Những chuyến đi, những khám phá... và những điều suy tư...

Bài mới

  • Giữ hồn văn hóa Làng cổ Đông Hòa Hiệp Với giá trị kiến trúc cùng lợi thế tự nhiên, Làng cổ Đông Hòa Hiệp đang trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn ở tỉnh. Do đó, bảo tồn ...
    Được đăng 00:55, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Về Măng Ri Măng Ri (huyện Tu Mơ Rông) được mệnh danh “xứ sở sương mù”, bởi khí hậu nơi đây quanh năm mát mẻ. Măng Ri không chỉ được biết đến là ...
    Được đăng 19:24, 9 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hồ Hòa Bình sơn thủy hữu tình, núi đồi thơ mộng Đến với hồ Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình), bạn sẽ đắm say với phong cảnh sơn thủy hữu tình, núi rừng thơ mộng hòa trong không gian văn hóa đa ...
    Được đăng 19:48, 7 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Thâm trầm di sản Gò Cây Tung Di tích kiến trúc Gò Cây Tung (ấp Thới Thuận, xã Thới Sơn, Tịnh Biên) tọa lạc ở một nơi khá hẻo lánh, thiếu thông tin chỉ dẫn cụ thể ...
    Được đăng 00:52, 5 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Kiên Hải - Thiên đường trên biển Tây Nam Trong số 3 hòn đảo có đông dân cư sinh sống nhất của Kiên Hải, đảo Hòn Tre và Lại Sơn (còn gọi là hòn Củ Tron) đã có điện ...
    Được đăng 20:13, 9 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 16. Xem nội dung khác »


Giữ hồn văn hóa Làng cổ Đông Hòa Hiệp

đăng 00:55, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Với giá trị kiến trúc cùng lợi thế tự nhiên, Làng cổ Đông Hòa Hiệp đang trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn ở tỉnh. Do đó, bảo tồn và phát huy nhằm giữ hồn văn hóa Làng cổ Đông Hòa Hiệp gắn với phát triển du lịch là việc làm cần thiết hiện nay. 

Với giá trị kiến trúc cùng lợi thế tự nhiên, Làng cổ Đông Hòa Hiệp đang trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn ở tỉnh. 


1. Với hàng trăm năm tồn tại, Làng cổ Đông Hòa Hiệp đi cùng với chiều dài lịch sử và vẫn giữ được nét văn hóa độc đáo riêng. Nhìn vào chặng đường lịch sử, vào thế kỷ XVIII, thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1696 - 1738), năm 1732 đã thiết lập ở Dinh Phiên Trấn một đơn vị mới là Dinh Long Hồ (tức tỉnh Vĩnh Long ngày nay). 

Buổi đầu lập Dinh Long Hồ, để thuận tiện cho việc khai khẩn và do mật độ dân cư phát triển, nên chúa Nguyễn đã chọn thôn An Bình Đông (thuộc xã Đông Hòa Hiệp) nay là thị trấn Cái Bè làm lỵ sở của Dinh Long Hồ. Lỵ sở tại thôn An Bình Đông tồn tại được 25 năm (tức đến năm 1757 lỵ sở mới dời qua Tầm Bào thuộc địa phận thôn Long Hồ, nay là TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long). 

Trong suốt 25 năm là lỵ sở của Dinh Long Hồ, vùng Đông Hòa Hiệp đã quy tụ nhiều quan lại và điền chủ đến sinh sống. Nhiều ngôi nhà được xây bằng gỗ, mái lợp ngói, cao, rộng, 3 gian theo kiến trúc phương Đông pha lẫn phương Tây lần lượt ra đời. Các nhà cổ không nằm sát nhau mà nằm đan xen với những vườn cây trái sum sê tạo nên vẻ đẹp dân dã, thơ mộng. 

Đến nay, một số nhà cổ còn tồn tại ở xã Đông Hòa Hiệp như: Nhà ông Bái Lâu được xây từ thế kỷ XIX (Trần Văn Lâu - là một trong những điền chủ giàu có) nay là nhà ông Kiệt, nhà ông Phan Văn Đức, nhà ông Lê Văn Xoát, nhà ông Võ Văn Võ và một số nhà cổ tọa lạc tại Làng cổ Đông Hòa Hiệp. Điều này đã góp phần tạo nên diện mạo kiến trúc và cảnh quan khó nơi nào có được của Đông Hòa Hiệp so với các địa phương khác từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. 

Đặc điểm chung của các nhà cổ ở Làng cổ Đông Hòa Hiệp là cột gỗ to cao; kèo, đòn tay, trính, rui, mè, đòn dông, vách ngăn, vách... đều bằng gỗ. Bên trong nhà trang trí các khuôn hoành phi, chạm khắc nghệ thuật hình những con vật như long, lân, quy, phụng, chim và các loài hoa; 2 cột cái có đôi liễn với nội dung đối xứng nhau nhằm chúc phúc, cầu may, chúc thọ. 

Trước nhà là phần sân rộng có bày trí những cây kiểng cổ; phía trước có hàng rào và cửa cổng chắc chắn, khang trang, tạo thêm không gian vừa nghiêm túc vừa xinh đẹp, thể hiện sự sang trọng, hoành tráng, uy nghi, bề thế của người giàu có thời kỳ này. 

Để góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa kiến trúc truyền thống của dân tộc Việt Nam, vào năm 1999 và năm 2000 tổ chức JICA của Nhật Bản đã tài trợ kinh phí để trùng tu, tôn tạo ngôi nhà cổ của ông Bái Lâu với kinh phí khoảng 100 ngàn USD. Sau khi được trùng tu, du khách gần xa bắt đầu tìm đến tham quan ngày càng nhiều. 

Thời điểm này trùng hợp với các hoạt động du lịch của huyện Cái Bè đã và đang phát triển, nên các doanh nghiệp du lịch đưa vào khai thác. Nhờ vậy, ngôi nhà cổ này đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước. 

2. Thực tế cho thấy, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, các ngôi nhà cổ đã dần xuống cấp. Do đó, việc tôn tạo các ngôi nhà cổ để giữ gìn nét văn hóa, kiến trúc độc đáo đang là “bài toán” đặt ra hiện nay. Bởi lẽ, hiện các ngôi nhà cổ đang là điểm đến “hút” khách của huyện Cái Bè bên cạnh chợ nổi, vườn cây ăn trái… 

Phó Chủ tịch UBND huyện Cái Bè Lê Văn Thuận cho rằng, nhìn một cách tổng thể, Làng cổ Đông Hòa Hiệp còn có mối quan hệ mật thiết với nhiều nhà cổ lân cận thuộc xã Hòa Khánh và thị trấn Cái Bè. Do đó, muốn bảo tồn và phát huy các ngôi nhà cổ phải tiếp tục vận động nhân dân thực hiện tốt Đề án quy hoạch Làng cổ Đông Hòa Hiệp với diện tích 79,37 ha. 

Trong đó, vùng 1 có diện tích 17,17 ha không xây dựng nhà cao tầng gây phá vỡ kiến trúc làng cổ; vùng 2 là 68,2 ha phát triển vườn cây ăn trái phục vụ khách du lịch. Bên cạnh đó, các nhà cổ thuộc sở hữu của người dân, do đó phải vận động hộ dân quản lý nhà cổ, giữ nguyên hiện trạng, không làm thay đổi hiện trạng di tích; định kỳ trùng tu, bảo quản nhà cổ, chống hư dột, mối mọt. Đồng thời, vận động nhân dân trồng cây xanh, hoa kiểng, vệ sinh môi trường, không phá vỡ cảnh quan làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. 

Để bảo tồn và phát huy Làng cổ Đông Hòa Hiệp gắn với phát triển du lịch, đồng chí Lê Văn Thuận còn cho rằng cần chú trọng đến xử lý rác thải, nước thải, mỗi hộ gia đình đều có sọt rác, hố rác, thùng rác ven đường để phục vụ khách du lịch; khuyến khích người dân bảo tồn những nét đẹp văn hóa đặc trưng của vùng sông nước miệt vườn như các trò chơi dân gian, làng nghề truyền thống bánh phồng, bánh tráng, cốm kẹo, các món ăn dân gian, các hoạt động văn hóa phi vật thể để phục vụ khách du lịch. 

Đồng thời, tôn tạo những nét đẹp văn hóa như đình, chùa, miếu, góp phần phát huy lợi thế Làng cổ Đông Hòa Hiệp. Hơn bao giờ hết, đồng chí Lê Văn Thuận cho rằng, cần phải xây dựng con người Đông Hòa Hiệp thân thiện, biết phục vụ khách du lịch gắn với những hoạt động sẵn có; duy trì Lễ hội Văn hóa - Du lịch Làng cổ Đông Hòa Hiệp 2 năm 1 lần, tiến tới 1 năm/lần từ năm 2021 để phục vụ phát triển du lịch Đông Hòa Hiệp nói riêng, tỉnh Tiền Giang nói chung. 

Đặc biệt, Nhà nước cần có chính sách, phương án bảo tồn nhà cổ, chống bị hư hao hoặc có kinh phí trùng tu sửa chữa, giữ được nét đẹp ban đầu. Chính quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hộ dân có ý tưởng làm du lịch, giới thiệu, quảng bá các nhà cổ chưa khai thác phục vụ du lịch. Hộ dân đều tham gia làm du lịch cùng nhau hưởng lợi chung, không để chỉ có một hai nhà có hoạt động; quan tâm hỗ trợ cho hộ mới làm du lịch, tránh hộ cũ lấn át hộ mới, giá cả không đồng nhất, cạnh tranh hạ giá… 

A.P - M. THÀNH

Về Măng Ri

đăng 19:24, 9 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Măng Ri (huyện Tu Mơ Rông) được mệnh danh “xứ sở sương mù”, bởi khí hậu nơi đây quanh năm mát mẻ. Măng Ri không chỉ được biết đến là vùng căn cứ cách mạng của tỉnh trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người dân có truyền thống cách mạng kiên trung, anh dũng, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ, mà ngày nay còn được biết đến như là “thủ phủ” của các loại dược liệu và là “vựa lúa” của vùng đất dưới chân núi Ngọc Linh hùng vĩ.

