Những chuyến đi, những khám phá... và những điều suy tư...

Bài mới

  • Độc đáo văn hoá Cơ Tu hấp dẫn khách du lịch Đà Nẵng với lợi thế về sông, suối, núi, hồ và văn hóa độc đáo rất phù hợp cho phát triển du lịch sinh thái. Đà Nẵng đang hướng tới ...
    Được đăng 02:17, 18 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ở homestay nhà cổ 200 năm tuổi khi về miền Tây Tham quan nhà cổ là một hoạt động không thể thiếu trong các tour du lịch miền Tây, nhưng ít người biết đến hình thức homestay tại nhà cổ.Ngôi ...
    Được đăng 02:11, 18 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đình làng cổ giữa lòng phố núi Kon Tum Nhắc đến hai tiếng Kon Tum, nhiều người con đi xa thường nhớ về một Làng Hồ thơ mộng nằm bên dòng sông Đăk Bla chảy ngược với tiếng cồng ...
    Được đăng 01:37, 7 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • "Bảo vật" văn hóa miền biển Đi dọc các làng chài ven biển Quảng Ngãi, người ta dễ dàng tìm thấy những lăng vạn rêu phong, cổ kính luôn nghi ngút khói hương. Ở những lăng ...
    Được đăng 01:06, 7 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đất mũi Cà Mau - nơi “đất biết nở, rừng biết đi và biển sinh sôi” Cà Mau là tỉnh có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển du lịch. Một trong những thế mạnh đó là vị trí địa lý mà nổi bật nhất ...
    Được đăng 02:36, 4 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Độc đáo văn hoá Cơ Tu hấp dẫn khách du lịch

đăng 02:17, 18 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đà Nẵng với lợi thế về sông, suối, núi, hồ và văn hóa độc đáo rất phù hợp cho phát triển du lịch sinh thái. 

Đà Nẵng đang hướng tới xây dựng mỗi người dân là một đại sứ du lịch của thành phố. 

Phong cảnh tuyệt đẹp ở xã miền núi Hòa Bắc - huyện Hòa Vang là lợi thế phát triển du lịch sinh thái. 


Vẻ đẹp núi rừng và sự độc đáo về văn hóa của người Cơ Tu ở 2 thôn Tà Lang và Giàn Bí, xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đang là điểm đến hấp dẫn của du khách. Nơi đây có những con sông, dòng suối với những ghềnh thác tuyệt đẹp. Khu du lịch Hòa Bắc Đà Nẵng phát triển dựa trên dự án du lịch sinh thái gắn với cộng đồng, bao gồm mục đích bảo vệ sự đang dạng về sinh học và góp phần tạo sinh kế giúp đồng bào người dân tộc thiểu số Cơ Tu. Hiện, có 8 nhóm phục vụ du lịch gồm: cồng chiêng, văn nghệ, ẩm thực, trekking, đan lát, hát lý, dệt thổ cẩm, thuyết minh với hơn 60 hộ dân tham gia. 

Ông Đinh Văn Nhu, ở thôn Giàn Bí, xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cho biết, mấy năm nay, lượt khách tới tham quan tăng đáng kể: “Tôi muốn thông qua du lịch cộng đồng này thì có thể khôi phục lại một số truyền thống văn hóa của người Cơ tu, nhằm giữ gìn để không mai một dần. Vừa là phát triển du lịch tạo việc làm cho người dân, vừa là gắn liền bảo tồn văn hóa và bảo vệ cảnh quan môi trường thiên nhiên”.

Hiện nay, ở huyện Hòa Vang có nhiều làng nghề như nghề làm chiếu ở Cẩm Nê, khô mè ở Quang Châu, đan tre ở Yến Nê, nón ở La Bông... Những nơi này có nhiều tiềm năng phát triển du lịch nhưng chưa được khai thác. Ông Đặng Phú Hành, Phó Chủ tịch UBND huyện Hòa Vang cho biết, hiện nay huyện Hòa Vang có nhiều lợi thế để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng. Huyện đang triển khai các đề án, hiện thực hóa ý tưởng phát triển du lịch làng nghề, kết hợp trải nghiệm sinh thái làng nghề: “Mục tiêu của chúng tôi là phục hồi lại, nhờ các nghệ nhân truyền nghề lại cho những thế hệ trẻ để làm các sản phẩm phục vụ cho du lịch. Các làng có nghề này phải phục vụ thành điểm đến cho du lịch, giúp du khách có thể hình dung được làm chiếu như thế nào, đan cái rổ ra làm sao”. 

Sản phẩm dệt của người Cơ tu được du khách ưa chuộng. 


Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng đang phối hợp với các địa phương triển khai đề án phát triển du lịch cộng đồng nhằm thu hút khách châu Âu. Ông Nguyễn Xuân Bình, Phó Giám đốc Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng cho biết, một trong những hướng phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng là phát huy các điều kiện thuận lợi của tự nhiên cũng như huy động sự tham gia của cộng đồng. Để làm được điều này thì thành phố đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các tổ chức, doanh nghiệp để họ cùng tham gia bảo tồn, phát huy hiệu quả các địa danh, ngành nghề truyền thống, đem lại lợi ích cho người dân, địa phương và doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Xuân Bình cho biết thêm, người dân sẽ góp sức xây dựng hình ảnh thân thiện với du khách: “Thời gian qua, chúng tôi đã tham mưu cho Lãnh đạo thành phố nhiều các nội dung, đề án về phát triển du lịch sinh thái cũng như du lịch cộng đồng. Với mục tiêu là gắn người dân tham gia cùng phát triển du lịch và hướng tới việc mỗi người dân là những đại sứ, sứ giả của ngành du lịch để xây dựng môi trường du lịch của thành phố Đà Nẵng ngày càng văn minh và thân thiện”.

Phương Cúc

Ở homestay nhà cổ 200 năm tuổi khi về miền Tây

đăng 02:11, 18 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tham quan nhà cổ là một hoạt động không thể thiếu trong các tour du lịch miền Tây, nhưng ít người biết đến hình thức homestay tại nhà cổ.

Ngôi nhà cổ mái lợp âm dương, sân gạch tàu và bên trong vẫn còn nguyên các vật dụng bằng gỗ quý. Phạm Thủy Tiên 


Ký ức Nam bộ 

Tiền Giang nổi tiếng khắp các tỉnh miền Tây với “đặc sản” nhà cổ, như nhà cổ Ba Đức, nhà cổ ông Xoát, nhà cổ ông Tòng, nhà cổ ông Kiệt… Trong đó nhà cổ ông Kiệt (Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè) được xem là đẹp nhất và được mệnh danh “Cửu đại mỹ gia” thu hút nhiều du khách tham quan tìm hiểu về không gian sống của một trong những gia đình giàu có nức tiếng tại Nam bộ ngày xưa. Nhà cổ ông Kiệt là một trong số các nhà cổ chào đón khách lưu trú theo dạng homestay. Nhà cổ chỉ có 3 phòng dành cho khách nghỉ lại qua đêm, đón tối đa 6 khách/đêm. 

Căn nhà có tuổi đời gần 200 năm, tọa lạc trên mảnh đất rộng 1,8 ha, bao quanh là vườn cây ăn trái xum xuê đầy măng cụt, chôm chôm, bòn bon... Nhà có tổng cộng 5 gian, trong đó gian chính có kiến trúc độc đáo nhất với các vật dụng còn lưu lại từ trăm năm trước, các gian sau dùng làm nơi chiêu đãi khách. Nhà được làm bằng nhiều loại gỗ quý hiếm thời xưa như lim, bằng lăng, cẩm lai... Mái được lợp theo lối âm dương điển hình của kiến trúc cổ với hàng hoa văn hài hòa, tinh tế. Trước sân lát gạch tàu, trang trí chậu kiểng, cổng tam quan. 

Bước vào gian nhà chính, không khí trang nghiêm cổ kính thể hiện rõ trong cách bài trí. Bộ trường kỷ xưa được trang trọng đặt ở chính giữa gian nhà. Du khách sẽ ồ lên thích thú khi thấy từng vật dụng thời xưa được sắp xếp cứ như những vật dụng gia chủ dùng hằng ngày chứ không phải là những thứ đặt trong tủ kính trưng bày. Cây đèn dầu, bộ ấm chén, chùm đèn treo, tủ chén, sập gụ... gợi lại những ký ức xưa cũ của một miền đất Nam bộ cách đây 200 năm. 

