Những chuyến đi, những khám phá... và có cả những suy tư.

Bài mới

  • Na Hang, hướng nào cũng lung linh Lơ đãng, chủ quan cùng với đam mê đưa đẩy chúng tôi đến gương hồ lạ miền cao Đông Bắc theo tới bốn cung đường khác nhau. Rốt cuộc lại ...
    Được đăng 03:17, 21 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chèo thuyền mạo hiểm trên sông Đạ Đờn Nỗ lực vượt qua dòng nước cuồn cuộn Theo quốc lộ 27 uốn lượn qua những đồi thông, chúng tôi đến với xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà – một điểm ...
    Được đăng 07:32, 17 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hấp dẫn vùng trà Chế Là Những đồi trà xanh bạt ngàn Hỏi ở đâu trà ngon nhất huyện, bà Vũ Thị Hòa, Phó chủ tịch UBND huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang chỉ chúng tôi ...
    Được đăng 07:23, 17 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Những trải nghiệm tuyệt vời về du lịch Hải Phòng Nếu một lần đến với Hải Phòng, chắc chắn bạn sẽ phải lòng mảnh đất này. Hải Phòng khéo tạo nhớ thương từ phong cảnh, ẩm thực và sự nhiệt ...
    Được đăng 03:27, 6 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Trong đục dòng Vĩnh Giang Bé con nhà tôi hôm rồi tự dưng hỏi: 'Thành phố Vinh nhà ta có dòng sông nào không Ba? Ý con là ngoài sông Lam ra ấy?'.Thực sự ...
    Được đăng 02:59, 6 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Na Hang, hướng nào cũng lung linh

đăng 03:17, 21 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Lơ đãng, chủ quan cùng với đam mê đưa đẩy chúng tôi đến gương hồ lạ miền cao Đông Bắc theo tới bốn cung đường khác nhau. Rốt cuộc lại là may mắn. Vì đường nào, hướng nào cũng đẹp lung linh. 

Một đoạn trên sông Gâm đẹp như bức tranh thủy mạc - Ảnh: TRẦN THÁI HOÃN 


Từ khi đập thủy điện Na Hang hình thành năm 2007, một gương hồ đẹp mới ra đời, bổ sung vào danh sách danh lam thắng cảnh non sông cẩm tú nước Việt, rất nổi tiếng trên các diễn đàn du lịch trong và ngoài nước. 

Đó là lý do từ miền Nam xa xôi, sau khi mê mệt với cao nguyên đá Hà Giang, chúng tôi tìm đến hồ Na Hang. Để rồi về sau và rất lâu sau nữa vẫn tự hào vì hành trình này. 

Mê đắm lênh đênh theo “suối tóc sơn nữ” 

Từ Hà Giang, thay vì đi Tuyên Quang - ngõ gần nhất đi Na Hang, chúng tôi theo quốc lộ 34 đi Cao Bằng để đáp xuống Bắc Mê đang mải mê xây dựng bụi mù. 

Có mấy lý do. 

Thứ nhất là lười khi nghe nói từ đây có thể xuôi sông Gâm đến Na Hang, mà Bắc Mê rất gần thành phố Hà Giang. 

Thứ hai là tham vì cũng nghe đến những lời ca tụng về “suối tóc sơn nữ” - hương danh dòng Gâm. Đọc những dòng thơ như rót mật dụ dỗ 

“Sông Gâm nước chảy xanh trong
Đôi bờ uốn lượn cong cong vòng vèo
Thuyền nan khua nhẹ mái chèo
Nước trong xanh chảy kéo theo mây ngàn” 
(thơ Chu Vân), 

nên quyết đến Bắc Mê để được ngắm sông rồi đi ngó hồ. 

Bắt nguồn bên kia biên giới, về xứ Việt nhận thêm nước các chi lưu, trong đó có cả Nho Quế mới vừa mê mệt ở Đồng Văn, dòng Gâm cuộn sóng đến Bắc Mê chợt yên ả kể từ ngày đập thủy điện hình thành bên dưới. 

Không chỉ vậy, lượng nước được giữ lại dâng ngập những cánh rừng ven sông tạo nên quang cảnh rừng ven hồ, nhiều khi giữa hồ rất đặc sắc. 

Rừng chết khô hay vẫn xanh um tùy theo khả năng sống còn, chịu nước của từng loại cây, độ cao của khu vực bị ngập... tạo nên những mảng màu lạ pha vào nhau, nhân bóng trên hồ yên càng thêm đẹp. 

Hôm đó đi sớm, hồ lạnh, im, bóng rừng bóng núi in xuống mặt hồ mờ sương bay, các hẻm núi cũ nhiều hình dáng ngày trước tạo nên những góc hồ khuất mở rất đẹp. Rất nhiều phong lan. Nhiều cây chết khô giờ được thay bộ lá mới là những cụm phong lan dày đặc. 

Lũ chùm gửi héo úa theo cây khô vì không còn nơi bám víu, nhưng phong lan vẫn kiêu hãnh vươn cao, sống bằng gió, với nắng... làm đẹp thêm cho rừng cũ, cho hồ mới. 

Rất mê mải với dòng Gâm khi xuôi Na Hang, nhưng chúng tôi không đi hết đường. Đêm qua, sau khi tám chuyện với các bạn trẻ địa phương, chúng tôi đổi ý. 

Có thêm mấy lý do “nên đi Na Hang từ Bắc Kạn vì khung cảnh hướng đó khác hẳn bên này”. Nhưng nguyên nhân chính là ngày mai có chợ phiên Bảo Lâm rất hay nhưng ít được nghe tới. 

Nghe vậy là rần rần. Nên sau nửa cung đường trên dòng Gâm đi Na Hang, chúng tôi quay lại Bắc Mê lên quốc lộ 34 đón xe đi tiếp đến Bảo Lâm. 

Chuyện đi đường 

Vẻ đẹp thì tùy theo sở thích, cảm nhận của mỗi người nhưng với thiển ý cá nhân, cung đường trên sông Gâm đến Na Hang đẹp hơn. Vì nó đa dạng, có cả những nét Ba Bể thu nhỏ và điểm đặc sắc riêng của hồ thủy điện do dâng nước ngập rừng. 

Nếu có điều kiện, nên có những trải nghiệm ở các phố sơn cước Bắc Mê, Na Hang. Ngoài cảnh sắc, ẩm thực ngon lạ mỗi vùng, sự chân tình rất mến khách là tưởng thưởng hiếm có, rất khó quên trong đời. 

Có nơi, chúng tôi từ lề đường được mời vô thăm nhà, thết đãi đến tận khuya. Có chỗ, chúng tôi không chỉ được kêu sang bàn bên cạnh chuyện trò, cụng ly và đến khi tính tiền mới hay đã được trả giúp rồi vì khách từ miền Nam xa xôi! 

Ai đi Ba Bể để về Na Hang 

Sau ngày lang thang Bảo Lâm, Cao Bằng, Trùng Khánh... giấc mơ Na Hang dở dang lại kêu réo, chúng tôi xuôi Bắc Kạn hướng về Ba Bể. 

Ngày mùa đông vắng, chờ miết cuối cùng mới tạm đủ khách đi vào khu du lịch, nơi dự định chuyển sang đò theo sông Năng về Na Hang. 

Như vậy nhờ Na Hang lại có dịp quay lại Ba Bể mấy năm trước từng ghé. Hồ vẫn lung linh đẹp, nhưng sao cứ háo hức với Na Hang đâu đó ẩn hiện phía trước. 

Nói nào ngay, vẫn còn khá ấn tượng với 99 ngọn núi đá, những vạt rừng ngập nước bên kia dòng Gâm nên có chút “phụ tình” với Ba Bể. 

Đến khu du lịch Ba Bể nghỉ ngơi, nghiêng ngó tí, chúng tôi men theo đường rừng đến bến đò dưới chân thác Đầu Đẳng. Số phận lại một lần nữa đưa đẩy. 

Đã hơn hai giờ chiều, trời xám xịt. Thuyền từ chối không đi Na Hang vì sợ về không kịp, đi đêm rất nguy hiểm vì thuyền nhỏ mà những ngày này dông gió rất bất chợt. 

Không lý quay về, rốt cuộc thuyết phục được anh chủ thuyền đưa đi Đà Vị để từ đó đi xe ôm ra Na Hang. Lên thuyền lại tiếp ngắm Ba Bể, một đoạn sông Năng, trước khi leo lên miền quê bụi đỏ mù trời Đà Vị. 

37km từ Đà Vị đến thị trấn Na Hang lấy mất hơn hai giờ. Tặng thêm lớp bụi đỏ dày phủ cả người, xe và cái lắc đầu cười như mếu của các thanh niên Tày tử tế làm xe ôm bất đắc dĩ. 

Thế nhưng cung đường gập ghềnh, xe chạy như rùa bò lại ban phát những góc nhìn loáng thoáng hồ xanh Na Hang. Tặng thêm những vạt rừng xanh ngắt bên đường, nương đồi lô xô màu xám của những mái nhà Tày, Nùng... 

Tự sướng âm ỉ là đã sưu tầm thêm một góc lạ cho hành trình tìm đến Na Hang nên khỏe lại rất nhanh, để có một chiều, một đêm tưng bừng với Na Hang lang bang mấy bận mới tới được. 

Hành trình cuối cùng Na Hang, với sự giúp đỡ của các bạn trẻ rất nhiệt tình ở địa phương, bắt đầu từ sáng sớm. 

Từ thị trấn, chúng tôi lên thuyền viếng gương hồ đẹp lung linh không sai lời đồn đại. Rồi thuyền ngược dòng Năng ra Đà Vị cho khách xuống thăm phố sơn cước trước khi quay về. 

Vậy là cuối cùng chúng tôi đã đi gần giáp một vòng để đến Na Hang, chỉ thiếu đoạn ngắn trên dòng Gâm. Trên bước đường lang bạt đông tây bắc đợt đó và nhiều lần sau, Na Hang luôn là câu chuyện, niềm tự hào để khoe, kể. 

Mà tại sao không, khi có được cơ may ngắm nhìn một góc non sông cẩm tú của mình tường tận đến như vậy! 

TRẦN THÁI HOÃN 

Chèo thuyền mạo hiểm trên sông Đạ Đờn

đăng 07:32, 17 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nỗ lực vượt qua dòng nước cuồn cuộn 


Theo quốc lộ 27 uốn lượn qua những đồi thông, chúng tôi đến với xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà – một điểm đến du lịch mới cách TP. Đà Lạt chừng 50km. Vài năm gần đây, vùng đất hẻo lánh này đang thu hút nhiều người trẻ yêu thích du lịch mạo hiểm.

Đoạn sông Đạ Đờn dài 12km từ cầu Đạ Đờn đến cầu treo ở thôn Đa Nung A có nhiều ghềnh thác khá hấp dẫn. Sông gập ghềnh đá, loại đá đã được dòng nước bào mòn qua hàng ngàn năm. Nhờ vậy du khách chọn đi thuyền phao sẽ có cảm giác thử thách nhưng vẫn đủ an toàn.