Thủ phủ của dược liệu

Đứng trên cao nhìn xuống, xã Măng Ri như hình một chiếc chảo lớn, 4 bề được bao quanh bởi dãy núi Ngọc Linh. Vùng đấy này nằm ở độ cao từ 1.200m-1.500m so với mực nước biển. Với địa hình “dựa vào núi” Ngọc Linh và có khi hậu khá mát mẻ nên Măng Ri được xem là vùng đất thuận lợi nhất để phát triển cây lúa nước và các loại cây dược liệu.

Từ lâu, mảnh đất Tu Mơ Rông được nhiều người biết đến là nơi của các loại dược liệu, trong đó sâm Ngọc Linh - một loại dược liệu đặc hữu quý ở nước ta chỉ có ở vùng rừng núi Ngọc Linh và theo đánh giá của các nhà khoa học thì sâm Ngọc Linh quý hơn cả sâm Hàn Quốc và sâm Mỹ, vì có chứa hợp chất saponin nhiều hơn gấp 2 đến 3 lần. Cây dược liệu có ở khắp các xã trong huyện Tu Mơ Rông nhưng Măng Ri chính là “thủ phủ” của sâm Ngọc Linh và các loại dược liệu.

Gọi Măng Ri là “thủ phủ” của sâm Ngọc Linh và các dược liệu quý vùng đất Tu Mơ Rông không hề ngoa chút nào, bởi cho đến nay, toàn tỉnh phát triển được hơn 600 ha sâm Ngọc Linh thì phần lớn diện tích nằm trên địa bàn xã Măng Ri. Trong đó, 2 công ty có diện tích sâm Ngọc Linh lớn nhất là Công ty cổ phần Sâm Ngọc Linh Kon Tum và Công ty TNHH MTV Nông lâm công nghiệp và dịch vụ Đăk Tô (được tỉnh công nhận là nguồn cung ứng giống sâm Ngọc Linh) đa phần nằm trên địa bàn Măng Ri.

Đồng bào Xơ Đăng trồng sâm Ngọc Linh ở Khu căn cứ Tỉnh ủy. Ảnh: PN 


Trước đây, khi sâm Ngọc Linh chưa được biết đến nhiều thì đồng bào dân tộc Xơ Đăng ở Măng Ri đã biết dùng nó như “phương thuốc bí truyền”, thường gọi là cây “thuốc giấu” để chữa bệnh, tăng cường sức khỏe. Từ khi sâm Ngọc Linh được phát hiện và công bố về công dụng, đồng bào Xơ Đăng ở vùng thung lũng Măng Ri đã biết gìn giữ, bảo vệ và phát triển loại dược liệu quý này.

Hiện nay, đồng bào dân tộc Xơ Đăng ở Măng Ri từng bước tận dụng lợi thế mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất này để phát triển các loại cây dược liệu nhằm nâng cao đời sống gia đình. Các loại cây dược liệu như sâm dây, sâm Ngọc Linh được xem là một trong những loại cây thoát nghèo của nhân dân nơi đây. Đến nay, nhân dân xã Măng Ri đã trồng được gần 4 ha sâm Ngọc Linh và hơn 40 ha sâm dây. 

Ông A Doi - thôn Chung Tam chia sẻ: “Hiện tại, đời sống của gia đình khá hơn trước kia nhiều. Bây giờ, gần như các hộ ở thôn Chung Tam đều phát triển kinh tế gia đình bằng cách trồng cây dược liệu sâm dây và sâm Ngọc Linh. Nhiều hộ gia đình nơi đây đã thoát khỏi cảnh nghèo, ổn định cuộc sống nhờ việc trồng các loại cây dược liệu.

Đưa chúng tôi thăm mô hình vườn sâm Ngọc Linh của huyện tại khu căn cứ Tỉnh ủy, ông A Ngôm (thôn Đăk Dơn, xã Măng Ri) cho biết: Bây giờ bà con ở đây đã hiểu giá trị của các loại dược liệu quý mà thiên nhiên ưu đãi cho mảnh đất này nên cũng nêu cao ý thức bảo vệ rừng, phát triển các loại dược liệu như sâm dây, sâm Ngọc Linh để nâng cao đời sống gia đình, tăng thu nhập và từng bước giảm nghèo.

Hiện nay, chính quyền xã Măng Ri đang tích cực phối hợp với các ngành chức năng của huyện Tu Mơ Rông để quảng bá, xây dựng xã Măng Ri thành vùng trọng điểm cây dược liệu địa phương. Vì vậy, huyện Tu Mơ Rông đang triển khai trồng mô hình sâm Ngọc Linh tại khu căn cứ Tỉnh ủy vừa để giữ nguồn giống, nguồn gien và vừa để phát triển du lịch. Khu vườn sâm Ngọc Linh này được giao cho xã Măng Ri chăm sóc, trông coi, quản lý và bảo vệ.

Ấn tượng mùa vàng 

Xã Măng Ri có 6 thôn, làng với gần 100% dân số là đồng bào dân tộc Xơ Đăng. Người Xơ Đăng ở Măng Ri biết làm ruộng bậc thang từ xa xưa để tận dụng nguồn nước mạch từ núi chảy ra. Chính vì vậy, bà con đã lo được nguồn lương thực tại chỗ phục vụ đời sống. Mọi gia đình ở đây đều không phải lo “cái đói giáp hạt”.

Tại mảnh đất Măng Ri này, hiện nay đồng bào dân tộc Xơ Đăng phát triển được gần 200 ha lúa sản xuất hai vụ (vụ đông xuân và vụ mùa). Đây cũng được xem là “vựa lúa” lớn nhất ở huyện Tu Mơ Rông. Hầu hết các hộ gia đình trên địa bàn xã Măng Ri đều có diện tích lúa nước để canh tác, mang lại nguồn lương thực ổn định.

Cánh đồng lúa ruộng bậc thang chín vàng óng ở thung lũng Măng Ri. Ảnh: PN 


Một nét đặc trưng ở Măng Ri đó là, hầu hết diện tích lúa nước được canh tác trên những chân ruộng bậc thang. Từ trên cao nhìn xuống, những thửa ruộng bậc thang ở lưng chừng đồi, đan xen giữa đó là những ngôi làng với mái nhà rông cao vút đẹp tựa như một bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp.

Nếu có dịp đến Măng Ri vào mùa lúa chín, nhìn cánh đồng lúa vàng ươm, trải dài, bông lúa trĩu nặng cúi đầu xếp lớp trên chân ruộng bậc thang vàng lên dưới nắng chiều hòa trong cảnh sắc thiên nhiên êm đềm dưới chân núi Ngọc Linh, du khách không khỏi ngẩn ngơ cảnh đẹp nên thơ này và mong có lần trở lại nơi đây để ngắm nhìn hoàng hôn dần buông phủ xuống từng mái nhà lúc khói bếp bắt đầu bay lên, báo hiệu bữa cơm chiều đang được người dân chuẩn bị.

Tôi hỏi nhiều người già nơi đây, nhưng hầu như không ai biết biết việc sản xuất lúa trên những thửa ruộng bậc thang của người dân đây có từ khi nào. Ngay như ông A Nít, năm nay đã bước qua tuổi 70 tuổi (là người làng Long Láy, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Măng Ri) cũng không hề biết.

Theo già A Nít, khi ông lớn lên đã thấy người dân canh tác lúa nước trên những thửa ruộng bậc thang và ông cũng chỉ được nghe kể lại là đời cha ông của mình cũng đã trồng lúa nước như vậy.

Già A Nít cho biết, trước đây, diện tích lúa ruộng bậc thang không nhiều như bây giờ. Mấy năm trở lại đây, bà con khai hoang, tận dụng đất trống mở rộng diện tích nên hiện nay, diện tích lúa ruộng bậc thang mới nhiều như vậy.

Với việc canh tác sản xuất theo hình thức ruộng bậc thang của đồng bào dân tộc Xơ Đăng đã tạo cho mảnh đất Măng Ri vẻ đẹp riêng mà ít nơi nào có được. 

Vào những ngày cuối tháng 10, đầu tháng 11, nếu có dịp đến mảnh đất Măng Ri, du khách sẽ được ngắm nhìn những thửa ruộng bậc thang vàng óng trải dài tuyệt đẹp lưng chừng núi. Sắc vàng của lúa chín, hòa cùng màu xanh thẫm của núi rừng Tây Nguyên giữa tiết trời se lạnh càng điểm tô cho Măng Ri vẻ đẹp thơ mộng, đắm say lòng người.

Những đứa trẻ Xơ Đăng đi học giữa cánh đồng vàng óng. Ảnh: PN 


Ông Nguyễn Bá Thành - Chủ tịch UBND xã Măng Ri cho biết: Trong chương trình phát triển du lịch, huyện Tu Mơ Rông lấy xã Măng Ri làm điểm du lịch trung tâm. Bởi xã có diện tích rừng tự nhiên giáp ranh với khu bảo tồn Ngọc Linh, có sản phẩm sâm Ngọc Linh nổi tiếng, Khu căn cứ Tỉnh ủy những năm kháng chiến. Ở Măng Ri có cánh đồng ruộng bậc thang rộng hàng trăm héc ta rất đẹp, nhất là vào mùa lúa chín. Nơi đây có những thôn làng người Xơ Đăng vẫn còn mang đậm nét kiến trúc truyền thống cổ xưa, có sức thu hút, hấp dẫn với du khách.

Theo ông Thành, hiện xã Măng Ri đang xây dựng làng Pu Tá thành điểm du lịch cộng đồng, bởi ngôi làng vẫn giữ được nguyên nét mộc mạc, nguyên sơ mang đặc trưng kiến trúc cổ của người Xơ Đăng. Với sự cởi mở, hồn hậu của bà con nơi đây, du khách có thể hòa mình vào những lễ hội, những điệu xoang, những giai điệu dân ca... theo phong tục truyền thống của người dân Xơ Đăng.

Đến Măng Ri, du khách có thể lựa chọn hình thức du lịch khác nhau mà mình muốn trải nghiệm như du lịch văn hóa, lịch sử; du lịch cộng đồng, sản phẩm nghề truyền thống; du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm và du lịch nông nghiệp. Du khách có thể trải nghiệm sống trong nhà người đồng bào dân tộc Xơ Đăng nơi đây, lên chốt sâm Ngọc Linh, các vườn trồng cây dược liệu...

Chị Y Hlạng ở làng Pu Tá, xã Măng Ri là một trong những gia đình tham gia mô hình du lịch homestay cho biết: Du khách đến Măng Ri ngoài việc được thăm chốt sản xuất dược liệu, ngắm cánh đồng ruộng bậc thang ngút ngàn, còn được tham gia các lễ hội văn hóa như: Bắc máng nước, ăn lúa mới, nghi thức đâm trâu, ngồi bên bếp lửa, thưởng thức những ché rượu ghè, nghe các làn điệu dân ca, dân vũ như đàn ting ning, klông pút...

