Những chuyến đi, những khám phá... và những điều suy tư...

Bài mới

  • Kỳ ảo bãi đá trăm triệu năm bên sông Sêrêpốk Sau khi cụm 3 thác đẹp nhất trên sông Sêrêpôk là Dray Sáp- Dray Nur- Gia Long bị các đập thủy điện lớn ngăn dòng, lượng du khách đến đây ...
    Được đăng 02:16, 12 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện xưa nay bên những cây cầu ở Hà Tĩnh Suốt chiều dài những cung đường dọc ngang trên mảnh đất Hà Tĩnh có hàng trăm cây cầu lớn nhỏ. Trong đó, có nhiều cây cầu gắn với rất nhiều ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • “Săn” cua đá ở hòn Đá Bạc Ở ấp Kinh Hòn, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, có gần chục hộ dân làm nghề "săn" cua đá cặp theo tuyến bờ kè hoặc vách đá ...
    Được đăng 01:05, 8 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Khám phá nét xưa ở Cửa Lò Về với Cửa Lò, du khách không chỉ bị thu hút bởi bãi biển đẹp, hải sản tươi ngon, hệ thống nhà hàng khách sạn chất lượng… nơi đây còn ...
    Được đăng 01:29, 6 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sa Thầy, mảnh đất giàu nét đẹp văn hóa truyền thống Không chỉ nổi tiếng với Di chỉ khảo cổ Lung Leng ghi dấu người tiền sử ở Tây Nguyên, huyện Sa Thầy còn được biết đến là một trong những ...
    Được đăng 01:21, 6 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Kỳ ảo bãi đá trăm triệu năm bên sông Sêrêpốk

đăng 02:16, 12 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Sau khi cụm 3 thác đẹp nhất trên sông Sêrêpôk là Dray Sáp- Dray Nur- Gia Long bị các đập thủy điện lớn ngăn dòng, lượng du khách đến đây giảm hẳn. Rất ít người biết cũng vì sông cạn, mà một vùng đá trầm tích chìm sâu trong nước từ xa xưa đã phơi lộ, kỳ ảo bất ngờ.

Bãi đá trầm tích lục nguyên kỷ Jura



Kỳ vĩ lạ thường 

Cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 30 km về phía Tây theo Quốc lộ 14, cụm thác nằm giữa 2 huyện Krông Ana (tỉnh Đắk Lắk) và Krông Nô (tỉnh Đắk Nông) trước đây từng là một trong những địa chỉ hấp dẫn mọi du khách khi đến Tây Nguyên, với những dòng chảy ầm ào từ trên cao tuôn đổ, mịt mờ sương khói. 

Thác Dray Nur thời còn mịt mờ sương khói 


Từ lúc Sêrêpôk trở thành “dòng sông ánh sáng”, lượng nước lớn bị giữ lại trong các hồ chứa mênh mông trên thượng nguồn để “điều tiết” theo giờ chạy máy phát điện, thì các dòng thác đều bị thu hẹp, riu riu chảy, không còn hùng vĩ như xưa. 

Đá trầm tích lục nguyên kỷ Jura 


Tuy nhiên, sau khi tỉnh Đắk Nông phát hiện hệ thống hang động núi lửa lớn nhất Đông Nam Á chạy dài trong lòng đất huyện Krông Nô, thì phía tỉnh Đắk Lắk, cả vỉa đá trầm tích rộng mênh mông cũng phơi lộ dần, tạo ra điểm checkin mới vô cùng thú vị. 

Bạt ngàn bãi đá cổ 


Với những vết cắt tự nhiên như dao chém 


Phía hạ nguồn thác Gia Long, nhờ chiếc thuyền phao cùng tay chèo của 2 thanh niên Ê đê người bản địa, du khách tha hồ hứng gió sông mát rượi trong lúc thuyền trôi theo ghềnh nước, cho tới khi chạm vào vỉa trầm tích, thì lên bờ để tận mắt thấy “vũ điệu trầm tích đá trăm triệu năm”. 


Tha hồ chụp ảnh với bối cảnh "không đụng hàng" 


Trò chuyện với PV Tiền Phong, một chuyên gia địa chất cho biết: Theo tài liệu của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, mà ông chỉ phân tích bổ sung, đây là đá trầm tích lục nguyên hệ tầng La Ngà, kỷ Jura với cấu tạo phân lớp, có tuổi khoảng 174-166 triệu năm trước. 

Các ổ "trứng đá" là hốc đá bị nước xói mòn, rồi cuội lăn theo dòng nước lấp vào. 


Ghềnh đá sắc cạnh ven bờ ... 


Phần thượng lưu suối Nước trong- gần hồ Tắm Tiên, chỗ 2 người đứng là đá basalt của hệ tầng Xuân Lộc, tuổi 700 - 200 ngàn năm. Điều này có thể hiểu là cả trăm triệu năm sau khi mảng đá trầm tích lục nguyên được đội lên từ đáy biển trong quá trình kiến tạo của vỏ trái đất, thì họng núi lửa ở xã Buôn Choah huyện Krông Nô mới phun trào, chồng lên những lớp nham thạch và đá, đất basalt. 

Dòng chảy dù trong xanh như ngọc cũng vẫn kỳ vĩ, dữ dội 


Với hình dạng vô cùng biến ảo, kỳ lạ, bãi đá trầm tích gợi cảm giác như du khách đang lạc vào cõi mộng, mê cung, tựa như phim trường “công viên kỷ Jura”. 

Vẻ óng ánh quyến rũ như vàng của pyrit 


Mặt đá lấp lánh nhiều hạt nhỏ óng vàng. Chuyên gia địa chất đã hơn chục năm qua gắn bó với các dự án nghiên cứu về hang động núi lửa cho biết: Dân tìm vàng đã đục từng tảng đá lấp lánh này đến hỏi các nhà chuyên môn, được trả lời đây chỉ là pyrit. Tuy có ánh kim và sắc vàng đồng nhưng không phải là vàng, mà chỉ là khoáng vật disulfua sắt với công thức hóa học FeS2, dễ vỡ vụn. Giá trị của bãi đá này không phải là vàng kim loại, mà vẻ đẹp của lịch sử cả trăm triệu năm kiến tạo của vỏ trái đất, rất cần được chính quyền địa phương và doanh nghiệp khai thác du lịch quan tâm bảo vệ, gìn giữ vẹn nguyên. 

Lòng sông cạn phơi đáy, có thể bước từ bờ nọ sang bờ kia, dù chưa đến cao điểm mùa khô 


Hoàng Thiên Nga

Chuyện xưa nay bên những cây cầu ở Hà Tĩnh

đăng 01:37, 9 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật ]


Suốt chiều dài những cung đường dọc ngang trên mảnh đất Hà Tĩnh có hàng trăm cây cầu lớn nhỏ. Trong đó, có nhiều cây cầu gắn với rất nhiều sự kiện lịch sử, gắn với tên tuổi nhiều anh hùng, liệt sỹ…

Nằm trên quốc lộ 15A (đoạn qua thị trấn Đồng Lộc), cầu Tùng Cốc (còn gọi là Tùng Cóc) tuy chỉ dài 14m nhưng đã trở thành một dấu mốc quan trọng của lịch sử. Với vị trí trọng yếu trong huyết mạch giao thông Bắc - Nam, cầu Tùng Cốc đã phải hứng chịu bao trận “mưa bom, bão đạn” trong trận chiến tranh chống Mỹ. Những câu thơ của nhà thơ Phạm Tiến Duật viết về cây cầu này đã neo chặt hơn địa danh này vào lịch sử, vào lòng hậu thế: “Tùng Cốc, Tùng Cốc, Tùng Cốc, Tùng Cốc/ Qua cây cầu này rồi ta lên dốc/ Phía trước mặt là Ngã ba Đồng Lộc/ Đêm bom rơi pháo sáng đầy trời/ Mà vẫn không ngăn đoàn xe ta cứ ra vào”.


