Di tích, danh thắng, những nơi để ngắm nhìn và tận hưởng.

Bài mới

  • Điện gió Bạc Liêu - đón gió từ biển khơi Trên đường ra Trung, khi đi ngang Tuy Phong (Bình Thuận) chắc là bạn đã từng nhìn thấy xa xa những trụ quạt gió khổng lồ đang xoay giữa trời ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Hoang sơ suối Chí Những ngày nắng nóng, về suối Chí len lỏi trong những cánh rừng tự nhiên, đắm mình trong dòng nước mát lạnh... du khách sẽ quên đi những mệt nhọc ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Văn Miếu Trấn Biên Kể từ khi xây dựng vào năm 1715, Văn Miếu Trấn Biên (Biên Hòa - Đồng Nai) đã trở thành trung tâm đào tạo nhân tài của xứ Đàng Trong trong ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Xứ Đoài đệ nhất đình So Với một địa thế phong thủy độc đáo cùng nét kiến trúc cổ tiêu biểu, đình So (làng So, xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, Hà Nội) được mệnh danh ...
    Được đăng 08:05, 25 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tượng đất cổ chùa Nôm Trải qua hơn 1000 năm lịch sử, Chùa Nôm (xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) vẫn còn lưu giữ khoảng gần 100 pho tượng cổ làm bằng ...
    Được đăng 07:44, 25 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 28. Xem nội dung khác »


Điện gió Bạc Liêu - đón gió từ biển khơi

đăng bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật ]

Trên đường ra Trung, khi đi ngang Tuy Phong (Bình Thuận) chắc là bạn đã từng nhìn thấy xa xa những trụ quạt gió khổng lồ đang xoay giữa trời xanh. Đó là nhà máy điện gió quy mô lớn đầu tiên của Việt Nam. Hiện nay, bên cạnh điện gió Tuy Phong đã có thêm vài dự án điện gió lớn khác ở miền Bình Thuận - Ninh Thuận, tận dụng lượng gió phong phú của khu vực này.


Ở phía Nam, tận Bạc Liêu, có một nhà máy điện gió khác vừa mới hoàn thành hồi tháng 1/2016: nhà máy điện gió Bạc Liêu, tại bãi bồi ven biển xã Vĩnh Trạch Đông, TP Bạc Liêu. Dự án có quy mô công suất 99,2MW, bao gồm 62 trụ turbine gió, công suất mỗi turbine là 1,6MW, điện năng sản xuất toàn dự án khoảng 320 triệu kWh/năm. Tổng mức đầu tư của dự án là 5.200 tỉ đồng, diện tích đất xây dựng 500 ha.



Điểm khác so với điện gió Tuy Phong là nơi đây các turbine gió nằm xa ngoài biển.Giữa biển khơi, 62 turbine gió xoay đều trong khung cảnh trời nước bao la tạo nên một cảnh tượng vừa nên thơ vừa hùng vĩ. Và thú vị hơn nữa là đơn vị quản lý nhà máy tổ chức bán vé tham quan để khách du lịch có thể đi theo các cầu dẫn ra biển khơi bềnh bồng để ngoạn cảnh, chụp hình cùng các turbine gió, 20.000 đ/người thôi.  





Mỗi trụ turbin như vậy cao 80 met, đường kính 4 met. Mỗi turbine có 3 cánh quạt, mỗi cánh dài 42m, làm bằng nhựa đặc biệt như cánh máy bay, có một hệ thống điều khiển giúp cánh quạt tự gập lại để tránh bão lớn bất ngờ.





Hơi mỏi chân và có lẽ với một số người thì hơi chóng mặt, vì muốn đi cho thỏa chí thì phải đi bộ vài cây số giữa mênh mông biển, nhưng sẽ là trải nghiệm cực kỳ thú vị. Ờ, giống như đang thi triển môn võ công thủy thượng phiêu bước đi trên mặt nước ấy mà, và bát ngát chung quanh là những người khổng lồ quạt gió đang vươn cánh của mình làm xao động trời xanh.



Từ TP Bạc Liêu đến đây khoảng 18 km đường bộ, đường chim bay khoảng 10 km, nhưng vì các turbine gió quá cao nên từ rất xa ta đã có thể thấy rồi. Một trong những đường đi đến đây là đi theo đường Cao văn Lầu thẳng ra hướng biển tới Quan Âm Phật Đài, rồi tiếp tục rẽ trái theo con đường ven biển (đường nhỏ, hẹp, mới làm) khoảng 10 km nữa sẽ đến nơi. Chú ý rằng vì khu vực nhà máy điện gió này rất rộng nên khi đi ven biển vài km thì bên tay phải bạn đã thấy các turbine gió rồi, nhưng dọc đường ấy có rào chắn và được bảo vệ, không cho vô. Bạn phải đi tiếp đến chừng nào thấy có điểm bán vé tham quan mới vô được.



Nhìn gần, các trụ trubine to lắm đó


Ra đây thú vị nhất là lúc hoàng hôn. Già già như tui thì đi bộ vài cây số ra giữa biển đón gió lộng, ngắm biển khơi, ngắm những turbine gió hùng vĩ giữa trời. Tuổi teen thì ra đây... ôm nhau chụp hình, tóc gió tung bay. Bạn tùy ý chọn nhá!



Phạm Hoài Nhân



Hoang sơ suối Chí

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Những ngày nắng nóng, về suối Chí len lỏi trong những cánh rừng tự nhiên, đắm mình trong dòng nước mát lạnh... du khách sẽ quên đi những mệt nhọc, ưu phiền bộn bề.

Dòng suối khá dài nên nhiều gia đình tự chọn cho mình điểm tắm riêng biệt mà không phải giao lưu bất đắc dĩ với những nhóm du khách khác - Ảnh: Võ Quý Cầu 


Suối Chí nằm ở xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, trên trục tỉnh lộ TP Quảng Ngãi - Nghĩa Hành - Ba Tơ, cách TP Quảng Ngãi vài chục kilômet. 

Nếu xuất phát từ TP lúc sáng sớm, bạn có thể dừng chân ở thị trấn Chợ Chùa ăn lót dạ, nhâm nhi tách cà phê. Sau đó, vượt qua đèo Eo Gió ngắm nhìn hoa súng nở bên hồ nước dưới chân đèo, rồi thẳng một mạch vượt cầu Cộng Hòa qua xã Hành Thiện vào địa phận xã Hành Tín Đông tìm đến suối Chí nằm ở thôn Trường Lệ. 

Còn nếu xuất phát từ thị trấn Mộ Đức, vượt đèo Đồng Ngỗ hay từ Đức Phổ theo ngã ba Thạch Trụ vào địa phận xã Ba Liên (huyện Ba Tơ) rồi ngược xuống thì gần hơn nhiều. 

Từ tỉnh lộ đi vào suối Chí, có con đường bêtông dài non 1km đủ sức cho xe du lịch, xe máy đi lại. Nhìn quanh hai bên đường thấy núi rừng xanh thắm. Trong tháng 6 trời có mưa dông, cây rừng phủ đầy những đọt non. 

