Những chuyến đi, những khám phá... và những điều suy tư...

Bài mới

  • Trải nghiệm khác biệt ở Hồng Hạ Nhiều người thích lên A Lưới, nhưng ngại đường xa, cách trở núi đèo. Ít ai biết, có một điểm đến ở A Lưới chỉ cách trung tâm thành phố ...
    Được đăng 19:29, 8 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Về đâu làng gốm Phnôm Pi trăm năm của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi? Làng gốm Phnôm Pi (xã Châu Lăng, H.Tri Tôn, An Giang) là nơi duy trì nét đẹp truyền thống của đồng bào Khmer qua từng sản phẩm cà ràng ...
    Được đăng 06:20, 8 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sắc màu cao nguyên đá Hà Giang Hà Giang không chỉ có màu xám của đá tai mèo mà còn rực rỡ sắc hoa dại, màu váy truyền thống của người H'Mông, màu xanh của núi ...
    Được đăng 20:15, 1 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mùa đông ngâm tắm suối khoáng nóng “Trời lạnh ri mà đi ngâm suối khoáng nóng là tuyệt nhất”, sau những lời rủ rê hấp dẫn, tôi quyết định có chuyến “xê dịch” trải nghiệm cùng với ...
    Được đăng 00:50, 20 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Khu di tích Núi Dành - Nơi hội tụ của những sắc màu văn hóa Câu chuyện về núi Dành (xã Liên Chung và Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang) có sản vật tiến Vua-sâm Nam lưu truyền trong dân gian từ ...
    Được đăng 04:45, 17 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 25. Xem nội dung khác »


Trải nghiệm khác biệt ở Hồng Hạ

đăng 19:29, 8 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Nhiều người thích lên A Lưới, nhưng ngại đường xa, cách trở núi đèo. Ít ai biết, có một điểm đến ở A Lưới chỉ cách trung tâm thành phố chừng một giờ đồng hồ chạy xe máy, nhưng mang lại rất nhiều trải nghiệm khác biệt.

Cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp níu chân du khách. Ảnh: DLAL

Cũng là du lịch gắn liền với bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, nhưng ở xã Hồng Hạ, có thể tìm thấy những điểm khác biệt từ một huyện vùng cao được nhiều người ví như “Đà Lạt ở Cố đô”.

Hồng Hạ cách trung tâm thành phố Huế khoảng 40 km. Nằm ở điểm giữa của chuyến hành trình từ TP. Huế lên trung tâm huyện A Lưới, lại ngay sát Quốc lộ 49 nhưng nơi đây có khá nhiều điểm vui chơi để lựa chọn.

Dựa trên điều kiện thiên nhiên ban tặng, năm 2016, điểm du lịch sinh thái suối Pâr Le đi vào hoạt động. Cảnh đẹp trời cho cộng với sự thân mật gần gũi của người dân địa phương khiến nơi này nhanh chóng trở thành điểm đến hấp dẫn. Chỉ tính riêng từ tháng 3 đến tháng 8/2016, điểm du lịch này thu hút trên 19 nghìn lượt khách, trong đó khách ngoài tỉnh hơn 3 nghìn lượt.

Hồng Hạ khác biệt với nhiều điểm du lịch sinh thái ở A Lưới bởi không chỉ có suối, mà còn có mô hình du lịch, lưu trú homestay và cả farmstay. Tuy “sinh sau, đẻ muộn” so với những homestay ở thành phố nhưng loại hình “du lịch xanh” theo cách gọi của du khách lại được ưa chuộng bởi khách có thể ở tại nhà của người dân địa phương và trải nghiệm cách sống, văn hóa của người bản địa.

Nơi lưu trú được xây dựng theo mô hình nhà gươl truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, với chất liệu gỗ, tre, nứa, tấm lợp lá cọ… phù hợp với cảnh quan thiên nhiên và thân thiện với môi trường.

Trải nghiệm về đêm ở Hồng Hạ. Ảnh: H.PHÚC

Năm 2019, farmstay Cân Tôm – Hồng Hạ ra đời với định hướng như nơi sống lại bản sắc văn hóa tộc người độc đáo, và đó đã trở thành một trải nghiệm mà ở A Lưới hiện vẫn chưa có ở điểm du lịch thứ hai. Khác với homestay, farmstay dựa vào đồng ruộng và trải nghiệm một ngày làm nông dân. Trên cánh đồng lúa diện tích 2 ha, mô hình farmstay ở A Lưới đủ sức làm say lòng khách lạ trước phong cảnh hữu tình dựa vào thiên nhiên nhất là mùa lúa trổ bông...

Văn hóa đồng bào vùng cao vốn rất độc đáo, nhưng ở những nơi biết gắn nét độc đáo ấy vào làm du lịch, hẳn sẽ tạo ấn tượng mạnh cho những vị khách miền xuôi. Ở Hồng Hạ có đầy đủ những gì người miền xuôi muốn khám phá ở miền ngược, bao gồm cả trải nghiệm không gian văn hóa của đồng bào như đốt lửa trại, cùng hòa mình với điệu múa Da dá, văn nghệ dân gian. Ẩm thực núi rừng với các món ăn đặc trưng như cơm lam, gà đồi nướng, canh sắn… dù nghe quen nhưng cũng đủ để người tới một lần không thể quên.

Nhiều người bảo, du lịch trên nền tảng bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số có thể không mạnh dạn để phát triển những cái mới, nhưng nếu biết cách phát giá trị tích cực từ truyền thống vốn đáng quý thì dĩ nhiên có thể trở thành sản phẩm du lịch độc đáo. Phải chăng vì thế mà nhiều người khuyên nên đến Hồng Hạ để ngắm cảnh, trải nghiệm nét văn hóa riêng được tái hiện một cách bài bản. Đó là sản phẩm mang đến sự trải nghiệm khác biệt.

MINH TÂM

Về đâu làng gốm Phnôm Pi trăm năm của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi?

đăng 06:20, 8 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Làng gốm Phnôm Pi (xã Châu Lăng, H.Tri Tôn, An Giang) là nơi duy trì nét đẹp truyền thống của đồng bào Khmer qua từng sản phẩm cà ràng (bếp củi), cà om (nồi)…

Bà Néang Nhây (71 tuổ) đã có hơn 30 năm gắn bó với nghề tại làng gốm Phnôm Pi. ẢNH: DUY TÂN

Nghề mẹ truyền cho con qua nhiều thế hệ

Người dân ấp Phnôm Pi cho biết làng gốm Phnôm Pi có khoảng trăm năm nay. Điểm khác biệt ở làng gốm này là tất cả sản phẩm đều được làm thủ công.


Tất cả các công đoạn từ nặn, nhào, tạo hình... đều phải làm bằng tay nên đòi hỏi sự khéo tay. ẢNH: DUY TÂN

Bà Néang Nhây (71 tuổi), truyền nhân đời thứ 3 của nghề này, cho biết người làm nghề gốm ở đây chủ yếu do mẹ truyền dạy cho con. “Lúc xưa, bà ngoại truyền nghề cho mẹ tôi. Khi tôi trưởng thành, được mẹ tiếp tục truyền dạy. Đến khi lấy chồng thì ông ấy cũng phụ tôi làm gốm. Tính ra tôi đã có hơn 30 năm gắn bó với làng nghề truyền thống này”, bà Néang Nhây chia sẻ.

Theo sự phân công trong nghề, đàn ông thì đào đất, gánh đất, đốn củi, nung gốm... còn phụ nữ đảm nhận khâu làm gốm. Ông Chau Tral (72 tuổi), chồng bà Néang Nhây), cho biết đất dùng làm gốm được lấy ở độ sâu 1 - 2 m tại khu vực hồ Latina (thuộc xã An Hảo, H.Tịnh Biên, An Giang). “Không phải loại đất sét nào cũng làm gốm được đâu. Đất dùng làm gốm ở đây chỉ lấy từ hồ Latina vì nó đặc biệt, hoàn toàn không lẫn tạp chất và phải đào sâu mới lấy được”, ông Chau Tral nói.

Cà ràng sau khi tạo hình xong sẽ được đem phơi từ 5 - 7 ngày cho thật khô rồi mới đem nung bằng rơm. ẢNH: DUY TÂN

Để làm ra một sản phẩm đậm chất Khmer, tất cả các công đoạn phải hoàn toàn thủ công. Đất sau khi lấy về được ủ rồi tưới nước cho mềm; lấy cây đập; nhồi đất; nặn thành hình; nặn họa tiết; đem phơi từ 5 - 7 ngày; cuối cùng đem nung bằng rơm. “Những nơi khác nung bằng lò, gốm tại đây chỉ nung bằng củi và rơm. Rơm phải được phủ kín để hơi không lọt ra ngoài mới nung ra mẻ gốm đẹp. Thời gian nung khoảng 1 tiếng là gốm chín. Độ bền của gốm cũng rất cao”, ông Chau Tral nói.

Sản phẩm tiêu biểu của làng gốm Phnôm Pi. ẢNH: DUY TÂN

Mai này làng gốm Phnôm Pi có còn?

Trong các sản phẩm làm ra, đồ đun nấu chiếm số lượng lớn. Đặc biệt, cà ràng (bếp củi) và cà om (nồi) là mặt hàng mang đậm nét truyền thống của đồng bào Khmer, khá nổi tiếng và bán chạy một thời.

Bà Néang Phath (50 tuổi) cho biết mỗi ngày bà có thể làm được từ 5 - 7 cái cà ràng. Nghề này nhộn nhịp nhất là vào những mùa nắng và những ngày cận tết. Chỉ khi mùa mưa sẽ hạn chế hoặc tạm ngưng sản xuất. Giá thành các loại cà ràng dao động từ 25.000 đồng đến hơn 100.000 đồng/sản phẩm (tùy lớn, nhỏ).

Bà Néang Phath (50 tuổi) đang nhồi đất để tạo hình sản phẩm. ẢNH: DUY TÂN

Theo bà Néang Nhây, ngày xưa, làng gốm Phnôm Pi có cả trăm lò nung quanh năm đỏ lửa, nhưng nay chỉ còn hơn 10 hộ gắn bó. Lúc trước, sản phẩm làm ra được khách tận Đồng Tháp đến tìm mua. Nhưng giờ bếp điện, bếp gas trở nên phổ biến thì bếp bằng đất không còn nhiều người mua. Hiện để bán những sản phẩm này, vợ chồng bà phải nhờ con chở ra chợ hoặc đến những địa bàn lân cận.

Sự riêng biệt của làng gốm nơi đây là duy trì nét đẹp truyền thống của người Khmer qua từng sản phẩm. ẢNH: DUY TÂN

“Chắc đến đời vợ chồng tôi thì nghề truyền thống ở làng gốm Phnôm Pi sẽ thất truyền, bởi hiện nay chỉ toàn người già làm thôi, lớp trẻ không ai theo nghề hết. Đến con tôi cũng không thiết tha với nghề này. Nghề này rất cực khổ, thu nhập chẳng bao nhiêu nên lớp trẻ kéo nhau đi làm công ty hết”, bà Néang Nhây thở dài.

Duy Tân

Sắc màu cao nguyên đá Hà Giang

đăng 20:15, 1 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Hà Giang không chỉ có màu xám của đá tai mèo mà còn rực rỡ sắc hoa dại, màu váy truyền thống của người H'Mông, màu xanh của núi đồi...


Hà Giang là mảnh đất địa đầu Tổ Quốc, nơi không chỉ có những cánh đồng hoa nở đẹp hút hồn mà còn có nhiều điểm đến lịch sử níu chân du khách. Một trong số đó phải kể tới Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên nằm ở huyện Vị Xuyên - nơi từng là "biển lửa" của chiến trang biên giới (1984 - 1989). Nghĩa trang Vị Xuyên hiện có hơn 1.800 mộ trong đó có 1 mộ tập thể, 346 mộ chưa xác định thông tin.

