Những chuyến đi, những khám phá... và có cả những suy tư.

Bài mới

  • Long Khánh đẹp giàu Anh bạn tôi người thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai kể một câu chuyện như giai thoại với đầy vẻ tự hào. Một buổi tối, anh và mấy người ...
    Được đăng 08:06, 20 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mê đắm bên dòng Đà Giang Khi chảy qua vùng rừng núi hoang sơ, Đà Giang - con sông hung dữ nhất Tây Bắc - đã tạo ra nhiều cảnh đẹp hùng vĩ, một số đấy là vùng ...
    Được đăng 21:19, 18 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Qua vùng “đất Thánh” Tây Ninh Ðạo Cao Ðài là tôn giáo do người Việt sáng lập vào năm 1926 tại tỉnh Tây Ninh và đến nay đã có hàng triệu tín đồ. Với phương châm ...
    Được đăng 08:27, 16 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cung đường ven biển đẹp nhất Việt Nam Được tự do chạy xe trên những con đường ven biển Vĩnh Hy - Bình Lập là một trải nghiệm tuyệt vời nhất của mùa hè.Được coi là "một cung ...
    Được đăng 02:22, 14 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Homestay hồ Ba Bể Tại hồ Ba Bể (Bắc Kạn), du lịch homestay hiện phát triển với khá nhiều trải nghiệm mới mẻ cho những người thích du lịch dân dã. Tại đây có ...
    Được đăng 00:18, 12 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 21. Xem nội dung khác »


Long Khánh đẹp giàu

đăng 08:06, 20 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Anh bạn tôi người thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai kể một câu chuyện như giai thoại với đầy vẻ tự hào. Một buổi tối, anh và mấy người bạn ngồi uống cà phê, đang vui chuyện thì một anh bạn có việc phải lên TPHCM gấp, anh Hùng một người trong nhóm, tận tình lấy xe hơi chở anh bạn đi cho nhanh. Loáng một cái đã thấy anh Hùng quay lại, cữ cà phê chưa vãn… Giao thông vận tải là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của một địa phương. Và điều đáng mừng, Long Khánh có lợi thế ấy.

Xe khách đến tận nhà, container vào tận rẫy

Kể từ khi khánh thành đường cao tốc TPHCM - Long Thành - Dầu Giây vào ngày 8-2-2015 (vốn đầu tư 20.630 tỷ đồng), việc đi lại từ các địa phương về Long Khánh rất thuận tiện. Tôi đặt xe khách của hãng Kim Mạnh Hùng từ ngã tư Hàng Xanh (TPHCM) về Long Khánh, hỏi nhân viên của hãng xem đi mất bao nhiêu thời gian, cô ấy cười tươi tắn trả lời: “Có 50 - 55 phút thôi anh”. Ngồi xe ghế êm, máy lạnh mát rượi, đi vèo một cái đã về tới thị xã Long Khánh, xe đỗ tận cửa nhà.

Ông Phạm Văn Hoàng, Ủy viên Ban thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Thị ủy Long Khánh, cho biết: “Long Khánh nổi tiếng với dịch vụ xe khách chất lượng cao. Các nhà xe Kim Mạnh Hùng, Cúc Phương, Cường Thủy có gần 200 đầu xe, chạy đan xen nhau với mật độ 10 phút/chuyến, từ 4 giờ sáng đến 6 giờ chiều, đưa đón khách tận nhà ở khu vực thị xã Long Khánh, huyện Xuân Lộc, huyện Cẩm Mỹ… Không chỉ vận chuyển khách, các nhà xe còn giúp người dân giao thương hàng hóa rất thuận tiện. Muốn mua gì, chỉ cần gọi điện, nhắn tin báo chủng loại, số lượng, địa chỉ… là nhà xe giao tận nơi. Sắp tới, khi đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết hoàn thành, giao thông vận tải từ Long Khánh đi, về càng thuận tiện hơn”. 

Một góc thị xã Long Khánh Ảnh: BẰNG VÂN


Về Long Khánh, tôi ngỡ ngàng khi thấy xe máy, ô tô bon bon trên những tuyến đường trải nhựa, đổ bê tông vào đến tận ấp, rẫy. Trong chương trình xây dựng nông thôn mới, người dân đóng góp gần 75% trên tổng giá trị đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng. Bà con tự nguyện đóng góp đất đai, tiền mặt để cùng chính quyền lo việc lớn. Đại đức Thích Hạnh Tín, trụ trì chùa Huyền Trang (ấp Bàu Cối, xã Bảo Quang) là tấm gương tiêu biểu trong số ấy. Thầy đã hỗ trợ và vận động phật tử được 1,25 tỷ đồng làm đường bê tông dài 1,5km ở tổ 9, ấp Bàu Cối, xã Bảo Quang và hàng chục triệu đồng cho quỹ chung tay xây dựng nông thôn mới tại địa phương, ủng hộ 500 bao xi măng để xây dựng 5 tuyến đường bê tông trên địa bàn thị xã. Từ năm 2009 đến 2014, toàn bộ các tuyến đường của 9 xã nông thôn (dài 194km) đã được đầu tư nâng cấp, tu sửa toàn diện.

Nhờ giao thông thuận tiện, xe container có thể vào tận xưởng trong rẫy để chở hàng nên các nhà đầu tư nô nức đổ về làm ăn tại Long Khánh. Hiện tại, hai khu công nghiệp trên địa bàn thị xã là Long Khánh và Suối Tre với diện tích 450ha đã được các nhà đầu tư đăng ký lấp đầy, trong đó 26 nhà đầu tư đã xây dựng nhà xưởng trên diện tích 81,46ha và đi vào sản xuất kinh doanh hiệu quả. Ngoài hai khu công nghiệp trên, thị xã cũng tiếp tục đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp Bàu Trâm để đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Công ty TNHH Thiện Minh (xã Suối Tre, thị xã Long Khánh) chuyên chế biến hạt điều với hai nhà máy đặt tại xã Suối Tre và xã Bảo Quang đã tạo việc làm cho gần 500 lao động tại khu vực nông thôn, trong đó có gần 40% người dân tộc thiểu số.

Thu nhập tăng 9,2 lần

Thị xã Long Khánh có 15 đơn vị hành chính, diện tích tự nhiên 195km2, dân số 143.650 người. Thị xã có 6 phường, 9 xã, dân số khu vực nông thôn chiếm 60% với 16.465ha đất nông nghiệp, chiếm 85% diện tích tự nhiên. Bắt tay vào xây dựng nông thôn mới, thị xã đã tập trung mọi nguồn lực phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng năng suất, sản lượng, giá trị sản phẩm.

Giá trị sản xuất nông nghiệp của thị xã Long Khánh tăng bình quân 6,1%/năm, tỷ trọng chăn nuôi chiếm 35% giá trị sản xuất nông nghiệp. Giá trị sản phẩm thu được trên 1ha đất nông nghiệp bình quân 150 triệu đồng, tăng 2 lần so với năm 2009; lợi nhuận bình quân trên 1ha 105 triệu đồng, tăng 2,1 lần so với năm 2009; cá biệt, nhiều vùng bà con trồng tiêu, sầu riêng thu được 250 - 350 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận 150 - 250 triệu đồng/ha/năm. Thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn của Long Khánh đạt 38,6 triệu đồng/năm. Trước đây, thu nhập của nông dân ở mức từ 50 - 60 triệu đồng/năm thì nay vươn lên 200 - 300 triệu đồng/năm với nhiều mô hình trồng cây đặc sản như ca cao, chôm chôm Thái, sầu riêng, ổi… đạt chuẩn VietGAP.

Nói về ca cao ở Đồng Nai, không thể không nhắc đến ông Nguyễn Văn Lộc, Giám đốc Công ty TNHH đầu tư và phát triển nông nghiệp Nguyên Lộc ở xã Hàng Gòn, thị xã Long Khánh. Ông Lộc năm nay 68 tuổi, là người đầu tiên mang cây ca cao về trồng trên đất Long Khánh. Năm 2003, khảo sát thấy thổ nhưỡng, khí hậu ở đây thích hợp với việc trồng cây ca cao, ông đã thành lập công ty và mang cây giống ca cao về trồng. Ca cao trồng phải có cây che bóng mát mới phát triển tốt nên ông Lộc trồng xen với các loại cây điều, chôm chôm, mít, vừa tận dụng được diện tích vừa tăng thu nhập. Không phải chăm sóc gì đặc biệt, sau 3 năm cây ca cao cho thu hoạch.

Công nhân của Công ty TNHH đầu tư và phát triển nông nghiệp Nguyên Lộc đang tách hạt ca cao


Trái tươi cắt về để 5 ngày cho lên men rồi công nhân chặt cùi, tách lấy hạt phơi khô, sơ chế… sau đó bán cho Công ty TNHH Puratos của Tập đoàn Grand-Place để họ chế biến thành sôcôla. Phần cùi, ông Lộc ủ men làm nước giải khát, rượu. Khi đã tạo được đầu ra ổn định cho sản phẩm, ông Lộc mời gọi và ký hợp đồng với hơn 200 hộ nông dân ở 5 huyện trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, 2 huyện ở tỉnh Bình Thuận. Các hộ gia đình được công ty cấp cây giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và bao tiêu toàn bộ sản phẩm. Tính đến nay, công ty đã có vùng nguyên liệu rộng hơn 300ha, sản lượng bình quân 150 tấn hạt khô/năm. Ông Lộc cho biết: “So với các loại cây công nghiệp như cà phê, cao su thì giá ca cao ổn định nhất. Hiện nay, mỗi hộ dân ký hợp đồng với chúng tôi đều thu hoạch trung bình từ 2 tấn trái/năm nên có công ăn việc làm và thu nhập ổn định”. Cũng theo ông, hiện tại nguồn nguyên liệu ca cao tại tỉnh Đồng Nai chỉ mới đáp ứng một phần rất nhỏ nhu cầu thị trường nội địa. Chỉ tính riêng khách hàng chính của Nguyên Lộc là tập đoàn Grand-Place, công ty đã không đủ hàng để cung cấp. Ngoài ra, nhiều tập đoàn nước ngoài cũng tìm đến đặt vấn đề thu mua ca cao với sản lượng lớn vì thị trường thế giới cũng cung không đủ cầu.

Long Khánh có vị trí địa lý thuận lợi, giao thông thuận tiện, đất đai phì nhiêu, khí hậu mát mẻ quanh năm. Điều kiện ấy đã hun đúc nên những thế hệ dân cư hiền hòa, chăm chỉ và rất năng động trong sản xuất kinh doanh. Đến như cọng rơm là thứ mà hầu như nông dân trên khắp cả nước thường chỉ biết đốt hoặc làm thức ăn cho gia súc thì nông dân Long Khánh đã biết đầu tư máy móc để cuốn rơm thành từng cuộn để xuất khẩu sang Nhật Bản.

Ông Hồ Văn Nam, Phó Bí thư Thị ủy, Chủ tịch UBND thị xã Long Khánh, cho biết: “Về thành tựu, không gì chứng minh rõ nét cho bằng thị xã Long Khánh là đơn vị đầu tiên của cả nước đạt chuẩn nông thôn mới vào cuối năm 2014. Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm trên địa bàn là 15%; cơ cấu kinh tế dịch chuyển đúng định hướng, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp; thu nhập bình quân đầu người/năm tăng từ 8,4 triệu đồng năm 2004 lên 77,5 triệu đồng năm 2015, tăng 9,2 lần”.

Đến Long Khánh hôm nay, mọi người sẽ không khỏi ngỡ ngàng vì kết cấu hạ tầng đô thị và nông thôn luôn được gắn kết, đường làng ngõ xóm phong quang, sáng - xanh - sạch - đẹp, hướng đến một đô thị xanh, văn minh và hiện đại, trở thành đô thị hạt nhân của tỉnh Đồng Nai.

ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

Mê đắm bên dòng Đà Giang

đăng 21:17, 18 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 21:19, 18 thg 6, 2017 ]

Khi chảy qua vùng rừng núi hoang sơ, Đà Giang - con sông hung dữ nhất Tây Bắc - đã tạo ra nhiều cảnh đẹp hùng vĩ, một số đấy là vùng sơn thủy nguyên sơ, tuyệt đẹp thuộc cung đường Ba Khan - Tân Mai - Phúc Sạn (huyện Mai Châu, Hòa Bình). 