Sông Đạ Đờn ngoạn mục


Để bắt đầu, hướng dẫn viên giới thiệu sơ lược trước hành trình, từ đặc điểm con nước, những đoạn đường khó đi, những tình huống phải tự mình vượt qua, những động tác cần thực hiện trước khi nhảy thác và khi tiếp nước trở lại, những sự phối hợp khác giữa người chơi… Rồi những chiếc thuyền phao xinh xắn đủ cho từ hai đến tám người và nhiều màu sắc được thả xuống dòng nước ngay dưới chân cầu Đạ Đờn.

Con thuyền phao nhấp nhô trên ghềnh đá đón những sóng nước dập dồn xen lẫn hiệu lệnh khua nhịp chèo của người thuyền trưởng – cũng là hướng dẫn viên, cùng tiếng hò reo của du khách trên thuyền khiến khúc sông bình thường vắng vẻ trở nên rộn rã hẳn.

Cầu Đạ Đờn, nơi “hạ thuyền”


Ngồi trên chiếc thuyền, ai nấy gồng sức lên để chèo và chống chọi lại với sức nước phía dưới đang muốn hất tung người đi. Mọi người cầm chắc mái chèo, kết hợp nhuần nhuyễn cùng đồng đội, khéo léo chèo chống để chinh phục những con sóng gầm gừ phía dưới. Đoạn đường du khách đi phải vượt qua hai ngọn thác thẳng đứng cao 6 mét và 12 mét. Thác càng cao, lượng nước và áp lực đổ xuống càng lớn.

Nhưng cảm xúc khi nhảy từ ngọn thác xuống chân thác lại càng mãnh liệt, mặc dù trước đó là sự hồi hộp và níu kéo bỏ cuộc không phải là nhỏ. Khi lao mình qua dòng thác cuồn cuộn ấy, cùng đồng đội ngụp lặn trong làn nước đậm màu đất đỏ bazan, dùng thuyền phao tiếp cận lại dòng chảy đang ầm ào tung bọt trắng mịt mù ấy, mới thấy, không phải mình vừa vượt qua ngọn thác cao bao nhiêu, xuống vực nước sâu bao nhiêu mà là vượt qua chính mình.

Trên chuyến du ngoạn ấy, ở những khúc sông phẳng lặng, người chơi cùng đồng đội khuya mái chèo đều đặn và nhịp nhàng lướt tới, thảnh thơi ngắm đồi núi bạt ngàn cà phê xanh mướt, thỉnh thoảng xen vào những trảng bắp đang trổ cờ phất phơ, những trụ điện cao thế vút lên nền trời xanh mênh mông, những căn nhà ẩn hiện giữa màu xanh của nương rẫy, những cô cậu bé đen nhẻm đùa nghịch với mấy chú bò trên bãi sỏi ven sông, “tám” đôi câu những người đánh cá không mấy bận rộn… để thấy cuộc sống giữa thiên nhiên giản đơn, êm đềm, thanh bình và tươi đẹp đến dường nào…

Qua một khúc sông hẹp


Mùa khai thác tour du lịch chèo thuyền phao trên sông Đạ Đờn bắt đầu khi trời mưa và kết thúc vào thời điểm nước cạn. Tuy nhiên, yêu cầu bắt buộc với người chơi là phải biết bơi, có sức khỏe, can đảm và có kỷ luật. Đặc biệt, tuân thủ quy định trong suốt hành trình và làm đúng theo hiệu lệnh của hướng dẫn viên đối với người chơi là rất quan trọng.

Khi thực hiện được những điều đó, những người chơi sẽ trở thành đồng đội của nhau, cùng nhau vượt qua thác ghềnh, cùng nhau xử lý những sự cố và hỗ trợ nhau trên đường đi. Và khi hành trình kết thúc là lúc bạn trải qua những cảm xúc tuyệt vời, những người cùng đồng hành trên con thuyền ấy trở thành đồng đội thân thiết tự bao giờ.

Đoàn khách sau khi chinh phục xong “thử thách”


Nhưng, để có được cuộc chơi trọn vẹn trên sông nước như vậy, vai trò của hướng dẫn viên – thuyền trưởng rất quan trọng. Thuyền càng lớn, người chơi nhiều hơn thì mức độ thận trọng và yêu cầu an toàn lại càng tăng lên, nên việc lựa chọn hướng dẫn viên của đơn vị khai thác tuyến du lịch với đầy đủ trang thiết bị bảo hộ và cứu hộ đã được kiểm định cũng là điều du khách phải chú trọng.

Hiện có ba đơn vị khai thác tuyến du lịch chèo thuyền trên sông Đạ Đờn đã được thẩm định và đang chờ nhận giấy phép khai thác chính thức là Chi nhánh Công ty CP Mạo hiểm Việt tại Đà Lạt, Công ty TNHH Thử thách Việt và Công ty TNHH Mạo hiểm PTA.

Bài: LAN PHƯƠNG - Ảnh: DU LỊCH THỬ THÁCH VIỆT

Hấp dẫn vùng trà Chế Là

đăng 07:23, 17 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Những đồi trà xanh bạt ngàn 


Hỏi ở đâu trà ngon nhất huyện, bà Vũ Thị Hòa, Phó chủ tịch UBND huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang chỉ chúng tôi lên Chế Là.

Từ thị trấn Cốc Pài, chúng tôi ngược 20km đường núi quanh co đến với xã Chế Là khi những tia nắng hè chói chang đang cố gắng xuyên thủng lớp mây dày đặc che vùng đất cao gần 1.000 mét này. Ấy vậy mà cũng non trưa, mặt đất Chế Là mới được rải một lớp nắng vàng nhạt. Điểm trên đó là các thảm màu xanh có lớp lang của những đồi trà…

Đường đến với xứ trà


Nhiều chuyên gia về trà cho rằng trà ngon thường được trồng ở độ cao 800m trở lên. Điều này rất đúng với Chế Là khi điểm thấp nhất của xã này cũng nằm tại khoảng độ cao 850m so với mực nước biển. Màu nước trà ở đây vàng như mật ong chứ không xanh cốm bắt mắt. Nhưng cái ấn tượng ban đầu không lừa được cái vị giác.

Sau khi nhấp ngụm nhỏ theo lối "ngưu ẩm", chỉ một xíu khi qua cổ họng, khoang miệng tôi bỗng cảm nhận một vị ngọt dịu, thanh thanh. Một cảm giác dễ chịu, mát mẻ, nhẹ nhàng, lâng lâng chứ không mạnh mẽ, cuộn trào khiến người ta say như những loại trà khác. Cái vị ấy vương vấn mãi nơi cổ họng làm quên đi cái bụng đang réo rắt vì đói khi mặt trời đứng bóng.

Miền núi non xinh đẹp


Ấm trà pha đến nước thứ bốn, thứ năm vẫn còn ngon. Trà Chế Là luôn được đánh giá cao trên thị trường và được người tiêu dùng ưa chuộng vì là trà sạch, không có hàm lượng phân bón hóa học cũng như thuốc bảo vệ thực vật. Người dân lấy hạt của các cây shan tuyết cổ thụ mọc hoang dã hàng trăm năm nay trên những đỉnh núi cao của Chế Là.

Quan sát kỹ những cánh trà đựng trong chiếc lọ thủy tinh sẽ thấy những búp chè khô, to, xù xì, cong hình móc câu được phủ một lớp lông tơ trắng như tuyết. Đã vương thì khó mà không thương. Cầm chén trà trên tay, tôi tập trung khứu giác để cảm nhận. Hòa với mùi thơm nồng của trà chín là cái ngậy ngậy của mùi ngô non hay mùi lá nếp. Cái sự thú vị ấy được ngẫm trong giây lát, thoảng đi để lại mùi trà nồng đượm.

Chế Là là xã vùng cao khó khăn của huyện Xín Mần, cây trà là một trong những cây đặc trưng và là tiềm năng phát triển của xã. Theo chân bà Nùng Thị Rọt, ở thôn Cốc Cộ, chúng tôi tìm được những cây trà shan tuyết lá to như lá đa, thân to như cột nhà, cao lừng lững nằm ở những đỉnh núi cao hơn 2.000 mét và rất xa trung tâm xã như Xỉn Khâu, Cốc Cang.

Phần để tiện thu hái, phần do quy hoạch của ủy ban nhân dân xã nên người dân đã lấy hạt của những cây trà cổ trên rừng về ươm giống rồi trồng thành nương quanh nhà. Người dân ở đây có truyền thống hái lá trà tươi về đun nước uống và sao thủ công rồi gác lên gác bếp để bảo quản, uống quanh năm.

Phong cảnh đường huyện Xín Mần


Chúng tôi đến thăm ông Đào Đăng Hiệp, sinh năm 1967, người được mệnh danh là ông tổ nghề trà Chế Là. Ông Hiệp quê ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, bản tính ưa chu du nên thích đi đó đi đây để thỏa chí và tìm cơ hội làm ăn. Cách đây 11 năm, ông đặt chân đến Chế Là, thấy những đồi trà xanh bạt ngàn, búp mập mạp, hái vài búp nhấm thử thấy chát mạnh, hậu ngọt; mê quá, ông quyết định ở lại mở lò sao trà.

Mua trà tươi của dân, ông về nhặt rồi sao bằng chảo gang, đun bằng củi. Cứ 7kg trà tươi sao trong 1 giờ 45 phút đến 1 giờ 55 phút thì được 1kg trà khô. Có thành phẩm, ông lấy thương hiệu là Ngọc Bình, đóng gói bằng túi nylon rồi bán tại địa phương và gửi bán về xuôi, thậm chí vào tận miền Nam.

Vật dụng bằng gỗ trong khu vườn của một người dân Chế Là


Cây trà ở Chế Là là có tiềm năng nhưng loay hoay để phát triển. Thương hiệu chưa có, giá cả thấp hơn nhiều loại trà shan tuyết khác trên thị trường bởi chất lượng và mẫu mã sản phẩm chưa được cải thiện. Việc truyền thông chưa được quan tâm nên cái ngon cái lạ của trà Chế Là mới chỉ dừng ở mức… truyền miệng.

Trước những khó khăn của nghề trà Chế Là, ông Lưu Duy Dần - Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cho biết, hiệp hội sẽ mời những nghệ nhân giỏi trong nghề sản xuất và kinh doanh trà lên dạy nghề tại chỗ và hỗ trợ địa phương làm thương hiệu, quảng bá và bán sản phẩm.

Một nhà nghỉ homestay ở Chế Là


Một tin vui là Chi cục Quản lý chất lượng (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Giang) vừa khảo sát, lập quy hoạch 57ha trà trồng theo phương pháp hữu cơ ở các thôn Cốc Cộ, Đản Điêng để làm chỉ dẫn địa lý. Các diện tích trà còn lại cũng được xã quy hoạch để sản xuất trà an toàn.