Thời điểm năm 1968, cuộc chiến tranh chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, Đồng Lộc trở thành “chảo lửa túi mưa” thì Tùng Cốc cũng trở thành điểm đánh phá ác liệt. Để cắt đứt giao thông giữa 2 miền Nam - Bắc, giặc Mỹ liên tục huy động đủ các loại máy bay và xả xuống cống ngầm cầu Tùng Cốc hàng trăm quả bom. Trong đó có những loại bom có sức công phá và sát thương cực lớn.

Thời điểm ấy, Đại đội 557 - N55 - P18 của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Võ Triều Chung làm nhiệm vụ san lấp hố bom, cứu xe hàng, rà phá bom từ trường và các loại bom chưa nổ ở các đoạn đường. Trong một đêm cuối tháng 8 mưa to gió lớn, nhận nhiệm vụ rà phá bom để thông đường cho một đoàn xe công tác làm nhiệm vụ đặc biệt đi vào Nam, Bí thư Chi bộ Võ Triều Chung đã xung phong nhận nhiệm vụ phá bom từ trường dưới ngầm cầu Tùng Cốc. Và, trong khi thực hiện nhiệm vụ ấy, ông đã anh dũng hy sinh. Tên ông đã tô thắm thêm những trang sử oai hùng ở Đồng Lộc, nhất là ở cây cầu Tùng Cốc nhỏ bé ấy.


Cùng nằm trên tuyến giao thông huyết mạch nối 2 miền Bắc - Nam, cầu Phủ - cửa ngõ phía Nam của TP Hà Tĩnh cũng là một cây cầu ghi dấu những năm tháng chiến tranh chống Mỹ ác liệt. Ngày nay, cầu Phủ nằm hiền hòa, như một gạch nối mềm mại nối vùng ngoại ô với phố thị Thành Sen. Cầu Phủ bắc qua đôi bờ sông Phủ, bắc qua những con thuyền ngày đêm lặng lẽ mưu sinh trên sông nước, bắc qua một bến thuyền vừa mới được khai thác phát triển du lịch sông nước.

Tôi không nhớ mình đã đến và dừng lại ở cầu Phủ bao nhiêu lần nhưng bao giờ cũng vậy, cùng với việc thu nhận nhịp sống mới xung quanh cây cầu ấy, tôi lại mường tượng về những năm tháng chiến tranh chống Mỹ ác liệt. Tôi nhớ những câu chuyện về “trận đầu thắng Mỹ” của Tiểu đội trưởng Tiểu đội Nữ dân quân tự vệ xã Thạch Hòa (nay là phường Đại Nài) Lê Thị Yên. Dù kể bao nhiêu chuyện đi nữa, bao giờ bà cũng nói về cầu Phủ với tình yêu tha thiết. Ở đó, những vết thương chiến tranh đã lùi xa nhưng hẳn mỗi nhịp cầu, mỗi tiếng sóng hiền hòa vỗ vào mạn thuyền vẫn còn dư ba “bom gào, đạn xối”, để rồi trong nhịp sống mới, cầu lại nhẫn nại nối những nhịp đời vui tươi.


Ai từng sống trong những năm tháng chiến tranh hẳn còn nhớ như in những bến phà qua những con sông quê hương như Bến Thủy, Linh Cảm… Ngày nay, những chiếc phao và những con đò ở các bến phà đó không còn nữa, thay vào đó là những cây cầu lớn nhỏ, hối hả cùng bao xuôi ngược của dòng đời.

Gắn với câu chuyện của những cây cầu, tôi có một niềm tự hào khi chú ruột của mình là người đã tham gia chỉ đạo thi công cầu Bến Thủy. Chú kể, khi công ty của chú (Công ty Cầu cảng 473) được giao nhiệm vụ thi công cầu Bến Thủy I - cây cầu đầu tiên bắc qua sông Lam, ai cũng rất phấn khởi. Từng có những năm tháng tham gia giao thông bằng thuyền và phà khi qua Bến Thủy, hơn ai hết, chú hiểu rằng, cây cầu khi hoàn thành sẽ có ý nghĩa to lớn như thế nào đối với giao thông vận tải trên toàn tuyến quốc lộ 1A, đặc biệt có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển KT-XH của 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh cũng như các tỉnh lân cận.

Ảnh: Sách Nguyễn


Bởi vậy, dù phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách như vật tư, trang thiết bị vừa thiếu, vừa cũ kỹ, điều kiện địa hình, địa chất phức tạp, lương thực, thực phẩm khan hiếm… nhưng tập thể công ty đã nỗ lực hết mình, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Và năm 1990, cây cầu đầu tiên bắc qua sông Lam đã được hoàn thành.

Chiếc cầu vĩnh cửu bằng bê tông, cốt thép bắc qua bến nước mênh mông không chỉ nối tình cảm giữa nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh, mà còn nối cả 2 miền Nam - Bắc, góp phần to lớn trong phát triển kinh tế của đất nước. Ngày nay, ở đây còn có thêm một cây cầu Bến Thủy 2 nữa. Cây cầu này được xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế của cầu Bến Thủy 1 và kết nối với quốc lộ 8B (từ TX Hồng Lĩnh lên Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo), đảm bảo giao thông được liên tục ngay cả trong mùa mưa lũ.

Cầu cửa Nhượng (Cẩm Xuyên). Ảnh: Hương Thành


Cầu Cày (thị trấn Thạch Hà). Ảnh: Huy Tùng


Không chỉ Bến Thủy, mà nhiều nơi trên khắp các miền quê Hà Tĩnh, những cây cầu mới đã được xây dựng như: Linh Cảm 2 (Đức Thọ), Mỹ Thịnh (Hương Sơn), Hộ Độ (Lộc Hà), Cửa Sót (Thạch Hà), Cửa Nhượng (Cẩm Xuyên)… đã lần lượt được xây dựng, đưa vào sử dụng. Những cây cầu mới xây đã giải quyết nhu cầu đi lại của nhân dân, góp phần thúc đẩy giao thương phát triển; đảm bảo quốc phòng an ninh, hỗ trợ cứu hộ, cứu nạn trong mùa mưa bão. Đặc biệt, những cây cầu trên tuyến đường ven biển còn có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống cảng biển, sẽ giúp việc khai thác kinh tế biển, khai thác tiềm năng du lịch ở các địa phương hiệu quả hơn.

Như một điểm nhấn đặc biệt trên các cung đường, những cây cầu cũ và mới ở Hà Tĩnh đã và đang hoàn thành sứ mệnh của mình - nối nhịp cho những miền quê, những tấm lòng; nối nhịp cho những ý tưởng, ý chí phát triển kinh tế, làm giàu cho quê hương, đất nước…

Bài: Phong Linh - Ảnh: PV - CTV
Thiết kế: Huy Tùng

“Săn” cua đá ở hòn Đá Bạc

đăng 01:05, 8 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Ở ấp Kinh Hòn, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, có gần chục hộ dân làm nghề "săn" cua đá cặp theo tuyến bờ kè hoặc vách đá. Mùa trở chướng, công việc của họ dường như "nhộn" hơn. 

Ông Hai Sồi (Phan Văn Sồi), ấp Kinh Hòn, xã Khánh Bình Tây được xem là người tiên phong làm nghề đặt cua đá ở đây. Ông Hai tâm sự: “Cũng nhờ nghề này mà tôi nuôi các con ăn học, cất nhà cửa… Giờ ổn định lắm rồi”. 

