Di tích, thắng cảnh, những nơi để ngắm nhìn và tận hưởng.

Bài mới

  • Nhà cổ Quân Thắng ở phố cổ Hội An Có thể nói, diện mạo kiến trúc và hệ thống cổ vật của nhà cổ Quân Thắng giúp người thời nay hình dung được phần nào lối sống của các ...
    Được đăng 05:50, 19 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nhà cổ Đức An ở Hội An Không chỉ mang ý nghĩa về văn hóa và kiến trúc, nhà cổ Đức An còn là một di tích lịch sử cách mạng quan trọng của vùng đất Hội ...
    Được đăng 05:28, 19 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Có một Đà Lạt quyến rũ bên rìa Đà Nẵng Nằm cách trung tâm Đà Nẵng khoảng 25km, rừng thông Bồ Bồ (xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) là điểm đến ưa thích của nhiều bạn trẻ ...
    Được đăng 00:39, 18 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chùa Linh Phú – điểm đến tâm linh lý tưởng Chùa Linh Phú tọa lạc tại quốc lộ 20, xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, Đồng Nai. Là ngôi chùa đầu tiên tại huyện Tân Phú. Chùa được thành lập ...
    Được đăng 00:01, 18 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ngôi chùa mang tên Chùa Cô hồn Dân Biên Hòa hầu hết đều biết hoặc nghe tên chùa Cô hồn, cái tên nghe là lạ. Thật ra chùa có tên là Bửu Hưng, nằm ở đầu đường ...
    Được đăng 00:50, 16 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Nhà cổ Quân Thắng ở phố cổ Hội An

đăng 05:50, 19 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Có thể nói, diện mạo kiến trúc và hệ thống cổ vật của nhà cổ Quân Thắng giúp người thời nay hình dung được phần nào lối sống của các thế hệ chủ nhân thuộc tầng lớp thương gia người Hoa phát đạt ở thương cảng Hội An trước đây.

Nằm ở số 77 đường Trần Phú, thành phố Hội An, nhà cổ Quân Thắng là một trong những nhà cổ nhất và có kiến trúc độc đáo nhất ở phố cổ Hội An còn được lưu giữ

 

Ngôi nhà có niên đại hơn 150 năm, mang phong cách kiến trúc vùng Hoa Hạ Trung Hoa. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, ngôi nhà vẫn được bảo tồn khá nguyên trạng về kiểu dáng kiến trúc và cách bài trí nội thất.

 

Bước vào nhà, có thể nhìn thấy nhiều đặc trưng kiến trúc của phố cổ Hội An, đó là nhà dựng bằng gỗ, có chiều ngang hẹp, sâu vào trong, cấu trúc hệ mái nhà chính được chống đỡ bằng kiểu vì “kẻ chuyền”

 

Gian ngoài cùng của ngôi nhà có hai sạp gỗ lớn để bày hàng hóa, bên trong là phòng khách và là nơi thờ cúng tổ tiên

 

Khu vực giữa nhà là gian nhỏ có mái che nhìn ra sân trời vì kèo “chồng rường” được trang trí rất đẹp

 

Sân trời có cây lá, hồ cá, hòn non bộ, tường bao xung quanh được trang trí bằng gốm Trung Quốc, các đồ án trang trí hình các con vật, cảnh vật tạo nên một không gian hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên

 

Gian nhà phía trong dành cho các thành viên trong gia đình, và cuối cùng là nhà bếp và kho chứa vật dụng

 

Toàn bộ phần kiến trúc gỗ của nhà cổ Quân Thắng được chế tác rất tinh tế, sinh động với những họa tiết đậm nét văn hóa Trung Hoa, có thể coi là những tuyệt tác điêu khắc gỗ của phố cổ Hội An

 

Những tác phẩm này được thực hiện bởi các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng, một làng nghề có lịch sử lâu đời, ngày nay thuộc xã Cấm Kim, thành phố Hội An

 

Các bàn thờ, đồ đạc, hoành phi câu đối của ngôi nhà cổ cũng được chế tác và bài trí giàu tính thẩm mỹ

 

Có thể nói, diện mạo kiến trúc và hệ thống cổ vật của ngôi nhà giúp người thời nay hình dung được phần nào lối sống của các thế hệ chủ nhân thuộc tầng lớp thương gia người Hoa phát đạt ở thương cảng Hội An trước đây

 

Với những giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật đặc sắc, nhà cổ Quân Thắng là một địa điểm mà du khách không thể bỏ qua nếu có dịp ghé thăm phố cổ Hội An

Nhà cổ Đức An ở Hội An

đăng 05:28, 19 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Không chỉ mang ý nghĩa về văn hóa và kiến trúc, nhà cổ Đức An còn là một di tích lịch sử cách mạng quan trọng của vùng đất Hội An nói riêng và cả Việt Nam nói chung.

Tọa lạc ở số 129 đường Trần Phú ở phố cổ Hội An, nhà cổ Đức An có tuổi đời gần hai thế kỷ, là một trong những ngôi nhà cổ tiêu biểu ở mảnh đất di sản miền Trung

 

Ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Hoa - Việt kết hợp, có diện tích tổng thể của nó khá lớn so với các ngôi nhà ở trung tâm phố cổ, với chiều dài 39 mét và chiều ngang lên tới 7 mét

 

Mặt tiền nhà là hệ thống ba cửa, ở giữa là cửa ra vào và hai bên là hai cửa sổ lớn. Cửa chính sử dụng loại cánh thấp không quá đầu người lớn, hai cửa bên dùng những tấm gỗ xếp ngang, được gọi là cửa ván xáng

 

Ngôi nhà cổ này có một tầng, kết cấu ngôi nhà tương tự kiểu nhà truyền thống Hội An với kiểu hình ống kéo dài, có một khoảng sân trời ở giữa

 

Kết cấu như vậy giúp nhà tận dụng nguồn ánh sáng từ tự nhiên, đưa thiên nhiên hòa quyện vào trong không gian sinh sống

 

Hệ thống xà, trần nhà đều bằng gỗ, được đóng dựng chắc chắn và bền vững theo thời gian dù cho hàng trăm năm trôi qua

 

Một điều đặc biệt là loại gỗ dùng để dựng nhà là gỗ kiềng kiềng, loại gỗ chỉ có ở vùng đất Quảng Nam, rất thích hợp với kiểu thời tiết khắc nghiệt của mảnh đất miền Trung đầy nắng gió

 

Những vật dụng đậm chất truyền thống, nhiều trong số đó có tuổi đời trên dưới một thế kỷ như đèn dầu, giá để bút, bộ bàn ghế, bộ tranh tứ bình... cũng góp phần làm tôn nét cổ kính trong kiến trúc ngôi nhà

 

Không chỉ mang ý nghĩa về văn hóa và kiến trúc, nhà cổ Đức An còn là một di tích lịch sử cách mạng quan trọng của vùng đất Hội An nói riêng và cả Việt Nam nói chung

 

Đầu thế kỷ 20, ngôi nhà này là nơi ghi dấu quá trình hoạt động của Tổ chức Hội Việt Nam, cách mạng thanh niên ở Hội An và tỉnh Quảng Nam, và gắn liền với tên tuổi người chiến sĩ cách mạng Cao Hồng Lãnh

 

