Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Một số địa danh cổ xưa trên đất Ninh Thuận Xét địa danh trong địa bàn Ninh Thuận hiện tại, chúng ta có thể thấy nhiều sự thay đổi qua nhiều lớp thời gian, và nếu nhắc lại chỉ riêng ...
    Được đăng 19:27, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Địa danh Ô Cam ở Ninh Thuận Xét toàn tỉnh Ninh Thuận hiện nay và trong bản đồ của tỉnh, địa danh Ô Cam, có khi gọi Ô Căm, Ô Câm chỉ còn lưu hành là sông ...
    Được đăng 16:49, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Những địa danh, di tích "ngựa" ở Tiền Giang Ngày xưa, đường bộ ở vùng đất Nam kỳ chưa phát triển, việc đi lại, vận chuyển chủ yếu bằng ghe xuồng. Năm 1792, chúa Nguyễn đắp đường Thiên Lý ...
    Được đăng 00:49, 17 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Qua cầu... Giắt Dây Tại Km 1076 +356 Quốc lộ 1 đi qua thôn 1, xã Đức Tân (Mộ Đức) có một cây cầu mang tên Giắt Dây. Hằng ngày, người và xe cộ ...
    Được đăng 00:30, 18 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tên đường nào ngắn nhất Việt Nam? Lưu ý câu hỏi nhé: Tên đường nào ngắn nhất? chớ không phải Con đường nào ngắn nhất? Ý nói là tên đường nào có ít chữ cái nhất? ...
    Được đăng 19:19, 9 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Một số địa danh cổ xưa trên đất Ninh Thuận

đăng 19:27, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Xét địa danh trong địa bàn Ninh Thuận hiện tại, chúng ta có thể thấy nhiều sự thay đổi qua nhiều lớp thời gian, và nếu nhắc lại chỉ riêng phần tên núi đồi, sông hồ, tên làng xóm thôi thì cũng có nhiều điều thú vị. Với một diện tích không lớn, song lại chứa đựng bao truyền thống quý báu, bao tình đất, tình người trong lịch sử. Một trong sự quý báu đó là tên đất, tên làng xa xưa mà đôi khi tìm hiểu, ta lại nhớ các bậc tiền nhân khai sơn, phá thạch, kiến tạo nước non nhà.


Đi dọc từ Du Long vào Cà Ná, có thể thấy mấy tên xưa nay hoặc còn lưu lại, hoặc đã thay đổi.

+ Kiền Kiền và Du Long: Tên thường gọi chung cả vùng Bắc tỉnh, nguyên xưa nhất là thời Nhà Nguyễn, có tên là Du Lai. Kể thêm tên Kiền Kiền: hiện nay có thôn Kiền Kiền, xã Lợi Hải, ở phía Đông của vùng Bắc tỉnh, liên quan có dãy núi Kiền Kiền, trong có khe nước, từ xưa đặt tên là khe Kiền Kiền. Sách xưa ghi: “Khe Kiền Kiền: ở huyện Yên Phước, nguồn ra từ núi Ba Tiêu, chảy về phía Đông 5 dặm làm suối Du Lai đổ vào đầm làng Đăng“. (Quốc sử quán Triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB Thuận Hóa – 2006, trang 162).


Một góc xã Lợi Hải, trung tâm hành chính huyện Thuận Bắc ngày nay


+ Đầm Nại: Xưa gọi là đầm Hương Cựu (bên cạnh làng Hương Cựu, làng Đăng), cũng gọi là Phương Cựu, thông ra biển bằng sông Tri Thủy, xưa gọi là cửa biển Ma Văn.


Bình minh trên Đầm Nại. Ảnh: Hữu Thành


+ Kể thêm tên Hòn Thiên: Hiện nay là địa chỉ hấp dẫn các nhà nhiếp ảnh nghệ thuật, nằm ven Đầm Nại. Sách xưa ghi: “Phía Bắc núi kề đầm Hương Cựu, gần đấy có núi Bình Thiên [Hòn Thiên], núi Ni Cô, núi Bà Tu [Cà Đú?], núi Dư Khánh, núi Mậu Trường, núi Dốc Liệt“ Trang 154.

+ Cà Đú: Nay là một địa danh có tiếng trên ngã ba quốc lộ 1A Bắc – Nam đi Ninh Chử, nằm bên núi Cà Đú có độ cao 318m. Cà Đú là gọi trại tiếng Chăm: Chơk Du’, nghĩa là núi có hình giống con vích; quả thật nếu đứng từ Gò Đền nhìn núi, ta thấy như con vích, con rùa đang bò ra phía biển.

+ Thái An: Tên xưa là Lũng Lúa, Bãi Lúa, theo Nguyễn Đình Tư trong Non nước Ninh Thuận thì có 3 sự giải thích. Thứ nhất: “dân chúng ở đây hay làm rẫy và gặt lúa thuê“. Hằng năm cứ đến mùa gặt, họ lên gặt thuê ở các làng dọc quốc lộ 1, “Khi về đến đây thì đã mệt, họ ngồi tụ lại nghỉ chân, chia nhau lúa trước khi về nhà“. Thứ hai: “Trước kia Thái An có thờ một vỏ lúa rất to, vỏ lúa của thời loài người chưa phải trồng trọt khó nhọc, tự lúa mọc ngoài đồng, khi chín thì tự lăn về... y như truyện cổ tích“. Quá mơ hồ. Thứ ba: “Xưa có đoàn ghe bầu của Triều đình chở lúa đi dọc biển, đến vùng này chẳng may bị chìm, viên tải lương bèn ra lệnh vớt lúa đem lên bãi phơi. Khi lúa khô và được thu góp lại, một số bị rớt lại trên bãi và sau một trận mưa, lúa mọc lên xanh cả bãi“.


Thôn Thái An thuộc xã Vĩnh Hải (huyện Ninh Hải) ngày nay


+ Ninh Chử: Nguyên xưa đặt tên là Ninh Chử là do vùng vịnh biển này đẹp, sóng lặng, yên bình, nghĩa chữ Hán, Ninh: bình yên, thái hòa, Chử: bờ bãi, (lưu ý Chử dấu hỏi ?), như La Chử, Hải Chử, thậm chí cả Minh Chử, được ghi trong Địa bạ Triều Nguyễn 1836.


Bãi biển Ninh Chử xinh đẹp thu hút du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng


+ Vũng Tàu: Lại kể ra, nguyên xưa ghe thuyền vào đậu tránh sóng gió, trao đổi, mua bán tại Mỹ Thành, Mỹ Hòa ở phường Đông Hải nên dân gian gọi là Vũng Tàu, cũng như thành phố Vũng Tàu, nguyên xưa cũng thế.

+ Sông Dinh: Sông Cái (Sông Dinh): phát nguồn từ Tô Hạp (Khánh Hòa) chảy qua địa phận Khánh Hòa vào xã Phước Tân huyện Bác Ái tiếp nhận một phụ lưu là sông Ma Lâm, sau đó tiếp nhận thêm các phụ lưu: sông Pha (Krông Pha, sông Ông), sông Ta Mo/Cho Mo, sông Chá tại huyện Ninh Sơn, sau đó chảy vào đồng bằng Phan Rang, cuối sông ra đến biển Đông ở cửa biển phường Đông Hải. Tổng chiều dài 119 km. Sông Cái có nhiều tên gọi khác nhau qua mỗi đoạn sông và qua mỗi thời kỳ lịch sử: sông Mai Lung ở Đắc Nhơn, Sông Dinh. Trong sách Đại Nam nhất thống chí gọi là sông Phan Rang, ngày xưa tên là sông Mai Lang, Mai Nương, Man Rang, nguồn ra tự 2 núi Tham Lý và Tà Trú, chảy qua thôn Thịnh Mỹ, chảy về phía Nam 14 dặm đến xã Đắc Nhân gọi là sông Mai Lung. Càng về biển, sông Dinh tiếp nhận thêm 2 phụ lưu: sông Quao, sông Lu trước khi ra cửa biển Đông Hải.


Một góc Sông Dinh, đoạn chảy qua cầu Móng thuộc địa phận phường Bảo An.


+ Sông Quao: Phát nguồn từ núi Tà Mú (còn gọi Tà Trú, Tha Thu) từ 2 suối Nung Tá (còn gọi Tà Cai, Trại Thịt) và suối Ya Hac (hay suối Tầm Ru), cuối sông ra đến Sông Dinh với tổng chiều dài 47 km. Sông chảy qua các địa phận có tên sông Lanh Ra, sông Trí, sông Tà Câu, sông Na Lung. Qua khỏi quốc lộ 1A mới gọi là sông Quao. Trong sách Đại Nam nhất thống chí gọi là sông Ma Nê/ Ma Nãi từ trong núi chảy ra.

+ Sông Lu: Còn gọi là sông Biêu/ Viêu. Trong sách Đại Nam nhất thống chí gọi là sông Ma Bố: “Có sông Ma Bố từ thôn Đại Định chảy về phía Đông Bắc 37 dặm đến hợp vào [sông Dinh] lại chảy về phía Nam 3 dặm mà đổ ra cửa biển Phan Rang“

+ Mũi Dinh: Có ngọn Hải đăng xây thời Pháp, thuộc thôn Sơn Hải là thắng cảnh của tỉnh, mũi dinh nôm na là lớn, ca dao xưa người đi ghe bầu dọc biển có câu:

Mũi Nậy bảy bị còn ba,

Mũi Dinh chín bị không tha bị nào.


