Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Giếng nước Mỹ Tho, có "miệng giếng" rộng 7 ha! Hôm bữa tui có kể về cái giếng nước lớn nhứt Việt Nam (hổng chừng là cả thế giới luôn nữa), đó là giếng nước Mỹ Tho, kèm theo một ...
    Được đăng 03:29, 5 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Biển lở nơi miệng rồng Nhiều người cho rằng Hàm Luông có tên gốc là Hàm Long. Thời nhà Nguyễn do “kỵ húy” để tránh chữ Long (Long là rồng, tượng trưng cho nhà vua ...
    Được đăng 03:01, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cửa Tiểu không còn như xưa Chưa làm “biến mất” một dòng sông, nhưng thời gian qua nhiều cồn bãi có diện tích lớn đã và đang hình thành nơi cửa sông Cửa Tiểu.Cửa Tiểu ...
    Được đăng 02:55, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đổi đời ở cửa Trần Đề Khi chưa có cảng, Trần Đề là xóm ngụ cư của những gia đình làm nghề đóng đáy và nghề lưới, phần đông là hộ nghèo nhưng bậy giờ thì ...
    Được đăng 02:48, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ba Lai - chia hai mặn ngọt Sông Ba Lai chảy qua bốn huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Bình Đại và Ba Tri (Bến Tre), tổng chiều dài khoảng 55km.Những con rạch phía ngoài cống đập ...
    Được đăng 02:40, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Giếng nước Mỹ Tho, có "miệng giếng" rộng 7 ha!

đăng 03:29, 5 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Hôm bữa tui có kể về cái giếng nước lớn nhứt Việt Nam (hổng chừng là cả thế giới luôn nữa), đó là giếng nước Mỹ Tho, kèm theo một số thắc mắc. Bữa nay, sau khi... lặn xuống giếng tìm hiểu một hồi tui viết thêm bài này để giới thiệu thêm một số thông tin mới biết được.

Tự điển tiếng Việt định nghĩa Giếng như sau: Hố đào thẳng đứng, sâu vào lòng đất, dùng để lấy nước. Mở rộng ra hơn nữa, ta có giếng dầu do các giàn khoan đào ngoài biển khơi. Dù là giếng nước hay giếng dầu đi nữa thì hình ảnh chung của cái giếng là độ sâu lớn hơn nhiều so với miệng giếng.


Thôi, không kể giếng dầu là thứ đặc biệt (và thường là rất lớn), ở đây ta chỉ xét giếng nước thôi. Có ai không biết cái giếng là gì hông? Ờ, thì giếng nước là vầy nè:




Vậy cái này phải cái giếng hông?




Tui cảm thấy băn khoăn ghê lắm, nhưng câu trả lời chính thức thì đúng nó là cái giếng
Gọi đầy đủ là Giếng Nước hoặc Giếng Đôi (vì gồm 2 cái giếng). Tên của nơi có cái giếng này là Công viên Giếng Nước, thuộc thành phố Mỹ Tho. 


Thông tin về Giếng nước Mỹ Tho ghi trong Địa chí Tiền Giang như sau:


“Giếng nước Mỹ Tho là một hệ thống gồm 2 giếng được đào với mục đích trữ nước cấp cho Thành phố Mỹ Tho:

Giếng nhỏ nằm kề sông Tiền giới hạn bởi các đường xe lửa (Bắc, nay là Lý Thường Kiệt), Doudard de Lagrec (Đông, nay là Yersin), đường tỉnh số 26 (Nam, nay là Lê Thị Hồng Gấm) và đường Tết Mậu Thân hiện nay (Tây). Giếng nhỏ dài trung bình 190 m, rộng 85 m.

Giếng lớn ở ngay phía Bắc giếng nhỏ, kéo dài từ đường Lý Thường Kiệt (Nam) đến đường Ấp Bắc hiện nay (Bắc), phía Tây và Đông vẫn là đường Tết Mậu Thân và Yersin. Chiều dài giếng lớn là 800 m, bề rộng như giếng nhỏ.

Giếng nhỏ thông với Sông Tiền qua một cống ngầm dưới đường Lê Thị Hồng Gấm và 2 giếng thông nhau cũng bằng một cống ngầm dưới đường Lý Thường Kiệt. Trước đây nước từ sông được lấy trữ trong giếng nhỏ để lắng bớt phù sa sau đó cho vào giếng lớn và cấp cho nhà máy nước. Hiện nay nhà máy đã không còn lấy nước từ giếng nữa, tuy vậy nước ngoài sông vẫn được cho vào, chủ yếu để tạo cảnh quan đô thị. Đến năm 1988 bờ giếng lớn phía đường Ấp Bắc và đường Lý Thường Kiệt bị xói lở dần ảnh hưởng đến sự ổn định của đường, vì vậy hai đầu giếng lớn đã được lấp cạn một đoạn khá dài để vừa gia cố đường vừa hình thành công viên. Năm 1998-1999 mái bờ của 2 giếng được lát đá hộc, quanh giếng xây lan can như hiện nay.”



Mô tả giếng nước Mỹ Tho như vậy khá chi tiết, nhưng tài liệu này chưa nói giếng nước Mỹ Tho... ở đâu ra! Tui lò dò... lặn xuống giếng tìm hiểu thì biết thêm:


Tác giả Nguyễn Ngọc Phan trong “Trăm năm dâu bể” cho biết về xuất xứ của Giếng Nước Mỹ Tho: Giếng nước Mỹ Tho nguyên thủy là hào thành Định Tường được đào năm 1826. Lúc chiếm Định Tường (1862), đề phòng nghĩa quân tấn công, chính quyền thực dân đã cải tạo hào thành nầy thành kinh, đặt tên là kinh Nicolais. Kinh Nicolas theo thời gian bị bùn lấp cạn dần. Hai bên bờ cỏ lau rậm rạp. Đến năm 1927, kỹ sư người Pháp Partilény lập đề án cải tạo kinh Nicolas thành hồ chứa nước. Công trình này hoàn thành năm 1933, đây là thời điểm nó được gọi là Giếng nước Mỹ Tho như ghi trong Địa chí Tiền Giang.

Như vậy, xuất xứ và mô tả Giếng Nước Mỹ Tho khá rõ ràng. Tuy nhiên, có một thắc mắc chưa được giải đáp: Tại sao lại gọi đây là “giếng” mà không phải là “hồ”?


Như ta thấy, xuất xứ đây là hào, rồi thành kinh, từ kinh chuyển thành hồ chứa nước. Vậy mà không gọi là hồ, lại gọi là giếng. Ta có thể tính được diện tích mặt giếng nhỏ là 16.150 m², diện tích mặt giếng lớn là 68.000 m². Như vậy, giếng lớn có “miệng giếng” rộng tới… gần 7 ha, đây có lẽ là miệng giếng rộng nhất Việt Nam!


Giếng nước Mỹ Tho trên Google Maps


Hầu hết người dân Mỹ Tho đều tỏ ra quá quen thuộc với cái tên Giếng Nước quê mình đến mức chẳng buồn thắc mắc vì sao cái giếng lại… to như thế! Khi được hỏi thì họ ngẩn ngơ một chút, rồi có người giải thích: Tại vì nó chứa nước để uống nên gọi là giếng, còn hồ là chứa nước để… tắm!


Anh Mai Việt Hùng – một người thuở nhỏ sống ở Tiền Giang – nêu ra một lý giải khá thú vị: Người Định Tường xưa (tức Tiền Giang ngày nay) rất khiêm tốn. Họ luôn thu mình lại trước các sự việc bất kỳ. Thí dụ như con sông có bến phà qua Kiến Hòa ngày xưa (tức Bến Tre ngày nay) nó tên là “Rạch Miễu”, dù nó rộng bằng 20 con rạch nhập lại. Chiều dài cầu Rạch Miễu bắc qua “con rạch” này là 2.868 met, trong khi cầu Mỹ Thuận bắc qua sông Tiền chỉ dài 1.535 met cho thấy “con rạch” này rộng tới cỡ nào! Vậy thì chuyện họ gọi cái hồ lớn thành cái giếng cũng là lẽ thường thôi.


