Những chuyến đi, những khám phá... và có cả những suy tư.

Bài mới

  • Đắm mình trong thế giới chim muông hoang dã Tam Nông Một ngày ở rừng tràm Tam Nông tuy ngắn ngủi nhưng tôi đã mua được sự kiên trì, lòng thương cảm và biết bao cảm xúc khi đắm mình trong ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Hà Nội và những kỷ lục Thủ đô Hà Nội không chỉ là trung tâm đầu não của cả nước về chính trị, kinh tế mà còn kết tinh trong những bề dày văn hiến đậm ...
    Được đăng 07:30, 28 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mù Cang Chải đến để nhớ Cách Hà Nội gần 300 km về hướng Tây Bắc, Mù Cang Chải nổi tiếng với ruộng bậc thang, mỗi mùa lúa chín nơi đây đón du khách đến từ ...
    Được đăng 07:59, 27 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Về bến Giang Đình xưa nghe hát ca trù, Ví Giặm Du thuyền Giang Đình cổ độ với 340 chỗ ngồi với hành trình từ Bến Giang Đình về Đền Củi trên sông Lam. Ảnh: SM Về bến Giang Đình, Nghi ...
    Được đăng 07:40, 27 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Phia Oắc, để nhớ một rừng rêu... Những căn nhà do người Pháp xây dựng từ ngót một trăm năm trước, trong thời gian khai thác quặng quý trên dãy Phia Oắc, giờ đã trở thành những ...
    Được đăng 02:16, 21 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 25. Xem nội dung khác »


Đắm mình trong thế giới chim muông hoang dã Tam Nông

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Một ngày ở rừng tràm Tam Nông tuy ngắn ngủi nhưng tôi đã mua được sự kiên trì, lòng thương cảm và biết bao cảm xúc khi đắm mình trong thế giới chim muông hoang dã Nam Bộ, mà trước đó dù có mơ cũng không thể thấy.

Cảnh điên điển "rút ruột nuôi con" 


Vườn quốc gia Tam Nông (Đồng Tháp) chẳng phải là chỗ lạ. Nhưng, vào được vùng lõi của vườn để ngắm chim là một chuyện hoàn toàn khác, mà các anh kiểm lâm ở đây cũng bảo rằng với khách, điều đó đếm trên đầu ngón tay! Và tôi có được diễm phúc đó... 

Ba giờ rưỡi sáng, chiếc tắc ráng từ từ rời bờ kênh hướng tới khu A2 - Vườn quốc gia Tam Nông. Đi trong đêm, giữa bóng tối sâu thẳm khắp bốn bề chỉ nhìn loang loáng những cây tràm hình thù cổ quái phía trước nhờ luồng ánh sáng phát ra từ chiếc đèn pin của anh tài công và đám đom đóm lập lòe như dẫn đường khiến khách phương xa luôn trong tâm trạng lo lắng vu vơ. 

Thuyền bỗng lướt vào đầm nước nổi đầy bèo tai tượng, đâu đây thoáng vọng về tiếng chim tu hú mênh mang, da diết làm tăng thêm vẻ tịch mịch của rừng đêm. 

Từ đây chúng tôi buộc phải thay nhau chống sào. Thế nhưng không lâu sau đó, thuyền bị mắc cạn giữa đám dây leo chằng chịt và bãi cây mục. 

“Đến nước này thì đành ngồi chờ trời sáng để lội vào khu vực các loài chim tập trung sinh sản” - người bạn đồng hành là nhân viên bảo vệ rừng lên tiếng. 

“Mồi ngon” của muỗi! 

Khi trăng hạ huyền vừa chếch bóng đỉnh đầu thì trời vừa rạng sáng, cánh rừng, đầm nước xung quanh cũng bắt đầu biến đổi sắc màu sậm đen sang màu xanh tươi mát trong mắt chúng tôi. Chẳng bao lâu, những tia nắng đầu tiên rọi sáng phía bìa rừng như đánh thức vạn vật. 

Ban đầu là tiếng vỗ cánh rào rào của loài cò ốc, kế tiếp là tiếng khàn đục, chói tai của điên điển rồi tiếng chim cồng cộc, cò trắng... 

Chúng tôi bắt đầu thả người xuống đầm nước, chuẩn bị lội vào rừng sau khi những đàn chim chưa đến thời kỳ sinh đẻ lần lượt bay đi kiếm ăn. Rất may là mực nước đang cuối mùa lũ nên chỉ ngang thắt lưng, đôi chỗ ngập tới ngực. 

Tuy nhiên việc di chuyển không hề dễ dàng vì dưới lớp bùn lỗ chỗ vô số gốc rễ cây đã chết. Thế nên không ít lần tôi đã bị vấp ngã nhưng đã kịp thời gượng dậy, nếu không nhiều khả năng mọi thứ, cả người và máy ảnh, máy quay phim, chân máy... mang theo sẽ tắm bùn thoải mái. 

Song đáng ngại nhất là đám muỗi rừng, chúng bay vo ve khắp mọi nơi, đến mức huơ tay đã bắt được cả nắm! Chúng luôn đeo bám dai dẳng để đốt “con mồi” cho bằng được mới thôi. 

Cái không gian rừng ngập nước Tam Nông quyến rũ tôi từ dáng đứng cây tràm mọc khẳng khiu dưới nắng mai, những âm thanh chim chóc, cùng thảm bèo tai tượng xanh mướt phủ kín mặt đầm. 

Nhưng sinh động hơn cả là những ổ chim được đan kết từ cỏ, que cây nằm chen chúc trên cùng một vòm cây như chùm quả. Và ở đó khá nhiều chú chim cồng cộc con với cái đầu đen óng, đứng lô nhô vắt vẻo dưới tán lá tràm. 

Còn trên đôi chạc ba tận ngọn cây, nơi đối mặt với nắng gió, các chú chim điên điển con thò hẳn chiếc cổ dài lêu nghêu, ngúc ngoắc ra khỏi ổ nhìn dáo dác. 

Tất cả bọn chúng liên tục chộn rộn, lúc sải cánh vỗ nhè nhẹ ra vẻ muốn tung bay, khi nghếch mỏ như chờ mong bố mẹ về. 

Thỉnh thoảng, đám điên điển con lại hung hăng xua đuổi hoặc chọi mổ bất cứ chú cồng cộc nào vô tình mon men đứng gần tầm mỏ của chúng. 

Trời phú cho chim điên điển (còn gọi chim cổ rắn), cồng cộc (còn gọi cốc đế) đôi cánh to rộng, dũng mãnh và giữa các ngón chân kết màng như chân vịt, bởi thế chúng chẳng ngần ngại bay đến bất cứ nơi nào chúng muốn và bền bỉ bơi lặn bắt cá suốt ngày. 

Tuy chúng sống chan hòa với cò ốc, cò trắng, diệc xám... nhưng điên điển là giống chim lớn rất hung dữ và thể hiện uy quyền với các cư dân xung quanh. 

Dầm người trong nước ngắm chim 


Xem điên điển “móc ruột nuôi con” 

Mặt trời đã gần đứng bóng, từ sáng đến giờ ngâm mình dưới nước sau bụi tràm rậm rạp, chúng tôi luôn căng mắt nhìn hàng cây phía đối diện và đã “săn” được khá nhiều ảnh bố mẹ của đám cồng cộc bay đi bay lại tha mồi về nuôi bầy con nhưng vẫn chưa thấy cặp bố mẹ điên điển nào lộ diện chăm sóc chim non. 