Trên hành trình khám phá cao nguyên đá, Vị Xuyên sẽ là điểm dừng đầu tiên đưa du khách "về nguồn". Vị Xuyên cách trung tâm Hà Nội khoảng 300 km, nên đi từ Hà Nội nếu xuất phát vào sáng sớm du khách sẽ tới đây vào đầu chiều. Tại đây du khách được lắng nghe những câu chuyện về một thời hoa lửa khốc liệt và dâng nén hương thành kính đến các chiến sĩ đã yên nghỉ.


Qua cổng trời Quản Bạ du khách sẽ tiếp tục đi hơn 110 km để tới Cột cờ Lũng Cú, cùng lá cờ 54 m2 tượng trưng cho 54 dân tộc anh em Việt Nam. Cột cờ được xây dựng trên đỉnh Lũng Cú (hay còn gọi là núi Rồng) cao 1.470 m thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn. Du khách có thể di chuyển bằng cách leo bộ 400 bậc thang hoặc đi xe điện, xe máy tới sát chân cột cờ. Ảnh: Vietravel


Cung đường dốc Thẩm Mã dài khoảng 5 km kéo dài từ địa phận xã Vần Chải lên xã Lũng Thầu, huyện Đồng Văn ở độ cao khoảng 1.500m với nhiều khúc cua uốn lượn ấn tượng. Tương truyền, xưa kia người dân cho ngựa thồ hàng từ dưới chân dốc lên, con nào tới đỉnh dốc mà vẫn khỏe sẽ được giữ lại nuôi, nên ngày nay nơi đây có tên Thẩm Mã.


Đỉnh dốc là điểm dừng chân được nhiều du khách ưa thích check-in. Trái ngược với cung đường hiểm trở, cheo leo đầy thách thức người cầm lái thì đỉnh dốc là nơi nghỉ ngơi, vui chơi của những cô bé người dân tộc luôn nở nụ cười với khách du lịch.


Cách TP Hà Giang khoảng 50 km về phía bắc là cổng trời Quản Bạ và núi đôi Cô Tiên. Hiện nay tại đèo Quản Bạ đã có vườn hoa cho du khách thích chụp ảnh, một trạm dừng nghỉ để ăn uống, mua sắm và cả đài quan sát để ngắm nhìn núi đôi Cô Tiên từ trên cao.

Cung đường TP Hà Giang - cổng trời Quản Bạ không dài nhưng khá hiểm trở vì đều là đường đèo ôm sát núi, một bên vực thẳm một bên núi đá cao vút. Cổng trời Quản Bạ, trên quốc lộ 4C thuộc huyện Quản Bạ, được ví như ranh giới giữa trời và đất của tỉnh Hà Giang. Nằm ở độ cao hơn 1.500 m, nơi này là cửa ngõ đầu tiên dẫn lối vào Đồng Văn và cũng là điểm bắt đầu con đường Hạnh Phúc.


Nằm cách chân cột cờ Lũng Cú chỉ 2 km là thôn Lô Lô Chải, ngôi làng của những người Lô Lô trong trang phục truyền thống rực rỡ sắc màu. Du khách vào làng được trải nghiệm lễ đón khách, nhảy múa, ăn cơm uống rượu mừng, ở homestay, tìm hiểu các hoạt động trong đời sống của người Lô Lô... Hiện tại thôn đã có 22 hộ làm homestay đón khách du lịch.


Tiếp tục trên con đường Hạnh Phúc du khách sẽ tới thung lũng Sủng Là, nơi có làng văn hóa Lũng Cẩm và ngôi nhà dân tộc H'Mông truyền thống từng làm bối cảnh phim "Chuyện của Pao".

Mùa này, đi hết con đường hai bên là hai hàng lê đang ra trái non, du khách sẽ tới cổng "Nhà Pao". Bộ phim "Chuyện của Pao" đạt giải Cánh Diều Vàng 2005 được chuyển thể từ tác phẩm "Tiếng đàn môi sau bờ rào đá" (Đỗ Bích Thủy). Sau khi bộ phim gây tiếng vang, ngôi nhà bối cảnh cũng trở thành điểm thu hút khách du lịch bởi vẻ đẹp bình dị, nhuốm màu thời gian trong từng lớp ngói rêu phong, sân đá, xà cột gỗ cũ kỹ...


Cách "Nhà Pao" chỉ 10 km là Dinh thự họ Vương (hay nhà Vương, dinh thự vua Mèo), thuộc xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn. Dinh có diện tích gần 3.000 m2 xây từ năm 1898 và hoàn thiện năm 1907. Công trình xây dựng tốn 15 vạn đồng bạc trắng Đông Dương (gần 150 tỷ đồng ngày nay). Vẻ đẹp bề thế sau hơn 100 năm của dinh thự cũng chính là minh chứng cho một thời kỳ thịnh vượng của vua Mèo Vương Chính Đức.

Ghé thăm nơi này du khách có thể mất cả tiếng để khám phá hết các ngóc ngách của dinh thự - nơi kết hợp kiến trúc của 3 nền văn hóa của người Mông, Trung Hoa và Pháp. Dinh được xếp hàng di tích cấp quốc gia vào năm 1993.


Hẻm vực Tu Sản được xem là hẻm vực sâu nhất Đông Nam Á với độ sâu 700 - 900m. Nằm giữa Đồng Văn và Mèo Vạc, nơi này là "đặc sản" mà chỉ Hà Giang mới có, hùng vĩ với dòng Nho Quế màu ngọc bích uốn lượn bên dưới. Du khách có thể đi bộ từ trên lộ lớn xuống hẻm cách khoảng 2 km hoặc thuê xe ôm dân địa phương chở xuống bến thuyền để tham quan, chụp hình, đi thuyền trên lòng hồ thủy điện Nho Quế.

Hành trình khám phá con đường Hạnh Phúc và bản sắc các dân tộc ở cao nguyên đá của Vietravel kéo dài 5 ngày. Hiện tại tour khởi hành từ TP HCM với giá 5,69 triệu đồng/khách.

Ngoài những điểm dừng trên, hành trình còn đưa khách tới khu nghỉ dưỡng H'Mông Village, cao điểm 468, đèo Mã Pì Lèng, tượng đài Thanh Niên, bảo tàng Con đường Hạnh Phúc, làng văn hóa Thôn Tha... 

Khánh Trần

Mùa đông ngâm tắm suối khoáng nóng

đăng 00:50, 20 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

“Trời lạnh ri mà đi ngâm suối khoáng nóng là tuyệt nhất”, sau những lời rủ rê hấp dẫn, tôi quyết định có chuyến “xê dịch” trải nghiệm cùng với nhóm bạn.

Thiền, yoga ở suối khoáng nóng là trải nghiệm mới

Không khí lạnh tăng cường những ngày qua, khiến nhiệt độ Huế xuống thấp. Buổi sáng thức dậy, còn không muốn ra khỏi giường. Thú thật, chưa lần nào ngâm tắm suối khoáng nóng vào mùa đông, nên nghe rủ rê, dù có phần hứng khởi nhưng tôi cũng đôi chút lần khần định bụng thôi. Nhưng rồi, đôi chân thôi thúc, tôi quyết định xách ba lô lên và đi.

Từ Huế suối khoáng nóng Thanh Tân ở xã Phong Sơn (Phong Điền) khoảng 30km về phía Bắc. Tưởng chừng mùa đông buốt giá, khu suối nước nóng vắng khách, hóa ra nhiều người cũng “mê món” ngâm tắm khoáng nóng vào mùa đông này.

Thời tiết hôm chúng tôi đi chừng 16 - 17 độ C. Sau khi thay bộ đồ tắm, quấn cái khăn khắp người nhưng vẫn thấy lạnh. Lúc đó, cứ nghĩ đã sai lầm khi quyết định đi. Nghĩ thế, nhưng đã ra tận nơi chẳng lẽ lại không xuống mà nhìn mọi người tắm. May mà đơn vị khai thác dịch vụ chăm sóc khách khá kỹ, hướng dẫn khởi động, làm ấm cơ thể một lúc rồi mới dẫn khách ra suối. Người hướng dẫn tại suối tư vấn, đầu tiên nên ngâm tắm ở hồ có nhiệt độ bằng cơ thể (37 độ C). Trước khi ngâm toàn thân, đặt đôi chân xuống trước một lúc để cơ thể làm quen. Sau đó, từ từ ngâm mình xuống suối khoáng nóng.

Sau những thao tác “dạo đầu” có vẻ phức tạp, khi cả người được ngâm trong dòng suối khoáng ấm nóng, đó là cảm giác nhẹ bẫng, thư thái vô cùng. Nhiệt độ dần được cân bằng nên hoàn toàn không còn cảm giác lạnh mà đó là cảm giác ấm toàn thân. Sau đó, nhóm chúng tôi lần lượt di chuyển lên các đoạn suối có nhiệt độ cao hơn. Nhìn những làn hơi nước bốc lên và bị độ ẩm của không khí giữ lại trên mặt nước tạo nên một khung cách độc đáo vô cùng.

Theo y học, ngâm tắm suối khoáng nóng có nhiều lợi ích cho sức khỏe

Theo các tài liệu khoa học, vào mùa đông, thời tiết thường lạnh và hanh khô, da và toàn bộ cơ thể bị ảnh hưởng của thời tiết, sẽ phải “gồng lên” để chống chọi lại với thời tiết. Tắm khoáng nóng sẽ giúp cơ thể được thư giãn, phục hồi.

Trong y học, ngâm tắm khoáng nóng là một trong các phương pháp chữa bệnh bằng thủy trị liệu, nhiệt trị liệu và khoáng trị liệu. Các chất khoáng có trong nguồn nước khoáng được thấm thấu qua da, có tác dụng điều trị và tăng cường sức khỏe; tăng cường lưu thông máu, do chịu áp lực thay đổi của nước, làm thuận lợi cho hồi lưu máu từ hệ tĩnh mạch về tim. Thủy trị liệu giúp phục hồi chức năng hô hấp và tim mạch, nhờ tác dụng tăng cường lưu thông máu, tăng hô hấp có lợi cho người bị bệnh hen, bệnh phổi phế quản thường gặp trong mùa đông lạnh; bệnh tim phổi mạn ở người cao tuổi… Nhờ có tác dụng này, tắm khoáng nóng còn tốt cho người bị bệnh khớp mạn tính, những người bị bại liệt hoặc yếu cơ do bệnh lý thần kinh, giúp phục hồi chức năng khớp, cơ và thần kinh.

Ngành y học cũng khuyến cáo, khi tắm cần chú ý nhiệt độ nước khoáng không được quá cao hoặc tắm quá lâu sẽ gây tác dụng ngược lại. Lúc ra khỏi bể tắm cũng nên từ từ. Đặc biệt vào mùa lạnh, người cao tuổi cần lưu ý, nếu ngâm mình vào nước khoáng nóng, hay ra khỏi nước đột ngột cơ thể sẽ bị sốc nhiệt, các mạch máu và tế bào da gặp nóng lạnh đột ngột dễ gây tác dụng ngược.

Ngâm mình dưới dòng suối khoáng nóng khoảng 1 giờ đồng hồ, thời gian được cho là tốt nhất cho cơ thể, chúng tôi lên bờ. Ngâm suối khoáng mùa đông quả khác biệt, khoảng thời gian để tĩnh lặng, thư thái thật sự. Chắc chắn rồi, tôi sẽ đi tắm suối khoáng nóng thêm nhiều lần nữa.

Ở Huế, ngoài suối khoáng nóng Alba Thanh Tân đang hoạt động, suối khoáng nóng Mỹ An, chỉ cách trung tâm TP. Huế khoảng 7km, dọc đường về biển Thuận An cũng đang gấp rút thi công, chuẩn bị đưa vào khai thác sẽ tăng thêm điểm đến mới. Được biết, không chỉ có ngâm tắm đơn thuần, nếu du khách có nhu cầu sẽ có dịch vụ thiền, yoga dưới suối khoáng nóng, tắm onsen… sẽ là dịch vụ khác biệt, độc đáo cho Huế trong tương lai.