Đi hết đoạn đường bêtông là điểm dừng xe thoáng rộng ven dòng suối. Khách cứ việc thư giãn, ngắm mây trời, núi rừng hoang sơ trước khi đắm mình trong dòng nước mát lạnh. 

Suối Chí có thừa sự hoang sơ, nhưng độc đáo hơn là đoạn suối mà du khách có thể tắm kéo dài trên 1,1km len lỏi trong rừng, nên bạn tha hồ chọn lựa điểm dừng chân mà không ngại phải giao lưu bất đắc dĩ với những nhóm du khách khác… 

Len lỏi trên lối mòn ngược đường lên thác Giê, du khách băng qua những cánh rừng tự nhiên mát rượi - Ảnh: Võ Quý Cầu 


Thi thoảng du khách sẽ gặp những cây gỗ lớn ba người ôm không xuể - Ảnh: Võ Quý Cầu 


Phía trên đỉnh thác Giê - Ảnh: Võ Quý Cầu 


Suối Chí nằm trong khu rừng tự nhiên thuộc dự án khôi phục quản lý rừng bền vững (KFW6) do Cộng hòa liên bang Đức tài trợ rộng trên 1.000 ha. Nơi đây có Núi Lớn - một trong những địa danh lịch sử gắn liền với đội du kích Ba Tơ oai hùng. 

Đội du kích Ba Tơ từ núi Cao Muôn trước tháng 8-1945 tiến về Trung Châu lập căn cứ Hoàng Hoa Thám, trước khi tỏa về đánh chiếm đồng bằng, góp phần cho Cách mạng tháng 8-1945 thành công ở Quảng Ngãi. 

Tại ven dòng suối có xưởng công binh và trên đại ngàn hoang sơ vẫn còn dấu tích nơi tập luyện của đoàn quân du kích. 

Nhiều bạn trẻ thường không dừng lại ở điểm này (nơi thời chống Pháp đội du kích Ba Tơ đặt xưởng công binh) mà theo con đường mòn đi tiếp về phía đông, băng qua những cánh rừng để cảm nhận được hoang sơ của đại ngàn, nghe tiếng chim hót, nghe dòng nước lúc ầm ào, lúc róc rách bên tai. 

Nhiều người cứ trầm trồ với cây kơnia, cây chuồng hàng trăm năm tuổi, ba người ôm không xuể hoặc thi thoảng bắt gặp cây sâm cau, cây hoa lá mọc tự nhiên bên rừng. 

Nhiều du khách miền biển cũng ngỡ ngàng khi mục sở thị cây dầu rái, nhựa có màu ngà mà dân trong vùng khai thác chuyển về biển để trám trít ghe, thúng. 

Đi chừng vài chục phút ven suối vượt qua hơn 1km là dòng thác Giê. Thác cao khoảng 24m quanh năm tung bọt nước trắng xóa. Mùa hạ, mặt trời lên ánh nắng chiếu vào làm dòng nước trắng bạc như sợi tơ trời. 

Bên trên lối mòn dẫn lên đầu ngọn thác là những tảng đá và dòng nước trong ngàn năm reo nhạc. Du khách dừng bước ngồi xả hơi bên tảng đá trước khi thả mình xuống dòng nước trong mát lạnh. 

Nhiều người lấy dây rừng cột chặt những lon bia và nước suối thả xuống dòng nước ngâm chừng 10 phút rồi mang lên xài càng cảm nhận được dòng nước mát trong. 

Cũng do dòng suối hoang sơ, không hề bán vé ra vào và không có dịch vụ nào nên du khách đến nơi này phải tự mang theo đồ ăn thức uống. Sau khi tắm mát, nhấm nháp thức ăn cùng người thân, bè bạn, du khách có thể mắc võng bên dòng suối đánh một giấc say giữa trưa hè. 

Chiều xuống, khi đại ngàn vắng lặng, khách ngược đường trở về sẽ cảm nhận được nhiều hơn về sự hoang sơ của suối, của núi rừng và thường chẳng ai quên hẹn ngày tái ngộ. 

Những vụng nước nhỏ, nơi du khách tha hồ tắm mát - Ảnh: Võ Quý Cầu 


Những phút thư giãn thú vị ở suối Chí - Ảnh: Võ Quý Cầu 


Ông Phan Bình - bí thư kiêm chủ tịch UBND huyện Nghĩa Hành - cho biết suối Chí đã nằm trong quy hoạch du lịch của tỉnh. Hiện địa phương đang mời gọi đầu tư. 

Rút kinh nghiệm từ nhiều điểm du lịch khác, huyện chú trọng bảo vệ sự hoang sơ của dòng suối, tăng cường việc bảo vệ rừng tự nhiên. Tuyệt đối không để việc xây dựng phá vỡ cảnh quan môi trường. 

Theo ông Đào Thành Công - chủ tịch UBND xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, du khách đến tham quan suối Chí ngày càng nhiều nên yêu cầu khách đảm bảo vệ sinh môi trường. 

Riêng địa phương cũng đã đồng ý cho một hộ gia đình giữ xe cho khách và tham gia dọn vệ sinh trong khu vực. Mùa nắng nóng, du khách đến càng nhiều nên hằng tháng Đoàn thanh niên trong xã đều tổ chức dọn vệ sinh. 

VÕ QUÝ CẦU

Văn Miếu Trấn Biên

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Kể từ khi xây dựng vào năm 1715, Văn Miếu Trấn Biên (Biên Hòa - Đồng Nai) đã trở thành trung tâm đào tạo nhân tài của xứ Đàng Trong trong thời kỳ phong kiến. Ngày nay, Văn Miếu Trấn Biên là một địa điểm du lịch lý thú để giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của người Việt xưa trên bước đường khai phá vùng đất phương Nam. 

Năm 1715, sau khi lập nên dinh Trấn Biên, nhằm có nơi để bảo tồn, phát huy và tôn vinh các giá trị văn hóa - giáo dục của dân tộc Việt trên vùng đất mới, Minh vương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) đã sai Trấn thủ Nguyễn Phan Long và Ký lục Phạm Khánh Đức xây dựng Văn Miếu Trấn Biên. Đây chính là Văn Miếu đầu tiên được xây dựng tại xứ Đàng Trong, có trước cả Văn Miếu Huế (1808).

Sách Đại Nam nhất thống chí, bộ sách dư địa chí Việt nam viết bằng chữ Hán, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn vào thời vua Tự Đức, có viết: "Văn Miếu Trấn Biên được xây dựng trên thế đất đẹp, phía Nam trông ra sông Phước Giang, phía Bắc dựa vào núi Long Sơn, là một nơi cảnh đẹp thanh tú, cỏ cây tươi tốt. Bên trong rường cột chạm trổ, tinh xảo...". 

Cổng vào Văn Miếu Trấn Biên ở thành phố Biên Hòa, Đồng Nai.


Cổng Đại Thành Môn của Văn Miếu Trấn Biên.


Toàn cảnh Văn Miếu Trấn Biên nhìn từ trên cao.


Được xây dựng vào năm 1715, Văn Miếu Trấn Biên ở Biên Hòa - Đồng Nai đã trở thành trung tâm đào tạo nhân tài của xứ Đàng Trong.


