Những chuyến đi, những khám phá... và những điều suy tư...

Bài mới

  • "Giữa thành phố sống chồng lên nhau" có một Hoà Bắc bình yên Xã Hòa Bắc, huyện Hoà Vang được biết đến như một điểm đến mới, hấp dẫn bởi sự bình yên, tĩnh lặng ngay bên TP biển sôi động Đà Nẵng ...
    Được đăng 21:04, 14 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Săn voi trắng rừng Tây Nguyên Cánh thợ săn voi (gru) ngang dọc khắp dải rừng Tây Nguyên ai chả mong mọi lần trong đời săn được loài voi trắng quý hiếm. Nghề săn voi rừng ...
    Được đăng 19:56, 14 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Thị xã Bình Minh và đặc sản du lịch Vĩnh Long Chúng ta khá buồn trước câu hỏi: Đặc sản Vĩnh Long là gì? Tất cả đều lắc đầu. Sao vùng đất tiềm tàng nền văn hóa độc đáo cùng lịch ...
    Được đăng 20:26, 3 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mộ của vua voi Buôn Đôn và Bản ĐônỞ cách TP Buôn Ma Thuột khoảng 50 km về phía Tây là một vùng đất từ lâu nổi tiếng về nghề săn bắt và ...
    Được đăng 03:22, 30 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tản mạn về danh xưng của vua săn voi Nếu các bạn có quan tâm đến vùng đất Buôn Ma Thuột thì chắc thế nào cũng nghe nói đến những ông vua săn voi. Tui may mắn hơn một ...
    Được đăng 05:43, 17 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 24. Xem nội dung khác »


"Giữa thành phố sống chồng lên nhau" có một Hoà Bắc bình yên

đăng 21:04, 14 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Xã Hòa Bắc, huyện Hoà Vang được biết đến như một điểm đến mới, hấp dẫn bởi sự bình yên, tĩnh lặng ngay bên TP biển sôi động Đà Nẵng. Với núi non, sông nước, những cánh đồng chen núi... nơi này mang một vẻ đẹp bình yên.Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng vừa có bài viết giới thiệu về tiềm năng phát triển du lịch sinh thái với nhiều hình ảnh "biết nói" về vùng đất này.

Cách Trung tâm thành phố về phía Tây Bắc chừng 40km, xã Hòa Bắc thuộc huyện Hòa Vang, Đà Nẵng hiện ra với vẻ ngoài bình yên khó tả.


Dưới cái se lạnh của mùa đông và một chút nắng ấm của những tháng cuối năm, nơi đây trở thành một địa điểm đáng để tìm đến nhằm tránh xa khói bụi của thành phố.




Xã Hòa Bắc nằm giữa khu bảo tồn thiên nhiên Vườn quốc gia Bạch Mã và Bà Nà – Núi Chúa, hình thành nên từ các dãy núi có độ cao trung bình vào khoảng 200 m so với mực nước biển.




Nơi đây sở hữu những cánh rừng nguyên sinh đa đạng, các dòng sông, suối, thác ghềnh tuyệt đẹp, gần như nguyên vẹn nét hoang sơ tự nhiên….


Mùa này, tuy lúa không còn nhiều nhưng vẫn còn đó những ruộng mía và bắp mọc cao ngút trời, những cây mía đang ra lá non cùng những tia nắng tạo nên một bức tranh với màu chủ đạo vàng xanh khiến bạn ấm lòng hơn hẳn.


Lang thang dọc theo sông Cu Đê gió hây hây mát lạnh, nắng cuối ngày lười biếng ngả nghiêng những giọt vàng trên sông óng ả. Buổi chiều ở quê chỉ có núi, sông, gió và những thanh âm dịu dàng…

Dựa trên lợi thế về địa hình, khí hậu, tài nguyên phong phú, nơi đây trong những năm qua đã hình thành một số khu du lịch sinh thái, cộng đồng, tạo cơ hội cho du khách được thăm thú, tìm hiểu, trải nghiệm cảnh sắc, văn hóa bản địa.


Mà nếu mê quá chẳng muốn về, thì vẫn có dịch vụ lều trại, sinh hoạt thuận tiện để du khách hưởng trọn một đêm với núi rừng. Chính điều này đã tạo thêm sức hút đặc biệt cho xã Hòa Bắc.


Thưởng thức phong cảnh và “săn” được những bức ảnh vạn người mê là điều vô cùng quan trọng trong mỗi chuyến đi, và Hòa Bắc hoàn toàn thỏa mãn được điều đó, thậm chí còn nhiều hơn thế.


Những ngày cuối năm, người tìm về với Hòa Bắc lại càng nhiều. Buổi chiều bên sông nắng vàng dịu rơi như rót mật, nhánh hoa dại khoe sắc dung dị tinh khôi giữa đất trời. Ở một nơi đẹp như mơ, lòng người bình yên, mọi ưu phiền gác lại…

T T

Săn voi trắng rừng Tây Nguyên

đăng 19:56, 14 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cánh thợ săn voi (gru) ngang dọc khắp dải rừng Tây Nguyên ai chả mong mọi lần trong đời săn được loài voi trắng quý hiếm. Nghề săn voi rừng vốn khốc liệt nhưng chỉ cần thuần được voi trắng, thợ săn mặc nhiên được dân làng ngưỡng vọng. Và dĩ nhiên, đã nói đến nghề săn voi thì không thể không nhắc đến Amakong, cả đời săn được 298 con trong đó có 3 con voi trắng. Vua voi Amakong qua đời đã lâu nhưng những giai thoại về thời săn voi đến nay vẫn được con cháu kể lại.

Hình ảnh săn voi xưa của người Tây Nguyên. 


Truyện xưa lưu truyền

Cái nắng oi ả tháng 3 không ngăn được dòng người từ khắp nơi đổ về Buôn Đôn (Đắk Lắk) để tham dự lễ hội đua voi độc đáo. Vì là lần đầu tham dự nên tôi tìm cho riêng mình một vị trí đẹp để quan sát trọn vẹn cuộc đua. Khi tiếng còi cất lên cũng lúc những tiếng reo hò vang trời của người xem, tiếng nài voi quất roi đen đét thốc voi về đích… hòa chung làm một. Nhìn những khuôn mặt người xem thích thú, phấn khích thì có lẽ, sau cuộc đua ai nấy đều tìm được niềm vui cho riêng mình.

Cách chặng đua voi không xa là con đường bê tông dẫn thẳng đến nghĩa trang của những vị vua Buôn Đôn. Gọi là nghĩa trang vua vì đây là nơi an nghỉ của những người có công khai khẩn đất Buôn Đôn thuở sơ khai và cả những dũng sĩ săn voi bậc nhất Tây Nguyên khuất núi.

Tôi tình cờ gặp một vị khách tuổi ngũ tuần, đứng hồi lâu trước ngôi mộ phủ màu rêu phong của Vua Săn Voi Y Thu Knul. Hỏi ra được biết ông là Bum May Lào (53 tuổi), trong một lần từ TPHCM về tham dự lễ hội đua voi, ông và vợ con đến dâng hương ở nghĩa trang các vị vua Buôn Đôn. Khi còn nhỏ, trẻ con như ông Nay Siêng Lào hiếm khi đặt chân đến nơi đây vì là khu vực cấm. Đổi lại, hằng đêm bên bếp lửa giữa làng, ông Nay Siêng Lào và lũ trẻ được già làng kể về lịch sử của người Lào, của người M'Nông hay những huyền thoại về các chuyến săn voi của các gru xưa.

Những nài voi nhí sau này đều biết về huyền thoại săn voi trắng của các gru trước đây.


Ngôi mộ ông Y Thu Knul mà ông Nay Siêng Lào đến viếng chính là mộ của một trong những người đầu tiên đặt chân đến đất Buôn Đôn. Người già trong làng hay kể, hơn trăm năm trước có một người đàn ông từ Lào xuôi thuyền theo dòng sông MêKông, rồi ngược dòng Sêrêpôk buôn bán, trao đổi hàng hóa với đồng bào bản. Trong một lần tình cờ, ông gặp một cô gái người M'Nông rồi lấy làm vợ. 

Vùng đất mới trù phú bạt ngàn nhưng ông chỉ chọn Buôn Đôn làm nơi sinh sống. Quá trình sinh sống, người đàn ông này lần lượt sinh hạ nhiều con trong đó có ông Y Thu Knul.

Với chiến tích bắt và thuần dưỡng 500 con voi, đặc biệt có voi trắng mang tặng vua Thái Lan, ông Y Thu Knul đi vào huyền thoại ở Tây Nguyên như một biểu tượng cho sức mạnh, lòng dũng cảm. Khi vua voi Y Thu Knul mất, nhằm tỏ lòng thành kính, người Pháp đã xây mộ cho ông khang trang ở phía Tây làng. Khu vực mộ ông Y Thu sau này được dân làng quy tập thành lăng mô của những vị vua như đã nói ở trên.

Trong nhiều câu chuyện đan xen giữa huyền thoại và lịch sử, hình tượng con voi trắng mà ông Y Thu Knul tặng cho vua Thái Lan khiến nhiều người tò mò. Nghe đâu sau việc này, vua Thái Lan đã phong tặng danh hiệu Khun Ju Nốp - Vua Săn Voi, cho ông Y Thu Knul để tỏ lòng tôn kính. 

