Di tích, danh thắng, những nơi để ngắm nhìn và tận hưởng.

Bài mới

  • Chùa Phố Cũ - Cao Bằng Chùa Phố Cũ - Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, nằm ở tổ 1, phố Cũ, phường Hợp Giang (Thành phố), là một trong những ngôi chùa lâu đời ...
    Được đăng 03:48, 28 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ngôi làng điển hình cho vùng quê Bắc Bộ khi xưa Với bến nước, cổng làng, cầu đá… làng Nôm (xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) là ngôi làng cổ mang đậm kiến trúc và văn hóa vùng ...
    Được đăng 02:48, 28 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tĩnh lặng quán trà bên dòng sông Hương Quán trà mộc mạc giản dị, dành cho những người yêu thích sự tĩnh lặng trong không gian bình yên, lãng mạn bên sông Hương.Quán trà có tên là ...
    Được đăng 18:30, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • TP Hồ Chí Minh rất phong phú Phong Phú Ở quận 9, TPHCM có một con đường mang tên Đình Phong Phú. Trên đường Đình Phong Phú có một ngôi đình, đó là đình Phong Phú (dĩ nhiên!). Trước ...
    Được đăng 09:27, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bút Tháp cổ tự Nằm bên bờ đê Nam sông Đuống, thuộc thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh), chùa Bút Tháp trải qua hơn 8 thế kỷ với bao ...
    Được đăng 09:03, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 24. Xem nội dung khác »


Chùa Phố Cũ - Cao Bằng

đăng 03:48, 28 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Phố Cũ - Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, nằm ở tổ 1, phố Cũ, phường Hợp Giang (Thành phố), là một trong những ngôi chùa lâu đời ở Cao Bằng. Ngoài giá trị kiến trúc, nghệ thuật, chùa Phố Cũ còn có giá trị lịch sử cách mạng to lớn.

Theo sách xưa, chùa được xây dựng vào thời Lê, năm Vĩnh Trị thứ 3 (tức năm 1679), có tên gọi là Quan đế Miếu, thờ Quan Vân Trường, một võ tướng nổi tiếng thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Hoa. Đến thời nhà Nguyễn (1802 – 1820), chùa được sửa chữa lại, có xây thêm gian hậu cung, có bàn thờ Tam cấp để thờ Phật và được đổi tên thành chùa Phố Cũ. Hiện chùa còn lưu giữ 5 tấm bia đá khắc bằng chữ Hán của bốn đời nhà Nguyễn là các vua Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, Thành Thái, ghi nhận công đức, cống hiến tiền của cho chùa.

Trải qua thời gian, chùa bị xuống cấp, năm 1945, nhân dân Thị xã (nay là Thành phố) đã quyên góp trùng tu lại, xây thêm lầu hai ở chính cung, kiến trúc hoa văn kiểu hoa thị, đắp rồng chầu thời Nguyễn. Sau khi trùng tu chùa, nhân dân rước đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo Đại Vương) về thờ.

Chùa Phố Cũ là ngôi chùa thờ tiền Thánh hậu Phật, cho nên trong chùa được chia làm hai phần thờ chính là: thờ Phật và thờ Thánh.

Bức hoành phi khắc chữ nổi trên tường ở cửa chính có ba chữ Hán “Hiển Thánh Cung”.


Từ ngoài cổng đi vào có 2 bức tượng to đứng 2 bên là Tượng Quan Thánh Đế Quân ở bên trái và Tượng Văn Xương Đế Quân ở bên phải. Gian bên phải thờ các vị Nhị Thập Bát Tú, bàn thờ của Hiếu Khương Hoàng hậu… Bức hoành phi khắc chữ nổi trên tường ở cửa chính có ba chữ Hán “Hiển Thánh Cung”, còn một bức “Hiển Thánh Cung” chữ triện trên lầu hai và nhiều đôi câu đối chữ Hán. Bên tay trái có 2 quả chuông đồng, 1 quả cao 1,4 m thời vua Càn Long và 1 quả cao 1,15m thời vua Gia Khánh.

Hai quả chuông đồng tại chùa.


Gian chính cung, ở giữa là bệ thờ Thánh “Đạo giáo”, thờ rất nhiều thần, từ Ngọc Hoàng thượng đế, các vị thần trong thiên đình cho đến các thần ở hạ giới. Gian bên trái thờ Đức thánh hiền áo sơn thếp vàng, đầu đội mũ hai tai tạo dáng khác nhau, ngồi trên bệ gỗ được đặt trên một hương án xây bằng xi măng. Gian phía bên phải là bàn thờ Đức Ông được sơn thếp vàng và đỏ nâu, áo trang trí rồng, phượng, họa tiết mây, hai tay tạo dáng khác nhau, tay trái đặt lên đầu gối, tay phải cầm dao.

Tượng thờ Đức Ông.


Gian hậu cung gồm có 3 cấp thờ: Cấp thờ nằm ở vị trí cao nhất thờ Phật Tam Thế Chương Phật, gồm 3 pho tượng có kích thước vừa phải, đầu tóc xoăn, đang ngồi trong tư thế xếp bằng trên các tòa sen có nhiều lớp cánh. Mỗi pho tượng có một cách ngồi, một nét mặt và tay bắt ấn theo các kiểu khác nhau. Cấp thờ được đặt thấp hơn cấp thứ nhất có 3 pho tượng: ở giữa là đức Phật di đà to nhất, nổi bật cả gian thờ, đầu tóc xoăn, ngồi trong tư thế xếp bằng trên tòa sen có nhiều lớp cánh, chạm trổ sơn thếp màu hồng với khuôn mặt hiền từ, phúc hậu, hai tay bắt ấn; hai bên là tượng Quan âm và Đại thế trí với những tư thế khác nhau đứng trên tòa sen. Cấp thứ 3 gồm có tượng Thích Ca Mâu Ni, tượng A Nan và tượng Ca Diếp. Pho tượng ở giữa là Phật Thích Ca ngồi trên một tòa sen màu hồng, tóc xoăn, bên ngoài được mạ màu vàng. Pho tượng bên trái là pho tượng của Phật A Nan Tôn Giả đứng chắp tay trước ngực. Bên phải là pho tượng của Ngài Ca Diếp Tôn Giả, đứng trên một tòa sen, chắp tay trước ngực.

