Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Hàm Rồng ở... Biên Hòa Trong Nam, khi nhắc đến Hàm Rồng người ta thường nghĩ ngay đến núi Hàm Rồng ở Pleiku, Gia Lai. Có nhiều lý do khiến địa danh Hàm Rồng Pleiku ...
    Được đăng 08:27 10-09-2014 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đôi điều về Bửu Long Người ta thường nói: đi chơi Bửu Long, leo núi Bửu Long, đi chùa Bửu Long... Ờ, thật ra nói như vậy nghĩa là sao nhỉ?1. Bửu Long ...
    Được đăng 08:45 14-08-2014 bởi Pham Hoai Nhan
  • Truyền thuyết Bà Rịa và địa danh Bà Rịa Bà Rịa ở địa đầu biên giới trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng, cho nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng, “cơm Nai Rịa - cá Rí ...
    Được đăng 08:20 03-07-2014 bởi Nhân Phạm Hoài
  • Ngã ba - ngã tư Đồng Nai có 2 cái ngã ba quen tên với mọi người, đó là Ngã Ba Vũng Tàu rẽ qua quốc lộ 51 để đi Vũng Tàu và Ngã Ba ...
    Được đăng 21:46 02-07-2014 bởi Pham Hoai Nhan
  • Câu chuyện Thất Sơn Địa danh “Thất Sơn” rất quen thuộc với người An Giang và cũng không lạ gì với hàng triệu khách hành hương hằng năm về viếng Bà Chúa Xứ núi ...
    Được đăng 05:27 06-07-2014 bởi Nhân Phạm Hoài
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 21. Xem nội dung khác »


Hàm Rồng ở... Biên Hòa

đăng 08:27 10-09-2014 bởi Pham Hoai Nhan

Trong Nam, khi nhắc đến Hàm Rồng người ta thường nghĩ ngay đến núi Hàm Rồng ở Pleiku, Gia Lai. Có nhiều lý do khiến địa danh Hàm Rồng Pleiku trở nên quen thuộc:

  • Đại bản doanh của đội bóng đá Hoàng Anh - Gia Lai và học viện bóng đá của HAGL đặt tại Hàm Rồng. Do vậy những người không quan tâm du lịch, địa lý, chỉ quan tâm thể thao cũng biết tên Hàm Rồng.
  • Hàm Rồng là ngọn núi lớn ở Pleiku, từ nhiều vị trí ở TP Pleiku đều có thể nhìn thấy ngọn núi này.
  • Truyền thuyết rằng núi Hàm Rồng là phần dương của núi lửa, còn Biển Hồ Pleiku là phần âm, đem núi Hàm Rồng úp lên Biển Hồ sẽ... vừa khít!

Núi Hàm Rồng ở Gia Lai. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Thế nhưng nếu ở ngoài Bắc, nhắc đến Hàm Rồng người ta lại nghĩ đến ngọn núi khác. Đó là núi Hàm Rồng thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, nằm sát thị trấn Sa Pa, Lào Cai. Như tên gọi, ngọn núi này có hình dáng giống hệt như hàm con rồng. Đây là một điểm du lịch nổi tiếng.


Núi Hàm Rồng ở Sa Pa. Ảnh: Wikipedia


Không chỉ thế, Hàm Rồng còn là tên một ngọn núi ở Thanh Hóa. Nơi đây còn có cầu Hàm Rồng, một địa danh nổi tiếng trong thời kỳ chống Mỹ.


Và miền Trung, gần với Pleiku lại có một ngọn núi mang tên Hàm Rồng nữa. Đó là núi Hàm Rồng ở xã Phước Mỹ, TP Quy Nhơn.


Thấy nhiều nơi có Hàm Rồng quá, tui đâm ra GATO (ghen ăn tức ở), bèn xin hùng dũng giới thiệu rằng: Biên Hòa cũng có Hàm Rồng!


Điều khác so với những Hàm Rồng ở trên là: đây không phải ngọn núi, mà là tảng đá. Trên núi Bình Điện (phường Bửu Long, Biên Hòa) có ngôi chùa cổ Bửu Phong. Bên trái chùa Bửu Phong có tảng đá lớn gọi là Long Đầu Thạch (nghĩa là đá đầu rồng), hay còn gọi là Hàm Rồng.



Tảng đá chênh vênh nằm trên một khối đá to, giống như miệng con vật to lớn đang há ra, do đó gọi Hàm Rồng mô tả chính xác hơn là đầu rồng.


Không to lớn như những ngọn núi, nhưng chính vì thế ta có thể dễ dàng đến bên hàm rồng, thậm chí chui vào miệng rồng - chứ những ngọn núi to cao kia làm sao mà chụp được ảnh ta ở trong miệng rồng chứ!


Chui vào hàm rồng làm kẻ đội đá vá trời


...hay giả làm Tôn Ngộ Không bị đè dưới Ngũ Hành Sơn.


Vậy đó, Biên Hòa cũng có Hàm Rồng như ai chứ bộ! Ở Biên Hòa, lúc nào rãnh rỗi bạn cứ đi 15 phút là tới Hàm Rồng, khỏi phải đi xa tới Sa Pa hay Pleiku chi cho mệt nha bạn! 


Phạm Hoài Nhân

Đôi điều về Bửu Long

đăng 08:45 14-08-2014 bởi Pham Hoai Nhan

Người ta thường nói: đi chơi Bửu Long, leo núi Bửu Long, đi chùa Bửu Long... Ờ, thật ra nói như vậy nghĩa là sao nhỉ?


1. Bửu Long


Ở Biên Hòa chỉ có 1 địa danh Bửu Long, đó là phường Bửu Long. Xa hơn về trước, từ cuối thế kỷ 19, đây là làng Bửu Long. Dĩ nhiên khi nói đi chơi thì không phải là đi chơi phường Bửu Long rồi (hổng lẽ tới thăm UBND phường), mà chính xác là người ta nói đi đến khu du lịch Bửu Long (nằm trên địa bàn phường Bửu Long, Biên Hòa). Bản đồ khu du lịch Bửu Long được giới thiệu trong hình sau (click vào để phóng to).



Nói thêm một chút, về đường đi đến khu du lịch Bửu Long. Nếu đi từ hướng TPHCM theo quốc lộ 1K thì vừa qua cầu Hóa An bên tay trái đã là địa bàn phường Bửu Long. Rẽ trái đi theo đường Huỳnh văn Nghệ đúng 2 km là tới cổng chính khu du lịch Bửu Long bên tay phải (có 2 con rồng). Sở dĩ phải nói kỹ như vậy vì có nhiều tài liệu hướng dẫn là đi 6 km trên đường Huỳnh văn Nghệ mới tới Bửu Long (sai), hoặc từ trung tâm TP Biên Hòa đển Bửu Long là 6 km (không rõ ràng).


2. Núi ở Bửu Long


Người ta nói leo núi Bửu Long. Ở Bửu Long có 2 ngọn núi, một nằm trong khuôn viên khu du lịch Bửu Long, một nằm ở ngoài. Cụ thể là theo bản đồ trên, bạn đi theo đường Huỳnh văn Nghệ đến hết phạm vi khu du lịch Bửu Long và rẽ phải theo đường Võ Trường Toản (hướng đi tới văn miếu Trấn Biên) thì phía bên phải đường là một ngọn núi (trong khuôn viên khu du lịch), còn phía bên trái là một ngọn núi khác (ngoài khuôn viên khu du lịch).


Trong 2 núi ấy đâu là núi Bửu Long?


Núi trong khu du lịch tên là núi Long Ẩn. Nơi đây người ta phá đá nên tạo thành hồ gọi là hồ Long Ẩn.


Núi bên ngoài tên là núi Bình Điện.


Người xưa ví con sông Đồng Nai chảy qua Biên Hòa là con rồng (ẩn) mà đầu của nó là núi Long Ẩn và miệng rồng ngậm một hòn ngọc châu, đó là núi Bình Điện.


Tóm lại là không có núi Bửu Long. Có khi người ta thuận miệng gọi tên núi nằm trong khu du lịch Bửu Long là núi Bửu Long, nhưng thật ra vậy là không đúng tên.


3. Chùa ở Bửu Long


Người ta nói đi chùa Bửu Long. Ấy là nói tắt thôi, ý là nói đi chùa ở 2 ngọn núi khu vực Bửu Long. Mỗi ngọn núi này có một ngôi chùa nổi tiếng. Trên núi Bình Điện là Bửu Phong cổ tự, ngôi chùa cổ trên 300 năm. Trên núi Long Ẩn là chùa Long Sơn Thạch Động, còn gọi là chùa Hang.


Chùa Bửu Phong


Lân cận 2 ngôi chùa lớn này còn có những ngôi chùa khác, như cạnh chùa Bửu Phong có Tịnh xá Bửu Pháp, cạnh chùa Long Sơn Thạch Động có chùa Long An, chùa Linh Sơn... Còn khi đi ngoạn cảnh trong khuôn viên khu du lịch người ta sẽ thấy một ngôi chùa nhỏ khá đẹp, đó là Tịnh thất Phổ Hạnh.


Dù trên núi có nhiều chùa như thế nhưng không có chùa Bửu Long ở khu du lịch Bửu Long. Trên một số bản đồ ghi chú chùa Bửu Long trong khu du lịch Bửu Long là sai, đó là vị trí chùa Long Sơn Thạch Động. Còn ngôi chùa lớn, mang tên chính thức là Bửu Long thì có, nhưng ở quận 9 TPHCM! Đây là ngôi chùa của Phật giáo nguyên thủy rất đẹp và uy nghi, và điều đáng nói là tên Bửu Long của ngôi chùa ấy có liên quan mật thiết với vùng đất Bửu Long của Biên Hòa, Đồng Nai (xem chi tiết tại đây).


4. Hồ ở Bửu Long


Ở khu du lịch Bửu Long có hồ Long Ẩn. Đúng, nhưng chưa đủ. Ở đây có đến 2 hồ: hồ Long Ẩn và hồ Long Vân, như bạn có thể thấy rõ trên bản đồ. Sở dĩ người ta chỉ biết và nhắc đến hồ Long Ẩn là vì nó to hơn, gần hơn khi ta đi từ cổng chính vào, và đã được xây dựng nhiều tiểu cảnh, các dịch vụ như đi ca nô, đạp thiên nga... cũng có ở hồ này.


Muốn đến hồ Long Vân bạn phải đi khá xa. Thế nhưng nếu ai yêu thích vẻ hoang sơ tự nhiên thì có lẽ đây sẽ là điểm đến lý thú hơn nhiều. Đáng nói nữa là như bạn thấy trên bản đồ, hồ Long Vân có vị trí khá gần với đường lộ quanh khu du lịch, vì thế bạn có thể không cần mua vé vào đây mà vẫn có thể chụp được những pô hình khá đẹp.


Hồ Long Ẩn. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Hồ Long Vân. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Phạm Hoài Nhân

Truyền thuyết Bà Rịa và địa danh Bà Rịa

đăng 08:11 03-07-2014 bởi Nhân Phạm Hoài   [ đã cập nhật 08:20 03-07-2014 ]


Bà Rịa ở địa đầu biên giới trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng, cho nên các phủ phía Bắc có câu ngạn rằng, “cơm Nai Rịa - cá Rí Rang” ấy là lấy xứ Đồng Nai mà Bà Rịa đứng đầu mà bao gồm cả Bến Nghé, Sài Gòn, Mỹ Tho, Long Hồ vậy”. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức đã chép như vậy. Gần đây, tin tức về những hoạt động thiết thực kỷ niệm 300 năm Đồng Nai - Biên Hòa, 300 năm Sài Gòn, thành phố Hồ Chí Minh khiến các độc giả Bà Rịa - Vũng Tàu cũng thảo luận thật sôi nổi một vấn đề: lịch sử hình thành vùng đất Bà Rịa - Vũng Tàu và nguồn gốc địa danh Bà Rịa.  Sau cuộc tranh luận hết sức sôi động suốt một ngày ròng tại cuộc Hội thảo khoa học ngày 25-9-1998 do Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức về Nhân vật chí tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, chúng tôi lại được tham dự cuộc hội thảo rất thú vị về ngôi mộ bà Nguyễn Thị Rịa do huyện ủy Long Đất tổ chức ngày 7-10-1998 tại xã Tam An, truyền rằng đó là nơi bà có công khai hoang, lập làng và bà mất ở đấy. Và quả là ít có một nhân vật lại có trong nhiều truyền thuyết như  Bà Rịa.

1.  Truyền thuyết về  bà Nguyễn Thị Rịa:

Cuộc Hội thảo ngày 7-10-1998 tại Tam An do Huyện ủy Long Đất chủ trì, bàn về ngôi mộ và việc trùng tu ngôi mộ Bà Rịa. Đây là ý nguyện của các bậc lão làng đã đề xuất với các cấp lãnh đạo nhiều năm nay mà chưa có điều kiện giải quyết. Một trong những trở ngại lớn là là có khá nhiều truyền thuyết về Bà Rịa, về ngôi mộ Bà Rịa, các truyền thuyết có nhiều chỗ khác nhau, có chỗ như thực như ảo, kể cả sự hiện hữu của ngôi mộ Bà Rịa cũng như có, như không...

            Cuộc Hội thảo lần này, Huyện ủy Long Đất đã mời các vị bô lão trong làng, các ban ngành trong huyện, trong tỉnh và một số nhà nghiên cứu. Hơn mười vị bô lão đã về dự, các cụ đều sinh ra ở các làng Phước Hưng, Tam Phước, Hắt Lăng, An Ngãi, Long Điền..., trung tâm của huyện lỵ Phước An xưa, một trong những bến đậu đầu tiên của cộng đồng người Việt vào khai phá và lập nghiệp  ở xứ Đồng Nai. Nhiều tuổi nhất là các cụ Võ Văn Phát (86 tuổi ở làng Phước Hưng, Tam An), cụ Trương Vạn (86 tuổi ở làng Hắt Lăng, Tam An), ít tuổi hơn cả là cụ Huỳnh Văn Bộ, 66 tuổi, ở làng Hắt Lăng, nay thuộc xã Tam An.

