Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Quận có tên đường hai vị hoàng tử Quận 8 của Sài Gòn có hình thế khá đặc biệt, nằm giữa xung quanh kênh rạch. Những câu chuyện về một vùng đất xưa kia “trên bến dưới thuyền ...
    Được đăng 03:17, 20 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Núi Dục Thúy, ngôi nhà bảo tàng thiên tạo lưu giữ văn thơ I. Dục Thúy – Núi Lịch sử.Đến thành phố Ninh Bình, du khách sẽ ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kỳ thú của hòn núi đá nghênh bóng chênh vênh, lặng ...
    Được đăng 22:56, 17 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chiềng và Xiềng có nghĩa gì trong địa danh vùng người Thái Đến vùng người Thái, ta thường thấy những tên xã, tên mường được đặt bắt đầu bằng chữ Chiềng, như Chiềng Mai, Chiềng Chung, Chiềng Pấc… Cũng có nơi gọi ...
    Được đăng 21:20, 2 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Về địa danh Phan Rang – Tháp Chàm Khi tiếp cận địa danh Phan Rang – Tháp Chàm, tên hành chính của thành phố thuộc tỉnh Ninh Thuận hiện nay, nhiều người chưa rõ vì sao có cách ghép ...
    Được đăng 03:19, 22 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tên gọi tỉnh Hải Dương có từ bao giờ? Ngày nay, ít người biết tên gọi “Hải Dương”, “tỉnh Hải Dương” có từ bao giờ. Nhà sử học Tăng Bá Hoành và những tài liệu chứng minh tên gọi ...
    Được đăng 03:01, 22 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Quận có tên đường hai vị hoàng tử

đăng 04:08, 19 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:17, 20 thg 5, 2020 ]

Quận 8 của Sài Gòn có hình thế khá đặc biệt, nằm giữa xung quanh kênh rạch. Những câu chuyện về một vùng đất xưa kia “trên bến dưới thuyền” tạo nên nét riêng biệt, vốn được mệnh danh là miền đất 5 cù lao.

Kênh Tàu Hủ nhìn từ phía đại lộ Võ Văn Kiệt 


Sự trùng hợp thú vị 

Từ những năm cuối của thập niên 1990, tôi có quen biết với vài người làm công tác văn hóa thuộc Trung tâm văn hóa quận 8. Thỉnh thoảng lại đưa những bản tin ngắn về hoạt động văn hóa của miệt đất này, nên thường chú ý đến đặc điểm lịch sử những con đường, có nơi mang tên rất dân dã, lại có nơi mang tên hoàng tộc. Đặc biệt là sự hiện diện của hai vị hoàng tử triều Nguyễn, là Tùng Thiện vương và Tuy Lý vương, được đặt tên cho hai con đường nằm gần một nơi khá tấp nập, là chợ Xóm Củi, ngôi chợ truyền thống nổi tiếng. Sự ngẫu nhiên về cuộc đời của hai vị ấy khiến tôi cố công tìm hiểu.

Cả hai hoàng tử đều là con của vua Minh Mạng, nhưng khác mẹ. Một người là Nguyễn Phúc Miên Thẩm (tước Tùng Thiện vương) và một người là Nguyễn Phúc Miên Trinh (tước Tuy Lý vương). Theo nhiều nguồn sử liệu, đặc biệt là hai học giả Trần Trọng Kim và Vương Hồng Sển thì thái tử Đảm (sau này là Đức Thánh Tổ Minh Mạng) được sinh hạ năm 1791 ở hậu liêu của ngôi chùa Khải Tường ở làng Tân Lộc (vị trí nay thuộc khu vực đầu đường Võ Văn Tần, Q.3, TP.HCM), giữa lúc còn chiến tranh ly loạn giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn. Ngôi chùa ấy, sau đó trong các cuộc chiến kháng Pháp của quân dân Nam bộ, đã bị phá hủy. 

Năm trước khi vua Minh Mạng lên ngôi (1819), vị hoàng tử thứ 10 là Miên Thẩm được hạ sinh. Năm kế tiếp, đúng vào lúc nhà vua bước lên ngai vàng (1820), hoàng tử thứ 11 là Miên Trinh chào đời. 

Có những sự trùng hợp giữa hai nhân vật này khá thú vị. Thứ nhất, họ đều là những nhà thơ trụ cột của Mạc Vân thi xã đầu thế kỷ 19 tại Huế. Thứ hai, họ đều được bổ nhiệm chức Tôn Nhân Phủ của triều Nguyễn trong cùng một năm, nhưng một người là tả Tôn Nhân Phủ và một người là hữu Tôn Nhân Phủ. Và thứ ba, cả hai vị đều được đặt tên đường cạnh nhau ở Q.8 cho đến bây giờ! 

Kênh Tàu Hủ ở Q.8 nhìn từ cầu Chà Và - ẢNH: TRẦN THANH BÌNH 


Những câu chuyện ấy trở lại khi một ngày tôi đi theo đường Nguyễn Biểu (Q.5) để băng lên cầu Chữ Y về hướng Q.8, để về đường Hưng Phú nhộn nhịp. Những quanh co kênh rạch khiến tôi lan man nhớ đến một nhân vật đáng kính. Gần 200 năm trước, quan đại thần Trương Đăng Quế (thầy học của vua Thiệu Trị, và là nhạc phụ của Tùng Thiện vương Miên Thẩm) vào kinh lý xứ Nam kỳ để thiết lập một hệ thống địa bạ cho toàn cõi. Để rồi sau này, khi cần đạc điền thống kê hoặc phân xử các tranh chấp, bộ sổ địa bạ ấy vẫn được lưu giữ sử dụng rất hiệu quả và chính xác, hơn cả trăm năm sau còn được đem ra tham khảo. Bây giờ tên vị quan đại thần này cũng được đặt tên cho một con đường ở Q.Gò Vấp. 

Cầu chà, chợ củi 

Sở dĩ Q.8 được xem là vùng đất những cù lao, vì hình dáng thon dài, nằm lọt thỏm giữa các sông và kênh rạch chằng chịt như sông Cần Giuộc, kênh Tàu Hủ, kênh Lò Gốm, kênh Ruột Ngựa, rạch Ụ Cây và rạch Ông Lớn nằm ở mé giáp Q.7... Bên trái quận có 5 dải đất nhỏ giống như các cù lao, còn bên phải là một doi đất to dần về phía đông, hiện là trung tâm hành chính của quận. Trên trục đường Dương Quang Đông, là nơi tập hợp trụ sở nhiều cơ quan, kéo dài về phía nam là H.Bình Chánh, cuối dải đất ấy là chợ đầu mối Bình Điền. 

Kênh Tàu Hủ ở Q.8 nhìn từ cầu Chà Và - ẢNH: TRẦN THANH BÌNH 


Dài dòng một chút về địa thế, để thấy sinh hoạt lâu đời của cư dân vùng này gắn liền với nhiều bến sông, cũng là điều dễ hiểu. Đó là bến Than, bến Củi, bến Mễ Cốc và có địa danh các xóm liên quan đến từng loại hàng mà họ mua bán. 

Q.8 ngày nay (vào trước năm 1975 bao gồm diện tích 2 quận 7 và 8 với 11 phường đều có tên chữ như Rạch Ông, Xóm Củi, Bến Đá…), từ năm 1987 đến nay giữ ổn định 16 phường là đơn vị hành chính trực thuộc, được đánh số từ 1 đến 16. Địa hình và địa mạo Q.8 được hình thành bởi sự chia cắt của hơn 20 sông, kênh và rạch. Quận có diện tích tự nhiên 19,18 km2 (tương đương với Q. Gò Vấp là 19,74 km2), dân số 424.000 người với mật độ 22.200 người/km2

Như xóm Củi chuyên nghề bán củi, xóm Than chuyên nghề bán than, nay đều đã trở thành phường phố. Ở đoạn nối thông từ đường Hải Thượng Lãn Ông của Q.5 sang phía chợ Xóm Củi của Q.8 là chiếc cầu có tên Chà Và bắc qua kênh Tàu Hủ. Tìm hiểu mới biết, vào giữa thế kỷ 19 dưới triều Nguyễn có nhiều thương nhân người Ấn Độ đến làm ăn tại Sài Gòn. Lúc ấy, người ta thường gọi người Ấn (hoặc một số chủng dân có sắc da ngăm đen như người Indonesia, người Mã Lai…) là người Chà Và. Nhưng nguồn gốc của Chà Và lại xuất phát từ tên đảo Java ở Indonesia, được đọc trại ra, rồi chỉ luôn những người ngoại quốc đến Việt Nam, có màu da ngăm đen như người Ấn. Những con phố của người Ấn quần cư ở Q.8 một thời thường mở các cửa tiệm vải vóc tơ lụa, là mặt hàng kinh doanh chủ yếu của họ. Theo thời gian, chiếc cầu được lấy luôn tên Chà Và, do người Ấn ban đầu đã đóng góp tiền xây dựng ra nó, nhằm để đi lại thông thương qua kênh rạch. 

Nhớ lại, cách đây 23 năm, tôi có dịp đi miền Tây để thực hiện phóng sự Hiểm họa ở vùng đất lở về xứ lụa Tân Châu (An Giang), phản ánh nỗi trăn trở lo lắng của người dân cho miền đất thơ mộng nằm ven thượng nguồn sông Tiền, trước nguy cơ bị “xóa sổ” do bị xói lở. Vùng này vốn nổi tiếng về nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa. Bài báo đăng trên Thanh Niên ngày 24.9.1997, đến nay vẫn còn lưu giữ như một kỷ niệm. Lúc ấy hỏi chuyện, nghe vài vị cao niên kể rằng nhiều người Ấn ở Q.8, Sài Gòn thời trước đã tìm về đây mua tơ lụa, đặc biệt là loại lãnh Mỹ A, một sản phẩm làng nghề độc đáo của miệt Tân Châu, mà họ rất chuộng. Sau năm 1945, nhiều thương nhân người Ấn đã trở về nước. Tính ra, những “giao dịch lụa là” ấy lùi về dĩ vãng cũng đã hơn 50 - 60 năm rồi! 

Cầu Chà Và Q.8 - ẢNH: TRẦN THANH BÌNH 


Kênh Tàu Hủ nhìn từ phía đại lộ Võ Văn Kiệt - ẢNH: TRẦN THANH BÌNH 


Cho đến nay, dù không còn mua bán ở các bến thuyền nhưng những địa danh gắn liền với đủ loại hàng hóa trao đổi xưa kia vẫn còn ở Q.8 như chợ Xóm Củi, đường Xóm Củi hoặc bến Mễ Cốc… Riêng ngôi chợ một thời nổi tiếng với sự tập trung sinh hoạt xa hoa ở các tầng lầu phía trên cách đây hơn 25 năm, vẫn tồn tại như một quá vãng. Bất giác, hình dung rằng một thời nơi đây, đã từng có hàng chục nhà máy xay lúa, ghe thương hồ rộn ràng từ miền Tây lên trao đổi lắm thứ, thường cập các bến ở Q.8 để giao thương. 

Một ngày đẹp trời, khi chụp vài tấm hình, tôi chợt thấy kênh Tàu Hủ có lẽ đã hẹp dòng hơn xưa, nhưng đại lộ Võ Văn Kiệt chạy dọc bên kênh vẫn ngược xuôi người xe, thênh thang trong nắng! 

Tôn Nhân Phủ 

Năm Minh Mạng thứ 17 (Bính Thân - 1836), vua đặt ra Tôn Nhân Phủ và đặt quan chức để coi mọi việc trong họ nhà vua. Nhà vua thờ tiên tổ có 7 miếu: những miếu phía tả gọi là chiêu, những miếu phía hữu gọi là mục. Con cháu các dòng chiêu hay mục đều phải phân biệt chi nào ra chi ấy. Đặt tôn nhân lệnh một người, tả hữu tôn chính hai người, tả hữu tôn nhân hai người, để coi việc hoàng tộc và việc phân biệt tự hàng chiêu hàng mục, ghi chép hàng lượt người thân người sơ, việc nuôi nấng và cấp tước lộc cho mọi người trong hoàng tộc. Lại đặt tả hữu tôn khanh hai người, tả hữu tá lý hai người, để coi thứ trật mọi người trong tôn thất và việc cấp dưỡng cho kẻ cô ấu, giúp đỡ những việc tang hôn… (theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, bản đặc biệt - NXB Kim Đồng, trang 433 - 434)

Trần Thanh Bình

Núi Dục Thúy, ngôi nhà bảo tàng thiên tạo lưu giữ văn thơ

đăng 22:56, 17 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

I. Dục Thúy – Núi Lịch sử.

Đến thành phố Ninh Bình, du khách sẽ ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kỳ thú của hòn núi đá nghênh bóng chênh vênh, lặng lẽ soi mình bên bờ giữa ngã ba sông Đáy - sông Vân. Đó là núi Dục Thuý (núi Non Nước), tạo nên vẻ huyền diệu, sơn thuỷ hữu tình của thành phố.

