Những chuyến đi, những khám phá... và những điều suy tư...

Bài mới

  • 2 ngày leo đỉnh núi Tà Chì Nhù ngắm hoàng hôn tím lịm Là ngọn núi cao thứ 7 Việt Nam, Tà Chì Nhù với không gian hùng vĩ thoáng đãng, không những là điểm săn mây lý tưởng, còn là một trong ...
    Được đăng 03:41, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Người Trường Lưu giữ gìn nhà cổ! Trầm lặng giữa vùng văn hóa Trường Lưu, nhiều ngôi nhà cổ ở xã Kim Song Trường (Can Lộc - Hà Tĩnh) vẫn được mỗi thế hệ người dân gìn giữ ...
    Được đăng 05:07, 8 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Khu đô thị lấn biển Tp. Rạch Giá Hơn 20 năm xây dựng và phát triển, Khu đô thị lấn biển Tp. Rạch Giá giờ đây đã trở thành một đô thị hiện đại, đáng sống, thu hút ...
    Được đăng 05:09, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sâu lắng các giá trị di sản văn hóa đặc sắc của Hà Tĩnh Hà Tĩnh là vùng đất có bề dày văn hóa với nhiều di sản vật thể, phi vật thể. Gần đây, cùng với sự tích cực của các cơ quan ...
    Được đăng 05:00, 30 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Kì bí “vương quốc” Pơmu ở Tây Giang Trên đỉnh Zi’liêng thiêng liêng và hùng vĩ của núi rừng Tây Giang (Quảng Nam) có một “vương quốc” Pơmu cổ thụ hơn nghìn năm tuổi. Vẻ đẹp và ...
    Được đăng 05:16, 30 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 21. Xem nội dung khác »


2 ngày leo đỉnh núi Tà Chì Nhù ngắm hoàng hôn tím lịm

đăng 03:41, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Là ngọn núi cao thứ 7 Việt Nam, Tà Chì Nhù với không gian hùng vĩ thoáng đãng, không những là điểm săn mây lý tưởng, còn là một trong những nơi đón hoàng hôn đẹp nhất, lý tưởng nhất trong top 10 ngọn núi cao nhất Việt Nam. 

Quãng đường leo núi có thể được chia thành 3 chặng. Chặng 1 từ điểm xuất phát chân núi, đi qua một mỏ chì vẫn còn đang khai thác, độ cao 1.200m, đến suối nghỉ ăn trưa. Chặng 2 từ suối đến lán nghỉ đêm 2.400m. Chặng 3 từ lán lên đỉnh núi

Thuộc khối núi Pú Luông của dãy Hoàng Liên Sơn nổi tiếng, Tà Chì Nhù cùng Tà Xùa là hai ngọn núi của huyện Trạm Tấu rất được dân trekking leo núi yêu thích. Nếu như Tà Xùa khó khăn hơn, cần 3 ngày 2 đêm thì Tà Chì Nhù được đánh giá nhẹ nhàng hơn, chỉ cần 2 ngày 1 đêm là đủ

Địa hình, cảnh quan Tà Chì Nhù thay đổi từ chân đến đỉnh, từ đi trong rừng cây tán thấp, vượt suối, rừng trúc lùn, đồng cỏ... đến cuối cùng là đồi trọc gần đỉnh núi

Quãng đường từ lán lên đỉnh được coi là đẹp nhất toàn bộ chuyến đi, bởi nếu may mắn đúng thời điểm bạn sẽ bắt gặp những ngọn đồi phủ kín sắc tím hồng của một loại hoa đặc biệt: hoa đại tử đương dược, còn có tên gọi là cỏ mật rồng

Thường các đoàn hay ở lại lán, nghỉ ngơi, nấu nướng và ăn tối sớm để ngày hôm sau dậy đón bình minh, săn biển mây. Nhưng cũng có nhiều người lên đỉnh luôn buổi chiều để tận hưởng khoảnh khắc ngắm nhìn hoàng hôn dần buông xuống

Từ lán ở độ cao 2.400m so với mực nước biển lên đỉnh núi dài khoảng 2,5km, và sẽ mất chừng 2-3 tiếng tùy thể lực mọi người

Địa hình chung quanh đỉnh Tà Chì Nhù chủ yếu là đồi trọc, không gian thoáng đãng, có thể bao quát toàn bộ đồi núi, thung lũng xung quanh

Chinh phục Tà Chì Nhù không khó, chỉ cần bạn chuẩn bị kỹ tinh thần, sức khỏe trước chuyến đi khoảng hai tuần, tìm những người bạn đồng hành tốt với những kỹ năng dã ngoại đầy đủ, theo dõi thời tiết thuận lợi... Thời điểm đẹp nhất để trekking ngọn núi này sẽ kéo dài từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau

Có độ cao 2.979m so với mực nước biển, đỉnh Tà Chì Nhù thuộc địa bàn xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Thung lũng nhìn về hướng trung tâm huyện Trạm Tấu dưới hoàng hôn rực rỡ dần chuyển sắc, từ vàng, hồng, tím, trước khi chìm trong màu xanh lam cuối ngày rồi chìm hẳn trong màn đêm đen

Tổng quãng đường leo khoảng 18km cả đi lẫn về. Về cơ bản, đường leo Tà Chì Nhù gần như chỉ có đường mòn độc đạo, không nhiều lối rẽ ngang dọc, chỉ đi lên hoặc xuống, khá an toàn cho nhiều người dù một số đoạn dốc khá cao, dựng đứng

NGUYỄN CHÍ NAM

Người Trường Lưu giữ gìn nhà cổ!

đăng 05:07, 8 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Trầm lặng giữa vùng văn hóa Trường Lưu, nhiều ngôi nhà cổ ở xã Kim Song Trường (Can Lộc - Hà Tĩnh) vẫn được mỗi thế hệ người dân gìn giữ, trân trọng như những báu vật vô giá...

Ngôi nhà hơn 300 tuổi của gia đình ông Nguyễn Huy Thản đã được thay mái ngói

Trong quần thể rất nhiều những dấu vết cổ xưa còn hiện hữu ở thôn Xuân Phượng, nhiều người dân đặc biệt ấn tượng với ngôi nhà cổ hơn 300 năm tuổi của ông Nguyễn Huy Thản - một trong những ngôi nhà có độ luổi lâu đời nhất nằm trong khuôn viên vườn hoa cụ Thám (Thám hoa Nguyễn Huy Oánh).

Lẫn khuất giữa không gian xanh của khu vườn, nét cổ kính của ngôi nhà đã mang đến trong tâm hồn của mỗi người sự bình yên, lắng đọng sau những ồn ào, xô bồ của cuộc sống.

Ông Thản định cư cùng con cháu ở TP Hồ Chí Minh nên việc bảo quản ngôi nhà được giao cho gia đình người cháu ở gần kề trông coi, chăm sóc.

Ông Nguyễn Huy Hùng - người bảo quản ngôi nhà cho biết: “Ông Thản rất coi trọng việc giữ gìn kiến trúc của ngôi nhà. Hơn 300 năm tuổi, nhiều hạng mục của ngôi nhà đã bị xuống cấp. Ông Thản đã tìm hiểu kiến thức từ nhiều nguồn để cố gắng bảo tồn, gìn giữ nguyên trạng ngôi nhà. Năm 2013, một số hạng mục ngôi nhà phải thay mới nhưng ông Thản vẫn giữ được kiến trúc cổ”.

Bên cạnh những kiến trúc hiện đại, nhiều gia đình, dòng họ ở Trường Lưu vẫn nỗ lực gìn giữ của những ngôi nhà do ông cha để lại

Xã Kim Song Trường hiện còn có rất nhiều ngôi nhà cổ. Trong đó, quần thể những ngôi nhà cổ của anh em họ hàng trong dòng họ Nguyễn Huy là nét độc đáo ở vùng quê này. Điểm chung của các ngôi nhà đều được làm bằng gỗ lim, hệ thống xà, cột, kèo bằng gỗ được khắc chạm tinh xảo, trong nhà treo rất nhiều bức hoành phi khắc bằng chữ Hán Nôm. Nhiều bức hoành phi, câu đối có giá trị lên đến hàng trăm triệu đồng.

Bà Trần Thị Lan (90 tuổi) cho biết: “Tôi lấy chồng về đây thì đã nghe ông bà kể, ngôi nhà đã có từ lâu lắm. Tính đến nay, ước chừng cũng hơn 200 năm tuổi. Kiến trúc cổ vẫn được giữ nguyên, trong nhà còn có bức câu đối hình lá chuối rất độc đáo.

Đôi câu đối này đã từng được thương nhân người Huế trả giá hơn 300 triệu đồng nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ đến chuyện bán đi kỷ vật của cha ông. Với chúng tôi, đó là báu vật vô giá mà cha ông lưu lại cho con cháu muôn đời sau và chúng tôi có nghĩa vụ phải giữ gìn”.

Đôi câu đối hình lá chuối của gia đình bà Trần Thị Lan

Những căn nhà gỗ nhuốm màu thời gian nằm yên bình giữa làng quê ẩn chứa những câu chuyện đáng tự hào về nếp xưa của gia đình, dòng họ.

