Di tích, thắng cảnh, những nơi để ngắm nhìn và tận hưởng.

Bài mới

  • Khám phá loạt đền chùa nổi tiếng quanh phố Trúc Bạch Phố Trúc Bạch (phường Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội) đang là tâm điểm chú ý của cả nước khi một phần khu phố trở thành khu cách ly để ...
    Được đăng 05:28, 10 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chùa Đèn Cầy ở Trảng Bom Chùa Đèn Cầy là tên dân gian gọi ngôi Viên Giác Thiền tự, một ngôi chùa ở ấp Đoàn Kết, xã Giang Điền, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Tên ...
    Được đăng 01:59, 9 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hồ Hòa Trung - Vẻ đẹp hoang sơ Nằm trên địa bàn 2 xã Hòa Liên và Hòa Ninh (huyện Hòa Vang), cách đường DT602 gần 7km và cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 20km, hồ Hòa ...
    Được đăng 01:57, 9 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Thác nước cao 35 m ở tây Trường Sơn Thác Trăng Tà Puồng giữ nguyên vẻ hoang sơ nhờ ít người biết đến. Thác Trăng Tà Puồng nằm ở thôn Trăng Tà Puồng, xã Hướng Việt, huyện Hướng Hoá ...
    Được đăng 01:20, 8 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chiêm ngưỡng nghệ thuật kiến trúc độc đáo của đền Nguyễn Xí Trải qua gần 6 thế kỷ tồn tại, đền thờ Cương quốc công Nguyễn Xí ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc không chỉ là một di tích lịch sử ...
    Được đăng 01:01, 6 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Khám phá loạt đền chùa nổi tiếng quanh phố Trúc Bạch

đăng 05:28, 10 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Phố Trúc Bạch (phường Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội) đang là tâm điểm chú ý của cả nước khi một phần khu phố trở thành khu cách ly để ngăn ngừa dịch bệnh Covid-19. Khu vực quanh con phố này là nơi tọa lạc nhiều đền chùa cổ nổi tiếng của Hà Nội...

1. Nằm bên hồ Tây, cách phố Trúc Bạch khoảng 200 mét, chùa Trấn Quốc có lịch sử 1500 năm, được coi là ngôi chùa lâu đời nhất của Thủ đô. Theo sử sách, chùa được xây dựng từ thời Lý Nam Đế (541 – 547). Vào các thời Lý và thời Trần, chùa là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long.

 

Thời Lê Kinh Tông (1600 – 1618), chùa được dời vào đảo Kim Ngư, là địa điểm hiện tại. Vào đời vua Lê Hy Tông (1675 - 1705), chùa đổi tên thành Trấn Quốc. Kiến trúc chùa ngày nay là sự kết hợp phong cách kiến trúc nhiều thời kỳ, trong đó kiến trúc nhà Nguyễn là chủ đạo

 

Kết cấu và nội thất chùa Trấn Quốc tuân theo nguyên tắc khắt khe của chùa Việt cổ. Chùa gồm nhiều lớp nhà với ba ngôi chính là Tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện nối thành hình chữ Công (工). Công trình mang tính điểm nhấn là bảo tháp Lục độ đài sen được xây năm 1998

 

Trong chiều dài lịch sử của mình, chùa Trấn Quốc luôn là một danh thắng nổi tiếng của kinh thành Thăng long xưa cũng như Thủ đô Hà Nội ngày nay. Chùa từng đón nhiều nguyên thủ các quốc gia lớn tới thăm và được báo chí châu Âu bình chọn là một trong những ngôi chùa đẹp nhất thế giới

 

2. Tọa lạc trên đường Thanh Niên, cách phố Trúc Bạch khoảng 500 mét, đền Quán Thánh (tên chữ là Trấn Vũ Quán) là ngôi đền cổ có quy mô to lớn và đẹp bậc nhất Hà Nội. Đây cũng là một trong Thăng Long Tứ Trấn - bốn ngôi đền thiêng trấn giữ bốn phía thành kinh thành Thăng Long xưa

 

Tương truyền đền Quán Thánh có từ đời Lý Thái Tổ (1010 - 1028). Ban đầu đền nằm ở một vị trí khác và được di dời về vị trí hiện tại từ năm 1474, thời vua Lê Thánh Tông. Diện mạo ngày nay của đền về cơ bản có từ đợt tu sửa vào năm 1836 - 1838 dưới thời vua Minh Mạng

 

Ngôi chính điện (bái đường) của đền là nơi đặt tượng thần Huyền Thiên Trấn Vũ được đúc bằng đồng đen vào năm 1677, đời Lê Hy Tông. Đây là một công trình nghệ thuật độc đáo, đánh dấu kỹ thuật đúc đồng và tài nghệ của các nghệ nhân Việt Nam cách đây 3 thế kỷ

 

Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ của đền Quán Thánh cũng nổi tiếng về sự linh thiêng. Ai đi lễ ở đền cũng sờ vào các ngón chân của tượng để lấy lộc

 

3. Chùa Ngũ Xã (Thần Quang tự) nằm ở phố Ngũ Xã, cách phố Trúc Bạch khoảng 100 mét, là một ngôi chùa được dựng vào thời Hậu Lê, thế kỷ 18. Sau trận hỏa hoạn năm 1949 chùa được xây dựng lại, hoàn thành năm 1951

 

Chùa là nơi thờ Phật và ông tổ nghề Đúc đồng Nguyễn Minh Không của làng nghề đúc đồng Ngũ Xã. Chính điện của chùa là nơi đặt một bức tượng Phật A Di Đà bằng đồng khổng lồ rất nổi tiếng của Hà Nội. Thân tượng cao gần 4 mét và cân nặng 12.300 kg

 

Việc đúc tượng được tiến hành năm 1952, hoàn toàn bằng phương pháp thủ công, thể hiện tay nghề điêu luyện của các nghệ nhân làng nghề đúc đồng Ngũ Xã. Tượng tác phẩm thể hiện hình ảnh Phật A Di Đà trong tư thế ngồi kiết già trên một đài sen với 96 cánh

 

Có thể nói, bức tượng mang trong mình một phần lịch sử của Hà Nội giai đoạn thuộc Pháp

 

4. Nằm trên một hòn đảo nhỏ ở hồ Trúc Bạch, cách phố Trúc Bạch khoảng 50 mét, đền Thủy Trung Tiên là ngôi đền cổ được phục dựng năm 2017. Ngôi đền này còn được dân gian gọi là đền Cẩu Nhi, gắn với một giai thoại về Thần Cẩu và sự kiện vua Lý Thái Tổ dời đô về thành Thăng Long

 

Tuy vậy, quanh đền Cẩu Nhi đã có một cuộc tranh luận sôi nổi trong giới nghiên cứu lịch sử. Nguyên nhân là ngày nay không còn gì để chứng thực sự tồn tại của ngôi đền này. Vào thập niên 1850, trên đảo tọa lạc ngôi đền mang tên gọi Thủy Trung Tiên, là nơi thờ Mẫu Thoải và thờ Thần Cá.

