Những chuyến đi, những khám phá... và có cả những suy tư.

Bài mới

  • Trên vùng đất hạn Ninh Thuận Từ tháng 4 đến tháng 7 hằng năm là mùa khô hạn nhất ở tỉnh Ninh Thuận, biến vùng đất này thành một tiểu sa mạc, sản xuất nông nghiệp ...
    Được đăng 18:59, 21 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Du lịch sinh thái Trà Nhiêu, Quảng Nam bị bỏ quên? Làng du lịch sinh thái Trà Nhiêu ở tỉnh Quảng Nam có nhiều lợi thế để phát triển du lịch, thế nhưng, gần 7 năm qua, làng du lịch này ...
    Được đăng 21:24, 20 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sa Huỳnh, thân thuộc mà bí ẩn "Hỡi mình biển đẹp vô ngần/ Sáng xanh như đến dừng chân Sa Huỳnh" (Xuân Diệu). Sa Huỳnh (Sa Huỳnh môn) vốn là tên gọi một cửa biển. Địa danh ...
    Được đăng 02:28, 15 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bình Châu, vùng di tích vẫy gọi Xã biển Bình Châu (Bình Sơn) có những di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp. Nơi đây luôn vẫy gọi du khách thập phương. Đến ...
    Được đăng 02:04, 15 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Thành tựu sau một thế kỷ của ngành khảo cổ học Việt Nam Với 300 báu vật được coi là những phát hiện quan trọng nhất trong hơn một thế kỷ của ngành khảo cổ học Việt Nam, không gian trưng bày chuyên ...
    Được đăng 02:36, 15 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Trên vùng đất hạn Ninh Thuận

đăng 18:59, 21 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Từ tháng 4 đến tháng 7 hằng năm là mùa khô hạn nhất ở tỉnh Ninh Thuận, biến vùng đất này thành một tiểu sa mạc, sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Trong cuộc mưu sinh trên đất đai khô cằn, người dân Ninh Thuận đã ứng phó với biến đổi khí hậu, phủ lên vùng đất khô hạn đầy nắng gió này một màu xanh của sự phát triển. 

Nơi đồng khô nắng cháy

Dù mới chỉ là đầu mùa khô nắng nhưng cây cỏ ở hai thôn Đồng Dày và Tham Dú (xã Phước Trung, huyện Bác Ái) hầu như đã chết khô. Có chăng chỉ còn loài cây xương rồng, gai đâm tua tủa được trồng để làm hàng rào giữa các thửa đất, do đây là loài cây mà bầy dê, cừu không thể ăn được.

Do lượng mưa năm 2017 thấp cùng với đặc thù về địa hình và thời tiết nắng nóng khiến cho các hồ thủy lợi ở Ninh Thuận dần khô cạn gần như trơ đáy, không có nước tưới cho cây trồng cũng như nước uống cho đàn gia súc.

Trong suốt hai tháng 3 - 4 / 2018, nhiều hồ chứa nước trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận như hồ Phước Nhơn (xã Phước Trung, huyện Bác Ái) đã cạn kiệt nước, khiến cho cây trồng khô héo, đàn gia súc của các hộ dân đang chật vật tìm thức ăn. Ảnh: Trọng Chính


Đàn cừu hơn 1000 con của ông Trần Cao Hòa, được anh Đào Quang Lơ lùa đi chăn sớm, để chúng kiếm được nhiều thức ăn hơn. Ảnh: Nguyễn Luân


Vào mùa khô, ở vùng tâm hạn của Ninh Thuận như hai thôn Đồng Dày và Tham Dú (xã Phước Trung, huyện Bác Ái), những người chăn cừu như Anh Đào Quang Lơ phải lùa cừu vào tận thung lũng dưới chân núi khoảng 10km với hy vọng là đi càng xa càng dễ kiếm được thức ăn cho chúng. Ảnh: Trọng Chính.


Kiểm tra số lượng đàn cừu ở một nông trại cừu sau một ngày đi kiếm ăn xa trở về chuồng. Ảnh: Trọng Chính 


Tỉnh Ninh Thuận có khoảng 150.000 hộ chăn nuôi với số lượng đàn gia súc tính đến cuối năm 2017 là hơn 112 nghìn con bò; hơn 137 nghìn con dê và hơn 160 nghìn con cừu.
(Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Ninh Thuận). 

“Chỉ mới đầu mùa nắng hạn mà đàn cừu của tôi đã chết gần trăm con do thiếu thức ăn, nước uống. Mùa này nuôi cừu cầu hòa là mừng lắm rồi”, ông Trần Cao Hòa là chủ trại có đàn cừu hơn 1000 con, chua chát nói.

Những ngày thực tế ở các huyện Bác Ái, Thuận Nam, Thuận Bắc - nơi là trung tâm vùng nắng hạn, rất dễ bắt gặp những đàn cừu, đàn bò trơ xương nhẫn nại gặm cỏ khô, ăn rơm rạ cầm cự đợi mùa mưa về.

“Mùa này chăn cừu cực lắm, phải lùa cừu vào tận thung lũng dưới chân núi khoảng 10km với hy vọng là đi càng xa càng dễ kiếm được thức ăn cho chúng” chị Lê Thị Thu Linh, người nhận thuê chăn đàn cừu gần 400 con ở thôn Đồng Dày cho biết.

Nông trại trên vùng tiểu sa mạc

Trước thực trạng của biến đổi khí hậu toàn cầu, nên nhiều năm qua, tỉnh Ninh Thuận đã có chủ trương chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp để thích nghi với hạn hán. Chính vì thế mà dọc theo đường ven biển thuộc địa phận xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước là hàng loạt những hồ nuôi tôm sinh học nổi bật trên vùng cát trắng. Cả tỉnh hiện có khoảng 900ha nuôi tôm trên cát, tập trung nhiều nhất ở xã Phước Dinh.

Một trong những trang trại nuôi tôm lớn nhất trong vùng là của gia đình anh Võ Thành Vũ, thôn Sơn Hải. Với diện tích rộng 3,5ha, trang trại tôm của anh Vũ đều lót bạt ở phía dưới để giữ nước theo phương pháp nuôi tôm trên cát, màn che phía trên để giảm thiểu lượng ánh sáng vào ao. Ngoài ra còn có các hệ thống máy quạt nước hiện đại, hệ thống cho ăn, thiết bị quan trắc môi trường, cùng với hệ thống xử lý nước thải được đầu tư bài bản.

“Nuôi tôm sinh học trên cát theo phương pháp ứng dụng công nghệ cao đòi hỏi phải bỏ vốn đầu tư lớn, như trang trại của tôi đã đầu tư hết 5 tỷ đồng cho 12 ao nuôi chính. Hai vụ đầu tôi đã thu lại 2.5 tỷ đồng, hiện nay vừa thả thêm vụ thứ ba, nếu thuận lợi tôi sẽ thu lại vốn”, anh Võ Thành Vũ cho biết.

Rời trang trại nuôi tôm ở xã Phước Dinh, chúng tôi đến vùng đồi cát Nam Cương ở thôn Tuấn Tú (xã An Hải, huyện Ninh Phước) đã thấy mát mắt bởi hàng chục ha măng tây do các hộ nông dân người dân tộc Chăm trồng, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Trang trại măng tây lớn nhất trong vùng mà chúng tôi ghé thăm là của vợ chồng ông Hùng Ky, một người Chăm nổi tiếng nhờ trồng măng tây thu lợi nhuận cao.

Hiện có khoảng 900ha diện tích nuôi tôm sinh học trên cát ở Ninh Thuận, trong đó tập trung nhiều nhất ở xã Phước Dinh (huyện Ninh Phước). Ảnh: Nguyễn Luân


Trang trại trồng măng tây có diện tích 2ha xanh giữa vùng cát trắng (thôn Tuấn Tú, xã An Hải, huyện Ninh Phước) theo tiêu chuẩn VietGAP của Công ty Linh Đan. Ảnh: Nguyễn Luân


Vợ chồng ông Hùng Ky, bà Từ Thị Hẹn, một gia đình người dân tộc Chăm nổi tiếng nhờ trồng măng tây thu được lợi nhuận cao. Ảnh: Trọng Chính


Măng tây thành phẩm ở Ninh Thuận với giá thành dao động từ 60.000 – 90.000, hiện là nông sản mang lại lợi nhuận kinh tế cao. Ảnh: Nguyễn Luân 


Năm 2012, nhận thấy cây măng tây thích hợp với khí hậu và thổ nhưỡng khô hạn, nắng nóng, cộng với giá thành cao, ông Ky mạnh dạn vay vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất lên 2,4ha, trong đó phần lớn diện tích thực hiện phương pháp tưới nước nhỏ nhằm tiết kiệm nước. Hiện tại, giá măng tây trừ các chi phí, dự kiến một ngày ông thu lợi khoảng một triệu đồng.

Cách không xa trang trại ông Hùng Ky, một trang trại khác có diện tích hơn 2ha măng tây được trồng theo tiêu chuẩn VietGAP của Công ty Linh Đan đang vào vụ thu hoạch. Măng tây tươi và trà măng tây hiện là hai sản phẩm chủ lực của Công ty, với thị trường tiêu thụ chủ yếu ở các nhà hàng, siêu thị ở các thành phố lớn. Ngoài ra, Công ty Linh Đan còn là đơn vị cung cấp cây giống, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đồng thời bao tiêu sản phẩm cho bà con nông dân.

Ngoài ra, nhiều mô hình nông nghiệp khác ở Ninh Thuận như: trồng rong nho ở thị trấn Khánh Hải, làm muối trải bạt ở huyện Ninh Hải, trồng giống nho hồng ngắn ngày ở Thái An… bước đầu mang lại lợi nhuận kinh tế cao. Người dân Ninh Thuận đã từng bước vượt lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sống và phát triển kinh tế trên chính vùng đất sa mạc khô cằn.

Những trang trại nho ở Ninh Thuận hiện đang góp phần nâng cao giá trị sản phẩm từ cây nho cũng như mang lại một hình thức du lịch độc đáo, hấp dẫn du khách đến vùng đất khát này.

Trang trại nho Ba Mọi nổi tiếng nhất Ninh Thuận hiện là điểm đến có tiếng mà bất kỳ nhà tổ chức tour nào đến Ninh Thuận cũng đưa du khách đến đây trải nghiệm. Với 2ha vườn nho và táo, trang trại nho Ba Mọi đón trung bình 1.000 khách mỗi tháng.

Ngoài trang trại nho Ba Mọi, những năm gần đây làng nho Thái An, xã Vĩnh Hải (huyện Ninh Hải) cũng là điểm du lịch tham quan vườn nho hấp dẫn ở Ninh Thuận.

Những trang trại nho ở Ninh Thuận hiện đang góp phần nâng cao giá trị sản phẩm từ cây nho cũng như mang lại một hình thức du lịch độc đáo, hấp dẫn du khách trong hành trình khám phá Ninh Thuận. Ảnh: Trọng Chính


Ông Nguyễn Văn Mọi, người nông dân thuần hậu của vùng đất khát là chủ trang trại nho Ba Mọi nổi tiếng nhất Ninh Thuận. Ảnh: Trọng Chính 


Trang trại nho Ba Mọi đón trung bình 1.000 khách mỗi tháng đến tham quan và mua các đặc sản tại đây. Ảnh: Nguyễn Luân 


Du khách tự do tham quan, thưởng thức nho ngay tại vườn nhà chị Nguyễn Thị Phượng ở làng nho Thái Ân (xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải). Ảnh: Trọng Chính 


Rượu vang Phan Rang, một sản phẩm chất lượng và nổi tiếng mang thương hiệu Trang trại Ba Mọi. Ảnh: Nguyễn Luân 


Anh Lê Tuấn Khanh đang thực hiện công đoạn chiết xuất và đóng nắp sản phẩm siro nho Phan Rang

tại trang trại nho Ba Mọi với công suất 300 chai/1 ngày. Ảnh: Trọng Chính 

Với lợi thế nằm trên trục đường 702, cung đường du lịch ven biển được coi là đẹp nhất Việt Nam, chạy qua Vườn quốc gia Núi Chúa, thẳng đến vịnh Vĩnh Hy, làng nho Thái An với những vườn nho xanh tươi bạt ngàn, những chùm nho chín mọng trên giàn đong đưa hấp dẫn du khách.