Núi có từ lâu lắm, bể dâu thay đổi, biển lùi xa và núi từ mặt đất trội lên, lặn ngụp thách thức với thời gian, như một nghệ sĩ tuyệt vời, thiên nhiên đã kiến tạo nên. Nói như Ngô Thì Sĩ, bốn chữ Hán lớn khắc ở vách núi “Vũ Trụ Dĩ Lai”, từ khi có vũ trụ, có trời đất là có núi này và bốn chữ Hán nữa cũng khắc ở vách núi, “Y Nhiên Thiên Cổ” (muôn đời vẫn thế) của Nguyễn Hữu Tường. 

Núi cao khoảng 25 mét, đỉnh tương đối bằng phẳng, phía trước nhô cao hơn phía sau. Phía bắc và phía đông chân núi, lưỡi sóng đã liếm mòn quanh, bào gọt, khoét sâu hõm vào, làm cho thế núi muốn nhô ra để soi trọn mình trên tấm gương sông Đáy, tạo thành một mái hiên hình vòm cuốn, đổ bóng, che rợp một khoảng sông có chiều dài 15 mét. Dưới bóng rợp ngàn đời đó, nước sông ngả màu xanh đen mỗi khi mặt trời xế bóng hay lung linh bảy sắc cầu vồng khi bình minh chiếu sáng, những chiếc tàu thuyền lớn nhỏ chở vật liệu xây dựng tấp nập nghỉ ngơi, yên tĩnh đến xao lòng.

Chính vì vậy, có một thời, không rõ ai “đã viết một chữ “Xảo” (khéo) thật lớn ở phía ngoài cửa động (động Tam Phủ), nét bút thực cứng cáp, không thấy đề năm tháng, họ tên”, “Núi Dục Thuý chỉ duy mình là “khéo” cho nên nó là của chung để mọi người trong thiên hạ thưởng ngoạn” (Vũ Phạm Khải), với hàm ý thiên nhiên tuyệt đẹp.

Phía Bắc núi, nước biển hàng triệu năm đẽo gọt làm cho vách đá nhẵn lì như mài và mòn lõm chạy sâu vào làm thành động, gọi là động Tam Phủ (Thiên Phủ, Địa Phủ, Thuỷ Phủ). Đó là những kỳ công tuyệt tác của tạo hoá mà con người không thể nào làm được.

Cũng ở sườn núi phía Bắc, tảng đá gần dòng nước, có khắc ba chữ Hán: Khán Giao Đình (Đình ngồi xem giao long) của vua Lê Hiển Tông (1740 – 1786) được chạm khắc vào năm 1782. Phía tây nam chân núi có đền thờ Sơn Tinh và Thuỷ Tinh. Hiện nay đền Trương Hán Siêu ở đó.

Trên các vách núi, nhũ đá rêu phong, những lùm cây mọc xanh biếc, có nhiều mỏm đá như hình muôn tượng hoá thành.

Muốn đến đỉnh núi Dục Thuý, du khách phải bước lên gần 100 bậc đá ở sườn núi phía nam, nhiều bậc đá mòn lõm, nhẵn lỳ vì đã có nhiều người lên núi. Lên đến đỉnh núi, du khách nhìn thấy cảnh sông nước bao la, mây trời tuyệt đẹp và cõi lòng lắng xuống để thả bay trong gió những lo toan trần tục của cuộc sống thường nhật.

Từ ngàn xưa, núi có tên là Non Nước. Đến thời Trần, ông Trương Hán Siêu đặt tên núi là Dục Thuý, có nghĩa là con chim trả tắm mình bên dòng sông nước bạc (Dục là tắm, Thuý là con chim trả) – tên gọi rất tượng hình, đầy màu sắc mộng mơ.

Núi còn có một số tên gọi khác nữa như: Băng Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ, Sơn Thuỷ, Hộ Thành Sơn, Thanh Hoa Ngoại Trấn Sơn, Trấn Hải Đài, Dục Thuý Sơn Hải Khẩu,... Tên gọi nào cũng đẹp, cũng thơ. Còn nhân dân thì gọi núi là Non Nước – cái tên nôm na, giản dị bằng những câu ca dao dân dã: “Ai về qua đất Ninh Bình/ Mà xem phong cảnh hữu tình nên thơ/ Nước non, non nước như mơ/ Càng nhìn Non Nước càng ngơ ngẩn tình.”

Từ thế kỷ thứ X, Đinh Bộ Lĩnh đã dựa vào thế núi, tấn công tiêu diệt một cánh quân mạnh nhất của một trong mười hai sứ quân thời ấy là sứ quân Phạm Phòng Át tức Bạch Hổ.

Khi lên ngôi vua (968 – 979) Đinh Tiên Hoàng đặt tên núi là Ngự Trấn Phòng Sơn và cho xây đồn luỹ trên núi, dùng núi như một tiền đồn kiểm soát con đường bộ từ Tam Điệp ra, con đường biển vòng qua cửa Đại Ác, sau đổi là Đại An (nay là ngã ba Độc Bộ, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Lê Đại Hành lên ngôi vua (980) cho quân lính thiện chiến ở núi canh gác, cũng coi núi như một tiền đồn để bảo vệ Kinh đô Hoa Lư.

Vào thời Lý, vua Lý Nhân Tông, niên hiệu Quảng Hựu thứ 7, Tân Mùi (1091), dựng ở trên núi một cái tháp cao (chưa rõ cao bao nhiêu tầng). Ngoài tháp Linh Tế, trên đỉnh núi còn được xây dựng thêm chùa Sơn Thuỷ (chùa Non Nước). Ngôi chùa này còn tồn tại đến đầu thời Nguyễn. Đời vua Gia Long (1802 – 1819), nhân dân địa phương đã chuyển dời đến núi Cánh Diều (núi Ngọc Mỹ Nhân) nằm ở giữa thành phố Ninh Bình.

Sang thời Trần, vua Trần Anh Tông (1293 – 1314) đã từng lên thăm núi vào năm Nhâm Tý (1312).

Thời kỳ này, núi đứng gần cửa biển, gọi là cảng Phúc Thành.

Một thời gian sau tháp trên đỉnh núi đã đổ vỡ. Đến năm Đinh Sửu, niên hiệu Khai Hựu thứ 9, đời vua Trần Hiến Tông, tức là năm 1337, tháp Linh Tế được khởi công xây dựng lại, kéo dài trong 6 năm, mãi đến năm 1342 mới hoàn thành, người đứng lên chủ trì việc xây dựng tháp là nhà sư Trí Nhu (người phủ Tràng An, châu Đại Hoàng), học trò Pháp Loa (đệ nhị tổ dòng phái Trúc Lâm). “Tháp xây 4 tầng, đêm toả hào quang, kẻ xa người gần đều trông thấy rõ”. Tháp Linh Tế được xây dựng do yêu cầu chôn cất xá lị (tro xác) của Pháp Loa (người Chí Linh, Hải Dương).

Niên hiệu Thiệu Phong thứ ba (1343), triều vua Trần Dụ Tông (1341 – 1369), do yêu cầu của nhà chùa và sư Trí Nhu, khi đang giữ chức Tả ty lang trung, Tả gián nghị đại phu, Trương Hán Siêu đã viết bài “Dục Thuý sơn Linh Tế tháp ký” (Bài ký tháp Linh Tế ở núi Dục Thuý). Trương Hán Siêu đã cho khắc bài ký đó bên sườn núi về phía bên tay phải lối đi lên núi. Trương Hán Siêu cũng cho khắc bài thơ chữ Hán “Dục Thuý Sơn” của mình (khắc theo lối chữ Lệ - lối viết như triện nhưng ít nét và hình vuông) trên vách núi Dục Thuý.

Thời Lê, vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), năm Quang Thuận thứ 8 (1467), khi ở Vĩnh Lăng (Thanh Hoá) trở ra đã dừng thuyền lên thăm núi Dục Thuý. Nhà vua đã viết bài thơ “Đề núi Dục Thuý” và cho khắc bài thơ đó trên vách núi Dục Thuý.

Vua Lê Thánh Tông còn cho dựng Hành cung ở núi, gọi là cung Sơn Thuỷ.

Vua Lê Hiến Tông (1498 – 1504) cũng lên thăm núi, có đề thơ khắc ở vách núi.

Thời Lê (1428 – 1527), tháp Linh Tế vẫn còn. Nguyễn Trãi nhiều lần đến thăm núi Dục Thuý đã viết bài thơ Dục Thuý sơn, có nói về tháp Linh Tế: “Bóng tháp hình trâm ngọc/ Gương sông ánh tóc huyền.”

Đến thời Hậu Lê (1533-1778) tháp Linh Tế bị đổ vỡ.

Niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786), vua Lê Hiển Tông cũng dựng Ly Cung ở núi để phòng khi vua chúa đi tuần hành lên núi. Ly Cung được xây dựng theo thế núi, quy cách rất lộng lẫy. Sau khi vạc đổi, Cung bỏ làm trường lương Tràng An, tháp (tháp Linh Tế) cũng đổ nát (Phạm Đình Hổ - Tang thương ngẫu lục).

Khi kéo quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh, Nguyễn Huệ đặt tổng hành dinh ở dưới chân núi Dục Thuý. Sau khi đánh tan quân Thanh, trên đường trở về Phú Xuân, Nguyễn Huệ còn dừng chân trên núi. Tương truyền, trên đỉnh núi, có tảng đá bằng phẳng như chiếc chiếu trông rõ 3 vết lõm. Đó là dấu hai bàn chân và mũi kiếm của vua Quang Trung khi Người chống kiếm đứng ngắm vùng non nước kỳ thú nơi đây. Tảng đá này không còn nữa vì giặc Pháp đã phá huỷ khi chúng xây lô cốt trên đó.

Sang nhà Nguyễn, năm 1821, vua Minh Mạng (1820-1840), năm thứ hai, tuần du ra Bắc Hà, lên thăm núi Dục Thuý, ban sắc cho dựng lầu ở trên núi. Đến năm Minh Mạng thứ 5, tức là năm 1824, cho xây tỉnh thành Ninh Bình bằng gạch kề ngay vào núi, lấy núi làm một phần góc thành về phía hai bờ sông Đáy và sông Vân. Vì vậy, năm 1842, vua Thiệu Trị (1841-1847) cũng tuần đu Bắc Hà, khi dừng chân nơi đây, gọi núi là Hộ Thành Sơn.

Núi Dục Thúy Ảnh: ĐÀO MINH TIẾN


Nhà vua cho dựng Hành Cung và xây Bi Đình (Đình Bia), gọi là Đình Bia Ngự Thi, cao ngất, đối diện với Hành Cung ở trên đỉnh núi để che mưa nắng, gió sương, bảo vệ các bài thơ khắc trên vách núi của các vua chúa và thi nhân thời trước.

Nhà vua còn cho “xây đắp nữ tường và dựng xưởng súng ở trên núi” (Đại Nam nhất thống chí).

Năm 1883, thực dân Pháp đánh chiếm Ninh Bình. Từ đó núi Dục Thuý đã mất đi dáng vẻ lộng lẫy của mình.

Năm 1929, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng quyết định tổ chức trọng thể kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga lần thứ 12 (1917-1929).

Để thực hiện nghị quyết đó, Ban lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã họp vào đầu tháng 10 năm 1929, quyết định tiến hành nhiều nội dung hành động, trong đó có nhiệm vụ treo cờ búa liềm trên đỉnh núi Dục Thuý. Đây là ngọn núi có vị trí chiến lược rất quan trọng, nằm sát đường xe lửa chạy Bắc Nam và đường liên tỉnh Ninh Bình - Nam Định, địch lại đang đóng trên đỉnh núi, canh phòng cẩn mật, gần đến ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, chúng càng ráo riết phòng bị suốt ngày đêm.

Anh Nguyễn Văn Hoan khi đó 23 tuổi và anh Lương Văn Tụy 15 tuổi là hai thanh niên cộng sản ở Ninh Bình đã được Ban lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Ninh Bình giao nhiệm vụ cắm cờ búa liềm trên đỉnh núi Dục Thuý. Tượng đài anh Lương Văn Tụy hiện nay đã dựng trên đỉnh núi.

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc, núi Dục Thuý đã từng ghi những chiến công oanh liệt của quân và dân Ninh Bình ở chiến dịch Quang Trung năm 1951.

Anh Giáp Văn Khương, anh Xạ và anh Lục lại tình nguyện ở trên đỉnh núi chiến đấu để cho đồng đội rút lui xuống núi. Kẻ địch rất đông, tràn lên đỉnh núi, bên ta chỉ có 3 người. Các anh phải dựa vào các lùm cây, hốc đá trên đỉnh núi đánh trả rất ác liệt. Sau khi đồng đội đã xuống núi hết, anh Giáp Văn Khương, anh Xạ và Lục mới rút lui. Dây buộc trên đỉnh núi thả xuống dòng sông Đáy đã đứt. Không còn con đường nào khác, các anh đã lao người từ một điểm trên núi Dục Thuý xuống dòng sông Đáy. Dòng sông Đáy khi đó dày đặc bèo tây. Các anh lặn một hơi sang phía bên kia sông, đội bèo về căn cứ. Đây quả là một cuộc chiến đấu dũng cảm và một cuộc rút quân độc đáo, oanh liệt.