 

Do tồn tại nhiều quan điểm về cái tên “Cẩu Nhi” mà dự án phục dựng ngôi đền trên hòn đảo của hồ Trúc Bạch được đưa ra từ 2005 nhưng trì hoãn đến hơn một thập niên. Phải đến năm 2015 dự án được triển khai và năm 2017 khánh thành, ngôi đền mới mang tên chính thức là đền Thủy Trung Tiên

 

Trong lời giới thiệu về ngôi đền khắc trên bia đá, không có một chữ nào nhắc đến cái tên “Cẩu Nhi” hoặc câu chuyện về Thần Cẩu. Dù vậy, cái tên Cẩu Nhi vẫn sẽ mãi mãi được lưu truyền trong tâm thức của dân gian.

Chùa Đèn Cầy ở Trảng Bom

đăng 01:59, 9 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Đèn Cầy là tên dân gian gọi ngôi Viên Giác Thiền tự, một ngôi chùa ở ấp Đoàn Kết, xã Giang Điền, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Tên ngôi chùa có vẻ chưa quen thuộc lắm phải không? Và đọc địa chỉ, ta nghĩ đến một vùng quê xa xôi hẻo lánh, phải không?


Tất cả đều đúng. Ngôi chùa mới được lập nên cách đây chưa lâu, vào năm 1996, và được công nhận là cơ sở thừa tự còn trễ hơn nữa, năm 2008. Do vậy không thể được quen tên như những ngôi chùa đã khai sơn hàng trăm năm. Còn con đường đến chùa, đúng là vắng vẻ, qua những mảnh đất ruộng rẫy khô cằn.


Cổng chùa


Thế nhưng chùa Đèn Cầy lại rất nổi tiếng. Bạn cứ lên Google hay YouTube mà tìm, sẽ thấy rất nhiều thông tin về ngôi chùa này. Còn nếu bạn trực tiếp đến đây, chắc hẳn bạn sẽ thấy bất ngờ, vì giữa cảnh đồng không mông quạnh của vùng đất nông nghiệp Trảng Bom bỗng xuất hiện một ngôi chùa thật đồ sộ tọa lạc trên một diện tích rộng không tưởng: 6 ha.


Nguồn gốc ngôi Viên Giác Thiền tự



Chánh điện Viên Giác Thiền tự


Người khai sáng Viên Giác Thiền tự là đại đức Thích Giác Hiếu, vào năm 1996. Sau đây là tóm tắt giới thiệu của chính ông:


Sa môn Thích Giác Hiếu – người khai sáng Viên Giác Thiền Tự - vào chùa năm 9 tuổi, đến năm 19 tuổi xuất gia, năm 25 tuổi thọ giới tỳ kheo. Khởi tu từ Tổ đình Giác Nguyên (quận 4, TPHCM) nhưng sau đó thầy quyết định rời thành phố, nối bước Hòa thượng Bổn sư Thích Minh Nghĩa tu tập tại Tu viện Toàn Giác, gần thắng cảnh Giang Điền. Sau đó thầy khai khẩn đất đai gần Tu viện Toàn Giác để thành lập một thiền thất mang tên Viên Giác Thiền tự vào năm 1996. Lúc khởi đầu, đây là một thiền thất nhỏ trên mảnh đất 1,8 ha. Mãi 12 năm sau, Viên Giác Thiền tự mới được công nhận là cơ sở thờ tự Phật giáo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đến năm 2010 mới quy hoạch tổng thể lại, đến nay khuôn viên của Thiền tự đã lên đến 6 ha.


Vì sao có tên gọi Chùa Đèn Cầy?


Từ khi thành lập đến nay, mỗi tháng cứ đến chiều 18 rạng sáng 19, nhất là các dịp lễ lớn như Phật đản, Vu lan, vía Quan Âm lại có lễ hoa đăng. Khi ấy chùa đốt trên 10.000 ngọn đèn cầy để cúng dường chư Phật, cầu cho hòa bình thế giới cũng như mượn ánh sáng của ngọn đèn đển xua tan phiền não trong lòng người. Từ đó người dân đặt thêm cho Viên Giác Thiền tự cái tên Chùa Đèn Cầy.


Lễ hoa đăng ở Chùa Đèn Cầy. Ảnh: Facebook Chùa Đèn Cầy


Các công trình kiến trúc và điêu khắc quy mô ở Viên Giác Thiền tự


Chùa chia thành hai khu vực: nội viện và ngoại viện. Khu nội viện, chiếm diện tích hơn 2 ha, bao gồm chánh điện và các khu tăng xá, thiền thất… Khu ngoại viện có diện tích hơn 3 ha, bao gồm các công trình lớn như Lâm viên Đại bi chú, trong đó thể hiện 84 tôn tượng hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm trong cảnh giới Đại Bi Chú và giảng đường Thiện Tường có diện tích hơn 6.500 m2 với chiều dài 80 m và chiều ngang 80 m, chia làm 3 tầng. Tầng 1 được chia thành 12 gian (tượng trưng cho Thập Nhị Đại Nguyện của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát) trong đó được xây 48 thiền thất (tượng trưng cho 48 đại nguyện của Đức Phật A Di Đà). Tầng 2 thông với tầng 3 được sử dụng làm giảng đường và là nơi tổ chức các khóa tu tập, hành trì của tăng ni, Phật tử. Chiều cao của công trình này là 37 m (biểu trưng cho 37 phẩm trợ đạo). (Thông tin này lấy từ website của Viên Giác Thiền tự).