Vậy voi trắng có thật sự tồn tại hay chỉ là một chuyện huyền thoại làm tô đẹp những trang sử vẻ vang của người đồng bào Tây Nguyên? Về việc này, ông Nay Siêng Lào tiết lộ, chuyện săn voi trắng thì người Buôn Đôn ai cũng biết, nhưng "để nghe chi tiết, tận thấy hình ảnh thì phải hầu chuyện hậu duệ của vua voi”.

Hầu chuyện hậu duệ vua voi

Lịch sử Buôn Đôn vẫn còn ghi lại, sau khi Vua Săn Voi Y Thu Knul qua đời ở tuổi 110, cậu con rể Y Prông Êban, tên thường gọi Amakong, nổi lên với tài nghệ săn voi kiệt xuất. Amakong xứng danh “Vua Voi” với chiến tích săn bắt được 298 con voi rừng trong đó có có không dưới 3 con voi trắng. Amakong thọ 103 tuổi, cưới 4 bà vợ, 21 người con nhưng chỉ sinh hai cậu con trai. Và người hậu duệ vua voi mà ông Bum May Lào kể với chúng tôi là ông Khăm Phết Lào (63 tuổi) con trai thứ 11 của Amakong.

Hình ảnh vua voi Amakong trong một chuyến săn voi rừng trước đây.


Khăm Phết Lào hiện là một lương y có tiếng nhất vùng Ako Tam (TP.Buôn Ma Thuột). Đã hơn một lần gặp gỡ nhưng tôi và Khăm Phết vẫn chỉ trò chuyện xoay quanh phương thuốc quý của ông Amakong thuở còn sống... Phần lớn tuổi trẻ của mình, Khăm Phết chỉ chuyên tâm nghiên cứu, bảo tồn phương thuốc quý mà cha để lại. Nói thế nhưng ngày còn nhỏ, Khắm Phết có may mắn được vài lần cùng vua voi Amakong vào rừng cùng săn voi.

Nhắc đến vua của các loài voi - voi trắng, Khăm Phết Lào chưa vội giải thích, ông dẫn chúng tôi tham quan nhà lưu giữ các hiện vật về một thời săn voi của cha ông. Trong các vật dụng cổ, Khăm Phết giới thiệu cho chúng tôi một chiếc hũ cổ phủ màu thời gian. Đây là hũ thống kê số lượng voi bắt của các Gru xưa trong đó có hủ của Amakong.

Khăm Phết Lào - người con thứ 11 của vua voi Amakong.


“Bên trong chiếc hũ có 10 thanh gỗ, mỗi thanh dài 10cm, được vót tròn. Mỗi khi làm lễ cúng nhập buôn cho một con voi rừng, thợ săn lại lấy một thanh gỗ ra rồi khắc một khấc làm dấu. Cho đến khi bỏ nghề, thợ săn mới kiểm đếm xem trong cuộc đời đã săn bắt được bao nhiêu voi rừng, tương ứng với số lượng khấc trên các thanh gỗ. Trong 298 thanh gỗ này có 3 thanh được khắc làm dấu quan trọng ghi lại việc săn thành công voi trắng của vua voi Amakong” – ông Khăm Phết Lào giải thích.

Cuộc chiến sinh tử

Theo lời Khăm Phết, săn voi trắng liên quan đến việc phong “đẳng cấp” của gru nên ai trong đời cũng mong muốn săn được loài vật này. Mong muốn vậy nhưng hành trình săn voi trắng chẳng hề dễ dàng, đôi khi gru phải trả giá bằng mạng sống của mình.

Không ngoa khi nói voi trắng là vua của các loài voi bởi sự thông minh, mặc nhiên được đàn voi rừng bảo vệ nghiêm ngặt. Theo kinh nghiệm của các gru, trong tự nhiên cứ một đàn voi rừng khoảng 100 con thì lại xuất hiện một voi trắng. Bên ngoài, voi trắng không khác so với voi thường khi thân phủ lớp bùn đất đen ngòm. Dấu hiệu duy nhất để nhận biết voi trắng là đôi mắt màu xanh khác biệt cùng cặp ngà ngả màu hổ phách (?).

Dưới tàn rừng đại ngàn, đàn voi 100 con thường chia làm tầng tầng lớp lớp để bảo vệ voi trắng. Muốn săn voi trắng, gru cần tìm cách xâm nhập lớp ngoài cùng. Đó là vị trí những con voi đực dũng mãnh làm nhiệm vụ cảnh giới. Vào một tầng bên trong, thợ săn voi sẽ đối diện với những con voi cái có nhiệm vụ chăm sóc voi con, vô cùng hung dữ. Thêm một lớp là những con voi con rồi mới xuất hiện voi trắng – linh hồn của đàn. 

Mất vài tháng theo dõi thói quen, hướng di chuyển của đàn voi rừng, gru sẽ định ngày đón lõng đàn. Trước hôm chuyến đi săn, bà con trong làng làm lễ cúng Giàng xin phép vào rừng bắt voi. Ngày khởi hành, gru cùng nhau thổi tù và nhằm khích lệ tinh thần của cả đoàn. Đoàn săn voi luôn có sự hỗ trợ của 5 đến 7 voi nhà. Chuyến hành trình kéo dài từ 5 ngày cho đến một tuần cho đến khi săn được voi.

Trong rừng, gru sẽ lần theo các dấu vết để phát hiện được đàn có voi trắng. Từ xa gru sẽ cùng bàn nhau chia thành hai tốp theo các nhiệm vụ khác nhau. Tốp đầu dùng voi nhà đánh lạc hướng voi đực bên ngoài; tốp hai cưỡi voi nhà xâm nhập vào sâu trong đàn voi dữ để tìm đến nơi voi trắng ẩn mình.

“Khi phát hiện ra voi trắng, gru sẽ cưỡi voi nhà xông vào tách voi trắng ra khỏi đàn. Kế hoạch thành công là khi voi trắng bị thòng lọng của gru quăng vào chân sau... Voi mắc bẫy quẫn tiết dẫm đạp cả một khoảnh rừng, phát ra những tiếng kêu đinh tai nhứt óc. Thời điểm này voi rừng trở nên hung tợn, sẵn sàng tấn công bất cứ nài voi và cả voi nhà nếu lại gần. Sau khi đón lõng voi trắng nhiều giờ, voi nhà lần lượt tiếp cận, ép voi con đưa về nhà.

Mọi kế hoạch phải được gru vận hành thuần thục, tuyệt đối không để sai sót dù nhỏ nhất. Chỉ một phút bất cẩn, nài voi sẽ trả giá bằng chính mạng sống của mình” – Khăm Phết kể lại.

Hình ảnh quý hiếm mà ông Khăm Phết còn giữ về con voi trắng mà Amakong từng tặng cho Tổng thống Ngô Đình Diệm.


Để xác tín câu chuyện vừa kể, Khăm Phết đến một góc nhà, tự tay lấy một bức ảnh ghi lại thời điểm cha ông – Amakong trong một chuyến đi săn đã thuần phục một con voi trắng. Con voi được Amakong tặng cho Tổng thống chế độ cũ Ngô Đình Diệm vào tháng 1.1961. Đổi lại, ông Diệm tặng cho vua voi một khẩu súng săn 2 nòng, 1 khẩu súng ngắn và 150 đồng. 

Theo lời Khăm Phết, suốt một đời của mình, Amakong đã bắt được tổng cộng 3 con voi trắng. Một tặng cho ông Ngô Đình Diệm, một tặng vua Bảo Đại và một còn sau khi săn về chẳng may chết yểu. Ngoài mua bán đổi voi với những nhân vật lớn lúc bấy giờ, Amakong trong cuộc đời mình còn góp voi cho kháng chiến chống quân xâm lược. Vào năm 1954, Amakong được Bác Hồ gởi giấy khen kèm khoản tiền thưởng năm mươi nghìn đồng. Sau này, ông cũng được Đảng, nhà nước trao tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.

Tôi rời nhà Khăm Phết khi mặt trời vừa tắt nắng. Chợt nghĩ, ngày nay không còn ai trong chúng ta còn có cơ hội bắt gặp voi trắng trong thực tế, nhưng những huyền thoại về nó vẫn tiếp tục được lưu truyền trong dân gian, làm đẹp cho vùng đất Tây Nguyên đại ngàn.

Hữu Long

Thị xã Bình Minh và đặc sản du lịch Vĩnh Long

đăng 20:26, 3 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Chúng ta khá buồn trước câu hỏi: Đặc sản Vĩnh Long là gì? Tất cả đều lắc đầu. Sao vùng đất tiềm tàng nền văn hóa độc đáo cùng lịch sử đáng tự hào, với hàng trăm làng nghề, bạt ngàn vườn cây trĩu quả… lại không tìm ra một sản vật đặc biệt để mà khoe với du khách.

Thị xã Bình Minh sẽ trả lời cho câu hỏi này. Vấn đề là chúng ta sẽ làm gì để “đẩy” những đặc sản này lên thành “niềm thương nỗi nhớ” cho bao du khách phải tìm về đây và ở lại đây với một tình cảm thật tràn đầy.

Thanh trà có hương vị thơm ngon mà trái cũng rất đẹp.