Bài, ảnh: ĐỨC QUANG

Khu di tích Núi Dành - Nơi hội tụ của những sắc màu văn hóa

đăng 04:44, 17 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 04:45, 17 thg 4, 2021 ]


Câu chuyện về núi Dành (xã Liên Chung và Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang) có sản vật tiến Vua-sâm Nam lưu truyền trong dân gian từ bao đời nay đã thôi thúc tôi tìm về khu di tích này. Đến đây, gặp gỡ, trò chuyện với người dân địa phương mới biết vùng đất này không chỉ có sâm Nam mà còn là nơi hội tụ của những sắc màu văn hóa.

Từ TP Bắc Giang có nhiều đường để đến núi Dành nhưng tôi chọn đi theo Quốc lộ 17 rồi rẽ vào đường liên xã Việt Lập-Liên Chung. Đang là mùa đông nên hai bên đường là một màu xanh mướt của ngô, khoai lang và nhiều loại rau màu khác. Đi khoảng 5 km từ lối rẽ, Khu di tích lịch sử văn hóa núi Dành đã hiện ra trước mắt tôi.


Núi Dành nằm cách dòng sông Thương thơ mộng không xa, có đỉnh cao nhất khoảng 117 m so với mặt nước biển và là dãy núi lớn thứ hai của huyện Tân Yên sau núi Đót (xã Phúc Sơn). Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên đẹp với rừng thông khoảng 50 năm tuổi. Nhiều người đến núi Dành có chung nhận xét như đang ở trong rừng thông TP Đà Lạt (Lâm Đồng). Anh Hoàng Tiến Dũng ở xã Mường Than, huyện Than Yên (tỉnh Lai Châu) nói: “Tôi biết núi Dành qua Internet đã lâu, nay mới có dịp tới thăm. Quả thật phong cảnh nơi đây rất đẹp, không khí trong lành, ngồi nghe thông reo thật lãng mạn. Nếu có dịp, tôi sẽ rủ người thân và bạn bè tới đây chơi”.

Đường vào khu di tích.

Đường lên núi Dành được xây bậc gạch với tổng cộng 345 bậc thoai thoải. Ngay dưới chân núi là giếng Mũi Voi, sâu khoảng 2m, đã được xây bó bờ xung quanh. Người dân địa phương cho biết nước giếng luôn trong xanh và không bao giờ cạn.

Du khách tham quan núi Dành.

Tọa lạc ở núi Dành là đền Dành, công trình văn hoá tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Quần thể đền Dành gồm 3 đền: Đền Trình (dưới chân núi), đền Thượng (trên đỉnh núi) và đền Hạ (khu vực lưng chừng núi). Đền Dành thờ thần Cao Sơn, Quý Minh, khi sống là những vị tướng tài giỏi, thác đi trở thành những vị thần linh thiêng, hiển thánh lại âm phù, giúp dân trừ tai diệt họa, được nhân dân nhiều đời thờ phụng. Không ai biết chính xác đền Dành được xây dựng từ khi nào nhưng căn cứ vào những tài liệu hiện vật di tích như cột đá, bát hương cổ, đồ tế khí, ngai thờ còn lưu giữ trong đền... thì công trình này được xây dựng từ thời Lê thế kỷ XVIII.

Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ngôi đền đã bị hủy hoại đi nhiều, không còn nguyên vẹn như xưa. Tuy nhiên, nhân dân nơi đây đã nhiều lần trùng tu, cải tạo, ngôi đền đã khang trang, đẹp đẽ hơn nhưng vẫn còn lưu lại nhiều nét cổ kính, riêng biệt.

Đền Thượng trên đỉnh núi.

Đặc biệt, đền Dành hiện nay được cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương xây dựng lại vào năm 2017 với quy mô lớn hơn nhưng vẫn nằm trên cốt nền của ngôi đền cổ xưa theo lối kiến trúc kiểu hình chữ công, gồm tòa bái đường 3 gian nối với tòa hậu cung 2 gian bằng một dải ống muống.

Đền Thượng, đền Trình và giếng Mũi Voi (từ trên xuống dưới).

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nước ta, đền Dành và núi Dành là trạm tiền tiêu để bộ đội ta phục kích bảo vệ vùng tự do. Cũng tại nơi đây, vào ngày 13/4/1950 có 2 chiến sĩ du kích là Nguyễn Bá Giai và Nguyễn Đình Khái đã anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ cảnh giới canh gác tiền tiêu


Sâm Nam hiện được trồng khá nhiều dưới chân núi Dành.

Đến với Khu di tích núi Dành, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng cảnh quan bao la hùng vĩ mà còn được nghe câu chuyện lưu truyền trong dân gian về sản vật tiến Vua - sâm Nam của người dân nơi đây. Chuyện kể rằng, ở một đỉnh núi nọ có hai mẹ con nương tựa vào nhau mà sống. Một hôm, người mẹ đột ngột lâm bệnh nặng nhưng nhà không có tiền chạy chữa. Anh con trai đành lên núi tìm thuốc chữa bệnh cho mẹ. Đi đến gần tối vẫn không được gì, chàng trai ngồi nghỉ rồi ngủ thiếp đi dưới một gốc cây đại thụ lớn ở lưng chừng núi Dành. Trong giấc mơ, anh thấy mình tìm được gốc sâm cứu mẹ. Tỉnh giấc, bàn tay vẫn nắm chặt một thân dây rất nhỏ. Đưa lên ngửi, chàng mới hay mình đã tìm ra cây sâm tiên nên vội đào củ đem về sắc thuốc cho mẹ uống. Được uống sâm quý, người mẹ ít ngày sau liền khỏi ốm.

Công dụng của loài sâm quý này càng trở nên ly kỳ, hấp dẫn hơn và được ví như “tiên dược” khi giúp mẹ vua Tự Đức là Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (Từ Dụ) sáng mắt trở lại. Chuyện kể rằng thời vua Tự Đức, mẹ vua bị loà mắt. Thương mẹ, nhà vua đã tìm mọi thảo dược quý hiếm cũng như các bậc lang y tài giỏi lúc bấy giờ cứu chữa song bệnh ngày càng nặng. Các lang y kỳ tài, những phương thuốc hay đều đã dùng cả nhưng không có kết quả. Vào lúc nhà Vua vô vọng, một vị quan dâng lên một loài sâm quý tại vùng núi Dành. Chẳng ngờ, sâm quý như thuốc tiên đã giúp đôi mắt thân mẫu nhà vua sáng lại. Bởi thế nên mới có câu ca: Sâm Nam nổi tiếng núi Dành/Chữa loà cho mắt lại lành như xưa”.

Ông Dương Văn Viên, thôn Lãn Tranh (Liên Chung) giới thiệu khu vực trồng và sản phẩm sâm Nam.

Cũng từ đó, sâm núi Dành được ví như kỳ thảo, “tiên dược”, trở thành sản vật tiến Vua hàng năm. Quan lại địa phương ra sức tìm kiếm sâm Nam làm quà biếu cấp trên và triều đình. Người dân địa phương vì cuộc sống mưu sinh cũng đổ xô vào rừng tìm sâm bán dẫn tới tình trạng cạn kiệt.

Sản phẩm sâm Nam được nhiều người ưa chuộng.

Với mong muốn bảo tồn sản vật của địa phương, một số người dân đã mang giống sâm quý này về trồng trong vườn nhà. Ở xã Liên Chung hiện có khoảng 5 ha trồng sâm Nam. Ông Nguyễn Tiến Khương, Chủ tịch UBND xã Liên Chung cho biết: Địa phương đang xúc tiến thành lập HTX sản xuất sâm Nam núi Dành và lựa chọn địa điểm để giới thiệu, quảng bá sản phẩm này tới du khách thập phương.


Anh Nguyễn Thế Sương, Bí thư Chi bộ thôn Hậu, xã Liên Chung-người đưa tôi đi tham quan Khu di tích núi Dành rất tự hào về địa phương mình bởi nơi đây có những nét văn hóa độc đáo. Quả thật, nhắc tới Liên Chung nhiều người biết tới nghệ thuật hát ví, hát ống-một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc bị lãng quên từ lâu nhưng nay đã được khôi phục trở lại. So với các loại hình dân ca khác, hát ví, hát ống có giai điệu đơn giản, gần gũi, dễ học, dễ thuộc, lời hát thường là những câu lục bát. Điểm mạnh của hát ví chính là ở ngôn từ phong phú, khả năng ứng biến linh hoạt của người hát cũng như sự sáng tạo trong lời bài hát. Trong quá trình hát, người hát có thể tự sáng tác sao cho phù hợp với hoàn cảnh.

Hát ống, hát ví đã được khôi phục thu hút lớp trẻ tham gia.


Hát ống về bản chất vẫn là hát ví nhưng hai bên hát thông qua một dụng cụ là hai chiếc ống bằng tre có đường kính từ 7-10cm, dài chừng 15-20cm thông hai đầu, một đầu được bịt bằng da ếch, liên kết hai ống với nhau bởi một sợi dây tơ tằm buộc vào hai chiếc kim khâu. Khi hát, âm thanh làm các màng da ếch rung lên, tín hiệu âm thanh truyền qua sợi dây tới đầu ống bên kia, người nghe dù đứng xa hàng chục mét vẫn nghe rõ tựa như phát ra từ chiếc loa nhỏ. Đặc trưng của loại hình hát dân gian này là lối hát giao duyên, đối đáp nam - nữ. Đơn cử như lời ca rất tình tứ của người con trai nói với người mình mến: Hỏi cô thắt cái bao xanh/Có về làng Hậu quê anh thì về/Làng Hậu có gốc cây đề/Có sông tắm mát có nghề làm ăn. Người con gái trả lời: Thương anh em cũng muốn về/ Chỉ e vụng dại bạn chê, người cười/ Thương nhau chín bỏ làm mười/ Thế gian cứ nhại ai cười mặc ai.

Khu vực núi Dành xưa có lễ hội Bảo Lộc Sơn nổi tiếng khắp vùng. Đầu thế kỷ XIX, Bảo Lộc Sơn là một tổng thuộc huyện Yên Thế, phủ Lạng Giang gồm 4 xã: Bảo Lộc Sơn, Chung Sơn, Tưởng Sơn và Kim Tràng. Lễ hội Bảo Lộc Sơn hàng năm tổ chức vào ngày 16, 17 tháng Giêng, trung tâm tại quần thể di tích đình Um Ngò, xã Việt Lập. Lễ hội này là ngày hội tứ đình, còn gọi là tứ giáp, đặc trưng của các dòng họ: Thân, Giáp Nguyễn và Đồng…ở 4 làng: Kim Tràng, Khoát, Nguyễn và Um Ngò. 4 làng này có 4 ngôi đình, thờ 4 vị Thành Hoàng. Sau khi các làng Nguyễn, Kim Tràng, Khoát mở hội, thì rước kiệu về đình Um Ngò mở hội vào ngày 16 và 17 tháng Giêng, để rồi từ đó rước kiệu lên nghè Cả trên đỉnh núi Dành làm lễ mở đầu cho một năm. 4 lễ hội làng tụ lại thành lễ hội Bảo Lộc Sơn. Phần hội gồm những trò chơi như đu cây, chọi gà, đấu vật, thả diều... Những ước mong cầu mưa gió thuận hòa, dân khang vật thịnh. Lễ hội Bảo Lộc Sơn được khôi phục lần đầu năm 1996. Năm 2019, UBND xã Việt Lập tiếp tục tổ chức khôi phục lại lễ hội Bảo Lộc Sơn.

Trò chơi cướp cầu móc trong lễ hội tại xã Việt Lập.