Dòng Đà Giang xanh biếc với nhiều hòn đảo nổi lên giữa mặt nước - Ảnh: H.DƯƠNG 


Với những nếp nhà sàn, nét văn hóa, ẩm thực độc đáo của người Mường cùng cuộc sống thanh bình tại đây đã làm cho không ít du khách không muốn rời đi khi đặt chân đến. 

Bình nguyên ở Ba Khan 

Từ Hà Nội, thẳng tiến theo quốc lộ 6 về phía Tây Bắc và sau quãng đường 120km, chúng tôi dừng chân nghỉ ngơi trên đèo Thung Khe (đèo Đá Trắng) để thưởng thức tách trà nóng, bắp ngô luộc... và ngắm bức tranh phong cảnh hùng vĩ dưới thung lũng. 

Sau khi lấy lại sức, chúng tôi bắt đầu men theo con đường bêtông thuộc xã Phú Cường (Tân Lạc, Hòa Bình) dưới chân đèo để tiếp tục cuộc hành trình. Hai bên đường là một vùng bình nguyên rộng lớn, bằng phẳng trải dài, bình yên lạ kỳ. 

Giữa màu xanh mênh mông của những ruộng lúa, nương ngô thỉnh thoảng lại xuất hiện một bãi đá tai mèo nhấp nhô, tạo ra một bức tranh với hai gam màu độc đáo. Đến đất Ba Khan (Mai Châu) cũng là lúc các bản Mường nhỏ xinh, bình yên hiện ra. 

Cuộc sống bỗng vui nhộn hẳn lên khi chốc chốc chúng tôi lại nghe thấy tiếng leng keng, lốp bốp của chiếc mõ đeo trên cổ đàn trâu. Lũ nghé con cứ theo âm thanh ấy mà tìm về với mẹ. Trẻ nhỏ bản Mường buổi sáng trong trẻo cuối tuần ùa ra vui đùa bên hiên cửa nếp nhà sàn đơn sơ. 

Trên cung đường, thi thoảng chúng tôi bắt gặp vài ba ngôi nhà sàn bé xíu nằm lọt thỏm giữa nương ngô xanh tươi trong thung lũng. Dừng chân bên nhà sàn, bọn trẻ con chạy ùa tới nhìn ngó chiếc máy ảnh của chúng tôi, rồi lại e dè cười khúc khích tản đi đùa nghịch. 

Mấy bà mế cao tuổi xứ Mường - vẫn còn giữ nét văn hóa nhuộm răng đen từ xa xưa - niềm nở hỏi han, chào mời mọi người. Nhiều mế vẫn vận bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Mường với khăn trắng quấn đầu, áo xanh, áo đỏ, thắt lưng thổ cẩm và váy đen. 

Bên căn nhà nhỏ vách làm bằng tre và mái lợp phibrô ximăng, chúng tôi được nghe một mế Mường kể chuyện, vừa chăm chú thêu họa tiết chiếc thắt lưng thổ cẩm. 

Theo đó, vùng đất này được dân Mường khai hoang lập xóm, lập bản nhưng do cuộc sống quá khó khăn, đi lại vất vả nên dân mới đặt là Ba Khan (nghĩa là ba xóm khó khăn) gồm: Khan Thượng, Khan Hò, Khan Hạ. 

Bù lại, người Mường xứ Ba Khan rất chăm chỉ, khéo tay, đặc biệt là phụ nữ. Từ bé các thiếu nữ Mường đã được dạy thêu thùa, đan lát, làm nông, đi rừng hái măng... 

“Vịnh Hạ Long mới” 

Khác với Khan Thượng và Khan Hò, cuối đất Khan Hạ đổ sang Thung Nang (xã Tân Mai) là một vùng núi, sông đan cài nhau mênh mông, hùng vĩ đến bất tận. Từ trên miền rừng núi Tây Bắc tạo thành nhiều thác, ghềnh hung dữ, nhưng khi Đà Giang về đến Phúc Sạn, Tân Mai lại phình ra rộng lớn, hiền hòa. 

Từ Thung Nang (Tân Mai), chúng tôi bắt đầu chinh phục cung đường đèo dốc uốn lượn men theo bờ sông. Có những đoạn vô cùng dốc, đường xẻ núi với hai bên vách đá dựng đứng như bức tường thành khổng lồ. 

Nhưng đi tới đâu vẫn không thoát khỏi dòng Đà Giang mênh mông sóng nước, xa xa là những dãy núi trùng điệp mịt mù tầm mắt. 

Buổi sáng, mặt trời dần nhô khỏi núi, ánh nước lấp lánh bàng bạc với chiếc thuyền của ngư phủ đang lững lờ đi đánh cá. Cảnh vật quyện hòa vào nhau tạo ra một bức tranh sơn thủy đẹp đến ngỡ ngàng. 

Tại một quán nước ở điểm cao của con dốc, trong cái không khí trong lành, mát mẻ buổi sáng của núi rừng, chúng tôi chia nhau ra mỏm núi ghi lại những bức ảnh thiên nhiên tuyệt đẹp. 

Anh chủ quán cho biết đây chính là khu Mó Rút và xa xa phía lòng sông là mỏm làng mới ở xóm Suối Lốn (xã Tân Mai). Tại Tân Mai có các bến thuyền tư nhân phục vụ khách tham quan, khám phá sông Đà. 

Từ trên đỉnh dốc rẽ xuống con đường đất để tìm ra bến thuyền, chúng tôi thỏa thích ngắm dòng Đà Giang nước trong xanh, xa xa là những đảo, núi trùng điệp với mây trắng bồng bềnh ôm ấp lấy nhau. 

Mấy con thuyền màu xanh, có mái che đang lặng lẽ đậu bên bờ để đợi khách. Sau khi chọn một con thuyền và thỏa thuận giá cả, chúng tôi và một vài du khách lên thuyền để khám phá sông Đà. Làn nước trong xanh, êm đềm như một tấm gương khổng lồ soi bóng núi non, mây trời. 

Chốc chốc thuyền lại lướt nhẹ qua một hòn đảo với thảm thực vật xanh tốt. Từ cảm giác hùng vĩ, bao la khi ngắm dòng sông, núi non từ trên cao, giờ đây chúng tôi lại như được hòa mình vào thiên nhiên, đất trời tươi đẹp. 

Buổi sáng trên lòng hồ sông Đà thường có một màn sương mù và sau đó là những áng mây lững lờ bay trên đỉnh đầu. Ngư dân các xã Tân Mai, Phúc Sạn cũng thường hay giong thuyền dọc sông để thả lưới đánh cá. 

Khi chiều buông, ánh mặt trời đỏ tía như một quầng lửa phản chiếu xuống dòng nước tạo nên khung cảnh lấp lánh huyền ảo. Nhiều người nói rằng nếu đến Tân Mai mà không du thuyền ngoạn cảnh Đà Giang là điều đáng tiếc quả không sai. 

Chiều về, chúng tôi tiếp tục theo con đường trúc đến xóm Gò Mu (xã Phúc Sạn) tìm đến thác Gò Lào. Đây được coi là dải lụa trắng hùng vĩ ở xứ Mường, Mai Châu. Thác nằm giữa rừng tre trúc, bốn mùa tung bọt trắng xóa. 

Trước khi kết thúc cuộc hành trình, chúng tôi nghỉ chân bên thác nước với âm thanh xào xạc của lá trúc hòa vào tiếng róc rách nước chảy, chim rừng hót ríu rít. 

Hiện có ba bến thuyền tư nhân tại xã Tân Mai chuyên phục vụ khách tham quan, khám phá sông Đà với giá thuê 250.000 - 300.000 đồng/thuyền/giờ. Nếu muốn lưu lại qua đêm, du khách có thể tìm chỗ trọ kiểu homestay ở ngay các bến thuyền với giá bình dân 50.000 - 80.000 đồng/người/đêm. 

Khi gọi đồ ăn ở quán hoặc trên nhà thuyền, du khách đừng bỏ qua mấy món đặc sản độc đáo như: ốc đá nướng, gỏi cá sông, cá nướng, măng ngâm, rau dớn xào, xôi ngũ sắc... 

Hồ Hòa Bình trên sông Đà dài 230km nằm trên địa bàn hai tỉnh Hòa Bình và Sơn La. Hồ có dung tích khoảng 9,45 tỉ m3 nước, trong đó đoạn lòng sông thuộc địa phận xã Tân Mai, Phúc Sạn rộng nhất lên tới 4-5km. 

Giữa lòng hồ mênh mông nổi lên vô vàn đảo đá vôi. Đảo lớn, đảo nhỏ nhấp nhô trên mặt nước khiến người ta liên tưởng đến một “vịnh Hạ Long mới” trên lòng hồ sông Đà. 

HẢI DƯƠNG - NGUYỄN DUY

Qua vùng “đất Thánh” Tây Ninh

đăng 08:27, 16 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Ðạo Cao Ðài là tôn giáo do người Việt sáng lập vào năm 1926 tại tỉnh Tây Ninh và đến nay đã có hàng triệu tín đồ. Với phương châm hành đạo bằng tình yêu thương, nhân nghĩa và đạo đức, sự phát triển của đạo Cao Ðài đã góp phần làm đa dạng, phong phú thêm đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam. 

Trái tim của vùng “đất Thánh”

Nói đến vùng “đất Thánh” Tây Ninh không thể không nhắc đến Tòa Thánh Tây Ninh, một công trình kiến trúc tôn giáo nguy nga, độc đáo có một không hai ở miền Nam Việt Nam.

Từ Tp. Hồ Chí Minh đi về hướng Tây Bắc theo Quốc lộ 22 và 22B chừng hơn 80 cây số là đến Tòa Thánh Tây Ninh (ở thị trấn Hòa Thành, huyện Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh). Từ xa nhìn lại, ngôi thánh đường hiện lên nổi bật giữa màu xanh viên mãn của rừng cây lá xum xuê.

Tòa Thánh Tây Ninh tọa lạc trong một khu vực rộng lớn có diện tích ước chừng hơn 1 cây số vuông với 12 cổng lớn ra vào ở các hướng và gần 100 công trình kiến trúc lớn nhỏ khác nhau.

Tòa Thánh Tây Ninh, một kiệt tác kiến trúc tôn giáo của Việt Nam phản ánh sự dung hòa của nhiều tôn giáo lớn trên thế giới.


Cổng chính vào Tòa Thánh Tây Ninh.


Kiến trúc mái độc đáo của Tòa Thánh Tây Ninh có sự pha trộn giữa kiến trúc truyền thống Việt Nam

với kiến trúc của thánh đường Hồi giáo và điện thờ của Đạo giáo.

Ở ngôi chánh điện của Tòa Thánh có một quả cầu lớn tượng trưng cho “Càn Khôn”, trên đó có vẽ một con mắt trái rất lớn gọi là Thiên nhãn, có nghĩa là “mắt Trời”, tượng trưng cho Thượng đế, tức Đức Chí Tôn của đạo Cao Đài.


Biểu tượng Thiên nhãn được trang trí trên khung cửa chánh điện Tòa Thánh Tây Ninh. 


Và được thờ trang trọng trong mỗi gia đình tín đồ theo đạo Cao Đài.


Một buổi hành lễ của các tín đồ Cao Đài ở Tòa Thánh Tây Ninh. 



Khởi công từ năm 1927, khánh thành vào năm 1947, Tòa Thánh Tây Ninh dài 93 m, rộng 22m, được thiết kế mang hình dáng một con long mã nằm chầu uy nghi, đầu hướng về phía Tây với hai cái sừng vươn thẳng lên trời cao là tháp trống và tháp chuông ở hai bên.

Đạo Cao Đài là một tôn giáo có tính dung hợp các tôn giáo lớn trên thế giới mà chủ yếu là Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và Kitô giáo. Ngoài việc thờ Thiên nhãn, tức Thượng đế, đạo còn thờ các vị như Phật Thích Ca, Chúa Giêsu, Khổng Tử, Lão Tử, Phật Bà Quan Âm... Ước tính hiện tại đạo Cao Đài có khoảng 4 triệu tín đồ trên toàn thế giới, trong đó riêng Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh quản lí hơn 2,5 triệu tín đồ.
Tòa Thánh Tây Ninh trở thành một kiệt tác kiến trúc tôn giáo của Việt Nam chính nhờ những dấu ấn, đường nét kiến trúc thể hiện trên công trình này. Đặc biệt, công trình có sự giao thoa, hòa quyện một cách kì lạ và độc đáo giữa nhiều trường phái kiến trúc khác nhau, và cũng thể hiện rất rõ bản sắc văn hóa của nhiều loại hình tôn giáo khác nhau trên thế giới, cụ thể là sự ảnh hưởng của Phật giáo, Kitô giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Hồi giáo và cả Ấn Độ giáo...