Với thế mạnh của vùng đất, đồng bào dân tộc Xơ Đăng nơi đây tiếp tục đoàn kết, phát huy lợi thế, góp phần xây dựng Măng Ri ngày càng đổi mới, phát triển, xứng đáng truyền thống của vùng căn cứ cách mạng trong 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Nam…

Phúc Nguyên

Hồ Hòa Bình sơn thủy hữu tình, núi đồi thơ mộng

đăng 19:48, 7 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đến với hồ Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình), bạn sẽ đắm say với phong cảnh sơn thủy hữu tình, núi rừng thơ mộng hòa trong không gian văn hóa đa sắc màu cùng nền ẩm thực vô cùng hấp dẫn của nhiều dân tộc nơi đây.

Vẻ đẹp thơ mộng, sơn thủy hữu tình của hồ Hòa bình - Ảnh: DANH TRỌNG


Hồ Hòa Bình được hình thành sau khi đắp đập ngăn sông Đà để xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình. Đây là một trong những hồ chứa nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam, với chiều dài 230 km, kéo dài từ Hòa Bình tới Sơn La. Dung tích của hồ vào khoảng 9,45 tỷ m3.

Lòng hồ nước trong xanh được bao bọc bởi các dãy núi đá cao trùng điệp, có thảm thực vật đa dạng, phong phú, có nhiều đảo lớn, nhỏ được ví như Hạ Long trên cạn. 

Tuy nhiên, hồ Hòa Bình vẫn mang vẻ đẹp riêng biệt, hấp dẫn du khách bởi cảnh quan vẫn còn giữ được nét hoang sơ.

Ven hồ có nhiều thôn, bản người Mường, Tày, Thái, Dao, với những nếp nhà sàn cổ truyền thống với tập tục văn hóa giàu bản sắc dân tộc.

Điều đặc biệt khi đến nơi đây bạn không những được tận hưởng vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên, mà còn được trải nghiệm mô hình du lịch cộng đồng, phát triển sinh kế cho người dân tộc thiểu số với nhiều bản làng ở ven hồ.

Nếp nhà sàn, tiếng chiêng, điệu múa xòe, ẩm thực hay phương thức sản xuất nông nghiệp truyền thống của các dân tộc thiểu số tạo nên sức hút đặc biệt đối với du khách khi đến thưởng ngoạn hồ Hòa Bình.

Thức dậy trong bầu không khí trong lành, đón mình minh trên hồ Hòa Bình sẽ cho bạn cảm giác thư thái, tràn đầy năng lượng cho ngày mới - Ảnh: DANH TRỌNG


Một trong những trải nghiệm thú vị khi đến hồ Hòa Bình là bạn có thể đi tàu, thuyền vi vu trong lòng hồ nước xanh biếc, bao quanh là núi đồi hùng vĩ ngắm cảnh đẹp, mây trời thơ mộng - Ảnh: DANH TRỌNG







Lòng Hồ Hòa Bình nước trong xanh được bao bọc bởi các dãy núi đá cao trùng điệp - Ảnh: DANH TRỌNG

Nếu bạn yêu thích khám phá, nên tự chèo thuyền kayak lướt trên mặt hồ với rất nhiều điều thú vị để trải nghiệm - Ảnh: DANH TRỌNG





Kết thúc một ngày vui chơi, bạn có thể ngồi trên những tảng đá lớn, những ngôi nhà sàn ven hồ để ngắm hoàng hôn - Ảnh: DANH TRỌNG

Từ trên những cung đường bao quanh các dãy núi nhìn xuống là những ô ruộng bậc thang, những đám mây bồng bềnh vắt mình' rên những ngọn đồi xanh ngắt - Ảnh: DANH TRỌNG


Những bản người Mường, Tày, Thái, Dao ở ven hồ còn giữ được những nếp nhà sàn cổ truyền thống - Ảnh: DANH TRỌNG


Những ngôi nhà sàn nằm cheo leo bên lưng đồi sẽ là địa điểm nghỉ ngơi rất bình yên - Ảnh: DANH TRỌNG


Đến với hồ Hòa Bình, bạn sẽ bắt gặp những đứa trẻ người dân tộc thiểu số rất đáng yêu và hồn nhiên - Ảnh: DANH TRỌNG


Những "quán tự giác" đã có ở xóm Đá Bia, huyện Đà Bắc nhiều năm, hoạt động dựa trên sự tin tưởng, thường bày bán những món hàng, thực phẩm mang bản sắc dân tộc Mường như măng ngâm, măng khô, mật ong... được niêm yết giá sẵn.


Những phụ nữ người Dao có tập quán ăn trầu nhuộm răng. Họ rất thân thiện, niềm nở khi thấy du khách ghé nhà chơi - Ảnh: DANH TRỌNG


Ngoài thưởng ngoạn cảnh đẹp mây núi bồng bềnh, bạn có thể trải nghiệm công việc tỉ mẩn, chăm chút từng công đoạn thêu hoa văn bằng sáp ong trên vải thổ cẩm của người Dao (Đà Bắc, Hòa Bình) - Ảnh: DANH TRỌNG


Bạn sẽ bị cuốn hút bởi bàn tay “vàng” khéo léo thêu hoa văn trên thổ cẩm rất độc đáo, công phu - Ảnh: DANH TRỌNG


Đến với những bản làng nằm cheo leo trên những ngọn núi, bạn sẽ được thưởng thức những món ăn truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của các dân tộc - Ảnh: DANH TRỌNG


Mâm cỗ lá của người Mường xóm Đá Bia, xã Tiền Phong (Đà Bắc) được làm từ những sản vật địa phương - Ảnh: DANH TRỌNG


Sau một ngày dạo chơi, khám phá, tối đến bạn sẽ được hòa mình trong tiếng chiêng, điệu múa xòe truyền thống của các dân tộc trên những bãi đất ven hồ Hòa Bình - Ảnh: DANH TRỌNG


DANH TRỌNG

Thâm trầm di sản Gò Cây Tung

đăng 00:52, 5 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Di tích kiến trúc Gò Cây Tung (ấp Thới Thuận, xã Thới Sơn, Tịnh Biên) tọa lạc ở một nơi khá hẻo lánh, thiếu thông tin chỉ dẫn cụ thể. Gần 30 năm từ khi được phát hiện (15 năm được khai quật và nghiên cứu), với giá trị khoa học quan trọng của mình, di tích chỉ dừng lại ở mức xếp hạng cấp tỉnh vào năm 2017.

Một góc Gò Cây Tung 


Theo “Khảo cổ học Nam Bộ thời sơ sử” (PGS.TS. Bùi Chí Hoàng chủ biên, xuất bản 2018) và một số nghiên cứu có liên quan, di tích được biết đến đầu tiên với tên gọi Trà Cột, vốn là một gò đất hình bầu dục rộng hơn 11.700m2 và cao khoảng 13,5m so với chân ruộng xung quanh. Tên gọi Gò Cây Tung là do các nhà khảo cổ học định danh, vì trên gò có 2 cây tung cổ thụ, tuổi thọ hơn trăm năm. Năm 1990, những người đào vàng đào 5 hố lớn nhỏ nơi đây, làm xuất lộ một vỉa gạch ở gần bề mặt, cùng nhiều hiện vật khảo cổ ở độ sâu đến 4,5m. Đây là thông tin quan trọng giúp các nhà khoa học chú ý đến di tích này. 

Di tích Gò Cây Tung đã được nhiều cơ quan chuyên môn (Bảo tàng An Giang, Viện Khảo cổ học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh) khảo sát và khai quật nhiều lần, từ năm 1993 đến 2008. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, di tích là một phức hợp với những vết tích thời kỳ tiền-sơ sử cùng với với dấu ấn thời văn hóa Óc Eo - hậu Óc Eo, thể hiện qua 3 loại hình di tích được phát hiện (kiến trúc tôn giáo, mộ táng và di chỉ cư trú), mang giá trị khoa học đặc biệt quý giá và hấp dẫn, nhất là những dấu vết thời tiền sử thuộc loại sớm nhất hiện biết ở miền Tây Nam Bộ Việt Nam. Song, chính điều này mang lại sự phức tạp và khó phân tách các lớp văn hóa sớm muộn, dẫn đến nhiều ý kiến khác nhau về niên đại và tính chất của di tích, bởi các hoạt động cải tạo qua rất nhiều thời kỳ. Đặc biệt, có giai đoạn khu vực này đã biến thành khu mộ táng và đền thờ Hindu giáo, gây xáo trộn nghiêm trọng địa tầng nguyên thủy trên phần đỉnh và sườn gò - những khu vực hàm chứa di tồn vật chất phong phú nhất. 

Di chỉ cư trú của Gò Cây Tung được nhận định có niên đại kéo dài từ thời tiền sử đến giai đoạn tiền Óc Eo, trong đó giai đoạn tiền sử (niên đại khoảng 2.700-2.200 năm cách ngày nay) mang những đặc điểm gần gũi với hệ thống di chỉ cư trú thời Kim khí ở lưu vực sông Đồng Nai, thể hiện qua bộ sưu tập hiện vật đá (rìu, cuốc, đục, bàn mài, mảnh vòng trang sức, đá nguyên liệu) và đồ gốm chủ yếu từ chất liệu pha cát hạt thô và bã thực vật mịn với loại hình tiêu biểu là “nồi nấu kim loại”. Giai đoạn tiền Óc Eo (niên đại khoảng 2.200-2.000 năm cách ngày nay) đặc trưng với dấu vết cư trú sàn đất đắp, xuất hiện thêm loại gốm từ chất liệu bã thực vật đen mịn có lớp áo bên ngoài miết đen bóng (hay xám trắng) và gốm mịn màu vàng cam, được dùng làm các loại hình ly cốc, bát bồng, nồi, vò, nắp đậy… tương đồng với nhiều di tích tiền Óc Eo trên địa bàn Nam Bộ. 

