Những chuyến đi, những khám phá... và những điều suy tư...

Bài mới

  • Hà Tiên - thành phố lạ lùng Nhắc đến Hà Tiên là người ta nghĩ ngay đến miền biên viễn. Nghĩ ngay đến vùng đất cắm cột mốc chủ quyền cuối cùng của đất nước trên biên ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Mở mắt thấy thiên đường Bảo Lộc Có một nơi thường bị bỏ quên trên hành trình đến cao nguyên Lâm Viên tìm cái đẹp của du khách. Ở đó, mỗi sáng mở mắt có một thiên ...
    Được đăng 18:16, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Về miệt vườn Đồng bằng sông Cửu Long Với hệ thống sông rạch chằng chịt, những cánh đồng thẳng cánh cò bay, những vườn trái cây trĩu quả, khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đang là ...
    Được đăng 18:21, 11 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Thưởng thức 'món quà của núi' với người Vân Kiều Từng mạch nước rỉ ra từ các khe đá trên núi cao, chảy về tới bản Klu (xã Đakrông, huyện Đakrông, Quảng Trị) rồi hình thành những hồ nước ấm ...
    Được đăng 06:03, 11 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Người Mông ở Lai Châu hồ hởi làm du lịch Từ những bàn tay chỉ quen với cày cuốc, người Mông ở bản Thèn Pả, xã Tả Lèng, huyện Tam Đường (Lai Châu) đã làm quen với cách tiếp đón ...
    Được đăng 01:33, 31 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Hà Tiên - thành phố lạ lùng

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Nhắc đến Hà Tiên là người ta nghĩ ngay đến miền biên viễn. Nghĩ ngay đến vùng đất cắm cột mốc chủ quyền cuối cùng của đất nước trên biên giới đường bộ. Có gì đó rất xa xăm, rất bí ẩn. 

Một góc Hà Tiên. Ảnh: Việt Phương 


Vì thế khi nghe vùng đất này được nâng cấp lên thành phố, mọi người cứ ồ à ngạc nhiên. Bởi lẽ, nói tới thành phố là nói tới đèn xanh đèn đỏ. Trong khi Hà Tiên chỉ mới duy nhất một ngã tư có đèn xanh đèn đỏ; còn tất thảy đều ngọn tỏ ngọn lu khi đêm về. 

Thành phố trên bến dưới thuyền 

Thật ra, chừng 300 năm trước, khi Mạc Cửu được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên thì vùng này đã nổi tiếng là vùng đất trù phú nhất vịnh Thái Lan. Dưới tài cai quản và thu phục người tài, Mạc Cửu đã biến vùng biển này thành thương cảng nổi tiếng của cả khu vực và có trước cả Sài Gòn. Những ghe tàu đi theo hải trình gốm sứ tơ lụa trên biển từ Trung Quốc sang các nước châu Âu đều neo đậu nơi này để lấy sức vượt eo biển Malacca trước khi dong buồm vượt Ấn Độ Dương. Và phải chăng chính vì cái lấp lánh của vàng son lụa là mà mấy trăm năm trước nhiều băng nhóm hải tặc đã dong buồm về đây? Không có nhiều cứ liệu lịch sử lắm. Còn chăng chỉ là cái tên Quần đảo Hải tặc cũng thuộc địa phận TP.Hà Tiên bây giờ. 

Trải qua bao dâu bể, thương cảng với thuyền buôn đã là chuyện xưa. Chuyện nay, là một đô thị phố xá chạy dài từ đầm Đông Hồ, cặp theo sông Giang Thành dài ra cửa biển. Mọi sự phồn thịnh, sầm uất đều theo đó mà nên. 

Cũng hiếm có đô thị nào ở vùng sông nước còn khu chợ nhà lồng trên bến dưới thuyền rất đặc trưng. Ghe thuyền của thương lái, ngư phủ mỗi sáng, mỗi chiều nhộn nhịp cả một bến sông. Tôm cá nước ngọt từ đầm Đông Hồ chở ra; cá, mực từ biển chở vào. Khi những cần xé hải sản được gánh lên bờ là các tiểu thương đã đón lấy, lớp bỏ sỉ, lớp san bớt ra sịa, ra mâm cho các bà đi chợ sớm. Các xe đẩy bán bún cá, bún nhâm, bún kèn; bán cà phê dọc theo chợ cá, chợ bách hóa cũng nhộn nhịp, rộn ràng theo. Sự mua sự bán xảy ra rất nhanh. Đâu lối chừng vài tiếng đồng hồ mỗi sáng sớm. 

Cũng lạ một điều, trong khi các đô thị xứ biển khác ở miền Tây như Cà Mau, Rạch Giá vật giá khá mắc mỏ, thì ở đây giá rẻ bất ngờ. Một tô bún, có thịt, có cá, có tôm ấp lẫm mà cũng lối chừng 15.000 - 20.000 đồng là hết mức. Một ly cà phê đá hay trà đá đường đâu chừng 8.000 - 10.000 đồng. Ăn ở gánh, ở xe đẩy cũng giá đó; mà có vô hàng quán dọc theo phố xá cũng một giá đó không hơn. Có khác chăng là xe đẩy phục vụ cho dân thương buôn, dân chợ cá buổi sáng; hàng quán trong nhà lồng chợ phục vụ cho mấy bà nội trợ; quán xá cho dân đi mần việc hoặc khách viễn xứ ghé qua. 

Thành phố của các kiểng chùa, lăng mộ 

Có lẽ hiếm có thành phố nào có lăng mộ và kiểng chùa nhiều, đẹp và hài hòa như Hà Tiên. Lăng Khai trấn Quốc công Mạc Cửu, Miếu Mạc mi cô nương, Phù Dung Cổ tự, chùa Phật Đà, chùa Thiên Trúc, chùa Tam Bảo... Có chùa nằm ở chân núi, có chùa nằm tựa trên đồi, có chùa nằm trong hang động. Mỗi một kiểng chùa, mỗi một danh thắng đều là nơi đón bình minh hay ngắm hoàng hôn đẹp nhất VN. Và tất thảy đều yên lặng trong thinh không. 

Phố xá Hà Tiên vốn không đủ dài, không đủ rộng. Ít tiếng còi xe, khách bộ hành cũng ít huyên náo. Chưa kể cũng là dân miền biển nhưng con người Hà Tiên ít ăn to nói lớn. Tiếng là lên thành phố, tưởng chừng con người cũng phải năng động hơn, ồn ào hơn. Nhưng đa phần người dân nơi đây đều ăn nói nhẹ nhàng và rất hay cười nhẹ thay lời chào, hoặc như là cử chỉ tỏ sự đồng điệu. 

Một ông anh nơi này lý giải, Hà Tiên vốn là xứ của các kiểng chùa và hệ phái chùa ở đây ni nhiều hơn sư. Phụ nữ xứ này từ nhỏ đã quen với việc hằng tuần đều sắp đặt mấy ngày lên chùa làm công quả. Có lẽ vì vậy sự an yên, bình dị đã định hình thành tính cách cố hữu của người dân nơi này. 

Hà Tiên, thành phố hấp dẫn lạ lùng. 

Trong tất cả các thành phố mới được công nhận hiện nay thì Hà Tiên là nơi có vẻ như xa xôi cách trở nhất. Từ TP.HCM muốn về đây cũng mất chừng trên 360 km đường bộ. Nhưng đó là lối nghĩ thông thường.

Bên lề cuộc hội thảo “Quảng bá du lịch thời 4.0” mới đây tại Hà Tiên, ông Nguyễn Thanh Nhàn, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP.Hà Tiên, cho rằng con đường ngắn nhất đến Hà Tiên chính là đường biển từ Phú Quốc với 70 phút ngồi tàu cao tốc. Với các thành phố lớn khác thì khoảng cách từ sân bay về trung tâm di chuyển cũng mất ngần ấy thời gian hoặc hơn. Và Hà Tiên cũng không giấu tham vọng không chỉ là khu vực hậu cần trên bộ tốt nhất cho Phú Quốc mà còn là điểm đến hấp dẫn cho du khách đến từ Phú Quốc. Đó là chưa tính đến, khi hệ thống giao thông Xuyên Á hoàn chỉnh, du khách từ Thái Lan, Campuchia đến thăm Hà Tiên qua cửa khẩu Xà Xía và nối chuyến ra đảo Phú Quốc càng nhiều. Tỉnh Campot, Campuchia cách Hà Tiên chừng 60 km với những nét tương đồng mà mỗi năm đã đón chừng 2 triệu du khách, trong đó khoảng 100.000 khách nước ngoài.

Trong khi đó, hiện nay có rất nhiều đường bay nội địa và quốc tế đến Phú Quốc từ đó kết nối với Hà Tiên. Đường bay quốc tế trực tiếp đã có từ Hàn Quốc, Thái Lan, hoặc các chuyến bay thuê chuyến (charter) từ Trung Quốc, Nga, Ý, Anh, Thụy Điển, Đan Mạch. Mới đây, ngày 2.11, AirAsia mở đường bay từ Kuala Lumpur đi Phú Quốc. Dự kiến, VietJet cũng mở đường bay Incheon - Phú Quốc vào cuối tháng 12 này

Hồng Hạnh

Mở mắt thấy thiên đường Bảo Lộc

đăng 18:16, 14 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Có một nơi thường bị bỏ quên trên hành trình đến cao nguyên Lâm Viên tìm cái đẹp của du khách. Ở đó, mỗi sáng mở mắt có một thiên đường. 

Những cảnh đồi chè bạt ngàn, xen giữa là những con đường nhỏ uốn lượn du khách có thể bắt gặp khi đi vào vùng trồng chè Đam B’ri (ngoại ô TP. Bảo Lộc), hoặc các xã vùng ven huyện Bảo Lâm - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG


Cao nguyên Lâm Viên ôm trọn hai thành phố thuộc tỉnh Lâm Đồng là Đà Lạt và Bảo Lộc, mang đến cho hai thành phố này những nét đẹp tương đồng lẫn khác biệt. 

Bảo Lộc nằm ở độ cao khoảng 1.000 m so với mực nước biển, thấp hơn Đà Lạt 500 m. Nếu đi từ TP. HCM, dọc theo quốc lộ 20, du khách sẽ đến Bảo Lộc sau khi trải qua hành trình 190 km. 

Hồ nước có tảo hồng nở hoa nằm ở vùng ngoại ô thuộc xã Đam B’ri (TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng) - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG


Nhưng danh tiếng của Đà Lạt đủ lớn khiến du khách bỏ quên Bảo Lộc trên hành trình đi tìm cái đẹp ở cao nguyên này.