Cùng với văn hóa truyền thống, văn hóa ẩm thực nơi đây cũng nổi tiếng gần xa với sản phẩm nem nướng Liên Chung. Nem là món ăn quen thuộc của người dân Việt Nam, được làm thịt lợn sống, rồi để lên men. Nem Liên Chung đặc biệt ở chỗ trước khi ăn phải nước trên than củi (ngày nay có thể nước bằng điện, ga, lò vi sóng). Khi đó thịt lợn trộn thính để lên nem được làm chín từ nhiệt tạo ra một mùi thơm không thể lẫn vào đâu được. Hiện nay, ở Liên Chung có hàng chục hộ làm nem cung cấp ra thị trường nhưng quy mô hơn cả là cơ sở nem Thế Hạt. Anh Nguyễn Thế Hạt, chủ cơ sở cho biết mỗi ngày gia đình dùng khoảng 30-40 kg thịt lợn làm nem (tùy theo lượng đặt của khách), tương ứng với 200 quả nem thành phẩm. Nem Liên Chung chủ yếu làm phục vụ các đám cưới, quán ăn và bán cho du khách mua về làm quà .

Đặc sản nem nướng Liên Chung nổi tiếng khắp vùng.

Ngoài ra, khu vực núi Dành còn có một số sản phẩm được nhiều người biết đến như hành tía (hiện nông dân vẫn trồng). Cùng với sâm Nam, sản phẩm này cũng đã đi vào ca dao và là niềm tự hào của người dân nơi đây: “Sâm Nam nổi tiếng núi Dành/Chợ đầy nhan nhản những hành Chung Sơn (Chung Sơn là tên xã trước đây của Liên Chung - PV).


Tân Yên là vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa, cách mạng và là nơi có nhiều cảnh quan đẹp như: Núi Dành, núi Đót, hồ Đá Ong (Lan Giới)... Cùng đó là một hệ thống các di tích lịch sử văn hóa dày đặc với 429 di tích các loại trong đó có 95 di tích được xếp hạng (12 di tích quốc gia đặc biệt, 5 di tích cấp quốc gia, 78 di tích cấp tỉnh). Ngoài ra, huyện có hệ thống di sản văn hóa phi vật thể khá phong phú để kết hợp với phát triển du lịch như: Hàng năm, có khoảng 190 lễ hội thôn làng, xã trong đó có 4 lễ hội trọng điểm của huyện là đình Hả (Tân Trung), đình Vồng (Song Vân), đền Trũng (Ngọc Châu), đền Dành (Liên Chung) và một lễ hội quy mô cấp huyện tổ chức 5 năm một lần là hội Cầu Vồng.

Khu di tích núi Dành nhìn từ trên cao.

Như vậy có thể khẳng định rằng núi Dành, đền Dành và lễ hội Bảo Lộc Sơn mới được khôi phục có vai trò quan trọng trong phát triển du lịch địa phương, tạo thành những tour du lịch hấp dẫn du khách mỗi khi đến Tân Yên. Ông Nguyễn Xuân Tuyển, Trường phòng Văn hóa huyện Tân Yên khẳng định: “Núi Dành là một trong 7 điểm du lịch của huyện gồm: Khu di tích núi Dành; chùa Tứ Giáp khu K12 (thị trấn Nhã Nam); đình, chùa Vồng (xã Song Vân); đền Trũng (xã Ngọc Châu); đình, chùa Hả (Tân Trung); đồi văn hóa kháng chiến (xã Quang Tiến) và điểm du lịch tâm linh sinh thái núi Đót (Phúc Sơn). Bởi vậy, giai đoạn 2015-2020, huyện Tân Yên đã xây dựng và phê duyệt Đề án phát triển du lịch tâm linh sinh thái núi Dành; lập quy hoạch 1/2000”. Trên cơ sở đó, huyện đầu tư làm đường từ quốc lộ 17 tới chân núi Dành, gồm hai tuyến, dài khoảng 7km; làm đường nội bộ chạy quanh núi Dành từ thôn Đồng Sen (Việt Lập) đến thôn Hậu (Liên Chung) dài 3km, rộng 3-4m; xã hội hóa xây dựng lại đền Dành (đền Thượng) với kinh phí khoảng 4 tỷ đồng; khôi phục CLB hát ống hát ví Liên Chung; khôi phục lễ hội Bảo Lộc Sơn (15 tháng Giêng) và trò chơi cướp cầu móc; mở rộng không gian lễ hội đền Dành...Nhờ đó, số người đến Khu di tích lịch sử văn hóa núi Dành ngày một tăng, mỗi năm ước tính tới hàng vạn lượt người.

Đền Hạ thuộc địa phận xã Việt Lập.

Ông Ngô Quốc Hưng, Phó Chủ tịch UBND huyện Tân Yên thông tin: Định hướng phát triển của huyện đối với Khu di tích núi Dành là xây dựng thành khu du lịch tâm linh sinh thái với dịch vụ nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí; phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ kết nối với đường vành đai V; khôi phục văn hóa phi vật thể, nâng cấp lễ hội Bảo Lộc Sơn thành cấp vùng. Để làm được điều này, ngoài nguồn lực địa phương, Tân Yên có kế hoạch thu hút doanh nghiệp đầu tư vào đây. Trước mắt, huyện sẽ tiến hành tu sửa toàn bộ bậc lên xuống núi Dành tạo thuận lợi cho du khách tham quan, trải nghiệm khu di tích này.

Khách du lịch lưu lại khoảnh khắc đáng nhớ khi tới khu di tích núi Dành.

Với tiềm năng du lịch hiện có cùng những nét văn hóa độc đáo và định hướng phát triển của huyện, tin rằng khu di tích núi Dành sẽ trở thành “điểm đến” hấp dẫn, những nét văn hóa nơi đây sẽ ngày càng được nhiều người biết đến.

Nội dung: Huy Nam - Ảnh: Huy Nam, CTV - Trình bày: Ngọc Nhi

Vào rừng khộp săn ảnh chim

đăng 03:25, 9 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Yok Đôn, vườn quốc gia duy nhất Việt Nam bảo tồn rừng khộp đang vào mùa rụng lá khô, là điểm săn ảnh chim lý tưởng.


Vườn Yok Đôn mùa này như thể "châu Âu mùa lá rụng" khi đi qua các thảm rừng khộp dọc đường liên khu trạm 5 và trạm 2. Trong VQG có hơn 12 trạm kiểm lâm nên công tác bảo tồn hệ sinh thái rừng luôn được quan tâm. Ngoài ra, các kiểm lâm nơi đây còn chú trọng công tác đề phòng cháy lá rừng trong mùa khô.

Không giống các khu rừng nhiệt đới, rừng thường xanh, rừng rậm hay rừng ngập mặn, Yok Đôn là rừng khộp duy nhất còn lại ở Việt Nam, có mùa xanh và mùa rụng lá như rừng ôn đới. Theo nhân viên kiểm lâm tại vườn, chữ "khộp" được đọc từ tiếng Lào, nghĩa là "khổ, nghèo", rừng khộp "nghèo" dinh dưỡng đất nên cây không lớn, tán không rậm và vào mùa khô thì cây trút lá để giảm thiểu tiêu hao năng lượng. Ảnh: Ngô Vũ Thắng


Tháng 12 đến tháng 2 hàng năm, rừng nhuộm lá vàng rực, rồi đến tháng 3, từng lớp lá khô rụng phủ xuống mặt đất và mãi cho đến tháng 5, khi mùa mưa bắt đầu, cây nơi đây mới đâm chồi xanh trở lại. Theo số liệu thống kê, hệ động vật tại Yok Đôn có hơn 450 loài, gồm 89 loài động vật có vú, 305 loài chim, 48 loài bò sát, 16 loài lưỡng cư, hàng trăm loài cá nước ngọt và hàng ngàn loài côn trùng.

Ngắm cảnh rừng mùa lá rụng và tìm hiểu các loài chim nằm trong số các hoạt động du lịch sinh thái phổ biến nhất, với 500.000 đồng/người/ tour 3 tiếng.

Theo ban quản lý, VQG Yok Đôn có khu hệ chim phong phú, là đối tượng yêu thích của các nhiếp ảnh gia yêu thiên nhiên. Các loài đặc trưng là gõ kiến xanh hông đỏ, vẹt ngực đỏ, sả rừng, phường chèo nhỏ, sáo nâu, yến mào, te vặt cho tới các loài chim nước quý hiếm như ngan cánh trắng, quắm lớn hay hạc cổ trắng.

Anh Võ Rin cho biết để ngắm nhìn được nhiều loài chim, du khách nên chọn thời điểm giữa tháng 2 đến cuối tháng 4, cao điểm của mùa khô. Cây rừng rụng hết lá để chống chọi với thời tiết hanh khô của Tây Nguyên, do đó việc quan sát và chụp ảnh chim dễ dàng hơn. Ảnh: Võ Rin


Yến mào (chim trống) đang chăm con mới nở được hai tuần tuổi tại vườn Yok Đôn. Loài chim này có kích thước nhỏ, thân dài khoảng 20 cm, chim trống có mặt và phần cổ trên màu nâu nhạt nổi bật, có mào dựng và cánh dài màu xám. Chim mái giống chim trống nhưng không có phần màu nâu nhạt trên mặt và cổ họng. "Mùa yêu" của các cặp yến mào là những khoảnh khắc được các nhiếp ảnh gia canh chụp. Ảnh: Ngô Vũ Thắng


Một trong những loài hiếm ở vườn Yok Đôn là hạc cổ trắng, có sải cánh 75 - 91 cm, nhỏ hơn một chút so với các loài khác trong họ Hạc. Chim có đỉnh đầu màu đen, cánh và thân đen bóng tương phản với cổ trắng, mỏ đen với đầu mỏ màu đỏ đậm. Đây là loài định cư, sống ở vùng sình lầy, đất ngập nước và ven rừng, nhưng chỉ ở nơi trống trải.

"Loài này nhát người, muốn chụp phải dậy thật sớm, hơn 4h sáng là tôi di chuyển vào bãi chúng thường ăn, ngụy trang kỹ và chờ trời sáng lúc chim đi ăn mới chụp được. Bức ảnh trên tôi chụp khi chim ăn xong và lượn quanh bãi ăn ở tầng thấp", anh Võ Rin, nhiếp ảnh gia đã chụp 405 loài chim tại Việt Nam, chia sẻ. Ảnh: Võ Rin


Diều hoa Miến Điện là loài định cư phổ biến tại Yok Đôn, sải cánh 51 - 71 cm. Chim thường đậu cao trên các cây khô và khi sà xuống đất thì ve vẩy đuôi từ bên này sang bên kia, sinh cảnh ở các vùng rừng núi, có chỗ tới độ cao gần 2.500 m và làm tổ từ tháng 1-10.

"Buổi trưa tôi quan sát thấy chim đậu trên cây khá cao, đến 15h thì gặp lại và lần này nó đậu ở nhánh cây thấp khá lâu, quay phần lưng so với hướng ống kính máy ảnh trong ôtô, cách vị trí nó đậu khoảng 6 m. Không bỏ lỡ cơ hội này, tôi chụp ngay", anh Võ Rin kể. Ảnh: Võ Rin


Một trong những loài chim ấn tượng ở Yok Đôn là hù trán trắng. Đây là loài cú nhỏ, thân dài khoảng 20 cm, săn mồi ban ngày. Chim có lông mày trắng rậm, lòng mắt vàng nổi bật, thân trên màu xám nâu với nhiều điểm trắng và thân dưới trắng với nhiều sọc nâu trên ngực.

Nhiếp ảnh gia Thùy Linh cho biết khi quan sát thấy con hù trán trắng đậu trên nhánh cây, gặp gió mạnh đung đưa cành nên chim vụt bay đi. Cô may mắn lia máy chụp được khoảnh khắc này. Ảnh: Nguyễn Thùy Linh


Sả rừng, loài phổ biến trong vườn Yok Đôn. Chim trưởng thành có sải cánh 17 - 20 cm. Tại Việt Nam, loài này còn phân bố ở rừng Mã Đà (Đồng Nai), VQG Cát Tiên (địa phận Tân Phú, Đồng Nai), VQG Tràm Chim (Đồng Tháp) và rừng ngập mặn Cần Giờ (TP HCM). Ảnh: Võ Rin


Các nhiếp ảnh gia chia sẻ, du khách muốn xem và săn ảnh chim phải thức dậy sớm chuẩn bị hành trang và sẵn sàng vào 5h30, thời điểm ngắm chim tốt nhất trong ngày.