Ngược dòng lịch sử, sau sự kiện chống thuế năm 1908, nhà cổ Đức An chuyển sang bán thuốc Bắc, hòa vào việc buôn bán tấp nập cùng nhiều hiệu thuốc Bắc ở Hội An, song vẫn là điểm hẹn gặp gỡ của các chí sĩ yêu nước trong khu vực

 

Vào những năm 1925 - 1926, khi phong trào yêu nước và kháng Pháp đã chuyển hướng tiến bộ hơn, nhà cổ Đức An trở thành nơi gặp gỡ của những thanh niên và trí thức yêu nước mà nhân vật nổi bật là đồng chí Cao Hồng Lãnh (1906-2008), một người con của phố cổ Hội An

Trong giai đoạn đó, nhiều sách báo tiến bộ như các tác phẩm của Phan Châu Trinh, Báo Chuông Rè, Đông Pháp thời báo, Tân Thế Kỷ, Nhân Loại và đặc biệt là báo Việt Nam Hồn xuất bản tại Pháp cũng được cất giữ và lưu hành tại đây

 

Ngày nay, nhà cổ Đức An đã trở thành một không gian lưu niệm đồng chí Cao Hồng Lãnh, với nhiều hiện vật gắn với cuộc đời và sự nghiệp của nhà cách mạng lão thành được trưng bày trong tủ kính

 

Với nét kiến trúc cổ kính và những giá trị lịch sử đặc biệt, nhà cổ Đức An đã trở thành một địa điểm đón tiếp rất nhiều du khách đến tham quan mỗi ngày

Có một Đà Lạt quyến rũ bên rìa Đà Nẵng

đăng 00:39, 18 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm cách trung tâm Đà Nẵng khoảng 25km, rừng thông Bồ Bồ (xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) là điểm đến ưa thích của nhiều bạn trẻ ham mê khám phá bởi nét hoang sơ và có chút gì đó rất đỗi “Đà Lạt”.

Thậm chí nhiều gia đình cũng đến đây để chụp ảnh, picnic. Ảnh: Hạ Vĩ 


Rừng thông Bồ Bồ nằm ở ngoại ô phía Bắc của thành phố Đà Nẵng. Khác hẳn với vẻ huyên náo tấp nập của phố thị, nơi đây luôn khoác lên mình vẻ tĩnh lặng, thanh bình. Vì Bồ Bồ là ngọn núi bao gồm 4 đỉnh đồi nhỏ, khá cao so với mực nước biển nên khí hậu tại rừng thông luôn mát mẻ, thoáng đãng. Chính khung cảnh thơ mộng của đồi thông cùng với không khí trong lành nên người dân thường ví von nơi đây là một mảnh Đà Lạt nằm lại trên mảnh đất miền Trung đầy nắng và gió này.


Rừng thông Bồ Bồ là một địa điểm check-in thú vị của giới trẻ hiện nay. Ảnh: Thúy Hiền


Quả thông khô chính là những “phụ kiện” tự nhiên cho bức ảnh tại đồi thông. Ảnh: Thúy Hiền


Chính vì vẻ đẹp nguyên sơ và lãng mạn, nhiều bạn trẻ đã lựa chọn rừng thông Bồ Bồ là nơi để chụp những bộ ảnh kỷ niệm thanh xuân. Nhiều cặp đôi sắp cưới cũng chọn địa điểm này để ghi lại những thước hình đánh dấu cột mốc quan trọng của cuộc đời. Bạn Hoàng Tú (Đại Lộc - Quảng Nam) chia sẻ: “Từ Đà Nẵng về quê mình có nhiều đường đi nhưng mình hay chọn đường này vì ít xe, không khí lại mát mẻ, khi vui lại vào đây chụp vài pô hình. Các bạn nào ở xa nếu ghé thăm Đà Nẵng thì nên tới đây, thật sự sẽ không uổng phí đâu!”.

Những thước ảnh lưu giữ thanh xuân của các bạn trẻ. Ảnh: Hoàng Tú




Thậm chí nhiều gia đình cũng đến đây để chụp ảnh, picnic. Ảnh: Hạ Vĩ


Khi bước chân đến đỉnh đồi thông, phóng tầm mắt ra xa, bạn có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp trù phú, nên thơ của làng mạc, ruộng đồng… Âm thanh của rừng núi, của tiếng chim hót ríu rít và cây lá lao xao sẽ thổi bay những áp lực mệt mỏi trong công việc, đưa bạn “trốn” khỏi khói bụi của thành phố. Rừng thông Bồ Bồ trong tương lai sẽ là một điểm du lịch lý tưởng với nhiều hoạt động dã ngoại, picnic thú vị dành cho nhóm bạn, cặp đôi, gia đình…

Quang cảnh làng mạc, ruộng đồng nhìn từ đồi thông Bồ Bồ. Ảnh: Nanahome.infor


Thúy Hiền

Chùa Linh Phú – điểm đến tâm linh lý tưởng

đăng 23:59, 17 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 00:01, 18 thg 1, 2019 ]

Chùa Linh Phú tọa lạc tại quốc lộ 20, xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, Đồng Nai. Là ngôi chùa đầu tiên tại huyện Tân Phú. Chùa được thành lập vào năm 1957 là một điểm đến tâm linh cho người dân.


Trong những năm đầu, chùa chỉ là một ngôi tịnh thất nhỏ đơn sơ với vách tre, mái lá để làm nơi tu học và lấy tên hiệu là Tu viện Thái Hư. Khi người dân từ các vùng, miền về đây lập nghiệp thường xuyên đến viếng lễ Phật nên ngôi tịnh thất trở thành chùa. Cảnh vật không còn cô tịch như xưa mà trở nên náo nhiệt. Qua nhiều lần trùng tu và thay đổi trụ trì, đến năm 1987, Tỉnh hội Phật giáo Ðồng Nai đã bổ nhiệm Ðại đức Thích Pháp Cần về trụ trì chùa. Kể từ đó, Phật giáo huyện Tân Phú sau thời gian im ắng đã hoạt động sôi nổi trở lại.


Tổng thể chùa có diện tích khá lớn là 37 hecta. Kiến trúc chùa có chánh điện, phòng khách, trai đường, văn phòng ban trị sự Phật giáo huyện, nhà tổ, nhà cốt, Phật cảnh, cổng tham quan hoành tráng như một ngọn núi. Chánh điện chùa có diện tích gần 1 sào. Với lối kiến trúc xây dựng độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa Phật giáo tiêu biểu của thiền phái Nam Tông và văn hóa dân tộc Việt, hậu khuôn viên chùa là khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ với hai ngọn núi Phú Sơn cùng thác Hòa Bình bao quanh tạo cho chùa một thế dựa vững chắc. Nơi đây còn giữ gìn được nhiều vẻ đẹp hoang sơ của thiên nhiên, không khí trong lành mát mẻ, không gian thanh bình và yên tĩnh. Sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc và nét đẹp thiên nhiên hoang sơ đã làm cho chùa Linh Phú vừa khang trang vừa cổ kính và thanh tịnh. Trong khuôn viên chùa còn có tượng Vua Hùng được xây dựng và đặt thờ trên một ngọn đồi với 108 bậc cấp đi lên, vào ngày giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch, từng đoàn người tấp nập lên thắp nhang cúng viếng, tưởng nhớ công ơn của vị Quốc tổ, vì thế, đây được coi là điểm du lịch văn hóa tâm linh lý tưởng.