Nơi này cách Đà Lạt chỉ 120 km. Khoảng cách quá gần khiến du khách chọn cách đi thêm hơn 2 giờ đồng hồ để đến Đà Lạt, mà bỏ qua Bảo Lộc, dù nơi ấy có những cảnh đẹp tựa thiên đường, nhất là vào sáng sớm nếu bạn biết chọn cho mình một chỗ đứng, hoặc chịu khó đi sâu vào những thôn, xã ngoại ô. 

Hồ Đồng Nai, một hồ nước lớn ở Trung tâm TP. Bảo Lộc - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG


Có phải Bảo Lộc cũng na ná Đà Lạt thôi? Nhận định này không sai, nhưng thật thiếu công bằng với cao nguyên Bảo Lộc. 

Bảo Lộc dành cho người thích "cảm" hơn thích "đi chơi". Gọi là thành phố du lịch, nhưng ở đây chỉ có một điểm du lịch nhỏ là Khu du lịch thác Đam B’ri. Nông nghiệp ở đây chưa dùng nhiều nhà kính, nhà lưới, phần lớn diện tích là cây lâu năm như chè, cà phê. Nhờ vậy, cảnh quan rừng núi và vùng canh tác của người dân liền lạc một màu xanh mướt mắt. 

Những ngọn núi xếp chồng từng lớp mềm mại như sóng trong sương sớm. Du khách có thể ngắm cảnh này trên đường lên đỉnh Đại Bình, một ngọn núi nổi tiếng ở Bảo Lộc - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG


Tới Bảo Lộc, phải đi tìm cho mình một góc nhìn. Những con đường dẫn lên núi Đại Bình, hay những chóp đồi phía vùng chè Đam B’ri là những góc quen thuộc của các "tay máy" săn ảnh đẹp, hay của những người thích ngắm cảnh. 

Bảo Lộc đẹp còn nhờ sự tương hợp cảnh quan với vùng Bảo Lâm rừng núi bạt ngàn. Sự tương hợp khiến du khách có thể quên đi những ranh giới hành chính để tận hưởng không gian cao nguyên ấn tượng.

Đường Trần Phú, trục đường chính của Bảo Lộc - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG


Ai yêu đất trời tự do nằm ngoài khuôn khổ của những khu điểm du lịch có thể chọn Bảo Lộc. Đừng quên dậy thật sớm, leo lên núi, đi lên đồi hay bước ra phố. Rất lạ kỳ, chỉ sau một cái nhắm mở mắt, thiên đường đã đến quanh mình, bao la và ngập tràn mỹ cảm.

Chùa Linh Quy Pháp Ấn với cổng gỗ được xem là "cổng trời" của vùng Bảo Lộc, Bảo Lâm. Từ đây du khách có thể ngắm toàn cảnh thành phố Bảo Lộc và vùng núi Đại Bình - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG


Toàn cảnh vùng núi Đại Bình nhìn từ hướng TP. Bảo Lộc vào sáng sớm - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG


Biển mây ở vùng núi bao quanh khu vực TP. Bảo Lộc - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG


Nhà thờ Thánh Mẫu Lộc Phát nhìn từ trung tâm TP. Bảo Lộc - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG


Trung tâm TP. Bảo Lộc vào sáng sớm - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG


Toàn cảnh núi Đại Bình, một ngọn núi lớn và là điểm đứng ngắm toàn cảnh Bảo Lộc, Bảo Lâm của dân nhiếp ảnh, những người yêu thích cắm trại, dã ngoại - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG


Đường lên đỉnh Đại Bình ngắm cảnh TP. Bảo Lộc - Ảnh: LÊ VĂN CƯỜNG

 

MAI VINH

Về miệt vườn Đồng bằng sông Cửu Long

đăng 18:21, 11 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Với hệ thống sông rạch chằng chịt, những cánh đồng thẳng cánh cò bay, những vườn trái cây trĩu quả, khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đang là điểm đến ưa thích của khách quốc tế trong hành trình khám phá sông nước miệt vườn, môi trường sinh thái và trải nghiệm những nét văn hóa đặc sắc. 

Thủ phủ trái cây của Việt Nam

Là vùng thuộc hạ lưu sông Mê Kông nên ĐBSCL có địa hình sông ngòi chằng chịt. Phù sa sông Mê Kông là nguồn dinh dưỡng chính cho cây trồng, cùng với khí hậu ôn hòa quanh năm là điều kiện rất thích hợp để hình thành các vùng chuyên canh cây ăn trái. Chính những yếu tố tuyệt vời này đã biến ĐBSCL trở thành vựa trái cây lớn nhất nước với nhiều loại như: Chôm chôm, xoài, sầu riêng, nhãn, ổi, xoài, cam, mận…

Có thể kể ra một số vườn trái cây đặc trưng ở vùng ĐBSCL đã làm nên tên tuổi, nổi tiếng xa gần như: vườn trái cây Cái Bè, Vĩnh Kim, Chợ Gạo (Tiền Giang), Cái Mơn (Bến Tre), Cù lao An Bình (Vĩnh Long), Mỹ Khánh (Cần Thơ)…

Vườn Quýt ở Lai Vung Đồng Tháp. Ảnh Đặng Kim Phương


Chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ) - nơi mua bán, trao đổi trái cây vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Trọng Chính 


Vựa trái thơm (dứa) ở Tiền Giang. Ảnh: Nguyễn Luân


Dưa lưới trồng theo tiêu chuẩn Viet GAP ở Bến Tre. Ảnh: Đặng Kim Phương


Vườn mận ở Cần Thơ. Ảnh: Đặng Kim Phương


Những trái cây đặc sản vùng sông nước phục vụ du khách. Ảnh: Đặng Kim Phương 


Ngoài mang lại giá trị kinh tế nông nghiệp thì hiện nay mô hình làm vườn kết hợp với du lịch cũng góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân, vừa mang lại một loại hình du lịch đặc trưng của vùng miệt vườn sông nước.

ĐBSCL có tổng diện tích vườn cây ăn trái khoảng 300 nghìn ha (chiếm 37,5% tổng diện tích trồng cây ăn trái cả nước) với tổng sản lượng khoảng 3.8 triệu tấn/năm, chiếm hơn 70% sản lượng trái cây cả nước. Một số địa phương có diện tích vườn cây ăn trái lớn như: Tiền Giang có hơn 80 nghìn ha, Bến Tre hơn 27 nghìn ha, Đồng Tháp hơn 25 nghìn ha, Cần Thơ hơn 17 nghìn ha…

(Theo số liệu thống kê của
Viện Cây ăn quả Miền Nam)
Hệ thống sông ngòi đa dạng và lối sinh hoạt và buôn bán trên ghe, dưới thuyền, từ đó cũng hình thành những chợ nổi trên sông vùng ĐBSCL như: Cái Bè (Tiền Giang), Cái Răng (Cần Thơ), Ngã Năm (Sóc Trăng), Phụng Hiệp (Hậu Giang)...

Người dân vùng sông nước vùng ĐBSCL hiếu khách, nhiệt tình, hào sảng chính là yếu tố quan trọng thu hút du khách gần xa đến trải nghiệm, khám phá những nét văn hóa sông nước hữu tình.

Việc làm nông nghiệp kết hợp với du lịch miệt vườn và gắn với các di tích lịch sử, văn hóa đang là mô hình hoạt động nổi bật của nhiều địa phương ở vùng ĐBSCL. Đơn cử như ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Long An… với những tuyến du lịch khám phá miệt vườn, sống chung và hóa thân thành người nông dân Nam bộ đã trở thành một hướng du lịch độc đáo của vùng ĐBSCL.

Tour trải nghiệm miệt vườn đôi bờ sông Tiền

Từ Tp. Hồ Chí Minh, chúng tôi đi xe khách xuống Tp. Mỹ Tho theo chân các du khách của công ty Du lịch sinh thái Mỹ Tho đi khám phá cồn Thới Sơn (còn gọi là Cù lao Thới Sơn) một trong bốn cù lao nổi tiếng của tỉnh Tiền Giang.

Chiếc đò được trang trí đẹp mắt chở chúng tôi lướt trên sông Tiền, có đầy đủ các phương tiện cứu hộ. Xa xa, cồn Thới Sơn hiện lên xanh ngắt một màu đặc trưng của những vườn cây ăn trái bạt ngàn.

Bước lên Cồn, chúng tôi được trải nghiệm uống trà mật ong và ăn chôm chôm, nhãn, chuối cao, saboche… Sau đó, chúng tôi đi thăm thú vườn trái cây và tìm hiểu các nghề thủ công truyền thống của người dân như: làm kẹo dừa, làm bánh tráng, nghề đan lát, dệt chiếu, chế biến socola từ trái cacao...

Du lịch xanh hòa cùng thiên nhiên của du khách khi nghỉ dưỡng tại Tiền Giang. Ảnh: Nguyễn Luân


Trải nghiệm cảm giác mạnh của du khách nước ngoài khi đên miệt vườn. Ảnh: Đặng Kim Phương


Cá lóc nướng đặc sản vùng Đồng bằng Sông Cửu Long mùa nước nổi. Ảnh: Đặng Kim Phương


Đặc sản mật ong Hoa Nhãn ở Tiền Giang. Ảnh: Nguyễn Luân 


Du khách thưởng thức bánh tráng nóng và trải nghiệm với nghề khi đến du lịch Bến Tre. Ảnh: Đặng Kim Phương 


Những trò chơi vận động như chèo xuồng ba lá, tát cá dưới ao, chinh phục cầu khỉ... tạo nên một không khí huyên náo khác thường ở vùng miệt vườn.

“Với 3 khu vực phát triển du lịch gồm Cù lao Thới Sơn, thị trấn Cái Bè, biển Tân Thành đã thu hút nhiều du khách đến với Tiền Giang. Trung bình mỗi năm Tiền Giang đón trên 1.5 triệu lượt khách; riêng năm 2017 đã thu hút 1,8 triệu lượt khách, trong đó có 735 ngàn lượt du khách quốc tế”.

(Ông Nguyễn Tấn Phong, Phó Giám đốc
sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền Giang)
Sau thời gian vận động, chúng ghé vào quán nước nghỉ ngơi, ngồi uống nước dừa, thưởng thức Đàn ca tài tử - một món ăn tinh thần đặc trưng không thể thiếu của người dân Nam bộ.