Ông Nguyễn Huy Hùng - con trai bà Lan cho biết: “Với tôi, ngôi nhà không chỉ là nơi lưu giữ ký ức tuổi thơ, là quá trình trưởng thành của bản thân mà còn in đậm dấu tích của cha ông, là nền tảng phát triển của lớp cháu con hậu thế. Vì thế, tôi rất tự hào về những giá trị vô giá của gia đình, dòng họ qua những ngôi nhà cổ. Chúng tôi sẽ cố gắng bảo vệ và lưu giữ cho thế hệ mai sau”.

Trải qua thời gian, kiến trúc của các ngôi nhà vẫn không thay đổi nhiều, các vật dụng được bảo quản, giữ gìn nhưng sự khắc nghiệt của thời tiết cũng khiến nhiều ngôi nhà cổ ở xã Kim Song Trường xuống cấp. Ngôi nhà hơn 100 tuổi của gia đình ông Nguyễn Huy Đàn nằm trong số đó.

Dù đã cố gắng giữ nguyên kiến trúc và hình dáng cũ, nhưng việc phục hồi nguyên trạng hết sức khó khăn. Vì thế, quá trình sửa chữa, con cháu của ông đã cố gắng để nếu cần thay thế hạng mục nào đó thì cũng vẫn mô tả được tính cổ của ngôi nhà.

Hiện nay, vùng văn hóa Trường Lưu đang có hàng chục ngôi nhà gỗ được thiết kế theo phong cách cổ xưa, trong đó có 10 ngôi nhà cổ trên 100 năm tuổi. Những ngôi nhà này đều được đưa vào diện cần bảo tồn để phát huy giá trị văn hóa truyền thống nhưng việc gìn giữ, trùng tu, tôn tạo nhà cổ hiện nay gặp nhiều khó khăn về kinh phí.

Ngôi nhà hơn 100 tuổi của ông Nguyễn Huy Đàn đã được con cháu sửa sang nhưng vẫn cố gắng giữ nguyên kiến trúc và hình dáng cũ

Ông Nguyễn Quốc Việt - Chủ tịch UBND xã Kim Song Trường cho biết: “Để bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống từ những ngôi nhà cổ, thời gian qua, chính quyền địa phương đã tuyên truyền, vận động con cháu trong dòng họ với mong muốn họ phát huy vai trò, trách nhiệm trong việc huy động nguồn lực để gìn giữ, tôn tạo những hạng mục xuống cấp”.

Xã cũng đã đề xuất nguyện vọng, các cấp, ngành liên quan cần sớm thẩm định và công nhận di tích nhà cổ trên địa bàn, từ đó có chính sách hỗ trợ một phần kinh phí cho việc tu bổ, tôn tạo để lưu giữ nét văn hóa cho muôn đời sau. Đây cũng là một điểm nhấn trong quần thể di tích văn hóa Trường Lưu sẽ được đưa vào khai thác trong các tour du lịch.

Giữa cuộc sống hiện đại, những ngôi nhà cổ ở làng Trường Lưu gợi lên những ký ức xa xưa với sự yên bình, thân thuộc của làng quê. Vượt lên những giá trị về vật chất, những ngôi nhà cổ đã trở thành niềm tự hào về truyền thống họ tộc, nếp gia phong; là nơi giáo dục, nuôi dưỡng tâm hồn và chắp cánh cho bao ước vọng của con cháu mai sau.

Chính vì thế, việc bảo tồn các ngôi nhà cổ ở Trường Lưu không chỉ là bảo tồn nét văn hóa, nét độc đáo, tinh tế trong kiến trúc nhà ở của ông cha, mà còn là việc bảo tồn, lưu giữ những giá trị văn hóa tinh thần vô giá cho thế hệ con cháu.

Thúy Ngọc

Khu đô thị lấn biển Tp. Rạch Giá

đăng 05:17, 30 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 05:09, 16 thg 1, 2021 ]

Hơn 20 năm xây dựng và phát triển, Khu đô thị lấn biển Tp. Rạch Giá giờ đây đã trở thành một đô thị hiện đại, đáng sống, thu hút nhiều người dân lựa chọn làm chốn “an cư, lạc nghiệp”, trở thành niềm tự hào của người dân Kiên Giang. 

Hơn 20 năm trước, ít người dân nào ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nghĩ rằng có lúc họ sẽ sống trên mặt biển trong một đô thị hiện đại, tiện nghi, khi mà bờ biển Tây giáp thành phố Rạch Giá lúc đó còn rất hoang sơ, ít người qua lại, chỉ có những đầm lầy, cây cỏ và tiếng gió biển thổi xào xạc.

Để tận dụng và khai thác thế mạnh tối đa của các địa phương có bờ biển, góp phần thúc đẩy kinh tế, dự án lấn biển Rạch Giá được chính thức khởi công từ năm 1999 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên tổng diện tích 420ha. Đến năm 2015, khu đô thị tiếp tục được mở rộng them phía Tây Bắc gần 100ha và khu vực bãi bồi tự nhiên 16ha.

Công ty cổ phần Đầu tư Phú Cường là đơn vị đầu tiên tham gia đầu tư xây dựng khu đô thị mới lấn biển này. Và giờ đây một đô thị sạch đẹp, hiện đại, văn minh, sang trọng, có mặt tiền sát bờ biển Tây hiện lên trong sự ngỡ ngàng xen lẫn tự hào của những người con quê hương xứ biển.

Khu đô thị Phú Gia mang phong cách hiện đại.

Những căn biệt thự sang trọng trong khu đô thị.

Đô thị lấn biển Tp. Rạch Giá sạch đẹp, hiện đại, văn minh, sang trọng, có mặt tiền sát bờ biển Tây.

Khu đô thị hiện đại, khang trang, thông thoáng nhằm phục vụ tốt nhất đời sống dân cư trong khu đô thị và cả các khu vực xung quanh.

Hệ thống cơ sở hạ tầng được ngầm hóa toàn bộ, mật độ phủ xanh chiếm 30% là yếu tố được chú trọng tiên phong trong toàn khu đô thị, nhằm mang lại môi trường sống xanh, sạch.

Khu đô thị là nơi các bạn trẻ lựa chọn ghi lại dấu ấn quan trọng trong cuộc đời của mình. 

Theo đó, đơn vị này đã từng bước khẳng định năng lực, uy tín của mình qua chất lượng các công trình, kỹ thuật thi công và quản lý điều hành toàn dự án, trong đó có lẽ khu đô thị Phú Cường ngày nay nằm trong khu lấn biến là một điểm nhấn khi tập trung nhiều hạng mục hiện đại nhất tại đây. Các hạng mục về nhà ở, nhà phố, biệt thự hướng biển cao cấp, công viên cây xanh, khu vui chơi giải trí hiện đại, khu nghỉ dưỡng đẳng cấp đều có mặt tại thành phố này, nhằm phục vụ nhu cầu đa dạng của người dân và du khách. Bên cạnh xây dụng đô thị là việc kiên cố hóa lại hệ thống bờ kè lấn biển, vỉa hè, hệ thống giao thông, hệ thống xử lý nước thải… nhằm đồng bộ và cân bằng trong quy hoạch, đầy đủ tiện nghi, dịch vụ để trở thành một Khu đô thị hiện đại, khang trang nhằm phục vụ tốt nhất đời sống dân cư trong khu đô thị và cả các khu vực xung quanh.

Điểm nhấn của khu đô thị này là hệ thống cơ sở hạ tầng được ngầm hóa toàn bộ, mật độ phủ xanh chiếm 30% là yếu tố được chú trọng tiên phong trong toàn khu đô thị, nhằm mang lại môi trường sống xanh, sạch và ôn hòa. Kiến trúc trong khu đô thị có sự đa dạng theo từng khu vực, từ hiện đại của châu Mỹ đến cổ kính và sang trọng của châu Âu, tất cả hội tụ để tạo nên một đô thị đa phong cách và năng động.

Các khu vực đã đưa vào sử dựng như: Bệnh viên đa khoa tỉnh (13ha), hệ thống trường học Võ Văn Kiệt, tổ hợp khu vui chơi giải trí PhuCuong Land, chuỗi các trung tâm thương mại, dịch vụ nghỉ dưỡng với hệ thống công viên biển bao bọc toàn bộ đã tạo nên một môi trường sống tiện nghi và chất lượng.

Khu lấn biển này đã góp phần giải quyết đất ở cho hơn 60.000 người dân và là nơi tập trung của nhiều công trình công ích xã hội, bệnh viện, trường học, khu hành chính, công viên, quảng trường, rất thuận lợi trong sinh hoạt của người dân.

Được sống trong một đô thị hiện đại, văn minh, kế bên là biển, trời, gió, nước bao la mát lành, Khu lấn biển TP. Rạch Giá trở thành niềm tự hào của người dân Kiên Giang, là điểm đến thu hút các nhà đầu tư và du khách, góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.

Bài: Sơn Nghĩa - ảnh: Đặng Kim Phương

Sâu lắng các giá trị di sản văn hóa đặc sắc của Hà Tĩnh

đăng 05:00, 30 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Hà Tĩnh là vùng đất có bề dày văn hóa với nhiều di sản vật thể, phi vật thể. Gần đây, cùng với sự tích cực của các cơ quan chức năng trong việc sưu tầm và bảo tồn, những di sản càng phát huy giá trị trong đời sống.