Anh bạn bảo vệ rừng lý giải: “Từ lúc trứng nở cho đến khi đủ lông, đủ cánh trưởng thành, điên điển con phải trải qua năm, sáu tuần. Để nuôi được bầy chim non bốn, năm con, bố mẹ chúng suốt ngày vất vả đi lấy nước, săn cá về tiếp cho lũ con vốn rất háu đói đòi ăn liên tục, vì thế không thể không về. 

Lý do chim bặt vô âm tín sáng nay có thể chúng đã phát hiện kẻ lạ trong vườn và lo sợ tổ bị đánh cắp, nguy hại bầy con nên đậu xa xa để quan sát hoặc đánh lạc hướng”. Hèn gì trong lúc ém mình chờ đợi, tôi đã không ít lần bị giật mình bởi tiếng kêu “ù quạp” khàn khàn của điên điển như xua đuổi, hăm dọa. 

Nhưng sau một hồi lâu theo dõi, nhận thấy hai vị khách lạ không phải là kẻ thù, các con chim điên điển bố mẹ cũng sà xuống với bầy con. 

Tuy nhiên chúng vẫn còn dè dặt, ngó ngoáy cái đầu như cổ rắn nhìn trước nhìn sau, trước khi cúi xuống chăm chút đám chim non đang ghếch mỏ khua lách cách đòi ăn. 

Bọn điên điển, cồng cộc cho con ăn khác lạ với cò ốc, cò trắng: chúng há rộng mỏ, cùng lúc khạc thức ăn được tích trữ trong diều ra cuống họng, để rồi từng đứa con trong bầy lần lượt thò đầu vào gắp mồi. Hình thức “móc ruột nuôi con” cứ tiếp diễn cho đến khi bầy con ra ràng. 

Chiều xuống, từng đàn chim tiếp nối bay về như các đợt sóng nhấp nhô trên vòm trời gợn chút sắc màu da cam. 

Chúng chao lượn xung quanh khu vườn như biểu lộ niềm vui đoàn tụ trước khi khoan thai sà xuống tổ hoặc đậu kín trên cành lá xum xuê. Lúc này cả cánh rừng tưng bừng, rộn rã bởi tiếng cây lá xào xạc, tiếng vỗ cánh phành phạch, cả tiếng quẹt mỏ của những đôi chim đang âu yếm với nhau. 

Trời tối dần, khu vườn mới đó đã vắng lặng, chỉ còn văng vẳng tiếng lũ chim cồng cộc con trên cành cây trước mặt líu ríu như than van khi chưa thấy mẹ về...

TRẦN THẾ DŨNG

Hà Nội và những kỷ lục

đăng 07:30, 28 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Thủ đô Hà Nội không chỉ là trung tâm đầu não của cả nước về chính trị, kinh tế mà còn kết tinh trong những bề dày văn hiến đậm nét. Trong muôn vàn những kỷ lục của Hà Nội, chúng tôi chọn ra đây những kỷ lục “đẹp”.

Là thủ đô văn hiến, hơn 1.000 năm qua, Hà Nội từng là kinh đô của nhiều triều đại phong kiến. Hà Nội là nơi đã diễn ra hai bản hùng văn, hai bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ. Đó là Bình Ngô đại cáo thế kỷ XV và Tuyên ngôn độc lập năm 1945.

Với bề dày lịch sử, Hà Nội là nơi có nhiều di tích thắng cảnh nhất cả nước. Với hơn 5.000 di tích lớn nhỏ, trong đó có hơn 1.000 di tích đã được xếp hạng, Hà Nội thể hiện sự tinh hoa, một kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú. Những di tích danh thắng nổi tiếng của Hà Nội phải kể đến là: Thành Cổ Loa, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, chùa Một Cột, hồ Hoàn Kiếm, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh thắng Hương Sơn, chùa Thầy, chùa Tây Phương, Hoàng thành Thăng Long, làng cổ Đường Lâm… Bên cạnh đó, Hà Nội còn có hơn 1.200 làng nghề cùng nhiều lễ hội độc đáo và một nền văn hóa ẩm thực đa dạng, đặc sắc.

Chùa Một cột, Hà Nội. 


Nói về hệ thống bảo tàng, Hà Nội cũng là địa phương có nhiều bảo tàng nhất trong cả nước. Các bảo tàng đa diện và phong phú thể hiện quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước, thể hiện bản sắc văn hóa các vùng miền của cộng đồng các dân tộc anh em. Những bảo tàng trên địa bàn Hà Nội được du khách trong và ngoài nước biết đến rộng rãi như: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Dân tộc học, bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam... Mới đây nhất, Hà Nội khánh thành bảo tàng riêng của mình rất đồ sộ nhân dịp chào mừng 1.000 năm Thăng Long.

Là thành phố tập trung nhiều làng nghề nên Hà Nội có nhiều tên phố được bắt đầu bằng từ “Hàng” nhất. Khu phố cổ, phố cũ là nơi có mật độ phố mang tên “Hàng” lớn nhất. Theo thống kê, Hà Nội xưa có trên 50 tên phố, ngõ được bắt đầu bằng chữ “Hàng”. Mỗi tên phố được gắn với một sản vật mà nơi đó buôn bán hoặc là nghề nghiệp của người dân nơi đó. Tiếc rằng đến nay, nhiều tên phố chỉ còn là tên gợi nhắc chứ người dân đã chuyển sang kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau. 

Hà Nội - Nơi lưu giữ nhiều bia tiến sĩ nhất cả nước. 


Là đế đô của nhiều triều đại phong kiến nên Hà Nội cũng là nơi có nhiều văn bia tiến sĩ nhất của cả nước. Tính từ tấm bia ghi danh tiến sĩ năm 1442 đến 1779 (thời Lê Mạc) thì Văn Miếu có tới 82 tấm bia. 82 tấm bia Tiến sĩ này đã được UNESCO vinh danh là Di sản tư liệu thế giới. Cùng với danh hiệu nhiều bia Tiến sĩ nhất thì Hà Nội cũng là nơi dựng bia Tiến sĩ đầu tiên trong cả nước.

Hà Nội không phải là kinh đô đầu tiên của dân tộc, nhưng cho đến nay, Hà Nội còn lưu giữ dấu tích của tòa thành cổ nhất. Đó là thành Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh từ thời vua An Dương Vương. Thành cổ này cũng là nơi vua Ngô Quyền lấy làm kinh đô, trị vì đất nước. Tòa thành có ba vòng đắp bằng đất, gồm thành trong, thành giữa và thành ngoài với diện tích 18 ha. 