ĐẶNG HUY

Những trải nghiệm tuyệt vời về du lịch Hải Phòng

đăng 03:27, 6 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nếu một lần đến với Hải Phòng, chắc chắn bạn sẽ phải lòng mảnh đất này. Hải Phòng khéo tạo nhớ thương từ phong cảnh, ẩm thực và sự nhiệt thành, mến khách của con người nơi đây.

Thiên nhiên không chỉ ban tặng Hải Phòng những lợi thế về kinh tế biển mà còn những kỳ quan thiên nhiên đẹp nao lòng người. Bởi vậy mà Hải Phòng không chỉ là thành phố cảng lớn nhất miền Bắc mà còn là trung tâm văn hóa, du lịch lớn của cả nước. 


Hải Phòng nổi tiếng với quần đảo Cát Bà. Đến đây, bạn sẽ hiểu thế nào là non nước nghìn thu trong vắt phản chiếu cả đất trời. Ngoài ra, rừng quốc gia Cát Bà cùng những đảo xung quanh như đảo Khỉ, đảo Cát Ông,... Cát Bà là một quần thể đảo nhỏ nối dài với vịnh Hạ Long (Quảng Ninh). 


Cát Bà được tạo nên từ gần 400 hòn đảo lớn nhỏ, hình thành bức tranh thủy mặc đẹp đến nao lòng. Phía đông nam của đảo có vịnh Lan Hạ, hướng tây là vịnh Cát Gia gồm những bãi biển xanh, cát trắng, sóng không lớn, phù hợp du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. 


Nếu chọn lặn biển làm hoạt động vui chơi, vịnh Lan Hạ sẽ là minh chứng cho cả một thế giới phồn thịnh dưới mặt nước. Trong làn nước trong vắt, bạn có thể nhìn rõ từng đàn cá nhỏ nhiều màu sắc lẩn khuất giữa rặng san hô dưới đáy nước. 


Được coi là hòn ngọc của Hải Phòng, Cát Bà luôn là điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Cát Bà hội tụ đủ cả trời mây, non nước, rừng ngập mặn, rừng nguyên sinh, bãi biển nghỉ dưỡng và cả những công trình văn hóa lịch sử. Ảnh: Nguyễn Thế Đạt. 


Mùa hè ở Cát Bà luôn đầy ắp nắng, nhưng cái nắng của vùng biển đảo dường như dịu bớt nhờ những bờ biển xanh mát mắt và lộng gió. Cát Bà luôn mang đến một cảm giác bình yên.


Đồ Sơn cũng là một bãi biển đẹp của Hải Phòng. Nếu Cát Bà mang đến một không gian hùng vĩ, hoang sơ thì Đồ Sơn mang đến cho chúng ta một không gian nghỉ dưỡng thực thụ với những dịch vụ nghỉ tiện nghi cùng với các bãi tắm trải dài. 


Từ Cát Bà đến Đồ Sơn là một khoảng cách không hề xa. Nếu đến với Hải Phòng, bạn nên ghé qua Đồ Sơn để hưởng trọn những dịch vụ nghỉ dưỡng, những món hải sản hấp dẫn, sau đó đi chuyến tàu từ Đồ Sơn sang Cát Bà để thưởng lãm những danh thắng nơi đây. 


Đến với Cát Bà, bạn sẽ được ngồi trên những chuyến tàu lướt qua những con sóng, ngắm nhìn đường bờ biển trải dài mênh mông. Tàu ra Cát Bà rất nhiều. Đtrên boong tàu, bạn được ngắm nhìn biển khơi, những đoàn tàu chở hoàng hóa lướt qua... 


Một trải nghiệm vô cùng thú vị khi đến với Cát Bà là đứng trên đỉnh Pháo đài Thần Công, đưa ống nhòm lướt qua từng hòn đảo nhỏ. Tại đây, bạn có thể ngắm trọn của đảo Cát Bà. Vẻ đẹp của non nước mà thiên nhiên ban tặng khiến bạn không phải sử dụng bất kỳ một phần mềm chỉnh sửa ảnh nào. Một màu xanh bao phủ tầm mắt, xanh của trời, của biển, của cây cối và ánh nắng vàng phủ lên tất cả tạo nên sự phối màu đẹp đến nao lòng. Cách để tới pháo đài là đi xe máy, ôtô hoặc dạo bộ khoảng 15 phút lên đỉnh đồi. 


Cát Bà có rất nhiều bãi tắm. Bạn sẽ có một trải nghiệm đáng nhớ nếu như dạo quanh những bãi biển lúc trời chưa sáng. Những áng mây in bóng xuống biển tạo nên những con sóng xanh ngắt, bãi biển vắng và những vệt mây hồng. 


Đối với dân nhiếp ảnh, Cát Bà quả thực là một nguyên liệu đáng quý để có được những bức ảnh đẹp. Cát Bà có vô vàn "góc sống ảo" cho những người mê check-in. 


Ở bất cứ góc máy nào, bạn cũng có thể có được những bức ảnh đẹp. 


Đến với vịnh Lan Hạ nằm trong quần thể đảo Cát Bà, chắc chắn bạn sẽ thích thú "quên lối về". Bãi tắm trong vắt đến mức nhìn thấy đáy với những vỏ sò, những viên đá bị bào mòn với những hình thù lạ mắt. Nếu là một người mê lặn, chắc chắn vịnh Lan Hạ là một địa điểm lý tưởng, bạn có thể nhìn thấy những đàn cá lượn ngay dưới chân mình, lượm nhặt những vỏ sò mang về. 


Nằm trong vịnh Lan Hạ là những làng chài men theo những hòn đảo nhỏ. Bạn hãy thử trải nghiệm ngủ lại một đêm tại làng chài. Người dân Hải Phòng vốn mến khách nên việc xin ngủ lại là một điều không hề khó. Bạn sẽ được trải nghiệm cảm giác đánh cá lúc sáng sớm, cho cá ăn lúc đêm và câu được một con cá to, nướng ngay tại chỗ và thưởng thức một cốc bia lạnh. 


Đến với bất cứ vùng đất nào, điều đáng làm nhất có lẽ là đi chợ. Chợ của miền biển lại càng thú vị hơn nữa. Bạn sẽ bị choáng ngợp bởi sự đa dạng của các loại hải sản. Đến chợ hải sản, bạn sẽ hiểu rõ nhất được nhịp sống của vùng đất đó. Hải Phòng có những chợ hải sản nổi tiếng như chợ Cầu Vồng, chợ Máy Chai, chợ Cường Cá, chợ Ngọc Hải... 


Hải Phòng được thiên nhiên ban tặng cho sự trù phú về hải sản cũng như những giá trị kinh tế mà biển mang lại. Bởi vậy, bãi biển Hải Phòng luôn thu hút được lượng đông khách du lịch đến hàng năm. Khó có thể tìm được một miền đất nào mà du lịch biển lại dễ dàng, giá rẻ, cảnh đẹp nên thơ như Hải Phòng. 


Ẩm thực Hải Phòng lại là một "ẩn số" thú vị đối với những tín đồ ăn uống. "Hải Phòng là đất ăn chơi" quả không hổ danh, nào là bánh đa cua, nem cua bể, bánh bèo, bún cá, bánh mỳ cay, lẩu cua, bánh đúc tàu,.... Để khám phá hết "bản đồ ẩm thực" Hải Phòng có lẽ bạn sẽ phải mất một thời gian khá lâu. Bởi vậy nếu như muốn "ăn cả Hải Phòng", chắc chắn bạn sẽ phải ghé đến vài lần. 

Linh Giang

Trong đục dòng Vĩnh Giang

đăng 02:59, 6 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Bé con nhà tôi hôm rồi tự dưng hỏi: 'Thành phố Vinh nhà ta có dòng sông nào không Ba? Ý con là ngoài sông Lam ra ấy?'.

Thực sự tôi không ngạc nhiên về câu hỏi của con bé mà chợt bất ngờ vì con gái tôi và có thể rất nhiều đứa trẻ khác sinh ra trên mảnh đất này không biết về sự tồn tại của dòng sông Vinh. Dẫu nó ẩn chứa biết bao trầm tích qua dặm dài năm tháng. 

Như một sự chuộc lỗi với cô con gái bé nhỏ, vào buổi chiều cuối tuần cha con tôi nào mũ, nào áo đi một vòng tham quan dòng sông phía Nam thành phố Vinh. Khi đứng trên cầu Cửa Tiền nhìn xuống dòng sông nước quạch đỏ, bất chợt bé con lại hỏi: “Sông Vinh giờ đây có quan trọng nữa không ba?”. Tôi đã trả lời rằng dòng sông này vẫn còn quan trọng, nhưng thực sự tôi không dám chắc về điều đã nói với con gái mình.

Sông Vinh đoạn chảy qua cầu Cửa Tiền. Ảnh: Đào Tuấn 


Sông Vinh xưa kia được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: sông Mới, Cồn Mộc, Cửa Tiền. Tuy vậy, theo một số tài liệu mà tôi đọc được trước đây, tên “húy” của sông Vinh thực ra là Vĩnh Giang. Tên gọi này gắn liền với mảnh đất Kẻ Vĩnh xưa kia. Theo đó, vào cuối thế kỷ XIX, khi người Pháp đến vùng đô thị này, đã cho xây dựng tòa công sứ phía Tây ngoài thành Nghệ An trên làng Yên Vinh sát với chợ Vĩnh (tiếng Nghệ còn gọi là chợ “Vịnh”). Cũng do người Pháp không nói (đọc) được các chữ có thanh dấu nên dần dà, chợ Vĩnh bị gọi chệch thành “Vinh”, và trong tất cả các văn bản hành chính lúc bấy giờ đều sử dụng chữ “Vinh” khi nói về thị xã nhỏ bé này. Cũng bởi thế Vĩnh Giang từ là tên gọi Hán Việt đã thuần Việt hóa thành sông Vinh.

Còn về tên gọi Cửa Tiền là do sông chảy qua khu vực cửa tiền thuộc thành Nghệ An (thành còn có cửa tả, cửa hữu). 

Nói về trầm tích lịch sử, sông Vinh là một phần của Kênh nhà Lê dài hơn 500km nối từ các tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh được xây dựng, đào đắp từ thời Tiền Lê vào cuối thế kỷ thứ X. Trong đó, sông Vinh nối từ sông Cấm, qua sông Gai đến các xã, phường: Hưng Thịnh, Cửa Nam, Vinh Tân, Trung Đô trước khi qua ba ra Bến Thủy và đổ ra sông Lam. Có một đầu nguồn khác của sông Vinh xuất phát từ huyện Nam Đàn, khi chảy đến ngã 3 sông ở huyện Hưng Nguyên thì nhập vào để hình thành nên đoạn cuối cùng của Kênh nhà Lê trên đất Nghệ An.