Hoan Châu đệ nhất danh thắng chùa Hương Tích (thuộc xã Thiên Lộc, Can Lộc). Ảnh: Chùa Hương Tích ngày nay nhìn từ trên cao, Ảnh PV) 

Nằm trên núi Hồng Lĩnh ở độ cao khoảng 650m so với mực nước biển, tương truyền chùa Hương Tích được xây dựng từ đời nhà Trần ở thế kỷ XIII. Chùa bao gồm một quần thể di tích với cảnh sắc tuyệt đẹp, như: chùa chính Hương Tích, động Tiên Nữ, am Bát cảnh, am Phun Mây, miếu Cô, suối Tiên... Từ xưa, chùa Hương Tích được ca ngợi đứng đầu trong 21 danh lam thắng cảnh của vùng đất Nghệ An và Hà Tĩnh.

Di tích khảo cổ học bãi Phôi Phối (Xuân Viên, Nghi Xuân) được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1974 bởi các nhà khảo cổ học. Năm 2014, bãi Phôi Phối - Bãi Cọi được Bộ VH-TT&DL công nhận là di tích khảo cổ cấp quốc gia.

Bãi Cọi thuộc văn hóa Sa Huỳnh (từ 1000 năm trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên) vùng Trung bộ, có sự du nhập của văn hóa Đông Sơn và văn hóa đồ sắt Trung Quốc. Việc phát hiện di tích Bãi Phôi Phối- Bãi Cọi chứng minh Hà Tĩnh là vùng đất hàng nghìn năm trước, người Việt cổ đã sinh sống. (Ảnh: Mộ nồi - hình thức mai táng đặc biệt được tìm thấy ở Bãi Cọi. Hình ảnh được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử quốc gia đợt 18/10/2020 vừa qua. Ảnh: Internet)

Di sản văn hóa Trường Lưu (xã Kim Song Trường, Can Lộc). Trong đó, nổi bật là “Mộc bản trường học Phúc Giang” (còn gọi là Mộc bản Trường Lưu) và “Hoàng hoa sứ trình đồ” (Hành trình đi sứ Trung Hoa) đã được công nhận là di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Mộc bản trường học Phúc Giang được xem là bộ sách giáo khoa kinh điển được sử dụng liên tục cho việc dạy và học của hàng ngàn thầy giáo và học sinh qua gần 3 thế kỷ (XVIII - XX). Còn Hoàng hoa sứ trình đồ là tập bản đồ ghi chép với nhiều hình ảnh, thông tin phong phú, quý giá về hành trình đi sứ của sứ thần Đại Việt thế kỷ XVIII. (Ảnh: Mộc bản trường học Phúc Giang. Ảnh: PV)

Di tích Nguyễn Du (thị trấn Tiên Điền, Nghi Xuân) bao gồm một tổ hợp di sản vật thể và phi vật thể, trong đó, nổi bật là Di sản văn chương Nguyễn Du và Truyện Kiều.

Đại thi hào Nguyễn Du đã được Unesco công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới (1965) với gia tài đồ sộ về các tác phẩm văn học giá trị. Trong đó, Truyện Kiều được xem là kiệt tác không chỉ đối với nền văn học Việt Nam mà còn đối với nền văn học thế giới. Ảnh: Các ấn phẩm liên quan đến Truyện Kiều được xuất bản bằng chữ Nôm, chữ Hán và một số ngôn ngữ khác qua nhiều thời kỳ.... 

Bảo vật quốc gia: Bia Sùng Chỉ (xã Tùng Lộc, Can Lộc). Bia Sùng Chỉ hay còn gọi là “Sùng Chỉ bi ký” được dựng vào năm Chính Hòa thứ 17 (1696) theo đề nghị của quan viên chức sắc và nhân dân 4 thôn (Mông Tiết, Trung Hậu, Vinh Phúc, Hựu Phúc), thuộc xã Tỉnh Thạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang nay là xã Tùng Lộc (Can Lộc) nhằm ghi nhận công lao sự nghiệp của Hà Tông Mục đối với đất nước và quê hương.

Hiện, bia được dựng ở nhà thờ danh nhân Hà Tông Mục (thôn Tây Hương, xã Tùng Lộc). Tháng 1/2020, bia Sùng Chỉ đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia. Trong ảnh: Từ trái qua phải mặt trước và mặt sau của bia Sùng Chỉ.

Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là một loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian, được hình thành từ các hoạt động lao động sản xuất, sinh hoạt thường ngày... Năm 2014, dân ca ví, giặm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Trong ảnh: Liên hoan Dân ca ví, giặm lần thứ 4, tổ chức tại Hà Tĩnh

Ca trù là loại hình diễn xướng bằng âm giai nhạc thính phòng rất thịnh hành tại khu vực Bắc Bộ và Trung Bộ từ thế kỷ 15. Trong đó, Cổ Đạm (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) được xem là một trong những cái nôi của nghệ thuật ca trù và Nguyễn Công Trứ là người có công đưa ca trù trở nên nổi tiếng vào thế kỷ 19 cho đến ngày nay. Ảnh: Hát ca trù tại Cổ Đạm (Nghi Xuân)

Hà Tĩnh cũng là địa phương nhiều lần đăng cai tổ chức liên hoan ca trù toàn quốc. Năm 2009, ca trù được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại và được xếp vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Trong ảnh: Một tiết mục ca trù của đoàn Hà Tĩnh tại Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2018.

Hà Tĩnh là vùng đất có một kho tàng di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) vô cùng phong phú và đa dạng, mỗi di sản đều có nét đặc sắc và vị trí riêng. Với vai trò là cơ quan đại diện Hội Di sản văn hóa Việt Nam ở Hà Tĩnh, thời gian qua, Chi hội Di sản Việt Nam tại Hà Tĩnh đã luôn nỗ lực cùng với các cơ quan chức năng trong việc nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục cố gắng làm tốt vai trò tham mưu của mình cùng các cấp, ngành phát huy vai trò di sản trong chiến lược xây dựng con người và văn hóa Hà Tĩnh.

  Phan Thư Hiền - Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Hà Tĩnh

Thiên Vỹ

Kì bí “vương quốc” Pơmu ở Tây Giang

đăng 06:03, 23 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 05:16, 30 thg 12, 2020 ]

Trên đỉnh Zi’liêng thiêng liêng và hùng vĩ của núi rừng Tây Giang (Quảng Nam) có một “vương quốc” Pơmu cổ thụ hơn nghìn năm tuổi. Vẻ đẹp và sinh khí của khu rừng tỏa ra khiến cho con người choáng ngợp. Bằng lời nguyền sắc son, người Cơtu ở Tây Giang đang ra sức ngày đêm bảo vệ kho báu mà Trời đã ban cho mình. 

Trời Tây Giang vào hạ nắng nóng như đổ lửa. Những con đường đỏ quạch bụi mù trời. Từ ngoài đường cái, đoạn tính từ Trạm bảo vệ rừng Bắc Sông Bung vào tới cửa rừng Pơmu chưa đến 6 cây số nhưng rất khó đi. Sau gần một tiếng đồng hồ đánh vật với con đường giời đày, cuối cùng chúng tôi cũng vào được tới khu nhà Gươl nằm dưới chân đỉnh Zi’liêng. Sau một hồi phì phò leo núi mệt tưởng đứt hơi, cuối cùng chúng tôi cũng tới được vùng lõi. Chen giữa đám rừng già là những cây Pơmu khổng lồ, sần sùi, thô ráp và thẳng tắp. Những cây Pơmu như chúa tể của rừng xanh, hùng vĩ và kiêu hãnh vươn lên cao vút chiếm lĩnh lấy tầng cao nhất của tán rừng già, khiến cho người ta có cảm giác như ở đó nó là độc tôn, là số một, là vô đối… vì không một loài cây nào có thể vượt qua được chúng từ chiều cao cho đến kích cỡ.

Dưới ánh sáng âm u, huyền hoặc của rừng chiều, những gốc cây Pơmu cổ hiện lên với đủ dáng vẻ lạ kỳ. Có gốc trông giống như con rồng cuộn mình nằm mai phục dưới đám lá; có gốc lại giống như hình một con hổ thu mình ngồi im nhìn đám người lạ chúng tôi với vẻ dò xét đầy bí hiểm; hoặc có gốc phình to như bộ ngực của người đàn bà kì dị; thậm chí có gốc với bộ rễ khổng lồ nổi vồng lên mặt đất tạo thành một cái hang lộ thiên đủ sức chứa được cả chục người…

Trên đỉnh Zi’liêng hiện có khoảng hơn 2.000 cây Pơmu có độ tuổi từ 250 năm đến trên 1.000 năm. Pơmu thuộc họ hoàng đàn, gỗ được xếp vào nhóm A2 quý hiếm. Ảnh: Thanh Hòa

Một cây Pơmu khổng lồ to vài người ôm. Ảnh: Thanh Hòa

Bộ rễ khổng lồ của gốc Pơmu cổ thụ tạo thành một chiếc hang lộ thiên khá lớn trên mặt đất. Ảnh: Thanh Hòa

Một cây Pơmu chết đã lâu còn trơ lại khối lõi cứng nằm bất chấp mưa gió giữa rừng già. Ảnh: Thanh Hòa

Con người trở nên nhỏ bé trước sự kì vĩ của “Vương quốc Pơ Mu” ở Tây Giang. Ảnh: Thanh Hòa 

Gốc Pơmu có hình dáng như một con hổ đang thu mình ngồi im với vẻ mặt đầy bí hiểm. Ảnh: Thanh Hòa 

Ở Việt Nam rừng Pơmu có nhiều, nhưng hiếm và đặc biệt như ở Tây Giang có lẽ chỉ có một. Thậm chí giới nghiên cứu còn đánh giá rừng Pơmu cổ của Tây Giang là một trong những quần thể rừng Pơmu lớn nhất, có giá trị nhất khu vực Đông Nam Á. Tại đây, trên đỉnh Zi’liêng nằm ở độ cao 1.400m so với mực nước biển, trong diện tích khoảng 450ha là cả một quần thể Pơmu cổ với khoảng hơn 2.000 cây, trong đó có 725 cây đã được công nhận là Cây di sản. Ngoài ra, trong rừng hiện còn khoảng gần 80 cây Pơmu bị sét đánh hoặc do gió bão, già nua mà chết đổ xuống còn nằm nguyên tại chỗ. Nhiều cây sau cả trăm năm phơi sương gió bị mục nát, chỉ còn lại phần lõi rắn như thép và phủ đầy rêu xanh trông rất kỳ lạ.