Kiến trúc nhà cổ ở vùng đất Nam bộ còn được thể hiện qua các hoa văn chạm khắc công phu trên các bộ kèo, cột, xiên. Điểm độc đáo là mặt trước nhà được dựng bởi các thanh gỗ vuông sắp so le, giúp lấy ánh sáng và khí trời tự nhiên.


Miền Tây hiếu khách 

Vị chủ nhà, mọi người thường gọi thân mật là cô Kiệt, theo tên của chồng, là một người phụ nữ thật thà giản dị hiếu khách đậm chất miền Tây. Cô nồng hậu chào đón khách đến thăm nhà, chỉ cho khách từng đặc điểm độc đáo trên gian nhà chính, rồi cô lại tất tả ra nhà sau đứng bếp tự tay nấu cơm đãi khách. Cô bảo nhà có mấy chị em bà con giúp cô nấu nướng lau dọn, nhưng cô muốn đích thân mình nấu cho khách như là một cách thể hiện tấm thịnh tình của gia chủ. 

Gian nhà sau là nơi cô mời khách dùng bữa. Cô thường ngồi ăn cùng khách, vừa ăn vừa kể chuyện sự tích nhà cổ. Cô kể, cô thừa hưởng căn nhà cổ này từ ba má chồng vì chồng cô là út. Năm 1998, Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã tài trợ trùng tu căn nhà cũng như xây cây cầu trước ngõ để thuận lợi cho khách tham quan. Cách kể chuyện với cái chất thật thà pha lẫn hóm hỉnh đặc trưng của người miền Tây luôn khiến khách mấy phen bật cười hỉ hả. 

Với những du khách yêu sự tĩnh lặng của làng quê, họ thường chọn nghỉ chân qua đêm ở nhà cổ. Sáng sớm dậy tận hưởng không khí trong lành buổi sớm mai, rồi thong thả đạp xe dọc bờ kênh yên bình, ghé thăm chợ Cái Bè nhộn nhịp người đi chợ sớm, hay ngắm những ánh nắng đầu tiên trong ngày chiếu xiên vào hàng hiên trước nhà. 

Vườn cây xum xuê trĩu quả đem lại trải nghiệm hái trái cây ăn ngay tại vườn khiến ai cũng hào hứng. Ăn no nê thì ra vườn nằm võng đung đưa đọc sách hay vào bếp học lóm vài món ăn đặc sản của người miền Tây rồi tưởng tượng về nếp sinh hoạt của một gia đình truyền thống Nam bộ hồi xưa. Chỉ vậy thôi, giản dị và bình yên, cứ như về thăm quê của mình vậy.

Phạm Thủy Tiên

Đình làng cổ giữa lòng phố núi Kon Tum

đăng 01:37, 7 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nhắc đến hai tiếng Kon Tum, nhiều người con đi xa thường nhớ về một Làng Hồ thơ mộng nằm bên dòng sông Đăk Bla chảy ngược với tiếng cồng, tiếng chiêng trải dài mênh mang và những mái nhà rông cao vút… Nhưng, ít ai biết rằng, ngay giữa lòng phố núi ấy còn lưu giữ những nét văn hóa mộc mạc của làng quê đồng bằng vốn gắn liền với cây đa, bến nước, sân đình… Qua bao nhiêu thăng trầm của thời gian và biến cố của lịch sử, nhiều đình làng cổ ở Kon Tum vẫn được người dân nơi đây giữ gìn và lưu truyền cho hậu thế.

Theo phong tục của những người dân miền xuôi, đình làng vốn là nơi thờ thành hoàng làng, hoặc việc thờ cúng các vị thần theo sắc phong của vua chúa thời phong kiến. Đình làng còn là ngôi nhà lớn của cộng đồng, là nơi hội họp, tế lễ của làng. Vì vậy, đình làng đã trở thành một nơi thân quen gần gũi, là nơi che chở, là điểm tựa tâm linh của những người dân làng quê Việt Nam.

Những đình làng cổ ở phố núi Kon Tum

Theo chân những cuộc di cư của người Kinh ở miền xuôi lên Tây Nguyên lập nghiệp, những làng quê dần được hình thành trong lòng Làng Hồ. Giữa những nếp nhà ba gian mái ngói, những mái đình làng được dựng lên như một hình ảnh quen thuộc về làng quê, xóm cũ chốn đồng bằng.

Theo dấu tích thời gian, các mái đình làng như: Trung Lương, Võ Lâm, Lương Khế… đã trở thành điều giản dị, gắn bó cuộc sống của biết bao người dân phố núi Kon Tum. Nhớ về những mái đình ấy là nhớ về một vòm cây cổ thụ tỏa bóng râm mát, là nhớ về hồ sen và một khoảng sân rộng vẫy gọi bầy chim về làm tổ.

Đình Trung Lương (phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum) có bề dày lịch sử trên 140 năm, là ngôi đình xuất hiện đầu tiên ở Kon Tum. Sự xuất hiện của ngôi đình này gắn liền với ngôi làng cổ Trung Lương.

Đình Trung Lương (phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum) được xây dựng cách đây 140 năm. Ảnh: VH 


Theo lời kể của ông Quách Vĩnh Kinh (90 tuổi), Trưởng Ban trị sự đình Trung Lương cho biết: Năm 1879, nhiều người ở Bình Định lên Kon Tum lập nghiệp. Để có nơi sinh hoạt chung, họ bắt đầu xây dựng ngôi đình này. Những ngày đầu, đình được xây dựng bằng tranh, tre, nứa, lá để thờ Thành hoàng Bổn Cẩn.

Lâu dần, cuộc sống người dân khấm khá, với sự đóng góp của bà con, đình làng Trung Lương được xây dựng lại vào năm 1917 bằng gạch, ngói khang trang. Hơn một thế kỷ qua, sau nhiều lần tôn tạo, kiến trúc của đình vẫn được giữ nguyên.

Không chỉ có giá trị về văn hóa và tâm linh, đình Trung Lương còn lưu giữ những hiện vật mang giá trị về lịch sử và văn hóa có hàng trăm năm tuổi như: chiếc mõ gỗ có từ năm 1879, 1 giá để chiêng, 1 tấm hoành phi và 2 giá bát bộ khoảng 100 năm tuổi…

“Sau ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, muốn sửa chữa hay tôn tạo đình Trung Lương, Ban Quản lý đình họp bà con trong làng thống nhất, rồi xin chủ trương của Nhà nước. Kinh phí xây dựng thì Nhà nước và nhân dân cùng chung tay. Đến năm 2007, đình Trung Lương được UBND tỉnh công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh” - ông Quách Vĩnh Kinh cho biết thêm.

Xuất hiện muộn hơn đình Trung Lương, đình Lương Khế (phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum) đến nay cũng có niên đại trên 100 năm.

Di tích lịch sử - Văn hóa đình Lương Khế (phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum). Ảnh: VH 


Theo lời kể của các vị cao niên ở đây và một số tài liệu lưu giữ tại đình Lương Khế hiện nay, cư dân đầu tiên của làng có mặt ở Kon Tum vào giữa năm 1894. Họ đến từ Phủ Bình Khê và Phù Mỹ (tỉnh Bình Định) theo Quốc lộ 19 vượt đèo An Khê, đèo Mang Giang (tỉnh Gia Lai) đến dừng chân bên dòng sông Đăk Bla để khai khẩn, lập làng mới.

Gắn liền với làng Lương Khế là ngôi đình có tên gọi giống tên làng. Ban đầu, người dân chỉ xây dựng như một ngôi miếu nhỏ. Thể theo nguyện vọng của những cư dân đầu tiên, vào năm 1913, dân làng đã góp sức xây dựng nên đình Lương Khế để thờ cúng thành hoàng, thờ vua Hùng và thờ các bậc tiền hiền thủy tổ.