Núi Dục Thuý chính là nhân chứng muôn đời của đất nước, chứng kiến biết bao chiến tích vẻ vang theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

Ngày nay lên thăm núi Dục Thúy, du khách thấy Nghênh Phong Các. Trước đây Nghênh Phong Các được Trương Hán Siêu xây dựng trên đỉnh núi nhưng đã bị đổ vỡ. Đến cuối thời Hậu Lê, nhân dân đã xây dựng lại Nghênh Phong Các, bên trong có treo bức hoành phi với 4 chữ Hán sơn son thếp vàng: Trương Công Như Tại (Cụ Trương vẫn còn đây). Sang thời Nguyễn, Nghênh Phong Các vẫn còn. Thực dân Pháp xâm chiếm Ninh Bình, xây lô cốt trên đỉnh núi, Nghênh Phong Các được chúng sử dụng như một trại lính. Rồi thiên nhiên khắc nghiệt góp phần làm cho Nghênh Phong Các không còn nữa.

Mãi đến năm 1961, Nhà nước ta tiến hành xây dựng lại Nghênh Phong Các.

Cùng với việc xây dựng Nghênh Phong Các, nhân dân Ninh Bình đã góp công sức vận chuyển theo gần 100 bậc đá, đưa lên đỉnh núi hàng ngàn khối đất, san lấp bằng phẳng đỉnh núi như một vườn nhà, rộng hơn 3 sào bắc bộ để trồng cây và trồng hoa.

II. Dục Thúy – Núi Thơ.

Trương Hán Siêu là người khai sinh ra truyền thống khắc thơ vào núi ở Ninh Bình, tạo nên một nét đẹp văn hóa đặc sắc của dân tộc.

Sau Trương Hán Siêu cho khắc bài thơ “Dục Thúy Sơn” (Hiện nay không còn), các nhà vua và các tao nhân mặc khách nổi tiếng cho khắc nhiều thơ ở núi gồm: Tiến sĩ Phạm Sư Mạnh, vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497), vua Lê Hiến Tông (1461 – 1504), vua Lê Tương Dực ( 1455 – 1516), Thám hoa Nguyễn Huy Oánh (1713 – 1789), Tiến sĩ Ngô Phúc Lâm (1722 – 1784), Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), Tuần phủ Ninh Bình Tôn Thất Tĩnh, Hoàng giáp Phạm Văn Nghị (1805 – 1881), Phó bảng Bùi Văn Dị (1833 – 1895), Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp (1834 – 1902) khắc 2 bài, Tiến sĩ Nguyễn Tái, Tuần phủ Ninh Bình Nguyễn Hữu Tường khắc 2 bài, Niết sứ Ninh Bình Nguyễn Đình Chuẩn khắc 2 bài, Tiến sĩ Từ Đạm (1862 – 1936) khắc 3 bài, nhà thơ Tản Đà (1888 – 1939), Phó bảng Từ Thiệp (1866 - ?), Tri phủ Nho Quan Trần Tâm, Nguyễn Đình Giác, Tri phủ Yên Mô Phạm Huy Toại, Tuần phủ Ninh Bình Phan Đình Hòe (1876 – 1954), Tuần phủ Ninh Bình Bùi Thiện Cơ khắc 2 bài, Tuần phủ Quảng Yên Nguyễn Văn Đào, đặc biệt có một người Trung Quốc sống ở đời vua Càn Long là Phạm Bá Đàn cũng có thơ khắc ở núi.

Như thế, hiện nay, trên núi Dục Thúy chỉ có 30 bài thơ (30 bút tích thơ) được chạm khắc của 24 tác giả, trong đó gồm 23 bài thơ chữ Hán, một bài thơ chữ Nôm duy nhất của Tri phủ Nho Quan Trần Tâm, 6 bài thơ chạm khắc chữ Quốc ngữ của 6 tác giả: Nguyễn Đình Chuẩn, Từ Đạm, Tản Đà, Từ Thiệp, Nguyễn Đình Giác, Phạm Huy Toại. (Một số sách và bài báo viết núi Dục Thúy, hiện nay còn 44 bia với 41 bài thơ là chưa chính xác).

Dĩ nhiên núi Dục Thúy còn có một số bài thơ chạm khắc nữa nhưng do thực dân Pháp phá núi xây dựng lô cốt trên núi, nên hiện nay không còn, chỉ còn 30 bài thơ mà thôi.

Theo một số sách chữ Hán xưa, còn ghi thì 9 tác giả có 10 bài thơ chữ Hán chạm khắc trên núi (hiện còn trên thác bản) là: Trương Hán Siêu, Nguyễn Hữu Nghi, Hoàng Quýnh Liệt, vua Thiệu Trị, Tiến sĩ Trương Quốc Dụng, Bùi Huy Tùng, Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản, Hoàng giáp Lê Hữu Thanh, Trần phủ Ninh Bình Trần Thiện Chính có 2 bài. Trên núi Dục Thúy không tìm thấy 10 bài thơ này.

Ngoài ra, núi Dục Thúy còn được khắc bài “Dục Thúy Sơn Linh Tế tháp ký” của Trương Hán Siêu viết vào năm 1343; Thánh chỉ của Thái Thượng Hoàng đế Trần Minh Tông khắc vào niên hiệu Thiệu Phong, năm Kỷ Sửu (1349) đời vua Trần Dụ Tông; các văn bản liên quan tới ruộng đất, địa giới, địa danh cổ; bia cúng tiến, ruộng đất của hai công chúa Huyền Tư và Huệ Thục; Bia “Nhất kí Thiên Long thường trụ tam bảo vật” (không còn trên núi, chỉ còn mảnh vỡ); Bia “Bắc trường thập sào…” (không còn trên núi, mảnh đá rơi xuống chân núi); Đặc biệt có tấm bia lớn ghi niên hiệu Thiệu Phong năm thứ 2 Nhâm Ngọ (1342) nói về việc xây dựng và mở hội chùa mùa xuân. Như thế các bia chạm khắc văn xuôi chỉ có khoảng 8 bài.

(Một số sách và báo viết núi Dục Thúy hiện nay còn chạm khắc 16 bài văn là chưa chính xác).

Ngoài nhiều bài thơ, bài văn khắc trên núi, còn có đến hàng trăm bài thơ kim cổ khác viết vịnh núi Dục Thúy của các ông vua và những thi nhân như: Trần Anh Tông, Thiệu Trị, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Ninh Tốn, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Xuân Ôn, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Quý Thứ, Trần Thiện Chính, Lê Hữu Thanh, Nguyễn Miên Thẩm, Vũ Duy Thanh, Vũ Phạm Khải, Đoàn Triển, Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Tư Giản, Trần Văn Cận, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Đăng Quế, Nguyễn Can Mộng, Trần Tử Mẫn, Nguyễn Thượng Hiền, Vũ Bang Hành, Hoàng Tạo, Phan Đình Hòe, Nguyễn Văn Thuật, Trần Thánh Tiến, Phạm Như Khuê, Vũ Tiến Cự, Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Tử Dự, Ngô Vi Lâm. Nguyễn Hữu Nghi, Hoàng Quýnh, Trương Quốc Dụng, Trần Tư Thành, Ngô Thế Vinh, Lê Danh Đề, Đặng Thạch Hà, Bùi Huy Tùng, Phạm Hy Lượng, Nguyễn Tái, Đặng Huy Xán, Lương Ngọc Dĩ, Lê Thị Tử, Ngô Thuần, Đạm Trai,… các tác giả khuyết danh.v..v.

Không một ngọn núi nào trên đất nước Việt Nam có nhiều thơ khắc như ở núi Dục Thúy. Núi được khắc 30 bài thơ hiện còn trong 07 thế kỷ qua, chính vì thế nó còn được gọi là Núi Thơ. Đó là những bức thông điệp văn học vô giá – trường tồn cho các thế hệ mai sau. Nó cũng thể hiện tài năng sáng tạo, kỹ thuật tinh xảo, điêu luyện của các nghệ nhân khắc chữ Hán trên đá thời xưa. Bất luận thời gian, trải qua bao độ phong sương, mưa nắng của đất trời, những bài thơ chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, nét chữ to, nét chữ nhỏ, được đặt trân trọng trong khung hay không, khắc trên các vách núi vẫn chưa mờ như những tác phẩm điêu khắc tạo hình hoàn chỉnh cho cái đẹp của núi, đã cuốn hút nhiều du khách đến ngoạn mục, lòng không muốn rời, chân không muốn xa, để chìm say trong cảnh núi sông tuyệt mỹ.

Mỗi bài thơ khắc ở núi đều có một nét riêng tỏa sáng như viên ngọc quý có nhiều màu làm cho núi càng tăng thêm kỳ ảo. “Con chim trả khổng lồ” ấy đã xăm đầy mình và đôi cánh những bài thơ kim cổ bất hủ. Thơ khắc kín tất cả các sườn non Dục Thúy, ở ngay cả những vách đá chênh vênh trên cao, dưới thấp. Những vách gấm này, đã vững chãi giữa trời mây, non nước bao la. Và vì vậy, con chim trả kiều diễm mang nặng thơ, vẫn đậu mãi cho đến bây giờ.

Không chỉ là nhà Bảo tàng thiên tạo lưu giữ thơ văn, núi Dục Thúy còn gắn liền với hai kiến trúc Văn hóa và Phật giáo.

Dưới chân núi ở phía Tây Nam có đền thờ Danh nhân Văn hóa Trương Hán Siêu.

Đền được khởi công xây dựng từ năm 1998, đến cuối năm 2000 hoàn thành.

Dưới chân núi phía Đông Bắc là chùa Non Nước có từ xưa, hiện nay xây dựng lại khang trang to đẹp hoàn thành năm 2019 thờ Phật.

Hai kiến trúc này cùng núi Thơ Dục Thúy là cụm Di tích lịch sử Văn hóa độc đáo, đặc biệt của thành phố Ninh Bình, lại có thêm dòng sông Vân huyền thoại chảy dọc giữa thành phố Ninh Bình, “Núi Thúy – Sông Vân” đã tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình thơ mộng.

Ngày nay, nói như tác giả Trần Thuyết Minh vào năm 1922: “Tôi muốn rằng, ta nên tìm chỗ thanh cao thoáng đãng, thu hấp lấp không khí thuần nhất tinh lương để nuôi cho linh hồn thân thể… à, mà phải đấy, ta lên non Dục Thúy”.

LÃ ĐĂNG BẬT

Chiềng và Xiềng có nghĩa gì trong địa danh vùng người Thái

đăng 21:20, 2 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đến vùng người Thái, ta thường thấy những tên xã, tên mường được đặt bắt đầu bằng chữ Chiềng, như Chiềng Mai, Chiềng Chung, Chiềng Pấc… Cũng có nơi gọi là Xiềng. Chữ Chiềng và Xiềng có ý nghĩa như thế nào?

Ông Cà Văn Chung, Phó giám đốc Sở Khoa học công nghệ tỉnh Sơn La, hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, sinh ra và lớn lên tại Sơn La. Ông Cà Chung giải thích về chữ Chiềng và Xiềng trong cách đặt tên các địa danh của người Thái như sau:

"CHIỀNG: người Thái phát âm là “Chiêng”, ở một số nơi phát âm thành Xiêng (Xiêng Khoảng, Xiêng Khọ, Xiêng May (Chiềng Mai), Xiêng Rai ...) là vị trí trung tâm của 1 Mường lớn (Chu/ Nha/ Châu Mường). Thường mỗi Mường chỉ có một Chiềng. Ví dụ: Mường Muổi có Chiềng Ly, Mường Mụa có Chiềng Dong, Mường Sang có Chiềng Chu, Mường Tấc có Chiềng Hoa (sau gọi thành bản Chiềng)... 

Đây là vị trí thuận tiện về nhiều mặt, có thể đi lại, tiếp xúc với nhiều nơi khác trong và ngoài Mường. Về quy mô, tương đương với một bản lớn của người Thái (nên sau này có nơi được gọi sai đi là bản như Bản Chiềng, Phù Yên). Chiềng là nơi ở của các dòng họ quý tộc và là nơi đóng bộ máy thống trị của Mường. Có thể nói Chiềng là thủ phủ của một mường, nhiều nơi phát triển thành thành phố lớn hoặc thủ đô của quốc gia. (Xiêng May thành thủ đô của Lạn Na, sau đó thành thành phố lớn của Thái Lan)".