Đánh cá trên sông Vinh. Ảnh: Đào Tuấn 


Dẫu không phải là dòng sông dài rộng ngút ngàn bờ bãi, nhưng thuở xưa, sông Vinh - Cửa Tiền được xem là chốn tấp nập kẻ chợ nhất Nghệ An. Trên vùng phía Nam thành phố, với sự có mặt của chợ Vinh, đây là chốn trên bến dưới thuyền, phường buôn bán tứ xứ đổ về. Những ngày chợ phiên, nông sản thực phẩm theo thuyền từ các xã Đức Thọ, Hương Sơn, Vũ Quang, Nghi Xuân (Hà Tĩnh) tìm đến; gỗ lạt, tre nứa, lợn gà… của người miền ngược xứ Nghệ cũng chèo chống xuôi sông Lam qua Nam Đàn, Hưng Nguyên đổ về. 

Không chỉ chở che biết bao nhiêu phận đời, phận người qua năm tháng, từ bao đời nay dòng Vĩnh Giang còn gánh gồng trên mình trọng trách “giải nguy” cho thành phố Vinh vào mỗi mùa mưa, khi ngập lụt. Thành phố hiện đã đầu tư hàng trăm triệu đô la để từng bước hoàn thiện các công trình, hệ thống tiêu thoát nước, nhất là trong điều kiện sức ép đô thị ngày càng gia tăng, nhưng sông Vinh vẫn “đảm nhiệm” giải quyết đến 2/3 lượng nước dồn ứ vào mùa lũ.

Nhưng cái dòng Vĩnh Giang đẹp đẽ ngày nào nó đã khác xa những gì chúng tôi đang nhìn thấy. Đã đành do thời gian, sự phát triển của đô thị, sự “nở” ra của muôn mặt cuộc sống… khiến cho dòng sông Cửa Tiền nó không còn là làn nước trong xanh mơ màng nữa, nhưng sao vẫn thấy tiếc nhớ, hoang hoải. Người ta đã ta thán về sông Vinh nào là: “Dòng sông đang chết”, “bức tử dòng sông”, “báo động ô nhiễm môi trường sông Vinh”…

Tôi không thường xuyên đến Cửa Tiền nên không biết cư dân dọc 2 bên sông đã phải chịu đựng những gì. Tuy nhiên cái ước vọng về một dòng sông đẹp đẽ, mát lành là điều có thật. Cách đây hơn 10 năm, chính quyền thành phố Vinh đã từng xây dựng đề án cải tạo sông Vinh. Theo đó, cùng với việc tìm lại “ký ức” cho dòng sông sẽ biến Vĩnh Giang trở thành một điểm đến trong bản đồ du lịch thành phố. Rằng sẽ có những du thuyền đi từ Vĩnh Giang, xuôi về Bến Thủy đến sông Lam, qua rừng bần ngập mặn ở Hưng Hòa và dừng chân ở Cửa Hội, Cửa Lò…

Cái ý tưởng ấy, nếu làm được thì không gì tuyệt vời hơn, tuy nhiên đó là vẫn là câu chuyện của “thì” tương lai. Điều trước mắt mà cha con tôi đang nhìn thấy vẫn là những bộn bề của cuộc sống hiện tại. 

Bà Trần Thị Mùi giới thiệu con thuyền của gia đình mình. Ảnh: Đào Tuấn 


Khi thấy chúng tôi tản bộ trên con đường đôi mới mở đoạn qua khối 6B, phường Cửa Nam, bà cụ bước tập tễnh từ dưới mé sông lên cả nhìn. Chúng tôi tiến đến bắt chuyện. Rồi cùng được bà mời xuống “nhà” chơi. Đó là con thuyền được đúc bằng xi măng cốt thép. Lần đầu tiên được biết về một con thuyền không làm từ gỗ hay vỏ sắt nên bé con nhà tôi không ngừng hỏi. Bà chủ nhà chỉ cười.

Bà cho biết mình tên là Trần Thị Mùi, năm nay 67 tuổi. Gốc gác gia đình bà mãi tận xã Văn Giang, huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh). Chồng mất khi bà mới 33 tuổi, nghề sông nước ở quê cũng vì thế không có người làm, bà Mùi chống chèo cùng 5 đứa con đến sông Vinh và ngụ cư chốn này đã hơn 15 năm. “Đời cha, đời ông, đời chồng, đời vợ, đời con, đời cháu đều trên nốc cả” - bà cụ nheo đôi mắt đục nói với chúng tôi. Bà cũng cho biết, mới đầu theo thuyền đến Vinh, gia đình làm nghề bốc vác cát tại bến Cửa Tiền. Thế rồi thành phố dẹp bến cát, bến nứa, bà và các con lại chuyển qua nghề chài lưới như thuở xưa.

Giờ đây trên chiếc thuyền bê tông cũ kỹ chỉ còn bà và cô con gái cùng 2 cháu ngoại, những đứa con khác, đứa thì tách thuyền, đứa lên bờ kiếm việc mong đổi đời. Người con gái đang ở cùng bà Mùi trên chiếc nốc bập bềnh là Hoàng Thị Thắng, năm nay 35 tuổi, chị cũng lại mất chồng cách đây 2 năm do tai nạn giao thông. “Nhà chồng hắn ở Hưng Lợi (Hưng Nguyên - PV), gốc gác cũng làm cá mú dưới nốc, cha chồng cũng mất sớm, nỏ có đất cát chi, bà mẹ giờ đang ở với người con út. Cũng cám cảnh lắm” - bà Mùi giải thích cho việc chị Thắng sao không đưa con về ở nhà chồng mà lại chông chênh cùng với mình trên chiếc thuyền chật hẹp.

Khi chúng tôi ngồi trò chuyện trên mũi thuyền thì trong khoang chị Thắng vẫn nằm yên, chỉ thi thoảng đưa tay gạt lên mắt. Cũng bà cụ Mùi cho biết, con gái mình bị thoát vị đĩa đệm, gai cột sống nên cả tháng nay hầu như không dậy được, việc đơm đó cũng vì thế chẳng ai làm. 2 đứa con chị Thắng, thằng cu lớn năm nay 15 tuổi đã bỏ dở học để giúp gia đình. “Thằng Mậm” - bà cụ gọi đứa cháu ngoài mình như thế sau rồi thở dài: “Hắn lên bờ đi rửa bát thuê, bưng bê cho người ta, tui một mình không làm được dam cua, cá mú nên hàng ngày đến chợ Vinh mua đầu Đông, bán cuối Tây. Gọi là quăng quýt qua ngày chú nà!”. 

Chúng tôi rời chiếc thuyền khi những đợt gió cuối chiều bất chợt cuốn thốc trên mặt sông. Trời đã lắc rắc mưa. Tôi chẳng biết nói gì với đứa con gái của mình và cảm nhận nó nắm tay tôi rất chặt. Ừ thì sông Vinh đấy! Mùa này nước đục nhưng sẽ có ngày nước trong. 

Đào Tuấn

Đi tìm di tích khảo cổ

đăng 02:33, 21 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:36, 21 thg 7, 2017 ]

Khu di tích khảo cổ Bình Tả ở Đức Hòa, Long An là một khu di tích quan trọng. Chẳng những đây là một khu di tích khảo cổ cấp quốc gia mà còn là nơi có bảo vật quốc gia nữa.


Khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 17 phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh, được nhà khảo cổ học người Pháp Henry Parmentier. phát hiện đầu tiên vào năm 1910. Năm 1931 J. Y. Claeys khai quật một di tích kiến trúc được xây bằng gạch ở phía tây nam cụm di tích này (Gò Tháp Lấp), đến nay, di tích này đã bị hủy hoại, di vật bị thất lạc. Trong hai năm 1987-1988, Sở Văn hóa - Thông tin Long An phối hợp với Viện Khoa học Xã hội tại TPHCM khai quật 3 di tích trong khu vực này, được gọi tên là: Gò Xoài, Gò Đồn và Gò Năm Tước (Gò Xoài vì ngày xưa nơi đây là vườn xoài, Gò Đồn vì xưa đây là đồn lính, Năm Tước là tên chủ đất).




Đây là những bảo vật quốc gia, được khai quật từ Di tích Gò Xoài


Khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực- tôn giáo của người xưa. Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định là 1.588 ±56 năm cách ngày nay. 26 hiện vật là lá vàng có chạm khắc hình ảnh và minh văn được phát hiện tại đây đã được công nhận là bảo vật quốc gia và hiện được trưng bày tại Nhà bảo tàng Long An.


Biết được những thông tin hấp dẫn về khu di tích Bình Tả như vậy tui rất muốn đến thăm. Hông phải vì muốn kiếm coi còn miếng vàng nào sót lại không đâu nghen, mà vì muốn tận mắt chiêm ngưỡng một di tích cổ xưa. Nhưng lại ngần ngại, vì hiểu rằng không giống Di tích Kiến trúc hay Di tích Văn hóa, Di tích khảo cổ là nơi mà người ta đã khai quật và các cổ vật dĩ nhiên đã mang đi trưng bày hoặc lưu trữ rồi, nơi đó chỉ còn lại... dấu vết khai quật thôi. Hai là, di tích quan trọng như vậy người ta có cho mình vô coi hông? Tính tò mò thắng thế, tui quyết tâm tìm tới coi sao.


Tượng Dvarapala (hộ pháp) - di tích Gò Đồn


Có chút trở ngại nho nhỏ khi tìm đến khu Di tích Bình Tả. Đó là trên Google Maps không hề có định vị địa điểm này, điều đó chứng tỏ khu Di tích Bình Tả chẳng hề được dân du lịch quan tâm và không là địa điểm tham quan nổi tiếng. Các trang mạng nói về khu di tích Bình Tả thì hoặc là không chỉ đường, hoặc chỉ... trật lất! Dù sao thì sau một hồi lần mò tui cũng tìm tới được. (Cũng xin thông báo là sau khi tới đây, tui đã định vị và bổ sung địa điểm trên Google Maps, vì vậy giờ đây bạn nào muốn tới đây thì có thể search trên Google Maps Di tích Khảo cổ Gò Đồn).


Đi trên đường tỉnh 824 thấy bên đường có bảng chỉ dẫn này thì bạn quẹo vô



Như thấy trên bảng, cụm di tích này bao gồm 3 điểm ở rời rạc là Gò Đồn, Gò Xoài và Gò Năm Tước. Từ ngoài đi vô thì tới Gò Xoài trước, bên tay phải. Đi thêm chút nữa là Gò Đồn, bên tay trái. Sâu thêm nữa là Gò Năm Tước. Dù Gò Xoài là nơi quan trọng nhất (tìm được những lá vàng, sau này là bảo vật quốc gia), nhưng coi được nhất là Gò Đồn, vì vậy tui kể chuyện thăm Gò Đồn trước.


Ngoại trừ bảng chỉ dẫn ở đầu đường như hình chụp trên, không còn bảng hướng dẫn hay bảng tên nào nữa, nên bạn phải hỏi thăm người dân thôi (nhưng dễ lắm, dân ở đó ai cũng biết).