Khuê Văn Các trong Văn Miếu Trấn Biên.


Kiến trúc nổi bật với những vòm mái cong lợp ngói lưu ly màu xanh ngọc bằng gốm tráng men.


Năm 1998, Văn Miếu Trấn Biên đã được khởi công khôi phục lại trên nền đất cũ và hoàn thiện vào năm 2002.


Hình tượng rồng được trang trí trên mái ngói trong Văn Miếu Trấn Biên.


Văn Miếu Trấn Biên là nơi thờ phụng các danh nhân văn hóa tiêu biểu của đất nước.


Án thờ nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784).


Tượng đức Khổng Tử.


Văn Miếu Trấn Biên là biểu tượng cho truyền thống hiếu học của người dân đất phương Nam. 

Trong gian thờ chính của Văn Miếu Trấn Biên có trưng bày 18 kg đất và 18 lít nước được mang về từ đền Hùng (Phú Thọ), biểu trưng cho 18 đời vua Hùng,  cội nguồn của dân tộc Việt Nam.

Vào năm 1794, Văn Miếu Trấn Biên được trùng tu và mở rộng quy mô với nhiều hạng mục: Đại thành điện, Đại thành môn, Thần miếu, Dục Thánh từ, Khuê Văn các, Dụng lễ đường, Sùng văn đường... Trước khi lên ngôi năm 1802, hàng năm chúa Nguyễn Phúc Ánh đều đến Văn Miếu Trấn Biên để hành lễ hai lần vào mùa xuân và mùa thu. Nhưng thời gian sau đó, quan Tổng trấn thành Gia Định đã thay mặt vua, cùng với Trấn quan Biên Hòa và quan Đốc học đến hành lễ.

Cùng với những biến động của lịch sử, Văn Miếu Trấn Biên phải trải qua nhiều lần trùng tu. Đến năm 1998, nhân kỷ niệm Biên Hòa 300 năm hình thành và phát triển, Văn Miếu Trấn Biên đã được khởi công khôi phục lại trên nền đất cũ. Sau khi xây dựng hoàn thiện vào năm 2002, Văn Miếu Trấn Biên trở thành một tổng thể kiến trúc – nghệ thuật uy nghi, đẹp đẽ thuộc phường Bửu Long, Tp. Biên Hòa (Đồng Nai).

Đến Văn Miếu Trấn Biên, du khách sẽ được tham quan các hạng mục như: Nhà Bia, Khuê Văn Các, hồ Thiên Quang Tỉnh, cổng Đại Thành, nhà thờ Đức Khổng Tử và sau cùng là nhà thờ chính. Thông qua bài văn bia khắc trên hai mặt đá của Giáo sư - Anh hùng Lao động Vũ Khiêu biên soạn, du khách sẽ hiểu khái quát được truyền thống văn hóa, giáo dục của dân tộc và của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai.

Văn Miếu Trấn Biên đặt gian trung tâm để thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969), vị Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Danh nhân văn hóa Thế giới. Sau lưng tượng thờ Chủ tịch là hình ảnh Trống đồng Ngọc Lũ, biểu tượng cho nền văn hóa Việt Nam. Phía gian bên trái nhà là nơi thờ các danh nhân văn hóa Việt Nam như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn… Gian bên phải thờ danh nhân đất Nam Bộ như Võ Trường Toản, Đặng Đức Thuật, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu.

Mỗi năm, Văn Miếu Trấn Biên đón gần 200.000 lượt khách tham quan. Tại đây, cũng diễn ra các hoạt động có ý nghĩa như: Lễ viếng các bậc tiền nhân, Lễ báo công, Tuyên dương tài năng trên các lĩnh vực, các hoạt động lễ hội, biểu diễn nghệ thuật, thả thuyền trên hồ...

Bài: Nguyễn Oanh - Ảnh: Thông Hải

Xứ Đoài đệ nhất đình So

đăng 08:05, 25 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Với một địa thế phong thủy độc đáo cùng nét kiến trúc cổ tiêu biểu, đình So (làng So, xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, Hà Nội) được mệnh danh là ngôi đình cổ đẹp nhất xứ Đoài khi đã trải qua tuổi đời hơn 350 năm. 

Địa danh xứ Đoài là tên gọi của tỉnh Sơn Tây (cũ), một trong 13 tỉnh được thành lập sớm nhất ở Bắc Kỳ (từ năm 1831) bao gồm diện tích của tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây, phía Bắc tỉnh Phú Thọ, một phần tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hà Nội ngày nay. Bởi vậy, tuy hiện tại địa danh xứ Đoài không còn nữa nhưng với một vùng diện tích rộng lớn, địa danh này có hàng trăm ngôi đình cổ, mà trong số đó đình So được mệnh danh là “đệ nhất” đình của xứ Đoài. Điều đó cho thấy vị thế quan trọng của ngôi đình này trong kho tàng kiến trúc cổ của vùng Bắc Bộ xưa.

Kiến trúc của đình So được các nhà nghiên cứu đánh giá và công nhận là một trong những ngôi đình cổ có kiến trúc mẫu mực nhất. Đình thờ tam vị Nguyên soái Đại Vương, là các vị tướng đã theo vua Đinh Tiên Hoàng đi dẹp loạn 12 sứ quân (giữa thế kỷ X).

Đình So nằm tại làng So, xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai, Hà Nội, đình có tuổi đời hơn 350 năm.


Tam quan đình So.


Rồng đá hai bên bậc thềm dẫn vào cửa đình.


18 bậc đá xanh dẫn lên cổng tam quan đình So.


Đình So thờ tam vị Nguyên soái Đại Vương là các vị tướng có công theo phò trợ vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân.


Bộ nghi trượng hai bên án thờ tại gian chính điện đình So.


Những nét chạm khắc tinh xảo hai bên cửa đình So.


Cửa vào chính điện đình So.


Một góc mái phía Nam của đình So.


Bốn góc đình So đều có đầu cong tạo dáng mềm mại, đẹp mắt.


Tất cả những đầu vì kèo ở đình So đều được chạm khắc rồng phượng tinh xảo, đẹp mắt.


Đình có tổng cộng 64 cột gỗ lim lớn nhỏ với chân cột làm bằng đá xanh kiên cố và bề thế.


Những cánh cửa bức bàn bằng gỗ lim có tuổi đời hơn 350 trăm năm chạy khắp 3 mặt đình So.


Kỹ thuật chạm nổi (trên) và chạm lộng (dưới) tinh xảo trên các cấu kiện gỗ của đình So. 


