Những chuyến đi, những khám phá... và những điều suy tư...

Bài mới

  • “Hồn cốt” người làng Kon Kơ Tu Tiếng Ba Na, Kon Kơ Tu có nghĩa là làng cổ. Người dân trong làng còn giữ được nhiều nghề truyền thống, trong đó có nghề dệt thổ cẩm. Cùng ...
    Được đăng 05:19, 22 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện săn cá mập ở Vàm Nao Thuở ban sơ, loài cá mập nước ngọt từng vẫy vùng và “cát cứ” khu vực sông Vàm Nao. Ngày nay, những câu chuyện kỳ bí về loài “thủy quái ...
    Được đăng 04:32, 21 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Xuyên rừng khám phá núi Cấm Đó là tour du lịch hoàn toàn mới cho những ai yêu thích thiên nhiên, thích tự mình khám phá những điều thú vị. Thực hiện một chuyến xuyên rừng ...
    Được đăng 07:17, 20 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Về Phủ Quỳ xem người Thái làm du lịch cộng đồng Mô hình phát triển du lịch cộng đồng bản Hoa Tiến (Châu Tiến, Quỳ Châu, Nghệ An) đã mang lại những nét mới trong đời sống của đồng bào dân ...
    Được đăng 02:55, 17 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Người Sê đăng ở làng Kon Pring làm du lịch cộng đồng Người Sê đăng, làng Kon Pring phát huy giá trị văn hóa bản địa, cùng lợi thế khí hậu, cảnh quan biến nơi đây đang là điểm đến nhiều du ...
    Được đăng 01:42, 15 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 21. Xem nội dung khác »


“Hồn cốt” người làng Kon Kơ Tu

đăng 05:19, 22 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tiếng Ba Na, Kon Kơ Tu có nghĩa là làng cổ. Người dân trong làng còn giữ được nhiều nghề truyền thống, trong đó có nghề dệt thổ cẩm. Cùng với những nét văn hoá độc đáo khác, sản phẩm thổ cẩm và nghề dệt thổ cẩm là một trong những yếu tố góp phần tạo nên “hồn cốt” của người Ba Na.

Nặng nợ với nghề

Dường như là duyên nợ, sau hành trình khám phá tour du lịch ngược dòng sông Đăk Bla cùng với hai vị khách người Pháp và một hướng dẫn viên du lịch Kon Tum đến làng Kon Kơ Tu, xã Đăk Rơ Wa (thành phố Kon Tum) cách đây nhiều năm, thâm tâm luôn mách bảo tôi phải trở lại nơi này.

Thực ra không phải riêng tôi, có nhiều du khách tận trời Âu khi đến thành phố Kon Tum đều đến làng Kon Kơ Tu, bị vẻ đẹp tự nhiên và con người nơi đây “hút hồn” nên đã quay lại để tìm hiểu sâu hơn về những điều kỳ thú mà mình đã được nghe, được thấy, nhất là với những du khách thích trải nghiệm, khám phá những nét đẹp về văn hóa.

Sắp xếp công việc ổn thỏa, lần này, tôi quyết tâm không đi theo tour du lịch mà muốn bỏ thời gian nhiều hơn, “đi lang thang” một mình để khám phá những nét đẹp ẩn sâu trong đời sống hàng ngày của người Ba Na ở làng Kon Kơ Tu.

Biết được ý định của tôi, qua trò chuyện, chị Y Khiêm - Phó Chủ tịch UBND xã Đăk Rơ Wa mách nhỏ, người Ba Na ở làng Kon Kơ Tu hiện nay vẫn còn giữ được nhiều nghề truyền thống, nhất là nghề dệt thổ cẩm giúp cho nhiều chị em có cuộc sống ổn định. Đây là đề tài nhà báo có thể viết để động viên các chị em và góp phần mở hướng phát triển du lịch ở địa phương.

Chị em phụ nữ Ba Na đang dệt thổ cẩm 


Để tiện cho công việc, chị Y Khiêm cử anh Rơ Chăm Duy, cán bộ xã đưa tôi về làng Kon Kơ Tu.

Băng qua những tuyến đường bê tông mới mở dọc theo các làng sau UBND xã Đăk Rơ Wa, chúng tôi về làng Kon Kơ Tu. So với trước đây, nhiều tuyến đường trong làng Kon Kơ Tu bây giờ được bê tông. Đường làng bây giờ thoáng và sạch hơn. Giữa làng là ngôi nhà rông cao vút, mặt hướng ra sông Đăk Bla. Mái nhà rông hình lưỡi rìu, ngạo nghễ vươn lên giữa trời xanh. Xung quanh nhà rông, còn nhiều những ngôi nhà sàn giữ được phong cách cổ xưa.

Gần ngôi nhà rông là ngôi nhà sàn nhỏ xinh xắn của chị Y Xanh. Năm tháng trôi qua, nhưng tôi thấy chị Y Xanh vẫn không khác mấy như hồi tôi gặp lần đầu khi đến nơi đây - lúc tôi mới bước chân vào nghề báo. Tay chị dường như lúc nào cũng thoăn thoắt và mềm mại bên khung dệt. Kể cả khi nhỏ nhẹ trò chuyện với chúng tôi, chị vẫn không rời khung dệt.

Qua câu chuyện thân tình về nghề, chị kể chị bị khuyết tật ở chân không thể đi nương rẫy nên lấy nghề dệt làm kế mưu sinh. Chị học nghề dệt thổ cẩm từ mẹ, bà ngoại mình khi mới 15 tuổi. Cũng như bao cô gái khác, ngày trước người con gái Ba Na nào cũng biết trồng bông, kéo sợi, nhuộm sợi và dệt vải. Thổ cẩm được làm bằng sợi bông mềm mại và đẹp...

Tuy nhiên, kể từ khi sợi chỉ có mặt nhiều trên thị trường, chị em không còn phải tốn nhiều công sức trồng bông, xe sợi mà mua sợi về dệt. Dần dần nghề trồng bông thất truyền.

“Mình nhớ những tấm thổ cẩm bằng bông lắm, nó bền và đẹp, nhưng đành chịu thôi. Trồng bông tốn nhiều công sức quá, mình không có sức khoẻ để trồng...!” - chị Y Xanh thở dài luyến tiếc với thổ cẩm bằng bông.

Nhưng chị cũng như nhiều chị em Ba Na trong làng Kon Kơ Tu chỉ xem đó như một kỷ niệm đẹp của thời quá vãng, bởi các chị nhận thức được, theo thời gian, sự thay đổi của một số phương thức sản xuất trong quá trình phát triển là điều tất yếu, cái tiện ích hơn sẽ dần thay thế những cái phức tạp, ít hiệu quả. Chỉ có những ngành nghề truyền thống thì cần gìn giữ, vì đó là nét văn hóa, là bản sắc của mỗi dân tộc.

Các sản phẩm thổ cẩm chị Y Xanh cũng như các chị em trong làng Kon Kơ Tu dệt hiện nay nhiều là khăn choàng cổ, áo, chăn đắp, khố, túi xách... Nặng nợ với nghề, các sản phẩm của các chị dệt không thua kém với bất cứ nơi nào mà tôi từng được biết.

Giữ “hồn cốt” của dân tộc mình

Cần mẫn với nghề, nhưng theo chị Y Xanh nghề dệt thổ cẩm hiện chỉ góp phần ổn định đời sống, khó có thể làm giàu. Bởi theo chị, để dệt 1 tấm choàng mất ít nhất 5 ngày, nhưng bán chỉ được 400 nghìn đồng; 1 túi xách tay (kể cả công may) mất hơn 2 ngày, bán 300 nghìn đồng; 1 bộ áo-váy nữ mất 2 tuần (tính cả công cắt may), bán 1 triệu đồng; 1 áo nam mất 3-4 ngày, bán 300-400 nghìn đồng.... Đó là chưa tính tiền chỉ. Tiền chỉ thường chiếm trên 1/3 giá thành sản phẩm.

Điều khiến các chị em trong làng nặng nợ với nghề thổ cẩm là qua sản phẩm thổ cẩm, các chị em muốn giữ lại “hồn cốt” của dân tộc mình. Nếu để mất thổ cẩm, những dấu ấn của dân tộc cũng sẽ dần dần mất đi. Hơn nữa, đây còn là nghề làm nên nét đẹp và niềm tự hào của người phụ nữ Ba Na.

Theo quan niệm, ngày trước, người con gái Ba Na nào giỏi dệt vải, dệt đẹp được dân làng coi trọng và đánh giá cao. Ở những người con gái giỏi giang này dễ bắt được người chồng khoẻ mạnh, thật thà, giỏi săn bắn... (tiêu chuẩn ngày xưa). Còn những người con gái nào không biết dệt vải, sẽ khó bắt được người chồng mình ưng ý. Chị Y Xanh cho chúng tôi biết về quan niệm đánh giá về nết na của người phụ nữ Ba Na trong gia đình.