Từ đường nhỏ, quẹo trái đi khoảng vài trăm met trên đường đất rộng khoảng 2 - 3 met, ta vô tới một khu đất được bao tường thấp chung quanh. Đó là Di tích Khảo cổ cấp Quốc gia Gò Đồn. Không có bảng tên, biển báo, không có người quản lý hay hướng dẫn, không có khách tham quan (hổng kể tui!).


Và đúng như tui hình dung, nơi đây chỉ còn lại hố khai quật. Thành hố đã được gia cố lại để thuận tiện bảo quản. Chung quanh là xoài, những cây xoài lâu năm khiến cho ta dễ lộn rằng đây là... Di tích Gò Xoài.




Kể ra thì nếu có gì đó liên quan đến di tích khảo cổ thì tui cũng... hổng hiểu, vì không có ai để hỏi hết. Nhưng mà ngồi chơi ở chỗ này cũng... hay hay.




Ăn xoài rụng hông?


Đi lòng vòng chơi chán, tui ra ngoài, tấp vô ngôi nhà lụp xụp gần đó. Đó chính là nhà của chủ đất. Tui cà kê với ông chủ.



Bạn có thể bấm vô clip này để coi cuộc trò chuyện. Còn nếu làm biếng thì tui kể lại sơ sơ như sau: Dù là Di tích cấp quốc gia nhưng đây vẫn là đất tư nhân, thuộc sở hữu của ông già trong clip. Từ khi khai quật (1987) đến giờ đã 30 năm, lúc ổng còn là thanh niên, Nhà nước chưa hề đền bù gì cho ông, trừ... một buổi mời ra Long An ăn bữa cơm thân mật. Cũng từ đó đến nay, khu đất này gia đình ông không được làm gì trên đó cả, những cây xoài có từ hơn 30 năm nay được giữ lại, nhưng không được phép canh tác gì thêm.


Thiệt là rầu cho tình trạng dở dở ương ương này. Nhà nước không có tiền đền bù, nên đất vẫn là của dân, Nhà nước không triển khai gì trên di tích được. Dân là chủ đất, nhưng vì đất được xác định là di tích quốc gia nên không được canh tác hay xây dựng gì hết. Tình trạng dở dở ương ương này kéo dài mới có... 30 năm và không biết còn kéo dài tới bao giờ!


Tui trở ra di tích Gò Xoài. Tình hình ở đây cũng tương tự như vậy, có phần còn tệ hơn nữa.




Trừ di tích cổng đá ở ngoài như trên hình (với tấm bảng di tích xộc xà xộc xệch) thì khuôn viên nơi khai quật không cho vô luôn!



Cần nói thêm là diện tích bảo tồn được Nhà nước quy định không chỉ gồm hố khai quật mà còn ở vùng lân cận nữa. Cụ thể di tích Gò Đồn có diện tích bảo tồn 7.000 m2, Gò Xoài 2.000 m2 và Gò Năm Tước 1.000 m2. Một chủ đất ở cạnh khu di tích Gò Xoài và có đất nằm trong khu bảo tồn than phiền với tui: Đất của mình, mình đứng tên đàng hoàng, mà cất nhà thì Nhà nước hổng cho!


Tui định tới gò Năm Tước, nhưng ông chủ đất này nói: Nó cũng giống như vầy mà nhỏ hơn nhiều, cũng bỏ hoang sơ vậy đó. Tui thấy vậy cũng đủ rồi nên đi về.


Vậy là đi tới khu di tích khảo cổ cấp quốc gia nhưng không tham quan cổ vật được gì. Dù vậy, cũng mở mang trí óc, biết thêm nhiều chuyện. Biết chuyện gì hả? Bộ muốn tui nói rõ ra sao?


Phạm Hoài Nhân


Vì thông tin tui viết quá ít kiến thức chuyên môn về khảo cổ, nên tui trích 2 tài liệu sau đây để ai muốn hiểu thêm về Khu Di tích Khảo cổ Bình Tả thì tham khảo.


Khu di tích khảo cổ học Bình Tả


Khu di tích khảo cổ học Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa , tỉnh Long An, nằm về hướng đông bắc thị xã Tân An, cách Tân An 40 Km theo lộ trình Tân An- Bến Lức- thị trấn Đức Hòa và nằm cách tỉnh lộ 824 (tình lộ 9 cũ) 800 mét về phía đông.

Nằm trong một tổng thể di tích với hơn 60 di tích khảo cổ học đã được khảo sát, tập trung trên địa bàn huyện Đức Hòa, khu di tích Bình Tả là một cụm gồm 16 di tích kiến trúc phối hợp với một hệ thống bàu nước cổ ở xung quanh. Từ phát hiện đầu tiên của nhà khảo cổ học người Pháp - H. Parmentier vào năm 1910;Năm 1931 J.Y. Claeys khai quật một di tích kiến trúc được xây bằng gạch ở phía tây nam cụm di tích này (Gò Tháp Lấp), đến nay di tích này đã bị hủy hoại , di vật bị thất lạc. Trong 2 năm 1987-1988, Sở Văn Hóa Thông tin phối hợp với Viện Khoa Học Xã Hội tại thành phố Hồ Chí Minh khai quật 3 di tích trong khu vực này.


1.Di tích Gò Đồn: là loại kiến trúc đền tháp xây bằng gạch , chiều dài đông- tây 78,5 mét; chiều ngang chỗ rộng nhất đo được 60 mét (chiều bắc- nam), toàn bộ kiến trúc trước khi khai quật đều nằm trong lòng đất , chỗ gần mặt đất nhất là 0,4 mét. Cuộc khai quật đã thu thập được nhiều hiện vật bằng đá như tượng thần Dvarapala (thần giữ đền), đầu tượng thần Ganesa (phúc thần), nhiều vật thờ như linga, yoni, mi cửa chạm trổ hoa văn hình hoa lá, máng dẫn nước thiêng (somasutra)…và nhiều đồ gốm cổ . Trong hố thờ trung tâm của di tích sâu khoảng 3 mét còn có một linh vật yoni đã vỡ và nhiều viên đá cuội – được đoán định là đá thờ.

Với kiểu dáng kiến trúc và những linh vật được phát hiện trong lòng di tích, có thể xác định Gò Đồn là một di tích kiến trúc Ấn Độ Giáo , thuộc văn hóa Óc Eo.


2.Di tích Gò Xoài: là một di tích kiến trúc xây bằng gạch , có dạng gần vuông với mỗi cạnh dài khoảng 20 mét , nền móng của kiến trúc có cấu tạo rất chắc chắn và phức tạp , gồm nhiều loại vật liệu khác nhau như cuội basalt (badan), sỏi đỏ, cát trắng, cát hồng…Kiến trúc Gò Xoài có hố thờ hình vuông ,cạnh 2,2 mét; sâu trên 2,5 mét, ở gần đáy hố thờ đã phát hiện được tro xương và một sưu tập hiện vật quý giá gồm nhiều mảnh vàng nhỏ, mỏng khắc chạm hình những linh vật như rùa, rắn, voi, những chiếc nhẫn và mề đay nạm đá quý và một bản văn minh Sanskrit-Pail gồm 5 dòng : dòng thứ nhất ghi một đoạn Pháp Thân Kệ, dòng thứ hai ghi một đoạn Kinh Pháp Cú (cả hai đoạn minh văn trên đều thuộc về Phật Giáo), dạng mẫu tự trên minh văn này được nhận định thuộc loại mẫu tự Nam ấn ( Deccan ), thếkỷ VIII-IX Công nguyên. Qua phát hiện trên, kiến trúc Gò Xoài được nhận định là một di tích stupa của Phật Giáo, có niên đại sớm nhất ở đồng bằng sông Cửu Long.


3. Di tích Gò Năm Tước: là một di tích kiến trúc xây bằng gạch, dài 17,20 mét; rộng 11,10 mét, phần trên của kiến trúc đã bị mất nhưng ở phần nền móng còn giữ được những đặc điểm của kiến trúc thuộc văn hóa Óc Eo như cấu trúc bẻ góc, các đường móng gạch rất thẳng, tam quan hình bán nguyệt hướng về phía đông … là cơ sở để nhận định đây là một kiến trúc đền thờ Ấn Độ Giáo.


Nhìn chung, khu di tích Bình Tả là một cụm di tích khảo cổ học quy mô lớn thuộc văn hóa Óc Eo. Căn cứ trên các sưu tập di vật, dạng thể và quy mô của các kiến trúc và nhất là nội dung của bản minh văn Gò Xoài, có thể nhận định rằng đây là trung tâm chính trị - quyền lực- tôn giáo của người xưa. Niên đại chung của khu di tích Bình Tả được phỏng định dựa trên tuổi tuyệt đối của hai chiếc trục bánh xe cổ làm bằng gỗ , phát hiện trong một bàu nước cổ bên cạnh di tích Gò Sáu Huấn (khu Bình Tả) : 1.588 ±56 năm cách ngày nay.

Với quy mô lớn trên toàn khu vực, cụm di tích khảo cổ học Bình Tả có một vị thế trung tâm trên vùng đất phù sa cổ thuộc vùng Đức Hòa- Đức Huệ (Long An) mà trung tâm này có thể có mối quan hệ rất gần với các di tích : Thanh Điền (Tây Ninh), Angkor Borei, Phnom Da, Ba Phnom, Sambor Prei Kuk ở mạn đông nam lãnh thổ Vương quốc Kampuchia. Khu di tích khảo cổ học Bình Tả đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia tại quyết định số 1570/VH-QĐ ngày 5/9/1989.


(Website tỉnh Long An)


Bảo vật quốc gia: Bộ sưu tập hiện vật vàng


* Đơn vị lưu giữ hiện vật: Bảo tàng tỉnh Long An


* Số đăng ký: Từ số BTLA 2505/KL40 đến BTLA 3565//KL82


* Chất liệu: Vàng


* Kích thước: dài từ 2,9cm đến 5,0cm; rộng từ 2,1cm đến 3,3cm.