Khoảng 15 giờ chiều, vợ chồng ông Hai Sồi bắt đầu "hành quân" ra bến để đặt cua đá, dụng cụ là cái lờ, mồi là cá lù đù. Kiểm tra lờ xem có rách chỗ nào, ông Hai Sồi vá lại, móc mồi xong ông tìm chỗ đặt. Ông Hai cho biết, mồi nhỏ thì để nguyên con, còn lớn thì cắt ra. Bởi mồi dài thì cua kẹp, không vô, mồi nhỏ quá cua ăn xong, xé lờ đi, nên mồi phải vừa tầm con cua. 

Hơn 5 giờ sáng hôm sau, vợ chồng ông Hai Sồi thu chiến lợi phẩm. Ông Hai Sồi có 40 cái lờ, mỗi ngày ông thu hoạch khoảng 4-5 kg cua đá, bán với giá 120 ngàn đồng/kg. “Con nào thấy bán được thì mình bắt, con nào nhỏ thả lại, để có thể thu hoạch xuyên suốt”, bà Huỳnh Thu Hà, vợ ông Hai Sồi, chia sẻ.

Mồi để đánh bắt cua đá là cá nhỏ, cá tạp… 


Ông Hai Sồi chuẩn bị đồ nghề. 


Vợ chồng Hai Sồi đi thả lờ cua. 


Bà con thu hoạch cua đá cặp tuyến bờ kè. 


Niềm vui của người dân hòn Đá Bạc khi thu hoạch cua đá. 


Cua đá được phân loại, loại nhỏ thường có giá 100 ngàn đồng/kg, lớn hơn một chút thì 120 ngàn đồng/kg. 


Do cua đá là thực phẩm sạch, đánh bắt từ thiên nhiên nên rất hút hàng. Chị Huỳnh Thị Liên, ấp Kinh Hòn, cho biết, chị thường mua cua đá cho con ăn vì thịt cua rất bổ dưỡng. 


Phạm Nhật 

Khám phá nét xưa ở Cửa Lò

đăng 01:29, 6 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Về với Cửa Lò, du khách không chỉ bị thu hút bởi bãi biển đẹp, hải sản tươi ngon, hệ thống nhà hàng khách sạn chất lượng… nơi đây còn có nhiều di tích, danh thắng, những không gian tâm linh gần gũi, thiêng liêng. 

Với quá trình phát triển lâu đời, Cửa Lò là vùng đất có bề dày văn hóa trầm tích. Theo Ban quản lý Di tích Danh thắng tỉnh, trên địa bàn TX Cửa Lò có 35 di tích lịch sử, văn hóa đã được phân cấp quản lý, trong đó có 3 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, gồm: Đền Vạn Lộc, đền Mai Bảng, nhà thờ Họ Hoàng Văn, nhiều di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh, như chùa Lô Sơn, chùa Song Ngư, đền Diên Nhất, đền Yên Lương, đền Bàu Lối, đền Làng Hiếu, nhà thờ họ Hoàng Thế, nhà thờ Phùng Phúc Kiều... Trong ảnh: Đền Bàu Lối ở phường Nghi Thu. 


Đền Bàu Lối tọa lạc trong khuôn viên có diện tích gần 16 000 m2, được xây dựng từ thời Lê để thờ thần Cao Sơn Cao Các, tam tòa Thánh Mẫu, bản cảnh thành hoàn... Đền có hạ, trung, thượng điện đã được tôn tạo khang trang, nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc xưa. Trong ảnh: Bức bình phong được trang trí phù điêu, hình lưỡng long chầu nguyệt trước hạ điện. 


Chùa Lô Sơn ở phường Nghi Tân do Tể tướng Nguyễn Văn Miên dựng vào năm Vinh Thịnh (1705 – 1719) đời Vua Lê Dụ Tông còn gọi là Phổ Am Tự. Chùa có quy mô vừa phải, thanh tịnh, linh thiêng, tọa trên một địa thế khá đẹp, tựa lưng vào núi Lô, hướng về phương bắc. 


Trải qua bao thế kỷ, chùa Lô Sơn vẫn giữ được nét cổ kính hòa quyện với thiên nhiên trữ tình tạo cho di tích trở thành một công trình văn hóa độc đáo. Hiện chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật cổ như tượng, bia đá… 


Đền Vạn Lộc thuộc phường Nghi Tân được xây dựng vào thời Lê trung hưng, là một công trình kiến trúc cổ kính, quy mô, thờ Thái úy Quận công Nguyễn Sư Hồi (1444 -1506) - con trai trưởng của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí. Ông là người có công lớn trong việc hộ quốc an dân, đánh đuổi giặc thù, khai cơ lập ấp, lập nên làng Vạn Lộc (phường Nghi Tân ngày nay). 


Đền Vạn Lộc có vị trí đẹp, trước mặt đền là dòng sông Cấm êm đềm, sau lưng là núi Lò, bên phải có núi Rồng, bên trái có núi Tượng tạo thế "rồng chầu, hổ phục". Đền đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia năm 1991. Những năm gần đây, đền đã được trùng tu tôn tạo khang trang. Tại đền còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ kính, trong đó tấm bia đá 4 mặt độc đáo dựng bên trái đền. 


Đền Mai Bảng thuộc phường Nghi Thủy, cách trung tâm thị xã khoảng chừng 3km về phía Bắc. Đền được xây dựng từ thời Lê, thờ Chiêu Trưng Vương Lê Khôi - người có công lớn dưới triều đại nhà Lê, từng giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu - một Quý phi tài sắc vẹn toàn, được nhân dân suy tôn làm nữ thần biển,... 


Hiện đền Mai Bảng còn lưu giữ khoảng 75 hiện vật cổ như sắc phong, biển, kiệu, câu đối, đại tự, long ngai bài vị, hương án, bát bửu.... Đây là những hiện vật quý giá, có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật. 


Mỗi di tích, danh thắng của Cửa Lò mang một nét đẹp riêng trong kiến trúc xây dựng, nghi thức thờ cúng nhưng có mối quan hệ mật thiết trong chiều sâu văn hóa, lịch sử, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta. Trong ảnh: Hậu cung đền Mai Bảng thờ nhiều pho tương Phật, đặc biệt có pho tương cửu long quý hiếm. 


Huy Thư

Sa Thầy, mảnh đất giàu nét đẹp văn hóa truyền thống

đăng 01:21, 6 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Không chỉ nổi tiếng với Di chỉ khảo cổ Lung Leng ghi dấu người tiền sử ở Tây Nguyên, huyện Sa Thầy còn được biết đến là một trong những chiếc nôi văn hóa dân gian của tỉnh. Hơn 40 năm sau ngày được thành lập, bản sắc dân tộc, nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào các DTTS sinh sống lâu đời trên địa bàn vẫn được quan tâm gìn giữ và phát huy.

Điều đó không chỉ thể hiện qua lối kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nét đẹp cồng chiêng - xoang, các điệu dân ca, dân vũ; mà còn được khẳng định nhờ các nghề truyền thống, từ dân dã, phổ biến như đan lát mây tre, dệt thổ cẩm đến riêng biệt và đặc sắc với tạc tượng gỗ, đẽo thuyền độc mộc.