Đình So là nơi tổ chức ba lễ hội lớn trong năm của người dân xã Cộng Hòa là Hội làng diễn ra trong ba ngày bắt đầu từ ngày 8/2 âm lịch, Lễ khao quân tổ chức vào ngày 10/7 âm lịch  và ngày Thánh hóa được tổ chức vào ngày 10/12 âm lịch.
Hiện chưa biết chính xác đình So được khởi dựng từ bao giờ. Theo sách "Sơn Tây tỉnh địa chí" xuất bản năm 1941 của tác giả Phạm Xuân Độ, đình So được tôn tạo và tu sửa vào năm 1673, dưới thời vua Lê Gia Tông. Còn theo như theo văn bia "Tu sáng Hoa đình bi ký" khắc vào năm Dương Đức thứ 3 (1674), hiện còn dựng tại đình, thì đình này được tu bổ và tôn tạo vào năm Quý Mão (1663). Văn bia cho biết ngày khởi công tu tạo là ngày 27 tháng 7 năm Quý Mão, hơn hai tháng sau công việc hoàn thành. Ngôi đình đã trải qua 4 lần trùng tu nữa vào các năm 1743, 1924, 1928, 1953. Quy mô hiện nay của đình là kiến trúc theo kiểu nội công ngoại quốc trên diện tích 1.100 m2. Tổng cộng tất cả toà ngang dãy dọc của đình là 55 gian, với 64 cột lớn nhỏ.

Trải qua năm tháng, ngôi đình vẫn giữ được những nét đẹp tinh xảo và cổ kính. Đình nằm gối lên núi Rùa, trước mặt là đê sông Đáy đã được nắn dòng tạo thành hình như một hồ nước hình bán nguyệt.

Cổng tam quan có kiến trúc 2 tầng, 3 gian, 4 mái, hai bên là hai lối cửa nhỏ để ra vào. Các họa tiết trang trí và chạm khắc trên nóc tam quan vẫn còn giữ được nguyên vẹn, vô cùng đẹp và tinh xảo. Đặc biệt là hình ảnh lưỡng long triều nguyệt ở phía trên cao cùng bốn linh thú dưới chân những cột gỗ cực kỳ uy nghi.

Qua cổng tam quan là đến tam môn của đình. Tam môn rộng 54 m2, ở bốn góc có đầu đao cong tạo dáng mềm mại. Đình có tất cả 7 gian, 2 chái, 4 mái rộng lợp ngói. Bên trong đình có 32 cột gỗ lim lớn nhỏ xếp thành 6 hàng ngang. Sau điện thờ là “cung” chỉ mở cửa mỗi khi vào dịp lễ hội của đình. Mặt sàn trong đình được làm bằng gỗ lim.

Trong đình hiện còn giữ được 40 đạo sắc phong thần từ năm Hoằng Định 2 (1601) thời nhà Lê đến năm Khải Định 9 (1924) thời nhà Nguyễn, cùng nhiều hoành phi, câu đối cổ. Bởi vậy, năm 1980, đình So đã được Bộ Văn hoá - Thể thao & Du lịch xếp hạng Di tích Quốc gia cần được bảo tồn.

Bài: Thảo Vy - Ảnh: Việt Cường

Tượng đất cổ chùa Nôm

đăng 07:44, 25 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Trải qua hơn 1000 năm lịch sử, Chùa Nôm (xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) vẫn còn lưu giữ khoảng gần 100 pho tượng cổ làm bằng đất có giá trị tâm linh và thẩm mỹ cao. 

Nằm cách Hà Nội khoảng hơn 30km, mất chừng hơn 40 phút chạy xe, du khách sẽ tới được chùa Nôm. Chùa Nôm còn có tên gọi khác là "Linh Thông cổ tự" bởi xưa ngôi chùa được dựng trong một khu rừng thông.

Chùa Nôm nằm tại xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.


Khuôn viên chùa Nôm nhìn từ lầu trống phía trái ngôi cổ tự.


Chính điện chùa Nôm còn giữ được nguyên vẹn lối kiến trúc của những ngôi chùa vùng Bắc bộ.


Hiện tại ở chùa Nôm có gần 100 bức tượng làm bằng đất; đây là ngôi chùa có số lượng tượng thờ bằng đất lớn nhất ở Việt Nam.


Theo các nhà nghiên cứu, nguyên liệu dùng để nặn tượng là một loại hỗn hợp đặc biệt gồm đất sét lọc sạch trộn với vôi tôi, mật mía, giấy bản nghiền nhỏ.... 


Qua cánh cổng lớn với lầu chiêng, lầu trống uy nghi bề thế là đến chính điện, hiện là nơi lưu giữ gần 100 pho tượng thờ cổ làm bằng đất. Các bức tượng thờ lớn, nhỏ bao gồm: tượng Bát bộ Kim Cương, Tứ đại Bồ tát, Thập bát La Hán, Tam Thánh .... Hiện tại chùa Nôm đang là ngôi chùa có số lượng tượng cổ bằng đất nhiều nhất Việt Nam. 

Theo tài liệu các nhà nghiên cứu thì những bức tượng này được tạo ra ở thời Lý – Trần, cách khoảng ngàn năm. Thượng tọa Thích Đồng Huệ, trụ trì chùa Nôm cho biết, những bức tượng đất này đã từng phải chịu nhiều tác động của thiên nhiên, thiên tai trong quá khứ. Những trận lụt lịch sử vào năm 1971, 1986 và gần nhất vào năm 2000 đã nhấn chìm những bức tượng bằng đất này dưới nước nhiều ngày. Điều kì lạ là tuy bị ngâm lâu ngày trong nước nhưng các bức tượng bằng đất ấy vẫn không hề bị hư hại.

Theo các nhà nghiên cứu, sở dĩ số tượng đất này không bị hỏng khi ngâm nước là do ngày xưa các nghệ nhân tài hoa đã sử dụng một loại nguyên liệu đất đặc biệt để nặn tượng. Đó là loại đất sét đã được lọc sạch tạp chất, sau đó trộn với vôi tôi, mật mía, giấy bản đã nghiền nhỏ để tạo nên một loại hỗn hợp đặc biệt. Sau khi hoàn tất việc tạo hình tượng, người xưa còn phủ ở phía ngoài bằng một lớp sơn ta để bảo vệ.

Cũng theo Thượng tọa Thích Đồng Huệ cho biết, vào năm 1997 người dân nơi đây đã sơn lại gần 100 pho tượng đất trong chùa, nhưng nước sơn ta hiện tại so với trước không bằng. Sắp tới chùa sẽ mời các nhà khoa học giúp phục chế lại nước sơn ban đầu nhằm giữ gìn giá trị thẩm mỹ vốn có của những pho tượng độc đáo này.

Bức tượng Hộ pháp bằng đất với thần thái sinh động đặt tại chính điện chùa Nôm.


Dọc hai bên hành lang sau chính điện chùa Nôm là nơi đặt gần 100 bức tượng thờ bằng đất.


Hai bức tượng Bồ tát làm bằng đất phủ sơn ta ở chùa Nôm.


Những bức tượng Bát bộ kim cương ở chùa Nôm.


Những bức tượng Thập bát La Hán sinh động được thờ tại chùa Nôm.


Một trong hai bức tượng đất đắp nổi tại hai bên hồi chùa Nôm.


Một trong 4 bức tượng Tứ đại Bồ tát trong chùa.


Một trong 8 bức tượng Bát bộ Kim Cương làm bằng đất tại chùa Nôm. 