* Số lượng: 26 hiện vật


* Miêu tả: Bộ sưu tập hiện vật là những mảnh vàng lá dạng dạng hình gần hình chữ nhật, tứ giác, ngũ giác, lục giác. Trên mặt mỗi mảnh có chạm một hình voi đang đứng; 01 lá vàng hình rùa, dát mỏng, cắt chạm thành hình con rùa với đầy đủ đầu, mình, 4 chân và đuôi trong tư thế như đang di chuyển; 01 lá vàng chạm hình người hình tứ giác, có 3 góc bo tròn, một góc nhọn nhô ra ngoài. Trên mặt có khắc hình một phụ nữ dáng đứng lệch hông, hai bàn chân hơi chếch ra hai phía, khuôn mặt tròn ngoảnh về bên phải, tóc se thành từng búi lớn sau gáy; 01 lá vàng hình hoa sen lớn, hình tròn, chạm hoa sen 12 cánh, mỗi cánh hoa có đuôi hình núm tròn, nhụy hoa được tạo bởi một dãy chấm nổi tròn nhỏ tạo thành hình tròn; 01 lá vàng hình hoa sen nhỏ hình tròn, chạm hoa sen 12 cánh, mỗi cánh hoa có đuôi nhọn; 01 lá vàng hình hoa sen tám cánh kèm theo mảnh cuốn; 4 mảnh lá vàng trơn, dát mỏng không trang trí; 02 lá vàng trơn, dát mỏng, có nhiều nếp nhăn do gấp lại; 01 nhẫn, vòng nhẫn tròn, đặc, thuôn nhỏ dần về phần đối diện mặt nhẫn. Mặt nhẫn có gờ nổi cao hình e-lip bao quanh hạt nhẫn bằng đá quý màu đỏ; 01 nhẫn có đính hạt đá quý màu xanh hình e-lip; 01 nhận có chỗ đính 3 hạt đá quý nhưng hiện còn 2 hạt: màu xanh và màu đỏ tía; 01 nhẫn hạt trắng trong hình chóp nhọn; 01 trang sức hình lá đề, rìa ngoài cùng trang trí vành lửa gồm những ngọn lửa cách điệu; 01 lá vàng hình rắn, đầu nhọn, thân có sống nổi, mắt là hai vòng trong chấm nhỏ; 01 lá vàng khắc minh văn chữ Phạn, lá vàng có hình chữ Nhật, trên mặt khắc nổi chữ gồm có 5 dòng: dòng thứ nhất là Pháp thân kệ của Phật giáo; dòng thứ 2 là một đoạn kinh pháp cú, 3 dòng còn lại là những câu thần trú dhàranì.

* Hiện trạng: Một số mảnh bị sứt, vỡ quanh rìa và bị oxy hóa.

* Niên đại: Thế kỷ IX sau Công nguyên (Văn hóa Óc Eo).

* Nguồn gốc, xuất xứ: Thu được từ khai quật di chỉ Gò Xoài, ấp Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, năm 1987.

* Lý do lựa chọn: Đây là bộ sưu tập hiện vật được phát hiện tại chỗ (in situ) trong lòng phế tích tháp Gò Xoài, được khai quật năm 1987. Có thể thấy trong số các di tích Óc Eo ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đây là bộ sưu tập nguyên vẹn nhất, có chất lượng nghệ thuật và giá trị khoa học đặc biệt nhờ những yếu tố sau:

- Văn minh khắc trên một mảnh vàng trong bộ sưu tập này có nội dung rõ ràng về Phật giáo, là di vật duy nhất thuộc loại này trong các di tích Óc Eo, góp phần xác định chức năng của kiến trúc Gò Xoài là một tháp Phật giáo, được xây dựng vào khoảng thế kỉ 8 SCN.

- Cách thức xếp đặt các di vật trong lòng tháp phản ánh nghi thức xây dựng một kiến trúc tôn giáo – đặc biệt là kiến trúc Phật giáo, bắt nguồn từ truyền thống Ấn Độ, nhưng đã có những chi tiết khác biệt, có thể phản ánh tính chất địa phương.

- Ngoài nội dung văn khắc, các hình vẽ và các di vật thể hiện các triết lý có nguồn gốc Phật giáo Ấn Độ, nhưng đã thể hiện những yếu tố Đông Nam Á, Ví dụ, một số hình vẽ tương tự như một số điêu khắc thể hiện trên các tháp Phật giáo thuộc giai đoạn Dvaravati (Thái Lan).

- Chất lượng nghệ thuật và kĩ thuật tạo tác phản ánh sự phát triển cao của nghề kim hoàn của cư dân Óc Eo.

Trên cơ sử phân tích các giá trị độc đáo nêu trên, nhóm di vật này xứng đáng được công nhận là bảo vật quốc gia. Đặc biệt, chúng cần luôn luôn được xem là một bộ di vật hoàn chỉnh, phản ánh thực hành và tư duy tín ngưỡng độc đáo của cư dân Óc Eo.

(Theo Hồ sơ di sản, tư liệu Cục Di sản văn hóa)

Phù Lưu – làng quê văn hiến

đăng 03:08, 15 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Phù Lưu là ngôi làng cổ ở Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh. Ngôi làng có truyền thống buôn bán và văn hóa lâu đời, quê hương của nhiều trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng thời kỳ cận hiện đai.

Lịch sử hình thành làng quê văn hiến

Làng có tên nôm là làng Giầu, vào buổi sơ khai làng nguyên là một vùng trồng trầu. Theo thuyết phong thủy mà dân làng từ xưa đã truyền tụng qua bài Mộc dục là: “Làng nằm trên một dải đất cao, có mạch từ đền Cổ Pháp đến núi Voi, núi Ngựa qua nhập vào sông Kim Ngưu rồi tích tụ ở chốn Loa Hồ. Vì thế đất cát tràn khí tốt, sản sinh những bậc văn nhân, sĩ, nông, công, thương, bốn nghề toại nguyện…”. Thực tế đó là sự lý giải cho vị thế, cảnh quan tuyệt hảo ở đây – nơi đất lành được tụ khí chung đúc, nơi tiện lợi giao thông, thành trạng chuyển nối giữa rừng núi và đồng bằng, giữa đô thị và nông thôn. Do đó Làng vừa sản sinh văn nhân vừa phát triển mọi nghề, nhất là thương nghiệp. 


Phía nam làng Phù Lưu là khu rừng Sắt, vốn là lăng mộ của Trần Bá Liệt và một số quý tộc nhà Trần. Phía bắc của làng Phù Lưu là đầm Phù Lưu và rừng Báng, đầu thế kỷ XX, dân làng Đình Bảng mới được phép khai phá rừng thành đất công. Ở phía đông, nằm sát cạnh làng Phù Lưu là làng Đình Bảng. Xưa nằm ở vị trí có nhiều lợi thế khiến cho làng Phù Lưu sớm trở thành trung tâm buôn bán. Đó là vị trí trung tâm của đồng bằng cao xứ bắc thuộc lưu vực sông Hồng, sông Đuống, sông Tiêu Tương…

Đầu thế kỷ XX, làng Phù Lưu có diện tích khoảng 49 hecta, 180 hộ dân, 3078 người. Cư trú trong làng bao gồm nhiều dòng họ, nhiều người trong họ quan hệ theo huyết thống thân tộc khá chặt chẽ, một số họ lớn ở làng Phù Lưu như: họ Hoàng, họ Chu, họ Vũ, họ Phạm… Ngoài mối liên kết theo họ, người dân ở đây còn liên kết theo giáp.

Ngoài nét chung của một làng quê, ở Phù Lưu còn có những nét riêng, độc đáo của một làng buôn trong sinh hoạt văn hóa, tổ chức của cư dân dã có dáng dấp phố xá. 

Truyền thống văn hoá làng Phù Lưu

Phù Lưu vốn là một làng nông nghiệp cổ truyền, canh tác một dải đất màu mỡ. Những ghi chép trong các nguồn thư tịch cổ đã cho biết Phù Lưu xưa là một làng chợ lớn. Sách “Đại nam nhất thống chí” ghi: “Chợ Giàu ở huyện Đông Ngàn, buôn bán đông đúc là một làng chợ lớn trong tỉnh”. Sách “ Phong thổ Hà bắc đời Lê” cũng chép “Buôn the lụa, có người Phù Lưu buôn bán khắp nơi”.


Ngay tên làng Phù Lưu, vốn có tên là Thị Thôn( làng Chợ), đã cho thấy ngay từ đời Lê, Phù Lưu đã là một làng chợ. Sau này mới đồng nhất tên làng với tên xã là Phù Lưu ( hay còn gọi là chợ Giàu) với câu ca:

“Ai lên quán dốc chợ Giàu
Để thương, để nhớ, để sầu cho khách đường xa”

Theo truyền thuyết, chính đầm Phù Lưu là nơi các tướng của Triệu Quang Phục: Trương Hống và Trương Hát tập hợp và huấn luyện quân sĩ tiến ra đánh đuổi quân giặc nhà Lương.

Thời Lý, Trần, Phù Lưu thuộc đất Cổ Pháp, Quê hương nhà Lý, theo truyền thuyết , đó là nơi nhà Lý xây dựng bản doanh để chỉ huy cuộc kháng chiến chống Tống. 

Thời Pháp thuộc, người Phù Lưu sớm nổi dậy chống Pháp, giác ngộ Cách Mạng. Sau cách mạng Tháng Tám, Phù Lưu là địa điểm dự bị để họp quốc hội đầu tiên, đó là đình làng Phù Lưu.

Các di tích lịch sử - Văn hóa

Các công trình đình, đền làng Phù Lưu là những công trình tín ngưỡng, tôn giáo, trung tam sinh hoạt văn hóa của toàn dân, đông thời là nơi hội tụ, lưu giữ bền vững và tôn nghiêm những truyền thống của người Phù Lưu: “Uống nước nhớ nguồn”, hiếu học, trọng nhân nghĩa, đoàn kết nhân ái và có quan hệ thủy chung, rộng mở, khuyến khích làm việc nghĩa, giúp dân, giúp nước. Ở đó cũng là nơi lưu giữ những nguồn tài liệu quý và phong phú, giúp cho việc nghiên cứu lịch sử Phù Lưu nói riêng, lịch sử dân tộc nói chung trên nhiều lĩnh vực.


Chùa liền với đình về phía đông bắc, với tên chữ là “Pháp Quang Tự” . Theo nhiều nguồn tư liệu, nhất là gia phả họ Ngô ở Trang Liệt , văn bia dựng đài Kính Thiên, cho biết chùa Pháp Quang đã có từ lâu, đến thế kỷ XV – XVII đã là ngôi chùa lớn có nhiều tượng phật. Kiến trúc chùa Pháp Quang hiện nay là công trình được sửa dựng vào thời Nguyễn, dưới thời vua Thành Thái, năm Kỷ Hợi, riêng tòa gác chuông kiến trúc chồng diềm tám mái được dựng vào năm Bảo Đại thứ 8 (1933) , qua khảo sát, một số nhà nghiên cứu cho rằng chùa xưa có mặt bằng “ Nội công ngoại quốc”, trong quá trình sửa chữa lại, những người xây dựng đã cắt rời tòa ống muống, biến thành tòa thượng điện. Tượng của chùa cũng bị phá hủy nhiều, đáng chú ý nhất là ba pho tượng Tam thế, chùa còn có tượng Thích Ca sơ sinh, tượng Di Lạc, hai pho tượng phật bằng đá đặt ở sân trước cửa chùa và một số tượng khác. 

Đình, đền làng Phù Lưu còn là cụm di tích kiến trúc nghệ thuật cổ kính và đặc sắc. Những công trình này được khởi dựng từ thế kỷ XVI-XVII, và nhiều lần được người dân trùng tu, mở rộng. Từ quy mô bề thế, kết cấu vững chức, dáng vẻ thanh thoát với các mái đao uốn cong, mềm mại, đến các mảng chạm khắc tinh vi trên các bộ phận kiến trúc và các di vật, đã phô bày trình độ, tài nghệ xây dựng, kỹ thuật trang trí, chạm khắc của những lớp thợ đã tham gia vào tu dựng các công trình trên. Đó là di sản văn hóa quý, tập trung ở một khu vực, tạo thành cụm di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật độc đáo và tiêu biểu của một làng buôn xứ bắc- làng Phù Lưu.