Vì muốn khám phá thêm cuộc sống của ngươi dân nên hôm sau chúng tôi di chuyển qua Cù lao Tân Phong thuộc huyện Cái Bè. Nơi đây nổi tiếng với những vườn chôm chôm tươi tốt cùng những khu resort sang trọng hướng đến phục vụ cho du khách nước ngoài.

Vừa bước vào khu resort Mekong Ecolodge thì gặp gia đình ông Ronal Van Den Berg đến từ Hà Lan chuẩn bị đạp xe đi khám phá cù lao này. Đi theo đoàn gia đình người Hà Lan, chúng tôi đi ăn sáng ở những quán ven đường trước khi vào nhà người dân tìm hiểu về cuộc sống, công việc của họ.

Một góc khu du lịch Lan Vương (Bến Tre). Ảnh: Nguyễn Luân 


Trải nghiệm mùa hè của nhóm học sinh khi đến Bến Tre. Ảnh: Đặng Kim Phương


Du khách trải nghiệm loại hình đi ròng rọc trên sông nước. Ảnh: Nguyễn Luân


Trải nghiệm làm chả cuốn của du khách quốc tế khi tham quan miệt vườn Bến Tre. Ảnh: Đặng Kim Phương


Du khách thưởng thức Đờn ca Tài tử, một nét văn hóa của miền Tây Nam Bộ. Ảnh: Nguyễn Luân 


Nơi nghỉ dưỡng của du khách tại Tiền Giang. Ảnh: Đặng Kim Phương


Resort MeKong Ecolodge được thiết kế tranh lá nằm ở giữa không gian xanh được khách du lịch ưa chuộng. Ảnh: Nguyễn Luân


Hồ bơi dành cho du khách ở nhà vườn Năm Hiền, huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre. Ảnh: Nguyễn Luân 


Sau đó, chúng tôi lại lên đò theo con sông Cái Bè ngắm những khu chợ nổi, tìm hiểu về các hoạt động của người dân địa phương.

Trước giờ ăn tối, các thành viên trong gia đình ông Ronal Van Den Berg được nhân viên của Mekong Ecolodge hướng dẫn làm món bánh xèo. Có thể nói, đây là món ăn đặc trưng khoái khẩu của người miền Tây mà bất kỳ du khách nào nào cũng muốn tập làm thử. Các thành viên trong gia đình ông Ronal Van Den Berg rất thích thú khi được học rồi thực hành, tự làm ra những chiếc bánh xèo thơm ngon, vàng rộm.

Buổi tối, gia đình ông Van Den Berg ở trong căn nhà lá rất đầy đủ tiện nghi ở giữa vườn trái cây chôm chôm đang vô mùa trái chín đỏ. Sáng dậy, bọn trẻ nhà ông Van Den Berg tự do hái chôm chôm và thưởng thức những trái cây chín đỏ.

Ông Van Den Berg cho chúng tôi biết, ông đã đi nhiều nơi ở Việt Nam và rất ấn tượng với vùng đất và con người vùng ĐBSCL. Trước khi chia tay, Van Den Berg nói với chúng tôi rằng, gia đình ông sẽ trở lại Việt Nam và khám phá các địa danh du lịch miệt vườn trong khu vực ĐBSCL vào một dịp khác.

Tại Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Tiền Giang (tháng 8/2018) có sự tham dự của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, tỉnh đã thống nhất và lên kế hoạch ưu tiên mời gọi đầu tư trong các lĩnh vực: Nông nghiệp công nghệ cao, thương mai - dịch vụ, công nghiệp chế biến - phụ trợ… Đặc biệt, trong lĩnh vực du lịch, tỉnh đã nhấn mạnh ưu tiên phát triển chuỗi khách sạn cao cấp, các điểm du lịch và mạng lưới các bến tàu, thúc đẩy dịch vụ du thuyền, tàu cao tốc.

Bài: Sơn Nghĩa
Ảnh: Trọng Chính - Đặng Kim Phương - Nguyễn Luân và Tư liệu

Thưởng thức 'món quà của núi' với người Vân Kiều

đăng 06:03, 11 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Từng mạch nước rỉ ra từ các khe đá trên núi cao, chảy về tới bản Klu (xã Đakrông, huyện Đakrông, Quảng Trị) rồi hình thành những hồ nước ấm nằm ngay sát bản làng, thu hút nhiều du khách.

Suối nước nóng Klu qua mấy năm đón khách du lịch vẫn giữ được nét hoang sơ của núi rừng - Ảnh: BÙI MINH TUẤN


Người Vân Kiều ở vùng này gọi đó là món quà của núi. Để tạ ơn núi rừng đã ban tặng món quà kỳ diệu này, người trong bản cùng xắn tay bảo vệ, nâng niu nguồn suối quý. 

Gần một năm nay, nguồn suối này được chính cộng đồng người Vân Kiều xây dựng thành một điểm đến du lịch cộng đồng thú vị mà độc đáo lạ thường.

Điểm đến lý thú

Cuối tuần se lạnh. Một nhóm bạn rủ nhau ngược đường bằng xe máy từ thành phố Đông Hà (tỉnh Quảng Trị) lên với Klu. Một vài người hơi ái ngại vì thời tiết không hợp với đi suối. Hiếu Minh, một thành viên trong nhóm, khẳng định chắc nụi: "Cứ đi rồi biết. Có nhiều điều ngạc nhiên lắm. Trời càng lành lạnh càng thú vị".

50km cho quãng đường dọc quốc lộ 9 nhanh chóng kết thúc. Trước mắt nhóm khách trẻ là một khung cảnh hoang sơ, một khu du lịch đã đón hàng ngàn lượt người trong mấy tháng qua. Minh đã đến đây vài lần nên khá rành khu này. Dắt nhóm bạn xuống hồ nước khá rộng ở giữa suối, Minh để nhóm bạn thoải mái khám phá khung cảnh hoang sơ rồi rẽ lên một lối nhỏ phía sau tán cây.

Điểm nhấn của Klu nằm ở chính con suối. Không như những con suối bình thường khác, suối Klu mang vẻ đẹp riêng. Đó là sự bảng lảng đến mờ ảo. Nếu nhìn kỹ sẽ thấy ở sát mặt nước luôn có một lớp hơi mỏng tỏa lên. 

Một bạn trẻ trong nhóm với tay vốc một vốc nước suối thì chợt rụt tay lại vì nước nóng. Càng lên cao nước càng nóng, lớp hơi bốc lên càng dày hơn. "Lên đến đỉnh núi trên kia, nước nóng đến mức có thể luộc trứng chín" - Minh kể.

Nhóm khách trẻ dừng chân ở hai hồ nước lớn ngay giữa suối. Đây được xem là hai "bể bơi" của con suối này. Hai hồ nước này cũng mang điều đặc biệt. Một hồ nước nóng khoảng 30 độ. Hồ còn lại nước khoảng 50 độ, và hoàn toàn là nước suối tự nhiên được dẫn theo một đường ống nối từ trên lưng chừng núi dẫn về.

Cuối buổi chiều, nhóm khách trẻ lách qua tán cây rừng bên nách suối, rẽ lên một dãy nhà sàn bằng tranh tre nứa lá truyền thống của người Vân Kiều. Một không gian mới lạ hiện ra. 

Nhóm khách như được sống trong không gian làng bản thật sự. Ghé vào một ngôi nhà. Đây là lúc nhóm khách trẻ được tận hưởng chính văn hóa ẩm thực của người bản địa.

Hành trình từ thành phố Đông Hà tới suối nước nóng Klu - Ảnh chụp màn hình


Chỉ mất thêm vài phút, một mâm "đại tiệc" đã được bày ra ngay giữa sàn nhà. Có cá suối phơi khô, đọt măng rừng luộc chấm muối, và có cả rượu cần nấu bằng men lá rừng... Đơn giản thế thôi nhưng cũng đủ níu chân nhóm khách đến tận khuya. 

"Đúng là quá bất ngờ. Ở giữa rừng núi hoang sơ mà lại có một nơi mang đến nhiều cảm xúc lạ đến thế" - Tùng, một vị khách, thốt lên.

Sản vật truyền thống của người Vân Kiều cũng được bày bán trong khu du lịch cộng đồng Klu để khách du lịch mua làm quà lưu niệm - Ảnh: QUỐC NAM


Người Vân Kiều làm du lịch cộng đồng

Già làng Hồ Văn Hưm, người đã gắn bó với con suối này từ khi còn là một đứa trẻ, kể ông cũng không biết con suối này có từ bao giờ. Ông chỉ nhớ thời trẻ đã được các già làng khác trong bản dắt đi ngược lên phía đỉnh núi để thử tìm nguồn gốc của nguồn nước nóng kỳ lạ kia. Nhưng càng đi ngược lên cao, độ nóng của suối càng tăng lên.

Cũng có người quyết đi đến tận cùng, nhưng cũng chỉ nhìn thấy những mạch nước rỉ ra từ khe đá, khói bốc nghi ngút. 

"Vài năm trước, một vài khách du lịch đi dọc tuyến đường 9 vô tình dừng lại đúng con suối Klu và ngạc nhiên khi phát hiện ở nơi núi rừng hoang sơ này lại có một nguồn nước nóng tự nhiên kỳ lạ đến vậy. Rồi họ giới thiệu cho bạn bè. Và nơi này bắt đầu trở thành một điểm dừng thường xuyên của du khách" - già Hưm kể.

Càng ngày, lượng người dừng chân càng đông. Nhiều người còn muốn ngược lên phía đỉnh núi để trải nghiệm cảm giác nóng dần của con suối. Thanh niên trong bản được thuê dẫn đường. Phụ nữ được thuê chuẩn bị đồ ăn, nước uống đi đường. Người Vân Kiều ở bản Klu bắt đầu biết làm du lịch từ ngày đó.

Một khoảng trống lớn ngay bên suối được chọn, 16 ngôi nhà sàn truyền thống của người Vân Kiều được dựng lên y nguyên "bản gốc" bằng tranh tre nứa lá. Những bản làng Vân Kiều khác quanh đó cùng đến chung tay xây dựng Klu thành một khu du lịch cộng đồng. 

Mỗi bản dựng lên một căn chòi lá đúng theo kiểu Vân Kiều để bán chính các sản vật của bản làng mình cho du khách.

Chỉ đơn giản thế thôi nhưng lại có sức hút đến không ngờ. Chỉ trong vài tháng đã có mấy ngàn lượt du khách đến với Klu. Tộc người Vân Kiều vốn sống lưng chừng núi, gần đây mới chuyển dần xuống các khu dân cư sát đường lớn. Chính vì thế, cộng đồng người Vân Kiều ở khu vực này có bề dày văn hóa hàng trăm năm.