Nghĩa là mùa gió chướng, ghe bầu đi qua Mũi Nậy (Phú Yên), bảy bị gạo ăn bốn còn ba mới qua được, đến Mũi Dinh thì ăn cả chín bị chưa chắc đã qua được, do sóng, nước ngầm chảy xiết. Địa danh này hơi khó giải, bởi trong sách Đại Nam nhất thống chí xưa ghi là: Diên/ Diên Chủy. “Núi Mũi Diên: Diên Chủy [nay là núi Mũi Dinh trong phần đất thuộc Ninh Thuận], ở phía Đông Nam huyện Tuy Phong [lúc này phần đất Nam sông Ma Bố trở vào sông Duồng tên huyện là Tuy Phong thuộc phủ Ninh Thuận]. Chân núi có 9 khúc hình như các ngón tay, nằm ngang trên bãi biển, chỗ ấy nước biển chia đường, một đường chảy về Bắc, một đường chảy về Nam, chảy rất xiết, thuyền ghe qua đấy phải cẩn thận. Phía Nam có đầm Vũng Diên [vịnh bãi Cà Ná], gặp gió Nam thì thuyền có thể đỗ yên được. Năm Tự Đức 13 liệt vào hành danh sơn, ghi vào điển thờ.“ Trang 153-154. Như vậy nếu chúng ta thống nhất theo mô tả của sách xưa thì Diên = Dinh. Hiện nay tra cứu các tên núi có xuất hiện núi Diên nằm giáp ranh hai tỉnh Ninh Thuận - Bình Thuận. Tây Nam tỉnh Ninh Thuận, có một chi núi thuộc Cao Nguyên Di Linh chạy dài ra biển tới Mũi Dinh nhưng phần lớn các ngọn núi này nằm trên địa bàn Bắc tỉnh Bình Thuận, chỉ một ít nằm trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Ngọn cao nhất là núi Hòn Điều (Hòn Diên 1.528m).


Ngọn hải đăng được người Pháp xây dựng trên Mũi Dinh


+ Núi Chà Bang 432m: Sách xưa gọi hòn Tam Sơn, bởi cả dãy có 3 đỉnh núi nổi bật, còn sách Đại Nam nhất thống chí xưa ghi: “Núi Trà Na: ở phía Đông huyện [Tuy Phong], bên đường có trạm, trong có một đỉnh cao vọt, tả hữu có hai đỉnh như mũi gươm [theo chúng tôi có thể là núi Chà Bang, chùa Trà Cang hiện nay]“. Người Chăm gọi Chơk Chabbang (núi chẻ 2 nhánh), do trên đỉnh chẻ ra 2 nhánh và truyền thuyết Pô Nai yêu Dũng sĩ Kay Kamau kèm theo. Đã có Tam Sơn, trong tỉnh cũng có địa danh núi Thất Sơn (566m) nhưng ở xa, đó là phần núi các xã Phước Trung, Phước Chính huyện Bác Ái và Phước Kháng của huyện Thuận Bắc tạo nên vùng rừng núi rộng lớn.


Một góc núi Chà Bang thuộc xã Phước Nam, huyện Thuận Nam. Ảnh: Sơn Ngọc


Chuyện địa danh xưa nay còn quá nhiều điều thú vị, nay xin trình bày vài địa danh nêu trên để mà thêm yêu, thêm mến quê hương.

Đình Hy

Địa danh Ô Cam ở Ninh Thuận

đăng 16:49, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Xét toàn tỉnh Ninh Thuận hiện nay và trong bản đồ của tỉnh, địa danh Ô Cam, có khi gọi Ô Căm, Ô Câm chỉ còn lưu hành là sông Ô Căm, đập nước Ô Căm thuộc địa phận xã miền núi Phước Trung, huyện Bác Ái được người xưa khởi dựng, bồi đắp.

Thật vậy, theo Nhà báo Sơn Ngọc trong bài “Lễ tế sắc Po Klong Kachhat“ mô tả đồng bào Chăm Bà ni thôn Lương Tri tổ chức cúng tế Po Klong Kachhat thì hệ thống thủy lợi Ô Câm xuất phát từ việc ông Po Klong Kachhat có tài xây dựng hệ thống thủy lợi và kiến thiết ruộng đồng, được vua Po Klong Girai (1151 – 1205) trọng dụng. Po Klong Kachhat đã tổ chức đắp đập Ô Câm và hướng dẫn dân chúng đào mương dẫn nước từ xã Phước Trung về tưới cho đồng ruộng Chà Vum. Nhờ đó người dân địa phương có cuộc sống ấm no. Khi Po Klong Kachhat qua đời, người dân Lương Tri lập đền thờ phụng. Năm Tự Đức thứ 31 (1881), vua có sắc phong ghi nhận công lao của ông. Sắc phong hiện còn lưu giữ tại đền thờ Po Klong Kachhat.

Suối Lô Pa là mạch nguồn chính của đập Ô Cam và hồ chứa nước Phước Trung chứa trên 2,3 triệu mét khối nước bảo đảm tưới cho hàng trăm hecta đất canh tác. Ảnh: Sơn Ngọc


Ghi nhận từ thực địa và theo hồ sơ thủy lợi thì hiện nay có địa danh hồ Ô Cam/Căm vị trí ở xã Phước Trung, dung tích 0,31 triệu mét khối. Hồ này khác với hồ Phước Trung mới xây dựng sau này.

Đến đây chúng ta bằng lòng với địa danh Ô Cam. Nhưng trong các sách xưa, như sách Đại Nam Nhất Thống Chí do Quốc Sử quán Triều Nguyễn biên soạn dưới thời vua Tự Đức thì địa danh Ô Cam xuất hiện hoàn toàn khác và “bất ngờ”. Phần miêu tả về núi, sách ghi: “Đường núi ngăn chặn có núi Ô Cam“, “Núi Ô Cam: ở phía Đông Nam huyện kề bãi biển. Đầu bản triều, Chưởng cơ Tống Phước Hòa đánh nhau với Tây Sơn, đóng binh ở Ô Cam, tức là đây“. Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB Thuận Hóa, 2006, trang 154.

Ở đây lưu ý là thời điểm biên soạn sách, Ninh Thuận thuộc phủ Bình Thuận có 2 huyện: Yên Phước và Tuy Phong; huyện Tuy Phong từ phía Nam sông Lu trở vào Long Hương, Bình Thạnh.

Từ những miêu tả trong sách Đại Nam nhất thống chí nêu trên, chúng tôi cho rằng địa danh núi Ô Cam chính là núi sát eo biển Cà Ná trong phần đất thuộc Ninh Thuận ngày nay. Bởi vì phần miêu tả có nêu chi tiết: “kề bãi biển” và ở phần đền miếu của sách có ghi: “Đền thần Ô Cam: ở trên núi Ô Cam huyện Tuy Phong, thờ Phu Nhân Cố Hỉ rất thiêng”, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB Thuận Hóa – 2006, trang 175.

Khảo sát tại Cà Ná, hiện nay còn đền thờ Cố Hỉ Phu Nhân trên núi đá, gọi là dinh Cố, Cố Hỉ Mẫu Nương Nương, 5 sắc phong, khôi phục sửa chữa năm 1989.

Địa danh núi Ô Cam này lại rắc rối khi còn có tên khác là núi Ô Rem, (có khi trùng phát âm Hán Việt). Vì trước khi sách Đại Nam nhất thống chí ra đời 70 năm, sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí do Lê Quang Định, Thượng thư Bộ Binh biên soạn thời Gia Long 1806, đã mô tả đường thiên lý Bắc Nam: “Trạm Thuận Lãng: Đặt lính thường trực ở trạm gồm 17 suất... phía Đông có con đường nhỏ đi 580 tầm thì đến cửa biển Cà Ná, phía bờ Bắc là thôn Lạc Nghiệp, dân cư rất trù mật, làm nghề chài lưới... Đến Bãi Chùy, dài 150 tầm, phía Đông chạy dọc theo bãi biển, đường toàn bằng đá san hô nhỏ lẫn với cát thô, phía Tây là rừng cây tươi tốt, đến lũy Ô Rem, phía Đông là lũy biển, phía Nam gần một dãy núi, tục gọi là núi Ô Rem, phía bên phải là phủ do Kính Quận công sai lính đắp bằng đá để trấn giữ chỗ hiểm yếu để chống lại quân Tây Sơn trước đây... đi 770 tầm, đây là giồng Ô Rem, phía đông Đường là bãi biển, phía Tây ven theo chân núi”, Lê Quang Định: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, (Phan Đăng dịch, NXB Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005, trang 60.

Chúng tôi khẳng định chắc chắn vùng này là eo biển Cà Ná, vì những miêu tả phù hợp hiện nay, có chi tiết về lũy chống quân Tây Sơn... và núi này xưa kia có tên: Ô Cam và Ô Rem!

Đình Hy

Những địa danh, di tích "ngựa" ở Tiền Giang

đăng 00:49, 17 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày xưa, đường bộ ở vùng đất Nam kỳ chưa phát triển, việc đi lại, vận chuyển chủ yếu bằng ghe xuồng. Năm 1792, chúa Nguyễn đắp đường Thiên Lý từ Gia Định về Cái Thia, lập các trạm mục, cấp ngựa cho trạm phu để thực hiện các công việc hỏa tốc vào mùa khô, nhưng mùa mưa họ vẫn sử dụng ghe thuyền để chuyển công văn giấy tờ. 

Đến khi người Pháp chiếm đất Nam kỳ, thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, mở mang giao thông đường bộ cùng với các phương tiện cơ giới khác như tàu chạy bằng máy hơi nước, xe lửa… thì việc dùng ngựa dần dần phổ biến, nhưng chỉ trong giới thượng lưu và quan chức; còn người bình dân vẫn thích dùng xe trâu, xe bò. 