Yok Đôn có 17 loài gõ kiến, gồm loài gõ kiến xanh hông đỏ (chim trống). Đây là loài có kích thước lớn trong nhóm gõ kiến, thân dài tới khoảng 33 cm. Chim mái có đầu đen với sọc dài xuống đến gáy, cổ và hai bên gáy màu vàng chanh. Chim trống tương tự chim mái nhưng có mảng đỏ trên đỉnh đầu. Loài này thường kiếm ăn gần gốc cây, hốc đất để tìm mối. Ảnh: Ngô Vũ Thắng


Loài trèo cây bụng hung có kích thước trung bình trong nhóm trèo cây, thân dài khoảng 13 cm. Chim có đỉnh đầu và thân trên màu xám, sọc đen qua mắt nổi bật, thân dưới đỏ hung đậm với nhiều mảng lông bao đuôi trắng. Chim mái giống chim trống nhưng thân dưới nhạt màu hơn.

Thùy Linh, nhiếp ảnh gia sinh năm 1991, chia sẻ rằng chụp loài chim này khá vất vả, muốn có ảnh đẹp không dễ vì kích thước của chúng nhỏ và tốc độ di chuyển nhanh khi tìm mồi dọc thân cây. Vì thế người chụp phải cầm máy trên tay di chuyển nhanh theo nó. Ảnh: Nguyễn Thùy Linh


Vườn quốc gia Yok Đôn nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 200 m so với mặt biển, tại km38 tỉnh lộ 1, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, cách TP Buôn Ma Thuột khoảng 40 km về phía bắc.

Trong những năm qua, cùng với công tác quản lý, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học, VQG Yok Đôn còn tổ chức nhiều hoạt động du lịch sinh thái và giáo dục môi trường. Các dịch vụ phổ biến là trải nghiệm với voi, cắm trại, ngắm chim, đi bộ, đạp xe dưới tán rừng khộp hay đi thuyền trên sông Sêrêpôk ngắm núi rừng, muông thú. Ngoài ra, du khách có thể tới các buôn làng ở vùng đệm VQG như Jang Lành, Đrăng Phôk hay Buôn Đôn tìm hiểu văn hóa đặc sắc của người Êđê, M’nông hay người Việt gốc Lào ở đây.

Trong tháng 2 - 3 vừa qua, nhóm nhiếp ảnh gia gồm Ngô Vũ Thắng, Võ Rin và Nguyễn Thùy Linh đã thực hiện nhiều chuyến trải nghiệm săn ảnh các loài chim tại Yok Đôn. Ảnh: Võ Rin

Huỳnh Phương

Linh thiêng nghĩa trang cá Ông lớn nhất Việt Nam

đăng 01:33, 5 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Ít có địa phương nào ở Nam Bộ lại có mật độ đền thờ cá Ông nhiều như ở Bà Rịa-Vũng Tàu. Dọc bờ biển Bà Rịa-Vũng Tàu có đến 10 ngôi đền thờ cá Ông. Đặc biệt ở làng chài Phước Hải, ngư dân còn dành hẳn một khu đất rộng hàng ngàn mét vuông để chôn cất cá Ông với những nghi lễ trang trọng.

Nghĩa trang cá Ông gồm có năm phần: Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải đại tướng quân, miếu thờ Quan thế âm Bồ Tát, miếu thờ Thổ công, miếu thờ Thiên quan Tứ phước và khu vực mộ táng cá voi

Nghĩa trang đặc biệt

Nằm sát bờ biển thuộc làng chài Phước Hải, huyện Đất Đỏ, Bà Rịa-Vũng Tàu, Ngọc Lăng Nam Hải được xem là nơi an táng cá Ông lớn nhất Việt Nam hiện nay, nơi đây có khoảng 100 ngôi mộ cá Ông chưa cải táng.

Nghĩa trang cá Ông luôn có nhiều ngư dân đến cúng viếng, cầu mong may mắn mỗi lần ra khơi

Nghĩa trang cá Ông được xây dựng từ năm 1999, nằm cuối làng chài Phước Hải, sát bờ biển. Nghĩa trang rộng khoảng 3.000 m2, cách đền thờ cá Ông của làng khoảng 2 km. Mặc dù tục táng cá Ông diễn ra ở nhiều làng chài Việt Nam nhưng đây có thể xem là nghĩa trang cá Ông “độc nhất vô nhị”.

Tại nghĩa trang cá Ông hiện có khoảng 100 ngôi mộ cá Ông

Làng chài Phước Hải được xem là làng chài tổ chức tang ma, chôn cất cá Ông rất cẩn thận và tập trung vào một chỗ. Bởi lẽ ở những vùng biển khác, ngư dân chỉ chôn cá Ông rải rác xung quanh đền thờ. Hiện nghĩa trang cá Ông có khoảng 100 ngôi mộ chưa cải táng, ngoài ra tại Dinh Ông Nam Hải đang lưu trữ khoảng 400 bộ hài cốt của cá Ông.

Mỗi khi cá Ông lụy, ngư dân Phước Hải luôn tiếp đón bằng những nghi lễ trang trọng. Ảnh: Tư liệu

Nghĩa trang cá Ông gồm có năm phần: Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải đại tướng quân, miếu thờ Quan thế âm Bồ Tát, miếu thờ Thổ công, miếu thờ Thiên quan Tứ phước và khu vực mộ táng cá voi.

Trên đầu các ngôi mộ đều có bát hương và bia đúc xi măng ghi rõ “Nam hải chi mộ” cùng ngày tháng ông “lụy” theo cách gọi của người dân địa phương. Đặc biệt hơn toàn bộ công trình và mộ cá Ông đều có hướng nhìn ra biển

Trên đầu các ngôi mộ đều có bát hương và bia đúc xi măng ghi rõ “Nam hải chi mộ” cùng ngày tháng ông “lụy” theo cách gọi của người dân địa phương. Đặc biệt hơn toàn bộ công trình và mộ cá Ông đều có hướng nhìn ra biển.

Hiện nghĩa trang cá Ông có khoảng 100 ngôi mộ chưa cải táng, ngoài ra tại Dinh Ông Nam Hải đang lưu trữ khoảng 400 bộ hài cốt của cá Ông. Tất cả mộ cá Ông và các đền thờ đều hướng ra biển

Vào năm 2006, Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải chính thức hoàn thành, trong điện thờ chính có bức di ảnh khổ lớn và tượng ba cá voi nằm song song, hướng ra biển. Theo như tìm hiểu thì có đến bốn loại Ông, đó chính Ông Kiềm, Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu. Trong đó Ông Kiềm chính là cá voi qua đặc điểm có phần mỏ đưa ra dài, còn ba Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu thì có phần đầu bằng hơn.

Lăng thờ Lệnh Ông Nam Hải đại tướng quân được xây dựng khang trang ngay trung tâm nghĩa trang, hằng ngày có nhiều ngư dân đến đây cầu mong sự độ trì từ cá Ông mỗi lần ra khơi.

Linh thiêng nghĩa trang cá Ông

Ở nghĩa trang cá Ông có một ngôi Miếu thờ đức Quan thế âm Bồ Tát được xây cất sát mé biển. Có một truyền thuyết thường được ngư dân ở đây truyền tụng nhau kể lại, Phật Quan thế âm Bồ Tát được Thượng đế ban cho chức Nam Hải Bồ Tát để cứu nạn con người trên biển cả. Phật bà xé chiếc áo cà sa làm vạn mảnh thả khắp mặt biển rồi dùng phép màu hóa thành cá ông để cứu giúp thuyền bè gặp nạn, phong cho cá Ông chức Nam Hải Đại vương.

Trong điện thờ chính có bức di ảnh khổ lớn và tượng ba cá voi nằm song song, hướng ra biển. Theo như tìm hiểu thì có đến bốn loại cá Ông, đó chính Ông Kiềm, Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu.

Điều đó cũng một phần lý giải tại sao người dân ở những làng chài lại có đức tin về sự giúp đỡ của cá Ông, họ coi cá Ông là vị thần hộ mệnh giữa biển khơi. Cá Ông giúp ngư dân vượt qua những hiểm nguy, tai nạn, thậm chí cứu người bị nạn trên biển, đồng thời giúp cho ngư dân có những chuyến đi biển may mắn, tôm cá đầy khoang.

Hằng ngày, tại Nghĩa trang cá Ông có nhiều ngư dân đến làm lễ cầu mong được nhiều may mắn, tai qua nạn khỏi, cá luôn đầy khoang.

Ông Nguyễn Văn Được, ngư dân làng chài Phước Hải, cho biết: “Tôi thường xuyên đến nghĩa địa này để thắp hương, cầu khấn mỗi lần chuẩn bị ra khơi. Tôi tin rằng mỗi chuyến đi luôn được cá Ông phù hộ để tai qua nạn khỏi cũng như cá luôn đầy khoang”.

Năm 2011, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã trao bằng công nhận nơi đây là Nghĩa địa cá Ông lớn nhất Việt Nam.

Tại Dinh Ông Nam Hải cũng ở làng chài Phước Hải hiện đang lưu giữ hàng trăm bộ hài cốt cá Ông. Mỗi bộ đều ghi tên chiếc ghe đã có công đưa Ông vào bờ và ngày Ông lụy. Trong số này có bộ cốt cá Ông dài khoảng 3 m, nặng khoảng 2 tạ, được lồng trong một tủ kính riêng. Đây là cá Ông được ngư dân Phước Hải phát hiện cách đây bảy năm.

Sau ba năm chôn cất sẽ làm lễ cải táng đưa hài cốt cá ông từ lăng về Dinh Ông Nam Hải cách nghĩa trang khoảng 1 km để thờ, nhường đất an táng cho những cá ông khác.

Khi đó, Ông mắc cạn sát bờ, cả làng tìm cách đưa Ông ra khơi nhưng sóng lại đánh dạt Ông trở lại. Các cao niên trong làng bèn quyết định đưa Ông vào đặt trong Dinh, chờ hai ngày sau Ông trút hơi thở cuối cùng mới tổ chức đám tang.

Dinh Ông Nam Hải thờ nhiều vị thần, trong đó bàn thờ Ông Nam Hải được đặt ở trung tâm

Trong dân gian, ngư dân vẫn tin rằng khi Ông lụy thì sẽ có một Ông khác kê lưng dìu vào bờ, sau đó phun lên vòi nước để ngư dân trông thấy đưa đi an táng.

Tại Dinh còn có một nhà thờ phụng khác nữa, nơi đây lưu trữ hàng trăm hài cốt cá Ông trong tủ kiếng. Theo ông Lê Văn Hời, Trưởng ban nghi lễ Dinh Ông Nam Hải, cho biết: “Số lượng hài cốt cá Ông giờ đây quá nhiều, tủ kiếng đã chật kín. Sắp tới đây, tôi sẽ trình nên các cơ quan, ban, ngành xây dựng một nơi lưu trữ hài cốt của cá Ông tại một nơi mới”.

Theo tập tục của ngư dân Phước Hải, khi phát hiện Ông lụy, dù đang đánh bắt ở đâu, ngư dân cũng phải tìm cách đưa Ông vào bờ để làm đám tang. Người phát hiện Ông lụy đầu tiên được xem là trưởng nam, thay mặt dân làng thắt khăn trắng chịu tang, hằng năm cúng giỗ. Sau ba năm đối với cá Ông nhỏ, còn cá Ông lớn thì phải năm năm, dân làng làm lễ Thượng ngọc cốt thỉnh vào Dinh thờ rồi mới được xả tang.