Phó Chủ tịch huyện Tây Giang ARất Blúi cho biết, Tây Giang có câu: “Rừng còn Tây Giang phát triển, rừng mất Tây Giang suy vong”. Vì vậy, trước vấn nạn phá rừng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng như hiện nay, chính quyền và nhân dân Tây Giang quyết tâm bằng mọi giá phải bảo vệ rừng, bảo vệ cho bằng được “vương quốc” Pơmu cổ quý hiếm của mình với bằng tất tình yêu đối với nguồn di sản vô giá của đồng bào mình.

Pơmu có tên khoa học là fokienia hodginsii (dunn), thuộc họ hoàng đàn (cupressaceae), gỗ được xếp vào nhóm A2 quý hiếm. Theo số liệu điều tra khảo sát của Huyện Tây Giang, quần thể Pơmu cổ đã được kiểm đếm, có tổng số 2.011 cây, được phân bố trên diện tích 450ha ở độ cao 1.400m so với mực nước biển, tập trung tại địa bàn hai xã Tr’hy và Axan (thuộc huyện Tây Giang). Trong đó hiện có 725 cây đã được công nhận là Cây di sản. Đây là những cây có độ tuổi từ 250 năm đến trên 1.000 năm. Cây lớn nhất có đường kính 3,5m, chu vi thân 11m, chiều cao dưới tán gần 20m và có độ tuổi 1.328 năm.

Bài và ảnh: Thanh Hòa

Tân Châu – Điểm đến du lịch kỳ thú - 3

đăng 03:03, 13 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Kỳ III: Thăm “thủ phủ” cá giống, trải nghiệm du lịch tâm linh

Tân Châu quả là điểm đến du lịch (DL) kỳ thú bởi khi du khách đến đây, ngoài đi DL làng nghề, trải nghiệm văn hóa lịch sử, tâm linh của một vùng đất, du khách còn được tìm hiểu thêm một nghề mỗi năm mang về cho đất nước 2,2 tỷ USD, giải quyết 500.000 lao động có việc làm ổn định, đó là nghề nuôi và chế biến cá tra xuất khẩu.

Thăm "thủ phủ" cá tra 

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, ở An Giang, nghề nuôi và chế biến cá tra xuất khẩu được hình thành và phát triển rất sớm. Đầu tiên, ngư dân Tân Châu bắt cá basa bột ngoài thiên nhiên mang về ương nuôi lên thành con giống, sau đó bán cho những hộ nuôi cá thương phẩm, nuôi phục vụ chế biến xuất khẩu. Dần về sau, sản lượng xuất khẩu cá basa ngày càng tăng, con giống không đáp ứng nổi nhu cầu của các hộ nuôi cá basa nguyên liệu. Ngoài vấn đề con giống, thời gian nuôi cá basa phải mất từ 10 - 12 tháng, trong khi con cá tra nuôi chỉ 6 tháng đã xuất bán. 

Trước thực tế này, ngư dân đầu nguồn Tân Châu nghĩ ra cách, vớt cá tra bột ngoài thiên nhiên mang về thuần dưỡng và cho sinh sản nhân tạo để chủ động nguồn giống phục vụ xuất khẩu. Khi những container cá basa đầu tiên của Việt Nam xuất sang Hoa Kỳ (năm 1996) thì ngay lập tức, sản phẩm đã chinh phục được người tiêu dùng tại đây và các nhà xuất khẩu đã nhanh chóng đưa cá basa, cá tra sang các thị trường khác như: EU, Nga, Trung Quốc. 

Về Tân châu, du khách sẽ được thưởng thức các tiết mục đờn ca tài tử do những nghệ nhân địa phương phục vụ 

Trải qua gần 3 thập niên, nghề nuôi và chế biến cá tra xuất khẩu đã trở thành một ngành hàng mang tính chủ lực của ĐBSCL. Tại An Giang, nếu Tân Châu là “thủ phủ” của cá basa, cá tra giống thì ở các địa phương như: Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, TP. Long Xuyên, ngư dân bắt con giống cá tra ở Tân Châu về thả nuôi thành cá thương phẩm phục vụ xuất khẩu. 

Ông Nguyễn Thanh Hoàng, hộ nuôi cá tra giống ở xã Vĩnh Hòa (TX. Tân Châu) cho biết, lợi thế của 2 dòng sông Hậu, sông Tiền là lưu tốc dòng chảy lớn, nước sạch quanh năm và giàu ô-xy nên ngư dân Tân Châu sớm phát triển nghề ương nuôi cá bột, cá giống. Để có con bột, ngư dân các xã: Vĩnh Hòa, Tân An, Vĩnh Xương đã may đáy đặt cá bằng lưới vải mùng. Lưới được căng giữa sông để vớt bột cá basa, cá tra. Khi có con bột ngoài thiên nhiên, ngư dân mang về thuần dưỡng, nuôi lên thành cá giống để cung cấp cho toàn vùng ĐBSCL. 

Trải nghiệm du lịch tâm linh 

Diện tích nuôi cá basa, cá tra giống ban đầu chỉ vài héc-ta, đến năm 1997 và 1998, diện tích ao chuyên làm cá giống của thị xã lên gần 200ha. Nhiều ngư dân đã nhanh chóng giàu lên từ nghề này. Từ con giống thiên nhiên, ngư dân mang về thuần dưỡng và cho cá tra sinh sản nhân tạo để chủ động về nguồn cung. Thành công này đã mở ra triển vọng rất lớn cho ngành công nghiệp cá tra và đỉnh cao của ngành hàng này là kim ngạch xuất khẩu năm 2018 đạt 2,23 tỷ USD, giải quyết 500.000 lao động cả nước có việc làm ổn định. 

Ngày hội Văn hóa - thể thao và du lịch dân tộc Chăm là sản phẩm du lịch độc đáo ở miền Tây 

Thăm “thủ phủ” cá tra giống, du khách sẽ có dịp cùng ngư dân lênh đênh trên sông để dớt cá tra bột vào mùa nước nổi, thu hoạch cá giống vào mùa khô, xuống bè cho cá ăn vào sáng sớm hoặc chiều tối để trải nghiệm cuộc sống cùng ngư dân. Du khách sẽ được ở lại trên bè vào ban đêm để nghe đờn ca tài tử, thưởng thức cùng ngư dân những món ăn ngon của địa phương như: cá tra nhúng mắm, cá tra kho lạt dầm me ăn với rau sống, bông súng, bông điển điển, rau muống bóp xổi, cá tra đúc lò, cá tra chiên sả, cá tra nấu cà ri và nhiều món ăn thú vị khác. 

Đến với Tân Châu, ngoài tham quan các cơ sở sản xuất cá giống của ông Ba Hoàng, của Công ty Cổ phần Việt Úc An Giang, thăm làng bè trên sông Cái Vừng, lênh đênh cùng du thuyền trên sông Kênh Xáng và nghe vọng cổ hoài lang, du khách còn được các hướng dẫn viên DL đưa đi tham quan các địa danh văn hóa, lịch sử như: Giồng Trà Dên, chùa Giồng Thành, Núi Nổi, chùa Bửu Sơn Kỳ Hương, mộ Sư Ông, thăm và tìm hiểu về khu nghĩa địa người Chăm tồn tại trên 100 năm và cùng nhiều di tích khác trên địa bàn. 

Du khách dạo quanh TX. Tân Châu bằng phương tiện xe lôi đạp 

Thời gian gần đây, để đẩy mạnh phát triển lĩnh vực DL trên địa bàn, TX. Tân Châu đã hợp tác với Trường Đại học tôn Đức Thắng thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển DL TX. Tân Châu giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030". Đề tài hướng đến xây dựng một mô hình mẫu thực tế theo mô hình DL sinh thái gắn với DL làng nghề và văn hóa Chăm. Xác định các khu, tuyến, điểm DL, các sản phẩm DL chủ yếu. Xây dựng hệ thống chương trình tham quan trên địa bàn thị xã và liên tuyến trong tỉnh. Cùng với đó là công tác tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực quản lý và kỹ năng làm DL cho cán bộ quản lý, công ty DL và người dân địa phương. Đây là việc làm mang tính căn cơ nhằm giúp DL Tân Châu phát triển mạnh và bền vững. 