Chợ Vòng Nhỏ. 


1. Sau khi chiếm Định Tường, chính quyền thực dân Pháp bắt dân đắp hai con đường ở phía tây thành Định Tường sử dụng vào việc tuần tra, đề phòng nghĩa quân tập kích. Sau đó hai con đường được mở rộng trải đá, hai bên trồng dừa. Theo mô tả dân gian, chiều chúa nhật các “thầy chú” thường cỡi xe đạp dạo quanh con đường nầy, đặc biệt là những ngày lễ lớn quan Tham biện Chủ tỉnh thường tổ chức đua ngựa. 

Đường đua thứ nhất dân gian đặt tên là đường Vòng nhỏ (người Pháp ghi là Petit tour d’Inspection - Vòng nhỏ của quan Tham biện). Đường thứ hai là đường Vòng lớn (Grande tour d’Inspection - Vòng lớn của quan Tham biện). Tấm ảnh của nhà chụp hình Nadal ở Sài Gòn chụp khoảng năm 1925 cho thấy hai bên đường Vòng nhỏ đã có hai hàng dừa cao, ước tính vài chục năm. Từ đó có thể giả định con đường nầy được đắp trễ nhất cũng vào khoảng năm 1900. 

Lúc bấy giờ, đường Vòng lớn và Vòng nhỏ đều ở ngoài đồng trống. Về sau dân cư phát triển mới trở nên đông đúc. Đường Vòng nhỏ chạy từ đầu đường Địa hạt số 6 (Route local No 6), nay là đường Ấp Bắc, vô ngã tư Hòa Phong rồi ra tận bờ sông Tiền. Vùng nầy xưa kia thuộc làng Bình Tạo, nhưng trước năm 1945 thuộc ấp Hòa Phong, xã Điều Hòa. 

Khi bắt đầu chỉnh trang đô thị, các làng thuộc TP. Mỹ Tho hiện nay đã bị xáo trộn rất lớn, đường Vòng nhỏ trở thành ranh giới 3 làng Điều Hòa, Bình Đức và Đạo Thạnh từ ngày 1-1-1933. Đường Vòng nhỏ hiện nay là đường Trần Hưng Đạo, trước năm 1975 mang tên là đường Pasteur. Cung đường còn sót lại ngôi chợ cùng tên: Chợ Vòng nhỏ, được lập từ lúc chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách dồn dân lập ấp. Hiện nay chợ Vòng nhỏ là một trong những ngôi chợ khá sầm uất của TP. Mỹ Tho. 

Bến Tắm Ngựa ngày xưa, nay là cuối đường Nguyễn Huỳnh Đức, P.2, TP. Mỹ Tho. 


Đường Vòng lớn cũng chạy từ đường Địa hạt số 6 ra tận tỉnh lộ 25, sát bờ sông Tiền. Đầu đường Vòng lớn có cầu Cống, có lẽ được xây từ lúc mới đắp con đường nầy, nay chỉ còn tên gọi. Địa điểm nầy thuộc làng Trung Lương, nay là xã Trung An. 

Đường Vòng lớn dài trên 2 cây số, cuối đường có kinh Xáng cụt do thực dân Pháp đào từ năm 1935; đến năm 1965 chính quyền Sài Gòn tiếp tục đào để lấy đất xây dựng căn cứ pháo binh, khu gia binh và khu gom dân. Con kinh xuyên qua lộ nên phải bắc cầu sắt, gọi là cầu sắt Bình Tạo. Đường Vòng Lớn hiện nay là Quốc lộ 60 đi qua cầu Rạch Miễu sang Bến Tre. 

Ở Gò Công cũng có một nơi dành để đua ngựa. Thực dân Pháp cho đào một cái ao lớn hơn 1 ha, bề sâu khoảng 3 mét, vừa để lấy đất làm nền cho các công sở dinh thự, vừa chứa nước cho người dân sử dụng. Mấy năm sau đó, họ đắp một con đường quanh bờ ao, chu vi gần 3 cây số. 

Lộ này dùng làm đường đua ngựa, gần bên ao có xây khán đài rất cao. Mỗi khi có cuộc lễ hay Tết Nguyên đán thì mở cuộc đua ngựa chạy quanh đường này. Sau đó thêm các cuộc đua xe đạp để giúp vui, cho nên người dân gọi là ao Trường Đua. Hiện nay khu vực này trở thành công viên ở trung tâm TX. Gò Công. 

Khi việc sử dụng xe ngựa phổ biến ở vùng Gò Công hơn các địa phương phía tây, Nhà thơ Hoàng Tố Nguyên trong tập thơ Gò Me đã ghi lại hình ảnh chiếc xe ngựa (có lẽ là xe thổ mộ) ở quê mình: 

“Con đê cát đỏ cỏ viền
Leng keng nhạc ngựa, đường lên chợ Gò”.

2. Khi xe ngựa phát triển thì có thêm dịch vụ đóng xe ngựa, xén lông, đóng móng... và một vài địa phương đắp đường đi ngựa, hay có những chỗ dành cho ngựa tắm, nay còn sót lại những địa danh như: Bờ Ngựa ở xã Nhị Quí (Cai Lậy), Bến Tắm Ngựa ở phường 2 (TP. Mỹ Tho). 

Bến Tắm Ngựa ở phường 2 (TP. Mỹ Tho) nằm cuối đường Nguyễn Huỳnh Đức, nơi ngày xưa từng là bãi đậu ghe thuyền của giới thương hồ. Chưa biết bến tắm này hình thành bao giờ, nhưng có lẽ sớm nhất cũng vào khoảng thời gian sau khi Tây chiếm Định Tường, lập trại ngựa, kho chứa cỏ và sử dụng ngựa làm phương tiện đi lại, tuần tra. 

Cuối thế kỷ XIX, ở đây có một bến đò sang Rạch Miễu (Bến Tre), sau đó dời lên đặt tại đầu đường De Castelneau (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), trở thành bến bắc Mỹ Tho, nay đã đi vào quá khứ. 

Đường Vòng Nhỏ ngày xưa. 


Hồi thực dân Pháp trở lại tái chiếm, rồi Nam bộ kháng chiến, bến Tắm Ngựa có lúc trở thành pháp trường. Bọn lính Tây ruồng bố, bắt được những người tình nghi là Việt Minh thì đem ra bến Tắm Ngựa xử bắn rồi đạp xác xuống sông. Ở khu phố này đã chứng kiến sự hy sinh oanh liệt của một chiến sĩ Việt Minh tên là Biếu, hy sinh vào năm 1946. 

Sự kiện được Nhà thơ Lương Giang ghi lại trong bài thơ “Cái chết của anh Biếu”: 

Nó đem lên xe kéo
Kéo ra bến Tắm Ngựa
Treo trước ngực đính bài
Đọc bản án rồi xử
Bắn anh tôi ngã gục
Nó xô xuống mé sông
Chiều về trên Cửu Long
Một buổi chiều vắng lặng... 

Bến Tắm Ngựa dừng hoạt động khi Mỹ Tho... không còn xe ngựa. Sau năm 1954, có lúc nơi đây là sào huyệt của các tay anh chị. Du đảng bến Tắm Ngựa đã từng bao vây đánh đoàn hát Thanh Minh tại rạp Viễn Trường và chuốc lấy thất bại, vì trong đoàn hát có các diễn viên rất giỏi võ như: Văn Ngà, Ba Xây, Ba Nghĩa... trấn giữ trước cửa rạp.

3. Ngoài ra, còn có nhiều địa danh khác như: 

Miếu Bạch Mã: Tọa lạc ấp Bình Lợi, xã Tân Mỹ Chánh (TP. Mỹ Tho). Miếu thờ Bạch Mã đã được người dân tôn tạo nhiều lần do bị hỏa hoạn và xuống cấp bởi thời gian. Tuy nhiên, trong căn miếu vẫn còn lưu giữ được tấm bia có khắc dòng chữ sắc phong từ khi lập miếu. 

Theo lưu truyền dân gian, trên đường bôn tẩu trước sự truy đuổi của quân Tây Sơn, vua Gia Long cưỡi ngựa bạch chạy đến vùng Gò Cát (nay thuộc ấp Bình Lợi) thì ngựa bị sa xuống một cái ao, không lên được. Nhà vua cùng tùy tùng tìm mọi cách cứu ngựa nhưng vẫn không cứu được, đành bỏ ngựa lại và chạy xuống vàm Kỳ Hôn. 

Trước khi đi, con ngựa chảy nước mắt như muốn từ biệt và gục chết… Thương con vật trung thành, sau này khi nghiệp lớn đã thành, vua Gia Long ra lệnh cho lập miếu và phong thần cho con vật đã trung thành với chủ. 

Bà Trần Thị Năm (66 tuổi, ở ấp Bình Lợi), là chủ khu vườn có miếu thờ, cho biết: Sự tích miếu thờ này có viết thành một tập giấy, được lưu giữ tại miếu, nhưng sau này vì hỏa hoạn đã bị đốt cháy. Theo lời kể của thân phụ bà (đã mất), trước đây còn có một cái ao nơi ngựa bạch chết, luôn đầy ắp nước ngay cả mùa khô. Lệ cúng Thần Bạch Mã tại miếu này được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 âm lịch, do bà con trong vùng đóng góp sản vật và tiền bạc tổ chức. 