            Dù đã cao niên, các cụ còn khoẻ, minh mẫn, say sưa với những truyền thuyết mà các bậc tiền nhân truyền lại. Các cụ đều thừa nhận rằng, so với truyền thuyết về Bà Rịa thì các cụ chỉ là hậu sinh, nghe lại; về ngôi mộ Bà Rịa, các cụ cũng không ai chứng kiến thực hư, chỉ nghe vậy, biết vậy. Truyền thuyết về Bà Rịa được trình bày khá kỹ trong phát biểu của cụ Huỳnh Văn Bộ, 66 tuổi, ở làng Hắt Lăng (Tam An). Chuyện này cụ chép lại ngày 6 tháng ba âm lịch năm Giáp Tý (1984) từ bản chép tay của cụ Tư Phò, người cùng làng, nay đã mất. Chúng tôi lược ghi lại đây, theo bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ:

            “Vì là thứ dân nên sử sách không ghi chép, hoặc đã quá lâu nên lạc mất cũng nên.

“Trong dân gian, ít ai hiểu biết đời tư của Bà...

“Văn kiện để lại, thời vua Minh Mạng, năm thứ 12, là Bà Rịa quê ở Phú Yên, gia đình nghèo, theo cha mẹ vào Nam năm 15 tuổi, đời chúa Nguyễn Phúc Tần, Bà về lập thân tại Long Lập (xã Long Phước ngày nay) và chết ở làng Phước Liễu (nay thuộc xã Tam An), nơi bà có công sáng lập.

“Bà sống trọn đời độc thân, không chồng không con, bà thọ 94 tuổi, nhắm khoảng năm 1759, thời vua Lê Hiếu Tông, niên hiệu Cảnh Hưng và chúa Nguyễn Phúc Khoát, nghĩa là bà về Nam khoảng năm 1680, chết 1759.

“Bởi không biết rõ họ nên người đời tục gọi là Bà Rịa. Hiện ngôi mộ Bà còn lại ở Tam Phước, cách 100m cạnh hương lộ Long Điền - Long Mỹ.

“Vì là thứ dân, bà chết trong thầm lặng, ngôi mộ bà không ai để ý. Năm 1936, tên tuổi bà mới có cơ được nhắc nhở,ngôi mộ bà mới được trùng tu sửa chữa. Nguyên do có cuộc tranh chấp đấu giá công điền tỉnh Bà Rịa, xét sổ bộ xã Tam Phước, quận Long Điền là (ruộng công) nhiều hơn hết, thuộc phần di sản của tiền nhân là Bà Rịa khi xưa để lại mới cho phép nông dân trong quận được đấu giá 2/3 công điền xã Tam Phước.

“Quận trưởng Long Điền là Nguyễn Ngọc Tương đích thân xuống tại Tam Phước tìm mộ Bà Rịa cho sửa sang, lệnh cho Tam Phước trích sổ tiền công nho của xã dành đặc biệt cho việc cúng kiếng, thờ phượng gọi là nhớ ơn.

“Năm 1945 (ngôi mộ) lại hoang phế, thành một khối đá đen sì, loang lổ nằm lẻ loi trên một khoảng đất hoang phế lạnh.

"Năm 1972, sửa lại lần thứ hai, khởi sự đưa thờ bà trong đình thần Phước An (xã Tam Phước), chờ ngày đất nước hòa bình sẽ lập đền thờ bà.

Về công đức của bà, bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ chép lại:

“Ban đầu (bà) khai phá Mô Xoài, Đông Bắc dinh Phủ 5km, tức là phần ruộng Đồng Xoài thuộc Long Điền, Long Kiên, kế đến Mỹ Khê, gần 10.000 thước về phía Đông, nằm sát Kho Vua, Bưng Bạc.

“Khi ấy Mỹ Khê đồng lầy, lau sậy mù mịt, đầy ma thiêng chướng khí, tiền nhân chưa xây dựng làng mạc mà chỉ khai phá gần 300 mẫu ruộng vườn. Đó là Đợt I (khai phá) mà Bà Rịa là trẻ nhất trong đoàn, dự một phần đắc lực ở Mỹ Khê.

“Do địa thế bất lợi, bệnh tật chết chóc hàng loạt ở Mỹ Khê, tiền nhân bỏ Mỹ Khê lui về Long Điền, Long Lập, Gò Dầu (An Nhất) Phước Thiện (An Ngãi), thì Bà Rịa theo cha mẹ về Long Lập sinh sống.

“Đợt (khai phá thứ) II (1698-1700), Bà Rịa một lần nữa xung phong hướng dẫn đoàn người khai phá tiếp phần đất trống Mỹ Khê trên 300 mẫu ruộng, chạy dài về Đông Nam hơn 10.000 thước, phỏng độ hai đợt gần 1.500 mẫu ruộng vườn. Bà có công khai khẩn, tự lực tự cường, tăng phần lương thực nuôi quân, công cao đức dày,  trọn đời hi sinh cho đất nước, chẳng màng danh lợi....

“Vua Minh Mạng ngưỡng mộ tài đức của bà, cho bà giữ nguyên họ vua, ghi thêm hai chữ sương phụ Nguyễn Thị Rịa. Cũng năm 1831, nhà vua đem tên bà vào lịch sử, đặt tên đầu tỉnh (tỉnh Bà Rịa) là cốt yếu đề cao một phụ nữ thuộc hàng ngũ dân dã...

Về sự thờ cúng bà, bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ chép:

            “Việc làm của vua Minh Mạng trong chế độ phong kiến thật là một vấn đề bình dân. Năm 1972, nhân có phong trào phục hưng xứ sở, (xem lại việc thờ cúng, thấy) Long hải thờ Nguyễnh Huỳnh Đức, Phước Tỉnh thờ Võ Tánh, Tam Phước thờ Châu Văn Tiếp và Nguyễn Hữu Dực, người địa phương mới nhớ ơn bà, góp của góp công trùng tu ngôi mộ (và khởi sự đưa thờ bà trong đình thần Phước An (xã Tam Phước).[1]

2. Truyền thuyết Bà Rịa, đôi điều đáng bàn:

Truyền thuyết về Bà Rịa đã có nhiều sách chép, có nhiều chỗ khác nhau. Trong một số cuốn sách đã xuất bản có nói về nguồn gốc địa danh Bà Rịa đặt ra là để tưởng nhớ công đức bà Nguyễn Thị Rịa. Cuốn Châu Thành đấu tranh và xây dựng[2]  (1945-1985) viết: " "Địa danh Bà Rịa có từ lúc nào ? Theo thư tịch cổ, Bà Rịa người gốc Phú Yên theo gia đình vào Nam tìm đất sống từ năm 1680. Gia đình bà vào tại làng Mỹ Khê (Tam Phước, Long Đất). Bà Rịa cùng với nhân dân đã khai phá rừng rậm lập ruộng vườn, xây dựng làng xóm. Năm 1698, Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Kính (Nguyễn Hữu Cảnh) được chúa Nguyễn Phúc Chu cử kinh lý đất phía Nam khi quân đổ bộ lên Phước Lễ, lúc đó vừa bị một trận lụt lớn các cầu đều bị trôi, đường đi lại bị hư hỏng. Bà Rịa đã huy động nhân dân trong vùng tu sửa đường sá, bắc lại các cây cầu để quân chúa Nguyễn qua sông; cảm kích công trạng này chúa Nguyễn đã ra sắc phong cho Bà Rịa "Hàm Nghè" danh dự và cho bà được mang họ Chúa (!) (tức họ Nguyễn). Từ đó bà được nhân dân quý trọng, tiếng vang khắp vùng. Năm 1759 Bà Rịa qua đời, bà không có con cái, 300 mẫu ruộng của bà được sung vào công điền và chia cho người nghèo. Dân làng nhớ ơn góp sức lập miếu thờ bà bên đường, nay thuộc địa phận xã Tam Phước, huyện Long Đất ".[3]

Chúng tôi đã gặp gỡ các tác giả tham gia biên soạn cuốn sách này (Lê Phải, Trần Toản) thì được biết, “theo thư tịch cổ”là các bạn đã dẫn theo một số  cuốn sách viết trước đó, nhưng cũng không biết chắc là cuốn sách nào. Về cơ bản, năm sinh, năm mất và công đức của bà được trình bày trong cuốn Châu Thành đấu tranh và xây dựng giống như bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ. Nhưng về xuất xứ, bút tích của cụ  Huỳnh Văn Bộ chép là “theo văn kiện, năm Minh Mệnh thứ 12” thì không có cơ sở. Sử sách triều Nguyễn không có chỗ nào ghi như vậy.

Việc vua Minh Mạng “ năm 1831, nhà vua đem tên bà vào lịch sử, đặt tên đầu tỉnh (tỉnh Bà Rịa) như bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ cũng là phi lịch sử. Thời Minh Mạng, Bà Rịa chưa có tên trên bản đồ. Từ năm 1698, vùng đất Bà Rịa ngày nay bao gồm cả Vũng Tàu còn là tổng Phước An thuộc dinh Trấn Biên. Năm 1806 dinh Trấn Biên đổi làm trấn Biên Hoà, tổng Phước An thăng làm huyện. Thời Minh Mạng, năm 1832, nhà Nguyễn thành lập đơn vị hành chính mới, Trấn Biên Hoà đổi thành tỉnh Biên Hòa, là một trong sáu tỉnh của xứ Nam Kỳ. Năm 1837, nhà Nguyễn đặt phủ Phước Tuy coi hai huyện Long Thành và Phước An. Huyện lỵ Phước An đặt ở An Điền (Long Điền), coi 4 tổng: An Phú Thượng (12 làng), An Phú Hạ (8 làng), Phước Hưng Thượng (8 làng), Phước Hưng Hạ (8 làng). Địa bàn huyện Phước An gần giống như tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ngày nay. Sở lỵ Phước Tuy đặt tại Phước Lễ (tức thị xã Bà Rịa bây giờ).

Năm 1865, thực dân Pháp chia toàn cõi Nam Kỳ thành 13 sở tham biện. Phủ Phước Tuy của nhà Nguyễn bấy giờ được mang tên là sở tham biện Bà Rịa. Ngày 5-1-1876, thực dân Pháp chia ba tỉnh Biên Hoà. Phủ Phước Tuy chính thức mang tên là tỉnh Bà Rịa.

3. Địa danh Bà Rịa: sự nhầm lẫn giữa tên đất & tên người, giữa truyền thuyết và thư tịch:

Về vấn đề này, các tác giả cuốn Châu Thành đấu tranh và xây dựng (1945-1985) đã có sự nhầm lẫn giữatruyền thuyết  và thư tịch  cổ. Nhiều người sau đó cũng dẫn  theo các tác giả Địa chí Bà Rịa 1902 và nhiều cuốn địa chí sau đó mà nói rằng theo thư tịch  cổ.

Trước khi người Pháp lấy tên Bà Rịa đặt cho vùng đất này thì chưa có một thư tịch nào, một học giả nào, một công trình nghiên cứu nào của người Việt Nam, của lịch sử Việt Nam, văn hóa Việt Nam  nói về truyền thuyết Bà Rịa, nói về Bà Rịa như một nhân danh.

Ai là người đầu tiên chép lại truyền thuyết về Bà Rịa? Các tài liệu có niên đại sớm hơn cả hiện còn lưu trữ tại Thư viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh và Thư viện Khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh cho biết: đó là các học giả người Pháp. Tạm coi cuốn sách xuất bản sớm nhất viết về nhân vật bà Rịa là cuốn Địa chí tỉnh Bà Rịa và Thành phố Cap Saint-Jacques, in năm 1902[4] thì cũng chưa thể nói về truyền thuyết Bà Rịa là “theo thư tịch cổ” được. Các tác giả Địa chí Bà Rịa 1902 viết về cơ bản không khác gì một truyền  thuyết dân  gian  trong vùng, tuy có đôi chỗ khác biệt về niên đại.

Ai đã xây ngôi mộ Bà Rịa? Theo tài liệu đã dẫn trên thì bà Rịa vào khẩn  hoang lập làng Phước Liễu năm 1789, và mất năm Gia Long thứ 2 (1803). Mộ Bà Rịa do Trường Viễn Đông bác cổ học viện (E.F.E.O) xây, hiện còn ở cạnh hương lộ từ An Ngãi đi Phước Hải.[5] Vậy thì có phải người Pháp hiểu lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của người Việt Nam hơn người Việt Nam không? Chắc là không phải như vậy. Họ có thể có kiến thức giỏi về nhiều ngành khoa học, nhưng về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của người Việt Nam và đặc biệt là truyền thuyết địa phương thì không thể nói như vậy được.

Một khả năng khác đặt ra là có phải người Pháp quan tâm đến lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán và truyền thuyết của người Việt Nam hơn người Việt Nam không? Họ có quan tâm, vì mục đích cai trị, nhưng không thể hiểu hơn, vì điều đó là máu thịt, là bản thân cuộc sống của người Việt Nam. Chính vì lẽ đó mà tất cả những tên đế quốc của các thời đại trước đây đã thất bại trên đất nước này.