Chúng tôi vào thăm vườn nho Lang Phượng khi đang có rất đông du khách. Theo chị Nguyễn Thị Phượng, chủ vườn nho này cho biết thì du khách đến vườn nho được tự do tham quan và thưởng thức nho ngay tại vườn. Sau đó khách có thể chọn và tự cắt những chùm nho mình thích để mua về.

Cùng đi với chúng tôi, Phó Chủ tịch xã Vĩnh Hải Nguyễn Hải Đăng cho biết hiện xã có trên 180ha diện tích trồng nho, với khoảng 400 nhà vườn, mỗi năm có thể thu hoạch 3 vụ nho với sản lượng từ 2,5 - 3 tấn nho/sào/vụ. Các chủ vườn đều được học các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ du lịch, tiếng Anh, học cách pha chế… nhằm phục vụ du khách một cách tốt nhất.

Mô hình trồng nho kết hợp với du lịch tham quan vườn hiện nay được đưa vào khai thác một cách mạnh mẽ, vừa góp phần nâng cao giá trị sản phẩm từ cây nho vừa mang lại một hình thức du lịch độc đáo, hấp dẫn du khách trong hành trình khám phá Ninh Thuận./.

Bài: Sơn Nghĩa - Ảnh: Trọng Chính, Nguyễn Luân

Du lịch sinh thái Trà Nhiêu, Quảng Nam bị bỏ quên?

đăng 21:24, 20 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Làng du lịch sinh thái Trà Nhiêu ở tỉnh Quảng Nam có nhiều lợi thế để phát triển du lịch, thế nhưng, gần 7 năm qua, làng du lịch này rất vắng khách.

Trà Nhiêu là một vùng quê yên bình. Nơi đây có gần 10 ha rừng dừa nước, với nhiều làng nghề thủ công độc đáo. Lúc mới lập làng du lịch sinh thái, người dân ở đây phấn khởi làm du lịch trải nghiệm. Sau gần một năm hoạt động, làng du lịch ngày càng vắng khách. 

Nghề dệt chiếu cói ở Trà Nhiêu giờ chỉ có những người già làm, và rất ít khi khách du lịch mua. 


Gia đình bà Nguyễn Thị Thưa, ở làng Du lịch sinh thái cộng đồng Trà Nhiêu làm nghề dệt chiếu hơn 30 năm nay. Bà Thưa cho biết, từ khi Trà Nhiêu trở thành điểm du lịch sinh thái cộng đồng, có ngày bà không đón được một người khách nào. Nếu khách ghé thăm, họ cũng không mua sản phẩm gì. 

Bà Thưa cho biết, những người trẻ tuổi không sống được bằng nghề truyền thống, kéo nhau đi làm công nhân hay vào phục vụ tại các nhà hàng, khách sạn ở thành phố Hội An. 

Gần 10 ha rừng dừa ở Trà Nhiêu, xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam chưa được khai thác đúng tiềm năng. 


Làng Trà Nhiêu có nhiều ngành nghề để phát triển du lịch trải nghiệm như: nghề chài lưới trên sông, nghề chiếu cói truyền thống,... Du khách về Trà Nhiêu có ngày gần 1.000 khách, nhưng đến rồi đi, không mua quà lưu niệm cũng chẳng tham gia các hoạt động du lịch trải nghiệm. 

Ông Nguyễn Sáu, Chủ tịch UBND xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cho biết, tháng 7/2010, làng du lịch sinh thái cộng đồng Trà Nhiêu chính thức ra đời, mở ra nhiều cơ hội cho người dân địa phương về phát triển du lịch. Đã có doanh nghiệp vào làm dịch vụ du lịch tại đây nhưng không hiệu quả. 

Ông Nguyễn Sáu cũng lo lắng khi hoạt động du lịch ở đây gặp nhiều khó khăn: "Đối với Trà Nhiêu, địa phương đã xác định xây dựng du lịch sinh thái cộng đồng từ năm 2010. Tuy nhiên, từ đó đến nay việc đầu tư gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù là tỉnh, huyện, xã cũng đã đầu tư kinh phí tạo điều kiện để phát triển hoạt động du lịch cộng đồng tại địa phương. Bây giờ quan trọng nhất là phải có doanh nghiệp đầu tư." 

Nghề chài sông nước bao năm nay vẫn không được tận dụng để phát triển du lịch. 


Ông Khương Hưu, Trưởng Ban điều hành làng Du lịch sinh thái Trà Nhiêu, xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cho biết, có thời điểm khách đến làng rất đông nhưng cộng đồng lại thu lợi không đáng bao nhiêu. Cả khu rừng dừa giao cho công ty tư nhân quản lý, mỗi khi khách đến thì thuê dân chèo chở khách tham quan rừng dừa, sau đó trả tiền công khoảng 15.000 đồng - 20.000 đồng mỗi chuyến. 

Khi khách vào xem nghề dệt chiếu cói tại nhà dân, họ cũng chỉ trả 20.000 đồng - 30.000 đồng. Nếu đòi cao hơn thì không dẫn khách tới nữa. Có một nghịch lý là khách du lịch vẫn đông nhưng làng du lịch Trà Nhiêu vẫn “chết”. 

Mới đây, UBND tỉnh Quảng Nam chấp thuận chủ trương cho Công ty TNHH Du lịch Hội An – Trà Nhiêu làm chủ đầu tư phát triển du lịch trên diện tích khoảng 25 ha với tổng mức đầu tư là 90 tỷ đồng. Khu du lịch sinh thái hoạt động với mô hình kinh doanh sản phẩm du lịch bền vững kết hợp với các yếu tố về giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên. 

Ồng Khương Hưu, Trưởng Ban điều hành làng Du lịch sinh thái Trà Nhiêu, xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cho biết: "Kế hoạch của tỉnh và UBND xã sẽ thu hồi giấy phép hoạt động của Công ty Phú Vinh và chuyển giao cho Công ty Hội An - Trà Nhiêu. Công ty này được UBND tỉnh cho phép hoạt động trong vùng sinh thái 25 ha, sắp tới sẽ quy hoạch lại đường rừng dừa nhưng quan trọng phải giữ nguyên cảnh quan, vì đó là hơi thở của làng".

Phương Cúc

Sa Huỳnh, thân thuộc mà bí ẩn

đăng 02:11, 15 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:28, 15 thg 5, 2018 ]

"Hỡi mình biển đẹp vô ngần/ Sáng xanh như đến dừng chân Sa Huỳnh" (Xuân Diệu). Sa Huỳnh (Sa Huỳnh môn) vốn là tên gọi một cửa biển. Địa danh này dần về sau còn dùng để chỉ một vùng đất, một khu vực địa lý nằm ở cực Nam tỉnh Quảng Ngãi, nay thuộc địa phận các xã Phổ Thạnh, Phổ Khánh và Phổ Châu, huyện Đức Phổ.


Một góc Sa Huỳnh. ẢNH: TL 


Từ phía tây, một nhánh núi của hệ Trường Sơn quay đầu về phía đông, nhoài ra cửa Sa Huỳnh. Trên bộ, núi ngang tàng khép hẳn dải đồng bằng Nam – Ngãi. Dưới biển, núi thất thế, chìm nghỉm, để lại những ghềnh đá, hòn nổi lô nhô như ghềnh Châu Me, hòn Khỉ, hòn Đụn, hòn Dù...


Vẻ đẹp độc đáo của Sa Huỳnh là sự hài hoà, đắm đuối giữa trời và biển, giữa núi và rừng. Xanh biếc biển, xanh thẳm trời, xanh mơn mởn rừng dương, xanh miên man rừng sườn đồi. Bãi cát vàng, đồng muối trắng, mái nhà ngói đỏ ẩn hiện dưới hàng dừa, tảng đá xám rêu khuất sau mờ sóng. Thoáng cánh buồm nâu hun hút xa, lắc lư mé biển đôi thuyền thúng... 
Sa Huỳnh nghĩa là cát vàng, bắt nguồn từ màu vàng óng ả của bãi cát dài chạy miên man theo mé biển. Vì kỵ húy tên của chúa Nguyễn Hoàng - ông tổ của các vua nhà Nguyễn và chúa Nguyễn, nên Hoàng đọc chệch thành Huỳnh.


Bình minh lên, Sa Huỳnh bắt đầu một ngày hè chan hòa ánh nắng. Thuyền về sớm, cá chuồn, cá trích đầy khoang. Những chàng ngư dân dạn dày sóng gió, phơi trần bộ ngực, cười nói oang oang. Đồng muối Tân Diêm bắt đầu vào vụ, những cô nàng diêm dân che kín khuôn mặt sau lớp khăn quấn xuống tận cổ, chỉ chừa lại đôi mắt sáng long lanh.

Chiều nghiêng nắng, thiên nhiên Sa Huỳnh lại có những chuyển động sắc màu mà các họa sĩ bậc thầy của chủ nghĩa ấn tượng cũng khó lòng diễn tả. Ánh tà dương phản chiếu lấp lánh dọc biển cát vàng rồi ngời lên trên những đụn muối trắng. Từng hạt muối trắng tinh của thứ muối biển nổi tiếng trong cả nước bỗng chốc biến thành những viên ngọc muôn màu...

Hồi đầu thế kỷ XX, các nhà khảo cổ học M.Vinet, Madame Labare, M.Colani đã phát hiện ở Sa Huỳnh hàng loạt mộ chum và nhiều hiện vật tiêu biểu của một nền văn hoá bị chìm khuất trong lịch sử, mà đến lúc đó giới khoa học chưa từng biết. Các kết quả khai quật nghiên cứu hàng thế kỷ nay và vẫn còn tiếp tục, cho thấy trên dải đất từ Bắc Trung Bộ đến Đông Nam Bộ, vòng lên núi cao, đổ ra thềm biển; từ thời đồ đồng đến sơ kỳ sắt, đã từng hiện diện một nền văn hoá độc đáo của nhân loại và được định danh bằng khái niệm “Văn hoá Sa Huỳnh” (The Sa Huynh culture/ La Culture Sa Huynh). Gò Ma Vương, đầm nước ngọt An Khê, đầm nước mặn Tân Diêm, những động cát ở Thạnh Đức, Phú Khương, Long Thạnh đã, đang và sẽ còn sức hút đặc biệt đối với các nhà khoa học trên khắp thế giới. 


Hiện vật gốm Văn hóa Sa Huỳnh. 


Sa Huỳnh còn nổi tiếng bởi món mắm nhum mà không phải ai cũng biết, kể cả người Quảng Ngãi. Con nhum (nhím biển, cầu gai) đã hiếm, nhum làm được mắm lại hiếm hơn. Rồi phải là bàn tay khéo léo của những bà mẹ, bà chị Sa Huỳnh mới có mắm nhum ngon. Chỉ là mắm mà ngày trước ông hoàng, bà chúa tận ngoài Huế đâm thèm, bắt quan sở tại thu nộp mỗi năm 12 cân. Mắm nhum có tên là “mắm tiến” là vì vậy. Không phải chỉ dân gian truyền khẩu mà còn được chép rõ trong sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn.