Dù giải thích thế nào đi nữa, một điều hiển nhiên rằng Giếng nước Mỹ Tho là một thắng cảnh ở thành phố này, đáng để ta đến tham quan và trầm trồ: Đây là cái giếng lớn nhất Việt Nam!



Phạm Hoài Nhân

Biển lở nơi miệng rồng

đăng 03:01, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nhiều người cho rằng Hàm Luông có tên gốc là Hàm Long. Thời nhà Nguyễn do “kỵ húy” để tránh chữ Long (Long là rồng, tượng trưng cho nhà vua) nên gọi chệch là Luông, lâu dần thành quen.

Những người nông dân ở bên cửa sông Hàm Luông luôn lo lắng trước nguy cơ sạt lở đất - Ảnh: Tấn Đức


Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức miêu tả vùng cửa sông này như sau:

“Sông rộng như là vực rồng, hang giao, thường có cá to, sấu lớn trồi lên hụp xuống. Nước sông thường trong, ngọt, sóng gió dập dình, có cái hứng nhìn một cái trông rõ mênh mông vạn khoảnh”. Nhưng bây giờ...

Biển lở

Bên rẫy dưa hấu vừa trồng hơn tuần, ông Đào Văn Khỏe (Út Khỏe, 43 tuổi), ấp Thạnh Thới B, nói trong âu lo: “Đang lúc nước ròng, biển lùi ra xa hàng mấy trăm thước vậy đó, nhưng khi thủy triều lên sóng biển tràn vô tuốt trong này.

Để bảo vệ 6 công đất (6.000m2) còn lại, mấy năm trước tui đã tốn cả trăm triệu đồng mướn Kobe (xe ủi đất) làm bờ bao rồi kêu xáng thổi giồng cho đất cao lên để làm rẫy.

Không biết con đê này có chịu nổi qua mùa gió chướng năm nay (thường bắt đầu vào tháng 9, kết thúc vào tháng 11 âm lịch) không nữa”.

Ông Út Khỏe cho biết đây không phải lần đầu tiên ông làm bờ bao chắn sóng. Hồi mới lấy vợ, ông Út được cha mẹ chia cho hơn 2ha đất bên cửa sông Hàm Luông.

Vài năm gần đây có khi qua một mùa gió chướng, cơ quan chức năng địa phương xuống đo đạc lại để điều chỉnh diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông thấy mất tới hơn 2 công đất.

Tiếc của, vợ chồng Út Khỏe vắt sức đào đắp bờ bao rồi trải cao su mặt ngoài để ngăn sạt lở, nhưng vẫn không kìm được nước chân “hà bá”.

Không chỉ mất đất, năm ngoái ruộng dưa của ông Út Khỏe còn chừng nửa tháng là tới ngày thu hoạch, nhưng chỉ qua một đêm dông sóng vỗ tràn bờ đánh tan tác khiến ông thiệt hại hơn 40 triệu đồng đã đầu tư.

“Chỉ mong 6 công đất rẫy còn lại sẽ trụ được thêm 3 - 4 năm nữa để tui có thể lo cho con trai đang học ở Đại học Đồng Tháp” - ông Út Khỏe buồn hiu nói.

Cạnh rẫy dưa của ông Út Khỏe, vợ chồng ông Nguyễn Văn Ô cũng đang đứng ngồi không yên vì sóng biển đã vỗ về mí chân đê. “Trồng đại vậy chứ không biết có kịp ăn không nữa” - ông Ô bày tỏ âu lo khi chúng tôi hỏi rẫy đậu phộng của ông bao giờ thì nhổ.

Trong khoảng chục năm nay, ông Ô đã mất gần 1ha đất do sạt lở. Cách đây tám năm, vợ chồng ông cất nhà sâu trong bờ nhưng bây giờ biển đã lở vô gần tới.

“Nhiều đêm nằm nghe sóng vỗ ì ầm sát bên nhà ngủ không được, lại xách đèn pin ra bờ đê kiểm tra lỗ mọi. Nếu mình không phát hiện kịp thời để trám lại, sẽ bị sóng đánh rộng ra kể như mất trắng cả rẫy lẫn nhà” - ông Ô than.

Để đảm bảo an toàn, vợ chồng ông đã gửi hai đứa con nhỏ, đứa lên 7, đứa lên 9, đến nhà ngoại ở xã Giao Thạnh (huyện Thạnh Phú) trạm trú. Hằng ngày một mình ông ở lại bám trụ để canh mấy công rẫy nuôi vợ con.

Đó cũng là tình trạng chung của nhiều chủ đất đang sinh sống trên cung đường ven cửa sông Hàm Luông như ông Ba Tuất, ông Bảy Thạo, ông Hai Lẹo, bà Tư Tròn, ông Út Minh... Với giá đất hiện tại khoảng 40 triệu đồng/công, tính sơ tài sản thiệt hại của mỗi gia đình đã lên tới nửa tỉ đồng.

“Trong khoảng 10 năm trở lại đây, tình trạng sạt lở diễn ra với tốc độ nhanh trên đoạn hơn 3km bờ biển, có nơi ăn sâu vào bờ hàng trăm mét khiến nhiều hộ dân không chỉ mất đất sản xuất mà còn mất luôn chỗ ở. Thiệt hại do thiên nhiên gây ra đã vượt ngoài khả năng đối phó của địa phương” - ông Hà Văn Doi, chủ tịch UBND xã Thạnh Hải, bày tỏ lo lắng.

Cửa Hàm Luông nhìn từ cồn Bửng - Ảnh: Tấn Đức


Mưu sinh ở cồn Bửng

Cồn Bửng nằm kề bên ấp Thạnh Thới B, một trong những địa bàn xa xôi nhất của cù lao Minh. Mấy năm trước chưa có cầu, từ trung tâm huyện Thạnh Phú muốn đến xứ “cồn trên cồn này” phải qua phà Cầu Ván, sau đó đi đò ngang qua cồn Tra, rồi thêm một chuyến đò nữa mới ra tới cồn Bửng.

Nằm ở mé ngoài cửa sông Hàm Luông, hướng ra Biển Đông, những năm qua tình trạng sạt lở ở đây cũng không kém phần “ác liệt” nhưng nhiều gia đình vẫn kiên trì bám biển mưu sinh.

Chúng tôi đi tìm ông Hồ Văn Na (Năm Na, 61 tuổi), một trong những người đã sinh sống lâu nhất ở cồn Bửng. Đó là một người đàn ông khá đặc biệt: không biết chữ, không biết đi xe máy, và đặc biệt rất hiếm khi ra khỏi địa phương, vì như ông nói “hễ xa cồn, xa biển là tui bịnh liền”!

Hồi đó nhà ông Năm Na ở đầu cồn Bửng. Từ sau cơn bão Linda (1997), cồn Bửng bắt đầu lở mạnh. Biển đã nuốt cả một đoạn cồn dài hơn cây số, đuổi hàng chục gia đình chạy trối chết, trong đó có ông.

Sau năm lần dời nhà chạy lở trên thửa đất khai hoang, Năm Na được địa phương cấp mấy công đất phía đuôi cồn để sinh sống.

Nhận đất, vợ chồng ông cùng tám người con (được đặt tên theo từng cặp đôi cho dễ nhớ: Được - Việc, Phượng - Thắm, Nam - Quốc, Chiến - Trận) đã mất nhiều công sức bồi đắp, tôn cao con đê xung quanh không cho nước biển tràn vô, rồi ngày qua ngày bới cát nhặt hơn 100 giạ ốc viết, vỏ sò đổ đi mới trồng cây xuống được.

Ngoài thời gian chăm sóc mấy công rẫy, hễ rảnh tay cả nhà lại vác xiệp ra biển đẩy ruốc. Bắt được bao nhiêu mang ra phơi ngay trên bãi cát.