Ban Tam Bảo thờ Phật.


Ngoài giá trị kiến trúc nghệ thuật, chùa Phố Cũ còn là di tích lịch sử cách mạng, nơi Mặt trận Việt Minh tỉnh Cao Bằng do đồng chí Văn Tư (Hoàng Đình Giong) lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay quân Nhật. Tại đây, vào ngày 22/8/1945, Mặt trận Việt Minh tỉnh và Thị xã tổ chức mít tinh, thành lập Ủy ban Hành chính lâm thời của Thị xã (nay là Thành phố) và lễ ra mắt Ủy ban Hành chính lâm thời tỉnh Cao Bằng. Di tích được UBND tỉnh công nhận Di tích lịch sử văn hóa, theo Quyết định số 3422/QĐ-VXUB ngày 31/12/2002.

Chùa Phố Cũ, nơi UBND lâm thời tỉnh và Thị xã tổ chức cuộc mít tinh, tuần hành biểu dương lực lượng của quần chúng sau khi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám giành thắng lợi ngày 22/8/1945. Ảnh: T.L


Lễ hội Chùa Phố Cũ diễn ra vào ngày mồng 2/2 âm lịch hằng năm được tổ chức quy củ, đông vui với nhiều nghi thức, hoạt động như: rước kiệu, mổ lợn, dâng hương, tế lễ,..; chương trình văn nghệ đặc sắc với các tiết mục dân ca dân tộc như: Dá hai, hát quan họ, chầu văn... Nhiều trò chơi dân gian vẫn được duy trì: cờ tướng, kéo co, đẩy gậy, nhảy bao bố. Không khí ngày hội đông vui, náo nhiệt, bà con tham dự đều cầu chúc cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc. Đồng thời, qua đó nhằm giới thiệu và quảng bá đến nhân dân, đông đảo du khách thập phương về giá trị lịch sử - văn hóa của di tích.

Ngôi làng điển hình cho vùng quê Bắc Bộ khi xưa

đăng 02:48, 28 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Với bến nước, cổng làng, cầu đá… làng Nôm (xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) là ngôi làng cổ mang đậm kiến trúc và văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ tồn tại đến ngày nay.

Theo các bậc cao niên của làng Nôm, không rõ tên làng bắt đầu từ đâu, chỉ biết khi xưa trai gái nên duyên vợ chồng đều phải cung tiến cho làng 20 mâm đồng hoặc làm vài chục mét đường bằng gạch đỏ. Ngày nay trên cổng làng còn khắc ba chữ “Đồng Cầu Môn” như một lời nhắn nhủ về lịch sử của làng. 


Cả làng hiện còn hơn chục nhà cổ và 7 nhà thờ của các họ. Làng từng có đình cũ xây vào thời hậu Lê, về sau đình mới được xây dựng bề thế hơn vào thời Nguyễn. 


Toàn bộ làng Nôm là một thể thống nhất hoàn chỉnh bao gồm cổng, ao làng, những nhà cổ, chợ và cầu đá. Các trục đường quanh ao làng đều được lát gạch đỏ. 


Bất chấp cơn lốc đô thị hóa, một số nhà cổ ở làng Nôm vẫn còn giữ được nguyên vẹn lối kiến trúc đến chất liệu xây dựng. 


Một góc ao bình yên ở làng Nôm. 


Điểm nhấn của làng là cây cầu đá chín nhịp, trạm trổ hình đầu rồng bắc qua sông Nguyệt Đức để sang chợ Nôm. Cầu rộng khoảng 2 m, được ghép bằng những phiến đá xanh nguyên khối. Ca dao cổ từng nhắc đến cây cầu này: “Cái bống đi chợ cầu Nôm/Sao mày không rủ cái tôm đi cùng/Cái tôm nó giận đùng đùng/Nó ra ngoài biển lấy chồng lái buôn”. 


Kết cấu chân và dầm cầu đá đã tồn tại hơn 200 năm. 


Những người có tuổi ở làng Nôm ngày nay vẫn giữ được nếp sinh hoạt, ăn mặc khi xưa, chủ yếu làm nghề buôn thúng bán bưng ở chợ. 


Theo truyền thuyết, chùa Nôm được xây giữa rừng thông cổ thụ nên còn có tên là “Linh Thông cổ tự”, xây dựng năm 1680, dưới thời Hậu Lê. Chùa từng là ngôi đại tự hoành tráng nhất miền Kinh Bắc và đang bảo tồn nguyên vẹn hơn 100 pho tượng cổ bằng đất nung. 


Làng Nôm cách trung tâm TP Hà Nội khoảng 30 km về phía đông. Phương tiện lý tưởng đối với du khách là xe máy để băng qua những con đê xanh mướt và cánh đồng lúa sẽ tới ngôi làng cổ độc đáo này. 


Thành Nguyễn

Tĩnh lặng quán trà bên dòng sông Hương

đăng 18:30, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Quán trà mộc mạc giản dị, dành cho những người yêu thích sự tĩnh lặng trong không gian bình yên, lãng mạn bên sông Hương.

Quán trà có tên là Trà thất, nằm bên sông Hương trên đường đi chùa Thiên Mụ. Người Huế vẫn thường gọi là Trà thất Kim Long, để phân biệt với một số trà thất khác. Đi qua phải để ý kỹ mới có thể nhận ra tấm biển khiêm nhường nằm dưới mái cổng, đề ngắn gọn chữ “Trà thất”.