Mọi con đường đều dẫn đến... Sa Huỳnh! Cửa biển Sa Huỳnh là nơi hơn 500 năm về trước đoàn thuỷ binh Nam chinh của vua Lê Thánh Tông từng dừng lại nghỉ chân trước khi tiến đánh đầm Thị Nại, rồi thành Chà Bàn. Người Pháp mở đường sắt Bắc - Nam, ga Sa Huỳnh chủ yếu phục vụ cho việc vận chuyển loại muối nổi tiếng ở đây đi khắp Đông Dương. Con đường cổ từ mấy nghìn năm trước, rồi con đường số 1 cùng chạy dọc theo mé biển Sa Huỳnh không biết để đón gió nồm lên hay để nghe câu ca dân gian: "Ngó ra ngoài bãi cát vàng/ Cát bao nhiêu hạt thương chàng bấy nhiêu...". 


Đầm nước ngọt An Khê. 


Bia đá Thạch Bi, xóm Cỏ, xóm Cát, cầu Đá, gò Ma Vương... mỗi cái tên gợi lên bao điều, vừa gần gũi, thân thuộc, vừa giấu một điều gì đó đầy bí ẩn.

Bí ẩn và thân thuộc... như thể Sa Huỳnh!

Bài, ảnh: Lê Hồng Khánh

Bình Châu, vùng di tích vẫy gọi

đăng 02:04, 15 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Xã biển Bình Châu (Bình Sơn) có những di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp. Nơi đây luôn vẫy gọi du khách thập phương. 

Đến vùng biển này, điểm đầu tiên bạn nên đặt chân đến là Di tích lịch sử địa đạo Đám Toái. Từ ngã tư gần trụ sở UBND xã Bình Châu, theo con đường nhựa xuôi về hướng đông, đi qua những mái nhà nằm bên mép biển là đến khu vực địa đạo. 

Vùng biển Vũng Tàu – nơi được mệnh danh là “nghĩa địa tàu cổ”. 


Nơi đây, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước từng đặt Trạm phẫu thuật tiền phương (A100) của Tỉnh đội Quảng Ngãi. Nhiều thương binh trên các chiến trường đông Bình Sơn, Sơn Tịnh được chuyển về đây để cứu chữa. Trong một trận càn, quân đội Mỹ phát hiện địa đạo, chúng bắt loa kêu gọi đầu hàng, nhưng các y, bác sĩ, thương bệnh binh không hề khuất phục. Địch đã dùng mìn đánh sập địa đạo. Tất cả y, bác sĩ, thương bệnh binh đã hy sinh. Sau chiến tranh, hài cốt các liệt sĩ trong địa đạo Đám Toái được đưa về nghĩa trang liệt sĩ an táng.

Năm 1991, nơi đây được công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia. Sau đó, địa đạo được phục dựng và trở thành một trong những “địa chỉ đỏ” để giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

Từ địa đạo Đám Toái đi tiếp một đoạn là đến mũi Ba Làng An. Đứng trên khu vực biển mùa này gió thổi lồng lộng. Từ đây, phóng tầm mắt về phía nam hay nhìn về phía bắc đều thấy núi nhô ra biển. Theo khảo sát của các chuyên gia, tại đây có dấu tích của miệng núi lửa với những cột đá balad và đá bazan độc đáo.

Nằm dưới những cây bàng vuông xanh rì rào trong gió biển là những hàng quán, nơi mà bạn có thể thưởng thức nhiều món ăn, như ốc hấp chấm muối tiêu, cá tươi luộc quấn bánh tráng chấm nước mắm...

Về chiều, khi nước thủy triều xuống, bạn có thể dạo chơi, chụp ảnh nơi gành đá, tha hồ ngắm nhìn những con sóng bạc đầu từ ngoài khơi xô vào bờ tung bọt trắng xóa.

Ở Bình Châu xưa có thắng cảnh An Hải sa bàn, tức "mâm cát làng An Hải". Đây là một trong 12 danh lam thắng cảnh của Quảng Ngãi. "Mâm cát làng An Hải" nay là bến tàu thuyền Sa Kỳ- Lý Sơn. Mặc dù, di tích không còn, nhưng đến nơi đây hỏi về "mâm cát làng An Hải", người già trong làng đều có thể kể rành rọt.

Bình Châu còn là "nghĩa địa tàu cổ". Theo các chuyên gia khảo cổ thì tại Vũng Tàu xưa là nơi neo đậu của những thương thuyền trên hải trình từ Bắc vào Nam. Những rủi ro xảy ra ở vùng biển Vũng Tàu đã làm đắm những con tàu chở đầy vật dụng sinh hoạt. Theo thời gian, tàu đắm trở thành những con tàu cổ. Qua những đợt khai quật, các chuyên gia khảo cổ phát hiện trong những con tàu có khá nhiều bát, đĩa gốm sứ từ nhiều thế kỷ trước. Kể từ đây, cái tên “nghĩa địa tàu cổ” ở Bình Châu ra đời và đã hấp dẫn khách du lịch, lẫn các nhà nghiên cứu.

Theo Ủy viên Hội đồng Di sản Quốc gia, Tiến sĩ Phạm Quốc Quân thì Bình Châu là một trong những vùng biển đẹp nhất Việt Nam, có sự kết hợp hài hòa giữa biển và núi lửa xưa; biển và các di tích như "nghĩa địa tàu cổ", cùng các phong tục tập quán của người Việt và người Chăm vẫn còn lưu giữ trên vùng đất này.

Bình Châu - một vùng di tích đang vẫy gọi!

Bài, ảnh: MAI HẠ

Thành tựu sau một thế kỷ của ngành khảo cổ học Việt Nam

đăng 03:33, 14 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:36, 15 thg 5, 2018 ]

Với 300 báu vật được coi là những phát hiện quan trọng nhất trong hơn một thế kỷ của ngành khảo cổ học Việt Nam, không gian trưng bày chuyên đề "Báu vật Khảo cổ học Việt Nam" tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia (Hà Nội) đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của khán giả trong và ngoài nước. 

Những hiện vật tiêu biểu từ thời Tiền sử đến thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17 – 18) được lựa chọn giới thiệu tới công chúng với ba nội dung chính: Báu vật Khảo cổ học thời Tiền sử; Báu vật Khảo cổ học Thời đại Kim khí và Báu vật Khảo cổ học thời kỳ lịch sử. 

Các hiện vật trưng bày được sắp xếp theo các chủ đề từ thời tiền sử đến thời kỳ phong kiến tại Việt Nam. Báu vật khảo cổ học thời tiền sử Việt Nam tập trung giới thiệu những hiện vật điển hình của một số di tích khảo cổ học tiền sử tiêu biểu thuộc các loại hình, như công cụ lao động, đồ trang sức bằng đá, đồ gốm… được tìm thấy tại các di chỉ thuộc nhiều vùng ở Việt Nam.

Báu vật khảo cổ học thời kỳ kim khí Việt Nam với ba trung tâm văn hoá lớn là văn hóa Đông Sơn ở miền Bắc, văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung, văn hóa Đồng Nai ở miền Nam. Văn hoá Đông Sơn là nền văn hóa thời đại kim khí, có nguồn gốc bản địa, hội tụ và phát triển trực tiếp từ các nền văn hóa tiền Đông Sơn ở 3 lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Lam ở miền Bắc Việt Nam. Các hiện vật được trưng bày theo chủ đề này gồm vòng tay, hạt chuỗi, khuyên tai chất liệu đá thuộc văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu; trống đồng Sao vàng - Thanh Hóa, thạp đồng, chuông đồng thuộc văn hóa Đông Sơn; rìu đồng gót vuông, qua đồng, mũi tên đồng, lưỡi cày đồng, mai, cuốc, lưỡi hái… 

Chuyên đề trưng bày “Báu vật khảo cổ học Việt Nam” được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia (Hà Nội).


Một góc không gian trưng bày chuyên đề “Báu vật Khảo cổ học Việt Nam”.


Du khách được chiêm ngưỡng Trống Sao Vàng (Đồng) của Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay 2.500 - 2.000 năm được tìm thấy tại Thị trấn Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Bảo tàng Lịch sử quốc gia sưu tầm năm 2006.


Quan tài tìm thấy trong mộ cổ Châu Can có chiều dài từ 1,85 đến 2,32m, đường kính trên dưới 0,5m.

Thân cây gỗ ở đây được bổ dọc, nửa dày làm thân, nửa mỏng làm nắp quan tài. Bên trong quan tài, người quá cố được đặt nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng, hai tay đặt song song với thân người bọc bằng những lớp vải mỏng hoặc lớp lá chẻ nhỏ đan lại một cách cẩn thận. Đáng chú ý là ngôi mộ còn có nhiều đồ tùy táng chất liệu đồng: rìu xéo, giáo, lao, gương đồng...và những đồ dùng bằng tre, gỗ, gốm, thậm chí còn có cả hiện vật làm bằng vỏ quả bầu.

Du khách được chiêm ngưỡng Lưỡi cày (Đồng) thuộc Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khỏang 2.500 – 2.000 năm được tìm thấy tại Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội. Lưỡi cày đồng là một laọi hình công cụ sản xuất thể hiện sự phát triển ở trình độ cao trong kỹ thuật luyện kim và canh tác nông nghiệp của cư dân Đông Sơn.


Trống Phú Phương I (Đồng). Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khỏang 2.500 – 2.000 năm. Phát hiện tại xã Phú Phương, Ba Vì, Hà Nội, năm 1973. Du khách còn được ngắm nhìn bản in chi tiết mặt trống bên cạnh hiện vật.


Du khách ngắm nhìn qua kính lúp Linga (Vàng). Thế kỷ 8 – 9 Cát Tiên, Lâm Đồng. 


Văn hóa Sa Huỳnh là một trong ba trung tâm văn hoá khảo cổ thời đại kim khí Việt Nam. Các nhà khảo cổ học Việt Nam đã chứng minh Văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa bản địa tồn tại kéo dài từ thời hậu kỳ đồ đá mới đến đầu thời đại đồ sắt (cách ngày nay khoảng 3.000 - 2.000 năm). Các hiện vật được trưng bày tại đây gồm chuỗi hạt bằng thủy tinh tìm thấy tại Sa Huỳnh, Quảng Ngãi; mộ chum có nắp khai quật tại di chỉ Đồng Cườm, Bình Định; đèn gốm, hạt chuỗi bằng thủy tinh…

Khu vực trưng bày Văn hóa Đồng Nai giới thiệu một số hiện vật như nhóm hiện vật di tích Giồng Cá Vồ năm 1994 (gồm vòng tay, khuyên tai hai đầu thú bằng đá, mã não và thủy tinh), các loại hạt chuỗi, nhẫn, lá vàng là những hiện vật bằng vàng sớm nhất ở Việt Nam, các loại đồ gốm như nồi, cà ràng (chân kiềng), nhóm hiện vật di tích Long Sơn (Bà Rịa – Vũng Tàu), nhóm hiện vật di chỉ Gò Ô Chùa (Long An).

Trưng bày cũng giới thiệu một số trống đồng Đông Sơn phát hiện tại Phú Chánh - Bình Dương, thể hiện sự giao lưu rộng rãi giữa các trung tâm văn hóa thời đại kim khí ở Việt Nam.