Vòng xòe ngày hội. Ảnh: Khai thác


Chiềng có nghĩa là một trung tâm giao lưu văn hóa, chính trị của một Mường. Vậy tại sao vẫn thấy chữ Chiềng được đặt cho các xã? Theo ông Cà Chung: "Rất tiếc, sau giải phóng, một số cán bộ ít am hiểu về xã hội Thái đã tham mưu cho chính quyền mới đặt một loạt các tên của xã (đơn vị hành chính mới) mang chữ Chiềng, như: Chiềng Cơi, Chiềng Xôm, Chiềng La, Chiềng Ngần, Chiềng Sinh... Nên ý nghĩa của từ Chiềng bị hiểu sai đi.

Tuy nhiên trong lịch sử người Thái, “Chiềng” ngoài mang ý nghĩa như trên là phổ biến,cũng có ngoại lệ như: Chiềng Pấc là tên một mường phìa của châu Mường Muổi, Chiềng Cang là tên một mường phìa của châu Mường Mụa; trong sử sách, người Thái gọi nước Lào là Chiềng Đông, Chiềng Tòng (theo kiểu người nước ngoài gọi "Hà Nội", được hiểu là "Việt Nam", trong các bản tin).

Theo sử thi “Quam tô mương”, khi Lạng Chượng đến Mường La, ông đã lập nên Chiềng An, Viêng Hài, Viêng Giảng. Nhưng sau đó, khi thương mại phát triển, nhu cầu trao đổi sản phẩm hàng hoá tăng lên thì hình thành nên một trung tâm mới về buôn bán là Chiêng Le (không hiểu tại sao chuyển sang tiếng Việt lại ghi thành Chiềng Lề). Trung tâm này là khu vực Rặng Tếch của Sơn La ngày nay".

Trong các tên địa danh của người Thái còn xuất hiện chữ Viềng. Vậy Viềng được sử dụng trong hoàn cảnh nào? Ông cà Chung cho biết: VIỀNG có nghĩa là thành luỹ quân sự, nơi bảo vệ Chiềng hoặc biên cương. Viềng có thể đắp bằng đất hoàn toàn như Viêng Giảng, Viêng Lán (Sơn La) hay kết hợp với địa hình tự nhiên núi, sông, suối như Viềng Lôi (Hà Nội), Viêng Chăn (Lào); có khi đào suối nhân tạo như Viềng Xam Mứn (Điện Biên)... Viềng sau này xây bằng gạch mộc hay đá ong như Viêng Mai (Thailand), Viêng Toong (Myanma).

Trên viềng thường có các các vị trí quân sự giống như lô cốt hay chòi canh gọi là “Che”. Ví dụ tại Viềng Lôi (thành Cổ Loa) có 3 “che” ở 3 thành có tên là “Che noóc”, “Che tò” và “Che cuông” (tiếng Thái có nghĩa là “Che ngoài”, “Che tiếp” và “Che trong”). Viêng Mai, Viêng Toong vẫn còn giữ được các “Che” tương đối nguyên vẹn. (“Che”: tiếng Thái cũng có nghĩa là góc, mà các “Che” quân sự này cũng đặt tại các góc).

Hoài Thu

Về địa danh Phan Rang – Tháp Chàm

đăng 03:19, 22 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Khi tiếp cận địa danh Phan Rang – Tháp Chàm, tên hành chính của thành phố thuộc tỉnh Ninh Thuận hiện nay, nhiều người chưa rõ vì sao có cách ghép như vậy; lại có nhiều cách giải thích khác nhau. Sau một thời gian tìm hiểu các nguồn tư liệu, xin trình bày sơ lược đến quý độc giả rằng: Phan Rang – Tháp Chàm có một lịch sử xuất hiện, thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau. 

Quang cảnh thành phố Phan Rang - Tháp Chàm 


Về vị trí thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, phía Bắc giáp huyện Bác Ái và huyện Ninh Hải, phía Tây giáp huyện Ninh Sơn, phía Nam giáp huyện Ninh Phước, phía Đông giáp biển Đông. 

Từ thế kỷ XV về sau, trong các sách, các bản đồ cổ ghi: Bang Đô Lang, Bang Đồ Long, Phan Lung, Phan Lang, Man Rang, Ran Ran... là chỉ vùng đất Phan Rang. Theo tài liệu lịch sử, địa danh Phan Rang xuất phát từ địa danh người Chăm gọi là Pangdarang hay Pandaran. Từ điển Việt – Chăm, Inưlang Piêt – Chăm, NXB Khoa học Xã hội năm 1996 ghi: Phan Rang 1/ Phun Darang, Pang Darang. 2/ Ding. Cũng có cách giải thích, từ Panduranga người Việt gọi thành Phan Rang. "Panduranga, hay theo cách viết của người bản xứ là Panran"[1]. Tuy nhiên lưu ý địa danh Panduranga xưa là chỉ cả vùng/xứ rộng lớn Ninh Thuận, Bình Thuận đến giáp Đồng Nai hiện nay. 

Địa danh hành chính đạo Phan Rang xuất hiện từ năm 1697, thời Chúa Nguyễn Phúc Chu, "Năm Đinh Sửu (1697) đặt phủ Bình Thuận, lấy đất phía Tây Phan Rang làm 2 huyện Yên Phúc và Hòa Đa lệ vào, lại đặt dinh Bình Thuận cho trấn Thuận Thành lệ vào; đặt 4 đạo: Phan Rang, Phan Thiết, Ma Li, Phố Hài”[2]. 

Địa danh hành chính tỉnh Phan Rang xuất hiện năm 1901 khi Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Phan Rang, tỉnh lỵ cũng là Phan Rang. 

Địa danh hành chính thị xã Phan Rang xuất hiện năm 1917, được thành lập theo Dụ của vua Khải Định. 

Địa danh hành chính ghép là thị xã Phan Rang - Tháp Chàm xuất hiện năm 1948 do chính quyền Cách mạng tỉnh đặt. Trước năm 1948, toàn tỉnh Ninh Thuận chia thành 5 vùng Hành chính để điều hành chống Pháp. "Tháng 8 năm 1948, vùng 5 được đổi thành thị xã Phan Rang – Tháp Chàm; địa danh Phan Rang – Tháp Chàm chính thức biết đến từ đó"[3]. 

Trong kháng chiến chống Pháp, có thời kỳ các phường thuộc Phan Rang – Tháp Chàm được đặt tên theo số 1, 2, 3... "Năm phường gồm: phường 1 (Tấn Tài A, B), phường 2 (Đạo Long, Kinh Dinh), phường 3 (Củ Quy, Xóm Động, Thành Cũ, Hà Thanh, Phong Dinh), phường 4 (Mỹ Đức, Phước Đức), phường 5 (Bảo An, Đô Vinh)"[4]. 

Thời kỳ chính quyền Sài Gòn quản lý, Phan Rang và Tháp Chàm riêng biệt, sách Non nước Ninh Thuận, tác giả Nguyễn Đình Tư viết: Năm 1969 xã Phan Rang có các ấp: Mỹ Hương, Kinh Dinh, Đạo Long, Thanh Phong, Tấn Tài, Phủ Thành[5]. 

Từ thời phong kiến các Chúa Nguyễn cho đến trước năm 1975, Phan Rang luôn là lỵ sở của phủ, đạo, rồi tỉnh Ninh Thuận. 

Từ 1976 đến 1991, khi tỉnh Ninh Thuận hợp nhất với tỉnh Bình Thuận và tỉnh Bình Tuy thành tỉnh Thuận Hải thì Phan Rang – Tháp Chàm trở thành thị xã thứ 2 thuộc tỉnh Thuận Hải sau thị xã Phan Thiết. Trong giai đoạn này có 4 năm Phan Rang và Tháp Chàm tách thành 2 thị trấn. Đó là ngày 27 tháng 4 năm 1977, Chính phủ lập 2 huyện mới Ninh Hải và An Sơn thuộc tỉnh Thuận Hải, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm chia 2 thành thị trấn Phan Rang, huyện lỵ của huyện Ninh Hải và thị trấn Tháp Chàm, huyện lỵ của huyện An Sơn. Thị trấn Phan Rang có 6 phường của thị xã cũ: Mỹ Hương, Tấn Tài, Kinh Dinh, Thanh Sơn, Phủ Hà, Đạo Long; thị trấn Tháp Chàm có 3 phường của thị xã cũ: Đô Vinh, Bảo An và Phước Mỹ. 

Đến năm 1981, theo Quyết định số 45/HĐBT ngày 1 tháng 6 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng, thị xã Phan Rang – Tháp Chàm được tái lập trở lại, đồng thời với việc tái lập 3 huyện là: Ninh Phước, Ninh Hải và Ninh Sơn trên cơ sở 2 huyện An Sơn và Ninh Hải. Lúc này thị xã Phan Rang - Tháp Chàm gồm 9 phường: Bảo An, Đô Vinh, Phước Mỹ, Phủ Hà, Thanh Sơn, Mỹ Hương, Kinh Dinh, Đạo Long, Tấn Tài, và 3 xã: Văn Hải, Khánh Hải và Thành Hải. 

Năm 1982, xã Mỹ Hải và xã Đông Hải (của huyện Ninh Hải) sáp nhập vào thị xã Phan Rang - Tháp Chàm theo Quyết định số 204-HĐBT ngày 30 tháng 12 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng. Thị xã Phan Rang - Tháp Chàm lúc này có 9 phường: Bảo An, Đô Vinh, Phước Mỹ, Phủ Hà, Thanh Sơn, Mỹ Hương, Kinh Dinh, Đạo Long, Tấn Tài và 5 xã: Văn Hải, Khánh Hải, Thành Hải, Mỹ Hải, Đông Hải. Năm 1991, xã Khánh Hải chuyển trở về huyện Ninh Hải và trở thành thị trấn Khánh Hải, huyện lỵ của huyện Ninh Hải. 

Năm 1992, tỉnh Ninh Thuận được tái lập, thị xã Phan Rang - Tháp Chàm trở thành tỉnh lỵ tỉnh Ninh Thuận. 

Theo Nghị định số 99/2001/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001, thị xã Phan Rang - Tháp Chàm thành lập thêm 3 phường mới là phường Đông Hải (xã Đông Hải cũ), phường Mỹ Đông (một phần của xã Mỹ Hải) và phường Đài Sơn (một phần của phường Thanh Sơn và một phần của xã Thành Hải) và điều chỉnh địa giới hành chính của các phường Bảo An, Phước Mỹ, Phủ Hà, Kinh Dinh, Thanh Sơn và Tấn Tài. Tháng 2 năm 2005, thị xã Phan Rang - Tháp Chàm được công nhận đô thị loại III. 

Theo Nghị định 21/2007/NĐ-CP ngày 8 tháng 2 năm 2007 của Chính phủ thành phố Phan Rang - Tháp Chàm được thành lập. 

Từ ngày 21 tháng 1 năm 2008, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm có sự điều chỉnh địa giới giữa các xã Mỹ Hải, Văn Hải, các phường Mỹ Đông, Tấn Tài, Thanh Sơn; thành lập mới phường Mỹ Bình (từ một phần của xã Mỹ Hải, xã Văn Hải); thành lập phường Mỹ Hải (từ phần còn lại của xã Mỹ Hải); thành lập phường Văn Hải (từ phần còn lại của xã Văn Hải). Hiện nay thành phố có 16 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 15 phường: Đô Vinh, Bảo An, Phước Mỹ, Phủ Hà, Đài Sơn, Thanh Sơn, Kinh Dinh, Mỹ Hương, Tấn Tài, Đạo Long, Đông Hải, Mỹ Đông, Mỹ Bình, Mỹ Hải, Văn Hải và 1 xã Thành Hải. 

Ngày 26 tháng 2 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 252/QĐ-TTg công nhận thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Ninh Thuận. 
____

[1] G. Maspéro: Nagara Campa, Paris 1928, bản dịch của Lê Tự Lành, Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam, tài liệu đánh máy. 
[2] Đại Nam nhất thống chí, tập 3 (2006) NXB Thuận Hóa. 
[3] Thành ủy Phan Rang – Tháp Chàm: (2007) Lịch sử Đảng bộ Thành phố Phan Rang – Tháp Chàm (1930 – 2005). 
[4] Thành ủy Phan Rang – Tháp Chàm: (2007) sđd. 
[5] Nguyễn Đình Tư: (2003) Non nước Ninh Thuận, NXB Thanh niên. 

Đình Hy (Hội LH Văn học Nghệ thuật tỉnh Ninh Thuận)


Tên gọi tỉnh Hải Dương có từ bao giờ?

đăng 03:01, 22 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày nay, ít người biết tên gọi “Hải Dương”, “tỉnh Hải Dương” có từ bao giờ. 