 

Phía trong là một kiến trúc giản dị lẫn với cây xanh... Hình ảnh  Đức Bồ Đề Đạt Ma trên tường mái công trình như gợi nhắc một chốn thiền môn tĩnh lặng.

 

Chất liệu quán đầy thô mộc, xây gạch trần không trát; và được xây bằng những viên gạch vồ cỡ lớn như gạch xây thành xưa. Khuôn viên nhỏ, nhưng vẫn đủ bóng cây xanh, đủ để mát mắt và cả.... nao lòng.

 

Khoảng sân phía trước cũng tràn ngập màu xanh, phía xa là dòng Hương Giang. Âm hưởng chung của nơi này là tĩnh lặng, thuần khiết, phảng phất cũ xưa, hoài niệm, phảng phất một chút thiền. Là Trà thất, tất nhiên là có chỗ ngồi để thưởng trà; có nhiều nơi, nhiều kiểu ngồi.

 

Những góc ngồi ở tầng trệt có tính riêng tư, tĩnh lặng mà vẫn thoáng đãng. 

 

Những ô cửa đều tràn ngập màu xanh cây cối. Quán luôn êm đềm tĩnh lặng không ồn ào.

 

Cầu thang lên lầu xây gạch trần, với lan can gỗ.

 

Góc ngồi trên lầu cạnh cầu thang, kiểu ngồi sàn. Ô cửa tròn có hoa văn cách điệu từ chữ “Thọ” và chữ “Vạn”.

 

“Bức tường” ngăn cách không gian trong lầu với hiên bên ngoài là giá bày những bình sứ cổ.

 

Ngăn cách, mà như không ngăn cách. Chủ nhân có một bộ sưu tập đồ cổ giá trị. Quán trà cũng chính là nơi trưng bày. Chất liệu gạch mộc, chất liệu gỗ, chất liệu của những đồ sứ cổ tạo nên một sắc thái riêng của không gian.

 

Trên lầu, lại có một lầu nhỏ nữa với thang gỗ dẫn lên.

 

Những khoảng hiên trên lầu.

 

Ngồi đây có thể ngắm dòng sông Hương lấp lánh trong ánh nắng qua những tán cây xanh.

 

Chủ nhân là một Phật tử chùa Thiên Mụ và rất ngưỡng mộ Đức Bồ Đề Đạt Ma. Đó là lý do tại sao hình ảnh Đức Bồ Đề Đạt Ma có ở khắp nơi trong Trà thất, từ trên mái công trình, sảnh vào, cầu thang, trên những bức tường... với nhiều hình thức thể hiện: Phù điêu, tranh, tượng và cả... vẽ trực tiếp lên tường.

 

Chất liệu thô mộc, nhưng cách xử lý lại rất tinh tế và công phu. Ngồi ở Trà thất, thưởng trà thảo mộc, trong một không gian yên bình, thư thái, tĩnh lặng, người ta dễ trầm tư. Có một cái gì đó vừa lắng đọng, lại vừa thanh thản đến nhẹ tênh.

TP Hồ Chí Minh rất phong phú Phong Phú

đăng 09:27, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Ở quận 9, TPHCM có một con đường mang tên Đình Phong Phú. Trên đường Đình Phong Phú có một ngôi đình, đó là đình Phong Phú (dĩ nhiên!). Trước kia, nơi này thuộc ấp Phong Phú, xã Tăng Nhơn Phú, còn bây giờ là khu phố 3, phường Tăng Nhơn Phú B. Trước nữa, từ cuối thế kỷ 19, nơi đây thuộc thôn Phong Phú, tổng An Thủy, hạt Sài Gòn (phải vậy rồi, vì tên đình phải lấy theo tên thôn mà!).


Ở quận 8, TPHCM có một con đường tên là đường Phong Phú. Trên đường Phong Phú có một ngôi đình, đó cũng là đình Phong Phú. Tên đình Phong Phú đặt theo tên thôn. Phong Phú là một thôn thuộc tổng Tân Phong Hạ, huyện Tân Long, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, theo địa bạ triều Nguyễn lập năm 1836.


Từ đình Phong Phú  đường Phong Phú quận 8, nếu ta đi ra theo hướng quốc lộ 50 khoảng 6 km thì tới xã Phong Phú, thuộc huyện Bình Chánh....


Thấy hông, phong phú Phong Phú thiệt mà!


Hi hi, nhập đề dài dòng như vậy để... câu view, còn chuyện tui muốn kể là đình Phong Phú. Đình Phong Phú ở quận 9 là một di tích lịch sử cấp quốc gia thì đã kể rồi, trong bài Đình Phong Phú. Giờ kể tới Đình Phong Phú quận 8.


Các thông tin về đình sau đây là lược trích từ trang web Quận 8, hình ảnh và chú thích hình là của tui.


Trên trần chánh điện nhang vòng rất nhiều, cho thấy đây là một công trình tín ngưỡng theo văn hóa người Hoa


Đình Phong Phú tọa lạc tại số 46 đường Phong Phú, phường 12, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh; tên đường Phong Phú được đặt từ thời Pháp thuộc đến nay. Đình Phong Phú được xây dựng sau khi thôn Phong Phú được thành lập. Thôn Phong Phú được thành lập khoảng thời gian từ năm 1816 – 1833. Đình Phong Phú cũng được xây dựng trong thời gian này, tức khoảng gần 200 năm. Vị trí đầu tiên là bên bờ kinh Đôi, dời đến vị trí hiện nay khoảng 1917.