Tới mùa ruốc hội lại kéo nhau đi đẩy xiệp, rồi phơi ngay trên bãi cát ven biển. Mỗi ngày cũng kiếm được vài giạ ruốc khô, thu nhập chừng 300.000 đồng. Hết mùa rẫy, mùa ruốc, lại xoay qua nghề đóng đáy sáo.

“Đây là nghề hơi đặc biệt” - ông Năm Na cho biết. Về hình thức cũng giống như đáy hàng khơi, nhưng đáy sáo không tập trung thành hàng, thành dãy mà phân tán mỗi nơi chừng vài ba miệng.

Người chủ đáy sáo mỗi tháng chỉ thả hai đợt vào thời điểm trăng sáng nhất và tối nhất, mỗi đợt kéo dài 3-5 ngày. Đây là lúc nước rong (triều cường) dòng chảy mạnh, dễ trúng cá tôm.

Ngoài thời gian này chủ tháo miệng đáy đem về nhà cất, chỉ để lại mấy hàng cọc cho những bạn đáy “vãng lai” mượn đóng tạm. Không cam kết, hứa hẹn gì nhưng đã thành thông lệ: hễ ai thấy cọc đáy bỏ không thì cứ mang miệng đáy ra đóng, không cần hỏi han gì hết.

Tới chừng nước rong, “chính chủ” mang miệng đáy ra thả thì bạn đáy vãng lai tự động dỡ đi. Cứ vậy mà khai thác, chưa thấy xảy ra “tranh chấp chủ quyền” bao giờ.

Bởi nói như Năm Na: “Mình có hàng (đặt đáy trúng) thì phải chia sớt cho bạn đáy nghèo để họ còn có tiền mua gạo. Vậy làm nghề mới bền lâu được”.

Chiều muộn chúng tôi gặp lại gia đình ông Chín Tiền, bà Hai Giả, bà Năm Liên và nhiều ngư dân lấm lem đất cát đang trên đường về nhà sau một ngày lao động.

Người thì hớn hở với mấy con cá to đùng giăng được, người khác lại nghiêng thùng khoe mớ cua ốc nhặt trong các vũng nước đọng lại trên bãi biển.

Vài năm gần đây khi con đường ra cồn Bửng được khai thông, vào mùa khô khách du lịch các nơi rục rịch đổ về cồn Bửng để tắm biển và tham quan bãi ốc viết.

Nhà nghỉ, quán ăn đã dựng lên. Nhưng bên cạnh không gian náo nhiệt do khách phương xa tạo ra đó, nhiều ngư dân cồn Bửng vẫn lặng lẽ mưu sinh như bao năm dài vẫn vậy.

Theo Hội Nghề cá tỉnh Bến Tre, vùng cửa sông Hàm Luông hiện tại có chiều dài khoảng 20km tính theo đường chim bay, chỗ hẹp nhất 1,73km, chỗ rộng nhất 10km (khu vực cửa sông đổ ra biển), bao gồm tám xã: Mỹ An, An Điền, Thạnh Phong, Thạnh Hải (huyện Thạnh Phú), An Hiệp, Hiệp Đức, An Hòa Tây, An Thủy (huyện Ba Tri), với hơn 18.000 hộ, 81.000 người, trong đó khoảng 85% sống bằng nghề cá.

TẤN ĐỨC

Cửa Tiểu không còn như xưa

đăng 02:55, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chưa làm “biến mất” một dòng sông, nhưng thời gian qua nhiều cồn bãi có diện tích lớn đã và đang hình thành nơi cửa sông Cửa Tiểu.

Cửa Tiểu nhìn từ phà Đèn Đỏ - Ảnh: Tấn Đức


Robinson cồn Ngang

“Thủy triều ở đây lên xuống nhanh lắm, chậm một chút sẽ mắc cạn, không ra tới cồn Ngang được đâu” - anh lính biên phòng nói át tiếng máy rồi tăng ga cho chiếc ghe bứt lên.

Không đầy nửa giờ sau, chúng tôi đã đặt chân lên bãi cát mịn còn in dấu “công trình” do đám dã tràng tạo ra.

Tiếp tục đi bộ băng qua mấy dãy rừng bần, rừng dương, trụ sở làm việc của Đội kiểm soát biên phòng cồn Ngang hiện ra.

Thật bất ngờ khi thấy vườn rau xanh, bể chứa nước mưa, thêm đàn heo rừng vài chục con chạy loanh quanh trong chuồng.

Càng vui hơn khi biết nơi đây đã có điện năng lượng mặt trời và sóng điện thoại di động.

Không chỉ vậy, tỉnh Tiền Giang đang kêu gọi đầu tư làm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng chất lượng cao trên dải đất dài hơn 5,5km, tổng diện tích trên 1.600ha và vẫn đang không ngừng mở rộng về phía đất liền.

Tiềm năng du lịch của cồn Ngang đang được đánh thức, nhưng những ai đã từng gắn bó với Cửa Tiểu không khỏi giật mình trước những biến đổi thiên tạo.

Thiếu tá Nguyễn Thái Dũng (45 tuổi), một trong những người lính biên phòng đầu tiên làm nhiệm vụ ở cồn Ngang, nhớ lại: “Từ thập niên 1980, người dân sinh sống ở Cửa Tiểu đã nghe những tiếng gầm gừ rất lạ từ biển khơi vọng vào mỗi khi thủy triều rút. Người ta lý giải âm thanh đó là tiếng sóng biển va vào bãi cát ngầm của cồn Ngang đang nhô dần lên”.

Khoảng giữa năm 1992, ở tuổi 22, Dũng cùng một chiến sĩ được giao nhiệm vụ ra cồn Ngang bảo vệ an ninh biển và giúp đỡ, hướng dẫn ngư dân vào bờ trú tránh bão.

“Đã biết trước sẽ như Robinson trên hoang đảo, nhưng chúng tôi vẫn mất không ít thời gian để quen với hoàn cảnh sống mới, bởi cồn Ngang bấy giờ chỉ như vạt đất dài giữa biển hoang lạnh, rất ít cây và gần như chìm trong nước mỗi khi triều lên” - thiếu tá Dũng kể tiếp.

Rồi anh đùa: Đặc sản ở cồn Ngang hồi ấy là cát. Làm gì cũng gặp cát, ăn cơm cũng ăn chung với cát. Nước ngọt thiếu thốn vô cùng, chỉ để dành nấu cơm và uống, còn mọi sinh hoạt khác đều bằng nước mặn.

Tới cao điểm mùa biển động (khoảng tháng 9 đến tháng 10), ngư dân ít ra khơi. Có hôm khát nước đến khô họng, không còn nước uống, anh em tụi tôi phải lấy dưa gang ngư dân cho để ăn cho đỡ khát. Rồi một sự kiện khó quên xảy đến.

“Đó là một ngày đầu tháng 10 - 1992, thời tiết đột ngột xấu, gió cấp 7-8 quật liên hồi kèm theo mưa lớn, nước dâng nhanh ngập đến ngang thắt lưng. Bộ đàm đã mất liên lạc từ lúc trời mới mưa nên chúng tôi hoàn toàn bị cô lập giữa biển nước, chỉ còn biết ôm trụ chòi cầm cự trong những đợt sóng ngày càng lớn” - thiếu tá Dũng nhớ lại.

Qua một đêm, liệu bề khó trụ được, Dũng đành bảo đồng đội: “Bỏ chòi, tìm bập dừa mà bám”. Liền sau đó, căn chòi đã bị dông gió cuốn đi.

Ban đầu Dũng còn tỉnh, cố gắng căng mắt tìm tàu đi ngang để kêu cứu. Rồi anh ngất đi, tay vẫn bám chặt thân dừa. Khoảng 17g hôm ấy, người dân xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, Bến Tre (địa bàn giáp ranh Tân Phú Đông) thấy có người bám lặc lè trên thân dừa dạt vô bờ thì xúm lại cứu.