Dịp Tết Nguyên đán sắp đến gần, vào những ngày đầu năm du khách thường đi chùa lễ phật cầu bình an, may mắn cho cả năm. Chùa Linh Phú sẽ là một điểm đến du lịch văn hóa tâm linh lý tưởng cho du khách. Nếu là người có tâm hướng Phật, du khách có thể ghé chùa Linh Phú tham quan, lễ phật cầu an và dùng cơm chay. Cửa Phật nơi đây luôn rộng mở để chào đón khách thập phương. 


Đặc biệt ngôi chùa nằm trong thác Hòa Bình nên du khách có thể kết hợp tour du lịch tâm linh và du lịch sinh thái để khám phá vẻ đẹp hoang sơ, mát mẻ và hòa vào không khí trong lành, cảnh vật nơi đây.

DH

Ngôi chùa mang tên Chùa Cô hồn

đăng 00:50, 16 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Dân Biên Hòa hầu hết đều biết hoặc nghe tên chùa Cô hồn, cái tên nghe là lạ. Thật ra chùa có tên là Bửu Hưng, nằm ở đầu đường Phan Đình Phùng. Nguồn gốc tên chùa Cô hồn là một câu chuyện lịch sử bi tráng.



Đầu thế kỷ 20, một Hội kín yêu nước được lập nên ở Biên Hòa, mang tên trại Lâm Trung. Trại chiêu tập người, tổ chức luyện tập võ nghệ, trang bị vũ khí, tích trữ lương thực…chờ thời cơ đánh Pháp. Người dân xem những trại viên Lâm Trung trại như những vị hảo hán Lương Sơn Bạt. Căn cứ trại đóng tại núi Gò Mọi, vùng Thiện Tân, Vĩnh Cửu

.
Cuối tháng 1/1916, nghĩa quân trại Lâm Trung chia làm nhiều toán tấn công vào các nhà hội ở Tân Trạch, Tân Khánh, Tân Lương… và khám đường Biên Hoà, chợ Tân Uyên (lúc bấy giờ thuộc tỉnh Biên Hoà). Cuộc tấn công làm cho quân Pháp và chính quyền tay sai ở Biên Hoà bất ngờ. Thế nhưng, sau đó, quân Pháp tập trung lực lượng đàn áp, lùng bắt các trại viên. Tháng 3/1916, giặc Pháp bắt được các trại viên chủ chốt trại Lâm Trung.

Tháng 6/1916, thực dân Pháp lập toà án xử các trại viên Lâm Trung và tuyên án tử hình 9 người tại Dốc Sỏi (xóm Bình Thành, nay là đầu đường Hưng Đạo Vương). Trước khi bị xử bắn, một số trại viên đã tỏ rõ khí tiết hiên ngang, dõng dạc tuyên bố trước họng súng quân thù “Ta sinh làm tướng, chết làm thần, chúc bà con ở lại mạnh giỏi”, “Cứ bắn ta đi, ta xem cái chết như quy thị tân gia”.

Thi thể của các trại viên bị xử tử được chôn chung trong một nấm mộ (hiện nay vẫn chưa xác định được vị trí). Người dân tiếc thương và ngưỡng mộ tinh thần bất khuất của các nghĩa sĩ nên lập một miếu thờ tại nơi các vị đã hy sinh vào năm 1918. Để tránh sự dòm ngó của chính quyền Pháp, họ gọi đây là Miếu Cô hồn.

Năm 1920, ngôi miếu được chuyển về khu đồi cao, tức là vị trí hiện tại ở đường Phan Đình Phùng, đồng thời xây cất lại thành một ngôi chùa mang tên Bửu Hưng tự. Thuở ấy, đây chỉ là một ngôi chùa đơn sơ. Vị sư đầu tiên được thỉnh về trụ trì một thời gian thì viên tịch, nay không rõ pháp danh. Từ đó chùa không có trụ trì mãi cho đến 1958. Chùa được trùng tu vào những năm 1960, 1963, trùng tu với quy mô lớn năm 1967. 1999. Tuy vậy đến nay đây cũng chỉ là một ngôi chùa nhỏ và khá đơn sơ. Chánh điện chùa có diện tích 54 
m2 (7,7 x 7 m).


Chánh điện chùa



Các cụm tượng và miếu thờ ở khuôn viên chùa


Chùa Bửu Hưng được công nhận là Di tích Lịch sử Cách mạng cấp tỉnh, nhưng lý do chính không phải là vì gắn liền với sự kiện lịch sử của 9 vị nghĩa sĩ Lâm Trung trại như kể ở trên, mà vì lý do sau:


Vào tháng 6 năm 1945, dưới sự chủ trì của đồng chí Hoàng Minh Châu, hội nghị cán bộ đảng ở Biên Hòa đã được triệu tập ở gian phía sau chùa. Hội nghị đã quyết định những vấn đề quan trọng về chủ trương, chuẩn bị cho nhân dân Biên Hòa nổi dậy giành chánh quyền trong cách mạng tháng Tám; thành lập ủy ban khởi nghĩa; lấy tổ chức Thanh niên Tiền phong để tập họp đồng đảo các tầng lớp công nhân, nông dân, trí thức, người lao động sẵn sàng nổi dậy khi có thời cơ, vận động binh lính của Pháp ngã theo cách mạng giao nộp vũ khí...


Ngôi miếu cô hồn trong khuôn viên chùa, nơi hương khói cho 9 nghĩa sĩ Lâm Trung trại


Gác lại những câu chuyện lịch sử, thì hiện nay mặc dù là một ngôi chùa nhỏ, nghèo nhưng Bửu Hưng tự thường xuyên tổ chức những bữa cơm từ thiện, giúp đỡ những số phận cơ nhỡ. Hằng năm, vào các ngày rằm tháng Giêng, tháng 4, tháng 7 nhà chùa đều tổ chức lễ cầu an cho bá tánh và cầu siêu cho các linh hồn anh hùng liệt sĩ theo nghi thức Phật giáo.


Phạm Hoài Nhân

Phủ Tây Hồ - chốn linh thiêng giữa lòng Hà Nội

đăng 00:45, 16 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Phủ Tây Hồ nằm trên bán đảo lớn của làng Nghi Tàm, thờ Bà chúa Liễu Hạnh – một trong những đại diện đạo Mẫu ở Việt Nam.

