Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Có phải trên núi Ba Thê có Hòn Vọng Thê? Các trang mạng về du lịch nói rằng Hòn Vọng Thê ở trên núi Ba Thê, thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Họ nói như ...
    Được đăng 00:44 28-12-2013 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cầu Gành chứ không phải cầu Ghềnh Biên Hòa có chiếc cầu nổi tiếng là cầu Gành. Đây là chiếc cầu cổ xưa nhất thành phố Biên Hòa có tuổi đời hơn 100 năm, và do kiến ...
    Được đăng 08:17 12-12-2013 bởi Pham Hoai Nhan
  • Về Tây Đô thăm vùng đất Long Tuyền Long Tuyền là địa danh mang ý nghĩa là ‘suối rồng’ hay người xưa gọi là ‘long mạch’, theo hình dung đầu vàm Long Tuyền như miệng rồng và con ...
    Được đăng 02:34 05-11-2013 bởi Pham Hoai Nhan
  • Kon Tum - Làng Hồ - Vùng đất lịch sử bên dòng Đăk Bla Là tỉnh miền núi biên giới nằm ở Bắc Tây Nguyên, Kon Tum có hình thể như một ngọn núi sắc nhọn, lưng dựa vào Ngã ba Đông Dương, chân ...
    Được đăng 06:19 05-10-2013 bởi Pham Hoai Nhan
  • Biên Hòa có chợ Kỷ niệm Biên Hòa có một cái chợ được gọi tên là chợ Kỷ niệm. Nghe cái tên kỷ niệm đầy tình tứ, lãng mạn này ta bất chợt liên tưởng đến ...
    Được đăng 08:46 14-09-2013 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »

Có phải trên núi Ba Thê có Hòn Vọng Thê?

đăng 00:44 28-12-2013 bởi Pham Hoai Nhan

Các trang mạng về du lịch nói rằng Hòn Vọng Thê ở trên núi Ba Thê, thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Họ nói như vầy:

Tương truyền, xưa có một người đàn ông lên núi tu hành, xa lánh thế gian, bụi đời song lòng vẫn còn chưa rũ sạch bụi trần, nên chiều chiều ngóng vọng về phương xa, nhớ nhà, nhớ vợ, sau đó chết đi. Người ta cho rặng vị sư kia đã hóa đá, thành “Hòn Vọng Thê” trên một ngọn núi nằm lẻ loi giữa tứ giác Long Xuyên.


Trên núi Ba Thê


Tui đọc và cũng tin sái cổ luôn - thậm chí trích lại trong bài viết của mình nữa. Thế nhưng bài viết của tui không có ảnh minh họa, bởi vì khi lên núi Ba Thê tui nhìn quanh nhìn quất chả thấy cục đá nào giống hình người đàn ông đang ngóng vợ cả!


Nghĩ rằng mình chưa tìm ra, nên lần này trở lại núi Ba Thê tui quyết tâm nhìn cho ra hòn vọng thê. Hic, mấy trang mạng nó nói rằng vị sư trọc đầu nên biến thành hòn đá có dạng tròn tròn. Bố khỉ, đá trên núi thiếu cha gì cục tròn tròn, vậy cục nào cũng là hòn vọng thê hết à?


Núi non trùng điệp, chả thấy đâu là hòn vọng thê cả!


Bí quá, tui hỏi anh bạn cùng đi (quê An Giang) rằng Hòn Vọng Thê ở đâu? Ảnh nói: Tui chưa nghe bao giờ! Làm gì có? Chưa chịu thua, tui hỏi sư trụ trì chùa Sơn Tiên là ngôi chùa cổ trên đỉnh núi Ba Thê, nhờ chỉ dùm tui Hòn Vọng Thê ở nơi nao. Sư lắc đầu nói: Tui tu ở đây bao lâu rồi mà có nghe nói gì về hòn vọng thê đâu? Anh nghe ai nói vậy?


Hic, vậy là mấy cha làm du lịch xạo bà cố rồi! Và cái vụ xạo bà cố này được sao chép từ trang web này qua trang web nọ, khiến nó trở nên y như thiệt!


Chùa Sơn Tiên trên núi Ba Thê


Nguyên nhân của chuyện dóc tổ này là cái tên xã nơi núi Ba Thê tọa lạc: xã Vọng ThêMấy cha nói dóc lấy chữ vọng thê này, thêm vô phía trước chữ hòn cho giống hòn vọng phu, rồi bịa chuyện ông sư nhớ vợ, chớ thật ra trên núi làm gì có cái hòn vọng thê nào!


Điều cà chớn không chỉ là trên núi không có cái hòn nào ra vẻ người đàn ông ngóng trông, mà chữ thê trong tên xã Vọng Thê cũng không phải là vợ!


Thê trong tên xã Vọng Thê chắc chắn là cùng nghĩa với thê trong tên núi Ba Thê. Mà chữ thê trong tên Ba Thê được hai vị lão làng về văn hóa Nam bộ giải thích như sau:

  • Nhà văn Sơn Nam cho rằng Ba Thê xuất phát từ chữ Khmer là bát-xam-xê.
  • Cụ Vương Hồng Sển giải thích: Thê là cái thang, vì ngày trước vào thời đàng cựu nơi đây có bắc thang cao để trông hành động của phe Thổ...

Không biết vị nào đúng (có thể cả hai đều đúng), nhưng chắc chắn thê ở đây không hề có nghĩa là vợ!


Còn chữ vọng e rằng cũng không phải là mong ngóng, mà là một từ địa phương nào đó. Ngay kế bên xã Vọng Thê là xã Vọng Đông, nếu vọng thê là ngóng vợ thì vọng đông là gì?


Đành rằng du lịch phải gắn với giai thoại, truyền thuyết cho thêm màu sắc hấp dẫn và hầu hết các giai thoại đều chứa không nhiều sự thật, nhưng ít ra cũng phải có một cơ sở hợp lý nào đó, chớ bịa chuyện kiểu hòn vọng thê này thì thiệt là thô thiển và... cà chớn quá!


Tui ngẫm nghĩ một hồi rồi quyết định cử một người trong nhóm của mình ở lại làm tượng hòn vọng thê để mấy tay bịa chuyện du lịch có cái mà chỉ cho du khách. Một số mẫu được chọn như sau:






Kết quả: Không có mẫu nào đạt, và quan trọng là mẫu không chịu ở lại làm hòn vọng thê! Vì vậy, cho đến giờ trên núi Ba Thê vẫn không có hòn vọng thê! Các bạn có lên đó xin chớ mất công tìm làm chi cho mệt nghen!


Phạm Hoài Nhân

Cầu Gành chứ không phải cầu Ghềnh

đăng 08:17 12-12-2013 bởi Pham Hoai Nhan

Biên Hòa có chiếc cầu nổi tiếng là cầu Gành. Đây là chiếc cầu cổ xưa nhất thành phố Biên Hòa có tuổi đời hơn 100 năm, và do kiến trúc sư lừng danh Eiffel của Pháp thiết kế. Hình ảnh chiếc cầu sắt cổ kính này gần như đã thành biểu tượng của Biên Hòa.


Cầu Gành - Ảnh: PHN


Khốn khổ thay, tên cầu đã bị gọi sai thành cầu Ghềnh gần bốn mươi năm nay. Vì đâu nên nỗi như vậy? Bạn hãy đọc đoạn trích bài viết sau của nhà văn Khôi Vũ (Nguyễn Thái Hải) nhé:


Tất cả các báo, từ báo mạng đến báo chữ, từ báo trung ương đến báo tỉnh (gồm cả báo Đồng Nai); từ các nhà báo ở xa đến các nhà báo ở Biên Hòa, ở Đồng Nai... đều gọi tên chiếc cầu là CẦU GHỀNH. Có câu chuyện thế này: Một hôm có một người lạ đến Biên Hòa hỏi thăm một bác lớn tuổi đang ngồi uống cà phê vỉa hè, đường đi đến "Cầu Ghềnh". Bác này bèn trả lời: "Tôi sinh ra và lớn lên ở Biên Hòa này, nay đã ngoại sáu chục tuổi rồi mà chưa nghe ai nói ở đây có cầu Ghềnh. Nếu cậu hỏi cầu Gành thì tôi biết, tôi chỉ đường cho".

Không phải chuyện đùa vì thực ra tên đúng của chiếc cầu là CẦU GÀNH. Riêng chữ Gành có nghĩa như trong địa danh GÀNH HÀO ở miền Tây.

Vậy thì các nhà báo đã viết sai tên chiếc cầu? Không! Họ viết đúng như bảng tên chiếc cầu được kẻ ở đầu cầuCẦU GHỀNH.

Ai đã gọi và cho kẻ bảng tên này? 

Một số người biết chuyện đã giải thích như sau:


Sau giải phóng 1975, một số cán bộ, công chức từ miền Bắc vào Biên Hòa làm việc, thấy tên "Gành" thì cho là viết sai nên đã tự sửa lại, gọi là "Ghềnh". Nhiều bài báo, sáng tác văn học đã dùng tên gọi "Cầu Ghềnh" cho đến tận ngày nay. 

