Những chuyến đi, những khám phá... và những điều suy tư...

Bài mới

  • Vào rừng khộp săn ảnh chim Yok Đôn, vườn quốc gia duy nhất Việt Nam bảo tồn rừng khộp đang vào mùa rụng lá khô, là điểm săn ảnh chim lý tưởng.Vườn Yok Đôn mùa ...
    Được đăng 03:25, 9 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Linh thiêng nghĩa trang cá Ông lớn nhất Việt Nam Ít có địa phương nào ở Nam Bộ lại có mật độ đền thờ cá Ông nhiều như ở Bà Rịa-Vũng Tàu. Dọc bờ biển Bà Rịa-Vũng Tàu ...
    Được đăng 01:33, 5 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đăk Nông – bản trường ca của Đá và Nước Trải qua hàng triệu năm, những đợt phun trào dữ dội của núi lửa cùng với sự kiến tạo đặc biệt của vỏ trái đất đã tạo nên một Công ...
    Được đăng 07:05, 31 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Yên Bái và giấc mơ Bhutan Bhutan, xứ sở nhỏ bé bên triền Himalaya, nổi tiếng cả thế giới với mệnh danh "xứ sở hạnh phúc".Ruộng bậc thang Yên Bái - Ảnh: NGỌC QUANGTân Bí ...
    Được đăng 00:09, 3 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • “Cá tính” vùng đất xứ Thanh trong cái nhìn địa - chính trị Trong lịch sử Việt Nam, tỉnh Thanh Hóa là một thực thể địa lý bao gồm hai tính chất đối nghịch: Vừa là vùng đất khép kín có cấu trúc ...
    Được đăng 01:00, 24 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 24. Xem nội dung khác »


Vào rừng khộp săn ảnh chim

đăng 03:25, 9 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Yok Đôn, vườn quốc gia duy nhất Việt Nam bảo tồn rừng khộp đang vào mùa rụng lá khô, là điểm săn ảnh chim lý tưởng.


Vườn Yok Đôn mùa này như thể "châu Âu mùa lá rụng" khi đi qua các thảm rừng khộp dọc đường liên khu trạm 5 và trạm 2. Trong VQG có hơn 12 trạm kiểm lâm nên công tác bảo tồn hệ sinh thái rừng luôn được quan tâm. Ngoài ra, các kiểm lâm nơi đây còn chú trọng công tác đề phòng cháy lá rừng trong mùa khô.

Không giống các khu rừng nhiệt đới, rừng thường xanh, rừng rậm hay rừng ngập mặn, Yok Đôn là rừng khộp duy nhất còn lại ở Việt Nam, có mùa xanh và mùa rụng lá như rừng ôn đới. Theo nhân viên kiểm lâm tại vườn, chữ "khộp" được đọc từ tiếng Lào, nghĩa là "khổ, nghèo", rừng khộp "nghèo" dinh dưỡng đất nên cây không lớn, tán không rậm và vào mùa khô thì cây trút lá để giảm thiểu tiêu hao năng lượng. Ảnh: Ngô Vũ Thắng


Tháng 12 đến tháng 2 hàng năm, rừng nhuộm lá vàng rực, rồi đến tháng 3, từng lớp lá khô rụng phủ xuống mặt đất và mãi cho đến tháng 5, khi mùa mưa bắt đầu, cây nơi đây mới đâm chồi xanh trở lại. Theo số liệu thống kê, hệ động vật tại Yok Đôn có hơn 450 loài, gồm 89 loài động vật có vú, 305 loài chim, 48 loài bò sát, 16 loài lưỡng cư, hàng trăm loài cá nước ngọt và hàng ngàn loài côn trùng.

Ngắm cảnh rừng mùa lá rụng và tìm hiểu các loài chim nằm trong số các hoạt động du lịch sinh thái phổ biến nhất, với 500.000 đồng/người/ tour 3 tiếng.

Theo ban quản lý, VQG Yok Đôn có khu hệ chim phong phú, là đối tượng yêu thích của các nhiếp ảnh gia yêu thiên nhiên. Các loài đặc trưng là gõ kiến xanh hông đỏ, vẹt ngực đỏ, sả rừng, phường chèo nhỏ, sáo nâu, yến mào, te vặt cho tới các loài chim nước quý hiếm như ngan cánh trắng, quắm lớn hay hạc cổ trắng.

Anh Võ Rin cho biết để ngắm nhìn được nhiều loài chim, du khách nên chọn thời điểm giữa tháng 2 đến cuối tháng 4, cao điểm của mùa khô. Cây rừng rụng hết lá để chống chọi với thời tiết hanh khô của Tây Nguyên, do đó việc quan sát và chụp ảnh chim dễ dàng hơn. Ảnh: Võ Rin


Yến mào (chim trống) đang chăm con mới nở được hai tuần tuổi tại vườn Yok Đôn. Loài chim này có kích thước nhỏ, thân dài khoảng 20 cm, chim trống có mặt và phần cổ trên màu nâu nhạt nổi bật, có mào dựng và cánh dài màu xám. Chim mái giống chim trống nhưng không có phần màu nâu nhạt trên mặt và cổ họng. "Mùa yêu" của các cặp yến mào là những khoảnh khắc được các nhiếp ảnh gia canh chụp. Ảnh: Ngô Vũ Thắng


Một trong những loài hiếm ở vườn Yok Đôn là hạc cổ trắng, có sải cánh 75 - 91 cm, nhỏ hơn một chút so với các loài khác trong họ Hạc. Chim có đỉnh đầu màu đen, cánh và thân đen bóng tương phản với cổ trắng, mỏ đen với đầu mỏ màu đỏ đậm. Đây là loài định cư, sống ở vùng sình lầy, đất ngập nước và ven rừng, nhưng chỉ ở nơi trống trải.

"Loài này nhát người, muốn chụp phải dậy thật sớm, hơn 4h sáng là tôi di chuyển vào bãi chúng thường ăn, ngụy trang kỹ và chờ trời sáng lúc chim đi ăn mới chụp được. Bức ảnh trên tôi chụp khi chim ăn xong và lượn quanh bãi ăn ở tầng thấp", anh Võ Rin, nhiếp ảnh gia đã chụp 405 loài chim tại Việt Nam, chia sẻ. Ảnh: Võ Rin


Diều hoa Miến Điện là loài định cư phổ biến tại Yok Đôn, sải cánh 51 - 71 cm. Chim thường đậu cao trên các cây khô và khi sà xuống đất thì ve vẩy đuôi từ bên này sang bên kia, sinh cảnh ở các vùng rừng núi, có chỗ tới độ cao gần 2.500 m và làm tổ từ tháng 1-10.

"Buổi trưa tôi quan sát thấy chim đậu trên cây khá cao, đến 15h thì gặp lại và lần này nó đậu ở nhánh cây thấp khá lâu, quay phần lưng so với hướng ống kính máy ảnh trong ôtô, cách vị trí nó đậu khoảng 6 m. Không bỏ lỡ cơ hội này, tôi chụp ngay", anh Võ Rin kể. Ảnh: Võ Rin


Một trong những loài chim ấn tượng ở Yok Đôn là hù trán trắng. Đây là loài cú nhỏ, thân dài khoảng 20 cm, săn mồi ban ngày. Chim có lông mày trắng rậm, lòng mắt vàng nổi bật, thân trên màu xám nâu với nhiều điểm trắng và thân dưới trắng với nhiều sọc nâu trên ngực.

Nhiếp ảnh gia Thùy Linh cho biết khi quan sát thấy con hù trán trắng đậu trên nhánh cây, gặp gió mạnh đung đưa cành nên chim vụt bay đi. Cô may mắn lia máy chụp được khoảnh khắc này. Ảnh: Nguyễn Thùy Linh


Sả rừng, loài phổ biến trong vườn Yok Đôn. Chim trưởng thành có sải cánh 17 - 20 cm. Tại Việt Nam, loài này còn phân bố ở rừng Mã Đà (Đồng Nai), VQG Cát Tiên (địa phận Tân Phú, Đồng Nai), VQG Tràm Chim (Đồng Tháp) và rừng ngập mặn Cần Giờ (TP HCM). Ảnh: Võ Rin


Các nhiếp ảnh gia chia sẻ, du khách muốn xem và săn ảnh chim phải thức dậy sớm chuẩn bị hành trang và sẵn sàng vào 5h30, thời điểm ngắm chim tốt nhất trong ngày.

Yok Đôn có 17 loài gõ kiến, gồm loài gõ kiến xanh hông đỏ (chim trống). Đây là loài có kích thước lớn trong nhóm gõ kiến, thân dài tới khoảng 33 cm. Chim mái có đầu đen với sọc dài xuống đến gáy, cổ và hai bên gáy màu vàng chanh. Chim trống tương tự chim mái nhưng có mảng đỏ trên đỉnh đầu. Loài này thường kiếm ăn gần gốc cây, hốc đất để tìm mối. Ảnh: Ngô Vũ Thắng


Loài trèo cây bụng hung có kích thước trung bình trong nhóm trèo cây, thân dài khoảng 13 cm. Chim có đỉnh đầu và thân trên màu xám, sọc đen qua mắt nổi bật, thân dưới đỏ hung đậm với nhiều mảng lông bao đuôi trắng. Chim mái giống chim trống nhưng thân dưới nhạt màu hơn.

Thùy Linh, nhiếp ảnh gia sinh năm 1991, chia sẻ rằng chụp loài chim này khá vất vả, muốn có ảnh đẹp không dễ vì kích thước của chúng nhỏ và tốc độ di chuyển nhanh khi tìm mồi dọc thân cây. Vì thế người chụp phải cầm máy trên tay di chuyển nhanh theo nó. Ảnh: Nguyễn Thùy Linh


Vườn quốc gia Yok Đôn nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 200 m so với mặt biển, tại km38 tỉnh lộ 1, xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, cách TP Buôn Ma Thuột khoảng 40 km về phía bắc.

Trong những năm qua, cùng với công tác quản lý, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học, VQG Yok Đôn còn tổ chức nhiều hoạt động du lịch sinh thái và giáo dục môi trường. Các dịch vụ phổ biến là trải nghiệm với voi, cắm trại, ngắm chim, đi bộ, đạp xe dưới tán rừng khộp hay đi thuyền trên sông Sêrêpôk ngắm núi rừng, muông thú. Ngoài ra, du khách có thể tới các buôn làng ở vùng đệm VQG như Jang Lành, Đrăng Phôk hay Buôn Đôn tìm hiểu văn hóa đặc sắc của người Êđê, M’nông hay người Việt gốc Lào ở đây.

Trong tháng 2 - 3 vừa qua, nhóm nhiếp ảnh gia gồm Ngô Vũ Thắng, Võ Rin và Nguyễn Thùy Linh đã thực hiện nhiều chuyến trải nghiệm săn ảnh các loài chim tại Yok Đôn. Ảnh: Võ Rin

Huỳnh Phương

Linh thiêng nghĩa trang cá Ông lớn nhất Việt Nam

đăng 01:33, 5 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Ít có địa phương nào ở Nam Bộ lại có mật độ đền thờ cá Ông nhiều như ở Bà Rịa-Vũng Tàu. Dọc bờ biển Bà Rịa-Vũng Tàu có đến 10 ngôi đền thờ cá Ông. Đặc biệt ở làng chài Phước Hải, ngư dân còn dành hẳn một khu đất rộng hàng ngàn mét vuông để chôn cất cá Ông với những nghi lễ trang trọng.

Nghĩa trang cá Ông gồm có năm phần: Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải đại tướng quân, miếu thờ Quan thế âm Bồ Tát, miếu thờ Thổ công, miếu thờ Thiên quan Tứ phước và khu vực mộ táng cá voi

Nghĩa trang đặc biệt

Nằm sát bờ biển thuộc làng chài Phước Hải, huyện Đất Đỏ, Bà Rịa-Vũng Tàu, Ngọc Lăng Nam Hải được xem là nơi an táng cá Ông lớn nhất Việt Nam hiện nay, nơi đây có khoảng 100 ngôi mộ cá Ông chưa cải táng.

Nghĩa trang cá Ông luôn có nhiều ngư dân đến cúng viếng, cầu mong may mắn mỗi lần ra khơi

Nghĩa trang cá Ông được xây dựng từ năm 1999, nằm cuối làng chài Phước Hải, sát bờ biển. Nghĩa trang rộng khoảng 3.000 m2, cách đền thờ cá Ông của làng khoảng 2 km. Mặc dù tục táng cá Ông diễn ra ở nhiều làng chài Việt Nam nhưng đây có thể xem là nghĩa trang cá Ông “độc nhất vô nhị”.