Làng nghề tàu hủ ky trăm năm

Một dòng sông rất lạ lùng, tách ra từ sông Hậu mênh mông và nó lặng lẽ “ghé” vào đô thị Cái Vồn mà dân gian thường gọi vàm tắc Từ Tải.

Không biết trong lòng sông chứa đựng bí ẩn gì mà trên dọc hành trình ngắn ngủi của nó để đổ về hướng Trà Ôn, đã tạo nên những vườn cây trái rất đặc biệt như: bưởi Năm Roi và cũng là nơi cắm rễ duy nhất của giống cây ngộ nghĩnh thanh trà.

Dọc theo dòng sông, những người dân hiền lành, chất phác trong mấy trăm năm về đây sinh sống đã kịp tạo nên những làng nghề danh trấn đồng bằng như: xóm lu, xóm tàu hủ ky.

Bấy nhiêu đó có đủ để chúng ta khoe với mọi người về một vùng đặc sản của Vĩnh Long chưa? Cái lợi thế đặc biệt là những loại cây trái này nếu đem đi trồng ở vùng đất khác thì nó sẽ mất phẩm chất ngay.

Vậy tại sao bấy lâu nay chúng ta không tạo nên một vùng đất du lịch quyến rũ để mà thu hút, mời gọi du khách đổ về đây?

Trong khi bao nhiêu năm nay, con sông này cũng là tuyến đường sông lý thú đã được các hãng lữ hành lớn nhỏ khai thác trong tuyến du lịch từ đô thị Cần Thơ chạy dọc về phía sông Măng. Vậy là chúng tôi lại tiếp tục trở lại đây một ngày lang thang dọc miền đặc sản của Bình Minh.

Mỹ Hòa- dải đất nằm kẹp giữa sông Hậu và nhánh sông Cái Vồn gần chân cầu Cần Thơ- lúc nào cũng nhộn nhịp, nhất là vào dịp lễ tết và những ngày rằm như rằm tháng 7 đang cận kề. Dưới sông, từng ghe than thay phiên cập bến không ngơi nghỉ. Còn trên bờ, bên hàng trăm bếp lò đỏ lửa, những người thợ cần mẫn, “chạy hụt hơi” để những tấm tàu hủ ky vàng ruộm rời giàn phơi mà “bay đi” khắp đồng bằng.

Sản xuất tàu hủ ky ở làng nghề Mỹ Hòa.


Ông Đinh Công Hoàng- Chủ nhiệm Tổ hợp tác Tàu hủ ky Mỹ Hòa- cho biết: “Với 36 cơ sở lớn nhỏ, hàng ngày làng nghề cung cấp cho thị trường khoảng 4 tấn tàu hủ ky nhưng vẫn không đủ bán. Rằm lớn trong năm với tết thì không hình dung nổi, điện thoại réo riết không dám bắt máy”.

Theo ông Hoàng, làng nghề Mỹ Hòa tồn tại trên 100 năm, từ thời anh em người Hoa là Châu Phạch và Châu Sầm đến vùng đất này khởi nghiệp và truyền nghề. Ngày càng đông hộ học nghề nên hình thành hẳn một làng nghề.

Chỉ cần lò nấu, mấy cái vạc, chảo gang, một số dàn phơi làm từ tre, bằng sự khéo léo, cần cù, chịu khó, người dân Mỹ Hòa cho ra đời nhiều loại: tàu hủ ky miếng lớn, tàu hủ ky cọng khô- cọng non, tàu hủ ky
ướp muối,…

Với gần 200 chảo, để kịp những đơn hàng phải giao từ 6 giờ sáng, ông Hoàng nói: “Thằng Dự, Luận, Phượng, Thy, Út Nhẽo… phải làm liên tục từ 18- 24 tiếng. Hơn chục người với vai trò khác nhau, từ thợ nấu chính, thợ chạy máy ly tâm, thợ chụm sôi làm việc lặt vặt và người gút đậu.

Chỉ cần học nghề trong nửa tháng thì những người thợ có thể thành thạo cho ra lò những miếng tàu hủ ky vàng ươm, bắt mắt. Tuy nhiên, để lành nghề thì cần học hỏi, rèn luyện tay nghề trong thời gian dài, ông Hoàng cười: “Tìm được thợ chính quý lắm, tiền “dằn chân” thợ 30 triệu đồng. Còn tiền lương thì có người được 900.000 đ/ngày nên sống khỏe”.

Cảnh tượng đó đủ quyến rũ ngay bản thân chúng tôi dù có bao nhiêu lần ghé thăm làng nghề này và tôi luôn nghĩ rằng bên dòng sông này đủ hấp dẫn khi xây dựng những điểm dừng chân, hay những nhà hàng đặc trưng miền quê sông nước Nam Bộ xưa cùng với những sản vật của chính vùng đất này.

Và cũng không khó khăn mấy khi tạo điều kiện cho du khách trực tiếp tham gia những khâu chế biến đơn giản của tàu hủ ky
Mỹ Hòa.

Về Đông Thành thưởng thức thanh trà

Ông Lê Thanh Tuấn- Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Long- đã từng than tại một hội thảo về du lịch: “Thiệt tình bây giờ sản phẩm du lịch rất dễ bị ăn cắp bản quyền. Chỉ cần một sản phẩm mới ra đời là ngay lập tức nơi khác sẽ có ngay bản sao”.

Trong hoàn cảnh xô bồ như hiện nay, chúng tôi thiết nghĩ những đặc sản của Mỹ Hòa (Bình Minh) là một bảo đảm chắc chắn nhất đối với việc chống ăn cắp ý tưởng.

Bởi lẽ ngay như bưởi Năm Roi, chỉ cần đem trồng cách một dòng sông Cái Vồn thôi là phẩm chất trái sẽ khác ngay.

Cho tới nay chưa thấy việc mời gọi các hãng lữ hành lớn về đây khảo sát, chính họ sẽ quyết định tour tuyến và sẽ tư vấn xây dựng những dịch vụ ngay tại đây, nơi rất thuận lợi cả đường bộ lẫn đường sông và nằm sát nách đô thị lớn nhất đồng bằng là TP Cần Thơ.

Một nhà hàng “Năm Roi” chẳng hạn với rất nhiều loại thức ăn, thức uống chế biến từ bưởi Năm Roi của quê mình, tại sao không?

Vườn thanh trà gần 30 năm tuổi của ông Sáu Quận ở xã Đông Thành.


Mỹ Hòa không chỉ có bưởi mà một loại cây đặc biệt nhất ở đất nước Việt Nam này không đâu có được và không đâu có thể trồng được, đó là cây thanh trà.

Chúng tôi ghé lại những nhà vườn lớn ở đây như vườn ông Sáu Sinh hơn chục công, Sáu Vẹn cũng hơn chục công, vườn ông Sáu Quận hơn 20 công… và dưới tán cây mát rượi của thanh trà, chúng tôi nghe kể về sự tích ra đời thú vị của giống cây này và thật quý khi hiện nay vẫn còn cây thanh trà tổ với tán rộng hơn nửa công đất và mỗi mùa vẫn cho hàng tấn trái.

Thanh trà rất dễ trồng, nhưng độc đáo là nó chỉ bén rễ cho trái đúng chất lượng khi được cắm rễ trên vùng đất Đông Thành, cặp bên dòng sông Cái Vồn kỳ diệu. Phó Bí thư xã Đông Thành Huỳnh Văn Bé Ba cho biết: “Toàn xã có 40ha thanh trà, nông dân không trồng thêm mà diện tích đang ngày một giảm xuống.

1 công thanh trà thua xa 1 công bưởi”. Đó là lý do đang có trong tay hơn 20 công thanh trà thu vào mỗi năm khoảng 200 triệu đến 300 triệu đồng, nhưng ông Sáu Quận còn khá băn khoăn vì nếu đầu tư trồng bưởi thì lợi nhuận sẽ cao hơn rất nhiều.

Trong khi chờ đợi những động thái xúc tiến du lịch cho Bình Minh, thì thông tin về một tập đoàn lớn có ý định đầu tư dự án du lịch lớn với diện tích hơn 50ha là một tin vui, rất vui cho người dân Bình Minh, đặc biệt những làng nghề và những vườn cây đặc sản ở xã Mỹ Hòa, xã Đông Thành.

Thanh trà dễ trồng, ít sâu bệnh có thể gọi là trái cây sạch, nhưng vấn đề lớn nhất là thời tiết. Thời tiết lạnh, gió chướng thì mới ra bông. Thời tiết lạnh kéo dài thì cây ra bông hoài, nếu chưa đậu trái thì nó có thể ra bông đến 5- 6 lần. Người dân gọi là cây “trông ngóng” vì tới mùa là ngóng ra trái. Một công trồng 25- 30 cây, có cây cho đến mấy trăm ký trái, cũng có khi đậu trái 4- 5 cây thôi.


Bài, ảnh: NGỌC TRẢNG- PHƯƠNG THÚY

Mộ của vua voi

đăng 03:22, 30 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Buôn Đôn và Bản Đôn


Ở cách TP Buôn Ma Thuột khoảng 50 km về phía Tây là một vùng đất từ lâu nổi tiếng về nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng, gọi là Buôn Đôn. Nơi này xưa kia là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk, nhưng sau này để tiện cho việc phát triển kinh tế xã hội và để chiếm giữ một vị trí an ninh quốc phòng chiến lược, người Pháp đã cho dời cơ quan hành chính về Buôn Ma Thuột.