Hà Nội là thành phố có nhiều hồ đầm nhất. Nhiều nhà buôn phương Tây xưa tới Đông Kinh (tên gọi khác của thành Thăng Long thời Lê) thường gọi Thăng Long là thành phố nửa đất, nửa nước và ví Thăng Long với Venezia của châu Âu. Ngày nay, ao hồ của Thăng Long xưa bị lấp nhiều, nhưng chúng ta vẫn tự hào với những hồ tụ thủy tụ linh thắng địa như: Hồ Tây, Hồ Gươm, Hồ Thiền Quang, Hồ Bảy Mẫu, Hồ Trúc Bạch... Vào thập niên cuối của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu ghi nhận có đến hơn 40 hồ đầm lớn nhỏ ở Hà Nội. Khi sáp nhập thêm Hà Tây vào Hà Nội thì số ao hồ của thủ đô càng nhiều. Một số hồ lớn như: hồ Suối Hai (rộng gấp đôi Hồ Tây), hồ Đồng Mô - Ngải Sơn ở huyện Ba Vì, hồ Đại Lải ở huyện Mê Linh, hoặc hệ thống hồ Quan Sơn từng được xem là “Hạ Long thu nhỏ”.

Độc đáo phố cổ Hà Nội. 


Thủ đô cũng là thành phố có diện tích lớn nhất. Ngày 29/05/2008, kỳ họp thứ 3 của Quốc hội khóa XII đã chính thức thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính của TP. Hà Nội và một số tỉnh liên quan. Theo đó, diện tích của TP. Hà Nội mở rộng tăng thêm toàn bộ phần diện tích của tỉnh Hà Tây và huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc cùng 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Hiện nay, TP. Hà Nội có tổng diện tích 3.324,92 km², gồm 10 quận, 1 thị xã, 18 huyện ngoại thành, đứng đầu cả nước về diện tích và nằm trong số 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới.

Kỷ lục về trường mỹ thuật đầu tiên của cả nước cũng thuộc về Hà Nội. Đó là trường Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École supérieure des beaux arts de l’Indochine) khai giảng ngày 17/10/1924. Trường do họa sư Nam Sơn và V. Tardieu đồng sáng lập. Từ ngôi trường này đã hun đúc rèn luyện nên nhiều danh họa của Việt Nam. Hà Nội cũng là nơi thành lập trường Đại học Y đầu tiên của Việt Nam năm 1902. 

Bảo tàng lịch sử quốc gia. 


Ngoài ra, Hà Nội còn đạt các kỷ lục: Là khu vườn duy nhất có nhiều giống cây trái đặc trưng ba miền. Đó là khu vườn nhà Bác Hồ tại Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch - nơi Người ở và làm việc từ ngày 17/05/1958 cho tới khi qua đời; Làng làm nghề ảnh sớm nhất - Làng Lai Xá, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức; Phố có nhiều cổng làng nhất - Phố Thụy Khuê dài 3,2 km; Cây cầu sắt nhiều tuổi nhất - Cầu Long Biên xây dựng năm1899 đến năm 1902; Di tích có quy mô khai quật lớn nhất - Hoàng thành Thăng Long; Viện nghiên cứu khoa học đầu tiên - Viện Viễn Đông Bác Cổ thành lập năm 1901.

Về kiến trúc, Hà Nội là nơi có tòa nhà cao nhất Việt Nam. Đó là tòa nhà Keangnam Hanoi Landmark Tower do Tập đoàn Keangnam Enterprise thực hiện tại Hà Nội. Công trình cao 350 m này được khởi công năm 2007, chính thức vận hành năm 2011 với tổng vốn đầu tư lên đến 1,05 tỷ USD.

Cầu Nhật Tân. 


Đặc biệt, là thành phố ven sông Hồng, Hà Nội đã xây dựng cây cầu dây văng liên tục nhiều nhịp nhất, hiện đại nhất và dài nhất nước ta. Cầu Nhật Tân được xác định là một trong những công trình giao thông trọng điểm của thủ đô không chỉ có ý nghĩa lớn về kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị, xã hội quan trọng. Công trình hoàn thành sẽ kết nối trung tâm thành phố với các khu công nghiệp ở phía Bắc như Bắc Thăng Long - Vân Trì, Đông Anh - Cổ Loa, Gia Lâm - Sài Đồng - Yên Viên, đồng thời hoàn thiện tuyến đường vành đai 2 và rút ngắn tuyến đường từ trung tâm Thủ đô đến sân bay Quốc tế Nội Bài. Với quy mô lớn, công nghệ thi công tiên tiến, hiện đại, kết cấu đặc biệt - cầu dây văng 2 mặt phẳng dây, cầu Nhật Tân đã trở thành một điểm nhấn kiến trúc, một biểu tượng mới của Thủ đô Hà Nội.

Tuy nhiên, bên cạnh những cái nhất đáng tự hào, Hà Nội cũng đang phải đối mặt với việc băm nát quy hoạch nhất, ùn tắc giao thông và mất an toàn vệ sinh nhất. 

Mạnh Thắng

Mù Cang Chải đến để nhớ

đăng 07:59, 27 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Cách Hà Nội gần 300 km về hướng Tây Bắc, Mù Cang Chải nổi tiếng với ruộng bậc thang, mỗi mùa lúa chín nơi đây đón du khách đến từ mọi miền của Tổ quốc. Nếu bạn chưa từng tới mảnh đất này, hãy xách ba lô và lên đường ngay.


Mù Cang Chải là huyện vùng cao của tỉnh Yên Bái, nằm cách Hà Nội gần 300 km về hướng Tây Bắc là điểm đến ưa thích của người yêu thiên nhiên và thích thưởng ngoạn không khí vùng cao. 


Mù Cang Chải có 2 mùa đẹp nhất là mùa nước đổ và mùa lúa chín. 


Tới đây bạn sẽ được chiêm ngưỡng những cánh đồng bậc thang trải dài màu vàng chen màu xanh tuyệt đẹp. 


La Pán Tẩn là nơi có nhiều ruộng bậc thang nhất ở Mù Cang Chải với 700 ha ruộng bậc thang. 


Tới Mù Cang Chải, không chỉ ngắm lúa chín vàng trên những ruộng bậc thang, du khách còn có rất nhiều những hoạt động thú vị để cùng tham gia và khám phá con người, mảnh đất nơi đây.


Du khách đến đây nhất định phải lưu lại những khoảnh khắc của mình với ruộng bậc thang vùng Tây Bắc này. 


Sơn Tùng - Bình Minh

Lao Động online - 24/11/2017

Về bến Giang Đình xưa nghe hát ca trù, Ví Giặm

đăng 07:40, 27 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Du thuyền Giang Đình cổ độ với 340 chỗ ngồi với hành trình từ Bến Giang Đình về Đền Củi trên sông Lam. Ảnh: SM 


Về bến Giang Đình, Nghi Xuân (Hà Tĩnh), quê hương Đại thi hào Nguyễn Du, du khách ngỡ ngàng khi được thưởng thức ca trù và dân ca Ví Giặm, hai loại hình nghệ thuật được công nhận di sản văn hóa nhân loại. 

Chị Hương Giang (Vĩnh Phúc), thành viên của đoàn Famtrip gồm 60 thành viên từ nhiều doanh nghiệp lữ hành, du lịch trên cả nước đã về tham quan, khảo sát thị trường tại Hà Tĩnh vừa qua đã đặc biệt ấn tượng với các màn biểu diễn nghệ thuật dân tộc trên sông Lam tại Hà Tĩnh. 

Các nghệ nhân biểu diễn ca trù. Ảnh: Hải Đăng 


“Chúng tôi đã có một trải nghiệm mới mẻ, ấn tượng”, chị Hương Giang chia sẻ. 