Nhưng theo già Hưm, người Vân Kiều làm du lịch như một người mới học việc, vì đây là lần đầu tiên, chỉ biết lấy tấm lòng chân thật ra để đối đãi với khách. Phải đến đầu năm 2018, khi có sự tư vấn của một số người làm du lịch chuyên nghiệp, người Vân Kiều ở đây mới bắt đầu nghĩ đến những điều lớn lao hơn. 

"Mình là người Vân Kiều. Mình phải mượn con suối này làm cầu nối để mình giới thiệu văn hóa của người Vân Kiều đến với mọi người" - già Hưm nói.

Sẽ xây dựng khu du lịch của người Vân Kiều


Ông Hồ Văn Phương, phó Phòng văn hóa huyện Đakrông, cho biết Klu hiện nay không chỉ là một điểm đến du lịch thông thường nữa, mà chính là một điểm hẹn văn hóa. Những gì độc đáo nhất, tinh túy nhất, truyền thống nhất trong văn hóa ẩm thực, văn hóa cộng đồng của người Vân Kiều đều được quy tụ nơi đây. "Chúng tôi sẽ xây dựng Klu thành một khu du lịch mang linh hồn thuần túy của người Vân Kiều" - ông Phương nói.

QUỐC NAM

Người Mông ở Lai Châu hồ hởi làm du lịch

đăng 01:33, 31 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Từ những bàn tay chỉ quen với cày cuốc, người Mông ở bản Thèn Pả, xã Tả Lèng, huyện Tam Đường (Lai Châu) đã làm quen với cách tiếp đón, mời chào khách.

Từ cánh rừng thông rộng hàng chục ha cách đây hơn 10 năm, người dân ở bản Thèn Pả, xã Tả Lèng, huyện Tam Đường (Lai Châu) đã khai thác để phát triển du lịch sinh thái, gắn với văn hóa dân tộc Mông

 

Dù vẫn đang trong thời gian đầu tư cơ sở hạ tầng nhưng hơn một tháng nay, nơi đây đã đón hơn 6.000 lượt du khách

 

Đường vào bản được người dân sử dụng nghệ thuật sắp đặt bằng con đường chong chóng mang lại cảm giác mới lạ cho người thưởng ngoạn

 

Theo đại diện chính quyền địa phương cho hay, chính quyền hỗ trợ 150 triệu đồng và người dân thế chấp vay ngân hàng 100 triệu đồng để đầu tư.

 

Hầu hết các vật liệu xây dựng ở đây đều được người dân lấy từ rừng về

 

Nằm ở độ cao khoảng 1.000 mét so với mực nước biển, điểm du lịch đồi thông Thèn Pả được du khách đánh giá có không gian, khí hậu đẹp như Đà Lạt (Lâm Đồng)

 

Tại nơi đây, người dân còn lắp đặt những ngôi nhà tình yêu dành cho các đôi lứa.

 

Trung bình mỗi ngày nơi đây đón hơn 100 lượt du khách thăm quan và tạo nguồn thu nhập đáng kể cho người dân

 

Để đảm bảo đón khách, người dân địa phương đã thành lập nhiều tổ để quản lý, phục vụ ở nơi đây.

 

Từ công tác vệ sinh...

 

...đến đảm bảo an toàn cháy nổ được bà con đề cao

 

Tại điểm du lịch này, các công việc hàng ngày của phụ nữ Mông là khâu vá cũng được chị em thực hiện thành thục, thu hút sự chú ý của khách tham quan

 

Những bàn tay thô mộc thuần thục từng đường kim, mũi chỉ để tạo những đường nét hoa văn trên váy áo

 

Với mức vé 20.000 đồng cho một du khách như hiện nay, đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân

 

 

Nghệ thuật sắp đặt bằng những vật liệu đơn giản ở đây tạo sự tò mò cho du khách.

 

 

Dù mới hoạt động, nhưng nơi đây đang là điểm đến yêu thích của các đôi lứa và chứng kiến hạnh phúc của nhiều cặp đôi

 

Du khách thích thú với những chiếc gùi và chiếc khèn khổng lồ.

 

Để tạo điểm nhấn cho điểm du lịch của bản, người dân khi tham gia quản lý ở đây đều diện trên mình bộ trang phục truyền thống bắt mắt.

 

 

Điểm du lịch Thèn Pả, xã Tả Lèng cũng là điểm để du khách ngắm thành phố Lai Châu.


Khắc Kiên - Thanh Thủy

Bản Tày làm du lịch cộng đồng

đăng 21:12, 24 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:05, 31 thg 10, 2018 ]

Không chỉ được trải nghiệm các ngôi nhà sàn của người dân bản Tày, du khách đến với Bắc Sơn còn được chiêm ngưỡng thung lũng lúa tuyệt đẹp, các mái nhà lợp ngói âm dương thanh bình và hòa mình vào những đêm nhạc hội cộng đồng sôi động.

Những mái nhà sàn san sát ở Quỳnh Sơn nhìn từ trên cao - Ảnh: HẢI DƯƠNG


Cách Hà Nội khoảng 170km theo quốc lộ 1A, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn - từng được biết đến với cuộc khởi nghĩa du kích Bắc Sơn - ngày nay không chỉ là vùng đất với cảnh sắc tươi đẹp và phong phú các giá trị văn hóa truyền thống, mà còn được biết đến nhiều nhờ những bản du lịch cộng đồng tại các thôn bản Tày, xã Quỳnh Sơn.

Độc đáo bản nhà sàn với ngói âm dương

Chúng tôi lên Bắc Sơn lúc tiết trời miền biên giới phía Bắc se se lạnh khi đã chuyển qua giữa thu. Mọi người cùng leo lên đỉnh núi để ngắm cả thung lũng Bắc Sơn với màu vàng óng của mùa lúa chín và có thể nhìn thấy cả thị trấn Bắc Sơn với những khối nhà cao tầng hiện đại, tương phản lại khu vực bản Tày nhà sàn san sát nhau với mái ngói âm dương ngả màu đất.

Cùng với những bạn trẻ đến từ Pháp, Bỉ, chúng tôi được dẫn đi tham quan làng nhà sàn Quỳnh Sơn. Con đường bêtông đi qua những ruộng lúa chín trĩu bông dần dần dẫn mọi người vào các bản Tày. 

Đường quanh co với nhiều lối rẽ khiến mọi người đi tách đoàn sẽ dễ bị lạc nhau. Càng đi sâu vào những bản Tày tại đây, chúng tôi càng nhận thấy nét đơn sơ, nguyên bản của những ngôi nhà sàn truyền thống.

Người Tày vùng núi phía Bắc, đặc biệt như ở Quỳnh Sơn vẫn dựng nhà sàn có 2 tầng, sàn mỗi tầng từ 70 - 150 m2. Toàn bộ tầng dưới, người Tày để nông sản hoặc nhốt gia súc, gia cầm, còn tầng trên để phòng khách, phòng ngủ và không gian sinh hoạt hằng ngày của gia chủ. Tuy nhiên, một số hộ dân đã cách ly khu vực để nông sản, nuôi nhốt gia cầm, gia súc khỏi ngôi nhà sàn chính.

Với những gia đình khá giả vách nhà được làm bằng gỗ lim, còn những hộ kinh tế khó khăn sẽ sử dụng loại gỗ rẻ tiền hoặc để vách bằng tre, nứa. Đặc biệt, hầu hết nhà sàn bản Tày ở Bắc Sơn được lợp mái bằng loại ngói âm dương. Ông Dương Công Chích (bản Tâm Pác) cho biết loại ngói âm dương hay còn gọi là ngói máng là loại vật liệu lợp mái nhà sàn truyền thống của người Tày, được sản xuất ngay chính tại xã.

"Ngói âm dương có độ bền rất cao, nhiều ngôi nhà có tuổi đời 50 - 60 năm mà mái vẫn chưa hỏng. Đặc biệt nhà sàn lợp ngói âm dương sẽ rất mát mẻ vào mùa hè và ấm khi vào mùa đông giá lạnh..." - ông Chích nói, đồng thời cho biết loại ngói này được làm hết sức kỳ công với nguyên liệu là đất sét được đào lấy từ ngoài ruộng và được ủ rồi nung khoảng 1 tháng thì sản phẩm mới hoàn thành.

Thưởng thức đàn tính, văn nghệ bản Tày

Sau một buổi chiều đi tham quan và trải nghiệm tại các ngôi nhà sàn, chúng tôi quyết định vào thuê trọ tại một hộ làm du lịch cộng đồng. 

Buổi tối, chúng tôi được thưởng thức bữa ăn đậm chất dân dã với cá ao hấp sả, gà thả vườn luộc chấm muối ớt và đặc biệt là món bánh chưng đen truyền thống của người Tày ở Bắc Sơn. Để gói bánh chưng đen chuẩn, ngon, người Tày phải dùng gạo nếp trồng ở nương, đỗ xanh bóc vỏ và đặc biệt là tro đen khi đốt rơm nếp.

Khi đỗ ngâm và gạo nếp đã đãi qua nước, người ta sẽ rắc một ít tro đen của rơm nếp vào. Tất cả trộn đều rồi thêm gia vị, sau đó đem gói với nhân là thịt lợn. Lá để gói bánh chưng đen cũng là lá dong. Bánh chưng đen khi cắt ra thành từng miếng sẽ có màu sắc rất đặc biệt, đẹp mắt. Đó là màu trắng của nhân thịt mỡ, màu vàng của đỗ và bên ngoài là màu nâu đen của gạo trộn tro...

Sau bữa tối ngon miệng, du khách gồm cả nhóm các bạn trẻ nước ngoài được chủ nhà mời ra sân trước nhà ngồi ghế, thưởng trà và chờ xem biểu diễn văn nghệ. Không khí tối ấy càng vui hơn khi đoàn khách được giao lưu, làm quen với nhóm các bạn trẻ dưới xuôi lên đây hoạt động tình nguyện. Rồi đàn tính được mang đến để mấy thành viên đội văn nghệ của xã trình bày các tiết mục truyền thống độc đáo.

Theo chị Chu Thị Phương - trưởng ban quản lý du lịch cộng đồng xã Quỳnh Sơn, có 2 đội văn nghệ của xã chơi đàn tính với khoảng 30 - 40 người, luôn sẵn sàng phục vụ du khách. Mấy chàng trai, cô gái Pháp, Bỉ, vô cùng thích thú với cây đàn tính. Có chàng còn mượn đàn của các nghệ sĩ để chơi thử. 