Cảnh quan trong chùa Đèn Cầy


Đặc biệt, tại chùa Đèn Cầy có tượng Quan Âm "Tứ diện tứ phương" nặng gần 480 tấn, cao 19 m, được tạc từ đá hoa cương trắng nguyên khối, được tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác nhận là tôn tượng bằng đá hoa cương cao nhất Việt Nam.


Tượng Quan Âm "Tứ diện tứ phương". Ảnh: Facebook Chùa Đèn Cầy


Chùa Đèn Cầy, một điểm du lịch?


Không biết ngẫu nhiên hay cố tình mà chùa Đèn Cầy tọa lạc rất gần một điểm du lịch quen thuộc của Đồng Nai là Thác Giang Điền, chỉ cách khoảng 2,5 km. Cảnh quan trong chùa tạo nên nhiều điểm nhấn hấp dẫn khách tham quan. Vì vậy, kết hợp tour du lịch thác Giang Điền với chùa Đèn Cầy là hợp lý. Vị trí của cả hai nơi này cách Sài Gòn chỉ 50 km lại càng thích hợp cho chuyến du lịch trong ngày.


Lại cũng không biết ngẫu nhiên hay cố tình mà chùa Đèn Cầy lại nằm trong một khu quy hoạch là khu đô thị Suối Son. Hiện giờ khu đô thị này chỉ mới đầu tư hạ tầng, còn khá hoang sơ, nhưng ít lâu nữa chưa biết sẽ thế nào.


Dường như đã chuẩn bị sẵn để thích ứng với tương lai, trên website của Viên Giác Thiền tự ghi Nội quy tham quan giống như một điểm du lịch. Chùa cũng có Fanpage trên Facebook, có cả kênh YouTube, nói chung là... làm truyền thông khá tốt!


Nội quy tham quan, trích từ website của Viên GiácThiền tự


Tui tới viếng Viên Giác Thiền tự vào một buổi sáng ngày bình thường, do đó không có dịp chứng kiến lễ hoa đăng với hàng vạn ngọn đèn cầy nhưng vẫn khá choáng ngợp với quy mô quá lớn của ngôi chùa. Chỉ riêng việc chạy xe vòng vòng ngoài khuôn viên chùa để... tìm cổng vô cũng đã mất khá nhiều thời giờ rồi (chùa quá rộng nên có nhiều cổng, ngày thường chỉ có một cổng mở để vào chùa). Tui cũng chỉ có thời gian tham quan một phần nhỏ ngôi chùa thôi.




Cảnh quan trong chùa Đèn Cầy


Cảm nhận chung là ngôi chùa được đầu tư xây dựng với khá nhiều tâm huyết. Đường nét kiến trúc cổ kính, trang nghiêm giữa cảnh thiên nhiên thoáng đãng tạo nên cảm giác thanh tịnh, nhẹ nhàng.


Trong đầu tui có chút lăn tăn khi nghĩ đến một số ngôi chùa làm kinh doanh ở ngoài kia, nhưng mà tui tin và mong rằng ở đây không phải vậy. Nghĩ bậy tội chết!


Phạm Hoài Nhân

Hồ Hòa Trung - Vẻ đẹp hoang sơ

đăng 01:57, 9 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm trên địa bàn 2 xã Hòa Liên và Hòa Ninh (huyện Hòa Vang), cách đường DT602 gần 7km và cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 20km, hồ Hòa Trung có không gian đẹp như một bức tranh với hồ nước, đồng cỏ xanh và nắng vàng. 

Đây là món quà thiên nhiên ban tặng cho những ai muốn khám phá nét hoang sơ, thích thả hồn phiêu lãng ở vùng quê bình dị và tận hưởng giây phút yên bình. Không chỉ có giá trị cung cấp nguồn nước tưới tiêu, sinh hoạt cho các vùng lân cận, hồ nước này hiện nay còn mang giá trị về du lịch. 

Cảnh đẹp hoang sơ của hồ Hòa Trung vào mùa nước cạn. (Ảnh: Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Hòa Vang cung cấp) 


Từ giữa cuối tháng 7 đến tháng 10 được xem là thời điểm lý tưởng để du khách tới hồ Hòa Trung. Lúc này nước bắt đầu cạn và lộ ra dòng suối phủ màu xanh của đồng cỏ trải dài tuyệt đẹp. Du khách có thể đến đây vào sáng sớm, khi những hạt sương còn đọng trên cỏ non hoặc buổi chiều tà để ngắm mặt trời buông sau dãy núi. Chính nhờ cảnh sắc thiên nhiên hữu tình này mà hồ Hòa Trung được nhiều bạn trẻ tìm đến chụp hình và cắm trại. 

Vào mùa thu, mặt hồ trong xanh, phẳng lặng được điểm xuyết những đảo nhỏ nổi tự nhiên càng làm tăng thêm vẻ đẹp hoang sơ của núi đồi. Trên dòng sông xanh ngắt, du khách còn có thể trải nghiệm chèo thuyền độc mộc do người dân nuôi cá bè làm ra. Ngoài ra, du khách có thể ngắm những đàn bò thong dong gặm cỏ mỗi sáng mai hay chiều tà gợi lòng vơi đi nỗi nhớ quê nhà. 

Tâm Như

Thác nước cao 35 m ở tây Trường Sơn

đăng 01:20, 8 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Thác Trăng Tà Puồng giữ nguyên vẻ hoang sơ nhờ ít người biết đến. 

Thác Trăng Tà Puồng nằm ở thôn Trăng Tà Puồng, xã Hướng Việt, huyện Hướng Hoá, cách TP Đông Hà khoảng 120 km. Từ trung tâm tỉnh lỵ Quảng Trị, du khách đi theo quốc lộ 9 về phía Tây khoảng 60 km, rẽ vào đường Hồ Chí Minh nhánh tây thêm 60 km, rồi đi bộ khoảng 20 phút đường rừng. Theo khảo sát của đoàn Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh, thác thứ nhất cao khoảng 30-35 m. 


Thác có lưu lượng nước lớn, duy trì quanh năm, nằm ở khu vực rừng nguyên sinh, có tiềm năng lớn khai thác du lịch mạo hiểm, thám hiểm... 