Sau khi tham quan một số điểm du lịch, đoàn Famtrip về du thuyền Giang Đình cổ độ tại bến Giang Đình (xã Xuân Giang, Nghi Xuân). Đây là mô hình du lịch mới khai trương của Cty CP Song Ngư Sơn Giang Đình, kết hợp nhiều loại hình du lịch nhằm khai thác, bảo tồn các giá trị di sản văn hóa bản địa. 

Các thành viên đoàn Famtrip rất ấn tượng với các làn điệu ca trù và Ví Giặm. Ảnh: Hải Đăng


Trên du thuyền 2 tầng, 340 chỗ, khởi hành từ bến Giang Đình lên cầu Bến Thủy nối Nghệ An, Hà Tĩnh, du khách thưởng thức các món đặc sản của xứ Nghệ như cá sông, nhút mít, hải sản…và ngắm cảnh sông nước hữu tình. 

Đặc biệt, tại sân khấu chính của du thuyền, các nghệ nhân người địa phương biểu diễn các làn điệu ca trù Cổ Đạm và dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh, hai loại hình nghệ thuật dân tộc được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. 

Các thành viên đoàn Famtrip cùng hát giao lưu. Ảnh: Hải Đăng 


Ông Trần Quốc Lâm, Chủ tịch HĐQT Cty Song Ngư Sơn cho biết: “Bến Giang Đình xưa là nơi người dân dựng ngôi đình để đón Tể tướng Nguyễn Nghiễm, thân phụ Đại thi hào Nguyễn Du về quê. Còn ca trù gắn với làng Cổ Đạm cũng ở Nghi Xuân, và người dân nơi đây cũng đã sáng tạo ra dân ca Ví Giặm”. 

Anh Văn Dũng, thành viên đoàn Famtrip chia sẻ: “Quả là hấp dẫn, khi những làn điệu ca trù, một loại hình nghệ thuật bác học, lại vang lên cùng với những làn điệu mộc mạc, đằm thắm của dân ca Nghệ Tĩnh”. 

Phong cảnh sông nước hữu tình trên sông Lam. Ảnh: Hải Đăng 


Phấn khích, các thành viên đoàn Famtrip cũng lên sân khấu giao lưu và cùng hát liên khúc. 

Ông Lê Trần Sáng - Phó Giám đốc Sở VHTTDL Hà Tĩnh chia sẻ: Đây là một mô hình du lịch mới ở Hà Tĩnh, nhằm góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc. Hi vọng các thành viên đoàn Famtrip sẽ giới thiệu các sản phẩm du lịch Hà Tĩnh tới du khách, và xây dựng, kết nối các tour về Hà Tĩnh. 

HẢI ĐĂNG

Phia Oắc, để nhớ một rừng rêu...

đăng 02:16, 21 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan


Những căn nhà do người Pháp xây dựng từ ngót một trăm năm trước, trong thời gian khai thác quặng quý trên dãy Phia Oắc, giờ đã trở thành những bảo tàng sinh thái phong rêu. Rêu xanh và rêu đỏ. Với Phia Oắc, cảm giác như mỗi thân, cành cây nghều ngào kia đều là tay chân của đàn hoang thú đầy lông lá đang và sẽ còn nhảy nhót.

Kho báu Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao Bằng được chia làm ba nhánh chính, một trong những hướng khám phá yêu thích của du khách trong và ngoài nước là miền rừng núi đẹp như ảo mộng của Phia Oắc - Phia Đén và rừng Trần Hưng Đạo...







Khu bảo tồn Phia Oắc - Phia Đén là nóc nhà của toàn vùng Đông Bắc nước ta, là điểm đến hấp dẫn đặc biệt với du khách. (Ảnh: Lãng Quân). 


Nằm cách Hà Nội chừng hơn 350km, cách tỉnh lỵ Cao Bằng khoảng 60km, Phia Oắc đúng là một cõi núi rừng, một vùng tiểu khí hậu ôn đới của “ngàn năm tiên cảnh”. Con đường hơn 10km từ chân lên đỉnh núi cao nhất vùng Đông Bắc này vòng vèo mơ mộng, càng lên cao, sơn kỳ thuỷ tú càng trải ra vút tầm mắt. 

Với đỉnh cao 1.931m so với mực nước biển, giống như Sa Pa, Tam Đảo hay Ba Vì, Phia Oắc đang lưu giữ nhiều biệt thự, công trình do người Pháp xây dựng từ ngót một trăm năm trước, giờ đã trở thành những bảo tàng sinh thái phong rêu. Rêu xanh và rêu đỏ. Chúng được bảo tồn nguyên trạng, kể cả những hầm hào địa đạo đào Vonfram thuở trước. 






Những công trình phong rêu, rêu xanh và rêu đỏ của người Pháp để lại trên lưng chừng hệ thống núi Phia Oắc. Đây cũng là các điểm đến của Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao Bằng. (Ảnh: Lãng Quân) 


Tôi từng viết trong lần đầu lên với Phia Oắc cách đây hơn chục năm: “Trời đất ban cho Phia Oắc một tiểu vùng khí hậu, hệ động thực vật giống như ở cõi thần tiên nào đó. Chúng tôi đi mướt mải trong những rừng cổ thụ phủ đầy rêu. Có cảm giác như mỗi thân cây là một kho tàng, một cuốn lịch biên niên của mấy trăm năm gió lớn, băng giá, nắng nỏ. Tất cả đã gọt mài vào đó, cảm giác mỗi cây nghều ngào thân cành kia đều là một con thú đầy lông lá đang sắp nhảy nhót. Các nhà khoa học gọi đó là “rừng rêu”, rừng của miền khí hậu ôn đới”. 

Và bây giờ, tháng 11 năm 2017, cùng đoàn cán bộ Sở VHTTDL tỉnh Cao Bằng đi kiểm tra và chăm sóc từng chi tiết, từng điểm quan sát cho điểm đến hấp dẫn của Công viên địa chất toàn cầu, lại chợt gặp một mùa rêu mới. Rêu ánh lên, rực sắc, dày xốp và mộng mơ. Rêu trên các thân cổ thụ được ủ trong gió lạnh và sương mù ấy có thể khiến người ta gặp một lần rồi cứ thế mà nao lòng nhớ mãi. 













Chính đoàn cán bộ văn hóa, nhà báo, nghệ sỹ đi khảo sát rừng ôn đới thường xanh Phia Oắc cũng phải ngẩn ngơ vì mùa rêu rực vàng với những cái cây mượt như nhung và nghều ngào như quái thú của năm 2017. (Ảnh: Lãng Quân) 


Lãng Quân

Lãng mạn trên đường vào “Tuyệt tình cốc” ở Cao Bằng

đăng 02:16, 20 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

PV Lao Động đã có trọn một ngày đi bộ, lang thang khám phá “Tuyệt tình cốc” tỉnh Cao Bằng, Núi Thủng Phja Piót đầy lãng mạn với lỗ thủng xuyên núi đường kính tới 50m - độc nhất vô nhị ở Việt Nam - này!