Việc kẻ bảng tên cầu không thuộc trách nhiệm của chính quyền sở tại (TP Biên Hòa, Đồng Nai), mà thuộc quyền Cục đường sắt (?) là đơn vị quản lý chiếc cầu thuộc tuyến Bắc Nam. Các vị có trách nhiệm ở đây đã chọn tên "Ghềnh" cho có nghĩa!


Cù lao Phố là tên thường gọi của xã Hiệp Hòa, một phía nối với các phường nội ô bằng chiếc cầu Rạch Cát (Gọi theo nghĩa tên nhánh sông Sa Hà mà nó bắc qua), phía kia nối với các phường ngoại ô về hướng TP HCM bởi chiếc cầu Gành. Nhiều người còn gọi chung cả hai chiếc cầu sắt này là "Cầu Gành". Những người sống lâu năm ở Biên Hòa đều gọi tên chiếc cầu là Cầu Gành. Trước 1975, trên giấy tờ, nó cũng mang tên Cầu Gành. 

Nếu bảo là "gành" và "ghềnh" cùng nghĩa, cần "viết lại cho đúng" thì không thuyết phục. Nói vậy có khác nào bảo người tên Dõng đổi thành tên Dũng, tên Võ đổi thành tên Vũ... Ở đây không phải là ngữ nghĩa, mà là chuyện CÁI TÊN. Đã là TÊN thì không thể thay đổi. Có người tên NIẾU, không có nghĩa gì nhưng không ai có quyền đổi tên của người này! Đằng này chữ GÀNH vừa là TÊN, vừa có nghĩa! Sao lại đổi?

Tôi chợt nảy ra ý định viết một lá đơn có nội dung kiến nghị các cấp chính quyền trung ương và địa phương, xác định và quyết định gọi tên đúng của chiếc cầu là CẦU GÀNH. Nhưng... cũng chợt nghĩ không biết mình mà làm việc này, có bị thiên hạ bảo là "khùng" hay không nữa?


Phạm Hoài Nhân ghi lại

Về Tây Đô thăm vùng đất Long Tuyền

đăng 02:34 05-11-2013 bởi Pham Hoai Nhan

Long Tuyền là địa danh mang ý nghĩa là ‘suối rồng’ hay người xưa gọi là ‘long mạch’, theo hình dung đầu vàm Long Tuyền như miệng rồng và con rạch Long Tuyền như thân rồng uốn lượn. Xa xưa, Long Tuyền là tên một xã nhưng qua thời gian, đã trở thành một địa danh nổi tiếng bao trùm một vùng rộng lớn gắn với lịch sử phát triển xứ Cần Thơ.


Sân trước khu di tích Bùi Hữu Nghĩa với nhà bia và đền thờ. 


Khi xưa, địa danh Long Tuyền bao gồm từ chợ An Thới đến mạn Đông cầu Trà Nóc và chạy sâu vô bên trong theo trục đường Bùi Hữu Nghĩa - Bình Thuỷ, nối với tỉnh lộ 923 và kéo tận đến phường Long Tuyền. Do phạm vi rộng lớn và có nhiều di tích văn hóa - lịch sử cổ kính nên vùng nầy còn được gọi là làng cổ Long Tuyền, với ngôi đình Bình Thuỷ - vốn xưa gọi là Long Tuyền cổ miếu - là đầu mối.


Nguồn gốc địa danh


Đầu vàm rạch Bình Thủy (xưa là rạch Long Tuyền) đổ ra sông Hậu như thế miệng rồng với 'trái châu' là cồn Linh. 


Những người lớn tuổi ở vùng nầy kể lại, vào năm Giáp Thìn (1906), trong một buổi họp có mời đông đủ thân hào nhân sĩ sống trong vùng để bàn việc đổi tên làng, quan tri phủ Nguyễn Đức Nhuận - cũng là người sống ở làng Bình Thủy - đã nhận ra phong thuỷ thịnh phát của vùng.

Ông đánh giá con rạch Long Tuyền có nguồn nước chảy từ sông Hậu vào uốn khúc như rồng nằm, miệng rồng ngậm trái châu là cồn Linh trên sông Hậu, nằm án ngang miệng rạch. Bốn chân rồng, gồm hai chân trước là phần ngã tư giao nhau giữa rạch Ngã Tư Lớn và rạch Ngã Tư Bé ngang nhau và hai chân sau là rạch Miếu Ông trên tỉnh lộ 923 và rạch Cái Tắc cũng ngang nhau. Cái đuôi uốn khúc nằm vắt qua làng Giai Xuân, ở cuối làng Bình Thuỷ. Vì thế, ông muốn bàn với dân làng đặt lại tên làng. Từ đó, vùng đất nầy mang tên Long Tuyền cho đến ngày nay.

Xưa kia, vùng này gọi là “Lục Ấp’’; năm Thiệu Trị thứ 13 (1844) được đặt tên làng Bình Hưng; sau đó lại đổi thành Bình Phó. Năm 1852, Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt đi tuần thú ngang qua đây, khi thuyền đến gần Cồn Linh nơi đầu vàm rạch Bình Thủy thì gặp một trận cuồng phong, mọi người trên thuyền đều hoảng sợ. Quan tuần phủ ra lệnh cho thuyền núp ngay vào đầu vàm rạch Bình Thủy để tránh gió dữ và đoàn hải thuyền được bình an vô sự. Ông dừng lại đây cho mở tiệc ăn mừng cùng dân làng và quan sát dân tình trong suốt ba ngày, ông xét thấy địa thế nầy tốt đẹp, dân cư hiền hoà, đầu vàm thường yên lặng, không hề có sóng to gió lớn, hoa màu thịnh vượng. Quan Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt dâng sớ xin vua Tự Đức cho đổi tên làng thành Bình Thủy.

Con sông Bình Thủy ngày nay (xưa là rạch Long Tuyền) nước chảy uốn khúc như thân rồng nằm, hai hàm của miệng rồng nay là đình Bình Thuỷ và Nam Nhã đường. Các rạch cắt ngang như bốn chân rồng. Đoạn đuôi nhỏ dần kết thúc ở cầu Bông Vang. Từ điểm nầy rạch Long Tuyền chia ra hai ngả toả ra như đuôi rồng. Từ đầu vàm - miệng rồng đến đuôi rồng dài khoảng 11km. Nước con rạch Long Tuyền quanh năm yên bình, sóng gợn lăn tăn như vảy rồng lấp lánh dưới ánh mặt trời, dưới ánh trăng giữa những vườn cây trái xum xuê ôm theo con rạch.

Địa linh nhân kiệt


Tam quan trước khu di tích Bùi Hữu Nghĩa. 


Theo đường Cách Mạng Tháng Tám đi về hướng tây, cách cầu Bình Thuỷ chừng 500 mét có một ngả rẽ bên tay phải vào đường Huỳnh Mẫn Đạt chúng tôi thấy một bảng đề Di tích Văn hoá- Khu Tưởng niệm thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa. Khu tưởng niệm này rộng chừng 1 hecta thuộc địa phận phường Bùi Hữu Nghĩa (quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ) gồm đền thờ, nhà trưng bày, nhà khách, nhà bia tưởng niệm, khu mộ...

Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa sinh năm 1807 (Đinh-Mão) tại thôn Long Tuyền, tổng Định Thới, phủ Định Yên, trấn Vĩnh Thanh (nay thuộc phường An Thới, thành phố Cần Thơ. Ông còn có tên là Bùi Quang Nghĩa, hiệu là Nghi Chi, đỗ giải nguyên (thủ khoa) khoá thi hương năm 1835 và là một vị quan thanh liêm triều nhà Nguyễn. Ông còn là nhà thơ, nhà soạn tuồng nổi tiếng của miền Nam vào cuối thế kỷ XIX, để lại nhiều tác phẩm giá trị trong kho tàng văn học Việt Nam.

Vở tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên của ông được coi là vở tuồng cổ nhất và nổi tiếng nhất của Việt Nam đã được trình diễn khắp nơi trên đất nước và cũng là vở tuồng đầu tiên của Việt Nam được dịch ra tiếng Pháp.


Bình phong trước hai ngôi mộ của Bùi Hữu Nghĩa và phu nhân. 


Thủ khoa Nghĩa mất năm 1872 (Nhâm Thân); nhân dân trong vùng đã lập bài vị tôn thờ ông ở đình Bình Thủy và Nam Nhã đường. Hàng năm, vào ngày 21 tháng Giêng đều có tổ chức lễ cúng giỗ của ông.

Giữa khu tưởng niệm là nhà bia, bên trái là nhà trưng bày những bút tích, thân thế hoạt động của ông, bên phải là gian tiếp khách, phía sau là phần mộ. Có hai ngôi mộ lớn nằm kề nhau, bên trái là mộ Thủ khoa Nghĩa, bên phải là mộ bà Nguyễn Thị Tồn.