Tại nghĩa trang cá Ông hiện có khoảng 100 ngôi mộ cá Ông

Làng chài Phước Hải được xem là làng chài tổ chức tang ma, chôn cất cá Ông rất cẩn thận và tập trung vào một chỗ. Bởi lẽ ở những vùng biển khác, ngư dân chỉ chôn cá Ông rải rác xung quanh đền thờ. Hiện nghĩa trang cá Ông có khoảng 100 ngôi mộ chưa cải táng, ngoài ra tại Dinh Ông Nam Hải đang lưu trữ khoảng 400 bộ hài cốt của cá Ông.

Mỗi khi cá Ông lụy, ngư dân Phước Hải luôn tiếp đón bằng những nghi lễ trang trọng. Ảnh: Tư liệu

Nghĩa trang cá Ông gồm có năm phần: Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải đại tướng quân, miếu thờ Quan thế âm Bồ Tát, miếu thờ Thổ công, miếu thờ Thiên quan Tứ phước và khu vực mộ táng cá voi.

Trên đầu các ngôi mộ đều có bát hương và bia đúc xi măng ghi rõ “Nam hải chi mộ” cùng ngày tháng ông “lụy” theo cách gọi của người dân địa phương. Đặc biệt hơn toàn bộ công trình và mộ cá Ông đều có hướng nhìn ra biển

Trên đầu các ngôi mộ đều có bát hương và bia đúc xi măng ghi rõ “Nam hải chi mộ” cùng ngày tháng ông “lụy” theo cách gọi của người dân địa phương. Đặc biệt hơn toàn bộ công trình và mộ cá Ông đều có hướng nhìn ra biển.

Hiện nghĩa trang cá Ông có khoảng 100 ngôi mộ chưa cải táng, ngoài ra tại Dinh Ông Nam Hải đang lưu trữ khoảng 400 bộ hài cốt của cá Ông. Tất cả mộ cá Ông và các đền thờ đều hướng ra biển

Vào năm 2006, Lăng thờ Lệnh ông Nam Hải chính thức hoàn thành, trong điện thờ chính có bức di ảnh khổ lớn và tượng ba cá voi nằm song song, hướng ra biển. Theo như tìm hiểu thì có đến bốn loại Ông, đó chính Ông Kiềm, Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu. Trong đó Ông Kiềm chính là cá voi qua đặc điểm có phần mỏ đưa ra dài, còn ba Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu thì có phần đầu bằng hơn.

Lăng thờ Lệnh Ông Nam Hải đại tướng quân được xây dựng khang trang ngay trung tâm nghĩa trang, hằng ngày có nhiều ngư dân đến đây cầu mong sự độ trì từ cá Ông mỗi lần ra khơi.

Linh thiêng nghĩa trang cá Ông

Ở nghĩa trang cá Ông có một ngôi Miếu thờ đức Quan thế âm Bồ Tát được xây cất sát mé biển. Có một truyền thuyết thường được ngư dân ở đây truyền tụng nhau kể lại, Phật Quan thế âm Bồ Tát được Thượng đế ban cho chức Nam Hải Bồ Tát để cứu nạn con người trên biển cả. Phật bà xé chiếc áo cà sa làm vạn mảnh thả khắp mặt biển rồi dùng phép màu hóa thành cá ông để cứu giúp thuyền bè gặp nạn, phong cho cá Ông chức Nam Hải Đại vương.

Trong điện thờ chính có bức di ảnh khổ lớn và tượng ba cá voi nằm song song, hướng ra biển. Theo như tìm hiểu thì có đến bốn loại cá Ông, đó chính Ông Kiềm, Ông Máng, Ông Chuông và Ông Cậu.

Điều đó cũng một phần lý giải tại sao người dân ở những làng chài lại có đức tin về sự giúp đỡ của cá Ông, họ coi cá Ông là vị thần hộ mệnh giữa biển khơi. Cá Ông giúp ngư dân vượt qua những hiểm nguy, tai nạn, thậm chí cứu người bị nạn trên biển, đồng thời giúp cho ngư dân có những chuyến đi biển may mắn, tôm cá đầy khoang.

Hằng ngày, tại Nghĩa trang cá Ông có nhiều ngư dân đến làm lễ cầu mong được nhiều may mắn, tai qua nạn khỏi, cá luôn đầy khoang.

Ông Nguyễn Văn Được, ngư dân làng chài Phước Hải, cho biết: “Tôi thường xuyên đến nghĩa địa này để thắp hương, cầu khấn mỗi lần chuẩn bị ra khơi. Tôi tin rằng mỗi chuyến đi luôn được cá Ông phù hộ để tai qua nạn khỏi cũng như cá luôn đầy khoang”.

Năm 2011, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã trao bằng công nhận nơi đây là Nghĩa địa cá Ông lớn nhất Việt Nam.

Tại Dinh Ông Nam Hải cũng ở làng chài Phước Hải hiện đang lưu giữ hàng trăm bộ hài cốt cá Ông. Mỗi bộ đều ghi tên chiếc ghe đã có công đưa Ông vào bờ và ngày Ông lụy. Trong số này có bộ cốt cá Ông dài khoảng 3 m, nặng khoảng 2 tạ, được lồng trong một tủ kính riêng. Đây là cá Ông được ngư dân Phước Hải phát hiện cách đây bảy năm.

Sau ba năm chôn cất sẽ làm lễ cải táng đưa hài cốt cá ông từ lăng về Dinh Ông Nam Hải cách nghĩa trang khoảng 1 km để thờ, nhường đất an táng cho những cá ông khác.

Khi đó, Ông mắc cạn sát bờ, cả làng tìm cách đưa Ông ra khơi nhưng sóng lại đánh dạt Ông trở lại. Các cao niên trong làng bèn quyết định đưa Ông vào đặt trong Dinh, chờ hai ngày sau Ông trút hơi thở cuối cùng mới tổ chức đám tang.

Dinh Ông Nam Hải thờ nhiều vị thần, trong đó bàn thờ Ông Nam Hải được đặt ở trung tâm

Trong dân gian, ngư dân vẫn tin rằng khi Ông lụy thì sẽ có một Ông khác kê lưng dìu vào bờ, sau đó phun lên vòi nước để ngư dân trông thấy đưa đi an táng.

Tại Dinh còn có một nhà thờ phụng khác nữa, nơi đây lưu trữ hàng trăm hài cốt cá Ông trong tủ kiếng. Theo ông Lê Văn Hời, Trưởng ban nghi lễ Dinh Ông Nam Hải, cho biết: “Số lượng hài cốt cá Ông giờ đây quá nhiều, tủ kiếng đã chật kín. Sắp tới đây, tôi sẽ trình nên các cơ quan, ban, ngành xây dựng một nơi lưu trữ hài cốt của cá Ông tại một nơi mới”.

Theo tập tục của ngư dân Phước Hải, khi phát hiện Ông lụy, dù đang đánh bắt ở đâu, ngư dân cũng phải tìm cách đưa Ông vào bờ để làm đám tang. Người phát hiện Ông lụy đầu tiên được xem là trưởng nam, thay mặt dân làng thắt khăn trắng chịu tang, hằng năm cúng giỗ. Sau ba năm đối với cá Ông nhỏ, còn cá Ông lớn thì phải năm năm, dân làng làm lễ Thượng ngọc cốt thỉnh vào Dinh thờ rồi mới được xả tang.

Trên bệ thờ có một bộ hài cốt cá Ông còn nguyên vẹn bên cạnh là hai tượng cá. Theo người dân địa phương, sở dĩ đúc tượng cá như thế là để con cháu sau này biết khi đi biển lỡ có đánh lưới nhầm cá Ông thì phải nhanh chóng thả Ông về biển.

Nhiều ngư dân Phước Hải còn truyền miệng nhau những câu chuyện huyền bí và sự linh thiêng của cá Ông. Ông Lê Văn Lợi, Trưởng ban Quản lý Dinh Ông Nam Hải, cho biết: “Trước đây thường có nhiều ngư dân đến đây để xin răng của cá Ông. Họ tin rằng khi có được nó thì khi ra khơi họ sẽ luôn nhận được may mắn và chống được bệnh tật”.

Dinh Ông Nam Hải không chỉ là nơi an táng, hỏa táng cá Ông mà còn là nơi diễn ra nhiều nghi lễ và các sự kiện quan trọng khác.

Hằng năm, cứ vào ngày 16-2 âm lịch, làng chài Phước Hải lại tổ chức lễ nghinh Ông. Còn đối với những người đã từng chịu tang cá Ông sẽ đem lễ vật cúng viếng. Tất cả mọi người từ mọi miền đến đây luôn cầu mong được sự may mắn, độ trì từ cá Ông.

Chính vì những điều đặc biệt đó mà năm 2011 Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã trao bằng công nhận nơi đây là Nghĩa địa cá Ông lớn nhất Việt Nam, điều đó làm cho những người như ông Điện luôn cảm thấy tự hào và quý trọng đối với Nghĩa địa cá Ông tại làng chài Phước Hải.

Việc chôn cất và thờ cúng cá Ông không chỉ là yếu tố tâm linh mà từ lâu đã trở thành một nét đẹp văn hóa của cư dân miền biển trên cả nước

Từ một sinh vật khổng lồ sống dưới biển khơi, cá voi được huyền thoại hóa qua chuyện cứu người gặp nạn trên biển và trở thành vật linh thiêng đối với người làm nghề biển ở phía Nam. Việc thờ cá Ông đối với dân vạn chài là trách nhiệm và bổn phận. Họ coi đó như một cách đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả.

Khi đến nghĩa trang đặc biệt này, người ta như có cảm giác bình an, yên ổn giữa chốn đời thường xô bồ. Sự bình an này vốn dĩ như có sẵn được duy trì từ nhiều đời nay bên làng chài này.

Hữu Nhật – Đức Nam

Đăk Nông – bản trường ca của Đá và Nước

đăng 07:00, 29 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 07:05, 31 thg 3, 2021 ]

Trải qua hàng triệu năm, những đợt phun trào dữ dội của núi lửa cùng với sự kiến tạo đặc biệt của vỏ trái đất đã tạo nên một Công viên Địa chất toàn cầu Đăk Nông có hệ thống hang động, những cánh đồng dung nham, thác nước hoang sơ, kì vĩ… với vẻ đẹp nguyên sơ, huyền hoặc như những cảnh quay ấn tượng trong phim “Công viên kỉ Jura” của đạo diễn Steven Spielberg.

Krông Nô – “vương quốc” hang động núi lửa

Krông Nô là huyện nằm ở phía Đông Bắc, cách thành phố Gia Nghĩa, thủ phủ tỉnh Đăk Nông khoảng 100km. Đây được xem là vùng lõi của Công viên Địa chất toàn cầu Đăk Nông, là “vương quốc” núi lửa và khoảng 50 hang động núi lửa có một không hai trên thế giới.

Lịch sử phát triển địa chất của Đắk Nông có từ kỉ Jura cách đây khoảng 200 triệu năm về trước và vùng đất này vốn từng là một phần của đáy đại dương mênh mông. Mãi đến kỉ Paleogene (cách đây khoảng 60 triệu năm), nước biển rút đi, mặt đất nâng cao và bắt đầu xuất hiện các ngọn núi lửa để rồi từ đó nhiều đợt phun trào bazan kéo dài cho đến cách nay khoảng 10.000 năm thì mới kết thúc.