Nhìn tổng thể, Tòa Thánh mang dáng dấp của một nhà thờ Thiên Chúa giáo nhưng hệ thống 156 cây cột lớn chạm rồng, cùng với mái ngói, đầu đao... lại mang dáng dấp của kiến trúc đình chùa Việt Nam. Mặt khác, trên nóc Tòa Thánh, phía trước có tượng Phật ngự tòa sen, chính giữa có Nghinh Phong Đài với mái vòm theo kiểu thánh đường Hồi giáo, phía cuối lại có tháp Bát Quái Đài cao ba tầng, 8 cạnh theo mô hình bát quái của đạo Lão. Bên trong nội thất, gian chính giữa gọi là Cửu Trùng Đài với nền nhà được chia thành 9 bậc, cao dần vào phía chánh điện, thể hiện rõ quan niệm phân chia đẳng cấp trong xã hội của Nho giáo. Trên ngôi chánh điện có một quả cầu lớn tượng trưng cho “Càn Khôn”. Trên quả cầu có vẽ một con mắt trái rất lớn gọi là “Thiên nhãn”, xung quanh có trang trí hình mây vờn và hơn 3.000 ngôi sao tượng trưng cho các vì tinh tú và vũ trụ. Đạo Cao Đài thờ Thiên nhãn, có nghĩa là “mắt Trời”, tượng trưng cho Thượng đế, tức Đức Chí Tôn của đạo Cao Đài.

Điều đáng ngạc nhiên là toàn bộ công trình này không phải do các nhà thiết kế tài ba xây dựng, mà do chính những người nông dân và các chức sắc Cao Đài, những người chưa từng qua bất kì một trường lớp kiến trúc hay xây dựng nào tự tay làm nên. Tất cả mọi công đoạn xây dựng tòa nhà này đều được làm bằng tay. Người thợ nghĩ đến đâu làm đến đó, không có bất cứ một bản vẽ thiết kế nào.

Trải qua thời gian trong suốt gần một thế kỉ qua, Tòa Thánh vẫn tồn tại rực rỡ xứng danh là trái tim, là một kiệt tác kiến trúc tôn giáo trên vùng “đất Thánh” Tây Ninh, trở thành điểm hành hương của hàng triệu tín đồ Cao Đài ở khắp thế giới và là điểm tham quan du lịch tâm linh hấp dẫn đối với nhiều du khách quốc tế mỗi khi đến với nơi này.

Sức sống mới ở vùng “đất Thánh”

Hàng năm, cứ vào ngày mùng 8 tháng Giêng, ngay sau những ngày Tết cổ truyền của người Việt là lúc dòng người hành hương và du khách đổ về Tòa Thánh Tây Ninh để tham gia một trong hai đại lễ lớn nhất trong năm của đạo Cao Đài, đó là Đại lễ Vía Đức Chí Tôn (từ 8 đến 15 tháng Giêng). 

Theo quan niệm của người theo đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn chính là Thượng đế, đấng tạo hoá sinh ra vạn vật trong vũ trụ, Người được các tín đồ tôn kính gọi là đấng cha hiền (Đại từ phụ) của nhân loại; còn đấng mẹ hiền (Đại từ mẫu) là Đức Diêu Trì Kim Mẫu.

Đại lễ Vía Đức Chí Tôn là lễ hội mang đặc trưng văn hóa của người theo đạo Cao Đài ở Tây Ninh. Dù năm nào cũng tổ chức, nhưng tất cả tín đồ luôn coi đây là sự kiện trọng đại, ý nghĩa trong đời sống tinh thần để thể hiện tấm lòng hiếu hạnh của mình đối với Đức Đại từ phụ.

Vào ngày lễ lớn này, cùng với nghi thức dâng hương, cúng bái, cầu kinh... các tín đồ và du khách thập phương còn được khám phá nhiều trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu võ thuật dân tộc, thi múa tứ linh... rất đặc sắc, tạo nên bầu không khí sinh hoạt văn hóa cộng đồng hân hoan, sôi nổi và ấn tượng.

Ngoài ra, đối với du khách, ngoài việc được trải nghiệm không khí lễ hội, chuyến hành hương còn là dịp để khám phá kiến trúc độc đáo có một không hai của Tòa Thánh Tây Ninh.

Biểu diễn long mã và tứ linh vào dịp Đại lễ Vía Đức Chí Tôn ở Tòa Thánh Tây Ninh. 


Bà con theo đạo Cao Đài ở Tây Ninh hân hoan đón mừng Đại lễ Vía Đức Chí Tôn.


Ba thế hệ trong một gia đình theo đạo Cao Đài cùng tham gia ngày Đại lễ Vía Đức Chí Tôn.


Đội lễ nhạc biểu diễn trong ngày Đại lễ Vía Đức Chí Tôn.


Đông đảo du khách và người dân tham quan gian triển lãm nhạc cụ truyền thống của bà con theo đạo Cao Đài người Khmer trong ngày Đại lễ Vía Đức Chí Tôn.


Trước khi nhập môn (18 tuổi), các em nhỏ có cha mẹ là người theo đạo Cao Đài  đã được gia đình giáo dục lối sống đạo đức lấy yêu thương và nhân nghĩa làm trọng của đạo Cao Đài. 


Trong dịp Đại lễ Vía Đức Chí Tôn, dù bận nhiều việc nhưng ngài Đầu sư Thượng Tám Thanh (Đầu sư là chức sắc cao nhất trong đạo - PV), Chưởng quản Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh vẫn dành thời gian tiếp chúng tôi để nói chuyện đạo và đời.
Vào hai ngày đại lễ của đạo Cao Đài là Vía Đức Chí Tôn và Hội Yến Diêu Trì Cung, cùng với nghi thức dâng hương, cúng bái, cầu kinh... các tín đồ và du khách thập phương hành hương về Tây Ninh còn được khám phá nhiều trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu võ thuật dân tộc, thi múa tứ linh... rất đặc sắc, tạo nên bầu không khí sinh hoạt văn hóa cộng đồng hân hoan, sôi nổi và ấn tượng.

Theo ngài Đầu sư, Cao Đài là tôn giáo tổng hợp nhiều triết lí hướng thiện gắn liền với cuộc sống, hướng các tín đồ chăm lo đến đời sống kinh tế, sống hòa thuận trong thế giới đại đồng, cùng nhau giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Hội Thánh đã hướng dẫn, khích lệ, động viên chức sắc, chức việc và tín đồ Cao Đài thực hiện tốt vai trò của người công dân trong hoạt động tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, đời sống mọi mặt, đặc biệt là đời sống kinh tế của đồng bào theo đạo Cao Đài ở Tây Ninh hiện đã được cải thiện rất nhiều so với trước. Toàn huyện Hòa Thành hiện có 552 doanh nghiệp, và đa số các chủ doanh nghiệp là tín đồ của đạo Cao Đài. Hàng năm, các doanh nghiệp này đã cùng với chính quyền địa phương tạo điều kiện chăm lo tốt vấn đề giải quyết việc làm, phát triển kinh tế cho người dân, cũng như thực hiện tốt công tác từ thiện xã hội, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn.

Có thể nói, ngày nay, nếu có dịp về miền “đất Thánh” Tây Ninh, du khách sẽ có cơ hội được khám phá và tìm hiểu thêm đạo Cao Đài, một tôn giáo độc đáo của người Việt đã góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận quần chúng nhân dân và thực hiện sứ mạng kết nối người dân không chỉ về tinh thần mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội nơi vùng đất phương Nam trù phú và mến khách.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Ðạt - Ảnh: Nguyễn Luân

Cung đường ven biển đẹp nhất Việt Nam

đăng 02:22, 14 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Được tự do chạy xe trên những con đường ven biển Vĩnh Hy - Bình Lập là một trải nghiệm tuyệt vời nhất của mùa hè.

Được coi là "một cung đường nối liền hai tỉnh", điểm xuất phát sẽ bắt đầu từ bãi biển Ninh Chữ của tỉnh Ninh Thuận, đi dọc biển theo lối quốc lộ DT702 và kết thúc tại bán đảo Bình Lập tỉnh Khánh Hòa. 


Quãng đường dài xấp xỉ 57 km này dựa lưng vào Vườn quốc gia Núi Chúa, hướng mặt ra biển Đông, và sẽ đưa bạn đi qua rất nhiều địa danh nổi tiếng.


Điểm đến đầu tiên: Vườn nho Thái An nằm trong tuyến du lịch trọng điểm của Ninh Thuận, bao gồm “Làng nghề gốm Bàu Trúc, làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp, tháp Chàm Poklong Garai, vườn nho Thái An và vịnh Vĩnh Hy”. Đây là vườn nho lớn nhất tỉnh, thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, cách trung tâm thành phố Phan Rang 30 km. 


Qua hết những vườn nho xanh mướt bạn sẽ đến với thắng cảnh Hang Rái, một kỳ quan của tạo hóa đã ban cho Vườn quốc gia Núi Chúa. Đây thực chất là một bãi đá san hô khổng lồ được bao quanh bởi một công viên đá, khi sóng đánh vào rút đi theo độ dốc tạo thành dòng chảy kì ảo, một ngọn "thác trên biển" đúng nghĩa. Một điều đặc biệt nữa là trên bãi san hô có vô vàn hốc đá, vô tình đã trở thành những hồ bơi thiên nhiên kì ảo mà không một nơi nào có được. 


Toàn cảnh vịnh Vĩnh Hy nhìn từ trên cao, đây được coi là một trong bốn vịnh biển đẹp nhất nước ta. Vĩnh Hy rất nổi tiếng bởi hải sản nuôi trên bè cùng tour du lịch ngắm san hô bằng tàu đáy kính. 


Qua Vĩnh Hy vượt đỉnh đèo là lúc bạn đã sang mặt bên kia của vườn Quốc gia Núi Chúa, nơi có thể nhìn ngắm toàn cảnh đảo Bình Hưng. Đoạn đèo này hiện nay được xây rất nhiều điểm dừng chân cho du khách có thể thưởng lãm phong cảnh bên dưới. 


Một bên xanh ngắt màu nước biển, một bên xanh mướt mắt cây rừng, tạo nên một "con đường màu xanh" tuyệt đẹp. Một trong những điểm nhấn của đường DT702 là bạn sẽ vượt qua hàng loạt bãi biển hoang sơ trong xanh như ngọc, từ những bãi tắm vô danh, đến bãi Chuối, bãi Kinh, bãi Nước Ngọt... 


Màu xanh kỳ diệu của biển trời Ninh Thuận, nơi mà chỉ cần trèo qua lan can đường quốc lộ là bạn đã có thể chạm được vào làn nước xanh mát. 


Nằm cách Vịnh Vĩnh Hy chừng 10km, bãi Kinh là một bãi tắm nổi tiếng khác của cung đường Vĩnh Hy - Bình Lập, đây cũng chính là bền thuyền để xuất phát sang đảo Bình Hưng, một vựa nuôi tôm hùm của tỉnh Khánh Hòa. Chỉ mất chừng 10.000đ để du khách mua vé sang đảo, hoặc có thể thưởng thức hải sản ngon rẻ ngay tại bến thuyền, nơi các nhà bè đậu san sát. 


Một thảo nguyên bò và cừu tại Bình Tiên, những đặc sản nổi tiếng khác của vùng đất "Gió như Phan, nắng như Rang". Thôn Bình Tiên cũng là ranh giới hai tỉnh Ninh Thuận và Khánh Hòa, là một điểm đến hoang sơ mới được rất nhiều bạn trẻ tìm đến gần đây. 


Kết thúc cung đường, cũng là kết thúc chặng Tam Bình (Bình Hưng, Bình Tiên, Bình Lập) bạn sẽ đến với bán đảo Bình Lập, ngày nay trực thuộc thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Nằm án ngữ vịnh Cam Ranh, bán đảo Bình Lập có khá nhiều resort, khu nghỉ dưỡng tuyệt đẹp, rất phù hợp cho các gia đình có nhu cầu đi nghỉ dưỡng. Nổi bật nhất chính là Resort Ngọc Sương, chính là bối cảnh chính trong bộ phim nổi tiếng "Những nụ hôn rực rỡ". 