Bài & ảnh: Việt Cường

Về miệt vườn cù lao Tân Quy

đăng 21:03, 23 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Được bao bọc và bồi đắp bởi dòng sông Hậu hiền hòa, cù lao Tân Quy với khoảng 600ha trồng cây ăn trái đã trở thành xứ miệt vườn xanh tươi trù phú với nhiều loại trái cây nổi tiếng. Ngày nay, nơi đây đã trở thành một điểm du lịch khám phá thú vị thu hút du khách gần xa. 

Cù lao Tân Quy nằm giữa dòng sông Hậu, có diện tích phần lớn thuộc huyện Trà Ôn (tỉnh Vĩnh Long) và một phần nhỏ thuộc huyện Cầu Kè (tỉnh Trà Vinh). Từ đất liền, du khách có thể đi theo những chuyến phà dân dụng đưa rước khách hằng ngày qua Cù lao để thong thả ngắm cảnh sông nước hữu tình. Ngoài ra, du khách đến thăm Cù lao có thể ngồi trên những chiếc canô lướt trên dòng sông Hậu để tận hưởng không khí mát lành, sảng khoái.

Nhìn từ xa, Cù lao nổi bật lên giữa vùng sông nước mênh mông với một gam màu xanh tươi của cây lá. Bước lên Cù lao, con đường bê tông nhỏ uốn lượn như bao bọc lấy xứ miệt vườn, nằm dưới những tán cây già tỏa bóng mát rượi.

Chính nhờ nguồn nước quanh năm từ con sông Hậu bồi đắp cùng khí hậu ôn hòa cộng với kinh nghiệm làm vườn lâu năm đã giúp nông dân nơi đây cho ra những loại trái cây ngọt lành, trở thành đặc sản được nhiều người ưu thích.

Cù lao Tân Quy nằm giữa dòng sông Hậu, nơi có diện tích phần lớn thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long và một phần nhỏ thuộc huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.


Khung cảnh sông nước, cây trái xứ cù lao tạo một cảm giác thanh bình cho du khách.


Con đường nhỏ nằm dưới hàng cây trái xanh tươi mát rượi chạy vòng bao bọc lấy xứ cù lao.


Người dân sống ở cù lao vui mừng khi vườn măng cụt của mình được mùa, được giá.


Du khách thích thú bên những chùm chôm chôm tươi ngon...


... và được trực tiếp hái những chùm trái chín mọng trong vườn.


Những chòi lá được thiết kế độc đáo tại một góc vườn cây trái để du khách nghỉ ngơi và thưởng thức trái cây.


Du khách đến cù lao Tân Quy còn được thưởng thức các món ăn đặc sản ở nơi đây. 


Cù lao Tân Quy nổi tiếng với biệt danh “xứ của các loài cây ăn trái”, bởi người dân nơi đây đều sinh sống bằng nghề làm vườn cây ăn trái chuyên canh. Người đất ít cũng có vài công vườn để canh tác, nhà nào có điều kiện hơn thì lên tới vài mẫu đất vườn. Các loại trái cây như: măng cụt, chôm chôm, sầu riêng, mít, dừa, xoài, đu đủ… ở cù lao Tân Quy từ lâu đã nức tiếng xa gần.

Những năm gần đây, nhận thấy có nhiều du khách muốn đến tham quan, tìm hiểu về xứ Cù lao, một số hộ dân đã cải tạo lại khu vườn để mở thêm dịch vụ du lịch miệt vườn. Từ đó, các khu du lịch sinh thái miệt vườn được hình thành như: Út Súp, Điểm Hẹn, Sáu Non… đã trở thành chốn ghé thăm vui chơi của nhiều du khách gần xa.

Đến xứ Cù lao, du khách được tham dự một “bữa tiệc” trái cây thịnh soạn ngay giữa khu vườn trái chín mọng. Từng chùm trái cây xum suê, màu sắc tươi óng, căng tròn đong đưa trong gió mang đến cho khách tham quan một cảm giác thèm thuồng, thích thú khó tả.

Các khu du lịch sinh thái ở cù lao Tân Quy đã dựng sẵn những căn chòi lá hay những chiếc võng được thiết kế độc đáo tại một góc vườn để du khách ngồi nghỉ ngơi sau khi đi dạo và thưởng thức trái chín. Sau đó, du khách còn được biết đến nhiều món ăn đặc sản nổi tiếng ở Cù lao như: lẩu cá bông súng, lẩu gà nấu lá giang, mực xào cải, tôm sú nướng…

Khi con nước xuống, một bãi tắm cạnh Cù lao hiện ra để mọi người thoải mái vẫy vùng trong dòng nước mát lạnh. Trước khi tạm biệt xứ Cù lao, khách đến thăm đừng quên mang về những giỏ trái cây chín mọng làm quà cho những người thân ở nhà.
 
Bài: Sơn Nghĩa - Ảnh: Nguyễn Luân

Trà đình Vũ Di

đăng 20:58, 23 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Cách trung tâm thành phố Huế chừng 7 cây số về phía Tây có một quán trà mới nghe tên đã thấy lạ, ấy là quán “Trà đình Vũ Di”. Và cứ theo như nghĩa Hán Việt mà luận một cách nôm na thì cái tên ấy có nghĩa là “quán trà trong mưa bay”.

Nói như sự trải lòng của bà chủ quán đa cảm khi luận về cái tên ngôi quán của mình, ấy là ở Huế về mùa đông trời mưa phùn gió bấc, từng đám mưa bụi bay nhè nhẹ trong gió đông lạnh giá, nên để sưởi ấm lòng người còn có gì quý hơn một ấm trà ngon nóng hổi với làn khói mỏng nhè nhẹ tỏa hương thơm như sương khói.

Cổng vào Trà đình Vũ Di được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống Huế.


Không gian trà đình là một ngôi nhà vườn xanh mát, yên tịnh và nồng nàn hương hoa nhài tinh khiết.


Bà chủ quán Thu Hà thu hái hoa nhài tươi trong vườn nhà để ướp trà.


Quán lá dùng làm nơi thưởng trà nằm giữa khu vườn rợp mát bóng cây.


Nhà sư tự tay pha trà với phong thái tự tại của người nhà Phật.


Một bộ đồ pha trà nhỏ xinh với đủ 1 ấm, 3 chén quân và 1 chén tống.


Không gian thanh tịnh và gần gũi với thiên nhiên của Trà đình Vũ Di rất phù hợp với những người người có thú vui vừa thưởng trà vừa luận đàm chuyện thơ văn, thế sự. 


Tên quán đã ẩn chứa cái tình ý sâu xa như vậy, nên nội thất và lối bài trí bên trong quán cũng chứa cái hồn rất riêng của Huế. Chẳng thế mà khi bước chân qua cái cổng tam quan khá bề thế của Trà đình Vũ Di, bỏ lại sau lưng con lộ lớn chạy thẳng lên núi là cả một khu nhà vườn xanh mát, yên tịnh và nồng nàn hương nhài tinh khiết. Thấp thoáng, lô nhô ẩn mình sau những vòm lá xanh là những nếp nhà nhỏ xây theo lối cổ, hoặc đôi ba ngôi quán lá có vách để trống, suốt ngày lồng lộng hương ngàn và gió núi. Đặc biệt, chỗ nào cũng thấy bày những bộ độ pha trà lớn bé đủ kiểu, ta có tây có, xưa có mới có… lạ lùng và cũng đẹp mắt đến lạ.