Đặc biệt, sự phun trào dữ dội của ngọn núi lửa Chư B’luk ở khu vực xã Buôn Choa’h, huyện Krông Nô ngày nay được xem là đã tạo ra một hệ thống hang động núi lửa có một không hai trên thế giới. Vì vậy, quanh khu vực núi lửa Chư B’luk người ta phát hiện rất nhiều hang động núi lửa có cấu tạo độc đáo. Điển hình như các hang C7, C9, C6.1, C6…

Với rất nhiều đặc điểm ghi dấu ấn phát triển của tự nhiên, của các tầng kiến tạo địa chất, hang C9 Chư Bluk cũng như các hang động khác trong quần thể đang là điểm đến hấp dẫn cho những ai đam mê khám phá, tìm hiểu quá trình thay đổi của thiên nhiên. Ảnh: Công Đạt

Miệng hang núi lửa C8, thuộc quần thể hang động núi lửa Chư B'luk, miệng hang như một vực thẳng đứng, không có đường xuống. Ảnh: Công Đạt

Vẻ đẹp của mái vòm bên trong hang C9, khi chiếu ánh sáng vào, các vách đá dung nham hiện lên lấp lánh. Ảnh: Công Đạt

Lòng hang động núi lửa C9 rất rộng, trần hang cao trên 12 mét, lòng hang rộng 15 mét. Ảnh: Công Đạt


Gỗ hóa thạch và đá mã não hình thành do kiến tạo địa chất ở Công viên địa chất toàn cầu Đăk Nông được tìm thấy tại huyện Cư Jut và huyện Đăk Min. Ảnh: Công Đạt

Nằm trên địa bàn huyện Krông Nô, núi lửa Nâm Kar là một trong những núi lửa đẹp nhất trong khu vực Công viên địa chất Đắk Nông. Ảnh: Công Đạt

Núi lửa Nâm Kar hoạt động cách ngày nay khoảng 5 triệu năm trước. Những dấu tích của sự phun trào đã tạo thành những khung cảnh tuyệt đẹp xung quanh miệng núi lửa này. Ảnh: Thanh Hòa

Con đường đá nham thạch trong hành trình khám phá chuỗi hang động núi lửa Chư B'Luk ở huyện Krông Nô. Ảnh: Công Đạt

Du khách khám phá vẻ đẹp hoang sơ của Công viên địa chất toàn cầu Đăk Nông. Ảnh: Công Đạt

Từ thị trấn Đăk Mâm, trung tâm huyện Krông Nô, chúng tôi nai nịt gọn gàng với đầy đủ ba lô máy móc tác nghiệp, thực phẩm… và đương nhiên không thể thiếu những chiếc đèn pin đặc dụng để bắt đầu cuộc hành trình dài khám phá “vương quốc” hang động núi lửa Krông Nô.

 

Các nhà khoa học còn phát hiện ra dấu tích rõ ràng về hoạt động sinh sống của người tiền sử cách đây từ 7.000-10.000 năm ở trong các hang động của Công viên địa chất toàn cầu Đăk Nông. Đây là một điều hiếm gặp ở các hang động núi lửa từng được phát hiện trên thế giới.
Tại hang C9, hang động núi lửa nằm gần núi Chư B’luk nhất, chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xuống tới đáy hang sâu cách mặt đất khoảng gần 20m. Qua luồng ánh sáng chiếu vào từ miệng hang, một khung cách ngoạn mục hiện ra giống như những cảnh quay trong phim “Công viên kỉ Jura” bởi hình ảnh những khối dung nham bazan đông cứng nhiều màu sắc, hình dáng nằm chồng chất lên nhau cùng với một khu rừng địa y, dương xỉ và vô số những loài thực vật thân mềm khác mọc lên xanh mướt khiến cho khung cảnh huyền hoặc như đưa con người du hành về thuở sơ khai của trái đất.

Đi sâu vào bên trong, dưới ánh đèn pin hiện lên những vách đá bazan nổi vân nâu đỏ, đây là sản phẩm của những dòng dung nham đã nguội lạnh qua hàng triệu năm lại phản chiếu nên những sắc màu kì lạ. Dưới nền hang, người ta vẫn còn phát hiện ra những lớp tro xỉ núi lửa đã bị phong hóa mạnh qua thời gian.

Ông Nguyễn Văn Thuấn, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam từng nhận xét rằng, so với hang động núi lửa ở một số nước trên thế giới như hang động núi lửa Manjanggul Lava trên đảo Jeju - biểu tượng của du lịch Hàn Quốc, thì hệ thống hang động núi lửa ở Krông Nô còn rộng lớn và hấp dẫn hơn nhiều.

Bản trường ca của Đá và Nước

Trải qua hàng triệu năm, sự kiến tạo địa lý tạo nên những đới đứt gãy cùng với quá trình phun trào dung nham của núi lửa, địa hình Đăk Nông có những biến đổi lớn khiến cho dòng chảy của các con sông Sêrêpôk, sông Đồng Nai thay đổi tạo nên những khu vực lòng hồ, thác nước tự nhiên hùng vĩ tuyệt đẹp như: thác Lưu Ly, thác Trượt, thác Bảy Tầng, thác Gia Long, thác Đray Sáp…

Ngay tại thành phố Gia Nghĩa, ngọn thác Liêng Nung hùng vĩ cao hơn 30m được hình thành từ con suối Đắk Nia chảy qua vùng đất buôn N’Jriêng mang lại vẻ đẹp hoang dã của đại ngàn. Từ trên vách núi cao dựng đứng, ngọn thác như mái tóc dài của người thiếu nữ bung xõa trắng xóa giữa rừng già. Ngay dưới chân thác là một vòm hang hình hàm ếch rộng hàng trăm mét được tạo thành từ hàng trăm ngàn cột đá bazan xếp lớp hình như tổ ong phủ đầy dương xỉ và rêu xanh tuyệt đẹp.

Thác Đray Sáp là điểm nối liền giữa hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông. Ảnh: Công Đạt
Những lớp đá xếp chồng lên nhau độc đáo trên miệng thác Liêng Nung. Ảnh: Công Đạt

Thác đá granite (hay còn gọi là Thác Trượt) nằm trong Vườn Quốc gia Tà Đùng có cảnh quan trên nền đá granit hiện bắt mắt. Ảnh: Công Đạt

Lực lượng kiểm lâm tuần tra quanh khu vực Vườn quốc gia Tà Đùng. Ảnh: Công Đạt

Đồng bào Mạ, một trong những tộc người bản địa ở Đắk Nông sinh hoạt văn hóa cồng chiêng. Ảnh: Thanh Hòa

Hồ Tà Đùng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng – dãy núi cao nhất tỉnh Đắk Nông, nằm giữa cao nguyên Đắk Nông và cao nguyên Di Linh là một địa chỉ du lịch hấp dẫn. Ảnh: Công Đạt

Hay ở Krông Nô có cụm thác Gia Long – Đray Sáp được đánh giá là một thắng cảnh nổi tiếng nhất vùng Tây Nguyên. Ở đây đá, nước và rừng cây hòa quyện vào nhau như một bản hòa ca tuyệt diệu của núi rừng. Xung quanh khu vực thác nước những dòng dung nham bazan đã nguội sau hàng triệu năm kết khối tạo thành những vách núi, ghềnh thác với vô số hình thế kì lạ đẹp mắt hiếm nơi nào có được.
 

Ngày 7/7/2020, Công viên Địa chất Đắk Nông có diện tích 4.760 km2, bao gồm các huyện Krông Nô, Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk G’long và thị xã Gia Nghĩa của tỉnh Đăk Nông được UNESCO công nhận là Công viên Địa chất toàn cầu. Đây là Công viên Địa chất toàn cầu thứ ba ở Việt Nam.
Đặc biệt, Công viên Địa chất toàn cầu Đăk Nông còn là nơi quần tụ sinh sống hài hòa lâu đời của nhiều tộc người bản địa như M’Nông, Mạ, Êđê… với đời sống văn hóa, phong tục, tập quán phong phú, đa dạng và độc đáo. Và cũng chính từ những cộng đồng cư dân này đã sản sinh ra những di sản văn hóa đặc sắc của nhân loại, trong đó có Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, một kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Và đây cũng chính là quê hương của bộ đàn đá cổ được chế tác từ đá bazan có niên đại khoảng 2.500 năm, một trong những nhạc cụ lâu đời nhất của nhân loại.

Bà Tôn Thị Ngọc Hạnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Nông cho biết, việc gia nhập Mạng lưới Công viên Địa chất toàn cầu của UNESCO đồng nghĩa các loại hình di sản ở Đăk Nông từ nay không chỉ còn bó hẹp ở địa phương, quốc gia mà đã trở thành di sản chung của nhân loại và của các thế hệ mai sau. Vì vậy, Đăk Nông sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch để mời gọi đầu tư và thu hút du khách đến với Đắk Nông bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có việc tham gia các sự kiện xúc tiến du lịch trong nước và quốc tế.

Bài: Thanh Hòa - Ảnh: Công Đạt, Thanh Hòa

Yên Bái và giấc mơ Bhutan

đăng 01:01, 25 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 00:09, 3 thg 3, 2021 ]

Bhutan, xứ sở nhỏ bé bên triền Himalaya, nổi tiếng cả thế giới với mệnh danh "xứ sở hạnh phúc".

Ruộng bậc thang Yên Bái - Ảnh: NGỌC QUANG

Tân Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái Đỗ Đức Duy nhấn mạnh: “Yên Bái không cố tạo ra sự khác biệt mà mục tiêu rõ ràng là tạo ra triết lý phát triển cho riêng mình”. Đã tìm được mối quan hệ hữu cơ sống còn giữa môi trường và sản phẩm, từ đó tạo nên hiệu quả môi trường cho con người, gìn giữ được rừng, được ruộng, được mây trời. Chừng đó đã đủ để chờ đợi...

Đến Bhutan một lần 10 năm trước, những thôn làng yên ả cheo leo sườn núi, bên cánh rừng bạt ngàn nhiều lần trở đi trở lại trong những giấc mơ và cả những ước mơ tôi. Việt Nam của chúng ta đâu thiếu cơ hội để có những Bhutan.

Vậy nên khi nghe về "chỉ số hạnh phúc" mà tỉnh Yên Bái vừa đưa vào nghị quyết đại hội Đảng với những tiêu chí khá cụ thể: "sự hài lòng về cuộc sống, tuổi thọ trung bình, sự hài lòng về môi trường sống", giấc mơ Bhutan chợt náo nức sống dậy, thôi thúc chúng tôi lên đường, trở lại với những cánh rừng, bản làng Yên Bái…

Chúng tôi được chứng kiến những bước đi đầy hi vọng.

Hạnh phúc giữa những bậc thang

Ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải đã được công nhận là danh thắng quốc gia từ lâu, những tấm ảnh mê hồn chụp những bậc thang vàng lúa chín đã thu hút hàng vạn du khách quốc tế đến với Mù Cang Chải.

Những ngày cuối năm, hết mùa lúa chín lại đến mùa đổ nước, nguồn thu từ du khách đến ngắm ruộng có khi còn lớn hơn nguồn lợi từ lúa được thu hoạch. Những cư dân nhanh nhạy của Mù Cang Chải đã kịp làm du lịch với những homestay đơn sơ giàu bản sắc.

Chúng tôi ghé vào homestay của Giàng A Dê, một chàng trai người Mông ở xã La Pán Tẩn. Từ chỗ đỗ xe ôtô phải leo bộ lên con dốc dựng đứng, và như để đền bù cho chặng đường thở dốc, khi đứng trước sân nhà A Dê, tầm mắt tôi được phóng ra khung trời khoáng đạt của lớp lớp ruộng bậc thang.

Sau ngàn bậc ruộng kia là dãy núi xanh lơ, sau dãy núi là mây trắng và nắng vàng chan hòa trên thung lũng. Hôm nay mùa gặt đã đi qua, những bậc thang chỉ còn trơ gốc rạ mà vẫn đẹp mê hồn. Màu sắc như mách rằng vào mùa đổ nước hay vụ gặt nơi này còn long lanh xiết bao.

Giàng A Dê kể năm nay nguồn thu tụt hẳn vì đại dịch COVID-19, du khách quốc tế không có. Nhưng tranh thủ lúc vắng khách anh đã dốc sức làm thêm được hai cái bungalow để chuẩn bị cho mùa du lịch năm sau.

Ngắm tác phẩm, biết anh chàng này có năng khiếu bẩm sinh về văn hóa kiến trúc. Mấy năm qua, trong vùng có nhiều người làm nhà mới, những mái nhà lợp bằng gỗ pơ mu được họ gỡ ra thay bằng mái ngói. Dê âm thầm đi mua những mảnh gỗ pơ mu đẫm màu thời gian ấy về, tích lũy đến khi đủ thì dùng nó dựng hai căn bungalow này.

Giữa không gian của núi rừng, của mênh mông bậc thang ruộng lúa, được ở trong căn phòng có mùi hương gỗ pơ mu hàng chục năm, ngồi trước hàng hiên với một ly trà shan tuyết hay chén rượu ngô, có lẽ địa đàng trần gian cũng chỉ đến thế này.

Những homestay như của Giàng A Dê đang mọc lên ngày càng nhiều ở Mù Cang Chải. Sau những phút khinh khoái, chúng tôi chỉ còn một ước mong homestay hãy cứ chân chất thế này thôi, để Mù Cang Chải giữ được thiên nhiên trong lành, và rừng, và ruộng, để tiếng khèn Mông không bị lọt thỏm trong bêtông và đèn màu.

Kinh nghiệm bêtông hóa, phôi phai văn hóa bản địa từ những địa chỉ du lịch trứ danh đã không còn thiếu. Mù Cang Chải, hãy cứ bạt ngàn lúa, bạt ngàn cây, bạt ngàn rừng... Chúng tôi hỏi A Dê: "Khách du lịch thì quá vui, quá sướng rồi, còn A Dê thì sao? Coi bộ giữ rừng, ruộng, bản làng không dễ dàng cho những người như A Dê?".