Trên đỉnh cao nhất của Gò Cây Tung là nền móng của kiến trúc có quy mô lớn, gồm 2 lớp chồng lên nhau: lớp dưới có kết cấu nền móng quy củ, kỹ thuật xây dựng công phu; lớp trên đã bị phá hủy gần hết, kết cấu mặt bằng phức tạp, kỹ thuật xây dựng đơn giản. Nhìn chung, kiến trúc có mặt bằng tổng thể hình chữ nhật với đường dẫn nối dài về phía đông, vật liệu chủ yếu là gạch, kỹ thuật xây chồng, xếp song song hoặc so le, có tượng thờ bằng đá và các khối trang trí có lỗ vuông... Kết hợp kết quả khai quật và so sánh bình đồ với các kiến trúc Gò Tháp An Lợi (An Giang), Lưu Cừ II (Trà Vinh) hay Bà Chúa Xứ (khu Gò Tháp, Đồng Tháp)… các nhà khảo cổ nhận định, kiến trúc Gò Cây Tung có thể là một đền thờ Hindu giáo thuộc giai đoạn hậu Óc Eo với niên đại khoảng thế kỷ VIII kéo dài đến thế kỷ IX - X hoặc muộn hơn. 

Hôm chúng tôi đến, nắng ban trưa bắt đầu hanh hao. Trên gò, những cây tung cao thẳng, xòe nhiều nhánh rộng, ôm gọn khu di tích dưới bóng râm của mình, khiến khung cảnh thêm thâm trầm, bí ẩn, đậm màu thời gian. Rất nhiều mảng gạch bị rêu xanh phủ đầy. Dưới mỗi gốc cây tung cổ thụ, trên các bàn đá, người dân địa phương đặt lư hương để thắp nhang, cúng bái. Bà Neàng Hôn (64 tuổi, ngụ ấp Đông Thuận) đi chùa về, gặp chúng tôi đang mải mê chụp ảnh, nên kéo “hàng rào” bằng nhánh cây phân cách giữa nhà mình và khu di tích để mời chúng tôi vào chơi. Bà Neàng Hôn kể, gia đình bà mấy đời sinh ra, lớn lên ở nơi này nên đã quá quen thuộc từng gốc cây, viên đá ở gò, trong các trò chơi thuở nhỏ, những ngày đi về mấy lượt, nhưng nào biết bên dưới gò là gì. Người xưa dần qua đời, đám trẻ cũng già đi, nhưng cảnh vật xung quanh vẫn vắng lặng như cũ. Bà Naèng Hôn vẫn còn lưu giữ mấy mẫu đồ gốm nhặt được xung quanh để khi có khách vãng lai đến thăm, bà lại kể họ nghe… 

Sau hơn chục năm được khai quật, Gò Cây Tung vẫn bảo lưu những nét đặc trưng và vẫn còn đó nhiều vấn đề chưa thực sự làm thỏa mãn giới nghiên cứu, như: đời sống vật chất của cư dân cổ, quan hệ giữa Gò Cây Tung với các di tích tiền - sơ sử của An Giang nói riêng và đồng bằng Nam Bộ nói chung, niên đại của mộ táng, chủ nhân của di tích qua các thời kỳ, diễn tiến phát triển gián đoạn qua tầng văn hóa… Bên cạnh đó, công tác giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vẫn là một bài toán ở phía trước. 

Bài, ảnh: GIA LẠC

Kiên Hải - Thiên đường trên biển Tây Nam

đăng 06:07, 28 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 20:13, 9 thg 11, 2019 ]




Trong số 3 hòn đảo có đông dân cư sinh sống nhất của Kiên Hải, đảo Hòn Tre và Lại Sơn (còn gọi là hòn Củ Tron) đã có điện lưới quốc gia, điều kiện cơ sở vật chất không kém đất liền là bao.

Nhưng đó là chuyện hôm nay, còn thời gian trước rất khác. Ông Huỳnh Đức Mãnh (Út Mãnh, 58 tuổi, ngụ ấp Bãi Nhà, xã Lại Sơn) nhớ lại, tàu cao tốc từ đất liền ra Hòn Sơn chỉ mới có cách đây khoảng 4 năm. Trước khi có tàu cao tốc, hành trình vượt biển từ đảo vô đất liền rồi trở ra nhanh lắm cũng phải mất 2 ngày.

Theo ông Út Mãnh, trước đây trên đảo rất ít cư dân, chỉ trên dưới vài chục hộ dân và gần như tất cả đều bám biển mà sống. Thời gian đó biển rất nhiều hải sản. Chạy chiếc ghe (tàu đánh cá loại nhỏ) ra biển thả lưới chừng 1 buổi là đầy cá, mực, tôm. Dân chài chạy thẳng vô Rạch Giá bán lấy tiền mua những thứ cần thiết rồi trở về đảo.


Ngoài số ít dân cư sinh sống ven biển, trên đảo còn có các đơn vị bộ đội. Dân bám biển, còn bộ đội thường đóng trên núi. Và như một cách bù trừ, ngư dân đánh cá, bộ đội trồng rau, nuôi bò, nuôi heo.

"Mấy chú bộ đội ngày nào cũng gánh rau xuống núi để đổi cá. Còn cần heo thì thông báo trước vài ngày, bà con đặt mua đủ 1 con chừng 70-80kg, các chú làm rồi đem đi giao từng nhà", ông Út Mãnh kể.

Đêm xuống, nhà nghèo đốt đèn dầu, nhà khá hơn một chút thì kéo điện từ nhà đèn tư nhân về xài chỉ 1 bóng đèn tròn thắp sáng khoảng 4 tiếng đồng hồ, tiền điện khoán 1 tháng giá 10.000 đồng, tương đương 10kg gạo.

Ông Bảy Được, chủ quán cơm ở ấp Bãi Nhà, cho biết điều kiện sinh sống khó khăn thiếu thốn trăm bề là vậy, nhưng cả đảo chưa có ai nuôi ý định trở về đất liền.

"Cũng có người làm ăn khấm khá muốn vô bờ sống cho dễ, nhưng rồi ốm đau, bệnh tật lại trở ra đảo. Đất đảo linh thiêng lắm, ai mà ôm của bỏ đi là ông bà quở liền. Cái này không phải mê tín đâu nghen, mà giống truyền thống của dân đảo tụi tui từ hồi nào tới giờ", ông Được nói.



Nếu như ở đảo Phú Quốc có hàng trăm, hàng ngàn nhà đầu tư trong và ngoài nước đổ hàng chục ngàn tỉ đồng ra để xây khách sạn, resort, nhà hàng, khu vui chơi cao cấp để làm du lịch, trên các đảo của huyện Kiên Hải (tỉnh Kiên Giang), người dân địa phương tự đứng ra làm.

Tới Hòn Sơn, ngay từ cầu cảng dẫn lên đảo, du khách sẽ thấy có nhiều người mời chào thuê xe gắn máy, thuê nhà nghỉ, khách sạn… Họ đều là dân trên đảo chứ không phải "cò" chụp giật. Ai có xe thì mời khách thuê xe, ai có nhà nghỉ thì cử con cháu, nhân viên mời khách về thuê phòng.


Giá thuê phòng có máy lạnh ở cả Hòn Sơn lẫn Hòn Lớn đều khá mềm, chỉ từ 200.000-600.000 đồng/ngày đêm. Giá thuê xe gắn máy từ 200.000-250.000 đồng/ngày đêm tuỳ theo xe số hay xe tay ga.

Anh Cẩn, ngụ ấp Thiên Tuế, xã Lại Sơn, có 2 chiếc xe gắn máy chuyên để cho khách thuê, giải thích, giá thuê xe ở đây hơi cao hơn đất liền vì xe rất mau hư, do thời tiết và ảnh hưởng nước biển.

Đi du lịch tới những nơi mà người dân địa phương trực tiếp làm dịch vụ, du khách sẽ cảm nhận rất rõ "hồn cốt" của vùng đất mà mình đặt chân lên. Ở các xã đảo Lại Sơn, Nam Du, An Sơn của huyện Kiên Hải - một trong 12 huyện đảo Việt Nam, ngoài thưởng thức các món đặc sản như tôm biển, cá xanh xương, cá bống mú, cá bóp… với giá rẻ, du khách còn được nghe những câu chuyện đời thường cả xưa và nay, xen lẫn trong đó là những trăn trở của người dân về đất đảo.


Ông Năm (66 tuổi, chủ quán cơm Dì Năm Nương ở Hòn Lớn) cho biết, gia đình có 14 người đã 3 đời gắn liền với hòn đảo. Ngày còn trẻ, ông Năm ngày ngày ra biển, vợ con ở nhà sáng bán bún, hủ tíu, còn trưa, chiều thì bán cơm tấm cho bà con quanh xóm.

Dần dần biển ngày càng ít cá vì khai thác quá mức, ông Năm cùng nhiều bạn chài bán ghe gom góp vốn liếng xây phòng nghỉ cho du khách thuê. Cuộc sống hiện tại tốt hơn nhiều, dù không còn ra biển đánh cá.

"Tui ước chừng khoảng 80% dân đảo giờ chuyển qua làm du lịch. Ông trời cũng có cái hay, hết cá thì dân chài lên bờ làm kinh tế, rồi biển sẽ hồi sinh thôi", ông Năm bộc bạch.



Tới các đảo ở Kiên Hải, việc đầu tiên du khách nên làm là thuê xe máy để tự mình rong ruổi trên những cung đường quanh đảo, xuyên đảo đẹp mê hồn. Nhiều đoạn đường uốn lượn theo triền núi, có đoạn nhìn xuống thung lũng tầm mắt bao quát gần hết một nửa hòn đảo.

Những cung đường này không quá dài, như ở Hòn Sơn chỉ khoảng 14km, ở Hòn Lớn khoảng 10km, Hòn Tre khoảng 7km… Việc tự đi xe máy quanh đảo có cái thú là vừa cảm nhận không khí mát lạnh, mặn mòi từ biển thổi vào, vừa dừng lại chụp ảnh tuỳ thích tại những nơi có cảnh đẹp.


Du khách nên đi cùng gia đình, người yêu hoặc nhóm bạn là lý tưởng nhất để trải nghiệm toàn bộ quần đảo Nam Du (bao gồm 3 xã đảo: Lại Sơn (Hòn Sơn), An Sơn (Hòn Lớn) và Nam Du (Hòn Ngang).

Chặng đầu tiên, từ Rạch Giá du khách sẽ tới đảo Hòn Sơn với hành trình 1 tiếng 30 phút bằng tàu cao tốc. Hòn Sơn có các bãi biển có thể tắm là bãi Bàng và bãi Cây Dừa Nằm.