Người ta cũng có thể đặt ra một khả năng khác là không phải nhân dân quên, truyền thuyết quên, lịch sử lãng quên mà chính là các nhà viết sách quên, hoặc giả vì những quan điểm hạn chế đương thời. Khả năng này không thể loại trừ. Bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ đã từng ngờ vực điều này: “Vì là thứ dân nên sử sách không ghi chép, hoặc đã quá lâu nên lạc mất cũng nên”, nhưng thực tế không diễn ra như vậy. Sử sách đương thời, và cả những công trình đã dẫn trong chuyên khảo này đều đề cập đến những nhân vật rất bình thường như một Ông Từ đánh cọp; về những phụ nữ tiết phụ khả phong như Hồ Thị Phân, viết về người khai hoang lập ấp mà chưa thành như Bà Trao, viết về những nhân vật pha trộn giữa truyền thuyết và hiện thực như Lê Nicô (Thị Vãi), về những con người truyền thuyết như Lê Thị Hồng Thủy (Dinh Cô)...

Những nhân vật  ấy về công đức chưa thể sánh với Bà Rịa (như truyền thuyết) được. Điều đó có nghĩa là: truyền thuyết Bà Rịa chưa từng có, chưa từng được ghi trong sử sách nước nhà, ít nhất là cho đến thời điểm ấy. Điều này có lẽ phù hợp với nhận xét được ghi trong bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ đã dẫn trên: Trong dân gian, ít ai hiểu biết đời tư của Bà...”

Tuy nhiên, nói vậy thật không thỏa đáng về công đức của Bà được ghi trong truyền thuyết, thật không phải với các bậc tiền nhân cùng thời với Bà, thật không phải với các thế hệ con cháu được hưởng lộc của Bà, từ 300 mẫu ruộng vườn ở Mỹ Khê đến 300 mẫu ruộng công của làng Phước Liễu... Vậy mà ít ai biết, ít ai nhớ, không ai thờ và không ai xây ngôi mộ Bà...

Ai là người đầu tiên chủ trương thờ cúng Bà Rịa? Theo bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ thì đó là khi mà chính các quan Pháp tổ chức việc xây mộ Bà (1936), để rồi một ông quan dưới quyền các quan Pháp, “Quận trưởng Long Điền là Nguyễn Ngọc Tương đích thân xuống tại Tam Phước tìm mộ Bà Rịa cho sửa sang, lệnh cho Tam Phước trích sổ tiền công nho của xã dành đặc biệt cho việc cúng kiếng, thờ phượng gọi là nhớ ơn” (?). Người chép truyền thuyết đầu tiên về Bà là các học giả Pháp. Trước khi đó thì các quan Pháp đã lần đầu tiên lấy tên Bà Rịa đặt cho cả một tỉnh (1876);

Theo dòng lịch sử được phản ánh qua truyền thuyết mà bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ đã chép lại, một lần nữa, truyền thuyết về Bà và ngôi mộ Bà lại rơi vào quên lãng: “Năm 1945 (ngôi mộ) lại hoang phế, thành một khối đá đen sì, loang lổ nằm lẻ loi trên một khoảng đất hoang phế lạnh....” Cứ như những tài liệu và sự kiện đã dẫn thì truyền thuyết và ngôi mộ Bà sống trong chữ nghĩa và tâm tưởng của người Pháp hơn là với dân làng. Vậy thì vì sao mà người Pháp có được truyền thuyết ấy, vì sao họ lấy tên Bà Rịa đặt cho vùng đất này? Đương nhiên là họ cũng nghe lại, chép lại, nhưng trong bối cảnh mà ngay cả những quan chức thực dân đương thời cũng phải thừa nhận là từ quan lại, trí thức, đến những người dân bình thường có tâm huyết với dân tộc đều không hợp tác với thực dân Pháp.

Qua bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ, chúng ta cũng được biết rằng, sau khi kết thúc hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, không chỉ ngôi mộ hoang phế mà ngay cả việc thờ phượng cũng rơi vào quên lãng. Mãi cho đến năm 1972, nhân có phong trào phục hưng xứ sở, xem lại việc thờ cúng mới thấy xứ mình thờ những người ở đâu đâu (Châu Văn Tiếp, Nguyễn Hữu Dực...) bèn góp công góp của trùng tu mộ, và “khởi sự đưa thờ bà trong đình thần Phước An”. Trong lời phát biểu, cụ còn cho biết, những năm gần đây, tục cúng Bà vẫn còn. Vì không ai biết ngày mất của Bà nên cúng vào tiết Thanh Minh. Ai có lòng thì góp tiền vào cúng. Năm rồi được 15 người, mỗi người góp 50.000đ,  mua xôi thịt về cúng...

4. Có một truyền thuyết khác về Bà Rịa:

Rốt cuộc, có thể có một người phụ nữ tên là Rịa, nhưng không phải là người như trong truyền thuyết mà người Pháp đã ghi. Có một truyền thuyết về bà Rịa, nhưng truyền thuyết không phải như vậy. Có thể có một ngôi mộ bà Rịa, nhưng không hẳn là ngôi mộ ấy. Có một truyền thuyết khác, của các bô lão trong làng, được lưu truyền qua nhiều thời chống Pháp, chống Mỹ đến thế hệ này. Nhiều người biết truyền thuyết này, họ từng làm Bí thư, chủ tịch, Trưởng công an xã và giữ những cương vị chủ chốt ở nhiều huyện, thị xã, thành phố hiện nay.

“Truyền thuyết truyền rằng, người Pháp xây một ngôi mộ, gọi là mộ Bà Rịa, nhưng thực ra là mộ một người hành khất, không rõ đàn ông hay đàn bà, không biết người già hay người trẻ. Đó là một nấm mộ không tên, không người thừa nhận.

“Truyền thuyết truyền rằng, chuyện về bà Rịa, chẳng ai biết thực hư ra sao, chỉ nghe nói thế, nghe nói có liên quan đến việc tranh chấp đất công của làng với người Pháp, rồi quan Pháp về, quan Pháp khảo, khảo về bà Rịa, khảo gốc tích, gia phả, gia tộc, phần mộ, tôn miếu... không ai biết gì cả. Quan khảo riết, rồi mỗi người một phách, người nói gốc Bình Định, người nói gốc Phú Yên, rồi chuyện không chồng, không con, không đền, không miếu... Nhưng đến chuyện phần mộ mà cũng không nữa thì thật phiền toái, đành phải chỉ một ngôi mộ như thế; thế rồi quan Pháp xây; cũng chẳng sao, chúng nó ngu thì ông Hồ Đắc Thăng chửi. Làng chỉ cần giữ được đất công, dân cần có ruộng cày ruộng cấy...

Truyền thuyết này là có thật, nó vẫn lưu truyền cho đến tận bây giờ, trong những con người sinh ra ở chính nơi ấy, công tác ở tại nơi ấy. Về mặt truyền thuyết, nó chả thua kém gì truyền thuyết mà các quan Tây đã chép. Chỉ có một điều, đó là truyền thuyết của làng, để truyền cho con cháu làng biết, chứ không kể cho quan Tây ghi. Các quan Tây, làng đã kể cho nghe truyền thuyết kia rồi...”[6]

Điều đó cũng góp phần lý giải về nhận xét của nhiều người khi nói về sự hớp tớp, thiếu chín chắn của người Pháp khi lấy tên Bà Rịa đặt cho vùng đất này gắn với truyền thuyết về bà Nguyễn Thị Rịa và xây mộ Bà Rịa vào những năm 1930 của thế kỷ này.

Trong cuộc hội thảo (ngày 7-10-1998 tại Tam An), cụ Phạm Văn Của, 75 tuổi, người làng Tam Phước (Tam An) cho biết, khi cụ 15 tuổi (1938), đã thấy  ngôi mộ ở đấy rồi. Cụ Võ Hiền Thọ, 79 tuổi, người làng Long Điền thì cho biết, cụ biết đến ngôi mộ vào năm 1947, khi ấy ông chủ tịch quận Long Điền là Hai Đạt cho nhập ba xã Phước Trinh, Phước An (Phước Liễu và An Thới) lại, khi ấy, khu ấy không có nhà cửa gì, chỉ có một ngôi mộ trên một khoảnh đất hoang rộng chừng một mẫu, gần một cây cầu...

Cụ Phạm Văn Kẹp, 80 tuổi, ấp 2 xã Tam An cũng cho biết, chuyện cụ nghe lại, cũng có hai tuyến dư luận về truyền thuyết, về ngôi mộ, ấy là do hai làng tranh chấp với nhau, có cụ làng này, làng kia chỉ lộn ngôi mộ.[7]

Theo như lời cụ Phạm Văn Kẹp thì cho đến khi mà người Pháp xây ngôi mộ này (1936), các cụ già làng cũng không ai biết rõ thực hư về ngôi mộ và truyền thuyết về bà Rịa.

5. Bà Rịa có thể không phải là tên người mà là một tộc danh:

Một trong những hướng nghiên cứu đáng chú ý xưa nay là địa danh Bà Rịa, có nguồn gốc từ một bộ tộc. Điều này sau được cụ Vương Hồng Sển trình bày khá rõ trong cuốn Tự vị tiếng Việt miền Nam (xuất bản năm 1993) “... không rõ bà gốc Chàm, thổ dân sơn cước hay Cơ Me. Duy biết chắc Thổ gọi Iéay Ria (đọc là “Vây Ria”), vây là mụ, là bà lão, Ria là tên tộc. Tương truyền bà là tiền hiền có công khai thác” (sđd, tr. 738,).

Trong truyền thuyết, thường là có một phần sự thật nào đó và được thăng hoa, cải biên trong quá trình truyền miệng của nhân dân. Truyền thuyết sẽ đọng lại trong một chừng mực hợp lý, tương đối phù hợp với những kiến giải đương thời. Nếu lấy mốc cuốn sách xuất bản sớm nhất có viết về nhân vật bà Rịa là cuốn Địa chí tỉnh Bà Rịa và Thành phố Cap Saint-Jacques, in năm 1902 thì có thể tạm coi là truyền thuyết về Bà Rịa xuất hiện trước đó, hoặc cùng thời với bối cảnh thực dân Pháp xâm lược và đặt chế độ cai trị vùng đất này. Song, theo như truyền thuyết được chép lại thì Bà Rịa cũng chưa thuộc lớp người đầu tiên tới khai phá vùng đất Mô Xoài.

Bà Rịa xưa vốn là vùng đất của người bản địa Châuro, Châumạ, Xtiêng sinh sống. Tài liệu của các giáo sỹ người Pháp cho biết, người Việt đã vào đây lập nghiệp từ thế kỷ XV-XVI, cho đến khi Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long (dinh Trấn Biên) lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (dinh Phiên Trấn), vùng Sài Gòn, Đồng Nai đã có 40 ngàn hộ, ước tính 200 ngàn dân. Khi ấy, theo truyền thuyết, một người có tên là Rịa  mới vào khai khẩn ở làng Phước Liễu (thuộc phủ Phước An, sau đổi thành huyện Phước An).

Nếu có một Bà Rịa như truyền thuyết người Pháp đã ghi lại thì công đức của bà chưa sánh bằng một Bà Trao khai phá không thành một ấp ở Long Sơn; chưa truyền thuyết bằng một bà vãi họ Lê ở núi Thị Vãi, chưa tín ngưỡng bằng một cô gái truyền thuyết được lập miếu thờ ở Dinh Cô, để các nhà làm sách, chép sử ghi lại.

Nhiều lắm, bà chỉ là một trong những người có công khai phá làng Phước Liễu. Bà Rịa, với tư cách là một địa danh chỉ là một trong sáu xứ của làng Phước Liễu, mà cả làng có 06 xứ, 24 sở chủ với tổng số 117 mẫu, 7 sào, 6 thước, 1 tấc Điền tô điền như  địa bạ triều Nguyễn đã ghi. Địa bạ lập ra sau khi Bà Rịa qua đời hơn 70 năm (theo truyền thuyết), nhưng phản ánh đúng thực trạng khai phá, quản lý và sử dụng đất đai thời ấy. Ít ra, cũng không giống như truyền thuyết mà nhiều sách đã chép rằngsau khi bà qua đời, vì không có con, bà đã sung toàn bộ (hơn 300 mẫu đất) vào công điền. Các vị cao tuổi trong vùng vẫn thường nói rằng theo người xưa kể lại, không đâu có nhiều đất công Long Điền hơn 300 mẫu đất  công trong vùng có được là nhờ công lao của Bà Rịa. Điều này không có cơ sở.

Quốc sử quán của triều Nguyễn đã chép về 300 mẫu đất công của Long Điền. Đây là sự kiện lịch sử có thật, nhưng vào thời mà Bà Rịa (theo truyền thuyết) đã qua đời được ngót 80 năm, theo như bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ hoặc ít nhất cũng hơn 30 năm theo sách Địa chí tỉnh Bà Rịa 1902 của các học giả Pháp. 300 mẫu đất công đó có tên tuổi, của người khai sáng rõ ràng.

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển XXVII, Tỉnh Biên Hòa, mục Núi Sông chép rằng: “Sông Xích Lam: ở cách huyện Phước An 31 dặm về phía đông, đoạn giữa qua sông có cầu dài 70 trượng 5 thước là chỗ đường bộ đi qua: ở hạ lưu cầu, sông chảy ngoặt  sang phía nam 3 dặm làm hải cảng Xích Lam... Ở bờ phía Đông trước kia bị úng hủy, không tiện cho việc nông, năm Minh Mệnh thứ 19 mới khơi cho nước úng theo sông mà tiêu, khẩn được hơn 300 mẫu ruộng hoang làm ruộng công cho các xã thôn phụ cận.” [8]

Theo mô tả của Đại Nam Nhất Thống Chí thì sông Xích Lam là Sông Ray mà hạ lưu phía đông của nó bao gồm các xã vùng Long Điền, Đất Đỏ. Khu vực này xưa nhiều bàu trũng với câu ca trao duyên “Bao giờ Bưng Bạc hết sình, Bàu Thành hết nước chúng mình hết thương”. Khu vực này đã được cải tạo thành cánh đồng lúa và  tập trung 300 mẫu đất công ở đây.