Là làng tái định cư lòng hồ thủy điện Plei Krông, Đăk Wơk đã trở thành điểm sáng trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống nhờ gây dựng được nhiều thế hệ tiếp nối nặng lòng với tình yêu văn hóa dân gian. Đây cũng là làng DTTS duy nhất của tỉnh vinh dự tham gia nhiều sự kiện văn hóa dân tộc ở nước ngoài. Trong đó, có Lễ hội Smith Sonian tại Washington D.C, Hoa Kỳ vào năm 2007, Liên hoan Ganat lần thứ 14 tại Pháp năm 2014. Nghệ nhân trẻ A Đan ở làng Đăk Wơk cho hay: Em từng có vinh dự được cùng các nghệ nhân lão luyện đi biểu diễn ở Hàn Quốc, Mỹ, Pháp… Ai cũng sung sướng, tự hào, vì cái hay cái đẹp cồng chiêng, sử thi, đan lát, đẽo thuyền độc mộc… của đồng bào Ba Na nhánh Rơ Ngao được giới thiệu ra nước ngoài. 

Làng nhỏ Rờ Kơi nằm trong vùng đệm Vườn Quốc gia Chư Mom Ray thuộc xã Rờ Kơi trước đây là vùng căn cứ kháng chiến của H67 thời kỳ chống Mỹ. Ngày nay, người Hà Lăng (một nhánh của dân tộc Xơ Đăng) ở đây không chỉ nỗ lực trồng cây công nghiệp để giảm nghèo, làm giàu; mà còn ra sức xây dựng khu dân cư văn hóa tiêu biểu. Cùng với cồng chiêng, nghề dệt thổ cẩm lâu đời và điệu múa “Chiêu” độc đáo luôn được gìn giữ, duy trì; trở thành nét đẹp đáng tự hào của phụ nữ Hà Lăng. Chị Y Che ngoài 30 tuổi đã trở thành nghệ nhân giỏi chiêu, hát dân ca và nhất là thạo dệt thổ cẩm. Thổ cẩm truyền thống của người Hà Lăng gồm 4 màu chính là trắng, đen, vàng, đỏ. “Tấm thổ cẩm dệt đẹp được khoác lên vai, choàng qua lưng mới múa thành điệu chiêu. Hội vui không thể thiếu chiêu, đám tang cũng cần có chiêu. Trong làng có bà Rưa, bà Hlanh giỏi chiêu, giỏi dệt đã chỉ dạy lại cho bọn trẻ…” - Y Che thổ lộ. 

Phụ nữ Hà Lăng xã Rờ Kơi dệt vải. Ảnh: TN 


Ở làng Rắc, xã Ya Xiêr bên lòng hồ thủy điện Ya Ly, ông A Phiếu là một trong số nghệ nhân cao niên vừa giỏi đan lát, vừa thạo cồng chiêng và không quên những khúc ca của người Gia Rai. Được chọn đi giới thiệu nghề đan lát bằng tre nứa mang nét đẹp rất riêng của dân tộc tại Bảo tàng tỉnh trong Tuần Văn hóa - Du lịch tỉnh Kon Tum lần thứ 4, già A Phiếu còn cao hứng biểu diễn những bài dân ca mượt mà, say đắm. Một điệu dân ca được ông đặt lời mới: Mình đan cái gùi, cái giỏ... Mình đan cho nhiều người xem, cho mọi người dùng. Mình đến cả Bảo tàng này, mình cho mọi người cùng biết cái rổ cái gùi mình đan… 

Tại làng Lung Leng, xã Sa Bình, nghề đẽo thuyền độc mộc “xưa nay hiếm” trải qua bao gian nan, khó nhọc đã được Nghệ nhân ưu tú A Nhơ nâng niu, gìn giữ và chỉ dạy lại cho lớp con cháu. Vùng quê bên dòng Pô Kô huyền thoại này tự hào vì đã dày công gây dựng, duy trì đội thuyền độc mộc của thanh niên luôn dẫn đầu các hội đua thuyền truyền thống do tỉnh và huyện Sa Thầy tổ chức nhân dịp năm mới, đón Xuân. Theo ông Nguyễn Hữu Cầu - Cán bộ văn hóa xã Sa Bình, trước đây, làng Lung Leng có 60 - 65 chiếc thuyền độc mộc. Cơn bão số 9 năm 2019 làm mất mát, hư hao nhiều, chỉ còn khoảng một nửa số này. Để góp phần bảo tồn nét văn hóa đặc trưng này của đồng bào Gia Rai tại chỗ, huyện Sa Thầy đã hỗ trợ làm mới 3 chiếc thuyền độc mộc, trị giá 45 triệu đồng. Xã cũng đã bảo quản 6 thuyền chuyên phục vụ thanh niên tham gia lễ hội đua thuyền.

Nghệ nhân trẻ A Huynh ở làng Chốt, thị trấn Sa Thầy cho biết thêm: Dân làng rất tự hào vì có nhiều nghệ nhân lớn tuổi đa tài. Riêng với loại hình tạc tượng gỗ dân gian hiện nay nhiều nơi ít lớp nghệ nhân kế cận thì trong làng vẫn còn nhiều người trẻ yêu thích, theo học.

Tự hào với mảnh đất quê hương giàu truyền thống văn hóa, các thế hệ nghệ nhân và lớp trẻ người DTTS ở huyện Sa Thầy không ngừng tiếp bước cha ông để lan tỏa những nét đẹp lâu đời, quý báu cho hôm nay đến mai sau. Đó cũng là một trong số điểm nhấn thu hút mọi người đến với địa phương trong định hướng đưa du lịch thành một ngành kinh tế tiềm năng.

Thanh Như

Vui như “săn” ốc đinh trên bãi triều sông Vịnh

đăng 00:50, 6 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Những ngày này, khu vực bãi triều sông Vịnh ở xã Kỳ Hà, TX Kỳ Anh (Hà Tĩnh) luôn tấp nập bởi hàng trăm người tham gia cào bắt ốc đinh. Công việc lúc nông nhàn này vừa mang lại niềm vui lại vừa giúp bà con có thêm thu nhập.

Khoảng 3 giờ chiều, khi thủy triều bắt đầu xuống, hàng trăm người dân từ già, trẻ, lớn, bé; nào túi, rổ, xe đạp…, bắt đầu cho việc “săn” ốc đinh (có nơi gọi là ốc vôi, ốc sắt).


Không chỉ với người lớn, đi bắt ốc cũng là niềm vui của lũ trẻ nhỏ nơi vùng quê ven biển này


Ốc đinh lộ thiên trên cát nên người dân rất dễ “thu hoạch”.


Bà Trần Thị Phận ở thôn Bắc Hà, xã Kỳ Hà phấn khởi chia sẻ: Bắt ốc đinh phụ thuộc vào con nước. Đúng tuần trăng, thủy triều phải rút cạn, ốc nhô lên mặt cát thì mới bắt đầu thu hoạch. Với điều kiện thuận lợi, mỗi ngày một mình tôi có thể bắt được 50 kg ốc, với giá bán 3.000 đồng/kg, cũng kiếm được 150.000đ/ngày. 


Ốc đinh tập trung chủ yếu ở vùng bãi triều sông Vịnh (xã Kỳ Hà)


Mỗi buổi chiều, 3 mẹ con chị Nguyễn Thị Luyến (thôn Bắc Hà, xã Kỳ Hà) bắt được hơn 40 kg ốc. Trẻ em đi cùng bố mẹ vừa nhặt ốc vừa chơi đùa cùng nhau trên bãi. (Trong ảnh: Con gái chị Luyến cùng mẹ đi bắt ốc đinh).


Người dân ở đây cho biết, ốc đinh hình dạng nhỏ như con ốc vít, ruột khá nhỏ. Trước đây một số ít người khai thác về chỉ để nung vôi, làm thức ăn cho gia cầm nhưng mấy năm trở lại đây, được thương lái thu mua xuất khẩu sang Hàn Quốc nên người dân mới đổ xô đi bắt.