Phần khảo cổ học lịch sử giới thiệu đến công chúng nhiều báu vật khảo cổ học Việt Nam 10 thế kỷ đầu công nguyên cùng các nền văn hoá như: Văn hoá Chăm Pa và di sản văn hoá thế giới Mỹ Sơn với các tác phẩm điêu khác đá với thể khối lớn thuộc các phong cách Trà Kiệu - Quảng Nam, Tháp Mẫm - Bình Định như sư tử đá, Garuda, asura sinh ra từ miệng Makara, phù điêu tu sĩ, bia Ponaga…; Văn hóa Óc Eo - Phù Nam với một số nhẫn vàng, mảnh vàng trang trí vishu, mảnh vàng trang trí mặt trời… có niên đại thế kỷ 3 - thế kỷ 6.

Tượng động vật (Đồng). Văn hóa Đồng Nai, cách ngày nay khoảng 2.500 năm. Khai quật tại Dốc Chùa, Tân Uyên, Bình Dương năm 1977. Tượng đúc hình con vật 4 chân, đứng trên bệ hình chữ nhật. Đầu ngẩng cao, mõm dài, miệng rộng.


Mũi tên (Đồng – đá). Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay 2.500 - 2.000 năm Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội.Việc phát hiện kho mũi tên đồng, khuôn đúc mũi tên tại Cổ Loa và những chiếc nẫy nỏ tìm thấy trong các di tích văn hóa Đông Sơn là những bằng chứng vật chất giúp làm sáng tỏ huyền thoại lịch sử về thời kỳ dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Hàng vạn mũi tên đồng cùng hàng trăm khuôn đúc tìm thấy tại đây đã minh chứng Cổ Loa là một trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế lớn của nước Âu Lạc thời An Dương Vương.


Mô hình nhà (Đất nung). Thế kỷ 1 – 3 Bezacier tìm thấy ở Cầu Giấy, Hà Nội, tháng 3/1936. Mô hình nhà là đồ tùy táng được tìm thấy phổ biến trong các ngôi mộ gạch giai đoạn lịch sử 10 thế kỷ đầu công nguyên. Đây là những tư liệu quý để tìm hiểu về đời sống xã hội, kiến trúc... thời kỳ này.


Bình đồng (Đồng). Thế kỷ 1 - 3 Phú Xuyên, Hà Tây. Chiếc bình có phong cách trang trí, kỹ thuật đúc

mang nhiều nét của văn hóa Đông Sơn, chứng minh cho sự bảo tồn văn hóa Đông Sơn cho đến tận những thế kỷ đầu Công nguyên. Đặc biệt, trên một nửa vành miệng có khắc một hàng minh văn gồm 14 chữ Hán: Luy Lâu hồ dung nhất thạch danh viết vạn tuế đệ vị thập lục. Nghĩa là: Bình Luy Lâu, chứa được một thạch, tên gọi là “Vạn Tuế”, là đồ vật thứ 16.

Một góc trưng bày các tượng đá của Champa trong không gian chuyên đề “Báu vật Khảo cổ học Việt Nam”.


Tượng sư tử (Đá cát), thuộc văn hóa Champa, thế kỷ 12-13 được khai quật tại Tháp Mẫm, Bình Định. Sư tử là hình tượng phổ biến trong điêu khắc Champa, là biểu tượng của vương quyền, quý tộc và sức mạnh. Theo truyền thuyết Ấn Độ, sư tử là một trong mười kiếp hóa thân của thần Vishnu và đã giết được quỷ Hiraya Kapipu. Sư tử Champa thường được tạo thân hình vạm vỡ với các tư thế đứng, ngồi, quỳ, phổ biến là tư thế đứng. Trong các đền tháp Champa, tượng sư tử thường được gắn ở chân tháp.


Shiva yogi (Đá cát), thuộc văn hóa Champa, thế kỷ 12-13. (Shiva trong hình ảnh nhà tu khổ hạnh).Khai quật tại Tháp Mẫm, Bình Định năm 2011. Shiva là vị thần tối cao trong Ấn Độ giáo, với nhiều hình thức biểu hiện, hoá thân. Shiva yogi là thần Shiva trong hình thức của một nhà tu hành khổ hạnh đang ngồi thiền (yoga), tay lần tràng hạt, râu tóc mọc dài.


Linga (Thạch anh). Thế kỷ 8 – 9 Cát Tiên, Lâm Đồng. Linga là loại hình đồ thờ, hầu hết những loại hình này đều được làm bằng chất liệu đá sa thạch, kích thước lớn và thường được đặt trước bệ thờ trong đền hoặc ở bên ngoài, khu vực cúng lễ của người dân. Những linga phát hiện tại Cát Tiên có kích thước nhỏ, làm bằng vàng và đá thạch anh là loại hình rất hiếm gặp. Chúng là các đồ quý được mang ra để cúng tế trong các dịp lễ tại các khu đền tháp.


(Từ trái qua phải) Bình tỳ bà, Tượng phụ nữ quý tộc, Ấm Phượng (Gốm Hoa lam) Thười Lê sơ, thế kỷ 15. Tàu cổ Cù Lao Chàm, Hội An, Quảng Nam. Khai quật năm 1997-2000. 


Phần trưng bày báu vật khảo cổ học thời kỳ phong kiến sẽ giới thiệu những hiện vật là những dấu tích thành cổ như: ngói trang trí uyên ương (Hoa Lư - Ninh Bình), gạch xây thành… Đặc biệt giới thiệu những hiện vật tìm thấy tại 2 trung tâm di sản văn hóa thế giới là thành nhà Hồ (Thanh Hóa) và Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội).

Điều đặc biệt là trưng bày này đã tổ chức thành công tại Đức từ năm 2016 - 2/2018, thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng Đức, giúp người dân Đức và châu Âu hiểu biết hơn về đất nước, lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam thông qua các tài liệu, hiện vật. Bên cạnh hoạt động trưng bày, sự hợp tác Việt - Đức còn được phối hợp thực hiện trên các lĩnh vực như: nghiên cứu học thuật, khai quật khảo cổ học, bảo quản, đào tạo, xuất bản…

Bài và ảnh: Công Đạt – Trần Thanh Giang

Mùa ốc “chạy”

đăng 04:47, 10 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Những con ốc biển vượt hàng hải lý, theo thủy triều trôi dạt vào bờ, kẹt lại và chết đi, trở thành đê chắn sóng. Và hành trình ấy cứ đều đặn lặp lại vào mùa gió chướng năm sau.

Những con ốc viết vừa làm đê chắn sóng, vừa là kế sinh nhai của người dân 


1. Hàng năm, vào mùa gió chướng, từ tháng 9 âm lịch năm trước đến tháng 3 âm lịch năm sau, bờ biển Thới Thuận (huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre) được phủ kín bởi hàng triệu con ốc viết. Ông Huỳnh Văn Dũng, một ngư dân gắn bó gần cả đời mình với biển bảo rằng, hiện tượng kỳ lạ này xuất hiện từ vài chục năm qua, từ thuở những cư dân đầu tiên đặt chân đến nơi này. “Bình thường không phát hiện chúng sống ở gần bờ, nhưng đến mùa thì nhiều vô số kể, có thể chúng vượt hành trình hàng hải lý mới đến được đây. Ốc dài, có đầu nhọn tựa cây viết nên dân địa phương gọi là ốc viết” - ông Dũng nói. 

Những con ốc với nhiều màu sắc khác nhau, từ trắng đục đến màu nâu, đỏ vàng, từ to bằng ngón chân, dài 7-8cm đến bé li ti như đầu chân nhang. Sau một hành trình dài rã rời, chúng bị mắc kẹt lại bờ biển, phơi mình dưới nắng rồi chết đi, xác chúng trải dài suốt 7km bờ biển xã Thới Thuận. Lúc bình minh và khi chiều sắp tắt nắng, những chiếc vỏ chấp chới theo từng con sóng, ánh lên lấp lánh như thủy tinh. Những con ốc khác may mắn hơn, bị sóng cuốn trôi dạt vào các vịnh nước nhỏ, ẩn mình dưới bóng mát của hàng dương, hàng đước chắn sóng. Và đấy là thời điểm những ngư dân địa phương canh thủy triều giữa khuya rút, dùng đèn pin soi bắt ốc. 

“Ốc còn sống nằm lẫn với vỏ ốc, điểm phân biệt duy nhất là ốc sống nằm dựng đứng vỏ. Mỗi đêm chúng tôi bắt khoảng chục kg, mỗi kg từ 6.000-12.000 đồng, cũng đủ trang trải cho một ngày” - anh Nguyễn Văn Minh, một ngư dân sống bằng nghề bắt ốc chia sẻ. 

2. Bãi biển phù sa trải dài gần 30km ở Bình Đại ngoài hơn 3.000ha sân nghêu, hàng trăm nhà dân cùng những chòi canh nghêu tạm bợ đúng nghĩa là nơi hoang sơ bởi chưa có hoạt động du lịch. Một ngày ở nơi này bắt đầu với tiếng kêu gần như vô thanh của những con nhạn biển bé xíu trước sóng biển vỗ ầm ầm mùa gió chướng. 

Bầy nhạn dùng chiếc mỏ mảnh khảnh mổ những con bọ biển hay phiêu sinh nấp dưới đám vỏ, rồi chợt liệng cánh ra biển khi phát hiện tốp xe máy của nhóm ngư dân đang vào khu vực hợp tác xã cào nghêu. Thỉnh thoảng, những chiếc xe của ngư dân phải dừng lại vì thủng ruột do đuôi nhọn của vỏ ốc găm vào nhưng sự phiền toái này có nghĩa lý gì so với những lợi ích mà đám vỏ ốc mang lại. 

Theo từng đợt sóng, gió, vỏ ốc bị dạt vào bờ hơn chục mét, nằm dưới chân đê biển, phía sau là hàng dương và rừng đước. Ngày này qua ngày khác, năm này đến năm sau, hàng triệu mảnh vỏ xếp chồng lên nhau. Gió như người thợ xây mang cát bồi lắp và cùng với rễ dây hoa muống biển đan vào, tạo thành lớp thành trì bảo vệ đầu tiên. 

3. Chúng tôi đẩy xe máy vượt qua con đê cao hơn 2 mét được xây bằng vỏ ốc, băng qua những đụn cát nhỏ, hoa muống dại vương đầy dưới chân để vào một chòi canh nghêu của biên phòng. Người cán bộ biên phòng nói với chúng tôi, một thanh niên địa phương hiền lành, một lão ngư dân vui vẻ có thể nói chuyện với bạn suốt cả ngày, nhưng vào ban đêm, họ trở thành những người rất khác. Trong đêm tối, hàng chục và có khi là hàng trăm con người nai nịt gọn gàng, bên hông mang theo chiếc túi nhỏ cùng với cái cào sắt lẳng lặng đi dọc bờ biển. Họ không bắt ốc viết. Họ trộm nghêu. 

Với 2 hợp tác xã sân nghêu đang vào mùa thu hoạch, việc canh giữ tài sản là cần thiết trước vấn nạn “nghêu tặc” lộng hành từ suốt nhiều năm qua. Hàng chục cuộc rượt đuổi vẫn thường diễn ra vào buổi đêm, và khi bị bắt được, những ngư dân da rám nắng, những anh Ba, chú Bảy mắt sâu hoắm, miệng cười bẽn lẽn, trong khi tay còn cầm tang vật có khi chỉ là vài kg nghêu, giá chưa đến 100.000 đồng. 