Anh cười hóm hỉnh: "Trước đây cái ruộng lúa chỉ cho lúa cho gạo để no cái bụng. Giờ lại có thêm khách tới ngắm nhìn, chụp ảnh no con mắt. Vậy là cũng ruộng lúa đó, chỉ cần thêm chỗ cho khách đến ở ngắm lúa là mình tăng thu nhập. Dưới xuôi người ta phải bỏ hàng trăm tỉ đồng xây dựng kỳ quan cho khách tới ngắm mới thu được tiền mà…". A Dê cười sảng khoái, rồi hạ giọng nghiêm túc: "Khách nhà Dê mấy năm nay đến từ nhiều nước lắm. Mình không chỉ có thêm thu nhập mà còn được họ dạy tiếng Anh, dạy nấu các món ăn mới, vui lắm. Bù lại, họ cũng học thêm về văn hóa tập quán người Mông ta. Khách vui mình vui, khỏe. Cái này bây giờ gọi là kinh tế win-win đó. Vì thế mình càng phải giữ ruộng, giữ rừng, giữ thiên nhiên này. Không chăm giữ mà chỉ phá đi thì không có khách đến. Khách không đến thì không còn vui nữa đâu".

"Rừng và ruộng với chúng tôi là vấn đề sống còn" - bí thư Huyện ủy Mù Cang Chải Nông Việt Yên khẳng định. Ngay khi nhậm chức 2 năm trước, ông đã đặt mục tiêu số 1 là chăm lo rừng và ruộng. Để giữ môi trường thì cần giữ rừng là điều ai cũng đã biết, nhưng với người dân Mù Cang Chải, để chống sạt đất còn có ruộng bậc thang.

"Lên đây, tôi phát hiện người Mông ở Mù Cang Chải là những nghệ nhân làm ruộng bậc thang. Không chỉ làm ruộng ở quê nhà, họ còn đi sang tận Bắc Hà (Lào Cai), Xín Mần (Hà Giang) để làm ruộng bậc thang giúp dân bên ấy. Ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải không chỉ là ruộng lúa mà góp phần rất quan trọng để giữ đất.

Vùng đồi núi được dân canh tác thành ruộng bậc thang hầu như không xảy ra tình trạng sạt lở đất. Vì thế ở Mù Cang Chải để giữ đất không chỉ trồng rừng mà còn phải giữ và phát triển ruộng. Thuận lợi lớn hơn khi ruộng bậc thang là danh thắng, là nguồn lực để phát triển du lịch".

Đi tiếp những cung đường quanh co đèo dốc, những đồi ruộng bậc thang sắc màu dần nhường chỗ cho những cánh rừng bạt ngàn xanh. Chủ tịch huyện Mù Cang Chải Lê Trọng Khang tự hào kể: "Tỉ lệ che phủ rừng của Mù Cang Chải là 67%.

Nhiều năm trước, mỗi lần qua cung đường này, từ Khau Phạ đi lên, không chuyến đi nào chúng tôi không chứng kiến những trận cháy rừng. Nhưng mấy năm gần đây, những trận cháy rừng đã hiếm".

Chỉ vào mảng xanh mịt mùng trước mặt, ông Khang cặn kẽ: "Đây là khu rừng thông lớn nhất Tây Bắc, trước đây thuộc Lâm trường Púng Luông, giờ đổi thành Ban quản lý rừng phòng hộ Mù Cang Chải. Ở địa bàn các xã như Púng Luông, Nậm Khắt… gần mười năm nay không xảy ra vụ cháy rừng nào, có thể gọi đó là kỳ tích".

Ngày Tết ở Mù Cang Chải - Ảnh: NGỌC QUANG

Giữ hương cho rừng

Thật tình cờ, những sản vật, cây trồng đang trở thành những hình mẫu cho Yên Bái phát triển đều rất đậm hương: hương bưởi ở Đại Minh (huyện Yên Bình), hương quế ở Văn Yên, hương chè ở Suối Giàng (Văn Chấn), hương hoa hồng ở Nậm Khắt (Mù Cang Chải)...

Chúng tôi vào Đại Minh, một xã trứ danh về bưởi của huyện Yên Bình. Chủ tịch xã - anh Tạ Quang Công - là thạc sĩ về môi trường. Trong câu chuyện về phát triển cây bưởi ở Đại Minh, anh Công đưa ra mối quan hệ hữu cơ khá thú vị.

"Nguồn thu từ bưởi của Đại Minh mỗi năm tầm 50 tỉ đồng. Với một xã miền núi như thế này, đó là một con số lớn. Nhưng phải hiểu rộng hơn nữa: doanh thu 50 tỉ đồng từ bưởi có lợi cho môi trường sinh thái hơn 50 tỉ đồng doanh thu từ khai thác cát sạn hay khai khoáng".

Và quan trọng hơn nữa là vùng bưởi Đại Minh đã được cấp chứng nhận VietGap, sản phẩm bưởi đã vào được các siêu thị Vinmart hay Big C. Điều đó có nghĩa rằng người dân quê phải bảo vệ môi trường của mình thực sự tinh khôi. Bởi chỉ cần một nhà máy có khí thải, xí nghiệp có lò đốt... chắc chắn sẽ gây ô nhiễm môi trường, và như thế hàng trăm hecta bưởi Đại Minh sẽ không còn đạt tiêu chuẩn VietGap, sẽ bị "dội chợ" ngay. Vì chất lượng sản phẩm, chỗ đứng trên thị trường của mình, tự thân người dân có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái hơn bất cứ sự chỉ đạo nào.

Anh Tạ Quang Công dẫn chúng tôi vào vườn bưởi nhà ông Nguyễn Văn Định ở thôn Minh Thân. Đang mùa thu hoạch, sắc vàng của những quả bưởi lung linh bao nhiêu thì hương bưởi chín quyến rũ bấy nhiêu.

Với vườn bưởi này, gia đình ông Định thu mỗi năm tầm 400 triệu đồng. Xã Đại Minh còn nhiều hộ dân có thu nhập rất cao và ổn định từ bưởi như gia đình ông Trần Kim Tiến ở thôn Đại Thân, ông Tạ Minh Tân ở thôn Khả Lĩnh. Cái sự ràng rịt hữu cơ của thị trường thật là hữu hiệu.

Yên Bái còn nổi tiếng với vườn chè, đồi quế, những sản vật giá trị cao đòi hỏi môi trường phải tuyệt đối sạch. Và môi trường không chỉ mang lại chất lượng cho sản phẩm mà cho cả cuộc sống con người.

Chúng tôi không thể quên một đêm ngủ lại vương quốc chè Suối Giàng trong ngôi nhà lợp bằng gỗ pơ mu của người Mông dưới chân đỉnh núi Chông Páo Mùa. Tấm "ngói" bằng gỗ pơ mu ấy biết cong lên dưới ánh nắng trưa cho những tia nắng lọt vào nhà, soi "những hạt bụi thành hạt vàng".

Khi mưa xuống, mái gỗ ấy lại biết khép lại úp khít lên che những hạt mưa xiên khoai. Giữa rừng chè cổ thụ đẹp như bon sai, trong nếp nhà thơm mùi nhựa pơ mu và hương hoa chè dịu ngọt, ngồi bên bếp lửa, tự tay pha ấm trà với những búp móc câu phủ lớp tuyết óng ánh bạc, nhìn qua cửa sổ mây đang giăng màn trên đỉnh núi, hay phóng tầm mắt qua lan can hiên nhà sàn để thấy cánh đồng Nghĩa Lộ - Văn Chấn huyền ảo trong sương sớm, ngộ ra vì sao tên đất này là Suối Giàng. Giàng - đó là "miền Trời".

Rồi sẽ đến một ngày Tây Bắc của chúng ta cũng được gọi là "xứ sở hạnh phúc". Tại sao không?


Sải bước GNH

So sánh giữa GDP (tổng sản phẩm quốc nội) và GNH (tổng hạnh phúc quốc gia) để diễn dịch cụ thể, ta tạm hãy tưởng tượng một con người nơi đô thị, đầy đủ tiện nghi, đi trong chiếc xe hạng sang nhưng phải chờ hàng giờ vì tắc đường, mở cửa xe thì tắc phổi vì khói bụi, uống ly rượu đắt tiền nhưng tâm hồn trĩu nặng lo toan.

Còn ở một nơi chốn khác, người ấy cưỡi chiếc đạp, xe máy hay thậm chí đi bộ trên cung đường núi non, nâng chén rượu ngô không hóa chất, khinh khoái nhìn mây trên núi xa rồi ngồi xuống bên đường, rút từ balô ra cây sáo trúc để tấu lên những giai điệu tha thiết với quê hương.


LÊ ĐỨC DỤC - ĐỨC BÌNH

“Cá tính” vùng đất xứ Thanh trong cái nhìn địa - chính trị

đăng 01:00, 24 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Trong lịch sử Việt Nam, tỉnh Thanh Hóa là một thực thể địa lý bao gồm hai tính chất đối nghịch: Vừa là vùng đất khép kín có cấu trúc tự trị khá hoàn chỉnh, đồng thời, lại là vùng đất nằm ở vị trí trung chuyển giữa các con đường. Trong đó, đường bộ thiên lý (đường ở đồng bằng ven biển), thượng đạo (đường trên miền núi) và đường thủy (đường biển và sông) đều có tầm quan trọng vừa cho vùng đất, lại vừa cho cả quốc gia. Chính vị trí địa – chính trị đặc thù ấy đã góp vào quy định địa – tâm lý, cá tính vùng miền xứ Thanh.

Xứ Thanh, ngoài tính khép kín do chỉnh thể địa lý mang lại còn nằm ở vị trí trung chuyển quan trọng trong sơ đồ địa lý quốc gia (ảnh: Minh họa).

Quá khứ khép kín của địa lý Thanh Hóa được tạo nên bởi sự vây phủ của núi. Phía Bắc, dãy Tam Điệp hiểm trở ứng với cửa Thần Phù dữ dằn ngăn cách Thanh Hóa với miền Bắc. Phía Nam, dãy Hoàng Mai ăn ra tận biển, ngăn cách Thanh Hóa với Nghệ An. Về phía Tây, khối núi Trường Sơn khổng lồ dâng cao ngăn miền núi Thanh Hóa với vương quốc Ai Lao. Tuy thế, quá khứ khép kín không phải là một mối đe dọa cho vùng đất, khi vùng đất này, có thể tự túc để tồn tại nên do đó, khép kín trong một nghĩa nào đấy lại tạo nên lợi thế địa chính trị không nơi nào có. Thanh Hóa, đúng như các học giả Đông Dương nhận thấy, là một nước Việt Nam thu nhỏ khi có trong mình cả địa hình núi, trung du, đồng bằng và biển cả. Châu thổ sông Mã không quá trù phú nhưng đủ nuôi sống người Kinh/Việt của tỉnh trong quá khứ. Miền núi thì luôn phong túc, không biết đến sự đe dọa của nạn đói vốn ám ảnh lịch sử Việt Nam trong quá khứ. Thanh Hóa do đó khác với Bắc bộ, nơi đứt gãy địa lý miền núi và đồng bằng là rõ nét, vì thế, dân miền núi và dân Việt/Kinh ở châu thổ sông Hồng ít có sự giao lưu với nhau mật thiết. Tỉnh Thanh Hóa, địa lý đồng bằng và miền núi có một sự chuyển tiếp khá nhịp nhàng, nên vì thế, các khối dân trong tỉnh từ khởi thủy đã có sự giao lưu sâu đậm. Sự tổng hợp Việt – Mường – Thái ở tỉnh Thanh Hóa chính là do địa lý giao thông dễ tiếp cận nhào trộn, hòa lẫn nhiều trăm năm mà tựu thành.

Tuy khép kín nhưng lại nằm ở cực Nam của Đại Việt trong quá khứ, nên trên đà Nam tiến của dân tộc, các khối người Việt miền Bắc buộc phải tràn qua đây để lấn vào phương Nam. Tỉnh Thanh Hóa, do đó, tự nhiên trở thành một mắt xích địa lý giao thông quan trọng trên cả đường biển, sông, thiên lý Bắc – Nam và nhất là thượng đạo trên cao. Chính yếu tố này, khiến vùng đất không thể kín hoàn toàn mà phải gia tăng tính chất mở.