Nguyễn Chí Nam

Homestay hồ Ba Bể

đăng 00:18, 12 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Tại hồ Ba Bể (Bắc Kạn), du lịch homestay hiện phát triển với khá nhiều trải nghiệm mới mẻ cho những người thích du lịch dân dã. Tại đây có một số hang động và điểm đến còn giữ được nét nguyên sơ hấp dẫn du khách.


Động Hua Mạ . 


Bản người Tày làm du lịch 

Cuối tháng 5 vừa rồi, khi nắng hè bắt đầu oi bức, chúng tôi có dịp đi du lịch hồ Ba Bể. Gần đến khu vực hồ, đã thấy một số resort và khách sạn đẹp ở ngay bên đường nhưng khá vắng khách. Nhiều ô tô chở khách du lịch tiếp tục tiến về phía nhà dân sống gần khu vực hồ Ba Bể. Đi qua con đường hẹp xanh mướt cây bao phủ phía trên chừng 2 cây số, chúng tôi tới bản (nay là thôn) Pác Ngòi thuộc xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể. Bản Pác Ngòi nằm trên khu đất khá bằng phẳng, có những cánh đồng ngô xanh mướt ngút tầm mắt, phía sau là dãy núi đá như một bức tường thành khổng lồ chắn ngang. Đây cũng là nơi tiện bến thuyền ra hồ Ba Bể. Phần lớn những ngôi nhà sàn trong bản này đều dựa lưng về phía núi và ngoảnh mặt ra hồ, tạo phong cảnh non nước hữu tình miền sơn cước. 

Phần lớn du khách khi đến Pác Ngòi đều chủ động vào những nhà dân mà họ đã liên hệ từ trước. Homestay là loại hình du lịch có tại đây đã lâu, nhưng khoảng dăm năm gần đây mới có dịp “nở rộ”. Đến với du lịch homestay, du khách sẽ cùng ăn, cùng ở với người dân trong những ngôi nhà sàn truyền thống, được tìm hiểu những nét văn hóa của người dân bản địa. 

Trong chuyến đi này, chúng tôi ở nhà ông Hoàng Chuyền, trưởng thôn Pác Ngòi. Đó là ngôi nhà sàn có khoảng 6 phòng ngủ, mỗi phòng đều có từ 2 đến 4 tấm đệm sạch sẽ để khách nghỉ lại. Phía ngoài nhà sàn là khoảng diện tích rộng, nơi du khách có thể hóng gió, ngồi ăn, trò chuyện hoặc ngắm cảnh sắc núi rừng. 

Ông Chuyền cho biết, cả thôn Pắc Ngòi hiện có vài chục hộ dân làm dịch vụ du lịch homestay. Nhà ông thuộc loại trung bình của thôn, và những nhà rộng nhất tại đây có thể phục vụ hơn một trăm du khách cùng lúc. Nhà sàn tại Pác Ngòi trông bên ngoài không bóng bẩy, nhưng đều có những tiện nghi cần thiết để du khách có thể nghỉ ngơi thoải mái. 

Trong lúc gia đình ông Chuyền chuẩn bị bữa trưa, tôi dạo quanh một số nơi để tìm hiểu thêm việc bản người Tày ở Pác Ngòi làm du lịch homestay. Người dân nơi đây cho biết, gần hai chục năm trước, có đôi vợ chồng người nước ngoài đến hồ Ba Bể tham quan, do mải mê ngắm cảnh tại đây đến quên thời gian, khi trời tối đành tới một nhà dân xin nghỉ lại. 

Chủ nhân đã đón tiếp thịnh tình, hôm sau vợ chồng người nước ngoài còn được gia chủ đãi một số món ăn ngon của địa phương mà lần đầu họ được thưởng thức. Thấy đây chính là loại hình du lịch homestay mà mình đã khá am tường, nên khi chia tay, hai vợ chồng đã biếu chủ nhân một ít tiền và gợi ý gia đình nên làm dịch vụ du lịch đón khách tại nhà. Thấy ý kiến hay, người gia chủ đã làm theo. Ít lâu sau, một số hộ khác trong bản cũng theo đó mở dịch vụ du lịch homestay. 

Khoảng dăm năm gần đây, dịch vụ du lịch homestay mới có dịp phát triển mạnh tại Pác Ngòi. Ngoài việc đưa du khách tham quan những cảnh đẹp tại hồ Ba Bể, người dân Pác Ngòi còn làm các món ăn ngon của địa phương để phục vụ khách. Đơn cử như món cá mương của hồ Ba Bể, một loại cá tuy nhỏ nhưng sau khi bỏ ruột rồi nướng trên than hoa ăn rất ngon. Rồi những món như thịt lợn gác bếp, lạp xường gác bếp, tôm hồ Ba Bể nướng, gà hấp lá chanh…, khi ăn mà nhâm nhi với rượu men lá của người Tày thì thật thú vị. 

Ngoài ra, còn có các loại rau như bò khai, dớn, ngót rừng…, được xào hoặc nấu canh ăn vừa ngọt vừa mát. Những món ăn trên được làm theo yêu cầu của khách, nhưng lượng luôn vừa đủ, giá khoảng 120 ngàn đồng một suất ăn. Ngoài ra, du khách nghỉ đêm giá khoảng 70 ngàn đồng/người… 


Du khách tham quan tại hồ Ba Bể. 


“Hoa hậu” sơn cước níu chân du khách


Ngay lúc mới đến nhà ông Hoàng Chuyền, vừa nghe tôi chớm hỏi cung đường tham quan tại đây, chủ nhân đã mời cả nhóm đến bên một tấm bản đồ của hồ Ba Bể để giới thiệu vanh vách từng điểm. Ông Chuyền cho biết, tại đây có một điểm đi theo đường bộ nhưng không thể bỏ qua là động Hua Mạ. Chiều hôm đó, ông Chuyền dẫn chúng tôi đến nơi này. Động Hua Mạ nằm ở lưng chừng núi, quanh năm cây cối xanh tươi. Vào trong, thấy nền động Hua Mạ khá bằng phẳng, giữa động có hàng chục cột đá sừng sững vươn cao do tạo hóa tạo nên. Phủ khắp trong động là vô số nhũ đá như những bông hoa, tháp bút, đài sen… gây hứng thú cho các du khách.


Sớm hôm sau, chúng tôi được ông Hoàng Chuyền chở xuồng máy đi thăm các danh thắng tại hồ Ba Bể. Lúc xuồng nhẹ trôi, chúng tôi được thưởng thức cảm giác bồng bềnh trên mặt hồ lay động, được ngắm từng dải mây trắng vắt ngang những dãy núi đá khi tỏ khi mờ. Khi cảm giác đó bắt đầu “đỡ nghiền” là lúc xuồng bắt đầu ghé vào đền An Mạ để mọi người thắp nén hương như một nghi thức trình báo của cuộc hành trình quanh hồ. Điểm đến tiếp theo là động Puông, nhìn từ xa như chiếc bát úp trên mặt nước. Đến khi vào trong, thấy lòng động luôn chập chờn thứ ánh sáng mờ ảo, đủ để du khách nhìn ngắm những măng đá sắc nhọn, những mảng thạch nhũ với nhiều hình thù độc đáo. Đây còn là nơi trú ngụ của nhiều loài dơi với số lượng lên đến hàng vạn con.


Từ động Puông có dịp đến Ao Tiên, một hồ nước nhỏ nằm lọt giữa thung lũng của những cánh rừng nguyên sinh có những mạch ngầm thông ra hồ Ba Bể. Mặt nước hồ phẳng lặng, xanh trong như một tấm gương in đậm bóng núi, mây trời. Từ đây, có thể xuôi theo dòng sông Năng, rồi đi bộ xuyên rừng non một cây số là đến thác Đầu Đẳng. Do kiến tạo của thiên nhiên, một đoạn sông Năng dài khoảng 500 m chảy giữa hai rặng núi đá vôi với độ dốc rất lớn bỗng bị chặn bởi những tảng đá chất chồng ngổn ngang rồi tách ra hai dòng tạo thành thác Đầu Đẳng. Từ xa đã nghe thác đổ ầm ào, hơi nước mịt mù lan tỏa qua những tầng cây, tạo hình ảnh trắng mờ tuyệt đẹp…


Cho dù có đôi chút tiếc nuối, vẫn phải công nhận khu vực hồ Ba Bể như một “hoa hậu” miền sơn cước, tuy chân quê mà níu chân du khách. Ông Hoàng Chuyền cho biết, nếu du khách lưu lại dài chút nữa, họ có thể trải nghiệm thêm một vài công việc hằng ngày của người dân như chài lưới, dệt thổ cẩm…, hoặc thưởng thức một số làn điệu dân ca, điệu vũ truyền thống của địa phương. Có lẽ việc trải nghiệm chưa thật đầy đủ này, cùng sự níu chân du khách của nơi đây sẽ khiến không ít người muốn trở lại Ba Bể để du lịch homestay một lần nữa…


Khu du lịch Ba Bể nằm giữa lòng vườn quốc gia Ba Bể, ở độ cao 150 m so với mặt nước biển. Hồ là một thủy vực liên tục dài 8,5 km gồm 3 hồ nối liền nhau nên được gọi với tên Ba Bể. Diện tích mặt hồ khoảng 500 ha được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi với nhiều suối ngầm và hang động. Hồ trên núi đá vôi nhưng nước không bao giờ cạn. Hồ có tính đa dạng sinh học cao, các nhà nghiên cứu đã khảo sát và thống kê được hơn 100 loài cá, trong đó có nhiều loại đặc hữu quý hiếm và có giá trị kinh tế cao. 


Kiến Nghĩa

Đi bộ dưới đáy biển ngắm san hô ở Cù Lao Chàm

đăng 03:14, 8 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Du khách đến với Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm (xã đảo Tân Hiệp, TP Hội An, Quảng Nam) sẽ được bơi lặn, đi bộ dưới đáy biển để chiêm ngưỡng những rạn san hô rực rỡ sắc màu. 

Du khách nước ngoài rất thích thú lặn ngắm san hô ở đảo Cù Lao Chàm Ảnh: V.Hùng 


Những rạn san hô thiên nhiên ở đây hoàn toàn là một thế giới khác, rất cảm xúc. Mọi người hãy chung tay bảo tồn, bảo vệ những rạn san hô tốt hơn, để nhiều người được lặn ngắm, chiêm ngưỡng. 

Ông Richard Leech, du khách người Anh 

Có nhiều vùng san hô trên đảo cho du khách tự do lựa chọn như Hòn Dài, Hòn Tai, Hòn Nhờn, Rạng Mành, Bãi Bìm, Bãi Xếp, Đá Trắng... với khoảng 300 loài san hô khác nhau. 

Lạc vào... thế giới khác 

Chỉ mất chừng 15 phút đi canô, du khách đến điểm có rạn san hô nhiều nhất ở Cù Lao Chàm là Hòn Dài, được bao phủ bởi cây rừng xanh ngắt, dưới chân Hòn Dài là những tảng đá lớn xếp quanh tạo thành một bờ kè vững chắc. 

Khi chiếc canô dừng lại, từng du khách mặc áo phao, đeo kính bơi xuống làn nước biển trong, xanh vắt để ngắm san hô. 

Những rạn san hô với hàng trăm màu sắc tạo thành từng mảng dày đặc dưới lòng nước xanh mờ ảo khiến du khách vô cùng thích thú. 

Du khách cũng có thể ngắm nhiều loài cá đủ màu sắc bơi lội quanh những rạn san hô sặc sỡ ấy. 

Vừa làm một hơi dài lặn ngắm san hô dưới lòng biển, ông Richard Leech, du khách người Anh, cho biết dù đã đi lặn ngắm san hô ở nhiều vùng biển trên khắp thế giới, nhưng những rạn san hô ở đảo Cù Lao Chàm rất tuyệt vời, nhiều loại san hô thiên nhiên ở đây có màu sắc rất đẹp và rất đặc biệt. 

Nếu muốn đi bộ hay lặn dưới đáy biển, du khách sẽ được nhân viên của các công ty du lịch hướng dẫn mặc áo quần lặn, đeo bình dưỡng khí và tháp tùng xuống đáy biển sâu gần chục mét. 