Được xây dựng khá lâu sau đình Trung Lương và đình Lương Khế, nhưng đình Võ Lâm (phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum) vẫn giữ nét kiến trúc hình chữ “Đinh” với các gian như: tiền đường, chánh điện, nhà thờ tiền hiền và nhà nhóm.

Theo sách “Kon Tum - di tích và danh thắng”, đình Võ Lâm được xây dựng năm 1935 với diện tích 1.000 m2. Đây là nơi sinh hoạt cộng đồng, thờ tự âm linh cô bác, thổ thần, thổ địa… nhưng về sau làm nơi thờ tự những vị tiền hiền khai khẩn đất đai và nay là nơi thờ Thành hoàng làng Võ Lâm là Quản đạo Võ Chuẩn. Cái tên Võ Lâm cũng bắt nguồn từ họ Võ của vị Quản đạo này nhằm để nhớ ơn người đã có công mở rộng vùng đất và chữ “Lâm” có nghĩa là rừng nhằm mô tả về Kon Tum những ngày mới thành lập được vây quanh bởi rừng.

Giữ gìn bản sắc văn hóa đình làng cổ

Sự hiện hữu của những ngôi đình làng cổ hiện nay với những giá trị lịch sử và văn hóa của nó có ý nghĩa rất lớn trong tiến trình lịch sử xây dựng vùng đất phố núi Kon Tum.

Những ngôi đình làng cổ góp phần đánh dấu sự giao thoa, hội nhập văn hóa của người Kinh trong nền văn hóa đa dạng của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Kon Tum. Với những giá trị quan trọng đó, UBND tỉnh đã lần lượt công nhận đình Trung Lương, đình Võ Lâm và đình Lương Khế là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh.

Ngoài việc bảo tồn di sản văn hóa vật thể, thì văn hóa phi vật thể như những nghi thức cúng tế tại các đình làng cổ này hiện nay vẫn được người dân duy trì và bảo tồn.

Trong những nghi lễ đó, lễ tế Xuân là một trong những lễ tế lớn nhất trong năm, lần lượt được các làng tổ chức tại đình làng với những nghi thức vừa có tính văn hóa, vừa có tính tín ngưỡng dân gian đặc sắc và phong phú.

Lễ tế thần ở đình Võ Lâm, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum. Ảnh: VH 


Việc tổ chức lễ tế Xuân tại các đình làng nói trên ở phố núi Kon Tum bắt đầu từ ngày 9-15/2 âm lịch hàng năm. Người xưa chọn những ngày này để tế Xuân bởi theo lịch nông vụ, đây là thời điểm người dân đã thu hoạch xong lúa vụ đông xuân, nhưng chưa vào vụ mùa mới, nên người dân rảnh rỗi.

Tuy khác nhau về ngày tế lễ, nhưng nghi thức cúng tế trong các đình làng cổ này cơ bản giống nhau. Lễ tế Xuân thường được thực hiện từ 22h của ngày hôm trước cho đến 1h sáng của ngày hôm sau, bao gồm: lễ tế thần, tế cô hồn và lễ tế tiền hiền…

Việc lễ tế Xuân tại các đình làng cổ này được chuẩn bị từ nhiều ngày trước. Trong đó, toàn bộ đình làng và khuôn viên được dọn dẹp và treo cờ hội. Vật phẩm hiến tế trong lễ cúng đình ngoài hương, đăng, trà, quả, rượu… còn có bò hoặc heo và vật hiến tế ấy phải đảm bảo yêu cầu toàn sắc, toàn sinh.

Bước vào lễ tế Xuân, trong nghi lễ trang nghiêm, khói hương trầm mặc, vị chủ tế uy nghi đĩnh đạc trong lễ phục áo dài, khăn đóng thay mặt dân làng làm lễ.

Lễ đầu tiên thường là lễ nghênh thần mang ý nghĩa đưa vị thần bảo hộ đến thăm làng, chứng kiến đời sống sinh hoạt của toàn dân trong làng, sau đó là lễ tế thần. Chịu trách nhiệm chính của buổi lễ cúng là người chủ tế, có sự giúp sức của bồi tế. Toàn bộ nghi thức hành lễ đều theo lệnh của hai người chủ xướng đứng hai bên hương án kế cận vị chủ tế.

Bắt đầu vào lễ, người chủ tế đến dâng lễ trước bàn thờ, rồi lần lượt Ban quản trị thay nhau vào lễ. Sau khi đánh 3 hồi trống gỗ và 3 hồi chiêng mõ, nhạc lễ nổi lên và lễ dâng hương, chước tửu, tiệm trà bắt đầu. Hương và rượu đã được dâng, ban lễ tế cùng quỳ xuống để đọc văn tế trong âm hưởng trầm bổng của nhạc lễ.

Sau lễ tế thần là lễ cúng tiền hiền, lễ cúng cô hồn… Các nghi thức có phần đơn giản hơn nhưng cũng hết sức long trọng.

Sau phần lễ là phần hội. Theo dấu ấn của thời gian, việc mời đoàn hát về chung vui với hội làng đã được lược bỏ, thay vào đó, phần hội là phần những người dân sống quanh đình làng, những người con xa quê có dịp quây quần, tề tựu bên sân đình cùng ăn uống và chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống.

Ông Nguyễn Thái Sơn - Trưởng Ban Quản lý đình Võ Lâm chia sẻ: Mục đích lễ tế Xuân cũng không có gì hơn là cầu an trong bổn làng được bình an vô sự, không xảy ra chuyện gì. Đình làng nào cũng tế thần để nhớ công lao tiền hiền, tiền bối để tưởng nhớ các vị đã có công lập làng, đồng thời để lớp cháu con tiếp nhận. Cứ như vậy, năm nào làng cũng đều tổ chức…

Rằm tháng Bảy âm lịch tuy không phải là lễ trọng trong năm, nhưng Ban quản lý các đình làng nói trên vẫn tổ chức tế lễ mong cho “mưa thuận, gió hòa” và cầu cho “quốc thái, dân an”…

Cùng với những công trình văn hóa, lễ hội của các DTTS như: Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ Triêng… ở “phố núi”, thì sự tồn tại của những ngôi đình làng cổ và việc duy trì lễ cúng đình làng, tế Xuân của người Kinh có nhiều ý nghĩa đặc biệt; vừa giáo dục truyền thống và lịch sử, lại vừa củng cố mối dây liên lạc thiêng liêng giữa tất cả các thành viên trong cộng đồng.

Và trên tất cả, trong không khí sôi động của một đô thị trẻ, những mái đình làng cổ giữa lòng phố núi Kon Tum như một chốn bình yên, tĩnh lặng, để từ đó những người con sinh ra từ làng có một nơi chốn nhớ thương, khi đi xa đồng vọng hướng về...

Vĩnh Hà

"Bảo vật" văn hóa miền biển

đăng 01:06, 7 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đi dọc các làng chài ven biển Quảng Ngãi, người ta dễ dàng tìm thấy những lăng vạn rêu phong, cổ kính luôn nghi ngút khói hương. Ở những lăng vạn đó, dân làng chài tôn sùng, thờ cúng một vị thần luôn gắn bó với nghiệp biển. Ấy là tục thờ cúng cá Ông.

Thần hộ mệnh của ngư dân

Đều đặn mỗi năm, cư dân thôn Thanh Thủy, xã Bình Hải (Bình Sơn) lại hội tụ về Lăng Vạn Nước Ngọt để tổ chức lễ hội cầu ngư, cúng thần Nam Hải cầu mong mùa đánh bắt mới mưa thuận, gió hòa, tôm cá đầy khoang.

Theo các bậc cao niên ở xóm Hòa Hải, thôn Thanh Thủy, cách đây hơn 200 năm, lần đầu cá Ôngi lụy bờ vào vùng đất này. Người dân thấy vậy nên đem xác cá Ông vào chôn trong vạn. Sau 3 năm, họ lấy di cốt đựng vào quách gỗ và thờ. Đến ngày nay, tại lăng vạn vẫn còn hai bộ di cốt của ông Nam Hải và bà Nam Hải. Cũng từ ấy, tục tế cá Ông ở lăng vạn Nước ngọt hình thành.