Tiếp khách thường là bà chủ quán áng chừng 60 tuổi, dáng người nhỏ nhắn, chân bước hơi khập khiễng, nghe đâu là do bị tật từ nhỏ. Phụ giúp bà là hai cô cháu gái tuổi chừng mười tám, đôi mươi. Bà chủ quán tên Thu Hà, pháp danh theo nhà Phật là Nguyên Hương. Bà Hà tuy không thuộc dòng dõi quý phái mang họ “Tôn nữ” của hoàng tộc triều Nguyễn ở Huế, nhưng tính người lại đa cảm, yêu thơ văn nhạc họa, nên tìm về chốn đồi Thiên An quanh năm có bóng rừng thông xanh mát để khai hoang mở nên quán Trà đình Vũ Di này.

Bà chủ quán Thu Hà hướng dẫn cô cháu gái cách bào chế các loại trà cung đình.


Nguyên liệu làm trà cung đình gồm có nhiều loại thảo dược quý.


Tùy vào cách phối trộn các loại thảo dược mà bà Thu Hà có thể tạo nên những loại trà cung đình có công dụng khác nhau.


Phụ giúp bà Thu Hà trong công việc ở quán trà là hai cô cháu gái tuổi chừng mười tám, đôi mươi.


Những gói trà cung đình nhỏ với đủ vị hạt sen, ý dĩ, cam thảo, táo Tàu...


Trà cung đình Huế được làm bằng thảo dược nên thường có tính bổ dưỡng, an thần, tốt cho sức khỏe.


Du khách người Nhật tham quan và tìm hiểu về trà cung đình Huế ở Trà Đình Vũ Di. 


Trà đình Vũ Di
 
Khu du lịch Thiên An
Thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
Điện thoại 054.3865703 – 0948489902
Email: nguyenhavudi@yahoo.com
Website : http://www.tradinhvudi.com.vn
Vì ngôi quán có cái chất thiền thanh tịnh, và bản thân bà chủ cũng là một đệ tử của nhà Phật, nên quán trà Vũ Di là nơi dừng chân của giới tao nhân mặc khách ở Huế, nhất là giới sư sãi mộ đạo văn chương. Nhiều người đến đây, ngoài cái thú thưởng trà còn có cái thú ngâm vịnh, hoặc bàn chuyện thơ văn thế sự, thành ra quán có treo khá nhiều bức thư họa của những thiền sư nổi tiếng ở Huế đề tặng. Ngoài ra, quán còn là nơi dừng chân của nhiều đoàn lữ khách trong và ngoài nước mỗi khi có dịp lên núi thăm thú cảnh quan và khám phá lăng tẩm của các vua triều Nguyễn mỗi khi đến Huế.

Nói về nét đặc biệt của Trà đình Vũ Di, ngoài cái biệt tài pha chế các loại trà cung đình nổi tiếng xứ Huế của bà chủ quán, ở đây còn cuốn hút lòng người bởi vẻ đẹp của cảnh sắc nên thơ, hoài cổ, của cỏ cây hoa lá, của gió núi mây ngàn... Trong cái khung cảnh thanh tịnh ấy, lữ khách thưởng trà như được gột bỏ hết mọi ưu phiền và tìm thấy phút thư thái, thanh nhàn và tự tại của cuộc sống.

Có lẽ cảm được cái tình ấy nên thiền sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh, một thi sĩ Phật giáo nổi tiếng xứ Huế đã có bài thơ thiền đề tặng quán Vũ Di:

“Xa lâu bạn cũ chung trà
Chút hương, chút vị, chút ta thâm tình
Phất tay phủi cái linh tinh
Nhàn vui một thoáng nhân sinh nhẹ hều”.

Bài: Thanh Hòa - Ảnh: Hoàng Quang Hà
Báo Ảnh Việt Nam - 29/06/2015

Tiểu Vương cung thánh đường Phú Nhai

đăng 20:48, 23 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Được xây dựng trên diện tích hàng nghìn mét vuông, Vương cung thánh đường Phú Nhai nằm trên địa phận xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường (Nam Định) là một trong những nhà thờ đẹp nhất Việt Nam với lối kiến trúc Gothic kiểu Pháp hùng vĩ. 

Nhà thờ Phú Nhai nguyên thủy được tạo dựng bằng gỗ, lợp bồi do linh mục Chính xứ Emmanuel Rianô Hòa cho xây dựng vào năm 1866. Vào năm 1881, Giám mục Hòa cùng với linh mục Barquerô Ninh xây nhà thờ thứ hai theo kiến trúc Á Đông và hai tháp chuông. Sau thời gian bị chiến tranh làm hư hại, vào ngày 17/3/2003 Nhà thờ đã được khởi công trùng tu tôn tạo lại bởi Giám mục Đaminh Nguyễn Chu Trinh. Đến 26/9/2004 thì Nhà thờ Phú Nhai hoàn thành như diện mạo hiện nay.

Nhà thờ Phú Nhai có chiều dài 80m, rộng 35m, chiều cao là 30m. Đặc biệt, Nhà thờ Phú Nhai có hai tháp chuông cao 44m ở phía trước với 4 quả chuông được đúc từ Pháp chuyển sang, trong đó có quả nặng 2 tấn chỉ sử dụng trong các dịp đại lễ.

Tiểu Vương cung thánh đường Phú Nhai.


Tiểu Vương cung thánh đường Phúa Nhai nằm trên địa phận xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.


Mặt trước nhà thờ Phú Nhai với kiến trúc kiểu Gothic.


Khoảng sân rộng lớn trong khuôn viên nhà thờ Phú Nhai.


Nơi lưu giữ hài cốt của những vị thánh tử vì đạo ở khuôn viên nhà thờ Phú Nhai.


Những bức tượng miêu tả các câu chuyện trong kinh thánh tại khuôn viên nhà thờ Phú Nhai.


Tượng thánh đặt trên kiệu sơn mài trong nhà thờ Phú Nhai.


Giáo dân Phú Nhai chuẩn bị rước kiệu trong ngày lễ thánh. 


Ông Phạm Ngọc Chính – Trưởng Ban hành giáo xứ Phú Nhai cho biết, tiểu Vương cung thánh đường Phú Nhai là một công trình tín ngưỡng, điểm tham quan du lịch của du khách gần xa. Giáo đường Nhà thờ là nơi tổ chức các ngày lễ Công giáo lớn trong năm như ngày 7/12 (cung hiến nhà thờ Phú Nhai), 8/12 (lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội của giáo xứ Phú Nhai), Đại lễ Noel 24/12...

Khám phá nhà thờ Phú Nhai, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước lối kiến trúc Gothic. Kiến trúc Gothic là một phong cách kiến trúc bắt đầu phát triển từ nửa sau thời Trung cổ ở Tây Âu.

Mặt chính diện của Nhà thờ được tạo thành ba tầng. Tầng trên cùng là hai tháp chuông, mỗi tháp chuông lại có nhiều cột trụ tạo thành những cây nến khổng lồ. Cả ba lớp cửa ở các tầng đều được thiết kế nhọn đầu cao vút.