Trước đây, trong khu lăng mộ có hai bức phù điêu ngoài trời miêu tả lại cảnh bà Nguyễn Thị Tồn gióng trống kêu oan cho chồng tại tòa Tam pháp ty ở Huế và cảnh ngâm thơ xướng họa giữa Thủ khoa Nghĩa và các thi hữu trong hội "Tao đàn Bà Đồ"; sau đợt đại trùng tu gần đây, hai bức phù điêu bị đập bỏ, thay vào đó, một nhà trưng bày hình ảnh, bút tích và tài liệu về thân thế sự nghiệp của Bùi Hữu Nghĩa được xây dựng bề thế và trang trọng.


Nhà trưng bày trong khu di tích Bùi Hữu Nghĩa. 


Tranh mô tả cảnh ông về hưu dạy học. 


Tranh mô tả cảnh phu nhân Nguyễn Thị Tồn đánh trống kêu oan cho chồng tại triều đình Huế. 


Người dân tôn vinh ông là một trong bốn Rồng Vàng của vùng đất Nam Bộ (Đồng Nai có bốn rồng vàng / Lộc hoạ, Lễ phú, Sang đàn, Nghĩa thi) và tên ông cũng đã được nhiều tỉnh thành trên cả nước đặt tên cho trường học và đường phố. Khu lăng mộ Thủ khoa Nghĩa được công nhận là Di tích quốc gia từ năm 1994.

Nhà cổ Long Tuyền


Dãy nhà cổ nằm phía bên trái chợ Bình Thuỷ hiện vẫn còn giữ nguyên trạng. 


Ngoài Nam Nhã đường và đình Bình Thuỷ, khu vực này còn có nhiều nhà cổ. Chợ Bình Thuỷ nằm ở vị trí trung tâm quận Bình Thuỷ ngày nay, vốn là nơi mua bán sầm uất từ xưa gắn với lịch sử của làng cổ Long Tuyền. Cạnh chợ hiện vẫn còn một dãy phố cổ nằm phía bên trái chợ. Đi tiếp một đoạn, phiá bên phải chợ cũng có nhiều nhà cổ. Đầu tiên một dãy tiếp nối 4 căn với nhau trong một khuôn viên, nay thuộc bệnh viện Lao thành phố Cần Thơ... rồi đến một số nhà cổ khác tiếp nối.

Nổi bật nhất làng cổ Long Tuyền là khu nhà cổ của dòng họ Dương xây dựng từ năm 1870 - thường được gọi là ‘nhà cổ Bình Thuỷ’ hay ‘vườn lan Bình Thuỷ’ - tại địa chỉ số 26/1A đường Bùi Hữu Nghĩa; đây là một trong những mẫu nhà hiếm hoi còn sót lại khá nguyên vẹn trên một thửa đất rộng 8.000 m2.

Cổng và tường rào kiên cố bao quanh sân, vườn. Sân trước lót gạch tàu và trồng nhiều loại cây kiểng; trong đó có cây vú bò, là loại dược liệu quý (quả vú bò ngâm rượu chữa được nhiều bệnh). Trước sân nhà là hòn non bộ, chung quanh nhà là vườn cây trái, hoa kiểng; bên phải ngôi nhà là vườn xương rồng, phía bên trái là vườn trồng hoa lan. Đặc biệt, có cây ‘kim lăng trụ’ giống xương rồng Mexico cao hơn 7 mét.


Nhà cổ của dòng họ Dương xây dựng từ năm 1870 - thường được gọi là ‘nhà cổ Bình Thuỷ’ hay ‘vườn lan Bình Thuỷ’. 


Ngôi nhà có kiến trúc theo kiểu nhà Pháp, nền nhà cao hơn mặt đất một mét. Bước từ ngoài vào nhà, phải theo hai bậc thang hình cánh cung ở gian giữa hoặc hai bậc thang đi thẳng vào hai gian hai bên. Nhà giữa gồm năm gian, ba gian trong để thờ phụng, hai gian bìa dùng để ở và được ngăn cách với ba gian thờ phụng bằng hàng tủ bằng gỗ vừa dùng để trang trí vừa làm vách. Nền nhà được lát bằng loại gạch bông 4 tấc vuông hoa hồng đỏ đen mua từ Pháp về. Nội thất bày trí lại mang phong cách thuần Việt. Chính giữa nhà là khán thờ và bàn thờ tổ tiên được sơn son thếp vàng.

Ngăn cách giữa nhà trước và nhà giữa là một hệ thống bao lam và liên ba gồm nhiều con tiện và ô hộc được chạm trổ bằng gỗ theo chủ đề “mai, lan, cúc, trúc, sen”; “điểu, tùng lộc, dơi, thỏ, chim công, gà, tôm, cua, khổ qua, nho…” hai bộ bàn ghế cẩn xà cừ và đá cẩm thạch xuất xứ từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đặt bên dưới những ngọn đèn chùm treo từ thế kỷ XVIII. Trần nhà trang trí hoa văn theo kiểu vẽ tô màu. Và đặc biệt là cái bàn rửa tay cẩn men và chiếc máy hát đĩa rất xưa, hiếm thấy ở những nhà cổ trong vùng.

Ngôi nhà thờ họ Dương là một kho đồ cổ quý giá được gìn giữ cẩn trọng qua nhiều đời con cháu. Nhiều bộ phim như L'amant, Người đẹp Tây Đô, Dòng sông Hoa Trắng… đã được thu hình một số cảnh phim tại ngôi nhà nổi tiếng này. Nhà thờ họ Dương, Bình Thủy là một ‘địa chỉ du lịch’ không thể bỏ qua khi đến thăm thành phố Cần Thơ.

Thế đất Long Tuyền

Theo truyền thuyết về ‘long mạch’ ở cuộc đất này, men theo ‘thân’ đến ‘chi trước’ của rồng là rạch Ngã Tư Lớn, hiện vẫn còn chiếc cầu sắt sơn đen bắc ngang qua rạch. Từ trên cầu Ngã Tư Lớn nhìn sang bên kia sông sẽ thấy rạch Ngã Tư Bé. Hai con rạch nầy nằm ngang nhau tạo thế hai chân trước của rồng. Hai bên rạch Long Tuyền nhà cửa san sát nhau, sông rạch vốn là nguồn sinh hoạt chính của người dân nơi đây.

Qua cầu rạch Ngã Tư Lớn, đi tiếp qua cầu Rạch Cam rồi rẽ trái chạy theo con đường nhỏ có chiếc cầu sắt bắc qua rạch Long Tuyền là đến chùa Long Quang. Trên chiếc cổng chào có ghi “Đường qua mộ Ông Đinh Công Chánh”. Ông Đinh Công Chánh là vị tôn thần được thờ tại đình Bình Thủy. Theo truyền thuyết, vào tháng 8 năm 1913 (Quý Sửu), ở làng Long Tuyền bệnh dịch nổi lên tràn lan, hết đường cứu chữa, dân chúng trong làng rất lo âu. Lúc bấy giờ, một số nhân sĩ trong làng lập đàn cầu cơ thỉnh cầu chư thần thánh cho thuốc trị bệnh cho dân. Tôn thần là Đinh Công Chánh đã giáng cơ cho thuốc cứu người mắc bệnh một cách thần kỳ. Dân trong làng biết ơn cứu dân đó nên lập bài vị thờ ông tại đình từ năm 1913.


Rạch Ngã Tư Bé, được ví như một trong hai chân trước của con rồng (rạch Bình Thủy) 


Trở lại cầu sắt bắc qua ‘thân rồng’ tiếp tục theo tỉnh lộ 923 đi đến ‘chi sau’ của rồng tức là rạch Miếu Ông và rạch Cái Tắc. Từ những ngã rẽ nầy toả ra là các con đường làng quanh co yên bình kéo dọc theo trục lộ chính 923 đến tận ngã ba Xẻo Tre là nơi ‘mũi tên’ gặp ‘cánh cung’ của đường lộ Vòng Cung lịch sử.

Lộ Vòng Cung - cái tên Vòng Cung do được ví von như hình cánh cung kéo dài từ cầu Cái Rạch theo sông Cần Thơ qua Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền… kéo dài đến tận lộ tẻ Ba Xe - điểm giáp với quốc lộ 91. Mũi tên của bộ cung tên nầy là con đường từ cầu Bình Thuỷ chạy thẳng vô Long Tuyền qua Giai Xuân, nơi đuôi rồng kết thúc tính theo đường thuỷ rồi chạy thẳng đến ngả ba Xẻo Tre.

Long Tuyền (hay suối rồng) là mô phỏng phong thuỷ của hình dáng rồng uốn lượn theo dòng rạch Long Tuyền xưa - nay là sông Bình Thuỷ, lại nằm giữa hình dáng bộ cung tên của lộ Vòng Cung.

Làng cổ Long Tuyền, ngoài cảnh vật yên bình, cây xanh trái ngọt quanh năm sông rạch chằng chịt, còn có đến 6 di tích cấp quốc gia phản ánh nét đặc trưng văn hoá, lịch sử, kiến trúc của làng cổ miệt vườn Nam Bộ.