Trên bệ thờ có một bộ hài cốt cá Ông còn nguyên vẹn bên cạnh là hai tượng cá. Theo người dân địa phương, sở dĩ đúc tượng cá như thế là để con cháu sau này biết khi đi biển lỡ có đánh lưới nhầm cá Ông thì phải nhanh chóng thả Ông về biển.

Nhiều ngư dân Phước Hải còn truyền miệng nhau những câu chuyện huyền bí và sự linh thiêng của cá Ông. Ông Lê Văn Lợi, Trưởng ban Quản lý Dinh Ông Nam Hải, cho biết: “Trước đây thường có nhiều ngư dân đến đây để xin răng của cá Ông. Họ tin rằng khi có được nó thì khi ra khơi họ sẽ luôn nhận được may mắn và chống được bệnh tật”.

Dinh Ông Nam Hải không chỉ là nơi an táng, hỏa táng cá Ông mà còn là nơi diễn ra nhiều nghi lễ và các sự kiện quan trọng khác.

Hằng năm, cứ vào ngày 16-2 âm lịch, làng chài Phước Hải lại tổ chức lễ nghinh Ông. Còn đối với những người đã từng chịu tang cá Ông sẽ đem lễ vật cúng viếng. Tất cả mọi người từ mọi miền đến đây luôn cầu mong được sự may mắn, độ trì từ cá Ông.

Chính vì những điều đặc biệt đó mà năm 2011 Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã trao bằng công nhận nơi đây là Nghĩa địa cá Ông lớn nhất Việt Nam, điều đó làm cho những người như ông Điện luôn cảm thấy tự hào và quý trọng đối với Nghĩa địa cá Ông tại làng chài Phước Hải.

Việc chôn cất và thờ cúng cá Ông không chỉ là yếu tố tâm linh mà từ lâu đã trở thành một nét đẹp văn hóa của cư dân miền biển trên cả nước

Từ một sinh vật khổng lồ sống dưới biển khơi, cá voi được huyền thoại hóa qua chuyện cứu người gặp nạn trên biển và trở thành vật linh thiêng đối với người làm nghề biển ở phía Nam. Việc thờ cá Ông đối với dân vạn chài là trách nhiệm và bổn phận. Họ coi đó như một cách đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả.

Khi đến nghĩa trang đặc biệt này, người ta như có cảm giác bình an, yên ổn giữa chốn đời thường xô bồ. Sự bình an này vốn dĩ như có sẵn được duy trì từ nhiều đời nay bên làng chài này.

Hữu Nhật – Đức Nam

Đăk Nông – bản trường ca của Đá và Nước

đăng 07:00, 29 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 07:05, 31 thg 3, 2021 ]

Trải qua hàng triệu năm, những đợt phun trào dữ dội của núi lửa cùng với sự kiến tạo đặc biệt của vỏ trái đất đã tạo nên một Công viên Địa chất toàn cầu Đăk Nông có hệ thống hang động, những cánh đồng dung nham, thác nước hoang sơ, kì vĩ… với vẻ đẹp nguyên sơ, huyền hoặc như những cảnh quay ấn tượng trong phim “Công viên kỉ Jura” của đạo diễn Steven Spielberg.

Krông Nô – “vương quốc” hang động núi lửa

Krông Nô là huyện nằm ở phía Đông Bắc, cách thành phố Gia Nghĩa, thủ phủ tỉnh Đăk Nông khoảng 100km. Đây được xem là vùng lõi của Công viên Địa chất toàn cầu Đăk Nông, là “vương quốc” núi lửa và khoảng 50 hang động núi lửa có một không hai trên thế giới.

Lịch sử phát triển địa chất của Đắk Nông có từ kỉ Jura cách đây khoảng 200 triệu năm về trước và vùng đất này vốn từng là một phần của đáy đại dương mênh mông. Mãi đến kỉ Paleogene (cách đây khoảng 60 triệu năm), nước biển rút đi, mặt đất nâng cao và bắt đầu xuất hiện các ngọn núi lửa để rồi từ đó nhiều đợt phun trào bazan kéo dài cho đến cách nay khoảng 10.000 năm thì mới kết thúc.

Đặc biệt, sự phun trào dữ dội của ngọn núi lửa Chư B’luk ở khu vực xã Buôn Choa’h, huyện Krông Nô ngày nay được xem là đã tạo ra một hệ thống hang động núi lửa có một không hai trên thế giới. Vì vậy, quanh khu vực núi lửa Chư B’luk người ta phát hiện rất nhiều hang động núi lửa có cấu tạo độc đáo. Điển hình như các hang C7, C9, C6.1, C6…

Với rất nhiều đặc điểm ghi dấu ấn phát triển của tự nhiên, của các tầng kiến tạo địa chất, hang C9 Chư Bluk cũng như các hang động khác trong quần thể đang là điểm đến hấp dẫn cho những ai đam mê khám phá, tìm hiểu quá trình thay đổi của thiên nhiên. Ảnh: Công Đạt

Miệng hang núi lửa C8, thuộc quần thể hang động núi lửa Chư B'luk, miệng hang như một vực thẳng đứng, không có đường xuống. Ảnh: Công Đạt

Vẻ đẹp của mái vòm bên trong hang C9, khi chiếu ánh sáng vào, các vách đá dung nham hiện lên lấp lánh. Ảnh: Công Đạt

Lòng hang động núi lửa C9 rất rộng, trần hang cao trên 12 mét, lòng hang rộng 15 mét. Ảnh: Công Đạt


Gỗ hóa thạch và đá mã não hình thành do kiến tạo địa chất ở Công viên địa chất toàn cầu Đăk Nông được tìm thấy tại huyện Cư Jut và huyện Đăk Min. Ảnh: Công Đạt

Nằm trên địa bàn huyện Krông Nô, núi lửa Nâm Kar là một trong những núi lửa đẹp nhất trong khu vực Công viên địa chất Đắk Nông. Ảnh: Công Đạt

Núi lửa Nâm Kar hoạt động cách ngày nay khoảng 5 triệu năm trước. Những dấu tích của sự phun trào đã tạo thành những khung cảnh tuyệt đẹp xung quanh miệng núi lửa này. Ảnh: Thanh Hòa

Con đường đá nham thạch trong hành trình khám phá chuỗi hang động núi lửa Chư B'Luk ở huyện Krông Nô. Ảnh: Công Đạt

Du khách khám phá vẻ đẹp hoang sơ của Công viên địa chất toàn cầu Đăk Nông. Ảnh: Công Đạt

Từ thị trấn Đăk Mâm, trung tâm huyện Krông Nô, chúng tôi nai nịt gọn gàng với đầy đủ ba lô máy móc tác nghiệp, thực phẩm… và đương nhiên không thể thiếu những chiếc đèn pin đặc dụng để bắt đầu cuộc hành trình dài khám phá “vương quốc” hang động núi lửa Krông Nô.

 

Các nhà khoa học còn phát hiện ra dấu tích rõ ràng về hoạt động sinh sống của người tiền sử cách đây từ 7.000-10.000 năm ở trong các hang động của Công viên địa chất toàn cầu Đăk Nông. Đây là một điều hiếm gặp ở các hang động núi lửa từng được phát hiện trên thế giới.
Tại hang C9, hang động núi lửa nằm gần núi Chư B’luk nhất, chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xuống tới đáy hang sâu cách mặt đất khoảng gần 20m. Qua luồng ánh sáng chiếu vào từ miệng hang, một khung cách ngoạn mục hiện ra giống như những cảnh quay trong phim “Công viên kỉ Jura” bởi hình ảnh những khối dung nham bazan đông cứng nhiều màu sắc, hình dáng nằm chồng chất lên nhau cùng với một khu rừng địa y, dương xỉ và vô số những loài thực vật thân mềm khác mọc lên xanh mướt khiến cho khung cảnh huyền hoặc như đưa con người du hành về thuở sơ khai của trái đất.

Đi sâu vào bên trong, dưới ánh đèn pin hiện lên những vách đá bazan nổi vân nâu đỏ, đây là sản phẩm của những dòng dung nham đã nguội lạnh qua hàng triệu năm lại phản chiếu nên những sắc màu kì lạ. Dưới nền hang, người ta vẫn còn phát hiện ra những lớp tro xỉ núi lửa đã bị phong hóa mạnh qua thời gian.

Ông Nguyễn Văn Thuấn, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam từng nhận xét rằng, so với hang động núi lửa ở một số nước trên thế giới như hang động núi lửa Manjanggul Lava trên đảo Jeju - biểu tượng của du lịch Hàn Quốc, thì hệ thống hang động núi lửa ở Krông Nô còn rộng lớn và hấp dẫn hơn nhiều.

Bản trường ca của Đá và Nước

Trải qua hàng triệu năm, sự kiến tạo địa lý tạo nên những đới đứt gãy cùng với quá trình phun trào dung nham của núi lửa, địa hình Đăk Nông có những biến đổi lớn khiến cho dòng chảy của các con sông Sêrêpôk, sông Đồng Nai thay đổi tạo nên những khu vực lòng hồ, thác nước tự nhiên hùng vĩ tuyệt đẹp như: thác Lưu Ly, thác Trượt, thác Bảy Tầng, thác Gia Long, thác Đray Sáp…

Ngay tại thành phố Gia Nghĩa, ngọn thác Liêng Nung hùng vĩ cao hơn 30m được hình thành từ con suối Đắk Nia chảy qua vùng đất buôn N’Jriêng mang lại vẻ đẹp hoang dã của đại ngàn. Từ trên vách núi cao dựng đứng, ngọn thác như mái tóc dài của người thiếu nữ bung xõa trắng xóa giữa rừng già. Ngay dưới chân thác là một vòm hang hình hàm ếch rộng hàng trăm mét được tạo thành từ hàng trăm ngàn cột đá bazan xếp lớp hình như tổ ong phủ đầy dương xỉ và rêu xanh tuyệt đẹp.

Thác Đray Sáp là điểm nối liền giữa hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Ảnh: Công Đạt
Những lớp đá xếp chồng lên nhau độc đáo trên miệng thác Liêng Nung. Ảnh: Công Đạt

Thác đá granite (hay còn gọi là Thác Trượt) nằm trong Vườn Quốc gia Tà Đùng có cảnh quan trên nền đá granit hiện bắt mắt. Ảnh: Công Đạt

Lực lượng kiểm lâm tuần tra quanh khu vực Vườn quốc gia Tà Đùng. Ảnh: Công Đạt

Đồng bào Mạ, một trong những tộc người bản địa ở Đắk Nông sinh hoạt văn hóa cồng chiêng. Ảnh: Thanh Hòa

Hồ Tà Đùng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng – dãy núi cao nhất tỉnh Đắk Nông, nằm giữa cao nguyên Đắk Nông và cao nguyên Di Linh là một địa chỉ du lịch hấp dẫn. Ảnh: Công Đạt

Hay ở Krông Nô có cụm thác Gia Long – Đray Sáp được đánh giá là một thắng cảnh nổi tiếng nhất vùng Tây Nguyên. Ở đây đá, nước và rừng cây hòa quyện vào nhau như một bản hòa ca tuyệt diệu của núi rừng. Xung quanh khu vực thác nước những dòng dung nham bazan đã nguội sau hàng triệu năm kết khối tạo thành những vách núi, ghềnh thác với vô số hình thế kì lạ đẹp mắt hiếm nơi nào có được.
 

Ngày 7/7/2020, Công viên Địa chất Đắk Nông có diện tích 4.760 km2, bao gồm các huyện Krông Nô, Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk G’long và thị xã Gia Nghĩa của tỉnh Đăk Nông được UNESCO công nhận là Công viên Địa chất toàn cầu. Đây là Công viên Địa chất toàn cầu thứ ba ở Việt Nam.
Đặc biệt, Công viên Địa chất toàn cầu Đăk Nông còn là nơi quần tụ sinh sống hài hòa lâu đời của nhiều tộc người bản địa như M’Nông, Mạ, Êđê… với đời sống văn hóa, phong tục, tập quán phong phú, đa dạng và độc đáo. Và cũng chính từ những cộng đồng cư dân này đã sản sinh ra những di sản văn hóa đặc sắc của nhân loại, trong đó có Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, một kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Và đây cũng chính là quê hương của bộ đàn đá cổ được chế tác từ đá bazan có niên đại khoảng 2.500 năm, một trong những nhạc cụ lâu đời nhất của nhân loại.