Xuôi về hạ nguồn thêm khoảng 20 phút đi bộ là đến thác thứ hai, có độ cao khoảng 10 m. Thác này rộng hơn thác thứ nhất. Từ xa, thác nước trông như làn tóc mây của thiếu nữ Vân Kiều. 


Đỉnh thác lộ ra nhiều ghềnh đá, dòng nước chảy trắng xoá. 


Chân thác, lòng suối tạo thành một hồ nước rộng, là chỗ tắm lý tưởng cho du khách. 


Tỉnh Quảng Trị đang kêu gọi nhà đầu tư vào khai thác du lịch tại khu vực này. 


Hàng ngày, một số nhóm du khách tự phát đến thác tham quan. Ngoài thác Trăng Tà Puồng, khu vực còn có hai hang động nhỏ, một động khô và một động ướt. 


Hoàng Táo 

Chiêm ngưỡng nghệ thuật kiến trúc độc đáo của đền Nguyễn Xí

đăng 01:01, 6 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trải qua gần 6 thế kỷ tồn tại, đền thờ Cương quốc công Nguyễn Xí ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc không chỉ là một di tích lịch sử, mà còn là một công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, hiếm có ở Nghệ An. 

Đền thờ Cương quốc công Nguyễn Xí được xây dựng vào năm 1467, dưới triều vua Lê Thánh Tông. Đền tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 1,6 ha, gồm nhiều công trình, như nghi môn, hạ, trung, thượng điện, tả, hữu vu, nhà bia, gác chuông... được bao bọc bởi núi Mão, núi Gươm, núi Cồn Thông, núi Voi rất uy nghi và khoáng đạt. 


Nguyễn Xí (1379 - 1465) là một trong những vị khai quốc công thần triều Lê, có công lớn trong việc đánh tan quân Minh giải phóng đất nước ở thế kỷ 15. Ông phụng sự 4 đời vua Lê: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông và đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng. Năm 1465, Nguyễn Xí qua đời, ghi nhớ công lao to lớn của ông, vua Lê Thánh Tông đã truy tặng ông tước Thái Sư Cương Quốc Công, cho lập đền thờ với sắc chỉ “quốc tế, quốc tạo” (nhà nước xây dựng, nhà nước tế). Trong ảnh: Nghi môn của đền Nguyễn Xí nhìn từ phía trong. 


Nghi môn của đền Nguyễn Xí là công trình đồ sộ gồm tam quan và đại đăng. Tam quan có 3 cửa, trong đó cửa chính có 3 tầng với những mái ngói cong vút. Trên tam quan từ cột trụ, đến lan can, mái vòm.. đều được trang trí, đắp nổi hình ảnh muông thú và nhiều loại hoa văn, phù điêu truyền thống. 


Hai cột đại đăng cao lớn được xây dựng đối xứng nhau qua cổng tam quan. Trong ảnh: Phần trên của 1 cột đại đăng 


Di tích đền Cương quốc công Nguyễn Xí đã được trùng tu tôn tạo nhiều lần, nhưng vẫn giữ nguyên được kiến trúc thời Lê. Trong ảnh: Tòa hạ điện của đền


 

 

Những đường bờ mái ngói các công trình đền Nguyễn Xí được đắp nổi nhiều hình rồng, phượng, nghê.. sinh động, nổi bật giữa nền trời xanh. 


Phía sau nhà hạ điện là 2 công trình gồm nhà bia và gác chuông được xây dựng theo kiểu tháp 3 tầng nhiều mái. Hai công trình này đối xứng nhau qua sân lộ thiên. 


Trong quần thể chính điện, trung điện là một ngôi nhà có kiến trúc đặc biệt nhất, được dựng nên từ 4 cột gỗ lớn, tạo thành ngôi điện 3 tầng 12 mái với các mặt cân xứng nhau. 


Bên trong nhà trung điện, phần gỗ có kết cấu phức tạp và được chạm trổ điêu khắc công phu. 


Trải qua gần 6 thế kỷ tồn tại, đền vẫn bảo lưu được không gian, kiến trúc cổ kính. Đền đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa năm 1990. Ngày nay đền Cương quốc công Nguyễn Xí là điểm đến hấp dẫn của du khách khi về với Cửa Lò, Nghi Lộc. 


Huy Thư

Làng đá cổ Lộc Yên

đăng 02:31, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Ở vùng trung du xứ Quảng có ngôi làng cổ Lộc Yên được ví như miền tiên cảnh với vẻ đẹp nên thơ, thanh bình với những ngôi nhà cổ hơn trăm tuổi cùng những bờ đá phủ mờ rêu xanh ôm lấy xóm làng, ruộng vườn trù phú. 

Làng cổ Lộc Yên thuộc xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Nơi đây thuộc vùng trung du, bán sơn địa nên đất đai phì nhiêu, khí hậu trong lành, con người bình dị, chất phác và mến khách. 

Xưa, Tiên Phước được gọi là vùng đất “thập ngũ tiên sa”, cái tên gắn với sự tích về chuyện 15 nàng tiên trên trời giáng trần xuống chơi ở xứ này. 15 nàng tiên ấy mỗi nàng ở một nơi, nay thành 15 địa danh có chữ “Tiên” ở đầu gồm: xã Tiên An, Tiên Cẩm, Tiên Cảnh, Tiên Châu, Tiên Hà, Tiên Hiệp, Tiên Lãnh, Tiên Lập, Tiên Lộc, Tiên Mỹ, Tiên Ngọc, Tiên Phong, Tiên Sơn, Tiên Thọ và thị trấn Tiên Kỳ.

Làng cổ Lộc Yên thuộc về “nàng” Tiên Cảnh, cái tên đẹp gợi tả về chốn bồng lai cảnh tiên và có lẽ cũng vì thế mà người ta thường hay gọi đây là “xứ tiên”. Làng tọa lạc trong một thung lũng đẹp với địa thế xung quanh được bao bọc bởi các dãy núi Rừng Cấm, Đá Bàn, Hố Chò, Rừng Gấm… Dưới chân các dãy núi ấy có sông, có suối, có cả những con mương “dẫn thủy nhập điền” chảy quanh co bao bọc lấy ngôi làng.