Nghi thức hát bả trạo trong lễ cúng cá Ông khắc họa đời sống văn hóa của những vạn chài hàng trăm năm trước 


Trong nghi lễ cúng cá Ông, chủ tế sẽ thực hiện các bước một cách trịnh trọng nhất; tư văn đọc văn tế ca ngợi công đức cứu giúp dân chài thoát nạn trên biển… Sau nghi lễ cúng, đội gươm, chèo làng chài sẽ múa hát bả trạo. Đây là hình thức diễn xướng dân ca.

Các điệu múa và hát bả trạo khắc họa phong tục tập quán của vạn chài, những hiểm nguy của ngư dân trước sóng dữ ngoài biển đông, và sự cứu giúp của thần Nam Hải khi gặp nạn. Những phong tục ấy luôn hướng về quá khứ, khắc họa những ngày đầu người Việt khai cơ lập nghiệp tại vùng đất mới, tạo nên tính cố kết cộng đồng mang tính chất đặc trưng của cư dân làng nghề vạn chài vùng ven biển ở Quảng Ngãi.

Ngư dân Võ Hoài chia sẻ, hơn 30 gắn với nghề biển, chưa có lễ cúng Ông nào ở lăng vạn vắng mặt ông. Bởi với ngư dân Hoài, thần Nam Hải luôn đem lại phước lành, may mắn cho cư dân làng biển. “Làng biển nào cũng vậy, người dân tín ngưỡng, thờ cúng ông Nam Hải chỉnh chu thì cả năm được thuận hòa, ra khơi mang lộc biển về”- ông Hoài khẳng định.

Một bộ xương cá Ông luôn được cất giữ trong lăng vạn như báu vật của làng biển 


Truyền thuyết kể rằng, những ngư dân thuở xa xưa đi đánh cá, gặp nạn trên biển đã được cá Voi che chở, cứu sống và đưa vào bờ. Từ đó tên gọi tôn kính cá Ông hay thần Nam Hải đã được hình thành. Dọc bờ biển Quảng Ngãi, có hàng chục lăng vạn hàng trăm năm tuổi.Nơi nào có lăng vạn thì nơi ấy là những vùng đất có duyên lành được cá Ông lụy bờ, nghỉ ngơi.

Đối với dân vùng biển, “Ông” lụy vào đâu thì ở đó may mắn, cả năm được mùa, ra khơi vào lộng bình yên nên từ bao đời nay tục thờ cá Ông ở đây không chỉ được xem là sự tôn kính thần linh mà còn gắn liền với sự hưng thịnh của cả làng.

Do vậy, mỗi lần cá ông lụy bờ được xem là sự kiện trọng đại của cả làng biển. Thủ tục chôn cất Ông cũng trịnh trọng vô cùng. Ông Vũ Huy Bình,- thành viên Ban trị sự lăng vạn Hải Ninh xã Bình Thạnh (Bình Sơn) cho hay: Lễ an táng theo nghi thức truyền thống, có dàn nhạc bát âm, đại cổ, tiểu cổ, có ban nghi lễ gồm tư văn, tư lễ đọc văn tế. Sau khi đầy đủ thì chọn giờ để khâm liệm và an táng. Trong mỗi lần an táng ấy, dân làng đều cử một bô lão uy tín, rành việc thờ cúng để chọn làm người để tang cho cá Ông.

Văn hóa tín ngưỡng đầy tính nhân văn

Những chiếc thuyền mỏng manh giữa trùng khơi, chẳng có gì bảo đảm giữa sóng nước mênh mông. Nhưng suốt mấy trăm năm qua, người dân ven biển Quảng Ngãi vẫn an nhiên sống, nối tiếp nhau từ đời này qua đời khác, bám trụ sinh tồn chỉ một niềm tin mãnh liệt vào đức Ngư Ông, loài cá to lớn của đại dương nhưng mang một sức mạnh huyền bí, lạ kỳ.

Mỗi khi cá Ông lụy bờ luôn được các làng chài thực hiện chôn cất với đầy đủ các thủ tục, nghi lễ trang trọng 


Lão ngư Võ Bình (84 tuổi) hơn nửa cuộc đời làm bạn với biển và cũng không ít lần gặp nạn được cá Ông cứu giúp không giấu được sự thành kính khi nhắc đến thần Nam Hải. “Ai đi biển cũng tin vào thần Nam Hải. Ổng hiền từ, hễ có tàu nào gặp nạn đều cứu giúp, đưa về bờ an toàn. Khi Ông lụy bờ vào làng chài nào thì làng chài ấy gặp may cả năm. Nên dân làng phải chôn cất như con người với đầy đủ lễ nghĩa để thể hiện lòng thành kính. ”- lão ngư Võ Bình chia sẻ.

Tục thờ cá Ông đã ăn sâu trong tiềm thức của cộng đồng dân cư rộng lớn ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Ông Cao Văn Chư- Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh lý giải: Cá Ông là cách gọi cho loài cá Voi. Người ta tin rằng, đó là thần hộ mệnh và người ta thần thánh hóa thành một vị thần gọi là thần Nam Hải.

Trên thực tế việc thờ cá Ông xuất hiện ở khắp vùng ven biển trên đất nước Việt Nam. Vì người ta quan niệm là thần nên mỗi khi cá Ông lụy thì người ta làm lễ thức rất là kỹ lưỡng và lập miếu thờ. Hằng năm, người ta thường xuyên cúng nhang đèn và tổ chức các lễ hội thờ cá Ông.

Tục thờ cá Ông xuất hiện từ hàng trăm năm trước. Đó là văn hóa tín ngưỡng đậm nét của cư dân ven biển và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc 


Tục thờ cúng cá Ông, còn gọi là thần Nam Hải, bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ cá của người Việt các tỉnh Bắc Bộ. Trong dòng chảy lịch sử, tín ngưỡng thờ cúng cá ông được củng cố bởi triều Nguyễn.

Liên tiếp trong nhiều thế kỷ, các triều đại vua khác nhau đã ban sắc phong cho thần Nam Hải, chính thức công nhận tục thờ cúng cá Ông tại các làng quê dọc ven biển miền Trung. Lăng Ông luôn được làng chài thờ cúng quanh năm và đặc biệt vào mùa xuân hay mùa thu hằng năm, lễ hội cúng cá Ông theo nghi lễ truyền thống, rất trang trọng.

Thờ cúng cá Ông và tổ chức lễ hội cầu ngư được xem là nét tín ngưỡng đặc trưng, phản ánh tính đặc sắc của văn hóa miền biển. Đồng thời, hàm chứa nhiều giá trị nhân văn sâu sắc, hướng con người đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Đó là tư tưởng tôn trọng và sống hài hòa với thiên nhiên.

Bài, ảnh: An Điền

Đất mũi Cà Mau - nơi “đất biết nở, rừng biết đi và biển sinh sôi”

đăng 02:36, 4 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cà Mau là tỉnh có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển du lịch. Một trong những thế mạnh đó là vị trí địa lý mà nổi bật nhất là Mũi Cà Mau. Đây cũng là nơi duy nhất trong đất liền mà cùng ở một địa điểm vừa có thể ngắm mặt trời mọc ở biển Đông và mặt trời lặn ở hướng Tây. 

Đất mũi - Cà Mau là phần nhô ra ở biển Đông, nằm ở cực Nam của Tổ quốc, thuộc xóm Mũi - xã Đất Mũi - huyện Ngọc Hiển. Từ trung tâm thành phố chạy thẳng hơn 100 cây số là đã đến Đất Mũi. Đến nơi này, người phương xa sẽ thật sự đắm mình với vùng đất còn lưu giữ nhiều nét hoang sơ, lưu dấu thời khẩn hoang. 

Đường về Đất Mũi thẳng tấp, xanh ngát một màu 


Có thể nói, tạo hóa đã hào phóng ban cho Mũi Cà Mau - vùng đất tận cùng tổ quốc một điều kỳ diệu và độc đáo không nơi nào có được, mà cư dân vùng này ví von là: “Ðất biết nở, rừng biết đi và biển sinh sôi”. 