Vẻ đẹp của Núi Thủng có thể khiến nhiều người ngơ ngẩn, mùa nước thì 36 cái hồ liên thông nhau đầy ăm ắp, rồi bỗng dưng dòng sông ngầm gào réo hút hết nước, trong vài giờ nhiều hồ cùng cạn trơ đáy. Ít lâu sau, cỏ mọc xanh thành... tuyệt tình cốc. Đàn ngựa bán hoang dã điểm xuyết vào cho cảnh thêm thanh bình. (Ảnh Ngọc Khoa, Lãng Quân) 


Dự án Công viên địa chất toàn (CVĐC) cầu Non nước Cao Bằng đã thành hình hài rành mạch, cơ sở vật chất tươm tất, hồ sơ hoàn chỉnh đã trình lên Mạng lưới CVĐC quốc tế và nếu không có gì thay đổi, đầu năm 2018, Việt Nam ta sẽ được nhân loại tiến bộ ghi nhận thêm một kho di sản thiên nhiên, địa chất, văn hóa, lịch sử, tộc người lừng danh thứ hai (sau CVĐC toàn cầu Cao nguyên đá Hà Giang). 

Một trong những địa điểm khiến giới yêu thích du lịch khám phá chắc chắn phải ngỡ ngàng sửng sốt. Ấy là địa danh Núi Thủng Nậm Trá (xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh), dân “phượt” thì đặt nó cái tên mỹ miều thời thượng “Tuyệt tình cốc Cao Bằng”. Các nhà khoa học quốc tế lên nghiên cứu hoàn thiện hồ sơ CVĐC toàn cầu Non nước Cao Bằng lại dùng cả một trường liên tưởng mộng mơ để gọi tên Núi Thủng: Mắt của Thần núi, “Mountain Angel Eye”. 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

"Tuyệt tình cốc" Cao Bằng đã đẹp, nhưng đường qua đèo Mã Phục vách đá dựng trời cũng ám ảnh không kém. Hoa thơm, nấm lạ sặc sỡ, những mái nhà thâm nâu, hệ thống bờ rào đá cổ phong rêu của người Tày được xếp hết sức nghệ thuật, gương mặt chất phác và thân thiện của người bản xứ..., tất cả đã tạo nên một không gian văn hóa tuyệt vời. (Ảnh: Lãng Quân). 


Đến với Mắt của thần núi, người ta cũng sẽ hiểu được vì sao có hệ thống hồ 36 hồ liên thông nhau nổi tiếng: Thang Hen. Khu vực Núi Thủng là một trong các hồ đó. Trong năm, sẽ có một ngày bỗng dưng 36 con hồ đầy ắp nước xanh trong tự dưng gào réo, nước sôi lên ùng ục, rồi lần lượt các hồ cạn trơ đáy, các loài thủy sinh nằm giãy giụa ngơ ngác. Bà con vớ bẫm. Rồi mùa cạn đến, đáy hồ xanh cỏ, gia súc lớn thung thăng. Ít ngày sau, trời không mưa, trên nguồn không một giọt nước, nhưng các hồ lại ào ào dâng lên đầy hự tất tật. Thế giới "cửa biến" và "cửa hiện" của các dòng sông suối ngầm đó vẫn còn nhiều bí ẩn. Và vì thế nó thêm quyến rũ. 

 

 

 

 

 

 

 

Khu vực Núi Thủng trong mùa cạn, có thể thấy hệ thống đá bị ngập nước thường xuyên rất lạ, chất đất tốt, cây cỏ lên nhanh sau khi nước rút. Thác Nậm Trá ào ạt chảy từ lòng núi ra, là nơi cung cấp nước vô tận cho hệ thống liên thông hồ tự nhiên Thang Hen. 


Đỗ Lãng Quân

Những người nối đôi bờ Sê Pôn

đăng 20:21, 19 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Không biết từ bao giờ, hàng chục chiếc đò ngang trên suốt dọc dòng sông Sê Pôn chảy qua các xã vùng Lìa cứ ngày đêm đưa, đón hành khách cùng nông sản sang sông. Chính những chuyến đò ấy đang góp phần thắt chặt hơn mối tình hữu nghị Việt Nam – Lào đằm thắm, keo sơn…

Hành khách của Chuôi Thông là các em nhỏ đang vượt dốc để đến bản 7 (xã Thuận) 


Đêm qua, vùng Lìa trời mưa nặng hạt. Con đường uốn quanh đoạn dốc từ bản 7, xã Thuận, huyện Hướng Hóa xuống bến đò trở nên trơn trượt… vẫn không ngăn được bước chân của Chuôi Thông (60 tuổi), Trưởng bản 7 xuống bến đưa khách sang sông. Đang cuối mùa khô nên sông Sê Pôn không ăm ắp nước, vậy mà lưu tốc dòng sông vẫn cuồn cuộn chảy khiến chiếc đò máy của Chuôi Thông bị trôi chếch một đoạn sông dài gần 30-40 m mới cập được bờ bên kia.

Bờ bên kia là bản Cheng (Tà Xeng Keng Cốc, huyện Sê Pôn, tỉnh Savanakhet, Lào) với gần 40 hộ dân hầu như bị “tách biệt” bởi giao thông cách trở, đường đến trung tâm huyện Sê Pôn khó khăn nên người dân phải thường xuyên quá cảnh sang Việt Nam để mua bán nông sản cũng như vật dụng, thực phẩm thiết yếu phục vụ cho cuộc sống thường nhật...Hành khách Lào với xe máy, xe đạp cùng nhiều loại nông sản như sắn, chuối…lên đò máy (được chế thêm sàn gỗ rộng khoảng 4 m2 ) để sang sông. Chuôi Thông nhanh chóng điều khiển đò máy quay về Việt Nam. Đò cập bến, Chuôi Thông giúp hành khách đưa nông sản lên bờ.

Ông Chuôi Thông giữ thăng bằng chiếc đò máy để khách lên bờ an toàn 


Nhanh nhẹn buộc chiếc đò máy vào gốc cây, Chuôi Thông lên bờ trò chuyện cùng tôi. “Vậy là miềng làm nghề đưa đò ở sông Sê Pôn đến bây giờ đã tròn 3 năm (năm 2015 đến nay). Lý do để miềng đến với nghề đưa đò cũng bởi thương bà con bản miềng và bản Cheng bên kia sông. Trước đây, người bản miềng muốn qua sông thuê đất trồng chuối phải qua các bản khác đi đò vượt sông Sê Pôn và ngược lại. Giữa năm 2015, miềng quyết định làm đoạn đường dài gần 100 m vượt qua đoạn dốc xuống bờ sông Sê Pôn.

Công cho trai bản xẻ dốc tạo thành đường hết gần 40 triệu đồng. Riêng chiếc đò máy miềng đóng mới với số tiền 60 triệu đồng. Bây giờ thì bà con bản 7 và bản Cheng qua lại mua bán nông sản, thăm nhau dễ dàng, thuận tiện…Học theo miềng, anh A Hinh, Trưởng bản Cheng cũng đầu tư đóng mới thêm một đò máy để đưa người dân bản Cheng sang sông. Miềng với A Hinh thống nhất với nhau là cứ luân phiên nhau mỗi người 3 ngày trong tuần đưa khách sang sông. Tiền đò thì hành khách cứ tùy tâm mà trả chứ không có mức giá cụ thể bởi bà con hai bên sông còn nghèo khó, miềng lấy tiền công cao sao được…”, Chuôi Thông nói.