Mả ngựa: Trong quá trình sưu tầm tài liệu cho bài viết về ngôi đình thần thờ Phó lãnh binh Phan Văn Dõng, một trong những phó tướng của Trương Định đã bị Pháp xử chém vì không đầu hàng giặc, chúng tôi tìm thấy mộ phần của ông hiện đang chôn tại khu vực Gò Hùm, thuộc ấp Bình Ninh, xã Bình Phục Nhứt, huyện Chợ Gạo. 

Ông Phan Văn Diễn (92 tuổi, ấp Bình Phú) là cháu sờ của ông Phan Văn Dõng kể lại: Trước đây, gần khu mộ có gò mả ngựa, nguyên là nơi chôn cặp ngựa quý mà Phó lãnh binh Phan Văn Dõng nuôi ở nhà dùng để cưỡi. Sau khi gia nhập nghĩa quân Trương Định và sau ngày ông bị Pháp xử chém, cặp ngựa này đã bỏ ăn, nhịn đói và chết theo. Thương đôi vật có tình, người nhà Phó lãnh binh đã mang đem chôn gần mộ phần của ông. Nghe lời kể lại, nơi mả ngựa rộng khoảng một mặt ghế bàn tròn, hoàn toàn không có ngọn cỏ nào mọc được. 

Cũng theo lời ông Bảy Diễn, làng Bình Trị ngày xưa (nay thuộc ấp Bình Phú, xã Bình Phục Nhứt) cũng là một trong những làng nuôi ngựa của miệt Chợ Gạo - Gò Công. Thời nhỏ, thân phụ của ông cùng nhiều người trong vùng có nuôi ngựa để chở hàng hóa và chở người. 

Ông còn nhớ rõ chi tiết, đến lệ cúng đình thần thờ Phó lãnh binh Phan Văn Dõng là cha ông mặc áo dài, đầu đội khăn đóng và cưỡi ngựa qua dự cúng đình. Vì là cháu họ của Phó lãnh binh Phan Văn Dõng, nên khi về, cha ông bao giờ cũng được Ban phụng sự đình gửi biếu cái thủ lợn và đến ngày nay ông cũng được ưu tiên hưởng phần như vậy. 

NGUYỄN NGỌC PHAN - PHÙNG LONG

Qua cầu... Giắt Dây

đăng 00:30, 18 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tại Km 1076 +356 Quốc lộ 1 đi qua thôn 1, xã Đức Tân (Mộ Đức) có một cây cầu mang tên Giắt Dây. Hằng ngày, người và xe cộ qua lại nhộn nhịp. Tuy nhiên, ít ai biết được nguồn gốc tên gọi “Giắt Dây” của cây cầu.

Trong ký ức của người làng Thi Phổ (nay là xã Đức Tân, Mộ Đức), đằng sau tên gọi cầu Giắt Dây - cây cầu nối đôi bờ sông Băng - một nhánh của sông Thoa là cả câu chuyện dài về những năm tháng vất vả, gian truân, một thời ngăn sông, cách đò...

Cầu Giắt Dây ngang qua địa phận xã Đức Tân (Mộ Đức). 


Ngâm nga câu ca dao: “Kể từ sông Vệ, chợ Gò/ Ngó vô Thi Phổ thấy đò Giắt Dây”, cụ ông Năm Hậu, 70 tuổi, ngụ thôn 1, xã Đức Tân trầm ngâm kể: “Cái tên cầu Giắt Dây là lấy từ cái tứ “đò Giắt Dây” này mà ra. Ngày xưa, khi chưa có cầu, bà con phải qua sông bằng đò. Nhưng con sông này được mệnh danh là sông không đáy. Sông vừa sâu, nước lại chảy xiết, nên người làng phải đu dây thừng kéo đò vượt sông sâu”.

Người làng Thi Phổ không ai nhớ đò Giắt Dây có từ khi nào, chỉ biết rằng khi con sông Băng được người dân đào nên, để dẫn nước từ sông Thoa về tưới cho đồng Thi Phổ, cũng là lúc người dân muốn thông thương thì phải “lụy" đò.

Ngày ấy, không chỉ người làng Thi Phổ đi đò Giắt Dây, mà theo lời kể của nhiều bậc cao niên trong làng, việc buôn bán xưa kia của Mộ Đức chủ yếu theo đường Thiên Lý. Các chợ hình thành dọc đường Thiên Lý thuộc địa phận huyện đều là các trung tâm buôn bán sầm uất như chợ Năng An bên sông Vệ, chợ Gò (tức chợ Quán Lát), chợ Đồng Cát, chợ Lò Thổi, chợ Thạch Trụ... Vì vậy, để việc mua bán, trao đổi hàng hóa diễn ra thuận lợi, phần đông các tiểu thương cũng như người dân đều đi ngang qua đò Giắt Dây này.

Đò Giắt Dây giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thông thương, nên làng Thi Phổ ngày ấy đã có hẳn một khu đất riêng để làm bến đò, phục vụ người dân. Và cũng từ bến đò Giắt Dây mà hàng loạt địa danh bắt đầu xuất hiện tiếp sau đó.

“Xóm nằm cạnh bến đò thì gọi là “xóm Đò”, ruộng nằm cùng phía với bến đò thì được đặt tên là ruộng “Đầu Đò”... Những tên gọi ấy được giữ mãi cho đến ngày nay”, lão nông Đặng Thế Hoa, đang canh tác tại xứ đồng “Đầu Đò” lý giải.

Ngày xưa khi chưa có cầu Giắt Dây, người dân phải dùng đò giắt dây vượt sông Băng. 


Mùa nắng đi đò giắt dây, mùa mưa thì dùng tạm bè chuối giắt dây. Cứ thế, bao thế hệ người làng Thi Phổ cùng người dân ở nhiều vùng đất khác đã trải qua quãng thời gian khó nhọc, cơ hàn cùng bao chuyến đò giắt dây tròng trành vượt sông...

Mãi cho đến thời Pháp thuộc, khi Quốc lộ 1 hình thành, chiếc cầu đầu tiên nối đôi bờ sông Băng mang tên “Giắt Dây” xuất hiện, người dân mới thôi sử dụng đò Giắt Dây. Rồi từ đó đến nay, chiếc cầu Giắt Dây đang sử dụng đã là chiếc cầu thứ ba. Tuy nhiên, cái tên Giắt Dây vẫn đi cùng dặm dài lịch sử của vùng đất này, ghi dấu lại những thăng trầm, khó nhọc trước thiên nhiên của bao thế hệ.

Mà người làng Thi Phổ đâu chỉ lưu giữ quá khứ bằng tên gọi của một cây cầu, từng người trong số họ còn lưu lại trang sử của miền đất này theo từng cách riêng. “Ngày xưa, nội tôi thường kể lại và bảo tôi ghi nhớ về dòng sông, về đò Giắt Dây, về hai anh em người kéo đò qua sông tên Huỳnh Do, Huỳnh Tri... nên bây giờ tôi lại tiếp tục kể cho cháu mình để những câu chuyện, địa danh liên quan đến đò Giắt Dây, để lịch sử của địa danh này không đi vào quên lãng”, ông Năm Hậu hồn hậu kể.

Ngoài truyền miệng lại cho đời sau, ông Năm Hậu còn trồng một cây gáo ngay tại vị trí bến đò năm xưa để làm cột mốc cho địa danh "vang bóng một thời". Cây gáo ông trồng 20 năm về trước giờ đã vươn cao tại mảnh đất từng nườm nượp người chờ để đến lượt đi đò qua sông...

Bài, ảnh: Ý THU

Tên đường nào ngắn nhất Việt Nam?

đăng 19:19, 9 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Lưu ý câu hỏi nhé: Tên đường nào ngắn nhất? chớ không phải Con đường nào ngắn nhất? Ý nói là tên đường nào có ít chữ cái nhất?


Ở đây ta không kể các tên đường bằng con số, vì kể như vậy thì nhiều lắm. Đặc biệt là tên đường ngắn nhất lại là con đường dài nhất. Đó là Quốc lộ 1, tên đường thì chỉ có mỗi con số 1 thôi mà dài tới 2.301 km! Cũng không kể luôn các tên đường bằng ký hiệu, như D1, D2, N1, N2... vì những tên đường này thì vô số mà không mang ý nghĩa gì đặc biệt. Tóm lại là chỉ xét những đường mang tên người hay sự kiện mà thôi.


Ở Biên Hòa có con đường mang tân Lê A (Lê A là một chiến sĩ du kích, hy sinh ở Long Khánh, Đồng Nai năm 1972 khi 19 tuổi). Tính ra là có 3 chữ cái L, E, A - chắc cũng thuộc loại ngắn nhứt Việt Nam. Nhưng xét cho kỹ thì tên đường này có 4 ký tự L, E, dấu cách, A. Như vậy vẫn dài hơn một tên đường khác chỉ có 3 ký tự thôi. Đó là đường WỪU.


Đường Wừu là một trong những con đường sầm uất ờ Pleiku. Trong ảnh là Trung tâm Hội nghị tiệc cưới trên đường Wừu.


Bảng tên đường Wừu


Tên đường WỪU có 3 chữ cái. Cho tới giờ tui chưa thấy tên đường nào có số chữ cái ít hơn nên cứ đề xuất rằng đây là tên đường ngắn nhứt Việt Nam và chờ đợi có người chỉ ra tên đường ngắn hơn hoặc bằng.


Điều thú vị là ở Việt Nam có tới 4 con đường mang tên WỪU, trong đó có tới 3 đường WỪU ở Gia Lai và 1 đường WỪU ở Kontum.

  • Đường Wừu ở thành phố Pleiku dài khoảng 1,3 km.
  • Đường Wừu ở huyện Đắk Đoa dài khoảng 3,5 km.
  • Đường Wừu ở thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê dài khoảng 0,5 km.
  • Đường Wừu ở thành phố Kontum dài khoảng 0,5 km.