Đứng ở Đất Mũi vươn xa tầm mắt, xa xa phía biển Đông là hòn đảo nhỏ mang tên Hòn Khoai, cách đất liền 14,6km. Nơi ấy là trụ sở của Chi bộ Đảng Cà Mau, do ông Phan Ngọc Hiển lãnh đạo đã ra quyết định hưởng ứng khởi nghĩa Nam Kỳ 23/11/1940. Nơi ấy là di tích lịch sử, là điểm hẹn của lịch sử. Vì thế, ở Cà Mau, có một huyện mang tên Ngọc Hiển. 

Mắm đi trước, đước theo sau trên hành trình lấn biển. 


Xung quanh Mũi Cà Mau là vùng biển cạn. Hàng năm đất lấn ra biển hàng trăm thước. Vì vậy mà bao đời nay, người dân Cà Mau bảo rằng nơi đây "Mắm đi trước, đước theo sau" trên hành trình lấn biển. Cây mắm mọc lên trên đất bồi, rễ cây đâm tua tủa, chỉa lên mặt đất để giữ đất, sau đó là đước và những cây rừng ngập mặn khác như sú, vẹt… đua nhau mọc lên khiến bãi bồi ngày càng chắc chắn, mạnh mẽ vươn ra biển. 

Thật vậy, đước và mắm là hai loại cây lạ lùng, đầy cá tính như những người con Đất Mũi hiền hòa, chân chất nhưng kiên cường bám trụ giữa sóng gió biển khơi; ngày đêm canh giữ từng mảnh đất của Tổ quốc thân yêu.

Nhóm du khách trải nghiệm, khám phá trong rừng tự nhiên ở Đất Mũi. 


Không chỉ thế, ở nơi đây, thiên nhiên còn ban tặng nguồn sinh vật phong phú và đa dạng không những giúp duy trì hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên mà còn có giá trị kinh tế cao; đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày cho người dân và du khách. 

Đến đây, du khách có thể quan sát các loài sinh vật biển sinh sống trong điều kiện hết sức tự nhiên và thân thiện với môi trường. Dưới những tán rừng đước bạt ngàn là nơi cư ngụ của các loài như cá thòi lòi, ba khía, ốc len, sò huyết, còng gió… 

Cá thòi lòi nướng muối ớt – hương vị đặc trưng vùng Đất Mũi 


Ốc len xào dừa là món ăn có nguồn gốc từ vùng đất mũi Cà Mau 


Ba khía được bắt về để làm món ba khía muối, trữ lại dùng ăn trong vài tháng. 


Chính vì vậy, một phần không thể thú vị hơn khi đến đất Mũi là du khách được dịp thưởng thức những bữa ăn không cầu kỳ, đậm chất Nam bộ trong rừng U Minh Hạ. Giữa trưa hè, dưới những mái nhà lợp lá dừa nước, chung quanh gió mát rười rượi, những hàng đước xanh ngát trời, cảm thấy con người bổng nhẹ nhàng, thư thả. Những món ăn dân dã được chào mời không kém phần hấp dẫn như cá lóc nướng trui cuốn bánh tráng và rau rừng; lẩu mắm ăn với rau choại, rau đắng, vọp biển nướng, cua luộc, gỏi nhộng ong… với mùi thơm lừng, không lẫn vào đâu được. 

Du khách thuê ca nô tham quan cánh rừng Đất Mũi. 


Nếu có thời gian rộng rãi, du khách sau khi tham quan toàn bộ Khu du lịch Đất Mũi có thể trải nghiệm cách làm du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng xung quanh Đất Mũi của cư dân nơi đây. Những cái tên như Năm Hướng, Tư Nhuần... giờ đây đã được nhiều người biết đến. Từ lợi thế thiên nhiên và sự mài mò, vượt khó đã giúp cho những người nông dân thứ thiệt nơi này có thêm một nghề mới - cái nghề mà trước giờ có mơ cũng không nghĩ bản thân và gia đình mình có cơ hội làm, đó là làm du lịch.

Mô hình làm du lịch ở đây có nét rất riêng. Du khách sẽ được hòa vào đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Đất Mũi như xổ vuông, bắt cua biển, ba khía, cá thòi lòi… Thú vị là người dân ở đây sẽ tận tình hướng dẫn để khách có thể tự tay chế biến thành những món ăn dân dã đậm tình đất, tình người. Rồi khi quây quần, hòa quyện cùng vài cốc rượu gạo ngâm trái giác, trái nhàu và thưởng thức món nghề đờn ca tài tử đầy thổn thức ở vùng đất này. 

Ở tại cơ sở homestay của ông Năm Hướng, những đặc sản của rừng, của biển như cá dứa, cá thòi lòi, cua biển, tôm sú, vọp rừng đâu mấy xa lạ với người Cà Mau. Thế mà với du khách phương xa, những sản vật này đã nâng lên thành món ngon nhớ mãi. Điều đáng mừng là gần đây, Cục Sở hữu trí tuệ chứng nhận nhãn hiệu tập thể Cua Năm Căn - Cà Mau vào năm 2015. Đây là một trong những đặc sản nổi tiếng có xuất xứ từ dải đất cực Nam của đồng đất phương Nam. Cộng vào đó, những sản vật phong phú, mộc mạc, lẫn ít ít sình lầy nhưng qua bàn tay của các mẹ, các chị đã trở thành các món ăn đậm hương rừng, vị biển và đậm đầy tình người. 

Chiếc vỏ lãi bán hàng di động, phục vụ sinh hoạt cho người dân ở vùng Đất Mũi. 


Đêm về, trú ngụ trong những căn nhà sàn trên song không cửa bốn bề lộng gió, những ai thích khám phá sẽ được rủ rê chèo xuồng len lỏi vào những tán rừng đước đi bắt ba khía, bắt cua biển hay đi săn thòi lòi - loài cá duy nhất trên thế giới biết leo cây. 

Điểm check in không thể thiếu của các đoàn khách mỗi khi đến với Đất Mũi. 


Hiện nay, đường về Đất Mũi cả đường thủy và đường bộ đều thuận tiện. Từ sự quan tâm của Trung ương và sự tập trung đầu tư của tỉnh, trong một thời gian không xa nữa, Khu du lịch Mũi Cà Mau sẽ trở thành trọng điểm du lịch lớn nhất của tỉnh. Đây sẽ là một trong những trung tâm du lịch sinh thái, trải nghiệm rừng ngập mặn đặc sắc, điểm đến quan trọng trên hành trình tham quan vùng đất Phương Nam. Phấn đấu đến năm 2030, Khu du lịch Mũi Cà Mau đáp ứng các tiêu chí và được công nhận là Khu du lịch quốc gia. 

Biểu tượng cột cờ Hà Nội và tượng Mẹ Âu Cơ ở khu Đất Mũi 


Rời Đất Mũi một chiều hoàng hôn, lời bài hát vang xa trên chiếc loa phát thanh “Ơi đất mũi Cà Mau nên thơ và đẹp giàu. Hôm nay đầy tự hào đi lên lòng dạt dào, dựng xây cuộc sống mới…” như níu kéo chân người. Dù chưa rời xa mà những cây đước, cây vẹt đã làm nên nỗi nhớ. Nỗi nhớ ở vùng đất linh thiêng này, mỗi người khi đến đây được một lần chạm tay vào cột mốc chủ quyền đầy kiêu hãnh, hay đứng trên con tàu biểu tượng hướng thẳng ra biển Đông. Và nơi đây, hình ảnh vùng đất bình dị, đong đầy tình người sẽ mãi không phai trong trái tim của những ai đã từng một lần đặt chân đến Đất Mũi Cà Mau.

Thanh Tùng

Những trải nghiệm nên thử ở Yên Tử

đăng 02:43, 3 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ngoài chinh phục đỉnh Chùa Đồng, du khách có thể ghé thăm Làng Nương, trải nghiệm làm nón lá và in tranh Đông Hồ. 

Yên Tử là điểm đến nổi tiếng với núi rừng hùng vĩ và những giá trị văn hóa, tâm linh. Nơi đây đông đúc nhất vào 3 tháng đầu năm. Leo núi Yên Tử vào các tháng còn lại, bạn có thể thư thả tận hưởng không gian trầm lắng, trong lành của thiên nhiên. Ảnh: Trần Việt Anh. 


