Di tích, thắng cảnh, những nơi để ngắm nhìn và tận hưởng.

Bài mới

  • Ngôi chùa 400 tuổi nằm trong hang núi lửa Bên trong chính điện chùa nghi ngút khói hương, không khí mát lạnh tỏa ra từ những giọt nước ngầm chảy bên các nhũ đá. Danh thắng chùa Hang (còn ...
    Được đăng 05:12, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cánh đồng điện gió ở Ninh Thuận Cánh đồng điện gió ở Phan Rang thu hút nhiều bạn trẻ đến tham quan, chụp ảnh nhờ khung cảnh đẹp như tranh vẽ. Điện gió Đầm Nại ở thôn ...
    Được đăng 05:27, 18 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đông Khuyết Đài - không gian văn hóa mới cho du khách khi đến Huế Không gian văn hóa Đông Khuyết Đài - Đại nội Huế đã chính thức được khai trương và khởi đầu bằng triển lãm “Chuyện ghế” của họa sỹ Lê Thiết Cương ...
    Được đăng 02:47, 11 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nhà thờ Trà Cổ đang hồi xây dựng lại Về đất mỏ Quảng Ninh, đi miền Đông, tới Móng Cái, tới Trà Cổ mà không ghé thăm nhà thờ Trà Cổ là một thiếu sót vô cùng lớn cho ...
    Được đăng 03:15, 10 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nhà tù Hỏa Lò – Nơi lưu giữ những dấu tích Lịch sử Nhà tù Hỏa Lò (nay là di tích lịch sử Nhà tù Hỏa Lò) là địa danh lịch sử nổi tiếng không thể bỏ qua khi đến Hà Nội, ở ...
    Được đăng 02:35, 10 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Ngôi chùa 400 tuổi nằm trong hang núi lửa

đăng 05:12, 21 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Bên trong chính điện chùa nghi ngút khói hương, không khí mát lạnh tỏa ra từ những giọt nước ngầm chảy bên các nhũ đá. 

Danh thắng chùa Hang (còn gọi là Thiên Khổng Thạch Tự, Chùa đá trời sinh) nằm ở phía bắc núi Thới Lới, chứng tích của những đợt phun trào núi lửa trên đảo Lý Sơn. 

Quang cảnh chùa xanh mát bởi những cây bàng biển cổ thụ và các tảng đá núi liền kề biển. 

Gọi là chùa Hang vì chùa nằm trong một hang đá lớn. Hang này sâu 24 m, rộng 20 m, trần cao 3,2 m, với diện tích 480 m2. Không gian thờ tự trong chùa được bài trí quanh các vách đá.

Các di tích khắc trên đá ở chùa ghi lại: dưới triều vua Lê Kính Tông cách đây 400 năm, một vị quan tên Trần Công Thành được sai ra canh giữ đảo Lý Sơn. Tại đây, ông đã khai phá và lập ra chùa Hang. Sau đó khoảng 100 năm, con cháu của ông là các ông Trần Châu, Trần Tiềm tiếp tục tôn tạo cho chùa được khang trang như ngày nay. 

Chính giữa hang đặt bàn thờ Tam thế Phật là Phật A-di-đà, Phật tổ Như Lai và Phật Di Lặc.

Theo Đại Nam nhất thống chí, khởi đầu chùa Hang là ngôi đền của người Chămpa thờ các vị thần Bà La Môn. Sau này, khi người Việt đến khai phá vùng đất Lý Sơn vào đầu thế kỷ XVII, chùa trở thành nơi tu tiên và thờ Phật. 

Bên trái bàn thờ Tam thế Phật là bàn thờ Tổ sư Đạt-ma với bài vị bằng gỗ sơn son thếp vàng trên đó ghi “Phụng tự Tây phương Đông Độ lịch đại tổ sư chi linh vị”. 


Người dân địa phương cho biết, chùa Hang vốn là ngôi chùa linh thiêng, nên hàng năm vào các ngày rằm, Tết Nguyên Đán, lễ Vu Lan, Phật Đản, ngày giỗ các vị tiền hiền, khách thập phương đều đổ về đây để hành lễ, chiêm bái và cầu nguyện bình an. 


Các bệ thờ trong chùa được người xưa tạo tác, gia công từ các vách đá tự nhiên. 


Trong chùa còn có hai pho tượng được người dân đảo Lý Sơn đang làm ăn, sinh sống tại TP HCM cúng dường, gồm tượng Bồ-tát Địa Tạng (trái) và tượng Bồ Tát Quan Thế Âm. 


Trước sân chùa là bức tượng Phật Bà Quan Âm hướng ra biển. Theo quan niệm của ngư dân trên đảo, Phật Bà Quan âm luôn chở che và phù hộ cho những chuyến ra biển bình an. 