Dù vật đổi sao dời, dù bị tác động của nhiều yếu tố thời cuộc, chiến tranh, sự ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa Khmer, Hoa, Pháp, Nhật, Mỹ... , dù trải qua bao thăng trầm, làng cổ Long Tuyền vẫn còn giữ được nét đặc trưng văn hoá miệt vườn sông nước Nam Bộ, góp phần không nhỏ tạo nên hình ảnh du lịch riêng cho thành phố Cần Thơ.


Lâm văn Sơn

Kon Tum - Làng Hồ - Vùng đất lịch sử bên dòng Đăk Bla

đăng 06:19 05-10-2013 bởi Pham Hoai Nhan

Là tỉnh miền núi biên giới nằm ở Bắc Tây Nguyên, Kon Tum có hình thể như một ngọn núi sắc nhọn, lưng dựa vào Ngã ba Đông Dương, chân đứng vững chãi trên cao nguyên Pleiku, mặt hướng ra Biển Đông qua tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam ở miền Trung Trung Bộ. Là một trong 2 tỉnh duy nhất trong cả nước (Kon Tum, Điện Biên) có chung đường biên giới với 2 quốc gia láng giềng. 


Hừng đông trên dòng Đăk Bla - Ảnh: Nguyễn Đang 


Kon Tum nằm ở vị trí địa lý chiến lược về mọi mặt, là nơi gặp nhau của 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia, với độ cao trung bình từ 1.000-2.000m so với mực nước biển, Kon Tum được ví như nóc nhà của ba nước Đông Dương. Từ đây có tầm kiểm soát cả cao nguyên Trung phần, án ngữ con đường xuyên Việt từ Trường Sơn Bắc vào Trường Sơn Nam, từ Việt Nam qua các nước bạn và từ phía Tây qua Kon Tum xuống Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng ra Biển Đông. Nếu tính theo đường chim bay thì từ thành phố Kon Tum đến Thủ đô Hà Nội khoảng 800 km, ra Biển Đông chừng 130km và vào thành phố Hồ Chí Minh khoảng 400 km. 

Nơi thấp nhất ở Kon Tum là thung lũng sông Đăk Bla xung quanh thành phố Kon Tum (400m), nơi cao nhất là núi Ngọc Linh quanh năm mây phủ cao tới 2.598m, Ngọc Niay 2.259m. Vùng núi Ngọc Linh có độ cao trung bình 1.600-1.700m so với mực nước biển, là vùng núi đồ sộ nhất của hệ núi Nam Trường Sơn. Khối núi Ngọc Linh chia vùng này thành hai sườn bất đối xứng: Sườn tây gồm những dãy núi thấp chạy theo hướng đông bắc-tây nam, sườn đông hẹp hơn gồm các dãy núi chạy dọc theo hướng bắc nam với nhiều đèo dốc như đèo Viôlăc, có vùng tiểu khí hậu khá đặc biệt - Măng Đen, KonPLong nổi tiếng - Đông thì nắng, Tây thì mưa, khí hậu lúc nào cũng lành lạnh, một Đà Lạt thứ hai trên cao nguyên và nay đã trở thành danh lam thắng cảnh du lịch sinh thái có tiếng của Kon Tum. Núi cao, đèo dốc, độ cao vặn vỏ đỗ như vậy nên đã tạo cho bề mặt Kon Tum mang đặc trưng một vùng núi non hùng vĩ, hiểm trở nhất Tây Nguyên. 


Đường Trường Sơn Đông qua Kon Plông (Kon Tum) - Ảnh: Văn Phương 


Trong lịch sử, Kon Tum có nhiều biến động về lãnh thổ và tên gọi, nhưng địa danh Kon Tum - Làng Hồ đã được ghi nhận từ rất sớm. Thuật ngữ Kon Tum, theo truyền thuyết của người Ba Na, là tên làng mới cạnh hồ nước bên dòng sông Đăkbla. Theo ngôn ngữ Ba Na thì Kon là làng, Tum là hồ nên còn gọi là Làng Hồ. Theo sách Phủ biên tạp lục nổi tiếng của Lê Quí Đôn (Lê Quí Đôn toàn tập 1997, tr.122-123) đã ghi lại: Ngay từ những năm 1540, dưới triều vua Lê Trang Tông (1533-1548) của nước Đại Việt, một viên quan của triều đình là ông Bùi Tá Hán được cử vào trấn thủ thành Quảng Nam, cai quản toàn bộ dân Tây Nguyên, có công tổ chức dinh điền, di dân lập ấp trên vùng Thượng và củng cố mối quan hệ hòa thuận giữa người Kinh và người Thượng ở Tây Nguyên. Năm 1840, dưới thời vua Thiệu Trị (1807-1847), triều đình Huế lập người Ba Na tên là Bok Seam làm quan cai trị các bộ tộc Tây Nguyên, cho phép người Kinh và người Thượng tự do buôn bán, trao đổi hàng hóa. Từ đây người Kinh bắt đầu đến Kon Tum, sau một thời gian dài khép kín, vùng đất Kon Tum lúc đó không chỉ có lái buôn người Kinh mà có cả cha cố người Pháp và người Việt xâm nhập vào Kon Tum truyền giáo. Trong các ghi chép khoảng những năm 1840 đã nhắc đến tên Làng Hồ - theo cuốn hồi ký Les sauvages Banhas của Pierre Dourisboure xuất bản tại Paris năm 1929 thì từ năm 1842, người Pháp đã đến Làng Hồ (TP Kon Tum ngày nay) bên bờ sông ĐăkBLa để truyền giáo. Năm 1892, thuật ngữ Kon Tum chính thức được đặt cho tòa đại lý hành chính đầu tiên ở Tây Nguyên (Commissariat de Kontum). Đến ngày 9 tháng 2 năm 1913 Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Kon Tum - Province de Kontum (Khảo cổ học tiền sử Kon Tum-2007). 


Khu trưng bày Di tích lịch sử Ngục Kon Tum 


Trong đấu tranh giải phóng dân tộc, Kon Tum là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, luôn là căn cứ cách mạng, nơi địch giam cầm các nhà cách mạng tiền bối, chịu sự tù đày, rèn luyện ý chí cách mạng kiên trung của các chiến sỹ cộng sản - Ngục Kon Tum, Ngục ĐăkGLei nổi tiếng, đã được thể hiện qua Phóng sự Ngục Kon Tum - xuất bản năm 1938 của nhà cách mạng Lê Văn Hiến, bài thơ Tiếng hát đi đày của Nhà thơ-nhà cách mạng Tố Hữu viết năm 1941, Hồi ký Từ Hà Tĩnh đến nhà đày Kon Tum của nhà cách mạng Ngô Đức Đệ - người tù chính trị đầu tiên bị thực dân Pháp đưa lên đày ở Ngục Kon Tum năm 1930... Là nơi ra đời và nuôi dưỡng những phong trào đấu tranh yêu nước giải phóng dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ - như sự kiện cuộc Đấu tranh Lưu huyết ngày 12/12/1931 của các chiến sỹ cộng sản ở Ngục Kon Tum, hay đã được thể hiện qua tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành (tức Nhà văn Nguyên Ngọc) viết năm 1965...Nơi tập hợp lực lượng chiến đấu, mở màn nhiều chiến dịch lớn trong lịch sử như Chiến thắng Đăk Tô-Tân Cảnh năm 1972, Chiến thắng Măng Đen năm 1974…, là bàn đạp vững chắc để tạo thế tấn công giải phóng đồng bằng, giải phóng Tây Nguyên và giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước Mùa Xuân 1975. 


Cùng với vị trí chiến lược về địa lý, Kon Tum còn là nơi giao thoa, hội nhập và hội tụ các nền văn hóa lớn của các dân tộc, các quốc gia. Cũng là nơi còn lưu giữ vốn văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc của các dân tộc sinh sống trên địa bàn. 

Sau khi khai quật và nghiên cứu các di chỉ khảo cổ của Văn hóa Lung Leng ở Sa Thầy, Kon Tum từ năm 1999, 2001 các nhà khảo cổ học đã nhận định: Cư dân cổ Kon Tum thuộc giai đoạn đá mới muộn, tồn tại trong khung niên đại từ 4.000 đến 3.000 năm cách ngày nay, là lớp cư dân đông đúc nhất, phân bố rộng lớn trên mọi địa hình của cao nguyên, nhưng tập trung hơn cả là dọc các sông lớn Krông Pôkô và Đăk Bla, đã có đóng góp quan trọng hình thành văn hóa Sa Huỳnh và văn minh thời đại sắt sớm ở Trung Bộ và vùng cao nguyên sau này. Trong quá trình phát triển văn hóa, cư dân cổ Kon Tum không chỉ có mối quan hệ mật thiết với cư dân ven biển Trung Bộ và Đông Nam Bộ, mà còn có mối giao lưu nhất định với một số cư dân cùng thời ở Bắc Việt Nam, Lào và Campuchia. Cư dân Văn hóa Lung Leng Kon Tum là những người ở giai đoạn sớm đã biết trồng lúa, giai đoạn muộn đã biết đến đúc đồng và luyện sắt, có quan hệ mật thiết với cư dân văn hóa Biển Hồ ở cao nguyên PleiKu, các văn hóa Tiền Sa Huỳnh ở ven biển Trung Bộ Việt Nam và với cư dân văn hóa tiền sử Lào (Khảo cổ học tiền sử Kon Tum-2007). 