Trong mục Từ Miếu (đền miếu), Đại Nam Nhất Thống Chí còn cho biết rõ ông Hộ phủ Phạm Duy Hinh là người đào sông Xính Lam (khơi úng hủy). Ở đấy, còn dấu tích là ngôi đền Hiên Ngọc hầu thuộc địa phận thôn Phước Bảo Tây, huyện Phước An, thờ Tổng binh Hồ Văn Hiên, thời đầu Trung hưng, theo cha là tổng binh Hồ Văn Qúy tập chức đồn binh ở đạo Nục Giang, sau mất ở đấy, được hiển linh, thôn dân cầu khẩn việc gì đều linh ứng. Năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), Hộ phủ Phạm Duy Trinh khơi úng sông Xích Lam, đêm nằm mơ thấy, nên lập đền thờ ở đấy.

Việc ấy, vùng ấy, còn dấu tích một làng mang tên Bờ Đập, còn dấu tích một con đập được tu bổ và củng cố thường kỳ trong nhiều thập kỷ sau. Chứng tích ấy còn xác đáng hơn nhiều so với ngôi mộ bà Rịa ở làng Tam An do người Pháp xây vào thập niên 30.

6. Bà Rịa - trước hết là tên một vùng đất:

Vấn đề này đã được nhiều sách báo, nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới, chúng tôi xin đề cập vắn tắt lịch sử nghiên cứu vấn đề: Bà Rịa, xưa là nước Bà Lợi, Bà Lỵ, Bà Lịa. Đó là cách giải thích của Trịnh Hoài Đức, một học giả hàng đầu nghiên cứu về Lục tỉnh Nam Kỳ. Ông  viết: ”Bà Rịa là ở đầu biên giới trấn Biên Hòa, là đất có danh tiếng(...) Tân Đường thư nói: Bà Lỵ ở ngay phía Đông Nam Chiêm Thành, từ Giao Châu đi ghe theo biển, trải qua các nước Xích Thố, Đan Đan rồi đến Đại địa châu Đà Mã (cũng gọi là Mã Lễ, quốc tục xỏ tai, đeo hoa, lấy một bức vải quấn ngang lưng) (...) Chữ Lợi âm là lục địa thiết âm là “lịa” vậy  nghi chữ Bà Rịa tức nước Bà Lợi thuở  xưa...”.[9]

Trịnh Hoài Đức sinh  trưởng tại Trấn  Biên, học rộng tài cao, am hiểu sâu sắc về vùng đất Nam Bộ nên các nhà nghiên cứu sau này đều trân trọng. Đại Nam Nhất Thống Chí, Quốc sử quán triều Nguyễn, được biên soạn trong 17 năm, (từ 1865 đến 1882), các tác giả  quan điểm gần với Trịnh Hoài Đức: Bà Rịa là tên núi, còn gọi là núi Bà Địa: “Núi Bà Địa ở Đông Nam huyện Phước An 8 dặm, núi đá lởm chởm ngó xuống chợ Long Thạnh, có đường lớn ngang qua...” [10] Trong mục Thị Điếm (chợ quán), Đại Nam Nhất Thống Chí nói rõ hơn: “Chợ Hắc Lăng: ở thôn Hắc Lăng, huyện Phước An, gần đó có núi Bà Rịa, có tên là chợ Bà Rịa”.[11]

Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (Imprimerie Rey, Couriol, Sài Gòn 1895): cũng giải thích tương tự:“Bà Rịa: tên xứ ở tại Hắc Lăng, bây giờ là tiếng kêu chung của cả hạt Phước Tuy” (SĐD, Tome 2, tr 256).

Các tác giả bộ “Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh” [12] khi viết về vùng đất này đã rất trân trọng và đồng kiến giải với Trịnh Hoài Đức trong sách Gia Định Thành thông chíBà Rịa = tên một vùng đất, một vương quốc, một bộ tộc; Bà Rịa  = Bà Lỵ  =  Bà Lịa = Bà Địa.

Các tác giả tập sách Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển (Nhà xuất bản Đồng Nai 1998) vừa ra mắt bạn đọc khi đề cập đến địa danh Bà Rịa cũng nghiêng về kiến giải của Trịnh Hoài Đức: Bà Rịa = Bà Lịa = tên một vương quốc; Bà Rịa = tên chợ (SĐD, tr 10; 12).

Ở một đoạn khác, đề cập đến địa danh Bà Rịa, lần đầu tiên trở thành tên một Sở tham biện (1865 Soái phủ Nam Kỳ chia ba tỉnh miền Đông thành 13 Sở Tham biện: Biên Hòa Thủ dầu Một, Bà Rịa, Long Thành, Bảo Chánh = đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh), các tác giả  sách Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển đã nhận xét:“bên cạnh các địa danh Hán - Việt, có hai địa danh chữ Nôm: Thủ Dầu Một và Bà Rịa. Nhà chức trách Pháp đặt địa danh tùy tiện như vậy  vì các người có học không cộng tác với địch.” (SĐD, tr 25).

Các tác giả Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển đã dẫn những tư liệu trong luận án tiến sỹ quốc gia Khoa học chính trị  Đại học Paris của Cao Huy Thuần mang tên Đạo Thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam để minh chứng cho nhận xét trên. Theo lời của Đại tá Bernard viết trong thư gửi về Bộ Hải ngoại và thuộc địa Pháp như Cao Huy Thuần đã dẫn trong Luận án tiến sỹ thì các quan lại, các sỹ phu, các nhà nho đồng loạt không hợp tác với thực dân Pháp nên trong buổi đầu thiết lập nền cai trị, người Pháp phải “tuyển mộ toàn bộ những nhân viên cần thiết cho sự cai trị hay cho việc nhà từ đám chủ yếu là culy, bồi, tùy phái và những người thông dịch, sao chép, họ đã được huấn luyện sơ sài trong các trường của Hội truyền giáo(....) Họ đến với chúng ta (Pháp) là những kẻ lang thang, vì đói khổ hay vì phạm tội mà phải bỏ làng, họ rất quỵ lụy và chỉ thèm được sống, không nghĩ gì đến cuộc chiến đấu của dân tộc(....) Các Pháp kiều hay công chức (Pháp) vừa cập bến được biết về dân tộc Annam qua  sự tiếp xúc với những kẻ ti tiện đó...”[13]

Tư liệu trên đây có thể cắt nghĩa phần nào về sự hiểu biết và quyết định nông nổi của người Pháp khi lấy tên Bà Rịa đặt cho vùng đất này gắn với truyền thuyết về bà Nguyễn Thị Rịa mà các tác giả tập sách Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển đã nhắc tới. Theo lời của một số vị bô lão ở Bà Rịa thì giáo sư Hồ Đắc Thăng ở Bà Rịa đã viết thư cho một người bạn học (người Pháp) ở Viện Viễn Đông Bác cổ (Hà Nội), nói về sự hớp tớp và thiếu chín chắn của người Pháp trong việc lấy tên bà Rịa đặt cho vùng đất này gắn với truyền thuyết về bà Nguyễn Thị Rịa và xây mộ bà Rịa.

7. Bà Rịa trước hết là một địa danh (không phải nhân danh):

Điều này không chỉ khẳng định lại những quan điểm của các nhà nghiên cứu hàng đầu về Lục tỉnh Nam Kỳ trong các tác phẩm đã dẫn, mà ngay đối với các giáo sỹ, các quan chức thực dân Pháp, họ biết đến Bà Rịa trước hết là một địa danh.

Nhà nghiên cứu lão thành Nguyễn Đình Đầu đã dẫn tài liệu của một giáo sỹ Pháp về Các họ đạo của xứ Đồng Nai từ 1747 để kết luận rằng:” Tác giả Địa chí Bà Rịa 1902 đã sai lầm khi nói đất Bà Rịa mới  có hơn trăm năm nay, “một bà tên là Rịa tới lập  làng Phước Liễu rồi mất vào năm Gia Long thứ 2 tức 1803” (...) Sự sai nhầm về “Bà Rịa mới  lập làng Phước Liễu từ 1789” được  đính chính mạnh nhất khi tìm thấy địa danh Bà Rịa và Đất Đỏ đã được ghi vào danh mục “các họ đạo của xứ Đồng Nai từ 1747”. Trong danh mục ấy còn ghi rõ Bà Rịa có 140 giáo dân và Đất Đỏ có 350 người theo đạo công giáo”.[14]

Tiến sỹ Cao Huy Thuần, trong Luận án của mình cũng dẫn bức thư của Đô đốc Charner gửi cho vị giám mục Pháp cai quản địa phận Sài Gòn về “Vụ Bà Rịa” (việc nhà Nguyễn đàn áp giáo dân ở xứ Bà Rịa 1-1862, sau khi một nhóm giáo dân vũ trang đã làm lực lượng xung kích cho thực dân Pháp đánh thành Biên Hòa cuối năm 1861).

Bà Rịa vốn là địa danh, một vùng đất nhỏ, một trong 6 xứ rất nhỏ thuộc địa phận làng Phước Liễu, là tên một ngọn núi nhỏ thuộc địa phận Long Điền, là tên một cái chợ thuộc làng Hắt Lăng, được người Pháp gọi thành một xứ rộng hơn, xứ đạo Bà Rịa (thực ra là họ đạo Bà Rịa lúc ấy còn nhỏ hơn họ đạo Đất Đỏ) nhân vụ rắc rối về tôn giáo, sau được một số quan chức Pháp gọi một xứ rộng hơn của các bộ tộc ít người sinh sống ở vùng núi Chứa Chan với tên gọi chung là Mọi Bà Rịa. Và sau cùng, được người Pháp đặt thành tên một tỉnh, kèm theo một truyền thuyết về Bà Nguyễn Thị Rịa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Linh xác nhận rằng chính người Pháp đã sửa chữa sai lầm cho cuốn Địa chí Bà Rịa 1902. Nhà khảo cổ học người Pháp, ông L.Malleret, Giám đốc Trường Viễn đông Bác cổ Hà Nội đã đính chính cho sự “hớp tớp” của các đồng nghiệp của ông trước đó rằng: “Địa danh Bà Rịa bắt nguồn từ tên gọi Khơme của một cái bàu gần Long Điền  là Bà Rày hay Bà Rey, chuyển sang âm Việt chệch đi thành Bà Rịa. Cái Bàu đó sau đã mang  một cái tên Việt ngữ là Bàu Thành.“[15] Nguyễn Linh cho rằng, ý kiến của L.Malleret đã giải quyết một cách xác đáng hướng nghiên cứu về nguồn gốc địa danh Bà Rịa từ góc độ địa danh học.

Cùng một hướng nghiên cứu với Nguyễn Linh, Phó tiến sỹ sử học Đinh Văn Hạnh cho rằng:  “Cách giải thích địa danh hiện nay dùng để chỉ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có nguồn gốc sâu xa, bắt nguồn từ tên một "nước" Bà Lỵ (Bà Lịa) là có cơ sở hơn. Tên nước này đã được thư tịch cổ của Trung Quốc đời Đường ghi lại, kèm theo những sự kiện về sự hưng khởi của Chân Lạp - một sự kiện lịch sử có thật. Chính sự ổn định tương đối của thực thể địa lý đó (chưa nói đến sự tồn tại lịch sử của "nước Bà Lỵ") đã khiến cho những địa danh, tộc danh, thuỷ danh liên quan đến từ "Bà Rịa" có sức sống trường kỳ.”[16]

Anh cũng đưa ra một giả thuyết đáng đáng lưu ý: Bà Rịa vốn là tên đất (Bàu Rày, Bà Rey), tên một vương quốc (Bà Lợi, Bà Lỵ, Bà Lịa), tên một tộc người (Bà Rịa man) và rất có thể trùng tên với một người có công, xuất hiện sau này (là bà Nguyễn Thị Rịa).

Có một điều đáng bàn thêm là dự kiến trùng tu ngôi mộ Bà Rịa nếu không được cân nhắc và suy xét kỹ, sẽ khó tránh khỏi rơi vào tình trạng nông nổi và bế tắc như các quan Tây mà ngày xửa ngày xưa, các già làng đã từng chê trách. Chúng tôi hiểu rằng, những cố gắng của các cấp các ngành trong việc tìm kiếm giải pháp và kinh phí trùng tu mộ bà Rịa cũng như cố gắng của nhiều tác giả trong và ngoài địa phương nhằm khai thác những giá trị truyền thống từ truyền thuyết là điều đáng qúy. Nhưng điều đó chỉ trở nên quý khi nó khai thác được đúng giá trị, khơi được đúng mạch nguồn. Đương nhiên là không thể khai thác những giá trị không tồn tại.

Trọng các bậc tiền nhân có công khai phá, chúng ta có thể lập đền thờ Hộ phủ Phạm Duy Trinh ngay tại Bờ Đập, nơi ông chỉ huy cuộc khơi dòng khẩn hoang, thờ tất cả các bậc tiền nhân đã đến trước, đã cùng ông khẩn hoang 300 mẫu đất công cho làng (vào năm 1838). Nếu tín ngưỡng, chúng ta thờ cả Hiên Ngọc hầu (Tổng binh Hồ Văn Hiên) đã cùng cha vào trấn ải, ứng mộng phù hộ cho công cuộc khai khẩn.

Dù không có đền đài thì lòng ngưỡng mộ vẫn tồn tại trong nhân dân về  tất cả những bậc tiền hiền có công đức từ buổi đầu khai phá. Song những đền đài, lăng miếu chúng ta xây dựng lại hôm nay phải là những giá trị đích thực của làng chứ không phải là tôn tạo những truyền thuyết xa rời thực tế lịch sử mà các quan Tây chép lại.

 Nguồn: Thông tin Khoa học Công nghệ Bà Rịa - Vũng Tàu số 4-1998

[1]  Lược ghi theo băng ghi âm và truyền thuyết Bà Rịa theo bút tích của cụ Huỳnh Văn Bộ, sinh năm 1932 tại làng Hắt Lăng, xã Tam An.