Các vách đá núi màu nham thạch xung quanh chùa. Qua thời gian, những vách đá này được mưa, sóng và gió biển bào mòn tạo thành những đường vân đẹp mắt. 


Bên trong các hang đá quanh chùa còn là nơi ẩn núp của cư dân thời xưa mỗi khi đi biển gặp giông bão. 


Hoàng hôn xuống, nước triều rút để lộ những dải san hô trước sân chùa cho du khách dạo bộ và ngắm cảnh. 


Thành Nguyễn

Cánh đồng điện gió ở Ninh Thuận

đăng 05:27, 18 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cánh đồng điện gió ở Phan Rang thu hút nhiều bạn trẻ đến tham quan, chụp ảnh nhờ khung cảnh đẹp như tranh vẽ. 

Điện gió Đầm Nại ở thôn Láng Me, xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận. Điểm dừng chân này nằm cách biển Ninh Chữ hơn 10 km. Ảnh: Thúc Trình. 


Công trình ở Đầm Nại hiện có 16 trụ turbine, nằm trên diện tích 9,6 ha. Đường kính cánh quạt ở đây là 114 m. Đây cũng là loại turbine gió lớn nhất Việt Nam hiện nay. Bao quanh các trụ turbine là cánh đồng lúa, phía xa là núi đồi. Ảnh: Nguyễn Thế Vinh. 


Nằm gần trung tâm Ninh Thuận hơn, mới xuất hiện từ cuối năm 2018, điện gió Đầm Nại nhanh chóng hấp dẫn du khách, đa phần là các bạn trẻ. Ảnh: @mievatho. 


Mỗi thời điểm, nơi này lại mang một vẻ đẹp khác, lúc thì sắc vàng óng ả của đồng lúa chín, lúc thì màu xanh rì nhưng cũng có thời điểm hoang vu. Thời điểm lý tưởng để ghé thăm nơi này là sáng sớm hoặc chiều muộn. Vì các trụ turbine rất to, bạn nên đứng xa để dễ dàng chụp ảnh hơn. Ảnh: tonie_nguyen. 


Để đến đây, từ quốc lộ 1A, bạn chạy theo hướng đến đồng cừu Suối Tiên. Từ đồng cừu, bạn đi thẳng thêm khoảng 20 km sẽ thấy một đoạn đường trải đá, rẽ phải rồi chạy vào bên trong là đến. Ảnh: Key Zyes. 


Cánh đồng điện gió Đầm Nại nhìn từ trên cao. Ảnh: Thúc Trình.


Tổng hợp

VnExpress Du lịch - 18/09/2019

Đông Khuyết Đài - không gian văn hóa mới cho du khách khi đến Huế

đăng 02:47, 11 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Không gian văn hóa Đông Khuyết Đài - Đại nội Huế đã chính thức được khai trương và khởi đầu bằng triển lãm “Chuyện ghế” của họa sỹ Lê Thiết Cương.

Đông Khuyết Đài nằm trong Quần thể Di tích Kinh thành Huế. 


Đông Khuyết Đài nằm ở hướng Đông, đường Đoàn Thị Điểm (phường Thuận Thành, TP. Huế). Đây là một trong bốn đài canh gác nằm giữa Hoàng thành Huế, được xây dựng từ thời vua Gia Long.

Với tầm nhìn gần như nguyên vẹn, dường như chưa bị ảnh hưởng của bất cứ sự thay đổi nào của thời thế, Đông Khuyết Đài có một vị trí lý tưởng đủ để du khách có thể trải nghiệm cảm giác nguyên thủy xưa kia.

Tại đây, sẽ mở ra một không gian trưng bày sản phẩm và những buổi biểu diễn, triển lãm nghệ thuật của các nghệ sỹ trong nước và quốc tế, nơi diễn ra những cuộc trò chuyện giữa mới và cũ, tôn vinh những nét tài hoa, sự đam mê của những người nghệ sĩ.

Những sản phẩm được trưng bày ở Đông Khuyết Đài.


Với không gian này, không chỉ bằng kiến trúc, mà còn được lồng ghép vào những hoạt động để ngợi ca nơi đây, như một nơi chốn để thưởng lãm những nét đặc sắc của người dân nước Nam như tiền nhân đã mong ước và thực hiện.

Do đó, nơi đây sẽ là không gian đa dạng và đầy màu sắc những hoạt động văn hóa, bao gồm: Nơi trưng bày và bán các sản phẩm nghệ thuật từ những ngành nghề thủ công truyền thống như sơn mài, thêu, kim hoàn, mây tre… được tạo bởi những nghệ nhân hàng đầu Việt Nam.

Từ đó, mở ra những buổi trình diễn như các hoạt động tạo tác sản phẩm hay những biểu diễn trưng bày triển lãm tác phẩm nghệ thuật.