Biện chứng khép – mở này của địa lý giao thông vùng đất, chắc chắn đã góp phần vào quy định các tính cách tập thể cư dân tỉnh Thanh Hóa. Trong một ý nghĩa khái quát ban đầu, số phận của “tiểu vùng văn hóa” này được minh chứng sinh động, thuyết phục qua những “lát cắt” sau:

Thanh Hóa là một vùng đất trọng điểm của quốc gia, nơi mà phần lớn các thế lực chính trị Trung đại có nguồn gốc từ các nhóm Thanh Hóa (có thể nói, về cơ bản chỉ loại trừ hai vương triều Lý – Trần). Vì thế, Thanh Hóa là vùng đất của các truyền thống quật khởi, anh hùng của chủ nghĩa yêu nước mãnh liệt – nếu chủ nghĩa yêu nước được hiểu ở lớp nghĩa nổi trội quen thuộc lâu nay là kháng chiến chống ngoại xâm.

Thanh Hóa trong quá khứ là đất của vùng biên viễn. Địa lý Thanh Hóa luôn là điểm giáp ranh của Đại Việt và Chăm Pa, Ai Lao và sau này, phần nào đấy là Đàng Trong và Đàng Ngoài. Được quy định bởi địa lý gián cách với ảnh hưởng phương Bắc và cơ cấu đa tộc người, mô hình Hán hóa nếu có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn ở châu thổ Bắc bộ thì nó đã mờ nhạt đi ở Thanh Hóa. Lịch sử đã cho biết, chưa bao giờ những vùng đất trọng Nho học, hay nhà Nho - những người theo đuổi trật tự tôn quân lại có thể lên nắm chính quyền, bởi với họ, duy trì trật tự mới là lý tưởng Nho giáo, còn nổi loạn là phản nghịch, bất trung. Tuy thế, ở Việt Nam trong quá khứ, các hào trưởng, các thủ lĩnh địa phương, các phụ đạo, những người không quá coi trọng chủ nghĩa tôn quân, đức trung nhà Nho mới là những người nắm vận mệnh quyền lực quốc gia. Các thủ lĩnh gốc Thanh Hóa xuất thân chủ yếu hào trưởng, võ tướng có những mối liên hệ mật thiết với quyền lực tộc người. Vùng đất này, vì thế, đại diện cho cá tính “nổi loạn” vốn là khởi nguồn của chủ nghĩa anh hùng, quật khởi trong quá khứ.

Thanh Hóa là một vùng đất trong tư cách chỉnh thể tự trị khá cao do tính chất địa lý đưa lại, người xứ Thanh trước sự quá tải dân số đầu thế kỷ XX, như Robequain nhìn thấy, họ không cần phải tiến hành các giao lưu bên ngoài để phục vụ cuộc sống, vì, xứ sở này đã cung cấp cho họ đầy đủ tất cả các nhu cầu thiết yếu. Điều này, tạo thành tính khép kín của văn hóa xứ Thanh. Tính khép kín trong cư trú sẽ tạo nên sự cố kết chặt, sự đoàn kết tạo bởi mối liên hệ nội bộ của con người trong vùng đất. Vì thế, vào những thời điểm gay cấn của lịch sử, như khởi nghĩa Lam Sơn, nhóm Thanh Hóa đa tộc người này đã dễ dàng hơn trong sự chia sẻ một ý đồ chung phục quốc. Đó là cội nguồn của sự đoàn kết khi khơi gợi nên những tình cảm gắn bó chung với một vùng đất mà ký ức địa lý về nó luôn rất ổn định. Tuy thế, trong những hoàn cảnh xã hội phi chiến tranh và nhất là trong bối cảnh cần sự giao lưu mở rộng (như thời hiện đại) để phát triển thì tính khép kín lại trở thành tính cục bộ địa phương gây cản trở quá trình hợp tác và phát triển chung. Cần ý thức điểm mạnh và yếu này trong địa – chính trị, tâm lý lịch sử của tỉnh để có thể điều chỉnh hài hòa thì mới phát huy được hết nội lực của tỉnh.

Thanh Hóa, ngoài tính khép kín do chỉnh thể địa lý mang lại, như đã bàn ở trên nó còn nằm ở vị trí trung chuyển của quốc gia. Mà chính vị trí trung chuyển của một xứ khép kín này mới là nơi mà trọng tâm vấn đề rơi vào. Là điểm trung chuyển, Thanh Hóa có vị trí quan trọng trong sơ đồ địa lý quốc gia. Bước chân vào thời hiện đại, tính chất trung chuyển ấy càng được đề cao và trở nên quan trọng trong sự phát triển về mọi mặt của vùng đất vốn đã được tạo hóa ưu ái ban tặng cho quá nhiều đặc ân.

Cũng như bất cứ tỉnh, xứ, vùng, miền nào khác trong nước Việt Nam, cá tính của vùng đất là tổng hòa của nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó, những đặc trưng về địa – chính trị, văn hóa góp phần to lớn, hun đúc nên cá tính của vùng đất ấy. Và lẽ dĩ nhiên, song hành với nó luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực. Việc xây dựng con người theo những xu hướng thường đòi hỏi chúng ta phải nhận thức được cả hai mặt ưu và nhược, để từ đó, dù có hơi sáo ngữ, nhưng đúng là vậy, cần phải tạo dựng các chiến lược phát triển giáo dục con người theo hướng hạn chế cái nhược và phát huy ưu điểm của con người trong một vùng đất mà hàng năm lịch sử luôn là trái tim của nước Việt Nam.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Tiến (Viện Văn học)

Phú Quốc – thành phố của những giấc mơ

đăng 01:11, 21 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 04:35, 24 thg 2, 2021 ]

Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam có một hòn đảo nằm ngoài khơi được nâng cấp thành đơn vị hành chính cấp thành phố với đầy đủ cơ sở pháp lí, diện mạo, tầm vóc và vị thế của nó. Việc đưa Phú Quốc trở thành thành phố đảo đầu tiên của cả nước không chỉ là bước ngoặt lớn tạo tiền đề sớm đưa hòn đảo được mệnh danh là “đảo ngọc” này trở thành một trung tâm kinh tế, du lịch và dịch vụ hàng đầu khu vực và thế giới mà còn cho thấy tầm nhìn chiến lược của Việt Nam trong định hướng phát triển kinh tế biển kết hợp đảm bảo an ninh-quốc phòng ở các vùng biển đảo.

Từ thiên đường trên biển...

Từ trên máy bay, qua ô cửa nhỏ, Phú Quốc hiện ra trông như một cánh buồm xanh căng gió giữa biển khơi. Thậm chí vị khách ngồi cạnh tôi, một người đàn ông đứng tuổi có dáng vẻ từng trải còn so sánh khá thú vị rằng đảo Phú Quốc có hình dáng trông như lục địa Nam Mỹ thu nhỏ. Câu chuyện về hòn đảo ngọc từ đó trở nên rôm rả cho đến khi máy bay đáp xuống phi trường Phú Quốc, một phi trường quốc tế nhỏ xinh ngập tràn ánh nắng và lồng lộng gió đại dương.

Từ sân bay tôi đi taxi về khu nghỉ dưỡng Sea Star Resort, một khu resot nhỏ mang phong cách gia đình nằm ven biển ở phường Dương Đông, ngay trung tâm thành phố mới Phú Quốc. Xe chạy theo đường Trần Hưng Đạo, con lộ lớn dọc bờ biển phía Tây của đảo. Biển một bên, phố xá sầm uất một bên chạy dài đến hút tầm mắt khiến cho cái sự mường tượng ban đầu ở trong tôi về vẻ vắng lặng, nhỏ bé thường thấy của một hòn đảo nhanh chóng biến mất, thay vào đó là cái cảm giác phấn khích và có phần ngỡ ngàng.

Đi dọc suốt gần 50 cây số từ phía Nam đến phía Bắc đảo hầu như ở đâu cũng có những bãi tắm và cảnh biển hoang sơ tuyệt đẹp như: bãi Sao, bãi Dài, bãi Trường, bãi Gành Dầu, bãi Khem, bãi Thơm… Đó là chưa kể đến cái thú đi du thuyền phóng như bay trên mặt biển khám phá hàng chục hòn đảo hoang sơ nằm rải rác quanh đảo chính.

Ca nô đưa du khách thăm quan hòn Mây Rút, đây là một trong những hòn đảo hoang sơ và đẹp nhất ở Phú Quốc. Ảnh Nguyễn Luân

Phú Quốc nổi tiếng với nhiều bãi biển đẹp là nơi tổ chức nhiều chương trình vui chơi, giải trí. Ảnh: Lê Minh

Phú Quốc nổi tiếng với những hàng dừa đẹp, vươn mình ra những bãi biển. Ảnh: Tất Sơn

Du khách vui chơi tại khu vực Công viên nước, Hòn Thơm do Sun Group đầu tư. Ảnh: Tư liệu

Du khách trải nghiệm chèo thuyền Kayak, tắm biển trên làn nước trong xanh. Ảnh Nguyễn Luân

Thiền viện Trúc Lâm (hay còn gọi là chùa Hộ Quốc) là một trong những địa điểm du lịch tâm linh của Phú Quốc. Ảnh Nguyễn Luân

Những bến thuyền được xây dựng để giúp du khách du thuyền trên mặt biển khám phá hàng chục hòn đảo hoang sơ nằm rải rác quanh đảo chính. Ảnh: Tất Sơn

Du khách trải nghiệm chợ đêm Phú Quốc. Ảnh: Lê Minh

Vinpearl Safari Phú Quốc là một trải nghiệm thích thú dành cho những người ưa thích khám phá động vật hoang dã. Ảnh: Tất Sơn

Thủy cung Vinpearl Phú Quốc được xây dựng quy mô giúp du khách có thể thả mình giữa đại dương bao la. Ảnh: Nguyễn Luân

Cuộc sống ở Phú Quốc mang đậm nét văn hóa miền biển với những làng chài, cảng cá và những làng nghề truyền thống lâu đời như nghề làm ngọc trai, nước mắm, hồ tiêu... Hấp dẫn và cuốn hút du khách nhất có lẽ là ẩm thực với rất nhiều món ăn tươi ngon từ biển cả với giá cả phải chăng và được chế biến mang phong vị đặc trưng của người bản xứ.

Phú Quốc cũng là hòn đảo sớm được khai phá từ thời các chúa Nguyễn (thế kỉ 18), cư dân sinh sống lâu đời nên nơi đây hiện vẫn còn nhiều di tích văn hóa, lịch sử phản ánh đậm nét đời sống văn hóa của cư dân bản địa.
.Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà Phú Quốc luôn được nhiều tờ báo lớn như Forbes, CNN và Telegraph ca ngợi là điểm du lịch đáng ghé thăm. Năm 2020 vừa qua, Phú Quốc đứng thứ 7 trong Top 25 điểm đến mới nổi do trang tư vấn du lịch nổi tiếng nhất thế giới TripAdvisor công bố. Trước đó, vào năm 2019, chuyên trang du lịch kênh truyền hình CNN của Mỹ đã bình chọn Phú Quốc là 1 trong 19 điểm đến tốt nhất châu Á vì nơi đây có các bãi biển đẹp nhất Đông Nam Á. Và cũng chính trang này đã bình chọn nơi đây là 1 trong 5 địa điểm du lịch đáng đến một lần trong đời ở châu Á - Thái Bình Dương vào mùa thu. Còn tác giả Venus Wong của tờ Telegraph (Anh) lại tỏ ra cực kì ấn tượng với khung cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp trên bãi Trường hoang sơ kiều diễm cùng món cua tươi ngon đến mức có thể "bò ra khỏi đĩa".

Những năm gần đây, làn sóng đầu tư du lịch bùng nổ ở Phú Quốc cũng đã đem đến cho hòn đảo ngọc này một bộ mặt đổi thay mới mẻ, hiện đại với nhiều tổ hợp du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí đẳng cấp quốc tế nhằm thu hút lượng lớn du khách hạng sang như: Vinpearl Land, Sun World Hon Thom Nature Park, Vinpearl Safari, Casino Phú Quốc, Cáp treo An Thới – Hòn Thơm…

Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, những năm gần đây, lượng khách du lịch đến Phú Quốc liên tục tăng 20-30% mỗi năm. Riêng năm 2019, trước khi xảy ra dịch Covid-19, Phú Quốc đón gần 6 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế gần 1 triệu lượt. Điều đó cho thấy tiềm năng du lịch của Phú Quốc rất lớn và cái đích để hòn đảo này thực sự trở thành “thiên đường” trên biển sẽ không xa.