Đường Wừu ở Chư Sê


Đường Wừu ở Pleiku


Đường Wừu ở Đắk Đoa


Đường Wừu ở Kontum



Ở huyện Kbang, Gia Lai cũng có tên đường Wừu nhưng dài hơn một tí, đó là đường Y Wừu.


Wừu (1905-1952), còn gọi là Bok Wừu hay Anh hùng Wừu, là một liệt sĩ Việt Nam, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân người dân tộc Bana. Cùng với Đinh Núp (tức Anh hùng Núp), ông được xem là một trong những biểu tượng của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên tham gia Kháng chiến chống Pháp.


Có một điều đáng thắc mắc: Cùng thời với anh hùng Wừu  anh hùng Núp cũng ở Pleiku. Pleiku cũng có con đường mang tên ông, nhưng đó là đường Anh hùng Núp chứ không phải là đường Núp (đặt tên đường Núp dễ nghĩ tới mấy anh công an đứng núp bắn tốc độ và thổi phạt!). Ở Đà Nẵng thì tên đường là Đinh Núp. Vậy sao không đặt tên đường là Anh hùng Wừu, hay Y Wừu như ở Kbang thay vì chỉ là 3 chữ cái cộc lốc WỪU? Ờ, chắc tại muốn có một tên đường độc đáo ngắn nhất Việt Nam!


Phạm Hoài Nhân

Tại sao Trường Nữ Trung học Gia Long... tên là Gia Long?

đăng 02:24, 12 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:07, 13 thg 5, 2019 ]

Sài Gòn có 2 ngôi trường nữ sinh rất nổi tiếng là Gia Long và Trưng Vương. Tên của hai ngôi trường này đi vào thơ, vào nhạc rất nhiều. Một ngôi trường nữ sinh khác, nhỏ hơn và ít được biết hơn, là trường Lê văn Duyệt. Người ta nói tại chữ Lê văn Duyệt khó đưa vào nhạc, vào thơ hơn Gia Long hay Trưng Vương chớ cứ nữ sinh là nên thơ, là đáng yêu...


Trường Nữ sinh Gia Long. Ảnh: Hội Ái hữu Cựu Nữ sinh Gia Long Bắc California


Tui thì lại thắc mắc vì chuyện khác. Rằng trường nữ sinh mang tên Trưng Vương thì đúng rồi, nhưng tại sao lại mang tên ông vua (Gia Long) hay ông hoạn quan (Lê văn Duyệt)? Nhiều người cho rằng đây là câu hỏi ngớ ngẩn, vì đâu nhất thiết trường nữ phải mang tên phụ nữ, miễn đó là một tên danh nhân là được rồi. Ừ, đúng là ngớ ngẩn thiệt, nhưng mà...


Đứa con sinh ra có thể mang những cái tên chung chung như Tí, Tèo... nhưng thường là những cái tên mà cha mẹ dày công suy nghĩ để gởi gắm những ước mong, kỳ vọng của mình vào đó. Đứa bé gái có thể mang cái tên giống con trai, nhưng thường thì phải là một cái tên con gái. Tên công ty, và đặc biệt là tên một ngôi trường cũng vậy. 


Chúng ta biết một ngôi trường, biết tên ngôi trường ấy là đã đủ rồi. Cố hiểu xem vì sao nó mang tên đó cũng... chẳng để làm gì. Không để làm gì thiệt, nhưng... để thỏa mãn sự tò mò cũng vui mà, phải không?


Vậy là tui đi rà soát tên các trường nữ sinh ở miền Nam thời ấy. Đa số trường đều mang tên nữ danh nhân. Ở Sài Gòn có trường Marie Curie, trường Trưng Vương. Quy  Nhơn có trường Ngô Chi Lan. Đà Lạt có trường Bùi thị Xuân. Huế có trường Jeanne d'Arc. Mỹ Tho có trường Lê Ngọc Hân... Có trường không mang tên danh nhân, nhưng mang cái tên nhiều nữ tính, như trường nữ tu Couvent Des Oiseaux (Chim Non) ở Đà Lạt, trường nữ tu Thiên Phước ở Sài Gòn.


Trường nữ sinh Trưng Vương


Bên cạnh đó có nhiều trường không mang tên nữ danh nhân, cũng không mang tên nữ tính. Phần lớn là mang tên địa phương hay tên con đường nơi ngôi trường tọa lạc. Trường nữ trung học Lê văn Duyệt nêu trên là một ví dụ, ngôi trường trên nằm ở đường Lê văn Duyệt, Gia Định. Hoặc trường nữ trung học Quảng Ngãi ở tỉnh Quảng Ngãi, v.v...


Cũng có những trường mang tên nam danh nhân, như trường Gia Long ở Sài Gòn, trường Đồng Khánh ở Huế, trường Hồng Đức ở Đà Nẵng (toàn là tên vua!)... Các trường công giáo thì mang tên các vị thánh, như trường Nguyễn Bá Tòng (vị giám mục tiên khởi của Công giáo Việt Nam), trường Saint Paul ở Sài Gòn...


Trở lại cái sự tò mò về nguồn gốc của tên trường nữ sinh Gia Long. Theo tài liệu chính thức ban đầu trường không phải tên Gia Long. Trường được khởi công năm 1913, năm 1915 xây dựng xong và khai giảng khóa đầu tiên. Toàn quyền Đông Dương khi đó là ông Ernest Nestor Roume và Thống đốc Courbeil là người cắt băng khánh thành và tuyên bố khai giảng. Khóa đầu tiên trường tuyển 42 nữ sinh, đồng phục khi này là áo dài tím, tượng trưng cho sự tinh khiết của phụ nữ Việt Nam, nên trường còn có tên là Trường Nữ sinh Áo Tím. Đến tháng 9/1922, toàn quyền Albert Sarraut khai giảng lớp đầu tiên của bậc Trung học Ðệ nhất Cấp. Một phiến đá bằng cẩm thạch khắc chữ Collège Des Jeunes Filles Indigènes  (Trường của những Thiếu nữ Bản xứ) được dựng lên trước cổng trường, tuy nhiên trường vẫn được biết đến nhiều hơn với cái tên Trường Nữ Sinh Áo Tím.


Năm 1940, quân đội Nhật chiếm đóng trường trong lúc học sinh nghỉ hè. Cũng trong năm này, trường đổi tên thành Collège Gia Long (Cao đẳng tiểu học Gia Long), rồi Lycée Gia Long (Trường trung học đệ nhị cấp Gia Long).

Năm 1953, đồng phục áo dài tím được thay thế bằng chiếc áo trắng với phù hiệu của trường - đóa mai vàng - khâu lên trên áo, trường được đổi tên là Trường Nữ Trung Học Gia Long. Tên này được duy trì tới 1975.


Trường Nữ sinh Gia Long. Ảnh: Hội Ái hữu Cựu Nữ sinh Gia Long Bắc California


Có chút mơ hồ trong việc chuyển đổi từ 2 cái tên ban đầu (một tên không chính thức nhưng thông dụng là trường Nữ sinh Áo tím và cái tên chính thức nhưng không thông dụng là Collège Des Jeunes Filles Indigènes) sang tên Gia Long. Đó là ai đặt (người Nhật, người Pháp hay người Việt) và tại sao đặt là Gia Long? Không thấy nguồn tư liệu nào giải thích. Tui tự giải thích như sau, để thỏa mãn cái sự tò mò của mình chớ không dám cho rằng đúng.


Chúng ta hãy trở về với ngôi trường Nữ sinh Đồng Khánh ở Huế. Ngôi trường này được khởi công xây dựng năm 1917, sau khi khánh thành trường Áo Tím 2 năm. Lúc bấy giờ đó là ngôi trường nữ sinh đầu tiên và duy nhất của Trung kỳ, giống như Áo Tím là ngôi trường nữ sinh đầu tiên và duy nhất của Nam kỳ. Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi trường này có sự hiện diện của vua Khải Định, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut, Khâm sứ Trung Kỳ J.E. Charles, quyền Khâm sứ Bắc Kỳ J.Le Galler, các hoàng thân, các vị Thượng thư và một số quan chức cao cấp người Pháp tại Đông Dương.


Trường nữ sinh Đồng Khánh


Dễ thấy lý do ngôi trường nữ 
đầu tiên và duy nhất của Trung kỳ này được đặt tên là Đồng Khánh. Khác với Nam kỳ là xứ thuộc địa, Pháp chẳng quan tâm gì lắm đến việc đặt tên tiếng Việt cho trường mà chỉ có cái tên chung chung là Collège Des Jeunes Filles Indigènes (Trường của những Thiếu nữ Bản xứ), Trung kỳ là xứ bảo hộ, vẫn có vua tại vị. Lấy tên ông vua cha (Đồng Khánh) đặt tên cho ngôi trường để làm vui lòng ông vua con (Khải Định) là điều người Pháp chẳng mất gì, chỉ có được thôi. Dẫu sao Đồng Khánh vẫn là ông vua thân Pháp mà. Và cái tên Đồng Khánh vẫn được giữ mãi tới 1975, dù rằng ông vua này chẳng có gì hay ho cả!


Tại thời điểm đó, ngôi trường ngang tầm (hoặc hơn) trường Đồng Khánh là trường Áo Tím vẫn chưa có cái tên tương xứng. Thế rồi thời buổi lộn xộn thế chiến thứ 2, ai đó (có thể là Nhật) thấy rằng cần phải có cái tên mới thay cho tên Pháp Collège Des Jeunes Filles Indigènes. Họ nghĩ đến tên của ngôi trường tương tự ngôi trường này ở Huế. Tên mới sẽ tương tự tên Đồng Khánh nhưng ở đẳng cấp cao hơn. Thế là họ chọn tên Gia Long, ông vua khai sáng triều Nguyễn luôn!