Vòng Xoang ngày hội của người Bana - Ảnh: Minh Đức 


Từ cái nôi văn hóa đa dạng và phong phú ấy, Kon Tum chứa đựng nhiều tầng bậc di sản truyền thống độc đáo truyền lại đến ngày nay, đã được nghiên cứu và công bố qua nhiều công trình khoa học xã hội nhân văn của các nhà nghiên cứu ở Trung ương và địa phương. Đó là những di sản vật thể và phi vật thể vô giá của 6 dân tộc bản địa cùng với người Kinh sinh tụ lâu đời, được thể hiện qua các thể loại: nghệ thuật diễn xướng dân gian, nhạc cụ dân tộc, dân ca dân vũ, điêu khắc, hoa văn, trang phục, kiến trúc, sử thi, truyện cổ dân gian... là những loại hình khắc họa sâu sắc về tình cảm con người trong mối quan hệ gia đình, cha con, anh em, chồng vợ, về tình yêu đôi lứa; mối quan hệ giữa con người với con người, cá nhân với cộng đồng; giữa con người với thiên nhiên, môi trường, muông thú; mối quan hệ giữa con người với lực lượng siêu nhiên, với thần linh (Yàng, thần), một xã hội đoàn kết cộng đồng... Các mối quan hệ phong phú và đa chiều ấy được thiết lập một cách chặt chẽ và thân thiện. Có rất nhiều phong tục, tập quán được phản ánh trong các di sản văn hóa cổ truyền, có thể nói cả một thế giới nghi lễ và phong tục gắn với mọi hoạt động của con người được miêu tả, thể hiện cụ thể, phác họa lên bức tranh toàn cảnh về đời sống xã hội của cư dân Kon Tum - Làng Hồ, hết sức sinh động và chân thực với đầy đủ cung bậc của cuộc sống, tình yêu thương con người, đến cái thiện, cái đẹp, phê phán cái xấu, cái ác, hướng đến ngày mai tươi sáng. 


Bờ kè sông Đăk Bla về đêm - Ảnh: Nguyễn Đang 


Làng Hồ - Kon Tum nay đã đổi thay về mọi mặt. Đã trở thành đô thị rực rỡ sắc màu, sầm uất và phồn thịnh. Dòng sông ĐăkBLa - dải lụa đào đầy huyền thoại ôm lấy thành phố - là chứng nhân quan trọng nhất về những sự đổi thay ấy trên vùng đất Kon Tum - Làng Hồ, sự đổi thay kỳ vĩ trên đôi bờ uốn lượn của mình, vẫn mải miết mang nặng phù sa chảy về phía Tây để bồi đắp cho sự sống của vùng đất lịch sử trăm năm tuổi. 

Trần Vĩnh

Biên Hòa có chợ Kỷ niệm

đăng 08:46 14-09-2013 bởi Pham Hoai Nhan

Biên Hòa có một cái chợ được gọi tên là chợ Kỷ niệm. Nghe cái tên kỷ niệm đầy tình tứ, lãng mạn này ta bất chợt liên tưởng đến chợ tìnhChắc rằng chợ kỷ niệm là nơi người ta đến để trao nhau những kỷ niệm, hay để hoài nhớ lại những kỷ niệm xưa, hoặc nếu ít lãng mạn hơn thì đây là nơi mua bán những đồ vật lưu niệm? 


Con đường đi ngang qua chợ là một đoạn đường dốc, và người ta gọi đó là dốc Kỷ niệm. Đây chính là con dốc mà Nguyễn Tất Nhiên nhắc đến không ít lần trong những bài thơ tình lãng mạn của ông, tiêu biểu là mấy câu trong bài Em hiền như ma soeur:


đưa em về dưới mưa

xe lăn đều lên dốc

chở tình nhau mệt nhọc


(khi Phạm Duy phổ nhạc thì đoạn này biến thành:


đưa em về dưới mưa

chiếc xe lăn dốc già


về ý thì không hay như lời thơ)


Dốc Kỷ niệm còn được gọi là dốc Ngô Quyền, vì nó đi ngang qua trường PTTH Ngô Quyền. Ngày xưa, Nguyễn Tất Nhiên học ở đây.


Ơ, thế nhưng không phải vì những bài thơ tình lãng mạn của Nguyễn Tất Nhiên mà con dốc này mang tên kỷ niệm, vì cái tên dốc kỷ niệm đã có rất lâu rồi, từ... trước khi Nguyễn Tất Nhiên ra đời kia!


Cái chợ cũng vậy, nó không hề có bất kỳ đặc điểm nào trong số những đặc điểm mà ta tưởng tượng ra như nêu ở trên. Đấy là một cái chợ nho nhỏ, nằm trên đường 30 tháng Tư, phường Trung Dũng, ở trung tâm thành phố Biên Hòa. Chẳng phải phiên chợ tình ở vùng cao, cũng chẳng phải chợ ở bến sông đong đầy kỷ niệm.


Vậy tại sao cái chợ (và con dốc nữa) lại mang tên là Kỷ niệm?


Lý do có vẻ hơi thiếu phần lãng mạn. Đó là cái chợ và con dốc này nằm gần một cái đài mà người dân thường gọi là Đài Kỷ niệmThay vì gọi là chợ gần đài Kỷ niệm thì người ta gọi là chợ Kỷ niệm cho gọn! Thay vì gọi là dốc đi ngang đài Kỷ niệm thì đọc nhanh là dốc Kỷ niệm!



Đài Kỷ niệm là công trình được chính quyền thuộc địa Pháp xây dựng năm 1923 với tên gọi “Đài kỷ niệm người Việt trận vong“. Công trình kiến trúc được mô phỏng theo kiểu ngọ môn Huế thời nhà Nguyễn do vợ chồng giáo sư Robert Balick và đội ngũ giáo viên, học sinh trường Bá nghệ Biên Hòa (tiền thân của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đồng Nai) thi công. 


Bệ chân đài được tôn cao so với bề mặt chung quanh. Hai trụ đá được chạm khắc với đường nét tinh tế. Trên thân của trụ đá có câu đối chữ Hán với nội dung:”Dũng sĩ trí thân phò Tổ quốc danh bi biểu trụ vạn cổ chấn lưu phương. Chinh hồn toàn tiết phân hương quan thu cúc xuân hoa truyền điệt tử” được thực hiện công phu bằng gốm với màu sắc hài hòa. Tấm bia đá khắc chữ Hán ghi tên những con người ở Biên Hòa đã bỏ mạng vì nước Pháp. Họ là những người dân thuộc địa bị bắt lính và chiến đấu trên những mặt trận xa quê hương mà thực dân Pháp chủ mưu. Bên chân hai trụ có hình tượng lân chầu bằng gốm. Bốn góc chân đài có hình ảnh của tượng rồng làm bằng gốm men xanh Biên Hòa tỏa xuất ra bốn hướng. 


Xin các bạn chú ý nhé: Đây là Đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong, nhưng là do người Pháp xây dựng, để tưởng niệm người Việt chết cho nước Pháp, chứ không phải cho những liệt sĩ Việt Nam hy sinh cho Tổ quốc của mình!


Đài Kỷ niệm đã được Nguyễn Ái Quốc nhắc đến trong Bản án chế độ thực dân Pháp như là một sự mị dân của chính quyền thực dân. Công trình đã được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1988. Hiện nay, đài Kỷ niệm đã được tôn tạo thành một công viên văn hóa giữa lòng thành phố Biên Hòa.



Thế là những ai giàu tâm hồn mơ mộng khi đọc tên kỷ niệm sẽ vỡ mộng mất thôi, vì ý nghĩa thật sự của nó chẳng có gì lãng mạn cả!


Vậy nếu bạn là khách phương xa tới Biên Hòa có nên ghé thăm dốc Kỷ niệm, chợ Kỷ niệm không?


Dốc Kỷ niệm thì có lẽ cũng nên đến để thấm hơn lời thơ của Nguyễn Tất Nhiên, nhưng phải đi bằng xe đạp và đèo ai đó kìa, chứ đi xe máy hay xe hơi thì... bó tay, làm sao cảm nhận được:


đưa em về dưới mưa

xe lăn đều lên dốc

chở tình nhau mệt nhọc


Còn chợ Kỷ niệm? Nó không có gì dính dáng đến cái tên Kỷ niệm, và là một cái chợ nhỏ, quá bình thường, ghé để làm gì nhỉ? À có, ghé vô ăn bánh xèo. Bánh xèo chợ Kỷ niệm nổi tiếng ngon lắm đó!


Phạm Hoài Nhân

Huyện Châu Thành, chợ Mới, chùa Hang

đăng 05:36 07-09-2013 bởi Pham Hoai Nhan

Huyện Châu Thành, chợ Mới, chùa Hang!


Có lẽ đó là 3 địa danh mà khi được hỏi người nghe sẽ ngớ ra không biết ở đâu. Không phải không biết vì đó là những nơi quá xa lạ mà là vì nó... nhiều quá xá, hổng biết hỏi cái nào!