Lễ tế thành hoàng làng Lộc Yên. Ảnh: Thanh Hòa


Ngõ đá rợp bóng cây xanh. Ảnh: Thanh Hòa


Tường rào đá nhuốm màu rêu xanh. Ảnh: Thanh Hòa


Tường rào đá và ngõ đá là một nét đặc trưng của làng cổ Lộc Yên. Ảnh: Thanh Hòa


Khu vườn mang đậm nét khí hậu và thổ nhưỡng của vùng trung du bán sơn địa ở Lộc Yên. Ảnh: Thanh Hòa


Tường rào và cổng đá của một ngôi nhà vườn ở Lộc Yên. Ảnh: Thanh Hòa


Bờ kè và tường đá vừa tạo vẻ đẹp cho ngôi nhà vừa ngăn mưa lũ xói trôi đất. Ảnh: Thanh Hòa


Thấp thoáng cuối con ngõ dốc thoai thoải là bóng dáng một ngôi nhà cổ ẩn mình trong cây lá. Ảnh: Thanh Hòa


Những bậc đá xếp ngay ngắn tạo thành lối dẫn lên sân nhà. Ảnh: Thanh Hòa


Bờ rào được xếp khéo léo bằng những viên đá xanh to bản. Ảnh: Thanh Hòa


Hệ thống cửa bức bàn bằng gỗ trong ngôi nhà truyền thống làng Lộc Yên. Ảnh: Thanh Hòa


Kết cấu gỗ và mái ngói của nhà cổ Lộc Yên. Ảnh: Thanh Hòa


Làng cổ Lộc Yên hiện có nhiều ngôi nhà cổ làm bằng gỗ có tuổi đời hơn 100 năm. Ảnh: Thanh Hòa


Du khách tham quan một ngôi nhà cổ ở làng Lộc Yên. Ảnh: Thanh Hòa


Bòn bon, loại trái cây đặc sản nổi tiếng của làng cổ Lộc Yên. Ảnh: Thanh Hòa


Sản vật cây trái làng Lộc Yên. Ảnh: Thanh Hòa


Khung cảnh đồng lúa, vườn cây bình yên và nên thơ ở làng cổ Lộc Yên. Ảnh: Thanh Hòa


Người dân làng Lộc Yên xưa nay đa phần làm nông, ngoài trồng lúa, còn trồng nhiều giống cây ăn quả khác. Nhờ khí hậu mát mẻ, đất đai phì nhiêu nên các giống cây ăn quả hợp đất, hợp nước lên xanh tốt quanh năm, cho trái chín ngọt lành. Khắp làng đâu đâu cũng có vườn trái cây sum suê tươi mát với đủ thứ trái ngon vật lạ, mùa nào thức ấy như: bòn bon, dâu, cam, quýt, bưởi, chuối, mít, sầu riêng, thanh long, măng cụt, hồ tiêu, chè, quế, trầu, cau… cứ như thể cả một làng trái cây ở miệt vườn Nam bộ từ đâu bỗng hiện lên ở xứ này.

Lộc Yên không chỉ có trái ngọt, cây xanh mà còn có cả những con đường, ngõ nhỏ, bờ rào, cổng đá mờ rêu xanh mang nét phong trần của thời gian và sương gió. Từ bao đời nay, người làng Lộc Yên đã biết lấy đá núi, một thứ sản vật trời cho để xây đắp nên những công trình đơn sơ mà tuyệt đẹp. Đá núi được người dân khéo léo xếp thành cổng ngõ, bờ rào, lối đi thẳng tắp, vững bền, vừa tạo nên nét duyên cho ngôi nhà, khu vườn miệt trung du, vừa ngăn mưa gió xỏi lở đất. Trải qua thời gian, đá cứ thế quấn quýt gắn bó với phận người Lộc Yên để rồi mòn nhẵn theo từng bước chân đi hoặc xanh mờ bóng rêu theo năm tháng, gió sương phôi pha dãi dầu.

Đá chắn gió, ngăn mưa… Đá giữ đất, giữ vườn, giữ nhà, giữ ruộng… Nhờ đó mà Lộc Yên nay vẫn còn gần chục ngôi nhà cổ có tuổi đời hơn trăm năm. Nhiều ngôi nhà bề thế làm toàn bằng gỗ mít, thứ cây ăn trái trồng trong chính vườn nhà cho chất gỗ vàng ươm, rắn chắc, càng lâu năm gỗ càng lên nước đẹp và bền chẳng kém gì tứ thiết: đinh, lim, sến, táu. Chẳng thế mà trước năm 1975, ông Ngô Đình Diệm, tổng thống của chế độ Sài Gòn cũ, từng hai lần gạ mua ngôi nhà cổ đẹp nhất ở Lộc Yên, nhưng cả hai lần gia chủ đều nhất quyết không bán.

Thời gian dẫu có phôi pha, cuộc sống dẫu có ồn ào đâu đó nơi phố thị, nhưng Lộc Yên, miền tiên cảnh xứ Quảng vẫn vẹn nguyên với một màu xanh viên mãn, thanh bình và lãng mạn để trở thành chốn ghé thăm cho những ai yêu thích vẻ đẹp thiên nhiên đồng quê thanh vắng, hữu tình và thắm đượm tình quê.

Bài và ảnh: Thanh Hòa

Chùa SêRây KroSăng

đăng 01:20, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa SêRây KroSăng (Cà Săng) tọa lạc tại TX. Vĩnh Châu được xây dựng khá khang trang. Được biết, chùa đã trải qua 8 đời đại đức, trong đó có nhà sư thượng tọa Lý Phi – một vị sư có ảnh hưởng rất lớn tới bà con Khmer trong vùng, có quá trình tham gia cách mạng và ông có thể đọc các pho sách chữ Phạn một cách thông thạo.

Chánh điện của chùa được xây dựng trên nền đất cao ráo, bên trong là pho tượng Phật ngồi uy nghi trên đài sen, trên vách tường là những bức bích họa lộng lẫy vẽ cuộc đời đức Phật. Không gian xung quanh thật thanh tịnh. 