[2]  NXB Đồng Nai, 1988, tr 14, 15.

[3]  Châu Thành đấu  tranh và xây dựng, NXB Đồng Nai, 1988, tr 13-14.

[4]  Monographic de la province de Ba Ria et de la Ville du Cap Saint - Jacques, Sai Gon, Imprimerie L.Ménard, 1902.

[5]  Monographie de Bàrịa, Publ de la SEI. Sàigòn, 1902,tr 61.

[6]  Tài liệu điền dã của tác giả.

[7]  Theo Băng ghi âm và bản lược ghi tại Hội thảo ngày 7-10-1998 tại Tam An.

[8] Đại Nam Nhất Thống Chí (Quốc sử quán triều Nguyễn) Viện  Sử học và NXB Thuận  Hóa xuất bản 1992, Tập V, tr 60. (TG nhấn mạnh).

[9]  Trịnh  Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, tập thượng, quyển I và II, Nha Văn  hóa, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn 1972, tr 35-36.

[10]  Đại Nam Nhất Thống Chí, Lục tỉnh Nam Việt, Tập thượng, Nha văn hóa, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn 1959, tr 12.

[11]  (SĐD, tr 30.

[12] Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Giáo sư Trần Văn Giàu chủ biên, NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1987,

[13]  Tài liệu đã dẫn, bản tiếng Việt, tr 172.

[14]  Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1987, tr 141.

[15]  Tham luận tại cuộc Hội thảo ngày 25-9-1998 về Nhân vật chí tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức, đồng chí Nguyễn Trọng Minh chủ trì.

[16] Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 1930-1975, Chương mở đầu, bản thảo chưa xuất bản.

Ngã ba - ngã tư

đăng 21:46 02-07-2014 bởi Pham Hoai Nhan

Đồng Nai có 2 cái ngã ba quen tên với mọi người, đó là Ngã Ba Vũng Tàu rẽ qua quốc lộ 51 để đi Vũng Tàu và Ngã Ba Dầu Giây rẽ qua quốc lộ 20 đi Đà Lạt.


Không ảnh Ngã tư Vũng Tàu


Kỳ thật, 2 chỗ ấy đã thành ngã tư lâu lắm rồi (trên nhiều bản đồ cũng đã ghi tên là ngã tư) nhưng mỗi lần mình nói Ngã Tư Vũng Tàu hay Ngã Tư Dầu Giây mọi người đều trố mắt nhìn mình như thằng ngốc chẳng biết gì, nói trật lất.


Bản đồ ngã Tư Vũng Tàu. Hic, cái này là ngã ba hay ngã tư?


Ở Ngã Tư Vũng Tàu thậm chí mới xây xong cầu vượt nữa, vậy mà dân tình cứ kêu là Ngã Ba,


Cầu vượt Ngã Tư Vũng Tàu. Ảnh: Zing.vn


Còn đây là bảng chỉ đường tại "ngã ba" Dầu Giây. Cái hình trên là ngã ba hay ngã tư vậy hả trời?


Nội thành Biên Hòa thì có Ngã Ba Vườn Mít. Chỗ này bây giờ một cây mít cũng hổng có nữa chớ đừng nói là vườn mít, còn ngã ba thì từ lâu đã là ngã tư. Dzậy mà ai cũng kêu nó là Ngã Ba Vườn Mít!


Kết luận:


  • Đời có lắm ngã ba ngã tư, vậy mới có chuyện để nói, chứ cứ thẳng băng một đường thì nói làm gì?
  • Cái gì người ta đã quen thì cứ theo, không theo thì mình có đúng cũng hổng ai thèm nghe!


Phạm Hoài Nhân

Câu chuyện Thất Sơn

đăng 01:54 02-07-2014 bởi Pham Hoai Nhan   [ cập nhật 05:27 06-07-2014 bởi Nhân Phạm Hoài ]

Địa danh “Thất Sơn” rất quen thuộc với người An Giang và cũng không lạ gì với hàng triệu khách hành hương hằng năm về viếng Bà Chúa Xứ núi Sam (Châu Đốc). Thế nhưng, nếu có ai đó hỏi “Thất Sơn là bảy núi nào?” thì ngay cả những người bản địa cũng khó có lời giải đáp một cách thuyết phục. Giới nghiên cứu cũng đã tốn khá nhiều công sức sưu tầm nhưng “bức màn huyền bí” của Thất Sơn hầu như vẫn chưa được mở toang ra.

Cách đây mấy năm, khi tham gia biên soạn bộ “Địa chí An Giang”, tôi có dịp tiếp cận với một số tài liệu viết về “Thất Sơn”. Những lý giải về Thời gian xuất hiện địa danh “Thất Sơn”?; Vì sao gọi là Thất Sơn? Thất Sơn là bảy núi nào? thật là thú vị. Câu chuyện Thất Sơn cuốn hút tôi từ dạo ấy!

Trong Gia Định thành thông chí (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức biên soạn trước năm 1820 không thấy đề cập đến địa danh “Thất Sơn”. Cho đến Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) của Quốc sử quán triều Nguyễn (bắt đầu biên soạn năm 1865), phần An Giang tỉnh mới có “Thất Sơn”. Dựa vào những tài liệu này, người ta đoán địa danh “Thất Sơn” ra đời khoảng giữa thế kỷ XIX. Không có ý kiến tranh cãi về khoảng thời gian ra đời của địa danh “Thất Sơn”, chỉ là chưa xác định thời gian cụ thể. Riêng lý do vì sao vùng này có đến mấy chục quả núi nhưng chỉ gọi Thất Sơn - Bảy Núi thì có nhiều ý kiến khác nhau.

Tiến sĩ Bùi Đạt Trâm khi viết phần Địa hình - Địa chí An Giang đã về tận vùng Bảy Núi để đếm. Ông ghi nhận trên địa bàn tỉnh An Giang ngày nay có đến 37 quả núi có tên gọi. Riêng vùng Châu Đốc, Tri Tôn, Tịnh Biên (vùng Thất Sơn) cũng có 27 núi. Trong các sách xưa, số lượng núi ở vùng này cũng vượt xa hơn con số “bảy”.

Gia Định Thành thông chí (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức mô tả núi non vùng đất An Giang xưa gồm 19 núi. ĐNNTC, phần tỉnh An Giang có mô tả 24 núi.

Theo kỹ sư Trần Anh Thư trong bài “Thất Sơn có từ bao giờ?” đăng trong tạp chí Phát triển nông thôn – số Xuân Canh Thìn năm 2000 – thì số “bảy” trong “Bảy Núi” liên quan đến bảy khối núi tại vùng Tri Tôn, Tịnh Biên ngày nay và điều này rất trùng hợp với tâm thức của người dân Nam Bộ “nam thất nữ cửu”, đã có “Cửu Long” ắt có “Thất Sơn” – âm dương mới hài hòa. Từ cách lý giải như trên, kỹ sư Thư cho rằng Thất Sơn gồm: núi Tô, núi Dài, núi Cấm, núi Phú Cường, núi Nam Qui, núi Sam và khối núi Trà Sư (gồm núi Két, Trà Sư…). Còn vì sao người xưa chỉ chọn 7 núi thì kỹ sư Thư giải thích rằng tên gọi của 7 ngọn núi trong Thất Sơn đều là các con vật tín ngưỡng cao quí tượng trưng cho tầng lớp vua chúa, cung đình xưa: Rồng, Kỳ lân, Rùa, Phụng, Voi, Hổ… tương ứng với tứ linh “Long, Lân, Qui, Phụng” và thế “Voi chầu, Hổ phục”, 6 ngọn núi với tên của 6 con vật quý này bao quanh, bảo vệ lấy Thiên Cấm Sơn là núi trung tâm.

Một cách lý giải khác mà tôi được nghe từ một lương y ở tại An Giang, cũng khá thú vị. Ông cho rằng, sở dĩ có Thất Sơn là vì đã có Tam Đảo (miền Bắc), Ngũ Hành (miền Trung). Ông chứng minh rằng Ngũ Hành Sơn có đến 6 ngọn núi mà tên gọi vẫn quy về “Ngũ Hành”, cũng như gọi “Thất Sơn” mà đến hàng chục quả núi! Cách đặt tên như vậy là dựa theo bảng giải mã Lạc Thư 3-5-7, đó là một dãy số dương nằm từ hướng đông sang tây. Cho nên, Tam Đảo – Ngũ Hành – Thất Sơn có ý nghĩa như một sự tốt đẹp, thống nhất và vĩnh cửu.

Cũng có ý kiến cho rằng địa danh “Thất Sơn” ra đời từ chính các ông đạo ở vùng núi non này vào giữa thế kỷ XIX. Bấy giờ, tín ngưỡng Đạo Giáo có điều kiện xâm nhập, ăn sâu và phát triển ở Nam Bộ. Vùng núi non An Giang sớm trở thành nơi hội tụ của các bậc tu tiên. Có lẽ chính vì vậy mà phương ngữ Nam Bộ có câu “Tu Phật Phú Yên, tu Tiên Bảy Núi”. Đạo giáo quan niệm rằng hình hài núi non, sông bãi trên trái đất đều do các vì tinh tú trên trời quy định. Bảy Núi là biểu hiện của 7 vì tinh tú - Thất tinh: Mặt Trời, Mặt Trăng, Sao Kim, Sao Mộc, Sao Thủy, Sao Hỏa và Sao Thổ. Trở lại khoảng thời gian xuất hiện địa danh “Thất Sơn” như trên đã nêu trên, đúng là tại vùng Thất Sơn bấy giờ có rất nhiều hoạt động mang màu sắc Đạo Giáo. Sau khi Phật Thầy Tây An viên tịch (12 tháng 8 năm Bính Thìn - 1856), nhiều đệ tử của ngài vẫn tiếp tục hoạt động. Tuy nhiên, thuyết này bị phản bác bởi vì sự tôn thờ Trời của Đạo Giáo thể hiện việc thờ Cửu diệu tinh quân, tức 9 vị tinh tú kỳ diệu, đó là: Mặt Trời, Mặt Trăng, Sao Kim, Sao Mộc, Sao Thủy, Sao Hỏa, Sao Thổ, Sao Nam Tào và Sao Bắc Đẩu chứ không phải là Thất tinh. Vả lại, chưa thấy có nơi nào tại các vùng ảnh hưởng Đạo Giáo xem núi là tượng trưng của các vì sao.

Cách đây hằng nửa thế kỷ, một số nhà văn, nhà sưu khảo xem chừng cũng đã tốn không ít thời gian và công sức để giải thích cái địa danh có vẻ huyền bí này.

Theo xu hướng tôn giáo huyền bí, một số tác giả cho rằng số “bảy” trong “Thất Sơn” xuất phát từ ý nghĩa của con số “bảy” trong Khổng, Đạo, Phật. Số “bảy’ là số sanh hóa vô tận và tốt đẹp vô cùng. Trong kinh A-Di-Đà, Đức Phật Thích Ca cho biết thế giới cực lạc là nơi hoàn toàn an vui, không còn có cảnh khổ. Cảnh trí cõi này rất đẹp, được làm bằng 7 thứ quí báu: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não. Đường sá, lầu các, cung điện. Gọi “Thất Sơn” là vì ý nghĩa tốt đẹp đó. Thất Sơn (Bảy Núi) – Dương và Cửu Long (Chín Rồng) – Âm, sơn tiền điểm long mạch, trong số bảy có sanh hóa; trong số chín, âm – dương kết tụ huờn hư là địa huyệt linh diệu vô cùng. Thất Sơn là Kim Thành Huyệt tương ứng với Cửu Long Huyệt hay Minh Đường Huyệt, là nơi âm dương hòa hợp - địa linh sanh nhân kiệt!

Tác giả Vương Kim trong một số bài viết còn cho rằng Thất Sơn là bảy hòn núi sắp theo hình của huyệt “tiên thiên” trong cơ thể con người, cho nên gọi là núi quí (Bảo Sơn - Bửu Sơn). Nếu đúng như thế thì địa danh “Thất Sơn” có lẽ xuất hiện cùng lúc với sự ra đời của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương? Nhà văn Hồ Biểu Chánh thì không giải thích con số “bảy” mà cho biết Thất Sơn gồm các núi; Trà Sư, núi Két, núi Dài, núi Tượng, núi Bà Đội Om, núi Tô và núi Cấm. Riêng về tên gọi núi Cấm, ông giải thích đó là tên mà nhân dân địa phương gọi chung cho mấy hòn núi cao nằm khoảng giữa bao gồm các núi Ba Xoài, Ngất Sung (Ngất Sum), Nam Vi, Đoài Tốn (Đài Tốn).

Nhà sưu khảo Nguyễn Văn Hầu cũng có cùng lời giải đáp như Hồ Biểu Chánh. Ông còn cho biết có một nhà khảo cứu người ngoại quốc cũng thừa nhận Thất Sơn gồm những núi như Hồ Biểu Chánh đã viết.

Năm 1984, Trần Thanh Phương viết cuốn Những trang về An Giang cho rằng Thất Sơn bao gồm các núi: Núi Nước (Bích Thủy Sơn, Thủy Đài Sơn), núi Tô (Phụng Hoàng Sơn), núi Két (Ô Thước Sơn, Anh Vũ Sơn), núi Dài (Ngoạ Long Sơn), núi Cấm (Thiên Cấm Sơn, Bạch Hổ Sơn), núi Năm Giếng (Giài Năm Giếng, Ngũ Hồ Sơn) và núi Tượng (Liên Hoa Sơn). Nhân dân sở tại cũng liệt kê tên gọi của các núi thuộc Thất Sơn giống như trong sách của Trần Thanh Phương. Có lẽ khi thực hiện Những trang về An Giang, tác giả đã về vùng Thất Sơn sưu tầm tư liệu từ dân gian.