Nhà sử học Tăng Bá Hoành và những tài liệu chứng minh tên gọi tỉnh Hải Dương có từ năm 1831 


Để giải đáp thắc mắc trên, người đầu tiên chúng tôi tìm gặp là ông Tăng Bá Hoành, Chủ tịch Hội Sử học Hải Dương. Vốn nghiên cứu sâu vấn đề này, ông nói luôn: Năm 1466 (tức năm Quang Thuận thứ 7, đời Lê Thánh Tông), nước ta chia thành 12 thừa tuyên. Lúc ấy tỉnh ta gọi là Nam Sách thừa tuyên. Năm 1469 (năm Quang Thuận thứ 10) định lại bản đồ đất nước và Nam Sách thừa tuyên được đổi thành Hải Dương thừa tuyên. Tên gọi Hải Dương bắt đầu từ đó.

Để chứng minh cho lời nói của mình, ông Hoành cho chúng tôi xem sách “Đại Nam nhất thống chí”. Trang 355, phần về tỉnh Hải Dương, sách viết: “Năm thứ 10 (tức năm Quang Thuận thứ 10 - 1469), định bản đồ cả nước, gọi là Hải Dương thừa tuyên, lãnh 4 phủ là Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách và Kinh Môn, 18 huyện”.

Ông Hoành cho biết thêm: “Sau Hải Dương thừa tuyên, tỉnh ta còn có tên xứ Hải Dương, trấn Hải Dương. Đến năm 1831 (tức năm Minh Mệnh thứ 12), nhà Nguyễn có cuộc cải cách hành chính, trong đó đổi các trấn thành các tỉnh. Cả nước có 31 tỉnh. Tên gọi trấn Hải Dương trước đó được đổi thành tỉnh Hải Dương. Tên gọi tỉnh Hải Dương có từ lúc này”.

Tìm đến hỏi một người nghiên cứu sử học khác là ông Lưu Đức Ý, chúng tôi cũng nhận được câu trả lời tên Hải Dương có từ năm 1469 và tên gọi tỉnh Hải Dương bắt đầu có từ năm 1831.

Trong sách “Địa chí Hải Dương” (tập 1), các thông tin về sự thay đổi địa danh, địa giới tỉnh ta qua các thời kỳ được viết từ trang 4-10. Các thông tin trong “Địa chí Hải Dương” cũng xác định tên gọi tỉnh Hải Dương có từ năm 1831 và tên Hải Dương từ năm 1469.

Phần viết về tên gọi Hải Dương thừa tuyên trong sách "Đại Nam nhất thống chí" 


Tra cứu sách “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hải Dương” (tập 1), các thông tin cũng trùng khớp nhau. Tuy nhiên trong sách này có một sai sót nhỏ. Trang 14 của sách viết: “Năm Minh Mệnh thứ 10 (1831), tỉnh Hải Dương chính thức được thành lập, biệt danh là tỉnh Đông (nằm về phía đông của kinh thành Thăng Long”. Theo các nhà nghiên cứu Tăng Bá Hoành và Lưu Đức Ý, Minh Mệnh lên ngôi năm 1820, tức năm Minh Mệnh thứ nhất. Do đó, đến năm 1831 phải là năm Minh Mệnh thứ 12, chứ không phải năm Minh Mệnh thứ 10.

Có thể khẳng định tên gọi Hải Dương bắt đầu có từ năm 1469 và địa danh tỉnh Hải Dương có từ năm 1831. Đến nay, lịch sử tên gọi Hải Dương đã được 550 năm và tên tỉnh Hải Dương được 188 năm. 

Nhà sử học Tăng Bá Hoành chia sẻ: “Tỉnh ta chưa tổ chức kỷ niệm lịch sử tên gọi Hải Dương. Trong khi đó tỉnh đã tổ chức một số dịp kỷ niệm khởi lập Thành Đông, lỵ sở của tỉnh (TP Hải Dương ngày nay)”. Ông Hoành cho rằng nếu cần xác định thời gian cụ thể để tổ chức kỷ niệm thì có thể tìm được ngày, tháng khi Minh Mệnh ra chỉ dụ về đổi tên trấn thành tỉnh vào năm 1831. Nếu quyết tâm cũng có thể xác định được tháng nào của năm 1469 khi Nam Sách thừa tuyên được đổi thành Hải Dương thừa tuyên.

Nhiều tỉnh, thành phố thường tổ chức kỷ niệm lịch sử địa danh của địa phương mình rất trang trọng vào những năm chẵn. Việc tổ chức kỷ niệm lịch sử địa danh Hải Dương phải được chú trọng hơn lịch sử khởi lập Thành Đông. Nên chăng năm nay đúng tròn 550 năm lịch sử tên gọi Hải Dương, tỉnh ta cần tổ chức hoạt động này nhằm giáo dục truyền thống lịch sử để nhiều người biết. 

TRỌNG TUÂN

Ký sự sông Cầu (kỳ 4): Chung tay bảo vệ dòng sông

đăng 02:18, 22 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Việc bảo vệ dòng sông Cầu không đơn thuần chỉ là nhiệm vụ của các ngành chức năng. Cần lắm sự vào cuộc của mỗi người dân để dòng sông giữ mãi vẻ trong xanh, phục vụ bền vững cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của một nửa dân số tỉnh Bắc Kạn. 

Trong hành trình tới xã Rã Bản (Chợ Đồn) chúng tôi đã rất đồng tình với việc làm của UBND xã. Theo đồng chí Triệu Văn Nguyên- Chủ tịch UBND xã, xã thường xuyên phổ biến, đôn đốc người dân các thôn tập trung thu gom, phân loại rác tại từng hộ gia đình. Rác hữu cơ để phân hủy làm phân bón, rác vô cơ thì đốt tập trung tránh tình trạng vứt bừa bãi xuống sông Cầu. Một việc làm nhỏ ấy lại mang ý nghĩa to lớn trong bảo vệ dòng sông cần được các xã trong lưu vực sông Cầu học tập. 

Nói về bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu, Phó Chủ tịch UBND huyện Chợ Mới Bế Ngọc Hùng cho rằng, cần tích cực tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong nhân dân; đẩy mạnh trồng rừng và tập trung xử lý rác thải, nước thải đô thị. Trong năm 2013, Chợ Mới đã trồng được khoảng 1.600ha rừng; tiến hành xử lý bãi rác thị trấn và sắp tới sẽ lắp đặt lò đốt rác thải. 

Đề án tổng thể bảo vệ sông Cầu đã triển khai một loạt các giải pháp đồng bộ mà trong đó sự đóng góp của Bắc Kạn bằng những hành động cụ thể là rất lớn. Tỉnh đã ban hành Kế hoạch 128/KH- UBND ngày 3/6/2011 về việc triển khai đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2011- 2015. Mục tiêu là nâng tỷ lệ rừng được che phủ; khôi phục rừng đầu nguồn đảm bảo đa dạng sinh học; xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung ở thị xã Bắc Kạn; các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; phục hồi cải tạo môi trường các khu vực khai thác khoáng sản theo đúng các dự án được duyệt.

Đi vào thực hiện, Bắc Kạn đã điều tra, thống kê, đánh giá chất thải rắn, chất thải nguy hại, chất thải y tế để xây dựng phương án xử lý; quan trắc môi trường hàng năm với 6 điểm phân tích nước sông Cầu và 4 điểm phân tích nước suối đổ vào sông Cầu. Tỉnh đã kiểm tra 23 đơn vị và xử phạt hành chính 01 đơn vị; năm 2011 xử phạt 2 đơn vị thi công đường 257 đổ đất đá xuống sông Cầu; lập biên bản vi phạm hành chính, chuyển cơ quan thẩm quyền xử lý 4 cơ sở gây ô nhiễm sông Cầu. 

Bắc Kạn đạt 100% tỷ lệ khu công nghiệp có Nhà máy xử lý nước thải (ảnh: Nhà máy xử lý nước thải tại Khu công nghiệp Thanh Bình, Chợ Mới) 


Bắc Kạn đã đầu tư 4 dự án gồm cải tạo bãi rác Khuổi Mật (thị xã Bắc Kạn); xử lý ô nhiễm bãi rác Chợ Mới; xây dựng công trình cấp nước và vệ sinh thị xã Bắc Kạn; xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung tại Khu công nghiệp Thanh Bình (Chợ Mới). Bên cạnh đó là xây dựng mô hình bãi chôn lấp, xử lý rác quy mô cấp xã (thực hiện được tại 02 xã thuộc lưu vực sông Cầu: Phương Viên, huyện Chợ Đồn và Cẩm Giàng của huyện Bạch Thông). Theo báo cáo của Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu thì trong 5 năm qua, Bắc Kạn đã thực hiện khá tốt 7/10 mục tiêu mà đề án tổng thể bảo vệ sông Cầu đã đề ra. Đối với trồng rừng, tỉnh triển khai các nhiệm vụ điều tra, lập và phê duyệt dự án Đầu tư trồng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng lưu vực sông Cầu tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2015 với nội dung bảo vệ 91.533 ha rừng hiện có (rừng tự nhiên 71.240 ha, rừng trồng 20.293 ha), trồng rừng 16.173ha; bình quân khoảng 3.234ha/năm (thực hiện trong 5 năm: 2011-2015). 

Cho đến hết năm 2012, tỷ lệ xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đến năm 2012 đạt 100%; tỷ lệ nâng độ che phủ của rừng toàn lưu vực, khôi phục cơ bản rừng đầu nguồn đã bị suy thoái đã đạt 70%; tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị, chất thải rắn công nghiệp đạt 80%; tỷ lệ thu gom xử lý chất thải nguy hại đạt 60%; tỷ lệ thu gom xử lý chất thải bệnh viện đạt 80%; tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt 100%. Tuy nhiên, còn có 3 mục tiêu gồm tỷ lệ khắc phục khai thác cát sỏi trong sông không theo quy hoạch, bảo vệ mặt cắt ổn định tự nhiên của sông; tỷ lệ cơ sở sản xuất mới xây dựng sử dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải và tỷ lệ khu đô thị có hệ thống xử lý nước thải thì chưa có hoặc gặp khó khăn trong triển khai. 

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Kạn, nguồn vốn cho việc triển khai các chương trình dự án theo kế hoạch thực hiện đề án Sông Cầu của tỉnh Bắc Kạn còn nhiều hạn chế, vì vậy việc triển khai các dự án bảo vệ môi trường lưu vực sông rất khó khăn, trong đó có việc các danh mục dự án các tỉnh đã đăng ký nhưng chưa được phê duyệt để thực hiện, đặc biệt là đối với công tác xử lý chất thải, dự án xử lý nước thải tập trung. Công tác thống kê, xác định các nguồn thải trong lưu vực sông Cầu trên địa bàn chưa được điều tra, cập nhật thường xuyên. Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật để tiến hành kiểm soát chất lượng môi trường của Trung tâm quan trắc môi trường còn thiếu, chưa đồng bộ nên một số chỉ tiêu phân tích phụ thuộc rất nhiều vào các trung tâm quan trắc và phân tích môi trường của Trung ương.

Từ nay cho tới 2015 mục tiêu của Bắc Kạn là từng bước hạn chế các nguồn thải chưa qua xử lý vào lưu vực sông; bảo vệ diện tích rừng tự nhiên hiện có trên cả 3 loại rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên, trồng rừng mới tập trung và cây phân tán; 70% các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các huyện nằm trên lưu vực sông Cầu được cấp chứng chỉ ISO 14001; thu gom 90% chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn sinh hoạt; xử lý 60% chất thải nguy hại, trong đó riêng chất thải bệnh viện đạt 100%; hỗ trợ sản xuất sạch hơn cho các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh; nâng cao nhận thức cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường, nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất công nghiệp

Từ năm 2016- 2020 mục tiêu là 100% các cơ sở sản xuất kinh doanh được cấp giấy chứng nhận ISO 14001; 95% chất thải rắn và 100% chất thải y tế được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; khôi phục rừng đầu nguồn đảm bảo đa dạng sinh học; xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung ở thị xã Bắc Kạn; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; phục hồi cải tạo môi trường các khu vực khai thác khoáng sản theo đúng các dự án được duyệt.

Những mục tiêu ấy đang đặt ra nhiều nhiệm vụ cho mỗi người dân và các cơ quan chức năng trên địa bàn. Đó là nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, sinh thái, cảnh quan lưu vực sông; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường lưu vực sông; đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, đẩy mạnh công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường; ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ. Có như vậy sông Cầu nơi thượng nguồn mới mãi mãi xanh trong. (Hết)

Tuấn Sơn

Ký sự sông Cầu (kỳ 3): Dòng sông kêu cứu

đăng 02:14, 22 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Lời kể của các cụ cao niên về độ cạn kiệt của dòng sông Cầu đang gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh. Dòng sông qua thi ca, đoạn chảy qua vùng đất Bắc Kạn đang đứng trước sự xâm hại từ nhiều phía. Sông đang lên tiếng cầu cứu con người phải biết trân trọng, bảo vệ...