Đến thành phố ấn tượng giữa đại dương

Để đảo ngọc Phú Quốc sớm trở thành một thiên đường du lịch sánh ngang với Phukhet, Bali ở khu vực hoặc xa hơn như Maldives, Hawaii, Venice… hay một trung tâm tài chính, dịch vụ hàng đầu thế giới như Hồng Kông, Ma Cao của Trung Quốc, hòn đảo xinh đẹp này cần phải được khoác lên mình chiếc áo mới thay cho chiếc áo cũ đã trở nên chật chội và cũ kĩ. Chính vì vậy, ngày 9/12/2020, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, tạo bước ngoặt lớn chắp cánh cho hòn đảo rộng gần 600 cây số vuông, với dân số gần 180 nghìn người, có cơ hội lột xác không chỉ trở thành thiên đường du lịch mà còn sớm trở thành trung tâm kinh tế, du lịch và dịch vụ hàng đầu khu vực và thế giới.

Phát biểu tại buổi lễ công bố thành lập thành phố Phú Quốc, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình cho rằng, quy hoạch phát triển Phú Quốc phải có tầm nhìn dài hạn ít nhất từ 50 năm trở lên để đáp ứng nhu cầu phát triển của cả trước mắt và lâu dài. Tạo điều kiện cho Phú Quốc phát triển trở thành một trung tâm du lịch, thương mại lớn của cả nước, khu vực và quốc tế với 4 trụ cột chính: công nghiệp giải trí, du lịch nghỉ dưỡng, dịch vụ tài chính ngân hàng và kinh tế biển. Trước mắt, cần sớm nghiên cứu, đề xuất xây dựng cơ chế chính sách đặc thù, đột phá cho Phú Quốc như: mô hình chính quyền đô thị đặc thù biển đảo, cơ chế chính sách để thu hút các nhà đầu tư lớn, có năng lực thực sự…

Cáp treo Hòn Thơm là tuyến cáp treo dài nhất thế giới do Tập đoàn Sun Group đầu tư. Toàn bộ hệ thống có hai nhà ga, 6 trụ cáp, 69 cabin, mỗi cabin có sức chứa 30 khách, vận hành ở vận tốc tối đa đạt 8,5m/s. Cáp treo Hòn Thơm rút ngắn thời gian di chuyển của du khách từ An Thới tới Hòn Thơm xuống còn 15 phút thay vì 30 phút di chuyển bằng cano trên biển. Ảnh: Tất Sơn

Khu nghỉ dưỡng Premier Residences Phu Quoc Emerald Bay thuộc bãi Khem, Phường An Thới, Tp. Phú Quốc. Ảnh: Lê Minh

Một góc Khu đô thị Sun Grand City An Thới thuộc khu vực phía Nam Phú Quốc. Ảnh: Tất Sơn

Khu vực phía Bắc Thành phố đảo Phú Quốc được quy hoạch, phát triển quy mô nhờ nhiều dự án của tập đoàn Vingroup. Ảnh: Tất Sơn

Khu nghỉ dưỡng Premier Village Phu Quoc giúp cho du khách có một trải nghiệm có một không hai giữa thiên nhiên tĩnh lặng, hoang sơ. Ảnh: Tư liệu

Việc Phú Quốc trở là Thành phố Đảo đầu tiên của cả nước với chính sách thu hút đầu tư nên có nhiều khu đô thị hiện đại được xây dựng. Ảnh: Tư liệu

Phú Quốc nổi tiếng với đặc sản nước mắm thơm ngon có độ đạm cao. Ảnh: Tất Sơn

Cùng với việc phát triển về cơ sở hạ tầng thì Phú Quốc tập trung phát triển những ngành nghề truyền thống trong đó có nghề nuôi trai, cấy ngọc. Ảnh: Lê Minh

Mỗi năm sân bay Quốc tế Phú Quốc đón hàng triệu du khách đến để du lịch và tìm hiểu cơ hội đầu tư. Ảnh Nguyễn Luân

Những năm gần đây, trước khi trở thành thành phố, nhu cầu phát triển kinh tế và du lịch ở Phú Quốc thực sự đã bùng nổ. Điểm sáng đầu tiên phải kể đến dự án xây mới Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc ở vị trí trung tâm đảo với khả năng có thể đón được hầu hết các loại tàu bay lớn với tần suất lớn, nhiều đường bay thẳng từ các nước châu Á, châu Âu được thiết lập đưa khách du lịch đến thẳng Phú Quốc mà không cần trung chuyển qua bất kì sân bay nào khác. Đi cùng với đó, tuyến giao thông đường biển cũng được đầu tư xây dựng một cảng hành khách quốc tế có thể đón những chiếc du thuyền hàng đầu thế giới với sức chở 5.000 - 6.000 hành khách cập bến ghé thăm đảo.

Bước ngoặt tiếp theo là dự án kéo đường cáp điện ngầm xuyên biển dài nhất Đông Nam Á với chiều dài 57km để cấp điện lưới cho Phú Quốc. Có điện, con đường phát triển kinh tế, xã hội và thu hút đầu tư của Phú Quốc thực sự bừng sáng. Nhiều khu đô thị ven biển hiện đại, sang trọng được xây mới mang màu sắc và cảm hứng lãng mạn của những thành phố nổi tiếng bên bờ Địa Trung Hải.

Đón đầu cơ hội, nhiều tập đoàn kinh tế như Vingroup, Sungroup, BIMgroup, CEOgroup, MIKgroup, Milltol… đã rót vốn đầu tư nhiều dự án lớn vào hòn đảo này. Tính đến nay Phú Quốc đã thu hút được 372 dự án với tổng vốn đăng kí đầu tư khoảng 16,5 tỉ USD. Riêng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có hơn 30 dự án với số vốn trên 300 triệu USD. Vì thế, trên những vùng biển đẹp của Phú Quốc giờ đây đã xuất hiện nhiều trung tâm nghỉ dưỡng sang trọng của các thương hiệu du lịch đẳng cấp quốc tế như Marriott, Intercontinental, Hyatt, Movenpick, Novotel...

Theo ông Huỳnh Quang Hưng, Chủ tịch UBND thành phố Phú Quốc, hiện các nhà đầu tư đến với Phú Quốc đang được hưởng các cơ chế, chính sách ưu đãi tốt nhất của Chính phủ cho phép. Thành phố tiếp tục tích cực phối hợp với các sở, ngành cấp tỉnh đề xuất với Trung ương về cơ chế, chính sách tốt hơn nữa, nhất là những chính sách về tiền thuê đất, sử dụng đất, nhập cảnh... để thu hút các nhà đầu tư vào Phú Quốc, sớm đưa Phú Quốc có tên trên bản đồ những thành phố đảo nổi tiếng thế giới.

Thành phố Phú Quốc diện tích 589,23 km2, gần bằng đảo quốc Singapore, nằm ở vị trí giáp thành phố Hà Tiên, huyện Kiên Lương (tỉnh Kiên Giang); vịnh Thái Lan và Campuchia. Trong vùng biển Phú Quốc, ngoài đảo chính còn có 22 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau như: hòn Thơm, hòn Dăm, hòn Xưởng, hòn Móng Tay, hòn Mây Rút… tạo nên khung cảnh sơn thủy hữu tình. Sau khi thành lập, thành phố Phú Quốc có 2 phường, 7 xã, quy mô dân số 179.480 người.


Bài: Thanh Hòa - Ảnh: Tất Sơn, Lê Minh, Nguyễn Luân và Tư liệu Sun Group

Gót hồng “cõng chợ”… lên mây!

đăng 21:30, 13 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Đón ánh bình minh giữa không gian mờ ảo của buổi sáng với những đám mây len lỏi, luồn qua những ngọn đồi sẽ mang đến cho bạn một cảm giác rất tuyệt vời, cái se lạnh vừa đủ làm ta thổn thức với những ngọn gió xuân đang về. Chợ mây núi Cấm (Tịnh Biên) là một nơi như thế. Nơi đây không những đủ để ta thỏa sức "săn mây" nơi non ca,o mà còn mang đến cho ta trải nghiệm vừa lạ, vừa quen với phiên “chợ mây” độc đáo của những phụ nữ miền sơn cước.

Lên “chợ mây”!

4 giờ sáng, tôi bắt đầu hành trình đi tìm... “chợ mây”. Bởi lẽ, cái “chợ mây” ấy họp nhanh mà tan cũng nhanh. Theo lời người dân bản địa, “chợ mây” họp từ khi ánh bình minh chưa ló dạng trên đỉnh núi Cấm. Lúc mây mù vẫn còn giăng phủ dày đặc trên những nhành cây, kẽ lá. 5 giờ 30 phút sáng, xe tôi tới chân núi Cấm, tưởng chừng chuyến đi sẽ thuận lợi, nào ngờ cơn mưa “không hẹn mà gặp” đổ như trút nước kéo đến.

Tôi tấp vào quán nước nhỏ dưới chân núi chờ mưa tạnh. Chị hàng nước dậy từ rất sớm sẵn sàng phục vụ khách tham quan núi Cấm chào mời đôn hậu cũng khá bất ngờ về cơn mưa lạ cuối đông này. Bởi theo chị, mọi năm không có mưa vào thời điểm này. Rồi biết ý định tôi đi “chợ mây”, chị trấn an: "Em yên tâm, nhiều khi thấy mưa ào ào ở dưới này vậy chứ ở trên núi mát lắm, không có hột mưa nào đâu. Ở đây mấy mươi năm rồi, chị rành lắm!".


Rồi chị hàng quán kể về phiên “chợ mây” đặc biệt cho tôi nghe. Theo lời chị, “chợ mây” họp tầm 5 giờ sáng nhưng khoảng 9 giờ là chợ tan. Vì vậy, nếu tham quan núi Cấm từ 9 giờ trở đi sẽ không thấy được “chợ mây”! Câu chuyện về “chợ mây” cứ thế dần hiện lên qua lời kể của chị hàng nước vui tính. Tạm biệt chị, tôi đi “xe ôm” lên núi Cấm. Lúc này, đồng hồ trên tay đã điểm 6 giờ sáng. Tuy nhiên, vì ở miền sơn cước nên cái lạnh và sự mờ ảo của xứ núi làm cho người ta ngỡ chỉ mới hơn 5 giờ. Lúc này mưa đã nhẹ hạt nhiều, như hơi sương sớm mai, lất phất chạm nhẹ vai áo người lên núi.

Khi biết tôi tìm đến "chợ mây", anh Hậu (hành nghề “xe ôm” ở núi Cấm) nhiệt tình: "Trời này mà lên "chợ mây" là "đúng bài" luôn đó. Vừa cảm nhận được cái lạnh của núi Cấm, vừa ngắm mây bay lửng lơ trên đầu, thích lắm. Tầm 3-4 giờ sáng, những người phụ nữ đã kiên nhẫn gánh hàng bằng đường bộ lên “chợ mây” cho kịp phiên chợ. Cũng có chị tiết kiệm thời gian, công sức mà đi "xe ôm" lên đó. Nếu lên giờ này, sẽ thấy "chợ mây" nhộn nhịp lắm!". Cứ thế, phiên "chợ mây" xa lạ dần hiện ra trước mắt tôi qua miêu tả chân chất của bà con xứ núi.

Gót hồng "cõng chợ"… lên mây!

“Cánh cò cõng nắng cõng mưa/ Mẹ tôi cõng cả bốn mùa gió sương" - những câu thơ da diết ấy bỗng đâu ẩn hiện trong tâm trí tôi khi cái thắng xe của anh Hậu dừng lại ngay quang gánh của cụ bán khoai. "Chợ mây nè em! Giờ này còn sớm, chút có thêm mấy chị gánh hàng lên nữa. Họ đi bộ đường núi, với lại hồi khuya có mưa nên họ lên hơi trễ" - anh Hậu giới thiệu như một hướng dẫn viên du lịch.

Trước mắt tôi là phiên “chợ mây” vừa lạ, vừa quen. Quen vì những gánh hàng bình dị, không khác gì với miền xuôi nhưng lạ thay “chợ mây” này người bán chỉ toàn phụ nữ, đa phần là phụ nữ người dân tộc thiểu số Khmer. Chợ nằm bên cạnh hồ Thủy Liêm, đối diện chùa Phật Lớn, một bên là chùa Vạn Linh, một bên là tượng Phật Di Lặc, xa xa là núi rừng trùng điệp.


Khoảng đất trống nhấp nhô đặc trưng của chốn non cao chừng vài mươi mét trước mặt tôi là nơi các bà, các mẹ, các chị họp chợ mỗi sớm mai. “Chợ mây” nối nhau một hàng dài thẳng tắp mơ hồ như khá xáo trộn nhưng thật ra lại theo một trật tự rất... “chợ mây”. Những quang gánh đầu tiên là các sản vật nhà trồng, nào là su hào, đậu rồng, rau rừng, trái cây (theo mùa) và đồ ăn sáng... Thời điểm tôi có mặt, “chợ mây” hơn 20 người bán. Mọi người ngồi rất trật tự dù không ai bảo ai, dường như đã là cái nếp ở đây. Khoảng giữa là những gánh hàng hoa tươi, thực phẩm tiêu dùng hàng ngày. Cuối cùng của “chợ mây” là những gánh hàng thịt cá tươi ngon từ chân núi được gánh lên.