Các du khách trong và ngoài nước đều rất thích khám phá làng cổ 


Quan sát khách đến làng cổ Kon Kơ Tu tham quan, chúng tôi thấy khách rất thích thú khi xem các chị dệt thổ cẩm. Sản phẩm của các chị trở thành những món hàng kỷ niệm có giá trị và theo khách qua tận trời Âu.

Theo chị Y Xanh, trong làng còn có các bà, các chị Y Na, Y Mứt, Y Xenh, Y Yin... chuyên dệt thổ cẩm. Nhà chị Y Na còn là nơi lưu trú của nhiều khách Tây khám phá làng cổ trước khi họ theo thuyền độc mộc ngược dòng Đăk Bla hay muốn băng rừng, lội suối trở về với thiên nhiên trên những dãy đồi trong làng. 

Du khách có người cũng nặng nợ với người làng Kon Kơ Tu. Con gái bà Y Na lấy một kỹ sư người Pháp và vẫn thường đi về Việt Nam. Tại thời điểm tôi đến, nghe nói người kỹ sư người Pháp- con rể bà đang làm việc tại huyện Kon Plông. Tại nhà Y Na, tôi gặp một cháu gái “lai Tây” xinh xắn và đáng yêu đang được bà chăm nom.

Bà Y Na cũng thật lòng khi trao đổi với tôi nghề dệt thổ cẩm, kinh doanh thổ cẩm và người con rể Tây của mình. Song thấy bà bận bịu, tôi không dám làm phiền. Chồng bà- ông A Ben cũng đang bận rộn chuẩn bị đón một đoàn khách Tây vào tham quan và nghỉ tại nhà mình. 

Có người hỏi, điều gì khiến du khách thường tìm đến làng Kon Kơ Tu? Phải chăng đây là ngôi làng giữ được những nét cổ xưa nhất của người Ba Na về kiến trúc nhà rông, nhà sàn dài, không gian văn hoá cồng chiêng; người dân hiền hoà, mến khách và còn giữ nhiều phong tục, tập quán, hát kể sử thi (hơmon hơri), hát đồng dao (‘nhoi hơri), nghề truyền thống dệt thổ cẩm... Có lẽ là tất cả những điều trên cộng lại. Nhưng, theo tôi, sản phẩm thổ cẩm và nghề dệt thổ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên “hồn cốt” của người Ba Na.

Tự hào về nghề dệt thổ cẩm, chị Xanh còn tự hào về ngôi làng Kon Kơ Tu của mình. Trong tiếng Ba Na, “Kon Kơ Tu” có nghĩa là làng cổ. Trải qua bao biến thiên của thời gian, của lịch sử, nhưng người Ba Na vẫn thuỷ chung với ngôi làng cổ của mình. Ngược lại, làng cổ ôm ấp, bao dung và nuôi khát vọng người dân trên bước đường mưu sinh, vươn đến một tương lai tốt đẹp hơn.

Rời làng cổ Kon Kơ Tu, nhưng trong tôi vẫn còn mãi những hình ảnh đẹp về những người phụ nữ Ba Na bên khung dệt, về những sản phẩm thổ cẩm, về cái nét duyên ngầm của người phụ nữ bên trang phục thổ cẩm và bản chất chân thật của người dân nơi đây.

Có lẽ những nét đẹp truyền thống tạo nên “hồn cốt” của người Ba Na làng cổ đã khiến du khách luyến lưu- tôi lan man nghĩ trên đường trở về, kết thúc một hành trình khám phá đầy thi vị.

Bài và ảnh: VĂN NHIÊN

Chuyện săn cá mập ở Vàm Nao

đăng 04:32, 21 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Thuở ban sơ, loài cá mập nước ngọt từng vẫy vùng và “cát cứ” khu vực sông Vàm Nao. Ngày nay, những câu chuyện kỳ bí về loài “thủy quái” này vẫn được lưu truyền trong dân gian.


Qua phà Năng Gù, chúng tôi tìm về các lão “ngư phủ” một thời săn cá “khủng” ở Vàm Nao để nghe họ kể những câu chuyện “huyền bí” từng chạm trán với loài cá mập nước ngọt. 

Theo những “ngư phủ” ở đây, con sông Vàm Nao - nơi giao thoa nguồn nước sông Tiền và Sông Hậu, có chiều dài gần 7km, độ sâu từ 15-20m. Hàng năm, cứ vào mùa lũ, ghe xuồng lưu thông khó khăn. Dưới sông sâu lúc nào cũng có những loài cá dữ trú ẩn. Ông Chín Bé (79 tuổi, ngụ thị trấn Phú Mỹ, Phú Tân) là “ngư phủ” chuyên sống bằng nghề đánh bắt cá trên sông Vàm Nao, nay đã bỏ nghề nhớ lại: “Hồi còn nhỏ nghe cha tui kể lại, sông Vàm Nao cá mập nhiều lắm. Đêm xuống, nhất là vào những ngày trăng sáng, cá mập lội thành đàn săn mồi trên sông. Nếu ai lội ngang vào thời điểm này sẽ bị loài cá dữ ăn thịt. Muốn bắt được cá mập, bà con phải dùng lưới bủa ngang sông, nhưng cũng bị cá mập cắn rách lưới hoài”. 

Ngày nay, tại khúc sông Vàm Nao, ngư dân thả lưới cá bông lau thi thoảng dính cá mập con (loại từ 4-7kg/con). Chị Trần Thị Hương, con ruột ông Chín Bé, là người nối cái nghiệp của cha mình. Hàng đêm, chị Hương cùng chồng là anh Nguyễn Văn Mển lênh đênh trên chiếc ghe tam bản để thả lưới cá bông lau, cá cóc, cá kết, mè vinh… Chị Hương cho hay, mấy năm trước chị bủa tay lưới cá bông lau có chiều dài 400m, chiều sâu 14m tại khúc sông Vàm Nao. Khi đến ngã ba sông (đoạn gần phà Thuận Giang) dính lưới 2 con cá mập nước ngọt, nặng 4kg/con. Theo nhiều người có kinh nghiệm, loài cá mập này có nguồn gốc từ miệt dưới. Do quá trình di cư từ dòng nước mặn đến đoạn giáp mí nước ngọt, cá mập thích nghi dần trong môi trường nước ngọt. 

Gặp chú Nguyễn Ngọc Võ (54 tuổi, ngụ thị trấn Phú Mỹ) trên sông Vàm Nao, chú khoe rằng, đã trên 20 năm theo nghề hạ bạc của cha mình. Những năm trước, có lần chú Võ giăng lưới trên sông Vàm Nao dính được 1 con cá mập nước ngọt nặng 3kg. Mấy năm gần đây, khúc sông này bị ngư dân khai thác quá nên chỉ còn một số loài cá trú ngụ. Chú Võ cho biết thêm, sản lượng cá lớn trên sông Vàm Nao bị cạn kiệt dần do nạn khai thác bằng xung điện. Nhiều ngư dân đã bỏ nghề lên bờ tìm việc khác để mưu sinh. 

Xuôi dòng Vàm Nao, chúng tôi trở về đoạn ngã ba sông Chắc Cà Đao (thuộc sông Hậu, Châu Thành). Còn nhớ đầu năm 2018, tại khúc sông này, một ngư dân đã giăng lưới dính con cá mập dài 1,2m, cân nặng 29kg. Chị Vân (một tiểu thương chuyên thu mua cá ngon ở thị trấn An Châu, Châu Thành) kể lại, người bắt dính con cá mập là ông Nguyễn Văn Lành (54 tuổi, ở Chợ Mới). Đêm hôm đó, khoảng 21 giờ chị Vân nghe điện thoại từ người đánh bắt được cá kêu bán cá mập. Chị Vân cùng chồng xuống tận mé sông rọi đèn thấy con cá mập buộc vào be ghe vẫn còn quẫy đuôi. “Cha sanh mẹ đẻ mới thấy con cá mập nước ngọt to như vậy. Từ trước tới nay, tui chỉ mua cá bông lau, cá hô, cá cóc loại lớn, chứ chưa từng mua cá lạ như vậy” - chị Vân nhớ lại. 

Ông Nguyễn Hữu Hiệp (nhà nghiên cứu dân gian) nói rằng, thuở trước khúc sông Vàm Nao được thiên nhiên ban tặng nhiều loài “thủy quái” nước ngọt. Lưu dân đến đây đều lo sợ. Do đó, dân gian có câu: “Chèo ghe sợ sấu táp chưn, xuống sông sợ đỉa, lên rừng sợ ma” hay “Tới đây xứ sở lạ lùng, con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”. Từ đó có thể khẳng định, chuyện săn cá mập của ngư dân Vàm Nao là có thật. Ngày nay, trong quá trình khai thác thủy sản, bà con bắt được cá mập nhỏ (còn gọi là cá mập lắc) tại sông Vàm Nao. 

