Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Có một nơi có đến 2 tòa giám mục! Việt Nam có 26 giáo phận trên 63 tỉnh thành trong cả nước. Vì thế cho nên có một số giáo phận bao gồm nhiều tỉnh thành. Mỗi giáo phận ...
    Được đăng 18:50, 30 thg 9, 2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lan man về tên giáo phận và tên hành chánh Công giáo chia địa bàn quản lý giáo dân ra thành từng giáo phận, giống như quản lý hành chánh Nhà nước chia thành tỉnh. Tuy vậy, cả nước có ...
    Được đăng 18:25, 27 thg 9, 2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đường Thái Lập Thành (Đông Du) Tôi đến Thánh đường Hồi giáo ở 66 Đông Du, quận 1. Tình cờ thôi, tôi đọc trên tấm bảng đồng cũ kỹ gắn ở cổng:JAMIA THÁNH ĐƯỜNG HỒI ...
    Được đăng 03:42, 13 thg 9, 2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sao gọi là Ngã tư Ga? Ngã tư Ga là một mốc địa điểm khá quen thuộc với người Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Đó là một giao lộ giữa quốc lộ 1A và ...
    Được đăng 05:49, 26 thg 8, 2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Miên man núi lửa 1.Ghềnh Đá Đĩa là một kiệt tác thiên nhiên ở huyện Tuy An, Phú Yên. Nơi đây những cột đá, tảng đá hình ngũ giác, lục giác xếp đều ...
    Được đăng 08:10, 18 thg 6, 2015 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Có một nơi có đến 2 tòa giám mục!

đăng 18:50, 30 thg 9, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Việt Nam có 26 giáo phận trên 63 tỉnh thành trong cả nước. Vì thế cho nên có một số giáo phận bao gồm nhiều tỉnh thành. Mỗi giáo phận như vậy có tòa giám mục, là nơi vị giám mục cai quản giáo phận ở và làm việc. Có 26 tòa giám mục (và tổng giám mục, tương ứng với tổng giáo phận)  tương ứng với 26 giáo phận trên cả nước. Như vậy chắc chắn sẽ có một số tỉnh thành không có tòa giám mục. Thế nhưng, có tỉnh thành nào có hơn một tòa giám mục không? Có đó!


Giáo phận Hưng Hóa (tiếng Latin: Dioecesis Hunghoaensis) là một giáo phận Công giáo Rôma tại Việt Nam. Giáo phận nằm trên vùng Tây Bắc, Bắc Việt Nam, tương ứng địa bàn 10 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Ðiện Biên, Hòa Bình, Hà Tây, Phú Thọ, Yên Bái, Hà Giang và Tuyên Quang. Tổng diện tích 54.352 km2 .


Tòa giám mục giáo phận Hưng Hóa


Đây chính là giáo phận cai quản một diện tích lớn nhất Việt Nam. Tòa giám mục Hưng Hóa tọa lạc tại số 70 Lê Lợi, thị xã Sơn Tây. Như ta thấy ở trên, giáo phận Hưng Hòa cai quản giáo dân trên địa bàn 10 tỉnh, trong đó có tỉnh Hà Tây, cho nên tòa giám mục của giáo phận đặt tại thị xã Sơn Tây thuộc tỉnh Hà Tây là điều hợp lý.


Oái oăm thay, từ ngày 1/8/2008 toàn bộ Hà Tây đã được sáp nhập vào Hà Nội. Nhưng đó là chuyện hành chánh nhà nước, còn về mặt công giáo thì không có sự thay đổi! Giáo dân tỉnh Hà Tây (cũ) vẫn thuộc giáo phận Hưng Hóa chứ không phải tổng giáo phận Hà Nội. Tòa giám mục Hưng Hóa vẫn ở yên chỗ cũ, nhưng bây giờ thuộc về Hà Nội, địa chỉ là: 70 Lê Lợi, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.


Tòa tổng giám mục Hà Nội


Như vậy là trong khi nhiều tỉnh không có tòa giám mục thì Hà Nội lại có 2: tòa tổng giám mục Hà Nội và tòa giám mục Hưng Hóa!


Phạm Hoài Nhân

Lan man về tên giáo phận và tên hành chánh

đăng 18:25, 27 thg 9, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Công giáo chia địa bàn quản lý giáo dân ra thành từng giáo phận, giống như quản lý hành chánh Nhà nước chia thành tỉnh. Tuy vậy, cả nước có 63 tỉnh thành nhưng chỉ có 26 giáo phận mà thôi, do đó về địa lý giáo phận thường không trùng với tỉnh thành. Phạm vi địa lý và ngay cả tên gọi của giáo phận do Tòa Thánh quyết chứ không phải Nhà nước.


Thường thì tên giáo phận trùng với tên tỉnh, thành phố nơi giáo phận ấy quản lý, nhưng có khi không phải.


Trước năm 1975, ở Sài Gòn có Tổng giáo phận Sài Gòn Nhưng sau sự kiện 75, Sài Gòn đổi tên thành TP Hồ Chí Minh. Chuyện Sài Gòn đổi tên thành TPHCM thì Nhà nước quyết được (Quốc hội thông qua ngày 2/7/76), nhưng Nhà nước làm gì được phép đổi tên Tổng giáo phận thành Hồ Chí Minh! Vì vậy phải xin phép Tòa Thánh Vatican. May thay, Tòa Thánh đồng ý (ngày 23/11/76), và ban cho tên tiếng La tinh là Archidioecesis Hochiminhopolitanus. Kể ra danh xưng Hồ Chí Minh mà đi với giáo phận thì nghe nó cũng hơi kỳ kỳ (sao kỳ kỳ thì tự hiểu nghen), nhưng cũng được cái là tên hành chánh và tên tôn giáo trùng nhau.


Thế nhưng có một trường hợp khác không như vậy. Đó là trường hợp giáo phận Ban Mê Thuột. Giáo phận này ở Buôn Ma Thuột, Đắc Lắk. Trước 75, thành phố này mang tên là Ban Mê Thuột, nhưng sau 75 thì nó tên là Buôn Ma Thuột (tên Buôn Ma Thuột đúng hơn, nó là đọc tắt của Buôn A ma Thuột, tức là buôn làng của cha anh Thuột). Việt Nam ta cũng đề nghị đổi tên giáo phận cho trùng với tên hành chánh, nhưng Tòa Thánh không đồng ý. Kết quả là hiện nay ta có giáo phận Ban Mê Thuột, có tòa Giám mục và nhà thờ chánh tòa đặt tại Buôn Ma Thuột!