Bữa cơm tối ở chòi canh nghêu đạm bạc với rau sâm biển nấu với rổ nghêu thịt vừa bắt ở bãi, cùng chút nước ngọt từ cái ao mới đào cạnh chòi và vài con cá biển khô. Gió lúc này bớt hẳn nhưng vừa ăn, chúng tôi vừa phải dụi mắt, lâu lâu lại phải dừng đũa vì cát bay vào chén. Người gác chòi cho hay ở đây không chỉ có ốc “chạy”, mà người cũng phải chạy trước cát biển. Những cái trụ gỗ từ căn chòi cũ hai, ba năm trước cách căn chòi mới hàng chục mét là bằng chứng cụ thể việc biển đang gặm vào đất liền. 

Dĩ nhiên không thể bao biện cho hành vi phạm pháp nhưng ngoài biển ra, phải chăng còn có thứ gì đó rất khác, đã xâm thực, đã khiến những người ngư dân cả đời chân chất bỗng trở thành những bóng đen, mỗi đêm lẳng lặng cào xới đi sự tử tế tự ngàn đời vốn có của mình. 

Nguyệt Nhi-Thường Sơn

Hồn đá và con cháu lão Tôn

đăng 02:45, 7 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Vị sư già chơi với khỉ. 


Ở núi Kỳ Vân, thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ven bờ biển, có một ngọn núi. Núi có nhiều viên đá kỳ dị tuyệt mỹ. Trên núi có “Thiền viện Trúc Lâm Chân Nguyên”. Ở đó có chừng 200 con khỉ sống hoang dã và thân thiện. Người ta ít để ý đến tên chính của Thiền viện, mà cứ gọi khu tu tập giữa danh thắng ấy là “chùa Khỉ”. 

Sững sờ đá, núi 

Chắc chắn núi có trước đàn khỉ. Và các vị tu hành cũng đến sau khi núi đã được ông Đùng bà Đoàng tạo tác nên thắng cảnh này ở ven các bãi biển xanh ngăn ngắt của Phước Hải. Các kiến tạo sững sờ của đá và núi ở Kỳ Vân Sơn đã là tiền đề đầu tiên, tạo nên một sức hút lạ lùng cho không gian chùa Khỉ hiện nay. 

Có những vách đá cao mấy chục mét, vuông rìa sắc cạnh như có bàn tay người khổng lồ đẽo gọt kỳ khu. Có vách đá dựng đứng như tấm bảng kỳ vĩ, các thế hệ người tu hành ở Thiền viện, chỉ việc bắc thang leo lên viết chữ lừng lững trên đó. Trông xa, những lời “mật chú” thiêng liêng dán vào núi như “đạo bùa” quyến mời nhất. 

Đàn khỉ rất đông. 


Qua khỏi khu chính điện của Chân Nguyên, người ta gặp chi chít, lóc chóc, sum vầy khoảng hai trăm con khỉ lớn nhỏ, có con dính bẫy của thợ săn bị cụt cả chân, mấy chục con ôm con trước ngực chạy nhong nhong như chuột túi Kangaroo. Khó ai có thể không tươi vui chộn rộn khi lạc vào cảnh vui này. 

Nhưng khỉ ngắm một chút rồi cũng chán. Núi có linh hồn và bao dung. Vị sư 70 tuổi người gốc ngoài tỉnh Thái Bình, tu thiền trong am thất lợp cỏ (ở đây gọi là “cốc tu”) trên núi Kỳ Vân đã 10 năm, thấy khách xa xuýt xoa với các hòn đá muôn hình vạn trạng, bèn bảo: “Đi theo tôi!”. Ông dành cả một cái chiều muộn để dẫn “đồng hương Bắc Kỳ” leo núi. 

Đây, chỉ trời đất mới sáng tạo được thôi nhé. Một hòn đá như cái cổ rùa, phía trên một hòn đá bằng mấy gian nhà khác lắp khít khịt khịt chồng lên. Hòn đá ấy há đôi ra y như cái miệng cá, miệng rùa. Giữa khe miệng ấy là một hòn đá tròn. Ven đầu rắn rùa là các khía, khấc, các vân vi còn giống rùa hơn cả rùa thật. Chỉ có Phật, Chúa hay ông Trời rất rất có hữu ý, rất rất hài hước và lãng mạn, thì mới để cho “tự nhiên” tạo tác ra những tác phẩm độc nhất vô nhị đến thế. Hoạt động tạo sơn nhiều triệu năm trước, rồi các trốc lở lăn lóc do thiên tai, rồi sự phong hóa đầy duyên phận do nước thời gian gội gọt, lại nữa là sự tàn phá bóp vặn của hệ thống rễ cây qua nhiều thế kỷ. Tất cả đã tạo nên một vườn “kỳ thạch” hiếm có khó tìm ở sau chùa Khỉ. 

Viên đá hình đầu rắn ngậm ngọc. 


Kia là hình cá heo, hình chim phượng hoàng, hình đầu rắn, lại có cả các dáng dũng sĩ mặc áo giáp đứng chênh vênh ngoài mép vực. Lại có hình em bé với cái đầu trọc đang áp vào cơ thể mẹ như là nũng nịu lắm. Lại có những hòn đá bằng nhẵn, dựng thuôn thuôn, vân vi, các vết nứt như hoa văn của gốm sứ men hoa dâu, lại có thứ men rạn lam nham kéo dài như vô tận. Nhà sư viết lên đó ít dòng thơ Thiền bằng Quốc ngữ, có khu “ngài” vung bút lông viết chữ Nho dạng Thảo tung hoành án ngữ cả một góc trời chiều. Rễ cây bò như rắn lượn ôm lấy các hòn đá kỳ dị. Đá cũng mê tơi các câu chuyện đời người. 

Đá hình trái tim, trái tim xếp chon von đỉnh trời, tưởng như chỉ một cơn gió thoảng qua hay một hạt thóc trượt ra khỏi đế kê mỏng manh ấy là viên đá mồ côi có thể lăn từ đỉnh Kỳ Vân Sơn ra tận biển Phước Hải. Đá hình quân tú lơ khơ, đá hình chiếc lá bồ đề của đạo Phật. Có khi hàng chục viên đá xếp lêu bêu lểu bểu lên nhau, tưởng như đụng hờ là đổ sập, vậy mà chúng như vậy hàng triệu năm qua. Rồi vị sư già khám phá ra hang “Xuyên Sơn”, “hang Thần Thông”. Ông dạy tôi cách lách người qua các vệt nứt của đá, cứ thế lần theo từng ngách nhánh tối tăm, vậy mà đi xuyên qua được cả một dãy núi đá khổng lồ! 

Phải nói rằng, nếu ở đâu đó người ta có tâm thức về núi đá hình mặt quỷ, núi yên ngựa hay núi ông voi, là bởi vì núi nào cũng nứt vỡ hoặc tròn u lên, rồi võng xuống giống dáng voi ngựa; thì ở núi Khỉ chùa Khỉ câu chuyện lại khác hẳn. Núi và các hình thù cứ phơi bày ra, không cần phải tưởng tượng. Có được điều đó, ngoài sự huyền diệu của đất trời, còn có dụng ý bảo tồn và điểm xuyết thêm thơ, chữ, cỏ cây của các vị tu hành. Họ là những người có một “giáo lý” hòa mình vào thiên nhiên, nhuận sắc cho núi rừng cây cỏ, để nương vào đó tu tập/ thiền định. Vì thế, sự chăm bẵm núi non của các vị sư rất tinh tế. 

Ôi cái bọn con cháu Tôn Ngộ Không này… 

Hóa ra đàn khỉ hàng trăm con ở trên nhiều ngọn núi. Chúng “di cư” ào ào qua các tán rừng, vượt qua các khu vực kiểm lâm địa bàn thường xuyên đi gỡ bẫy giết thú, qua cả khu Di tích Minh Đạm, qua các ngôi chùa cổ trên đỉnh trời. Còn núi ven chùa Khỉ thì là cái tay nôi không thể tuyệt vời hơn để lũ khỉ trình diễn mọi trò tinh quái. 

Ông già dùng súng cao su đang bắn đuổi khỉ. 


Vị sư già bảo, chúng tôi sợ lũ khỉ lắm. Chúng về vặt hết hoa ở ban thờ Bồ Tát, chúng lay đổ chuông đồng khổng lồ ở chính điện. Chuông vỡ, gõ kêu chỉ rặt rặt. Rơi vỡ cả gạch hoa lát nền. Nhà chùa phải đúc chuông mới. Khỉ mai phục ở mọi ngõ ngách, lấy đồ ăn, lấy đồ của du khách, leo tót lên đỉnh đá trêu ngươi. Lắm người bị đạo chích vui tính ôm cả máy ảnh, cả ví tiền leo lên cây. Khỉ đeo máy ảnh vào cổ rồi ngồi mở ví ra đếm nhoay nhoáy trước khi... ném từng tờ xuống. Sợ nhất là bọn khỉ hứng chí, hứng tình phá phách. Có khi khách đến chia đồ ăn không đều, nó cáu lên cũng giật tung ngói của am tu ra mà vứt. Có cốc tu trên đỉnh núi bị lũ khỉ giật đổ, còn trơ nền đất. Ngói phibro xi măng hoặc các tấm tôn lợp mái nhà ở chùa bị bọn khỉ giật tanh bành. Trông thì bé nhỏ vậy, mà lúc chúng nó lên gồng, co hai tay, dướn hai chân, đồng thanh rung lắc, thì cả mái nhà chao đảo. Chúng tôi nghe những tiếng rầm rầm như ngàn quân reo hò, như thanh la não bạt. Lúc đi tìm nguồn cơn, không ai tin vào mắt mình nổi: Khỉ nổi loạn. 

Khi làm việc với anh Hạt trưởng kiểm lâm trên địa bàn, nghe thông báo về việc thu bẫy khỉ trên núi, dẹp yên nạn làm thịt khỉ để chữa bệnh, chúng tôi thấy mừng lắm. Nhưng lúc vào nghe tin nhà chùa phải thuê một ông già cầm súng cao su, hàng ngày ngồi trong một gian chùa cổ và bắn để ngăn lũ khỉ về quấy phá chùa, thì ai nấy không khỏi bật cười thành tiếng. Ông Năm bảo: Lũ khỉ bướng lắm. Ông Năm quét tước, dùng súng cao su bắn khỉ, mỗi tháng các sư trả cho mấy trăm nghìn đồng, kèm theo vài chục cân gạo. Ông Năm cười: “Tui ngại bắn khỉ lắm, như thế là ác độc. Chỉ dọa là chính thôi.Giờ mình canh ở đây, cái bọn con cháu Tôn Ngộ Không này, cứ thấy mình là chúng lui quân vào phía núi kia rồi. Giơ súng lên, kể cả súng không có đạn (sỏi), thì chúng cũng vẫn sợ. Nhưng hôm nào tui quên không mang súng, lúc quét tước ở đây, lũ khỉ trinh sát thấy sau hông tôi không lòng thòng mấy chục sợi dây thun, là chúng ào đến. Lúc đó thì gậy hay chổi xể, hay gào thét cũng chẳng đuổi được chúng nữa!”. 

Sự trù phú của Kỳ Vân Sơn, cơn đại náo của con cháu lão Tôn gây nhiều phiền phức ngoài tưởng tượng, nhưng cũng nhờ có chúng mà sơn kỳ thủy tú ven biển Long Hải kia luôn đem thêm nhiều cảm giác ấm áp và bình yên trong lòng lữ khách. 

VŨ NINH - ĐỖ DOÃN HOÀNG

Ghi ở vùng cỏ bàng và sếu đầu đỏ

đăng 02:35, 7 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày 19.10.2004, một dự án lạ lùng: Bảo tồn cỏ đã ra đời tại xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương (nay là huyện Giang Thành), tỉnh Kiên Giang. Phạm vi dự án là đồng cỏ bàng tập trung ở ba ấp là Trà Phọt, Kinh Mới và Trần Thệ. 

