An Giang mùa nước nổi

đăng 03:34, 23 thg 10, 2011 bởi Admin VINACOM Garden   [ đã cập nhật 00:46, 12 thg 8, 2012 ]
Tôi đặt chân đến An Giang nhiều lần, nhưng đúng vào mùa nước nổi như thế này thì chỉ lần đầu.

Quả như cậu hướng dẫn viên Trường Nam của Công ty Dịch vụ Lữ hành Saigontourist miêu tả: Là một tỉnh miền Tây Nam Bộ, An Giang trù phú với những cánh đồng thẳng cánh cò bay, cánh rừng thốt nốt xanh ngắt một màu, tôm cá đầy đồng và bông điển điển vàng rực khắp chốn trong mùa nước nổi…Từ tháng 7 đến tháng 10 âm lịch hằng năm là mùa nước nổi - một thứ “đặc sản” mà thiên nhiên ban tặng cho miền Tây để qua thời gian, nó dần trở thành một nét văn hóa đặc trưng, với vẻ đẹp chân chất mà chẳng nơi nào có được.

Rừng tràm Trà Sư - đặc sản An Giang


Điều may mắn của chúng tôi là được các anh ở Trạm Kiểm lâm đưa đi tham quan khu rừng trong mùa nước nổi. Mùa này, rừng ngập chìm trong nước khoảng 2-3 m. Muốn vào sâu bên trong phải dùng xuồng, ghe, tắc ráng để dễ dàng len lỏi qua từng ngóc ngách của rừng.

Trên đường đi, các anh say sưa thuyết minh: Tọa lạc trên địa bàn xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 10 km, rừng tràm Trà Sư được công nhận là khu rừng đặc dụng quốc gia- bảo vệ cảnh quan. Với diện tích 845 ha, đây là nơi trú ngụ của 140 loài thực vật, 70 loài chim, 11 loài thú, 23 loài cá; trong đó có nhiều loài quý hiếm và có giá trị khoa học như: cò Ấn Độ, cò lạo, cá còm, cá trê trắng,…


Ngồi trên tắc ráng, đi trong khu rừng tràm thanh bình, yên tĩnh, tôi hình dung mồn một hình ảnh bức tranh quê Nam Bộ đặc thù: thong dong bầy vịt lội, những hàng thủy liễu mềm mại rủ xuống mặt nước, những dãy tràm ngay ngắn, đều đặn, thẳng tắp tạo cảm giác như lạc vô khu rừng cao su trên cạn. Trên mặt nước, ngoài những đầm sen, đầm súng thơm ngát mùi hương, tôi còn bị những cánh đồng bèo tai tượng to như một búp hoa, bèo cám xanh um đánh lừa như đang êm ả bước trên một thảm cỏ màu mạ non.


Rừng tràm Trà Sư


Con đường vào sâu trong rừng ngút ngát bèo, ngút ngát tràm - loại cây có mùi ngai ngái đặc trưng, cao gầy, thân gỗ, vỏ trắng xốp, khi lớp vỏ bên ngoài bong tróc lại khoe bên trong thân cây trắng phau, nõn nà như làn da mịn màng của các kiều nữ. Đặc biệt lá tràm dày, cứng, mọc cách hình dải thuôn, 2 mặt lá màu khác nhau, hoa trắng vàng, dài độ vài phân. Quả là “đất lành chim đậu”, không gian rừng tràm mùa này êm đềm lãng mạn với tiếng chim hót véo von, tiếng đàn cò, đàn nhạn ríu rít gọi bầy ngay trên đầu… Cả lũ dơi, đàn quạ cũng chọn nơi này làm chốn định cư. Dưới nước, tôi không có nhiều kiến thức về các loài thủy sinh để phân biệt rõ ràng từng họ, nhưng thỉnh thoảng lại giật mình bởi tiếng quẫy nước mạnh mẽ của những anh chàng nghịch ngợm này.


Hít thở không khí trong lành, thư giãn trong thiên nhiên hoang sơ như thế này, tôi thầm biết ơn chính quyền sở tại đã bảo vệ rừng nghiêm ngặt, giữ gìn những mảng xanh hiếm hoi nên thơ, tạo sức hấp dẫn cho rừng tràm.