“Học giả Nguyễn Văn Hầu từng viết, sông Vàm Nao nối liền sông Tiền và sông Hậu (như hình chữ H), nơi từng chứng kiến biết bao thảm kịch thuở trước. Thời khẩn hoang, khúc sông Vàm Nao, cá mập “ngự trị” vô số. Lưu dân đào kênh Vĩnh Tế trốn chạy về quê muốn qua sông Vàm Nao phải tập hợp lại số đông. Sau đó, mỗi người ôm một cây chuối lội ngang một lượt để tránh cá mập ăn thịt”. 

LƯU MỸ

Xuyên rừng khám phá núi Cấm

đăng 07:17, 20 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đó là tour du lịch hoàn toàn mới cho những ai yêu thích thiên nhiên, thích tự mình khám phá những điều thú vị. Thực hiện một chuyến xuyên rừng trên núi Cấm, tìm hiểu những loài thuốc quý, cuộc sống an nhiên, tự tại của cư dân nơi đây và thưởng thức đặc sản núi rừng là những trải nghiệm rất khó quên.

Giữ rừng như giữ nhà 

Gắn bó gần cả đời với cánh rừng ở khu vực vồ Bạch Tượng (núi Cấm), ông Phạm Văn Hải coi việc đi thăm rừng, chăm sóc cây rừng, trồng cây thuốc như công việc thường nhật. Từng thân cây rừng, từng loại thảo dược ở vồ Bạch Tượng, ông Hải gần như biết hết. Những cư dân nơi đây, ông đều quen mặt. Ông “thuộc” những con đường rừng như trong lòng bàn tay. Trong đó có nhiều con đường dốc đứng, ngoằn ngoèo do chính ông Hải và những cư dân núi Cấm chung tay mở đường, lót đá trong suốt nhiều năm mới xong. “Hôm nào không đi thăm rừng lại thấy buồn. Có nhiều bữa vào rừng đã quá trưa, tôi ghé nhà những cư dân nơi đây ăn cơm, nghỉ ngơi, chiều lại về nhà. Ở núi Cấm này, mọi người đùm bọc, xem nhau như bà con thân thuộc” - ông Hải bộc bạch. 

Cũng là một người gắn bó lâu năm với công tác bảo vệ rừng, ông Bành Thanh Hùng, Trưởng phòng Bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên (Chi cục Kiểm lâm An Giang) như có mối lương duyên với vùng Bảy Núi, đặc biệt là tình cảm với núi Cấm. Hơn 20 năm trước, ông Hùng là người đã “kết duyên” những hộ dân tham gia giao khoán trồng và bảo vệ rừng trên núi Cấm. Hiện nay, nhiều hộ vẫn coi nơi đây là nơi định cư lâu dài. “Họ thủy chung với rừng, xem rừng như nhà nhưng bao năm qua, cuộc sống vẫn còn khó khăn, vất vả. Cần phát triển kinh tế rừng, nâng cao thu nhập, đời sống cư dân núi Cấm để xứng đáng với những gì họ đã bỏ ra” - ông Hùng tâm tư. 

Dựa vào những gắn bó với rừng nhiều năm, ông Hùng đã nghiên cứu đề tài và đề xuất Chi cục Kiểm lâm triển khai mô hình “Bảo tồn và trồng cây thuốc dưới tán rừng phòng hộ đầu nguồn”, với quy mô 22ha, tại tiểu khu 08, khoảnh 05, 06, thuộc vồ Bạch Tượng (ấp Vồ Đầu, xã An Hảo, Tịnh Biên). Từ năm 2017 đến nay, ông Hùng cùng Ban Quản lý rừng phòng hộ và những người tích cực như ông Phạm Văn Hải đã nỗ lực trồng, tái tạo nhiều loại cây thuốc, xây dựng khu bảo tồn và phát triển cây dược liệu trên núi Cấm. 

Muốn khám phá rừng núi, phải băng qua những đoạn dốc 


Trồng cây xạ đen trên núi Cấm 


Ông Bành Thanh Hùng bên con suối tự nhiên ở vồ Bạch Tượng 


Tiềm năng du lịch khám phá 


“Núi Cấm là ngọn núi nổi tiếng linh thiêng nhất trong dãy Thất Sơn hùng vĩ. Nơi đây có nhiều giai thoại huyền bí, tồn tại bao đời, thu hút sự tò mò của du khách. Khí hậu núi Cấm mát mẻ, trong lành, thanh khiết, được ví như “Đà Lạt thứ 2” của Việt Nam. Đây là yếu tố được du khách ưa thích. Tuy nhiên lâu nay, phần đông khách tham quan đến núi Cấm chủ yếu là du lịch tâm linh, đến viếng chùa lễ Phật rồi về. Trong khi đó, tiềm năng khai thác du lịch khám phá vẫn chưa được khai thác” - ông Bành Thanh Hùng đánh giá. 

Theo Trưởng phòng Bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên, với mô hình “Bảo tồn và trồng cây thuốc dưới tán rừng phòng hộ đầu nguồn”, có thể kết hợp phát triển du lịch sinh thái, xây dựng tour cho du khách băng ngang cánh rừng qua những đường mòn, lối mở. Khách có thể tìm hiểu về cây rừng, dược tính của các loại cây, cuộc sống độc đáo của cư dân miền sơn cước. Hướng dẫn viên cũng chính là những người giữ rừng. Với sự am hiểu của họ về núi Cấm, du khách có thể khám phá tường tận những hang, điện, vồ đá, con suối từng gắn với nhiều giai thoại, tâm linh. Kết thúc hành trình khám phá xuyên rừng, du khách có thể thưởng thức món bánh xèo rau rừng đặc trưng núi Cấm, cảm nhận món gà leo núi do cư dân nuôi thả tự nhiên, uống ly sâm rừng mát lạnh… 

Ông Hùng cho biết, bên cạnh công tác bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn, tái tạo cây thuốc trong phạm vi dự án, Chi cục Kiểm lâm An Giang còn khuyến khích doanh nghiệp liên kết với người dân trồng cây dược liệu trên núi Cấm. Doanh nghiệp cung cấp giống, người dân tham gia trồng, chăm sóc và được doanh nghiệp thu mua lại sản phẩm nên không lo đầu ra. Hiện nay, ở vồ Bạch Tượng, Cơ sở sản xuất dược liệu Thảo An (TP. Long Xuyên) đã triển khai trồng thử nghiệm cây xạ đen, loại dược liệu quý có nguồn gốc từ vùng núi Tây Bắc. Cây phát triển tốt, tiềm năng mở rộng mô hình liên kết với người dân khá lớn. “Việc doanh nghiệp đầu tư trồng cây thuốc vừa giúp bảo tồn, phát triển các giống cây dược liệu quý, vừa tăng thu nhập cho cư dân vùng núi để họ yên tâm giữ rừng. Những cây thuốc quý sẽ là yếu tố thu hút du khách thích khám phá. Họ được tận mắt chứng kiến sự phát triển của cây, tìm hiểu dược tính, tác dụng chữa bệnh nên hiểu rõ nguồn gốc, yên tâm mua sản phẩm về sử dụng” - ông Hùng phân tích. 

Chị Quách Yến Phượng, chủ Cơ sở sản xuất dược liệu Thảo An, là một người đam mê khởi nghiệp. Chị tỏ ra hứng thú với ý tưởng phát triển du lịch khám phá núi Cấm. “Việc xây dựng tour băng rừng sẽ tạo sức hút với người trẻ hiện nay. Họ có thể lên đỉnh núi Cấm bằng cáp treo, di chuyển qua vồ Bạch Tượng bằng xe máy rồi đi bộ men theo các lối nhỏ, đồi dốc khám phá núi rừng. Bên cạnh đó, có thể xây dựng những mô hình cho du khách cùng tham gia với người dân như: tự tay hái sâm núi vò nước, tự thu hoạch khổ qua rừng, hái rau rừng, tham gia bào chế cây thuốc… Khi được thưởng thức, mang về những sản phẩm do chính mình làm ra, du khách càng có những trải nghiệm thú vị hơn” - chị Phượng đề xuất. 

Bạn Hiếu Nguyễn check-in một điểm khám phá được 


“Giới trẻ ngày nay thích du lịch khám phá, tức phải tự mình tìm ra những điều thú vị, dù có vất vả hơn so với mô hình “sắp đặt” sẵn nhưng giúp trải nghiệm có ý nghĩa hơn. Chính trào lưu check-in, selfie, livestream, xây dựng group Zalo, Facebook, kênh riêng trên YouTube… của giới trẻ sẽ giúp quảng bá mô hình du lịch xuyên rừng khám phá núi Cấm rộng rãi hơn. Vấn đề quan trọng là cần có những điểm nhấn ấn tượng trong tour du lịch mới này”- bạn Hiếu Nguyễn, người tham gia tour du lịch thử nghiệm cùng Chi cục Kiểm lâm An Giang, nhận xét. 