Chùa SêRây KroSăng (Cà Săng) tọa lạc tại TX. Vĩnh Châu. Ảnh: Pon Lư 


Đối diện cổng chùa là dãy nhà Sala, bên trên nóc có gắn biểu tượng hình người ngư dân cầm bánh lái tàu ngó ra hướng biển. Qua biểu tượng này cho ta thấy ngôi chùa Cà Săng không chỉ là một trung tâm văn hóa, tôn giáo của người Khmer quanh vùng mà thông qua ngôi chùa còn biết về đặc trưng văn hóa của vùng đất này. Đó là lễ cúng biển (Chrôi rum check) được tổ chức hàng năm vào ngày 14, 15 (âm lịch). Đây là một lễ hội đã có từ lâu đời và chỉ có ở vùng đất Vĩnh Châu, nơi bà con sống chủ yếu bằng nghề đi biển và trồng trọt. 

Người xưa kể lại cách đây lâu lắm rồi, Chrôi rum check là một sóc nhỏ có nhiều người sống bằng nghề trồng rẫy và chài lưới ven biển. Lễ cúng biển (còn gọi là Phước biển) là nhằm để tạ ơn biển cả đã ban cho con người nguồn hải sản quý giá và nguyện cầu cho người đi biển được thuận buồm xuôi gió, đánh bắt được nhiều cá tôm, đồng thời để tưởng niệm những người đi biển không may bị nạn “không về”. 

Ông Tà Hu, một nhà sư người Khmer đã dựng một ngôi tháp trên giồng đất cao hướng ra biển gần chùa Cà Săng, thuộc ấp Đôn Chếck, Vĩnh Châu để mọi người trong sóc đến thắp hương tưởng niệm người đã khuất. Ông chọn ngày rằm tháng hai âm lịch (nhằm rằm tháng 11 của người Khmer) là ngày lập đàn làm phước, vì thời điểm này là lúc trời yên, biển lặng, ghe thuyền của ngư dân nào trở về cũng đầy ắp cá tôm. 

Làng quê biển Chrôi rum check giờ đây đã nhiều đổi mới, thôn xóm mở rộng hơn xưa hướng về phía biển, và từ lúc nào lễ Phước biển trở thành một phong tục của người dân Khmer Vĩnh Châu. Ngôi tháp xưa giờ không còn nguyên vẹn nữa nhưng dấu vết còn lại như để hàng ngày, hàng giờ đánh thức lòng người dân biển nhớ về tổ tiên đã khai sáng nghề biển cho họ. 

Lê Trúc Vinh

Khu sinh thái văn hóa Thái Lai: Nét đặc trưng của làng quê Hòa Vang

đăng 01:17, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trải dài bên bờ bắc sông Túy Loan, thuộc thôn Thái Lai, xã Hòa Nhơn, Khu sinh thái văn hóa Thái Lai có hệ sinh thái nhân tạo phong phú, bản sắc văn hóa đa dạng mang tính đặc trưng của làng quê Hòa Vang nói riêng và của Trung Bộ xưa nói chung. Nơi đây có đình Thái Lai gần 300 năm tuổi, đã được công nhận di tích văn hóa - lịch sử cấp thành phố vào năm 2010. 

Thôn Thái Lai vẫn còn lưu giữ được hồn quê mộc mạc, thanh bình. 


Đình làng Thái Lai là nơi hội tụ, sản sinh những giá trị truyền thống của làng, hình thành nhiều phong tục tốt đẹp có sức lan tỏa lớn, được xã hội ghi nhận và đánh giá cao. Đặc biệt, men theo làng là hệ thống đường lát đá, hai bên hàng rào được trồng chè tàu cùng hệ thống nhà cổ Tích Thiện Đường, nhà thờ tộc Đỗ Hữu… tạo nên khung cảnh làng quê mộc mạc, thanh bình.

Nhà cổ Tích Thiện Đường có tuổi đời trên 200 năm, nằm trong khuôn viên rộng khoảng 3.500 m2, được bao quanh bởi những rặng tre bên bờ sông uốn quanh xã Hòa Nhơn. Ngôi nhà được thiết kế theo lối kiến trúc thuần Việt, kiểu 3 gian 2 chái, làm hoàn toàn bằng gỗ mít bởi những đôi tay tài hoa của những người thợ làng mộc Kim Bồng trong suốt 3 năm. Trong nhà vẫn còn lưu giữ nhiều vật dụng quý có giá trị văn hóa như: nồi đồng, cối xay bột, cối giã gạo, bộ trường kỷ, siêu nước, bộ ấm chén, bàn là, hay những tấm hoành phi được treo ngay ngắn, trang trọng.


Ngoài ba gian của ngôi nhà cổ, khu vườn rộng gần 5.000 m2 cũng được chủ nhà trồng cây ăn trái, trưng bày các vật dụng làm nông nghiệp. Khung cảnh nơi đây gợi cho du khách những hình ảnh rất quen thuộc, gần gũi của làng quê nông thôn trước kia. Đến đây, du khách như được trở về với tuổi thơ, với văn hóa truyền thống và cội nguồn khi đắm chìm trong không gian xanh mướt, thơ mộng của làng quê sông nước.

Hiện thành phố đã có chủ trương phát triển du lịch đường thủy nội địa, khớp nối Thái Lai vào mạng lưới du lịch đường sông, trong đó Thái Lai là điểm cuối theo hướng từ sông Hàn lên sông Túy Loan. Để Thái Lai trở thành một khu sinh thái văn hóa mang đậm nét vùng quê Hòa Vang, UBND huyện Hòa Vang đang kêu gọi các nhà đầu tư liên doanh, liên kết với các hộ dân trong thôn hoặc hỗ trợ người dân vay vốn đầu tư các hạng mục như: nhà trưng bày các vật dụng sinh hoạt hằng ngày của nông dân Hòa Vang ở thế kỷ trước (nông cụ); khu ẩm thực; khu vui chơi, giải trí, sinh hoạt văn hóa tập thể nhằm tái hiện các trò chơi dân gian: đập niêu, bịt mắt bắt vịt, bắt cá...; đồng thời đầu tư xây dựng homestay và hệ thống kênh mương bao quanh làng Thái Lai, phục vụ chèo thuyền quanh vườn trái cây kết hợp với câu cá.

Bài và ảnh: Gia Huy

'Little Japan' ở Sài Gòn

đăng 00:38, 3 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Những năm 2000, người Nhật đến TP HCM làm việc và sống tập trung thành một cộng đồng dân cư ngoại quốc - nơi được mệnh danh là "Little Japan".