Tại chợ Hòn Sơn, du khách nên tìm đặt mua tôm, mực đánh từ biển, sẽ tươi ngon hơn loại đã ướp qua nước đá. Còn nếu vô quán, mức giá cho 1 bữa ăn với 4-6 người lớn gồm lẩu hải sản, cá kho, đồ xào thêm chút bia, nước ngọt khoảng 500.000-700.000 đồng.

Ban ngày, du khách nên dành thời gian leo núi lên đỉnh Ma Thiên Lãnh, với độ cao khoảng 500m so với mực nước biển. Có 2 con đường lên đỉnh núi này, 1 đường dài 2.200m dễ đi hơn và 1 đường 1.300m rất dốc chỉ thích hợp cho các bạn có sức khoẻ tốt. Tại đây, ngoài thưởng thức món gà ta nuôi thả trên sườn núi rất ngon, du khách còn được phóng tầm mắt bao quát toàn bộ vùng biển xung quanh đảo Hòn Sơn với khung cảnh không chê vào đâu được.


Đêm xuống, ở đảo Hòn Sơn, ngoài bãi Cây Dừa Nằm có nhà nghỉ sát bờ biển, những nhà nghỉ ở khu vực Bãi Nhà ngay cầu tàu lên đảo, cho du khách trải nghiệm 1 đêm đầy gió với tiếng sóng vỗ bờ rì rào không ngớt.

Hòn Lớn cách Hòn Sơn 40 phút đi tàu cao tốc, là trung tâm của xã An Sơn. Tại Hòn Lớn, ngoài đi vòng quanh đảo để ngắm cảnh, du khách cũng có thể tắm biển ở Bãi Cây Mến (dân địa phương gọi là Bãi Mến).


Từ Hòn Lớn, mỗi ngày sẽ có các tàu du lịch chở khách đi tham quan Hòn Ngang, Hòn Mấu… với giá chỉ 150.000 đồng/người (mùa cao điểm có thể tăng chút ít). Ngoài việc thoả thích câu cá, câu mực, lặn ngắm san hô, du khách còn được chủ tàu nấu đãi miễn phí 1 bữa cháo nhum (cầu gai), loài hải sản cùng với hàu được mệnh danh là "viagra thiên nhiên".

2 - 3 ngày nghỉ lễ hoặc nghỉ cuối tuần vừa đủ cho một tour du lịch đậm chất sinh thái với thiên nhiên hoang sơ vùng biển đảo Kiên Hải. Khi đã một lần bén duyên, du khách chắc chắn sẽ muốn quay lại bởi cái cách làm du lịch thấm đậm tình người của cư dân địa phương trên đảo.

12 huyện đảo Việt Nam

Miền Bắc: Bạch Long Vĩ, Cát Hải (Hải Phòng), Cô Tô, Vân Đồn (Quảng Ninh)

Miền Trung: Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Hoàng Sa (Đà Nẵng), Trường Sa (Khánh Hòa)

Miền Nam: Côn Đảo (Vũng Tàu), Kiên Hải (Kiên Giang), Phú Quốc (Kiên Giang)







Ảnh: TRƯỜNG VŨ




Nội dung: KHOA NAM 
Hình ảnh: QUANG ĐỊNH 
Thiết kế: KIỀU NHI 
Concept: BẢO SUZU 

Hoang sơ rẻo cao Hồng Ngài

đăng 05:17, 28 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nếu có dịp đặt chân đến Hồng Ngài - bản Mông hẻo lánh, địa danh đã trở nên quen thuộc trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, nhiều du khách sẽ được trải nghiệm với điểm đến thú vị trong hành trình lên miền Tây Bắc.

Rẻo cao Hồng Ngài hiện ra trong nắng vàng - Ảnh: H.DƯƠNG


Nằm ẩn mình giữa khung cảnh rừng núi hoang vu, Hồng Ngài hôm nay hiện ra khác hẳn tưởng tượng của chúng tôi. 

Thay cho khung cảnh nghèo đói trước đó là hình ảnh những cửa hàng tạp hóa, điểm thương mại dịch vụ mọc lên san sát, sầm uất ngay ở đỉnh con dốc. Trường học, trạm y tế, trụ sở UBND, nhà văn hóa... đều được xây dựng kiên cố, khang trang, đẹp đẽ.

Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ

Sau một đêm nghỉ ngơi tại thị trấn Bắc Yên (huyện Bắc Yên, Sơn La), chúng tôi bắt đầu men theo cung đường uốn lượn vượt đèo Chẹn để tìm đến rẻo cao Hồng Ngài. Khung cảnh hiện ra hai bên lưng chừng núi là bức tranh thiên nhiên hùng vĩ. Càng ấn tượng hơn khi cung đường đèo Chẹn chạy song song với dòng sông Đà xanh thẳm ở phía dưới.

Những nương ngô, ruộng lúa, rừng cây khi được nắng vàng chiếu xuống đã biến thành bao tấm thảm đa màu sắc lộng lẫy, giữa non cao hết sức đẹp mắt. Từ trên gần đỉnh núi, đưa tầm mắt ra phía xa xa dưới lòng thung lũng, du khách có thể nhìn thấy những bản làng đông đúc, bình yên của người Thái, người Mông. Sau khoảng 13km, chúng tôi đã đặt chân tới xã rẻo cao Hồng Ngài.

Lang thang theo những ngả đường mòn ra rìa xã Hồng Ngài, chúng tôi có dịp được ngắm nhìn những bản Mông định cư bên sườn núi từ bao đời. Như nhiều vùng cao khác, đồng bào Mông vẫn canh tác trên các thửa ruộng bậc thang xung quanh nhà mình. Ruộng bậc thang mùa lúa chín vẽ ra bức tranh vàng rực cùng với không khí vui tươi của bà con khi được mùa.

Đi vào các bản Mông như bản Đung, bản Giàng, bản Suối Tếnh..., du khách sẽ được trải nghiệm cuộc sống, sinh hoạt của người Mông nơi đây khi họ vẫn giữ nguyên nét truyền thống, hoang sơ vốn có. Những con đường quanh co, uốn lượn men theo sườn núi từ bản này sang bản kia như đưa du khách lạc vào câu chuyện của ngày xưa. 

Hình ảnh những cô gái Mông gặt lúa, còn các chàng trai lên rừng kiếm củi... như gợi cho du khách về tiếng sáo Mèo văng vẳng bên tai cùng câu chuyện tình đầy bi thương của A Phủ và Mị trong tác phẩm để đời của nhà văn Tô Hoài.

Cửa hang A Phủ - Ảnh: H.DƯƠNG


Hang A Phủ - điểm tham quan thú vị

Những chàng trai, cô gái Mông ở trên quê hương của A Phủ không còn bị ràng buộc bởi những hủ tục hà khắc như xưa nữa. Tại các phiên chợ tình, trai gái được tự do yêu đương, hẹn ước cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Trong các bản nhỏ, đồng bào Mông rất mến khách, những em nhỏ hồn nhiên thích thú khi được xem chiếc máy ảnh, điện thoại mới chụp hình mình.

Trên đỉnh núi tại các bản Mông còn có những bãi đất trống khá bằng phẳng với thảm cỏ xanh non, rất thích hợp để cắm trại ngủ qua đêm, chờ đến sáng hôm sau đón ánh bình minh nhô lên từ núi. 

Đến Hồng Ngài vào dịp thu, lúc mùa táo mèo bắt đầu, đi ngang qua các cánh rừng, du khách sẽ cảm nhận được thoang thoảng đâu đó hương táo mèo thơm quyến rũ. Những màn sương sớm giăng khắp núi rừng hòa quyện vào hương táo, bóng hình thiếu nữ Mông thấp thoáng lên nương tạo cho chúng ta một cảm xúc khó quên.

Điểm đến ấn tượng nhất của Hồng Ngài chính là hang A Phủ, được đặt từ sau khi chuyện "Vợ chồng A Phủ" trở nên phổ biến rộng rãi, cách trung tâm xã hơn 3km. Theo người dân bản địa, trước đây hang A Phủ có tên Thẳm Cốp. Cửa hang cao rộng nhìn ra khoảng rừng núi xanh thẳm, hùng vĩ. Hang sâu khoảng 200m với hệ thống nhũ đá đẹp, nhiều hình dạng lạ mắt.

Vào năm 1961, khi quay tác phẩm điện ảnh Vợ chồng A Phủ, các nhà làm phim cũng đã lấy bối cảnh hang A Phủ để đưa lên phim. Ngày nay, hang A Phủ đã trở thành một điểm du lịch thu hút đông đảo mọi người đến tham quan, khám phá. Với vẻ đẹp tự nhiên, hoang sơ, chưa bị sự tác động của con người, cùng với lai lịch gắn với câu chuyện tình "Vợ chồng A Phủ", hang A Phủ sẽ lôi cuốn du khách ghé thăm.

Theo anh Mùa A Chồng - chủ tịch UBND xã Hồng Ngài, du khách đến Hồng Ngài tham quan ngày một đông, có cả người nước ngoài. Phòng văn hóa - thông tin huyện Bắc Yên đang phối hợp với chính quyền xã quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, dịch vụ để biến khu hang A Phủ và các bản Mông truyền thống trở thành điểm đến tham quan độc đáo, cuốn hút du khách.

Tại bản Hồng Ngài, gần khu trung tâm xã đã có 3-4 hộ gia đình làm dịch vụ du lịch bằng cách xây nhà trình tường đắp đất truyền thống. Ở đây khách được phục vụ ngủ nghỉ với giá bình dân cùng các món ăn bản địa như: bánh ngô, rượu táo mèo, cơm lam, gà chạy bộ...

HẢI DƯƠNG - VĂN DUY

Bí ẩn của Cát Bà

đăng 05:53, 23 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:06, 28 thg 10, 2019 ]




Đôi bạn người Tây Ban Nha Ruben Jimenez và Noelia Manzanares mặc áo phao, nắm tay nhau nhảy xuống làn nước mát lạnh từ boong tàu. Họ lim dim mắt, để những con sóng nhẹ nhàng mơn man trên má. 

Điểm đến của nhóm du khách cùng đi với Ruben và Noelia là vịnh Lan Hạ, khu nuôi trồng thuỷ sản Cát Bà và trở về khách sạn trong ngày. Họ vừa được ngắm những dãy núi non trên vịnh, được tắm, dạo chơi bằng thuyền kayak và thưởng thức hải sản.