Mái đình. Phù điêu trước cửa đình. Do khuôn viên quá nhỏ nên đáng lẽ là bình phong thì đình chỉ có thể làm phù điêu


Đình Phong Phú là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố, diện tích khoảng 600 m2 . Các thành phần kiến trúc võ ca, tiền điện, chính điện được xây dựng theo kiểu nhà năm gian, tiếp nối nhau trên một trục dọc, riêng nghĩa từ xây theo kiểu nhà ba gian, nằm bên trái chính điện. Võ ca và mỗi điện thờ đề có nóc mái riêng, lợp ngói ống, đỡ lấy lớp mái này là bộ cột, kèo, rui làm bằng gỗ.

Trước võ ca là khoảng sân nhỏ đặt bàn thờ Thiên phụ địa mẫu đối diện với bức phù điêu Thần Hổ tên vách mặt tiền. Bên trên phù điêu Thần Hổ có hàng chữ “Đình Phong Phú”.

Tiền điện bày ba hương án ở gian giữa và hai gian bên; hương án giữa thờ Thần hoàng, hai bên trái phải là án thờ Tả ban, Hữu ban.


Hương án thờ Thần hoàng


Hương án thờ Hữu ban


Hương án thờ Tả ban


Chính điện là nơi được bài trí trang trọng nhất trong đình. ở ba cửa võng trước chính điện trang trí ba bao lam chạm trổ các đề tài mẫu đơn –trĩ, mai – điểu… Trên các thân cột treo các cặp liễn đối chạm chìm chữ Hán, sơn son thếp vàng. Gần cuối chính điện có năm khám thờ bày thành một hàng ngang. Khám thờ Thần Thành hoàng bổn cảnh được bày ở gian giữa. Khám thờ Tả ban và Hữu ban đặt ở hai bên trái phải gian thờ Thần. Hai bên ngoài sát vách tường bên trái là nơi thờ Chúa sinh nương nương đối xứng với gian thờ Ngũ hành nương nương ở sát vách tường bên phải.


Chúa sinh Nương nương


Bên trái chính điện có cửa vào gian nghĩa từ, nơi thờ các vị có công với làng xã, đình miếu. Ở giữa nhà nghĩa từ là bàn thờ và tượng Địa tạng vương Bồ tát.


Tượng Địa tạng vương ở nhà Nghĩa từ


Các hiện vật trong di tích:

  • Khám thờ, bài vị, long vị, tượng thần (gỗ - thạch cao).
  • Khám thờ, bài vị thờ tả ban, hữu ban (gỗ).
  • Khám thờ, bộ tượng Chúa sinh nương nương (gỗ, thạch cao)
  • Bộ tượng 12 Mụ bà (thạch cao).
  • Khám thờ, tượng thờ Ngũ hành nương nương (gỗ).
  • Binh khí, bát bủu, đỉnh trầm, lư hương – liễn đối, hoành phi, phù điêu (gỗ).
Ở nhà Nghĩa từ bên trái chánh điện khách thăm có thể thấy nhiều... hòm (quan tài) gỗ, vì nơi đây còn là Hội Bảo thọ để giúp đỡ việc ma chay, tang chế cho những người cao tuổi qua đời.


Phạm Hoài Nhân

Bút Tháp cổ tự

đăng 09:03, 27 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm bên bờ đê Nam sông Đuống, thuộc thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh), chùa Bút Tháp trải qua hơn 8 thế kỷ với bao thăng trầm của lịch sử vẫn giữ được nét đẹp nguyên sơ, độc đáo về cảnh quan, kiến trúc, thu hút hàng trăm lượt du khách thăm quan mỗi ngày. 

Trong cuốn Địa chí Hà Bắc xuất bản năm 1982 và cuốn sách Nghệ thuật Việt Nam (L’art vietnamien) của nhà nghiên cứu người Pháp L. Bezacier, xuất bản năm 1944 có nói về lịch sử hình thành ngôi chùa Bút Tháp. Theo các cuốn sách trên, chùa Bút Tháp có từ thời Trần, tức khoảng thế kỷ XIII. Cả hai cuốn sách đều đề cập việc Trạng nguyên Lý Đạo Tái (1254-1334) sau khi từ quan đã có thời gian về chùa Bút Tháp tu hành, lấy pháp danh là Huyền Quang. 

Đến thế kỷ XVII, hoàng tộc triều Lê đóng góp tiền của tu sửa lại chùa Bút Tháp với quy mô rất lớn. Ở các giai đoạn sau, chùa tiếp tục được tu sửa nhỏ nhiều lần, nhưng về cơ bản, kiến trúc hiện nay chủ yếu của thế kỷ thứ XVII, gồm các hạng mục: tam quan, gác chuông, tiền đường, thiêu hương, tòa Thượng điện, tòa Tích thiện am, nhà trung, phủ thờ, hậu đường và hai dãy hành lang ở hai bên.

Chùa Bút Tháp còn có tên là Ninh Phúc Tự, nằm ở phía Tây thôn Bút Tháp xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh), cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km về hướng Đông.


Chùa Bút Tháp là ngôi chùa nổi tiếng vùng Kinh Bắc, có lịch sử gần 800 năm,

là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Chùa Bút Tháp được tu sửa nhiều lần, nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc đã có từ thời Hậu Lê, khoảng thế kỷ XV-XVIII.


Tòa Tích thiện am là một trong những công trình có lối kiến trúc độc đáo của chùa Bút Tháp.


Tòa Thượng điện có phần móng làm bằng đá xanh. Hành lang bao quanh Thượng điện là các khối đá được chạm khắc tinh xảo.


Du khách say sưa ghi lại những hình ảnh kiến trúc độc đáo của chùa Bút Tháp. 


Ngoài giá trị về mặt kiến trúc, chùa Bút Tháp còn lưu giữ hàng trăm hiện vật, với nhiều loại chất liệu, có niên đại trải dài từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX. Trong đó, nổi bật nhất là pho tượng “Phật bà nghìn tay nghìn mắt” được đặt trong tòa Thượng điện. Pho tượng này được đánh giá là tác phẩm kiệt xuất của nghệ thuật điêu khắc gỗ thế kỷ XVII còn bảo lưu nguyên vẹn đến ngày nay, đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2011.