Lần đầu tiên đi bộ dưới đáy biển ngắm san hô, chị Ngô Thị Hoàng Yến (28 tuổi, du khách Hà Nội) cho biết đã có một trải nghiệm tuyệt vời do san hô ở đây đẹp mắt, nhiều màu sắc bắt mắt... 

Bảo tồn để phát triển du lịch 

Ông Ngô Đình Quý, trưởng phòng tuần tra và phát triển cộng đồng (Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm), cho biết dịch vụ lặn ngắm san hô tại đây được nhiều du khách ưa thích. 

Tại Cù Lao Chàm hiện có 38 doanh nghiệp với khoảng 100 chiếc canô và 11 tàu, thuyền ngư dân được cải hoán tham gia đưa khách lặn ngắm san hô. 

Mỗi ngày bình quân lượng khách ra đảo khoảng 3.000 lượt, trong đó có 50-60% số khách lặn ngắm san hô. 

“Hiện ban phân từng vùng, rạn san hô vừa phục vụ khách, vừa bảo tồn, bảo vệ san hô. Nếu đi bộ ngắm san hô thì chỉ được lặn ở khu vực Hòn Nhờn, Hòn Dài, Hòn Tai, Rạng Mành, Đá Trắng. Còn dịch vụ bơi, lặn ngắm san hô được triển khai ở Bãi Xếp, Bãi Bìm, Hòn Tai, Hòn Dài” - ông Quý nói. 

Để giảm tác động đến rạn san hô, mỗi vùng chỉ được tổ chức lặn, ngắm san hô từ 3-5 năm, sau đó khoanh lại để bảo vệ, hạn chế gây ảnh hưởng đến rạn san hô. 

Được địa phương hỗ trợ cải hoán tàu cá thành tàu dịch vụ đưa du khách lặn ngắm san hô, ông Trần Văn Cử (thôn Bãi Ông, xã Tân Hiệp) cho biết với giá dịch vụ cho đoàn khách từ 4-6 người tham quan quanh đảo và đeo ống thở ngắm san hô hiện vào khoảng 600.000 đồng, khách lẻ là 300.000 đồng/chuyến..., gia đình ông hiện có thu nhập ổn định hơn do lượng du khách có nhu cầu sử dụng dịch vụ này ngày càng tăng. 

Theo ông Ngô Văn Hai - nhân viên Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, khi chưa có dịch vụ lặn ngắm san hô, những vùng có san hô đã bị khai thác, đánh bắt. 

Sau đó chính quyền tuyên truyền, vận động người dân không khai thác để bảo tồn, phục vụ du lịch bằng việc hỗ trợ, tạo sinh kế cho họ cải hoán tàu, thuyền để làm du lịch. 

“Du khách rất thích thú với dịch vụ lặn ngắm san hô tại đây, một phần do đây là san hô hoàn toàn tự nhiên chứ không phải được lai tạo, nước biển lại trong xanh với nhiều loại cá đẹp, không khí trong lành...” - ông Hai cho biết. 

Du khách tham quan đảo Cù Lao Chàm đều rất thích thú tham gia tour lặn ngắm san hô dưới đáy biển - Ảnh: V.HÙNG 


Từ TP Hội An, du khách có thể đi tour hoặc mua vé lẻ đi canô ra đảo Cù Lao Chàm để tham gia bơi lặn, đi bộ dưới đáy biển ngắm san hô. 

Với khách đi theo tour, dịch vụ bơi lặn hoặc đi bộ dưới đáy biển đã được tính trong tour, giá cả tùy theo mỗi doanh nghiệp, từ 150.000 - 400.000 đồng/khách/lượt xuống biển. Khách lẻ có thể tự thỏa thuận giá cả dịch vụ với chủ thuyền. 

Có hai hình thức được du khách ưa chuộng: một là bơi và lặn sát trên mặt biển có đeo kính để ngắm san hô (gọi là snorkoling), hai là đi bộ dưới đáy biển (diving) sâu khoảng 7-10m có mang bình hơi, áo quần bảo hộ. 

VIỆT HÙNG - LÊ TRUNG

An Khê nối mạch nghìn năm Sa Huỳnh

đăng 09:20, 1 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đầm An Khê sóng vỗ miên man giữa chiều phai nắng. Xa xa, thấp thoáng bóng người chèo ghe buông lưới, ẩn hiện giữa làn sương mờ ảo. Gió xào xạc cành lá như lời thì thầm của những cư dân Sa Huỳnh cổ vọng về từ hàng nghìn năm trước.

Di vật nghìn năm

Đầu hạ, tôi lang thang trên vùng đất Sa Huỳnh (Đức Phổ), nơi hơn trăm năm trước nhà khảo cổ người Pháp M. Vinet phát hiện hàng trăm quan tài bằng chum. Những chiếc chum bằng đất nung thuở ấy đã thu hút giới khoa học tổ chức nhiều đợt khai quật, nghiên cứu. Qua đó, họ phát hiện ra nền văn hóa Sa Huỳnh với niên đại khoảng 3.000 năm trước, trải rộng trên địa bàn từ Quảng Bình đến nam Trung Bộ và Tây Nguyên cùng một số quần đảo.

Những vật dụng bằng sắt: Cuốc, dao, kiếm, lao, đục, xà beng… được phát hiện khẳng định người Sa Huỳnh cổ là cư dân nông nghiệp và đi biển. Giới nghiên cứu khảo cổ còn khẳng định, nền văn hóa này có sự ảnh hưởng và giao lưu với nhiều vùng ở Đông Nam Á, Trung Hoa và Ấn Độ cổ xưa.

Trong những mộ chum khai quật có gương đồng của nhà Tây Hán, đỉnh đồng nhà Đông Hán và nhiều đồ trang sức, chứng tỏ họ có một nền sản xuất hàng hóa cùng với sự giao thương khá phát triển. Văn hóa Sa Huỳnh được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di tích văn hóa quốc gia và đang xem xét trình Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.

Gò Ma Vương nằm cạnh đầm An Khê, là nơi đầu tiên phát hiện những mộ chum bằng đất nung chứa những điều huyền bí từ xưa. Khai quật dần mở rộng những điểm xung quanh ở Long Thạnh, Phú Khương và Thạnh Đức. Các nhà khảo cổ học cho rằng, đây không chỉ là nơi phát hiện đầu tiên mà còn là chiếc nôi của nền văn hóa Sa Huỳnh.

Tuyến QL1 chạy ven đầm An Khê. 


Theo khảo sát của đơn vị chức năng và các chuyên gia khảo cổ học, di sản, môi trường… thì khu vực đầm và vùng phụ cận là không gian, môi trường sinh tồn của cư dân Sa Huỳnh cổ. Nơi đây chứa nhiều nguồn tài nguyên quan trọng để họ khai thác, phục vụ cho cuộc sống, đồng thời là nguồn gốc phát sinh, phát triển và lan tỏa văn hóa Sa Huỳnh. Trong đó, đầm An Khê là mắc xích quan trọng nhất vì là nơi cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của cộng đồng cư dân Sa Huỳnh cổ.

Trong lịch sử, đầm An Khê đã đóng góp rất nhiều cho giao thương khu vực. Bởi vì, đầm có một con lạch khá lớn thông ra biển, thương thuyền có thể vào ra. Vì thế, UBND tỉnh Quảng Ngãi có văn bản chỉ đạo đơn vị chức năng lập dự án bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Sa Huỳnh tại khu vực đầm An Khê và vùng lân cận. Đơn vị chức năng cũng đang hoàn thiện những công đoạn cuối cùng của khu bảo tồn văn hóa Sa Huỳnh nằm cạnh đầm nước mênh mông.

Dấu tích Chăm Pa

Sử liệu khẳng định hậu duệ của cư dân Sa Huỳnh cổ là dân tộc Chăm sống trên dải đất miền Trung rồi phân tán, sinh sống ở nhiều nơi trên thế giới. Dân tộc Chăm đã xây dựng vương quốc của riêng mình: Lâm Ấp, Chiêm Thành, Panduranga, tồn tại hàng nghìn năm lịch sử. Họ là những nghệ nhân tài ba khi chế tác những vật dụng tinh xảo khiến hậu thế phải trầm trồ thán phục.

Những tháp Chăm uy nghiêm, cổ kính, trầm mặc với thời gian. Tôi cùng người bạn lang thang quanh đầm An Khê để chiêm ngưỡng những công trình của người Chăm còn lưu lại trên vùng đất Sa Huỳnh ầm ào sóng vỗ. Bên bờ biển thôn Long Thạnh 1, xã Phổ Thạnh (Đức Phổ) có tấm bia ký với 6 hàng chữ Chăm cổ khắc trên đá vẫn còn khá rõ nét, mặc cho sự bào mòn bởi mưa nắng theo thời gian.

Những dòng chữ mang thông điệp của tiền nhân khắc trên tảng đá to lớn và khá bằng phẳng giờ vẫn còn bí ẩn với hậu thế. Dưới chân tảng đá có dấu vết đào bới nham nhở sau những cuộc tìm kiếm kho báu của người Chăm chôn giấu thuở trước. Dù đã qua tuổi 85 nhưng cụ Nguyễn Tấn Dưng, nhà cạnh đầm An Khê, khá minh mẫn, kể rành rẽ chuyện tìm kiếm vàng Hời.

Khoảng thập niên 80 của thế kỷ trước, nơi đây rộ lên việc tìm kiếm vàng của người Chăm chôn cất trước khi rời khỏi vùng đất này. Nhiều người dùng cây sắt dài với mũi nhọn xăm vào lòng đất và nháo nhào đào bới khi phát hiện dấu hiệu khả nghi. Những tảng đá có hình thù kỳ lạ, cây cối có dấu hiệu khác thường cũng bị lật tung trong cơn say vàng của bao người.

Sự việc kết thúc cùng sự thất vọng của nhiều người sau những đêm dài gắng sức tìm kiếm, đào bới với mong muốn được đổi đời khi phát hiện vật báu của người xưa chôn cất. “Có hố đào với những phiến đá bằng phẳng bị lật tung, có hố còn lưu lại dấu vết chiếc chum bằng đất vừa được lấy đi. Nhưng đâu dễ gì lấy được của cải của người Chăm cất giấu. Chỉ có con cháu của họ trở lại mới đào lấy được mà thôi. Vì trong tay họ có tấm bản đồ chỉ dẫn nơi chôn giấu vàng của cha ông thuở trước…” – cụ Dưng khẳng định.

Khai quật khảo cổ văn hóa Sa Huỳnh cạnh đầm An Khê. 


Cạnh bia ký bằng đá khắc chữ Chăm cổ có chiếc giếng vuông của người Chăm với làn nước trong vắt, nhìn rõ tận đáy cát trắng tinh khôi. Người Chăm đã đào giếng và dùng những hòn đá vuông vức lắp đặt từ dưới đáy lên trên ngăn chặn sự sụt lún của cát biển. Nhiều giếng nước của người Chăm khá vững chắc giờ vẫn còn hiện hữu ở Long Thạnh, Thạnh Đức, gần đầm An Khê.

Điều đặc biệt là những chiếc giếng này không bao giờ cạn và luôn trong vắt, nước ngọt mát chứ không bị nhiễm mặn, dù nằm cạnh biển. Bên cửa biển Sa Huỳnh bốn mùa lộng gió hiện diện ngôi miếu thờ Thiên Y A Na xây dựng thuở xa xưa được cư dân nơi đây tôn kính gọi là Mẹ (theo cách người Chăm thờ Bà Mẹ Xứ Sở thuở trước). Theo thời gian, cư dân vạn chài còn dựng miếu thờ Bà Thủy, thỉnh tượng Quán Thế Âm Bồ Tát thờ cạnh miếu Thiên Y A Na. Tín ngưỡng của hai dân tộc Việt – Chăm dung hợp với nhau truyền theo thời gian.

Dân làng nơi đây lưu truyền câu chuyện khá ly kỳ về công cuộc mở mang bờ cõi của người Việt khi đến vùng đất Sa Huỳnh. Đấy là khi quân Đại Việt tiến đến vùng đất này, quan quân Chiêm Thành dàn trận phòng thủ để bảo vệ lãnh thổ. Nhưng thay vì giao chiến, họ thỏa thuận, bên nào sớm hoàn thành việc xây dựng chiếc cầu bắc qua lạch chảy từ đầm ra biển thì thắng cuộc, bên còn lại phải chấp nhận rút lui.