Sau năm tiếng trôi trên biển, Dũng và đồng đội đã được cứu sống. Nghỉ ngơi hai ngày, anh lại tiếp tục ra cồn Ngang làm nhiệm vụ.

Anh cùng ngư dân dựng lại chòi khác, cao như chòi canh nghêu (cỡ 5m), làm lại bếp núc vì tất cả đồ đạc đã trôi hết. Nhắc chuyện cũ, anh lại cười: “Lúc đó gia đình tôi nghe người dân kể loáng thoáng tưởng tôi đã chết, cuống cả lên...”.

Thiếu tá Nguyễn Thái Dũng (bìa trái), người gắn bó với cồn Ngang nhiều năm - Ảnh: nhân vật cung cấp


Cửa Tiểu bây giờ

Nhiều năm gắn bó với vùng đất nơi cửa sông, ông Sáu Tràm (72 tuổi, ở ấp Đèn Đỏ, xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông) đã chứng kiến bao thăng trầm, biến chuyển của thiên tạo.

“Ngày trước Cửa Tiểu hẹp hơn bây giờ nhiều. Để định vị cho tàu thuyền, người ta đã làm một cột hải đăng ở bờ bắc, thuộc xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông.

Trụ đèn cao cả chục thước, được dựng trên trụ sắt vững chãi, nhưng do sạt lở đã sụp mất xuống biển. Từ mé bờ bây giờ ra đến trụ đèn ấy tới nửa cây số chứ chẳng chơi” - ông Sáu Tràm kể.

Trụ đèn đỏ không còn, cả một khu vực rộng lớn bờ bắc Cửa Tiểu, thuộc hai ấp Tân Phú, Cầu Muống (xã Tân Thành) cũng đang bị sạt lở nặng, làm biến dạng cả một đoạn bờ hơn 3km, có nơi tiến sát vào đê biển ngăn mặn cho cả vùng Gò Công.

Vậy nhưng địa danh Đèn Đỏ vẫn được truyền lưu khi nó trở thành tên hành chính quy tụ nhiều cư dân làm nghề biển khắp nơi tìm về.

Và tại đây đã có lúc người ta lại thắp đèn dầu đỏ rực một vùng quê biển để lấy ánh sáng cân đong, phân loại cá tôm mỗi khi tàu thuyền cập bến. Bây giờ thì tất cả đã lùi xa, nhường chỗ cho đèn điện sáng choang.

Trong khi đó phía bờ nam Cửa Tiểu, thuộc xã Phú Tân, huyện cù lao Tân Phú Đông, nơi ông Mười Rớt (65 tuổi) sinh ra lại được bồi tụ liên tục.

“Trước đây đuôi cù lao Tân Phú Đông rất gần với lũy Pháo Đài (xã Phú Tân), nhưng về sau đã bồi tụ, lấn dài ra biển hàng mấy cây số khiến cho vùng đất này có thời gian hoang hóa, đất đai mênh mông nhưng không làm gì được.

Đến khi Nông trường Phú Đông rồi sau này là huyện Tân Phú Đông thành lập (năm 2008), tiến hành khai hoang, làm đê ngăn mặn, đắp đường giao thông, người dân các nơi mới về khai hoang, lập nghiệp ngày càng đông đúc, tạo nên những xóm dân cư như bây giờ” - ông Mười Rớt nhớ lại.

Nhà sưu khảo Phan Thanh Sắc (79 tuổi), cựu hiệu trưởng Trường trung học Hòa Tân (tỉnh Gò Công), một trong những nhân chứng sống của cuộc biến thiên nơi Cửa Tiểu, kể thêm: “Thời phong kiến, triều đình nhà Nguyễn đã cho xây dựng ở cửa sông này nhiều đồn, bảo để kiểm soát, thu thuế tàu thuyền, đồng thời phòng bị, ngăn chặn tàu chiến của Pháp qua đây để đánh chiếm Mỹ Tho, trong đó có cản hàn bằng đá hộc, cọc gỗ nhọn hoắt ngay Cửa Tiểu, mà sau này dân gian vẫn gọi là đập đá hàn.

Điều đó cho thấy Cửa Tiểu từng có một vị trí rất quan trọng trong lịch sử phát triển của vùng đất Tây Nam bộ. Nhưng bây giờ dường như vai trò ấy đã không còn. Người ta nhắc nhiều hơn tới những luồng tàu qua sông Hậu!” - ông Phan Thanh Sắc nhìn nhận.

Nhiều cồn bãi có diện tích lớn đang hình thành

Báo cáo của Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam về tình hình xói lở, bồi tụ ven biển Nam bộ cho biết đoạn bờ biển nằm giữa sông Cửa Tiểu và Cửa Đại được bồi tụ rất mạnh, tốc độ bồi tụ trung bình trên 100m/năm, tính từ năm 1965 đến 1989 bờ đã được bồi ra khoảng 3km.

Từ năm 1989 đến nay đã xuất hiện cồn Nổi (cồn Cống) phía Cửa Tiểu, cách đường bờ cũ khoảng 2,7km và liên tục phát triển về phía bờ, đến thời điểm hiện tại cồn Nổi đã gắn liền với cù lao Tân Phú Đông.

Trong khi đó, khảo sát thực tế của tỉnh Tiền Giang cũng cho thấy ngoài cồn Nổi và cồn Ngang, gần đây đã xuất hiện bãi Vượt cách bờ khoảng 10km. Bãi có chiều dài lên tới 10km, ngang 3km, chỉ nổi lên khỏi mặt nước khi triều xuống.

TẤN ĐỨC - YẾN TRINH

Đổi đời ở cửa Trần Đề

đăng 02:48, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Khi chưa có cảng, Trần Đề là xóm ngụ cư của những gia đình làm nghề đóng đáy và nghề lưới, phần đông là hộ nghèo nhưng bậy giờ thì đã đổi khác.

Một góc khu thị tứ bên cảng cá Trần Đề - Ảnh: Tấn Đức


Ông Trần Văn Niên, cựu trưởng ban nhân dân tự quản ấp Cảng (thị trấn Trần Đề), nhớ lại: “Hồi trước, khi chưa có cảng, nơi đây là xóm ngụ cư của những gia đình làm nghề đóng đáy và nghề lưới, phần đông là hộ nghèo, làm ăn nhỏ lẻ, chưa có phương tiện công suất lớn để ra khơi xa. 

Nhưng bây giờ thì đã đổi khác, nhiều ngư dân trong tay có cả chục chiếc tàu, làm ăn khấm khá, cất được nhà lầu ba, bốn tầng”.

Đó là những gì đang diễn ra ở cảng cá Trần Đề, một điểm sáng nghề biển ở bờ nam cửa sông Trần Đề (huyện Trần Đề, Sóc Trăng).

Từ cửa Trần Đề đến cảng Trần Đề

8g sáng, chợ Kinh Ba hiện ra không khác gì một thị tứ sầm uất miệt biển, với những căn nhà rộng, dài, cao ba, bốn tầng. Dãy ghe thuyền, ken chật khúc sông từ cầu Kinh Ba (đường Nam Sông Hậu) ra tới cửa sông Trần Đề từ tối hôm trước, đã nổ máy ra khơi tự lúc nào.

Khu vực quanh cảng cá chỉ còn khoảng ba, bốn chục chiếc ghe neo đậu cách xa nhau, có cả ghe đánh bắt cá cơm, giàn đèn công suất lớn của ngư dân Bình Thuận cùng những chiếc thuyền thúng úp sụp hai bên.

Vài phụ nữ đội nón lá cắm cúi trở bề cá khô trên giàn, vài người nữa mời khách qua đường mua mấy món hàng khô của họ bày bán gần đó. Cuộc sống êm trôi, nhường lại nhọc nhằn bão tố cho những người đàn ông đang lu bù với lưới với ghe ngoài biển xa.