Sản phẩm được người dân dùng xe đạp vận chuyển đến bán cho các thương lái


Là người thu mua số lượng lớn ốc đinh cho bà con, chị Trần Thị Hà (thôn Bắc Hà, xã Kỳ Hà) cho hay: Mỗi ngày trung bình gia đình tôi thu mua khoảng 12-15 tấn ốc đinh, cứ mỗi kg giá 3.000 đồng. Sau khi gom đủ số lượng, khoảng 3 ngày chúng tôi xuất bán đi một lần, ốc sẽ được đưa vào 1 công ty ở Đà Nẵng, ở đó họ sẽ sơ chế theo tiêu chuẩn rồi xuất khẩu sang Hàn Quốc làm thức ăn…”.


Thu Trang

Chuyện ở làng chài đá Kỳ Xuân

đăng 00:18, 3 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Tôi vẫn thường gọi làng chài Kỳ Xuân (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh) là làng chài đá theo cách riêng của mình. Mỗi lần ngắm những con thuyền cá neo mình bên những bãi đá lô nhô nơi làng chài này, tôi lại nghĩ đến sự kiên gan và tình yêu biển của những ngư dân nơi đây.

Vẻ đẹp của làng chài Kỳ Xuân. Ảnh tư liệu


Có lẽ không bãi biển làng chài nào lại có nhiều ghềnh đá như ở Kỳ Xuân. Suốt chiều dài 13 km bờ biển lô nhô đá tảng ấy là 6/8 thôn làm nghề đánh bắt. Không biết ai đã đem những tảng đá ấy dựng ngay bờ biển để nơi đây thành vùng biển độc đáo nhất của Hà Tĩnh. Những tảng đá sừng sững như muốn che chở cho dân làng chài qua những phong ba của đại dương xanh thẳm, đồng thời cũng là tiếng lòng của lớp lớp ngư dân bao đời kiên định một tình yêu với biển.

Nghề biển tuy lắm gian nan và thăng trầm nhưng người Kỳ Xuân luôn có cách để gắn bó và yêu biển một cách nồng nhiệt. Hiện tại, toàn xã Kỳ Xuân có trên 600 hộ dân làm nghề biển với 160 thuyền đang hoạt động. Thu nhập bình quân của mỗi gia đình làm nghề biển từ 6-15 triệu đồng/tháng, tùy vào thời điểm trong năm.

Ngư dân Cao Trọng Tình (thôn Lê Lợi, xã Kỳ Xuân) đã có hơn 40 năm gắn bó với biển.


Trở về từ biển một sớm đầu xuân Canh Tý, với mẻ cá đù vẫn còn lấp lánh ánh bạc, lão ngư Cao Trọng Tình ở thôn Lê Lợi không giấu nổi niềm hân hoan. Bởi, với lão ngư có hơn 40 năm kinh nghiệm bám biển này, ra khơi đầu năm đã mang về “lộc biển” như thế này, báo hiệu một năm thuận lợi.

Ngắm nhìn gương mặt rắn rỏi, làn da mặn mòi vị biển và ánh mắt kiên trung của ông Tình, lắng nghe tiếng nói âm ba sóng biển của ông, tôi biết rằng, ông và biển đã ở trong nhau. Cuộc đời ông sinh ra là để dành cho biển và biển cũng vậy, đã trở thành nhà của ông, trở thành người bạn tri kỷ của ông. Tôi mường tượng về những lần ông nhổ neo ra khơi, những đêm tối ông nương náu vào biển, những ngày mưa, ngày nắng lênh đênh cùng sóng nước.

Ông Tình tâm sự: “Lần ra khơi đầu tiên là những năm 1980, lúc đó tôi vừa học xong cấp 3 và cũng là những ngày đầu tiên theo cha học nghề đánh cá. Những năm đó, biển Kỳ Xuân nhiều cá lắm, chúng tôi chỉ việc chèo thuyền ra nửa cây số là đã có thể đánh bắt được bao nhiêu là hải sản. Mỗi lần trở về đất liền đợi chờ chuyến đi mới, tôi thấy mình như càng gắn bó với biển nhiều hơn”.

“Hải sản Kỳ Xuân dồi dào, với nhiều đặc sản nổi tiếng nên ngư dân sống khỏe với biển”.


Trong lời kể chất chứa niềm tự hào về biển của ông Tình, tôi chợt nhớ đến những lý giải từ các chuyên gia Hải dương học về nguồn cơn về sự giàu có hải sản của vùng biển này. Với bờ biển trải dài, hầu hết dựa lưng vào núi, biển Kỳ Xuân có rất nhiều ghềnh đá và rặng san hô phong phú…

Đây là nơi trú ngụ yêu thích của rất nhiều loại hải sản như: Tôm hùm, cua, ghẹ, ốc, sò và các loại cá… Đặc biệt, vào mùa sinh sản, nhiều loài như mực, tôm hùm… tìm vào vùng biển này để sinh sôi, mùa biển động thì vào ẩn nấp. Vì thế, biển Kỳ Xuân mùa nào hải sản cũng dồi dào.

Thế nhưng, nghề biển cũng có những nốt trầm, nhất là dưới tác động của con người khiến môi trường biển có nhiều thay đổi.

Ông Tình kể: Những năm 1990 (thế kỷ XX), ngư dân Kỳ Xuân có sự thay đổi lớn về phương tiện đánh bắt. Thay thế những con thuyền chèo truyền thống là những con thuyền máy với công suất lớn hơn. Tuy nhiên, cũng vào thời điểm này, ngư trường bị phá hoại bởi một số thuyền ngoại tỉnh đến đánh bắt bằng nhiều hình thức tận diệt… Vì thế mà nguồn hải sản có lúc trở nên khan hiếm. Nhiều ngư dân Kỳ Xuân phải đến các vùng biển khác như Nha Trang, Phú Quốc… để mưu sinh.

Nhiều ngư dân nhờ biển, sắm được thuyền mới để tiếp tục ra khơi khai thác hải sản. (Trong ảnh: Ông Cao Trọng Tình và bạn nghề chuẩn bị cho chuyến ra khơi).


“Trong giai đoạn đó, tôi và nhiều bạn chài khác vẫn bám biển. Ngư trường lúc thắng, lúc thua, nhưng chúng tôi tin rằng, biển đã nuôi sống cha ông chúng tôi bao đời thì không có lý gì lại không cưu mang chúng tôi cả. Và thế là chúng tôi lại kiên trì bám trụ với nghề” - ông Tình chia sẻ thêm.

Còn ông Võ Hồng Nam ở thôn Xuân Tiến thoáng chút bần thần khi kể về sự cố môi trường biển năm 2016: “Đó là lúc chúng tôi thất vọng, nghĩ sẽ không bao giờ còn được làm công việc suốt cuộc đời mình và ông cha mình đã gắn bó. Nhưng rồi biển đã hồi sinh, đã trở lại là nơi mưu sinh cho người dân làng tôi. Những chuyến đi biển đều đặn hơn. Thậm chí, nhiều gia đình đã chuyển đổi tàu công suất nhỏ sang công suất lớn để đánh bắt xa bờ. Chỉ cần biển lặng thôi, ra khơi lúc nào về cũng có tôm, có cá. Hải sản Kỳ Xuân thơm ngon, có giá, đánh bắt dễ dàng nên người dân làng tôi đang và sẽ sống khỏe với biển…”.

Kỳ Xuân với những đặc sản ngon nổi tiếng giờ đây còn trở thành điểm đến yêu thích của khách du lịch. Những bãi đá tưởng chừng như vật cản lại trở thành điểm nhấn thu hút du khách. Hải sản của làng chài đá đánh bắt không đủ để cung cấp cho các nhà hàng sở tại, chính vì thế, ngư dân không còn phải vất vả trong tiêu thụ nguồn lợi đánh bắt nữa.