Quân lính Chiêm Thành ngày đêm cần mẫn lên những ngọn núi gần đấy xẻ đá rồi tập kết đến địa điểm đã định để xây cầu. Nhưng họ phải chấp nhận thua cuộc và lui về phương nam vì quân lính Đại Việt đã bắc xong chiếc cầu gỗ vững chãi trong thời gian khá ngắn. Và, dù chiếc cầu chưa được binh lính Chiêm Thành xây dựng, nhưng địa điểm ấy vẫn được cư dân bao đời sinh sống ven đầm gọi là Cầu Đá.

Dồi dào cá, tôm

Đầm An Khê với diện tích gần 350ha tựa như chiếc gương soi khổng lồ in nền trời xanh thẳm, lơ lửng vầng mây trắng bay. Phía đông là vùng biển rộng bao la, nơi những con thuyền của cư dân Sa Huỳnh cổ từng lướt sóng vươn khơi. Phía tây là những ngọn núi hùng vĩ soi bóng xuống đầm giữa chiều phai nắng. Nhìn từ trên cao, tuyến QL1 như sợi dây vắt ngang giữa mặt đầm và những ngọn núi nhấp nhô tạo nên phong cảnh vô cùng diễm lệ khiến bao lữ khách ngỡ ngàng khi dừng bước nơi đây.

Đầm lắm cá, nhiều tôm, cung cấp thực phẩm cho cư dân Sa Huỳnh cổ và giờ là nguồn dinh dưỡng quan trọng đối với người dân sinh sống ven bờ. Mùa lũ, từng đàn cá bơi ngược dòng nước lên những thửa ruộng ven đầm sinh sản và tìm mồi, dân làng í ới gọi nhau ra đồng bắt cá. Họ đóng đăng, đặt đơm, cất vó, mang nơm rượt theo cá với tiếng hò la đầy phấn khích, gây náo động cả vùng rộng lớn. 

Mộ chum Sa Huỳnh thu hút nhiều nhà nghiên cứu và du khách tham quan, tìm hiểu 


Cụ Nguyễn Tấn Dưng hào hứng kể lại chuyện xảy ra gần 80 năm trước. Khi ấy, cụ vừa lên 7 đã mang chiếc nơm nhỏ ra đồng rượt theo những con chép, trôi, khoe vây lưng lao mình trên những thửa ruộng cạn. Tiếng reo vui của những người bắt được cá xen lẫn với tiếng “ối cha” tiếc rẻ khi vồ hụt xóa tan đi mệt nhọc. 

Sau những buổi như thế, cụ mang về cho mẹ dăm ba con cá để chế biến thức ăn trong bữa cơm gia đình. Từ đó, nghề bắt cá trên đồng và ở đầm An Khê theo cụ gần đến cuối cuộc đời, có những đêm trúng đậm với lượng cá chép lên cả trăm con.

Khi nước dần cạn trên ruộng, nông dân quanh vùng lại cày cuốc, sạ những mầm lúa tươi non xuống lớp bùn đất màu mỡ rồi cùng nhau mang dụng cụ ra đầm bắt cá. Cả đêm lẫn ngày, trên mặt đầm luôn ẩn hiện bóng người dân quê lam lũ. Họ lặn ngụp giăng lưới, úp nơm, cất vó… và sôi động nhất là đánh lưới lùng. 

Cả nhóm trên dưới 10 người kéo tấm lưới khá rộng tạo thành vòng tròn, nhốt cá vào bên trong. Sau đó, vài người trong nhóm úp nơm bắt gọn bầy cá đang vùng vẫy, tìm cách thoát ra ngoài. Gần cả đời mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá nên nhiều người thuộc làu những luồng lạch, hố sâu trong đầm An Khê.

Có những chiếc hố rộng và sâu đến 4m vào mùa khô và đến 6m vào mùa mưa, nước luôn mát lạnh vào những ngày nóng bức và ấm vào những ngày đông rét buốt. Nhiều người tường tận những hầm cá, nơi các loài cá: chép, diếc, cá đối, cá hồng, cá hanh… quần tụ trong hố nước sâu để trốn tránh sự đuổi bắt. 

Khi lặn xuống đáy, cá chạy toán loạn đụng cả vào người, rất thích thú. Người dân nơi đây từng có cách bắt cá khá độc đáo. Họ ngụp lặn đào hang dẫn dụ cá bống, cá úc vào hang rồi luồn hai tay vào bắt gọn. “Hồi đó cá nhiều lắm nên ai cũng ham, mê cá lắm nên chúng tôi đánh bắt cả ngày nhưng chẳng thấy mệt nhọc gì cả” – cụ Dưng hào hứng nói.

Giờ tình trạng cá, tôm suy kiệt do ô nhiễm môi trường và bị đánh bắt bằng xung điện diễn ra ở nhiều nơi nhưng lượng thủy sản trong đầm vẫn dồi dào. Cá, tôm, cua… trong đầm vẫn hiện diện ở những phiên chợ quê và trong cả bữa cơm của cư dân phố thị. Đêm khuya vắng, trên mặt đầm lấp lóa ánh đèn của những người giăng lưới, dỡ đăng nò… để cá tôm kịp đến phiên chợ sớm. 

Dù bận nhiều việc nhưng con trai cụ Dưng vẫn tiếp bước cha ra đầm bắt cá. Có hôm, chỉ trong chốc lát, anh bắt được mươi con cá chép khá to. “Đầm An Khê rộng mênh mông, nhiều chổ nước sâu không thể đánh bắt nên còn nhiều cá lắm. Những hầm sâu giờ vẫn còn vô số cá ở dưới đấy…” – cụ Dưng khẳng định.

Đầm An Khê như sợi dây nối giữa cư dân Sa Huỳnh cổ với thế giới hiện tại. Những thông điệp của tiền nhân lưu lại ven đầm giờ vẫn còn là điều bí ẩn khiến hậu thế gắng sức kiếm tìm, giải mã để hiểu về cuộc sống của người xưa. 

Trang Thy

Bí ẩn Di sản Thành đá nhà Hồ

đăng 03:10, 26 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Với tuổi thơ tôi, ngôi cổ thành nằm giữa trập trùng đá núi huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) đã kỳ bí từ trong chuyện kể của bà để lại. Cho đến bây giờ, khi ngôi thành đá đồ sộ này được UNESCO công nhận là Di sản thế giới và được CNN đánh giá là "một trong 21 di sản nổi bật và vĩ đại nhất thế giới" vẫn ẩn chứa nhiều sự bí ẩn đối với các nhà khoa học.

Quê bà nội ở làng Tây Giai, thuộc xã Vĩnh Tiến nằm ngay sát Thành nhà Hồ nên mỗi khi theo bà về quê, tôi lại được lũ trẻ làng này rủ chơi đánh trận giả trên những hào thành. Thời đó, lũ trẻ chúng tôi chia làm hai phe, lấy trâu làm ngựa, lấy lau làm cờ, lấy cổng thành phía Tây làm gianh giới chiến trận. Phe ở ngoài công thành bằng dây thừng, phe trong thành bảo vệ bằng cách ném bùn, dội nước. 

Thành nhà Hồ là công trình kiến trúc bằng đá độc đáo có một không hai tại Việt Nam. Thành được Hồ Quý Ly cho xây vào mùa xuân năm 1397, còn gọi là Tây Đô (hay Tây Giai) để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long, Hà Nội). Nơi đây từng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa vào cuối triều Trần và kinh đô của nước Đại Ngu trong khoảng 7 năm, từ 1400 đến 1407.
Nhiều lần, tôi bị bong gân, trày xước chảy máu bởi trò chơi trận giả mà mãi đến sau này, khi lớn lên, học những trang sử thì mới biết, xung quanh hào thành này, hơn 600 năm về trước cũng đã xảy ra nhiều trận đánh vệ quốc đẫm máu oai hùng của cha ông.

Thời đó, cái thú nhất của lũ trẻ chúng tôi là đi đào dế quanh tường thành. Nhưng kỳ lạ thay, có hôm mãi đào mãi, dế đâu chẳng thấy, chỉ đào được viên bi đá to bằng quả bưởi, tròn xoe. Mang viên bi về khoe, bà bảo, đấy là đạn đá của ông Trừng đấy! Trong ý nghĩ non nớt thời ấy, tôi nghĩ đến trò súng chun và mường tượng ông Trừng phải là một vị thần cao siêu mới có thể sử dụng viên đạn đá to như thế!

Bốn cổng Thành nhà Hồ theo chính hướng Nam - Bắc - Tây - Đông, gọi là các cổng Tiền - Hậu - Tả - Hữu. Các cổng đều xây kiểu vòm cuốn, đá xếp hình múi bưởi, các phiến đá xây dài tới 7 m, cao 1,5 m, nặng chừng 15 tấn. Trong ảnh là Cổng Tiền, gồm 3 cửa cuốn dài 33,8 m, cao 9,5 m, rộng 15,17 m. Ảnh: Thông Thiện


Toàn bộ mặt ngoài tường Thành nhà Hồ được ghép bằng những phiến đá xanh, xếp chồng khít lên nhau, có phiến dài tới hơn 6 m, ước nặng hơn 20 tấn. Theo các nhà khoa học ước tính, tổng khối lượng đá được sử dụng ghép, xây Thành nhà Hồ khoảng 20.000 m3. Ảnh: Công Đạt


Chuyên mục Du lịch của trang web Đài truyền hình CNN (Mỹ) đánh giá, việc UNESCO lựa chọn ngôi cổ thành này để trao “danh hiệu danh giá” bởi 2 lý do: một là nhà Hồ chỉ tồn tại trong 7 năm (1400 - 1407) trong một giai đoạn nhiều biến động của lịch sử Việt Nam, hai là Thành nhà Hồ là “mẫu mực nổi bật cho phong cách mới của kinh thành Đông Nam Á”. Năm 2015, CNN đã xếp Thành nhà Hồ là "một trong 21 di sản nổi bật và vĩ đại nhất thế giới". Ảnh: Thông Thiện


Lớp ngoài tường thành xây dựng bằng những khối đá xanh, được đẽo gọt và ghép một cách tài tình, khối đá lớn nhất nặng tới khoảng 26 tấn. Các khối đá có kích thước to lớn được thấy ở các bức tường phía Tây, phía Nam và phía Đông. Ảnh: Công Đạt


Các nhà nghiên cứu lịch sử đánh giá, kiến trúc của bốn cổng chính Thành nhà Hồ rất khoa học, với các phiến đá được đục đẽo vuông vức, công phu xếp đan xen theo hình múi bưởi để tránh rung chấn lớn như động đất. Giữa các phiến đá xây thành không có bất kỳ chất kết dính nào nhưng tòa thành vẫn đứng vững hơn 600 năm qua dù chịu rất nhiều tác động của địa chấn và bom đạn tàn phá. Ảnh: Công Đạt


Lớp trong của tường thành là lũy đắp bằng đất sét trộn cát sỏi, nện kỹ từng lớp, có độ dốc thoải dần vào phía trong thành, dày khoảng 60cm - 70cm lại có một lớp cát mỏng trộn với sỏi. Ảnh: Thông Thiện


Hoàng thành được xây dựng trên bình đồ có hình gần vuông. Chiều Bắc - Nam dài 870,5 m, chiều Đông - Tây dài 883,5 m. Nối liền với cửa Nam là con đường Hoa Nhai (đường Hoàng Gia) lát đá dài khoảng 2,5 km hướng về đàn tế Nam Giao (nơi nhà vua tế lễ) được xây dựng vào tháng 8/1402. Ảnh: Công Đạt


Phóng viên CNN mô tả khi tác nghiệp tại Thành nhà Hồ rằng: "... phần của tường thành bị lún xuống hoặc bị cỏ cây trùm lấn - điều không thể tránh khỏi, nhưng như thế lại “tạo cho di tích vẻ huyền bí”. Xung quanh thành là những cánh đồng ngô, lúa và con đường đất trải dài như không hề chịu ảnh hưởng của thời gian...". Ảnh: Công Đạt 


Trục đường chính, phần ở khu vực Cửa Nam của thành, được thư tịch cổ gọi là đường Cái Hoa, Hoa Nhai hay Hòe Nhai. Cuộc khai quật khảo cổ ở khu vực này đã phát hiện dấu tích của con đường cổ chạy từ trong thành, qua Cửa Nam về núi Đốn Sơn. Ảnh: Công Đạt


UBND tỉnh Thanh Hóa xác định, hoạt động du lịch chính là con đường đưa khách tham quan đến với Di sản Thế giới Thành nhà Hồ, để làm cho Di sản có giá trị đúng với chính nó, làm cho di tích sống lại với thời gian. Ảnh: Công Đạt 


Cũng mãi sau này khi đọc sách, tôi mới biết ông Trừng chính là nhân vật lịch sử Hồ Nguyên Trừng (1374 - 1446), chính là kiến trúc sư của tòa thành kỳ vĩ này và những viên đạn đá đó để dùng bắn súng thần cơ sang pháo – Một loại vũ khí đã nhiều phen làm quân xâm lược khiếp sợ.