Con hẻm số 15B đường Lê Thánh Tôn (quận 1) 20 năm trước chỉ có vài quán ăn Nhật Bản. Đối diện hẻm này là những khu căn hộ cao cấp nơi các chuyên gia và doanh nhân Nhật Bản sinh sống. Theo thời gian, những hàng quán quanh đây mọc lên ngày càng nhiều để phục vụ người Nhật xa xứ, hình thành một "Little Japan" (Nhật Bản thu nhỏ) ngay trung tâm thành phố. 

Sau này, TP HCM còn có một cộng đồng người Nhật khác nhỏ hơn sinh sống ở đường Phạm Viết Chánh, quận Bình Thạnh. Từ khu này đến các nhà máy ở Bình Dương, Đồng Nai gần hơn ở trung tâm.

Ngày nay, "Little Japan" đã mở rộng thành một khu phố gồm 300 m đường Lê Thánh Tôn, nối với đường Thái Văn Lung, Thi Sách, Ngô Văn Năm. Hàng quán ken sát mặt đường lớn, len lỏi trong ngóc ngách. "Đặc sản" của phố Nhật là ẩm thực xứ sở hoa anh đào, quán rượu, cà phê, khách sạn, cửa hàng tiện lợi, spa, tiệm massage. Những biển hiệu viết bằng chữ tượng hình, đèn lồng đỏ, cánh cửa gỗ khiến du khách đang lạc vào nơi nào đó giữa Nhật Bản. 

Con hẻm 8A Thái Văn Lung trong khu phố Nhật giăng đèn rực rỡ. Phố Nhật trở thành điểm đến ăn uống, giải trí phổ biến của du khách xứ "Mặt trời mọc" đến Sài Gòn. Ảnh: Tâm Linh. 


Nếu như phố Tây, phố Mã Lai sôi động với những hàng quán mở rộng cửa, phát nhạc ồn ã, thậm chí khách ngồi tràn ra lòng đường, phố Nhật ngược lại. Không có cảnh đông đúc, khách đi qua chỉ nghe thấy tiếng bước chân, tiếng nói chuyện, tiếng mời chào. Những âm thanh xập xình, tiếng nấu nướng, ăn uống, cười nói sẽ nằm sau cánh cửa che rèm, đóng im lìm.

Hầu hết những hàng quán ở "Little Japan" đều do người Nhật mở. Chủ quán có thể là người định cư ở Việt Nam, một số vẫn sinh sống tại Nhật và giao cho người Việt quản lý kinh doanh. 

"Ông chủ là đầu bếp người Nhật sang đây mở nhà hàng, dạy các anh em ở đây nấu, chứ chẳng mấy ai được đi Nhật học chuyên nghiệp", Diệp Nhật Huy (21 tuổi), đầu bếp của một quán mì ramen trong hẻm 15B Lê Thánh Tôn, chia sẻ.

Không gian hàng quán tại "Little Japan" mang phong cách đơn giản, ấm cúng, đậm nét văn hóa xứ phù tang, chứ không quy mô và bài trí sang trọng như một số chuỗi nhà hàng Nhật do người Việt đầu tư trong thành phố.

Bước vào một quán mì ramen vào giờ ăn tối, thực khách có thể nghe thấy những tiếng húp mì xì xụp át cả tiếng xèo xèo từ bếp sau quầy bar. Nổi tiếng với những quy chuẩn lịch sự trên bàn ăn nhưng khi ăn, người Nhật lại có văn hóa húp mì khác hẳn. Họ cho rằng phát ra tiếng động khi ăn là hành động thể hiện cảm giác ngon miệng của thực khách. "Từ bé tôi thấy gia đình ăn như vậy nên thành thói quen. Khi gắp mì nóng thì thổi nhẹ, nhưng cho vào miệng thì phát ra tiếng", một thực khách Nhật vui vẻ trả lời sau khi dùng xong tô mì. 

Mì ramen là món ăn bình dân trong khu phố Nhật, có giá trung bình từ 100.000 đồng một tô. Một số nguyên liệu tại quán như gia vị, mì, rau củ ngâm thường xuất xứ Nhật Bản, bên cạnh các món tươi sống mua ở địa phương, khiến món ăn không quá lệch vị. Ảnh: Tâm Linh. 


Những người Nhật làm việc lâu dài ở TP HCM thường tập trung sống quanh "Little Japan". Đa số thuê nhà bình dân, và chuộng căn hộ dịch vụ trong các khách sạn hoặc chung cư. Phòng khách sạn như một căn hộ mini, đầy đủ tiện nghi như quầy bếp, tủ lạnh... giá từ khoảng 500.000 đồng một đêm. 

Hàng quán trong phố Nhật mở cửa đón khách theo khung giờ nhất định dựa trên nhịp sinh hoạt của cư dân. Theo một lễ tân khách sạn trong hẻm 6C2 đường Thái Văn Lung, người Nhật thường thức giấc đi làm từ khoảng 6h, xe công ty đưa tới Đồng Nai, Bình Dương. Khoảng 19h - 20h, họ về lại nhà, đi ăn uống tới 22h khuya mới trở về phòng. Đối với người làm trong trung tâm thành phố, họ chỉ ghé vào giờ ăn trưa. Cuối tuần, họ hay tổ chức hẹn hò bạn bè tại quán rượu.

"Người Nhật sống ở Việt Nam thường đi ăn ở mấy tiệm quanh đây. Họ đi làm từ sáng tới tối, mặc nguyên đồ sơ mi vào ăn xong mới về nghỉ", nhân viên một quán ăn cho biết. 

Ban ngày, khu phố trở thành "phim trường" vì có nhiều người đến quay phim, chụp ảnh. Ảnh: Tâm Linh. 


Đến với góc Nhật Bản giữa Sài Gòn, du khách sẽ có trải nghiệm khác nhau tùy thời giờ. Ban ngày, khu phố im ắng là nơi tham quan, chụp ảnh quen thuộc của nhiều bạn trẻ. Các quán ăn mở buổi trưa thường từ 11h đến 14h. "Little Japan" chỉ bắt đầu nhộn nhịp từ 17h, với những tiếng "Irasshaimase" (nghĩa là "Kính chào quý khách!" liên tục vang lên trong hẻm nhỏ. Hàng quán thường mở đến 22h, các quán bar có thể hoạt động đến 1h sáng.