“Để DL phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn, những năm qua, TX. Tân Châu đã tập trung đầu tư hạ tầng phục vụ DL thông qua việc đẩy mạnh thu hút đầu tư trên địa bàn. Việc hoàn thành và đưa vào sử dụng cầu Tân An có ý nghĩa rất lớn trong việc kết nối giao thông, giúp việc tham quan DL của du khách từ nội địa ra biên giới sẽ nhanh hơn. Ngoài nguồn lực bên ngoài, địa phương còn vận dụng nhiều nguồn lực khác để nâng cấp các tuyến đường nội ô thị xã, xây dựng tuyến phố văn minh… Tất cả nhằm đưa DL trở thành một ngành mũi nhọn của địa phương” - Phó Chủ tịch UBND TX. Tân Châu Trần Hoàng Hải chia sẻ. 


Bài, ảnh: MINH HIỂN - YẾN NGỌC

Tân Châu - điểm đến du lịch kỳ thú - 2

đăng 02:45, 13 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Kỳ II: Thăm làng nghề truyền thống tơ lụa Tân Châu

Trước dịch bệnh COVID-19, các tour du lịch (DL) mang tên “Sông nước miệt vườn, “Một lần ghé làng Chăm”, “Về thủ phủ cá tra”… rất ăn khách. Nằm trong hành trình tour, du khách sẽ được ghé thăm làng nghề truyền thống tơ lụa Tân Châu (An Giang). Đây là làng nghề có tuổi đời trên 100 năm. Sản phẩm Lãnh Mỹ A của làng nghề đã nổi tiếng khắp năm châu bốn biển. 

Chuyện xưa 

Làng nghề truyền thống tơ lụa Tân Châu được hình thành từ những năm đầu của thế kỷ XX. Sản phẩm nổi tiếng của làng nghề là mặt hàng Lãnh Mỹ A. Nổi tiếng bởi nó mềm mại, dai, bền và độ hút ẩm cao. Lãnh Mỹ A được làm từ chất liệu tơ tằm tự nhiên nên vừa có giá trị về mặt mỹ thuật, vừa có giá trị về mặt kinh tế, sản phẩm thân thiện với môi trường. 

Các trang phục may từ lụa Tân Châu nói chung, Lãnh Mỹ A nói riêng đều mang đến cho người mặc cảm giác thoải mái, mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông, vì lẽ đó mà trong những năm đầu của thế kỷ XX, Lãnh Mỹ A trở thành “niềm mơ ước” của chị em phụ nữ. 

Nghệ nhân dùng trái mặc nưa để nhuộm Lãnh Mỹ A 

Bà Trần Thị Lãnh (năm nay 92 tuổi) là công nhân của một hãng dệt nổi tiếng trong làng cho biết, khi bà ra đời, vùng đất Tầm Phong Long này đã có nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa. Chính sự phát triển rất sớm của nghề truyền thống này nên Tân Châu xưa kia rất thịnh vượng, có cả thương cảng sầm uất để dân trong vùng giao thương với thế giới bên ngoài. Sản phẩm tơ lụa từ đây theo đường tàu biển sang tận các quốc gia như: Indonesia, Ấn Độ, Singapore, Philippines, Pháp, Ý để phục vụ giới quý tộc, thượng lưu. 

Giao thương thế giới sớm phát triển, hàng hóa thiết yếu phục vụ đời sống con người tại các quốc gia này đã được các thương nhân đầu tiên của Việt Nam như: Bạch Thái Bưởi, Trịnh Văn Bô (những người có đội tàu mạnh nhất Việt Nam thời đó) đưa về nước để phân phối ra toàn vùng. Chính từ đó mà ở Tân Châu, lĩnh vực thương mại - dịch vụ cũng sớm hình thành và phát triển cho đến nay. 

Không gian trưng bày sản phẩm lụa Tân Châu của Cơ sở Dệt nhuộm Hồng Ngọc 

Để có được 1m Lãnh Mỹ A hoặc vải gấm, quá trình sản xuất phải trải qua rất nhiều công đoạn. Trước tiên phải trồng dâu nuôi tằm, lấy tơ. Khi có tơ thì người thợ chọn tơ tốt để quay vào suốt chỉ rồi dệt thành miếng. Lãnh Mỹ A thời đó có 2 loại: khổ 8 tấc và 1m. Khi đã dệt nên những tấm vải, các thợ dệt sẽ xoay qua công đoạn nhuộm màu. Màu được chọn là màu đen, vì vậy để có màu đen bóng loáng, người thợ nhuộm phải dùng trái mặc nưa nhuộm cho vải rồi sau đó mang đi phơi. Vừa phơi, vừa nện để sản phẩm đẹp, bóng. 


Lãnh Mỹ A của Tân Châu từ lâu đã gắn liền với tính cách của những thiếu nữ nết na, mỹ miều nhưng luôn đảm đang, tháo vác, yêu lao động. Những tính cách đó đến nay vẫn là niềm tự hào của những người phụ nữ ở An Giang. Hình ảnh đó đã đi vào thơ ca, nhạc họa với những câu thơ như: “Trai nào thanh bằng trai sông Của/ gái nào thảo bằng gái Tân Châu/ Tháng ngày dệt lụa trồng dâu/ Thờ cha, nuôi mẹ quản đâu nhọc nhằn…”. 

Chuyện nay 

Ngày nay, đến với xứ lụa, du khách sẽ có được những khoảnh khắc được sống hòa mình cùng cộng đồng, thiên nhiên để khám phá nét văn hóa, con người, khám phá về một vùng đất xưa nay rất nổi tiếng. 

Tại đây, trong không gian náo nhiệt của một làng nghề, du khách sẽ cảm nhận được sự thân thiện, hiếu khách của những nghệ nhân, công nhân trong làng nghề; có thể hòa mình cùng các anh, các chị trải nghiệm các hoạt động mang tính thường nhật như: hái trái mặc nưa mang về nhuộm vải, ngồi cùng thợ dập hàng để biết được nỗi khổ cực của người thợ dệt hay cùng các mẹ, các dì uống trà, nghe đọc thơ, hò vè về nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa…. 

“Thời của tôi, chị em phụ nữ nào may được bộ đồ bằng Lãnh Mỹ A thì xem như sang trọng lắm. Ngay cả vải “xá xị Xiêm”, một loại lụa Thái Lan nức tiếng thời đó cũng không thể sánh bằng. Lãnh Mỹ A đã từng được giới hoàng tộc, thượng lưu của các quốc gia phát triển ưa chuộng…”- bà Lãnh cho biết thêm. 

Khách du lịch tìm mua sản phẩm của làng nghề 

Phó Chủ tịch UBND TX. Tân Châu Trần Hoàng Hải cho biết, làng tơ lụa Tân Châu đã được nhà nước công nhận là nghề truyền thống vào ngày 24-5-2007. Từ đó đến nay, nhà nước luôn có nhiều chính sách hỗ trợ cho các cơ sở trong lĩnh vực xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm, tìm thị trường tiêu thụ, gắn hoạt động làng nghề với DL để các cơ sở cùng nghệ nhân tiếp tục phát triển, vươn ra hội nhập. 

Với sự tiếp sức trên, nhiều chủ hãng dệt đã nhanh chóng khôi phục lại ngành nghề truyền thống của ông cha, cụ thể tổ chức trồng lại cây mặc nưa, sửa lại khung dệt, thuê nhân công có tay nghề cao để phát triển ngành hàng. Đi đầu trong công tác này có gia đình ông Tám Lăng, gia đình bà Lê Thị Kiều Hạnh ở phường Long Châu. 

Nếu gia đình bà Hạnh phục hồi và phát triển làng nghề theo hướng vừa tạo ra sản phẩm có giá trị, vừa kết nối tour, tuyến tham quan DL để bán hàng thì gia đình ông Tám Lăng lại nghiên cứu làm cho Lãnh Mỹ A có thêm nhiều màu sắc, tạo cho khách hàng có nhiều sự lựa chọn và sản phẩm thêm phong phú, đa dạng. Từ thành công này, nhà tạo mẫu thời trang Võ Việt Chung đã chọn dòng sản phẩm Lãnh Mỹ A làm chất liệu chính cho đề tài tốt nghiệp của mình tại Ý. 

Và cũng từ chất liệu này, nhiều bộ sưu tập do Võ Việt Chung sáng tác đã được trình diễn khắp thế giới, từ đó làm cho Lãnh Mỹ A tiếp tục hồi sinh và phát triển. Tân Châu, thật sự là điểm đến DL kỳ thú, bởi tại đây, ngoài thăm làng Chăm, làng nghề truyền thống tơ lụa, du khách còn được thăm “Thủ phủ” cá tra giống, trải nghiệm văn hóa tâm linh, tìm hiểu lịch sử của một vùng đất và nhiều sản phẩm DL khác. 

“Hiện nay, mặt hàng Lãnh Mỹ A sản xuất từ tơ tằm tự nhiên rất được khách hàng ưa chuộng, đặc biệt là khách DL. Ngoài mua để mặc, sản phẩm còn được dùng làm quà tặng rất có giá trị. Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, nguồn khách DL không còn, để duy trì sản xuất, cơ sở đã chuyển sang dệt các mặt hàng gấm, đưa đi tiêu thụ trong nước…” - bà Lê Thị Kiều Hạnh (chủ cơ sở dệt nhuộm Hồng Ngọc, TX. Tân Châu) chia sẻ.