Ở tuổi hơn 60, bà Neáng Nhay (ngụ xã An Hảo, Tịnh Biên) chia sẻ: "Tui bán khoai ở đây hơn 10 năm. Lúc khỏe mạnh thì có thể gánh hàng lên. Chịu khó dậy từ 3-4 giờ sáng, gánh lên đây bán cũng có “đồng ra đồng vô” qua ngày. Giờ cũng có tuổi, lúc lên, tui kêu xe “xe ôm” chở, thành thử ra đồng lời không nhiều như xưa. Được cái, “chợ mây” giúp tui đắp đổi qua ngày được".

Đừng vội cười những gánh hàng quà vặt ở chốn non cao này, vì khách thập phương đã dừng chân mua tấp nập. "Để tranh thủ thời gian, tôi lên núi sớm. Trước là để viếng Phật, sau là tận hưởng không khí mát mẻ trong lành buổi bình minh. Đây là lần đầu tôi nhìn thấy “chợ mây” nên thích lắm. Tôi đã mua được ít khoai lang, vài nắm xôi vò bỏ túi để lót dạ. Đồ ăn bán rẻ và ngon lắm!" - ông Nguyễn Vinh (khách tham quan ở TP. Cần Thơ) vui vẻ chia sẻ.

Cách chừng dăm ba phút lại có thêm một quang gánh của các cô dưới chân núi gánh lên. Đáng quý là, người bán hàng tuy đông nhưng họ ngồi cạnh nhau rất thuận thảo, không có chuyện người trước chiếm chỗ người sau.


Mang thắc mắc hỏi thì cô Phúc (62 tuổi, ngụ xã An Hảo) đang ngồi tư lự với gánh đậu rồng nhà trồng cho hay: "Có gì đâu mà giành, mọi người vất vả, lặn lội từ dưới chân núi lên đây bán chẳng qua là để kiếm tiền trang trải cuộc sống, lo cho gia đình nên rất yêu thương nhau. Buôn bán chốn non cao này lâu ngày, chúng tôi coi nhau cũng như người thân. Người đến sớm thì tự giác bán gọn trong khu vực của mình, nhường chỗ cho người sau".

Nghe mới thấy xúc động và quý lắm cái tình mà các cô, các chị dành cho nhau. Ở đây, chẳng ai "nói thách", "có sao bán vậy" nên phiên "chợ mây" diễn ra rất ấm cúng, không cò kè "bớt một thêm hai", chỉ đơn giản là "thuận mua vừa bán". Cứ thế, tiếng cười nói, tiếng hỏi thăm nhau, tiếng chào mời, tiếng mua hàng vang dậy một góc núi Cấm.

Vất vả quang gánh giữa non cao!

Dân địa phương có người vẫn quen gọi “chợ mây” là chợ... chạy. Cái tên thoạt nghe có vẻ buồn cười ấy là bao nỗi nhọc nhằn của những đôi "gót hồng" mà có lẽ chỉ khi đặt chân đến “chợ mây” mới hiểu hết được. Đúng như lời anh Hậu, trừ hôm nào mưa bão dữ lắm, “chợ mây” mới không họp, chứ những cơn mưa phùn thoáng qua thì chợ vẫn họp bình thường, có điều sẽ trễ hơn bình thường.

Những người họp “chợ mây” không hề dựng sạp, che mái. Chỉ mỗi quang gánh trên vai, họ tranh thủ họp chợ hơn 1 tiếng là tan. Những quang gánh ấy lại tiếp tục theo chân những "gót hồng" lên các điện thờ, những điểm tham quan hay nhà dân trên núi Cấm để cung cấp nhu yếu phẩm cần thiết cho người dân nơi này. "Chị bán quanh năm ở non cao thế này có cực lắm không?" - tôi hỏi.

"Đời quang gánh có bao giờ sung sướng đâu em, nhưng vì mưu sinh quen rồi. Chị bán hàng bông ở “chợ mây” này đã hơn 10 năm. Mỗi ngày dậy từ lúc mặt trời “chưa thức”, tất tả soạn hàng, rồi quang gánh lên xe chở lên tới đây. Vì hàng của chị nhiều và nặng nên không gánh bộ như nhiều cô, dì ở nơi này. Bán ở đây không hết, chị sẽ gánh đi đến tận nhà bà con trên này" - chị Nhung (35 tuổi, ngụ xã An Hảo) có đôi tay rám nắng, sần sùi trả lời tôi.

Chị Hai Na (bán hàng ở “chợ mây”) kể về buổi họp chợ của mình trong nụ cười vẫn còn thoáng vẻ mệt nhọc: "Tôi bán ở "chợ mây" nhiều năm rồi. Thường thì tôi bán hàng theo yêu cầu của bà con, có nghĩa là ai muốn ăn món gì cứ dặn dò, tôi sẽ làm gánh lên. Nhà tôi ở giữa đường lên núi nên quãng đường quang gánh không vất vả nhiều so với mọi người. Tầm 5 giờ sáng là tôi gánh hàng lên, khoảng 6 giờ sáng đến chợ, vừa kịp cho bà con lót dạ sáng sớm". Buổi chợ "trên mây" ấy cứ thế ngày một tấp nập, nhộn nhịp.


Rời “chợ mây” ở chốn non cao, như nhìn thấy sự luyến tiếc của tôi, anh Hậu từ tốn bảo: "Để anh chạy đường này, em sẽ thấy rất nhiều cô đang gánh hàng lên, giờ này chắc họ lên gần tới rồi đó!". Thì ra con đường anh Hậu nói là lối lên núi Cấm mà những người họp “chợ mây” vẫn luôn gánh hàng lên. Độ được hơn 2km, ẩn hiện dưới làn sương mỏng, anh Hậu đã reo lên: "Đây rồi, các chị đang nhóm chợ ở phía trước kìa!". Trước mắt tôi, gần 10 quang gánh của các cô đang ngồi tách bạch bên con đường (đi bộ) nhỏ xuống núi. Người dân ở đấy kéo nhau ra mua thịt, cá, rau, củ, quả cho 3 bữa cơm nhà mình. Có cô gọi đùa rằng, trước khi lên họp “chợ mây” là phải họp ở “chợ chồm hổm” này...

Trong tiếng cười của các cô, tôi cảm nhận được nỗi vất vả rất rõ. Các cô bảo rằng, để tiết kiệm tiền nên không đi xe mà gánh bộ. Đoạn đường đi, mệt lúc nào thì dừng nghỉ lúc ấy. Phiên chợ ở lưng chừng núi này diễn ra rất chớp nhoáng, để kịp cho mọi người lên họp... “chợ mây”. Tôi tranh thủ chụp vài tấm hình rồi chia tay các cô. Anh Hậu chia sẻ thêm, nhiều lúc xuống núi xe không là anh cho các cô bán hàng trên núi quá giang xuống với suy nghĩ chân tình: "Họ nặng nhọc bán bưng đâu lời gì nhiều nên chở xuống núi mình lấy tiền sao đặng". Quý thay chữ "sao đặng" với cái tình mà bà con xứ núi bảo bọc nhau!

Ngoảnh lại nhìn những dáng hình mảnh mai, "gót hồng" thoăn thoắt hướng lên non, tận xế chiều mới xuống núi, về nhà, vị giác tôi bỗng nghe đắng ngắt. "Hoàng hôn cõng vạt sương mù/ Chị tôi cõng cả chiều thu về làng" - những câu thơ "Cõng quê" thoát ẩn, thoát hiện làm khóe mắt tôi như cay cay. "Chợ mây" vẫn ở đó, hàng ngày phục vụ người dân và đằng sau sự độc đáo, thu hút của "chợ mây" là sự tần tảo của những "gót hồng"... cõng chợ.

Bài, ảnh: PHƯƠNG LAN

Buôn M’liêng - nơi lưu giữ văn hóa người M’nông

đăng 00:47, 5 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:09, 9 thg 2, 2021 ]

Buôn cổ M’Liêng, xã Đắk Liêng, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk là một trong những buôn làng hiếm hoi còn lưu giữ được những giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể truyền thống của Tây Nguyên. Về với buôn M’Liêng bên bờ Hồ Lắk, ta có thể cảm nhận được một Tây Nguyên hoang sơ cùng những giá trị văn hóa truyền thống của người M’nông.

M’Liêng là một buôn đẹp có quy mô lớn còn giữ được nét cư trú truyền thống của người M’nông giao thoa với người Ê-đê. Khu nhà ở là những nhà sàn dài được phân bố tập trung, trên một khu đất rộng, xung quanh được rào kỹ bằng các bụi tre lớn, có rừng thiên nhiên, đầm lầy trồng cói, cánh đồng, ruộng nước, cây cổ thụ lâu năm, bến nước truyền thống.

Người dân trong buôn vẫn làm các nghề thủ công truyền thống, phong tục tập quán, lối sống tiêu biểu của vùng đầm lầy trên cao nguyên Đăk Lắk. Trải qua nhiều biến động, bây giờ trong buôn không còn nhà nào có voi, nhưng không gian riêng của buôn với những con suối, sông, bến nước, bến voi vẫn còn nguyên vẹn cho đến ngày nay.

Các lễ hội văn hoá dân gian hàng năm đã phản ánh đầy đủ văn hoá cồng chiêng, văn hoá mẫu hệ, văn hoá sử thi, văn hoá ẩm thực phong phú đa dạng, phù hợp với các tiêu chí bảo tồn, phát huy buôn văn hoá truyền thống. Rất nhiều gia đình còn giữ được ghế Kpan - là nơi trang trọng để các nghệ nhân ngồi diễn tấu cồng chiêng trong các dịp lễ hội của người M’nông - với chiều dài hơn 20m, lòng ghế rộng hơn 1m; cùng nhiều chiêng cổ, ché cổ, trống làm bằng da 2 con trâu lớn, trống da voi còn được lưu giữ.

Những cánh đồng tuyệt đẹp trải dài đường vào buôn M’Liêng.

Những nếp nhà sàn dài truyền thống của người M’nông ở buôn M’Liêng.

Chiếc cầu thang gỗ dẫn lên nhà sàn.

Những chiếc cột, kèo bằng tre trên mái là của nhà sàn truyền thống của người M’nông.

Một nếp nhà sàn gần như vẫn giữ nguyên vẹn được những nét cổ xưa như mái bằng lá, vách bằng phên liếp…

Những thanh gỗ xù xì được dùng làm viền bao quanh nhà sàn.

Những cây đa cổ thụ được người dân buôn M’liêng coi như vật thiêng. Mỗi lần trong buôn có lễ hội hay gia đình nào có việc quan trọng, già làng, trưởng buôn và người chủ hộ đều mua lễ ra cúng cây cầu cho mưa thuận gió hòa, cuộc sống buôn làng ấm no, hạnh phúc.

Người dân M’nông ở buôn vẫn chủ yếu sinh sống trong những nếp nhà sàn truyền thống.

Do địa thế gần hồ Lắk nên người dân nơi đây còn có nghề chài lưới.

Cậu bé M’nông hết giờ học trông em cho bố mẹ đi rẫy.

Buôn M’liêng có 8 bộ chiêng cổ có độ tuổi từ 100-200 năm.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắc Lắk cũng tổ chức các lớp nghiệp vụ về gìn giữ cồng chiêng, bảo tồn dân ca, sưu tầm chuyện cổ đồng bào M’nông và xây dựng đội văn nghệ dân gian cho buôn.

Nhờ vậy, đến nay buôn M’Liêng đã có 3 đội cồng chiêng (1 đội truyền thống, 2 đội trẻ) và một đội văn nghệ thiếu nhi.

Vẻ hoang sơ của buôn M’Liêng thu hút nhiều khách du lịch nước ngoài ưa khám phá văn hóa bản địa của Tây Nguyên.

Buôn M’Liêng có 106 hộ, 560 khẩu trong đó, đồng bào M’nông Rlăm có 103 hộ. Buôn M’Liêng nằm trong tuyến du lịch hồ Lăk, một di tích danh lam thắng cảnh được Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.

Trong vùng danh thắng hồ Lăk còn có ngôi nhà nghỉ chân mỗi khi đi săn voi của Vua Bảo Đại toạ lạc dưới những cây Kơnia cổ thụ, hùng vĩ trên đỉnh núi. Dưới chân núi là buôn Jun, một buôn du lịch đã được ngành Du lịch tỉnh đầu tư cùng với các điểm du lịch khác trong tỉnh như: Buôn Đôn, Krông Bông, Krông Ân, Cư’gar...