Chụp ảnh cùng các sản phẩm từ triển lãm “Chuyện ghế” ngay trước không gian Đông Khuyết Đài.


Để tối đa trải nghiệm của khách tham quan, nơi đây còn giới thiệu những sản phẩm đặc sản, nông sản hàng đầu Việt Nam được bạn bè quốc tế ưa chuộng như trà, chocolate… thông qua những phương thức mang đậm tính biểu diễn nhằm mang đến cho mọi người một trải nghiệm hoàn toàn mới.

Khởi đầu bằng triển lãm Chuyện ghế của họa sỹ Lê Thiết Cương, mọi người cùng khởi đầu vào một cuộc hành trình mà ở đó những câu chuyện và sản phẩm hòa quyện với nhau, tạo thành một không gian nghệ thuật hoàn chỉnh.

PHÚC ĐẠT

Nhà thờ Trà Cổ đang hồi xây dựng lại

đăng 03:15, 10 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Về đất mỏ Quảng Ninh, đi miền Đông, tới Móng Cái, tới Trà Cổ mà không ghé thăm nhà thờ Trà Cổ là một thiếu sót vô cùng lớn cho một chuyến viễn du.

Tháng 9, những ngày vào thu, nhà thờ Trà Cổ thêm lần nữa đang hồi xây dựng lại.


Ảnh: Nguyễn Thị Thùy Ân 


Nhà thờ Trà Cổ thành lập nhà thờ là 1857. Ban đầu nhà thờ làm bằng gỗ gồm 7 gian. Năm 1880, nhà thờ bị hư hại, dột nát nhiều chỗ nên được xây cất mới bằng gạch đất, cột bằng gỗ, chạm trổ hoa lá để tạo sự trang nghiêm tôn kính.

Ảnh: Nguyễn Thị Thùy Ân 


Năm 1913, nhà thờ được xây mới lần nữa theo lối kiến trúc Gothic phương Tây. Năm 1930, nhà thờ bắt đầu xuống cấp. Cha xứ cho trùng tu khu thánh đường, tô lại vôi áo hai bên hiên nhà thờ, lát lại gạch bông toàn bộ nền, mở rộng thêm cung Thánh, sửa lại bàn thờ, lát đá đường đi, rải sỏi trắng lên sân cát…

Ảnh: Nguyễn Thị Thùy Ân 


Về tổng thể, nhà thờ Trà Cổ dài 130m, rộng 30m, gồm 10 gian, có mái lợp bằng ngói Tàu, tường đắp bằng đá vôi trộn với vỏ sò, hến đập nhuyễn, nằm trong một khuôn viên rộng lớn.

Ảnh: Nguyễn Thị Thùy Ân


Điểm nhấn của nhà thờ là một tháp chuông cao 30m, mất 2 năm để xây dựng. Trên tháp chuông có quả chuông được đúc khoảng năm 1927.

Ảnh: Nguyễn Thị Thùy Ân 


Trên các bức tường của nhà thờ được bài trí hàng trăm bức phù điêu chạm khắc tinh xảo, mang lại vẻ đẹp cổ kính, nguy nga. Thánh đường được chống đỡ bằng những hàng cột gỗ lim. Bàn thờ chính sơn son thếp vàng, chạm trổ hoa văn tinh xảo.

Ảnh Nguyễn Thị Thùy Ân


Năm 1979, trong chiến tranh biên giới phía Bắc, nhà thờ Trà Cổ bị tàn phá nặng nề. Đến năm 1995, công trình được trùng tu, khôi phục lại như thời điểm trước chiến tranh.

Ảnh Nguyễn Thị Thùy Ân 


Vào tháng ba, năm 2017, báo chí đưa tin: “Việc phá dỡ Nhà thờ được giáo xứ Trà Cổ đồng thuận và thực hiện vào ngày 9.3.2017”.

Ảnh Nguyễn Thị Thùy Ân 


Tháng chín 2019, Nhà thờ Trà Cổ đang hồi xây lại. Theo giáo dân trong vùng: Nhà thờ mới sẽ vẫn giữ những hoa văn, họa tiết của nhà thờ cũ nhưng quy mô hơn, đáp ứng nhu cầu đi lễ của 1.500 giáo dân nơi đây.

Ảnh Nguyễn Thị Thùy Ân


Nguyễn Thị Thùy Ân

Nhà tù Hỏa Lò – Nơi lưu giữ những dấu tích Lịch sử

đăng 02:35, 10 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nhà tù Hỏa Lò (nay là di tích lịch sử Nhà tù Hỏa Lò) là địa danh lịch sử nổi tiếng không thể bỏ qua khi đến Hà Nội, ở địa chỉ số 1 phố Hỏa Lò, Hà Nội. Xưa, nơi đây chứa đựng một phần nỗi đau của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ.