Với lợi thế bãi biển đẹp, độc đáo, Kỳ Xuân sẽ được xây dựng thành khu đô thị ven biển trong tương lai. Ảnh tư liệu


Chủ tịch UBND xã Kỳ Xuân Nguyễn Thành Chung cho biết: “Hiện nay, chúng tôi đang trong quá trình hoàn thành đề án xây dựng Kỳ Xuân thành khu đô thị ven biển của tỉnh. Trong đó, nội dung rất được quan tâm là phát triển bền vững nghề cá truyền thống của địa phương.

Đặc biệt, với những ưu thế độc đáo riêng biệt của những làng chài nơi đây, dự án còn hướng tới xây dựng mô hình du lịch trải nghiệm. Mô hình này không chỉ giúp du khách có những khám phá thú vị đối với công việc đánh bắt hải sản khi đến với biển Kỳ Xuân mà còn giúp ngư dân có thêm thu nhập song hành cùng nghề cá”.

Đến Kỳ Xuân trong một ngày đầu xuân Canh Tý, lắng nghe những câu chuyện thăng trầm của nghề đi biển, ngắm nhìn hình ảnh phối cảnh quy hoạch khu đô thị ven biển, tôi như nghe muôn lớp sóng đang vỗ vào lòng mình những thanh âm đẹp đẽ nhất của tình yêu quê hương, đất nước.

Thiên Vỹ

An Nhiên - yên bình một miền quê

đăng 00:09, 3 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Không sinh ra và lớn lên nhưng cơ duyên đưa tôi về sinh sống ở nơi này. Và mỗi sáng mỗi chiều, khi tiếng chuông nguyện nhà thờ vang lên hòa cùng nhịp sống tươi trẻ của các làng nông thôn mới kiểu mẫu, trong dư âm tiếng sóng sông Hộ Độ, tôi mới cảm nhận hết vẻ đẹp của một miền quê khởi phát từ sông nước đang ngày một rạng rỡ, thanh tân.

Nhất cận thị, nhì cận giang

Nói về lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất An Nhiên - Hạ Hoàng mà tên gọi hành chính là xã Thạch Hạ, xưa thuộc Thạch Hà, nay thuộc TP Hà Tĩnh, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Sông Hàn nhiều lần nhắc đi nhắc lại thế mạnh của một vùng sông nước “nhất cận thị, nhì cận giang”.

Bến đò Hạ Vàng nơi ghi dấu lịch sử hình thành xã Thạch Hạ


Theo Địa chí Thạch Hà (NXB Chính trị quốc gia - 2015, trang 62, 63, 64), sông Hà Hoàng chảy quanh co trên dải đất trũng thuộc 2 huyện Can Lộc và Thạch Hà, có đến 7 tên gọi, tùy thuộc các vùng đất sông chảy qua: Phúc Thủy, sông Cài, sông Hà Vàng, sông Nghèn, sông Thuần Chân, Kênh Cạn và đoạn cuối cùng là Hộ Độ. Sông Hộ Độ (vì chảy ra Cửa Sót nên có người gọi là sông Sót), đoạn cuối của Hà Hoàng khi chảy cắt ngang tỉnh lộ 9 đã tạo ra một bến đò ngang rất lớn là bến đò Hộ Độ, sau này được xây dựng thành cầu Hộ Độ.

Một góc khu dân cư kiểu mẫu Tân Lộc...


Bên bờ Nam sông Hộ Độ là xã Thạch Hạ, vùng đất được hình thành hơn 550 năm. Theo nhiều tài liệu, xã Thạch Hạ trước năm 1945 là vùng đất thuộc làng Yên (An) Nhiên và Hạ Hoàng thuộc tổng Thượng Nhất. Sau Cách mạng tháng 8/1945, sáp nhập các làng Hạ Hoàng, Yên Nhiên, Văn Giáp và Nhân Hòa để lập nên xã Quang Lịnh. Đến năm 1954 thì xã Quang Lịnh chia thành 3 xã: Thạch Thượng, Thạch Trung và Thạch Hạ (thuộc huyện Thạch Hà).

... khu dân cư Tân Học


Năm 2004, xã Thạch Hạ sáp nhập về TX Hà Tĩnh (nay là TP Hà Tĩnh). Từ các cồn đất nổi lên giữa vùng sông nước, cư dân dân vạn chài đã dựng lều mưu sinh, dần dần lập nên xóm làng. Nghề chính của họ là chài lưới, làm nông. Do gần biển nên đất đai nhiễm mặn, người dân phải chung sức đắp đê ngăn mặn để trồng trọt và chăn nuôi. Khi dân làng về quần cư ở đây thì các dòng họ cũng hình thành như họ Võ Tá, họ Nguyễn Đăng…

Họ Võ Tá Hà Hoàng từng được coi là “Hà Hoàng thế tướng” lừng lẫy trong suốt 180 năm triều Hậu Lê với những truyền ngôn nổi tiếng như “Lính Nghệ An - Gan Thạch Hà” hoặc “Trảo Nha chi Ngô - Hà Hoàng chi Võ”. Các vị quan Quận của dòng họ Võ Tá đã có nhiều công lao đóng góp cho đất nước, được nhân dân ca ngợi và lưu truyền.

Ghi nhận công lao của các vị Quận công, Tạo sỹ, triều đình đã cho xây dựng miếu thờ và ban tặng nhiều sắc phong, tước lộc. Bến đò Hạ Vàng (hiện ở vị trí Quán Gió) bên sông trở thành nơi giao thương buôn bán của cả một vùng rộng lớn thuộc lưu vực Hà Hoàng - Cửa Sót.

Giữ gìn nét đẹp văn hóa làng

Đời nối đời, những người dân chất phác ven sông Hộ Độ đã cần cù lao động để xây đắp, tô đẹp xóm làng. Với vị trí cửa ngõ Đông Bắc của TP Hà Tĩnh, có nguồn sống dồi dào từ sông nước và tính chất “cận thị”, Thạch Hạ trở thành nơi “đất lành chim đậu”. Những cái tên Đông Đoài, Thượng, Trung, Hạ, Liên Hà, Liên Thanh, Liên Nhật, Minh Tiến, Minh Yên, Tân Lộc, Tân Học dần hình thành. Người dân sống hiền lương, đoàn kết, yêu thương nhau, tốt đời đẹp đạo, hòa mình vào công cuộc đổi mới của đất nước.

Đường về Thạch Hạ


Khi TP Hà Tĩnh phát động phong trào xây dựng nông thôn mới, với quyết tâm chính trị cao của cấp ủy, chính quyền địa phương, sự đồng thuận góp sức của người dân, Thạch Hạ đã bứt phá đi lên. Liên Nhật, Liên Hà, Tân Lộc rồi Liên Thanh trở thành những thôn đi đầu.

Về các khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu hôm nay, nhìn những con đường đẹp như tranh, những ngôi nhà cao tầng đủ kiểu dáng, màu sắc bên cạnh ruộng đồng và đầm phá ven sông, nghe tiếng chuông nhà thờ xứ An Nhiên, nhà thờ họ Hoàng Yên, người ta cảm nhận một không gian thật yên bình mà sống động.

Trong câu chuyện về xây dựng xã nông thôn mới trên nền tảng văn hóa, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Sông Hàn tâm đắc vì địa phương đã thống nhất quan điểm: “Mới nhưng không làm mất đi cái cũ” và lên kế hoạch rất cụ thể để gìn giữ nét đẹp văn hóa vùng miền vì “nếu đánh mất nét văn hóa ấy thì Thạch Hạ không còn là Thạch Hạ mà là xã khác”.