Bà Tôn Thị Ngọc Hạnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông cho biết, việc gia nhập Mạng lưới Công viên Địa chất toàn cầu của UNESCO đồng nghĩa các loại hình di sản ở Đăk Nông từ nay không chỉ còn bó hẹp ở địa phương, quốc gia mà đã trở thành di sản chung của nhân loại và của các thế hệ mai sau. Vì vậy, Đăk Nông sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch để mời gọi đầu tư và thu hút du khách đến với Đắk Nông bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có việc tham gia các sự kiện xúc tiến du lịch trong nước và quốc tế.

Bài: Thanh Hòa - Ảnh: Công Đạt, Thanh Hòa

Yên Bái và giấc mơ Bhutan

đăng 01:01, 25 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 00:09, 3 thg 3, 2021 ]

Bhutan, xứ sở nhỏ bé bên triền Himalaya, nổi tiếng cả thế giới với mệnh danh "xứ sở hạnh phúc".

Ruộng bậc thang Yên Bái - Ảnh: NGỌC QUANG

Tân Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái Đỗ Đức Duy nhấn mạnh: “Yên Bái không cố tạo ra sự khác biệt mà mục tiêu rõ ràng là tạo ra triết lý phát triển cho riêng mình”. Đã tìm được mối quan hệ hữu cơ sống còn giữa môi trường và sản phẩm, từ đó tạo nên hiệu quả môi trường cho con người, gìn giữ được rừng, được ruộng, được mây trời. Chừng đó đã đủ để chờ đợi...

Đến Bhutan một lần 10 năm trước, những thôn làng yên ả cheo leo sườn núi, bên cánh rừng bạt ngàn nhiều lần trở đi trở lại trong những giấc mơ và cả những ước mơ tôi. Việt Nam của chúng ta đâu thiếu cơ hội để có những Bhutan.

Vậy nên khi nghe về "chỉ số hạnh phúc" mà tỉnh Yên Bái vừa đưa vào nghị quyết đại hội Đảng với những tiêu chí khá cụ thể: "sự hài lòng về cuộc sống, tuổi thọ trung bình, sự hài lòng về môi trường sống", giấc mơ Bhutan chợt náo nức sống dậy, thôi thúc chúng tôi lên đường, trở lại với những cánh rừng, bản làng Yên Bái…

Chúng tôi được chứng kiến những bước đi đầy hi vọng.

Hạnh phúc giữa những bậc thang

Ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải đã được công nhận là danh thắng quốc gia từ lâu, những tấm ảnh mê hồn chụp những bậc thang vàng lúa chín đã thu hút hàng vạn du khách quốc tế đến với Mù Cang Chải.

Những ngày cuối năm, hết mùa lúa chín lại đến mùa đổ nước, nguồn thu từ du khách đến ngắm ruộng có khi còn lớn hơn nguồn lợi từ lúa được thu hoạch. Những cư dân nhanh nhạy của Mù Cang Chải đã kịp làm du lịch với những homestay đơn sơ giàu bản sắc.

Chúng tôi ghé vào homestay của Giàng A Dê, một chàng trai người Mông ở xã La Pán Tẩn. Từ chỗ đỗ xe ôtô phải leo bộ lên con dốc dựng đứng, và như để đền bù cho chặng đường thở dốc, khi đứng trước sân nhà A Dê, tầm mắt tôi được phóng ra khung trời khoáng đạt của lớp lớp ruộng bậc thang.

Sau ngàn bậc ruộng kia là dãy núi xanh lơ, sau dãy núi là mây trắng và nắng vàng chan hòa trên thung lũng. Hôm nay mùa gặt đã đi qua, những bậc thang chỉ còn trơ gốc rạ mà vẫn đẹp mê hồn. Màu sắc như mách rằng vào mùa đổ nước hay vụ gặt nơi này còn long lanh xiết bao.

Giàng A Dê kể năm nay nguồn thu tụt hẳn vì đại dịch COVID-19, du khách quốc tế không có. Nhưng tranh thủ lúc vắng khách anh đã dốc sức làm thêm được hai cái bungalow để chuẩn bị cho mùa du lịch năm sau.

Ngắm tác phẩm, biết anh chàng này có năng khiếu bẩm sinh về văn hóa kiến trúc. Mấy năm qua, trong vùng có nhiều người làm nhà mới, những mái nhà lợp bằng gỗ pơ mu được họ gỡ ra thay bằng mái ngói. Dê âm thầm đi mua những mảnh gỗ pơ mu đẫm màu thời gian ấy về, tích lũy đến khi đủ thì dùng nó dựng hai căn bungalow này.

Giữa không gian của núi rừng, của mênh mông bậc thang ruộng lúa, được ở trong căn phòng có mùi hương gỗ pơ mu hàng chục năm, ngồi trước hàng hiên với một ly trà shan tuyết hay chén rượu ngô, có lẽ địa đàng trần gian cũng chỉ đến thế này.

Những homestay như của Giàng A Dê đang mọc lên ngày càng nhiều ở Mù Cang Chải. Sau những phút khinh khoái, chúng tôi chỉ còn một ước mong homestay hãy cứ chân chất thế này thôi, để Mù Cang Chải giữ được thiên nhiên trong lành, và rừng, và ruộng, để tiếng khèn Mông không bị lọt thỏm trong bêtông và đèn màu.

Kinh nghiệm bêtông hóa, phôi phai văn hóa bản địa từ những địa chỉ du lịch trứ danh đã không còn thiếu. Mù Cang Chải, hãy cứ bạt ngàn lúa, bạt ngàn cây, bạt ngàn rừng... Chúng tôi hỏi A Dê: "Khách du lịch thì quá vui, quá sướng rồi, còn A Dê thì sao? Coi bộ giữ rừng, ruộng, bản làng không dễ dàng cho những người như A Dê?".

Anh cười hóm hỉnh: "Trước đây cái ruộng lúa chỉ cho lúa cho gạo để no cái bụng. Giờ lại có thêm khách tới ngắm nhìn, chụp ảnh no con mắt. Vậy là cũng ruộng lúa đó, chỉ cần thêm chỗ cho khách đến ở ngắm lúa là mình tăng thu nhập. Dưới xuôi người ta phải bỏ hàng trăm tỉ đồng xây dựng kỳ quan cho khách tới ngắm mới thu được tiền mà…". A Dê cười sảng khoái, rồi hạ giọng nghiêm túc: "Khách nhà Dê mấy năm nay đến từ nhiều nước lắm. Mình không chỉ có thêm thu nhập mà còn được họ dạy tiếng Anh, dạy nấu các món ăn mới, vui lắm. Bù lại, họ cũng học thêm về văn hóa tập quán người Mông ta. Khách vui mình vui, khỏe. Cái này bây giờ gọi là kinh tế win-win đó. Vì thế mình càng phải giữ ruộng, giữ rừng, giữ thiên nhiên này. Không chăm giữ mà chỉ phá đi thì không có khách đến. Khách không đến thì không còn vui nữa đâu".

"Rừng và ruộng với chúng tôi là vấn đề sống còn" - bí thư Huyện ủy Mù Cang Chải Nông Việt Yên khẳng định. Ngay khi nhậm chức 2 năm trước, ông đã đặt mục tiêu số 1 là chăm lo rừng và ruộng. Để giữ môi trường thì cần giữ rừng là điều ai cũng đã biết, nhưng với người dân Mù Cang Chải, để chống sạt đất còn có ruộng bậc thang.

"Lên đây, tôi phát hiện người Mông ở Mù Cang Chải là những nghệ nhân làm ruộng bậc thang. Không chỉ làm ruộng ở quê nhà, họ còn đi sang tận Bắc Hà (Lào Cai), Xín Mần (Hà Giang) để làm ruộng bậc thang giúp dân bên ấy. Ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải không chỉ là ruộng lúa mà góp phần rất quan trọng để giữ đất.

Vùng đồi núi được dân canh tác thành ruộng bậc thang hầu như không xảy ra tình trạng sạt lở đất. Vì thế ở Mù Cang Chải để giữ đất không chỉ trồng rừng mà còn phải giữ và phát triển ruộng. Thuận lợi lớn hơn khi ruộng bậc thang là danh thắng, là nguồn lực để phát triển du lịch".

Đi tiếp những cung đường quanh co đèo dốc, những đồi ruộng bậc thang sắc màu dần nhường chỗ cho những cánh rừng bạt ngàn xanh. Chủ tịch huyện Mù Cang Chải Lê Trọng Khang tự hào kể: "Tỉ lệ che phủ rừng của Mù Cang Chải là 67%.

Nhiều năm trước, mỗi lần qua cung đường này, từ Khau Phạ đi lên, không chuyến đi nào chúng tôi không chứng kiến những trận cháy rừng. Nhưng mấy năm gần đây, những trận cháy rừng đã hiếm".

Chỉ vào mảng xanh mịt mùng trước mặt, ông Khang cặn kẽ: "Đây là khu rừng thông lớn nhất Tây Bắc, trước đây thuộc Lâm trường Púng Luông, giờ đổi thành Ban quản lý rừng phòng hộ Mù Cang Chải. Ở địa bàn các xã như Púng Luông, Nậm Khắt… gần mười năm nay không xảy ra vụ cháy rừng nào, có thể gọi đó là kỳ tích".

Ngày Tết ở Mù Cang Chải - Ảnh: NGỌC QUANG

Giữ hương cho rừng

Thật tình cờ, những sản vật, cây trồng đang trở thành những hình mẫu cho Yên Bái phát triển đều rất đậm hương: hương bưởi ở Đại Minh (huyện Yên Bình), hương quế ở Văn Yên, hương chè ở Suối Giàng (Văn Chấn), hương hoa hồng ở Nậm Khắt (Mù Cang Chải)...

Chúng tôi vào Đại Minh, một xã trứ danh về bưởi của huyện Yên Bình. Chủ tịch xã - anh Tạ Quang Công - là thạc sĩ về môi trường. Trong câu chuyện về phát triển cây bưởi ở Đại Minh, anh Công đưa ra mối quan hệ hữu cơ khá thú vị.

"Nguồn thu từ bưởi của Đại Minh mỗi năm tầm 50 tỉ đồng. Với một xã miền núi như thế này, đó là một con số lớn. Nhưng phải hiểu rộng hơn nữa: doanh thu 50 tỉ đồng từ bưởi có lợi cho môi trường sinh thái hơn 50 tỉ đồng doanh thu từ khai thác cát sạn hay khai khoáng".

Và quan trọng hơn nữa là vùng bưởi Đại Minh đã được cấp chứng nhận VietGap, sản phẩm bưởi đã vào được các siêu thị Vinmart hay Big C. Điều đó có nghĩa rằng người dân quê phải bảo vệ môi trường của mình thực sự tinh khôi. Bởi chỉ cần một nhà máy có khí thải, xí nghiệp có lò đốt... chắc chắn sẽ gây ô nhiễm môi trường, và như thế hàng trăm hecta bưởi Đại Minh sẽ không còn đạt tiêu chuẩn VietGap, sẽ bị "dội chợ" ngay. Vì chất lượng sản phẩm, chỗ đứng trên thị trường của mình, tự thân người dân có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái hơn bất cứ sự chỉ đạo nào.

Anh Tạ Quang Công dẫn chúng tôi vào vườn bưởi nhà ông Nguyễn Văn Định ở thôn Minh Thân. Đang mùa thu hoạch, sắc vàng của những quả bưởi lung linh bao nhiêu thì hương bưởi chín quyến rũ bấy nhiêu.