Một điểm độc đáo khác của chùa Bút Tháp là nghệ thuật chạm khắc đá tinh xảo của các nghệ nhân dân gian. Tiêu biểu là hai công trình: hành lang tòa Thượng điện và tháp Báo nghiêm. Bao quanh Thượng điện cả 4 mặt là hành lang với một hàng lan can bằng đá xanh được chạm khắc rất điêu luyện các điển tích cổ như: “phượng vũ kỳ lân”, “song ngư hý nguyệt”, “cô lộ sơn lộc”, “tam dương triều nguyệt”, “tứ linh, tứ quý”, “lý ngư hoá long”, “tùng trúc đông thiên”.

Men theo lối hành lang Thượng điện, qua cây cầu đá du khách sẽ bắt gặp tòa Tích thiện am. Đây là kiến trúc đặc biệt nhất của chùa Bút Tháp. Toà này được kết cấu theo kiểu chồng diêm: tầng 1 gồm 5 gian, tầng 2 thu lại còn 3 gian, tầng ba thu lại còn 1 gian.

Toà Tích thiện am được dựng vào thế kỷ XVIII và đã được tu sửa nhiều lần. Trong Tích thiện am đặt Cửu phẩm liên hoa hay còn gọi là “Cối kinh”, đây là kiểu kiến trúc tiêu biểu của phái Mật Tông (bắt nguồn từ Tây Tạng, Trung Quốc). Cửu phẩm liên hoa là tháp gỗ 8 mặt, cao 7,8m, xếp 9 tầng theo kiểu tòa sen, thể hiện 9 kiếp tu của đức Thích Ca Mâu Ni. Chín tầng Cối kinh tạc tượng Phật, hoa lá, chim muông, tập trung chủ đề khuyến thiện trừ ác, giới thiệu hành trang các vị tổ Thiền tông, các đại sư, các cấp độ thăng hoa trên đường lên cõi Niết bàn. Du khách có thể vừa tụng niệm một lời cầu ước và tự mình quay Cối kinh.

Người xưa tin rằng, mỗi một vòng xoay của Cối kinh tương đương với 3.542.400 lần tụng niệm và phật pháp sẽ mau chóng được chứng quả (lời cầu nguyện sẽ thành hiện thực). Hiện nay, ở Việt Nam chỉ còn ba cây Cửu phẩm liên hoa ở ba ngôi chùa thuộc dòng Trúc Lâm: Bút Tháp (Bắc Ninh) chùa Phẩm và chùa Giám (Hải Dương).

Tượng “Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay” là bảo vật nổi tiếng nhất của chùa Bút Tháp. Pho tượng được tạc bằng gỗ quý, cao 3,7 mét, ngang 2,1 mét. Bức tượng được nghệ nhân Trương Thọ Nam hoàn thành vào năm Bính Thân (1656). 


Phía sau tượng Phật Bà Quan Âm có 952 bàn tay, trên mỗi lòng bàn tay có khắc một con mắt đen dài.

Các bàn tay này được gắn thành 14 lớp từ trong ra ngoài, tạo thành vầng hào quang bao quanh tượng Phật Bà Quan Âm.

Các bức chạm khắc tượng gỗ ở chùa Bút Tháp được coi là hình mẫu tiêu biểu của nghệ thuật chạm khắc gỗ cổ ở Việt Nam.


Bên trong tòa Tích thiện am đặt Cửu phẩm liên hoa làm bằng gỗ hình bát giác, gồm chín tầng, có thể xoay được.


Cầu đá nối liền Thượng điện với tòa Tích thiện am, gồm ba nhịp, hai bên lan can cầu có 6 bức tranh chạm khắc đá.


Tháp Báo nghiêm được ghép bằng đá xanh, không dùng vữa trát mạch. Trên tháp có 23 bức chạm khắc đá: 8 bức ở chân lan can, 8 bức ở tầng 1, 7 bức ở tầng 2, hai cột cửa tháp được trạm nổi hình rồng.


Tháp Báo nghiêm là công trình kiến trúc tiêu biểu của chùa Bút Tháp. Tháp được dựng vào thế kỷ XVII, gồm 5 tầng, có hình dáng như cây bút khổng lồ.


Các tác phẩm chạm khắc đá trên hành lang Thượng điện.


Bức tranh chạm khắc đá “hoa cúc”.


Những bức tranh chạm khắc đá ở chùa Bút Tháp rất độc đáo, các nét chạm nhìn bề ngoài thì ngẫu nhiên, tự do, nhưng hết sức chắt lọc, khái quát, làm nổi bật chủ thể.


Bức tranh chạm khắc đá “hoa sen”. 


Ngày nay, Bút Tháp không chỉ là niềm tự hào của nền kiến trúc, điêu khắc cổ của Việt Nam, mà còn là nơi cửa Phật linh thiêng luôn chào đón phật tử và du khách khắp mọi miền đất nước tìm về chiêm bái Phật. Mỗi người hành hương về đây đều tâm niệm cho cuộc sống thanh cao, nhân hậu, bác ái từ bi. Chùa Bút Tháp còn là điểm đến lý tưởng cho du khách nước ngoài khi đến thăm Việt Nam và khám phá miền đất Kinh Bắc cổ kính. Mỗi ngày, chùa Bút Tháp đón hàng trăm du khách nước ngoài, trong đó đông đảo nhất là du khách Pháp.