Con tàu hơn 100 khách du lịch chở chủ yếu là người nước ngoài. Họ không ngớt tiếng trầm trồ trước cảnh sắc vùng biển này. Anh Đặng Trần Trung (31 tuổi, người dẫn tour) buông chiếc kính mát để tận hưởng màu xanh của nước, của cây và của bầu trời thu. Anh kể, mùa du lịch chính ở Cát Bà thường kéo dài từ tháng 5 đến hết tháng 9, tuy nhiên, công ty của anh vẫn đón khách quanh năm. 

Cát Bà không chỉ có biển mà còn có núi non, hang động, rừng ngập mặn, bãi triều, rừng mưa nhiệt đới, ao hồ trên núi đá vôi, các rạn san hô rộng lớn. Mọi thứ đang rất hoang sơ, chính quyền Hải Phòng cố gắng, bằng những chính sách và quản lý, níu giữ, để Cát Bà tránh bị ảnh ưởng từ những hoạt động xây dựng thiếu kiểm soát.


Điều đặc biệt ở quần đảo này là có 139 bãi tắm cát vàng. Ngoài những bãi nổi tiếng như Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Cò 3 ngay gần trung tâm thị trấn, còn hơn 100 bãi tắm khác rải rác ở các đảo, ven vịnh, vắng vẻ nhưng quyến rũ. Công ty của Trung luôn có khách đăng ký được lặn biển ngắm san hô. Nhiều khách đến vịnh Lan Hạ rồi không muốn lên bờ.

Cát Bà có hơn 300 hòn đảo lớn nhỏ. Quần đảo đặc biệt này vừa có biển, vừa có núi, vừa có làng chài lại có những khu rừng đặc hữu. Khách có thể thăm vịnh, bơi thuyền, khám phá hang động như ở Hạ Long, lặn biển ngắm san hô như ở Lý Sơn, nằm dài trên bãi cát dịu êm như ở Phú Quốc hay cũng có thể đi bộ xuyên rừng như ở Cúc Phương…

Ông Vũ Tiến Lập, Trưởng phòng Văn hoá - Du lịch huyện Cát Hải, cho hay huyện đảo này đã đón 2,7 triệu lượt khách du lịch trong năm nay. Cát Bà vẫn như một quần đảo mới được đánh thức, tiềm năng du lịch còn nhiều, vấn đề mà huyện đặt ra là phát triển bền vững.





Từ khi cầu Lạch Huyện, cây cầu vượt biển dài nhất Đông Nam Á khánh thành (2-9-2017), huyện đảo Cát Hải được nối liền với trung tâm thành phố Hải Phòng. Qua cầu Lạch Huyện, khách chỉ mất 30 phút đi phà để sang đảo. Xe du lịch hay những chiếc xe 45 chỗ nối đuôi nhau đưa khách đến Cát Bà. 

Ở huyện đảo này hiện có hơn 200 khách sạn, nhà nghỉ, có thể phục vụ hơn 7.000 khách. Ngoài các khách sạn, nhà nghỉ tập trung ở khu vực trung tâm thị trấn, còn hàng trăm khu resort, homestay và khách sạn trên biển. Huyện Cát Hải định hướng để Cát Bà trở thành một địa chỉ "xanh", xanh từ thiên nhiên đến "hệ sinh thái du lịch". Ngoài việc bảo vệ môi trường, Cát Hải nỗ lực để có môi trường thân thiện, an ninh đảm bảo và xây dựng thương hiệu du lịch tin cậy.

Trong tương lai gần, khi dự án cáp treo dọc đảo được hoàn thành, Cát Bà quy hoạch là quần đảo không khói xe. Phương tiện di chuyển trên đảo sẽ là xe điện, xe đạp. Các lồng bè nuôi trồng thuỷ sản trên các eo, vịnh sẽ được quy hoạch lại theo hướng giảm thiểu nhằm hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng đến môi trường.


Giám đốc Vườn quốc gia Cát Bà Hoàng Văn Thập cho rằng, để Cát Bà sầm uất như một "Hong Kong của Việt Nam" không khó, nhưng để Cát Bà trở thành hòn đảo du lịch "xanh" mới cần nhiều nỗ lực. Vị giám đốc đã gắn bó với rừng Cát Bà ngót 30 năm cho rằng không nên "đóng cửa rừng", mà cần tạo điều kiện để người dân nơi đây phát huy được tiềm năng của khu dự trữ sinh quyển.

Gần 30 năm trước, rừng Cát Bà bắt đầu quy hoạch thành khu bảo tồn thiên nhiên. Ông Thập là sinh viên lâm sinh mới ra trường, về Cát Bà làm kiểm lâm. Rừng Cát Bà ngày đó bị tàn phá nghiêm trọng. Lâm tặc liều lĩnh như hải tặc trong phim. Chúng cũng chạy xuồng, súng trường bắn không tiếc đạn. Nhiều lần bị kiểm lâm truy đuổi, chúng vừa lái xuồng chạy vừa quăng lựu đạn trở lại. Chuyện kiểm lâm đổ máu vì lâm tặc chống trả nhiều như cơm bữa.

Rừng Cát Bà quá phong phú, địa hình rừng đặc trưng núi đá, những con thú rất quý như sơn dương, khỉ… luôn bị lâm tặc săn lùng. Ông Thập trầm ngâm: "Một con sơn dương hiện nay có giá trị vài trăm triệu đồng, số tiền ấy có thể giúp một hộ nghèo đổi đời. Vì thế nếu bảo vệ rừng mà chỉ cấm săn bắt, tuần tra, canh gác, truy đuổi, đấu tranh… thì chỉ giải quyết được phần ngọn. Muốn giữ được rừng, không còn gì khác là phải để cho người dân thấy được giá trị của rừng và người ta được hưởng lợi".

Vườn quốc gia và các khu bảo tồn ở Việt Nam rất khác so với các khu bảo tồn khác trên thế giới, là người dân ở xen lẫn trong khu bảo tồn. Thậm chí, nhiều khu bảo tồn, rừng đặc dụng có làng bản trước khi có rừng. Nhà nước không thể di dời cả nghìn hộ dân ra khỏi các khu rừng, cho họ một nơi ở mới, kế sinh nhai mới tốt hơn nơi họ đã từng ở. 


Chạy xe dọc con đường xuyên vườn quốc gia Cát Bà, hai bên vừa là núi, vừa là rừng và thấp thoáng những căn homestay xinh xắn. Những lão nông da đen sạm, cánh tay chằng chịt sẹo vì dao, vì gai rừng vừa cười ha hả vừa "bắn" tiếng Anh với khách. Hàng trăm hộ dân ở Cát Bà mấy năm nay sống khoẻ nhờ làm dịch vụ. Căn nhà cổ giữ lại cho khách đến chơi, gian nhà ngang mở rộng ra làm nơi bán đồ ăn cho khách, dưới mái hiên treo đầy hoa. Chủ nhà vừa là người bán hàng, vừa vác ba lo dẫn khách trekking trên núi.

Ở vùng lõi của vườn quốc gia, những phiến đá được xếp lại cho dễ đi. Con đường xuyên rừng kim giao ngày nào cũng có khách đi bộ. Cung trekking đặc biệt này chỉ hơn 2km, nhưng phải mất 3 giờ đi bộ. Khách bước qua những mỏm đá tai mèo, dưới tán cây lấp lánh bóng nắng. Thỉnh thoảng, những chú sóc giật mình vì khách lạ chuyền lên cành cao. Cung đường được khách chọn nhiều nhất là cung xuyên rừng kim giao - đỉnh Ngự Lâm, đỉnh cao nhất ở Cát Bà. Bên cạnh đó là các cung khám phá hang động, xuyên rừng quốc gia đến làng cổ Việt Hải…

Giám đốc Vườn quốc Gia Hoàng Văn Thập bật mí, ở Cát Bà luôn có những nơi để khách khám phá, nhưng có những khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, khách du lịch không được đến…


Con đường bê tông dẫn vào làng Việt Hải uốn lượn sát mép vịnh, một bên là vách núi một bên là mặt nước lặng như gương. Nguyễn Tiến Hùng, một cư dân của làng Việt Hải lái xe điện đưa khách về làng. Hùng đã từng theo bạn vào rừng chặt gỗ, bẫy thú, rồi lăn lộn làm thuê trên những con thuyền đánh cá xa bờ. Rồi Hùng trở về làng, mở cửa hàng cho thuê xe đạp, chạy xe điện và làm dịch vụ. 

Căn nhà gỗ hơn 60 năm tuổi trở thành địa chỉ đón khách tham quan. Mẹ của Hùng và nhiều người khác trong làng khôi phục nghề nấu rượu truyền thống. Khách đến Việt Hải mùa này đa số là khách nước ngoài. Họ thích được trải nghiệm cuộc sống của một ngôi làng đặng trưng của nền văn minh lúa nước như Việt Hải. Điều đặc biệt ở ngôi làng này là được rừng, biển bao quanh. Đô thị hoá dường như không thể đến được với Việt Hải, vì được những cánh rừng nguyên sinh che chở. 

Hùng tâm sự, "hồi trẻ chưa biết, còn lên rừng chặt cây. Bây giờ làm du lịch rồi mới thấy giá trị của rừng thế nào. Nếu không phải vì giữ được rừng, giữ được biển xanh thì chắc khách chẳng đến Cát Bà đâu".


Cát Bà là nơi sinh sống của khoảng 3.860 loài động thực vật trên cạn và dưới biển, trong đó có 130 loài được đưa vào sách Đỏ Việt Nam và thế giới để bảo vệ. Đặc biệt, voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus) là loài đặc hữu chỉ còn một quần thể với 70 cá thể phân bố duy nhất trên thế giới tại Cát Bà.

Anh Lê Văn Chiến, từng bỏ hơn chục năm để đầu tư làm du dịch ở đảo Cát Ông, ngượng ngùng nói về những khó khăn. Câu chuyện đưa điện, nước ra đảo là một hành trình dài, rồi câu chuyện xây dựng, đầu tư làm sao để có chỗ nghỉ đẹp cho khách nhưng giữ lại được những nét nguyên sơ nhất của đảo. Mỗi lần sửa chữa, nâng cấp lại phải chờ đợi vì thủ tục.

Câu chuyện liên kết giữa các tỉnh cũng khiến nhiều đơn vị lữ hành không thể kết nối thêm tour. Từ Cát Bà chỉ mất hơn một giờ đi thuyền là đến Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh), nhưng các đơn vị lữ hành ở Cát Bà không được phép đưa khách sang Hạ Long. Ngược lại, thuyền du lịch của Hạ Long vẫn có thể đến Cát Bà. Vì thế, nhiều khách đã chọn Hạ Long là điểm đặt chân mà trước đó họ muốn đến Cát Bà.