Phủ Tây Hồ tọa lạc trên doi đất hình Kim Quy, với long chầu – hổ phục hai bên trái – phải. Đất này thuộc ấp Tây Hồ, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, nay thuộc địa phận phường Quảng An, quận Tây Hồ

 

Nếu Hồ Tây là đất thiêng của Thăng Long thì ấp Tây Hồ là địa linh bậc nhất của Hồ Tây

 

Tam quan phủ Tây Hồ không lớn nhưng được xây dựng khá công phu, mang đậm phong cách dân gian của người Việt Nam. Các bức long phượng trình tường, tả thanh long hữu bạch hổ, hay tứ linh (long, ly, quy, phượng), tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai) đều được đắp nổi rất tinh tế

 

Qua cổng Tam Quan là sân phủ rộng rãi chạy sát hồ nước. Trong sân phía bên trái có lầu Cậu, phía bên phải có lầu Cô, tả dương hữu âm, tả phù hữu bật. Dù là Phật hay Thánh đều có thị giả, thị giả là người hầu cận bên Phật – Thánh, giúp Phật – Thánh hành đạo

 

Lầu Cậu, lầu Cô tuy nhỏ nhưng đây cũng là chốn bồng lai nơi tiên ở. Câu đối đắp nổi ở hai bên thể hiện nhiệm vụ cao cả của Cậu và Cô đối với Thánh Mẫu: Hộ vệ hoàng cung dương hách trạc/ Tùy tòng Mẫu giá hiển uy linh

 

Phía sau hiên tam quan là tiền đường. Tiền đường có kiến trúc theo kiểu phúc ốc trùng thiềm, tám mái cao vút lên như một vọng lâu. Đây là lối kiến trúc lâu quán của Đạo giáo, cư cao lâm hạ quan sát tứ phương

 

Phía ngoài tiền đường, ở trên cao là điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế. Phật giáo gọi là Ngọc Hoàng là Đế Thích – Nho giáo gọi là Thượng Đế còn Đạo Giáo gọi là Huyền Chúa… Dù gọi như thế nào thì Ngọc Hoàng Thượng Đế vẫn là vị thần tối cao của Tam giáo cũng như trong quan niệm dân gian.

 

Bên cạnh trái Ngọc Hoàng Thượng Đế là Nam Tào – Nam Đẩu. Thần Nam Tào xưa luôn được tôn kính vì quyền năng lớn, nắm vận mệnh thọ yểu, hưng vong của Thiên Tử, nắm tước lộc của Tể tướng bách quan, quản nhân gian sinh tồn, khoa cử. Còn bên phải Ngọc Hoàng là Bắc Đẩu. Thần Bắc Đẩu là tư mệnh thần, trông coi việc sống chết, thọ yểu, bần phú, họa phúc, tước lộc của nhân gian, giải trừ mọi tai ách của con người.

 

Sau tiền đường là trung đường xây ba gian đơn giản, tường hồi bít dốc, chắc khỏe. Chính giữa là ban thờ Tam Vị Thánh Mẫu bằng bài vị. Phía bên tả treo quả chuông lớn, phía bên hữu treo chiếc trống lớn theo đúng quy tắc tả dương hữu âm, tả chung hữu cổ

 

Nơi tôn nghiêm nhất của phủ Tây Hồ là mật cung – cung cấm. Mật cung xây hai gian thờ dọc, kiến trúc theo kiểu phúc ốc trùng thềm, thấp hơn so với trung đường và bái đường, tạo cảm giác ấm cúng thần bí, theo quy luật âm dương của kiến trúc tiền tôn hậu ty, tiền động hậu tĩnh, tiền náo nhiệt hậu tĩnh túc

 

Trong quần thể kiến trúc Phủ Tây Hồ còn có động Sơn Trang ba gian mới xây dựng bằng chất liệu bê tông giả gỗ theo lối phúc ốc trùng thiềm chồng diêm tam mái. Động xây cao, thoáng và vững chắc. Trên tường có nhiều mảnh đắp nổi từ linh, tứ quý khá sinh động. Các đầu đao là hồi long hồi phượng tinh tế, uy nghi

 

Với tư tưởng Tiên – Phật bất phân nên trên vị trí cao nhất của động Sơn Trang thờ Quan Thế  Âm Bồ Tát. Phía dưới là ban thờ Mẫu Địa – Mẫu Đệ Nhị - Mẫu Thượng Ngàn. Hai bên tả, hữu thờ nhị vị Vương Bà hóa thân của Mẫu Địa. Ngoài ra còn thờ thập nhị vương cô, tổng cộng là 15 vị.

 

Động Sơn Trang không chỉ có ở các phủ, các đền mà còn có ở các Chùa. Động Sơn Trang là hình thức thờ Mẫu Địa rất đặc trưng, bởi Mẫu Địa đã sinh ra vạn vật, dưỡng dục vạn vật. Màu xanh của Mẫu, của Vương Bà, của các Cô là màu xanh của mẹ Đất, của non ngàn, của Đông phương mộc, của mùa xuân sinh sôi và phát triển


Toàn Dũng Media

Di tích Chiến thắng Chi khu Ngã Năm

đăng 23:31, 15 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nếu như trước đây đến với Ngã Năm, du khách được khám phá tìm hiểu đời sống văn hóa sông nước trên chợ nổi, nghe nhắc đến chiến thắng mang ý nghĩa lịch sử quan trọng – Chiến thắng chi khu Ngã Năm, là 1 trong 8 di tích cấp quốc gia của tỉnh Sóc Trăng, được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử cách mạng theo quyết định số 73/2004/QĐ-BVHTT, ngày 23/8/2004; thì giờ đây, Tượng đài chiến thắng chi khu Ngã Năm đã hiện hữu, vững vàng, hiên ngang, tỏ rỏ ý chí của quân, dân ta lúc bấy giờ.

Lễ khai mạc


Tượng đài được xây dựng ngay địa điểm chi khu Ngã Năm xưa, có diện tích hơn 2 ha, thuộc thị trấn Ngã Năm, huyện Thạnh Trị lúc bấy giờ. Nay, địa điểm này thuộc phường 1, thị xã Ngã Năm, nằm kề bên chợ nỗi Ngã Năm.

Chi khu Ngã Năm được Mỹ - Ngụy quyết xây dựng tại đây, do thị trấn Ngã Năm có địa hình, địa thế mang tính đặc thù, là vùng sông nước với giao điểm của năm nhánh sông tỏa ra năm ngã, thuận lợi trong vận chuyển và giao thương. Chi khu Ngã Năm được xác định có vị trí chiến lược quan trọng cả về quân sự và kinh tế. Sau phong trào Đồng Khởi - giành chính quyền nông thôn vào đầu năm 1960 của tỉnh Sóc Trăng, Mỹ - Diệm đã trở lại tái chiếm và ra sức củng cố, xây dựng Chi khu này thành một căn cứ quân sự vững chắc, với một hệ thống đồn bót dầy đặt bao quanh, quân số khoảng 600 tên. Chúng tổ chức càn quét vùng nông thôn, tổ chức đánh phá vùng căn cứ cách mạng. Đồng thời, chúng kết hợp bọn tôn giáo ở yếu khu Trà Lồng, sử dụng bọn ác ôn đầu hàng phản bội để quấy phá phong trào cách mạng. Chúng thường xuyên tổ chức càn quét, bố ráp và gây nên nhiều cuộc thảm sát thường dân vô tội, bắt bớ giam cầm hàng mấy trăm người, chẳng những của các xã thuộc Sóc Trăng mà còn lan ra các nơi tiếp giáp thuộc Long Mỹ, Phụng Hiệp (Cần Thơ) và liên hoàn xuống vùng U Minh - Rạch Giá - Cà Mau… Để dập tắt sự hung hản của địch, ta huy động lực lượng các xã Vĩnh Quới, Tân Long… cùng với quần chúng tại thị trấn tổ chức hàng trăm cuộc biểu tình đấu tranh chống đàn áp, bắn giết thảm sát nhân dân. Trong đấu tranh, địch ra tay đánh đập dã man, bắt bớ giam cầm, có người phải hy sinh hoặc tàn phế.