Sếu đầu đỏ ở Phú Mỹ. 


Xưa kia, cỏ bàng (Lepironia articulata) mọc bạt ngàn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Những cánh đồng đất càng nhiễm phèn nặng, lúa cấy xuống là chết cháy thì cỏ bàng lại càng ngạo nghễ vươn lên, tốt tươi. Cũng tự bao đời, người Khmer nơi đây biết nhổ cỏ bàng về phơi khô, đập dập rồi đan cà ròn, đệm, chiếu, giỏ, nón... phục vụ cuộc sống hàng ngày. Cỏ bàng cho thu hoạch quanh năm, nhưng rộ nhất là vào mùa nước nổi, từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm. Người dân ra đồng nhổ cỏ bàng mang về phơi khô, giã dập rồi tích trữ để đan quanh năm. Hình ảnh nên thơ đó đã được nhạc sĩ Ngô Huỳnh khắc họa trong bài hát “Con kênh xanh xanh” (1949) với những câu luyến nhớ: “Chiến khu bừng vui ấm bao lòng dân quê tôi/ Tiếng ai giã bàng nhịp nhàng như tiếng lòng tôi”. 

Cùng với củ năn là thức ăn yêu thích, sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpie), loài chim đẹp, quý hiếm, có tên trong sách đỏ thế giới và Việt Nam, cũng chọn những cánh đồng cỏ bàng làm nơi trú ngụ. Ngày ngày, người đi nhổ cỏ, sếu thảnh thơi kiếm ăn, đấu hót, nhảy múa hay dang cánh đua với ánh mặt trời... làm nên bức họa đồng quê bình yên, tuyệt đẹp. Nhưng rồi người dân khai thác tự do, tận diệt cỏ bàng khiến cây mai dương xâm lấn, có nguy cơ diệt dần cỏ bàng. Lại nữa, cơn lốc khu công nghiệp, vuông tôm quét qua, dân tình cũng mặc sức khai thác lộc trời đất nên diện tích cỏ bàng dần thu hẹp. Sinh cảnh biến đổi, sếu sợ hãi bay đi, sinh kế của người dân cũng bị ảnh hưởng. 

Lợi đơn lợi kép 

Mê sếu, loài chim có dáng tiên phong đạo cốt nên khi thấy diện tích đồng cỏ bàng, sinh cảnh của chúng, ngày càng bị thu hẹp, TS Trần Triết, Trưởng khoa Thực vật – môi sinh, Đại học Khoa học Tự nhiên TPHCM, đã viết dự án gửi dự thi và được Ngân hàng Thế giới trao giải. Từ tiếng vang đó, Hội Sếu quốc tế (ICF) nhanh chóng vào cuộc, tài trợ 500.000 USD cộng với vốn đối ứng của UBND tỉnh Kiên Giang là 300.000.000 đồng để triển khai dự án Khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp với bảo tồn nghề thủ công địa phương tại xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương (nay là huyện Giang Thành), tỉnh Kiên Giang. 447 hộ dân với hơn 1.400 người tham gia, diện tích dự án là 342 héc ta. 

Cỏ bàng nhổ về được người dân Khmer ở xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang phơi khô, giã dập rồi đan thành những vật dụng thường ngày như đệm, giỏ xách, nón… Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng 


6 giờ 45 phút, tiếng xe máy, tiếng nói cười đã rộn rã ngoài sân trụ sở BQL dự án. Công nhân từ khắp các ấp đổ về để bảy giờ bắt đầu một ngày làm việc răm rắp như ở khu công nghiệp. Người đan đệm; người nhịp nhàng chân nhấn công tắc môtơ, tay lượn những tấm cỏ bàng cho đều mũi kim đường chỉ; người chuốt, tạo hình thành chiếc giỏ, kẹp hồ sơ, cặp sách, túi đựng nữ trang... Tiếng rì rầm trò chuyện, tiếng cười đùa thi thoảng lại rộ lên. Suốt cho đến mười bảy giờ. Ít ai biết, những ngày đầu xuống đây, bà con sống khép kín, ngại giao tiếp, nhiều người không nói được tiếng Việt nên cán bộ dự án phải mất hai, ba tháng mới làm quen được, khi đó họ mới cởi mở trò chuyện. “Tiếp thu chậm nên mỗi mẫu sản phẩm phải hướng dẫn mất chừng mười lăm ngày họ mới quen. Làm được nhưng làm sang mẫu mới, quay lại làm mẫu trước thì với họ lại như mới, lại phải cầm tay chỉ việc từ đầu,” Hà Trí Cao – cựu điều phối viên dự án - nhớ lại. 

Cỏ bàng được người dân chở bằng ghe về. Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng 


Chị Thị Phum, 38 tuổi, ở ấp Trà Phọt, mỗi ngày chị đi nhổ được mười bó cỏ bàng về phơi khô, đập dập rồi đan được một tấm đệm kích thước 175 cm x 65cm, bán được 1.500.000 đồng. Đệm cỏ bàng rất bền, dùng được từ 4 - 5 năm. Về thu hoạch cỏ bàng, chị cho biết: Cỏ bàng cao từ 1,1 mét trở lên mới được nhổ. Cúi thấp lưng, vơ lấy vài ba cây cỏ, nắm phần gần gốc, nhẹ tay giật, người ngả về phía sau là cỏ bật rễ, cứ nhịp nhàng như thế, nếu cỏ tốt, mỗi người cũng nhổ được hơn chục bó một ngày. Đan thành đệm rồi đến công đoạn nhuộm. Điều phối viên của dự án phải ngồi ôtô lắc lư cả ngày trời lên tận TPHCM mua bột màu, về trộn các loại với nhau để có màu ưng ý rồi hòa nước sôi để ra màu dạng lỏng. Lúc này mới trao công thức cho thợ nhuộm. 

Anh Nguyễn Văn Hổ, nhà ở ấp Kinh Mới, đối diện trụ sở ban quản lý dự án, làm thợ nhuộm từ năm 2007. Anh giảng giải: “Lấy chổi chấm nước màu quét một hoặc hai lớp lên phên cỏ bàng rồi xếp vào nồi nhôm, bắc lên bếp. Đốt củi đun từ ba giờ đến ba giờ ba mươi phút để màu ngấm vào bàng. Tắt lửa, để nguội thì đem ra phơi nắng, màu ăn chặt, giặt không phai”.

Nhờ sự thành công của dự án Khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp với bảo tồn nghề thủ công địa phương tại xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương (nay là huyện Giang Thành), tỉnh Kiên Giang, người dân được dạy nghề, được đưa mẫu mã sản phẩm nên hiện nay đã có hơn 500 sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cỏ bàng. Không chỉ tiêu thụ trong nước, sản phẩm còn xuất khẩu sang các nước và vùng lãnh thổ: Mỹ, Canada, Châu Âu, Trung Đông, Hàn Quốc, Nhật Bản… Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng 


Từ những tấm đệm cỏ bàng đa sắc đó, những người phụ nữ Khmer lại làm thành hơn 500 mẫu sản phẩm đẹp, chất lượng giới thiệu cho khách hàng, trong đó có nhiều mẫu mã làm theo yêu cầu của các công ty xuất khẩu tại TPHCM và Hà Nội. Trước đây đa số người dân làm hoàn toàn bằng tay để đan những sản phẩm đơn giản như nón, đệm, giỏ xách... Từ ngày có dự án, cán bộ dự án đưa mẫu mã sản phẩm đa dạng và máy may về, thầy Nguyễn Văn Dạn dạy hai tháng thì các chị biết may sản phẩm. Chị Thị Phum cho biết: “Cũng là nón nhưng không phải loại nón giống như trước mà nó đẹp hơn. Giỏ xách cũng là kiểu mới để bán ở các khu du lịch, đẹp lắm!”. Dự án cũng chú trọng ngay từ gốc, đầu tư cho người dân phân bón, hướng dẫn cách chăm sóc thu hoạch đúng cách (nhổ cả cây chứ không cắt), để cỏ bàng không bị kiệt quệ. 

Trương Anh Thơ, điều phối viên dự án, là một cô gái đa tài và nhiều mơ mộng. Chị rất quan tâm đến các dự án truyền thông nhằm bảo tồn và phát triển sinh kế bền vững, hiệu quả cho người dân. Cuối 2014, chị được mời về làm quản lý truyền thông của dự án. Làm truyền thông tốt, dần dà chị được tin tưởng giao trách nhiệm làm điều phối viên của dự án. Chị tâm sự: “Càng làm, tôi càng quý con người nơi đây và mong muốn cùng họ xây dựng một làng nghề phát triển cũng như biến dự án trở thành một “Best practise” (thực tiễn tốt nhất) 
cho khu vực”. 

Giỏ xách làm bằng cỏ bàng được thiết kế độc đáo, đẹp mắt với họa tiết sếu đầu đỏ đặc trưng.


Chị Trương Anh Thơ cho biết: Sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cỏ bàng có thể phân ra thành bốn loại: Túi thời trang, đồ gia dụng và trang trí nội thất, vật liệu xây dựng, và bao bì thương hiệu. Các mặt hàng đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng phù hợp với từng thị trường và thị hiếu người tiêu dùng. Dự án cung cấp sỉ, lẻ và thiết kế riêng đơn đặt hàng cho các cửa hiệu và xuất khẩu. Sản phẩm đan đát từ cỏ bàng như các loại giỏ, khay, thùng, chiếu, đệm, nón, có mặt ở thị trường nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới là Mỹ, Canada, Châu Âu, Trung Đông, Hàn Quốc, Nhật Bản... Tôi cầm trên tay chiếc túi xách pastel cỡ lớn (50 cm x 25 cm x 14 cm), hai mặt giỏ sơn màu pastel, gắn chùm pompom nhỏ, mặt ngoài trang trí họa tiết hình sếu đầu đỏ, mặt trong bọc vải, miệng giỏ có túi rút, giá bán 320.000 đồng/chiếc mà tấm tắc. Biết bao nhiêu mồ hôi và công sức, tiền bạc của những cán bộ dự án đã đổ xuống đất phèn nghèo khó này để đưa những sản phẩm hàng ngày từ cỏ bàng lên thành sản phẩm mỹ nghệ! 

Doanh thu từ việc bán các sản phẩm cỏ bàng ước đạt hơn hai tỉ đồng mỗi năm. Nhưng theo chị Thơ, quan trọng nhất, dự án đánh giá mức độ thành công thông qua việc phát triển làng nghề, mỗi hộ gia đình thu hoạch, đan và bán cho nhiều nguồn thu mua khác nhau. Thu nhập của người lao động đạt từ 3 triệu đồng/tháng đến 8 triệu đồng/tháng. Từ hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất khẩu sản phẩm này đã tạo việc làm ổn định cho hơn 1.000 lao động địa phương tham gia hoạt động của dự án và nhiều lao động phụ khác. Dự án đã đào tạo trên 500 công nhân thành thạo kỹ thuật đan giỏ xách, nón, may các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cao cấp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Khoảng 300 hộ dân, với gần 1.000 lao động trong vùng dự án nhờ bán nguyên liệu cỏ bàng, cung cấp các sản phẩm dệt tại nhà như đệm, chiếu... 

Không chỉ giải quyết sinh kế cho người dân Khmer nghèo ở địa phương, dự án còn bảo vệ được 1.200 héc ta đồng cỏ, rừng tràm tự nhiên, phục hồi 60 héc ta và trồng mới 20 héc ta cỏ bàng. Nhờ đó, môi trường sinh thái ổn định và bền vững, trở thành nơi cư ngụ quan trọng cho sếu đầu đỏ bay về, từ 6 cả thể vào năm 2003, đến nay đã có hơn 300 cá thể sếu bay về, được các tổ chức môi trường thế giới đặc biệt quan tâm. 