Quỳnh Phương

Tuy Phong: Một loại hình du lịch bị bỏ quên ở Bình Thạnh

đăng 01:18, 12 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nhắc đến Bình Thạnh (Tuy Phong) là nhắc đến một xã vùng biển có ưu thế về phát triển du lịch. Ở đây, ngoài các di tích lịch sử - văn hóa như: Cổ Thạch tự (chùa hang) hình thành từ năm 1835, đình làng Bình An (1700- tên xa xưa của Bình Thạnh), Lăng ông Nam Hải từ thời Minh Mạng (1820-1840), nhà lưu niệm cố Tổng bí thư Lê Duẩn, khu di tích lịch sử Cát Bay, còn có bãi đá bảy màu, hang cò, hang yến, hốc Đồng Chung, bãi ngoài, giếng Liệc… là những thắng cảnh khá thu hút…

Đài tưởng niệm cố Tổng Bí thư Lê Duẩn tại xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong. 


Nhận thức được thế mạnh của địa phương mình, Đảng ủy xã Bình Thạnh nhiệm kỳ 2003-2008, đã chú trọng phát triển du lịch, bên cạnh ngư nghiệp là thế mạnh của xã. Tiếp những năm sau, Bình Thạnh có Nghị quyết 47, ngày 15/2/2012, về phát triển du lịch đến năm 2015. Nghị quyết phấn đấu đến năm 2015, mỗi năm đón 500 - 700 ngàn lượt du khách, thời gian của du khách lưu trú từ 1,5 - 2 ngày. Bình Thạnh sau đó đã nhận được sự hỗ trợ của huyện ủy, UBND huyện Tuy Phong, thông qua đầu tư vật chất (đường, điện, trạm cấp nước...) cũng như các chính sách mời gọi đầu tư du lịch Bình Thạnh. Kết quả, năm 2016, có 3 dự án đầu tư vào Bình Thạnh. Hình ảnh Bình Thạnh cùng với các thắng cảnh ngày càng được biết một cách rộng rãi. Tuy nhiên, theo UBND huyện Tuy Phong, du lịch Bình Thạnh vẫn còn một số điểm chưa được: Đơn điệu trong loại hình, đa phần là du lịch hành hương, vẫn còn xảy ra ô nhiễm nước thải sinh hoạt, văn hóa ứng xử trong du lịch chưa được đề cao… UBND huyện Tuy Phong đã yêu cầu Bình Thạnh hướng đến nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong dân, ý thức bảo vệ cảnh quan thiên nhiên; nâng quy mô các hoạt động văn hóa văn nghệ, các lễ hội đặc thù địa phương; nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch hiện có đồng thời phát triển sản phẩm mới; hợp tác với các doanh nghiệp lữ hành trong và ngoài tỉnh để thu hút du khách… Những cố gắng trên đã tác động đến du lịch Bình Thạnh, kết quả 6 tháng đầu năm 2017, lượng du khách đến Bình Thạnh đạt 837 ngàn lượt, thay vì 500 - 700 ngàn lượt trong cả năm như Nghị quyết 47 đề ra. Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường do rác thải, nước thải, nạn cò cóc, ăn xin… vẫn chưa được xử lý triệt để… Đáng chú ý là du khách hành hương vẫn chiếm số đông trong tổng du khách đến Bình Thạnh. Du lịch nghỉ dưỡng có phát triển nhưng chưa mạnh. 

Một loại hình du lịch bị lãng quên

Bình Thạnh có 2.886 ha đất tự nhiên, đa phần là động cát, rừng thưa. Ngoài nghề biển, người Bình Thạnh còn trồng hoa màu ngắn ngày trên đất rẫy và làm vườn. Diện tích vườn Bình Thạnh khoảng 50 ha, với các loại cây trồng, trong đó chanh tứ quý khá nổi tiếng vì trái to, mọng, nhiều nước. Những năm sau này do giá của các loại cây trái thấp, thiếu đầu tư thâm canh, diện tích vườn của Bình Thạnh có phần thu hẹp, ít người chú ý giá trị của vườn về mặt cảnh quan. 

Tâm và lực của Bình Thạnh đều hướng về du lịch biển, du lịch hành hương, mà quên đi chính yếu tố độc đáo của vườn Bình Thạnh, một kiểu vườn ven biển đất cát pha, với một số loại cây như dừa, chanh, xoài, bưởi có thể khai thác du lịch dưới dạng (loại hình) du lịch dân dã (gần, rất gần với du lịch sinh thái vì dựa vào thiên nhiên, gắn với văn hóa bản địa, phát triển bền vững vì có sự tham gia của cộng đồng địa phương). Theo đó, trong các khu vườn rợp chanh, bưởi, chung quanh được rào bằng những hàng cau (trước đây), có thể dựng lên những nhà mái tranh, tường xây, cùng các phương tiện sinh hoạt khác… để cho du khách thuê. Có thể thấy rõ đối tượng thuê là những cặp đôi nam nữ, những người ở thành phố quen sống trong nhà cao cửa rộng, muốn có cảm giác lạ, muốn về với thiên nhiên, với sự dân dã. Cần kể tới, một lượng du khách hành hương thay vì chọn nghỉ trong các nhà nghỉ hiện đại sẽ lựa chọn loại hình này. Bên cạnh cho thuê nhà nghỉ, chủ nhân khu vườn có thể nhận nấu cơm theo kiểu gia đình cho khách, bán các sản phẩm “cây nhà, lá vườn” như: nước chanh, mứt chanh, si rô chanh trị ho và các sản phẩm khác từ vườn cho khách. Tất cả những sản phẩm này không khó để làm ra. Khách ở nhà vườn, nhưng chỉ cần bước ra vài trăm mét là thấy biển, vui đùa với sóng biển… đã là một lý thú, chưa nói có phần diễm tuyệt. Chính sự kết hợp: vườn- rừng- biển, làm nên sự độc đáo riêng có của du lịch Bình Thạnh. 

Vì sao có đề xuất trên?

Nói đến du lịch là nói đến vui chơi, thư giãn, nghỉ dưỡng, hành hương, thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng. Nói đến du lịch là nói đến sự hiếu kỳ, tò mò, muốn khám phá, sự hấp dẫn do cảnh quan mang lại, sự mới lạ, khác biệt của điểm đến. Không ai bỏ tiền đi du lịch khi mà họ biết rõ điểm đến như biết rõ lòng bàn tay mình. Như vậy việc tạo cảnh quan, khai thác cảnh quan, tạo nên sự kỳ thú, hấp dẫn là nhiệm vụ của cơ sở du lịch, địa phương có ngành du lịch. Sự tạo nên đó dựa trên 2 hướng: khai thác cái có sẵn trong thiên nhiên; xây dựng ý tưởng, gắn ý tưởng vào cái đang có, hoặc từ ý tưởng tạo nên sản phẩm nhân tạo mới. Có thể thấy điều này trong các nước thuộc khối Asean. Singapore là một ví dụ. 

Gần 10 năm trước du khách đến Quốc đảo này thường được hướng dẫn di thăm vịnh Marina Bay, đi thuyền ban đêm trên sông Singapore, thăm bảo tàng sáp, thăm trung tâm mua sắm, thăm viện đào tạo thiết kế thời trang, thăm đài phong thủy, thăm các khu phố Ấn... Thế nhưng gần đây thì họ có thêm công viên nhiệt đới nhân tạo và Marina Bay Sands Sky Park… Cần nói thêm, công viên nhiệt đới nhân tạo là một phần của dự án thiết kế cảnh quan rộng 250 mẫu Anh với những cây năng lượng cao 50 m (xây bằng bê tông, còn gọi là siêu cây), chung quanh được bao bọc bởi những cây xanh nhằm tạo màu xanh và sự thu hút. Còn Marina Bay Sands Sky Park có dạng một con tàu thủy, nằm trên 3 tòa tháp của khu phức hợp Marina Bay Sands. 2 thắng cảnh nhân tạo này đều xuất phát từ ý tưởng của các nhà thiết kế, vấn đề là nó được người có trách nhiệm nắm bắt và ủng hộ như thế nào. 

Có thể nói, du lịch là một ngành đòi hỏi sự sáng tạo và đổi mới liên tục. Thiếu sự sáng tạo, hoặc mô phỏng ý tưởng lẫn nhau thì nguy cơ thu hút kém du khách là điều có thể xảy ra. Khai thác ý tưởng, tìm kiếm ý tưởng tốt, lạ, sáng tạo là điều nên làm. Vì vậy, với đề xuất khai thác du lịch dân dã ở Bình Thạnh có thể xem như là ý tưởng để nghiên cứu. 

Hà Thanh Tú

La Gi - Còn đó ngày xưa!

đăng 06:21, 4 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nhà thủy tạ ở đập Đá Dựng


Khi hoàn thành con đập ngăn Sông Dinh ở Đá Dựng (phường Tân An - La Gi) vào năm 1958, tiếp đến là xây một nhà thủy tạ mô phỏng hình dáng ngôi chùa Một Cột ở Hà Nội trong lòng hồ của đập. Cho nên cũng có tên gọi là chùa, dù không có thờ phượng gì mà chỉ là một sàn gạch hoa làm chỗ nghỉ chân, ngắm cảnh. Nhà thủy tạ xây vuông vức mỗi cạnh 2,5m, nhưng có khác là 2 tầng mái đều xuôi thẳng 4 góc, lợp ngói âm dương, phần đuôi biểu trưng hình chim phượng. Bốn trụ tròn ở thế đỡ đuôi mái tầng dưới và cũng là bốn phía hành lang được trang trí cách điệu chữ vạn lồng ghép vào nhau. Trụ chính nâng cả công trình có đường kính cỡ 1,5m, cách mặt nước hồ lòng đập khoảng gần 2m được xây vững chãi nhưng với độ cắm chặt xuống đáy sông cũng phải hàng chục mét. Phía hạ lưu chân đập có xây hình “long ngư vượt vũ môn” và tượng sư tử nằm cạnh những khối đá đủ dáng hình xen lẫn cây xanh.