Nhà thờ Chánh tòa Ban Mê Thuột tại TP Buôn Ma Thuột. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên trên Wikipedia


Một trường hợp tréo ngoe là giáo phận Xuân Lộc. Trước 1975, giáo phận này ở tình Long Khánh, tỉnh lỵ là Xuân Lộc, vì thế mang tên là giáo phận Xuân Lộc. Sau 75, Long Khánh tách thành huyện Long Khánh và Xuân Lộc, sau đó Long Khánh thành thị xã. Tòa giám mục và nhà thờ chánh tòa giáo phận nằm ở Long Khánh, không phải ở Xuân Lộc, nhưng mà vẫn kêu là Tòa giám mục Xuân Lộc, Nhà thờ Chánh tòa Xuân Lộc...


Nhà thờ Chánh tòa Xuân Lộc, nhưng ở tại Long Khánh, không phải ở Xuân Lộc!


Phạm Hoài Nhân

Đường Thái Lập Thành (Đông Du)

đăng 03:42, 13 thg 9, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Tôi đến Thánh đường Hồi giáo ở 66 Đông Du, quận 1. Tình cờ thôi, tôi đọc trên tấm bảng đồng cũ kỹ gắn ở cổng:


JAMIA THÁNH ĐƯỜNG HỒI GIÁO ẤN ĐỘ

66 THÁI LẬP THÀNH SÀI GÒN


Thánh đường Hồi giáo Ấn Độ thì biết rồi, số 66 thì biết rồi, điều làm gợi nhớ trong tôi chính là tên đường: Đường Thái Lập Thành, Sài Gòn.


Nếu tôi nhớ không lầm thì hồi tôi còn nhỏ, trước 1975, đã nghe nói đến tên đường này rồi, dù tôi không phải sống ở Sài Gòn. Ắt hẳn nó đã từng là con đường nổi tiếng, mặc dù như hiện nay mọi người biết nó là con đường rất ngắn và cũng không rộng (đường Đông Du hiện nay dài khoảng 382 met, lộ giới 20 met).


Search thử trên Google thì quả đúng như vậy, có khá nhiều hình ảnh đường Thái Lập Thành của Sài Gòn xưa, chứng tỏ rằng xưa kia nó rất nhộn nhịp, lưu dấu chân rất nhiều người.


Đường Thái Lập Thành. Ảnh của John A. Hansen trên Panoramio


Một quán bar trên đường Thái Lập Thành năm 1963. Ảnh của Pete Komada.


Điều này cũng hợp lý thôi, vì dù ngắn nhưng con đường này nằm ngay trung tâm quận 1, sát bên Đại lộ Tự Do hoa lệ (đường Đồng Khởi bây giờ).


Thánh đường Hồi giáo trên đường Đông Du, phía sau lưng là khách sạn Caravelle ngạo nghễ. Ảnh: Phạm Tường Nhân


Vị trí hiện nay của đường trên địa bàn phường Bến Nghé quận 1, khởi đầu từ đường Thái Văn Lung đến đường Đồng Khởi, qua các ngã tư Hai Bà Trưng, Thi Sách.


Đây là một trong các đường xưa nhất của Sài Gòn cũ. Thời Pháp thuộc đường mang tên đường số 11. Ngày 2/6/1871, đường mang tên Tự Đức. Ngày 24/2/1897, đổi lại là đường Amiral Dupré. Ngày 22/3/1955, chính quyền Sài Gòn đổi lại là đường Thái Lập Thành.


Lại một câu hỏi khác: ông Thái Lập Thành là ai mà được đặt tên đường nhỉ?


Ông Thái Lập Thành sinh năm 1899 tại Bạc Liêu, trong một gia đình điền chủ giàu có. Ông từng là một viên chức trong chính quyền thuộc địa, hàm Đốc phủ sứ, nguyên tổng trấn Nam phần (thủ hiến) kiêm Đô trưởng Sài Gòn.


Với tiểu sử như vậy, có lẽ không có gì ngạc nhiên nếu tên Thái Lập Thành được đặt cho một con đường ở Sài Gòn. Và cũng không có gì ngạc nhiên khi sau 1975 tên đường này bị chính quyền cách mạng bỏ đi để thay bằng tên Đông Du.


Thế nhưng đời có chuyện éo le. Mặc dù làm đến chức tổng trấn Nam phần kiêm đô trưởng Sài Gòn nhưng ông Thái Lập Thành là một trí thức họat động bí mật cho lực lượng Việt Minh (phần nào đó giống như Phạm Ngọc Thảo hay Vũ Ngọc Nhạ)! Éo le ở chỗ ông bị chính Việt Minh giết lầm.


Tại Sa Đéc, ngày 31/7/1951, Chanson, tư lệnh quân Pháp ở Nam Bộ, và Thái Lập Thành, Thủ hiến Nam Việt cùng nhiều sĩ quan Pháp đang dự cuộc duyệt binh ở thị xã, đã bị cảm tử quân Phan Văn Út (Út Ngọ tức Triệu Hoàng Minh) ném lựu đạn. Thái Lập Thành chết tại chỗ; tướng Chanson tắt thở sau vài giờ, 4 sĩ quan Pháp bị thương. Phan Văn Út hi sinh tại chỗ ... (sau này Phạm Ngọc Thảo cũng từng bị ám sát ở Bến Tre trong tình huống tương tự, nhưng... không chết).


Thái Lập Thành chết oan ức. Là một liệt sĩ cách mạng, ông hoàn toàn xứng đáng được đặt tên cho một con đường. Tiếc thay, dù đã được chính quyền VNCH đặt tên cho một con đường trong quận 1, nhưng con đường mang tên ông đã bị chính các đồng chí của mình gỡ bỏ. Tên đường Đông Du thì cũng có ý nghĩa, nhưng không biết ở suối vàng Thái Lập Thành có cười buồn cho cái chết của mình không?