Buôn Ðôn là tên gọi theo tiếng M'Nông và Ê đê, nghĩa là làng Ðảo, vì  được lập bên cạnh con sông Sêrêpốk có nhiều đảo nhỏ nổi giữa dòng nước ngày đêm cuồn cuộn chảy. 



Cỡi voi ở Buôn Đôn. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Vậy còn Bản Đôn là gì, như trong bài hát Chú voi con ở Bản Đôn của Phạm Tuyên? Sinh sống ở buôn Đôn là một cộng đồng đa sắc tộc, gồm người M'Nông, người Êđê, người Lào... Trong tiếng Lào, làng đọc là bản. Vậy Bản Đôn chính là Buôn Đôn, đọc theo tiếng Lào.


Vua voi


Buôn Đôn. Người đang nắm tai voi chắc là vua săn voi!


Vua voi hay vua săn voi là danh hiệu tôn kính người dân dành cho
 vị tù trưởng đầy quyền lực và được khắp vùng kính phục, người đã khai sinh ra Buôn Đôn, có công lớn trong buổi đầu tạo lập và phát triển nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng nơi đây, cũng là người săn được nhiều voi rừng nhất với trên 400 con. Ông là Y Thu K'Nul (1828 - 1938), người ta kể rằng ông đã săn được một con voi trắng đem tặng Hoàng gia Thái Lan năm 1861, vua Thái rất cảm phục và phong tặng ông danh hiệu Khunjunob nghĩa là Vua săn voi (có một giải thích khác rằng khunjunop không phải vua săn voi, mà là người tướng chào, xem ở đây).


Sau khi Y Thu K'Nul mất, người ta tặng danh xưng Vua voi cho những người săn voi lỗi lạc khác. Những danh xưng này là không chính thức, cũng giống như người ta tặng danh xưng ông hoàng nhạc sến hay nữ hoàng boléro vậy á. Có điều những ông vua này có thực chất ở chỗ họ săn được rất nhiều voi. Hai người nổi tiếng nhất trong số đó là R'Leo K'Nul, cháu gọi Y Thu K'Nul bằng cậu,  Ama Kông, cháu rể của Y Thu K'Nul.


Mộ của Vua voi


Trên đường ra mộ vua voi. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Như nêu trên, Vua voi chính thức chỉ có một, đó là Khunjunop hay Y Thu K'Nul. Mộ của ông là một di tích quan trọng mà du khách đến Buôn Đôn thường không bỏ qua. Ông mất năm 1938, thọ 110 tuổi và được chôn cất trong khu lăng mộ của gia đình. Khu lăng mộ này chỉ dành riêng cho vua voi và các dũng sĩ săn voi. Truy cập mạng Internet, bạn sẽ thấy ảnh mộ vua săn voi Khunjunop như sau:


Mộ vua voi ở Buôn Đôn. Ảnh: Đỗ Tuấn Hưng trên Wikipedia


Nhìn ảnh trên bạn nghĩ đâu là mộ vua voi? Có lẽ đa số sẽ nghĩ là kiến trúc hình tháp nhọn bên phải. Nhưng thật ra mộ vua voi Khunjunop là kiến trúc hình chữ nhật bên trái. Bên phải là mộ của R'Leo K'Nul.


R' Leo K' Nul chính là người đứng ra lo liệu xây mộ cho Vua voi. Mộ dựa theo kiến trúc M' Nông - Lào kết hợp để thể hiện lòng biết ơn và tôn kính đối với vị tù trưởng quá cố. Kiến trúc nhà mồ theo văn hóa M' Nông - Lào của ngôi mộ ông thể hiện khá rõ qua mô-típ hình khối được trang trí bằng các búp sen trên bốn góc và đỉnh mộ.


Mộ Vua săn voi Y Thu K'Nul. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


R' Leo K' Nul cũng là một dũng sĩ săn voi, ông cũng đã tặng Bảo Đại một voi trắng và thành lập cho vị vua này một đội voi săn "Hoàng Gia Bảo Đại". Ông qua đời năm 1947, thọ 70 tuổi. Ba năm sau khi ông qua đời, lễ bỏ mả cho ông được thực hiện và mộ ông được xây dựng theo kiến trúc đền tháp Campuchia. Đây là mẫu kiến trúc do vua Bảo Đại cho người sưu tầm và cử nhóm đại diện đến trực tiếp thi công.


Mộ R'Leo K'Nul. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Nếu bạn tìm trên mạng, bạn sẽ thấy khoảng 50% trang mạng đăng hình mộ R'Leo K'Nul và chú thích sai là mộ Vua săn voi Khunjunop! Chắc tại họ chưa tới đây, chỉ search thông tin trên mạng và thấy hình mộ của R'Leo... đẹp hơn nên chú thích đại là mộ Vua săn voi. Tệ hại hơn nữa, có vài trang còn đăng hình mộ của Ama Kông (cháu rể Vua săn voi, mới chết năm 2012) mà chú thích là mộ vua săn voi!


Phạm Hoài Nhân

Tản mạn về danh xưng của vua săn voi

đăng 05:43, 17 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nếu các bạn có quan tâm đến vùng đất Buôn Ma Thuột thì chắc thế nào cũng nghe nói đến những ông vua săn voi. Tui may mắn hơn một chút, vì đã từng có dịp... ôm một trong những ông vua đó!


Ama Kông, người săn voi nổi tiếng cuối cùng. Ông qua đời năm 2012. (Có cần chú thích thêm rằng Ama Kông là người ngồi để khỏi nhầm lẫn hông ta?)


Thật ra, vua săn voi hay vua voi là một danh xưng không chính thức do người dân tự phong tặng cho những người có công săn bắt và thuần dưỡng nhiều voi rừng. Danh xưng Vua voi chính thức được phong tặng cho một người duy nhất, đó là ông Y Thu K’Nul (1828 - 1938), là người đã khai sinh Buôn Đôn và có công lớn trong buổi đầu tạo lập nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng với trên 400 con.


Nhiều trang web, kể cả Wikipedia ghi rằng: Y Thu Knul là người đã săn được con voi đực màu trắng. Theo luật tục, chỉ có các bậc vua chúa mới được sử dụng voi trắng nên ông đem con voi này biếu cho quốc vương Thái Lan và được phong tặng danh hiệu Khunjunop, nghĩa là "vua săn voi".


Có thuyết minh viên du lịch còn giải thích tỉ mỉ hơn: Ông mang voi trắng tặng cho vua Thái Lan và được vua Thái phong tặng danh hiệu Khunjunop, tiếng Lào (???) có nghĩa là vua săn voi!


Thiệt tình, tui cũng không hiểu vì sao một ông vua Thái Lan lại phong tặng cho một người Việt (chính xác hơn thì Y Thu Knul là người M'Nông) một danh hiệu bằng... tiếng Lào!


Nhiều bài viết dùng danh hiệu này thay cho tên thật Y Thu Knul của ông luôn, họ gọi ông là Vua săn voi Khunjunop để phân biệt với những ông vua săn voi... không chính hiệu!



Tượng vua voi Khunjunop được dựng tại khu du lịch thác Bảy nhánh (nơi ông lập buôn đầu tiên)


Thế nhưng Khunjunop có đúng là vua săn voi không? Chưa chắc!


Tác giả Lê Văn, trong một bài viết trên báo Đắk Lắk, kể rằng đã gặp được Amí Phương, buôn trưởng Buôn Đôn đồng thời là chắt ngoại Vua voi  Khunjunop. Vợ chồng bà Amí Phương cho biết danh xưng “Vua voi Khunjunop” mà người ta phong cho ông không phải xuất phát từ việc ông đã săn bắt, thuần dưỡng được trên 400 con voi rừng. Từ Khunjunop ở đây mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Ama Phương cắt nghĩa: Khun có nghĩa là Người, Ju là Tướng, Nop là chào. Y Thu Knul là người giàu có và rất có uy. Ngay cả người Thái, người Pháp khi đến gặp ông đều phải chắp tay cúi chào từ chân cầu thang, lúc về cũng vậy nên ông còn được gọi là “Người tướng chào”. Do đó, trong lần đem bạch tượng sang tặng nhà vua Thái Lan, ông được nhà vua Thái mến gọi với cái tên Khunjunop – Người tướng chào.


Tui bán tín bán nghi, không biết nghĩa nào đúng nên tìm một cô bạn biết tiếng Thái để hỏi. Rất tiếc, cô ấy nói rằng phải cho biết chữ gốc bằng tiếng Thái mới dịch nghĩa được, chớ phiên âm kiểu này thì chịu thua. Tuy nhiên, theo nhận định của cô thì khunjunop không thể là vua săn voi được, vì trong đó không thấy âm gì trong tiếng Thái có nghĩa là ngà, là voi hay săn cả!


Riêng về nghĩa Người tướng chào, tui lò mò nhờ ông Google Translate thì được 2 kết quả sau: คน, đọc là Khun, nghĩa là người; คำนับ, đọc là khămnáp, nghĩa là cúi chào. Chữ ju thì chịu, không biết do tiếng Thái nào ra. Có vẻ như người tướng chào gần với khunjunop hơn.