Trên đây là một số lời giải về Thất Sơn đáng chú ý. Nếu làm một bảng so sánh, ta thấy các ý kiến có một số yếu tố trùng lặp: ai cũng cho rằng núi Tô, núi Dài, núi Cấm, núi Két là những núi thuộc Thất Sơn; còn lại là chưa thống nhất. Sở dĩ các ý kiến còn có chỗ khác biệt là do mỗi người có một căn cứ khác nhau, và việc đối chiếu tên cũ – tên mới cũng làm cho “bài toán Thất Sơn” thêm rối rắm!

Thử căn cứ vào bộ sách sử chính thống của Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam nhất thống chí - để đưa ra thêm một lời giải nữa xem sao!

Phần Núi sông của tỉnh An Giang trong ĐNNTC (quyển 30) ghi Thất Sơn gồm có các núi:

1. Tượng Sơn: Ở bờ phía đông sông Vĩnh Tế, cách huyện Hà Dương 31 dặm về phía đông bắc, cao hơn 8 trượng, chu vi 3 dặm, là một trong Thất Sơn, núi không cao lắm, chân núi có đá thủy tinh.

(Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức mô tả Tượng Sơn là núi ở phía nam đồn Châu Đốc 9 dặm, cách thượng lưu sông Vĩnh Tế bờ phía đông nam 2 dặm)

Vị trí như được mô tả chỉ có thể là núi Sam ngày nay. Điều này được khẳng định thêm nhờ đọc chú thích (bằng chữ Hán) trên An Giang toàn đồ. Như vậy, Tượng Sơn (trong ĐNNTC) là núi Sam chứ không phải núi Tượng ở xã Ba Chúc (huyện Tĩnh Biên). Nhà khảo cổ học Lê Xuân Diệm có cho biết, trước đây, Vương Hồng Sển cũng cho rằng núi Sam nằm trong hệ Thất Sơn. Điều này làm cho nhiều người (kể cả người viết bài này) thắc mắc rằng tại sao sau này không ai gọi núi Sam là Tượng Sơn! Có tài liệu cho biết trên núi Sam xưa kia có nhiều cây sam. Đó là một loại thực vật thân gỗ họ thông, có thể dùng để đóng ghe – “ghe sam bảng” (sau này gọi “ghe tam bảng”). Ngày nay, nghe nói trên núi ấy vẫn còn một ít cây sam. Vì vậy mà Tượng Sơn chuyển thành núi Sam?

2. Tô Sơn: Ở cách huyện Hà dương 17 dặm về phía tây nam, là một trong Thất Sơn, phía tây núi có đền thờ Thủy thần.

Theo cách mô tả trên đây trong ĐNNTC thì Tô Sơn là núi Tô ngày nay. Có điều về phương hướng thì chưa chính xác lắm. Núi Tô ngày nay nằm về hướng đông nam huyện Hà Dương chứ không phải là hướng tây nam. Trên An Giang toàn đồ, vị trí của núi Tô được chú thích là “Đài Tốn Sơn”. Xem lại ĐNNTC mô tả Đài Tốn Sơn như sau: ở phía đông nam sông Vĩnh Tế và phía tây bắc sông Thụy Hà, cách huyện Hà Dương 30 dặm về phía Nam, cao 50 trượng, chu vi hơn 200 dặm, cao vót như cái đài, cao đứng sững ở vị thìn tị, nên gọi tên thế. Cách núi Ngất Sum 10 dặm về phía đông, núi non cao vót, sẵn các thứ trầm hương, tốc hương, sa nhân, giáng hương, gỗ cao, gỗ sam, tre trúc xanh tươi rậm rạp, đường sá tắt quanh, gần với đồng nội, sát ngay phá chằm; dân làm ruộng, dân đánh chài chia nhau ở dưới. Những đặc điểm này rất gần với núi Tô ngày nay. Ý nghĩa của tên gọi “Đài Tốn Sơn” (cái đài ở hướng đông nam - Tốn: phương đông nam của Hậu thiên bác quái) cho phép ta khẳng định núi Tô và Đài Tốn Sơn là một. Trong Người Việt gốc Miên của Lê Hương (xuất bản năm 1964) cho biết người Khmer gọi Đài Tốn Sơn là “Phnom Ktô”. Trên bản đồ tỉnh An Giang trước năm 1975 chú thích chữ “Cô Tô” ngay vị trí núi Tô ngày nay. Như vậy, núi Tô (hay Cô Tô) ngày xưa gọi là Đài Tốn Sơn là một trong Thất Sơn.

3. Cấm Sơn: Ở cách huyện Hà Dương 17 dặm về phía tây nam, đỉnh núi rất cao, ít người đi đến, cũng là một trong Thất Sơn.

Một góc núi Cấm. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Riêng tên gọi “Cấm Sơn” và chi tiết “đỉnh núi rất cao” cũng giúp chúng ta dễ dàng nhận ra đây chính là núi Cấm ngày nay. Có một điều mà nhiều nhà nghiên cứu thắc mắc: Tại sao núi Cấm cao lớn như thế mà trong GĐTTC của Trịnh Hoài Đức không hề được nhắc đến? Chúng tôi tìm mãi trên An Giang toàn đồ cũng chẳng thấy quả núi nào được chú thích là núi Cấm mà ngay vị trí núi Cấm ngày nay có chú thích là núi “Ba Xôi”. Trong Người Việt gốc Miên, Lê Hương cho biết người Khmer gọi núi Ba Xôi là “Phnom Popal”. Hiện nay, người Khmer ở địa phương gọi núi Cấm là Phnom Popal. Như vậy, núi Ba Xôi và núi Cấm là một.

4. Núi Ốc Nhẫm: Ở huyện Hà Dương, phía Tây tiếp núi Tượng Sơn, cũng là một trong Thất Sơn.

ĐNNTC mô tả núi này bằng một dòng ngắn gọn như vậy, còn trong GĐTTC thì không thấy có tên núi Ốc Nhẫm. Nếu căn cứ phương hướng như mô tả thì cũng có thể đây là núi Két ngày nay; nhưng nếu xem trên An Giang toàn đồ thì lại không phải “phía tây tiếp núi Tượng Sơn” mà có thể là núi Bà Đội Om ngày nay.

5. Núi Nam Vi: Ở cách huyện Hà Dương 24 dặm về phía nam, cao 30 trượng, chu vi hơn 8 dặm, cây cối um tùm, cấm chặt cây, khe sâu cỏ rậm, rất nhiều hươu nai, hổ báo. Dân núi… tụ họp cấy cày ở chân núi, là một trong Thất Sơn.

Xác định vị trí theo mô tả, rồi đối chiếu trên An Giang toàn đồ, ta thấy núi Nam Vi được đề cập trong ĐNNTC chính là núi Nam Qui ngày nay. Nhiều sách và bản đồ trước đây viết là “Nam Vi, người Khmer địa phương gọi là Phnom Pi.

6. Núi Tà Biệt: Ở cách huyện Hà Dương 5 dặm về phía Bắc, cao 20 trượng, chu vi 6 dặm, mặt về phía đông, lưng về phía tây; không như các ngọn núi khác mà ở lệch về bên Vàm Nao, nên gọi tên thế, núi tuy nhỏ bé mà hình thế đĩnh đạc, cũng là một trong Thất Sơn.

Căn cứ vào những đặc điểm của núi mà sách mô tả, kết hợp với ghi chú trên An Giang toàn đồ thì núi Tà Biệt chính là núi Phú Cường ngày nay.

7. Núi Nhân Hòa: Ở phía đông nam huyện Hà Dương, liền với núi Nam Vi, tục gọi Sáng Cháy, cũng là một trong Thất Sơn.

Liền với núi Nam Vi có núi Dài. Nếu xem chú thích trên An Giang toàn đồ thì vị trí của núi Nhân Hòa trùng với núi Dài ngày nay.

Như vậy, Thất Sơn gồm có các núi: 1. Núi Sam, 2. Núi Tô (Cô Tô, Phụng Hoàng Sơn), 3. Núi Cấm (Thiên Cấm Sơn), 4. Núi Bà Đội Om, 5. Núi Nam Qui, 6. Núi Phú Cường (Ngũ Hổ Sơn), 7. Núi Dài (Ngọa Long Sơn).

Bảy núi này mang ý nghĩa gì? Chắc chắn không phải là những núi to nhất trong vùng. Trong một lần về An Giang, nhà văn Sơn Nam khuyên tôi nên tìm hiểu theo hướng “phong thủy”.

Thất Sơn xưa có nhiều hoạt động đạo giáo và đặc biệt vùng này còn là nơi ẩn tích, là địa bàn hoạt động của một số nhà yêu nước như Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, Đức bổn sư Ngô Lợi của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa…

Hẳn nhiên, chọn được một thế đất tốt, theo người xưa, sẽ mở đầu cho một cơ nghiệp huy hoàng. Ta thấy, các kinh đô xưa đều là những địa điểm được chọn theo “con mắt phong thủy”. Thành Đại La sau đổi là Thăng Long “ở vào nơi trung tâm Trời Đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi… lại tiện hướng nhìn ra sông dựa núi… Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi đây là thắng địa” (Chiếu Dời đô). Kinh đô Huế, nhìn rộng thì có biển đằng trước, núi đằng sau; nhìn hẹp thì có núi Ngự Bình ở phía trước làm án, sông Hương chảy lững lờ bao quanh, trên sông ở hai đầu có hai cồn đất giống như Thanh Long (tả) và Bạch Hổ (hữu), đoạn sông nằm giữa hai cồn ấy chính là Minh Đường. Theo Ngũ hành, các thế đất được phân thành Hình Thủy, Hình Hỏa, Hình Mộc, Hình Kim và Hình Thổ. Thế đất Hình Kim được coi là sẽ phù trợ cho con cháu phát theo đường võ; còn thế đất Hình Mộc sẽ phù hợp cho con cháu phát theo đường văn. Nếu một thế đất có đủ cả Ngũ hành thì sẽ được coi là phát đế vương.

Trở lại vùng Thất Sơn, theo cách dò tìm Long mạch, xác định vị trí của 7 núi trên bản đồ, ta thấy ở đây đúng là một thế đất Ngũ hành, trong đó Hình Thổ (trung ương) là núi Cấm (Thiên Cấm Sơn). Phải chăng đây là “đáp số” của bài toán “Thất Sơn”?

Để hoàn tất bài viết này, thú thật, tôi rất vất vả vì kiến thức của mình có hạn, chẳng biết những lời lẽ trên đây có thuyết phục được quí độc giả chút nào chăng? Mong nhận được những ý kiến đóng góp!

Thất Sơn ngày nay đã trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn với hàng triệu lượt khách thập phương hằng năm về đây hành hương và thưởng ngoạn cảnh đẹp. Trong làn khói hương huyền diệu lan tỏa khắp núi rừng trùng điệp, Câu chuyện Thất Sơn chắc hẳn đã và sẽ cùng với bao huyền thoại linh thiên của vùng đất đi vào tâm hồn con người như những lời gởi gắm của người xưa !

An Giang, tháng 4 âl năm 2000
Nguyễn Kim Nương

Kê là Gà

đăng 08:25 28-06-2014 bởi Pham Hoai Nhan

Kê Gà là tên một mũi đất nhô ra biển ở Bình Thuận, cũng là tên ngọn hải đăng cổ xưa ở đó.


Kê là gà.


Kê Gà là... gà gà. Đầu là gà, đuôi cũng là gà!


Địa danh do ông bà ta đặt nhiều khi khá quê mùa, cục mịch, nhưng thường là có nghĩa chứ không... lãng nhách như vậy. Nhiều người cho rằng tên Kê Gà là sai, đọc đúng phải là Khe Gà. Wikipedia giải thích tên gọi Kê Gà như sau: vì mũi đất nhô ra giống đầu con gà nên gọi là Kê Gà. Ơ hay, giống đầu con gà sao không kêu là Đầu Gà, Mũi Gà, hay... Mỏ Gà, mắc chứng gì lại kêu là... gà gà (Kê Gà)?


Hải đăng Khe Gà. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Lý giải về địa danh Khe Gà nghe hợp lý hơn nhiều:


Đảo nhỏ khoảng 5 ha này là một phần đất tách rời từ núi Cẩm Kê mà trong sách Đại Nam nhất thống chí ghi là Kê Dữ (tức Đảo Gà) do có đàn gà rừng với màu lông sặc sỡ sống bên khe suối có dòng (khe) nước ngọt chảy ra biển. Như vậy Khe Gà ý nói đến nơi có dòng suối (khe suối, ngoài ra khê cũng có nghĩa là suối) nơi có nhiều gà. Lập luận cho rằng đây là chữ khe càng đáng tin hơn, bởi vì cách đó khoảng 3 km có một dòng suối lớn hơn, chảy ra biển có tên là Khe Cả  Đại Nam nhất thống chí gọi là Đại Khê.


Vậy cái chữ đi với  ở đây phải là Khe, hoặc cùng lắm là khê (suối) chứ không thể nào là  được!


Sự nhầm lẫn có lẽ tại người Pháp. Họ đâu có biết tiếng Việt, do đó ký âm lại những từ tiếng Việt không chính xác. Trên bản đồ hải trình của người Pháp, ghi địa điểm có ngọn hải đăng này là Kéga. Thế là chết danh Kê Gà luôn! (Điều này tương tự như Chí Hòa bị sai thành Kỳ Hòa, Đất Hộ thành Đa Kao...)


Khe Gà đúng, Kê Gà sai. Khổ một nỗi, cái sai đó nó sai triền miên đến mức trở thành... đúng. Bây giờ trên bản đồ, giấy tờ hành chánh, bảng hiệu... tất tần tật đều ghi tên Kê Gà!