Ôn lại chuyện quá khứ, nghĩ vẩn vơ vậy thôi, chớ biết nói gì đây?


Phạm Hoài Nhân

Sao gọi là Ngã tư Ga?

đăng 05:49, 26 thg 8, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Ngã tư Ga là một mốc địa điểm khá quen thuộc với người Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Đó là một giao lộ giữa quốc lộ 1A và đường Hà Huy Giáp, thuộc địa bàn phường Thạnh Lộc, quận 12, TPHCM. Giao lộ này bây giờ là cầu vượt, với 4 hướng về trung tâm Sài Gòn, Hóc Môn (quận 12), Thủ Đức và Bình Dương.


Hôm rồi, khi đi ngang qua đây, cậu con tôi hỏi: Sao kêu là Ngã tư Ga vậy ba?


Tôi buộc miệng trả lời: Chắc tại hồi trước ở đây có ga xe lửa!


Bến xe Ngã Tư Ga. Ảnh: Panoramio.com


Cầu vượt Ngã Tư Ga. Ảnh: Panoramio.com


Thế nhưng tôi chợt nhớ lại tuyến đường sắt là từ ga Sài Gòn ở Hòa Hưng rồi ra Bình Triệu tới Dĩ An, tới Biên Hòa. Đường rầy xe lửa làm quái gì đi qua Hóc Môn mà có nhà ga ở đó chứ!


Về nhà hỏi Gu-gồ. Hóa ra không có câu trả lời cho câu hỏi trên. Thật ra trên trang Hỏi - Đáp của Zing có câu hỏi tương tự và câu trả lời (được chọn hay nhất) là:


Ngã tư Ga là 1 cái tên được người dân địa phương đặt cho có từ trước 1975,vì trước đây khu vực này có 1 đường ray xe lửa chạy qua từ ga Gò Vấp đến Dĩ An và khu vực này có 1 con đường cắt ngang mà không có barie làm rào chắn nên thường xảy ra 1 số vụ tai nạn đáng tiếc và người dân gọi là Ngã tư Ga cho dễ nhớ.


Rõ ràng là câu trả lời này rất thiếu thuyết phục. Thứ nhất là vì lộ trình xe lửa không đi qua đây như đã nói trên. Thứ hai là giả sử có đi qua như câu trên nói thì chỉ là đường ray chớ không phải nhà ga.


Hỏi Gu-gồ không được, tôi lật sách Sổ tay địa danh TPHCM do Lê Trung Hoa và Nguyễn Đình Tư biên soạn, tin chắc rằng 2 bậc sư phụ này sẽ có ngay câu trả lời cho mình.


Tiếc thay, trong quyển Sổ tay ấy không có mục Ngã Tư Ga! 


May thay, trong đó có mục cầu Ga. Chú giải về cầu Ga như sau:


Cầu trên quốc lộ 1A, phường Thạnh Lộc, quận 12, TPHCM, dài 15,6 met. Ga gốc tiếng Pháp là gare vì cầu gần ở ga tàu điện (tramway) Sài Gòn - Hóc Môn vào cuối thế kỷ 19 (xây dựng trong 2 năm 1896 - 1897) nên có tên trên.


Vị trí của cầu Ga sát ngay Ngã tư Ga, trên quốc lộ 1, hướng về phía Thủ Đức. Hiện nay khi xây cầu vượt, quốc lộ 1A tách thành 2 nhánh nên có Cầu Ga 1A và cầu Ga 1B, chiều dài khoảng 30 met.



Như vậy, cũng như chữ Ga trong cầu Ga, Ngã tư Ga mang tên này vì nó gần với một ga tàu điện được xây dựng ở đây cuối thế kỷ 19.


Tra cứu thêm một chút thì được biết:


Đường tramway Saigon-Dakao-Gia Định hoạt động từ 1895-1896 và đến Gò Vấp ngày 13 tháng 8 năm 1897. Năm 1904, đường Saigon-Gò Vấp nới thêm đến Hóc Môn, một đoạn dài 13 km. Đến năm 1908 thì đường ray 0.6m được thay thế bởi đường ray 1m. Và cuối cùng ngày 29 tháng 1 năm 1913 thì đường nối thêm từ Gò Vấp đến Lái Thiêu.

(Nguyễn Đức Hiệp - Hệ thống xe lửa công cộng tramway ở Sài Gòn thời Pháp)


Theo thông tin này thì đường tramway tới Gò Vấp hoàn thành năm 1897. Ngày nay vị trí Ngã tư Ga thuộc quận 12 (Hóc Môn), nhưng vào thời điểm đó có lẽ nó vẫn thuộc Gò Vấp, và như vậy thông tin này trùng khớp với thông tin của Lê Trung Hoa.


Tóm lại, gọi là Ngã tư Ga vì ở nơi đây có một ga tàu điện (tramway) được xây dựng từ cuối thế kỷ 19. Biết như vậy cũng tạm thỏa mãn rồi, héng?


Phạm Hoài Nhân

Miên man núi lửa

đăng 08:10, 18 thg 6, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

1.

Ghềnh Đá Đĩa là một kiệt tác thiên nhiên ở huyện Tuy An, Phú Yên. Nơi đây những cột đá, tảng đá hình ngũ giác, lục giác xếp đều đặn khít vào nhau tựa như có bàn tay của một vị thần. Có những mảng nhìn như tổ ong, những mảng khác như chén đĩa xếp chồng lên nhau.




Truyền thuyết kể rằng đây là một kho báu hóa đá. Xưa kia có một người giáu có, vợ mất sớm, không con, nguyện đem của cải phân phát cho người nghèo. Kho báu ông đặt ở ven biển Tuy An. Khi nguyện vọng chưa thành thì ông đã quy tiên. Kẻ xấu tìm đến đây để chiếm kho báu thì tất cả đã biến thành đá như ta thấy hiện giờ.


Truyền thuyết khác lại kể rằng xưa kia vùng đất này có cảnh trí rất thơ mộng, đến nỗi các vị tiên từ thiên đình chọn nơi đây làm nơi đối ẩm đề thơ, ngâm vịnh. Họ đã chuyển chén vàng dĩa ngọc từ cung đình xuống để bày yến tiệc. Khi các vị tiên này ngao du nơi khác, bỏ quên số chén dĩa nói trên, lâu ngày hóa thành những cột đá để thành Ghềnh Đá Đĩa như ngày nay.