Phong cảnh huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang


Đầu tiên là huyện Châu Thành. Dân quê Nam bộ thời xưa thường gọi nơi phố thị đông đúc là châu thành. Từ quê ra phố thì kêu là ra châu thành. Riết rồi thành quen, nơi đó được đặt tên là châu thành luôn. Ái dà, thế là có bao nhiêu phố thị thì có bấy nhiêu châu thành. Sau này chính quyền quản lý hành chánh đặt tên lại đàng hoàng, nên số nơi mang tên châu thành (chính thức) giảm xuống. Ấy vậy mà ở Việt Nam cũng còn tới 9 huyện mang tên Châu Thành thuộc 9 tỉnh khác nhau (tất cả đều ở miền Nam). Chúng nó là đây ạ:


  1. Huyện Châu Thành tỉnh An Giang
  2. Huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre
  3. Huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp
  4. Huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang
  5. Huyện Châu Thành tỉnh Kiên Giang
  6. Huyện Châu Thành tỉnh Long An
  7. Huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh
  8. Huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang
  9. Huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh.

Bản đồ hành chánh huyện Châu Thành tỉnh Sóc Trăng


Có lẽ chùa Hang là tên chùa xuất hiện nhiều nhất tại Việt Nam! Từ Bắc chí Nam đều có. Dễ hiểu thôi, người tu hành thường tìm nơi vắng vẻ hẻo lánh để tu tập, nên thường đến các hang động. Các hang ấy trờ thành chùa, và vì thế nên gọi là chùa Hang. Đây là tên dân gian, còn mỗi chùa đều có tên chính thức.


Tui lò mò sưu tập được ở Việt Nam có ít nhất là... 10 cái chùa Hang. Đó là chỉ xét các chùa tương đối nổi tiếng, chứ còn kể hết thì không biết bao nhiêu.

  1. Chùa Hang ở thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
  2. Chùa Hang ở chân núi Hương Nghiêm thuộc xóm Phúc Thọ, xã An Khang, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
  3. Chùa Hang tại làng Úc, xã Tân Lập, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
  4. Chùa Hang tại xã An Hải, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
  5. Chùa Hang tại thôn Hội Khánh, xã Mỹ Hoà, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
  6. Chùa Hang trên núi Chóp Dài, thuộc xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.
  7. Chùa Hang thuộc phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa.
  8. Chùa Hang thuộc xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
  9. Chùa Hang trên triền núi Sam, thuộc khóm Vĩnh Tây I, phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
  10. Chùa Hang thuộc địa bàn xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

Chùa Hang ở Hà Tiên, Kiên Giang. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


(Chi tiết về các chùa này xin xem tại: Chùa Hang. Có bao nhiêu chùa Hang?)


Còn Chợ Mới? Cái chợ nào mới xây thì kêu là... chợ mới! Miễn mới hơn cái cũ là có thể kêu chợ mới rồi! Hầu như địa phương nào cũng có chợ mới, thống kê và kể ra không xiết đâu. Bạn cứ thử xét lại quê mình coi, thế nào cũng có cái... Chợ mới (mặc dù có thể nó đã ra đời mấy chục năm rồi, chỉ tại chưa có cái chợ nào mới hơn nó!).


Cá biệt có 2 nơi, tên Chợ Mới trở thành tên huyện và tên thị trấn luôn. Đó là huyện Chợ Mới và thị trấn Chợ Mới ở tỉnh An Giang, huyện Chợ Mới và thị trấn Chợ Mới ở tỉnh Bắc Kạn.


Nói tới đây mới nhớ ở Biên Hòa có cây cầu Hóa An, được người dân gọi là Cầu Mới. Gọi là Cầu Mới vì nó mới được xây từ thập niên 60 của thế kỷ trước, mới có cỡ 50 năm hà! Cầu này đã sập 2 lần rồi và bây giờ đang... muốn sập, cho nên người ta đang xây chiếc cầu mới, dự kiến sẽ hoàn tất cuối năm nay. Người dân sẽ gọi chiếc cầu này là gì nhỉ? Là Cầu Mới Mới chớ là gì nữa!


Cầu Hóa An và cầu Hóa An mới đang thi công.


Phạm Hoài Nhân

Bụi đời Chợ Lớn, từ đâu mà có?

đăng 18:49 26-07-2013 bởi Pham Hoai Nhan

A ha, xin nói liền, bài này chả có liên quan gì tới phim Bụi đời Chợ Lớn hết, chỉ mượn tên để ăn theo, để câu view mà thôi. Cũng chả có liên quan gì tới bụi đời hết, nên đáng lẽ chỉ đặt tít là Chợ Lớn, từ đâu mà có? Nhưng có sá gì, thiếu cha gì bài báo ở trên mạng có cái tít tào lao đó mà!


Vậy thì Chợ Lớn, từ đâu mà có?


Câu trả lời là Chợ Lớn từ Biên Hòa mà có! Cụ thể là từ Cù lao Phố  ở Biên Hòa.


Bên ngoài chùa Ông, ở Cù lao Phố - Biên Hòa


Về con người: Năm 1679, Trần Thượng Xuyên cùng 3.000 tùy tùng  từ bên Tàu chạy qua Việt Nam, được chúa Nguyễn cho người đưa đến Biên Hòa. Tại đây ông xây dựng nên phố phường sầm uất, kinh doanh nhộn nhịp. Nơi này trở thành thương cảng, trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Đàng Trong, đến nỗi sách Tàu gọi là Nông Nại đại phố


Năm 1776 và 1777, quân Tây Sơn tràn đến Cù lao Phố tàn sát người Hoa đồng thời phá tan nát Đại Phố để trị tội dám ủng hộ Nguyễn Ánh, tiêu diệt đầu não kinh tế của nhà Nguyễn. Người Hoa bỏ chạy khỏi Cù lao Phố kéo về vùng đất sau này là Chợ Lớn.


Về công việc làm ăn: Người Hoa đi tới đâu là phát triển kinh doanh tới đó, nên họ kéo toàn bộ công việc làm ăn của họ từ Cù lao Phố tới Chợ Lớn. Nhà Nguyễn thì cần có hậu phương yểm trợ tiền của để chống quân Tây Sơn, nên ủng hộ họ hết mình. Vậy là công cuộc làm ăn của Chợ Lớn từ Cù lao Phố mà ra.


Về tên gọi: Đại Phố dịch nôm na ra tiếng Việt là gì? Là Chợ Lớn chớ còn gì nữa! Từ Nông Nại Đại phố ra đi, người Hoa vẫn giữ tên gọi cũ nơi hoạt động mua bán của mình, chỉ bỏ chữ Nông Nại (là Đồng Nai), giữ lại chữ đại phố, nhưng chuyển thành tiếng Việt.


Chứng cứ còn sờ sờ ở Cù lao Phố, Biên Hòa hiện giờ là ngôi chùa Ông, tên gọi chính thức là Thất phủ cổ miếu. Nhớ cố hương, năm 1684 cộng đồng người Hoa thuộc 7 phủ đã dựng nên ngôi miếu thờ Quan công (tức là Ông, khiến sau này người Việt quen gọi là chùa Ông), gọi là ngôi miếu của bảy phủ (Thất phủ cổ miếu). Đây vừa là nơi thờ tự, vừa là hội quán để cộng đồng người Hoa cùng đến sinh hoạt, tương trợ nhau.


Cho đến tận bây giờ, vào dịp lễ hội, người Hoa ở Chợ Lớn vẫn nườm nượp về đây đông nghẹt cả mạn sông Đồng Nai để cúng lễ!


Lễ hội chùa Ông lần I, năm 2013


Quay lại một chút với Bụi đời Chợ Lớn để khỏi mang tiếng là đặt tít tào lao. Với dẫn dắt như trên, có lẽ xin gợi ý với đạo diễn Charlie Nguyễn như sau:


Thay vì làm phim Bụi đời Chợ Lớn, hãy làm phim Bụi đời Cù lao Phố với bối cảnh là cuối thế kỷ 18. Hai phe uýnh nhau là nhà Nguyễn và Tây Sơn. Đâu có bôi bác xã hội hiện đại, đâu có bỏ qua chính quyền XHCN đâu nà. Phim được chiếu là cái chắc, há?



Phạm Hoài Nhân

Ninh Kiều ở Cần Thơ hay ở... Hà Nội?

đăng 02:38 27-05-2013 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:39 27-05-2013 ]

Hồi còn nhỏ, tôi chưa được đi nhiều để biết đó biết đây nên chưa có dịp đến và biết bến Ninh Kiều ở Cần Thơ. Thế nhưng tôi lại biết đến địa danh Ninh Kiều! Và tôi nhớ như in rằng đó là một nơi ở gần thành Đông Quan (tức là Hà Nội bây giờ), không phải thông qua tài liệu du lịch mà qua bài học... lịch sử!