Cảnh cũ lại về 

Trời ngả về chiều, chúng tôi khoác ba lô, ống nhòm, máy ảnh, sổ, sách lội bộ xuống ấp Trà Phọt. Gần một giờ bước thấp bước cao, may mắn thì được giẫm chênh vênh lên những bờ ruộng lúa nhiều khi chỉ mảnh như cái đòn gánh, không thì phải bì bõm lội xuyên qua những đồng cỏ bàng bạt ngàn, váng phèn nổi vàng khè. Trên nền trời vàng cam xuất hiện một đàn chim từ phía Campuchia theo hình mũi tên bay tới. Chưa rõ hình hài đã nghe thấy những tiếng kêu trầm đục. “Đúng rồi!,” Văn reo lên. Cao và Duy vừa xoay ống kính máy ảnh, ống nhòm vừa đố nhau xem “những em chân dài chảnh chọe” sẽ đáp xuống bãi nào. Tôi thì chỉ biết ngửa cổ ngắm dáng bay thanh thoát của đàn sếu. Như để tri ân sự chờ đợi của chúng tôi, đàn sếu lần lượt đáp xuống đồng cỏ bàng cách chỗ chúng tôi đứng chừng 200 mét. Sáu cá thể tất cả, con cần mẫn kiếm ăn, con ve vãn bạn tình, con nghịch ngợm đá nhau... Chiều biên cương thơ thới... 

Sếu đầu đỏ, tên khoa học là Grus antigone sharpie; cao từ 150cm - 180 cm; nặng: 8 kg - 10 kg; sinh cảnh của chúng là đầm lầy, các vùng nước nông, các vùng đất ngập nước. Sếu đầu đỏ là loài chim cao nhất trong số các loài chim biết bay trên trái đất. Sếu đầu đỏ sống hiền hòa, đoàn kết và còn là sứ giả của môi trường. Mỗi cặp sếu đầu đỏ khi kết đôi sẽ sống với nhau trọn vẹn cả đời. Khi một con chết, con còn lại sẽ thủy chung và thậm chí tuyệt thực để rồi chết theo bạn đời. Do đó, sếu đầu đỏ còn là biểu tượng của lòng chung thủy cũng như tình yêu bền vững. 

Mùa sếu đầu đỏ về là từ tháng 12 đến tháng 5 hàng năm, tháng 3 là thời điểm sếu về nhiều nhất. Đây cũng là lúc đồng cỏ bàng Phú Mỹ thu hút đông đảo người yêu thiên nhiên, nhà khoa học về xem và nghiên cứu sếu. Mực nước phù hợp cho sếu ngủ là từ 3 - 4m. Xem sếu thích hợp nhất là trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 18 giờ 30 phút. 

Ông Nguyễn Phong Vân - Giám đốc Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Phú Mỹ, cho biết: Năm 2016, đàn sếu đầu đỏ về lại được 120 cá thể. Nhưng năm 2017, toàn bộ khu vực dự án có khoảng 20 cá thể sếu đầu đỏ bay về. Số lượng thay đổi thất thường là do thời tiết thay đổi, mực nước thủy văn cao và áp lực của việc tăng dân số địa phương và nhu cầu sử dụng đất. Hai điểm ăn trong khu bảo tồn là khu vực kênh HT6, và khu vực lộ Đồng Hòa thường xuyên có cá thể sếu di trú tại đây. Điều đáng mừng là ngoài việc đàn sếu di trú về đây để kiếm ăn thì chúng còn ngủ lại. 

Ông Lê Văn Hồng, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Kiên Giang, phấn khởi: “Thành công của dự án Khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp với bảo tồn nghề thủ công địa phương tại xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang là gắn bảo tồn thiên nhiên với nâng cao đời sống của người dân, nhờ đó nâng cao tính bền vững của đa dạng sinh học. Dự án đã hướng dẫn người dân địa phương khai thác, phát triển (trồng mới) và bảo vệ cỏ bàng (điều chưa từng có từ trước đến nay ở vùng này). Thay vì bán đổ tháo nguyên liệu thô như trước đây, người dân được học làm những mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ cỏ bàng để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Nhờ đó, thu nhập của các hộ dân trong vùng dự án đã tăng gấp ba lần so với trước, cuộc sống và thu nhập ổn định. Nhờ bảo tồn và phát triển được diện tích cỏ bàng nên nơi đây trở thành một trong những điểm tập trung sếu đầu đỏ đông nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Do đó, dự án đã hai lần được nhận giải thưởng của Liên Hiệp Quốc, kèm phần thưởng 80.000USD. Hiện nay, Hội Sếu quốc tế tiếp tục tài trợ thêm 150.000USD để triển khai giai đoạn ba của dự án”. 

TS Trần Triết, đại diện Chương trình Đông Nam Á - Hội Sếu quốc tế tại Việt Nam, nhận xét: “Đây là thắng lợi lớn của việc gắn bảo tồn thiên nhiên với nâng cao đời sống người dân bằng bảo tồn nghề thủ công truyền thống”. 

Ngày 15.7.2016, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Kiên Giang cùng UBND huyện Giang Thành tổ chức lễ công bố Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 5.1.2016 của UBND tỉnh Kiên Giang về việc phê duyệt dự án và thành lập Khu Bảo tồn loài – sinh cảnh Phú Mỹ, xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang. Khu Bảo tồn loài - sinh cảnh Phú Mỹ (Phu My Habitat – Species Management Area), xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang có tổng diện tích khoảng 2.700ha, trong đó, diện tích vùng lõi khoảng 940ha và diện tích vùng đệm khoảng 1.760ha và phân cấp do địa phương quản lý. Ban quản lý khu bảo tồn loài - sinh cảnh Phú Mỹ thực hiện trách nhiệm quản lý, bảo tồn, bảo vệ, tổ chức khai thác giá trị tài nguyên và môi trường trong khu bảo tồn. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học thu thập nguồn gen mẫu vật. Bảo tồn loài thực vật đặc trưng như: Cỏ bàng – cỏ mồm mốc, cỏ năng nỉ, cỏ năng ngọt, cỏ hoàng đầu ấn, tràm... Với hệ động, thực vật hơn 472 loài, trong đó; 134 taxa phiêu sinh thực vật, 69 loài phiêu sinh động vật, 7 loài động vật đáy, 39 loài nhện, 65 loài côn trùng thủy sinh; 23 loài cá; 23 loài lưỡng cư bò sát và với hơn 132 loài chim; đặc biệt là loài sếu đầu đỏ loài chim biết bay to lớn nhất hiện nay còn sót lại trên toàn thế giới đang có nguy cơ tuyệt chủng. Ngoài ra, Ban quản lý khu bảo tồn có một nhà xưởng sản xuất đan dệt cỏ bàng bằng nghề truyền thống, xưởng sản xuất hơn 500 mặt hàng từ cỏ bàng tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang các nước và vùng lãnh thổ: Nhật Bản, Mỹ, Cannada, Thụy Sĩ, Hồng Kông, Pháp ,Ý, Đức... Ban quản lý khu bảo tồn giao khoán và hướng dẫn bà con khai thác, bảo tồn. Người dân đã quý cỏ bàng như vàng vì có cỏ họ mới có công ăn việc làm, có thu nhập tích lũy cho cuộc sống. Đây là điều trước đây chưa từng có ở Phú Mỹ. 

Đỗ Quang Tuấn Hoàng

Từ xóm Mồ Côi, mơ về làng du lịch

đăng 02:21, 7 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cuối con đường K20, thuộc phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn là một xóm nhỏ nằm tách biệt với phố xá, yên ả cuộn tròn theo dòng nước sông Cổ Cò. 

Đó chính là xóm Đồng, tên xóm gắn với những câu thơ do một người trong xóm đặt ra mà người già, trẻ con của xóm đều thuộc lòng: “… Trải bao năm tháng hào hùng/ Ngọn đèn đỏ tắt đi cùng chiến công/ Người chăm sóc ngọn đuốc là ông/ Huỳnh Trưng xóm nhỏ - xóm Đồng năm xưa”. 

Đường vào khu căn cứ cách mạng K20 được trải nhựa khang trang, sạch đẹp đến tận cuối xóm. Ảnh: Q.T 


Thời chống Mỹ, người ta gọi xóm Đồng là xóm Mồ Côi. Theo những người già trong làng, sở dĩ có tên gọi ấy là vì trước đây, ở giữa xóm Đồng và các vùng xung quanh có dòng sông Con chắn ngang. 

Mỗi mùa mưa đến, nước sông dâng cao bàng bạc, phương tiện đi lại chủ yếu là ghe, thúng nhỏ càng khiến xóm trở nên nhỏ nhoi, cô quạnh. Vậy mà cái xóm bé nhỏ này lại là một phần máu thịt quan trọng trong địa bàn hoạt động của K20 - mật hiệu căn cứ của quận 3. Những năm chống Mỹ, xóm nhỏ có gần 30, 40 nóc nhà. Hơn một nửa trong số đó có hầm bí mật. Có nhà có đến 2, 3 hầm. Cả xóm ai ai cũng một lòng theo cách mạng. 

Địch biết rõ xóm nhỏ này là cái nôi của cách mạng nên cắt cử một tiểu đội thường xuyên ra vào đây để kiểm tra, thậm chí, ngủ lại qua đêm. Để qua mắt địch và giữ chiến sĩ của ta an toàn, người trong làng đã nghĩ ra cách tắt đèn-đỏ đèn làm tín hiệu từ xa. 

Tại nhà ông Huỳnh Trưng bắc một ngọn đèn trên cành cây sau nhà. Đêm nào ông thắp sáng đèn có nghĩa là cán bộ ta có thể về đây ngủ. Chỉ bằng một ngọn đèn mờ ảo, chiến sĩ của ta ở tận Điện Ngọc, Điện Dương (tỉnh Quảng Nam) cũng biết mà về. 

Những đêm ông tắt đèn là dấu hiệu báo có lính Mỹ ngủ lại trong nhà. Giai thoại về việc thắp đèn còn được người làng truyền qua câu hát: “Ai đem ánh sáng diệu kỳ/ Có đèn nhỏ xí mà tỏa đi khắp vùng/ Báo tin Mỹ ráp, ngụy lùng/ Để anh giải phóng thôi đừng qua sông/ Những đêm mưa gió bão giông/ Nhắn tin vắng địch vượt dòng sông sang…”. 

Mặt khác, ban đêm ta nhờ ánh đèn, ban ngày nhờ cả vào đám con nít của xóm. Dường như cùng uống chung dòng nước sông Cổ Cò, đứa nào cũng đặc biệt gan dạ. Đã bao lần chúng mặc hiểm nguy, vượt đường trường, lội sông về báo cáo tình hình địch sắp vào xóm cho bộ đội ta. 

Và cả những người phụ nữ kiên trung của xóm. Trước họng súng, bánh xe tăng băng đồng phăm phăm tính san bằng xóm, đè bẹp từng ngọn cỏ thì các bà, các chị vẫn cùng nhau xếp hàng nằm ra giữa đồng để ngăn chúng không thể dấn thêm một bước. 

Cái xóm nhỏ tưởng chừng như chỉ cần vài tiếng đồng hồ là xe tăng san phẳng ấy cứ tồn tại dai dẳng trước mắt quân thù. Nghe kể, không nhà nào trong xóm này không có người bị bắt bớ, tù đày, tra tấn. Thậm chí, người trong xóm còn nói vui: Ai ở xóm Đồng mà chưa từng bị tù đày hẳn là trốn giỏi hơn cả ruồi, muỗi! 