Theo dòng hồi tưởng của ông Ba Thành - chủ đội tàu đánh bắt xa bờ ở ấp Cảng, thị trấn Trần Đề, hơn chục năm trước nhà cửa ở đây còn thưa lắm. Để gầy dựng khu thị tứ này, Nhà nước đã tiến hành cấp đất cho ngư dân.

Các chủ ghe, tàu đi biển được cấp mé trước, ven bờ Kinh Ba để tiện cho việc vận chuyển sản phẩm. Phần đất liền kề theo phía sau được cấp cho ngư phủ, chuyên làm công ăn chia sản phẩm với chủ ghe.

Vậy là khu dân cư miệt biển của ngư dân tứ xứ đổ về bám biển mưu sinh nhanh chóng định hình.

Rồi nghiệp đoàn đánh bắt hải sản - tổ chức nghề nghiệp của ngư dân - cũng ra đời. “Tiếng nói” của người đi biển không còn đơn lẻ nữa. Con cá, con tôm không lo bị ép giá. Dân mới đi ghe chưa có mối mang, đã có nghiệp đoàn hỗ trợ. Những ngư phủ bán sức lao động trên những ghe tàu có nơi tập trung để dễ bề thuê mướn...

“Trước đây người dân đi đánh bắt về nhà nào đậu ở phía sau nhà đó, vậy nên chuyện mua bán cũng tự bắt mối, tự định giá, “tự xử”. Còn bây giờ ghe vô chưa tới bờ đã gọi điện khắp nơi, giá cả, mối mang đã có sẵn hết trơn, thuận mua vừa bán. Khỏe ru” - một chủ ghe vừa tấp vào cảng để lên hàng phấn khởi cho hay.

Đổi thay trong cung cách mua bán là bước khởi đầu cho những cuộc làm ăn lớn. Tại ấp Cảng, có những chủ tàu đã dám đầu tư hàng chục tỉ đồng để đóng mới đội tàu 20 - 30 chiếc, toàn công suất lớn để ra xa bờ hơn.

Kèm theo đó là các dịch vụ hậu cần: thu mua sản phẩm, cung ứng nhiên liệu, lương thực, thực phẩm tận ngư trường để giảm chi phí đi lại, kéo dài thời gian khai thác trên biển cho ngư dân.

Lớp chủ tàu thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba cũng khó mà đếm xuể. Như gia đình anh Nguyễn Văn Na đi biển cha truyền con nối, đến nay anh đã sắm sửa được hai ghe đánh bắt xa bờ trị giá hơn 4 tỉ đồng, bỏ lại sau lưng cái thời đi ghe lưới quàng, đánh bắt ven bờ, năng suất chẳng bao nhiêu. “Nếu có tiền, tui sẽ tiếp tục đầu tư một cào đôi, cho bạn đi ăn chia” - anh Na cho hay.

Từ ngư phủ, ông Nguyễn Văn Thơ đã vươn lên làm chủ hai chiếc tàu cá đánh bắt xa bờ - Ảnh: Tấn Đức


Ước mơ đời ngư phủ

Ông Năm Thơ (59 tuổi), ở ấp Cảng, nhớ lại buổi đầu khởi nghiệp cách đây hơn 30 năm, bằng việc đi bạn cho tàu cá của người bác ruột.

“Thời đó ra biển không có máy định vị, cũng không có máy tầm ngư hay điện thoại di động như bây giờ, mà chủ yếu nhờ vào kinh nghiệm, có khi đi thì khí thế, về được một nhúm cá” - ông Năm Thơ kể.

Mấy ngày đầu ông bị sóng quật tả tơi, nhưng vẫn quyết bám trụ, chứ không thì vợ con ở nhà bị đói. Thấy ông say sóng, người bác đâm lo, định trả ông về đất liền, nhưng ông kiên quyết: “Say sóng không chết được đâu, bác đừng lo, cứ cho cháu theo học nghề”.

Dần dà ông trở thành ngư phủ, rồi tài công, thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm. Mỗi chuyến đi biển 2 - 3 tuần ông được chia bảy, tám trăm ngàn, có khi cả triệu đồng. Đó là số tiền rất lớn, vì lúc ấy tuy thiếu phương tiện nhưng nghề biển thường trúng đậm, cá bán cũng được giá hơn bây giờ.

Nhờ vậy, sau mười mấy năm đi bạn, ông Thơ đã tích lũy được hơn 30 lượng vàng, tách ra đóng cho riêng mình một chiếc ghe nhỏ. Rồi từ ghe chuyển lên tàu, trang thiết bị hiện đại hơn để vươn ra xa bờ.

Tích cóp dần, đến giờ trong tay ông đã có hai chiếc tàu lớn, mỗi chiếc trị giá hàng tỉ đồng, trang bị đầy đủ phương tiện hiện đại, một chiếc giao cho con trai, chiếc còn lại thuê tài công, bạn lưới, ông ngồi nhà điều khiển công việc từ xa qua điện thoại di động. Khi chúng tôi đang ngồi chuyện trò, người con trai của ông từ ngoài biển gọi về thông báo tình hình.

Nghe xong ông khoe: “Nó nói ở ngoải êm lắm, trúng luồng cá, sắp đầy ghe rồi, ít bữa nữa vô”. Câu chuyện từ ngư phủ trở thành chủ tàu của ông Năm Thơ được nhiều ngư dân ở cảng Trần Đề nhắc tới với lòng ngưỡng mộ.

“Dân làm nghề biển kiêng kỵ nhất là chuyện ngay trước lúc xuất hành, ai đó vui miệng chúc chuyến đi bình an, thuyền đầy ắp cá.

Nhưng trong thâm tâm chúng tôi luôn cầu mong cho “bà cậu” độ đi mau về mau, trúng đậm vài chuyến đặng còn sắm sửa ghe tàu để được đổi đời như ông Năm Thơ” - ông Út Hồng, một ngư phủ quê ở Chợ Gạo (Tiền Giang), nói.

Đó cũng là ước ao của nhiều ngư phủ đang ngồi trên sạp tàu trong khu neo đậu, chờ chia tiền sau chuyến ra khơi.

Họ là dân tứ xứ, từ Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau tới Quảng Ngãi, Bình Định... phần lớn tuổi đời còn khá trẻ, nhưng nhiều người đã có cả chục năm gắn bó với nghề.

Theo nhiều ngư phủ, bình quân mỗi chuyến đi biển chừng 20 ngày, trừ tiền dầu, tiền ăn, tiền nước đá ướp cá, mỗi người được chủ ghe chia khoảng 7 - 8 triệu đồng.

Nếu gặp luồng cá, thời gian đi biển rút ngắn còn phân nửa, trong khi thu nhập tăng gấp đôi, gấp ba. Bởi vậy, nghề đi bạn với những niềm vui bất ngờ, đôi khi lại có hấp lực thu hút cả ngàn lao động tìm về nơi cảng cá thuộc loại lớn nhất miệt Tây Nam bộ!

Chiều muộn, chuyến đò ngang từ cù lao Dung băng qua cửa biển Trần Đề, cặp bến sát bên cảng cá, khiến thị tứ nơi cửa biển càng trở nên rộn rịp hơn.

Vùng đất một thời mang tên Kinh Ba - Bãi Giá (nơi mọc nhiều cây giá), gợi tưởng sự xa xôi, cách trở đang đổi thay từng ngày kể từ khi có cảng cá Trần Đề, có quốc lộ 91C (đường Nam Sông Hậu) thênh thang chạy qua.

Thị trấn Trần Đề hiện có gần 400 tàu khai thác hải sản, tập trung ở ấp Cảng, trong đó 263 chiếc đánh bắt xa bờ (công suất 250 CV trở lên), mỗi năm thu về khoảng 30.000 tấn sản phẩm.

“Đa số hộ gia đình sống bằng nghề biển ở đây kinh tế khá ổn định, nhưng việc đánh bắt xem ra ngày càng đòi hỏi sự đầu tư lớn hơn, bởi đánh bắt theo kinh nghiệm dân gian, đánh bắt gần bờ không còn trúng như trước đây” - ông Trần Văn Niên cho hay.