Các nhà địa chất thì giải thích rằng cách đây 50 - 60 triệu năm, dòng dung nham núi lửa phun trào, đến đây gặp nước biển lạnh đông lại thành đá, ứng lực phát sinh khi co rút tạo thành những khối ngũ giác, lục giác.


Có lẽ không cần đến truyền thuyết, giải thích về địa chất cũng đã đẹp như một huyền thoại rồi. Hãy tưởng tượng hàng chục triệu năm trước, dòng dung nham nóng bỏng cuồn cuộn chảy tới đây rồi sững lại đứng yên giữa trời biển bao la, đó đã là bức tranh tráng lệ.


2.

Dòng dung nham ấy không chỉ tuôn trào đến ven biển Phú Yên, nó còn tuôn chảy về phía Bắc đến Quảng Ngãi, về Tây Nam đến Đắk Lắk, về Tây Bắc đến Pleiku.


Từ Ghềnh Đá Đĩa, 150 km theo đường chim bay về hướng Tây Nam là các thác Dray Sáp, Gia Long, Trinh Nữ (trước thuộc Đắc Lắk, nay thuộc Đắk Nông). Nếu để ý, bạn sẽ thấy một số kết cấu đá ở đây giống như ở Ghềnh Đá Đĩa, chỉ có điều không nhiều và không tập trung như nơi đó mà thôi.



Các nhà địa chất đã xác định rằng những khối đá nơi đây cũng chính là dung nham núi lửa tạo thành như Ghềnh Đá Đĩa ở Phú Yên.



Dray Sap. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


3.

Lại 150 km theo đường chim bay từ Ghềnh Đá Đĩa về hướng Tây Bắc là thành phố Pleiku, Các nhà địa chất đã xác định rằng quanh thành phố cao nguyên này là 15 ngọn núi lửa cổ, trong đó quen thuộc nhất là ngọn núi Hàm Rồng.


Núi Hàm Rồng nhìn từ cao ốc Hoàng Anh - Gia Lai. Ảnh Phạm Hoài Nhân


Đứng từ tầng cao tòa nhà Hoàng Anh - Gia Lai ở ngay thành phố, ta có thể nhìn thấy ngọn núi này. Bạn hãy nhìn sườn bên phải của ngọn núi trong hình, theo các nhà khoa học miệng núi là một chiếc phễu và dòng dung nham đã chảy theo triền phải này xuống dưới...


Hàm Rồng - DraySap - Ghềnh Đá Đĩa tạo thành một tam giác đều mà mỗi cạnh khoảng 150 km.


4.

Bây giờ lại nhớ tới quê hương mình, Xuân Lộc - Long Khánh. Từ hồi nhỏ, đã nghe mọi người nói rằng ngọn núi Chứa Chan ở Xuân Lộc là núi lửa đã tắt.


Núi Chứa Chan. Ảnh: Wikipedia


Theo Địa chí Đồng Nai, 1/3 diện tích của tỉnh là địa hình núi lửa, trong đó vùng Xuân Lộc là đồng bằng núi lửa chiếm diện tích lớn nhất.


Ở đây không có những khối đá như Ghềnh Đá Đĩa, nhưng có những thứ sản phẩm núi lửa rất gần gũi thân quen với người dân Xuân Lộc - Long Khánh. Đó là đá ong và đất đỏ ba-zan.


Không tạo nên thắng cảnh kỳ vĩ, nhưng đá ong và nhất là đất đỏ đã là thứ đặc trưng của Xuân Lộc - Long Khánh, là nỗi nhớ của người xa xứ. Ai đã từng sống ở đó sẽ không thể nào quên được những con đường đất đỏ, bụi đỏ khi nắng và bùn đỏ khi mưa.


Ừ, hóa ra đời mình cũng gắn bó với núi lửa ghê đó chứ!


Phạm Hoài Nhân

Cù Mông, Phú Yên

đăng 16:50, 1 thg 6, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Tiếng ai than khóc nỉ non
Là vợ chú lính trèo hòn Cù Mông
Công tôi gánh gánh gồng gồng
Trở ra theo chồng bảy bị còn ba

Không đi thì sợ cái nghèo
Có đi thì sợ cái đèo Cù Mông
Không đi thì nhắc thì trông
Có đi thì sợ Cù Mông, Xuân Đài

Cá ngon là cá Cù Mông
Gạo ngon là gạo ở đồng Phú Dương

Đèo Cù Mông. Ảnh: Vũ Vũ, thethaovietnam.vn

Cù Mông là tên dãy núi, tên đèo, tên đầm. Đây là điểm đầu tiên người Việt đến Phú Yên trên bước đường Nam tiến. Cù Mông là dãy núi thuộc Trường Sơn chạy ra biển ngăn cách giữa hai tỉnh Bình Định và Phú Yên. Đèo Cù Mông nằm dài theo quốc lộ 1A quanh co uốn khúc trên mười cây số, phía Tây và Nam núi trùng điệp, trên núi có nhiều đỉnh cao, cây cối xanh tươi bốn mùa như hòn Ông cao 529m, hòn Cả 657m, hòn Chóp Vung 676m, hòn Khô 704m. Vùng núi non này là nơi phát nguyên của hai con sông Bà Nam chảy ra đầm Cù Mông và sông Tam Giang - còn gọi là Sông Cái – chảy ra vũng Chào trong vịnh Xuân Đài. Lưu vực sông tuy nhỏ nhưng độ dốc khá lớn và thay đổi theo mùa. Vũng Cù Mông được che kín bởi bán đảo VĨnh Cửu dài khoảng 15km chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Vũng chỉ có một cửa nhỏ ở Hòn Tôm nằm giữa Vĩnh Cửu Lợi và Từ Nham thuộc xã Xuân Thịnh, khi nước thủy triều lên, cửa sâu chừng 5m. Bờ vũng có nhiều hang hốc là nơi các giống cá sinh sản và phát triển. Cá ở đầm Cù Mông ngon, hợp khẩu vị nhiều người và du khách. Còn gạo ngon ở đây là gạo ở đồng Phú Dương. Phú Dương là đồng ruộng dưới chân dãy núi Cù Mông thuộc xã Xuân Thịnh cách thị trấn Sông Cầu 12km về phía Bắc. Là một xã đồng bằng nhưng có nhiều thôn bán đảo. Hai thôn Vịnh Hòa và Từ Nham sống bằng nghề biển và nuôi tôm hùm, còn thôn Hòa Hiệp và Phú Dương sống bằng nghề nông, ngày xưa đất này màu mỡ, hạt lúa no tròn đã nuôi sống người dân buổi đầu theo bước chân của vị Thành hoàng mở đất : Lương Văn Chánh (1)