Với vườn bưởi này, gia đình ông Định thu mỗi năm tầm 400 triệu đồng. Xã Đại Minh còn nhiều hộ dân có thu nhập rất cao và ổn định từ bưởi như gia đình ông Trần Kim Tiến ở thôn Đại Thân, ông Tạ Minh Tân ở thôn Khả Lĩnh. Cái sự ràng rịt hữu cơ của thị trường thật là hữu hiệu.

Yên Bái còn nổi tiếng với vườn chè, đồi quế, những sản vật giá trị cao đòi hỏi môi trường phải tuyệt đối sạch. Và môi trường không chỉ mang lại chất lượng cho sản phẩm mà cho cả cuộc sống con người.

Chúng tôi không thể quên một đêm ngủ lại vương quốc chè Suối Giàng trong ngôi nhà lợp bằng gỗ pơ mu của người Mông dưới chân đỉnh núi Chông Páo Mùa. Tấm "ngói" bằng gỗ pơ mu ấy biết cong lên dưới ánh nắng trưa cho những tia nắng lọt vào nhà, soi "những hạt bụi thành hạt vàng".

Khi mưa xuống, mái gỗ ấy lại biết khép lại úp khít lên che những hạt mưa xiên khoai. Giữa rừng chè cổ thụ đẹp như bon sai, trong nếp nhà thơm mùi nhựa pơ mu và hương hoa chè dịu ngọt, ngồi bên bếp lửa, tự tay pha ấm trà với những búp móc câu phủ lớp tuyết óng ánh bạc, nhìn qua cửa sổ mây đang giăng màn trên đỉnh núi, hay phóng tầm mắt qua lan can hiên nhà sàn để thấy cánh đồng Nghĩa Lộ - Văn Chấn huyền ảo trong sương sớm, ngộ ra vì sao tên đất này là Suối Giàng. Giàng - đó là "miền Trời".

Rồi sẽ đến một ngày Tây Bắc của chúng ta cũng được gọi là "xứ sở hạnh phúc". Tại sao không?


Sải bước GNH

So sánh giữa GDP (tổng sản phẩm quốc nội) và GNH (tổng hạnh phúc quốc gia) để diễn dịch cụ thể, ta tạm hãy tưởng tượng một con người nơi đô thị, đầy đủ tiện nghi, đi trong chiếc xe hạng sang nhưng phải chờ hàng giờ vì tắc đường, mở cửa xe thì tắc phổi vì khói bụi, uống ly rượu đắt tiền nhưng tâm hồn trĩu nặng lo toan.

Còn ở một nơi chốn khác, người ấy cưỡi chiếc đạp, xe máy hay thậm chí đi bộ trên cung đường núi non, nâng chén rượu ngô không hóa chất, khinh khoái nhìn mây trên núi xa rồi ngồi xuống bên đường, rút từ balô ra cây sáo trúc để tấu lên những giai điệu tha thiết với quê hương.


LÊ ĐỨC DỤC - ĐỨC BÌNH

“Cá tính” vùng đất xứ Thanh trong cái nhìn địa - chính trị

đăng 01:00, 24 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Trong lịch sử Việt Nam, tỉnh Thanh Hóa là một thực thể địa lý bao gồm hai tính chất đối nghịch: Vừa là vùng đất khép kín có cấu trúc tự trị khá hoàn chỉnh, đồng thời, lại là vùng đất nằm ở vị trí trung chuyển giữa các con đường. Trong đó, đường bộ thiên lý (đường ở đồng bằng ven biển), thượng đạo (đường trên miền núi) và đường thủy (đường biển và sông) đều có tầm quan trọng vừa cho vùng đất, lại vừa cho cả quốc gia. Chính vị trí địa – chính trị đặc thù ấy đã góp vào quy định địa – tâm lý, cá tính vùng miền xứ Thanh.

Xứ Thanh, ngoài tính khép kín do chỉnh thể địa lý mang lại còn nằm ở vị trí trung chuyển quan trọng trong sơ đồ địa lý quốc gia (ảnh: Minh họa).

Quá khứ khép kín của địa lý Thanh Hóa được tạo nên bởi sự vây phủ của núi. Phía Bắc, dãy Tam Điệp hiểm trở ứng với cửa Thần Phù dữ dằn ngăn cách Thanh Hóa với miền Bắc. Phía Nam, dãy Hoàng Mai ăn ra tận biển, ngăn cách Thanh Hóa với Nghệ An. Về phía Tây, khối núi Trường Sơn khổng lồ dâng cao ngăn miền núi Thanh Hóa với vương quốc Ai Lao. Tuy thế, quá khứ khép kín không phải là một mối đe dọa cho vùng đất, khi vùng đất này, có thể tự túc để tồn tại nên do đó, khép kín trong một nghĩa nào đấy lại tạo nên lợi thế địa chính trị không nơi nào có. Thanh Hóa, đúng như các học giả Đông Dương nhận thấy, là một nước Việt Nam thu nhỏ khi có trong mình cả địa hình núi, trung du, đồng bằng và biển cả. Châu thổ sông Mã không quá trù phú nhưng đủ nuôi sống người Kinh/Việt của tỉnh trong quá khứ. Miền núi thì luôn phong túc, không biết đến sự đe dọa của nạn đói vốn ám ảnh lịch sử Việt Nam trong quá khứ. Thanh Hóa do đó khác với Bắc bộ, nơi đứt gãy địa lý miền núi và đồng bằng là rõ nét, vì thế, dân miền núi và dân Việt/Kinh ở châu thổ sông Hồng ít có sự giao lưu với nhau mật thiết. Tỉnh Thanh Hóa, địa lý đồng bằng và miền núi có một sự chuyển tiếp khá nhịp nhàng, nên vì thế, các khối dân trong tỉnh từ khởi thủy đã có sự giao lưu sâu đậm. Sự tổng hợp Việt – Mường – Thái ở tỉnh Thanh Hóa chính là do địa lý giao thông dễ tiếp cận nhào trộn, hòa lẫn nhiều trăm năm mà tựu thành.

Tuy khép kín nhưng lại nằm ở cực Nam của Đại Việt trong quá khứ, nên trên đà Nam tiến của dân tộc, các khối người Việt miền Bắc buộc phải tràn qua đây để lấn vào phương Nam. Tỉnh Thanh Hóa, do đó, tự nhiên trở thành một mắt xích địa lý giao thông quan trọng trên cả đường biển, sông, thiên lý Bắc – Nam và nhất là thượng đạo trên cao. Chính yếu tố này, khiến vùng đất không thể kín hoàn toàn mà phải gia tăng tính chất mở.

Biện chứng khép – mở này của địa lý giao thông vùng đất, chắc chắn đã góp phần vào quy định các tính cách tập thể cư dân tỉnh Thanh Hóa. Trong một ý nghĩa khái quát ban đầu, số phận của “tiểu vùng văn hóa” này được minh chứng sinh động, thuyết phục qua những “lát cắt” sau:

Thanh Hóa là một vùng đất trọng điểm của quốc gia, nơi mà phần lớn các thế lực chính trị Trung đại có nguồn gốc từ các nhóm Thanh Hóa (có thể nói, về cơ bản chỉ loại trừ hai vương triều Lý – Trần). Vì thế, Thanh Hóa là vùng đất của các truyền thống quật khởi, anh hùng của chủ nghĩa yêu nước mãnh liệt – nếu chủ nghĩa yêu nước được hiểu ở lớp nghĩa nổi trội quen thuộc lâu nay là kháng chiến chống ngoại xâm.

Thanh Hóa trong quá khứ là đất của vùng biên viễn. Địa lý Thanh Hóa luôn là điểm giáp ranh của Đại Việt và Chăm Pa, Ai Lao và sau này, phần nào đấy là Đàng Trong và Đàng Ngoài. Được quy định bởi địa lý gián cách với ảnh hưởng phương Bắc và cơ cấu đa tộc người, mô hình Hán hóa nếu có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn ở châu thổ Bắc bộ thì nó đã mờ nhạt đi ở Thanh Hóa. Lịch sử đã cho biết, chưa bao giờ những vùng đất trọng Nho học, hay nhà Nho - những người theo đuổi trật tự tôn quân lại có thể lên nắm chính quyền, bởi với họ, duy trì trật tự mới là lý tưởng Nho giáo, còn nổi loạn là phản nghịch, bất trung. Tuy thế, ở Việt Nam trong quá khứ, các hào trưởng, các thủ lĩnh địa phương, các phụ đạo, những người không quá coi trọng chủ nghĩa tôn quân, đức trung nhà Nho mới là những người nắm vận mệnh quyền lực quốc gia. Các thủ lĩnh gốc Thanh Hóa xuất thân chủ yếu hào trưởng, võ tướng có những mối liên hệ mật thiết với quyền lực tộc người. Vùng đất này, vì thế, đại diện cho cá tính “nổi loạn” vốn là khởi nguồn của chủ nghĩa anh hùng, quật khởi trong quá khứ.

Thanh Hóa là một vùng đất trong tư cách chỉnh thể tự trị khá cao do tính chất địa lý đưa lại, người xứ Thanh trước sự quá tải dân số đầu thế kỷ XX, như Robequain nhìn thấy, họ không cần phải tiến hành các giao lưu bên ngoài để phục vụ cuộc sống, vì, xứ sở này đã cung cấp cho họ đầy đủ tất cả các nhu cầu thiết yếu. Điều này, tạo thành tính khép kín của văn hóa xứ Thanh. Tính khép kín trong cư trú sẽ tạo nên sự cố kết chặt, sự đoàn kết tạo bởi mối liên hệ nội bộ của con người trong vùng đất. Vì thế, vào những thời điểm gay cấn của lịch sử, như khởi nghĩa Lam Sơn, nhóm Thanh Hóa đa tộc người này đã dễ dàng hơn trong sự chia sẻ một ý đồ chung phục quốc. Đó là cội nguồn của sự đoàn kết khi khơi gợi nên những tình cảm gắn bó chung với một vùng đất mà ký ức địa lý về nó luôn rất ổn định. Tuy thế, trong những hoàn cảnh xã hội phi chiến tranh và nhất là trong bối cảnh cần sự giao lưu mở rộng (như thời hiện đại) để phát triển thì tính khép kín lại trở thành tính cục bộ địa phương gây cản trở quá trình hợp tác và phát triển chung. Cần ý thức điểm mạnh và yếu này trong địa – chính trị, tâm lý lịch sử của tỉnh để có thể điều chỉnh hài hòa thì mới phát huy được hết nội lực của tỉnh.

Thanh Hóa, ngoài tính khép kín do chỉnh thể địa lý mang lại, như đã bàn ở trên nó còn nằm ở vị trí trung chuyển của quốc gia. Mà chính vị trí trung chuyển của một xứ khép kín này mới là nơi mà trọng tâm vấn đề rơi vào. Là điểm trung chuyển, Thanh Hóa có vị trí quan trọng trong sơ đồ địa lý quốc gia. Bước chân vào thời hiện đại, tính chất trung chuyển ấy càng được đề cao và trở nên quan trọng trong sự phát triển về mọi mặt của vùng đất vốn đã được tạo hóa ưu ái ban tặng cho quá nhiều đặc ân.

Cũng như bất cứ tỉnh, xứ, vùng, miền nào khác trong nước Việt Nam, cá tính của vùng đất là tổng hòa của nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó, những đặc trưng về địa – chính trị, văn hóa góp phần to lớn, hun đúc nên cá tính của vùng đất ấy. Và lẽ dĩ nhiên, song hành với nó luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực. Việc xây dựng con người theo những xu hướng thường đòi hỏi chúng ta phải nhận thức được cả hai mặt ưu và nhược, để từ đó, dù có hơi sáo ngữ, nhưng đúng là vậy, cần phải tạo dựng các chiến lược phát triển giáo dục con người theo hướng hạn chế cái nhược và phát huy ưu điểm của con người trong một vùng đất mà hàng năm lịch sử luôn là trái tim của nước Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến (Viện Văn học)

1-10 of 25

Comments