Hành khách của Chuôi Thông là các em nhỏ đang vượt dốc để đến bản 7 (xã Thuận) 


Quãng thời gian 3 năm làm nghề đưa đò trên sông Sê Pôn, Chuôi Thông luôn tranh thủ để sang thăm hỏi, trò chuyện với người dân bản Cheng. Cũng chính trong những dịp hàn huyên ấy, Chuôi Thông hiểu hơn đời sống vẫn còn vất vả, gian khổ của người dân bản Cheng. Chuôi Thông cho biết, bà con bản Cheng hiện tại còn nghèo khó lắm…Nhiều người ốm đau, bệnh tật đến bây giờ vẫn mời thầy mo về cúng chứ chưa đến trạm y tế để được bác sĩ cho thuốc, khám bệnh như bên bản 7.

Hiểu và thông cảm với bà con bản Cheng nên lần nào bản 7 được huyện hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi…, Chuôi Thông đều vận động bà con bản 7 san sẻ cho bà con bản Cheng gọi là “của ít, lòng nhiều”. Không chỉ san sẻ giống cây trồng, vật nuôi, cách đây khoảng chục năm khi thấy người dân bản 7 khá lên nhờ trồng sắn, nhiều người dân bản Cheng muốn học hỏi để làm theo. Nhưng trồng sắn trên đất bản Cheng thì công vận chuyển rồi nhiều chi phí khác sẽ tăng cao, nên một số người dân bản Cheng sang gặp Chuôi Thông để nhờ ông vận động bà con bản 7 cho bà con bản Cheng thuê đất trồng sắn. Chuôi Thông lặng lẽ tìm đến nhiều gia đình để vận động, thuyết phục…

Đến nay, bản 7 cho bản Cheng thuê trên 6 ha đất để trồng sắn. Riêng với các tập tục lạc hậu, Chuôi Thông luôn tìm cách bàn bạc, vận động trưởng bản Cheng để chính trưởng bản đi vận động bà con dân bản loại bỏ dần… Tôi đến bản Ra Man, xã Xy, huyện Hướng Hóa khi trời chập choạng tối. Trưởng bản Ra Man là Hồ Ray (79 tuổi) dọn cơm tối mời tôi. Bên mâm cơm đạm bạc với cá suối, rau rừng, Hồ Ray say sưa kể lại quãng thời gian 7 năm (từ năm 2010 đến nay) làm nghề đưa đò trên sông Sê Pôn. “Nhiều người vẫn gọi chiếc đò của miềng là “đò hữu nghị” từ khi sắm mới cho đến ngày “về hưu” (đầu năm 2016) đã chở hàng nghìn lượt khách, hàng trăm tấn nông sản…từ bản Xi Ổi, Cà Típ (huyện Mường Nòng, tỉnh Savannakhet) sang sông Sê Pôn và ngược lại. Cũng chính chiếc đò nhôm ấy, miềng đã cứu sống nhiều người dân bản Xi Ổi, Cà Típ khi họ ốm đau, bệnh tật…

Ví như trường hợp của Pỉ Xa Lỳ ở bản Xi Ổi. Khoảng giữa năm 2014, khi miềng đưa khách sang sông, nghe bà con dân bản kháo nhau là sản phụ Pỉ Xa Lỳ sinh khó và gia đình sản phụ mời thầy mo về cúng. Miềng neo đò tại bến rồi vội vàng lên nhà của sản phụ. Thấy thầy mo đang cúng, còn sản phụ thì đang vật vã đau đớn, quằn quại trên chiếc giường tre, miềng khuyên can thì gia đình sản phụ không nghe nên đến tìm trưởng bản để nói rõ mức độ nguy hiểm mà sản phụ gặp phải nếu tiếp tục cúng giàng, cúng ma. Sau đó, miềng cùng với trưởng bản Xi Ổi đến vận động gia đình sản phụ mang sản phụ sang sông Sê Pôn để đưa đến Trạm Y tế xã Xy.

Thuyết phục mãi, gia đình sản phụ mới đồng ý. Lập tức, miềng cùng với gia đình cáng sản phụ trong chiếc võng đưa xuống sông rồi chèo đò vượt sông đưa sản phụ đến Trạm Y tế xã Xy. Cũng may, sản phụ vượt cạn an toàn…Rồi nhiều trường hợp như Pỉ Cả, Pỉ Ka Nươm ở bản Xi Ổi bị ốm nặng; Pỉ Lạch ở bản Cà Típ sinh khó…được miềng đưa sang Việt Nam cứu chữa kịp thời mới an toàn tính mạng. Đến cuối năm 2016, miềng đầu tư 30 triệu đồng mua lại chiếc đò máy cũ để tiếp tục làm nghề đưa đò trên sông Sê Pôn”, Trưởng bản Ra Man Hồ Ray nhớ lại.

Chuôi Thông, Hồ Ray chỉ là một trong số hàng chục chủ đò đang hàng ngày đưa đò trên dòng Sê Pôn. Bằng nhiều việc làm cụ thể, thiết thực nhưng thắm tình hữu nghị Việt Nam – Lào, họ đang góp phần nối gần hơn đôi bờ Sê Pôn.

Hoàng Tiến Sỹ

Bắc Sơn - Mảnh đất giàu tiềm năng du lịch

đăng 17:58, 6 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Bắc Sơn không chỉ là mảnh đất anh hùng mà còn được biết đến như một mảnh đất giàu tiềm năng du lịch với nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, các nếp nhà sàn và phong tục tập quán sinh hoạt độc đáo của người bản địa. 

Khách du lịch đến thăm khu di tích Khuổi Nọi (Vũ Lễ) 


Đa dạng loại hình du lịch 

Bắc Sơn được thiên nhiên ưu đãi nhiều cảnh đẹp với núi non kỳ vĩ, nhiều hang động, suối ngàn, thác nước và lưu giữ nhiều sắc màu văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng như những địa danh đã đi vào lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Tất cả những tiềm năng đó đã tạo thành điều kiện lý tưởng để huyện phát triển đa dạng các loại hình du lịch như: du lịch đỏ (gắn với các di tích lịch sử cách mạng), du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, du lịch cộng đồng… 

Trong những loại hình du lịch Bắc Sơn có lẽ tiêu biểu nhất vẫn là du lịch đỏ. Trên địa bàn huyện hiện có 14 điểm di tích cấp quốc gia đặc biệt; 1 điểm di tích quốc gia, 14 di tích cấp tỉnh. Trong đó, di tích lịch sử cách mạng chiếm số lượng khá lớn, đó là những nơi ghi dấu sự kiện lịch sử trong các cuộc kháng chiến dựng nước và giữ nước như: Đồn Mỏ Nhài, rừng Khuổi Nọi, đèo Tam Canh, đình Nông Lục, trường Vũ Lăng… Đặc biệt, đầu năm 2017, Bắc Sơn vinh dự có thêm 4 xã được công nhận là xã an toàn khu (ATK) thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và trở thành nơi duy nhất trong cả nước được công nhận là huyện ATK với 12/20 xã, thị trấn ATK.