Khách thăm quan Di tích (Ảnh Nguyễn Đức Trung) 


Vùng đất này xưa thuộc thôn Phụ Khánh là một thôn chuyên làm các loại ấm đất, siêu đất và các loại hoả lò bằng đất (nung và để mộc), đem bán khắp kinh kỳ, nên địa danh này có tên là làng Hỏa Lò. Khi Pháp chiếm Hà Nội, chúng chuyển dân làng đi nơi khác, dỡ bỏ chùa Lưu Ly, chùa Bích Thư và chùa Bích Hoạ để lấy đất xây toà án và nhà tù. Do ở trên đất thôn Hỏa Lò nên nhà tù được người dân gọi là “Nhà tù Hỏa Lò”. 

Toàn cảnh nhà tù Hỏa Lò 1896 – 1954 (Ảnh:Ban quản lý Di tích Nhà tù Hỏa lò) 


Nhà tù Hỏa Lò do thực dân Pháp xây dựng năm 1896 và lấy tên là “Nhà tù Trung ương”. Vị trí mặt bằng của nhà tù nằm trọn trên mảnh đất hình thang thuộc thôn Phụ Khánh. Đối diện với nhà tù về phía đông là toà án, phía tây nam giáp phố Thợ Nhuộm, phía tây giáp phố Richaud (ngày nay là phố Quán Sứ), phía bắc giáp với đường Rollandes (nay là phố Hai Bà Trưng). Từ một làng nghề thủ công làm đồ gốm có tiếng, thực dân Pháp đã biến mảnh đất Hỏa Lò thành nơi giam giữ, đày ải về thể xác, tinh thần của hàng ngàn chiến sỹ yêu nước, cách mạng Việt Nam. Nhiều đồng chí sau này giữ cương vị Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội Việt Nam cũng từng bị thực dân Pháp giam giữ tại đây. 

Phòng giam (Ảnh: Ban quản lý di tích Nhà tù Hỏa Lò) 


Sống trong nhà tù thực dân, với chế độ giam giữ hà khắc, sinh hoạt kham khổ nhưng các chiến sỹ yêu nước, cách mạng vẫn giữ vững khí tiết, biến nhà tù thành trường học và là nơi phổ biến lý luận cách mạng. Nhiều người đã mưu trí vượt ngục trở về với nhân dân, với tổ chức, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc, xây dựng, phát triển đất nước. 

Tháng 10/1954, sau khi miền Bắc được giải phóng, Nhà nước Việt Nam đã quản lý và tạm thời sử dụng Nhà tù Hoả Lò để giam giữ những người vi phạm pháp luật. Từ ngày 05/8/1964 đến ngày 29/3/1973, Nhà tù Hoả Lò còn được dùng để tạm giam một phần trong số phi công Mỹ bị bắn rơi và bị bắt khi ném bom bắn phá miền Bắc - Việt Nam. 

Năm 1993, để đáp ứng yêu cầu phát triển văn hóa của Thủ đô, Nhà nước Việt Nam quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng của Nhà tù Hỏa Lò. Một phần phía Đông Nam còn lại được gìn giữ, tu bổ, tôn tạo và được xếp hạng di tích Quốc gia vào năm 1997. 

Phòng trưng bày (Ảnh:Ban quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò) 


Tại di tích lịch sử Nhà tù Hỏa Lò, hiện đang trưng bày nhiều tài liệu, hiện vật quý phản ánh cuộc sống của tù chính trị Việt Nam dưới chế độ thực dân Pháp, cuộc sống của tù binh phi công Mỹ khi bị giam giữ tại Nhà tù Hỏa Lò và Đài Tưởng niệm các chiến sỹ yêu nước, cách mạng đã anh dũng hy sinh tại Nhà tù Hỏa Lò vì nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. 

Nhà tù Hỏa Lò đã trở thành nơi giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng tới mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ của Thủ đô, nơi thu hút đông khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan, nghiên cứu và học tập. 

Đồng Hoa (tổng hợp)

Non nước Na Hang

đăng 02:13, 10 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Hồ Na Hang nằm trên diện tích hai huyện Lâm Bình và Na Hang (Tuyên Quang) xuất hiện trong truyền thuyết là nơi chim phượng hoàng bay về, tạo thành 99 ngọn núi. Đến đây du khách được thư giãn, đắm chìm trong không gian êm đềm, yên bình và lắng nghe những câu chuyện, truyền thuyết về thủa hồng hoang. 

Hồ Na Hang là nơi hợp lưu giữa sông Gâm với sông Năng tạo thành hồ Na Hang là một vùng sông nước, núi non hùng vĩ với diện tích bề mặt nổi khoảng 8000ha. Hồ Na Hang vẫn còn rất nguyên sơ, nước trong xanh như ngọc, ven hồ là những cánh rừng nguyên sinh trải dài.