Trận Ninh Kiều là một trận thắng lẫy lừng của nghĩa quân Lam Sơn diễn ra năm 1426, còn gọi là trận Chúc Động. Ninh Kiều là chiếc cầu bắc qua sông Ninh Giang (sông Đáy), khi quân Minh tháo chạy qua sông, nghĩa quân Lam Sơn đã tập kích và chặt đứt cầu, quân Minh chết đuối làm nghẽn cả một khúc sông. Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi có nhắc đến sự kiện này trong câu:


Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm


Ninh Kiều ngày ấy nay là thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.


Sau này, nghe bài Chiếc áo bà ba rất mùi mẫn của Trần Thiện Thanh:


Về bến Ninh Kiều thấy chàng đợi người yêu

Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba

Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm

Qua bến bắc Cần Thơ


Tôi đâm ra hoang mang quá, không biết mình có nhớ lộn không, bởi vì với hình ảnh 


Chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm

Thấp thoáng con xuồng bé nhỏ mong manh

Nón lá đổ nghiêng tóc dài con nước đổ

Hậu Giang ơi, em vẫn đẹp ngàn đời


thì đâu có thấy hình ảnh đằng đằng sát khí, máu chảy thành sông của trận đánh năm xưa đâu? Ở đây nếu có chết thì là chết mê chết mệt ấy!


Lần đầu đến Ninh Kiều, năm 2001


Tôi đến bến Ninh Kiều lần đầu tiên năm 2001, và sau đó còn đến đây rất nhiều lần. Chắc chắn đây không phải là nơi diễn ra trận đánh năm xưa rồi, nhưng vì sao lại có sự trùng tên? Ngẫu nhiên hay cố ý? Và tên bến Ninh Kiều có tự bao giờ?


Website của Thành đoàn TPHCM kể rằng: (tham khảo tại đây)


Năm 1957, tỉnh trưởng Phong Dinh (tức Cần Thơ) là ông Đỗ văn Chước đã cho lập nơi bến sông Cần Thơ một công viên cây kiểng và bến dạo mát. Sau đó, theo gợi ý của ông Ngô văn Tâm là trưởng ty nông nghiệp lúc ấy, ông Chước đã đệ trình lên tổng thống Ngô Đình Diệm xin đặt tên công viên và bến là Ninh Kiều. Tên Ninh Kiều được lấy theo địa danh lịch sử thời chống quân Minh như đã kể ở trên.


Ngày 04/08/1958, công bố Nghị định đặt tên cho bến và công viên là Ninh Kiều.


Người ta cho rằng bức tường với chữ Bến Ninh Kiều này được xây nên tại thời điểm "khai trương" tên bến Ninh Kiều


Không hiểu vì sao người xưa lại liên tưởng đến trận đánh Ninh Kiều khi đặt tên cho một bến sông thơ mộng của Cần Thơ, chỉ biết rằng cái tên Ninh Kiều lịch sử máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm đã nhạt nhòa mất rồi, để bây giờ nhắc đến Ninh Kiều ta chỉ còn thấy bảng lảng say mơ với câu hát:



Về bến Ninh Kiều, thấy chàng đợi người yêu


Bến Ninh Kiều 2003 - Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Phạm Hoài Nhân

Mã Pí Lèng hay Máo Pì Lèng?

đăng 00:01 27-02-2013 bởi Nhan Pham

“Cái mỏm này gọi là Mã Pí Lèng nhưng dân Mông chúng tôi từ xưa tới nay vẫn gọi là Máo Pì Lèng”, cụ Vương lý giải tên gọi một địa danh nổi tiếng ở đất Hà Giang. 


Xong việc ở Trạm Biên phòng, chúng tôi về nghỉ ở dinh thự của vua Mèo xã Sà Phìn (huyện Đồng Văn, Hà Giang) và ăn Tết với con cháu cụ Vương. Sớm 27 tháng Chạp thiếu, tôi lên đường về Hà Nội. Trời ướt sũng sương. Con đường đá không tên gồ gề toàn ổ trâu, ổ voi chen đá hộc trơn nhẫy từ Sà Phìn đi Đồng Văn. Già nửa buổi sáng chúng tôi mới tới Mã Pí Lèng trên đất Mèo Vạc. Bất chợt trời hứng chí hửng lên le lói nắng. Đây là một cơ hội hiếm có vào mùa này. Cụ Vương bảo tài Dự dừng xe ''cho tụi nó xem sông Nho Quế''. Tôi và Lê Vui - chuyên viên Vụ Tuyên truyền Ủy ban Dân tộc nhảy khỏi xe, lom khom ra mép vực nhòm xuống sông. Một vệt ngoằn nghèo phản chiếu từ mặt nước hơi ánh lên như dải lụa xanh lơ ai đó vô tình đánh rơi giữa hai vách núi thăm thẳm vẫn còn đang mờ sương. 

Khi đã yên vị trên xe, cụ Vương bảo: ''Cái mỏm này gọi là Mã Pí Lèng nhưng dân Mông chúng tôi từ xưa tới nay vẫn gọi là Máo Pì Lèng''. Tôi và Lê Vui lại ngớ ra. Vậy ra hàng trăm bài báo, bài viết về địa danh nổi tiếng này lẽ nào sai? Tôi rón rén hỏi cụ: ''Vậy Mã Pí Lèng có nghĩa gì thưa cụ?''. Cụ thủng thẳng mà rằng: Theo tiếng Mông nó là sống mũi con ngựa. Nhưng không phải Pí mà là Pì. Song như vậy vẫn sai. Tên của nó chính xác là Máo Pì Lèng-tức sống mũi con mèo. 



Máo Pì Lèng nằm ở gần trung độ của con đường có tên là Hạnh Phúc từ Đồng Văn đi Mèo Vạc dài 26 km. Từ đây xuống Mèo Vạc còn hơn 12km một chút. Con đường khởi công vào ngày 10/9/1959, mất gần 6 năm mới hoàn thành (15/6/1965). Gần 2 triệu lượt thanh niên trai tráng của 16 dân tộc anh em từ Cao Bắc Lạng, Hà Tuyên Thái, Hải Hưng, Nam Định... với gần 3 triệu ngày công đục khoét, phá gần 3 triệu mét khối đá hoàn toàn bằng sức người và đôi tay rớm máu. 

Điểm Máo Pì Lèng cao như ngửi thấy trời dựng đứng, thòi ra một dọc đá như sống mũi con mèo đang nhòm xuống sông Nho Quế ngửi rình cá. Để chinh phục đỉnh cao này, những người dũng cảm nhất đã được lựa chọn vào đội dũng cơ. Dây buộc ngang lưng treo mình trên vách đá dựng đứng trong cái nóng như đổ lửa từ hẻm núi phun ra. Cả một khối núi sừng sững, đặc cứng mất bao công sức mới khoét được một lỗ mìn. Vậy mà cho mìn nổ cũng chỉ văng ra được một mảnh đá chưa bằng chiếc chảo gang của người Mông. Riêng điểm đột phá khẩu Máo Pì Lèng đã mất 11 tháng và hàng chục người đã thiệt mạng. Để rồi có một ngày hai cánh quân ở hai đầu con đường ôm nhau trong nước mắt... 



Đợt đi chơi chợ tình Khau Vai (27/3/2012), mấy anh chị em dừng chân nghỉ ở quán nước đỉnh Máo Pì Lèng. Tôi tranh thủ chuyện với già Mông gần 70 tuổi ra chơi với con là chủ quán nước này. Tôi rụt rè hỏi: ''Cháu có nghe người thì gọi nơi này là Mã Pí Lèng, người thì bảo là Máo Pì Lèng. Ai là người gọi đúng thưa cụ?''. ''Tao chẳng biết ai đúng, ai sai. Chỉ biết từ thời các cụ của họ tao đến nay dân ở đây vẫn gọi là Máo Pì Lèng'', cụ đáp. Vậy là có thêm một nhân chứng cho tôi thêm sự tin cậy vào câu chuyện của cụ Vương. 

Tôi có 15 năm công tác, làm việc với cụ Vương, học được nhiều ở cụ nhiều điều, mở rộng được nhiều kiến thức hiểu biết ngoài sách, vở. 


Có lần cụ bảo: ''Ở cái cơ quan này nói chuyện với mày tao thấy được. Mày chịu nghe, chịu nhớ, chịu ghi chép. Tao gần hết vốn với mày rồi đấy. Đến mức mày biết cả mẹo vào nhà người Mông khi họ treo cành lá cấm trước cửa. Ai vào sẽ chém chết. Mày thành chuyên gia Mông rồi đấy!'' 



Thú thực, trong những năm công tác cùng cụ, tôi có viết kha khá các bài báo về người Mông, về văn hoá, phong tục tập quán, về thiết chế xã hội dòng họ (gọi là Xênh) khép kín, về đời sống, về xoá đói giảm nghèo, và tôi còn làm cả sách, làm phim về vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Mỗi lần có nhuận bút, tôi lại mua tút thuốc lá và hộp bánh ngon biếu cụ. Mới đấy mà cụ đã thành người thiên cổ được gần 4 năm. Viết loạt bài này thâm tâm tôi như một sự trả ơn cụ. Mong cụ thanh thản dưới suối vàng và yên tâm rằng những điều cụ ''lăn tăn'' sẽ có ngày được mọi người biết tới... 