Chỉ mất hơn 40 phút lái xe từ thành phố Hải Phòng đến đảo Cát Bà nhờ cây cầu vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện.

Cây cầu dài hơn 5,4 km qua biển lạch huyện, nối Hải Phòng với đảo Cát Hải. Từ Cát Hải, du khách di chuyển bằng phà ra đảo Cát Bà chỉ mất 30 phút. Cầu Tân Vũ - Lạch huyện đến thời điểm hiện tại vẫn là cây cầu vượt biển lớn nhất Việt Nam và là một trong những cây cầu vượt biển lớn nhất Đông Nam Á.

Tính cả chiều dài quãng đường Tân Vũ, điểm nối với đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng đến bến phà Gót là 15 km. Đường thiết kế cho xe chạy với vận tốc tối đa 80 km/h.

Trước đây, mỗi ngày chỉ có 2 chuyến phà ra đảo Cát Bà, việc di chuyển bằng phà cũng mất hơn 1 tiếng đồng hồ. Từ khi có cây cầu Lạch Huyện, các phương tiện ra đảo Cát Bà rút ngắn thời gian xuống còn 30 phút.







Hệ sinh thái đặc biệt của Cát Bà có trên 3.800 loài thực vật, động vật trên cạn và dưới biển. Trong đó, có đến gần 2.300 loài động vật và trên 1.500 loài thực vật. Khảo sát của vườn quốc gia Cát Bà cho thấy có đến hơn 660 loài cây dùng làm thuốc.

Đảo Cát Bà có đến 130 loài động, thực vật được Chính phủ Việt Nam và thét giới xác định là các loài quý hiếm, đưa vào sách Đỏ để bảo vệ. Trong số này có 76 loài nằm trong danh mục quý hiếm của IUCN (Liên minh bảo tồn thiên nhiên Thế giới).


Nội dung: VŨ TUẤN - TIẾN THẮNG 
Hình ảnh & Video: HẢI TRIỀU - NAM TRẦN 
Thiết kế: KIỀU NHI 
Concept: BẢO SUZU 

Đi thuyền rồng nghe ca Huế trên sông Hương

đăng 02:18, 21 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 05:52, 23 thg 10, 2019 ]

Du lịch bằng thuyền rồng trên sông Hương (Thừa Thiên - Huế) đang là loại hình thu hút đông đảo khách tham quan trong và ngoài nước. Điều đặc biệt của thú vui thưởng ngoạn này là du khách không những thoả sức ngắm nhìn các địa danh nổi tiếng đất Cố đô mà còn đắm mình trong những giai điệu mượt mà của ca Huế. 

Xưa kia, thuyền rồng thường dành riêng cho vua đi lại trên sông nước. Nay thuyền đã trở thành phương tiện độc đáo phục vụ du khách tham quan các thắng cảnh nổi tiếng ở Huế, như chùa Thiên Mụ, điện Hòn Chén, Lăng vua Khải Định, lăng Minh Mạng... Giá vé từ 100–700 nghìn đồng/người tùy thời gian và thêm các dịch vụ khác. 

Du lịch bằng thuyền rồng trên sông Hương được khách du lịch đánh giá là loại hình văn hoá trải nghiệm vô cùng thú vị và đậm đà bản sắc dân tộc. Du khách có thể ngắm toàn cảnh dòng sông đậm chất thơ này khi xuôi theo dòng sông Hương đến viếng cảnh chùa Thiên Mụ hay đến thăm hệ thống các lăng tẩm triều Nguyễn.

Đến với du lịch trên sông Hương, nếu ai đã từng một lần trải nghiệm chắc hẳn sẽ khó lòng quên được hình ảnh của những cô gái Huế mộng mơ không những nết na, nhu mì mà còn sở hữu giọng hát say đắm lòng người. Nói như vậy bởi lẽ, khách tham quan ngoài việc thưởng lãm cảnh sắc nơi này thì trên chính chiếc du thuyền ấn tượng ấy, du khách còn có cơ hội được trải lòng mình khi lắng nghe ca Huế sâu lắng.

Du lịch bằng thuyền trên sông Hương được khách du lịch đánh giá là loại hình văn hoá trải nghiệm vô cùng thú vị.


Hiện nay, du lịch bằng thuyền trên sông Hương đang là loại hình thu hút đông đảo khách tham quan trong và ngoài nước.


Du thuyền chạy dọc sông Hương và đi qua nhiều di tích nỗi tiếng của cố đô Huế.


Du khách có thể đi ghép theo đoàn hoặc thuê riêng chiếc du thuyền nhỏ.


Bến du thuyền nằm trên trục đường Lê Lợi, là nơi tập trung nhiều địa điểm du lịch.


Khi ánh hoàng hôn rực rỡ trải dài, khách tham quan ngồi trên thuyền sẽ cảm nhận được sự bình yên khi nhìn xuống dòng nước êm đềm.


Nếu du thuyền vào buổi tối, du khách sẽ được ngắm cầu Trường Tiền lung linh ánh đèn.


Khách đi du thuyền còn được hòa mình vào không gian ca Huế đặc sắc.


Nhiều khúc ca Huế say đắm lòng người phục vụ du khách trên thuyền.


Du khách có thể chọn mua đồ lưu niệm có sẵn trên thuyền.


Thả đèn hoa đăng, một trong những nét văn hóa đặc trưng thu hút du khách ở Huế.


Du khách thích thú với trải nghiệm du thuyền trên sông Hương. 


Khi ánh hoàng hôn rực rỡ trải dài, khách tham quan ngồi trên thuyền sẽ cảm nhận được sự bình yên khi nhìn xuống dòng nước êm trôi. Nếu đi du thuyền vào buổi tối, hình ảnh thành phố về đêm dưới ngàn sao lấp lánh cùng ánh sáng lung linh, huyền ảo đủ sức làm say đắm lòng người.

Người dân Cố đô luôn trân trọng và gìn giữ nét đẹp ca Huế trên sông Hương như một tài sản văn hóa vô giá của mảnh đất này. Dù trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, ca Huế vẫn trường tồn cho đến hôm nay và mai sau. Nghe ca Huế trên thuyền rồng như thú vui tao nhã, món ăn tinh thần mà bất cứ du khách nào đến với Huế cũng được thưởng thức âm vị độc đáo này.
 
Ca Huế là một thể loại âm nhạc mang đậm nét cổ truyền ở xứ Huế, gồm ca và đàn, hình thành từ 2 dòng ca nhạc dân gian và cung đình. Ca Huế có một hệ thống bài bản vô cùng đa dạng và phong phú bao gồm khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc, khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc và điệu Nam. Điệu Bắc là những lời ca mang âm điệu vui tươi, trang trọng còn điệu Nam lại là mang những âm điệu chứa cảm xúc buồn, ai oán, nỉ non.

Bài và ảnh: Nguyễn Luân

Mùa lá đổ ở bàu Cá Cái

đăng 21:34, 20 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Một bức tranh đẹp như cổ tích ở bàu Cá Cái (xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) khi hàng triệu cây cóc trắng trở mình thay lá. Vẻ đẹp mùa thu như ở các nước ôn đới đang hiện ra tại Quảng Ngãi.

Một góc rừng bàu Cá Cái mùa thay lá với tông màu trắng pha xanh lạ lẫm - Ảnh: DUY SINH


Nghệ sĩ nhiếp ảnh trẻ Bùi Thanh Trung (TP Quảng Ngãi) quả quyết với chúng tôi rằng vào tiết trời thu, hiếm có nơi nào ở dải đất hình chữ S này mang vẻ đẹp mê mẩn như bàu Cá Cái.

Như lạc vào tiên cảnh

Từ TP Quảng Ngãi, theo hướng đông bắc vượt hơn 40km sẽ đến trung tâm xã Bình Thuận. Từ đây, những người địa phương sẽ hướng dẫn các bạn đến với khu rừng ngập mặn bàu Cá Cái rộng thênh thang nằm ngay sau chân những quả đồi hình bát úp. 

Đứng từ trên điểm cao nhìn xuống khung cảnh bạt ngàn của rừng cây cóc trắng đang vào mùa đổ lá, nguyên một màu trắng ngút ngàn.

Anh Trung bảo rằng trong một lần bay flycam gần khu vực bàu Cá Cái vô tình lọt vào khung ảnh một không gian đẹp. "Chắc chắn bàu Cá Cái là một trong những nơi đẹp nhất tôi từng chụp hình, quay phim về mùa thu" - anh Trung nói.

Mùa xuân cây bắt đầu đâm chồi sẽ thấy một không gian xanh biếc của nước, của lá non và màu trắng của những thân, cành chưa được lá bao phủ. Mùa hè, một màu xanh bất tận trải dài và lá dần úa vàng tạo nên một gam màu rất đẹp. 

Đến mùa thu, lá rụng hoàn toàn và đến khi chớm đông cũng là lúc cây bắt đầu phun những chồi non xanh biếc đầu tiên nơi ngọn. Vẻ đẹp bốn mùa ở bàu Cá Cái đang dần thu hút du khách tìm đến đây hít hà mùi thiên nhiên hoang lành và thả đôi mắt mình ngắm nhìn những bản làng nên thơ với những con người sống hiền hòa cùng khu rừng ngập mặn.

Bàu Cá Cái là điểm mới lạ. Ở đây cơ bản chưa có dịch vụ tiện ích nào. Nhưng đổi lại, du khách sẽ tham gia thả lưới, dùng nơm, vó đánh bắt cá cùng người bản địa. Cá tôm ấy sẽ được chế biến để khách cùng ăn với người dân.

Du khách Huỳnh Như (TP Quảng Ngãi) cùng nhóm bạn của mình vừa có chuyến dã ngoại ở bàu Cá Cái tâm sự: "Chúng tôi mới thấy trên mạng xã hội hình ảnh bàu Cá Cái quá đẹp nên quyết định đến chơi. Thật sự đây là chuyến đi quá tuyệt vời. Ngoài việc chụp được những bức ảnh đẹp, nhóm lần đầu tiên được đánh bắt thủy sản ở rừng ngập mặn. Quá thú vị!".