Cù Mông dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1460-1497) là vùng đất thuộc Hoa Anh ( Việt Sử xứ Đàng Trong – Phan Khoang). Từ năm 1471 đến năm 1578, vùng đất Cù Mông đến Đèo Cả là đất « Kimi » để cho tự do phát triển. Một sự cộng đồng lỏng lẻo Chiêm Việt tự hình thành. Mãi đến năm 1578, Lương Văn Chánh đưa lưu dân, là những người không sản nghiệp đến đất Cù Mông, Bà Đài ( Xuân Đài ngày nay) để khẩn hoang và được sự giúp đỡ nên vùng đất này phát triển dần dần. Nhưng Cù Mông cũng là vùng đất chịu nhiều gian khổ qua bao cuộc chiến tranh từ thời Tây Sơn, Nguyễn Ánh đến ngày thống nhất đất nước.

Dưới chân núi Cù Mông, thời Tây Sơn có ông Võ Văn Cao, học giỏi thông thạo Kinh Dịch, tính người nghiêm nghị, cương trực, không ưa văn chương phù phiếm. Năm 1773 ( Quý Tỵ) đã cùng với Nguyễn Lữ ( em ruột Nguyễn Huệ) và Nguyễn Văn Lộc đi khắp Phú Yên vào đến Diên Khánh ( tỉnh Khánh Hòa) và Bình Thuận để theo dõi tình hình. Ông liên lạc với vua Thủy Xá (2) và vận động thân hào, nhân sĩ địa phương hưởng ứng cuộc Nam chinh của Tây Sơn.

Đèo Cù Mông. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Năm Kỷ Mùi ( 1799), Nguyễn Ánh đã cho sửa đường sá từ đỉnh Cù Mông trở vào. Về sau khi lên ngôi, năm 1802, Gia Long cho đặt các trạm Bình Phú để giao dịch trên đỉnh Cù Mông giữa tỉnh Bình Định và Phú Yên. Cùng năm ấy, Gia Long cho xây miếu Biểu Trung ở hòn Nần trong đầm Cù Mông thuộc làng Vĩnh Cửu tổng Xuân Bình thờ Thiếu Quận Công Mai Đức Nghị và 526 tử sĩ trong cuộc chiến. Lúc đầu miếu có tên là ‘‘ Cù Mông Công Thần Miếu ’’, đến năm 1851 ( Tân Hợi) vua Tự Đức đổi tên là ‘‘ Miếu Biểu Trung’’. Trước thời Thành Thái cúng tế một năm hai lần vào dịp cúng xuân và thu. Từ thời Thành Thái đến năm 1933 chỉ tế một lần vào dịp xuân kỳ. Trong những năm khói lửa chiến tranh, vùng đất dưới chân đèo Cù Mông thuộc xã Xuân Lộc đã hy sinh hơn 300 người con cho quê hương thanh bình phát triển. Toàn xã hiện nay có một trường phổ thông trung học, bốn trường tiểu học, một phân viện y tế và khu văn hóa. Chợ Xuân Lộc được xây dựng từ năm 1962 đến nay được sửa chữa khang trang. Xuân Lộc đi lên với những khu rừng bạt ngàn xanh tốt, những cây thực phẩm chủ yếu trồng ở Diêm Trường với diện tích 25 ha (1998), với những vườn dừa, vườn đào lộn hột, những đàn bò và đồng cỏ ở Tây Chánh Lộc , Thạch Khê ... Đầm Cù Mông xây dựng làng tôm nuôi trồng thủy sản đến vài trăm hecta ở Long Thạnh. Cù Mông ngày nay không còn tiếng ai than khóc nỉ non và cảnh gánh gánh, gồng gồng nữa.

Vùng đất có diện tích 8.489 ha, dân số 13.292 người ( 1999), có núi Chóp Vung cao 676m giáp ranh với Bình Định. Vùng này có mỏ cao lanh trữ lượng nhỏ, giá trị công nghiệp thấp và mỏ cát Diêm trường có khả năng đáp ứng cho nhu cầu xây dựng vì trữ lượng tương đối lớn. Xuân Lộc còn có sông Bà Bông dài 9,2km và Bà Nam chiều dài 9,4 km đổ ra biển với diện tích lưu vực chừng 28km2 có đập Long Thành và thác Thạch Khê cảnh quan đẹp có tiềm năng du lịch. Xuân Lộc còn có di chỉ khảo cổ Cồn Đình, thuộc thôn Diêm Trường mà Bảo tàng Phú Yên phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam khai quật năm 1997 trên diện tích 80m2 ở độ sâu 1,1m, phát hiện 168 hiện vật, có 51 hòn ghè bằng đá cuội tròn nhẵn, 25 hòn kê có vết lõm trên bề mặt dấu vết ghè đập...

(1) Ông là người vùng Thanh Nghệ, sinh vào khoảng 1540 và mất năm 1611. Lăng miếu mộ ở làng Phụng Tường, xã Hòa Trị, Tuy Hòa được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia.

(2) Nước Thủy Xá ở phía Nam nước Chiêm Thành cũ ( Phương Đình dư địa chí)

Bài: Nguyễn Đình Chúc
Trích từ sách Tìm hiểu địa danh qua tục ngữ, ca dao Phú Yên
Ảnh: Phạm Hoài Nhân (tổng hợp)

Sông Cái - Phú Yên

đăng 07:29, 1 thg 6, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Nước sông Ba chảy ra sông Cái
Anh có vợ rồi de gái làm chi !
Anh về rước vợ mau đi
Kẻo chỉ trở dạ e khi bị đòn.