Bài, ảnh: MINH HIỂN – YẾN NGỌC

Tân Châu - điểm đến du lịch kỳ thú - 1

đăng 02:34, 13 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Nói đến TX. Tân Châu (An Giang), người dân cả nước không chỉ biết đến là vùng biên giới có thương mại – dịch vụ phát triển mà nơi đây còn nổi tiếng là điểm đến du lịch (DL) kỳ thú ở miền cực Nam Tổ quốc. Đến Tân Châu, ngoài thăm làng lụa, làng lúa, làng hoa, du khách còn có dịp đến làng Chăm thưởng thức những món ăn đặc sản địa phương, tìm hiểu văn hóa lịch sử của một vùng đất, thăm “Thủ phủ” cá tra, nơi sản xuất con giống cung cấp cho cả nước, trải nghiệm DL sông nước miệt vườn và ngắm nhìn thiên nhiên kỳ thú. 

KỲ I - Du lịch làng Chăm 

An Giang có 4 dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, Khmer cùng sinh sống. Ở mảnh đất đầu nguồn này, mỗi dân tộc đều có nền văn hóa, truyền thống, bản sắc và tập tục riêng. Nếu bạn có dịp về An Giang, hãy một lần ghé qua làng Chăm để biết được tập quán sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) Chăm, thăm các thánh đường hồi giáo với những kiến trúc đẹp, ăn các loại bánh đặc sản như bánh tổ chim (do chính tay phụ nữ Chăm làm) và tìm hiểu những tập tục đẹp mà người Chăm bao đời còn gìn giữ. 

Sân khấu phục dựng đám cưới người Chăm 

Từ tìm hiểu lễ hội … 

Từ lâu, tour DL làng Chăm đã trở thành một sản phẩm DL độc đáo, mang sắc thái riêng của khách lữ hành trong cả nước. Đến với làng Chăm, du khách sẽ có một hành trình khám phá văn hóa, con người, một vùng đất mà xưa nay rất nổi tiếng. Đến đây, trong không gian yên tĩnh của vùng quê, du khách sẽ cảm nhận được sự thân thiện, hiếu khách của bà con dân tộc; được hòa mình cùng đồng bào DTTS Chăm để trải nghiệm các hoạt động mang tính thường nhật như: chèo xuồng đánh bắt cá cùng các chàng trai, dệt sà rông, khăn choàng tắm hay thêu đan cùng các cô gái; uống trà đinh lăng, trò chuyện với các cụ già, vui chơi, đùa giỡn với trẻ con… 

Đến với làng Chăm, du khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng các thánh đường Hồi giáo uy nghi bên dòng sông Hậu với lối kiến trúc độc đáo và những bến nước có những chiếc ghe ngo đẹp mắt. Đây là phương tiện để thanh niên các xóm tham gia đua ghe trong Ngày hội Văn hóa, thể thao và du lịch (VH-TT&DL). 

Cộng đồng Hồi giáo Chăm An Giang hiện có 11.171 người (chiếm 0,58 % so dân số cả tỉnh). Đồng bào DTTS Chăm sinh sống bằng nghề mua bán nhỏ, chăn nuôi bò, dê; dệt vải, thêu đan, đánh bắt thủy sản và một số ít làm nông nghiệp; nhiều năm qua các hoạt động giao lưu VH-TT&DL được duy trì, phát triển. Lĩnh vực giáo dục được chú trọng đầu tư, góp phần đẩy lùi nhiều hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan. 

Đồng bào DTTS Chăm An Giang sinh sống cặp theo các triền sông, tập trung ở 9 xã, phường thuộc 3 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố. Người Chăm An Giang theo đạo Islam, mỗi ngày cúng lạy 5 lần và sinh hoạt tôn giáo ở 12 thánh đường, 16 tiểu thánh đường. Các ngày lễ lớn về tôn giáo, dân tộc hàng năm được tổ chức rất long trọng như: lễ đón mừng tháng Ramadan, lễ kỷ niệm ngày sinh Thiên sứ Nabi Muhammad (S.A.W) và Ngày hội VH-TT&DL. Hiện nay, Ngày hội VH-TT&DL đã trở thành một sản phẩm DL đặc sắc ở miền Tây sông nước. 

Ngày cưới, bà con trong xóm đến chúc mừng cho đôi nam nữ được hạnh phúc 

…Đến những tập tục đẹp 

Tại ngày hội VH-TT&DL, nhiều hoạt động vui chơi, giải trí đã được diễn ra như: thi đấu bóng đá, bóng chuyền, chạy việt dã, kéo co, đẩy gậy, mỗi loại hình thu hút rất nhiều người tham gia. Ngày này, đồng bào DTTS Chăm các nơi (trong trang phục truyền thống lộng lẫy, đầy màu sắc) đã đến các sân thi đấu thể thao, cổ vũ cho đội nhà. Các cổ động viên, người thì đánh trống, người cầm băng-rol reo hò, múa hát, cổ vũ tinh thần cho đội nhà. Những buổi thi đấu thể thao đã thực sự trở thành ngày hội của các nam thanh, nữ tú trong xóm. Đây cũng là dịp để mọi người quen nhau, nhiều trường hợp sau một thời gian tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. 

Ban ngày xem thi đấu thể thao, buổi tối du khách được xem các đội văn nghệ ở 9 xóm Chăm trong tỉnh thi thố tài năng với các màn trình diễn trang phục, phục dựng thông qua hình thức sân khấu hóa những lễ hội truyền thống của đồng bào DTTS Chăm như: lễ cưới, lễ Ramadan, Roya; xem trình tấu các tiết mục hòa tấu nhạc cụ truyền thống. 

“Tour DL làng Chăm thật ý nghĩa. Về đây được ngắm bến Châu Giang, được thả hồn theo điệu trống baranưng và cùng các tràng trai, cô gái ngồi uống cà-phê ngắm dòng sông Hậu hiền hòa thì rất thích. Những món ăn của người Chăm nấu cũng tuyệt vời. Em thích nhất là món cà-ri ăn với cơm nị, ngoài ra còn có món Cà Púa, bánh tổ chim, thật tuyệt vời…” - em Trần Thị Lan Hương (quận 7, TP. Hồ Chí Minh) chia sẻ. 

Nghề dệt sà rông, khăn choàng tắm được người Chăm duy trì đến ngày hôm nay 

Đến với làng Chăm, du khách được nghe dân làng chia sẻ những câu chuyện hay, những tập tục đẹp được duy trì bao đời nay, đó là những nghĩa cử cao đẹp trong "nhường cơm, sẻ áo", giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống. 

“Là người Chăm theo đạo Islam, tín đồ phải làm từ thiện cùng một số quy định khác. Những người có điều kiện phải trích ra 2,5% trên tổng thu nhập để chia sẻ cho những người nghèo. Chính việc "Nhường cơm, sẻ áo" đã giúp cho bà con trong cộng đồng ngày càng gắn bó nhau hơn...” - ông Haji Jacky, Trưởng ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang, chia sẻ. 

Tour DL làng chăm ngày nay đã trở thành một trong những tour DL hấp hẫn du khách của các hãng lữ hành - khi đưa khách về ĐBSCL, về vùng sông nước miệt vườn. Nằm trong hành trình tour này, các hãng lữ hành sẽ đưa du khách đến với làng nghề truyền thống tơ lụa Tân Châu, tham quan mô hình trồng dâu nuôi tằm, trồng mặc nưa để nhuộm ra mặt hàng Lãnh Mỹ A cùng nhiều sản phẩm khác. 


“Ngày hội VH-TT&DL dân tộc Chăm được tổ chức 2 năm 1 lần nhằm giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào và đây cũng là dịp để quảng bá hoạt động VH-TT&DL, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc anh em…”- Phó Chủ tịch UBND TX. Tân Châu Trần Hoàng Hải khẳng định.

Bài, ảnh: MINH HIỂN - YẾN NGỌC

Về miền sông Trà – Núi Ấn

đăng 01:41, 11 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 04:12, 13 thg 12, 2020 ]

Hình ảnh ngọn núi Thiên Ấn và dòng sông Trà Khúc từ lâu đã trở thành biểu tượng đặc trưng của miền đất Quảng Ngãi. Hình ảnh ấy không chỉ ăn sâu vào lòng người dân xứ Quảng, mà còn được nhiều bạn bè, du khách thập phương ngưỡng vọng. Giờ đây, xung quanh hay địa danh này đã trở thành điểm nhấn để tỉnh điểm nhấn để xứ Quảng phát triển du lịch và kinh tế. 

Thập nhị thắng cảnh xứ Quảng 

Sông Trà Khúc phát nguồn từ núi Đắc Tơ Rôn với đỉnh cao 2.350 m, rồi hợp nước của bốn con sông lớn là sông Rhe, sông Xà Lò (Đắk Xà Lò), sông Rinh (Drinh), sông Tang (Ong). Sông từ đó chảy theo hướng Đông qua ranh giới các huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, thành phố Quảng Ngãi và đổ ra cửa Đại Cổ Lũy. Điểm nhấn của sông Trà Khúc là đến Tp. Quảng Ngải thì gặp Núi Thiên Ấn nằm trầm tư, lặng lẽ bên bờ sông. Núi Thiên Ấn và sông Trà Khúc là hình ảnh in sâu trong tâm thức người Quảng Ngãi, được mệnh danh đệ nhất danh lam thắng cảnh của vùng đất nơi đây.