Du khách có thể đi bộ chinh phục đỉnh thiêng từ suối Giải Oan với cây cầu đá xanh cổ. Dọc theo những bậc thang đá quanh co, bạn sẽ lần lượt tới vườn tháp Huệ Quang, chùa Một mái (ảnh), chùa Hoa Yên, đá An Kỳ Sinh và cuối cùng là chùa Đồng trên đỉnh mây phủ. Ngoài đường bộ, du khách có thể di chuyển bằng 2 chặng cáp treo. Ga cuối cùng của cáp cách đỉnh chùa Đồng khoảng 700 m đường núi. 


Nằm dưới chân núi, dọc theo dòng suối tự nhiên là Làng Nương Yên Tử, nơi tái hiện ngôi làng cổ Bắc bộ với nhà đá ong, tường đất và con đường gạch nung. Tương truyền, khi vua Trần Nhân Tông về Yên Tử năm 1299, ngài không cho các cung phi, thị hầu và bà mụ đi theo. Vì vậy, nhiều người ở lại chân núi, sinh sống và lập ra Làng Nương, Làng Mụ. 


Tại Làng Nương, du khách có thể trải nghiệm nghề làm nón lá truyền thống dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân. Ông Lương, người làm nón 20 năm, cho biết: “Không chỉ là một nghề, nón còn lưu giữ nét đẹp của văn hóa Việt Nam. Vì vậy, chúng ta nên tìm hiểu, gìn giữ và phát huy”. 


Ngoài làm nón, Làng Nương còn có nhiều khu trải nghiệm khác như vẽ chuồn chuồn gỗ và in tranh Đông Hồ. Tại khu tranh, du khách được nghe giới thiệu về những công đoạn in, sáng tạo bản khắc gỗ, làm giấy Dó và màu sắc sử dụng. 

Thông thường, tranh Đông Hồ có 5 màu chủ đạo làm từ nguyên liệu tự nhiên như đỏ gạch non, xanh lá tràm, đen than tre, trắng sò điệp và vàng hoa hòe. Tương ứng với đó là 5 bản khắc gỗ, in thành 5 lần khác nhau. Mỗi màu cần hơn một tiếng để khô, không để dưới nắng. Sau khi nghe giới thiệu, du khách có thể trải nghiệm in màu lên giấy Dó và phơi khô để mang về. 

Phía sau của khu làm tranh là nơi trải nghiệm chế tác tinh dầu. Ngoài các mùi hương yêu thích, du khách có thể làm tinh dầu theo công thức nhằm giảm đau đầu, căng thẳng, ngủ ngon. Sau khi hoàn thiện, tinh dầu được chiết vào lọ lăn để sử dụng cho mục đích mát xa thư giãn. 


Vào buổi tối, nơi đây biểu diễn nghệ thuật Đêm hội làng với các tiết mục múa trống, hòa tấu bằng nhạc cụ dân gian. Sau khi thưởng thức Đêm hội, du khách có thể dừng chân tại đình để thư giãn với liệu pháp mát xa chân bằng thuốc lá. Ảnh: Legacy Yên Tử. 


Ở Làng Nương có 3 nhà hàng ẩm thực, phục vụ món chay, món quê Việt và một số đặc sản của Yên Tử như nước mơ, măng rừng và lá lốt. Mỗi suất ăn ở đây có giá 150.000 đồng mỗi khách. 


Ở Yên Tử, du khách có nhiều lựa chọn về dịch vụ lưu trú từ bình dân đến cao cấp. Trong đó, khu Legacy Yên Tử được thiết kế dựa theo kiến trúc cung đình cổ thời Trần với tường trấu, cửa gỗ then cài và sàn nhà gốm. Vào buổi sáng, du khách có thể tham dự các lớp học yoga, khóa thiền tại đây. 

Nếu du khách đi theo gia đình hoặc nhóm lớn có thể lựa chọn phòng kén với 2 giường tầng. Nơi đây cũng được thiết kế theo nhà cổ thời Trần với những tên gọi gần gũi như khu Hương Bưởi, Hương Nhài và Hương Chanh. 

APT Travel cung cấp các tour tham quan và nghỉ dưỡng 2 ngày một đêm tại Yên Tử với giá từ 1.360.000 đồng. Trong đó đã bao gồm xe đưa đón du khách, các hoạt động tham quan tại Làng Nương và nghỉ ở khu nhà kén. 

Lan Hương

Hà Tĩnh - miền đất giàu tiềm năng du lịch sinh thái

đăng 03:25, 29 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan



Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Có khá nhiều loại hình du lịch sinh thái đã được nước ta và các nước trên thế giới khai thác như: Du lịch xanh, du lịch dã ngoại, du thuyền trên sông, hồ, trên biển; du lịch thiên nhiên, tham quan miệt vườn, làng bản; du lịch môi trường; du lịch thám hiểm, mạo hiểm, lặn biển, thăm hang động… Theo nghĩa đó, từ Nghi Xuân đến Kỳ Anh, từ Hồng Lĩnh ngược lên các vùng miền núi Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, ở đâu Hà Tĩnh cũng có tiềm năng về thắng cảnh thiên nhiên và đời sống văn hóa cộng đồng độc đáo để phát triển du lịch sinh thái.


Có thể thấy rất rõ tiềm năng du lịch sinh thái Hà Tĩnh ở các tài nguyên: Sông hồ, rừng núi, biển và nhiều giá trị văn hóa tinh thần độc đáo. Trước hết là hệ thống sông hồ với 12 sông chính, trong đó có nhiều sông có cảnh sắc thơ mộng gắn với nhiều truyền thuyết đẹp như sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Phố, sông La, sông Lam, sông Nghèn, sông Rào Cái, sông Trí... Những làng quê ven các con sông ấy cũng nhiều tiềm năng để kết hợp khai thác du lịch sinh thái với các sinh hoạt văn hóa truyền thống như hát ví giặm, ca trù, sắc bùa hay các làng nghề như mộc, đan lát, làm hến, nấu kẹo cu đơ, kẹo lạc… Ngoài ra, còn có một số hồ lớn như: Kẻ Gỗ, Thượng Tuy (Cẩm Xuyên); Sông Rác, Rào Trổ (Kỳ Anh); Cù Lây, Cửa Thờ - Trại Tiểu (Can Lộc); Ngàn Trươi - Cẩm Trang (Vũ Quang)... Những hồ này đều gắn với vùng rừng nguyên sinh hoặc các làng cổ, rất phù hợp để phát triển du lịch môi trường, du lịch dã ngoại, khám phá thiên nhiên.

Khu du lịch sinh thái Hải Thượng. Ảnh: Thanh Hải - Ánh Dương


Bạn Nguyễn Thảo Linh (phường Bắc Hà, TP Hà Tĩnh) cho biết: “Tôi rất thích các loại hình du lịch sinh thái và đã đến rất nhiều miền quê trong và ngoài nước. Tôi nhận ra rằng, tài nguyên của họ không đặc biệt hơn Hà Tĩnh, chỉ có cách làm của họ hay hơn, họ khai thác triệt để hơn các giá trị thiên nhiên cũng như văn hóa bản địa để xây dựng nên các khu, điểm và tour tuyến du lịch độc đáo. Hà Tĩnh cũng hoàn toàn có thể khai thác du lịch du thuyền trên sông, hồ nếu được đầu tư đúng cách”.

Hòa mình vào thiên nhiên là một trong những lý do du khách tìm đến với du lịch sinh thái .Ảnh: Đức Cường


Cùng với tiềm năng về cảnh quan được tạo nên từ hệ thống sông, hồ, Hà Tĩnh còn sở hữu tiềm năng về rừng và hệ sinh thái rừng. Rừng Hà Tĩnh được đánh giá là khá phong phú, có nhiều loại thực, động vật quý hiếm. Theo thống kê, hiện nay, rừng Hà Tĩnh có nhiều loại động vật quý hiếm như voi, báo, hổ, vượn đen, sao la và có trên 500 loại cây thuộc 86 họ thân gỗ, trong đó có nhiều loại cây có giá trị như lim, sến, táu, mật, đinh, gõ, pơ mu… Đặc biệt, Hà Tĩnh có khu rừng nguyên sinh Vũ Quang, Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ với nhiều loài động, thực vật quý hiếm có giá trị cho du lịch và nghiên cứu khoa học. Có các dãy núi: Hồng Lĩnh, Nam Giới, Thiên Nhẫn không chỉ đẹp ở sự kỳ vĩ mà còn nổi tiếng bởi những huyền thoại, huyền tích gắn với hệ thống chùa cổ như: Thiên Tượng, Chân Tiên, Hương Tích, Hầm Hầm... Tuy nhiên, các tiềm năng đó chưa được khai thác theo cách kết hợp để tạo nên những tour du lịch sinh thái độc đáo.