Em ra sông Cái em nhào
Nghĩa nhơn để lại biết vào tay ai !

Sông Cái còn gọi là sông Kỳ Lộ - sông La Hiên ở thượng nguồn, con sông lớn thứ hai trong tỉnh, phát nguyên từ dãy núi cao trên 1000m ở phía Đông Nam tỉnh Gia Lai và Tây Nam tỉnh Bình Định. Đoạn ở ngoài tỉnh, sông chảy theo hướng gần như Bắc Nam qua vùng núi cao hiểm trở, lòng sông hẹp, độ dốc 3%. Ở đoạn này sông nhận thêm nước của các nhánh chính Tiovan, Cà Tơn, Trà Bương ở bên phải và nước Khe Cách, suối Gấm, suối Cát, suối Mun, suối Đập,..v.v..ở bên trái. Từ Xuân Quang đến biển, sông chảy theo hướng Tây Đông, song cũng có đoạn ngắn chuyển hướng khác nhau. Dòng sông từ Hà Bằng đến Mỹ Long chuyển hướng về Đông Nam. Từ quốc lộ 1A, dòng sông chuyển hướng Đông Bắc và chia làm hai nhánh. Một nhánh chảy ra vịnh Xuân Đài, còn nhánh chính khi đến làng Ngân sơn chia làm hai đưa nước vào đầm Ô Loan và nhánh kia qua làng Hội Phú lại chia hai nhánh nữa, đổ ra biển bằng cửa Bình Ba qua vịnh Xuân Đài.

Sông Cái ( theo bản đồ của Google map)


Sông Cái có chiều dài 102Km, nhưng chỉ chảy trong vùng đất của tỉnh vào khoảng 76km. Diện tích lưu vực sông rộng 1950km2, phần chảy trong tỉnh chỉ rộng 1560km2. Hằng năm lượng nước đổ ra biển khoảng một tỷ rưỡi mét khối. Trữ lượng điện năng khoảng 160.000KW. Trên sông đã có các công trình thủy lợi, nhiều đập chắn nước đưa nước vào ruộng như đập Hòn Cao, đập Triêm Đức, đập Cây Vừng, hồ Phú Hòa và theo qui hoạch còn nhiều vị trí khác có thể xây dựng các công trình thủy lợi khác. Lòng sông Cái rộng, mùa nước lớn ghe thuyền có thể đến Cà Lố ( Kỳ Lộ ngày nay).

Hai bên bờ sông ruộng đồng xanh tốt nhờ phù sa bồi đắp lâu đời. Núi Trường Sơn chạy sát biển, nên vùng Đồng Xuân còn nhiều con suối thêm nước cho dòng sông như suối Cà Tơn, suối Trà Bương, suối Cay, suối Đông Cô ( Tà Hô) bên hữu ngạn và suối Hải Tim bên tả ngạn, lóng sông mở rộng độ dốc giảm chỉ còn một phần ngàn. Sông Cái khi ngang qua nơi nào thì được lấy tên vùng đó gắn cho sông như Kỳ Lộ, cây Dừa, La Hai.v.v..Từ đầu thượng nguồn đến xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân sông Cái còn có tên là sông La Hiên vì sông chảy dưới chân núi này – Núi La Hiên cao hơn 1318m, quanh năm mây che đầu núi, là căn cứ và sào huyệt của Võ Trứ, Nguyễn Hào Sự và phong trào Cần Vương, Cách mạng.

Từ Phú Giang đến cầu sắt La Hai, sông Cái có tên là sông Kỳ Lộ, hai bên bờ sông là núi cao, lòng sông hẹp có nhiều ghềnh. Mùa nước lũ ghe có thể đi lại được. Đây là đoạn sông mà trước kia dân chúng dùng thuyền độc mộc để đi vào các buôn của người dân tộc ở vùng này.

Sông Kỳ Lộ đi qua thung lũng Xuân Phước, Xuân Quang để lại phù sa hai bên tạo ra một màu xanh bát ngát của mía, lúa, bắp...Vùng đất có nhiều làng, dân cư qui tụ đông đúc, sông nước hữu tình mà câu ca dao còn ghi nhớ :

Sông Kỳ Lộ vừa sâu vừa hẹp
Nước Kỳ Lộ vừa mát vừa trong
Thuyền em bơi giữa dòng sông
Tìm anh cho thỏa tấm lòng nhớ thương. 

 Sông Kỳ Lộ khi ngang qua làng Triêm Đức thì lòng sông mở rộng ra, thoáng đãng hơn, con nước lững lờ. Ở vùng này có nhiều bến đò và những chuyến đò ngang, dân thường qua lại, trong số ấy có bến Bà Bang, câu hò còn vang vọng :

Chèo đò đến bến Bà Bang
Đến đền Bà Sứ em than đôi lời! 

Đến thị trấn La Hai, sông Cái còn có phụ lưu nữa là sông Con, phát nguyên từ Vân Canh chảy theo hướng Bắc Nam, men theo tỉnh lộ 6 và dọc theo đường sắt. Hai bên dòng sông đất đai màu mỡ, đồng lúa tốt tươi, gái trai tình tứ nhất vùng :

Nhất gái La Hai
Nhì trai Phường Lụa

Đua thuyền trên Sông Cái ( ảnh Lê Minh)


Sông Cái ích lợi nhiều không những cho nông ngư nghiệp của địa phương mà còn hỗ trợ cho việc giao thông giữa vùng cao và hạ lưu để trao đổi hàng hóa, lương thực, thực phẩm. Không những thế, vào mùa nước lớn, những bè gỗ tre nứa và củi đốt từ rừng sâu cũng được đưa về với vùng hạ lưu sông Cái.

Nguyễn Đình Chúc

Tản mạn về tên gọi Cổ Chiên

đăng 05:45, 18 thg 5, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày hôm qua, 16/05/2015, đã thông xe cầu Cổ Chiên, nối liền Trà Vinh và Bến Tre. Tôi đã nhiều lần đi từ Bến Tre qua Trà Vinh trên chuyến phà Cổ Chiên, nên đọc thông tin này lại nhớ đến những phút giây bồng bềnh trên sông nước Cổ Chiên.