NGÔ CHUẨN

Về Phủ Quỳ xem người Thái làm du lịch cộng đồng

đăng 02:55, 17 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Mô hình phát triển du lịch cộng đồng bản Hoa Tiến (Châu Tiến, Quỳ Châu, Nghệ An) đã mang lại những nét mới trong đời sống của đồng bào dân tộc Thái ở Quỳ Châu.

Đêm lửa trại của du khách tham gia du lịch HomeStay 


Ngược quốc lộ 48 về phía Tây Bắc, qua cánh đồng Tả Chum với những guồng quay con nước bên dòng sông Hiếu là làng Thái cổ Hoa Tiến. Nơi đây từng được ví là “mường đẹp” của Quỳ Châu với tên gọi cũ là Mường Chiêng Ngam. Là nơi lưu giữ văn hóa cổ của người Thái.

Một góc của huyện Quỳ Châu


Điểm nhấn đầu tiên trong tour du lịch cộng này là các gian hàng bán sản phẩm truyền thống, Làng Thái gốc Hoa Tiến, các nếp nhà sàn cổ. Điều trải nghiệm thú vị mà du khách khi đến đây đó là cùng với các mẹ, các chị giới thiệu văn hoá đặc trưng hoa văn của thổ cẩm thái...


Những guồng quay cọn nước bên dòng sông Hiếu


Về đây, du khách còn được giã gạo bằng tay, được tự mình vào bếp để chế biến các món ăn dân dã của đồng bào Thái. Đặc biệt, được hoà mình trong điệu nhảy sạp, khắc luống rộn ràng. Đây là dịp để người Thái gìn giữ và phát huy những nét đặc sắc, truyền thống của dân tộc.



Những trò chơi mà du khách được hòa mình cùng đồng bào các dân tộc


Chị Lê Na, du khách người Đức chia sẻ “Hôm nay là 1 trải nghiệm tuyệt vời với tôi. Tôi thực sự thích tham gia điệu nhảy sạp với mọi người. 

Ban đầu tôi nghĩ nhảy thật dễ nhưng khi bắt đầu nhảy tôi mới thấy bối rối nhưng mọi người rất tốt đã giúp tôi, và tôi rất thích. Tôi có cơ hội được gặp gỡ trò chuyện với người dân làng, tôi gặp các cô gái, những đứa trẻ, họ rất tốt bụng và lịch sự. Họ làm cho tôi cảm thấy như ở nhà mình...”.




Chị Lê Na, du khách người Đức cùng bạn bè tham được trải nghiệm những trong chuyến du lịch về với bản Hoa Tiến


Gia đình Bà Lô Thị Nga, bản Hoa Tiến 2, xã Châu Tiến là một trong 10 hộ tiên phong làm du lịch cộng đồng ở bản. Đây là năm thứ 3, nhưng đã thu hút được khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. 

Gia đình bà đã được huyện tổ chức tập huấn về cách thức làm du lịch cộng đồng, như: Giao tiếp, ứng xử, nấu ăn, được hỗ trợ một ít chăn gối đệm. 

Khách đến đây không thường xuyên, có ngày 1 đoàn khách, nhưng có ngày cũng đông tới 5-7 đoàn khách. Họ còn được ăn cùng, ở cùng với gia chủ như trong căn nhà sàn cổ kính, để cảm nhận cuộc sống bình dị, thuần phác, mến khách của người dân bản địa.



Những món ẩm thực mà du khách được thưởng thức


Bà Lô Thị Nga chia sẻ: “Gia đình làm Homestay cũng được 3 năm, gia đình thấy rất vui khi được cùng với du khách trải nghiệm các trò chơi dân gian, hướng dẫn làm dệt thổ cẩm, nấu các món ăn dân tộc, tôi rất là vui”.



Cùng nhiều trải nghiệm thực tế khác khi tham gia tua du lịch HomeStay tại bản Hoa Tiến


Ông Trần Vệt Đức, Trưởng phòng VHTT Huyện Quỳ Châu cho biết: “Du lịch cộng đồng Hoa Tiến là nét đẹp riêng biệt của huyện Quỳ Châu và cũng như của tỉnh, huyện. Nơi đây còn lưu giữ được nét cổ xưa từ những ngôi nhà sàn, nét thổ cẩm, làng thái cổ.

Trong những năm qua huyện đã ban hành Chương trình phát triển, đồng thời chỉ đạo xã hướng dẫn cho người dân để làm du lịch. Thời gian tới huyện tiếp tục mở các lớp tập huấn về du lịch cồng đồng, tham quan các mô hình trên địa bàn tỉnh".

ANH ĐỨC - KẾ KIÊN

Người Sê đăng ở làng Kon Pring làm du lịch cộng đồng

đăng 01:42, 15 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Người Sê đăng, làng Kon Pring phát huy giá trị văn hóa bản địa, cùng lợi thế khí hậu, cảnh quan biến nơi đây đang là điểm đến nhiều du khách lựa chọn.

Không mãi cam chịu đói nghèo lạc hậu, 70 hộ dân tộc thiểu số Sê đăng ở làng Kon Pring, xã Đăk Long, huyện đặc biệt khó khăn Kon Plông, tỉnh Kon Tum chọn hướng phát triển du lịch cộng đồng để phát triển kinh tế. Nhờ phát huy được giá trị văn hóa bản địa, cộng với lợi thế về khí hậu, cảnh quan môi trường, Kon Pring đang là điểm đến được nhiều du khách gần xa lựa chọn dịp Xuân này.

Kon Pring ẩn mình trong màu xanh của núi rừng. 


Sau hành trình vất vả trên 500km bằng xe khách, đôi bạn Nguyễn Thị Ngọc Dung và Nguyễn Quỳnh Trang, hiện là sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh có mặt tại làng Kon Pring, xã Đăk Long, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum trong một ngày đầu Xuân.

Ấn tượng trước cảnh thanh bình, nguyên sơ, lãng mạn và sự chân chất, mộc mạc, mến khách của người Sê đăng ở đây, bạn Nguyễn Thị Ngọc Dung nói: “Mọi thứ ở đây đều rất là đẹp. Rất giống như mong đợi của em. Mọi người sống trong làng, tạo sự gần gũi cảm thấy rất ấm áp. Em rất thích và mong muốn lần sau mình sẽ đến đây nữa”. 

Những Homestay ở Kon Pring 1,2. 


Cách đây chưa lâu 70 hộ dân tộc thiểu số Sê đăng nhánh Rơ nâm làng Kon Pring chưa hề biết tới hoạt động du lịch cộng đồng. Từ định hướng của chính quyền huyện Kon Plông và cá nhân chị Nguyễn Thị Thùy Trang, Công ty TNHH Một thành viên Du lịch Măng Đen Đại Ngàn, người dân ở đây bắt đầu tập làm du lịch. 

Theo gương những thành viên nòng cốt, như già A Lum, thôn trưởng A Rvét, chị Y Lim… người dân trong làng được khuyến khích giữ gìn truyền thống văn hóa, bảo vệ cảnh quan môi trường, ăn ở hợp vệ sinh… Làm chủ một quán nhỏ bán nước và tạp hóa phục vụ khách du lịch ngay sau Nhà rông của làng, anh A Tâm cho biết, việc này trước đây vợ chồng anh chưa hề nghĩ tới. Giờ thì thấy phù hợp với hoàn cảnh và sức khỏe của mình: “Tuổi già sức yếu rồi hai vợ chồng không biết làm gì. Hai vợ chồng xác định mở quán để bán lai rai cho khách du lịch. Ai đến có nhu cầu uống nước hay mua các mặt hàng. Bán quán có thu nhập để mình cân đối sức khỏe bản thân”. 

Để tạo động lực cho người dân làng Kon Pring làm du lịch cộng đồng, chính quyền huyện Kon Plông hỗ trợ dân làng trên 3 tỷ đồng bê tông hóa đường làng, đầu tư cho 3 hộ dân làm homestay đón khách lưu trú. Nhằm trang bị kiến thức kinh doanh du lịch cho bà con dân làng, chính quyền huyện đưa một số người dân đi tham quan thực tế cách làm du lịch cộng đồng ở miền núi phía Bắc. Đồng thời mở những lớp tập huấn kiến thức, kỹ năng tại chỗ cho bà con. Vượt qua bỡ ngỡ ban đầu, rồi cả tâm lý ngại giao tiếp với người lạ, người dân làng Kon Pring ngày càng tích cực tham gia hoạt động kinh doanh du lịch cộng đồng, nấu những món ăn truyền thống, múa cồng chiêng, phục dựng lễ hội để giới thiệu với du khách... 