Anh kể cho chúng tôi nghe câu chuyện Quỹ An sinh xã hội ở các thôn, đặc biệt là ở thôn Thượng, người dân đã vận động, kêu gọi 100 triệu đồng để giúp đỡ một gia đình có người bị trọng bệnh. Tình làng nghĩa xóm “tối lửa tắt đèn” có nhau là nét đẹp của cha ông ngàn đời đã được gìn giữ.

Con đường phát triển du lịch - ẩm thực đang dần được hoàn thiện


Với tâm nguyện tha thiết, người dân đã đóng góp công sức và xây dựng, tôn tạo 2 nhà thờ và di tích lịch sử văn hóa nhà thờ họ Võ Tá - miếu Quan Quận. Thôn Tân Lộc đã tôn tạo miếu thờ thành hoàng làng, thôn Tân Học đang quá trình phục dựng. Các thôn khác trong quy hoạch đều có xây dựng giếng làng để giữ vẻ đẹp “cây đa, bến nước, sân đình”. Riêng thôn Liên Thanh đã hoàn thành giếng làng ở cuối thôn, tạo cảnh quan đẹp, đảm bảo sinh thái cho người dân.

Có lẽ, nhờ luôn luôn coi trọng các giá trị văn hóa, nhất là ứng xử giữa người với người mà dù rất năng động và đổi mới, song nét chất phác, hiền lương của người dân nơi đây vẫn không bị mất đi. Dù chỉ họp một buổi, gần thành phố song chợ Thạch Hạ không thiếu sản vật gì, nhất là thực phẩm. Đặc biệt, tôi rất thích vẻ chất phác của cả người bán lẫn người mua ở khu chợ này.

Quy hoạch gắn với tăng trưởng “xanh”

Trở lại câu chuyện “nhất cận thị, nhì cận giang”, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Sông Hàn cho tôi biết thêm: Xã đã rất chú trọng quy hoạch trên cơ sở thực tiễn của làng, giữ vẻ đẹp của làng, làm sinh động nông thôn mới Thạch Hạ. Chính vì vậy, Thạch Hạ đã làm quy hoạch các khu sinh thái và ẩm thực biển dựa vào tính chất “cận thị”, “cận giang”.

Hiện nay, quy hoạch khu ẩm thực đã được phê duyệt, nhà hàng Chương II đã đi vào hoạt động. Con đường du lịch ẩm thực - sinh thái đang hoàn thiện. Đường làm đến đâu, cây xanh và hoa trồng đến đó. Năm 2020, xã sẽ đầu tư xây dựng tuyến đường nối từ đường Nam Cầu Cày với con đường du lịch ẩm thực sinh thái nhằm thu hút đông đảo du khách đến với bờ nam sông Hộ Độ, thưởng thức hải sản trong các nhà hàng sinh thái, hình thành các resort nghỉ dưỡng.

Nhiệm kỳ 2020-2025, xã phấn đấu hoàn thành xã nông thôn mới kiểu mẫu, xã Anh hùng trong thời kỳ đổi mới. Lộ trình ấy đang được từng bước hiện thực hóa với nỗ lực không ngừng của hệ thống chính trị và mỗi người dân nơi đây.

Bùi Minh Huệ

Bản Đá Bia

đăng 06:02, 2 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:04, 3 thg 3, 2020 ]

Bản Đá Bia (xã Tiền Phong, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình), nơi có những ngôi nhà sàn cổ làm Homestay, những món ăn dân dã của người Mường Ao Tá, những chum rượu cần đặc sánh ngọt lịm, những nét văn hóa đặc trưng đậm chất “bản địa” mộc mạc, dễ gần, mến khách, những vẻ đẹp thiên nhiên kì vĩ mà thơ mộng làm ngây ngất lòng người. 

Từ Tp. Hòa Bình đến với bản Đá Bia du khách có thể đi theo đường sông (đường thủy) và đường bộ rất thuận tiện. Đi đường bộ hay đường thủy lên bản Đá Bia đều có cái hay và thú vị của nó, với đường thủy du khách được ngắm cảnh lòng hồ Hòa Bình với làn nước trong xanh huyền ảo, các hòn đảo to, nhỏ nhấp nhô còn nguyên sơ với các thảm thực vật xanh mướt. Còn với đường bộ, du khách được trải nghiệm qua từng cung đường ngoằn nghèo hiểm trở, lúc lên dốc, lúc đổ đèo tạo cảm giác mạnh, hai bên đường cây xanh rợp bóng mát, hoa mua, hoa rừng nở rộ vàng ươm, tím ruộm cả tuyến đường, rất phù hợp cho những người thích khám phá, thích hòa hợp với thiên nhiên cỏ cây hoa lá.

Nơi đây còn giữ được nguyên vẹn những gì thuộc về tự nhiên, là một điểm thu hút đặc biệt đối với du khách đam mê khám phá. Đến đây, du khách có thể cảm nhận được sự thanh bình, yên tĩnh, không xô bồ, náo nhiệt, không ồn ào, ầm ĩ của thị thành, được hít hà bầu không khí trong lành, mát mẻ của núi rừng nguyên sinh, ngắm nhìn những áng mây trắng bồng bềnh trên đỉnh núi, cùng hòa trong tiếng hót của muôn loài chim thú ngân vang cả một vùng đất trời...

Toàn cảnh lòng hồ Hòa Bình, nơi du khách xuôi trên những du thuyền đến thăm bản Đá Bia.


Toàn cảnh bản Đá Bia nhìn từ trên cao với hơn 40 nếp nhà sàn của người Mường Ao Tá.


Du khách đi trên những chiếc du thuyền cỡ lớn theo đường thủy khám phá bản Đá Bia.


Du thuyền trên mặt hồ Hòa Bình khoảng từ 1-2 tiếng đồng hồ sẽ đến bản Đá Bia.


Du khách rất thích thú khi đặt chân đến bản Đá Bia.


Một nhà sàn được sử dụng làm nơi nghỉ phục vụ khách du lịch.


Một góc đường trong bản Đá Bia.


Khách du lịch tìm hiểu về văn hóa và lịch sử của bản Đá Bia.


Hiện tại, bản Đá Bia có khoảng 4 gia đình làm dịch vụ homestay phục vụ khách du lịch.


Không gian nhà sàn dành cho khách du lịch nghỉ dưỡng ở bản Đá Bia.


Du khách trải nghiệm bơi thuyền Kayak trên hồ Hòa Bình. 


Đến với bản Đá Bia, du khách còn được trải nghiệm các hoạt động như đi xe đạp, hoặc đi bộ thăm bản, tham quan, nghiên cứu những ngôi nhà sàn cổ được xây dựng qua bao nhiêu thế hệ mà họ vẫn giữ nguyên được nếp nhà.

Bên cạnh các dịch vụ trải nghiệm, du khách còn được tham gia các trò chơi trên mặt nước như bơi bè mảng, chèo thuyền kayak, tắm thác, lội suối, khám phá hang động rất thú vị.

Sau các hoạt động trải nghiệm, du khách nghỉ ngơi thư giãn ngâm mình trong làn nước mát lạnh và thưởng thức các món ăn dân dã, đặc sản của một vùng quê miền sơn cước như gà chạy bộ, lợn thả rông, cá sông Đà, rau rừng... Những món ăn được chế biến theo phương thức của địa phương, đậm đà vị thơm của hạt dổi, vị ngọt ngào của măng giang, vị đắng đắng là lạ của các loại rau rừng... tất cả là thực phẩm sạch được chế biến dưới bàn tay khéo léo của những người đàn ông trụ cột trong gia đình Mường Ao Tá.