Điều bí ấn mãi mãi đối với tôi chính là đôi rồng đá bị mất đầu đã được người đi làm đồng trong hào thành đào phát hiện và dựng ở đường cái nối Cổng Tiền sang Cổng Hậu. Mang thắc mắc hỏi thì bà bảo, đôi rồng của ông Hồ Quý Ly, đấy là rồng thiêng, cháu không được vẽ bậy, hoặc cưỡi lên đôi rồng ấy! 
Ngày 27/6/2011, tại phiên họp lần thứ 35 của Ủy ban di sản thế giới thuộc Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) diễn ra tại thủ đô Paris (Pháp), Thành nhà Hồ đã được công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Thành nhà Hồ gồm 3 bộ phận, La thành, Hào thành và Hoàng thành. Theo sử sách ghi lại trong Hoàng thành có nhiều công trình như điện Hoàng Nguyên, cung Diên Thọ (chỗ ở của Hồ Quý Ly), Đông cung, Tây Thái Miếu, Đông Thái Miếu... rất nguy nga, tráng lệ chẳng khác gì kinh đô Thăng Long. Tuy nhiên, trải qua hơn 6 thế kỷ tồn tại với rất nhiều tác động của thiên nhiên và con người, hầu hết công trình kiến trúc bên trong Hoàng thành đã bị phá hủy.

Rồi bà kể tiếp rằng, dân làng Tây Giai vẫn lưu truyền nhau câu chuyện, làng hay bị hỏa hoạn nên có thầy thầy phong thủy đi qua bảo rằng, đôi rồng đá ấy hướng về làng thường phun lửa nên làng hay bị cháy. Từ đó, đầu đôi rồng không còn. Trong ý nghĩ non nớt của đứa trẻ lên năm, tôi nghĩ Hồ Quý Ly phải là vị thần oai hùng lắm mới cá thể cưỡi rồng đá phun lửa đến cháy nhà.

Sau này đọc lịch sử, tôi mới biết, Hồ Quý Ly (1336 – 1407) chính là vị vua sáng lập nên nhà nước phong kiến Đại Ngu, là người ra lệnh xây dựng tòa thành và có nhiều cải cách tiến bộ mà đến bây giờ đã được thế giới công nhận. Và trong dã sử, có nhiều thuyết nhắc đến đôi rồng đá bị cụt đầu ấy. Có thuyết nói rằng, sau khi giặc Minh xâm lược nước ta, đã chặt đầu rồng, lại có sách nói, đôi mắt rồng là hai viên ngọc quý nên bị người ta chặt đầu lấy ngọc.

Tiến sĩ Phạm Văn Đấu (Hội sử học Thanh Hoá) đánh giá đôi rồng đá ở Thành nhà Hồ thuộc loại tượng rồng lớn và đẹp nhất hiện còn lại ở Việt Nam. Đôi rồng thể hiện nghệ thuật chạm khắc thời Trần lúc hưng thịnh với đặc điểm khỏe khoắn, đầy đặn. “Sử cũ không ghi chép, cũng không ai biết đôi rồng đá bị mất đầu từ bao giờ, nhưng giả thiết sau khi xâm lược nước ta, quân Minh cho chặt đầu rồng mang về báo công được nhiều người chấp nhận”, tiến sĩ Đấu cho biết. Ảnh: Thông Thiện


Cặp rồng đá được chạm khắc rất tỉ mỉ. Thân rồng thon nhỏ dần về phía đuôi, uốn bảy khúc, phủ kín vảy. Rồng có bốn chân, mỗi chân ba móng với các túm lông lượn mềm mại. Đầu rồng hiện đã bị mất nhưng vẫn còn phần bờm dài lượn chín nếp.. Ảnh: Công Đạt


Tại cổng thành phía Tây còn dấu tích bài thơ chữ Hán khắc trên đá theo thể thất ngôn bát cú của Tri huyện Nguyễn Dao làm vào mùa Xuân năm Quí Dậu niên hiệu Bảo Đại (1923) có nội dung ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên quanh vùng Thành nhà Hồ. Ảnh: Công Đạt


Trong những lần khảo cổ xung quanh khu vực Thành nhà Hồ, các nhà khoa học tìm thấy hàng trăm viên bi đá lớn (bằng quả bóng đá), nhỏ (bằng quả cầu mây). Việc tìm thấy những viên bi đá này giúp củng cố giả thiết người thợ khi xưa đã dùng chúng như con lăn để tời đá từ vùng khai thác đến nơi xây dựng. Kết hợp với tời và đắp đất, người ta đã đưa những phiến đá lên cao để xây thành. Ảnh: Công Đạt


Năm 2015, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam khai quật khu vực Hào thành. Sau hơn 2 tháng khai quật trên diện tích 2.040 m2, các nhà khoa học phát hiện nhiều hiện vật bằng đất nung như ngói mũi sen, gạch bìa, trong đó nhiều viên có in, khắc tên địa danh sản xuất, niên đại thời Trần - Hồ. Ảnh: Công Đạt


Trong những cuộc khai quật khảo cổ gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện rất nhiều công trình, hiện vật đặc biệt tại Di sản Thành nhà Hồ như tìm thấy con đường đá cổ đẹp nhất Việt Nam với hơn 600 năm tuổi; nền gạch Gò Ngục cách Hoàng thành về phía Tây - Nam 150 m. Ảnh: Công Đạt 


Ngày đó, tôi với thằng Ngọc, người làng Tây Giai có một cuộc tranh cãi quyết liệt với chủ đề làm cách nào để xây tòa thành đá này. Tôi thì đưa ra chủ kiến, cái ông Hồ Quý Ly, cưỡi rồng đá phun lửa cháy làng ấy là người đẽo gọt những tấm đá to đùng rồi xếp lại với nhau thành tòa thành. Thằng Ngọc thì bảo, nó thấy người ta đẽo đá rồi, phải có rất nhiều người, đục đẽo đá núi Vàng (một ngọn núi ở huyện Vĩnh Lộc) thành những khối đá vuông, nhưng làm thế nào để xếp thành tòa thành thì nó không lý giải được. Nó bảo, lớn lên nó sẽ trả lời cho mà nghe.

Lũ con nít làng Tây Giai chúng tôi lớn lên, mỗi đứa mỗi ngã, đã quá nửa đời người nhưng không đứa nào theo đuổi ngành lịch sử để giải mã những bí ẩn của tuổi thơ.
_____________________________________________________________

Từ  năm 2013 đến năm 2020, tỉnh Thanh Hóa đầu tư hơn 90 tỷ đồng thực hiện dự án Khai quật tổng thể Di sản văn hóa thế giới Thành nhà Hồ. Đây là cuộc khai quật quy mô lớn nhất từ trước tới nay tại di tích lịch sử đặc biệt này. Quá trình nghiên cứu, khai quật, khảo cổ sẽ được thực hiện trên tổng diện tích 56.000 m2, trong đó khu vực Nội thành 25.000 m2; Hào thành 12.000 m2; 4 Cổng thành 5.000 m2; đường Hoàng gia 14.000 m2.

Bài: Thông Thiện - Ảnh: Công Đạt, Thông Thiện

Biến di tích 400 tuổi thành... 1 ngày tuổi!

đăng 20:12, 14 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Thành nhà Mạc (Tuyên Quang) đã trải qua 418 năm tồn tại, dẫu hoang phế song vẫn xứng đáng là một pho sử kỳ vĩ, một di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Thế rồi, thành Tuyên Quang được người ta lập dự án ngót chục tỉ đồng để “trùng tu tôn tạo”.

Đổi hơn 400 năm cổ lấy cái “lò gạch”

Gạch rêu ố, chỗ đỏ au, tường thành nứt toác, cây dại phong kín, những chùm thân rễ si cổ thụ uốn lượn như mãng xà. Người Tuyên Quang có phong trào chụp ảnh cưới bên trăm năm cổ thành, nhiều hoạ sĩ, nghệ sĩ đã đoạt nhiều giải thưởng qua các tác phẩm “sáng tác” bên vẻ đẹp bể dâu hiếm có đó. Nay, bỗng dưng, hai cái cổng cũ của thành Tuyên Quang bị “gọt bỏ rêu phong”, đắp điếm gạch mới và bêtông sắt thép vào, đỏ son, mới tinh. Nhiều người yêu lịch sử, văn hoá, kiến trúc bày tỏ quan điểm rõ ràng: Việc “khoác tấm áo mới” cho cổ thành hôm nay đã khiến toà thành từng là “pháo đài thép” bên bờ sông Lô kia đã... “thất thủ” vĩnh viễn. Nó thất thủ sau ngót nửa thiên niên kỷ trụ vững trước bao nhiêu là binh lửa, giặc giã, mưa dập gió vùi.

Thành nhà Mạc trước khi trùng tu


Hiện nay, trên các trang mạng, đặc biệt là trong các câu chuyện của bà con Tuyên Quang, kể cả câu chuyện của cán bộ văn hoá tỉnh khi trả lời phỏng vấn PV Lao Động, ba chữ “cái lò gạch” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Trùng tu, không lẽ là việc “làm mới di tích” thế ư? Sao lại đánh đổi bức cổ thành mỹ miều và hoang phế tuyệt diệu mà phải mất hơn 400 năm chúng ta mới có được kia lấy một cái “lò gạch một ngày tuổi”?

Anh Quang Minh - một nghệ sĩ chơi ảnh nổi tiếng ở thành phố Tuyên Quang, người đã 51 năm sống ở phường Tân Quang, nơi toà thành toạ lạc, người đã 20 năm cầm máy chụp ảnh cho các cặp uyên ương trong ngày cưới với phông nền là cổng cổ, tường thành cũ nhà Mạc... Gặp tôi, anh Minh chán ngán: Họ trùng tu kiểu gì, làm thành thấp lùn đi, xấu xí đi. Bà con bảo nó như cái lò gạch. Nhà văn Phù Ninh - nguyên Giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin, nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Tuyên Quang - thở dài: Trùng tu gì thì trùng tu, phải tôn trọng nguyên trạng của di tích chứ. Rồi ông già kiệm lời mang cho tôi xem một bức ảnh cổ thành ở phương Tây in trong cuốn lịch treo tường nhà ông: Đấy, ở nước ngoài, các bức tường thành cổ, họ để nguyên cây dại, gạch đá cũ, họ bảo vệ cho nó không sập giúp người sau thấy được bước đi, vẻ đẹp và sự khắc nghiệt của thời gian, của lịch sử in dấu trên di tích đó.

Người viết bài này có ít nhiều gắn bó với đất Tuyên Quang, lần nào chạm vào thị xã (mới “lên” thành phố được ít ngày), cũng sững người khi thấy các toà cổng, các tường thành rêu phong cổ kính của di tích quốc gia thành nhà Mạc. Giữa tấp nập “phồn hoa đô hội” thời mới, giữa một “đảo” (ngã tư) đường trung tâm có một phom cổng cổ (cổng Tây thành Tuyên Quang). Nó khiến ta nghĩ về một cõi u hoài, một sự cảm khái nao lòng, về số phận và lịch sử của miền địa linh nhân kiệt nằm gọn trong vòng tay ôm, tròn trịa, thân ái, tốt tươi của sông Lô đó. Ở Việt Nam còn quá ít các toà thành, các cổng thành cổ kiểu này. Thành Bắc Ninh thì không cho du khách vào thăm ngắm. Thành Sơn Tây còn lại 3 cổng thì bỗng dưng người ta “trùng tu” phá tan toà cổng đẹp nhất, nếu báo chí không lên tiếng thì hai cổng còn lại cũng sẽ bị “làm mới” theo đúng kế hoạch kiểu “đạn đã lên nòng”.