Điều mà các nguồn tài liệu đều thống nhất với nhau là: Ông Y Thu Knul có tặng cho vua Thái con bạch tượng, và vua Thái có tặng ông danh hiệu Khunjunop. Vì thế để phân biệt ông với những vua săn voi khác thì ta gọi ông là Khunjunop, không sai. Còn khunjunop nghĩa là gì thì mong rằng các vị am hiểu tiếng Thái, hoặc tiếng Lào, tiếng M'Nông gì đó giải thích dùm. Xin đa tạ!


Phạm Hoài Nhân

Chùa Đèn cầy, có 3 ngôi chùa Đèn cầy

đăng 06:09, 15 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

1. Chùa Đèn cầy ở Sóc Trăng


Tên đúng là chùa Bửu Sơn, nhưng tên thông dụng nhất của ngôi chùa này là chùa Đất Sét. Gọi như vậy bởi đặc điểm lớn nhất của ngôi chùa này là tất cả các tượng trong chùa đều làm bằng đất sét. Kỳ công hơn nữa, tất cả các tượng này do duy nhất một người làm bằng phương tiện thủ công trong suốt 42 năm (884 tượng độc lập và khoảng 1200 tượng nhỏ trong các nhóm tượng). 

Chùa còn được gọi là chùa Đèn cầy vì cùng với các tượng Phật bằng đất sét nơi đây còn có 4 cặp đèn cầy (8 cây), trong đó có 3 cặp lớn, mỗi cây chứa 200kg sáp. Các cây đèn cầy nầy đều cao 2,6m. Bình quân mỗi cây đèn cầy cháy suốt ngày đêm phải mất đến 70-80 năm. Cặp đèn cầy đầu tiên được thắp lên từ năm 1970, đến thời điểm gần nhất mà tôi ghé thăm là cuối năm 2018 vẫn đang cháy.


Ảnh: Phạm Hoài Nhân, 2002


Ảnh: Giang Huỳnh, 2018

Cây đèn cầy cháy liên tục từ năm 2002 (ảnh trên) đến 2018 (ảnh dưới)


Điều đáng nói là tất cả các tác phẩm này đều do ông Ngô Kim Tòng, một cư sĩ tu tại gia (bản thân chùa Bửu Sơn là ngôi chùa do gia tộc lập nên) âm thầm lặng lẽ tạo nên do tấm lòng thành, không phô trương cho ai biết. Thế nên từ khi ông Ngô Kim Tòng mất năm 1970 cho đến 20 năm sau vẫn không ai biết đến công trình kỳ diệu này.
 Mãi đến năm 1991, một số nhà báo ở Sóc Trăng tình cờ phát hiện và sửng sốt. Ngôi chùa được giới thiệu trên báo và từ đó người ta mới biết.


2. Chùa Đèn cầy ở quận 8, TPHCM


Tên đúng của ngôi chùa này là chùa An Phú, nhưng tên thông dụng là chùa Miểng sành.  Gọi như vậy vì hầu như toàn bộ ngôi chùa đều được dán bằng miểng sành, miểng sứ. Số thống kê của chùa cho biết, từ năm 1961 đến năm 2004, chùa đã sử dụng hơn 30 tấn sành sứ phế liệu các loại với khoảng 20.000 ngày công lao động thực hiện gắn miểng sành trên diện tích 3.886 m2.


Chùa còn được gọi là chùa Đèn cầy  nơi đây có cặp đèn cầy lớn nhất Việt Nam. Cặp đèn cầy đặt ở điện Phật nặng hơn 1.800kg, cao 3,4m, trên thân được chạm trổ hình rồng uốn quanh từ chân đến đỉnh, dưới đế khắc hình 5 con rồng nhỏ rất đẹp, gọi là "Ngũ Long Chầu Đăng". Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục vào ngày 02/02/2005 cho Thượng tọa Thích Hiển Chơn, phó trụ trì chùa An Phú là Kỷ lục gia thực hiện cặp nến cao và nặng nhất Việt Nam. Chưa dừng lại ở đó, trong năm 2005, Thượng tọa Thích Hiển Chơn đã cho đúc một cặp đèn cầy chạm rồng có trọng lượng 2.100 kg, cao 3,83 m. Cặp đèn cầy này so với cặp trước nặng hơn 300 kg và cao hơn 0,43 cm. Phá kỷ lục cũ! 


Thượng tọa Thích Hiển Đức cùng cúp và bằng chứng nhận kỷ lục gia bên 2 cây nến kỷ lục. Ảnh: Báo Giác ngộ


Thú thiệt tui khá dị ứng với những con số kỷ lục Việt Nam, lại là kỷ lục của ngôi chùa, là nơi gác bỏ mọi tham - sân - si. Vì vậy, tui không cảm thấy dễ chịu lắm khi viếng chùa An Phú. Tuy vậy, đó chỉ là cảm nhận cá nhân thôi.


3. Chùa Đèn cầy ở Trảng Bom, Đồng Nai


Tên đúng của ngôi chùa này là Viên Giác Thiền tự. Đây là một ngôi chùa mới được xây dựng năm 1996, được công nhận là cơ sở thừa tự năm 2008. Dù non trẻ như vậy nhưng hiện nay ngôi thiền tự này có quy mô rất to lớn và được nhiều nơi biết tiếng. Chùa tọa lạc trên một khu đất có diện tích lên đến 6 ha, có hàng chục công trình kiến trúc ấn tượng.


Người dân thường gọi đây là chùa Đèn cầy, không phải vì có những cặp đèn cầy to như hai ngôi chùa trên mà vì có nhiều đèn cầy. Hàng tháng, cứ đến chiều 18 đến sáng 19 âm lịch - nhất là những tháng có lễ lớn như tháng 7 (Vu lan), tháng Tư (Phật đản)... - là chùa lại tổ chức lễ hoa đăng, thắp lên hơn 10 ngàn ngọn nến (đèn cầy) để cúng dường chư Phật và cầu cho hòa bình thế giới.


Lễ hoa đăng ở chùa Đèn cầy - Viên Giác Thiền tự. Ảnh: Facebook chùa Đèn cầy


Cảnh thanh tịnh của Viên Giác Thiền tự


Tui chưa có dịp tới chùa Đèn cầy vào những đêm hoa đăng như vậy để biết cảm nhận ở giữa 10 ngàn ngọn nến lung linh như thế nào, nhưng vào ban ngày bước đến chốn thiền môn uy nghi giữa thiên nhiên thanh tịnh này cũng có những cảm giác tĩnh lặng, yên bình. 


Phạm Hoài Nhân

Từ dòng sông Sê San

đăng 06:11, 12 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Sê San - dòng sông hùng vĩ với nguồn nước dồi dào, lắm ghềnh thác. Dòng sông không chỉ cung cấp nguồn năng lượng dồi dào để phát triển hệ thống thủy điện mà còn chứa đựng trong lòng nó nguồn lợi thủy sản phong phú, đa dạng với nhiều loại cá quý hiếm, góp phần nâng cao đời sống người dân hai bên bờ sông. 

Là một trong các nhánh sông lớn của lưu vực hạ du sông Mê Kông, sông Sê San do 2 nhánh sông chính là Krông Pô Kô (phía hữu ngạn) và Đăk Bla (tả ngạn) hợp thành, rồi chảy theo hướng Đông Bắc sang Tây Nam dãy Trường Sơn. Với tổng chiều dài gần 300km, diện tích lưu vực 11.450km2, Sê San là con sông có tiềm năng thủy điện lớn thứ 3 trong cả nước, sau sông Đà và sông Đồng Nai.

Với lợi thế và tiềm năng thủy điện phong phú, đến nay, lưu vực sông Sê San đã được Chính phủ phê duyệt xây dựng 7 công trình thủy điện (gồm thủy điện Plei Krông, Ya Ly, Sê San 3, Sê San 3A, Sê San 4, Sê San 4A và Thủy điện Thượng Kon Tum, với tổng công suất 1.831 MW). Hàng năm, các nhà máy thủy điện trên sông Sê San cung cấp hàng tỷ KWh điện. Nguồn điện trên dòng Sê San đóng góp không nhỏ vào hệ thống điện lưới quốc gia, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phục vụ quá trình phát triển kinh tế-xã hội, đáp ứng nhu cầu sử dụng cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân trong vùng và cả nước.

Người dân làng chài đánh bắt cá trên lòng hồ Sê San 4. Ảnh: PN 


Để hiểu hơn về nguồn lợi mà dòng sông mang lại cho đời sống người dân dọc theo lưu vực dòng Sê San, chúng tôi tìm về huyện biên giới Ia H’Drai- nơi dòng Sê San chảy ngang qua với mênh mông sóng nước, không chỉ đem đến nguồn năng lượng để phát triển thủy điện mà còn tạo ra nguồn lợi thủy sản cho người dân khai thác. Tại đây có Thủy điện Sê San 4 với diện tích lòng hồ hơn 5.100 ha, đây là khu vực có mặt nước ổn định, có nguồn thủy sản tự nhiên dồi dào. Những người dân làm nghề chài lưới ở khắp các tỉnh thành trên cả nước như Cà Mau, An Giang, Long An, Thừa Thiên - Huế… tụ hợp về đây, lập nên một làng chài nuôi trồng và đánh bắt thủy sản trên lòng hồ thuộc thôn 7, xã Ia Tơi (huyện Ia H’Drai).

Lòng hồ Thủy điện Sê San 4 nằm chủ yếu trên địa bàn xã Ia Tơi.