Sau các tiết mục đàn tính là buổi giao lưu vui vẻ, ấm cúng. Kết thúc đêm văn nghệ là điệu múa sạp được diễn ra để mọi người từ du khách đến dân bản địa hòa cùng niềm vui, xích lại gần nhau hơn...

Buổi sáng, chúng tôi được đưa đi xem dân bản đan lưới rồi bơi thuyền, quăng chài bắt cá. Mấy bạn du khách phương Tây đã trố mắt thích thú khi lần đầu tiên nhìn thấy người nông dân quăng chài đánh cá ở ao nhỏ giữa ruộng lúa. 

Du khách còn được các thành viên trong ban quản lý du lịch cộng đồng xã Quỳnh Sơn dẫn đi tham quan nhiều địa danh hấp dẫn như ngôi đình Nông Lục được dựng từ thời nhà Nguyễn, khu bảo tàng du kích Bắc Sơn, đồn Mỏ Nhài và trường bắn Vũ Lăng...

Khấm khá nhờ du lịch cộng đồng

Khách và các bạn trẻ tình nguyện cùng dân bản giao lưu múa sạp 


Theo chị Chu Thị Phương, trên địa bàn xã Quỳnh Sơn hiện có 460 hộ gia đình với hơn 1.800 nhân khẩu được chia làm 6 thôn, bản. Trong đó 99% dân số là người Tày.

Năm 2010, sau khi cơ quan chức năng đi tham quan khảo sát đã quyết định cho 5 hộ đầu tiên thí điểm làm du lịch cộng đồng. Đến nay số hộ làm du lịch cộng đồng chính thức đã tăng lên 8 và có hơn 20 hộ khác đang chuẩn bị đạt tiêu chuẩn để làm du lịch cộng đồng... Nhờ làm du lịch cộng đồng đã giúp đời sống kinh tế của các bản Tày khấm khá hơn. Ông Dương Công Chài, 1 trong 5 hộ làm du lịch cộng đồng đầu tiên ở Quỳnh Sơn, cho biết gia đình ông có 8 gian phòng dành cho khách lưu trú qua đêm, mỗi năm đón gần 700 - 800 lượt du khách, trong đó 15 - 20% là khách nước ngoài. Chỉ tính riêng 8 tháng đầu năm 2018 nhà ông Chài đã đón 60 đoàn du khách trong và ngoài nước với khoảng 500 người ngủ lại qua đêm.

HẢI DƯƠNG

Làng Cơ Tu “bước vào” kỷ nguyên số

đăng 20:40, 24 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và kỷ nguyên số không chỉ giúp tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế mà còn mở ra một chân trời kết nối giữa con người với con người.


Phải đến đầu năm 2017 thì Chính phủ, các bộ ngành Trung ương và chính quyền các đô thị lớn mới bàn nhiều về những cơ hội, thách thức trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Ngành y tế thí điểm hệ thống lưu trữ và truyền tải hình ảnh tại các bệnh viện, tiến tới việc lưu trữ hồ sơ y tế cá nhân, dùng liên thông giữa các bệnh viện. Ngành tư pháp, công an cũng chỉ mới thí điểm quản lý mã số định danh công dân thay cho chứng minh nhân dân, hộ khẩu… Trong khi đó, tại các bản làng Cơ Tu khuất lấp giữa đại ngàn Trường Sơn đã thực hiện số hoá cơ sở dữ liệu dân cư, phục vụ quản lý hành chính từ hơn 3 năm nay.

Không biên giới ở huyện vùng biên 

Sáu giờ sáng, khu vực thị tứ ATiêng – huyện lỵ Tây Giang vẫn còn ngái ngủ trong mờ sương. Tôi chạy bộ trên con đường có đánh biển số, vòng qua hồ nước công viên ngay trung tâm huyện mà nghe rõ tiếng bước chân mình bởi sự tĩnh lặng vùng cao. Cái thị tứ nhỏ nhắn, xinh xinh này mới hình thành kể từ ngày Tây Giang tái thành lập huyện (2003), nhưng cũng ra dáng đô thị. Đường sá quy hoạch mới, hài hoà với sông núi, nhưng không kém phần hiện đại. Ngoài những dải phân cách trồng đầy hoa theo chuyên đề như hoa hoàng hậu, phượng rừng, hoa đào, cây thông lá kim… mỗi góc đường đều có biển đánh số đường, kèm chỉ dẫn giao thông bằng 3 thứ tiếng Anh, tiếng Việt và Cơ Tu. Chưa thành thị trấn, chưa đủ tiêu chuẩn đặt tên đường, nhưng huyện đã đánh số tất cả các đường cho thuận tiện giao thương, đi lại của người dân.

Làng Cơ Tu mới cũng được XD quây quần như một tổ ấm 


Con đường vắng hoe, nhưng đọc dòng chữ “lươt tơớ a’tươm/ go right/ đi bên phải” ngay ngắn trên biển chỉ dẫn, tôi buột miệng cười, nhưng rồi cũng chạy đúng phần đường của mình, bên phải. Khi mở điện thoại ra, càng giật mình khi thấy cột sóng wifi miễn phí đầy ắp, gần như phủ khắp khu vực trung tâm huyện. Những điều thú vị như vậy cứ bất ngờ xuất hiện, nhất là đối với khách lạ, lần đầu trải nghiệm ở huyện biên viễn Tây Giang này. 

Ngược về phía biên giới, giáp với Lào, con đường về xã Lăng như sợ chỉ mong manh giữa rừng thẳm. Hai hàng thông Caribe ven đường như thì thầm, vi vu trong những cơn gió lưng đèo, như một Đà Lạt chợt thoáng qua. Dù đi giữa rừng vắng, nhưng tìm về những làng Pơ Rning, Aró, Tà Ry… không mấy khó khăn đối với khách lạ. Bởi mỗi ngả đường rẽ vào làng đều được cắm bảng chỉ dẫn bằng cả 3 thứ tiếng Anh – Việt –Cơ Tu.

Hoa đỗ quyên trên Tây Giang có cả ngàn năm tuổi, chưa được khai thác 


Nếu như ở giữa trung tâm huyện lỵ, đã bắt gặp nhiều điều thú vị, bất ngờ khi mới tỉnh dậy, thì bây giờ vào làng Pơ Rning chúng tôi càng trố mắt, ngạc nhiên hơn. Làng Pơ Rning quần tụ bởi những ngôi nhà trên ngọn đồi bát úp, xoay quanh một nhà Gươil. Gươil không chỉ là nhà sinh hoạt cộng đồng, nơi tổ chức các lễ hội, nơi tế lễ, phán xử… mà còn là trung tâm tín ngưỡng của cộng đồng Cơ Tu và là nơi tiếp khách. Đứng ở Gươil, tầm nhìn có thể bao quát hết từng ngôi nhà trong làng. Làng Pơ Rning không thiếu sóng wifi để kết nối thế giới. Nhưng điều lạ hơn là cả hệ thống điện trong làng đều được ngầm hoá. Già Clâu Nâm kể: “Làng mới được bố trí trên một ngọn đồi, xung quanh là núi cao nên thường xuyên bị sét đánh khi có dông. Thu lôi không chống xuể, nên khi kéo điện về, chúng tôi đã kiến nghị chính quyền cho ngầm hoá để tránh sét. Kéo dây điện lùng nhùng ở vùng núi nhiều giây leo, cây bụi như trước đây liên tục bị sự cố, mất điện và tiềm ẩn nguy cơ tai nạn. Bây giờ điện đi ngầm không chỉ đẹp cảnh quan mà còn tuyệt đối an toàn”. Những thiếu nữ Cơ Tu ở trong ngôi làng giữa đại ngàn Trường Sơn này không chỉ miệt mài dệt thổ cẩm, mà còn dùng smatphones để ship cúc họ mi, hoa thuỷ tiên từ Hà Nội, lên mạng đặt hàng giảm giá tận Seoul, New York… dịp Black Friday.

Các làng mới ở Tây Giang 100% được ngầm hóa điện 


Bí thư huyện uỷ Tây Giang, ông B’hriu Liếc cho biết: Để tránh thảm hoạ lũ quét, sạt núi, vùi nhà, làm chết người thường xuyên như trước đây, chính quyền huyện Tây Giang đã có chủ trương sắp xếp lại hoàn toàn 95 bản làng, cụm dân cư. Bố trí tập trung trên những ngọn đồi bát úp. Đến nay, Tây Giang đã tái định cư được 74 trên tổng số 95 làng Cơ Tu. Chính vì xây dựng mặt bằng trên đỉnh một ngọn đồi bát úp mà gần 10 năm nay, Tây Giang không xảy ra bất cứ trường hợp nào chết người, sập nhà do sạt lở núi, lũ lụt. Làng quần tụ như vậy cũng tiết kiệm đáng kể về ngân sách khi đầu tư hạ tầng giao thông, y tế, trường học. Đồng thời bảo tồn được các giá trị văn hoá, tín ngưỡng riêng có của tộc người Cơ Tu. Giữa mùa mưa bão, sạt lở núi ầm ầm, vùi lấp cả trăm nhà, làm chết hàng chục người ở các huyện Phước Sơn, Nam và Bắc Trà My gần đó, mới thấy sự êm ấm, bình yên của những bản làng Cơ Tu ở Tây Giang giá trị biết chừng nào. 

Dữ liệu cư dân trong mã số định danh chủ hộ 

Chúng tôi vòng vào làng mới Aró, ngỡ ngàng hơn khi 130 hộ đều có số nhà như ở thành phố. Nhà được bố trí quanh làng theo hình quả xoài, nên đánh số chẵn, lẻ xen kẽ nhau. Dưới mỗi biển số nhà là tên họ của chủ hộ. Tôi hỏi nhà trưởng thôn B’hriu Zứih, mấy đứa nhỏ trong làng đáp ngay: “nhà 39”. Gần như mọi người trong làng đều nhớ số nhà của nhau.