Thực hiện: Trần Hiếu

Khám phá danh thắng núi Bà Đen

đăng 01:35, 27 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Núi Bà Đen từ lâu đã là một danh thắng nổi tiếng và được coi là biểu tượng của vùng đất Tây Ninh, miền Đông Nam Bộ. Nơi đây còn là điểm du lịch tâm linh với ngôi chùa Linh Sơn Tiên Thạch gắn liền với truyền thuyết Bà Đen, thu hút hàng triệu lượt du khách về thăm viếng mỗi năm. 

Cả một vùng đồng bằng mênh mông vùng ngoại ô thành phố Tây Ninh với những cánh đồng lúa trải rộng thẳng tắp, vùng chuyên canh mãng cầu, từng thửa rau xanh mỡ màng như làm nền để tôn lên ngọn núi Bà Đen vốn là “nóc nhà Nam Bộ” với độ cao 986m. Nhìn từ xa, núi Bà Đen lúc thì nổi bật giữa nền trời xanh, lúc thì ẩn hiện dưới từng gợn mây bảng lảng lẫn trong sương. Ngọn núi như mê hoặc du khách, gợi những truyền thuyết tâm linh, ẩn chứa nhiều nét đặc trưng văn hóa của một vùng đất Tây Ninh đầy nắng, gió…

Núi Bà Đen cùng với Núi Heo và Núi Phụng đã tạo nên quần thể di tích văn hóa lịch sử Núi Bà với khung cảnh hữu tình, lại thêm nhiều hang động để du khách khám phá. Hàng thế kỷ qua, núi Bà Đen nổi tiếng khắp Nam Bộ bởi vẻ đẹp hoang sơ mộc mạc vốn có. Ngày nay, nơi đây đã trở thành điểm khám phá và chinh phục mới của giới trẻ. Hơn thế, đỉnh núi cao nhất Nam Bộ này thường có mây bao phủ, còn là điểm săn mây lý tưởng cho các tay máy chuyên và không chuyên. Có lẽ cũng bởi vậy mà đỉnh núi này còn có tên là Vân Sơn.

Núi Bà Đen là điểm du lịch nổi tiếng của Tây Ninh, thu hút hàng triệu lượt du khách về thăm viếng mỗi năm.


Du khách tham quan núi Bà Đen đông nhất vào dịp tháng Giêng, hay đặc biệt là lễ vía Bà vào mùng 5-6 tháng Năm âm lịch.


Du khách đi xe điện để đến cáp treo lên núi Bà Đen.


Nhà ga cáp treo dưới chân núi Bà Đen.


Hệ thống cáp treo núi Bà Đen có từ năm 1998 dài 1,2km và cao 225m với 20 cột mốc.


Một vùng đồng bằng trù phú nhìn từ núi Bà Đen với điểm nhấn là hồ Dầu Tiếng nằm trên địa phận hai tỉnh Tây Ninh và Bình Dương.


Hệ thống máng trượt trên núi Bà Đen.


Du khách tham quan núi Bà Đen có thể nghỉ chân tại các trạm dừng chân.


Các gian hàng bán các sản vật Tây Ninh phục vụ du khách tham quan núi Bà Đen. 


Chỉ cách trung tâm Tp. Hồ Chí Minh khoảng 95km, giao thông rất tiện lợi để thực hiện du lịch khám phá hay hành hương về núi Bà Đen. Ngoài những chuyến xe khách hay tour du lịch thăm viếng núi Bà Đen còn có tuyến xe bus về đây. Du khách cũng có thể sử dụng phương tiện cá nhân, đặc biệt là xe máy luôn rất phù hợp cho dân phượt.

Chinh phục đỉnh núi Bà Đen bằng đường bộ có thể mất khoảng 2-4 giờ đồng hồ, đi men theo lối mòn với hai bên đường là rừng trúc và chuối rừng xanh mát, cảm nhận không khí trong lành, không gian thoáng đãng của núi rừng phương Nam. Đoạn đường càng lên cao càng dốc, trơn trượt, khó đi hơn, song sẽ là một trải nghiệm thú vị cho những người ưa mạo hiểm. Sau quãng đường leo núi thú vị đó, du khách có thể tận hưởng cảm giác được trải nghiệm không gian về đêm ngay trên “nóc nhà Nam Bộ”.

Còn nếu du khách lựa chọn đi cáp treo thì chỉ khoảng 20 phút. Hệ thống cáp treo núi Bà Đen đã được hoàn thành từ năm 1998 dài 1,2km và cao 225m với 20 cột mốc. Đến năm 2013 thêm một hệ thống cáp treo mới theo công nghệ châu Âu cũng được đưa vào khai thác để đáp ứng nhu cầu ngày càng đông của du khách. Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn quần thể núi Bà Đen lừng lững giữa một vùng đồng bằng trù phú, với điểm nhấn là hồ Dầu Tiếng nằm trên địa phận hai tỉnh Tây Ninh và Bình Dương.

Trải khắp từ chân núi lên đến đỉnh là quần thể kiến trúc gồm điện, chùa, miếu, tháp… đều mang những đặc trưng của văn hóa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian. Đặc biệt, với du khách hành hương thì điểm đến trên núi Bà Đen sẽ là chùa Linh Sơn Tiên Thạch, nơi thờ Bà Đen. Tục truyền rằng Bà Đen chính là nàng Đênh, con một vị quan ở đất Trảng Bàng, xuất gia đầu Phật rồi chết trên núi, sau linh hiển phù hộ giúp đỡ dân chúng trong vùng những lúc mất mùa đói kém hoặc gặp chuyện oan ức. Ngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ XVIII, trải qua nhiều lần trùng tu, lần mới đây nhất là khánh thành vào năm 1997. Đây là ngôi chùa có kiến trúc hài hòa mang nhiều nét đẹp đặc trưng của chùa ở Việt Nam.

Chùa Linh Sơn Tiên Thạch thờ Bà Đen trên núi Bà Đen.


Du khách thăm viếng chùa Linh Sơn Tiên Thạch trong dịp tháng Giêng năm Đnh Dậu 2017.