Phía bên phải trước nhà thờ được đặt tượng Thánh Đa Minh cao 17m. Đây là vị thánh Công giáo sáng lập ra dòng truyền giáo Dominico từ thế kỉ 12 và cũng là dòng truyền giáo đầu tiên đến Việt Nam vào thế kỉ 16.

Bước vào bên trong nhà thờ, ta có thể cảm nhận được sự đồ sộ của phong cách kiến trúc Gothic. Phía sau hai cánh cửa chính bằng gỗ uy nghi là đến thánh đường với những mái vòm cao vút mang vẻ đẹp lộng lẫy, hoành tráng.

Cũng như các nhà nhà thờ Công giáo khác, nhà thờ Phú Nhai có dạng dọc, ban thờ ở cuối cùng. Trên ban thờ, ngoài tượng Chúa Giesu ngự trị ở ngôi vị cao nhất, bên dưới có tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được điêu khắc tỉ mỉ.

Tượng thánh sơn mài trong tiểu Vương cung thánh đường.


Mái vòm tuyệt đẹp của tiểu Vương cung thánh đường Phú Nhai.


Làm lễ trong tiểu Vương cung thánh đường Phú Nhai.


Dàn đồng ca ở nhà thờ Phú Nhai.


Được cho là nhà thờ lớn nhất Đông Nam Á, tiểu Vương cung thánh đường Phú Nhai là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của hàng ngàn giáo dân Công giáo.


Giáo dân Phú Nhai trong ngày lễ thánh tại nhà thờ Phú Nhai. 


Với lịch sử lâu đời và lối kiến trúc cổ kính, vào ngày 12/8/2008 tòa thánh Vatican ký sắc lệnh phong Nhà thờ Phú Nhai lên tiểu Vương cung thánh đường. Đây chính là một trong 4 nhà thờ lớn tại Việt Nam được nâng lên bậc tiểu Vương cung thánh đường, đó là nhà thờ Đức Bà ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà thờ La Vang tại Huế, nhà thờ Sở Kiện ở Hà Nam và nhà thờ Phú Nhai ở Nam Định.

Bài: Quỳnh Anh - Ảnh: Việt Cường

Mẹ Quan Âm - Bạc Liêu

đăng 02:19, 23 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Từ lâu lắm rồi, tôi vẫn nghe nhiều người đến Bạc Liêu để viếng Mẹ Quan Âm. Ở đó, nơi ven biển có tượng Phật Bà Quan Âm đứng nhìn ra biển, che chở ngư dân được bình an, qua khỏi những cơn sóng gió. Người dân ở đây gọi tượng đài bằng cái tên kính yêu và thân thiết: Mẹ Quan ÂmRồi người nối người, những khách phương xa, không phải ngư dân cũng đến đây khấn cầu sự bình an trong cuộc sống, trong tâm hồn. Mẹ Quan Âm hiền từ đứng uy nghiêm day mặt ra biển che chở chúng sinh.


Tượng Bồ tát Quán Thế Âm được xây dựng từ năm 1973 ở 
ấp Nhà Mát xã Hiệp Thành (nay là phường Nhà Mát, TP Bạc Liêu), cơ bản hoàn thành vào đầu năm 1975. Tượng cao 11 mét (chưa kể chân đế), đứng sừng sững bên bờ biển Đông, sát mé biển và mặt xoay ra biển.Tượng đài tuy giản đơn, nhưng cảnh quan rất hùng vĩ và trang nghiêm dễ gây sự chú ý và ngưỡng mộ cho mọi người.


Tôi vẫn mong một ngày đến ngắm nhìn cảnh quan thiêng liêng này. Mãi đến tháng 4/2017 mới có dịp...


Tượng Mẹ Quan Âm


Những hình dung trong đầu của tôi về một bức tượng Phật Bà Quan Âm đứng sừng sững uy nghiêm nhìn ra biển khơi bỗng dưng thay đổi...


Tượng Mẹ Quan Âm vẫn đứng sừng sững kia, bên chân tượng vẫn có người sì sụp khấn vái, có hoa, nhang, đèn... nghi ngút. Nhưng... biển đâu? Trước mặt là những cụm tượng bố trí rải rác. Hai bên là những điện thờ hoành tráng (và có phần sặc sỡ) với những điêu khắc, kiến trúc đa dạng phía trước. Sau lưng, chỗ cổng tam quan vừa đi qua là... nơi mua bán tấp nập.


Cổng tam quan, từ trong nhìn ra


Biển đâu rồi? Biển vẫn ở trước mặt. Nhưng ngày xưa khi mới xây dựng lúc thủy triều lên nước biển tràn vào có lúc ngập cả chân đế tượng, còn bây giờ do sự bồi đắp của thiên nhiên, mép biển đã lùi ra xa hàng cây số, nhìn ra hướng ấy chỉ thấy bụi rậm và bãi bùn.


Lại biết rằng năm 2004 UBND tỉnh Bạc Liêu đã phê duyệt dự án và cho phép Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu xây dựng Quán Âm Phật Đài trên diện tích 25.000 m2 chung quanh vị trí cũ của tượng đài với nhiều hạng mục khác nhau.


Bây giờ bên trái tượng đài (theo hướng nhìn của tượng đài) là Điện Địa Tạng.





Một số hình ảnh bên ngoài và bên trong Điện Địa Tạng


Bên tay phải tượng đài là Điện Quan Âm, hay còn còn gọi là Điện Thiên Thủ, nơi thờ Quan Thế Âm Thiên Thủ.





Một số hình ảnh bên ngoài và bên trong Điện Quan Âm


Rải rác phía xa, về hướng biển là các tượng thể hiện 32 hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát. Ở một số vị trí, nhìn phía xa ta có thể thấy những vùng trũng nước, nhưng vẫn chưa phải là biển. Một số tượng đã bị xuống cấp, nứt vỡ.












Còn một công trình nữa chưa được hoàn thành, là núi Quan Âm, cao 45 met, ngang 90 met, rộng 49 met.



Có thể sự thất vọng vì những điều mình thấy không giống như tưởng tượng ban đầu khiến tôi không cảm thấy yêu thích Quan Âm Phật Đài mới này. Những tượng điêu khắc quá nhiều, mang màu sắc khá sặc sỡ và giống chùa người Hoa (mà cũng phải thôi, vì Bạc Liêu có đông người Hoa mà). Công trình núi Quan Âm hoành tráng đến mức có vẻ như phô trương. Trong tôi thoáng gợn lên cảm giác một di tích cũ được tân trang cho trở thành hoành tráng hiện đại và mất đi sự cổ kính vốn có.


Đó chỉ là những suy nghĩ cá nhân, có phần thiên lệch. Nếu bạn thấy không hài lòng xin hãy bỏ qua cho. Và dù sao, Quan Âm Phật Đài cũng là một công trình văn hóa tâm linh đáng để cho ta đến chiêm ngưỡng khi có dịp đến thăm thành phố Bạc Liêu này.