Đó là tui nghĩ như vậy, chẳng có chứng cứ nào hết, nhưng tui thấy... có lý! Ai thấy không có lý cũng chẳng sao. Mà ai đó thấy rằng tìm hiểu điều này thật là vớ vẩn và ngớ ngẩn thì cũng... đúng thôi. Tại tui thích và tò mò thôi mà!...


Phạm Hoài Nhân

Tên người gắn với nhiều địa danh nhất ở Việt Nam

đăng 02:47, 10 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày nay, tên người được dùng làm tên đường là một sự vinh danh, nhưng không phải hiếm và lạ. Ngày xưa, tên người được đặt cho tên sông, tên núi - mà lại do vua ban tặng nữa - mới thực sự hiếm có và vẻ vang. Có một người đã được hưởng vinh dự ấy, và còn hơn vậy nữa, nhờ công lao của mình: Thoại Ngọc Hầu Nguyễn văn Thoại.


Tượng Thoại Ngọc Hầu bên bờ hồ Ông Thoại, phía sau là núi Thoại Sơn. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên


Năm 1817, Thoại Ngọc Hầu là trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, thấy việc giao thông thương mại ở vùng đất này gặp nhiều khó khăn, mọi trao đổi hàng hóa thời bấy giờ giữa miền duyên hải Hà Tiên, Rạch Giá đều phải đi vòng đường biển thật bất tiện, đồng thời nhận thấy cần phải khơi nguồn để tháo bớt một phần nước lụt của sông Hậu ra biển. Vì vậy, ông đã nghĩ ngay đến việc phải đào một con kinh.


Phụng mệnh vua, Thoại Ngọc Hầu Nguyễn văn Thoại cho khởi công đào kinh vào đầu năm 1818, nối rạch Long Xuyên ở Tam Khê với hệ thống thủy đạo ở Rạch Giá, huy động khoảng 1.500 nhân công. Nhờ đào theo lạch nước cũ nên công việc khá thuận lợi, một tháng đã hoàn thành với bề rộng 51,2 m, chiều dài 31,7 km.

Kinh đào xong, ông được vua Gia Long khen ngợi và cho lấy tên ông để đặt tên cho con kinh mới đào là Thoại Hà và ngọn núi ở bên bờ kinh (vốn có tên là núi Sập) là Thoại Sơn. Sự việc này được Nguyễn văn Thoại rất cảm kích, cho soạn một bài văn khắc vào bia đá để... ghi nhớ cái sự sướng này. Bia được dựng năm 1822 bên triền Thoại Sơn và gọi là bia Thoại Sơn, đến nay vẫn còn và là di tích lịch sử cấp quốc gia.


Bia Thoại Sơn hiện đặt tại Đình thần Thoại Ngọc Hầu, thị trấn Núi Sập. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên


Chưa hết, từ tháng 12 (âm lịch) năm 1819 đến tháng 5 (âm lịch) năm 1824, Nguyễn văn Thoại cùng chỉ huy trực tiếp đào con kinh song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia, bắt đầu từ bờ tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sông Giang Thành, thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ngày nay. Con kinh này có chiều dài là 87 km, rộng 30 m, độ sâu trung bình khoảng 2,55m, khi đào xong mang lại lợi ích kinh tế - quốc phòng hết sức to lớn. Lúc bấy giờ vua Gia Long đã qua đời, vua Minh Mạng trị vì, thích quá nên quyết định cho phép lấy tên ông Thoại để đặt tên kinh. Nhưng tên ông Thoại đã được cha của vua Minh Mạng đặt cho kinh Thoại Hà rồi, nên vua nghĩ tới nghĩ lui, bèn cho lấy tên của vợ ông Thoại là bà Châu thị Vĩnh Tế đặt tên cho con kinh. Vậy là ta có kinh Vĩnh Tế (kinh vợ dài và quan trọng hơn kinh chồng!).


Kinh Vĩnh Tế, đoạn chảy qua thị xã Châu Đốc. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên


Tên núi, tên sông thôi chưa đủ, tên ông Thoại còn được đặt cho một vùng đất. Ở An Giang bây giờ có huyện Thoại Sơn, là nơi có Thoại Sơn tọa lạc. Trong huyện Thoại Sơn lại có xã Thoại Giang.

Vẫn chưa hết, sau nhiều năm người ta khai thác đá ở núi Sập (Thoại Sơn) khiến bên chân núi bị khuyết sâu xuống thành hồ nước lớn. Việc khai thác đá bị dừng lại, nơi này được biến thành khu du lịch, và hồ nước bên chân núi được gọi là hồ Ông Thoại.


Ở An Giang còn có cầu Thoại Giang, cầu Thoại Hà. Các địa điểm di tích mang tên ông thì rất nhiều, như: Lăng Thoại Ngọc Hầu (khu lăng mộ ông ở chân núi Sam), đình Thoại Ngọc Hầu (Châu Thành, An Giang - sau này bị chính quyền đổi tên thành đình Cần Đăng),Thoại Sơn Thần miếu và Thoại Sơn tự (ở triền núi Sập), đền thờ Thoại Ngọc Hầu (ở thị trấn Núi Sập).


Đường phố, và nhất là trường học, mang tên ông rất nhiều, dưới dạng là Nguyễn văn Thoại hoặc Thoại Ngọc Hầu. Ở Sài Gòn - Gia Định có tới 2 con đường mang tên ông, đó là đường Nguyễn văn Thoại (nối dài từ đường Hồng Bàng đến Ngã 4 Bảy Hiền) và đường Thoại Ngọc Hầu (thuộc tỉnh Gia Định). Nhưng mà ở TPHCM thì lại không có con đường nào mang tên ông (hic!), đường Nguyễn văn Thoại ngày xưa bây giờ là Lý Thường Kiệt (quận 10), còn đường Thoại Ngọc Hầu nay là đường Phạm Văn Hai (quận Tân Bình).


Phạm Hoài Nhân

Đồng Tháp - Tháp Mười - Đồng Tháp Mười

đăng 06:20, 28 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đồng Tháp và Đồng Tháp Mười


Nói đến Đồng Tháp Mười, nhiều người (trong đó có tui) nghĩ ngay rằng đó là vùng đất thuộc tỉnh Đồng Tháp. Thiệt ra thì không phải vậy! Đồng Tháp Mười là tên gọi một vùng đất ngập nước của đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích 697.000 ha, trải rộng trên ba tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp trong đó Long An chiếm hơn phân nửa, thủ phủ vùng là thị xã Kiến Tường.



Còn Đồng Tháp là tên tỉnh như chúng ta đều đã biết. Điều cần biết là tên này chỉ mới được chính quyền cách mạng đặt từ 1976 thôi, trước đây chỗ này thuộc hai tỉnh Kiến Phong và Sa Đéc. Đồng Tháp quả là có liên quan đến Đồng Tháp Mười, vì một phần vùng đất này nằm trong địa phận Đồng Tháp, nhưng chỉ là phần nhỏ thôi, còn hơn phân nửa Đồng Tháp Mười thuộc về Long An kia mà. Thủ phủ của vùng Đồng Tháp Mười cũng thuộc về Long An đó thôi.

Còn Tháp Mười là gì?


Cho đến giờ vẫn chưa rõ sao lại có tên Tháp Mười. Trong dân gian có 4 giả thuyết như sau:

  • Ngày xưa, cánh đồng này thuộc một vương quốc giàu có. Trong nước có 10 đời quốc vương, mỗi ông xây cho mình một ngôi tháp làm nơi an nghỉ cuối cùng; ngôi tháp của ông vua thứ 10 là ngôi tháp mà chúng ta đang nói (Tháp Mười). Từ đó, có lời đồn là trong Tháp Mười có vàng.
  • Cho rằng đây là cái chùa - tháp thứ 10, tính từ Lục Chân Lạp xuống, nối liền các chùa - tháp này là các con đường lót đá.
  • Đây là cái tháp 10 tầng của Chân Lạp; có lẽ, theo thuyết này nên chính quyền Ngô Đình Diệm, vào năm 1958, cho xây lại một cái tháp 10 tầng cao 42 m, theo kiểu tháp chùa Thiên Mụ (Huế), một loại hình kiến trúc Trung Quốc.
  • Đây là tháp canh thứ 10 (tính từ Ba Sao vào Gò Tháp), hoặc 10 tầng của nghĩa quân Thiên Hộ Dương để canh chừng giặc Pháp.

Nghe qua thì... chẳng cái nào đủ sức thuyết phục! Nhà văn Sơn Nam (trong Danh thắng miền Nam, NXB Đồng Tháp 1998, trang 80-82) nhận định rằng:


Vấn đề này còn đang trong vòng tranh luận, chưa dứt khoát. Bảo rằng đây là cái tháp canh thứ 10, từ phía bờ sông Tiền đếm trở vào, ông Thiên Hộ Dương bố trí những chòi canh theo kiểu nhà nhỏ, khá cao, nhằm quan sát. Nếu thấy địch, người trên chòi canh làm hiệu lệnh, đánh mõ, hoặc phất cờ, đốt lửa lúc ban đêm để đề phòng.