Trên những chuyến phà này


Bước ra ngắm nhìn sông nước


Có chiếc ghe chở lu trên dòng Cổ Chiên


Rồi cập bến Trà Vinh


Tại sao con sông, cửa sông (và bây giờ là chiếc cầu) có tên là Cổ Chiên nhỉ?


Có 3 giả thuyết thường được đưa ra để giải thích nguồn gốc tên Cổ Chiên:


1. Vào năm 1785, khi bị đại bại ở trận Rạch Gầm – Xoài Mút, tàn quân của Nguyễn Ánh phải dùng thuyền chạy trốn xuống phía Nam, đến dòng sông này bị thuyền của Tây Sơn đuổi theo sát quá, quan quân của Nguyễn Ánh cuống quít, sợ hãi đã làm rơi cả trống và chiêng lệnh xuống sông (theo từ Hán - Việt, Cổ là cái trống, Chinh là chiêng). Từ sự kiện này, nhân dân địa phương gọi sông Cổ Chiên (do đọc trại từ "Cổ Chinh" mà ra).


2. Ngày xưa trên dòng sông này thường hiện lên những hình thù quái dị nên người dân bèn lập đàn cầu siêu. Từ đó về sau không còn thấy những hình thù kỳ lạ đó nữa. Nhưng lạ thay, cũng từ ấy người dân lại nghe văng vẳng từ đáy sông có tiếng chiêng trống. Từ đó, người ta gọi là sông Cổ Chiên.

3. Sông này có tên gọi ban đầu là Cochin do các thương nhân Bồ Đào Nha đặt vào thế kỷ XV. Cochin là một thành phố nhỏ trên đất liền của Ấn Độ, quay mặt ra hòn đảo Goa, thuộc địa của Bồ Đào Nha hồi thế kỷ XV. Sau này, người Việt đọc trại thành Cổ Chiên.


Cá nhân tôi không tin chút nào vào thuyết thứ 1 và 2. Khó lòng tên một con sông lớn ở vùng đất Chân Lạp xưa kia lại có tên gốc Hán Việt.


Anh Khiếu văn Chí có vẻ đồng tình với thuyết thứ 3, khi giải thích: Ngày xưa, nước ta là nước Giao Chỉ, dân Malay đọc chữ này thành Kuchi, người Bồ Đào Nha phiên âm sao đó thành Cochin (Chắc là nhầm lẫn với thành phố Cochin bên Ấn Độ). Sau này, từ "Cochinchine" được dùng để chỉ vùng Nam bộ ngày nay (Thêm cái đuôi "chine" thành "Cochin gần China" để khỏi nhầm với Cochin của Ấn Độ). Tên sông Cổ Chiên là từ chữ Cochin mà ra. 


Theo tôi, thuyết này chưa thuyết phục lắm, nhưng vẫn đáng tin cậy hơn thuyết 1 và 2.


Bùi Đức Tịnh trong Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam bộ có nhắc đến tên Cổ Chiên. Theo ông, dựa theo ghi chép trên các bản đồ (của người Pháp) ghi tên sông này là Cochin khiến người ta không biết tên gốc ban đầu là gì, Cổ Chiên hay Cỏ Chiên? Theo ông, có lẽ đúng ra là Cỏ Chiên. Nhưng Bùi Đức Tịnh không giải thích được do đâu có tên gọi Cỏ Chiên.


GS.TS Lê Trung Hoa trong Địa danh học Việt Nam thì khẳng định rằng Cổ Chiên là địa danh có nguồn gốc từ tiếng Khmer, và tên cửa sông Cổ Chiên trong tiếng Khmer là Păm Prêk Alon Kon. Păm là vàm, ngã ba sông rạch, prêk là rạch, Alon Kon là danh từ riêng. Tên gốc này hẳn là đúng rồi, nhưng điều khiến tôi cảm thấy băn khoăn khó hiểu là: Alon Kon sao lại có thể chuyển thành Cổ Chiên được nhỉ?


Một vài ý kiến khác cho rằng chữ Cổ trong Cổ Chiên là từ tiếng Khmer Koh nghĩa là cù lao. Cổ Chiên  cù lao Chiên. Nhưng cũng chỉ thế thôi, không chắc lắm, và cũng không nói được cù lao Chiên là cù lao nào!


Tóm lại, tên gọi Cổ Chiên do đâu mà ra vẫn còn là một câu hỏi chưa có câu trả lời dứt khoát. Không sao, nghĩ đấy là chiêng trống để nhớ một thời lịch sử khi đi trên sông cũng được, nghĩ về một thời xa xưa phương Tây đặt chân lên vùng đất này cũng tốt, mà nghĩ đến những người dân Khmer sinh sống nơi đây từ bao đời cũng hay....


Phạm Hoài Nhân

Tản mạn tên đường ở Sài Gòn

đăng 07:45, 1 thg 3, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

1.

Tôi đi lang thang trong khu dân cư Gia Hòa, quận 9, TPHCM. Nơi đây vừa đặt một loạt tên đường là tên các văn nghệ sĩ nổi tiếng. Đường Thanh Nga, đường Út Trà Ôn, đường Diệp Minh Tuyền, đường Xuân Quỳnh, đường Huy Cận, đường Trịnh Công Sơn...



Trước đây các con đường này được đánh số. Kể ra đánh số thì dễ tìm hơn, vì chẳng hạn mình sẽ biết kế con đường số 5 là đường số 6, còn bây giờ mình sẽ không biết Thanh Nga ở kế bên Út Trà Ôn hay Xuân Quỳnh. Nhưng tên đường là tên người thì thú vị hơn nhiều (nhất là tên các văn nghệ sĩ rất quen thuộc và gần gũi với mình), các tên đường này sẽ được cập nhật vào bản đồ, dần trở nên quen thuộc, cũng dễ tìm thôi mà!


Nghe nói đường số 9 dự kiến được đặt tên là đường Bùi Giáng nhưng cuối cùng được thay bằng tên Nguyễn Đình Thi. Không hiểu vì lý do gì, có người nói là tại ông mất chưa tới 20 năm (nhưng Trịnh Công Sơn mất cũng đâu đã tới 20 năm), có người nói là tại ông... điên (hic, nhưng ông điên rực rỡ kia mà).