Đinh Đức Cần


--- Tổng hợp các thông tin về văn hóa và du lịch Việt Nam tại www.amazingvietnam.vn ---

Con kênh biên phòng thời Nguyễn

đăng 02:19 03-02-2013 bởi Nhan Pham

Trải dài qua địa phận 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang, Vĩnh Tế là con kênh đào dài nhất mang ý nghĩa và tầm nhìn chiến lược do nhà Nguyễn thực hiện từ thời mở cõi mà đến nay vẫn còn giá trị.


Tạm hoãn nhiều lần


Khởi đầu tại ngã ba tiếp giáp sông Châu Đốc thuộc xã Vĩnh Ngươn, TX.Châu Đốc (An Giang), kênh Vĩnh Tế có chiều dài gần 90 km chạy song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia qua các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang) rồi nối vào sông Giang Thành, TX.Hà Tiên (Kiên Giang) và đổ ra biển.



Tại ngã ba đầu nguồn cặp bờ sông Châu Đốc có một ngôi đình xưa nằm cạnh đường Tây Xuyên - con đường nhỏ chạy ra biên giới - gọi là đình Vĩnh Ngươn, được trùng tu vào năm 1929. Một cụ già ở địa phương cho biết ngày cúng Kỳ Yên vào 15, 16 tháng chạp hằng năm đều có tế quan Thoại Ngọc Hầu. Theo Đại Nam thực lục, địa điểm này là nơi khởi công đào kênh Vĩnh Tế. Mục đích của việc đào kênh là “Vua thấy Vĩnh Thanh và Hà Tiên tiếp giáp với Chân Lạp, việc công tư đi lại, trước không có đường thủy, bàn muốn nhân sông Châu Đốc mà đào cho thông suốt”.



Bấy giờ, vua Gia Long xuống dụ cho thành Gia Định tiến hành đo đạc tính từ phía tây đồn Châu Đốc, sai Trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thoại và Chưởng cơ Phan Văn Tuyên đốc suất 5.500 người gồm dân phu và binh dân đồn Oai Viễn; Đồng Phù (quan nước Chân Lạp) quản suất dân Chân Lạp 5.000 người và tháng 12.1819 khởi công đào. Đại Nam thực lục chính biên chép: “Tháng 9 năm 1819 vét đào đường sông Châu Đốc thông đến Hà Tiên, cho tên là sông Vĩnh Tế”.


Tuy nhiên, công trình này từ lúc khởi công đến khi hoàn thành nhiều lần phải tạm ngưng vì lý do khác nhau. Lần thứ nhất vào tháng 3 năm Canh Thìn (1820), khi vua Minh Mạng mới lên ngôi, thấy việc đào kênh đã tròn một năm, người người khó nhọc, nên ra dụ tạm hoãn và cấp tiền, vải cho người chết, cấp thuốc men cho người đau ốm.


Đến tháng giêng năm 1821, vua lại hoãn việc đào kênh. Bấy giờ vùng Hà Tiên, Châu Đốc vừa xảy ra nạn dịch lớn, vua muốn để cho dân nghỉ ngơi. Tháng 10.1822, vua Minh Mạng thấy công việc đào kênh cần phải khẩn trương hơn, nên ban dụ nhắc nhở. Lần này, Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt phát hơn 39.000 binh dân ở thành và các trấn Vĩnh Thanh, Định Tường, đồn Oai Viễn, cùng hơn 16.000 người Chân Lạp chia làm ba phiên, quyết tâm đào, kế hoạch đến đầu mùa hạ năm sau thì xong.


Tháng 2.1823, Tổng trấn Lê Văn Duyệt nghe tin ở Hưng Hóa có giặc bèn dâng sớ xin hoãn. Lần này vua bảo: “Không lo đến việc miền Bắc nữa, khanh nên phát binh dân vét đào sông ấy để xong công việc. Nếu để mất cơ hội ấy thì khó bảo đảm kỳ sau, mà nước Chân Lạp có thể dòm ngó chính lệnh của ta”. Chưa được bao lâu thì quan Tổng trấn Lê Văn Duyệt bị bệnh, vua sai Phó tổng trấn Trương Tấn Bửu làm thay. Chỉ được vài tháng vua lại ra lệnh hoãn, vì thời tiết nóng bức. Lúc này kênh Vĩnh Tế đã hoàn thành hơn 10.500 trượng, chỉ còn hơn 1.700 trượng.

Tháng 2.1824, kênh Vĩnh Tế được lệnh đào tiếp 1.700 trượng còn lại. Bấy giờ Phó tổng trấn Trần Văn Năng xin để lại binh dân hai trấn Phiên An, Biên Hòa để đào đá xây thành, nhưng vua Minh Mạng không đồng ý và ra chỉ dụ: “Việc xây dựng năm nay chưa tiện, sẽ đợi sang năm. Còn như sông này, liền với tân cương, rất quan hệ đến việc biên phòng, so với việc xây thành đằng nào cần hơn?”. Với quyết tâm của nhà vua, đến tháng 5 năm Giáp Thân (1824) thì kênh Vĩnh Tế hoàn thành.


Dựng bia ghi công


Khi công trình hoàn thành, vua Minh Mạng nói rằng đào con sông ấy thực là lợi ích muôn năm vô cùng về sau, bèn sai Hữu ty lo việc dựng bia ghi công, đồng thời ra lệnh ban thưởng trọng hậu cho Thoại Ngọc Hầu cùng các quan có công và quốc vương Chân Lạp.


Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại sinh năm 1761, là con ông Nguyễn Văn Lượng và bà Nguyễn Thị Tiết. Ông Lượng người thôn An Hải, H.Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Bà Tiết là con ông Nguyễn Khắc Tuân và bà Phạm Thị Thấy ở cù lao Dài (Vĩnh Long). Giả thuyết, Nguyễn Văn Thoại có thể được sinh ra tại Quảng Nam. Sau khi cha mất, ông theo mẹ vào Nam lập nghiệp. Cũng có thể ông Lượng vào Nam lập nghiệp, lấy vợ và sinh con tại cù lao Dài, sau về quê Quảng Nam và mất ở đó. Theo tư liệu của nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường thì bà Châu Thị Vĩnh Tế (phu nhân của Thoại Ngọc Hầu) là cháu gái ông Châu Vĩnh Huy và bà Đỗ Thị Toán, vào cuối thế kỷ 18 đã đến lập nghiệp tại thôn Thái Bình (nay thuộc xã Thanh Bình, H.Vũng Liêm, Vĩnh Long). Ông Châu Vĩnh Huy là người có công xây dựng đình chùa, được tôn Hậu hiền. Còn họ Nguyễn của Thoại Ngọc Hầu đến làng này muộn hơn.


Bia Vĩnh Tế dựng tại núi Sam vào mùa thu năm Mậu Tý (1828), chép việc lập làng, mở ruộng di dân, việc vua lấy tên Thoại Ngọc Hầu phu nhân đặt tên cho kênh đào. Nhưng vì trơ trọi giữa trời lâu năm, chữ đã mòn, mặt bia đã bị nứt bể nhiều chỗ, nên các nhà nghiên cứu không đọc được nội dung hoàn chỉnh của văn bia. Ngoài ra, theo Nguyễn Văn Hầu (trong bài viết Bài Tế nghĩa trủng văn do Thoại Ngọc Hầu chủ tế cô hồn tử sĩ sau ngày đào kênh Vĩnh Tế, đăng trên tập san Sử Địa số 17-18 năm 1970) còn có bia “Vĩnh Tế sơn lộ kiều lương” cũng dựng tại núi Sam “nhưng hiện đã thất lạc”. Năm 1950, tác giả bài viết này còn thấy vài mảnh đá to nghi ngờ là bia bị vỡ.


Ngoài việc dựng bia, vua còn ra lệnh tổ chức lễ tế các binh lính và sưu dân đã bỏ mình trong công cuộc đào kênh và soạn Tế nghĩa trủng văn, đọc trong buổi lễ. Tế nghĩa trủng văn còn gọi là bài “Thừa đế lịnh, tế cô hồn Vĩnh Tế tân kinh”. Vào dịp lễ tế, thừa lệnh vua, Thoại Ngọc Hầu đã làm một cuộc cải táng tập thể, trang nghiêm và quy mô, nhưng chưa biết địa điểm hành lễ. Tác giả Nguyễn Văn Hầu căn cứ vào câu cuối bài văn tế “Sam sơn chi tây hề khả dĩ toại khu trì” và đoán rằng địa điểm hành lễ có lẽ là bên triền phía tây núi Sam, cạnh lăng mộ Thoại Ngọc Hầu, chỗ có cắm bia “Đặc tứ Vĩnh Sơn bia ký” và cũng là nơi có nhiều nấm mộ. Cho đến nay, việc tế lễ các vong hồn bỏ mạng trong cuộc đào kênh vẫn còn được duy trì ở địa phương, người ta gọi đó là lễ “Tống gió”.


Hoàng Phương - Ngọc Phan

1-10 of 18