Số nhà như mã định danh cư dân với đầy đủ các dữ liệu người Cơ Tu tại Tây Giang 


Arất Blúi, Phó Chủ tịch UBND huyện cho biết, mỗi hộ dân không chỉ có một số nhà để định danh chủ hộ, mà số nhà đó cũng chính là số hộ khẩu. Nhiều chủ nhà tìm mua, lựa chọn số điện thoại, biển số xe… có số đuôi trùng với số nhà của mình. Chỉ cần nhớ tên chủ hộ hoặc gõ số nhà, cán bộ ở trung tâm huyện biết ngay họ tên chủ nhà, tên tuổi năm sinh, giới tính của các thành viên trong gia đình. Chỉ cần gõ số nhà ở làng cụ thể nào đó, chúng tôi có thể tra ra ngay nhà đó có bao nhiêu người, có xe máy, tivi hay không. Nhà có bao nhiêu diện tích rừng, rẫy. Có phải gia đình chính sách hay thuộc diện đói nghèo, gia chủ tham gia tôn giáo nào…” 

Ông Arất Blúi giải thích thêm, Tây Giang có 10 xã thì trong đó có đến 8 xã biên giới, giáp với Lào. Các làng xã nằm rải rác trên diện tích gần 1.000 km2 và đều ở vùng rừng núi cao, đèo dốc xa xôi, đi lại cách trở. Những năm mới tái lập huyện, cán bộ đi cơ sở là phải mất 10 ngày, nửa tháng. Mưa lũ, tắc đường đôi khi bị cô lập vài tháng trời. Chính vì điều kiện khắc nghiệt như vậy, Tây Giang buộc phải sắp xếp lại dân cư theo làng bản tập trung, nghĩ đến việc số hoá cơ sở dữ liệu dân cư để tiện việc quản lý, khỏi tốn nhiều công sức đi cơ sở khảo sát, thống kê mỗi khi có sự kiện, dự án nào đó triển khai. Ông Blúi cho biết, có được cơ sở dữ liệu cơ bản này rồi, chính quyền Tây Giang đang tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thêm. Nếu phát sinh những dữ liệu gì khác về dân cư, như hồ sơ y tế cá nhân, phân bổ số hộ tham gia một dự án cụ thể nào… thì hoàn toàn có thể tích hợp vào hệ thống dữ liệu chung. Việc tra cứu, thống kê, quản lý sẽ đỡ tốn nhiều nhân lực so trước đây.

Tây Giang đẹp như một bức tranh dù bất cứ làng bản gần đường giao thông hay ở tận miền xa xôi nào 


Ông B’hriu Liếc, Bí thư huyện uỷ Tây Giang rất tự hào về thành quả này. Ông Liếc nói, sau khi thí điểm thành công tại 3 xã Lăng, Dang và ATiêng hiện việc xây dựng cơ sở dữ liệu công dân đang triển khai nhân rộng ra cho toàn huyện. Khi làng mới sắp xếp ổn định thì đồng thời nhập liệu, đánh mã số chủ hộ để số hoá, quản lý. Ông Liếc cho biết đây là sáng kiến của ông Arất Blúi, phó chủ tịch UBND huyện. Trong một lần đi công tác từ Hà Nội về, năm 2013, Blúi nãy ra ý tưởng này. Lập tức được thường vụ thông qua, ban hành nghị quyết và triển khai ngay. Ban đầu chỉ đánh số nhà cho tiện việc sắp xếp dân cư, quản lý hành chính. Nhưng sau đó, chúng tôi huy động cả ngành công an, tư pháp, lao động thương binh xã hội, địa chính… vào cuộc. Từ tên tuổi, tài sản, sổ đỏ, đất rừng, thành phần kinh tế, đối tượng chính sách… đều được nhập vào máy tính. Không chỉ tiện lợi cho quản lý nhà nước mà còn giải quyết nhanh chóng các thủ tục, cải cách hành chính nhanh gọn.

Dù phát triển rất nhanh chóng, song người Cơ Tu Quảng Nam luôn ý thức bảo tồn bản sắc văn hóa của mình. 


Đến huyện miền núi vùng biên giới với gần 100% dân số đều là người Cơ Tu, nhưng không nghe nói đến đói nghèo, nhà tạm. Cán bộ không còn âu lo chuyện sạt lở núi, vùi lấp nhà, chết dân mỗi mùa mưa. Ngược lại, người ta bàn đến chuyện xây dựng những thương hiệu du lịch đặc sắc cho Tây Giang. Sau khi phát hiện ra rừng di sản Pơ Mu có hàng ngàn năm tuổi, Tây Giang lại vừa tìm thấy cả trăm héc ta rừng Đỗ Quyên cổ trên đỉnh Chơ’ Lang cao 2.000m. Không chỉ có hoa to, nhiều màu sắc lạ mà thân rễ Đỗ Quyên cổ còn rêu phong, cổ dị, đẹp đến choáng ngợp. Tất cả vốn quý của núi rừng Trường Sơn này đang được huyện Tây Giang lập hồ sơ di sản, chuẩn bị khai thác du lịch. Khi biết tận dụng thành tựu của khoa học công nghệ, thông tin… để quản lý thì chắc chắn chính quyền sẽ “rảnh tay” để nghĩ đến những điều tốt đẹp, hướng những ý tưởng đến việc phát triển bền vững, sung túc hơn cho dân mình. 

Thanh Hải

Về vùng đất “7 hồ 3 thác”

đăng 01:51, 24 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:52, 24 thg 10, 2018 ]

Vùng đất Măng Đen (Kon Plông)- nơi được mệnh danh là “Đà Lạt 2” của Tây Nguyên, không chỉ hấp dẫn hút khách du lịch thập phương bởi khí hậu trong lành, vẻ đẹp hoang sơ, hữu tình mà còn là mảnh đất đầy triển vọng cho phát triển nền nông nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao ở Đông Trường Sơn hùng vĩ...

Ấn tượng vẻ đẹp 

Măng Đen (huyện Kon Plông) nằm ở độ cao trung bình 1.000-1.500m so với mực nước biển, có khí hậu ôn đới, quanh năm mát mẻ, nhiệt độ trung bình dao động từ 16-200C, độ ẩm trung bình 82-84%, có rừng nguyên sinh bao bọc xung quanh, rừng có độ che phủ hơn 80% diện tích tự nhiên.

Hồ Đăk Ke hấp dẫn khách du lịch. Ảnh: P.N 


Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp với nhiều hồ thác, suối đá, núi đồi nhấp nhô xanh ngát, ngàn thông vi vu trong gió… tạo nên phong cảnh hữu tình.

Và, cũng chính vùng đất này còn lưu giữ nhiều nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, tạo nên sức hút kỳ lạ với những du khách thích khám phá, tìm hiểu.

Đến với Kon Plông du khách không thể bỏ qua vùng đất “7 hồ 3 thác” tuyệt đẹp với thác Đăk Ke, Pa Sỹ, Lô Ba; hồ Toong Đam, Toong Zơri, Toong Pô… Đây là điều kiện thuận lợi để Kon Plông phát triển trở thành trung tâm du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng.

Lâu lắm rồi, tôi mới có dịp trở lại với vùng đất “7 hồ 3 thác” Kon Plông. Tôi có người bạn ở Thủ đô Hà Nội lần đầu vào Kon Tum. Thế là trong vai trò “hướng dẫn viên du lịch” tôi đã lên một kế hoạch các địa điểm mà bạn cùng tôi sẽ đến thăm. Tất nhiên, tôi không quên dẫn người bạn đi thăm vùng đất Măng Đen để giới thiệu với bạn tôi về mảnh đất được ví như “Đà Lạt thứ 2” .

Do thời gian có hạn, không thể đi hết được những danh thắng ở Kon Plông, chúng tôi dạo quanh thác Pa Sỹ, Đăk Ke, hồ Toong Đam, hồ Đăk Ke và một số điểm du lịch tâm linh ở Kon Plông.

Chỉ mới đặt chân đến Măng Đen, nhìn rừng thông bạt ngàn, gió vi vu bạn tôi tấm tắc: Đẹp. Đẹp thật! Mình đi nhiều nhưng phải nói Măng Đen ấn tượng quá. Đây đúng là vùng đất tuyệt vời, khí hậu trong lành, cảnh thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ, rừng thẳm bao la, ngút ngàn... Mình tin nếu phát triển tốt, Măng Đen sẽ ngày càng hút nhiều khách thập phương.

Chúng tôi tham quan các điểm du lịch thác hồ, dòng suối nằm ẩn mình trong khu rừng nguyên sinh, rồi đến ngôi làng du lịch cộng đồng Kon Pring. Mỗi điểm đến đều để lại trong bạn tôi những ấn tượng đẹp với bao thích thú được thể hiện trong từng lời nói, ánh nhìn, sự hỏi han không ngớt của bạn, làm cho tôi thêm tự hào về mảnh đất nơi mình sinh sống.

Bạn tôi chân thành bày tỏ sự ngạc nhiên: Mình đã đi nhiều nơi nhưng với Măng Đen, mình quá ấn tượng trước vẻ đẹp mà ít có nơi nào có được. Dòng thác Pa Sỹ như một thiếu nữ mặc chiếc áo dài trắng thướt tha giữa ngàn thông xanh. Hồ Toong Đam nước trong xanh thăm thẳm in bóng cây rừng lung linh thật thơ mộng, tĩnh mịch…

Trong chuyến đi, tôi nhận ra không chỉ bạn tôi mà nhiều đoàn khách đến tham quan cũng đều bị “mê hoặc” bởi vẻ đẹp hoang sơ cùng vùng đất này.

Làng du lịch cộng đồng Kon Pring. Ảnh: P.N 


Dù đã nhiều lần đến với Măng Đen, nhưng vùng đất này vẫn có sức hấp dẫn kỳ lạ với tôi. Không hấp dẫn sao được, dưới tán rừng nguyên sinh xanh hút mắt kia là những ngọn thác, hồ nước tự nhiên tuyệt đẹp, là ngàn thông reo vi vút, là những nét văn hóa độc đáo của con người nơi đây..., và cả những món ẩm thực dân dã mà chỉ một lần nếm thử thôi đã làm cho ta nhớ mãi. Tất cả như hòa quyện vào nhau làm cho Măng Đen thêm có sức hút kỳ lạ, mê hoặc lòng người. Vì vậy, Măng Đen được chọn làm một trong những khu du lịch sinh thái cấp quốc gia.

Miền đất hứa phát triển “nông nghiệp xanh, sạch”

Không chỉ ấn tượng bởi vẻ đẹp tự nhiên mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất “7 hồ 3 thác”, Kon Plông đã và đang biết đến như miền đất hứa cho sự phát triển của “nông nghiệp xanh, sạch”, một nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao bởi thời tiết, khí hậu rất phù hợp thuận lợi để phát triển.

Để phát triển tiềm năng đó, UBND tỉnh đã có quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển rau, hoa, quả và các loại cây trồng khác gắn với du lịch sinh thái Măng Đen huyện Kon Plông và mở rộng quy hoạch phát triển vùng nông nghiệp công nghệ cao Măng Đen với quy mô hơn 10.000ha. Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi cho Kon Plông phát triển.