Và sau khi "rót" tiền tỉ đầu tư


Đã có lần tôi dừng xe, đưa chính em gái mình đứng trong toà khum khum, nứt toác, xanh rì và cuồn cuộn cây dại của cổng Tây thành Tuyên Quang mà chụp ảnh, rồi lo lắng: Hy vọng họ sẽ không trùng tu cẩu thả, để làm mới di tích văn hoá, “bảo tàng” tự nhiên này (như thường thấy). Thật không ngờ, như các cụ nói, “phỉ phui cái mồm”, hôm nay trở lại, đã gặp hai cái lò gạch mới toe như lời bà con Tuyên Quang nói với tôi. 

Tôi không bất ngờ, không khó hiểu, nhưng tôi thật sự bất bình.

“Quy trình” đánh tráo cây đèn Alađin

Làm việc với cán bộ hữu quan tỉnh Tuyên Quang về dư luận ầm ĩ xung quanh vụ cái lò gạch mới được đầu tư to tiền nhất tỉnh Tuyên Quang, chúng tôi mới giật mình: Dự án khoảng 9,8 tỉ đồng trùng tu thành nhà Mạc này đã được thực hiện rất “đúng quy trình”. Tiền từ “bộ” rót về đấy chứ. Tức là: Nhiều lần cử tri chất vấn ngành văn hoá tỉnh trong các kỳ họp Hội đồng Nhân dân (có văn bản kèm theo), rằng sao có tiền mà không trùng tu thành nhà Mạc, để nó nhếch nhác quá. Ngành văn hoá kết hợp với Cty tu bổ di tích ở trung ương lập kế hoạch, dự toán đủ thứ suốt gần hai chục năm. Rồi đưa lên Sở Kế hoạch - Đầu tư thẩm định. Rồi trình Uỷ ban Nhân dân tỉnh, trình Thường trực Tỉnh uỷ, xin thỏa thuận của Cục Di sản văn hoá, xin Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ VHTTDL). Duyệt, cấp kinh phí, lập đủ ban bệ rồi mới “thi công”. Vẻ như, không có ai tùy tiện hay ngẫu hứng làm cho thành Tuyên “thất thủ” trước sự thiếu kiến thức hay quá khích “phá thành đào đất làm lò gạch” cả. Nhưng...

“Không hiểu sao bà con, cư dân trên mạng, kể cả những người trả lời phỏng vấn chúng tôi, những người thật sự yêu thành Tuyên Quang... đều thất vọng, bất bình, “nổi đoá” lên vì việc biến thành Tuyên thành cái... như là lò gạch nhỉ?” - tôi hỏi một cán bộ sở trực tiếp giữ toàn bộ hồ sơ, tham gia vụ “trùng tu tôn tạo” này từ đầu chí cuối, giữa lúc anh đang ôm tài liệu để trả lời nhà báo, thì anh nói: “Đúng là tôi có nghe, bà con bảo nó giống như cái lò gạch mới quá”. Nói rồi, anh cán bộ im lặng.

Chúng tôi ra giữa “đảo giao thông”, nơi toà cổng phía Tây tuyệt đẹp của thành Tuyên Quang đã biến mất hoàn toàn vẻ quyến rũ cách đây ít ngày. Một cổng thành như vừa được dựng lên bằng bìa cáctông để... diễn kịch “vẽ nhọ bôi hề” hiện ra. Có lẽ, Tuyên Quang là tỉnh duy nhất ở Việt Nam có một toà cổng thành hơn 400 năm tuổi lại nằm giữa cái bùng binh của ngã tư đường trung tâm của thành phố tỉnh lỵ như vậy. “Di tích 1 ngày tuổi” nằm trọn vẹn, tơ hơ ở đó, gạch mới đỏ au, tinh tươm, mới mẻ từ chân lên đầu, từ trong ra ngoài, gạch đá trét ximăng trắng lốp tứ bề. Xung quanh “đảo” là chi chít cọc bằng inox sáng choang. Cọc to, giữa các cọc có xích sắt to bằng ngón chân cái, buông chùng để... bảo vệ. Phải trèo qua hàng rào inox vào trong cổng thành, thì may ra bạn mới nhìn thấy vài dấu vết của mấy viên gạch cũ.

Thành Tuyên hình vuông, mỗi bề dài 275m; tường cao 3m; dày 0,8m đã vật vã tồn tại 418 năm qua trước bao nhiêu dâu bể - thế rồi, giờ đây, nó phải “quy hàng” rồi bị dồn đến chỗ “thất thủ” trước dự án gần 10 tỉ đồng kia. Không lấy ý kiến nhân dân, không tham khảo ý kiến những người thật sự yêu mến, thích thú, am hiểu về di tích thành nhà Mạc trên xứ Tuyên và cả nước, thế nên, dự án đã có một “quy trình” thực thi mà tự những người trong cuộc cứ thế vừa “đá bóng” vừa “thổi còi”, rồi tự cho mình là đúng! Tôi có cảm giác, toà cổ thành 418 năm tuổi, đã hội tụ bao nhiêu thương yêu, cả máu và nước mắt của bao thế hệ người xứ Tuyên kia như chiếc đèn thần của Alađin, thế rồi, người ta bỏ gần chục tỉ đồng ra để “đánh tráo” nó đi, “đền” vào đó một cây đèn đồng nát.

Trước tập hồ sơ dày cồm cộp, dấu triện đỏ, bản vẽ mênh mông mà người ta đặt trước mặt mình để “giải trình” về việc thành Tuyên biến thành lò gạch một cách đúng quy trình ra sao, tôi chỉ biết ngậm ngùi. Ai duyệt, ai vẽ dự án, ai thi công, ai giám sát, ai nghiệm thu, ai xuất ra tiền tỉ (từ tiền thuế của dân) để đẩy thành cổ ra nông nỗi: Một “di tích” phủ bóng gạch mới và vôi vữa ximăng, kèm theo xích sắt và cọc sắt sáng quắc này? Bất kể là bộ hay là cục, là UBND tỉnh hay sở nọ sở kia, thì vẫn có một sự thật: Người ta đã gọt bỏ rêu phong, đã phá đi dấu tích 418 năm lịch sử tuyệt vời của thành Tuyên để thu về cái thứ “1 ngày tuổi”.

Lại còn thế này, có người thậm chí còn yêu cầu “dỡ gạch hai bên tường (của cổng thành) thấp xuống, mở rộng tầm nhìn cho xe cộ” (trích văn bản mà chúng tôi đang có trong tay), ôi chao, trùng tu như thế là... chọc tiết di tích đấy, các vị ơi. Nữa, các phom cổng, các bức tường thành lưu dấu mấy trăm năm dâu bể đẹp rực rỡ như thế, vì sao phải phun hoá chất “diệt trừ tận gốc cây dại” để làm mới di tích, trong khi các “toà thiên nhiên” cây bám, dây leo, cây cổ thụ đã là một phần giá trị không thể thiếu của di tích?

Sự kỳ khôi này, có lẽ, chỉ những người trong cuộc mới hiểu nổi.


Thành nhà Mạc 418 năm tuổi, sau khi “rót” tiền tỉ vào đầu tư, đã mới toe như mới 1 ngày tuổi; và... kém thẩm mỹ như thế này đây!


“Giữ nguyên di tích gốc hiện có” theo kiểu... “làm mới”?

Từ ngày 1.3.1996, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang - ông Vũ Mạnh Thắng đã có thông báo về chủ trương đầu tư trùng tu di tích thành nhà Mạc. Có vẻ thận trọng lắm, bởi phải 11 năm sau, năm 2007, UBND tỉnh Tuyên Quang đã có tờ trình gửi thường trực Tỉnh uỷ, theo đó, “nguyên tắc trùng tu” là phải: “Phải tận dụng, sử dụng loại vật liệu xây dựng của di tích gốc đã có; nghiêm cấm không được làm thay đổi, biến dạng di tích gốc và phải đảm bảo giữ nguyên di tích gốc hiện có”.

Và, đến tháng 12.2007, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang đã ký quyết định “phê duyệt chủ trương” với nguyên tắc trùng tu tương tự. Tuy nhiên, không biết họ làm kiểu gì, mà việc “giữ nguyên di tích gốc hiện có lại đồng nghĩa với việc biến các phom cổng thành cổ, hoang phế, đẹp như một kỳ quan kia thành cái... “lò gạch mới”. 

Vượt nắng gió chinh phục đỉnh Chiêu Lầu Thi

đăng 07:27, 13 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chúng tôi đến với Hà Giang vào dịp nghỉ lễ 30/4-1/5. Xách ba lô lên và đi, 2 người chúng tôi đã có được những trải nghiệm lần đầu đầy mới mẻ khi chinh phục đỉnh "9 tầng thang". 

Từ xã Tân Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, bạn hãy hỏi đường để đến với huyện Hoàng Su Phì (cách Tân Quang 66 km). Đỉnh Chiêu Lầu Thi cao 2.402 m so với mực nước biển, thuộc dãy Tây Côn Lĩnh, là ngọn núi cao thứ hai của Hà Giang. 


Đoạn đường đến với Chiêu Lầu Thi tuy ngắn (gần 12 km), nhưng là một thách thức thật sự với những người lần đầu leo đèo như chúng tôi. Lời khuyên là các bạn hãy trang bị thật tốt và đừng quên lựa một chiếc xe máy tốt để trải nghiệm trọn vẹn những cảm xúc trên đường đi. 


Một đoạn đường với đất đá khó nhằn trên đường lên đỉnh Chiêu Lầu Thi. 


Bức “tường thành” phủ đầy rêu trên đường lên dốc. 


Vượt gần 12 km, các bạn sẽ đến nhà dân đầu tiên và có thể đặt phòng ở, ăn uống. Người dân ở đây rất thân thiện và nhiệt tình. 


Tạm biệt nhà dân đầu tiên nơi đây, chúng tôi vượt qua hai ngọn đồi để đến Chiêu Lầu Thi vào một buổi chiều đầy nắng và gió. 


Thảm thực vật đa dạng trên đường lên đỉnh. 


Chúng tôi lần đầu được ngắm nhìn mây trời và hoàng hôn ở độ cao 2.402 m. 


Đoạn đường chúng tôi đã trải qua hơn 5 giờ đi xe máy. 


Mặt trời vàng rực ở thời khắc chuyển giao giữa ngày và đêm. 


“Biển mây” lúc hoàng hôn. 


Chúng tôi quyết định cắm trại và chờ đợi bình minh ngày hôm sau. Các bạn nên thử trải nghiệm cảm giác ngủ lều với cái lạnh buốt miền núi (nhớ mang theo quần áo ấm vì về đêm nhiệt độ giảm rất nhanh). Chi phí cho thuê chỗ dựng lều và giữ xe là 50.000 đồng. 


5h, chúng tôi xuất phát, trời đã dần sáng và mây đến nhiều hơn. Những cơn gió lạnh buốt cắt da thịt làm chúng tôi chùng bước. Nhưng cảnh tượng xuất hiện sau đó đã xua tan tất cả, chúng tôi được tận mắt nhìn thấy ánh mặt trời len lõi dần qua từng tầng mây. 


Mặt trời dần dần hiện rõ phía chân trời. 


Ánh mặt trời đang tỏa những tia nắng đầu tiên lên Chiêu Lầu Thi. 


7h, mặt trời đã tỏa đầy nắng và mây lại bồng bềnh trôi. Chúng tôi trở lại ngôi nhà đầu tiên các bạn dừng quên thưởng thức món thắng cố và nậm pịa, với một ít rượu ngô đặc sản. 


Kết thúc chuyến chinh phục đỉnh Chiêu Lầu Thi 2 ngày 1 đêm, trong chúng tôi thật nhiều cảm xúc “lần đầu”. Đến Hà Giang bạn không chỉ được thưởng thức những con đường đèo, dinh thự Vua Mèo, đỉnh cột cờ Lũng Cú… mà tuyệt vời hơn là bạn hãy thử một lần đặt đôi tay của mình lên đỉnh Chiêu Lầu Thi để cảm nhận Hà Giang thật hùng vĩ và choáng ngợp, bởi sự đa dạng và hiếu khách của vùng đất và con người nơi đây. 


Chiêu Lầu Thi (chấm đỏ trên bản đồ) nằm ở thôn Tân Minh và thôn Chiến Thắng, xã Hồ Thầu, tỉnh Hà Giang. Ảnh: Google Maps. 


Độc giả Huỳnh Quốc Khánh

1-10 of 21

Comments