Người Sê đăng ở Kon Pring bảo tồn được nhiều giá trị văn hóa truyền thống 


Chị Y Lim, chủ của một trong 3 homestay ý thức rất rõ vai trò của mỗi người dân trong quá trình kinh doanh du lịch cộng đồng và chị là trung tâm đoàn kết luôn đi đầu trong các hoạt động: “Trước hết làng là phải xanh, sạch, đẹp. Thứ hai nữa là không phải chỉ riêng bản thân tôi và cái nhà homestay đâu. Làm du lịch tất cả dân làng trong thôn cũng phải làm du lịch. Phải làm ra những sản phẩm. Bất cứ những cái gì mà mình làm ra được mình sẽ bán cho khách du lịch, như là chè dây, như là rượu ghè, giảo cổ lam, tiêu rừng. Bà con cùng làm du lịch”. 

Đến Kon Pring, du khách được hòa mình vào khung cảnh như thơ, như mơ của núi rừng; được trải nghiệm văn hóa truyền thống của người Sê đăng; say cùng tiếng cồng chiêng, nhịp xoang truyền thống; thưởng thức ẩm thực với nhiều món ăn, thức uống độc đáo, như gà nướng cơm lam, lẩu gà sâm dây, cá suối, tiêu rừng, rượu nghè nếp cẩm.v.v. Nhờ phát huy được tinh thần đoàn kết, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp lại sẵn có nhiều đặc sản văn hóa, chỉ sau một thời gian ngắn phát triển loại hình du lịch cộng đồng, làng Kon Pring, xã Đăk Long, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum đã là điểm đến của nhiều du khách trong và ngoài nước.


Chị Nghiêm Thị Anh Đào du khách đến với Kon Pring từ thành phố Hồ Chí Minh có những cảm nhận tốt đẹp: “Mình đến những nơi này là mình muốn trải nghiệm. Mình thấy dân làng người ta rất hiền lành, người ta rất hiếu khách”. 

Cùng cảm nhận trên em Trịnh Thục Khánh Ngọc nói: “Bình thường đi học trên trường học về lý thuyết vùng Tây Nguyên rất là nhiều. Khi tới đây thì mình được xem, thấy những nhà rông, nhà dài thật của họ nhìn rất là đồ sộ, hùng vỹ. Đẹp hơn trong những quyển sách giáo khoa”. 

Du khách thưởng thức văn hóa ẩm thực của người Sê đăng 


Mạnh dạn chọn hướng đi mới để thoát đói nghèo lạc hậu, người Sê đăng ở làng Kon Pring, xã Đăk Long, huyện đặc biệt khó khăn Kon Plông, tỉnh Kon Tum giờ đã có thêm thu nhập từ việc phát triển du lịch cộng đồng. Không ít hộ dân mỗi tháng có thu nhập trung bình từ 3 đến 5 triệu đồng nhờ tham gia hoạt động đưa đón, phục vụ du khách. Người Sê đăng ở làng Kon Pring trước đây vốn chỉ biết đến cây lúa, cây ngô thì nay có thêm kiến thức, kỹ năng làm du lịch. Kon Pring đã được đánh thức và đang ngày càng có thêm nhiều du khách chọn nơi đây làm điểm đến cho những chuyến đi của mình.

Khoa Điềm

Tìm về đất tổ của nhà Trần tại Đông Triều, Quảng Ninh

đăng 01:21, 15 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:22, 15 thg 3, 2019 ]

Vùng đất Đông Triều là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa, lịch sử, tâm linh đặc sắc của vương triều Trần với hệ thống tổ miếu, lăng tẩm, chùa tháp quy mô.

Chính sử coi Đông Triều là quê gốc của vương triều Trần (1225-1400), trước khi chuyển về Tức Mặc (Nam Định), Long Hưng (Thái Bình) và phát tích Đế vương ở đó vào khoảng thế kỷ 12. Từ đời Trần Thái Tông, Vua đã cấp An Sinh (Đông Triều) cho anh mình là Trần Liễu làm đất thang mộc để trông coi phần mộ, thờ cúng tổ tiên

 

Các đời vua Trần cho xây dựng ở đây hệ thống đền, miếu, lăng mộ, chùa tháp dày đặc trong vùng cảnh quan có diện tích trên 11 nghìn ha, trải dài trên 4 xã và lên tận sườn núi Yên Tử: như chùa Ngọa Vân – Hồ Thiên gắn liền với sự nghiệp tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông, chùa Quỳnh Lâm - Trung tâm Phật giáo của nước Đại Việt với 1 trong An Nam tứ đại khí..

 

Trải qua thời gian, thiên tai huỷ hoại, chiến tranh tàn phá, nhiều công trình xưa chỉ còn là phế tích. Qua các cuộc khảo cổ, diện mạo các di tích kiến trúc quy mô lớn dần được phát lộ, tái hiện sinh động văn hóa thời Trần. Tiêu biểu có hộp vàng hoa sen Ngọa Vân – Quốc bảo Việt Nam tìm thấy năm 2012

 

Đền An Sinh được xây dựng vào thời Trần năm 1381, là nơi thờ 8 vị Hoàng đế thời Trần, gia thất An Sinh Vương Trần Liễu – Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Đền còn là trường học của học sinh miền Nam tập kết ra Bắc trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Lễ hội đền được khôi phục và duy trì vào ngày 20/8 âm lịch hàng năm.

 

Nhà Trần chọn vùng đất này để xây dựng lăng mộ cho 8 vị Tiên Đế. Thái Lăng (lăng Đồng Thái) của vua Trần Anh Tông là lăng đầu tiên được xây dựng ở An Sinh vào năm 1320, nay nằm trên hòn đảo nhỏ giữa hồ Trại Lốc

 

An lăng (lăng Ngải Sơn) của Trần Hiến Tông là nơi còn lưu giữ được nhiều di vật, hệ thống các tượng đá quan hầu, trâu, chó, rùa đá, các bia đá có giá trị khảo cổ đặc sắc

 

Thái Miếu - nơi thờ tổ tiên và 14 vị vua Trần là một trong những điểm di tích quan trọng bậc nhất. Thái Miếu được tu bổ trên diện tích hơn 16.000 m2 bằng nguồn vốn xã hội hóa, hoàn thành năm 2018.

 

Năm nay, lần đầu tiên Quảng Ninh phục dựng Lễ hội Thái miếu nhà Trần. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày từ 22-24/2 (từ 18-20 tháng Giêng năm Kỷ Hợi) tại xã An Sinh, thị xã Đông Triều

 

Lễ hội thu hút đông đảo người dân, du khách thập phương, đặc biệt là 25 đoàn rước của Đông Triều với các sản vật địa phương phong phú, đa dạng. Nhiều nghi lễ truyền thống như Lễ tế mở cửa đền, Lễ tiến vua, Lễ giỗ Đức Thái tổ Trần Thừa, hội diễn dân gian được tái hiện từ nghiên cứu của các nhà khoa học lịch sử

 

Lễ rước nước qua hồ Trại Lốc - nghi lễ quan trọng tái hiện cuộc sống trước kia của tổ tiên nhà Trần gắn với nghề chài lưới trên sông nước thu hút hơn 1.300 người tham gia

 

Nghi lễ gắn với tín ngưỡng cầu nước, cầu cho mùa màng tươi tốt cũng như báo công đến các vị vua của người dân thị xã Đông Triều sau một năm sản xuất.

 

Lễ hội Thái Miếu nhà Trần sẽ được duy trì trở thành lễ hội truyền thống hằng năm, kết nối với các các lễ hội gắn với di sản nhà Trần từ Côn Sơn – Kiếp Bạc (Hải Dương) tới Bạch Đằng (Quảng Yên), Yên Tử (Uông Bí), Cửa Ông, Vân Đồn, trở thành điểm đến ý nghĩa đầu năm cho du khách

Những "làng Nam Bộ" giữa lòng xứ Quảng

đăng 05:52, 28 thg 2, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cây dừa nước thường gắn liền với mảnh đất Nam Bộ lắm sông, nhiều rạch. Ấy thế mà ngay giữa vùng đất Quảng đầy nắng gió, vẫn có nhiều ngôi làng được bao bọc, chở che bởi những rừng dừa nước mọc tiếp nối nhau như thành lũy trên sông.

Dựng nhà dọc theo sông, ngày ngày chèo đò, nương theo những rừng dừa nước xanh bạt ngàn để hái lá dừa, đánh bắt cá tôm... mưu sinh. Cuộc sống gắn bó với sông nước của người dân ở những ngôi làng Khê Thủy B (xã Tịnh Khê, TP.Quảng Ngãi) và An Minh (xã Bình Chánh, huyện Bình Sơn) cứ yên bình trôi qua như thế, ngót nghét cả trăm năm nay.