Lòng hồ rộng, đẹp, mênh mông sông nước nằm giữa núi rừng tạo nên “bức tranh thủy mặc” hút hồn du khách nếu có dịp đặt chân tới đây ngắm nhìn sông nước, quên đi những bon chen cuộc sống đời thường. Nơi lòng hồ này chứa đựng nguồn lợi thủy sản lớn và rất phong phú. Người dân sinh sống ở mảnh đất này đang tận dụng, khai thác nguồn thủy sản trên lòng hồ để phát triển kinh tế gia đình và làng chài ven sông đã thành hình. Chính những yếu tố trên góp phần tạo ra tiềm năng du lịch sinh thái nơi đây, nếu được khai thác hiệu quả sẽ đóng góp to lớn cho phát triển kinh tế của địa phương, nâng cao thu nhập cho người dân.

Tại thôn 7 (xã Ia Tơi) hiện có một làng chài với hàng chục hộ dân đánh bắt, nuôi trồng thủy sản trên lòng hồ Thủy điện Sê San 4. Hàng năm, người dân nơi đây đánh bắt và nuôi trồng được hàng chục tấn cá trên lòng hồ, nguồn lợi này góp phần tạo ra thu nhập, nâng cao đời sống của các gia đình. 

Tìm về làng chài, chúng tôi được nghe ông Nguyễn Văn Triều (thôn 7, xã Ia Tơi) tâm sự: Tôi làm nghề đánh bắt cá mấy chục năm nay, chính cái nghề gắn sông nước này đã đưa tôi “lang bạt kỳ hồ” , nhưng khi đến lòng hồ Thủy điện Sê San 4, tôi bị sông nước, cảnh vật nơi này mê hoặc và quyết tâm bám trụ lại để mưu sinh. Ở khu vực lòng hồ Thủy điện Sê San 4 này có rất nhiều loài cá khác nhau như cá lăng, cá chép, cá anh vũ, cá sọc dưa, nhưng nhiều nhất vẫn là cá cơm và cá mè... Nơi đây có rất nhiều cá to, có người đã bắt được con cá lăng nặng hơn 40 kg (còn từ 20-30 kg thì rất nhiều), có người bắt được cá trắm hơn 20 kg, cá chép hơn 10kg… 

Trên lòng hồ, mênh mông giữa dòng Sê San, những ngôi nhà nổi tạo nên cảnh quan thật thơ mộng. Khi hoàng hôn buông xuống, các hộ dân ở làng chài lại chuẩn bị tay lưới, xuồng để đi thả lưới, thả rớ. Không khí ở đây thật nhộn nhịp với âm thanh của những chiếc xuồng máy và những tiếng gọi í ới rủ nhau cùng đi thả lưới của ngư dân. Người dân làng chài thường đi thả lưới từ lúc 17 giờ chiều hôm trước đến khoảng 2 giờ sáng hôm sau họ bắt đầu đi thu lưới. Mỗi ngày như vậy, thu nhập từ 300.000-500.000 đồng/người.

Cá cơm nổi tiếng ở sông Sê San. Ảnh: PN 


Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Duy Khanh (thôn 7, xã Ia Tơi) cho biết: Nguồn lợi thủy sản ở lòng hồ Thủy điện Sê San 4 nhiều lắm. Có nhiều loại cá quý hiếm ở nơi khác không có như cá lăng, cá anh vũ. Nhưng tôi thấy, ở đây, “cá cơm nước ngọt” nhiều nhất. Cá cơm ở đây nhỏ hơn cá cơm biển, cá có chiều dài khoảng 3-4cm, có thân mình trắng trong, phần bụng trắng đục như hạt cơm. Cá cơm ở đây thơm, ngon lạ so với cá cơm ở vùng khác. 

Với những người làm nghề chài cá trên sông Sê San và cả người dân sống ở vùng đất Ia H'Drai, loài cá cơm này chính là món quà của “mẹ sông” dành tặng cho cuộc sống của họ. Đây chính là nguyên liệu làm nên món đặc sản cá cơm khô và bánh tráng cá cơm Sê San được nhiều người biết đến.

Với sản lượng cá cơm dồi dào, dòng sông đã ban tặng cho những người mưu sinh trên vùng lòng hồ Thủy điện Sê San 4 một nguồn lợi kinh tế đáng kể. Cá cơm ở Ia H’Drai được xây dựng là một trong những đặc sản, sản phẩm riêng có của huyện biên giới này. Với những người chuyên đánh bắt cá cơm để bán ra thị trường, thì cá cơm trên sông Sê San đang mang lại cho họ một nguồn thu đáng kể, ngoài ra đây còn là món khoái khẩu trong bữa cơm của mỗi gia đình nơi đây.

Với người dân ở Ia H'Drai, cá cơm khô là thực phẩm dự trữ không thể thiếu trong căn bếp của mỗi gia đình. Trước đây, khi đường sá đi lại còn nhiều khó khăn, nhất là mùa mưa, những món ăn từ cá cơm khô chiếm phần “chủ đạo” trong bữa cơm của người dân huyện biên giới Ia H’Drai, nó giúp họ vượt qua những tháng ngày cơ cực.

Hiện nay, ngoài việc tạo điều kiện cho người dân đánh bắt thủy sản tự nhiên từ lòng hồ Thủy điện Sê San 4, huyện Ia H’Drai luôn quan tâm khuyến khích và tạo điều kiện cho nhiều hộ dân phát triển nuôi trồng thủy sản trên lòng hồ. Đồng thời, tạo điều kiện cho các hộ dân ở thôn 7, xã Ia Tơi thành lập Hợp tác xã Sê San, với vốn điều lệ 350 triệu đồng. Việc thành lập hợp tác xã nhằm phát huy lợi thế của nguồn lợi thủy sản từ lòng hồ Thủy điện Sê San 4 và gắn kết chặt chẽ người nuôi trồng, đánh bắt thủy sản với thị trường, cải thiện thu nhập cho người dân theo hướng lâu dài, bền vững, góp phần ổn định kinh tế - xã hội của địa phương.

Có thể thấy, nguồn lợi thủy sản từ dòng sông Sê San đang góp phần nâng cao thu nhập cho nhiều hộ dân sinh sống dọc theo dòng sông này. Dòng sông Sê San còn là điểm đến thú vị cho nhiều du khách, bởi đến đây, họ được hòa mình vào môi trường sông nước mênh mông và thưởng thức nét văn hóa đặc trưng của đồng bào các DTTS nơi đây.

Phúc Nguyên

Khám phá nét xưa ở Cửa Lò

đăng 00:31, 10 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Về với Cửa Lò, du khách không chỉ bị thu hút bởi bãi biển đẹp, hải sản tươi ngon, hệ thống nhà hàng khách sạn chất lượng… nơi đây còn có nhiều di tích, danh thắng, những không gian tâm linh gần gũi, thiêng liêng. 

Với quá trình phát triển lâu đời, Cửa Lò là vùng đất có bề dày văn hóa trầm tích. Theo Ban quản lý Di tích Danh thắng tỉnh, trên địa bàn TX Cửa Lò có 35 di tích lịch sử, văn hóa đã được phân cấp quản lý, trong đó có 3 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, gồm: Đền Vạn Lộc, đền Mai Bảng, nhà thờ Họ Hoàng Văn, nhiều di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh, như chùa Lô Sơn, chùa Song Ngư, đền Diên Nhất, đền Yên Lương, đền Bàu Lối, đền Làng Hiếu, nhà thờ họ Hoàng Thế, nhà thờ Phùng Phúc Kiều... Trong ảnh: Đền Bàu Lối ở phường Nghi Thu. 


Đền Bàu Lối tọa lạc trong khuôn viên có diện tích gần 16 000 m2, được xây dựng từ thời Lê để thờ thần Cao Sơn Cao Các, tam tòa Thánh Mẫu, bản cảnh thành hoàn... Đền có hạ, trung, thượng điện đã được tôn tạo khang trang, nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc xưa. Trong ảnh: Bức bình phong được trang trí phù điêu, hình lưỡng long chầu nguyệt trước hạ điện. 


Chùa Lô Sơn ở phường Nghi Tân do Tể tướng Nguyễn Văn Miên dựng vào năm Vinh Thịnh (1705 – 1719) đời Vua Lê Dụ Tông còn gọi là Phổ Am Tự. Chùa có quy mô vừa phải, thanh tịnh, linh thiêng, tọa trên một địa thế khá đẹp, tựa lưng vào núi Lô, hướng về phương bắc. 


Trải qua bao thế kỷ, chùa Lô Sơn vẫn giữ được nét cổ kính hòa quyện với thiên nhiên trữ tình tạo cho di tích trở thành một công trình văn hóa độc đáo. Hiện chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật cổ như tượng, bia đá… 


Đền Vạn Lộc thuộc phường Nghi Tân được xây dựng vào thời Lê trung hưng, là một công trình kiến trúc cổ kính, quy mô, thờ Thái úy Quận công Nguyễn Sư Hồi (1444 -1506) - con trai trưởng của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí. Ông là người có công lớn trong việc hộ quốc an dân, đánh đuổi giặc thù, khai cơ lập ấp, lập nên làng Vạn Lộc (phường Nghi Tân ngày nay). 