Bạn trẻ đi du lịch, tham gia bắt hải sản trong khu rừng bàu Cá Cái - Ảnh: CHÍ KIÊN


Cuộc chuyển mình của bàu Cá Cái

Bàu Cá Cái bây giờ được phủ xanh bởi những luống cây tuyệt đẹp, chim, cò bắt đầu đến trú ngụ. Cảnh sắc này khởi nguồn từ những dự án trồng rừng chống biến đổi khí hậu. Từ năm 2014 đến nay, cả triệu ngày công được bỏ ra, biến diện tích mặt nước lầy lội rộng 110ha thành mảng xanh.

Những công nhân trực tiếp trồng rừng đều là người địa phương. Họ đã ở đây bao đời, chứng kiến bàu Cá Cái đìu hiu nhưng giờ là điểm đến của nhiều người nên ai cũng thấy tự hào. 

Ông Thanh (xã Bình Thuận) tham gia trồng rừng kể về cái thuở bàu Cá Cái ít tôm cá, chẳng mấy ai quan tâm đến khu đầm lầy này. "Sau mấy năm trồng rừng, giờ cá tôm nhiều hơn trước. 

Vịt trời, cò và rất nhiều loài chim về làm tổ. Rừng trồng sống ổn định được giao lại cho nhóm hộ gia đình quản lý chăm sóc và tạo ra nguồn sinh kế mới cho vùng đất còn nhiều khó khăn này" - ông Thanh nói.

Ông Nguyễn Văn Hân, phó giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Ngãi, bảo rằng thời gian tới, ngành nông nghiệp sẽ giao khoán hoàn toàn diện tích rừng ngập mặn ở bàu Cá Cái cho người dân bảo vệ. Đồng thời, sẽ tạo điều kiện cho người dân ven biển vay vốn ưu đãi nuôi trồng thủy sản, phát triển du lịch sinh thái.

Và mới đây, cảnh đẹp hữu tình của bàu Cá Cái cũng thu hút một số đơn vị lữ hành trong và ngoài tỉnh đến khảo sát, xây dựng tour. Bàn tay con người giúp hồi sinh thiên nhiên đã khởi điểm cho cuộc trở mình ở bàu Cá Cái, nay mang trong mình vẻ đẹp đến mê mẩn lòng người.

Khung cảnh tự nhiên tại bàu Cá Cái - Ảnh: TRẦN MAI


Trồng thêm rừng

Hiện nay vẫn còn khoảng 50 công nhân dựng lều bạt, bám trụ ven đầm trồng rừng.

Bà Nguyễn Thị Thùy Dung, điều phối viên dự án trồng rừng ngập mặn phòng hộ chắn sóng, cải thiện môi trường sinh thái mở ra hướng thoát nghèo bền vững cho người dân vùng ven biển ở bàu Cá Cái, tâm sự: "Năm 2014, tiếp nhận trồng rừng chẳng ai nghĩ có cuộc thay đổi hôm nay bởi đầm nước khá sâu. 

Để trồng được hơn 80ha rừng như hiện nay phải mất 5 năm trời đóng cọc, lắp phên tre, huy động các phương tiện cơ giới đào đắp đất tạo luống rồi dùng ghe, thúng chuyển cây giống, phân bón ra đầm. Hàng chục công nhân thay phiên nhau trồng rừng. Vất vả nhưng thấy cánh rừng bây giờ thật không uổng công tí nào" - bà Dung nói.

TRẦN MAI

Lướt cùng gió ở bãi biển Ninh Chữ nổi tiếng thế giới

đăng 07:07, 17 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 05:32, 18 thg 10, 2019 ]

Ninh Chữ, tỉnh Ninh Thuận đang ngày càng quen thuộc với tín đồ du lịch Việt trong những năm gần đây. 

Trước đó, vùng biển này đã được biết tới rộng rãi trong cộng đồng hàng triệu du khách quốc tế… 

Hấp dẫn du khách quốc tế 

Trong hành trình khám phá của mình, Mark Gwyther - blogger du lịch người Mỹ đã dừng chân ở bãi biển Ninh Chữ. Bằng con mắt của một chuyên gia tư vấn quản lý và đầu tư bất động sản cùng trải nghiệm từng có ở nhiều vùng đất khắp thế giới, Mark Gwyther đã chia sẻ những thông tin thú vị về Ninh Chữ trên trang citypassguide.com. 

Ninh Chữ đẹp đến mê mẩn khi bình minh ló rạng. 


Với Mark Gwyther, lý do đến với vùng đất này là bãi biển. "Vịnh Ninh Chữ, một đường lưỡi liềm dài 10 km lộng lẫy, được coi là một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Hầu hết thời gian trong năm, biển an toàn để bơi. Bình minh vô cùng ngoạn mục và thật thú vị khi được chứng kiến người dân địa phương trải qua các hoạt động buổi sáng", Mark Gwyther viết. 

Đúng như blogger người Mỹ cảm nhận, Ninh Chữ trông sống động khi bình minh ló rạng. Cuộc sống ngư dân khiến bãi biển dài tràn ngập âm sắc. Du khách hòa cùng người dân, cùng đắm mình trong nắng, hít thở hơi gió mới và cảm nhận mùi vị hải sản tươi rói trên mỗi con thuyền vừa cập bến. Về chiều, bãi biển trở nên nhẹ nhàng và an nhiên trong ánh hoàng hôn lãng mạn. Ráng tím, đỏ phủ đầy trời. 

Những khung cảnh say lòng người… 


Sách hướng dẫn du lịch thế giới viết gì về Ninh Chữ? 

Sách hướng dẫn du lịch Lonely Planet nhận định: "Về phía Đông Bắc của Phan Rang, vịnh Ninh Chữ hình vết cắn khổng lồ rất phổ biến với khách du lịch vào cuối tuần hay ngày lễ, nhưng lại vô cùng yên tĩnh trong thời gian còn lại của năm. Bãi biển dài 10 km đặc biệt hấp dẫn. Đây là nơi cư trú yên bình để tới thăm các tòa tháp Chăm của Po Klong Garai gần đó". 

Nhà xuất bản sách tham khảo và hướng dẫn du lịch Anh quốc Rough Guides lại mô tả vẻ đẹp của Ninh Chữ "là một lưỡi liềm cát rộng lớn, sạch, mềm mại và trắng vàng... Bãi biển nổi tiếng cho việc bơi lội, tắm nắng, thể thao biển và cả chạy bộ". 

Gần bãi biển có chợ Nại với đầy ắp cá, tôm hùm, mực... Núi Cà Đù và núi Đá Chồng gối kề lên nhau, tạo nên cảnh quan hài hòa, quyến rũ.

Lướt ván diều ở Ninh Chữ làm du khách quốc tế quay lại nhiều lần. 


"Đặc sản" gió và lướt ván diều 

Nhiều du khách quốc tế tới Ninh Chữ thừa nhận không thể quên cái gió và những khoảnh khắc bay lên khi lướt ván diều. Gió và lướt ván diều chính là "đặc sản" nổi tiếng nhất giúp vùng biển này chiếm trọn tình yêu của du khách khắp thế giới. 

Antonio Goven - một chàng trai trẻ đến từ Croatia, có mặt ở Ninh Chữ vào tháng 3 vừa qua, đã dành nhiều thời gian trải nghiệm lướt ván diều và theo dõi hướng gió tại đây. Với Antonio, vịnh Ninh Chữ là địa điểm hấp dẫn để lướt ván diều từ tháng 3 đến tháng 9, nhờ tốc độ gió trung bình đạt 17 hải lý/giờ (tương đương 8 m/s). Trong hầu hết các buổi chiều, tốc độ gió đạt ổn định 25 hải lý/giờ (12m/s). Hướng gió tại vịnh Ninh Chữ thổi từ phía Nam vào buổi sáng và thường có xu hướng chuyển từ Nam sang Đông Nam vào buổi chiều, với gió mạnh và ổn định hơn. 

Lee Hwa, cô gái trẻ đến từ Hàn Quốc cũng bị mê hoặc bởi gió và lướt ván diều tại biển Ninh Chữ. Nhóm của cô gồm 10 người đam mê lướt ván diều và đã ở lại bãi biển Ninh Chữ trong khoảng một tháng. Theo Lee, sóng ở vịnh Ninh Chữ nhỏ, bãi biển nông, thoải, kèm với gió lớn, thích hợp để tập luyện các kỹ thuật mới mà không nguy hiểm. 

Với lợi thế hai mùa gió cùng bãi biển, Ninh Chữ từng được chọn để tổ chức giải Lướt ván diều châu Á - Kiteboard Tour Asia (KTA) năm 2016. Cuộc thi thu hút gần 100 vận động viên, trong đó có nhiều tên tuổi nổi tiếng trong bộ môn lướt ván diều thế giới như Quentin Valesa và Marine Duprat đến từ Pháp, Narapichit Pudla và Sriwichai Chaengla từ Thái Lan, Alexander Shafinskiy và Andrey Salnik từ Nga. 

Không chỉ lướt ván diều, biển Ninh Chữ còn phù hợp để chơi các môn thể thao gió như: ván buồm, sailing, motor nước... Sắp tới đây Festival thuyền buồm quốc tế (Sailing Bay Ninh Chữ 2019) tổ chức tại biển Tri Hải (Ninh Hải) mở ra một thời kỳ mới, đưa nơi đây trở thành điểm đến quốc tế với những trải nghiệm đa sắc màu. 

Vùng đất này trở thành điểm đến của những dự án lớn như Sailing Bay Ninh Chữ. 


Trong chiến lược trở thành điểm đến mới của châu Á, hạ tầng du lịch tại Ninh Chữ được chú trọng. Dự án Sailing Bay Ninh Chữ chuẩn bị khởi tạo sẽ tạo điểm nhấn đặc biệt, trở thành động lực thúc đẩy du lịch của vùng phát triển. 

Sailing Bay Ninh Chữ trong mô hình ApartHotel mang đến hệ tiện ích quy mô lớn, đưa nơi này trở thành điểm đến ấn tượng của khu vực. Đặc biệt, lần đầu tiên, bên cạnh biển, trong lòng dự án là nhà tuyết quy mô thứ 3 thế giới, tương tự mô hình Ski Dubai lừng danh- Ski Ninh Chữ Bay. 

Một thế giới trải nghiệm mới, đẳng cấp thế giới đang hé mở ở Ninh Chữ - vùng đất đã được quy hoạch là 1 trong 46 khu du lịch quốc gia.

Hà My

1-10 of 16

Comments