“Quẳng gánh lo” nhờ những... tán dừa

Tựa lưng vào núi Sơn, mặt hướng ra sông Dâu, làng An Minh, thôn Bình An Nội, xã Bình Chánh nằm e ấp bên những rặng dừa nước xanh um tùm, kéo dài hơn 3 cây số từ Bình An Nội xuống đến sông Trà Bồng – đoạn chảy qua xã Bình Dương (Bình Sơn). Xưa nay, người ta vẫn thường gọi làng An Minh bằng cái tên dân dã – làng Dừa.

Người “làng Dừa” khi nói về quê hương, vẫn thường tự hào về dòng sông mang phù sa qua từng mùa mưa lũ, về rừng dừa nước tầng tầng lớp lớp chở che, bao bọc lấy làng. Cũng nhờ vào cây dừa nước mà người làng An Minh có kế sinh nhai, bớt đi phần nào gánh nặng cơm áo gạo tiền.

Nương theo dừa nước, người dân những làng "Nam Bộ" xứ Quảng đặt rớ trên sông để đánh bắt cá tôm. Ảnh: Ý THU 


“Sinh ra, lớn lên và lấy chồng cùng làng, nên suốt 60 năm qua, tôi đã lớn lên và già đi cùng với khúc sông này, rừng dừa này. Cũng nhờ nó mà mấy mươi năm qua tôi có nguồn thu nhập ổn định từ việc hái lá dừa, đan phên dừa”, bà Nguyễn Thị Lập, người làng An Minh tay thoăn thoắt đan lá dừa, chia sẻ.

Là công việc không đòi hỏi nhiều sức lực, chỉ cần đan, kết từ 5-7 lá dừa là được một tấm phên có giá từ 15 – 20 nghìn đồng, nên nghề đan phên trở thành công việc “hái ra tiền” vào những lúc nhàn rỗi của người làng An Minh. Đặc biệt, vào mùa thu hoạch lá dừa nước (tầm tháng 2 và tháng 7 âm lịch hằng năm), con đường đi vào làng An Minh lúc nào cũng nhộn nhịp cảnh người, xe tấp nập tìm về thu mua lá dừa, phên dừa.

Cuộc sống của người dân làng An Minh (Bình Chánh, Bình Sơn) gắn bó với những tán dừa nước ngót nghét trăm năm nay. Ảnh: Ý THU 


Cũng nhờ vào rừng dừa nước, người làng Khê Thủy B (thôn Trường Định, xã Tịnh Khê, TP.Quảng Ngãi) chẳng những phát triển được nghề đan phên dừa nước mà còn nâng tầm, đưa dừa nước của quê hương đi muôn nơi.

“Những năm gần đây, các nhà hàng, quán cà phê, khu du lịch bỗng ưa chuộng loại lá dừa dùng để lợp, nên người làm nghề ở làng tôi ngoài đan phên bán tại chỗ, còn tổ chức thành các nhóm thợ tỏa đi khắp nơi để nhận thi công nhà lợp lá dừa. Từ những nhà hàng nổi, quán cà phê ở Nghĩa An, Nghĩa Phú, đến các homestay ở Lý Sơn, rồi khu du lịch suối nước nóng Nghĩa Thuận (Tư Nghĩa)... đều tìm về Khê Thủy B để đặt hàng”, nghệ nhân gắn bó với nghề đan dừa nước hơn 30 năm ở làng Khê Thủy B Nguyễn Văn Bé tâm sự.

Giữ rừng bằng hương ước, gia ước

Rừng chở che, bao bọc lấy xóm làng và ban tặng cho người làng sinh kế để mưu sinh. Vì thế, người làng cũng trân quý, thủy chung gìn giữ lấy rừng dừa bằng hương ước, gia ước riêng.

Chỉ tay về những rừng dừa nước trước nhà, bà Nguyễn Thị Kim Tuyến (80 tuổi) ở làng dừa An Minh chia sẻ “gia ước” mà gia đình mình dùng để gìn giữ dừa nước: “Người An Minh chúng tôi chẳng có gì quý báu truyền lại cho con cháu ngoài những rặng dừa nước trên sông. Người nào nhận trách nhiệm thờ cúng tổ tiên sẽ được giao lại rừng dừa nước để quản lý. Tuy nhiên chỉ được bán lá, không được bán rừng, phá rừng”.

Người dân làng Khê Thủy B (Tịnh Khê, TP.Quảng Ngãi) có công ăn việc làm ổn định nhờ vào nghề đan phên dừa nước. Ảnh: Ý THU 


Nhờ tuân thủ theo “gia ước”, rừng dừa nước của gia đình nhà bà Tuyến cứ thế sinh sôi. Từ vài rặng dừa do ông cha trồng nên, trải qua hàng trăm năm, giờ gia đình bà đã sở hữu gần 8 mẫu dừa nước dọc sông Dâu. Dưới những tán dừa, cá tôm cứ thế tìm về sinh sống, con cái của bà, nhờ thế mà có thêm thu nhập đáng kể từ nghề thả lưới trên sông.

Không chỉ bảo vệ phần dừa nước của gia đình mình, người dân ở những "làng dừa nước" còn chung tay giữ lấy những rặng dừa chung của cả làng và xem đấy như “của để dành” cho xóm làng mai sau.

Dẫn chúng tôi đi thăm 3 sào dừa nước – phần diện tích thuộc sở hữu chung của cả xóm, ông Nguyễn Duy Niên – Trưởng xóm Gò, thôn Trường Định, xã Tịnh Khê cười tươi rói: “Ngoài diện tích riêng lẻ của từng nhà, cả xóm có được phần dừa nước chung này đây. Tiền thu được từ 3 sào dừa này sẽ được đóng góp vào công quỹ, phục vụ cho các hoạt động chung của xóm mỗi năm. Tuy không nhiều nhặn gì, nhưng mảnh rừng này là minh chứng cho sự gắn kết của xóm làng với nhau”.


Người “làng Dừa” - An Minh không tính diện tích dừa nước theo sào, theo hécta; mà phân chia sở hữu bằng đơn vị tính đậm chất Nam Bộ là “bức”. Cả rừng dừa nước với tổng diện tích hơn 10ha dọc sông Dâu ở An Minh được người làng chia thành 12 bức: Bức đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ...

Còn làng Khê Thủy B thì có tên dân dã khác là “làng Rớ”. Theo các bậc cao niên trong làng kể lại, cũng bởi làng có rừng dừa nước mọc tầng tầng lớp lớp trên sông Kinh, thu hút cá tôm về nhiều vô kể nên người làng làm rớ, đặt chi chít trên sông bắt cá, tôm. Cái tên dân dã – làng Rớ là từ đó mà ra.


Ý THU

Vùng đất thiêng Tây Yên Tử

đăng 03:41, 23 thg 2, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Sáng 16/2/2019 (tức 12 tháng Giêng năm Kỷ Hợi), tại quảng trường Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử, huyện Sơn Động (Bắc Giang) đã diễn ra lễ khai mạc Hội Xuân Tây Yên Tử và Tuần Văn hoá - Du lịch tỉnh Bắc Giang 2019. Du khách không chỉ được khám phá vùng đất thiêng Tây Yên Tử mà còn được trải nghiệm văn hóa đặc sắc của các dân tộc tỉnh Bắc Giang. 

Cùng với hành trình phía Đông để lên với non thiêng Yên Tử, du khách đã có thêm lựa chọn vượt sông, leo núi hành hương về thánh địa của Thiền phái Trúc Lâm trên ngàn xanh Yên Tử từ con đường phía Tây qua những danh thắng và di tích của Bắc Giang. 

Theo các tài liệu và nghiên cứu của các nhà khoa học cùng với những di tích hiện hữu, thì cơ sở địa-văn hóa Phật giáo vùng Tây Yên Tử đã có sự phát triển nội tại ngay từ thời Lý - Trần, có xu thế tiếp nối và định hình bền vững nhiều thế kỷ sau. Việc xây dựng Khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử chính là phát huy những giá trị đã được tích tụ từ hàng trăm năm nay của vùng đất Bắc Giang, mở ra con đường tâm linh kết nối bản sắc ngàn năm văn hóa Phật giáo vùng Tây Yên Tử mà cha ông đã vượt qua bao gian khó, nhiều đời tiếp nối, tạo dựng. 

Khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử, xã Tuấn Mậu (huyện Sơn Động, Bắc Giang) đã hoàn thành xây dựng giai đoạn 1, là trung tâm diễn ra các sự kiện của Lễ khai hội Xuân và khai mạc Tuần Văn hóa - Du lịch với chủ đề “Khám phá vùng đất thiêng Tây Yên Tử”. Nhân dịp này, sẽ có nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch được tổ chức trên địa bàn các huyện Sơn Động, Yên Dũng, Lục Nam, Lục Ngạn và thành phố Bắc Giang. Du khách thập phương được chiêm ngưỡng lễ rước tượng Phật, triển lãm trưng bày giới thiệu văn hóa, Phật giáo Trúc Lâm Tây Yên Tử, tham quan chùa Thượng và Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử. Ngoài ra, du khách sẽ được trải nghiệm không gian văn hóa sôi động của những lễ hội truyền thống, thưởng thức những lời ca quan họ đầy trữ tình, say đắm của miền đất và con người Bắc Giang. 