Đền Vạn Lộc có vị trí đẹp, trước mặt đền là dòng sông Cấm êm đềm, sau lưng là núi Lò, bên phải có núi Rồng, bên trái có núi Tượng tạo thế "rồng chầu, hổ phục". Đền đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia năm 1991. Những năm gần đây, đền đã được trùng tu tôn tạo khang trang. Tại đền còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ kính, trong đó tấm bia đá 4 mặt độc đáo dựng bên trái đền. 


Đền Mai Bảng thuộc phường Nghi Thủy, cách trung tâm thị xã khoảng chừng 3km về phía Bắc. Đền được xây dựng từ thời Lê, thờ Chiêu Trưng Vương Lê Khôi - người có công lớn dưới triều đại nhà Lê, từng giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu - một Quý phi tài sắc vẹn toàn, được nhân dân suy tôn làm nữ thần biển,... 


Hiện đền Mai Bảng còn lưu giữ khoảng 75 hiện vật cổ như sắc phong, biển, kiệu, câu đối, đại tự, long ngai bài vị, hương án, bát bửu.... Đây là những hiện vật quý giá, có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật.


Mỗi di tích, danh thắng của Cửa Lò mang một nét đẹp riêng trong kiến trúc xây dựng, nghi thức thờ cúng nhưng có mối quan hệ mật thiết trong chiều sâu văn hóa, lịch sử, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta. Trong ảnh: Hậu cung đền Mai Bảng thờ nhiều pho tương Phật, đặc biệt có pho tương cửu long quý hiếm. 


Huy Thư

Du ngoạn làng lò gạch

đăng 20:45, 9 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Mỗi lần bay ngang bầu trời Nam bộ, ngoài bạt ngàn xanh cây trái và sông nước uốn lượn thì đập vào mắt du khách là những cụm tháp nâu đỏ nổi bật. Có dịp vào bên trong lại ngỡ là những Tháp Chàm hay các đền tháp cổ xưa. Thật ra là những lò gạch.

Chưa ai biết rõ kỹ thuật xây lò để nung gạch có từ bao giờ và xuất phát từ đâu. Chỉ biết rằng gạch là vật liệu chính được làm từ đất sét nung để xây dựng từ xa xưa. 

Di chỉ khảo cổ với hiện vật gạch được tìm thấy ở khu vực gần sông Tigris (Trung Đông) có niên đại 7.500 trước Công nguyên. Phải là đất sét mới làm được gạch. 

Đất trộn với nước, nhồi nhuyễn và đưa vào khuôn đóng thành viên, màu nâu xám, phơi hoặc sấy khô rồi chất vào lò. Lò đốt bằng củi, các loại than trấu, khí đốt…suốt nhiều giờ. 

Khi gạch "chín", chuyển sang màu đỏ hoặc nâu sẫm. Trải mấy ngàn năm, hình dạng gạch gần như không thay đổi, ban đầu là gạch chỉ, còn gọi là gạch thẻ (đặc), sau này có thêm gạch tàu (vuông), gạch ống.

Một góc làng Lò gạch An Hiệp, Châu Thành, Đồng Tháp


Ở Việt Nam, nhiều người chỉ biết lò gạch tưởng tượng qua chuyện tình Chí Phèo và Thị Nở của nhà văn Nam Cao. Ở Hà Nội, trước khách sạn Pullman 5 sao, còn giữ lại ống khói gạch ngất ngưỡng của nhà máy đóng gạch Đại La.

Ở Long An có lò gạch của ông Võ Công Tồn (1841 - 1942), cơ sở kinh tài của cách mạng từ trước 1945, được công nhận là di tích quốc gia. Khắp Nam bộ, ven các con sông lớn, gần như tỉnh nào cũng có lò gạch. Bởi vận chuyển bằng đường thủy là thuận tiện và rẻ nhất. 

Các lò gạch ở Nam bộ là loại lò truyền thống hình tròn, mái vòm, đường kính lọt lòng từ 6m3 - 8m1, cao từ 9 - 13m5. Tường lò dày khoảng 1m8 (phần dưới) - 0m9 (phần đỉnh). Các thông số thường tròn 9.

Lò gạch Nam bộ có từ thời mở đất, thường cha truyền con nối, dịch chuyển theo dòng đời. Những lò gạch bao đời tạo công ăn việc làm, giải quyết kinh tế cho hàng ngàn hộ gia đình. Nhiều người ăn học thành tài nhờ những lò gạch. 

Có thể nói, cùng với cây lúa, các loại cá tôm và trái cây, những lò gạch đã góp phần phát triển kinh tế cho cả vùng mà Đồng Tháp là trọng điểm. Hàng trăm năm trước, các lò gạch tập trung bên kia sông Sa Đéc. 

Sau thập niên 1970, chuyển dần sang vùng An Hiệp, bên này sông, với hàng trăm lò san sát. Cao điểm lên đến hàng ngàn công nhân, nhộn nhịp hơn công xưởng. 

Thời hoàng kim có công nhân chuyên nghiệp, sau này suy thoái thì thường là công nhân thời vụ, chỉ cần học sơ vài buổi là thành thạo. Trẻ em dưới 15 tuổi cũng có thể tham gia để đỡ đần cha mẹ.

Nguyên liệu để làm gạch là đất sét phiến, có sẵn khắp nơi. Trong đất có các thành phần Silica 50 - 60o/o (cát), Alumina 20 - 30o/o (sét), Oxit sắt (không quá 7o/o) , Vôi (dưới 5o/o), Magie (dưới 1o/o). Do đặc thù cấu tạo địa chất và thổ nhưỡng, các loại đất lở ven sông, dân gian gọi là đất thủy phá đều là nguyên liệu tốt để làm gạch. 

Hết đất thủy phá thì cơ man nào là đất ruộng cao. Cứ mua cả thửa, bỏ lớp đất mặt vài phân, xắn sâu xuống cả mét. Vừa hạ thấp mặt ruộng, vừa rửa phèn, cải tạo đất; chẳng những không tốn mà còn được tiền. Thợ chính sẽ dùng mắt và tay chọn đất chứ không cần máy móc đo đạc, vẫn chính xác đến kinh ngạc.

Cửa lò giống như của tháp Chàm với dây leo quấn quít


Đất được chở bằng đường thủy, chuyển lên bờ gần lò bằng sức người, rồi đạp nện bằng chân tay. Tới độ nhuyễn nhất định thì cắt thành viên, phơi khô, rồi xếp vào lò nung. Trước đây, mọi việc đều làm thủ công. Nay đã có máy móc toàn bộ.

Từ máy xúc, cạp đất; băng chuyền chuyển đất lên bờ; đến việc đạp nện và đúc khuôn từng loại gạch. Việc xây dựng các lò gạch khá vất vả, phải có tay nghề. 

Lò được chọn ngày khởi công, chọn thợ, chọn hướng. Khoảng 20 - 30 công nhân làm việc cật lực sẽ hoàn thành việc xây lò từ 15 - 20 ngày. Mỗi lò sử dụng từ 200.000 - 250.000 viên gạch. Từng lò có khả năng nung gạch ống tương đương với số lượng xây lò, còn với gạch thẻ thì số lượng gấp rưỡi trở lên.

Từ nào tới giờ, các lò gạch Nam bộ chỉ đốt bằng trấu vì rẻ. Gạch ống đốt khoảng 45 ngày đêm, gạch thẻ 70, còn gạch tàu là 90. Khi nung miệng lò sẽ bít kín, chỉ có các lỗ thoát khí nhỏ, độ nóng lên dần tới 2.500 - 2.800 độ, bỏ xa độ nóng của các loại khí đốt. 

Điều này lý giải vì sao chất lượng gạch thủ công được chuộng vì chất lượng ăn đứt mấy lò tunel đốt khí. Các lò truyền thống đốt bằng trấu, mới đốt khói lò có màu trắng, sau chuyển dần thành đen. 

Lò đốt xong phải để nguội từ 10 ngày (gạch ống) - 30 ngày (gạch tàu) mới mở lò, xuất xưởng. Gạch được thương lái chở đi tiêu thụ khắp nước và cả xuất khẩu. Tro trấu được đóng bao, bán cho nhà vườn. Lò được vệ sinh và lại tiếp tục vòng đời mới. 

Do sản xuất thủ công nên hàm lượng các loại khí độc như HF (axit florhydric), NO2 (nitrogen dioxit), SO2 (sunfua dioxit), CO (cacbon monoxit)... luôn gấp hàng chục lần ngưỡng bình thường. Không chỉ con người mà cả cỏ cây cũng bị ảnh hưởng nặng.

Ngày 1-8-2001, Thủ tướng chính phủ ra nghị định 115/2001/QĐTT "Đến năm 2010 phải xóa hết các lò gạch thủ công để chống ô nhiễm".

Gần đây có thương lái mua lại cả chục triệu mỗi lò gạch cũ, tháo dỡ lấy gạch cổ để xây dựng. Một số chủ lò đành gạt nước mắt, bán đứt, dỡ lò chuyển nghề. Số khác vẫn chần chừ vì tiếc nuối những lò gạch máu thịt cha truyền con nối. 

Những lò gạch bỏ hoang, cỏ dại um tùm, dây leo trùm cả lò. Có lò còn nguyên thân dây leo, bò từ đỉnh lò xuống đất, như sợi dây thừng của Thạch Sanh xuống cứu công chúa ngày xưa. Vào trong lò, giật mình vì sự tương đồng với các tháp Chàm cả ngàn năm tuổi. 