Phạm Hoài Nhân

Chùa Phật Tổ ở Cà Mau

đăng 21:35, 22 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Phật Tổ tọa lạc tại phường 4, Tp. Cà Mau, được xây dựng vào năm 1840. Đây là một công trình kiến trúc tôn giáo truyền thống và là nơi truyền Phật pháp sớm nhất ở vùng đất Cà Mau. 

Nguyên cách gọi tên chùa Phật Tổ là do sự tôn kính từ lâu đời của người dân vùng Cà Mau với vị Hòa thượng lập dựng Chùa: Hòa thượng Thích Trí Tâm.

Vào khoảng năm 1840, vùng Cà Mau còn là vùng đất lau sậy, hoang sơ. Người dân địa phương kể rằng, thời đó có chàng trai Tô Quang Xuân đi lấy củi trong rừng, khi rìu bổ vào thân cây bồ đề cổ thụ thì thấy lộ ra một quyển kinh Phật đặt ở gốc cây. Từ đó chàng trai dựng am vừa tu vừa bốc thuốc chữa bệnh cho dân bên bờ kênh Quản Lộ. Tô Quang Xuân tụng kinh Kim Cương cảm hóa được thú dữ. Thiên hạ biết tiếng kéo đến xin thuốc và học đạo rất đông.

Về sau, nhờ người dân đóng góp tài vật, Tô Quang Xuân dựng được một ngôi chùa bằng lá đơn sơ. Thấy vậy, hương hào Đỗ Văn Viễn trong vùng ghen ghét đã vu cho ông là gian đạo sĩ. Ông bị quan trên bắt về Sài Gòn (nay là Tp. Hồ Chí Minh) quản thúc.

Nhưng đạo hạnh của Tô Quang Xuân đã làm các quan trên kính phục. Khi được giải về Huế, ông thọ giới xuất gia ở chùa Kim Chưởng. Các vị cao tăng đã trình lên vua nhà Nguyễn (năm Thiệu Trị thứ 2 - 1842) và vua đã xuống chiếu sắc phong cho ngôi chùa của ông có tên gọi là “Sắc tứ Quan âm Cổ Tự”.

Sau khi thọ giới được 7 ngày, ông mất tại chùa Kim Chưởng. Ông được phong Hòa thượng, pháp danh là Thích Trí Tâm, được ban gấm vóc và đưa về tận quê ở Cà Mau. Từ đó, dân trong vùng tôn kính ông nên đã gọi ngôi chùa là chùa Phật Tổ.

Chùa Phật Tổ là một công trình kiến trúc tôn giáo có giá trị nghệ thuật cao. Đợt trùng tu chùa năm 1937 vẫn giữ nguyên nét kiến trúc xưa cho đến ngày nay.

Tượng phật Quán Thế Âm Bồ Tát màu lam ngọc, ngự trên đài sen trước sân chùa.


Hai mặt ngoài vách chính điện có các hình vẽ đắp gốm sứ tăng thêm phần cổ kính.


Họa tiết trang trí hình ngũ long hí thủy trên các hàng cột ở chính điện.


Tháp mộ vị tổ sư chùa Phật Tổ: Hòa thượng Thích Trí Tâm.


Tháp mộ các vị sư trụ trì chùa Phật Tổ đã viên tịch.


Khách thập phương thắp nhang lễ phật ở chính điện.


Ngày nay, chùa Phật Tổ là một trong những trung tâm văn hóa tâm linh của người dân, là trung tâm văn hóa, tu học, tâm linh của tăng ni, Phật tử tỉnh Cà Mau. 


Mái chùa hình quả ấn, lợp ngói máng, kiến trúc sắc nét, mô phỏng mái đình ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Mái được chia thành phần nóc chính và mái nghi môn. Phần nóc chính thể hiện giá trị nghệ thuật đặc sắc của ngôi Cổ tự với hình lưỡng long tranh châu cách điệu, bên dưới là phù điêu, hình ảnh mô tả cảnh thiên nhiên. Mặt chính trên nóc chùa đề 6 chữ: "Sắc tứ Quan âm cổ tự".

Những đường cong ở đầu đao mái chùa thể hiện cảnh cá hóa rồng làm bằng xi măng ốp sứ cách điệu, dáng vẻ độc đáo. Mái nghi môn ở tầng thấp hơn lợp ngói máng, có họa tiết sống động và đề 4 chữ: "Quan âm cổ tự". Bên trên cửa ra vào có hoa văn hình chữ Thọ trang trí mặt tiền chính điện. Hai mặt ngoài vách chính điện có những hình vẽ tôn thêm vẻ cổ kính.

Từ ngoài nhìn vào, khuôn viên chùa khá rộng, không gian hài hòa. Tượng Quan Âm lớn hơn người thật đứng trên tòa sen, nhìn về Rạch Chùa. Tượng bằng xi măng sơn màu xanh, nét mặt hiền hòa, cân đối.

Cửa chùa mở theo hình bán nguyệt dẫn vào chính điện. Chính điện chùa có hai hàng cột xi măng, mỗi bên 3 cây, tạo không gian rộng. Ngôi Tam bảo thờ nhiều tượng Phật. Nét đặc sắc trong đường nét kiến trúc ở ngôi Tam bảo là dùng đồ sứ ốp vào các họa tiết làm bằng xi măng tạo thành một án thờ.

Ngoài ra, chùa Phật Tổ còn lưu giữ nhiều tượng gỗ cổ và các hiện vật: khánh gỗ, độc bình, chuông đồng, câu đối, sắc phong ...

Án thờ tổ sư Hòa thượng Thích Trí Tâm được đặt trong một bệ bằng xi măng cao 1,47m, rộng 1,52m. Hai bên tượng có hai câu đối, tạm dịnh là: "Một chữ dọc ngang có khả năng làm tĩnh thiên hạ/Giữ cho chúng tăng được bình yên mãi mãi trong công cuộc tu hành".

Bên dưới bệ thờ sư Hòa thượng Thích Trí Tâm có bia đá được dựng lúc trùng tu chùa năm 1937, trên đó có bản khắc bằng chữ Hán ghi nguyên văn sắc phong của Vua Thiệu Trị dành cho chùa. Tại án thờ hiện còn đôi câu đối cổ bằng thân cây dừa dài hơn 4m, nét chữ sơn son thếp vàng, lời văn đặc sắc.

Ngày nay, chùa Phật Tổ là một trong những trung tâm văn hóa tâm linh của tăng ni, phật tử tỉnh Cà Mau.

Bao lam án thờ bằng gỗ, trang trí các họa tiết đặc sắc và sinh động.


Bản khắc chữ Hán ghi nguyên văn sắc phong của vua Thiệu Trị dành cho chùa Phật Tổ.


Tượng Phật ngồi thiền dưới tượng rồng chín đầu trong khuôn viên chùa Phật Tổ.


Tượng Phật cổ bằng xi măng ở chùa Phật Tổ.


Tượng Phật nằm trong khuôn viên chùa Phật Tổ.


Phù điêu trên các bức tường xung quanh chùa, kể về các sự tích của nhà Phật. 


Bài: Vân Quý - Ảnh: Nguyễn Luân

1-10 of 28