Lối giải thích này mặc nhiên xác nhận vùng này trước kia không có tên, và mới được đặt tên từ thời Thiên Hộ Dương mà thôi. Nghe vô lý, từ xưa lưu dân đã đến làm ruộng, bắt cá rải rác. Hơn nữa, Thiên Hộ Dương vào Tháp Mười lúc quân Pháp đã chiếm đóng vùng phụ cận như Cai Lậy, Cần Lố rồi Cao Lãnh. Lập chiến khu bí mật mà bố trí tháp canh công khai chẳng khác nào "lạy ông con ở bụi này".

Lại giải thích đây là vị trí của trạm y tế thời Thủy Chân Lạp, nhà vua bấy giờ bị bệnh phong (cùi) nên tổ chức nhièu trạm y tế giúp dân, đây là trạm thứ 10.

Thuyết này nghe xa vời quá, vả lại làm sao thời xưa ở vùng này đông đúc dân cư để tổ chức một trạm?

Tháp Mười nghe qua, ta hình dung một ngọn tháp cổ xưa, thời xưa khi khẩn hoang, đồng bào ta đã gặp di chỉ. Đọc "Đại Nam Nhất Thống Chí" thời Tự Đức không nghe tên này, chẳng thấy mô tả dấu vết xây cất. Phải chăng đây là kiểu tháp nhỏ, không đáng ghi chép? Nay ta đã khai quật khá công phu, gặp nhiều hiện vật bằng đá, tượng Phật bằng cây mù u, đồ gốm không men, nền nhà, chứng tỏ thời xa xưa có lúc gò đất cao này là nơi dân cư trù mật, về sau, trước nạn ngoại xâm, dân bỏ xứ ra đi, không trở lại. Di chỉ còn tìm được cho thấy đây là kiểu văn minh Ấn Độ, dính dấp đến đạo Bà La Môn. Phải chăng đây là ngôi tháp không to như tháp của người Chăm nay còn thấy ở miền Trung, trên nóc có những khía từ to đến nhỏ, sau cùng là chót tháp, mỗi nấc gọi là một tầng?


Bạn Giang Huỳnh đang đi kiếm cái tháp trong Đồng Tháp Mười


Kỹ sư Hồ Đình Hải trích dẫn Lê Hương (không rõ nguồn) như sau:


Lê Hương, trong một bài viết, cho rằng: Tháp Mười là một trong những ngôi tháp bằng đá, do vua Jayavarman VII (1181 - 1218) xây cất trên khắp lãnh thổ để thờ vị thần Bà La Môn Lockecvara là vị thần có chức năng trị bệnh cho nhân loại. Những ngôi tháp này được xây dọc theo những con đường lớn trong nước mà ngôi tháp trong đồng Tháp Mười, tính từ điểm xuất phát, đứng vào hàng thứ 10. Thời gian đã tàn phá công trình kiến trúc này, dãy nhà gỗ tiêu tan, chỉ còn lại một tượng sư tử và một linh phù (linga) bằng đá, dưới bệ có khắc chữ Bắc Phạn (Sanskrit) ghi tên tháp thứ mười. Năm 1932, nhà khảo cổ học người Pháp, Parmentier, vào Tháp Mười phát hiện ra ngôi tháp đổ nát và đã đọc những dòng chữ Phạn ghi tên ngôi tháp thứ mười.


Không biết chắc thuyết nào là đúng, chỉ biết dân ta gọi tên Tháp Mười từ xưa lắc xưa lơ, và vì vùng đất này là một đồng trũng nước nên gọi nó là đồng Tháp Mười, trong đó đồng là danh từ chung. Lâu ngày, chữ đồng gắn liền với Tháp Mười thành Đồng Tháp Mười tạo thành một danh từ riêng luôn.


Thôi kệ, Tháp Mười xuất phát từ đâu cũng được héng bạn!


Nguyễn Hiến Lê với Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười


Có lẽ cuốn sách viết về Đồng Tháp Mười được nhiều người biết đến nhất là Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê. Sự ra đời của cuốn sách này khá éo le. Trong hồi ký của mình, cụ Nguyễn kể:


“(…) bác Ba tôi từ năm 1913 hay 1914, phải lẻn về làng Tân Thạnh ở ven Đồng Tháp Mười để tránh bọn mật thám Sài Gòn, rồi lập nghiệp ở đó, nên biết được cảnh hoang vu của Đồng Tháp hồi đầu thế kỷ, kể cho tôi nghe nhiều chuyện về dân tình, lối sống, thổ sản miền đó; sau đó tôi lại đi đo trong Đồng Tháp trong một thời gian rồi đi kinhlý nhiều lần từ Hồng Ngự tới Tân An; về Sài Gòn tôi đọc thêm được nhiều tài liệu của Sở Thủy lợi, mua được cuốn La Plaine des Joncs của V. Delahaye, nhờ vậy tôi biết được khá nhiều về Đồng Tháp.

Sau khi nhận lời anh Vũ Đình Hòe viết giúp tờ Thanh Nghị , tôi khảo cứu thêm các cuốn sử, địa phương chí, các số báo Courrier de Sài Gòn năm 1865-1866, đọc tất cả những gì liên quan đến Đồng Tháp để viết cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười , nhưng sau sáu bảy tháng viết xong thì Sở Bưu điện Sài Gòn không còn nhận đồ bảo đảm ra Hà Nội nữa vì giao thông trắc trở, tôi đành cất bản thảo đi, đợi một cơ hội khác. Cuốn đó tôi viết công phu, nhưng sau bản thảo mất ngay trong ngay trong Đồng Tháp Mười hồi tôi tản cư về đó, năm 1946. Tôi rất tiếc, và tám năm sau tôi phải viết lại”.


Cuốn sách được viết lại và do chính cụ Nguyễn Hiến Lê xuất bản năm 1954, được sự ủng hộ nhiệt tình của độc giả. Đây được xem là cuốn sách du khảo về đất nước Việt Nam đầu tiên.


65 năm sau ngày tác phẩm ra đời, đọc lại mà tui tự thấy xấu hổ cho chính mình quá trời luôn. Bây giờ, đầy đủ phương tiện tra cứu, đi lại, lại thêm kinh nghiệm của người đi trước quá nhiều về thể loại này, vậy mà tui dám chắc mình không tài nào viết hay được dù chỉ bằng một góc của cụ Nguyễn Hiến Lê. Để lâu sợ quên những điều mình cảm nhận, nên tui đành mạo muội viết chút đỉnh về Đồng Tháp Mười, đặt tựa là 1/7 ngày trong Đồng Tháp Mười (1/7 ngày tức là... hơn 3 tiếng đồng hồ á!), nhưng không phải bây giờ, mà là từ từ đã... Dài quá rồi, đọc chán.



Phạm Hoài Nhân

Xứ Bàu Ấu

đăng 06:40, 28 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:40, 28 thg 3, 2019 ]

Thuở nhỏ, tôi thường nghe cha tôi lầm rầm khấn vái câu này mỗi khi mở đầu cho một lệ cúng: “Quảng Ngãi tỉnh, Sơn Tịnh quận, Sơn Trung xã, Hà Nhai ấp, Bàu Ấu xứ...”. Nghe mãi mà thuộc chứ chẳng hiểu Bàu Ấu xứ ở đâu và nghĩa làm sao? Cho đến cách đây chừng 10 năm, lúc cha tôi còn khỏe mạnh và minh mẫn, tôi bèn hỏi ông thắc mắc trên. Hóa ra mình sinh ra, lớn lên, được hít thở khí trời của cái “xứ Bàu Ấu” ấy đến năm 19 tuổi (1979) mà mình chẳng hiểu biết gì về nó.

Tên Bàu Ấu giờ “hóa thân” vào cây cầu sắt ở phía bắc gác chắn đường lên Sơn Hà: Cầu Bàu Ấu. “Trùm” lên xứ Bàu Ấu ấy là Hà Nhai, từ xã qua thôn.

Sự dịch chuyển của địa danh

Câu mở đầu cho mỗi lệ cúng trên đây là nói từ thời trước năm 1975. Hồi ấy, huyện được gọi là quận, Sơn Trung là đơn vị hành chính của xã (Tịnh Hà ngày nay), Hà Nhai là ấp. Thói quen ấy, cha tôi vẫn duy trì cho đến sau ngày thống nhất đất nước mấy năm. Năm 1979, tôi đi học xa rồi đi làm, không ở quê nữa nên cũng không rõ mỗi khi cúng, cha tôi có “cập nhật” tên gọi mới không.

Cầu sắt Bàu Ấu nằm trên tuyến đường sắt Bắc - Nam qua thôn Hà Nhai. Ảnh: TRẦN ĐĂNG 


Nhiều người ở thôn Hà Nhai hiện nay, trong đó có tôi lúc nhỏ, vẫn thường thắc mắc điều này: Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) lúc làm tuần vũ Quảng Ngãi (1750) có bài thơ “Hà Nhai vãn độ” (cảnh đò chiều ở bến Hà Nhai), nói về cảnh đẹp và buồn mênh mang của dòng sông Trà ở bến đò Hà Nhai. Trong khi đó, thôn Hà Nhai hiện nay thì cách bến đò trong thơ của Nguyễn Cư Trinh những 2-3 cây số! Có nhầm lẫn gì đây chăng? Hoàn toàn không có sự nhầm lẫn nào cả. Sự “dịch chuyển” của các địa danh đã dẫn đến sự “vô lý” trên đây.