Bồng bềnh trên con kênh lịch sử Vĩnh Tế


Được nghe đến tên dòng kênh này từ những ngày còn mài đũng quần trên ghế học đường, nhưng đây là lần đầu tiên tôi được trải nghiệm thực tế trên công trình bất hủ này. Những tư liệu từ hướng dẫn viên phần nào giúp tôi nhớ lại chuyện xưa tích cũ: Kênh Vĩnh Tế dài 91km, nằm dọc biên giới Tây Nam, nối liền Châu Đốc- Hà Tiên, vừa tiện lợi cho giao thông vận tải vừa làm sạch phèn, đưa nước ngọt vào tưới tắm cho một diện tích lớn trồng cấy ở Hà Tiên- Rạch Giá.

 

Công trình do ông Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu), một doanh điền lớn, danh tướng triều Nguyễn cùng vợ là bà Châu Thị Vĩnh Tế chỉ huy trên 80.000 nhân công xây dựng suốt 5 năm (1819-1824) nhằm phát triển nông nghiệp, mở đường từ Châu Đốc đi núi Sam, Lò Gò, Sóc Trăng. Kênh Vĩnh Tế lúc đầu mang tên kênh Châu Đốc - Hà Tiên. Nhưng xét công trạng của bà Vĩnh Tế trong việc xây dựng dòng kênh bất hủ này nên vua Minh Mạng đã lấy tên bà đặt cho dòng kênh và sắc phong bà là “nhất phẩm phu nhân”.


Năm 1836, khi đúc Cửu Đỉnh ở Huế làm quốc bảo, hình kênh Vĩnh Tế còn được chạm vào Cao đỉnh. Đến giờ này kênh Vĩnh Tế vẫn giữ nguyên giá trị lớn về mặt trị thủy, giao thông, thương mại, biên phòng; thể hiện sức lao động sáng tạo xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam và chính sách coi trọng thủy lợi của triều Nguyễn, thể hiện qua câu thơ: “Kênh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên. Ghe thuyền xuôi ngược, bán buôn dập dìu”.


Một buổi sáng bềnh bồng trên kênh Vĩnh Tế, tôi đã phần nào hiểu được  cuộc mưu sinh trong mùa nước nổi: đổ dớn, giăng lưới, bắt chuột đồng, hái bông điên điển, rau nhút, rau muống… Anh Nguyễn Văn Bảy, một cư dân nơi đây, cho biết:  “Dớn” giống như một cái lưới, dẫn dụ cá bơi vào.




Đổ dớn


Mỗi ngày trung bình tôi đặt  được 18 dớn, có lúc thu hoạch đến 30 kg cá các loại như cá linh, trạch và các sinh vật biển như tôm, cua... Mỗi ký cá linh bán được 20.000 đồng; tôm 40.000 đồng/kg. Thu nhập cũng đủ đắp đổi qua  ngày, nuôi được vợ cùng 3 con.


Mùa nước nổi cũng là mùa của bông điên điển vàng rực trên mặt nước. Canh chua bông điên điển nấu với cá linh đã lưu lại trong tôi ký ức đẹp đẽ về một  vùng đất hào sảng, phóng khoáng này!


Hái bông điên điển


Đã từng đặt chân đến xứ Hàn, đã từng ngưỡng mộ sự kết hợp của nghệ thuật thứ bảy với du lịch để từ các bộ phim “Chuyện tình mùa đông”, “nàng Dae Jang Geum”, đảo Nami, Jeju trở thành điểm đến nổi tiếng với du khách quốc tế. Chợt nghĩ, điện ảnh Việt Nam cũng đã từng chọn bối cảnh sông nước miền Tây để tạo nên những bộ phim nổi tiếng như Mùa len trâu, Cánh đồng hoang, Chuyện tình mùa nước nổi…Cớ sao mùa nước nổi miền Tây vẫn chưa thành điểm đến hấp dẫn hằng năm của du khách?

Xuân Hòa
Comments