Đặc biệt, chỉ có bản Đá Bia còn duy trì được một nét đẹp văn hóa mà nhiều nơi không gìn giữ được đó là "quán Tự Giác", quán này được dựng lên nhằm mua bán, trao đổi những sản phẩm mà người dân trong xóm làm ra sử dụng không hết. Gọi là "quán Tự Giác" vì ở đây quán không cần có người ngồi bán hàng, mọi người đến mua hàng tự chọn và tự trả tiền vào sọt theo giá niêm yết.

"Quán Tự Giác", một quán nhỏ hết sức đặc biệt ở bản Đá Bia.


Các món hàng ở quán Tự Giác đều được niêm yết giá, người dân hoặc du khách mua chỉ việc bỏ tiền vào chiếc sọt gần đó.


Du khách rất thích thú với quán Tự Giác khi lần đầu đến bản Đá Bia. 


Đêm trên bản Đá Bia ít ánh đèn, du khách có thể thong dong ngắm sao trời hoặc hòa mình cùng lời ca, điệu múa của người dân dành tặng. Tất cả tạo nên một khoảng thời gian yên bình, thư thái, có lẽ sẽ là động lực tiếp sức cho du khách sau những mệt mỏi, bận rộn thường ngày.

Bài và ảnh: Công Đạt

Đà Lạt - những cuốc xe du hí

đăng 04:35, 26 thg 2, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đến với Đà Lạt mộng mơ, bạn hãy thử một lần ngồi lên những cỗ xe ngựa đẹp như trong truyện cổ tích hoặc lên những chiếc xe điện chạy êm ru, không mùi xăng, không mùi khói dạo chơi loanh quanh nơi phố núi thì mới cảm nhận được hết cái sự sung sướng của kẻ lãng du trên miền hoa, sương, khói, nắng và gió… 

Đà Lạt là xứ ngàn hoa, là thành phố của tình yêu, của mộng mơ và lãng mạn. Phố núi Đà Lạt đồi núi trập trùng, nhà cửa nhấp nhô theo triền núi, đường sá quanh co lúc lên cao lúc xuống thấp, lúc ẩn lúc hiện trong những cánh rừng thông xanh mướt, thảng hoặc những trại rau, trại hoa chợt hiện lên ngút ngát sắc màu bên những sườn đồi hoặc dưới các thung lũng nhỏ.

Đà Lạt còn được ví như một “tiểu Paris” nhờ có khí hậu trong lành, quanh năm se lạnh cùng với những hồ nước xanh nên thơ và những tòa dinh thự, tu viện, nhà thờ, trường học cổ mang màu sắc kiến trúc thuộc địa do người Pháp xây nên từ hồi đầu thế kỉ 20.

Khám phá Đà Lạt người ta có thể đi bộ, xe đạp, xe máy, ô tô, thậm chí bằng cả xe lửa cổ, nhưng thú vị nhất có lẽ là bằng xe ngựa hoặc xe điện, một loại xe mang dáng dấp của thời trung cổ và một loại xe điển hình cho thời đại 4.0, nhưng cả hai đều có nét chung đó là sự lãng mạn và sang trọng, rất thích hợp với những người có tâm hồn lãng du ưa thả hồn mình với cảnh quan nên thơ miền sơn cước.

Sắc màu phố núi Đà Lạt. Ảnh: Thanh Hòa


Xuân về trên phố núi. Ảnh: Thanh Hòa


Cỗ xe ngựa có kiểu dáng như xe ngựa thời trung cổ ở các nước phương Tây. Ảnh: Thanh Hòa


Những cỗ xe mang sắc màu cổ tích. Ảnh: Thanh Hòa


Thiếu nữ Đà Lạt bên cỗ xe bạch mã. Ảnh: Thanh Hòa


Những cỗ xe ngựa đẹp như cổ tích sẵn sàng phục vụ du khách khám phá vẻ đẹp phố núi. Ảnh: Thanh Hòa


Sắc màu tươi trẻ của phố núi và những chiếc xe điện thân thiện với môi trường. Ảnh: Thanh Hòa


Vẻ đẹp duyên dáng của đoàn xe kết hoa đưa du khách đi trên những cung đường phố núi. Ảnh: Thanh Hòa 


Xe ngựa ở Đà Lạt được thiết kế như những cỗ xe ngựa của giới quý tộc phương Tây thời Trung cổ nên chúng mang một vẻ đẹp vừa sang trọng lại vừa hoài cổ. Cánh xà ích phố núi có lẽ cũng là những tay chơi phiêu lãng nên thường trang bị cho mình những bộ cánh như mấy anh cao bồi miền Tây nước Mỹ với chiếc quần bò bạc màu, áo khoác da và mũ rộng vành.

Mỗi cỗ xe ngựa thường chở từ hai, bốn đến sáu người. Du khách lên xe, người xà ích kéo nhẹ dây cương rồi điệu nghệ vung chiếc roi da quất đánh vút vào không khí một cái đủ để cho chú tuấn mã hiểu ý chủ khẽ chồm lên kéo theo cỗ xe chạy lộc cộc trên đường.

Ngồi trên những cỗ xe ngựa mui trần, không vách ngăn, không kính chắn gió, du khách sẽ cảm nhận được sự khoái cảm lạ kì trước những làn gió se lạnh ùa vào mơn man lên làn da thịt, xoáy nhẹ qua từng kẽ tóc trong khi tâm hồn thì đang mơ màng nhìn ngắm khung cảnh phố núi nên thơ chầm chậm lướt qua trong tiếng vó ngựa đều đều gõ nhịp như đưa lòng người quay trở về với thời quá khứ xa xôi, thời của những cuốc xe thổ mộ thường thấy trong các chuyến du hí của những kẻ lãng du phố núi người bản địa hồi đầu thế kỉ trước.

Đi xe điện cũng có cái thú tương tự như xe ngựa nhưng êm ái, nhẹ nhàng hơn và cung đường tham quan cũng được xa hơn. Đặc biệt, nếu gặp được chiếc xe nào có người lái xe là một cô gái thì chuyến đi ấy thú vị vô cùng, bởi còn gì hấp dẫn bằng khi vừa ngắm cảnh núi rừng mộng mơ trên một cuốc xe lộng gió vừa được nghe những cô gái xinh đẹp phố núi trò chuyện, giới thiệu về mảnh đất xứ ngàn hoa bằng cái chất giọng ngọt ngào, quyến rũ như đi vào lòng người.

Đà Lạt – xứ ngàn hoa. Ảnh: Thanh Hòa


Du khách đi tham quan một trang trại rau và hoa trong tour xe điện. Ảnh: Trần Thanh Giang


Du khách đi tham quan một cơ sở sản xuất rượu vang trong tour xe điện. Ảnh: Trần Thanh Giang


Du khách đi tham quan một cơ sở sản xuất nấm trong tour xe điện. Ảnh: Trần Thanh Giang 


Hiện nay Đà Lạt đã xây dựng được nhiều tour, tuyến du lịch tham quan hấp dẫn bằng xe điện và xe ngựa với giá cả hợp lí, cung cách phục vụ lịch thiệp, mến khách nên rất được lòng du khách. Đặc biệt, loại hình du lịch này không chỉ mang nét độc đáo riêng của phố núi mà còn được đánh giá cao là loại hình du lịch xanh, không gây ô nhiễm, thân thiện với môi trường, nên chắc chắn sẽ làm hài lòng du khách và tương lai sẽ được thành phố quan tâm đầu tư khai thác để nâng cao hình ảnh về một Đà Lạt bình yên, trong lành và mến khách.

Bài: Thanh Hòa - Ảnh: Thanh Hòa, Trần Thanh Giang

1-10 of 20

Comments