Quả thật, nếu đặt tên Bùi Giáng cạnh tên văn nghệ sĩ trong Nam như Thanh Nga, Út Trà Ôn, Trịnh Công Sơn hay thậm chí văn nghệ sĩ ngoài Bắc như Xuân Quỳnh, Huy Cận... thì thấy vẫn hợp hơn Nguyễn Đình Thi! Nhưng tên ông đã không được chọn, thôi đành vậy!


À, mà có đường Xuân Quỳnh sao không có đường Lưu Quang Vũ nhỉ? Ở đó vẫn còn những con đường đang đánh số mà.


2.

Tôi đi lang thang ở Phú Mỹ Hưng. Nơi đây có những tên đường lạ. Rất nhiều tên người nước ngoài. Có một bảng tên đường như thế này:


Ảnh: NS Tuấn Khanh


Tôn Dật Tiên, hay Tôn Văn, là nhà cách mạng Trung hoa Dân quốc thì biết rồi. Nhưng Morison là ai?


Trước hết, e rằng Morison là sai, mà phải là Morrison (2 chữ r) mới đúng.


Thứ hai. nếu đúng Morrison thì là Morrison nào? Wikipedia cho một đống ông Morrison: Rober Morrison là một nhà truyền giáo người Anh, người đầu tiên dịch Kinh thánh sang tiếng Hoa, Jim Morrison là một ca sĩ người Mỹ nổi tiếng, John Morrison là tên của khoảng vài chục ông từ chính trị gia đến vận động viên thể thao, còn Toni Morrison là một nhà văn nữ Mỹ đoạt giải Nobel văn học năm 1993... Vậy tên đường ở đây tôn vinh Morrison nào?


E rằng không phải vị Morrison nổi tiếng nào trong các vị nêu trên, mà lại là một Morrison khác. Một ông Morrison không được nhắc tên trên Wiki. Đó là Norman Morrison (1933 - 1965), người tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam ngày 2/11/1965. Nhân vật được Tố Hữu nhắc đến trong bài thơ "Emily con ơi".


Việc chọn ai để đặt tên đường, có xứng đáng hay không là chuyện của chính quyền, không bàn đến. Nhưng một cái tên dễ trùng như Morrison thì sao không thêm một chút như: Norman Morrison, hay đơn giản là N. Morrison cũng được, để người ta còn biết mình ghi tên ai chứ!


Và quan trọng nhất là đừng viết sai chính tả. Morrison mà ghi thành Morison thì là bôi bác chớ đâu phải tôn vinh!


Phạm Hoài Nhân

Địa danh Cù lao Tân Triều

đăng 01:19, 26 thg 2, 2015 bởi Pham Hoai Nhan

Cù lao Tân Triều, huyện Vĩnh Cửu , Biên Hòa tên gọi này đã từng bị hiểu lầm là “triều đình mới”, “kinh đô mới” do Nguyễn Ánh thiết lập ở Trấn Biên, Biên Hòa để đối đầu với nhà Tây Sơn chẳng hạn như tác giả Mathilde Tuyết Trần qua bài viết Đi tìm dấu vết Bá Đa Lộc (Mgr Pigneau de Béhaine)… 

Trong làng bưởi Tân Triều. Ảnh: PHN


Không phải sự hiểu lầm chỉ có ở các tác giả Việt Nam nhưng thật ra ngay từ năm 1863 Aubaret dịch giả sách Gia Định thành thông chí ra tiếng Pháp, có lẽ là người đầu tiên lầm lẫn khi cho Tân Triều là “lâu đài, triều đình mới”. Nguyên nhân lầm lẫn này có 2 lý do: 

1/ Giám mục P. Béhaine chạy chốn Tây Sơn đã về vùng cù lao Tân Triều để lập chủng viện và sau đó Nguyễn Ánh đã từng tới lui trao đổi, bàn quốc sự với Giám mục ở Tân Triều, do đó người ta lầm tưởng Tân Triều là triều đình mới. Linh mục Louvet, người viết tiểu sử Đức giám mục Pigneau, cho biết rằng: “những lúc không bận hành quân xa, Nguyễn Phúc Ánh có nhiều cuộc gặp gỡ với ĐGM Pigneau. Lúc thì ông mời ngài tới nơi mình ở tại Biên Hòa, lúc thì ông với 2 hay 3 vị quan tới thăm ngài ở Tân Triều...”

2/ Do tên gọi âm Hán Việt và chữ viết La tinh là “Tân triều”: Tân 新 nghĩa Hán là mới và triều có 2 nghĩa: a/ Triều 朝: Nơi vua tôi bàn chính sự (ngày xưa). Như: triều đình 朝廷 và b/ 潮 triều: Con nước, thủy triều. Vì “triều” là đồng âm khác nghĩa nên dễ ngộ nhận là “triều đình”. Thực ra trong thư tịch chữ Hán đã viết cù lao Tân Triều là 新潮, triều 潮 (có bộ thủy) chứ không phải là 朝 như Trịnh Hoài Đức chép trong Gia Định thành thông chí: “… năm Giáp Tý (1744), niên hiệu Cảnh Hưng thứ 4 vì có lũ lớn, bị xói lở chia làm 2, phía đông thành cù lao Ngô phía tây thành cù lao Tân Triều, ở giữa có một sông nhỏ vừa cạn vừa hẹp chia ranh giới”Như vậy, chính xác tên gọi Tân Triều chỉ hình thành sau năm 1744 do trận lũ lụt chứ không phải là ra đời sau khi Nguyễn Ánh có mặt ở Tân Triều cùng với Bá Đa Lộc. Danh xưng “tân triều (tân trào)” chỉ triều đình, kinh đô mới của Nguyễn Ánh thực ra là ở Sài Gòn, thành Gia Định. Năm 1788, Nguyễn Ánh đánh chiếm được Sài Gòn, xây dựng thành quách để chống lại Tây Sơn.

Tóm lại, địa danh cù lao Tân Triều không thể được hiểu là triều đình mới của Nguyễn Ánh như một số tác giả đã hiểu lầm nhưng chỉ là tên gọi chỉ một cù lao mới được tạo ra sau trận lụt lớn năm 1744 từ 1 cù lao ban đầu là cù lao Ngô.

Đinh văn Tuấn

1-10 of 20