Trong bốn tháng đầu năm 2019, huyện miền núi Lâm Bình của Tuyên Quang đã thu hút 23 nghìn lượt khách tham quan du lịch.
Vẻ đẹp mang tính biểu tượng của du lịch hồ Na Hang là hòn núi “ Cọc Vài Phạ” nằm giữa hồ. Trong tiếng của dân tộc Tày, “Cọc Vài Phạ” nghĩa là Cọc buộc trâu trời. Hồ Na Hang còn được biết đến như một khu sinh thái tự nhiên với cảnh quan độc đáo với những rặng nghiến cổ thụ nằm vững chãi giữa rừng nguyên sinh, soi bóng xuống mặt hồ.

Bến thuyền hồ Na Hang đón khách du lịch tham quan.


Hòn núi “ Cọc Vài Phạ” nằm giữa hồ phía thượng nguồn hồ Na Hang trên địa phận huyện Lâm Bình.

Ảnh: Trọng Đạt

Ngọn núi đá vôi tạo vẻ đẹp như một Hạ Long thu nhỏ ở Na Hang.


Đến với Na Hang, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng bởi một vùng sông nước với núi non trùng điệp thơ mộng của tạo hóa. Ảnh: Trịnh Bộ


Vẻ đẹp thơ mộng hồ Na Hang.


Mặt nước xanh như ngọc hồ Na Hang.


Thác nước tự nhiên quanh lòng hồ.


Vẻ đẹp thơ mộng của Thác Mơ – một biểu tượng du lịch của huyện Na Hang. Ảnh: Trọng Đạt 


Du khách hòa mình trong dòng nước mát lành của hồ Na Hang. Ảnh: Trịnh Bộ 


Món ăn bản địa đặc trưng của Na Hang. 


Không chỉ có vậy nơi đây còn sở hữu những thắng cảnh đẹp khác như: Núi Pắc Tạ (trong tiếng Tày có nghĩa là vú của trời). Đây là ngọn núi cao nhất huyện Lâm Bình, có dáng hình chú voi đứng bên nậm rượu nhìn xa sừng sững, uy nghiêm, thoắt ẩn, thoắt hiện trong mây vờn.

“Đến với Lâm Bình, khách du lịch sẽ được an toàn để trải nghiệm sự đa dạng màu sắc văn hóa cũng như cuộc sống gắn bó của dân tộc anh em cùng rất nhiều danh thắng lịch sử, chùa chiền nơi đây”. (Chủ tịch UBND huyện Lâm Bình Nguyễn Văn Dưng)
Du khách đến Na Hang có thể ngồi thuyền ngắm cảnh dọc lòng hồ. Ngoài ra vùng nước non này còn rất nhiều thắng cảnh ấn tượng như: thác Mặn Me, thác Khuổi Nhi, thác Khuổi Súng...

Bên cạnh đó còn có khu du lịch sinh thái lâm viên Phiêng Bung tạo thành một hệ thống du lịch hoàn chỉnh, bền vững, liên hoàn, có liên quan chặt chẽ với rừng nguyên sinh.

Ở Na Hang du khách còn bắt gặp một thị trấn nhỏ xinh và cũng không khó để có thể tìm một nhà nghỉ hay quán ăn bình dân. Du khách sẽ được thưởng thức những món đặc sản thơm ngon của xứ Tuyên như cá lăng, cá nheo, xôi ngũ sắc và gà đồi cùng ngất ngây với men rượu ngô men lá rừng nồng nàn, bình dị như chính người dân Tuyên Quang chất phác và hiếu khách.

Bài và ảnh: Trịnh Bộ - Trọng Đạt

Chư Đăng Ya: ngọn núi lửa hùng vĩ giữa đại ngàn

đăng 02:02, 7 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 20:55, 17 thg 9, 2019 ]

Nếu như hồ T’nưng được nhiều du khách biết đến như một tuyệt tác của thiên nhiên ban tặng cho người dân phố núi Pleiku, thì ngọn núi lửa Chư Đăng Ya sừng sững trên vùng đất hoang sơ lại thu hút du khách tham quan, khám phá bởi nét đẹp hoang sơ nhưng đầy quyến rũ. 

Chư Đăng Ya thuộc địa phận làng Ploi lagri, xã Chư Đăng Ya, huyện Chư Păh, cách trung tâm phố núi Gia Lai khoảng 30 km về hướng đông bắc, cách điểm du lịch Biển Hồ nổi tiếng 20 km.

Theo tiếng đồng bào J’rai, Chư Đăng Ya có nghĩa là củ gừng dại. Đây là một trong những ngọn núi lửa đã từng hoạt động dữ dội ở vùng đất Tây Nguyên cách đây hàng triệu năm, nằm ẩn mình giữa đại ngàn hoang sơ. Từ trên cao nhìn xuống, ngọn núi tựa như một cái phễu khổng lồ, miệng núi tròn rỗng mang sắc đỏ màu mỡ đã được những lớp nham thạch tạo nên qua hàng triệu năm lịch sử.