Tận dụng lợi thế ấy, Kon Plông đã đẩy mạnh quảng bá, thu hút nên đến nay, Kon Plông đã thu hút được trên 80 dự án, trong số đó, có nhiều dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, rau hoa xứ lạnh ứng dụng công nghệ cao…

Vốn dĩ là người đang khá thành đạt ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng chỉ một lần đến du lịch ở Măng Đen, chị Nguyễn Thị Kim Dung (50 tuổi, đã “bị” mảnh đất Măng Đen “chinh phục” hoàn toàn và chị quyết định bán cả gia tài ở Thành phố Hồ Chí Minh lên đầu tư ở Măng Đen. Ngoài hệ thống nhà hàng khách sạn, chị đầu tư hợp tác ứng dụng công nghệ vào nuôi thành công “đông trùng hạ thảo” ở Măng Đen.

Sản xuất nông nghiệp xanh, sạch ở Kon Plông. Ảnh: P.N 


Tương tự, chị Nguyễn Thị Thiện Mỹ (59 tuổi, ở Thành phố Hồ Chí Minh), sau khi đến Kon Plông tham quan, nhận thấy tiềm năng về sản xuất nông nghiệp sạch ở Măng Đen nên chị quyết định “bỏ phố về rừng” đầu tư sản xuất rau hoa xứ lạnh.

Thế là chị bắt đầu mày mò tìm hiểu, nghiên cứu phát triển các loại rau hoa phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của Măng Đen và sản phẩm nông nghiệp hữu cơ của chị làm ra bước đầu có chỗ đứng trên thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế.

Chị Mỹ chia sẻ: Muốn tìm vùng đất như Măng Đen không dễ. Tôi thấy ngoài vẻ đẹp tự nhiên thì mảnh đất này còn khá nguyên vẹn, đất sạch và đặc biệt là khí hậu thuận lợi nên tôi quyết định đầu tư trồng rau, hoa phù hợp cho sản phẩm sạch để cung ứng cho thị trường…

Hiện nay, trang trại rau, hoa 27ha của chị Mỹ với màu xanh ngun ngút khoai tây, dâu tây, chanh dây, các loại cải thảo; sắc đỏ, vàng của hoa phong lan, hồ điệp đang phát triển khá tốt hứa hẹn sẽ cho hiệu quả kinh tế cao.

Cho đến nay, ở Kon Plông, trong tổng số hơn 80 dự án đầu tư thì có hơn 60 dự án đầu tư vào nông nghiệp; nhiều sản phẩm nông nghiệp đã được xuất khẩu sang nước ngoài, đưa vào hệ thống siêu thị… Điều đó cho thấy, Kon Plông - mà chủ yếu là vùng đất Măng Đen - đang là vùng đất hứa cho sự phát triển nông nghiệp xanh, sạch và triển nông nghiệp công nghệ cao…

Những dự án sản xuất nông nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ cao cũng đang được chính quyền huyện Kon Plông lấy làm thế mạnh để phát triển du lịch để du khách tham quan, kết hợp với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng…

Không chỉ có thế mạnh nói trên, mảnh đất Kon Plông được thiên nhiên ưu đãi và được gọi là “vùng đất thuốc” với nhiều loại cây thảo dược quý hiếm dưới tán rừng.

Từ nguồn dược liệu này, hiện nay Kon Plông đang hình thành ngành sản xuất, chế biến các loại thuốc chữa bệnh, các loại đồ uống bổ dưỡng hay thực phẩm chức năng.

Trên địa bàn còn có hàng ngàn héc ta sim rừng và chuối rừng, có thể chế biến ra những sản phẩm đồ uống đặc sản như rượu sim rừng, rượu chuối rừng, nước giải khát, trà hoa sim... Những loại sản phẩm này cũng đã và đang được các nhà đầu tư quan tâm phát triển chế biến thành những sản phẩm đặc hữu mang thương hiệu của vùng rừng núi Kon Plông.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Lân - Bí thư Huyện ủy Kon Plông chia sẻ: Với điều kiện thuận lợi, chúng tôi đang thu hút đầu tư vào phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch và hiện có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến Măng Đen. Trong tương lai Măng Đen là vùng sản xuất nông nghiệp sạch, không khác gì Đà Lạt.

Hy vọng, với điều kiện khí hậu, thiên nhiên ưu đãi, một ngày không xa, vùng đất “7 hồ 3 thác” Kon Plông sẽ là điểm đến hấp dẫn về du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và là vùng trọng điểm về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, vùng đất của nông nghiệp xanh, sạch… góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của địa phương.

Phúc Nguyên

Khám phá Đồng Tháp Mười mùa nước nổi

đăng 01:46, 24 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Vùng Đồng Tháp Mười là nơi lý tưởng cho những ai muốn “trốn” khỏi thành phố ồn ào, về với thôn quê, hòa mình vào thiên nhiên, tận hưởng những phút giây yên ả. Nhất là vào mùa nước nổi, đến với Đồng Tháp Mười, du khách có thể hiểu sâu hơn về con người, bản sắc văn hóa, khung cảnh thiên nhiên cũng như thưởng thức những sản vật tự nhiên, đặc trưng.

Long An - miền đất hiền hòa, con người chân chất, nơi có nhiều điểm du lịch thơ mộng, níu chân du khách mỗi lần ghé qua. Đến với Long An vào mùa nước nổi, tầm khoảng tháng 7 đến tháng 10 (âm lịch) hàng năm, du khách không thể bỏ qua vùng Đồng Tháp Mười với hệ sinh thái vô cùng phong phú, đa dạng, đặc trưng riêng. Bên cạnh đó, những sản vật tự nhiên góp phần tăng thêm sự hấp dẫn cho chuyến đi của mình. 

Đến với Làng nổi Tân Lập, du khách có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên nhiều thú vị 


Vào bên trong Làng nổi, con đường nhỏ chạy dài dẫn du khách tham quan cảnh vật, rừng tràm, nghe tiếng chim hót, trải nghiệm những phút giây đắm mình vào thiên nhiên, bỏ hết những ồn ào, vội vã của cuộc sống thường ngày. Các bạn ưa khám phá, thích phượt, nơi đây là điểm “check in” không thể nào bỏ qua. Di chuyển bằng chân mỏi mệt, du khách có thể ngồi xuồng ba lá, thuyền cáp kéo dưới nước len lỏi trong những con rạch nhỏ, chiêm ngưỡng vẻ đẹp một cách chân thật nhất về thiên nhiên vùng Đồng Tháp Mười. Ngồi trên xuồng, cáp kéo, phóng tầm mắt nhìn khung cảnh bao la trong thoang thoảng tràm trong tiếng chim hót, chèo xuồng giữa hồ sen, súng nở rộ vào mùa nước nổi để tận hưởng cảm giác thư thả sau những ngày làm việc mệt nhọc. 

Chị Nguyễn Thị Hằng, đến từ quận 10, TP.HCM, chia sẻ: “Những năm gần đây, năm nào gia đình tôi cũng đến Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập tham quan. Vào mùa nước nổi, chúng tôi đến thường xuyên hơn, một tháng thường đi 2 lần vào dịp cuối tuần. Đến đây, mọi ồn ào, mệt nhọc như tan biến, những hồ sen, súng nở rộ, rất đẹp. Khung cảnh thiên nhiên gần gũi, gia đình tìm được những phút giây sum họp, hạnh phúc khi bên nhau”. 

Làng nổi Tân Lập - điểm đến cho những ai thích khám phá thiên nhiên 


1. Từ TP.Tân An, du khách di chuyển theo Quốc lộ 62 để về vùng Đồng Tháp Mười, bắt đầu khám phá vùng này. Quốc lộ 62 sẽ dẫn du khách đến với điểm dừng chân đầu tiên: Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập (huyện Mộc Hóa). Làng nổi là vùng đất ngập nước hoang sơ, kênh, rạch chằng chịt, có dòng sông Vàm Cỏ Tây (đi vào thơ, ca) chảy qua. Khung cảnh hữu tình, nổi bật của nơi đây chính là rừng tràm bạt ngàn, với con đường xuyên rừng độc đạo. Bên cạnh đó, vào mùa nước nổi, các hồ sen, hồ súng thi nhau nở rộ, tô điểm cùng với hàng trăm loài chim, cá, lưỡng cư tạo nên làng nổi vẻ đẹp riêng biệt, khó lẫn với những nơi khác. 

Theo Quản lý Khu du lịch sinh thái Làng nổi Tân Lập - Lê Minh Trí, vào dịp cuối tuần, du khách đến Làng nổi đông hơn gấp nhiều lần so với ngày thường. Khu du lịch mới khai thác thêm thuyền cáp kéo dưới nước để phục vụ du khách. Bên cạnh đó, nhà hàng, chỗ lưu trú qua đêm cơ bản bảo đảm cho chuyến du lịch của du khách tại đây. Vào mùa nước nổi, chúng tôi còn chế biến các món ăn đặc trưng như cá lóc nướng, sen, bông súng, chuột đồng,... để du khách vừa trải nghiệm du lịch, vừa trải nghiệm về văn hóa, ẩm thực của vùng. 


Hẹ nước, bông súng - những đặc sản mùa nước nổi ở vùng Đồng Tháp Mười 


2. Muốn tìm hiểu rõ hơn về thiên nhiên hoang dã, du khách tiếp tục men theo Quốc lộc 62, vào Đường tỉnh 819 (cặp kênh 79) đến thăm Khu Bảo tồn đất ngập nước Láng Sen (huyện Tân Hưng). Với hệ sinh thái phong phú cùng với hệ động, thực vật đa dạng, nhất vào mùa nước nổi, nơi đây còn là nơi cư trú của hàng ngàn cá thể chim di trú, một số loài thuộc loại quý hiếm: Sếu đầu đỏ, quắm đen, điên điển,... 

Năm 2015, khu này được công nhận là khu Ramsar thứ 7 của Việt Nam. Ramsar Láng Sen là rừng tràm nguyên thủy nhất của vùng Đồng Tháp Mười, sinh cảnh được bảo tồn, “nhà” của hơn 150 loài thực vật, 140 loài động vật,... Tuy là khu bảo tồn nhưng Láng Sen vẫn được phép khai thác du lịch (một phần). Đến với nơi này, du khách sẽ hiểu sâu hơn về rừng tràm, hòa mình với thiên nhiên vùng đất ngập nước, đời sống của hàng trăm loài thực vật, động vật khác nhau. Những lợi thế đó, Ramsar Láng Sen hứa hẹn là điểm dừng chân, tham quan thú vị, hấp dẫn dành cho du khách cùng gia đình trong mùa nước nổi. 