Cùng với du lịch đỏ, đến với Bắc Sơn, du khách có thể tận hưởng không gian thanh bình của một vùng quê nông nghiệp, thưởng thức các làn điệu dân ca, dân vũ, các món ăn đặc sắc dưới nếp nhà sàn tại làng văn hóa du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn. Chị Phan Hoàng Oanh, khách du lịch Hà Nội chia sẻ: Tôi rất thích quang cảnh và con người nơi đây. Họ đón tiếp chúng tôi vào ở nhà của họ như những người thân đi xa mới về.

Đến Bắc Sơn, du khách sẽ được hòa mình vào thiên nhiên, tận hưởng phong cảnh hoang sơ của suối Mỏ Mắm, di tích thắng cảnh hồ Pắc Mỏ, hang Cốc Lý… Hay thỏa mãn nhu cầu tâm linh với các đình, đền, chùa, hòa mình vào không khí lễ hội, trong đó tiêu biểu là Lễ hội Ná Nhèm – đã được phục dựng và trở thành lễ hội cấp huyện với hình thức trang trọng và nhiều hoạt động phong phú, thu hút hơn 20.000 lượt khách/năm.

Từng bước phát triển theo đúng quy hoạch

Ông Hoàng Thế Vinh, Trưởng Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Bắc Sơn cho biết: Trên cơ sở chủ trương phát triển du lịch của tỉnh, Phòng Văn hóa – Thông tin huyện đã phối hợp với Viện nghiên cứu Phát triển du lịch Việt Nam xây dựng Đề án phát triển du lịch huyện Bắc Sơn giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025. Đến nay đã hoàn thành việc ký kết hợp đồng và dự kiến khảo sát, xây dựng nội dung đề án từ tháng 4/2017. Đồng thời cùng với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) khảo sát xây dựng các tour, tuyến du lịch trên địa bàn huyện; xây dựng các điểm du lịch trọng điểm và kêu gọi đầu tư phát triển làng văn hoá du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn.

Với sự quan tâm tạo điều kiện của Ban chỉ đạo Phát triển du lịch tỉnh, cấp ủy, chính quyền địa phương, du lịch Bắc Sơn trong những năm gần đây đã từng bước phát triển theo quy hoạch, cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng. Điển hình như: di tích lịch sử Khuổi Nọi được đầu tư gần 20 tỷ đồng để phục dựng các lán trại, làm phù điêu, đường giao thông; làng văn hóa du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn từ năm 2010 đến nay đã được đầu tư gần 200 triệu đồng hỗ trợ cơ sở vật chất, tập huấn… Nhờ đó, du lịch Bắc Sơn ngày càng có sức hút đối với du khách. Từ đầu năm 2017 đến nay, lượng du khách đến với huyện ước đạt khoảng 27,5 ngàn lượt người (tăng 14% so với cùng kỳ 2016).

Ông Nguyễn Phúc Hà, Giám đốc Sở VHTTDL tỉnh khẳng định: Bắc Sơn là mảnh đất có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng. Để khai thác tốt hơn nữa tiềm năng du lịch, thời gian tới, ngành VHTTDL tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến du lịch, thương mại, đầu tư cho các sản phẩm đặc thù của địa phương; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức quản lý nhà nước, các hộ gia đình đủ năng lực tổ chức du lịch theo mô hình du lịch sinh thái, cộng đồng. 

NGỌC HIẾU

Chinh phục cung đường đèo Mã Pí Lèng huyền thoại

đăng 03:33, 5 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm trên con đường Hạnh Phúc nối liền thị trấn Đồng Văn và Mèo Vạc, Mã Pí Lèng là tên gọi của cung đường đèo hiểm trở bậc nhất Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Hà Giang với chiều dài khoảng 20 km. 

Đường Hạnh Phúc được hàng vạn thanh niên xung phong thuộc 16 dân tộc của 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam làm trong 6 năm (1959 - 1965) với trên 2 triệu lượt ngày công lao động, trong đó riêng đoạn đèo vượt Mã Pí Lèng được các thanh niên trong đội cảm tử treo mình trên vách núi lấn từng cm để làm trong 11 tháng. 


Những dãy núi đá tai mèo cao vút, hiểm trở, đâm toạc bầu trời với đủ hình thù kỳ dị, chỗ thì dựng đứng, chỗ lại xô nghiêng, chỗ xanh rì cỏ cây, nơi lại chỉ toàn một màu đá xám trần trụi. 


Dốc Pải Lủng uốn lượn với nhiều cua tay áo trước khi lên đỉnh đèo Mã Pí Lèng. 


Đường đèo chênh vênh giữa lưng núi, đâu đó vẫn còn những bản làng nằm vắt vẻo trên cao. Theo Đỗ Doãn Hoàng trong bài viết Kỳ tích Mã Pí Lèng, “trong lịch sử làm đường của Việt Nam, có lẽ đó là con đường thi công hoàn toàn bằng sức người gian khổ nhất; vượt qua cao nguyên cao nhất; chiếm số ngày công lao động nhiều nhất; thời gian lâu nhất; và cũng bi tráng nhất (khi con đường hoàn thành, phải có một nghĩa trang riêng để tưởng nhớ những người đã ngã xuống)”. 


Đường đèo uốn khúc quanh co, dưới chân là vực sâu sông Nho Quế như xẻ đôi một bên là đỉnh Mã Pí Lèng và một bên là đường đi Săm Pun, nơi có cột mốc biên giới và cửa khẩu thông sang Trung Quốc. 


Con đường đèo uốn lượn qua những vách núi, vượt qua đỉnh Mã Pí Lèng ở độ cao gần 2000 m. 


Với địa thế hiểm trở và cảnh quan hoang sơ hùng vĩ, đèo Mã Pí Lèng xứng đáng là một trong “tứ đại đỉnh đèo” của vùng núi phía Bắc Việt Nam (cùng với đèo Pha Đin, đèo Ô Quy Hồ, đèo Khau Phạ). 


Bạn sẽ bắt gặp nhiều người Mông đi bộ trên đường đèo, họ đi chợ Đồng Văn và về Mèo Vạc. Đôi khi có một vài người uống rượu say, ngủ hồn nhiên trên đường quên trời đất. 


Cuối đường đèo, tới ngã ba Săm Pun - Mèo Vạc, nếu may mắn bạn sẽ thấy vài quán cóc ven đường trong những ngày nắng đẹp. Chiếc bàn gỗ đơn sơ, trên bày vài chai rượu cùng những chiếc bát sứt men cũ, lưa thưa dăm ba chiếc ghế gỗ. Vài người đàn ông đang ngồi phả khói thuốc một cách sảng khoái, mấy người phụ nữ và con trẻ đi bộ ngang qua ngoái đầu nhìn lại. Cuộc sống của họ ở nơi thâm sơn quỷ cốc này thật đơn giản. 


Đứng trên đỉnh đèo, du khách như vỡ òa trong cảm xúc, choáng ngợp trước không gian sông núi hùng vĩ. Chặng đường chinh phục đèo hiểm trở với nhiều cung bậc cảm xúc, cảnh vật biến hóa khôn lường luôn thôi thúc ước mơ được một lần đặt chân đến của nhiều người, những kẻ đến rồi thì thèm muốn trở lại thêm nhiều lần. 


Hachi8

Công viên Địa chất Núi lửa Krông Nô - “Nàng tiên đang ngủ”

đăng 03:52, 4 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:53, 4 thg 11, 2017 ]

Với diện tích khoảng 2.000 km2, Công viên Địa chất Núi lửa (CVĐCNL) Krông Nô trải dài từ huyện Krông Nô kéo sang một số xã lân cận của các huyện Chư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk Glong, thị xã Gia Nghĩa.