Lễ cắt băng khánh thành giai đoạn 1 Khu du lịch tâm linh – sinh thái Tây Yên Tử. 


Thượng tọa Thích Thanh Quyết, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đánh cồng khai hội.


Đông đảo người dân thập phương đều hội tụ về Tây Yên Tử trong ngày khai hội.



Nhà ga và hệ thống cáp treo đưa du khách tham quan Khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử.


Khung cảnh mờ ảo của vùng đất thiêng Tây Yên Tử. 


Du khách hành hương qua những cung đường mờ sương trên đỉnh Tây Yên Tử. 


Chùa Thượng thuộc Khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử là đích đến của hành trình leo núi và thực hành Thiền của Thiền phái Trúc Lâm. 


Một trong những công trình tâm linh quan trọng của Khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử là chùa Thượng đã được khánh thành vào ngày 15/2 (Tức ngày 11 tháng Giêng). Chùa Thượng là đích đến của hành trình leo núi và thực hành Thiền của Thiền phái Trúc Lâm. Tại đây thiết kế những vọng lâu để du khách có thể chiêm ngưỡng vùng non thiêng Yên Tử, với những dãy núi non trùng điệp, chùa Đồng ẩn hiện trên đỉnh phù vân. 

Ngoài ra, tỉnh Bắc Giang có hơn 2.237 di tích trải khắp toàn tỉnh, trong đó 711 di tích đã được xếp hạng, với 101 di tích cấp quốc gia và 583 di tích cấp tỉnh tiêu biểu như: Di tích Quốc gia đặc biệt chùa Vĩnh Nghiêm huyện Yên Dũng, chùa Bổ Đà huyện Việt Yên, những địa danh gắn với khởi nghĩa Yên Thế, Di tích lịch sử chiến thắng Xương Giang… 

Bên cạnh đó, Bắc Giang còn được biết đến với các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể với nhiều làng quan họ cổ, ca trù, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, Bảo vật quốc gia Hương án đá chùa Khám Lạng… cùng nhiều nét văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhiều làng nghề truyền thống ở Bắc Giang được lưu giữ, bảo tồn và phát triển đến ngày nay. Đây chính là lợi thế để du lịch tâm linh vùng đất Tây Yên Tử cất cánh.

Đến với hội Xuân Tây Yên Tử du khách sẽ được trải nghiệm không gian văn hóa sôi động và thưởng thức những lời ca quan họ trữ tình, say đắm của miền đất và con người Bắc Giang. 



Du khách chiêm ngưỡng những di tích văn hóa lâu đời được phát hiện tại vùng đất Bắc Giang.



Quần thể Khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử nhìn từ trên cao. 


Mặc dù mới hoàn thành xây dựng giai đoạn 1, Khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử thu hút rất đông du khách thập phương đến tham quan, chiêm bái. 


Những thiết kế mới lạ, độc đáo tạo điểm nhấn cho Khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử.


Khu du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử được kỳ vọng sẽ tạo đột phá thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến với Bắc Giang. 


Du khách và phật tử thập phương trên hành trình về vùng đất thiêng Tây Yên Tử. 


Thực hiện: Khánh Long/VNP 

Đến làng Plei Ốp xem người Jrai làm du lịch

đăng 03:28, 21 thg 2, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ở trung tâm thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai nhiều năm nay, Plei Ốp vẫn giữ được vẻ đẹp đặc trưng của một làng Jrai bản địa.

Gần đây, người dân Plei Ốp đã phát huy lợi thế này để phát triển du lịch, giúp tăng thu nhập và giữ gìn, quảng bá văn hoá Jrai. 

Không gian đặc trưng văn hoá Jrai tại nhà hàng Plei Cồng Chiêng, làng Ốp. 


Những ngày xuân này, nụ cười luôn nở trên môi những người dân Plei Ốp. Bởi giờ đây, làng đã trở thành một địa chỉ du lịch văn hoá, cộng đồng của thành phố Pleiku, với trên dưới chục đoàn khách thăm quan mỗi ngày. Đến đây, du khách được thăm nhà rông truyền thống, nơi diễn ra những nghi lễ quan trọng của dân làng; Bến nước Ia O, nơi người dân Plei Ốp tắm giặt, trò chuyện với nhau về việc nương rẫy vào mỗi cuối chiều. 

Cùng với đó, những bài chiêng trầm hùng, những điệu xoang uyển chuyển của trai gái trong làng thể hiện những nét độc đáo, riêng biệt của văn hoá Jrai. Plei Ốp được bao bọc bởi 2 dòng suối Ia Nin, Ia Nat tạo nên vẻ đẹp thơ mộng, thanh bình níu chân du khách. 

Kiến trúc nhà sàn Jrai trong nhà hàng Ch'rao, làng Ốp. 


Chị Nguyễn Phương Trâm ở phường Hoa Lư, thành phố Pleiku đến thăm quan làng Ốp dịp cuối năm cho biết: “Lần đầu tiên tôi đến làng Ốp, tôi thấy rất thích thú. Không gian sạch sẽ, thoáng đãng, gần gũi với thiên nhiên. Còn người dân thì rất thân thiện. Đặc biệt, những món ăn của người dân bản địa như cơm lam, gà nướng rất ngon. Tôi sẽ trở lại làng Ốp khi có lễ hội để cảm nhận nhiều hơn những nét văn hoá đặc sắc của người dân tại đây.” 

Nghệ nhân cồng chiêng Rơ Châm Geh, ở làng Ốp cho biết, người dân trong làng vốn chỉ quen với công việc nương rẫy, nay cũng bắt đầu tham gia phát triển du lịch. Thanh niên trai tráng trong làng làm hướng dẫn viên đưa du khách tới các điểm thăm quan. Phụ nữ nấu nướng đồ ăn để phục vụ thực khách. Từ khi phát triển du lịch, cuộc sống của người dân trong làng cũng được cải thiện đáng kể. 

“Vào mỗi tối thứ 7, tôi lại được các nhà hàng trong làng mời đến đánh cồng chiêng cho du khách nghe. Rất vui vì sau một ngày lao động mệt nhọc trên rẫy, về làng, tôi lại được đánh cồng chiêng. Ngày xưa cồng chiêng chỉ đánh khi có nghi lễ lớn, quan trọng của dân làng, nhưng giờ đây hàng tuần, hàng ngày chúng tôi đều được biểu diễn. Nhờ vào việc đánh chiêng, tôi còn tăng nguồn thu được 2 triệu đồng mỗi tháng, đời sống đỡ khó khăn hơn trước. 

Chúng tôi muốn du khách tới đây không chỉ thưởng thức thực phẩm sạch, các món ăn đặc trưng của người Jrai như cơm lam gà nướng, heo gác bếp, tép đùm lá chuối, ba chỉ một nắng, lòng gà xào cà đắng, lá mì xào mà còn được hưởng thụ những nét văn hoá truyền thống của người Jrai, chìm đắm trong không gian văn hoá cồng chiêng để cảm nhận được sự chân chất, mộc mạc của người Jrai, đồng thời thấy đời sống tinh thần phong phú, phóng khoáng của người dân Tây Nguyên, mà không bị lẫn với bất kỳ nơi nào trên đất nước Việt Nam”, nghệ nhân cồng chiêng Rơ Châm Geh nói. 

Cây nêu là biểu tượng thường thấy trong các nghi lễ quan trọng của người Jrai tại nhà hàng Ch'rao, làng Ốp. 


Làng Ốp, thuộc phường Hoa Lư, thành phố Pleiku có 105 hộ dân với hơn 500 nhân khẩu hầu hết là người Jrai. Hiện nay, song song với việc bảo tồn các những nét đẹp văn hoá, nghệ thuật truyền thống, người dân trong làng đang tích cực thay đổi để phát triển du lịch. 20 nghệ nhân cồng chiêng và đội xoang của làng luyện tập đều đặn. Người dân cùng nhau giữ gìn đường làng, xóm ngõ sạch sẽ, thoáng đãng; nhà cửa được sửa sang, quét dọn sạch sẽ, gọn gàng, sẵn sàng trở thành một homestay nhỏ đáp ứng nhu cầu khám phá văn hoá bản địa của du khách. 