Người dân đến vui chơi vào buổi tối


Mùa khô vào năm 1962, lực lượng vũ trang tỉnh về kết hợp du kích và bộ đội địa phương huyện tiến hành bao vây, bứt rút Chi khu Ngã Năm lần thứ nhất, làm nhân dân nơi đây cùng cả tỉnh thỏa lòng. Với tinh thần bám đất bám dân, quân ta xây dựng cơ sở, tạo thế hợp pháp cho dân đấu tranh ngay trong lòng địch. Nhiều chị em phụ nữ, những bác nông dân đã trở thành du kích mật. Địch tăng cường bắt lính, ta chủ trương cho thanh niên vào chùa tu hoặc trốn tránh, xây dựng cơ sở nhà chùa để bảo vệ cơ sở cách mạng. Nhìn chung, công tác binh vận của thị trấn Ngã Năm lúc bấy giờ được huyện và tỉnh công nhận là một trong những đơn vị làm công tác binh vận giỏi, có cơ sở vững vàng nhất. Đội biệt động thị trấn kết hợp du kích mật, cùng quần chúng cách mạng đã tạo thế cùng anh em khởi nghĩa binh chiến, nội ứng lấy 7 đồn, làm tan rã trên 2.000 binh lính và phá rã nhiều toán phòng vệ dân sự, thu về hơn 150 súng. Nhờ đó, lực lượng biệt động thị trấn Ngã Năm được trang bị rất mạnh so với các đơn vị khác trong huyện…

Tượng đài


Với ý thức tự lực tự cường, lực lượng vũ trang huyện, du kích xã vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, vận dụng linh hoạt các hình thức tác chiến của chiến tranh nhân dân, dựa vào dân xây dựng cơ sở mật để hoạt động có hiệu quả. Lúc đầu, ta tổ chức diệt những tên đi lẻ tẻ, từng tốp, dần dần từng đồn, bót quanh Chi khu. Từ đó, làm bàn đạp tạo điều kiện cho lực lượng địa phương, quân tỉnh và quân chủ lực đánh diệt Chi khu Ngã Năm nhiều lần.

Trong những cuộc tấn công, bao vây Chi khu Ngã Năm, thì cuộc chiến vào năm 1968 là cuộc bao vây kéo dài và ác liệt nhất. Tham gia bao vây Chi khu Ngã Năm gồm có lực lượng hỗn hợp là đại đội địa phương quân huyện Thạnh Trị, đội phòng thủ Tỉnh uỷ (B.68); du kích thị trấn Ngã Năm; Du kích xã Vĩnh Quới, xã Tân Long. Ngoài ra, còn có hơn 1.000 dân công của các xã Vĩnh Quới, Mỹ Quới, Vĩnh Lợi, Tân Long, nhiều phương tiện như: xuồng, ghe, cây ván, hàng triệu đồng tiền mặt và hàng trăm giạ gạo được huy động cho chiến trường…

Đêm 21/5/1968, các mũi bao vây đã đồng loạt nổ súng tấn công vào Chi khu Ngã Năm. Bước đầu, quân ta chọn bốn đồn án ngữ bên ngoài Chi khu làm mục tiêu tấn công trước. Đó là các đồn Phật Mẫu, Cống Đá, Xóm Gạo và Tám Giới, nhưng tập trung tấn công mạnh vào hai đồn Phật Mẫu và Cống Đá. Trong những ngày đầu bao vây, ta chỉ pháo kích, bắn tỉa, áp đảo tinh thần binh lính địch, tạo điều kiện cho lực lượng dân công tập trung xây dựng hai pháo đài, lập thành thế bao vây, tấn công hiệu quả hơn cho bước tiếp theo. Trận chiến bao vây Chi khu Ngã Năm càng về sau càng dồn sức. Khi các pháo đài dựng lên đã hoàn thành với tinh thần khẩn trương và quyết liệt. Trong thời gian bộ đội, du kích và dân công thi đua dựng pháo đài, bọn địch bên trong đã nhìn thấy. Quân địch hết sức hoảng sợ nên cố liều chết xông ra đánh phá, đồng thời gọi phi cơ, pháo binh yểm trợ. Có pháo đài, chiến sĩ ta gồm những người bắn giỏi đã túc trực, luân phiên canh chừng, tên giặc nào ló ra đều lọt vào tầm ngắm. Qua gần một tháng bao vây, ta đã đánh bật 21 lần, bọn giặc liều chết xua lính ra phản kích. Quân ta đã diệt, làm bị thương hơn 60 tên địch. Trong đó, có nhiều tên chỉ huy thuộc sắc lính bảo an, an ninh quân đội, thám báo và bọn tề ngụy ác ôn. Đặc biệt hơn hết là quân ta đã diệt được tên trung uý Hà - tên ác ôn cầm đầu phản kích. Vì trong hơn 20 lần phản mũi bao vây, tên Hà đã có mặt chỉ huy hàng chục lần, hắn đã gây thương vong cho hơn 20 cán bộ và chiến sỹ của ta.

Trong gần một tháng bao vây, quân ta đã giành được thắng lợi lớn, bọn địch vô cùng hoang mang. Chúng đã điện hàng chục lần về Tiểu khu Ba Xuyên xin quân cứu viện, nhưng do ảnh hưởng chiến trường chung do sau tổng tấn công cả tỉnh và toàn miền, quân ta vẫn tiếp tục tấn công, nên bọn tỉnh vẫn chưa đưa được quân tiếp ứng. Tình thế lúc này có lợi cho quân ta, nếu dồn sức lên nhất định sẽ thắng lợi, dứt điểm.

Tuy nhiên, do sức của bộ đội địa phương và du kích có hạn cũng như qua gần một tháng bao vây, quân ta bị thương vong cũng không ít, số còn lại đã thấm mệt, có nhiều mũi tiến công gần như kiệt sức. Trong tình hình đó, ban chỉ huy chiến dịch đã kịp thời rút kinh nghiệm và thay đổi chiến thuật bao vây. Chiến thuật đánh mới được gọi là “xa luân chiến”. Ban đêm, ta cho lực lượng du kích thúc sát pháo kích, bắn tỉa, chọc phá không cho quân địch nghỉ ngơi. Ban ngày, du kích rút về phía sau dưỡng sức, đổi lại bộ đội huyện và tỉnh đưa quân vào thay thế, chủ yếu là chống phản kích và diệt cho được bọn đầu sỏ. Có khi ngược lại, đêm đến lực lượng huyện đánh, ngày du kích tiếp sức tấn công… Cũng có khi ban đêm dùng những bộ phận nhỏ, trang bị súng tốt, thọc sâu, đánh mạnh, nhanh gọn, gây tổn thất cho địch rồi rút về, sáng ra cho du kích vào giữ mũi…

Song song với việc thay đổi chiến thuật bao vây, các đồng chí lãnh đạo Tỉnh uỷ, Huyện uỷ đã quan tâm chỉ đạo với một quyết tâm cao: “Tất cả dồn sức cho bao vây, tất cả cho dứt điểm chi khu Ngã Năm”. Cũng từ quyết tâm đó, các đồng chí đã chỉ đạo cho các huyện, các xã lân cận phải dồn sức người, sức của về đây, như: lương thực, đạn dược và mọi phương tiện khác cần cho chiến dịch. Đồng chí Bí thư Huyện uỷ đã chỉ thị cho đồng chí Sáu Kẹo (tức đồng chí Nguyễn Tấn Thành - lúc đó là Tỉnh uỷ viên phụ trách Binh vận) trực tiếp nắm chặt tình hình diễn biến trong sĩ quan, binh lính địch tại chi khu, đưa gia đình binh sĩ ra đấu tranh trực diện với bọn tiểu khu, chi khu đòi đổi con em họ đi nơi khác, nơi nào mạnh hơn là đòi giải ngũ, cho con em họ về gia đình làm ăn… Phương pháp vận động này đã làm tan rã rất nhiều binh sĩ trong chi khu. Đồng thời, tác động mạnh đến tinh thần số còn lại.