Vẻ đẹp hùng vĩ của núi lửa Chư Đăng Ya nhìn từ trên cao. Ảnh: Phan Nguyên


Dân chài lưới sinh hoạt bên dòng sông dưới chân núi lửa. Ảnh: Thanh Hòa


Cuộc sống sinh hoạt của người dân dưới chân núi lửa Chư Đăng Ya. Ảnh: Công Đạt


Nhà rông, nơi sinh hoạt chung của đồng bào Tây Nguyên dưới chân núi lửa Chư Đăng Ya. Ảnh: Công Đạt


Mỗi mùa, ngọn núi sẽ có những nét đẹp riêng. Ảnh: Thanh Hòa


Những bông dã quỳ khoe sắc tô điểm cho vẻ đẹp của Chư Đăng Ya. Ảnh: Công Đạt


Cảnh sắc thiên nhiên quanh khu vực núi lửa rất tự nhiên, đa dạng. Ảnh: Thanh Hòa


Cây cối bốn mùa xanh tươi. Ảnh: Công Đạt


Người dân canh tác trên đỉnh núi lửa Chư Đăng Ya. Ảnh: Công Đạt


Khung cảnh bầu trời xanh thanh bình bao quanh ngọn núi lửa. Ảnh: Công Đạt 


Cây trồng ở đây quanh năm xanh tốt mà không cần tưới nước. Sự hòa quyện của những loài hoa, cỏ dại chính là điểm nhấn của Chư Đăng Ya. Mỗi mùa, ngọn núi sẽ có những nét đặc sắc riêng, nếu sắc đỏ của hoa dong riềng báo hiệu mùa mưa thì sắc vàng của hoa dã quỳ báo mùa đông đến. 

Tháng 11 hàng năm, dã quỳ nở nhuộm vàng óng ả hai bên đường dẫn tới chân đồi, và trải dài miên man tới miệng núi lửa, tô điểm cho cảnh sắc thiên nhiên Chư Đăng Ya thêm ấn tượng hơn. Cũng trong thời gian này, Chư Đăng Ya còn tổ chức lễ hội hoa dã quỳ với nhiều hoạt động phong phú. Du khách thỏa thích ngắm hoa, leo núi, say men rượu cần và hòa vào nhịp cồng chiêng của người bản địa, thưởng thức các món ăn truyền thống của đồng bào Tây Nguyên như cơm lam, gà nướng, rượu cần...

Chư Đăng Ya mang đến cho du khách những trải nghiệm mới lạ, thú vị và tuyệt vời, những người yêu du lịch không chỉ được khám phá vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên mà còn được tìm hiểu nét sinh hoạt, văn hóa của đồng bào địa phương nơi đây.

Chư Đăng Ya thực sự là nơi lý tưởng cho những ai yêu thiên nhiên, thích khám phá, tìm kiếm những vẻ đẹp hoang sơ, thuần khiết và quyến rũ của vùng đất Tây Nguyên đại ngàn.

Bài và ảnh: Công Đạt - Thanh Hòa - Phan Nguyên

Về Cao Muôn thăm ngọn nguồn cách mạng

đăng 01:01, 7 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Mùa thu, về vùng núi Cao Muôn, xã Ba Vinh (Ba Tơ) không chỉ để hiểu thêm nơi ngọn nguồn Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Quảng Ngãi mà còn là dịp để ngắm nhìn những ngôi nhà sàn xinh xinh của đồng bào Hrê bên sườn đồi, đắm mình trong dòng thác trong xanh.

Con đường về Cao Muôn bây giờ không còn khó đi nữa. Từ ngã ba xã Ba Thành xe cứ chạy một mạch qua Làng Teng, cầu sông Liêng rồi tiếp tục theo con đường bê tông mới mở đến khu vực trụ sở xã Ba Vinh. Rồi từ đây về thôn Nước Gia, băng qua những xóm nhà là đến nơi.

Núi Cao Muôn – nơi năm 1945, Đội du kích Ba Tơ chọn làm căn cứ trước khi tiến về đồng bằng. ẢNH: TL 


Vùng núi Cao Muôn chào đón khách phương xa bằng dãy núi cao và dòng suối nước trong xanh. Đường xa tới đây, du khách dừng chân nơi dòng thác, ngồi trên những phiến đá để hơi nước bốc lên mát rượi.

Ngước mặt nhìn lên thấy núi Cao Muôn cao vời vợi. Một màu xanh bạt ngàn của rừng tự nhiên bao phủ mà lòng chợt nhớ đến mùa thu xưa. Tháng 3.1945, những chiến sĩ cách mạng trung kiên ở Căng An Trí Ba Tơ dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã cùng với đồng bào các dân tộc trong huyện tiến hành vũ trang, nhất tề nổi dậy, làm nên cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ oai hùng. 