Ông Đặng Văn Oanh, thôn Nà Cà 1, xã Cao Kỳ (Chợ Mới) là một tay đánh cá lão làng trên sông Cầu. Cuộc mưu sinh bằng nghề chài, lưới trên sông đã giúp ông và gia đình vượt qua những ngày gian khó nhất của thời kinh tế khó khăn. Cho tới tận bây giờ tôm, cá đánh bắt được trên sông trở thành đặc sản thì giá lại càng đắt đỏ. Thế nhưng, đánh bắt tôm, cá bây giờ chẳng còn dễ như xưa. 

Ông Oanh buồn nói: Những năm trước đi quăng đánh cá một lúc là đầy giỏ, còn giờ trắng đêm có khi chỉ đủ bữa ăn cho gia đình. Có nhiều loài cá đã biến mất, chẳng còn thấy bao giờ. Đang vá lại cái chài đánh cá bỏ lâu rồi bị chuột cắn rách ông bảo: Cứ thế này thì gay!

Hầu hết những người chài lưới giỏi trên sông Cầu đều có đủ bộ chài, lưới gồm: chài lưới 1 để đánh cá từ 01kg trở lên; lưới 2 để đánh cá to cỡ bàn tay; lưới 3 đánh cá cỡ 3 ngón tay và lưới 4 đánh cá nhỏ hơn như cá mương. Thế nhưng giờ hầu như chài, lưới bỏ không vì chẳng còn mấy tôm cá. Tình trạng đánh cá bằng xung điện đã tận diệt vô số loài cá quý trên sông. 

Theo kết quả giám sát của Thường trực HĐND huyện Chợ Mới trong 6 tháng đầu năm 2013 thì tình trạng đánh cá bằng kích điện đang ngày càng gia tăng. Ngày trước muốn qua sông không dùng thuyền thì bè mảng nếu không cũng phải là tay bơi lão luyện mới dám nhảy xuống dòng nước sâu xanh màu rêu ấy. Ấy vậy mà giờ nhiều đoạn, trẻ con xắn quần lội qua như không. Nước cạn quá rồi, việc xung điện bắt cá có một thời bị thả nổi.

Nhiều vùng chúng tôi đi qua như Rã Bản (Chợ Đồn), người dân nói rằng có những loài cá đã lâu lắm rồi không còn nhìn thấy nữa. Đáng nói là tình trạng đánh cá bằng xung điện vẫn diễn ra. Những người đánh cá bằng xung điện thường chỉ đi dí điện vào tầm sau 12h đêm khi mà dân bản đã ngủ hết. Phương thức đánh cá này tiêu diệt toàn bộ cá lớn, cá bé trong phạm vi ảnh hưởng của dòng điện. Vì thế không có gì lạ khi thủy sản trên sông Cầu đã gần như cạn kiệt. 

Ông Đặng Văn Oanh bên những lưới đánh cá giờ chẳng mấy khi dùng đến vì sông ngày càng ít cá. 


Phó Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên cấp thoát nước Bắc Kạn Nguyễn Thị Thỏa trong cuộc nói chuyện với chúng tôi đã phải nêu lên nỗi lo về việc sông Cầu ngày càng cạn nước. Trước đây, công ty chỉ cần thu nước ngay trên sông chính. Nhưng đến năm 2007, nước cạn thì đã phải chuyển vào đặt các cửa thu trên nhánh sông lạnh từ Đôn Phong chảy xuống. Trước mắt, lượng nước đáp ứng đủ nhu cầu khách hàng trên địa bàn thị xã. Tuy nhiên, nếu tốc độ cạn của sông tiếp tục nhanh như thế thì không lâu nữa nguồn nước sinh hoạt cho thành phố Bắc Kạn tương lai sẽ gặp khó khăn. Việc thu nước sẽ phải lấy thêm bên nhánh sông nóng từ Chợ Đồn sang nhưng do nước ngày càng ô nhiễm, việc lọc sẽ tốn thời gian hơn, giá cả nước thương phẩm vì thế cũng sẽ đắt đỏ hơn. Thiếu nước sạch bên một dòng sông là điều tưởng vô lý nhưng nguy cơ đó hoàn toàn có thể xảy ra.

Quan điểm của Công ty TNHH Một thành viên cấp thoát nước Bắc Kạn cũng là điều mà Chủ tịch UBND xã Cao Kỳ Hoàng Đức Hoan đồng tình. Ông cho rằng, nước sông đã cạn đi quá nhiều trong khi ý thức bảo vệ môi trường tại khu vực nông thôn còn rất kém. Tất cả dồn xuống sông hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới dòng nước đang khiến sông ngày càng ô nhiễm.

Sông Cầu đoạn qua Bắc Kạn đang phải chịu nhiều áp lực về môi trường. Theo báo cáo đánh giá của Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu thì thời gian qua có 4 vấn đề môi trường bức xúc trực tiếp ảnh hưởng tới sông Cầu tại Bắc Kạn. Đó là chưa xây dựng được khu xử lý nước thải sinh hoạt tập trung do vậy nước thải sinh hoạt thải trực tiếp ra sông Cầu. Tỉnh chưa có nhà máy xử lý rác thải nên nguy cơ ảnh hưởng lớn tới nước mặt, nước ngầm. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước do khai thác khoáng sản, sử dụng hóa chất thuốc bảo vệ thực vật. Bên cạnh đó ý thức bảo vệ của một số đơn vị, doanh nghiệp còn thấp. 

Rác thải đổ xuống ven sông Cầu. 


Hầu hết các xã chúng tôi đi qua trong hành trình đều nhận thấy ý thức bảo vệ môi trường sông Cầu còn thấp. Tình trạng khai thác cát sỏi tự phát diễn ra thường xuyên. Rác thải sinh hoạt thậm chí cả gia súc, gia cầm chết cũng được vứt xuống sông. Vấn đề lớn nhất là hầu hết các bệnh viện và bãi rác ở các địa bàn sông Cầu đi qua đều chưa được xây dựng đạt chuẩn. Đây là mối đe dọa lớn đối với môi trường nước sông. 

Thời gian trước đây, Xí nghiệp Gạch Pá Danh; dây chuyền sản xuất giấy đế - Công ty cổ phần Lâm sản Bắc Kạn; Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn; bãi rác thị xã Bắc Kạn là những điểm gây ô nhiễm nghiêm trọng trên địa bàn tỉnh. 

Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Kạn, các điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật, trong đó có 02 điểm nằm trên lưu vực sông Cầu, đến nay địa phương đang lập dự án khắc phục các điểm ô nhiễm môi trường do tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật. Tuy nhiên do nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường hạn chế, nên chỉ lập dự án xử lý đối với điểm ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật tại 01 địa điểm là huyện Chợ Mới. Bên cạnh đó ý thức chấp hành công tác bảo vệ môi trường của một số đơn vị, doanh nghiệp chưa cao. Một số doanh nghiệp vì lợi ích kinh tế, chưa chú tâm nhiều đến công tác bảo vệ môi trường.

Chia sẻ với chúng tôi, đồng chí Hoàng Thanh Oai- Chi Cục trưởng Chi Cục Bảo vệ môi trường Bắc Kạn cho rằng, kiểm soát quy trình bảo vệ môi trường tại các cơ sở, nhà máy là điều khả thi nhưng xử lý nước thải sinh hoạt mới là vấn đề mang tính cốt yếu, dài lâu nhưng lại rất khó thực hiện. Lượng nước thải sinh hoạt từ các đô thị, nông thôn đổ ra sông Cầu lớn nhưng lại chưa được xử lý. Trong nước thải sinh hoạt lẫn vô số tạp chất hóa học từ bột giặt, nước rửa bát, dầu, mỡ… là những tác động tiêu cực đến môi trường nước sông, đang là tồn tại lâu nay. Quá trình tích tụ sẽ khiến môi trường ô nhiễm. Bảo vệ môi trường sông Cầu đang cần sự vào cuộc của các cấp các ngành chức năng và cả cộng đồng. (còn nữa)

Tuấn Sơn

Ký sự sông Cầu (kỳ 2): Cuộc sống bên dòng sông

đăng 02:09, 22 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cũng như những dòng sông khác, những bản làng, cánh đồng bên bờ sông Cầu đoạn qua Bắc Kạn thật êm đềm, trù phú. Nhưng bên trong của nó cũng đã phải trải qua những biến cố dữ dội. Dòng sông mang phù sa bồi đắp cho những cánh đồng màu mỡ và cũng có lúc nó ồn ào, hung dữ tàn phá đôi bờ. Có người bảo đấy là dòng sông trả hận việc con người tàn phá rừng thượng nguồn. 

Lưu vực sông Cầu trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có diện tích là 1.372,78 km2, bao gồm 44 xã, phường, thị trấn. Dân số trong lưu vực là 153.096 người (bằng một nửa dân số toàn tỉnh), tỷ lệ gia tăng dân số khoảng 0,63%, dân số khu vực đô thị có xu hướng tăng lên hàng năm. Cơ cấu lao động chủ yếu trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản và dịch vụ; trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng chỉ chiếm 6,3%. Lao động ở khu vực nông thôn chủ yếu là làm ruộng gắn với chăn nuôi, làm vườn và dịch vụ.

Sông Cầu là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho tưới tiêu sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, với tổng lượng nước hàng năm ước tính khoảng 20 triệu m3, một số dòng chảy được sử dụng cho mục đích sinh hoạt, sản xuất điện ( hồ Thuỷ điện Nặm Cắt có diện tích mặt nước trên 200ha). Những con số khô khan ấy đủ cho thấy dòng sông Cầu có ý nghĩa lớn như thế nào đối với sản xuất và đời sống của nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

Tôi không chắc mình có thể đi hết hàng trăm thôn, bản ven bờ sông Cầu từ Chợ Đồn cho tới Chợ Mới. Những ngôi làng, nếp nhà, con người hưởng lợi từ con sông hiền hòa đang ngày càng trù phú, khang trang, tươi vui. Kể về những thôn bản trù phú ven sông Cầu chúng ta không thể bỏ qua được Phiêng An II, một thôn nhỏ nằm nép mình bên sông cách thị xã Bắc Kạn không đầy 5 cây số. Phiêng An II là thôn mới thành lập thuộc xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông. Cả thôn có 13 gia đình là người Dao Tiền và Dao Đỏ. Năm ngoái, bà con cả bản đã vinh dự được đón Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng về thăm. Nhưng đó là chuyện bây giờ, còn hơn 10 năm trước thì lại hoàn toàn khác.

Trưởng thôn Phiêng An II bên những sải chè trồng trên bãi bồi ven sông Cầu. 


Trưởng thôn Đặng Tiến Lợi vui vẻ kể lại, khi mới về định cư tại đây ai cũng lo, không biết có sống được lâu dài hay không. Đồng bào quen sống vùng núi cao nay hạ sơn xuống ven sông thật khó mà biết trước. Nhưng nhờ đất đai cả khu vực định cư của thôn đã được sông Cầu bồi đắp phù sa biết bao đời nay nên rất màu mỡ. Nhờ đó, dù không có ruộng nhưng cây ăn quả, chè trồng xuống đều cho năng suất cao. Giờ thì có điện để chạy máy bơm nên nước tưới không thiếu, sông Cầu luôn cung ứng đủ. Vậy là từ chỗ lo lắng, giờ Phiêng An II đã trở thành một thôn hội tụ đủ niềm tin cũng như cách làm để vươn lên giàu có trong nay mai. 

Phiêng An II giờ đây thật bình yên, mát mẻ với bạt ngàn chè, ổi, vải, mận, quýt, nhãn… với con đường đổ bê tông rộng thoáng, sạch sẽ dẫn đến từng nhà. Một điểm mừng nữa là các gia đình ở đây đều tự làm được nhà vệ sinh hai ngăn, xây theo đúng thiết kế của nông thôn miền núi. Bộ mặt của một nông thôn mới đang hiện rõ...

Nước sông Cầu không chỉ đơn thuần phục vụ cho sản xuất nông nghiệp mà còn được lọc trở thành nước sinh hoạt cung cấp cho hàng ngàn hộ dân tại thị xã Bắc Kạn. Phó Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Cấp thoát nước Bắc Kạn Nguyễn Thị Thỏa chia sẻ, hiện tại công suất của nhà máy cấp nước công nghệ cao là 10.000
m3/ngày đêm. Tất cả nước đầu vào được thu bằng các cửa thu đặt tại nhánh sông Lạnh. Nước sinh hoạt này đang phục vụ cho trên 5.000 hộ dân tại thị xã Bắc Kạn. Tương lai khi lên thành phố, mật độ dân cư tăng lên thì nhu cầu sử dụng nước cũng sẽ tăng cao. Sông Cầu vì thế trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của hàng vạn người dân. 