Ngày nay, "Little Japan" còn có thêm các địa chỉ ẩm thực nước khác như Việt, Hàn, Trung Quốc, Thái Lan, Âu Mỹ... làm đa dạng hương vị bữa ăn cho người Nhật đang sống ở đây và du khách.

Tâm Linh

Độc đáo nghĩa địa cá Ông ở Hà Tĩnh

đăng 00:28, 3 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Miếu thờ Đức Ngư Ông ở thôn Phúc Hải, xã Cẩm Nhượng, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) có hàng trăm ngôi mộ cá. Gặp cá Ông lụy (chết) trong những lần đi biển hoặc dạt vào bờ đều được ngư dân chôn cất bằng nghi lễ tôn kính nhất…

Miếu thờ Đức Ngư Ông ở thôn Phúc Hải, xã Cẩm Nhượng, Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) - nơi có nghĩa địa cá Ông với hàng trăm ngôi mộ


Ông Nguyễn Hữu Phương - Trưởng ban lễ nghi đền, miếu xã Cẩm Nhượng cho biết: Tục thờ cúng cá Ông tương truyền được biết đến từ thời Nguyễn với các câu chuyện liên quan tới việc cá Ông cứu mạng Vua Gia Long Nguyễn Ánh khi chạy trốn quân Tây Sơn. Khi thắng trận, Vua Gia Long đã phong tặng cá Ông là Nam Hải Đại tướng quân và cho lập lăng miếu thờ cúng, sắc phong.

Miếu thờ Đức Ngư Ông được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2013


Theo ông Phương thì ngày xưa, thuyền nhỏ nên với ngư dân xã Cẩm Nhượng ra khơi gặp lốc tố mịt mù, hiểm nguy là điều khó tránh khỏi, nhưng với niềm tin vào sự giúp đỡ của cá Ông nên ngư dân yên tâm dong thuyền đi đánh bắt thủy hải sản.

Ông Nguyễn Hữu Phương - Trưởng ban lễ nghi đền, miếu xã Cẩm Nhượng thường xuyên đến chăm sóc miếu thờ Đức Ngư Ông


Cá Ông được ngư dân xem là vị thần bảo trợ tinh thần cho các ngư dân. Nhiều câu chuyện cá Ông cứu người được ngư dân lưu giữ, truyền tai nhau mang màu sắc ly kỳ, huyền bí...

Ví như giữa lúc giông tố mù trời, chính loài cá Ông thường xuất hiện để đưa ngư dân cũng như thuyền bè vào bờ an toàn. Ở xã Cẩm Nhượng, miếu thờ Đức Ngư Ông được người dân lập cách đây gần 300 năm.

Chiếc kiệu rước có tuổi đời hàng trăm năm vẫn được người dân xã Cẩm Nhượng lưu giữ


Bao đời nay, mỗi khi gặp xác cá Ông trên biển hoặc xác cá Ông dạt vào bờ, ngư dân xã Cẩm Nhượng đều tổ chức chôn cất cẩn thận.

Theo phong tục, người chủ tàu, thuyền phát hiện Ông “lụy” được coi là người con trai cả của Ông. Dù đang đánh bắt ở đâu, khi phát hiện Ông “lụy”, ngư dân cũng phải tìm cách đưa Ông vào bờ để làm đám tang.

Hai Ông “lụy” bờ được ngư dân phát hiện và làm lễ mai táng vào đầu năm 2019


Khi đưa xác Ông vào bờ, chủ tàu, thuyền phải báo cho Ban quản lý miếu thờ Đức Ngư Ông và chính quyền địa phương để làm các thủ tục mai táng.

Khi đưa Ông vào bờ, việc đầu tiên là tắm rửa cho Ông sạch sẽ bằng rượu, quấn vải đỏ rồi đặt Ông lên bàn trong miếu thờ để làm lễ. Các nghi lễ mai táng Ông được Ban Quản lý miếu thờ Đức Ngư Ông và chủ tàu, thuyền thực hiện như chôn cất một con người.

Khoảng 3 năm sau khi chôn, chủ tàu, thuyền sẽ làm lễ cải táng cho Ông, lúc này mới mãn tang.

Khu mộ cá Ông sau khi cải táng được quy tập


Ông Phương cho biết: Sau khi mai táng Đức Ông, người chủ tàu, thuyền phải chịu tang Ông, làm các nghi thức cúng cùng 3, 49, 100 ngày, giỗ đầu…

Lễ cúng cá Ông cũng đơn giản hơn, người dân làm bình thường như cúng người thân trong nhà.

Khu nghĩa trang cá Ông là nơi ngư dân thường xuyên tới thắp hương trước khi đi biển


Ngoài ra, vào những ngày rằm, mùng 1 âm lịch hàng tháng, chủ tàu, thuyền đều ra mộ và mang theo lễ vật là rượu, trầu cau, hoa, trái cây, nhang dâng lên Ông, mong Ông phù hộ sức khỏe, bình an.

Trên mỗi ngôi mộ đều được gắn bia ghi ngày mất của Đức Ông


Ông Phương bảo, miếu thờ Đức Ngư Ông Cẩm Nhượng là nơi có số lượng Ông tìm về “lụy” nhiều nhất ở dọc bãi ngang Hà Tĩnh. Ngư dân miền biển cho rằng, chuyện cá Ông dạt vào bờ là một điềm lành cho làng biển. Đặc biệt, vài năm trở lại đây, có năm cả chục Ông “lụy” bờ.

“Tuy nhiên, nguyên nhân khiến Ông “lụy” bờ nhiều một phần do ngư dân sử dụng một số phương tiện, ngư cụ có tính hủy diệt”, ông Phương chia sẻ.

Hằng năm, cứ vào 8/4 âm lịch, xã Cẩm Nhượng tổ chức lễ cầu ngư; ngày 12/8 và 25/10 âm lịch là ngày kỵ Đức Ngư Ông.

Lễ hội cầu Ngư của ngư dân Cẩm Nhượng


Từ một sinh vật khổng lồ sống dưới biển khơi, cá voi được huyền thoại hóa qua chuyện cứu người gặp nạn trên biển và trở thành vật linh thiêng đối với người đi biển ở Cẩm Nhượng.

Việc thờ cá Ông đối với ngư dân là trách nhiệm và bổn phận và cũng là một cách đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả.

Nam Giang

1-10 of 20