Từng ghé thăm Ramsar Láng Sen, Trần Thị Hoàng Oanh, sinh viên năm 3, Trường Đại học Văn Hóa TP.HCM, nhận xét: “Đây là điểm đến mà mình thích nhất. Thiên nhiên, hệ thực vật, động vật đa dạng giúp mình khám phá, hiểu sâu hơn về cuộc sống, tự nhiên. Từ đó, nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của mình trong việc tham gia bảo vệ các loài thực vật, động vật hoang dã. Các món ăn dân dã, đặc biệt, mùa nước nổi có thêm bông súng, sen, hẹ nước và những đặc sản khác làm cho mình thấy lưu luyến con người cũng như cảnh vật nơi đây. Chắc chắn, mình sẽ quay lại và tham quan thường xuyên hơn”. 

Di chuyền bằng xuồng máy tham quan khu Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười 


3. Điểm “check in” thứ 3 trong chuyến khám phá Đồng Tháp Mười mùa nước nổi chính là Khu Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười (huyện Mộc Hóa). Tuy cũng là vùng đất ngập nước nhưng Khu Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười mang cho mình đặc trưng riêng. Du khách tham quan nơi này có thể nghiên cứu về hệ thực vật và các loại cây dược liệu. 

Khu này với gần 1.000ha, chủ yếu rừng tràm gió nguyên sinh, có những cây tràm có niên đại gần trăm năm, trên 80 nguồn gen quý. Thảm thực vật, động vật trong khu đa dạng, giúp du khách hòa quyện với thiên nhiên, tìm những phút giây yên tĩnh, thoải mái sau những tất bật của cuộc sống thường nhật. 

Đến đây, du khách có thể tham quan rừng đặc dụng, tắm hơi, ngâm dược liệu quý, tận mắt chứng kiến quy trình sản xuất dược liệu, các loại cây dược liệu trồng sạch, các động thực vật bảo tồn. Hơn nữa, du khách trải nghiệm thực tế bằng việc chế biến các sản phẩm thảo dược như tinh dầu và sử dụng sản phẩm do tự tay mình tạo ra. 

Bên cạnh đó, du khách có dịp thưởng thức những món ăn dân dã, những đặc sản của vùng mùa nước nổi. Để giúp chuyến đi của mình thêm ý nghĩa, du khách có thể mua các loại dược phẩm, mỹ phẩm, sản phẩm bảo vệ sức khỏe, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, cây giống, hoa kiểng,... từ thiên nhiên làm quà tặng cho bạn bè, người thân trong gia đình. Ngoài ra, nơi đây chính là bối cảnh chính trong bộ phim “Cánh đồng bất tận” của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình, dựa trên tác phẩm cùng tên của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. 

Chuột đồng giúp cho chuyến khám phá Đồng Tháp Mười mùa lũ thêm thú vị 


4. Du khách khó có thể bỏ qua khi đến vùng Đồng Tháp Mười mùa này, chính là theo chân những “hướng dẫn viên” bán chuyên nghiệp, lênh đênh trên những chiếc xuồng máy, ghe hay tắc ráng giữa cánh đồng ruộng ngập nước trải dài từ địa phương này qua những địa phương khác. Ở đó, du khách có dịp tìm hiểu về văn hóa, đời sống của người dân nơi đây, cảnh họ khai thác “chiến lợi phẩm” đặc trưng mùa nước nổi do thiên nhiên ban tặng. Cuối cùng, du khách có thể thưởng thức các món ăn đặc sản mùa lũ: Cá linh, hẹ nước, bông súng, cá lóc, chuột đồng,... nhâm nhi với rượu Long An, góp phần đặc sắc cho chuyến đi thú vị của mình. 

Tin tưởng, vùng Đồng Tháp Mười mùa nước nổi mang lại cho du khách những cảm xúc, trải nghiệm quý giá, tìm được những giây phút bình yên bên gia đình, người thân, bạn bè của mình. Long An chính là điểm dừng chân hấp dẫn, thú vị trên hành trình khám phá miền Tây sông nước của du khách.

Lực Nguyễn

Tiên Yên – Vùng đất biên cương nhiều dấu ấn văn hóa dân gian

đăng 19:40, 17 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Từng được biết đến là nơi "rừng thiêng nước độc” nhưng giờ đây, huyện Tiên Yên (tỉnh Quảng Ninh) đang là điểm du lịch hấp dẫn bởi nét văn hóa độc đáo.

Huyện Tiên Yên (tỉnh Quảng Ninh) đang là điểm đến của nhiều du khách bởi nơi đây có rất nhiều nét đẹp văn hóa dân gian của cộng đồng các dân tộc anh em. Đặc biệt, những lễ hội truyền thống được phục dựng nguyên gốc đã tạo nên những bản sắc riêng về đất và người Tiên Yên. 

Phố cũ Tiên Yên được các nhà nhiếp ảnh ghi lại từ trên cao. 


Đến với Tiên Yên, du khách có thể bắt gặp những câu ca Sóong cọ ngọt ngào, trữ tình của người Sán Chỉ chơi vơi giữa đại ngàn Đông Bắc. 

Lên nương, đi chợ phiên hay trẩy hội, trai gái Sán Chỉ đều có thể cất lên làn điệu dân ca như thế. 

Tuy không phải cái nôi của làn điệu Sóong cọ vùng Đông Bắc, nhưng ở Tiên Yên lại lưu giữ được không ít câu ca cổ với nhiều nghệ nhân còn hát được thể loại này. 

Đây thực sự là nguồn vốn quý cho việc gìn giữ phong tục, những di sản văn hóa phi vật thể mà huyện Tiên Yên đang nỗ lực triển khai từ hơn thập kỷ qua.

Không chỉ quyến rũ bởi những làn điệu dân ca, dấu ấn văn hóa của vùng đất này còn thể hiện rất rõ qua hoa văn trang phục truyền thống của người Dao, Sán Chay, Sán chỉ...

Những trang phục thổ cẩm, thêu tay, mỗi họa tiết, hoa văn trên trang phục đều thể hiện phong tục và quan niệm sống của đồng bào.

Chị Tằng Thị Nga và anh Sằn Chi Nàm, dân tộc Dao đỏ huyện Tiên Yên cho biết: “Truyền thống bản sắc dân tộc từ các cụ đời xưa truyền cho con cháu thì không thể bỏ được. Quyết tâm truyền đạt cho con cháu mình trước nhất là cái khăn, rồi đến cái áo, xong mới đến thắt lưng".

“Chúng tôi hay vận động bà con những ngày lễ hoặc là ngày đám cưới mặc quần áo dân tộc, chủ yếu là nữ. Còn nam thì rất hiếm vì gần như không để lại được trang phục của người nam, còn các chị em nữ thì giữ lại đúng nguyên vẹn của các cụ ngày xưa để lại. Bây giờ chúng tôi vẫn cố gắng tuyên truyền những lớp trẻ để vận động họ tiếp tục học thêu và học may những quần áo dài và trang trí đầu tóc".

Hiện trang phục của nữ giới người Dao đỏ ở Tiên Yên là còn giữ được nguyên bản. 


Nép bên trục Quốc lộ 18, trấn lỵ Tiên Yên xưa là nơi hội tụ nhiều luồng văn hóa, di sản của cộng đồng các dân tộc vùng Đông Bắc như Kinh, Tày, Dao, Sán Chay, Sán Chỉ. Theo thời gian, sự giao thoa, đan xen văn hóa đã hình thành nên những sắc thái riêng cho đất và người Tiên Yên - vùng đất nơi ngã ba sông, ngã ba đường vùng Đông Bắc. 

Nhờ sự độc đáo này, Tiên Yên đã đi vào thơ ca với rất nhiều những tác phẩm nghệ thuật. “Dừng chân nơi phố nhỏ Tiên Yên/Con sông xanh chia hai bờ nhớ thương”. Phố nhỏ Tiên Yên được nhắc đến là con phố trải qua không ít những thăng trầm của lịch sử với hơn 80 nóc nhà mái ngói âm dương cổ còn được bảo tồn. Hình thành khoảng đầu thế kỷ XX, Tiên Yên phố là sự pha trộn giữa kiến trúc của người Hoa và người Pháp. Phố không có vỉa hè, theo ô bàn cờ gọn ghẽ. Gần 2 năm nay, phố cũ Tiên Yên được xây dựng thành phố đi bộ dịp cuối tuần với nhiều hoạt động biểu diễn nghệ thuật đường phố độc đáo trở thành điểm hẹn của du khách gần xa.

Những người làm công tác bảo tồn văn hóa dân gian kỳ vọng, qua những hoạt động này, nét đẹp văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc sẽ được phô diễn và thực sự trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, có chỗ đứng trong lòng du khách. Tuy nhiên đây không phải là chuyện một sớm, một chiều như trăn trở của ông Đinh Viễn nhà giáo, người nghiên cứu lịch sử, văn hóa Tiên Yên: “Người nước ngoài thích bản sắc của người dân tộc, quần áo, trang phục bà con tất cả các dân tộc. Chúng ta cần dục dưỡng để tạo ra sắc màu văn hóa. Tôi kiến nghị với huyện tổ chức chợ đêm của các đồng bào dân tộc thiểu số".

Tiên Yên không có điều kiện tự nhiên và du lịch nổi trội như các thành phố như Hạ Long, Móng Cái nhưng lại dày đặc các di tích lịch sử. Toàn huyện có 39 di tích, 8 công trình kiến trúc cổ, được trùng tu và xếp hạng. 

Ông Hoàng Thái Hưng, Phó Chủ tịch UBND huyện Tiên Yên cho biết: “Nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị và bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Chúng tôi cũng xác định khi bảo tồn và phát huy giá trị của các dân tộc đó thì sẽ tạo nét văn hóa riêng cho sự phát triển xã hội của Tiên Yên, đặc biệt là dùng văn hóa để thực hiện phát triển kinh tế thông qua du lịch".

Những giá trị văn hóa dân gian ẩn chứa trong điệu hát, tiếng khèn, trong trang phục truyền thống là sợi chỉ gắn kết đa sắc màu văn hóa dân tộc, làm nên nét riêng, khác biệt của Tiên Yên. Với những nỗ lực trong công tác bảo tồn, ở tương lai không xa, những nét đẹp tự nhiên như Thác Pạc sủi, mũi lòng vàng, chùa Đồng Rui sẽ cùng với văn hóa dân gian tạo nên không gian văn hóa ấn tượng nơi dải đất biên cương Đông Bắc của Tổ quốc.

Vũ Miền

1-10 of 18

Comments