Sau khởi nghĩa, Đội du kích Ba Tơ được thành lập, tổ chức lễ tuyên thệ bên dòng sông Liêng rồi tiến về Cao Muôn lập căn cứ đêm ngày tổ chức học tập chính trị, quân sự trước khi tỏa về trung châu thành lập Đại đội Hoàng Hoa Thám và Phan Đình Phùng, trở thành lực lượng nòng cốt trong Khởi nghĩa tháng 8.1945. 

Trong đoàn quân du kích đó, nhiều người qua chiến tranh, trở thành tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Để rồi, sau chiến tranh có người tìm về nơi đây, thăm đồng bào dân tộc, nhớ lại một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết. 

Bên dòng suối xưa, tướng Nguyễn Đôn từng kể: “Hồi đó, thoát khỏi Căng An Trí, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền rồi thành lập đội du kích tiến về nơi đây, anh em như con chim giang đôi cánh rộng tự do, say sưa làm cách mạng để đánh đuổi quân thù”. 

Cảnh cũ còn đó, nhưng người xưa đã khuất. Công lao và sự nghiệp cách mạng của những người du kích trung kiên đi vào lịch sử đấu tranh của dân tộc, đi vào những câu chuyện kể của người dân trên quê hương Ba Tơ anh hùng. 

Suối Cao Muôn. 


Nhiều người còn kể ở vùng Cao Muôn, thời du kích Ba Tơ còn có bà mẹ Thía nghèo khổ thường ngày đi mót khoai, nhường gạo cho đoàn quân du kích. Đó là tấm lòng sắc son của người dân đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trên quê hương.

Nhớ về lịch sử, rồi ngoái nhìn hiện tại. Bây giờ vùng Cao Muôn những xóm nhà của đồng bào dân tộc khang trang hơn. Nơi dòng suối xưa từng in dấu chân của đoàn quân du kích, giờ là điểm hẹn của các bạn trẻ ưa khám phá và nằm trong quy hoạch phát triển du lịch của địa phương. 

Đắm mình trong dòng thác Cao Muôn mát lạnh bạn sẽ hiểu hơn về suối nguồn chảy mãi. Nơi dòng suối có đàn cá suốt, cá niêng bơi lội tung tăng. Rồi trong khoảng không gian mênh mông của núi rừng, đây đó, tiếng gà rừng gáy vang cùng với tiếng chim hót trong veo, tiếng suối chảy ào ạt hòa âm thành điệu nhạc của đại ngàn.

Cao Muôn lâu rồi là điểm hẹn cho những bạn trẻ ưa khám phá, muốn hiểu nhiều hơn về lịch sử địa phương. Ở đây, không hề có dịch vụ du lịch nên muốn về Cao Muôn bạn hãy tự chuẩn bị món ăn, thức uống cho riêng mình. Cách tốt nhất trước khi về Cao Muôn bạn hãy đặt trước một con gà re nướng, gà re luộc chấm muối ớt, một ché rượu cần ở hàng quán khu vực trung tâm xã rồi chuyển về bên dòng suối Cao Muôn. 

Bài, ảnh: Cẩm Thư

Di tích đền Voi ở Quỳnh Lưu

đăng 02:59, 4 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Di tích đền Voi là công trình kiến trúc lớn được xây dựng từ thời nhà Lê, được bảo tồn khá nguyên gốc các hạng mục công trình cho đến ngày nay. 

Di tích đền Voi tọa lạc ở làng Long Sơn, xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Lưu. Đền được xây dựng từ thời Lê, đến thời Nguyễn được tu bổ, tôn tạo. Đền hướng về phía Đông Bắc, tả có núi Long Sơn làm Thanh Long, hữu có núi Tượng Sơn làm Bạch Hổ, sau gối Tam Thai, trước chầu Quế Hải, là nơi phong thủy đẹp. 


Đền Voi nhìn từ chính diện.Trước đây đền được xây dựng trên vùng đất rộng khoảng 5000 m2, trải qua nhiều biến động đến nay khuôn viên chỉ còn 2.088m2 với các hạng mục công trình chính: Cổng ngoài, sân, Nghi môn, Bái đường, Hậu cung, Tả, Hữu vu. 


Nghi môn đền Voi được thiết kế theo kiểu Tam quan, quy mô khá đồ sộ, được xây bằng chất liệu gạch, vôi, vữa nhưng hiện nay chỉ còn cổng giữa. 


Dù đã nhuốm màu thời gian, các hình đắp nổi trên Nghi môn vẫn giữ nguyên được chi tiết tinh xảo. Trong ảnh là một bức phượng đắp nổi cầu kỳ. 


Tượng nghê chạm trổ tỉ mỉ trên đầu đao Nghi môn. 