Trong Công viên có hàng chục hang động lớn nhỏ khác nhau với tổng chiều dài khoảng 25 km từ miệng núi lửa Buôn Choáh dọc theo sông Sêrêpốk đến khu vực thác Đray Sáp. CVĐCNL Krông Nô hiện hữu tới 7/10 kiểu di sản địa chất theo phân loại của UNESCO và được đánh giá là hang động dung nham dài và đẹp nhất Đông Nam Á. 

Hang động núi lửa ở cụm thác Đray Sáp (Krông Nô). Ảnh: Ngọc Tâm 


Điều đáng nói là, CVĐCNL Krông Nô đang sở hữu rất nhiều thắng cảnh nổi tiếng. Trước hết là dòng sông Sêprêpốk hùng vĩ như dải lụa trắng ở vành đai phía bắc Công viên với hàng chục ngọn thác lớn nhỏ. Phía hạ nguồn sông Sêprêpốk, thác Trinh Nữ với những tảng đá bazan dạng cột to lớn màu đen có tuổi địa chất từ 2 đến 5 triệu năm giữa dòng sông, hoặc nhô ra từ bờ mang những hình thù lạ mắt. 

Ngược lên phía thượng nguồn vài km là thác Đray Sáp với độ cao khoảng 50m, trải dài gần 100m, chặn ngang dòng sông Sêprêpốk. Bên cạnh thác Đray Sáp là thác Gia Long có độ cao khoảng 40m, chiều dài 40m, chiều rộng mặt thác khoảng 30m. Cạnh thác là hồ tắm tiên rộng 80m2 và một hang động tự nhiên rất đẹp. 

Đray Sáp và Gia Long nổi tiếng là 2 ngọn thác đẹp và hùng vĩ bậc nhất của Tây Nguyên. Hồ Ea Snô diện tích rộng 80ha phía cuối thượng nguồn và liên thông với dòng Sêprêpốk là một hồ nước tự nhiên hoang sơ, sơn thủy hữu tình, xung quanh là cánh rừng đặc dụng với nhiều loại cây, loài thú quý hiếm. 

Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung (núi sừng trâu) diện tích khoảng 12.300 ha có đỉnh cao nhất là 1.500m và đây cũng là đỉnh cao nhất của vùng Nam Tây Nguyên. Nâm Nung được xem là “nóc nhà” của Đắk Nông với mái nhà bắc nghiêng về dòng sông Sêrêpốk và mái nhà nam nghiêng về thượng nguồn sông Đồng Nai. 

Từ đỉnh Nâm Nung, những dòng suối đổ xuống, tạo nên thác Ba tầng, thác Bảy tầng tùy theo số lượng bậc thang trên dòng nước. Phần lớn diện tích của Khu bảo tồn là rừng nguyên sinh với nhiều chủng loại cây lớn, chủ yếu là sao đen, bằng lăng, dầu… 

Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng với đỉnh cao nhất 1.982m, nằm giữa cao nguyên M’nông và cao nguyên Di Linh thuộc là điểm giao thoa địa lý và sinh học giữa khu vực Nam Tây Nguyên và miền Đông Nam bộ. Nơi đây có hệ thống sông Đồng Nai chảy qua và nhà máy thủy điện Đồng Nai 3, 4 tạo ra những hồ nước có diện tích khoảng 3.620ha đã hình thành nên 36 hòn đảo lớn nhỏ, đẹp như một vịnh Hạ Long trên cạn. 

Bên trong khu rừng là dòng suối Đắk N'teng chảy qua tạo thành hai ngọn thác hấp dẫn và kỳ bí. Đây cũng là khu vực có sự đa dạng sinh học với trên 1.000 loài động thực vật, trong đó nhiều loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. 

Quần thể CVĐCNL Krông Nô còn là khu vực có bề dày lịch sử, với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể sẵn có như: Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Sử thi Ot N’rong, hệ thống văn hóa lễ hội, dệt thổ cẩm… Đường mòn Hồ Chí Minh, di tích khu căn cứ kháng chiến Nâm Nung trong kháng chiến chống Mỹ, di tích anh hùng N’Trang Lơng, N’Trang Gưh thời kỳ chống pháp đầu những năm thế kỷ XX... 

Đặc biệt vừa qua, nhiều di vật khảo cổ là bằng chứng con người tiền sử sinh sống tại đây được tìm thấy trong hang động núi lửa Krông Nô từ hậu kỳ đồ đá cũ (6.000 năm) đến hậu kỳ đá mới và sơ kỳ kim khí (4.000 - 3.000 năm) làm cho vùng đất huyền thoại này thêm phần hấp dẫn. 

Một vùng đất đa dạng về địa chất và di sản địa chất, đa dạng về sinh học, đa dạng về xã hội và di sản văn hóa như nói trên đã hội tụ đầy đủ các tiêu chí của một CVĐC toàn cầu. Điều đáng nói là, quần thể CVĐCNL Krông Nô hiện có đến 6/8 di tích quốc gia, trong đó có hai di tích thắng cảnh quốc gia nổi tiếng là thắng cảnh thác Đray Sáp và thắng cảnh thác Gia Long. Đặc biệt, gần như toàn bộ khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung và một phần lớn khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng nằm trong khu vực CVĐCNL Krông Nô. Thiên nhiên hùng vĩ nơi đây lại nổi tiếng hơn bao giờ hết bởi hệ thống hang động núi lửa mới phát hiện được đánh giá dài và đẹp nhất Đông Nam Á mới được phát hiện những năm gần đây. 

Có thể nói không gian CVĐCNL Krông Nô thật tuyệt vời, rất lý tưởng để xây dựng mô hình du lịch sinh thái và văn hóa. Những năm qua, hầu hết các danh thắng và khu bảo tồn thiên nhiên trong khu vực CVĐCNL Krông Nô đều đã được khai thác làm có cơ sở du lịch. 

Tuy nhiên, tại các cơ sở du lịch nói trên quy mô và nguồn lực đầu tư còn rất nhỏ bé; nhiều dự án thu hút, đầu tư vào du lịch thời gian qua chưa mang lại hiệu quả; quá trình đầu tư lại dàn trải, manh mún, các sản phẩm du lịch đặc trưng cụ thể không rõ nét; thiếu chiến lược phát triển hiệu quả, các hình thức quảng bá du lịch hiệu quả thấp... Có thể nói, CVĐCNL Krông Nô hiện vẫn như một nàng tiên đang ngủ và cần phải thức dậy tiềm năng. 

Tới đây để xây dựng phát triển CVĐCNL Krông Nô và khai thác phát triển du lịch còn rất nhiều việc phải làm, nhất là thu hút đầu tư phát triển du lịch. Nhiệm vụ quan trọng trước mắt là hoàn thành hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận CVĐC toàn cầu; xây dựng tổ chức bộ máy Ban quản lý để chuyên trách và thức đẩy công việc; quy hoạch và thông tin quảng bá về tiềm năng, giá trị nhiều mặt của CVĐCNL Krông Nô... 

Vũ Hà

1-10 of 25

Comments