Cho nên tui nói trước, khi tui kể chuyện đi đến mũi đất này tui đành phải gọi là Kê Gà, bởi vì nếu gọi đúng là Khe Gà các bạn sẽ lại hỏi: Ủa, chỗ đó là chỗ nào, sao hổng thấy trên bản đồ?


Hê! Khe Gà hay Kê Gà?


Kê Gà chứ! Bản đồ ghi vậy mà!



Phạm Hoài Nhân

Thử giải thích vài địa danh thắng cảnh ở Bình Thuận

đăng 03:24 26-06-2014 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 08:06 27-06-2014 ]

Khách du lịch đến với Bình Thuận lâu nay chỉ biết nơi đây là một vùng biển đẹp, hoang sơ, lãng mạn với những khu resort, nghỉ dưỡng Mũi Né, Hòn Rơm, Khê Gà, La Gi… Tuy vậy có những địa danh tiềm ẩn sự tích ly kỳ mà trong chữ viết vẫn còn nhiều bất cập dẫn đến sự giải thích khác nhau.

Sẽ không mấy thỏa đáng với một số bài báo, tư liệu giới thiệu danh lam thắng cảnh du lịch Bình Thuận vì những thiếu sót khi đề cập đến các địa danh hoặc chỉ căn cứ theo cách gọi dân gian để suy luận. Về ngọn hải đăng Khe Gà trên Wikipedia cho là vì mũi đất nhô ra giống đầu con gà nên gọi là Kê Gà! Thật ra đảo nhỏ khoảng 5 ha này là một phần đất tách rời từ núi Cẩm Kê mà trong sách Đại Nam nhất thống chí ghi là Kê Dữ (tức Đảo Gà) do có đàn gà rừng với màu lông sặc sỡ sống bên khe suối có dòng (khe) nước ngọt chảy ra biển. 

Mũi điện Khe Gà thường bị gọi sai là Kê Gà. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Nói về thắng cảnh chùa núi Tà Cú, nhiều tài liệu liên quan chưa bao giờ gọi chùa Long Đoàn (chùa Dưới) là Linh Sơn Long Đoàn. Tập lược sử Tổ Hữu Đức do Hòa thượng Thích Hương Từ viết năm 1964 ghi rất rõ, thời vua Tự Đức thứ 33, gặp lúc Hoàng Thái hậu (mẹ vua) lâm trọng bệnh nhưng các ngự y tài giỏi đều không chữa được, sau khi được vua hạ chiếu sai sứ rước Tổ Hữu Đức nhưng Tổ chỉ trao các chú chuẩn đề và Hoàng Thái hậu uống mà lành bệnh. Tạ ơn Tổ, vua Tự Đức ân tứ 4 chữ Linh Sơn Trường Thọ đặt tên cho ngôi chùa mà Tổ Hữu Đức tạo dựng và trụ trì. Cho nên chùa Linh Sơn Trường Thọ còn gọi là chùa Tổ, chùa Trên. Đến khi Tổ Hữu Đức viên tịch thì có sự thay đổi. Sư Tâm Hiền đứng ra lập một ngôi chùa mới nằm bên kia con suối, sau này gọi là chùa Dưới tức chùa Long Đoàn. Như vậy chữ Linh Sơn Trường Thọ có nghĩa là chùa Tổ, chùa Trên và khá lâu sau mới có chùa Long Đoàn.

Chùa trên núi Tà Cú. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Còn di tích Hòn Bà ở La Gi không có ai chứng minh được tượng nữ thần Thiên Y A Na do các nghệ nhân Chăm tạc từ khối đá tự nhiên tại chỗ. Thật ra đây là khối đá có hình tượng bán thân của một nữ nhân và trực tiếp thờ cúng là ngư dân địa phương gắn với tổ chức các dinh vạn Tân Long, Phước Lộc. Hòn Bà có truyền thuyết riêng với câu chuyện tình đầy tính sử thi nhưng vốn ảnh hưởng mật thiết với tín ngưỡng dân gian vùng biển miền Trung nên cả hai dòng tín ngưỡng Việt – Chăm gặp nhau ở hình tượng Bà Chúa Ngọc, trở thành nguồn phép an lành cho ngư dân với cuộc sống phải đối mặt trước bao bất trắc, hiểm nguy.

Không những thế mà các văn bản hành chánh cũng định hình hóa các địa danh không đúng ý nghĩa xuất xứ nguồn gốc để rồi tiếp tục tồn tại mà không giải thích được. Có lúc các địa danh Tà Dôn, Tà Cú được viết rất Tây là Tazôn, Takou… nhưng thật ra ngữ âm xưa nay chỉ được hình thành qua quá trình tiếp xúc giữa các dân tộc trên vùng đất này và chuyển thành cách viết chữ Việt. 

Địa danh Phú Hài (Phan Thiết) nơi có cụm tháp Chăm Pôshanư trên dải đồi Lầu Ông Hoàng là phần đất cao mà xa xưa trung tâm thành phố Phan Thiết còn là một vùng trũng nước biển, dân cư người Chăm ở đó nên có tên gọi Phố Hời. Do cách đọc biến âm hoặc tránh nói đến chữ Hời (Chàm) nên từ Phố trở thành Phú, Hời trở thành Hài… Tương tự dân địa phương nói sớm mơi ra sớm mai, rồi thành rầu, tôi thành tui… nhưng có lúc, để chỉ về một làng biển thịnh vượng nên Phú Hài thành Phú Hải! Đây cũng là một cách giải thích. 

Với Khe Gà, Khê Gà, Kê Gà (Hàm Thuận Nam) xuất phát từ sự miêu tả một dòng suối (khe, khê) chảy từ núi Cẩm Kê ra biển có đàn gà (kê) rừng thường ra uống nước, tất nhiên phải khác với ngữ nghĩa Kê Gà như cách dùng trên các văn bản hành chánh hiện nay. Cách giải thích có lẽ hợp lý hơn là do từ cách ghi chép trên bản đồ hải trình thời Pháp thuộc ghi Mũi hải đăng Kéga nên đọc thành Kê… để rồi Kê có nghĩa là Gà! Cách đó khoảng ba cây số cũng có một con suối lớn hơn chảy ra biển Tân Thành có tên Khe Cả mà trong sách Đại Nam nhất thống chí gọi là Đại Khê để thấy rằng cùng một địa bàn đều sử dụng từ Khe (Việt), hoặc Khê (Hán) dựa theo địa hình thiên nhiên. Như vậy chỉ có Khe hoặc Khê chứ không thể là Kê và cách viết Khe Gà là đúng hơn. 

Tương tự, Ngảnh Tam Tân (La Gi) với từ “ngảnh” đi theo địa danh Tam Tân là khá hiếm trong cách gọi địa danh và Ngảnh ở đây là chỉ địa hình thiên nhiên, phát âm biến đổi từ ngoảnh lại- xoay lại. Nhưng cũng có thể là Gãnh theo cách đọc của người Nam bộ, nói đến một giồng đất cao thường có ở bờ biển do phù sa bồi dần (có đề cập trong Đại Nam Quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của). Ở Bến Tre có Gãnh Mù U còn gọi là Bạch Mai Châu. Có thể Ngảnh Tam Tân nằm trong trường hợp đó. 

Lác đác trên những địa danh được ghi tên cầu, đường còn nhiều vấn đề không theo một phương thức nào cả. Sông Bà Giêng viết thành Sông Giêng (Hàm Tân), cầu Cây Chanh thành cầu Tranh (La Gi), cầu Kiều thành cầu Cô Kiều), Cầu Quan lúc thì cầu Quang, núi Bà Đặng thành Tà Đặng (Tân Thành)…

Nhiều địa danh mới xuất hiện nghiễm nhiên là những địa danh hành chánh không có mối quan hệ nào tới lịch sử, địa lý, thiên nhiên của một vùng đất mà chỉ theo “phương ngữ” hoặc địa danh chỉ hình thành trong một giai đoạn nhất định, thậm chí không nên duy trì dù rằng đã nằm lòng với cách gọi của người dân địa phương. Đó là vấn đề cần phải được nghiên cứu đầy đủ và thuộc chức năng của cơ quan hành chánh quản lý nhà nước cùng việc chỉ đạo, xây dựng văn bản và đặt tên xã, phường cho phù hợp và có mối quan hệ với lịch sử, địa lý của địa phương. Kể cả yêu cầu quảng bá tiềm năng du lịch là cần thiết nhưng các vấn đề thuộc về lịch sử, văn hóa cũng cần đạt được tính khoa học, giá trị nhân văn, có cơ sở thực tiễn thì bao giờ cũng mang lại sức thuyết phục cao hơn.

PHAN CHÍNH

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

đăng 17:58 31-05-2014 bởi Pham Hoai Nhan

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về


Câu ca dao này rất quen thuộc, và 2 địa danh Gia Định, Đồng Nai cũng rất quen thuộc với mọi người. Gia Định và Đồng Nai ở sát bên nhau như 2 người anh em.


Thế nhưng nếu tìm hiểu kỹ ta sẽ phát hiện một điều hết sức bất ngờ: Gia Định và Đồng Nai với tư cách là những tỉnh - thành chưa bao giờ tồn tại cùng một lúc! Có Gia Định thì không có Đồng Nai, có Đồng Nai thì không có Gia Định!


Thời nhà Nguyễn độc lập, miền Nam Việt Nam có 6 tỉnh và thường được gọi là Nam kỳ lục tỉnh. 6 tỉnh đó là: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.


Nam kỳ lục tỉnh, thời kỳ ổn định 1841-1862. Ảnh: Wikipedia


Chú ý rằng thời kỳ này có tỉnh Gia Định, nhưng không có tỉnh Đồng Nai mà chỉ có tỉnh Biên Hòa thôi.


Thời kỳ người Pháp xâm chiếm nước ta, họ chia lại 6 tỉnh Nam kỳ thành 21 tỉnh. Tỉnh Gia Định được chia thành 5 tỉnh: Gia Định, Chơ Lớn, Tân An, Tây Ninh, Gò Công. (vẫn tồn tại địa danh Gia Định). Tỉnh Biên Hòa được chia thành 4 tỉnh: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Cap Saint Jacques (vẫn không hề có địa danh Đồng Nai).


Từ đó cho đến 1954, có một vài điều chỉnh nho nhỏ, nhưng vẫn luôn luôn tồn tại tỉnh Gia Định và không hề có tỉnh Đồng Nai.


Thời Việt Nam Cộng Hòa, Nam phần (Nam bộ) được chia thành 22 tỉnh và đô thành Sài Gòn theo sắc lệnh 143-NV ngày 22/10/1956 như sau:


  • Đô thành Sài Gòn


  1. Phước Long
  2. Bình Long
  3. Biên Hòa
  4. Long Khánh
  5. Bình Dương
  6. Bình Tuy
  7. Phước Tuy
  8. Gia Định
  9. Long An
  10. Tây Ninh
  11. Định Tường
  12. Kiến Tường
  13. Kiến Phong
  14. Kiến Hòa
  15. Trà Vinh
  16. Vĩnh Long
  17. An Giang
  18. Phong Dinh
  19. Kiên Giang
  20. Ba Xuyên
  21. An Xuyên
  22. Côn Sơn

Như vậy vẫn còn tỉnh Gia Định và vẫn không hề có tỉnh Đồng Nai!


Các thay đổi từ 1957 đến 1975 như sau:

  • Năm 1957, Trà Vinh đổi tên thành Vĩnh Bình. 
  • Phước Thành, thành lập năm 1959, bãi bỏ năm 1965 
  • Chương Thiện, thành lập năm 1961 
  • Gò Công - 1963 
  • Hậu Nghĩa - 1963 
  • Châu Đốc - 1964 
  • Bạc Liêu - 1964 
  • Sa Đéc - 1966 
  • Năm 1965, bỏ tỉnh Côn Sơn

Từ 1966 đến 1975, Nam bộ có 27 tỉnh và 1 biệt khu Thủ đô (tức Đô thành Sài Gòn). Vẫn có tỉnh Gia Định và vẫn không hề có tỉnh Đồng Nai!


Bản đồ hành chính Nam Việt Nam năm 1967


Sau 1975, như chúng ta đã biết, Sài Gòn - Gia Định được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh với các quận, huyện, phường... Địa danh Gia Định hoàn toàn biến mất, và không được đặt cho bất kỳ đơn vị hành chính nào tại TPHCM!


Cùng lúc đó, tỉnh Đồng Nai được thành lập trên cơ sở tỉnh Biên Hòa và Long Khánh cùng một phần tỉnh Phước Tuy. Từ 1975 đến nay về mặt địa giới hành chính có thay đổi nhưng tên gọi tỉnh Đồng Nai vẫn tồn tại mãi đến tận bây giờ.


Như vậy, hễ có Đồng Nai thì sẽ không có Gia Định!


Câu ca dao Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về nghe rất thân thương, nghe rằng Gia Định và Đồng Nai rất gần gũi. Mà gần gũi thật vì Đồng Nai và TPHCM ở cạnh bên nhau mà.


Thế nhưng từ gần 200 năm nay kể từ thời nhà Nguyễn đặt tên cho Nam kỳ lục tỉnh chưa bao giờ tồn tại 2 cái tên Gia Định và Đồng Nai cùng một lúc. Có Gia Định thì không có Đồng Nai, và ngược lại.


Gia Định và Đồng Nai như 2 kẻ không đội trời chung vậy!


Phạm Hoài Nhân

Địa danh Thủ Dầu Một

đăng 17:26 31-05-2014 bởi Pham Hoai Nhan

Thủ Dầu Một đầu tiên là địa danh vùng, rồi là địa danh chỉ các đơn vị hành chính các cấp: hạt Thủ Dầu Một (1869), tỉnh Thủ Dầu Một (1899), thị xã Thủ Dầu Một (1975), thành phố Thủ Dầu Một (2002) của tỉnh Bình Dương.