Những bậc tam cấp dẫn lên chùa Linh Sơn Tiên Thạch.


Du khách thập phương trong điện thờ Diêu Trì Địa Mẫu trên núi Bà Đen.


Núi Bà Đen là điểm du lịch tâm linh với ngôi chùa Linh Sơn Tiên Thạch gắn liền với truyền thuyết Bà Đen.


Tượng Phật Niết Bàn trên núi Bà Đen. 


Núi Bà Đen thu hút du khách đến thăm viếng quanh năm, nhưng đông nhất là dịp tháng Giêng và Lễ vía Bà (ngày mùng 5,6 tháng 5 Âm lịch). Đến với núi Bà Đen, từ cảnh vật thiên nhiên, không gian trời đất như hòa quyện, nơi đây còn mang đến trải nghiệm về một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lịch sử và có nhiều giá trị tâm linh độc đáo.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Nguyễn Luân

Đến Diêm Điền nghe chuyện lạ về giếng Chùa

đăng 08:38, 25 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Còn gì thú vị hơn, ngày rằm tháng Giêng, tìm về ngôi chùa Diêm Điền cổ kính, tọa lạc ở thôn Diêm Điền, xã Tịnh Hòa (TP.Quảng Ngãi) để nghe người dân và thầy trụ trì nơi đây kể về tích xưa, chuyện cũ, kể về giếng Chùa trong lành, ngọt mát và không bao giờ cạn, kể cả hạn hán...

Nằm nép mình giữa đồng lúa xanh bao la của làng Diêm Điền, chùa Diêm Điền hiện ra với cổng chùa đã ngả màu rêu phong và bức tường màu vàng đã lâu không sơn quét nên nhạt màu. Ngay bên cạnh chùa là chiếc giếng cổ mà người dân trong vùng vẫn gọi bằng cái tên thân thương, cung kính: “giếng Chùa”.

Không chỉ ngày xưa, mà đến tận bây giờ, người dân Diêm Điền vẫn tìm đến giếng Chùa để lấy nước về dùng. 


Ông Phạm Hả, ngụ ở thôn Diêm Điền đang múc nước giếng, tâm sự: “Thoạt nhìn tưởng nước giếng đã cạn đến đáy, nhưng dù múc, hoặc bơm bao lâu thì nước giếng cũng không cạn. Nước giếng Chùa trong vắt, không chút rong rêu, cợn bẩn... hoặc nhiễm mặn, nhiễm phèn. Dù các giếng nước xung quanh đây đều phèn, mặn cả”. Bởi thế, người làng Diêm Điền vẫn thường lấy nước giếng Chùa về uống, nấu nước pha trà đãi khách. Du khách đến tham quan và cúng lễ chùa thì mang theo bình xin nước giếng mang về với mong ước rước may mắn, tài lộc đến cho gia đình.

Tương truyền rằng, ngày trước, khi chưa xây dựng bờ đắp ngăn mặn, toàn vùng Diêm Điền người dân đào đâu cũng chỉ gặp toàn nước phèn, nước mặn. Đến một hôm, có một nhà sư và một chú tiễu không biết từ đâu đến làng Diêm Điền, chặt cây rừng dựng lên một ngôi am thỉnh Phật, ban đêm kinh kệ, ban ngày đào giếng. Cho đến khi giếng có nước ngọt thì nhà sư và chú tiễu đó lại ra đi. Để tưởng nhớ công ơn của các vị trên, người dân Diêm Điền đã lập đền thờ các vị đó ngay tại am Phật mà nhà sư và chú tiễu đã từng an tọa.

Chùa Diêm Điền bây giờ, chính là được xây dựng trên vị trí am Phật mà nhà sư và chú tiễu đã từng an tọa ngày trước. Chùa hướng về phía đông nam, tọa trên một gò đất cạnh rừng rất cao và rộng. Phía bắc chùa là mộ ông tiền hiền họ Phạm – người tương truyền đã có công di dân đến khai hoang, vỡ hóa vùng đất này. Sư trụ trì chùa Diêm Điền Thích Thông Đạo cho biết: “Ngôi mộ này đã có từ rất lâu đời, nhưng lạ một điều là dù không đắp, nhưng mộ vẫn ngày một cao lên”.

Khách tham quan nếu có dịp ghé thăm chứng tích Sơn Mỹ, hoặc biển Mỹ Khê... hãy bớt chút thời gian ghé qua chùa Diêm Điền để tận mắt nhìn thấy ngôi chùa, diện tích vỏn vẹn 20m2, nhưng chứa đựng biết bao câu chuyện, để tự tay xin nước trong lòng giếng, nhấp một ngụm để cảm nhận hương vị tinh túy của làng Diêm Điền...

Bài, ảnh: Ý THU

Kỳ bí hang Thẩm Chàng

đăng 08:31, 25 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Hang Thẩm Chàng (bản Piu, xã Châu Thuận, huyện Quỳ Châu) được xem là một trong những hang động đẹp và kỳ bí nhất của hệ thống hang động ở Mường Chiêng Ngam. 

Từ xã Châu Tiến (Quỳ Châu) đi chừng 10km theo hướng Quốc lộ 48 là tới được hang Thẩm Chàng. Theo cách gọi của đồng bào Thái, Thẩm Chàng nghĩa là “hang voi”. Đồng bào Thái ở trong vùng thường truyền tai nhau rằng: Ngày xưa, vua Quang Trung Nguyễn Huệ đi đánh giặc qua đây, đưa voi vào hang này trú ẩn nên người xưa đặt tên hang núi là hang Thẩm Chàng. Ảnh: Hồ Phương. 