Lưu vực và cận lưu vực sông Trà Khúc là nơi tụ hội nhiều cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo khá tiêu biểu của Quảng Ngãi. Trong số 12 cảnh quan thiên nhiên được người xưa gọi là “kỳ thú” của Quảng Ngãi (Quảng Ngãi thập nhị cảnh) có 4 thắng cảnh nằm ven sông Trà Khúc: Thiên Ấn niêm hà, Long Đầu hý thủy, Cổ Lũy cô thôn, Hà Nhai vãn độ và nhiều thắng cảnh khác hiện ra trong tầm quan sát từ điểm nhìn đỉnh núi Thiên Ấn như: Thiên Bút phê vân, Thạch Bích tà dương, An Hải sa bàn, Thạch Ky điếu tẩu … 

Toàn cảnh bãi biển Mỹ Khê (Tp. Quảng Ngãi) nơi sông Trà Khúc đổ ra biển. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Du khách tham quan tháp trong khuôn viên chùa Thiên Ấn trên đỉnh núi Ấn. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Tượng đài Sơn Mỹ thuộc Khu chứng tích Sơn Mỹ (hay Khu chứng tích Mỹ Lai) ở thôn Tư Cung, xã Tịnh Khê, Tp. Quảng Ngãi. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm 

Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Trà Khúc đoạn chảy qua xã Tịnh Long, TP. Quảng Ngãi. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Sản xuất đường phèn ở Nghĩa Dũng (Tp Quảng Ngãi). Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Hợp tác xã đóng tàu thuyền Cổ Lũy (xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi) nằm ở vùng giao thoa giữa hai dòng nước sông Trà Khúc và sông Phú Thọ. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm 

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Hát bả trạo tại lễ ra quân nghề cá ở Sa Huỳnh, thị xã Đức Phổ. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm 

Nghề chế biến thủy sản khô ở Sa Huỳnh, thị xã Đức Phổ. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm 

Nghề trồng hành tỏi trên huyện đảo Lý Sơn. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Thuyền thúng phục vụ du khách lặn ngắm san hô ở xã An Bình, huyện Lý Sơn. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm 

Sông Trà Khúc hợp với núi Thiên Ấn (núi Ấn – sông Trà) thành cặp biểu tượng sông – núi của vùng đất Quảng đã được Nhà Nguyễn dưới triều vua Minh Mạng (1835) cho khắc vào Cửu đỉnh. Cửu Đỉnh gồm chín cái đỉnh đồng, mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với một thuỵ hiệu của mỗi vị hoàng đế triều Nguyễn. Trên mỗi đỉnh chạm khắc 17 bức họa tiết và 1 bức họa thư, gồm các chủ đề về, núi sông của đất nước Việt Nam thống nhất thời Nhà Nguyễn.
Sông Trà Khúc hình thành nên giao thương đường thủy và tạo nên “tiểu vùng văn hoá sông Trà Khúc” bao quát một địa bàn khá rộng và ảnh hưởng rõ nét lên khắp tỉnh Quảng Ngãi. Xứ Quảng đặc sắc về văn hoá tinh thần, trong đó có vốn ca dao, dân ca, vô cùng phong phú, gồm nhiều câu hò, điệu hát gắn liền với môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường giao thương sông nước một thời.

Dọc đôi bờ sông Trà còn có những làng nghề thủ công nổi tiếng như Làng rèn (Tịnh Minh – Sơn Tịnh), Làng giá (Xóm Vạn – Sơn Tịnh), Làng rau xanh Sung Tích (Sơn Tịnh), Thanh Khiết (Tư Nghĩa), Làng hoa (Nghĩa Hà, Nghĩa Hòa), Làng chiếu Cổ Lũy Bắc (Sơn Tịnh), Cổ Lũy Nam (Phú Thọ -Tư Nghĩa) - hai địa danh này nay đều thuộc TP Quảng Ngãi … Đặc biệt là nghề nấu đường muỗng, chế biến đường phèn, đường phổi nổi tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc…

Trên mỗi chặng đường sông nước là những bến sông, nơi các “bạn ghe” có thể tạm dừng nghỉ qua đêm hoặc trao đổi hàng hóa, và cũng là nơi có những chuyến đò ngang, qua lại đôi bờ. Liền với các bến sông, thường là những “trường hát hố”, nơi diễn ra những cuộc hát hò, hát hố vào những đêm trăng, những hội chơi bài chòi vào dịp tháng giêng, ngày Tết.

Gần cửa Cổ Lũy sông Trà Khúc, nếu chúng ta đứng ở Cổng Tam quan trên đỉnh núi Phú Thọ nằm bên thắng cảnh Cổ Lũy Cô Thôn, phóng tầm mắt nhìn là một vùng bao la bát ngát của Công viên địa chất Lý Sơn – Sa Huỳnh đang đề nghị UNESCO công nhận. Xa xa, huyện đảo Lý Sơn nổi lên xanh mướt giữ biển Đông, nơi quê hương của Hải đội Hoàng Sa, nơi được mệnh danh là Maldives của Việt Nam, đang phát huy vai trò đảo tiền tiêu, là điểm nhấn để du lịch cho quê hương Núi Ấn- Sông Trà cất cánh. 

Ánh sáng công nghiêp nơi hạ lưu sông Trà Khúc

Con sông Trà Khúc mang nguồn phù sa từ trên đỉnh núi thiêng Đắc Tơ Rôn, trườn qua bao núi đồi trùng điệp, qua những miền trung du đổ ra cửa biển ở Cổ Lũy tại thành phố Quảng Ngãi. Cuối sông, nơi dòng nước ngọt hòa vào đại dương, nơi con sông hoàn thành xứ mệnh 135 km chuyên chở phù sa văn hóa đã hành thành nên một tam giác công nghiệp ở ba huyện Bình Sơn- Sơn Tịnh- Tp Quảng Ngãi hiện đại của khu vực miền Trung.
Khu kinh tế Dung Quất - huyện đảo Lý Sơn - TP Quảng Ngãi đang hình thành tam giác phát triển nơi ven sông Trà Khúc. 3 vùng kinh tế trọng điểm này chính là đòn bẩy, tạo ra sợi dây liên kết để thúc đẩy kinh tế Quảng Ngãi phát triển.

Một dấu mốc quan trọng của tỉnh Quảng Ngãi là năm 1997, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Khu kinh tế Dung Quất, mà trái tim là Nhà máy Lọc dầu Dung Quất ở huyện Bình Sơn. Sau khi Nhà máy Lọc dầu Dung Quất chính thức đi vào vận hành vào đầu năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi tăng đột biến, đóng góp từ 70- 80% nguồn thu ngân sách của tỉnh Quảng Ngãi.

Từ khi nhà máy đi vào vận hành đã xử lý gần 70 triệu tấn dầu thô, đưa ra thị trường khoảng 65 triệu tấn sản phẩm. Đóng góp nguồn thu ngân sách quốc gia tương đương 7,5 tỷ USD, lợi nhuận của nhà máy đạt mức 1 tỷ USD. Một trong những nhân tố rất quan trọng, dự án là đầu tàu, điểm kích hoạt cho tất cả các hoạt động công nghiệp khác trong khu kinh tế.

Và 16 năm sau, vào năm 2013 hạ nguồn sông Trà Khúc lại đón nhận thêm tin vui khi dự án Khu Công nghiệp- Dịch vụ- Đô thị VSIP Quảng Ngãi động thổ trước sự chứng kiến của Thủ tướng hai nước Việt Nam và Singapore. Với những cơ chế, chính sách hỗ trợ tích cực và cam kết cụ thể của chính quyền địa phương, Khu Công nghiệp-Dịch vụ- Đô thị VSIP Quảng Ngãi nhanh chóng xây dựng hoàn thiện các hạng mục và đi vào hoạt động. Trong giai đoạn 1, VSIP Quảng Ngãi đã đầu tư 360 ha có hạ tầng hoàn chỉnh nhằm tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư.

Bảo dưỡng đường ống dẫn dầu xuống cảng xuất sản phẩm tại Nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Nhập thiết bị công nghiệp nặng qua Cảng Dung Quất. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Xuất khẩu dăm gỗ tại Cảng Dung Quất. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Trung tâm điều khiển Nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Dây chuyển sản xuất sản phẩm Thạch Bích ở Tp. Quảng Ngãi. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Chế tạo sản phẩn công nghiệp nặng tại Doosan Vina thuộc Khu kinh tế Dung Quất. Ảnh: Nguyễn Đăng Lâm 

Đến nay, Khu công nghiệp- Dịch vụ- Đô thị VSIP Quảng Ngãi đã thu hút được 25 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký đầu tư 821 triệu USD, có 12 dự án đã đi vào hoạt động, giải quyết việc làm cho trên 11.000 lao động. (số liệu mới nhất tại ĐH Đảng tỉnh). Chỉ riêng năm 2018, lượng vốn đầu tư thu hút vào khu công nghiệp này đạt hơn 350 triệu đô la Mỹ, chiếm hơn 90% tổng vốn FDI đầu tư vào tỉnh Quảng Ngãi. Ngoài các nhà đầu tư Đài Loan, Phillipine, Singapore, Hồng Kong, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, một tín hiệu đáng mừng là đầu năm 2019, VSIP Quảng Ngãi thu hút thêm nhiều nhà đầu tư từ Châu Âu. Đây là minh chứng cho “đất lành” Quảng Ngãi trong thu hút đầu tư.