Từ thị xã Bắc Kạn, sông Cầu uốn mình bên những cánh rừng tự nhiên, sải rừng trồng với những cây keo bạt ngàn soi bóng xuống mặt nước. Từ đặc điểm về lưu lượng và tốc độ dòng chảy, chế độ thủy văn ảnh hưởng lớn tới sự xâm thực bề mặt nên sông Cầu có lượng ngậm cát bùn khá cao. Tại Thác Bưởi (Chợ Mới) tỷ lệ ngậm cát trung bình là 233g/
m3, mức chuyển cát 12,1kg/s và tổng lượng phù sa 380 triệu m3/năm. Lượng phù sa tuy không quá lớn nhưng lại rất tốt khi chứa khoảng 3,0% Ca và P2O5, tỷ lệ ni tơ khoảng 0,77- 0,88%. Có tới trên 30 nhánh suối nhỏ đổ vào sông trên địa phận Bắc Kạn bổ sung thường xuyên lượng phù sa như Khuổi Bún, Nà Cú, Khuổi Lung, Tát Mèo, Cửa Khe, Khe Thuồng, Pe Pầu, Nhị Ca… 

Một công trình thủy lợi thu nước trên sông Cầu đoạn qua xã Rã Bản (Chợ Đồn). 


Quốc lộ 3 chạy dọc ven sông, rộng thênh thênh hướng về Chợ Mới. Chúng tôi chọn Cao Kỳ làm điểm đến tiếp theo trong hành trình khám phá sông Cầu. Chủ tịch UBND xã Hoàng Đức Hoan cho biết, toàn xã có 8 thôn gồm Kông Tum, Nà Cà 2, Nà Cà 1, Tổng Sâu, Tổng Tàng, Bản Phố, Hua Phai và Chộc Toòng nằm dọc ven bờ sông Cầu. Phù sa sông lớp lớp bồi đắp qua hàng trăm năm đã hình thành nên diện tích canh tác lúa, hoa màu và mía của xã hơn 80ha. Phù san màu mỡ được cây mía hấp thụ tạo nên một thương hiệu mía bầu Cao Kỳ nổi tiếng gần xa. Hiện tại, người trồng mía có thu nhập 01ha đạt hơn 200 triệu đồng. Vai trò của sông Cầu đối với người dân xã Cao Kỳ là vô cùng to lớn. 

Hiện tại trên lưu vực sông Cầu ở Bắc Kạn, tỉnh ta đã xây dựng khoảng 500 công trình thủy lợi thu nước sông phục vụ sản xuất nông nghiệp và một số công trình thu nước phục vụ khu công nghiệp Thanh Bình. Trong đó, có 18 trạm bơm; 12 hồ chứa và 277 đập dâng, phai, kênh. Sông Cầu phục vụ tưới tiêu cho rất nhiều cánh đồng lớn ở những địa bàn nó đi qua. 

Dòng sông bồi đắp phù sa tạo nên những cánh đồng trồng mía, lúa màu mỡ tại xã Cao Kỳ (Chợ Mới) 


Hiền hòa vào mùa xuân, mùa đông là vậy nhưng bước vào mùa hạ và mùa thu khi những cơn mưa xối xả bắt đầu thì cũng là lúc sông Cầu trở mình giận dữ. Vào mùa mưa, sông chuyển tải lượng nước tới 70- 80% hay gây lũ lụt, đặc biệt đột xuất có lũ ống, lũ quét hủy hoại lớn tới mùa màng, tài sản. 

Xin kể ra một vài trận lũ quét trên sông Cầu mà hẳn trong ký ức nhiều người dân vẫn chưa thể quên. Ngày 22/9/1990, lũ quét trên thượng nguồn sông Cầu tại nhánh sông lạnh với biên độ lũ 4- 6m làm 11 người chết. Ngày 17/6/2002, lũ quét tại thượng nguồn sông làm chết 01 người, mất trắng hoa màu cánh đồng thấp ven sông. Ngày 31/7/2002, lũ quét trên sông tiếp tục diễn ra làm thiệt hại hàng chục tỷ đồng của người dân sinh sống ven bờ sông…. Hầu như năm nào, sông Cầu cũng có vài trận lũ ảnh hưởng tới mùa màng, tài sản của người dân. 

Nước sông vào mùa lũ gây sạt lở nhiều diện tích ruộng của người dân. 


Theo một nghiên cứu của Khoa Địa chất, Đại học Khoa học tự nhiên- Đại học Quốc gia Hà Nội, mực nước sông Cầu trong lũ có thể dâng cao hơn 6-8 m; dòng chảy đạt tốc độ lớn, có khả năng cuốn trôi cả những tảng đá góc cạnh kích thước 20-30 cm làm kè bờ. Sạt lở bờ sông chủ yếu do sự đổi dòng của sông, tạo ra các khúc cong uốn khúc. Các đoạn bờ sạt lở mạnh chủ yếu cấu tạo bởi các trầm tích sông, chỉ có 2 đoạn sông cấu tạo bởi đất tàn tích. Rất nhiều đoạn sạt lở làm mất quỹ đất nông nghiệp, như ở Chợ Mới, Cao Kỳ, Sáu Hai, Khau Chủ, ... Sạt lở cũng đe dọa ổn định của cầu qua sông Cầu. Vùng cầu Sáu Hai do bờ hoàn toàn cấu tạo bởi các trầm tích sông dễ bị sạt lở, nên tốc độ sạt lở hàng năm cũng rất cao, từ 2,9 đến 6,6 m. Ở vùng cầu Khuổi Lót và Khuổi Cườm, do sông uốn cong mạnh, lưu lượng dòng chảy lớn, tốc độ sạt lở đạt 6,4 m/năm.

Đứng bên đền Thắm (thị trấn Chợ Mới) lặng nhìn đoạn cuối của sông Cầu trên đất Bắc Kạn, lòng bỗng bình yên hơn trong không khí tâm linh. Không phải vô cớ các vị tiền nhân lại chọn nơi đây làm nơi đặt ngôi đền. Lưng tựa sơn, chân đạp thủy là tính phong thủy đã được tính đến ở đây. Nhưng cũng chợt thấy âu lo khi cụ Kiều Thị Thìn, Chủ nhanh đền man mác buồn nói: Tôi lo lắm, sông Cầu ngày càng cạn nước, tôm cá ngày càng ít đi và ngày càng ô nhiễm… (còn nữa)

Tuấn Sơn

Ký sự sông Cầu (kỳ 1): Về nơi đầu nguồn

đăng 02:01, 22 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đi vào lịch sử, đi vào thơ ca, âm nhạc và đi vào nỗi nhớ của những người con xa quê hương. Đối Bắc Kạn, sông Cầu là sự gắn kết bao đời nay, nuôi sống hàng vạn con người. Hành trình khám phá dòng sông trên địa phận Bắc Kạn chưa được nhiều, nhưng thực sự đã đem lại cho tôi những điều mới mẻ. 

Kỳ 1: Về nơi đầu nguồn 

Sông Cầu, miền xuôi còn gọi sông Như Nguyệt, là con sông quan trọng nhất trong hệ thống sông Thái Bình, có ý nghĩa to lớn với đồng bằng sông Hồng và lưu vực của nó. Khởi nguồn từ Bắc Kạn con sông hiền hòa uốn mình chảy về miền xuôi qua 6 tỉnh... 

Đường về Chợ Đồn theo tuyến tỉnh lộ 257 giờ đã thuận tiện, dễ dàng. Con đường đang sắp hoàn thành cải tạo, bon bon xe chạy. Nơi thượng nguồn sông Cầu, núi non hùng vĩ, sông chẻ núi mà đi, uốn khúc quanh co, có đoạn chảy qua thác ghềnh dữ dội. 

Phương Viên, một trong những xã luôn dẫn đầu về tổng sản lượng lương thực bình quân của cả Chợ Đồn hiện ra óng ả với những vạt lúa xanh mượt dưới cái nắng đầu thu. Đây là nơi khởi nguồn của dòng sông Cầu với đầu nguồn bắt đầu từ dãy núi cao chót vót. 

ông Hà Văn Tồn, thôn Tổng Chiêu, đã hơn 70 tuổi, nét cười nhăn da đồi mồi. ông bảo khi sinh ra biết chạy rồi biết tắm sông thì sông Cầu đã trở thành một phần cuộc sống trong đời mình. Nhiều sách vở ghi rằng sông Cầu có đầu nguồn từ dãy Phja Boóc nhưng người dân tại Tổng Chiêu, Khuổi Đải đều nói rằng dãy núi nơi sông bắt đầu chảy xuống từ hàng trăm năm nay vẫn gọi là Tam Tao (tiếng Tày gọi là Tham Thẩu). 

Dẫn tôi dọc tuyến đường liên thôn đã được đổ bê tông phẳng phiu, ông Hà Văn Tồn chỉ lên đỉnh Tam Tao mù sương giới thiệu: Vượt sang bên kia là tới Bằng Phúc rồi Đồng Phúc, Tân Lập. Quay một chút sang bên phải là nơi Bác Hồ xuôi xuống để qua sông Cầu sang thôn Khuổi Đải vào năm 1945. Cánh đồng nơi đầu nguồn sông Cầu luôn tươi tốt. Chỉ cần đắp phai tạm không cao lắm là nước nguồn đã ôm trọn những chân ruộng mỡ màu. Thế nhưng giờ đây nước sông đã cạn nhiều lắm so với trước... 

Theo lời ông Hà Văn Tồn, những tảng đá thế này không thể nhìn thấy vào những năm trước đây do nước sâu có thể đi được bè, mảng. 


Để minh chứng cho điều đó, ông Tồn lội xuống sông chỉ cho tôi thấy những phiến đá lổn nhổn mà theo lời ông vào những năm 1950- 1960 thì không thể nhìn thấy nếu như không lặn xuống sông. Theo ông “đáo sông tùy khúc”, có nghĩa qua sông phải chon từng chỗ, vì vào thời điểm đó nước sông đầy, sâu, muốn qua phải chọn chỗ nông, thậm chí phải có bè mảng để sang. Cũng vào thời ấy, dân ở Chợ Đồn vẫn đóng bè mảng để chở hàng hóa xuôi theo sông ra thị xã Bắc Kạn bán. Chừng hơn 01 ngày là bè có thể tới bến Cầu Phà. 

Trong khi kể cho tôi nghe về dòng sông Cầu, nét mặt ông Tồn chợt chuyển sang buồn và nói rằng, tại Tổng Chiêu có 11 điểm sinh thủy (phát sinh nước); thôn Khuổi Đải có 9 điểm nhưng chưa được quan tâm, bảo vệ thì sao nước sông chẳng cạn. Ngoài ra, nước ít cũng bắt nguồn từ hệ quả việc phá rừng tràn lan trước đây trên dãy Tam Tao. 

Xuôi theo dòng, chúng tôi tới Rã Bản, xã thứ hai mà con sông Cầu chảy qua trên hành trình vạn dặm về xuôi. Chủ tịch UBND xã Triệu Văn Nguyên sau cái bắt tay nồng nhiệt nói luôn, xã chúng tôi có 110 ha lúa thì tất cả đều sử dụng nước sông Cầu để sản xuất. Xã có 01 đập lớn là đập Tổng Chói và 01 trạm bơm ở thôn Nà Moòng để đưa nước sông tới ruộng. Có 4 thôn nằm dọc theo sông là Nà Tải, Bản Chói, Pác Giả và Cốc Quang. Không có sông Cầu thì không biết đời sống bà con sẽ đi về đâu. Nước sông Cầu đã giúp năng suất lúa bình quân của Rã Bản đạt khoảng 46 tạ/ha. Toàn xã cũng đã trồng được hơn 690 ha rừng góp phần bảo vệ đầu nguồn sông Cầu. 

Sông Cầu len mình giữa những cánh đồng lúa của xã Phương Viên (Chợ Đồn) 


Xuôi dòng sông nóng, chúng tôi về thị xã rồi lại ngược vào Đôn Phong (Bạch Thông) theo nhánh sông Nặm Cắt (tiếng Tày nghĩa là sông Lạnh). Nhánh sông này dày đặc những tảng đá gan gà giữa lòng, độ dốc lớn, lưu tốc mạnh nên dòng nước ầm ì không nghỉ. 

Chủ tịch UBND xã Trịnh Văn Thành cho biết, tiếng nước reo đã trở thành thân thuộc với người dân nhiều thôn ở Đôn Phong. Hiện tại, xã có 3 thôn là Vằng Bó, Nà Lồm và Lủng Lầu nằm dọc ven sông Nặm Cắt. Ngoài sông Nặm Cắt , ở Đôn Phong còn có nhiều nhánh suối nhỏ hợp lại thành con suối lớn chảy ra sông Cầu đoạn Nà Pết, xã Dương Quang, thị xã Bắc Kạn. Đây là nguồn nước tưới tiêu cho 91ha lúa của xã góp phần đưa năng suất lúa đạt bình quân 50 tạ/ha. Để bảo vệ đầu nguồn, phong trào trồng rừng được xã tập trung chỉ đạo thực hiện. Năm 2013, toàn xã trồng được 225 ha rừng trong đó có hơn 25 ha rừng phòng hộ. 

Một nhánh suối hợp lưu vào nhánh sông Lạnh tại xã Đôn Phong (Bạch Thông) 


Từ Đôn Phong, dòng nước xanh len lỏi qua kẽ đá, núi rừng xuôi về thị xã hợp lưu với nhánh sông nóng. 