Không chỉ cửa hang rộng lớn mà đi sâu vào hang nhiều người còn ngỡ ngàng bởi khung cảnh nguy nga. Nhiều chỗ chiều cao có thể đến hơn 20m, rộng hơn 30m, mỗi góc trong hang lại có những hình thù khác nhau, tạo nên khung cảnh kỳ bí riêng. Trong lòng hang còn có dòng suối nhỏ chảy qua. Ảnh: Hồ Phương. 


Điểm nhấn của hang đó là những nhũ đá thiên tạo mang nhiều hình thù khác nhau, có những khối nhũ được ví như dòng thác, là mái tóc buông xõa của người con gái Thái... Ảnh: Hồ Phương. 


Có những nhũ đá lại có hình thù kỳ bí. Ảnh: Hồ Phương. 


Nhiều nhũ đá trong hang như thể được dát vàng. Ảnh: Nguyễn Cường. 


Tại một động lớn nằm ở gần cuối hang có tầng tầng lớp lớp các nhũ đá với nhiều màu sắc tựa thể một cung điện nguy nga tráng lệ. Thời gian gần đây, huyện Quỳ Châu đã đưa vào khai thác, xem đây là một trong những điểm đến trong quần thể các điểm du lịch trên địa bàn, góp phần quảng bá hình ảnh Quỳ Châu nói riêng, Nghệ An nói chung. Ảnh Nguyễn Cường. 


Hồ Phương - Nguyễn Cường 

Hang Bua - hang động kỳ vĩ nhất miền Tây Nghệ An

đăng 08:24, 25 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Thắng cảnh hang Bua gắn với truyền thuyết lịch sử, phong tục, tập quán, sinh hoạt văn hóa của của đồng bào dân tộc Thái xưa và là một trong những di tích khảo cổ ở Nghệ An chứa đựng dấu tích văn hóa của nhiều thời đại. Tại đây các nhà khoa học đã tìm thấy trong lớp trầm tích hóa thạch các loài động vật và những di chỉ khảo cổ quan trọng như công cụ sản xuất của người Việt cổ thời kỳ đồ đá mới hậu kỳ. Hang Bua là nơi giao hòa, gặp gỡ của đất trời, là vẻ đẹp kỳ vĩ mà tạo hóa ban tặng cho con người.

Đến hẹn lại lên, vào tháng Giêng hàng năm người dân khắp nơi trên miền Tây xứ Nghệ lại tìm về vùng đất Phủ Quỳ - Quỳ Châu để tham dự Lễ hội hang Bua được tổ chức từ ngày 20-22 tháng Giêng âm lịch. 


Hang Bua theo tiếng Thái là thẳm Bua được hình thành trên dãy núi đá vôi Phà Én thuộc bản Na Nhàng, xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu, cách TP Vinh 170 km về phía Tây Bắc. 


Trải qua hàng triệu năm kiến tạo của địa tầng tự nhiên đã tạo cho hang Bua một vẻ đẹp vô cùng kỳ vĩ và huyền bí mà hiếm hang động nào có được. 


Tại hang Bua các nhà khảo cổ học từng tìm thấy các hóa thạch của nhiều loài động vật cổ xưa. 


Cũng tại đây người ta còn tìm thấy dấu tích của người Việt cổ qua các công cụ lao động sản xuất như rìu đá thời kỳ đồ đá mới. Chính điều này tạo ra sự tò mò hấp dẫn du khách mỗi khi đặt chân đến hang Bua. 


Các vách hang in dấu ấn thời gian. 


Được xem là hang động đẹp nhất miền Tây Nghệ An, hang Bua không chỉ có giá trị về lĩnh vực khảo cổ học mà còn đang trở thành điểm đến lý thú trong bản đồ du lịch của tỉnh trung tâm Bắc miền Trung. 


Vào mùa lễ hội, hang Bua trở thành điểm đến tâm linh thu hút du khách đến tham quan thưởng ngoạn. Tại lễ hội, du khách có cơ hội được tìm hiểu về đời sống, văn hóa, sinh hoạt của người dân trên mảnh đất từng là nơi sinh sống của người Việt cổ. 


Nhóm phóng viên

Khám phá hang Múa - điểm đến thú vị của giới trẻ

đăng 04:17, 21 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Hang Múa là một điểm đến thú vị cho những người thích chinh phục độ cao. Ngoài ra, đây cũng là một địa điểm chụp ảnh cưới tuyệt đẹp ở Ninh Bình.

Chỉ cách Hà Nội 90km, Hang Múa thuộc quần thể du lịch sinh thái thuộc địa phận thôn Khê Đầu Hạ, xã Ninh Xuân, Hoa Lư, Ninh Bình.

 

rải nghiệm đầu tiên khi đến đây đó là bạn có thể thử sức vượt qua 486 bậc thang bằng đá và ngắm nhìn toàn cảnh Tam Cốc từ trên đỉnh núi.

 

Các bậc thang ở hang Múa khá cao, bạn có thể vừa leo vừa dừng lại chụp hình.

 

Không gian nơi đây hùng vĩ, hoang sơ nhưng không kém phần thơ mộng...

 

Những bậc thang bằng đá dẫn lên đỉnh núi được xây theo lối kiến trúc gần giống như Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, nên các bạn trẻ vẫn ví von nơi đây là Vạn Lý Trường Thành của Việt Nam

 

Những bậc rêu phong dẫn lên đỉnh núi như con đường lên chốn bồng lai...

 

Bạn sẽ không phải hối hận khi leo lên đỉnh núi, từ vị trí này bạn sẽ được chiêm ngưỡng một vùng núi non rộng lớn..

 

...phóng tầm mắt ra xa là khung cảnh ruộng lúa mênh mông.

 

Những vị khách nước ngoài vô cùng thích thú khi chinh phục đỉnh núi Múa.

 

Hang Múa nằm dưới chân núi Múa.

 

 

Dòng nước ngầm trong hang Múa là điểm đặc biệt rất thu hút du khách.


CTV Hải Yến

1-10 of 24