụ cầu rực rỡ sắc màu như những cánh cổng nguy nga của một cung điện.

Ngoài ra, còn có một cây cầu không bắc ngang sông Hàn, song lại là một công trình kiến trúc độc đáo bên bờ Đông sông Hàn rất hấp dẫn du khách ngay từ tên gọi là cầu Tình yêu. Những trái tim đỏ, những ổ khóa nhỏ trên thân cầu đã minh chứng cho những “nhân duyên” đẹp của các cặp đôi đã từng đặt chân đến đây, nhìn về dòng sông Hàn thơ mộng, nhìn về Đà Nẵng trẻ trung, hiện đại với những tòa nhà cao tầng.

Dừng chân trên những cây cầu nổi tiếng, nhìn quanh thành phố thấy cả núi non, sông biển hữu tình, mới thấy rằng thiên nhiên thật ưu đãi để Đà Nẵng trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn du khách nhất ở vùng duyên hải miền Trung.

Bài: Nhung Nguyễn - Ảnh: Tất Sơn – Bá Ngọc

1-10 of 26

Comments