Trước đây, Hà Nhai là tên của một xã thuộc tổng Tịnh Thượng, phủ Bình Sơn, bao gồm các thôn Hà Nhai, Ngân Giang, Thọ Lộc và một phần của thôn Trường Xuân ngày nay. Sau này, xã Hà Nhai được đổi thành xã Tịnh Hà (sau năm 1945 và sau 1975), rồi Sơn Trung (sau năm 1954). Nó cũng được chia nhỏ ra nhiều thôn, trong đó vẫn giữ lại tên gọi cũ, tức Hà Nhai, nhưng lại là đơn vị hành chính của một thôn. Tuần vũ Nguyễn Cư Trinh vịnh 12 cảnh đẹp, trong đó có “Hà Nhai vãn độ” từ lúc nó còn là đơn vị hành chính của một xã. Vậy nên, bến đò ven sông Trà ấy thuộc xã Hà Nhai ngày trước, chứ không phải là thôn Hà Nhai bây giờ.

Công điền, công thổ

Sự “vô lý” thứ hai cũng được nhiều người thắc mắc: Vì sao người dân thôn Hà Nhai mà có công điền công thổ tận Thọ Lộc? Như đã nói trên đây, công điền của Hà Nhai, nhưng nằm ở Thọ Lộc là vì số ruộng công ấy đã có từ thời còn là xã Hà Nhai. Công điền, công thổ là đất canh tác của làng, chứ không thuộc cá nhân hay tổ chức nào. Trước năm 1945, mỗi ngôi làng truyền thống của người Kinh (như Hà Nhai chẳng hạn) đều có một số đất dưới dạng ruộng công do hội đồng kỳ dịch quản lý. Công điền có nhiều hạng, tùy theo hương ước của làng đề ra.

Thường thì ruộng công được dùng vào mục đích cho thuê để thu lợi nhuận nhằm trang trải chi phí cho làng qua các “lệ” cúng giỗ, thanh minh và các hoạt động phục vụ cộng đồng khác. Số ruộng công này cũng dành ra một phần diện tích để giúp đỡ cho những người cùng cố là công dân của làng bằng việc cho thuê ruộng hoặc giúp những người có công lớn với làng. Giúp ở đây được hiểu là làng cho thuê một số diện tích đất công ấy chứ không phải cho không.

Dù là với mục đích gì, ruộng công khi giao cho người canh tác thì cũng không được phép chuyển nhượng quyền sở hữu mà chỉ giao cho quyền canh tác tạm thời. Xã Hà Nhai thời phong kiến có đến 52 mẫu công điền thuộc địa phận thôn Thọ Lộc ngày nay. Nhờ quản lý tốt số công điền này nên hằng năm, ngoài chi dùng cho việc làng, số lãi còn lại, hội đồng kỳ dịch quyết định mua thêm đất. Do vậy, Hà Nhai mới có 42 mẫu ruộng công nữa ở Thành Bàu (gần ga Đại Lộc thuộc xã Tịnh Thọ ngày nay).

Ông Nguyễn Tùng là ấp trưởng ấp Hà Nhai từ năm 1964-1975 là người trực tiếp đi đo đạc toàn bộ diện tích công điền của ấp Hà Nhai thời ấy, giải nghĩa: “Không phải xã nào cũng có công điền đâu mà thường là những địa phương “có uy”, tức là những bậc tiền hiền đi khai khẩn đất hoang, trong đó có cả những vị chức sắc “có tâm”. Họ dành một số diện tích đất khai hoang để sung vào “đất công”. Đất ấy sẽ sử dụng vào những mục đích cho thuê để lấy lãi nhằm phục vụ cho các chi phí việc công ở làng, tưởng thưởng cho người có công lớn...

Bàu Ấu xứ

Cha tôi giải thích theo kiểu nông dân của ông, nhưng nghe có lý: Bàu Ấu là bàu nước có nhiều cỏ ấu, thế thôi. Chỗ cầu Bàu Ấu hiện nay, nguyên nó là một bàu nước chứ chưa thành kênh như bây giờ. Năm 1947, chính quyền Việt Minh đã huy động sức dân đào một kênh nối với sông Trà, bắt đầu từ thôn Ngân Giang xuyên qua Bàu Ấu, chạy thẳng xuống cầu kênh băng qua Quốc lộ 1, thẳng tới Tịnh Hòa.

Con kênh Sơn Tịnh này là công trình thủy lợi quan trọng nhất thời chống Pháp, nó giải hạn cho hàng trăm hecta đất phía bắc sông Trà mà hệ thống kênh dẫn của bờ xe nước sông Trà không vươn tới được. Nó cũng góp phần rửa mặn cho cánh đồng Châu Me, xã Tịnh Hòa.

Các lão nông ở huyện Sơn Tịnh từng sống qua thời Việt Minh hẳn còn nhớ là dọc theo con kênh đào hàng chục cây số, chỉ làm ban đêm vì sợ máy bay Pháp và hoàn toàn bằng sức người này, có rất nhiều “xe nước một bánh”, cần mẫn mang nước ngọt lên đồng, tưới tắm cho hàng trăm hecta dọc hai bên kênh vào mỗi mùa nắng hạn.

Xứ Bàu Ấu giờ chỉ còn trong ký ức của lớp người già. Thậm chí, tên gọi ấy cũng không còn thấy xuất hiện trong các lễ cúng thanh minh nữa. Tôi viết những dòng này, có thể có những chi tiết chưa thật chính xác, song tôi muốn đánh thức một địa danh “Bàu Ấu xứ” như một sự tri ân những bậc tiền nhân đã có công khai mở ngôi làng ấy từ hàng trăm năm trước.

TRẦN ĐĂNG

Ta gọi tên chùa Khmer

đăng 05:35, 23 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 05:35, 23 thg 11, 2018 ]

Chùa Monivongsa Bopharam ở Cà Mau


Miền Tây Nam bộ có nhiều ngôi chùa Khmer đẹp và nổi tiếng. Tên chùa bằng tiếng Khmer dài và khó nhớ (nhớ... chết liền!), cho nên người Việt ta... tự đặt ra những cái tên mới cho dễ gọi, dễ nhớ. Cách gọi tên thường là dựa theo đặc điểm của chùa hoặc phiên âm nôm na tên Khmer theo giọng Nam bộ.


Ngôi chùa nổi tiếng ở Sóc Trăng có tên là Serây Tê Chô Mahatúp, vốn có nghĩa là do phước đức tạo nên. Chùa có nhiều dơi, nên người ta gọi là Chùa Dơi luôn cho tiện. Chùa lại còn được gọi là Chùa Mã Tộc. Ủa, sao đã dơi lại còn có ngựa (mã) vô đây? Hay đây là chùa của dòng họ Mã? Hổng phải, Mã Tộc là do người Việt phiên âm tên Mahatúp đó mà!


Ở Trà Vinh, chùa Kompong Chrây được người dân gọi là chùa Hang, vì cổng chùa có hình dạng  như cái hang.


Chùa Chén Kiểu


Chùa Wath Shro Loun ở Bạc Liêu tên khó đọc, khó nhớ quá, nên người Việt đọc thành chùa Sà Lôn. Chùa này được trang trí bằng rất nhiều mảnh vỡ chén, đĩa sứ nên dân gian đặt luôn tên là chùa Chén Kiểu cho dễ hiểu!


Ngôi chùa ở Trà Cú (Trà Vinh) có tên là Bhagraja Duonkev Phnô Đưng. Đây là tên tui ghi lại theo bảng tên ghi ở cổng chùa chớ không tài gì nhớ nổi. Vậy nên người dân nơi đây đọc tắt là chùa Phnô Đôn, hoặc đơn giản hơn nữa là chùa Nô Đôn. Thế nhưng đó chưa phải là cái tên thông dụng nhứt, tên thông dụng nhứt là Chùa Cò, vừa dễ nhớ, vừa dễ hiểu, lại dễ đọc. Gọi tên như vậy vì ở chùa này có rất nhiều cò. 


Chùa Cò


Ngoài ra, người ta còn gọi tên chùa theo tên địa phương nơi ngôi chùa tọa lạc, nên chùa Cò còn gọi là chùa Giồng Lớn, vì tọa lạc tại ấp Giồng Lớn, xã Đại An, huyện Trà Cú.


Cùng theo nguyên tắc gọi tên theo tên địa phương còn có chùa Selatro ở Châu Thành, Trà Vinh. Chùa này tọa lạc tại ấp Điệp Thạch, xã Đa Lộc, huyện Châu Thành nên người dân gọi là chùa Điệp Thạch.


Hầu như tất cả những chùa Khmer tui đã từng viếng thăm đều có tên tiếng Việt dễ nhớ theo một trong ba quy tắc như nêu trên: đọc gọn tên Khmer theo giọng Nam bộ; đặt tên theo đặc điểm của chùa; đặt tên theo địa phương nơi tọa lạc ngôi chùa.


Chùa Monivongsa Bopharam


Tui tới Cà Mau và viếng thăm ngôi chùa Khmer nổi tiếng ở đây: chùa Monivongsa Bopharam. Lại là một cái tên Khmer dài thoòng, khó nhớ nên tui coi thử nó có tên gì dễ đọc hay không. Chùa này lớn, đẹp, nhưng không có đặc điểm riêng biệt gì như nhiều cò, nhiều dơi hay bằng chén kiểu... để có tên theo quy tắc này. Cũng không nghe thấy tên đọc tắt. Bạn có biết dân Cà Mau gọi tên chùa này là gì không? Là chùa Phường 1, bởi vì chùa Monivongsa Bopharam tọa lạc tại phường 1, thành phố Cà Mau.


Mặc dù vẫn đúng theo một trong các quy tắc gọi tên mà ta đã kể ở trên, nhưng một ngôi chùa Khmer to lớn, hoành tráng lại được gọi tên là chùa Phường 1 thì quả là... nghe hơi ngộ ngộ, phải không bạn? 


Phạm Hoài Nhân

1-10 of 18