Đặc biệt, trong M’Liêng làng còn nhiều nhà giữ được chiêng cổ, trống da trâu, ché cổ, ghế K’pan…; Điển hình như gia đình ông Y Dlum Teh (86 tuổi) còn giữ được bộ chiêng cổ. Trong các dịp lễ hội trong buôn hay các ngày lễ quan trọng của người thân trong gia đình, ông lại mang bộ chiêng ra diễn tấu phục vụ bà con. Với ông, chiêng là vật thiêng bao đời của các thế hệ trong gia đình, do đó ông luôn dặn dò con cháu phải lưu giữ cẩn thận, tuyệt đối không được bán đi.

Ngoài bộ chiêng cổ của gia đình ông Y Dlum còn có 8 bộ chiêng cổ có độ tuổi từ 100-200 năm. Năm 2011, buôn M’liêng là một trong 6 buôn của huyện Lăk được Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch cấp một bộ chiêng và được chọn để bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng. Năm 2017, UBND tỉnh đã phê duyệt Đề án xây dựng 10 buôn làng truyền thống của các cộng đồng dân tộc thiểu số trên địa bàn Đăk Lăk trong đó có buôn M’liêng nhằm phục vụ cho phát triển du lịch cộng đồng.

Bài và ảnh: Khánh Long – Công Đạt

2 ngày leo đỉnh núi Tà Chì Nhù ngắm hoàng hôn tím lịm

đăng 03:41, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Là ngọn núi cao thứ 7 Việt Nam, Tà Chì Nhù với không gian hùng vĩ thoáng đãng, không những là điểm săn mây lý tưởng, còn là một trong những nơi đón hoàng hôn đẹp nhất, lý tưởng nhất trong top 10 ngọn núi cao nhất Việt Nam. 

Quãng đường leo núi có thể được chia thành 3 chặng. Chặng 1 từ điểm xuất phát chân núi, đi qua một mỏ chì vẫn còn đang khai thác, độ cao 1.200m, đến suối nghỉ ăn trưa. Chặng 2 từ suối đến lán nghỉ đêm 2.400m. Chặng 3 từ lán lên đỉnh núi

Thuộc khối núi Pú Luông của dãy Hoàng Liên Sơn nổi tiếng, Tà Chì Nhù cùng Tà Xùa là hai ngọn núi của huyện Trạm Tấu rất được dân trekking leo núi yêu thích. Nếu như Tà Xùa khó khăn hơn, cần 3 ngày 2 đêm thì Tà Chì Nhù được đánh giá nhẹ nhàng hơn, chỉ cần 2 ngày 1 đêm là đủ

Địa hình, cảnh quan Tà Chì Nhù thay đổi từ chân đến đỉnh, từ đi trong rừng cây tán thấp, vượt suối, rừng trúc lùn, đồng cỏ... đến cuối cùng là đồi trọc gần đỉnh núi

Quãng đường từ lán lên đỉnh được coi là đẹp nhất toàn bộ chuyến đi, bởi nếu may mắn đúng thời điểm bạn sẽ bắt gặp những ngọn đồi phủ kín sắc tím hồng của một loại hoa đặc biệt: hoa đại tử đương dược, còn có tên gọi là cỏ mật rồng

Thường các đoàn hay ở lại lán, nghỉ ngơi, nấu nướng và ăn tối sớm để ngày hôm sau dậy đón bình minh, săn biển mây. Nhưng cũng có nhiều người lên đỉnh luôn buổi chiều để tận hưởng khoảnh khắc ngắm nhìn hoàng hôn dần buông xuống

Từ lán ở độ cao 2.400m so với mực nước biển lên đỉnh núi dài khoảng 2,5km, và sẽ mất chừng 2-3 tiếng tùy thể lực mọi người

Địa hình chung quanh đỉnh Tà Chì Nhù chủ yếu là đồi trọc, không gian thoáng đãng, có thể bao quát toàn bộ đồi núi, thung lũng xung quanh

Chinh phục Tà Chì Nhù không khó, chỉ cần bạn chuẩn bị kỹ tinh thần, sức khỏe trước chuyến đi khoảng hai tuần, tìm những người bạn đồng hành tốt với những kỹ năng dã ngoại đầy đủ, theo dõi thời tiết thuận lợi... Thời điểm đẹp nhất để trekking ngọn núi này sẽ kéo dài từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau

Có độ cao 2.979m so với mực nước biển, đỉnh Tà Chì Nhù thuộc địa bàn xã Xà Hồ, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái

Thung lũng nhìn về hướng trung tâm huyện Trạm Tấu dưới hoàng hôn rực rỡ dần chuyển sắc, từ vàng, hồng, tím, trước khi chìm trong màu xanh lam cuối ngày rồi chìm hẳn trong màn đêm đen

Tổng quãng đường leo khoảng 18km cả đi lẫn về. Về cơ bản, đường leo Tà Chì Nhù gần như chỉ có đường mòn độc đạo, không nhiều lối rẽ ngang dọc, chỉ đi lên hoặc xuống, khá an toàn cho nhiều người dù một số đoạn dốc khá cao, dựng đứng

NGUYỄN CHÍ NAM

Người Trường Lưu giữ gìn nhà cổ!

đăng 05:07, 8 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Trầm lặng giữa vùng văn hóa Trường Lưu, nhiều ngôi nhà cổ ở xã Kim Song Trường (Can Lộc - Hà Tĩnh) vẫn được mỗi thế hệ người dân gìn giữ, trân trọng như những báu vật vô giá...

Ngôi nhà hơn 300 tuổi của gia đình ông Nguyễn Huy Thản đã được thay mái ngói

Trong quần thể rất nhiều những dấu vết cổ xưa còn hiện hữu ở thôn Xuân Phượng, nhiều người dân đặc biệt ấn tượng với ngôi nhà cổ hơn 300 năm tuổi của ông Nguyễn Huy Thản - một trong những ngôi nhà có độ luổi lâu đời nhất nằm trong khuôn viên vườn hoa cụ Thám (Thám hoa Nguyễn Huy Oánh).

Lẫn khuất giữa không gian xanh của khu vườn, nét cổ kính của ngôi nhà đã mang đến trong tâm hồn của mỗi người sự bình yên, lắng đọng sau những ồn ào, xô bồ của cuộc sống.

Ông Thản định cư cùng con cháu ở TP Hồ Chí Minh nên việc bảo quản ngôi nhà được giao cho gia đình người cháu ở gần kề trông coi, chăm sóc.

Ông Nguyễn Huy Hùng - người bảo quản ngôi nhà cho biết: “Ông Thản rất coi trọng việc giữ gìn kiến trúc của ngôi nhà. Hơn 300 năm tuổi, nhiều hạng mục của ngôi nhà đã bị xuống cấp. Ông Thản đã tìm hiểu kiến thức từ nhiều nguồn để cố gắng bảo tồn, gìn giữ nguyên trạng ngôi nhà. Năm 2013, một số hạng mục ngôi nhà phải thay mới nhưng ông Thản vẫn giữ được kiến trúc cổ”.

Bên cạnh những kiến trúc hiện đại, nhiều gia đình, dòng họ ở Trường Lưu vẫn nỗ lực gìn giữ của những ngôi nhà do ông cha để lại

Xã Kim Song Trường hiện còn có rất nhiều ngôi nhà cổ. Trong đó, quần thể những ngôi nhà cổ của anh em họ hàng trong dòng họ Nguyễn Huy là nét độc đáo ở vùng quê này. Điểm chung của các ngôi nhà đều được làm bằng gỗ lim, hệ thống xà, cột, kèo bằng gỗ được khắc chạm tinh xảo, trong nhà treo rất nhiều bức hoành phi khắc bằng chữ Hán Nôm. Nhiều bức hoành phi, câu đối có giá trị lên đến hàng trăm triệu đồng.

Bà Trần Thị Lan (90 tuổi) cho biết: “Tôi lấy chồng về đây thì đã nghe ông bà kể, ngôi nhà đã có từ lâu lắm. Tính đến nay, ước chừng cũng hơn 200 năm tuổi. Kiến trúc cổ vẫn được giữ nguyên, trong nhà còn có bức câu đối hình lá chuối rất độc đáo.

Đôi câu đối này đã từng được thương nhân người Huế trả giá hơn 300 triệu đồng nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ đến chuyện bán đi kỷ vật của cha ông. Với chúng tôi, đó là báu vật vô giá mà cha ông lưu lại cho con cháu muôn đời sau và chúng tôi có nghĩa vụ phải giữ gìn”.

Đôi câu đối hình lá chuối của gia đình bà Trần Thị Lan

Những căn nhà gỗ nhuốm màu thời gian nằm yên bình giữa làng quê ẩn chứa những câu chuyện đáng tự hào về nếp xưa của gia đình, dòng họ.

Ông Nguyễn Huy Hùng - con trai bà Lan cho biết: “Với tôi, ngôi nhà không chỉ là nơi lưu giữ ký ức tuổi thơ, là quá trình trưởng thành của bản thân mà còn in đậm dấu tích của cha ông, là nền tảng phát triển của lớp cháu con hậu thế. Vì thế, tôi rất tự hào về những giá trị vô giá của gia đình, dòng họ qua những ngôi nhà cổ. Chúng tôi sẽ cố gắng bảo vệ và lưu giữ cho thế hệ mai sau”.

Trải qua thời gian, kiến trúc của các ngôi nhà vẫn không thay đổi nhiều, các vật dụng được bảo quản, giữ gìn nhưng sự khắc nghiệt của thời tiết cũng khiến nhiều ngôi nhà cổ ở xã Kim Song Trường xuống cấp. Ngôi nhà hơn 100 tuổi của gia đình ông Nguyễn Huy Đàn nằm trong số đó.

Dù đã cố gắng giữ nguyên kiến trúc và hình dáng cũ, nhưng việc phục hồi nguyên trạng hết sức khó khăn. Vì thế, quá trình sửa chữa, con cháu của ông đã cố gắng để nếu cần thay thế hạng mục nào đó thì cũng vẫn mô tả được tính cổ của ngôi nhà.

Hiện nay, vùng văn hóa Trường Lưu đang có hàng chục ngôi nhà gỗ được thiết kế theo phong cách cổ xưa, trong đó có 10 ngôi nhà cổ trên 100 năm tuổi. Những ngôi nhà này đều được đưa vào diện cần bảo tồn để phát huy giá trị văn hóa truyền thống nhưng việc gìn giữ, trùng tu, tôn tạo nhà cổ hiện nay gặp nhiều khó khăn về kinh phí.

Ngôi nhà hơn 100 tuổi của ông Nguyễn Huy Đàn đã được con cháu sửa sang nhưng vẫn cố gắng giữ nguyên kiến trúc và hình dáng cũ

Ông Nguyễn Quốc Việt - Chủ tịch UBND xã Kim Song Trường cho biết: “Để bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống từ những ngôi nhà cổ, thời gian qua, chính quyền địa phương đã tuyên truyền, vận động con cháu trong dòng họ với mong muốn họ phát huy vai trò, trách nhiệm trong việc huy động nguồn lực để gìn giữ, tôn tạo những hạng mục xuống cấp”.

Xã cũng đã đề xuất nguyện vọng, các cấp, ngành liên quan cần sớm thẩm định và công nhận di tích nhà cổ trên địa bàn, từ đó có chính sách hỗ trợ một phần kinh phí cho việc tu bổ, tôn tạo để lưu giữ nét văn hóa cho muôn đời sau. Đây cũng là một điểm nhấn trong quần thể di tích văn hóa Trường Lưu sẽ được đưa vào khai thác trong các tour du lịch.

Giữa cuộc sống hiện đại, những ngôi nhà cổ ở làng Trường Lưu gợi lên những ký ức xa xưa với sự yên bình, thân thuộc của làng quê. Vượt lên những giá trị về vật chất, những ngôi nhà cổ đã trở thành niềm tự hào về truyền thống họ tộc, nếp gia phong; là nơi giáo dục, nuôi dưỡng tâm hồn và chắp cánh cho bao ước vọng của con cháu mai sau.

Chính vì thế, việc bảo tồn các ngôi nhà cổ ở Trường Lưu không chỉ là bảo tồn nét văn hóa, nét độc đáo, tinh tế trong kiến trúc nhà ở của ông cha, mà còn là việc bảo tồn, lưu giữ những giá trị văn hóa tinh thần vô giá cho thế hệ con cháu.

Thúy Ngọc

1-10 of 24

Comments