Nhà bái đường bề thế nằm giữa những tán cây xanh mát. Đền Voi trước đây gồm có 6 tòa được bố cục theo kiểu nội công ngoại quốc, bao gồm các công trình: Cổng ngoài có 2 tượng voi, Nghi môn, nhà Tả, Hữu vu, Bái đường, 2 nhà cầu nối liền Bái đường và hậu cung. 


Bên trong nhà bái đường là các cột gỗ lớn vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. 


Hệ vì kèo bằng gỗ nguyên khối được chạm trổ đầu rồng trong nhà bái đường. 


Mặt tiền nhà hậu cung trong đền. 


Ban thờ ở nhà hậu cung. Đền Voi thờ chính 3 vị thần bản thổ khai canh của làng: ông Phan Văn Bài, ông Hồ Cảnh Xí và ông Nguyễn Duy Thời. Về sau có phối thờ: Tứ vị Thánh Nương, Tam tòa Lý Nhật Quang, Hoàng Tá Thốn và hậu thần Hồ Phi Tứ, ông xứ bản Đồng Môn, ông Nghè Long Sơn. 


Đền Voi được cấp bằng di tích Văn hóa lịch sử kiến trúc nghệ thuật năm 2012. Trải qua nhiều biến thiên lịch sử, thiên tai, chiến tranh, một số công trình của đền Voi đã bị hư hỏng, xuống cấp. 


Nhật Thanh

Ngôi chùa có cổng hình cây tre

đăng 02:31, 3 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:33, 3 thg 9, 2019 ]

Chùa Ruộng Lớn có cổng hình cây tre, chánh điện kiểu bát giác, khuôn viên đặt hàng nghìn khối đá đủ hình thù. 

Ruộng Lớn là tên người dân thường gọi chùa Hiển Mật (TP Long Khánh). Chùa theo phong cách Tịnh độ tông, có phong cảnh đẹp, kiến trúc độc đáo, thu hút nhiều khách hành hương. 

Cổng cách điệu hình cây tre cạnh các phiến đá lớn. Thân tre uốn thành cầu nhỏ qua con suối, thay vì cổng tam quan thường thấy như nhiều ngôi chùa khác. Cạnh những bụi tre là hai cây sala bằng xi măng, loài cây tượng trưng cho nhà Phật. 

Trong Phật giáo, cây tre, trúc mọc theo bụi là biểu trưng quần tụ của tín đồ. Những thân tre nhiều đốt như chiếc thang lên trời. Tre với trúc ruột rỗng còn là biểu tượng của tâm không dẫn dắt Phật tử trở về với bản thể. 

Theo các sư trong chùa, trước kia đường vào chùa cũng có những rặng tre lớn nên khi xây dựng đã lấy hình cây này làm cổng. 

Trên đỉnh cổng chùa bài trí tượng Bồ tát nghìn tay ngồi trên đài sen, bao quanh là những nhành hoa mai, sala. 


Chánh điện chùa nổi bật với tháp chuông, tháp trống được đặt trên trụ bê tông. Trên đỉnh hai tháp đặt bình hồ lô, hàm ý là bình đựng rượu tiên của các vị Phật. 


Phía sau hai tháp chuông là chánh điện lợp ngói đỏ, có hình bát giác, nằm giữa vườn cây rộng lớn. Theo nhà chùa, bát giác tượng trưng cho tám con đường giải thoát khỏi khổ đau. 


Chánh điện của chùa có diện tích khoảng 30 m2, không có tượng lớn mà bài trí tượng nhỏ, tranh ảnh Phật. 


Chùa Hiển Mật không có những bảo tháp, bức tượng to lớn nhưng khuôn viên rộng, nhiều cây xanh, bài trí nhiều vườn tượng, tả lại các tích Phật giáo. Nổi bật là vườn lộc uyển (còn gọi là vườn nai), nơi Đức Phật đã dạy bài pháp đầu tiên dưới tán cây bồ đề. 


Những viên đá, hồ nước, hoa sen trong chùa tạo thành tiểu cảnh bờ sông Anoma, nơi Đức Phật cắt tóc tu hành. 


Các tượng Phật đủ hình dáng, kích thước bài trí nhiều nơi trong chùa. Không ít tượng được trang trí bằng những mảnh sành sứ. 


Khuôn viên chùa còn có nhiều tảng đá đủ hình thù, xếp đặt thành những hình khối tự nhiên. Theo nhà chùa, các tảng đá chủ yếu do người dân trong vùng làm ruộng, rẫy tìm thấy và mang đến tặng. Một số tảng lớn khác do Phật tử phương xa hiến tặng. 


Công trình xây dựng năm 1984, có diện tích 10.000 m2 nằm cạnh cánh đồng lúa. 


Quỳnh Trần

1-10 of 20