TẤN ĐỨC - YẾN TRINH

Ba Lai - chia hai mặn ngọt

đăng 02:40, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Sông Ba Lai chảy qua bốn huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Bình Đại và Ba Tri (Bến Tre), tổng chiều dài khoảng 55km.

Những con rạch phía ngoài cống đập Ba Lai thuộc xã Tân Xuân, huyện Ba Tri thường xuyên cạn kiệt do bồi lắng nhanh - Ảnh: Ngọc Tài


Hơn mười năm trước, người ta đã xây cống đập Ba Lai chắn ngang dòng sông. Từ đấy cuộc sống của người dân bắt đầu thay đổi...

Đổi khác một vùng rừng ngập mặn

Những năm đầu thập niên 1970, hạ nguồn sông Ba Lai là ranh giới của hai huyện, hữu ngạn là huyện Bình Đại, tả ngạn là huyện Ba Tri. Tuy chỉ ngăn cách một con sông nhưng thổ nhưỡng lại hoàn toàn khác.

Phía bờ huyện Ba Tri là những cánh đồng trù phú, mênh mông một dãy. Người dân chủ yếu tận dụng nguồn nước biển làm muối. Phía bên kia sông thuộc huyện Bình Đại lại là những vạt rừng ngập mặn xanh ngắt.

Nhà báo Hàn Vĩnh Nguyên (Bến Tre) từng có hai năm “nằm vùng” tại rừng ngập mặn thuộc bốn xã Bình Đại, Thạnh Phước, Thới Thuận, Thừa Đức (huyện Bình Đại) kể trước đây vùng đất này trời ban tôm cá “nhiều như nước sông”.

Chỉ cần ra các con tắc (kênh rạch nhỏ) chờ nước rút lội xuống mò một chút là cá, cua đủ cho cả xóm ăn! “Có lần đi công tác với anh Thanh Liêm khi ấy là chánh văn phòng Huyện ủy Bình Đại, thấy nước cạn anh em rủ nhau giăng lưới.

Mới thả một tay lưới chừng hơn chục thước, quay lại gỡ cá mỏi tay vẫn chưa hết. Thế là cả cơ quan có một bữa cá đuối no nê” - ông Nguyên nhớ lại.

Bây giờ những vạt rừng trong ký ức của nhà báo Vĩnh Nguyên đã thành những vườn dừa, vuông tôm thẳng tắp. Cuộc khai khẩn bắt đầu mạnh mẽ từ sau khi đập Ba Lai hình thành (năm 2002).

Công trình nằm sừng sững, uy nghiêm hiện hữu đã hơn một thập niên qua chứng kiến bao đổi khác của mảnh đất cù lao An Hóa và cù lao Bảo.

Dòng nước cuộn tròn phù sa hay những lượt ghe tàu chở sản phẩm nhà vườn tấp nập nối đuôi nhau vào ra cửa Ba Lai ngày nào giờ chỉ còn là ký ức của nhiều người dân sinh sống hai bên bờ sông này. Thay vào đó, sông Ba Lai giờ trôi yên ả, hiền hòa như chính con người nơi đây.

Ông Hà Văn Vĩ (Hai Vĩ, 82 tuổi), ngụ xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại) chìa đôi bàn tay sần sùi và đôi bàn chân vàng ngoét cả 10 ngón, miên man kể về sự đổi khác của một vùng quê:

“Cảnh vật bây giờ đã khác xưa nhiều lắm rồi. Hồi trước cây mắm mọc khắp nơi. Bước chân ra khỏi nhà là phải đùm cơm và muối hột theo để khi nào đói thì ăn chớ quay về coi như mất nửa buổi. Ngày đi khai hoang tối về dụm lửa nấu cơm, gian khó kể sao cho hết” - ông Hai Vĩ nhớ lại.

Rồi cũng như bao nông dân khác trong vùng, ông Hai Vĩ đào ao, lên liếp để sáu tháng mùa khô nước mặn theo cửa Ba Lai lấn sâu vô ông nuôi cua biển, thả tôm thiên nhiên.

Sáu tháng mùa mưa, nước ngọt từ thượng nguồn sông Ba Lai về nhiều, đẩy lùi nước mặn thì ông trồng bầu, bí, rau màu các loại. Chịu khó chuyển đổi thời vụ nuôi trồng theo tự nhiên gia đình ông cũng đủ ăn, đủ xài. Cho tới ngày con đập Ba Lai hình thành...

“Người dân chúng tôi thật sự được giải cơn khát ngọt! Từ sáu tháng mặn giờ chỉ còn 1-2 tháng (vào thời điểm cận Tết Nguyên đán, khi nước mặn men theo kênh nhánh từ sông Hàm Luông thông qua), nên không còn phải nặng lo cảnh thiếu nước sinh hoạt. Việc trồng trọt có thể diễn ra liên tục, sướng bụng lắm” - ông Hai Vĩ khoe.

Chưa hết, nước ngọt về nhiều, vườn dừa của ông trở nên sung mãn đến lạ. Rồi như để chứng minh, ông Hai Vĩ dẫn chúng tôi ra sau vườn, gọi người cháu dùng móc “giật” mấy quả xuống đãi khách.

“Dừa khô lên giá, chủ vườn lên đời. Nhờ trúng mùa, trúng giá mà không ít gia đình đã có nhà cửa tươm tất, lo cho con cái học hành đàng hoàng” - ông Hai Vĩ khoe.

Cống đập Ba Lai - Ảnh: Ngọc Tài


Cơn khát mặn - ngọt

Dù đập Ba Lai đã và đang mang lại lợi ích cho số đông người dân, nhưng nó cũng sinh ra một cơn “khát mặn” âm ỉ trong nhiều năm qua.

Dạo giá tôm sú, tôm thẻ chân trắng tăng theo chiều thẳng đứng, có khi năm sau cao gấp đôi năm trước, nhiều nông dân như “ngồi trên đống lửa”, chỉ muốn phá hết vườn tược, đào ao nuôi tôm.

Thực tế cho thấy chỉ một vài năm trước đây thôi, bất chấp “lệnh cấm” nuôi thủy hải sản nước mặn trong vùng ngọt hóa, người dân vẫn đào hàng ngàn ao với tổng diện tích hơn 1.000ha để nuôi tôm.

Đi liền theo đó, người ta cũng âm thầm khoan trái phép hàng ngàn cây nước để lấy nguồn nước mặn phục vụ nuôi trồng. Rồi cơ quan chức năng siết việc nuôi trồng theo quy hoạch.

Khắp các làng quê của ba huyện về Ba Tri, Bình Đại, Giồng Trôm (Bến Tre), đi đến đâu cũng nghe người ta bàn tán, lo lắng vì thời hạn Nhà nước cấm nuôi tôm đang đến gần trong khi lợi nhuận từ con tôm vẫn như một giấc mơ đổi đời với nhiều nhà vườn.

Có người còn ví von rằng ba đời trồng dừa không bằng một vụ tôm trúng giá.

Thế rồi do phát triển “nóng” quá, không riêng gì người dân nuôi tôm ở Bến Tre đã phải nếm trái đắng vì giá tôm lên xuống thất thường, dịch bệnh phát sinh ngoài tầm kiểm soát.

Từ chỗ phất lên làm giàu như diều căng gió, nhiều chủ vuông thở dài thườn thượt: Nuôi tiếp không được mà lấp ao cũng chẳng xong, vì hễ dấn vô nuôi thì sợ lỗ, sợ phạt mà lấp ao thì không đủ tiền.

Việc chuyển đổi kinh tế từ mặn sang ngọt xem ra trở thành bài toán khó giải. Ông Lê Văn Em, đại biểu HĐND tỉnh Bến Tre, tặc lưỡi chia sẻ:

“Giờ mười người nuôi chỉ có hai người lời, ba huề và năm người lỗ đứt đường. Hồi trước chính quyền các cấp ra sức cản ngăn nhưng người dân bất chấp, giờ họ mới hiểu”.