Thành công từ Khu công nghiệp VSIP Quảng Ngãi đã mở ra hướng đi mới trong phát triển công nghiệp, chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp tại địa phương. VISIP Quảng Ngãi đã giải quyết việc làm cho 7.000 lao động- đoạn này bỏ trùng với trên mới thêm vào. Dự kiến, thời gian tới khi 25 dự án đi vào hoạt động sẽ giải quyết 35.000 lao động địa phương có việc làm ổn định. Hiện tại, Khu Kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp ở Quảng Ngãi cũng đã giải quyết việc làm cho gần 40.000 lao động.

Sự thành công của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và Khu công nghiệp-Dịch vụ- Đô thị VISIP trở thành hạt nhân thu hút các dự án công nghiệp tại Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp. Thời gian qua công tác thu hút đầu tư đối với lĩnh vực công nghiệp được chú trọng và đạt nhiều kết quả tích cực. Riêng trong giai đoạn 2016 đến tháng 3/2020, Khu Kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi đã thu hút được 164 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư 150.622 tỷ đồng; trong đó, có 32 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 798 triệu USD. Giải quyết việc làm cho khoảng 52.400 lao động. Tỉnh Quảng Ngãi trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Việc thu hút được các dự án đầu tư hạ tầng KCN như: Dự án Khu Công nghiệp - Đô thị - Dịch vụ VSIP và Khu Đô thị - Công nghiệp Dung Quất tiếp tục tạo điều kiện thu hút được nhiều dự án đầu tư lớn, đặc biệt là các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào KKT Dung Quất, mở rộng hơn cơ hội thu hút đầu tư, tiếp cận nhiều hơn với khoa học công nghệ tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế trên địa bàn. Việc phát huy lợi thế của Khu Kinh tế Dung Quất, Khu VSIP sẽ tạo động lực lan tỏa đến các vùng khác trong tỉnh cũng như đẩy mạnh mối liên kết liên tỉnh, liên vùng và quốc tế.

Những thành tựu đã đạt được trong những năm qua, đặc biệt là giai đoạn 2016 - 2020 là điều kiện, tiền đề, động lực cho việc phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian đến, đặc biệt là giai đoạn 2021-2025.

Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020-2025, tỉnh Quảng Ngãi xác định: Hỗ trợ các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án công nghiệp trọng điểm trên địa bàn KKT Dung Quất và các KCN tỉnh sớm đi vào hoạt động phát huy hiệu quả như: Nâng cấp, mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, cảng tổng hợp - container Hòa Phát, dự án Thép Hòa Phát mở rộng... Phấn đấu trong giai đoạn 2021 - 2025, Khu Kinh tế Dung Quất và các KCN Quảng Ngãi thu hút khoảng 1,0 - 1,5 tỷ USD; đến năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 950 triệu USD, giải quyết việc làm cho hơn 77.000 lao động.

Những dự án nằm ở nơi sông Trà Khúc hòa vào đại dương đã mở ra nhiều triển vọng mới, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo nền tảng để Quảng Ngãi sớm trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại trong tương lai.

Bài và ảnh: Nguyễn Đăng Lâm

Châu Đốc - “Vương quốc” mắm Nam Bộ

đăng 00:04, 11 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cùng với lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được tổ chức hàng năm, TP. Châu Đốc (An Giang) còn nổi tiếng với đặc sản mắm. Thật không ngoa khi cho rằng, Châu Đốc là “Vương quốc” mắm của Nam Bộ, bởi ở đây có nhiều cơ sở chế biến hàng chục loại mắm khác nhau. Với nhiều hương vị độc đáo, mắm Châu Đốc là một trong những món quà không thể thiếu khi du khách đến tham quan, du lịch. 

Châu Đốc là vùng đất giàu truyền thống, từng ghi đậm dấu ấn của các danh tướng, những bậc tiền hiền có công khai phá, mở mang bờ cõi, giữ vững biên cương Tổ quốc. Ngoài ra, Châu Đốc còn nổi tiếng với những danh lam, thắng cảnh nổi tiếng, thu hút đông du khách thập phương như: khu du lịch núi Sam, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Hang… 

Nhờ có vị trí địa lý đặc thù, nằm bên cạnh sông Hậu cùng hệ thống sông ngòi chằng chịt nên nơi đây có nguồn lợi thủy sản phong phú, đa dạng về chủng loại. Cũng chính nhờ “món quà quý” thiên nhiên ban tặng này, từ lâu các hộ dân nơi đây đã hình thành và phát triển nghề làm mắm cho đến nay. Theo các bậc cao niên ở đây cho biết, ngày xưa do trên các con sông, kênh, rạch có quá nhiều cá, tôm… nhất là vào mùa nước nổi, người dân đánh bắt khá nhiều, ăn không hết nên làm mắm, làm khô để dùng dần. Đây là cách dự trữ nguồn thực phẩm khá hiệu quả và phổ biến vào thời điểm đó, vì có thể để lâu. Nếu trước đây, mắm làm ra để ăn vì nhà nào cũng làm, còn bây giờ mắm làm ra để bán. 

Đến TP. Châu Đốc, du khách sẽ được thưởng thức các loại mắm đặc sản khác nhau, từ mắm cá lóc, mắm cá trèn, mắm cá linh cho đến mắm sặc, cá chốt, cá mè vinh… Tuy nhiên, thông dụng nhất vẫn là mắm thái - loại mắm được làm từ thịt cá lóc xắt nhỏ thành từng sợi trộn với đu đủ. Cũng có người gọi mắm thái là mắm ruột vì sợi cá lóc được cắt thành từng miếng trông giống như ruột gà. 

Chỉ với những thành phần cơ bản như vậy mà qua đôi bàn tay khéo léo của người thợ đã cho ra đời một loại mắm mang hương vị độc đáo, làm say đắm biết bao nhiêu người. Mắm thái dễ thưởng thức, những cọng đu đủ giòn giòn, thịt cá lóc tan trong miệng… đôi khi chỉ cần dùng với cơm trắng là có thể thưởng thức trọn hương vị. 


Mắm Châu Đốc nổi tiếng gần xa bởi hương vị độc đáo, giá cả phải chăng 

Đối với các loại mắm khác thì có nhiều cách thưởng thức khác nhau như: ăn sống, chưng, hay kho… Một trong những “bạn đồng hành” quen thuộc với các món mắm là trái cà. Nếu ăn mắm sống, chưng hoặc kho thì dùng tay bẻ nhỏ trái cà phổi, cà tím để ăn, chứ cắt bằng dao sẽ không ngon. Ngoài cá, nhiều người còn sử dụng nhiều loại rau sống như: bông súng, điên điển, rau dừa, rau nhút… để chấm với mắm. 

Hiện nay, ở TP. Châu Đốc có rất nhiều cơ sở làm mắm và hàng trăm cửa hàng kinh doanh mắm các loại. Mỗi cơ sở có một “bí quyết” chế biến khác nhau nên hương vị mắm cũng khác nhau, phù hợp với đại đa số người tiêu dùng. Những cơ sở làm mắm ngon đều có tính cách gia đình và gia truyền. Trong đó có nhiều cơ sở nổi tiếng được người dân và du khách khắp nơi biết đến, như: mắm Bà Giáo Khỏe, mắm Bà Giáo Thảo, mắm 9999, mắm 6666… Ngoài việc sản xuất để bán thị trường trong nước, mắm còn được xuất khẩu sang Campuchia. 

Mỗi năm, TP. Châu Đốc đón hàng triệu lượt khách đến tham quan, du lịch. Điều này đã góp phần làm cho làng nghề làm mắm ở địa phương vốn đã có nền tảng vững chắc ngày càng trở nên thịnh vượng và phát triển. Để giữ chân khách hàng, những người làm nghề mắm ngày càng chú ý đến việc đầu tư trang thiết bị sản xuất, cải tiến quy trình, thay đổi mẫu mã để vừa nâng cao chất lượng sản phẩm, vừa có mẫu mã, bao bì đẹp, tiện dụng, giúp khách hàng ở xa có thể mua làm quà tặng người thân. 

Bên cạnh các mặt hàng mắm nổi tiếng còn có cá đồng làm khô, với hàng trăm loại được bày bán tại “Vương quốc” mắm Châu Đốc. Nổi tiếng nhất là các loại khô: cá lóc, cá tra phồng, cá sặc, cá chạch, cá chốt, cá lòng tong… Giá bán các loại khô dao động từ vài chục đến vài trăm ngàn đồng/kg. 

Việc tận dụng món thiên nhiên ban tặng, cộng với kinh nghiệm làm mắm gia truyền mang đến cho TP. Châu Đốc một đặc sản riêng, điểm nhấn trong phát triển du lịch. 

ĐÌNH ĐỨC

1-10 of 21

Comments