Tất cả những nỗ lực, cố gắng của quân ta đã làm tình thế quân lính ở Ngã Năm hết sức tuyệt vọng. Cho tới ngày 10/7, tức là đã qua 49 ngày từ khi mở chiến dịch, bọn Tiểu khu Ba Xuyên nhìn thấy Chi khu Ngã Năm có nguy cơ bị tiêu diệt, nếu không kịp thời can viện. Ngay lập tức, chúng điều động một tiểu đoàn bảo an phối hợp không quân, pháo binh kéo vào can viện. Nắm được tin trên, ban chỉ huy bao vây đã ra lệnh động viên cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận “Hãy siết chặt và giữ vững mũi bao vây, kiên quyết đánh tan quân can viện, tiến tới dứt điểm chi khu”. Ngược lại, quân địch đấu tranh không chấp hành mệnh lệnh nên đến cuối ngày 10/7 mà chỉ kéo đến Phú Lộc (cách chi khu Ngã Năm 23 km) và đóng quân ở đó. Biết tin này, tinh thần cán bộ, chiến sĩ ta trên mặt trận càng thêm hăng hái. Trong hai đêm 10 và 11/7, các mũi bao vây của ta đưa quân đánh mạnh, thúc bách, bọn địch đòi cấp trên cho rút khỏi chi khu. Ngay trong đêm 11 rạng 12/7, bọn chúng đã van xin nài nỉ Tiểu khu nhiều lần cho rút chạy, bọn cấp trên động viên “Cố gắng giữ đến 12 giờ mai (tức 12/7) binh viện sẽ tới”. Quả thật, sáng 12/7, pháo từ chi khu Phú Lộc bắn tới tấp vào tuyến Hương lộ 42 (tức đường Phú Lộc đi Ngã Năm), trên không thì máy bay trinh sát L.19 quần đảo dẫn đường cho quân can viện kéo vào. Chúng bị một bộ phận bộ đội địa phương huyện Thạnh Trị nổ súng đánh chặn ở khoảng giữa Phú Lộc, Cái Trầu. Trong khi đó, tại mũi bao vây, lực lượng bao vây đã dồn sức với những tay súng mạnh nhất của các đơn vị B.68, địa phương quân huyện và một bộ phận của đơn vị pháo 602 vừa tăng cường yểm trợ siết chặt vòng vây. Đồng thời, dùng loa phóng thanh gọi địch ra hàng. Trận địa kéo dài đến 3 giờ chiều, thấy quân can viện không vào được, bọn chi khu chuẩn bị mở đường tháo chạy. Ban chỉ huy bao vây nhận định “Quân ta tinh thần tuy hăng hái, quyết chiến nhưng lực lượng không đủ sức chặn đánh tiêu diệt chúng, có cách hay nhất là mở đường cho chúng tháo chạy rồi rượt đánh vét đuôi là thượng sách”. Với quyết tâm và phương án như vậy, các đồng chí trong ban chỉ huy đã trực tiếp cầm súng và chỉ huy thúc sát vào hàng rào. Đồng thời, dùng hỏa lực mạnh, đại liên, B.40, pháo cối bắn tới tấp vào trung tâm chi khu. Địch chịu không nổi, toàn bộ quân chúng liều chết xông ra nơi không có hoả lực, tháo chạy về Phú Lộc. Nhanh như chớp, các cán bộ chỉ huy, cùng các chiến sĩ bám sát rào đã xông vào chiếm lĩnh chi khu, dùng ngay đại liên vừa thu được, quay nòng nã ròn rã theo bọn địch tháo chạy. Bỏ mặc cho những tên chết và bị thương, cả bọn một mạch chạy không dám quay đầu trở lại. Biết quân chúng đã thoát ra, bọn Tiểu khu ra lệnh bắn pháo huỷ diệt Chi khu. Biết được ý đồ địch nên lực lượng ta đã triển khai rút lui an toàn. Đến 4 giờ chiều cùng ngày, tiếng súng ngừng hẳn.

Kết quả, sau 52 ngày đêm (21/5/1968 đến ngày 12/7/1968) của chiến dịch bao vây đánh lấn, quân dân Thạnh Trị, được hỗ trợ mạnh của một bộ phận lực lượng tỉnh, quân ta đã hoàn toàn giải phóng Chi khu Ngã Năm.

Chiến thắng Chi khu Ngã Năm mang một ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, đó là lần đầu tiên ở chiến trường Tây Nam Bộ, bằng chiến thuật bao vây, đánh lấn của du kích và bộ đội địa phương cấp huyện (có kết hợp một bộ phận nhỏ của tỉnh) đã dứt điểm hoàn toàn một Chi khu quân sự thuộc vào loại phòng thủ kiên cố nhất, nhì tại vùng đồng bằng. Chiến thắng Chi khu Ngã Năm là kết quả của sự chỉ đạo quyết tâm, biết phát huy sức mạnh tổng hợp của nhiều thứ quân, trong xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân; kiên trì bám trụ bám dân, xây dựng cơ sở vững chắc, mưu trí sáng tạo, dũng cảm và liên tục tấn công.

Sau ngày giải phóng, Sở Văn hoá Thông tin Sóc Trăng cho xây dựng một tấm bia tại địa điểm chi khu, để ghi lại sự kiện lịch sử chiến thắng ở Chi khu Ngã Năm, nhằm giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng cho nhân dân địa phương và thế hệ mai sau. Đến năm 2014, công trình Tượng đài Chiến thắng Chi khu Ngã Năm được khởi công xây dựng. Tượng đài được điêu khắc trên chất liệu bằng đá do điêu khắc gia Trần Thanh Phong, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam (Giám đốc Công ty TNHH MTV mỹ thuật ứng dụng Mê Kông) thực hiện. Tượng đài uy nghi với nhóm tượng chính gồm ba nhân vật hiên ngang, thể hiện tính đặc thù của lực lượng bao vây và bứt rút Chi khu Ngã Năm, trong tư thế của người chiến thắng. Mặt chính của tượng đài hướng nhìn ra 5 ngã sông – chợ nổi Ngã Năm. Toàn cảnh và công trình Tượng đài được xây dựng trên tổng diện tích hơn 6.000m2. Trong đó, phần đế tượng gần 520m2. Phần bệ tượng và tượng đài cao 18m; cánh cung ở hai bên là hai mảng phù điêu, chiều dài mỗi bên 8m. Xung quanh Tượng đài là một số khu hạ tầng kỹ thuật, quãng trường, khuôn viên cây xanh… tạo thêm khung cảnh cho người dân và du khách đến tham quan, vui chơi….