Du lịch Hồ Kẻ Gỗ. Ảnh: Nguyễn Thanh Hải


Bà Lê Thị Bích - Giám đốc Công ty cổ phần Thương mại và Du lịch OHANA - Chi nhánh Hà Tĩnh cho biết: “Hà Tĩnh được thiên nhiên ban tặng quá nhiều tài nguyên để phát triển loại hình du lịch được ưa chuộng hiện nay - du lịch sinh thái. Tuy nhiên, những tài nguyên đó hầu hết vẫn chưa được khai thác. Hiện nay, công ty chúng tôi đang tập trung khai thác tiềm năng du lịch sinh thái huyện Hương Khê. Theo đó, chúng tôi sẽ xây dựng tuyến du lịch tham quan, trải nghiệm thiên nhiên cũng như đời sống cộng đồng của người bản xứ từ thác Vũ Môn, những vườn chè, cao su, cam Khe Mây, bưởi Phúc Trạch… Tôi hy vọng, ngày càng có nhiều nhà đầu tư tâm huyết, có trách nhiệm, cùng chúng tôi đánh thức du lịch sinh thái Hà Tĩnh”.


Nói đến tiềm năng du lịch sinh thái Hà Tĩnh, không thể nào không nhắc đến tài nguyên biển. Tuy không mấy lợi thế về thời tiết nhưng 137 km bờ biển Hà Tĩnh trải dài với nhiều bãi tắm đẹp, với biển xanh, cát trắng, nắng vàng và sự nguyên sơ. Trong đó, một số bãi biển đẹp đã được quy hoạch và bước đầu được đầu tư trở thành các khu nghỉ dưỡng như: Thiên Cầm, Xuân Thành, Đèo Con, Xuân Hải, Thạch Hải… Tuy nhiên, ngoài khai thác dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi, các bãi biển Hà Tĩnh chưa khai thác các loại hình du lịch sinh thái như các trò chơi mạo hiểm, lặn biển, thám hiểm khám phá dưới lòng sâu của biển…

Trải nghiệm Khu du lịch Đồng Nôi (Cẩm Xuyên). Ảnh: Đình Nhất


Ông Hồ Việt Anh - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Nguyễn Du cho biết: “Đi nhiều nước trên thế giới mới nhận ra biển của Hà Tĩnh quá đẹp, tiếc rằng, ngành du lịch hiện nay chưa có sự bứt phá để có thể khai thác những giá trị của biển, phát triển du lịch sinh thái biển”.

Hiện nay, du lịch Hà Tĩnh đang đứng trước những khó khăn về nguồn nhân lực cũng như cơ sở vật chất. Hơn nữa những đặc điểm bất lợi về khí hậu cũng khiến các nhà đầu tư “chùn bước”. Những khó khăn chung đó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác tiềm năng du lịch sinh thái. Hy vọng, với những chính sách đột phá, ưu tiên phát triển du lịch, thời gian tới, những tiềm năng du lịch sinh thái Hà Tĩnh sẽ được khai thác triệt để.

Bài: Phong Linh - Ảnh: PV-CTV - Thiết kế: Huy Tùng

Bình Định: Về Phù Cát thăm gì, chơi ở đâu?

đăng 02:57, 25 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Phù Cát là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Bình Định, nơi đây nổi tiếng bờ biển đẹp, bãi cắt trắng mịn, ngoài ra còn có chùa Ông Núi – Linh Tự Phong sẽ lôi cuốn bất kỳ ai khi một lần ghé thăm.


Nếu muốn có nhiều hơn những trải nghiệm, được hòa mình vào cuộc sống thôn quê, tận hưởng hết vẻ đẹp của vùng đất này tốt nhất bạn nên đi con đường ven biển. Từ TP.Quy Nhơn bạn sẽ chạy qua cầu Thị Nại, băng qua những dồi cát trắng đẹp mê ly, bon bon trên những con đường thẳng tắp.

Tượng Phật Thích Ca là Tượng Phật cao nhất Đông Nam Á hiện nay. 


Trên đường đi, bạn sẽ đi ngang qua dãy núi Bà (huyện Phù Cát), từ xa bạn sẽ thấy ở lưng núi thấp thoáng mái chùa đỏ thắm giữa màu xanh biếc của cây rừng. Đó là chùa Ông Núi, còn gọi là Linh Phong thiền tự – một trong những ngôi chùa lâu năm nhất của Bình Định. 

Nơi đây có Tượng Phật Thích Ca có chiều cao là 69m, đường kính chân tượng là 52m, Chùa Linh Phong được thiết kế xây dựng bên trong Tượng Phật, đây là Tượng Phật cao nhất Đông Nam Á hiện nay và công trình mang tính nghệ thuật tâm linh.

Khu dã ngoại Trung Lương cũng là nơi thu hút rất nhiều du khách đến để vui chơi, nghỉ ngơi.


Ngoài ra, núi Bà cũng còn có một địa điểm khác khá thú vị, trên đỉnh núi, có hai khối đá, một cao, một thấp trông tựa hình người. Khối đá này nhìn từ phía biển trông giống như một người đàn bà tay dắt đứa con đang đứng ngóng nhìn ra khơi xa. Người dân địa phương nơi đây gọi đó là Hòn Vọng Phu. 

Khu dã ngoại Trung Lương cũng là nơi bạn nên ghé thăm, Khu dã ngoại năm ở thôn Trung Lương (xã Cát Tiến), nơi đây thu hút rất nhiều du khách đến để vui chơi; ngắm nắng vàng, cỏ xanh, xung quanh là những tảng đá vôi lớn. Đặc biệt là không khí trong lành thổi về từ vùng đất vốn đã ít bon chen, hối hả đảm bảo sẽ khiến bạn chỉ muốn dừng chân tại đây hàng tiếng đồng hồ.

Biển nơi Phù Cát vẫn còn rất hoang sơ và hết sức trong lành.


Còn biển ở Phù Cát thì sao? Biển nơi đây vẫn còn rất hoang sơ, vắng vẻ và hết sức trong lành. Từ làn nước trong xanh đến thềm cát trắng mịn, êm ái, từ hàng dương tỏa bóng mát đến chiếc thuyền thúng lững lờ trên mặt biển tạo nên một khung cảnh không lẫn đi đâu được. Bạn có thể đi chân trần để cho cơn sóng nhẹ ập vào mắt rượi như vui đùa rồi tiếp tục trôi ra xa, trở về lòng biển rộng lớn. 

N.T

Nét đẹp sinh hoạt văn hóa quanh nhà rông Kon Tum

đăng 06:13, 21 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Các hoạt động như biểu diễn cồng chiêng, múa xoang hay giã gạo quanh nhà rông ở Kon Tum gây ấn tượng với du khách tham quan. 

Hai phụ nữ Ba Na đang giã gạo và sàng ngô trước nhà rông Kon K’ri, nằm bên dòng sông Đăk Bla (xã Đắk Rơ Wa, TP Kon Tum). 

Nhà rông ở Tây Nguyên được biết đến như “trái tim” của các buôn làng. Tại Kon Tum, nhà rông là kiểu nhà sàn đặc trưng, được xây dựng hoàn toàn bằng tranh, tre, nứa, lá với phần mái vững chãi.


Nhà rông Kon K’ri nhìn từ trong ra ngoài. 

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Thái (thường gọi Thái Bana, sống tại Kon Tum) cho biết anh dành nhiều năm ghi lại chân dung của người dân và nét đẹp sinh hoạt văn hóa truyền thống quanh các nhà rông ở Kon Tum. 