Đặc biệt là những tháp cổ của quần thể Sambor Prei kuk (Kampong Thom, Campuchia), di sản thế giới, kinh đô đế chế Khmer từ thế kỷ VI - VIII. Chỉ khác là các tháp Chàm, tháp cổ hình vuông hoặc chữ nhật, còn lò gạch thường hình tròn.

Bên trong lò gạch có cây thân dây thòng xuống từ đỉnh như "sợi dây Thạch Sanh"


Điều an ủi là những lò gạch hoang, vẫn thường xuyên có khách gần xa đến thăm, cả mấy ông tây bà đầm xoe mắt ngạc nhiên vì những tháp gạch độc đáo. Khắp ASEAN và cả thế giới hình như không thấy. Chụp selfie rồi tung lên mạng thì bạn bè mắt tròn mắt dẹt ngạc nhiên. Nếu có flycam thì càng tuyệt.

May mắn là tỉnh Đồng Tháp kịp thời ngăn làn sóng xóa sổ các lò gạch cũ. Mấy chục lò gạch hoang ở An Hiệp, Châu Thành sẽ được giữ lại để làm du lịch. 

Trước mắt là phát quang cỏ dại, chống rắn rết cho khách vào tham quan chụp ảnh miễn phí. Trên đường từ Sa Đéc về, có bến tàu qua thăm làng tháp gạch. 

Giá vé tàu qua sông chỉ 1.000 đồng/ lượt mỗi người. Xe gắn máy cũng 1.000 đồng. Đi bộ chừng 500m, qua mấy lò gạch tunel mới đang sản xuất mà công đoạn làm gạch thô vẫn như cũ, chỉ khác việc nung, là tới làng tháp gạch.

Tha hồ mà selfie. Đi vào xế chiều là đẹp nhất. Phải chuẩn bị sẵn mấy bộ quần áo màu nóng với các loại nón, khăn để có bộ ảnh để đời. Đồng Tháp đang tìm nhà đầu tư, để biến những lò gạch hoang thành Làng Tháp Gạch độc đáo. 

Có cả tháp bán cà phê, quà lưu niệm, ăn nhẹ. Có những tháp sẽ được cải tạo thành chỗ lưu trú qua đêm, không đụng hàng. Có cả tháp bảo tàng về lịch sử các lò gạch. 

Các tháp gạch có tường dày gần 2m, không bị tác động bởi khí hậu bên ngoài. Mùa hè vẫn mát rượi, mùa đông vẫn ấm áp.

Trong khi chờ các tháp gạch đổi đời, sao chưa vác ba lô lên đường, ghé Châu Thành, Đồng Tháp; hỏi thăm một vài cô gái Nha Mân gần đó nhờ dẫn đường, để ngỡ ngàng với Làng Tháp Gạch, dân gian gọi nôm na là Làng Lò Gạch. Có khi, bạn sẽ "quên đường về".

Nguyễn Văn Mỹ (Lửa Việt Tours)

Bắt cá đồng!

đăng 03:21, 9 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Sau những tháng ngày mải mê ở chốn đông người, tôi có dịp về lại vùng quê và cùng những người bạn chân chất đi bắt cá đồng. Với nhiều người, đó không phải là điều gì quá mới mẻ nhưng lại mang hơi thở của quê hương, nuôi dưỡng tình yêu với mảnh đất đã cưu mang họ tự thuở thiếu thời.

Dỡ chà mùng bắt cá 



Cá lóc nướng mọi- món “quốc dân” ở chốn ruộng đồng 


Nắng trưa trải dài trên cánh đồng lúa chuẩn bị vào vụ gặt. Mùi thơm của những hạt gạo đang “kết sữa” cứ quấn lấy bước chân tôi và mấy người bạn tay mang lỉnh kỉnh đồ đạc đi đồng. Chẳng mấy khi có dịp về thăm, những anh em thân thích rủ tôi đi bắt cá đồng để làm một bữa ra trò. Thật ra, tôi hay thấy người ta bắt cá đồng nhưng chưa lần nào được tham gia. Lần này, mấy anh em rủ tôi đi dỡ chà mùng nghe mới lạ tai! 

Thật ra, dỡ chà mùng không khác mấy dỡ chà trên sông, chỉ là diện tích chà mùng nhỏ và chủ yếu được đóng trên các mương, ngọn hay dòng kênh nhỏ. Sau một lát xem xét tình hình, những người bạn bắt đầu cởi trần lội xuống ngọn để dỡ chà. Dưới ánh nắng chan chát, những cơ bắp rắn rỏi bắt đầu vận động. Họ khuân từng nhánh cây đầy rong rêu, nặng trịch ra khỏi chiếc “mùng” nằm phía dưới đống chà. Có lẽ diện tích lưới chỉ rộng như một chiếc mùng nên gọi là chà mùng cũng nên! Dù diện tích nhỏ nhưng chà mùng dính khá nhiều loại cá. Từ cá “đen” như: cá lóc, cá trê cho đến những loại cá “trắng” như: cá thát lát, cá mè vinh, cá sặc… 

Khoảng nửa giờ “hì hục” ngụp lặn, mấy người bạn đã dỡ xong đống chà ra khỏi mùng. Riêng tôi vì chưa làm việc này lần nào nên được miễn “lao động”, chỉ đứng trên bờ chụp ảnh. Mấy con cá linh nhảy xoi xói, phản chiếu lớp vảy bạc lấp lánh dưới ánh nắng trông mê cả mắt. Chiếc mùng được gom lại lần lần để dồn cá vào 1 góc. Sau đó, mọi người túm cả mùng mang lên bờ rồi ngồi lựa cá. Cá to bắt bỏ vào thùng, cá nhỏ thả vào hầm nuôi xem như dự trữ. 

Khi đã có cá, mọi người bắt đầu sơ chế. Giữa đồng trưa nắng gắt, cách nhanh nhất là chặt nhánh tre xiên qua thân cá để nướng. Với những ai lớn lên ở ruộng đồng, cá nướng mọi như vậy đã trở thành món “quốc dân”. Nó gợi nhớ đến cái vị ngọt chân chất của ruộng đồng để chúng ta đừng quên đi tuổi thơ của mình. Mà cũng lạ, những món ăn như thế dù rất giản đơn nhưng ngon không tả được! 

Một người bạn nhanh tay chặt mấy nhánh củi nhóm lửa. Sức nóng của lửa vào buổi trưa khiến anh này “mồ hôi nhễ nhại”. Những con cá lóc bị xiên từ miệng đến đuôi uốn mình khi bị đặt lên ngọn lửa. Lát sau, mùi thơm thịt cá bắt đầu lan tỏa trong những cơn gió đồng dịu mát. Thi thoảng, mùi mít chín từ vườn ai đó theo gió ùa đến khiến tôi cảm nhận thêm phong vị rất riêng của chốn ruộng đồng. Là người hay đi đó đây, tôi vẫn rất nhớ cái cảm giác dân dã này. Do đã quen với việc bắt cá đồng thưởng thức, mấy anh bạn phân công nhau khá chuyên nghiệp. Người nướng cá. Người đi kiếm rau. Người chuẩn bị “bàn tiệc”. Ai cũng nhanh tay lẹ chân đúng theo phong cách của nông dân. 

Khi con cá lóc đầu tiên chín cũng là lúc bữa tiệc bắt đầu. “Bàn tiệc” được bày dưới bóng râm của mấy cây mãng cầu bên bờ ngọn. Mọi người ngồi quây quần trên mấy chiếc bao trải bệt dưới đất. Cá lóc nướng được bày trên mâm bằng lá chuối. Chén đựng thức ăn là mấy chiếc lá gáo to bản. Chỉ có đũa đúng là đũa tre. Ở đồng là vậy, mọi thứ đều giản tiện nhưng vui. Gắp một miếng cá lóc nướng thơm giòn, gói kèm vài lá cóc non rồi chấm nước mắm me cho vào miệng. Cái vị ngon dân dã, bình dị gợi nhớ đến ngày thơ ấu ùa về. Anh bạn khề khà kể chuyện bắt cá đồng như không bao giờ dứt. Có lẽ, những nông dân quanh năm tay lấm chân bùn như anh cũng chẳng có chi ngoài cây lúa, con cá hay hàng cà tím cạnh lối đi. Nhưng hơn hết, anh vẫn luôn nuôi dưỡng tình yêu với những điều bình dị tồn tại bên cạnh mình và cho tôi bài học về 2 tiếng: quê hương! 

Nắng xế. Bóng chiều bắt đầu ngã dài theo mấy rặng me tây phía xa xa. Tôi từ giã mấy người bạn để trở về nhưng vị ngọt của những con cá đồng vẫn còn in nơi đầu lưỡi. Có lẽ, đi đồng bắt cá sẽ chẳng là gì với những ai đã quá quen việc này, nhưng hẳn sẽ là trải nghiệm khó quên cho những ai có cuộc sống xa quê. Và hơn hết, đó còn là kỷ niệm, nhắc nhở người ta về sự yêu thương, gắn bó cùng những thứ quá đỗi bình dị như con cá, con cua hay mấy chiếc lá cóc non chua chua mà thấm đượm hương vị quê nghèo. 

THANH TIẾN

1-10 of 24

Comments