Tháng 8/2016, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng đã phối hợp với các ngành liên quan long trọng tổ chức Lễ Khánh thành Tượng đài Chiến thắng Chi khu Ngã Nam – di tích cấp quốc gia lưu niệm sự kiện lịch sử này. Tượng đài vững trải và hiện hữu như minh chứng lịch sử, nhắc nhở đến thế hệ hôm nay và mai sau về truyền thống lịch sử đấu tranh, sự đoàn kết trong đấu tranh của quân dân Ngã Năm, Sóc Trăng nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó, công trình tượng đài chiến thắng chi khu Ngã Năm và chợ nổi Ngã Năm sẽ là sự kết hợp lý tưởng cho chuyến tham quan, khám phá về văn hóa, lịch sử vùng đất Ngã Năm xưa và nay.

Tài liệu tham khảo:
  • Lý lịch di tích lịch sử, văn hóa đại điểm chiến thắng chi khi Ngã Năm.
  • Lịch sử Đảng bộ huyện Thạnh Trị (cả chống Pháp và chống Mỹ).
  • Lịch sử truyền thống bộ đội biên phòng tỉnh Sóc Trăng (1960 - 1975).
  • Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng (Tập hai) thời kỳ chống Mỹ.
Kim Phương

Du lịch Suối Trúc - Dầu Tiếng, Bình Dương

đăng 23:20, 15 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Từ Khu du lịch lòng hồ Dầu Tiếng, khách lữ hành vượt qua 5km tỉnh lộ 751 đường tráng nhựa, xuyên rừng cao su bạt ngàn là đến Suối Trúc.


Suối Trúc nằm vắt mình trên một ngọn núi cao nhất trong cụm núi Cậu gồm 12 nhóm lớn nhỏ. Cụm núi Cậu được xem là đoạn cuối của dãy Trường Sơn hùng vĩ và những ngọn núi này chỉ được gọi một cái tên chung là núi Cậu.

Có lẽ do ngọn suối len mình giữa bạt ngàn rừng trúc thiên nhiên nên cư dân địa phương đặt tên là Suối Trúc. Cũng có người gọi là Suối Tre hoặc Suối Tiên. Để thưởng ngoạn cảnh đẹp hoang sơ của Suối Trúc, du khách phải bắt đầu từ ngọn suối đi ngược lên thượng nguồn.

Đặt chân lên núi, du khách sẽ phải len qua một lối mòn giữa rừng trúc để tiến vào ngọn suối. Quang cảnh đầu tiên sẽ là những ghềnh đá bằng phẳng, vuông cạnh, được thiên nhiên sắp đặt thành những bậc thang dành cho “người khổng lồ”. Theo truyền thuyết, nơi đây là chốn trú ngụ của “người khổng lồ”.

Vừa qua khỏi những bậc thang của “người khổng lồ” du khách sẽ được thưởng lãm những bãi đá “bát quái trận đồ”. Hàng triệu hòn đá lớn nhỏ được thiên nhiên xếp thành những bàn ăn thiên nhiên lý tưởng. Nếu chưa đói bụng, du khách tiếp tục tiến sâu hơn về phía thượng nguồn và tiếp tục thưởng ngoạn một bãi đá bằng phẳng bị nước mưa xâm thực tạo thành từng lọn sóng đá mà người dân địa phương cho rằng, đó là “chiếc giường” của “người khổng lồ”. Do suy nghĩ nhiều về vợ nên “người khổng lồ” lăn lộn, trằn trọc nhiều đêm làm cho “chiếc giường” đá nhăn nheo, bèo nhèo. Điều lạ là những nếp nhăn của đá nằm song song nhau theo một chiều tạo thành những gợn sóng đẹp mắt. “Giường đá” thường được những nhóm du lịch dã ngoại chọn làm nơi hạ trại. Chiếc giường này rộng hơn 3km2 nên có thể chứa khoảng 300 chiếc lều dã chiến.


Qua khỏi “giường đá”, một đoạn suối ngắn sẽ dẫn du khách vào một quang cảnh rất nên thơ được gọi là “Hồ Than Thở” và “Thác Bậc Thang”. Một số du khách chọn nơi đây là nơi dừng chân để “tắm tiên” và bắt cá. Ở nơi đây, vào những ngày sau mưa, những ngọn thác hùng vĩ sẽ hình thành do lượng nước từ thượng nguồn ào ạt đổ về tạo nên cảnh quang rất hoành tráng. Sau khi “tắm tiên”, bạn hãy chọn một nơi trên bãi đá bằng phẳng để ăn uống theo kiểu dã ngoại, nghỉ ngơi rồi trở về trước khi trời tối.

Suối Trúc thật sự là điểm tham quan kỳ thú và còn nhiều điều bí ẩn về câu chuyện của “người khổng lồ” năm xưa, như đang chờ đón sự khám phá của bạn.

Chùa Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu tại thành phố mới Bình Dương

đăng 23:14, 15 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Bà Thiên Hậu thánh mẫu tại thành phố mới Bình Dương tọa lạc tại Lô K6A đường Lê Hoàn, phường Hòa Phú, trung tâm thành phố mới Bình Dương với diện tích hơn 4.000m².


Chùa được khởi công xây dựng vào ngày 17/09/2011. Và được tổ chức khánh thành sau 15 tháng xây dựng vào ngày 19/01/2013.

Chùa được xây dựng theo lối kiến trúc Trung Hoa có kinh phí đầu tư xây dựng hơn 30 tỷ đồng. Tính đến thời điểm hiện tại đây được xem là miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu lớn nhất Việt Nam.

Bên cạnh ngôi chánh điện bề thế, chùa còn có khuôn viên rộng rãi khoảng hơn 1.000 m
2  được trồng nhiều cây xanh tạo bóng mát cho ngôi chùa.


Bên trong chánh điện tôn trí Tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu được tạc từ khối gỗ Danh Mộc đường kính 1m chiều cao 1,67 nặng gần 1 tấn. Hai bên tả, hữu của án thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu được bố trí khám thờ Ngũ hành nương nương và khám thờ ông Bổn bà Bổn gần giống như cách thờ tự ở chùa Bà ở thành phố Thủ Dầu Một.

So với chùa Bà Thiên Hậu ở thành phố Thủ Dầu Một thì chùa Bà ở thành phố mới Bình Dương có quy mô lớn hơn sẵn sàng đáp ứng cho nhu cầu lễ bái, tham quan của quý du khách gần xa.

Chùa Bà Thiên Hậu

đăng 20:16, 14 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Là một di tích văn hóa của tỉnh Bình Dương. Miếu bà Thiên Hậu “Thiên Hậu Cung” thường được người dân quen gọi là chùa Bà có kiến trúc theo lối cổ, là nơi thờ tự tôn nghiêm, một điểm hành hương rất quen thuộc của người dân Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận.

Chùa Bà hiện nay tọa lạc tại số 4, đường Nguyễn Du, thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương và một ngôi chùa Bà mới được khánh thành vào tháng 1/2013 ở trung tâm thành phố mới Bình Dương. Tuy nhiên, khi nhắc đến chùa Bà ở Bình Dương, người ta thường nghĩ ngay đến chùa Bà ở thành phố Thủ Dầu Một.