Xin nhắc lại rằng, từ Phương Viên, sông Cầu uốn mình chảy giữa hai dãy núi theo hướng tây bắc- đông nam, tới địa phận xã Dương Phong, huyện Bạch Thông rồi đổi hướng để chảy theo hướng tây tây nam-đông đông bắc qua thị xã Bắc Kạn tới xã Mỹ Thanh huyện Bạch Thông. Tại đây nó đổi hướng để chảy theo hướng đông bắc-tây nam. Tại xã Nông Hạ huyện Chợ Mới nó nhận một chi lưu phía hữu ngạn, chảy về từ xã Mai Lạp. Tới địa phận thị trấn Chợ Mới, nó nhận một chi lưu nữa phía hữu ngạn rồi đổi hướng sang tây bắc-đông nam. Tới địa phận xã Vân Lăng, xã Cao Ngạn (huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên), nhận một chi lưu phía tả ngạn rồi đổi hướng sang bắc đông bắc-nam tây nam. Tới xã Sơn Cẩm huyện Phú Lương nhận tiếp một chi lưu phía hữu ngạn là sông Đu rồi chảy qua phía đông thành phố Thái Nguyên. Chảy tới xã Nga My huyện Phú Bình thì đổi sang hướng đông bắc-tây nam tới xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên nhận tiếp một chi lưu là sông Công. Tới ranh giới xã Mai Đình huyện Hiệp Hòa và xã Việt Long huyện Sóc Sơn (Hà Nội) nó nhận một chi lưu nhỏ phía hữu ngạn là sông Cà Lồ rồi chảy tiếp về phía đông qua ranh giới của hai huyện Việt Yên-Bắc Giang và Yên Phong-Bắc Ninh rồi hợp lưu với sông Thương tại ngã ba Lác ở ranh giới của xã Đồng Phúc (huyện Yên Dũng) với thị trấn Phả Lại (huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) để tạo thành sông Thái Bình. 

Trên địa phận tỉnh Bắc Kạn, sông Cầu dài 103 km lưu lượng nước bình quân trong năm 73 m3/s, mùa lũ là 123
m3/s, mùa khô là 8,05 m3/s. Dòng sông uốn khúc quanh co, hệ số uốn khúc lớn (>2,0); độ dốc đáy sông đạt trên 10 phần nghìn. Theo báo cáo của Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu, lưu vực sông có diện tích 6.030 km2, có tổng chiều dài các nhánh sông khoảng 1.600km bao gồm gần như toàn bộ các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên và một phần các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hải Dương và Hà Nội. 

Để bảo vệ dòng sông, năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Đề án tổng thể bảo vệ và phát triển bền vững môi trường sinh thái, cảnh quan lưu vực sông Cầu”. Mục tiêu là từng bước xử lý ô nhiễm, cải thiện, nâng cao chất lượng nước; xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả hệ thống cơ chế, chính sách; thiết lập mô hình quản lý môi trường lưu vực phù hợp với điều kiện tự nhiên. Từ đây, dòng sông đi vào lịch sử, thơ ca, âm nhạc đã có một dự án cấp quốc gia bảo vệ một cách đồng bộ hơn... (Còn nữa) 

Tuấn Sơn

Xuân theo sông Thương

đăng 01:42, 22 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Thật đa nghĩa, khi ta nghĩ về tên gọi của dòng sông. Đó là biếc xanh, như trường hợp nói câu “Thương hải biến vi tang điền” (Biển biếc biến thành ruộng dâu) khi sông trong vắt mà róc rách chảy qua vùng đồi núi khởi nguồn Chi Lăng, Hữu Lũng.

Nhưng lại là nhớ thương khi đến chỗ có ngôi làng Thương ở bờ bên phải tòa Phủ Lạng Thương, thì các cuộc tiễn đưa xưa phải chia tay ly biệt người từ kinh đô lên biên ải. Còn lúc biến âm mà nói Thương thành Xương, như khi đọc các địa danh: Thọ Xương, Xương Giang… thì đó lại thành ra là tươi tốt, thịnh giàu.

Sông Thương đoạn chảy qua TP Bắc Giang. Ảnh: Hương Giang


Dòng sông mang cái tên nhiều nghĩa này, ngoài và cùng với chữ Thương còn được sử sách gọi bằng không ít tên khác nữa. Năm 1059, Vua Lý Thánh Tông đi săn, đến chỗ sông này đã ngự thăm nhà thủ lĩnh Thân Cảnh Phúc, để tới năm 1066 đưa Công chúa Thiên Thành gả cho thì Nam Bình chính là tên gọi vào lúc ấy của sông Thương.

Sách "Lĩnh ngoại đại đáp" của Chu Khứ Phi đời nhà Tống bên Bắc phương thì cho rằng, vì thấy mỗi độ xuân về, những cây đào phai lại nở hồng khắp đôi bờ nên sông Thương mới có thêm tên nữa là Đào Hoa.

Còn thời nhà Lý lại nghĩ ra các “tên chữ” như: Thiên Đức để gọi sông Đuống, Nguyệt Đức là sông Cầu, thì Nhật Đức chính là tên của sông Thương.

Nhưng, thú vị nhất thì có lẽ là cái tên Lạng Giang của sông Thương, đọc thấy trong sách "Việt điện u linh" (tập truyện về cõi u linh nước Việt), ở về cuối đời Trần. Chính vì quan hệ qua lại cái tên Lạng Giang của sông Thương này mà trước khi có một huyện Lạng Giang như bây giờ thì ở về thời Trần, đã có một phủ cũng mang tên Lạng Giang.

Phủ Lạng Giang này, sang đến thời Lê, theo sách "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi, gồm có đến 6 huyện. Rồi đến thời Nguyễn lại có thêm hai huyện nữa. Đồng thời, theo sách "Đại Nam nhất thống chí" thì còn có cả một tòa thành làm trung tâm đầu não gọi là thành Dền, đặt ở địa phận xã Châu Xuyên, huyện Bảo Lộc (còn di tích ở phố Châu Xuyên, phường Lê Lợi, TP Bắc Giang hiện nay) nữa cũng mang tên là "Thành Phủ Lạng Giang".

Chữ LẠNG, vừa ở trong tên của sông Thương một thời, vừa là thành tố của địa danh cả một miền đất và người rộng lớn trên đôi bờ nước sông ở về thời Trần, thời Lê, thời Nguyễn, xa xưa hơn, ở về thời Lý còn chính là tên của một châu, là châu Lạng.

Châu Lạng - viết và đọc theo văn phạm tiếng Hán Việt thì thành ra Lạng châu - là một trong 12 châu của nước Đại Việt thời Lý, được chép tên vào sử sách. Đó là một châu nhưng nhiều khi cũng được coi như một lộ. “Châu Lạng tương đương với miền Lạng Sơn, nhưng châu ấy có lẽ cũng được xem là lộ”- đó là nhận định của Giáo sư Đào Duy Anh trong sách “Đất nước Việt Nam qua các đời”.

Cũng theo sách này thì: Phụ chính đại thần Hồ Quý Ly, vào và từ năm 1397 “Đổi Lạng Sơn phủ (trước đó là Lạng châu) làm trấn Lạng Sơn”. Như vậy miền đất, đơn vị hành chính và địa danh Lạng Sơn với chữ Lạng là một từ tố của tên gọi đã được hình thành và rồi thành hình trên miền biên viễn ở phía Bắc thượng nguồn sông Thương về thời Trần, trên cơ sở của châu Lạng (Lạng châu) thời Lý trước đây.

Cũng trên cơ sở của châu Lạng (Lạng châu) thời Lý, cùng với việc ra đời Lạng Sơn, thì ở thời Trần, miền đất mà dòng Lạng Giang- sông Thương, sau 70 km thượng nguồn chảy trôi qua miền núi non hai huyện Chi Lăng và Hữu Lũng của Lạng Sơn đến và từ chỗ bây giờ là xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang bắt đầu có tiếp 87 km, dồn nước về ngã sáu Lục Đầu Giang, qua một không gian rộng dài thoáng đãng hơn, thuộc các huyện: Lạng Giang, Yên Thế và TP Bắc Giang (trước đây là Phủ Lạng Thương) rồi huyện Yên Dũng hiện nay. Do đó, từ đây cũng bắt đầu quá trình hình thành rồi thành hình cho và trên miền đất này địa danh đối sánh với Lạng Sơn (tức "miền đất Lạng có nhiều núi non") là Lạng Giang (tức "miền đất Lạng có nhiều sông nước").

Cuộc phân tách nhưng vẫn song song tồn tại gắn bó giữa Lạng Sơn và Lạng Giang được chính thức đánh dấu sự hoàn thành khi Nguyễn Trãi viết xong bản thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo”, trong đó có câu mô tả cảnh tượng thảm bại của quân xâm lược nhà Minh ở chiến dịch Chi Lăng - Xương Giang: “Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường”. 

Đó là lúc bắt đầu vào mùa xuân năm 1428.

Từ những ngày xuân ấy đến những ngày xuân này đã là gần 600 năm tồn tại chữ LẠNG trong địa danh của hai miền Lạng Giang (Bắc Giang) và Lạng Sơn. Chữ ấy, trong tiếng Hán Việt, có ký tự được đọc nguyên gốc, chính quy và phổ biến là Lượng. Ứng chữ Lượng này vào việc gọi tên hai miền đất có sông Thương nối liền thì Lượng Sơn và Lượng Giang chẳng thấy mấy ai nói, chẳng mấy khi được sử dụng. 

Trong tình hình ấy, thấy phổ biến ở khắp nơi và qua các thời, nôm na âm LẠNG được sử dụng để đọc (nói, gọi) chữ Lượng, thành ra các địa danh quen thuộc: Lạng Sơn và Lạng Giang! Tuy nhiên, đã nôm na và quen thuộc là thế rồi, nhưng nếu có ai đứng ở Bắc Giang bây giờ mà hỏi: Lạng Giang (và Lạng Sơn) nghĩa là gì, thì rõ ràng lắc đầu hoặc im lặng là cách trả lời. Bởi vì trong quốc ngữ, "Lạng" chỉ duy nhất có nghĩa là một đơn vị cân đo đong đếm “kẻ tám lạng, người nửa cân”, hoặc “Một lạng (lượng) vàng” chẳng hạn! Do đó chẳng lẽ Lạng Giang nghĩa là “Một lạng sông nước” và (Lạng Sơn: Một lạng núi non)? Như thế, không thể tìm nghĩa của địa danh có từ tố "Lạng" trong các lớp ngôn ngữ (tiếng) Việt hoặc Hán Việt, vậy phải tìm ở đâu?

Có một lớp ngôn ngữ cổ, là tiếng mà những người xưa đã sống ở đất Bắc Giang ngày nay đã nói. Lớp ngôn ngữ cổ ấy, theo thời gian đã bị các lớp ngôn ngữ Việt và Hán Việt trùm phủ lên trên, nhưng- thỉnh thoảng và đôi nơi vẫn trồi lên mà cộng tồn cùng các lớp ngôn ngữ sau này.

Trong sách “Đại Việt sử ký toàn thư” thấy có chép việc gọi người đứng đầu một đơn vị xướng ca là Quản Giáp. Trong tiếng Việt cận hiện đại, người Quản Giáp ấy, được gọi là Kép hát. Và thế là, một thị trấn của huyện Lạng Giang hiện nay, xưa là đất của Động Giáp, bây giờ vẫn đang mang tên gọi là Kép!

Ví dụ ngôn ngữ học này cho thấy: Có thể tìm nghĩa lý đúng của chữ LẠNG ở trong lớp ngôn ngữ cổ mà khoa Ngôn ngữ học đang gọi là tiếng Tày Thái cổ. Theo đó thì, LẠNG ở đây có nghĩa là "đỉnh cao sáng láng".

Và như thế “vỡ òa” ra: Trong khi Lạng Sơn có nghĩa là "Miền đỉnh cao sáng láng có nhiều núi non", thì Lạng Giang mang nghĩa là "Miền đỉnh cao sáng láng có nhiều sông nước". Và Phủ Lạng Thương - tiền thân của TP Bắc Giang bây giờ là nơi đặt thủ phủ của "Miền đỉnh cao sáng láng có nhiều sông nước ở bên sông Thương"!

Mùa xuân này, ngược xuôi theo dòng sông Thương và lưu vực có diện tích rộng đến 3.650 km2 của thủy đạo “nước chảy đôi dòng” này, chiếm gần 95% diện tích của cả tỉnh Bắc Giang hiện đại, ta càng thấy những gửi gắm từ nhiều đời vào cái nghĩa "Đỉnh cao sáng láng có nhiều sông nước" của địa danh ở nơi đây, đang được cố gắng làm cho trở thành hiện thực rực rỡ là như thế nào.

Nhà sử học Lê Văn Lan

1-10 of 18