Đứng giữa xóm Mồ Côi bây giờ vẫn nhìn rõ một cây cầu đúc bằng xi- măng chơ vơ giữa đồng. Người trong làng kể, xưa, biết bao lần bọn Mỹ đem xi-măng, sắt, thép về xây cầu với ý nguyện tốt đẹp: để dân xóm Đồng dễ qua lại. 

Thế nhưng, cự tuyệt ý muốn đó, dân không cho làm. Dân cứ dùng cây cầu tre gập ghềnh nối xóm Mồ Côi với xóm Cát bên kia đồng để làm chậm chân những cuộc tập kích nhanh của địch. Hàng chục năm cầu tre lắt lẻo như thế, mãi những năm gần giải phóng, Mỹ mới xây được cây cầu bê-tông này. Giờ thì chẳng ai đi trên cây cầu ấy nữa. Nó tồn tại như một chứng tích của chiến tranh. 

Sau ngày giải phóng, như bao xóm nhỏ khác trên toàn thành phố, xóm Đồng cũng rạo rực đổi thay. Dòng sông Con uốn lượn quanh xóm được bồi đắp, rút ngắn khoảng cách của xóm Đồng với phố xá thênh thang. Những con đường đất ngập bùn lầy mỗi mùa mưa được thay bằng đường bê-tông thẳng tắp. 

Bên đồng lúa, bên ruộng rau, bên là dòng sông, và cả những vạt dừa rất đẹp, xóm nhỏ trông thật nhẹ nhõm, trong lành, đậm nét đặc trưng của làng quê du lịch sinh thái. Dẫu vậy, xóm nhỏ trông lại buồn buồn vì những gian nhà vắng vẻ, hiu quạnh, then cài, cửa đóng, thiếu vắng dấu chân người. 

Lớp thanh niên lớn lên lần lượt rời làng vì không đủ kiên nhẫn như ông cha, đất ruộng cũng chẳng còn mà bám trụ. Cánh đồng rau xanh mướt ở Đa Mặn (được ghép từ 2 tên ấp Đa Phước và Nước Mặn) cũng không còn do đô thị hóa. Bà con ở xóm Đồng lớp chuyển đi nơi khác, lớp bấu víu như nhà ông Trưng thì cho người thuê đất trồng rau. 

Ông lấy chừng vài trăm ngàn đồng/tháng/sào đất thuê đỡ đần cuộc sống. Bao nhiêu năm nay, dù ngoài kia, thị trường mua bán đất đai sôi động thế nào thì nhà cửa nơi xóm Mồ Côi này cũng chẳng dày lên. Dẫu đi men theo con đường K20 về đến cuối xóm, đâu đó vẫn có những ngôi nhà xây dựng kiểu biệt thự khang trang, đẹp đẽ. 

Từ bậc thềm nhà ông Trưng nhìn rộng ra bên ngoài, dự án đường nối Đà Nẵng với Hội An ngang qua sông Cổ Cò đang dần nên hình, nên vóc. Ở bên này sông, thi thoảng, vào những buổi chiều buồn buồn, nhớ chuyện xưa, ông Trưng hát: 

“Ai về Đa Mặn phải nhớ sang/ Con đường di tích Bắc Mỹ An nơi này/ Mối tình sâu nặng nơi đây/ Hy sinh chịu đựng công dày đức cao/ Kế thừa Nhà nước được trao/ Hỡi ai tuổi trẻ đừng có nghĩ sao đất này/ Nói đến quê ta, giặc thù phong tỏa bốn bên/ Sân bay dã chiến cũng nằm trên đất này/ Hàng rào điện tử bủa vây/ Xe tăng, đại bác đất này cũng chuyển rung/ Nêu cao khí thế anh hùng/ Đấu tranh bất khuất kiên cường, vẻ vang/ Ai về Đa Mặn nhớ sang/ Con đường di tích Bắc Mỹ An nơi này”. 

Năm 2012, dự án Bảo tồn, trùng tu Khu di tích lịch sử - Làng văn hóa K20 được phê duyệt. Người dân xóm Đồng khấp khởi hy vọng xóm nhỏ sẽ trở thành điểm du lịch nổi tiếng cả nước chẳng khác nào địa đạo Củ Chi. Người ta có quyền hy vọng lắm chớ. 

Vậy mà, đã 6 năm trôi qua, dự án dù đang trong giai đoạn hoàn thiện cuối cùng thì đứng giữa xóm Đồng vẫn chưa thấy một hình hài du lịch rõ nét. Con đường vào xóm tuy khang trang nhưng nhà cửa còn ngổn ngang, vườn nhà thấp gần cả mét so với nền đường. 

Trong các khu vườn trước đây xanh mướt rau màu, nay ngập tràn cây dại. Tường nhiều nhà vẫn phủ rêu phong. Ngoài nhà văn hóa K20, xóm Đồng chỉ còn 2 căn nhà được gắn bảng di tích đã được đăng ký bảo vệ - làm hầm nuôi giấu cán bộ là nhà ông Trưng và nhà bà Nhiêu. 

Còn lại đa số căn hầm bí mật khác chỉ còn in đậm trong ký ức, ẩn dưới vạt rau, bờ cỏ. Ông Lê Tấn Nghĩa, Chủ tịch UBND phường Khuê Mỹ chia sẻ, từ sau ngày được quy hoạch đến nay, khu căn cứ cách mạng K20 chỉ mới đón các đoàn cựu chiến binh, sinh viên, học sinh, nhiều đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng, Chính phủ về thăm xóm nhỏ với niềm cảm phục và ghi ơn sâu sắc. 

Thế nhưng, chưa có một đoàn khách thuộc công ty du lịch nào ghé thăm. Điều này cũng dễ hiểu, bởi Mồ Côi chưa có một sản phẩm du lịch nào cụ thể. Không có sản phẩm du lịch trong tay, lấy gì để thu hút khách? Sau ngày giải phóng, bà con bắt tay vào xây dựng nhà cửa, hầm được lấp hết. 

Chứng tích xưa kia chỉ còn rì rào qua những câu chuyện kể. Chỉ mất 5-10 phút để tham quan hết nhà văn hóa K20 và 2 căn hầm còn nguyên vẹn kia. Địa phương dù muốn cũng chẳng làm được gì. K20 nhiều năm qua vẫn chỉ là một khu tuyên truyền đúng nghĩa. 

Mỗi lần về xóm Mồ Côi, tôi thường đi cắt ngang qua những con đường quanh xóm để cảm nhận sự đổi thay. Những con đường được quy hoạch theo ô bàn cờ nối liền Mồ Côi với khu đô thị Nam Việt Á, để thấy những con đường mới, những ngôi nhà đẹp đang nên hình, đổi dạng khang trang, đẹp đẽ. 

Đi trên những con đường một thời cùng người dân Mồ Côi làm nên nhiều kỳ tích, mường tượng ra những khuôn mặt hồn hậu, kiên trung của những phụ nữ, trẻ em đã không quản ngại hiểm nguy, thì thầm vào lòng đất báo tin cho cán bộ, càng thêm thương mảnh đất gian khó này. 

Rồi thầm ước: giá như Mồ Côi trở thành làng du lịch, những người - trong số rất ít ỏi người còn sót lại như ông Trưng sẽ là những hướng dẫn viên không thể nào tuyệt vời hơn. Để làng Mồ Côi trở thành gạch nối giữa quá khứ và hiện tại, con cháu của làng Mồ Côi sẽ sống được trên mảnh đất ông cha đã không tiếc máu xương để gìn giữ. 

QUỲNH TRANG

Chư Pah (Gia Lai): Thiên đường xanh của Gia Lai

đăng 00:33, 2 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cánh đồng chè tuyệt đẹp ở Chư Pah. 


Mây xanh, hoa lá bung nụ cùng nhau hòa quyện giữa bầu trời huyện Chư Pah, Gia Lai. Trên cao nhìn xuống, những cánh đồng cỏ xanh nhưng những tấm lụa sặc sỡ, vắt ngang qua đỉnh núi Chư Đăng Ya - một thắng cảnh nổi tiếng của vùng Tây Nguyên. 

Chư Pah tháng 4 nắng vàng. Trên cao mây bồng bềnh, phủ trắng cả những quả đồi xanh ngát. Đến Chư Pah, không ghé cánh đồng chè là sự thiếu sót của du khách. Ở Gia Lai, nếu cánh đồng chè Chư Pah "khiêm nhường" chọn vị trí cảnh đẹp thứ 2 thì không đồi chè nơi nào "dám" chọn vị thế số 1. Cánh đồng chè ở đây được phân ô, chia luống thắng tắp. Những bông hoa muồng vàng nở rộ, điểm xuyến như tô vẽ, khắc họa nên một bức tranh tuyệt đẹp. 

Vẻ đẹp lãng mạn là khi sương sớm bao phủ, lún phún trùm một khoảng không rộng lớn cánh đồng chè. Cảnh vật yên tĩnh, trầm lắng mà lãng mạn. Du khách đến Chư Pah, còn lắng mình vào sự tĩnh tâm từ chùa Bửu Minh mang lại. Chùa nằm gọn giữa bốn bề cánh đồng chè bao phủ, một cảm giác thư thái, yên bình không đâu có được. 

Chư Pah không chỉ có núi lửa Chư Đăng Ya mà còn có thác Công chúa nổi tiếng. Nước trên các ghềnh đá, mềm mại tuôn trào, nhẹ nhàng và bồng bềnh như làn tóc thiếu nữ. Gềnh đá được thiên nhiên sắp đặt như có chủ ý, xếp tầng tầng như nấc thang tuyệt đẹp. Xung quanh cây rừng tỏa bóng, soi mình tỏa xanh cả góc trời. Yên bình và dịu dàng. Thác Công chúa e ấp, diễm lệ và kiêu sa. Tất cả hòa quyện tạo thành thác Công chúa nổi tiếng, làm nức lòng du khách. Vì vẻ đẹp ấy, mà tại Gia Lai, chỉ mỗi mình Chư Pah có tên thác là "Công chúa". 

Du khách đến Chư Pah được đắm chìm vào cảnh lãng mạn của hồ Tân Sơn, khám phá nhà rông truyền thống của người bản địa và chứng kiến sự hùng vỹ, bao la của đập thủy điện Ya Ly. Vùng đất nhiều cảnh đẹp đã tạo nên con người Chư Pah mến khách, đôn hậu và rất nhẹ nhàng. 

Đến Chư Pah của Gia Lai, bạn sẽ không bao giờ tiếc nuối. Vậy hãy xách ba-lô lên và đi thôi. 

Cảnh vật đẹp tựa bức tranh ở Chư Pah: 

Thắng cảnh nổi tiếng của Chư Pah là núi lửa Chư Đăng Ya


Hoa cỏ đua sắc ở núi lửa Chư Đăng Ya.


Cảnh đẹp giữa lòng chảo Chư Đăng Ya. 


Núi lửa Chư Đăng Ya nổi tiếng bậc nhất của Gia Lai. 


Cánh đồng chè - cảnh đẹp không đâu có được - tại Gia Lai.


Sự yên bình ở đồi chè Chư Pah.


Thác Công chúa nổi tiếng mà Chư Pah may mắn có được.


Nhà rông và con người mến khách Chư Pah.


Đập Tân Sơn ở Chư Pah.


Hồ thủy điện Ya Ly nổi tiếng tại Gia Lai nằm ở Chư Pah.


Sự hùng vỹ của thủy điện Ya Ly. 


ĐÌNH VĂN

1-10 of 20

Comments