Chùa Bà Thiên Hậu (thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương).


Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu

Theo truyền thuyết được ghi ở tấm bia đá đặt ở chùa, Bà sinh vào thời Tống Kiến Long nguyên niên (Công nguyên 960), là con thứ 6 của gia đình họ Lâm ở huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Khi mới lọt lòng mẹ, Bà đã toả ánh hào quang và hương thơm. Lớn lên, Bà thường cưỡi thảm bay lượn trên biển và du ngoạn nhiều nơi. Đến đời Tống Ung Hy tứ niên (Công nguyên 987), năm 27 tuổi Bà từ giã cõi trần và hiển linh. Đời Nguyên, Bà được phong là Thiên Phi, đến đời Thanh, vua Khang Hy gia phong làm Thiên Hậu. Và danh hiệu Thiên Hậu tồn tại cho đến nay.

Từ truyền thuyết dân gian đã chuyển hoá thành tín ngưỡng và Bà được những thế hệ sau hương khói, phụng thờ ở nhiều nơi. So những điều ghi ở bia đá nói trên với một số truyền thuyết về Bà ở các chùa khác thì có ít nhiều khác biệt, nhưng nhìn chung họ đều ca ngợi suy tôn Bà là một người phụ nữ đức hạnh, hiếu thảo, xả thân cứu người đời và khi chết hiển linh, được các triều đại phong kiến Trung Quốc phong tặng. Đề cao Bà Thiên Hậu, ngưỡng mộ và phụng thờ Bà như một vị hiển thánh, bà con người Hoa muốn thông qua tấm gương của Bà mà giáo dục cộng đồng của mình hãy học tập lòng hiếu thuận, đức nhân hậu của Bà, sống có đạo nghĩa. Mặt khác, trên con đường vượt sóng gió biển khơi, đi về hướng Nam tìm đất lập nghiệp đầy gian truân, họ luôn cầu nguyện Bà giúp đỡ, phù hộ và sau khi đã định cư, ổn định đời sống, sum họp đông vui, làm ăn phát đạt trên đất Việt Nam, quê hương thứ hai của họ, họ cùng nhau lập đền thờ để tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Bà.

Lịch sử hình thành chùa.

Chùa được xây dựng vào khoảng giữa thế kỉ XIX, lúc đầu chùa tọa lạc tại con rạch Hương Chủ Hiếu (nay đã xây dựng lại ngôi miếu trên vị trí ban đầu của xưa kia). Người xưa đã chịu ảnh hưởng của quan niệm dân gian là địa thế xây cất miếu Bà thường tuân theo nguyên tắc kiến trúc điện mẫu, tức là luôn mang yếu tính nữ trong xây cất, một trong yếu tố nữ là điện thờ nên chọn nơi gần sông, suối, ao, hồ… nghĩa là gần nơi có nước, vì nước mang yếu tố âm, mang tính nữ.

Đến năm 1923, bốn Bang người Hoa (Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hẹ) chung sức tái tạo, dời ngôi chùa về vị trí như ngày nay.

Về kiến trúc, thờ tự, trang trí, nội thất.

Toàn bộ ngôi chùa kiến trúc theo kiểu chữ tam gồm ba dãy nhà.

Vào sân chùa, trước cửa chánh điện có đặt một cái đỉnh lớn để những người đến chiêm bái cắm nhang.

Mái trước cửa chánh điện lợp ngói âm dương với những đường chỉ đắp nổi, trang trí lưỡng long tranh châu, cá chép hóa rồng. Hai bên đường viền của mái nhà là tượng “bà Mặt trăng”, những tượng quan văn, quan võ… tiêu biểu nhất lí âm dương và cũng là đặc trưng của lối kiến trúc người Hoa.

Ở giữa, phía bên trên cửa chánh điện đề ba chữ "Thiên Hậu Cung, hai bên cửa là hai cặp câu đối ca ngợi công đức của Bà:

Cặp câu đối thứ nhất:

Thánh đức phối thiên hải đức từ hành phổ tế
Mẫu nghi xưng hậu tang du trở đậu trùng quang.

Tạm dịch: Công đức của bậc thánh có thể sánh với trời, đức mênh mông như biển thuyền từ cứu vớt khắp cùng.

Cặp câu đối thứ hai:

Thiên thượng từ hành nhân gian thánh mẫu
Hậu nghị cộng ngưỡng khôn đức trường tồn.

Tạm dịch: Tại thượng giới hiệu là từ hàng, tại nhân gian tồn là thánh mẫu. Bậc hậu oai nghi ai cũng tôn kính, đức dày mãi mãi với thời gian.

Trong chánh điện có treo nhiều cặp đối, nội dung các cặp đối là ngợi ca công đức và sự linh diệu của Bà trong việc cứu nhân độ thế, hơn nữa bà là vị nữ thần phò hộ cho người dân đi biển nên hầu hết các cặp đối đều có nhắc đến những hình ảnh có liên quan đến biển khơi và sự mong ước được sóng yên, bể lặng.

Tại chánh cung, thờ vị chánh thần là Thiên Hậu Thánh Mẫu, tượng có áo mão nghiêm trang và thường được thay mới hàng năm, hoặc hai, ba năm một lần. Bên trái điện thờ Bà là khám thờ Ngũ hành nương nương. Bên phải thờ Bổn, gọi là bổn đầu công công.

Bàn thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu.


Hai bên tường có giá cắm tấm biển đề Túc Tĩnh - Hồi Tị, để kêu gọi mọi người nghiêm trang hoặc tránh ra mỗi khi có rước kiệu Bà đi trên đường. Cặp biển thứ hai đề Thiên Hậu Nguyên Quân (vị thần chủ việc tiền tài). Các cặp biển sắp theo thứ tự trong thờ tự cũng như trong diễu hành lễ rước bà. 

Trong điện còn có trưng bày giá cắm bát bửu là tám món bửu bối của tám vị tiên theo truyền thuyết của người Trung Hoa.

Hai dãy nhà hai bên chính điện có đề ở cửa cái chữ "Thất phủ, công sở", là nơi làm việc, hội họp và những kho chứa đồ đạc. Do vậy, mà bên trong phía bên phải ghi những chữ như: "Hữu thông" (đi suốt qua bên mặc), “Sự chi, Công lý” (mọi việc theo lẽ công). Bên trái ghi: “Dĩ lễ, Thủ chánh” (hãy theo lễ, giữ gìn cái chính), “Quảng nội” (rộng rãi bên trong), những chữ vắn tắt ấy như những khẩu hiệu nhắc nhở mọi người.

Nhìn chung, ngoài những lối kiến trúc, thờ phượng, những chùa miếu người Hoa còn có những nét đặc trưng nữa là những cây nhang vòng và lồng đèn có viết chữ Hán được treo rất nhiều.

Lễ hội chùa Bà được xem là một lễ hội văn hóa lớn nhất ở tỉnh Bình Dương,được tổ chức thường lệ mỗi năm vào 3 ngày từ ngày 13 đến ngày 15/1 âm lịch với nhiều chương trình lễ hội đặc sắc: lễ cúng Bà, đấu giá lồng đèn, rước kiệu Bà,…

1-10 of 20