Chưa hết, do hiện tượng bồi lắng nhanh làm cản dòng chảy nên tình trạng thiếu nước ngọt đang có dấu hiệu tái phát, nhất là khu vực phía dưới đập Ba Lai. Hơn 20.000 đồng/m3 nước ngọt là số tiền mà hàng trăm hộ dân của xã Tân Xuân và Bảo Thạnh (huyện Ba Tri) nhiều khi phải gồng gánh giờ tiếp diễn trở lại.

“Từng gáo nước ngọt đều được tính bằng tiền nên định kỳ mỗi tháng hai bận (giữa và cuối tháng), đập Ba Lai xả nước ngọt là người dân khát ngọt phía hạ nguồn vui như tết vì được tắm gội thoải mái” - ông Ba Độ, ngụ xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, cho biết.

Rồi ông Độ đưa chúng tôi ra sau nhà, chỉ vào một đoạn kênh gần đập Ba Lai, nói:

“Từ ngày đập Ba Lai hình thành, con kênh này cũng thường kiệt nước hơn vì tốc độ bồi lắng rất dữ. Nhớ lúc chưa có đập, chỉ cần lội ra chừng chục thước là nước lút đầu. Bây giờ cũng lút đầu nhưng không phải nước mà là sình nhão”.

Thời thế là vậy nhưng ông Ba Độ tỏ ra an nhiên: “Tùy cơ ứng biến thôi, đất bồi thì người ta nuôi sò. Ngó vậy mà tiền không đó...”.

Cống đập Ba Lai chắn ngang dòng sông Ba Lai, cách cửa biển khoảng 10km, được khởi công vào tháng 1-2000, hoàn thành tháng 4-2002. Đây là một trong chín hạng mục của dự án ngọt hóa vùng Bắc Bến Tre, với tổng kinh phí dự toán trên 1.200 tỉ đồng.

Theo quy hoạch, dự án có nhiệm vụ cung cấp nước sinh hoạt, ngăn mặn, giữ ngọt, tạo nguồn ngọt, tiêu úng, tiêu chua, rửa phèn, cải tạo khoảng 115.000ha đất tự nhiên, trong đó 88.500ha đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản của các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành và TP Bến Tre.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại nhiều hạng mục khác vẫn chưa hoàn thiện, có thời điểm nước mặn vẫn theo một số kênh nhánh thông với sông Mỹ Tho và sông Hàm Luông đi vào sông Ba Lai, rồi ngược ra phía biển nên Ba Lai bị nhiễm mặn.

NGỌC TÀI - TẤN ĐỨC

Nơi cửa sông đã mất

đăng 02:34, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chính xác hơn là cả dòng Ba Thắc (Bassac) dài rộng, “lội không tới bờ, lặn không tới đáy” như ký ức của nhiều kỳ lão ở miệt đồng bằng sông nước Cửu Long, giờ đã biến đi đâu?

Bản đồ Sóc Trăng năm 1891 rõ ràng với cửa Ba Thắc ra Biển Đông


Cửu Long chín cửa sông, nay đã mất một. Ba Thắc đâu rồi? Để có câu trả lời, chúng tôi tìm tới UBND xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung (Sóc Trăng), nơi cửa sông Ba Thắc từng tồn tại trong một thời gian dài.

Cửa sông Ba Thắc: chỉ còn trong ký ức

Trải tấm bản đồ địa giới xã lên mặt bàn, chỉ vào khu vực cửa sông Cồn Tròn hiện hữu, ông Nguyễn Chí Dũng - chủ tịch UBND xã An Thạnh Nam - diễn giải: “Có lẽ cửa sông Ba Thắc ngày trước là đây, nhưng khi ấy cồn Tròn, cồn Khỉ chưa nổi lên chia tách dòng chảy”.

Vậy còn cả một dòng Ba Thắc dài rộng giờ ở đâu? Chúng tôi thắc mắc.

“Hậu duệ” của sông Ba Thắc giờ là sông Cồn Tròn, nhưng ngày trước con sông này sâu và rộng hơn gấp nhiều lần. Bởi trước đây phân lưu đầu nguồn của sông trổ lên tới vàm Đại Ngãi, phía đầu Cù Lao Dung.

Do biến đổi dòng chảy, một số cồn cát hình thành khiến nguồn nước cung cấp cho sông không còn mạnh mẽ, dòng sông không đủ năng lượng để vùng vẫy đẩy phù sa ra biển, nên cửa sông bị bồi lắng nhanh và hình thành nhiều cồn bãi như hiện nay” - ông Dũng nói.

Ông Trần Hữu Phương, cán bộ xã An Thạnh Trung, người sinh ra và lớn lên ở địa phương này, góp thêm:

“Má tôi kể cách đây 60 - 70 năm hồi bà còn trẻ, chỗ chúng ta đang ngồi đây (trụ sở UBND xã An Thạnh Nam - PV) là biển. Bây giờ đất bồi xa ra hàng cây số. Có lẽ sự bồi đắp ở đuôi cù lao Dung khiến cửa sông Ba Thắc bị bít lại dần rồi người ta quên luôn sự tồn tại của nó”.

Nói vậy nhưng ông Dũng, ông Phương đều khiêm tốn bảo ở địa phương vẫn còn nhiều bậc cao niên am hiểu hơn mình và hướng dẫn chúng tôi đến gặp ông Hai Nhăm (64 tuổi), ở ấp Võ Thành Văn (xã An Thạnh Nam).

Nghe hỏi chuyện xưa, ông Hai Nhăm hồ hởi rủ thêm một người bạn đồng niên lấy ghe máy đưa chúng tôi ra thị sát cửa sông Cồn Tròn.

Suốt mấy chục năm gắn bó với vùng đất này, ông Hai Nhăm đã chứng kiến bao sự đổi thay thiên tạo. Từng vạt rừng, từng bãi bồi, từng phân lưu của sông Ba Thắc xưa - sông Cồn Tròn nay dài rộng ra sao, hình thành từ lúc nào ông Hai Nhăm đều biết tận tường.

“Nơi cửa Ba Thắc ngày trước, từ những năm đầu thập niên 1960 cồn Nổi bắt đầu nhô lên, dân ở đây quen gọi là đảo Khỉ (vì không có người sinh sống, chỉ mênh mông là bần xanh ngắt, khỉ về ở rất nhiều).

Cồn nổi ngày càng rộng ra, giờ đã thành rừng bần phòng hộ, mỗi năm người ta trồng thêm hàng ngàn cây bần để giữ đất, lấn biển làm mất dấu luôn cửa Ba Thắc” - ông Hai Nhăm kể.

Ông cũng nhớ rành rọt con sông Cồn Tròn ngày trước rộng tới vài trăm thước, giờ chỉ còn chừng năm bảy chục thước.

Cầu Cồn Tròn xây cách đây mới hơn bảy năm, vậy mà giờ trở nên dài ngoẵng, ngỡ như người ta xây cầu trên bờ bởi tốc độ bồi lắng, thu hẹp lòng sông diễn ra quá nhanh, ghe tàu không rành luồng lạch thường mắc cạn.

“Có lẽ không bao lâu nữa sông Cồn Tròn cũng sẽ biến mất luôn” - ông Hai tiên đoán.

Nay cái tên Ba Thắc đã biến mất trên bản đồ - Ảnh: Cao Thành Long sưu tầm


Đẩy lùi biển mặn

Ngược thời gian khi chưa có bờ bao ngăn nước mặn, ở cuối Cù Lao Dung dân cư vẫn còn thưa thớt lắm.

Ông Tư Lâm, một trong số ít người đã đưa vợ con về đây lập nghiệp, kể rằng hồi đó muốn trồng lúa phải vượt sông Trần Đề qua xã Đại Ân 2 (huyện Trần Đề) mướn đất gieo mạ, tới tháng 7 âm lịch mới nhổ đem về ruộng mình cấy.