Một già làng đang cặm cụi đan sọt. Nguyên liệu dùng để đan lát được khai thác từ thiên nhiên như tre, nứa. Các sản phẩm đan được ưa chuộng nhất là rá, rổ, gùi và giỏ. Nghề đan lát này giúp cải thiện đời sống gia đình, đồng thời được truyền dạy trong làng, lưu giữ một nét văn hóa đẹp. 


Một phụ nữ Ba Na, vừa chăm con, vừa làm việc tại nhà rông làng Kon K’ri. Đối với người dân tộc Tây Nguyên, nếu như nam biết đánh đàn, chế tác nhạc cụ thì nữ múa xoang đẹp và giỏi dệt thổ cẩm. 

Các sản phẩm thổ cẩm từ trang phục váy, áo, khố đến phụ kiện như túi xách, khăn, ví không chỉ dùng trong sinh hoạt gia đình, mà còn trở thành hàng hóa phục vụ khách du lịch, hoạt động văn hóa, văn nghệ trên địa bàn Kon Tum. 

Một già làng đang hướng dẫn cho hai đứa trẻ dùng nhạc cụ truyền thống. Tại các buôn làng, già làng là những người có kinh nghiệm trong cuộc sống, có uy tín trong gia đình và cộng đồng. 


Tại khu vực quanh nhà rông, du khách dễ dàng bắt gặp hình ảnh trẻ em hồn nhiên, đôi khi còn đùa nghịch với các con vật nuôi như chó, mèo. 


Một già làng đang tỉ mỉ điêu khắc tượng gỗ dân gian tại làng Kon Klor (TP Kon Tum). Tại làng có nhà rông Kon Klor, được xem là một trong những nhà rông lớn nhất Tây Nguyên. 

“Điêu khắc tượng gỗ là loại nghệ thuật tạo hình mang sắc thái riêng, không chỉ được trưng bày, tô điểm cho nhà rông và các điểm giao lưu văn hóa ở Kon Tum, mà còn mang ý nghĩa đặc biệt đối với các dân tộc như Ba Na, Gia Rai khi bày tỏ ý niệm tâm linh giữa người trong gia đình đang sống với người thân trong gia đình đã mất”, anh Thái Bana cho biết. 

Tác phẩm “Đôi mắt Bana” của Thái Bana đoạt huy chương đồng thể loại ảnh chân dung tại Liên hoan ảnh nghệ thuật khu vực miền Nam Trung Bộ và Tây Nguyên lần thứ 23 năm 2018. 


“Vũ điệu cồng chiêng và múa xoang” rộn rã quanh ánh lửa phía trước sân nhà rông Kon K’ri. 

“Mỗi khi tiếng cồng, chiêng vang lên trong các lễ hội hay sinh hoạt văn hóa, dân làng không phân biệt già trẻ, gái trai cùng nắm tay nhau, chân bước nhịp nhàng cùng điệu xoang, khiến không khí tưng bừng và lôi cuốn lữ khách”, anh Thái Bana chia sẻ. 

Nhà rông Kon Gu (xã Ngọk Wang, huyện huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum) dưới bầu trời đầy sao. 

Hiện việc quản lý các nhà rông được chính quyền địa phương Kon Tum thắt chặt do công trình làm bằng tre nứa và lợp cỏ tranh nên dễ bắt lửa, đặc biệt là vào mùa khô. 

Huỳnh Phương - Ảnh: Thái Bana

Kin Chu Sìn – chủ nhân của những ngôi nhà nấm nơi rẻo cao

đăng 00:26, 21 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm sâu trong lòng thung lũng, giữa quả đồi rộng lớn, những mái nhà vuông vức được phủ mái cỏ theo thời gian đã phủ một lớp rêu thành những ngôi nhà "nấm" khổng lồ, bản Kin Chu Sìn thu hút nhiều du khách tới tham quan và chiêm ngưỡng bởi vẻ đẹp độc, lạ này.


Kin Chu Phìn cách trung tâm xã Nậm Pụng (Bát Xát) khoảng 10km. Ở độ cao 1.000m so với mực nước biển, không khí ở Kin Chu Phìn vào mùa động, nhiệt độ xuống thấp, có một thời điểm tuyết phủ trắng cả một góc trời. Kin Chu Phìn là bản của người Dao. Vì thời tiết khắc nghiệt diễn ra thất thường trong năm nên đồng bào dân tộc đã tự bảo vệ cơ thể của mình bằng cách xây dựng những ngôi nhà có mái vuông vức được lợp cỏ hoặc tôn, có tường dày và kính. Nhìn xa xa những ngôi nhà ở bản chẳng khác gì những cây nấm khổng lồ được mọc lên từ đất.

Người đồng bào ở bản Kin Chi Sìn cùng nhau xây lên những ngôi nhà để tránh khí hậu khắc nghiệt. Ảnh: T. L.


Điều đặc biệt là những ngôi nhà ở bản đều được thực hiện bằng phương pháp thủ công, từ san nền, giã đất đến nẹp ván… Trải qua ròng rã hàng tháng trời nẹp, giã đất với 5 - 6 tầng ván khuôn. Khi hoàn thành tường nhà cứng và chắc chẳng thua kém một công trình xi măng nào. Mái nhà được lợp bằng cỏ trên các thanh xà và đòn tay bằng gỗ pơ mu. Mọi người trong bản đều giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình làm nhà.

Từng diện tích đều được tận dụng để thực hiện công việc nào đó của người Dao.


Vì khí hậu diễn ra thất thường nên đồng bào ở đây thường có thói quen dự trữ củi thật nhiều để phục vụ việc nấu nướng và sưởi ấm khi mùa đông về. Do vậy, khi kén vợ, những chàng trai Hà Nhì đều để ý nếu nhà nào có nhiều củi ắt hẳn cô gái nhà đó thường rất chăm chỉ, ngoan hiền.

Những người con gái Hà Nhì chơi vui vẻ trong ngày lễ.


Du khách không khó bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ Hà Nhì trong trang phục màu xanh truyền thống với đôi lưng một gùi củi to, nặng trịch. Dù mệt mỏi nhưng mỗi lần thấy du khách đi ngang qua đều nở nụ cười thân thiện. Lang thang một vòng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Kin Chu Sìn, du khách bắt gặp hình ảnh những cụ già bên ngôi nhà, trên đầu đội mớ tóc giả nặng trĩu, vẫn không quan tâm với thế giới bên ngoài cứ ngồi nhẩn nha bóc lạc bên cạnh lũ trẻ hồn nhiên chơi đùa quanh nhà.

Du khách có cơ hội được "săn mây" hoặc ngắm bình minh nếu lựa chọn ở lại nhà dân bản xứ.


Nếu đã đến đây, muốn chiêm ngưỡng trọn vẹn vẻ đẹp và nét văn hoá của Kin Chu Phìn du khách có thể xin ở nhờ nhà đồng bào một đêm để tìm hiểu cuộc sống và nét sinh hoạt thường ngày của họ ra sao. Sau một đêm đánh giấc no say, sáng sớm thức dậy, du khách có thể ngắm bình minh dâng lên bắt đầu ngày mới ở bản quả là tuyệt vời. Mặt trời từ từ nhô lên trên đỉnh núi, rực rỡ như lòng đỏ trứng gà hoà cùng với mây trắng bồng bềnh cùng với những tia nắng đầu tiên bắt đầu ngày mới tạo nên những gam màu tuyệt đẹp. Thời điểm đó làm cho con người và thiên nhiên xích lại gần nhau hơn. 

Với khí hậu trong lành, thoáng đãng cộng với sự độc đáo từ những căn nhà "nấm" ở bản Kin Chu Phìn đã đủ thôi thúc người ta lên vùng núi Tây Bắc để được chiêm ngưỡng vẻ đẹp nơi rẻo cao. Thêm vào đó, bản sắc văn hoá đặc sắc của đồng bào nơi đây cũng đủ để khẳng định trong tương lai gần Kin Chu Phìn là điểm đến không thể bỏ qua, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước tới tham quan.

Tuấn Đạt

1-10 of 18

Comments