Ngày ấy, từ bờ đập cạnh cửa thoát nước có bắc chiếc cầu phao, lót gỗ nối dài với nhà thủy tạ. Đứng ở bờ hữu ngạn sông Dinh nhìn qua phía bên kia, dọc bờ có những dàn hoa xây bằng trụ cột bê tông. Với bờ bên này gần 2 mẫu đất công viên điểm xuyết nhiều bồn cây, hoa kiểng. Đặc biệt là một rừng hoa anh đào bản địa, với những đài hoa màu hồng phấn phủ lên vòm lá xanh tươi, râm mát bốn mùa. Từ vị trí chùa Một Cột có thể nhìn thấy đoạn sông phía thượng nguồn như bức tranh thủy mặc, soi bóng rặng tre và cây lá đôi bờ êm ả. Bên dưới phẳng lặng hồ nước trong xanh, tung tăng đàn cá bơi lội. Có lẽ, đây là một tiểu phẩm phong thủy mà viên tỉnh trưởng thời ấy với dụng ý sẽ tránh tà, khử hung cho địa vị của mình. Hai năm sau, một cơn lũ từ nguồn cao tràn xuống đã đẩy sập công trình này. Nhưng trong ký ức người dân ở đây cũng gần 60 năm, coi đó là một công trình kiến trúc nghệ thuật, độc đáo trong khung cảnh sông nước hữu tình.

Rừng dầu Tân Lý


Nay còn sót lại một cụm rừng nguyên sinh khoảng trên 1ha loại cây dầu long ở gần khu Mã Thánh, thuộc làng Tân Lý (xã Tân Bình - La Gi). Những cây cổ thụ loại dầu long có đến tuổi trên trăm năm, chứng nhân sự biến thiên của một vùng đất đang chuyển dần đến ngưỡng cửa đô thị hóa. Dầu long còn gọi là dầu bao, chò long… có cây cao đến 40m, tán rộng và đường kính khoảng 80cm. Người dân địa phương khai thác dầu bằng cách khoét ở phần gốc của thân cây làm miệng lấy nhựa dầu. Cách quản lý ngày xưa bằng sự tự giác của người dân trong vùng, miệng dầu của ai nấy lấy, dù trong rừng vắng mà không trộm cắp của nhau. Có khi phải dùng vỏ cây tràm đốt lên để kích thích nhựa chảy ra nhiều hơn. Dầu long là nguồn nguyên liệu đặc biệt và không thể thiếu của một thời chưa tiếp xúc với những điều kiện khoa học hiện đại.

Dầu long trộn với vỏ tràm, bó thành cây dài đến 1m làm đuốc thắp sáng. Dầu long là một loại keo chống thấm đặc biệt, bảo vệ chất gỗ, tre rất bền bỉ được ngư dân dùng xảm ghe thuyền, trét thúng chai theo kinh nghiệm nhiều đời. Những hợp chất công nghệ sau này vẫn chưa làm mất đi sự tin cậy của ngư dân địa phương trong sử dụng bảo quản ghe thuyền. Nước dầu long dẻo tựa mật ong và khi được trộn với bột chai rừng sẽ tạo thành vỏ bọc chống thấm, chống gỉ sét cho ghe thuyền không thua gì lớp composit hay loại sơn công nghiệp ngày nay. Chỗ khe ghép ván gỗ hay lỗ nêm mộng tán đóng ghe thuyền cũng phải cần đến dầu long. Hình ảnh cây dầu long với thân cây xù xì, mang nếp nhăn nheo của thời gian đã thấm đậm trong đời sống ngư dân La Gi. Bởi đây là một loại sản vật rừng truyền thống và tính sáng tạo từ tiềm năng thiên nhiên phong phú của địa phương.

Cây me Tây gần 60 năm


Đây là cổ thụ được trồng cùng lúc xây dựng Tòa hành chánh thuộc khu vực tỉnh lỵ Bình Tuy vào năm 1958, nay là trụ sở UBND thị xã La Gi. Như vậy, đến nay đã gần 60 năm. Cây có tên me Tây hay còn gọi là muồng ngũ, cây còng, thuộc họ đậu (Fabaceae) gốc từ châu Mỹ. Loại cây này thường được trồng ở không gian rộng vì có tán lớn, xum xuê bóng mát, hoa li ti vàng đỏ.

Trong qui hoạch đô thị dưới chế độ cũ, khu vực này trước đây nguyên là rừng già rậm rạp có các địa danh lịch sử Láng Cát, Bưng Cần Câu… được chọn làm khu hành chánh tỉnh mới thành lập. Các con đường chính lấy giống me Tây làm chủ đạo trên thiết kế cảnh quan công viên, dinh thự được bố trí song song với 2 trục đường dọc công viên Nguyễn Huệ ngày nay tạo nên những mảng xanh hài hòa, thông thoáng. Nhưng hiện nay chỉ còn lẻ loi một cây cổ thụ me Tây này để người ta liên tưởng đến “bóng câu” thời gian và sự phát triển xã hội đã tạo nên diện mạo mới của La Gi ngày nay.

Dấu tích thời mở đất


Nét độc đáo của di tích Vạn Phước Lộc (thị xã La Gi) vừa là dinh vạn thiết chế tín ngưỡng dân gian thường thấy ở vùng biển nhưng lại cũng có đình thờ Tiền hiền - Hậu tổ theo tập tục thờ Thành hoàng bổn cảnh của người dân vùng nông thôn. Cho nên từ mối quan hệ thờ phụng đó, quyết định về xếp hạng di tích quốc gia của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vào năm 2012, công nhận di tích với tên gọi là “Đình và Vạn Phước Lộc”. Trong khuôn viên di tích có điện thờ thần Nam Hải. Trước khám thờ có tẩm thờ hàng trăm bộ ngọc cốt cá Ông được lưu giữ từ nhiều đời, trong đó có bộ xương lớn cá Ông (còn gọi là Ông Đại) có cách đây trên 200 năm.

Cạnh bên, là điện thờ Thành hoàng bổn cảnh, là nơi thờ thần của làng dù không có sắc phong của nhà vua, không có ruộng làng, không cúng lệ tịch điền… nhưng trong tín ngưỡng dân làng đó là những nhân thần vô danh có công lập làng Phước Lộc và sau đó là các vị “khai canh, khai khẩn”.

Đình và Vạn Phước Lộc, sau này được phục dựng theo lối kiến trúc tứ trụ, trang trí họa tiết hình tượng lưỡng phụng tranh châu, câu đối, hoành phi chữ Hán Nôm, ghi nhớ công lao bậc Tiền hiền - Hậu tổ đã mở đất lập làng.

Phước Lộc là địa danh lâu đời ở vùng đất La Gi. Từ khoảng năm 1867 đã có lưu dân từ các tỉnh miền Trung và sau đó là dân từ Nam bộ đến đây định cư, trở thành điểm cư dân tập trung đầu tiên của địa phương. Trong quá trình hình thành xóm làng, đời sống kinh tế ổn định, người dân vừa sống bằng nghề biển vừa sống bằng nghề nông đã thấy nhu cầu tâm linh tín ngưỡng không thể thiếu được và phải xây dựng dinh vạn và đình làng để làm nơi thờ phụng. Lúc trước dinh vạn thờ cá Ông tại địa điểm hiện nay, còn đình thờ Thành hoàng ở dải ruộng phía trong xa, gần Gò Thanh Minh. Trong chiến tranh cơ sở dinh vạn và đình làng bị tàn phá, nên khi tạo dựng lại được người dân thống nhất xây chung một nơi như bây giờ cho thuận tiện trong sinh hoạt, cúng lễ, hội hè. Vì đặc điểm trong đời sống kinh tế của gia đình, người lao động cũng vừa làm nghề biển và cũng là người trực tiếp làm nông. Cơ sở Đình và Vạn Phước Lộc hiện tại, chỉ là phiên bản theo cách kiểu bài trí ngày xưa nhưng hoàn toàn xây mới có tính kế thừa và lệ thuộc khả năng đóng góp tự nguyện của người dân. Nhưng đây có thể coi là dấu vết của thời kỳ đầu tiên lập làng mở đất ở La Gi. 

Xứ đạo Tân Lý 130 năm


Đặc điểm xứ đạo Tân Lý (Bình Tân) là nơi cư dân sống nghề nông nghiệp sớm nhất ở La Gi, kể từ năm 1885 khi linh mục Huỳnh Công Ẩn (thuộc địa phận Quy Nhơn) chiêu mộ những người dân ở làng Kim Ngọc (Phan Thiết) và dân địa phương gốc quê miền Trung về đây khai khẩn đất hoang, làm ruộng.

Đến năm 1893 dưới thời vua Thành Thái mới được công nhận và cho chuyển nhượng đất đai để lập thôn Tân Lý. Năm 1929, được chính thức thành lập “Họ Công giáo La Di”. Nhà thờ ban đầu, dựng tạm ở cạnh động Tân Long, về sau dời về địa điểm hiện nay. Kiến trúc xây dựng qua nhiều lần trùng tu nhưng có quy mô bề thế hơn khi xây dựng mới như ngày nay.

PHAN CHÍNH

Có một khu rừng nguyên sinh giữa lòng thị xã

đăng 06:16, 4 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Trên tuyến đường du lịch nối từ Đồi Dương Bình Tân, thị xã La Gi về giáp ĐT 719 qua Tân Bình, du khách rất dễ nhận ra một khu rừng tự nhiên xanh ngắt nằm tiếp giáp với các dự án du lịch biển của thị xã La Gi. Đó là khu rừng dầu trên trăm tuổi duy nhất còn sót lại nơi phố biển này. Một thắng cảnh sinh thái tự nhiên, lá phổi xanh giữa lòng đô thị La Gi.


Rừng dầu nguyên sinh này có diện tích gần 24 ha thuộc tiểu khu 417C nằm trên địa phận xã Tân Bình và chỉ cách bãi tắm Đồi Dương chừng 1 km. Khu rừng này theo thống kê của ngành lâm nghiệp trước đây có tổng cộng 2.720 cây, chủ yếu dầu rái, rải rác có số ít cây cám, cây thị. Sở dĩ rừng dầu Tân Bình tồn tại được qua hàng trăm năm là nhờ trước đây, người dân nơi đây tự phân chia và bảo quản để khai thác sản phẩm dầu rái, một loại nguyên liệu quý dùng trong công nghệ đóng tàu thuyền từ những năm 1990 về trước. Sau này dầu rái không còn là sự chọn lựa chính trong việc đóng tàu thuyền. Nền công nghiệp phát triển, người ta đã thay thế dầu rái bằng những nguyên liệu sinh học bền hơn, tốt hơn. Nghề khai thác dầu rái của bà con ở Tân Lý, Tân Bình từ đó mai một. Rừng dầu nguyên sinh này được Nhà nước kiểm kê và đưa vào diện quản lý đặc biệt. Năm 2009, UBND tỉnh đã có quyết định giao rừng cho một công ty du lịch tư nhân thuê để đầu tư làm khu lâm viên và khai thác du lịch sinh thái. Đây là chủ trương nhằm duy trì và phát triển khu rừng tự nhiên này.

Hiện tại, khu rừng dầu này vẫn được bảo quản tốt, cây cối phát triển xanh tươi, nhưng về lâu dài nếu nhà đầu tư vì lý do nào đó lơ là trong công tác quản lý thì khu rừng dầu này sẽ có nguy cơ biến dạng nhanh chóng.

NGÔ VĂN TUẤN

1-10 of 20

Comments