Chợ Thủ Dầu Một đầu thế kỷ XX


Trước nay có 3 cách giải thích về nguồn gốc địa danh này. Thuyết thứ nhất cho rằng, địa danh Thủ Dầu Một có nguồn gốc từ tiếng Khmer “Thun Đoón Bôth” có nghĩa là “gò có đỉnh cao nhất”[1]


Vương Hồng Sển đã bác bỏ giả thiết trên khi cho rằng:”Chữ “đoán” không đúng giọng Thổ, phải nói “doeum” có nghĩa là cây. Bôth,  theo từ điển, pannetier viết doeum pou là “banian” tức cây lâm vồ, cây bồ đề, nơi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, và người Miên trọng nể cây lâm vồ lắm. Thul là gò”[2]



Thuyết thứ hai giải thích địa danh Thủ Dầu Một là địa danh thuần Việt, được ghép theo phương thức: thủ (đồn, trạm) + tên thực vật + số từ [3].


Trong Gia Định thành thông chí (1820) đã thấy ghi nhận về địa danh Dầu Một như sau:”Nay Lý (Lý Tài-NTL chú) được tin thật bèn sai 4 thuộc tướng là Tân, Hổ, Hiền, Nam đem cả bổn bộ binh mã thẳng xuống Bến Nghé để bái nghinh Mục vương về đồn Dầu Miệt (Một)” [4]. Trong Đại Nam nhất thống chí cũng có chép về địa danh này:”Chợ Phú Cường ở thôn Phú Cường, huyện Bình An, tục danh chợ Dầu Một ở bên lỵ sở huyện, xe cộ ghe thuyền tấp nập đông đảo [5]. Như vậy, địa danh Dầu Một đã tồn tại trước địa danh Thủ Dầu Một.


L. De Grammont, sĩ quan quân đội Pháp, từng chỉ huy đồn binh Thủ Dầu Một những năm 1861, 1862 đã có những ghi chép về chợ Phú Cường hay chợ Thủ Dầu Một, đoạn bến sông Sài Gòn:”...Những thân cây dầu trần và rất cao tạo thành vòng đai của cảng. Dưới chân chúng, một cây đa đã có hơn trăm tuổi đứng hùng vĩ như hình ảnh kẻ vươn tay che chở bảo vệ vùng đất này”.[6]


Tác giả Sơn Nam cho biết, ở địa điểm chợ Thủ Dầu Một ngày nay, trước kia là một bến xe trâu, thuận lợi để tắm trâu và rửa xe. Nơi đây có quán trà Huế, quán cơm, dần dần thành chợ. Chỗ mé sông (ngang dinh chủ tỉnh)[7] có một cây dầu lớn, trốc gốc sau cơn bão (bão năm Giáp Thìn 1904-NTL), ngọn cây gây cản trở giao thông tận giữa lòng sông. Người Pháp phải huy động dân phu để giải tỏa, gốc to “đôi ba người ôm”.[8]


Hiện nay, trong khuôn viên của Tỉnh ủy Bình Dương và Trường Sĩ quan Công binh (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một) cũng còn một số cây dầu. Hay như đoạn đường Bạch Đằng, chỗ gần Trường Trung học Mỹ thuật Bình Dương trước đây có một số cây dầu bị đốn hạ khi mở rộng con đường này.


Ở ngã ba đường Nguyễn Tri Phương - Bùi Quốc Khánh, thuộc phường Chánh Nghĩa hiện vẫn còn cây dầu đôi với tên gọi đã trở thành địa danh Dầu Đôi.[9] Theo ông Chín Bé (77 tuổi, cư ngụ tại khu 9, phường Chánh Nghĩa) cây dầu này do ông Năm Phe trồng cách nay trên 60 năm. Xưa vùng đất này thuộc làng Phú Cường, quận Châu Thành, tỉnh Thủ Dầu Một. Con đường này trước có tên là đường Bà Lụa. Hai bên đường có nhiều cây dầu, năm 1946 chúng bị chặt ngã ngang đường để ngăn bước tiến của quân Pháp. Trước đây, ở gần cầu Thủ Ngữ có trại đóng ghe của ông Út Gần và ông Năm Chọn, chuyên đóng ghe chài, sử dụng dầu rái từ thân cây dầu. Đến năm 1946 hai trại ghe này bị Pháp đóng cửa.


Theo Đại Nam nhất thống chí, trên địa bàn tỉnh Biên Hòa còn có nhiều thủ như: Bình Lợi, Định Quán, Phước Vĩnh, Long An, Phước Khánh.[10] Ở địa bàn tổng Bình An có 4 thủ chính: Thủ Thiêm, Thủ Đức, Thủ Dầu Một, Thủ Băng Bột[11]; trong đó quan trọng nhất là Thủ Dầu Một.[12]


Cách cấu tạo địa danh Dầu Một này cũng tương tự như các địa danh: Xoài Đôi (Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh), Xoài Đôi, Quéo Ba (Long An), Tràm Một, Xoài Tư (Tiền Giang)…


Như vậy, địa danh Thủ Dầu Một có thể hiểu là “cây dầu lớn/cả (duy nhất), mọc vượt lên trên, nằm bên cạnh đồn/thủ”.


Người Hoa gọi địa đanh Thủ Dầu Một là Cổ Long Mộc. Dầu rái gọi là mãnh hỏa du, còn gọi là dầu chai dùng để trét thuyền, nhúm lửa, trét thùng cây.[13]


Đây là cách giải thích được đa số ý kiến các nhà nghiên cứu chấp nhận nhất.


Và thuyết thứ ba cho rằng địa danh Dầu Một là do Dầu Miệt (vùng có cây dầu) mà ra. Nếu chữ miệt có nghĩa là “vùng”, thì kiểu kết hợp trong địa danh Dầu Một/Miệt là không phù hợp. Ví dụ, phải nói là miệt vườn, miệt giồng, miệt biển, miệt trên, miệt dưới, miệt thứ, miệt U Minh, miệt Đồng Tháp...chứ không nói theo thứ tự ngược lại.[14]


Thủ Dầu Một ngày nay


Nguyễn Thành Lợi

 ____________



[1] Lê Văn Đức, Việt Nam tự điển, tập 2, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, tr.236.

  Trong bài Thủ Dầu Một-Bình Dương, tên đất, tên làng (Văn nghệ Bình Dương, số 5, 1998), Trương Chi ghi là”Tuln Phombôt” với nghĩa là “đỉnh đồi cao nhất”.

  Lê Trung Hoa, Nguồn gốc và ý nghĩa một số địa danh ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam những vấn đề kinh tế-văn hóa-xã hội, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004, tr.282.

  Sách Bình Dương miền đất anh hùng (Nhiều tác giả, Nxb Trẻ-Hội Văn học nghệ thuật Bình Dương, 2006, tr.17) chép là “Thun Đoán Bôth” với nghĩa là “gò có đỉnh cao nhất”


[2] Vương Hồng Sển, Sđd, tr.645.


[3] Bùi Đức Tịnh, Sđd, tr.66; Lê Trung Hoa, Bđd, tr.282; Bình Dương miền đất anh hùng, Sđd, tr.17.


[4] Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr.53. Chú thích ở cuối trang, Lý Việt Dũng ghi về địa danh này:”Tức Thủ Dầu Một, nay là thị xã tỉnh lỵ Bình Dương”. Bản dịch của Nguyễn Tạo ghi là “đồn Dầu Một” (Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Tập thượng, Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn hóa xb, Sài Gòn, 1972, tr.52). Và bản dịch của Viện Sử học cũng ghi là “đồn Dầu Một” và chú thích thêm:”Đồn Dầu Một, cũng gọi là thủ Dầu Một. Về sau đến đời Pháp thuộc thì có tên tỉnh Thủ Dầu Một” (Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch; Đào Duy Anh hiệu đính và chú thích, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr.40)


[5] Đại Nam nhất thống chí-Lục tỉnh Nam Việt, Tập thượng, Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn hóa xb, Sài Gòn, 1973, tr.35.


[6] Huỳnh Ngọc Đáng, Phú Cường lịch sử văn hóa và truyền thống cách mạng, Sông Bé, 1990, tr.20.


[7] Nay là địa điểm của trụ sở Ủy ban Nhân dân và Tỉnh ủy Bình Dương, trên đường Bạch Đằng, nhìn ra sông Sài Gòn, thuộc phường Phú  Cường, thị xã Thủ Dầu Một.


[8] Trần Bạch Đằng (chủ biên), Địa chí tỉnh Sông Bé, Sđd, tr.337.


[9] Ở ngã ba Thành (huyện Diên Khánh, Khánh Hòa), sát quốc lộ 1A hiện nay vẫn còn cây “Dầu Đôi” mấy trăm tuổi, được xem như chứng tích xưa của xứ “Trầm Hương”. Cây dầu cao trên 30m, nằm bên cạnh miếu Trịnh Phong.


[10] Trần Bạch Đằng (chủ biên), Địa chí tỉnh Sông Bé, Sđd, tr.148.


[11] Tức thủ An Lợi hay thủ Thị Tính (Trần Bạch Đằng (chủ biên), Địa chí Sông Bé, Sđd, tr.187).


[12] Trần Bạch Đằng (chủ biên), Địa chí Sông Bé, Sđd, tr.163.


[13] Trịnh Hoài Đức, Sđd, tr.337, 271. Trong sách này, Lý Việt Dũng chú là:”Dầu Miệt: Thủ Dầu Một, nay là tỉnh lỵ Bình Dương, còn được người Hoa đọc là Cổ Long Mộc (NTL nhấn mạnh)”(tr.337). Nhưng trong mục từ “Thủ” của một cuốn từ điển, địa danh Thủ Dầu Một được phiên âm thành “Thổ Long Mộc” (Việt Hán từ điển tối tân, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr.821). Và chúng cũng thấy cách phiên âm này phổ biến trên thực tế hơn.


[14] Miệt Trên (Biên Hòa, Gia Định, Bà Rịa, Tân An), miệt Cao Lãnh, miệt Đồng Tháp Mười, miệt Dưới (Rạch Giá, Cà Mau), miệt Xà Tón, Bảy Núi (Thất Sơn, Tri Tôn thuộc Châu Đốc), miệt Hai Huyện (Chợ Thủ, Ông Chưởng), miệt Vườn (vùng cao ráo, vườn cây ven sông Tiền, sông Hậu thuộc các tỉnh Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho, Cần Thơ) (Sơn Nam, Đồng bằng sông Cửu Long hay là văn minh miệt vườn, An Tiêm xb, Sài Gòn, 1970, tr.16-17).

Gành Hào ơi!...

đăng 08:23 29-05-2014 bởi Pham Hoai Nhan

Tôi không phải dân Bạc Liêu hay Cà Mau nên không gắn bó gì với tên sông Gành Hào hay huyện Gành Hào, nhưng tôi thích nghe bài Đêm Gành Hào nhớ điệu hoài lang của Vũ Đức Sao Biển nên nhập tâm hai tiếng Gành Hào. Gành Hào ơi, nửa đêm ai hát lên câu hoài lang


Bạc Liêu ơi có nhớ chăng ai? 

Thuở ấy thanh xuân, trăng Gành Hào tròn như chiếc gương

Giờ tóc pha sương qua Gành Hào tiếc một vầng trăng


Và rồi khi đi qua Cà Mau, Bạc Liêu, được giới thiệu rằng mình đang đi trên sông Gành Hào thì nghe lòng xao xuyến lạ: đêm Gành Hào nhớ điệu hoài lang...



Bởi vậy tôi rất đồng cảm với nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển khi ông rên rỉ: sao người ta nỡ lòng nào đổi tên huyện Gành Hào thành huyện Đông Hải? Tên Gành Hào quê mùa còn tên Đông Hải mỹ miều hay sao? Đông Hải là biển Đông, nhiều nơi có thể gọi là Đông Hải được, còn Gành Hào mộc mạc chân quê thì chỉ có một. Đành phải hát Đồng Hài ơi, nửa đêm ai hát lên câu hoài lang hay sao?

...


Nếu không có bài hát Tiếng chày trên sóc Bom Bo của Xuân Hồng thì chắc tôi và nhiều người đều không biết đến sóc Bom Bo. Nghe nhạc rồi, biết rằng đây là một sóc của người S'tiêng thuộc huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mà thuở xưa dân làng đã băng rừng lội suối lập nên để không vào ấp chiến lược.


Đuốc lồ ô bập bùng lên ánh lửa 
Sóc Bom Bo rộn rã tiếng chày khua 



Mỗi khi đi trên lộ 14, ngang qua Bù Đăng nhìn thấy một bảng chỉ đường vào sóc Bom Bo ngày xưa thấy lòng rôn lên cảm giác khó tả, dù mình chẳng phải kháng chiến ngày nào. Đó là sự cảm thụ âm nhạc, và gợi nhớ về ký ức một bài hát hay hát mãi thuở nhỏ.


Sóc Bom Bo bây giờ còn không? Còn, nhưng nó không còn mang tên sóc Bom Bo nữa. Bây giờ đó là thôn 1, xã Bình Minh! Đặt tên phường xã hoặc tên đường bằng số là chuyện thường, cho tiện ấy mà! Nhưng có tiếc gì hai tiếng Bom Bo đã đi vào âm nhạc (và lịch sử) mà không giữ lại cái tên ấy, lại thay bằng cái số 1 khô khốc nhỉ?


Ngày xưa nhạc sĩ Xuân Hồng cất lên lời hát:


Người đi xa vắng rồi sẽ có ngày

Về đường này

Thăm sóc Bom Bo!


Giờ ông đã đi xa vắng thật rồi. Nếu còn sống, ông sẽ quay về sóc Bom Bo ngày xưa và hát:


Người đi xa vắng rồi sẽ có ngày

Về đường này

Thăm thôn 1, xã Bình Minh!


Phạm Hoài Nhân

1-10 of 21