Ông Huỳnh Hội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch tỉnh Gia Lai cho biết, theo Chương trình quy hoạch tổng thể phát triển du lịch năm 2019 và những năm tiếp theo của địa phương, Plei Ốp là 1 trong 7 ngôi làng dân tộc thiểu số được tỉnh Gia Lai đầu tư phát triển du lịch văn hoá, du lịch cộng đồng. Theo đó, việc phát triển du lịch tại đây dựa trên những đặc trưng về không gian văn hoá, nghệ thuật vốn có tại địa phương. 

"Du khách đến làng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống đông, nguyên vẹn trong lòng một thành phố như vậy thì thuận lợi vô cùng. Nếu huy động được người dân cùng làm du lịch thì người dân xây sửa nhà lại, để khách tới sẽ cùng ăn, ở, tự nấu ăn. Người dân tự ý thức về đường sá và nhiều thứ. Chính quyền, người dân và các ban ngành cùng làm thì mới có thể thu hút khách”, ông Hội cho biết 

Với sự đồng lòng, chung sức của tỉnh và nỗ lực của người dân địa phương, Plei Ốp đang dần trở thành một làng du lịch độc đáo, thú vị tại phố núi Pleiku.

Nguyễn Thảo/VOV-Tây Nguyên

Xe điện đưa khách tham quan thành phố Cần Thơ

đăng 00:07, 9 thg 2, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Với tuyến tham quan nội ô bằng xe điện, du khách không chỉ được ngắm cảnh mà còn có thể dừng chân mua sắm, trải nghiệm ẩm thực địa phương. 

Mô hình xe điện phục vụ du lịch đã không còn xa lạ với du khách khi đến tham quan ở các thành phố trong cả nước. Tại Cần Thơ, dịch vụ này không chỉ đưa du khách ngắm cảnh phố phường, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Bến Ninh Kiều, nhất là lúc về đêm lấp lánh ánh đèn, mà còn có thể dừng chân mua sắm, thưởng thức các món ăn vặt ở khu chợ đêm Trần Phú...

Du lịch bằng xe điện ở nội ô quận Ninh Kiều, khách sẽ đi qua đường Nguyễn Trãi, nơi được gọi là thiên đường mua sắm ở Cần Thơ. Ở đây bán đầy đủ mặt hàng như quần áo, dây nịt, đồng hồ, túi xách, giày dép thời trang, giày thể thể thao... Giá các mặt hàng từ trung bình đến cao tùy theo thương hiệu. Du khách có thể dừng chân tại tuyến đường này để chọn quà cho mình hoặc bạn bè, người thân.

Tiếp theo, xe sẽ đưa du khách đến chợ ẩm thực Cần Thơ được hình thành hơn 30 năm. Chợ sạch, bán các loại đồ lưu niệm, đặc sản miền Tây như khô cá sặc rằng, tôm khô, khô cá kèo, khô cá lóc, mắm, cá, tôm, dưa muối, củ kiệu... Rau quả ở đây cũng rất tươi.

Đối diện chợ là Trung tâm thương mại Cái Khế với nhiều gian hàng bán vải để may mặc. Nơi đây cung cấp số lượng vải lớn cho người dân Cần Thơ và các tỉnh thành lân cận. 

Chợ đêm Trần Phú là điểm dừng chân tiếp theo trên hành trình, dài khoảng 900 mét kéo dài từ công viên Sông Hậu đến đường Trần Phú. Chợ thoáng mát, có hơn 200 gian hàng ẩm thực cung cấp đa dạng các món ăn.

Chợ có bán hải sản tươi sống, lẩu, cơm cháy kho quẹt... và đồ ăn vặt các bạn trẻ không thể bỏ qua như cá viên chiên, bánh tráng trộn, trái cây xô. 


Chợ còn phục vụ đàn ca tài tử vào cuối tuần. Đây cũng là di sản của người miền Tây, du khách có thể thưởng thức để thấy tâm hồn luôn trẻ trung, yêu đời. Ngoài ra, khu vực này còn có khu vui chơi giải trí dành cho các em thiếu nhi. Sau đó, xe di chuyển đến đường Cách mạng tháng 8, Nguyễn Văn Cừ.

Xe có thiết kế ghế ngồi thoải mái gắn đai an toàn, tốc độ di chuyển không quá 30 km/h, du khách có thể vi vu ngắm vẻ đẹp phố thị với ánh đèn nghệ thuật lung linh về đêm hoặc quay phim, chụp ảnh dọc các tuyến đường, nhìn phố xá hai bên và cảm nhận phong cách sống của người miền Tây.

Xe điện có thiết kế màu xanh lá cây, một xe có thể chở tối đa 14 hành khách và một tài xế. 


Đại lộ Võ Văn Kiệt là nơi xe điện sẽ đi qua. Đây là tuyến đường lớn và đẹp đến sân bay Cần Thơ, bên đường trồng nhiều hoa và cây xanh, nhà hàng mọc san sát. Du khách có thể chọn bất kỳ nhà hàng nào để thưởng thức các món ăn miền Tây.

Xe còn đưa du khách qua tuyến đường Mậu Thân, nơi chuyên bán các loại quần áo, túi xách giá bình dân, sau đó về lại bến Ninh Kiều. Đến đây du khách có thể đi tản bộ cùng bạn bè người thân ngắm cảnh sông Hậu với không khí trong lành, lấp lánh ánh đèn.

Nằm gần bến Ninh Kiều, chợ đêm Tây Đô là chợ đêm nổi tiếng từ xa xưa. Nơi đây còn được người ta gọi tắt là chợ cổ. Bên trong chợ là nhiều ki-ốt được xếp san sát nhau, bán nhiều loại đồ lưu niệm như quần áo, mũ nón, có biểu tượng Việt Nam. Chợ đêm Tây Đô hiện nay có kiến trúc hài hòa với cảnh quan môi trường xung quanh và mang đậm phong cách Nam Bộ.

Với tour xe điện trên, du khách đã tham quan được hết trung tâm thành phố Cần Thơ. Ngoài ra xe điện còn mở rộng hành trình tham quan các vùng ngoại ô, giúp khách cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp và nhịp sống thanh bình của thành phố bên sông. Các điểm đến khác khách có thể lựa chọn như làng du lịch Mỹ Khánh, vườn trái cây Chín Hồng, khu du lịch sinh thái Ông Đề, thiền viện Trúc Lâm Phương Nam hay các homestay miệt vườn ở huyện Phong Điền; nhà cổ Bình Thủy, đình Bình Thủy, Cồn Sơn...

Ông Nguyễn Thanh Phong, Giám đốc Công ty TNHH MTV Xây dựng - Thương mại - Sản xuất Tân Đại Phong cho biết: "Mô hình xe điện du lịch được chúng tôi đầu tư trên 4 tỷ đồng với bến bãi đón khách và 12 chiếc chạy luân phiên".

Bến đón khách nằm tại bến Ninh Kiều, từ đây khách có thể đi tham quan các điểm du lịch ở huyện Phong Điền, quận Bình Thủy. Đây là mô hình đầu tiên của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Xe điện đón khách bắt đầu từ 6 giờ sáng, xuất phát tại bến Ninh Kiều và đưa khách đến các điểm du lịch theo ý muốn.

Công ty còn bố trí hướng dẫn viên theo nhu cầu để du khách dễ dàng khám phá và tìm hiểu những điểm du lịch sinh thái miệt vườn hay di tích lịch sử, văn hóa... trong thành phố Cần Thơ. 


Theo ông Nguyễn Thanh Phong, dịch vụ xe điện là sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu tham quan cảnh sắc phố thị cũng như nhu cầu di chuyển của du khách. Xe điện là phương tiện vận chuyển thân thiện với môi trường nhằm tạo điểm nhấn cho du lịch xanh - sạch - đẹp của thành phố.

Kim Ngân

Dịch vụ xe điện Công ty Tân Đại Phong 

Điện thoại: 02923600146 - 0919755798 
Xem thêm chi tiết tại fanpage. 
Giá cước xe điện du lịch theo tuyến: 
  • Từ Bến Ninh Kiều đến Làng du lịch Mỹ Khánh, Thiền viện Trúc lâm Phương Nam: 500.000 đồng/chuyến đi và về.
  • Từ Bến Ninh Kiều đến mộ Thủ Khoa Huân – Đình hay nhà cổ Bình Thủy có giá 400.000 đồng/chuyến đi và về.
  • Từ Bến Ninh Kiều đi vòng quanh nội ô Ninh Kiều có giá 300.000 đồng/chuyến đi và về.
  • Từ Bến Ninh Kiều đến chợ nổi Cái Răng có giá 300.000 đồng/chuyến đi và về.
  • Từ Bến Ninh Kiều đến khu Bãi Cát, chợ đêm Trần Phú có giá 10.000 đồng/khách.
  • Xe điện phục vụ từ 6h đến hết 23h hàng ngày.

1-10 of 21

Comments