“Lúa là lúa mùa sáu tháng, làm chỉ được 7 - 8 giạ (mỗi giạ khoảng 20kg)/công (1.000m2), đủ ăn qua mùa là may. Bí bầu, rau quả cũng tự trồng trong mùa mưa, cá cua thì nhiều chứ thịt heo hiếm lắm vì mỗi lần đi chợ phải ngồi đò dọc lên tuốt chợ huyện Trà Cú của tỉnh Trà Vinh, đi về mất cả ngày.

Ngán nhất là việc nấu cơm, vì nấu bằng nước mặn nên ăn cơm có “ba tầng”: tầng sống, tầng chín, tầng khét, trước khi ăn phải nhai cục muối để làm quen với cái mặn” - ông Tư Lâm nhớ lại thời gian khó chưa xa.

Khi huyện Cù Lao Dung thành lập (năm 2002) đã đẩy mạnh việc trồng rừng lấn biển, đắp đập be bờ, rồi làm cống để ngăn mặn, dẫn ngọt, cuộc sống người dân ở cuối đất cù lao phất lên nhanh.

Lúa sạ trực tiếp mà không cần gieo mạ từ nơi khác mang về cấy, năng suất tăng gấp năm, bảy lần. Đất cũ đãi người mới. Năm 2010 đường lộ qua các ấp, các xã được trải bêtông, đi lại thuận lợi, xe máy chạy vù vù từ đầu tới cuối cù lao.

Cuộc sống đi lên vui gì bằng, nhưng ông Hai Nhăm nói điều ông tự hào nhất là tình làng nghĩa xóm vẫn giữ trọn như thủa ban đầu đi khai hoang.

“Tuy cách trở đò giang, nhưng những ai có dịp đến đất Cù Lao Dung rồi mới hay hiếm có xứ nào hiền lành và mến khách như ở đây” - ông Hai Nhăm nói.

Mà thật vậy, ở xứ cù lao này mỗi khi có việc hiếu hỉ, tang ma, cất sửa nhà nhà ở..., gia chủ chưa kịp “hô” đã có bà con chòm xóm tới phụ mỗi người một tay. Nuôi con gà, con chó chẳng bao giờ mất, thậm chí vắng nhà cả buổi cũng không cần phải đóng cửa vì chẳng ai trộm của ai thứ gì.

Rồi những khi có bà con ở quê lên chơi vài ba bữa, không đủ bàn ghế, chén đũa để tiếp đãi, liền chạy ù qua hàng xóm mượn tạm; tới đêm mấy đứa con gái, con trai mới lớn trong nhà lại sang bên cô ba, chú bảy trong xóm “ngủ ké” với đám bạn trang lứa, nhường chỗ ngủ ở nhà mình cho khách!

Có lẽ sống giữa bốn bề sông nước nên tính cách con người nơi cù lao cũng chơn chất, hào sảng đến vậy. Tình cờ gặp ông Út Tùng (40 tuổi), nhà ở Kênh Ba (huyện Trần Đề) qua đây mướn đất trồng mía gần chục năm nay.

Mới hỏi thăm vài câu, ông đã nhiệt tình mời về căn nhà tạm ở mé sông ăn bữa cơm canh chua cá ngát nấu với trái bần.

“Nơi này thưa thớt nhà cửa, nhiều lúc cũng thấy buồn, nhưng bù lại 6 công đất mướn mỗi năm làm một vụ mía, trừ hết chi phí lời 12 - 15 triệu đồng, cũng đủ sống và lo cho mẹ cha.

Sống đâu quen đó, tui cũng không muốn dời đổi đi đâu, bởi chỗ này yên bình, khỏe người ra. Ít tiền nhưng sống vui, sống khỏe là được” - ông Út Tùng tâm sự.

Khắp Cù Lao Dung hầu như nơi nào cũng thấy mía. Người dân nơi này sống chủ yếu nhờ cây mía. Mía được trồng từ tháng 4 năm này tới tháng giêng, tháng 2 năm sau thì thu hoạch, năng suất độ chừng 150 tấn/ha, trừ chi phí, nông dân kiếm lời 25 - 30 triệu đồng/ha.

Trước đây lời nhiều hơn do giá mía cao, tuy nhiên vụ mía vừa rồi có lúc sụt xuống chỉ còn 500 - 700 đồng/kg, chặt tại vườn, thấp bằng nửa những năm trước nên có nhà không muốn bán, nhưng ngại bỏ công chăm sóc nên thoạt nhìn tưởng như rẫy mía bỏ hoang.

Dọc dài cù lao đã có người cắn răng đoạn tình với mía, loại cây mật ngọt đã nuôi sống gia đình bấy lâu nay để chuyển sang đào vuông nuôi tôm sú, tôm thẻ.

Đêm Cù Lao Dung đến sớm bởi huyện lỵ chỉ gói gọn trong mấy đoạn đường, đi một chút là hết. Quán xá cũng chỉ vài chỗ cà phê, bún phở, 9g tối nhiều nhà đã tắt đèn đi ngủ. Nhưng cuộc sống nhờ vậy mà thanh thản, yên bình.

TẤN ĐỨC - YẾN TRINH

Sóc Trăng đất cảng

đăng 02:28, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Về vị trí địa lý, tỉnh Sóc Trăng giáp biển Đông ở phía đông và đông nam với bờ biển dài 72km và ba cửa sông lớn Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh đổ ra biển.

Lâu nay người ta thường biết Sóc Trăng như là vùng đất nông - ngư nghiệp có đông người Khmer sinh sống, ít ai nghĩ rằng xưa kia nơi đây từng có một thương cảng lớn chẳng kém cù lao Phố (Biên Hòa, Đồng Nai).

Nơi đây ngày xưa là thương cảng Bãi Xàu (nhìn từ phía sau chợ Mỹ Xuyên) với cầu Chà Và bắc qua sông Bãi Xàu - Ảnh: Hoàng Thạch Vân


Thị trấn Mỹ Xuyên cách TP Sóc Trăng chừng 5km theo hướng biển Đông


Thị trấn Mỹ Xuyên (huyện Mỹ Xuyên) cách TP Sóc Trăng chừng 5km theo hướng biển Đông. Chợ Mỹ Xuyên khang trang ở trung tâm thị trấn, vòng ra sau chợ đi qua cầu Chà Và bắc trên con rạch nhỏ là tới khu phố với nhiều cơ quan hành chính của huyện. Dấu xưa còn lưu lại là những ngôi nhà kiểu Pháp, mái ngói, tường xây sơn vàng, phía trước là con đường nhựa chạy dọc con rạch uốn khúc mà theo các cụ già xưa cũng mang tên Bãi Xàu.

Thương cảng Bãi Xàu

“Khu này hồi xưa lớn lắm, có bưu điện, nhà máy xay lúa chạy bằng hơi nước do Pháp xây dựng, có công xi nấu rượu thiệt bự, nhà việc của hương chức, hội tề…” - lão nông Lâm Văn Bé, 74 tuổi, sống ở đây từ nhỏ, nhớ lại.

Theo tư liệu của Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng, địa danh Bãi Xàu tuy không được đưa vào văn bản hành chính nhưng đã quen dùng trong dân gian. Khoảng thế kỷ 17-18, nơi đây đã hình thành thương cảng Bãi Xàu (còn gọi Ba Thắc - Bassac) nức tiếng một thời. Những thương nhân lớn ở Sài Gòn - Chợ Lớn thường đưa vải lụa, đồ gốm, trà, thuốc bắc và đồ gia dụng về bán. Đổi lại, họ mua lúa gạo, nông sản và cá khô chở về. Hằng tháng có chừng 250 ghe thuyền ra vô tấp nập để mua bán, trao đổi hàng hóa.

Thương cảng có nhiều con đường đẹp, nhiều cửa hàng buôn bán của người Hoa và nhiều ngôi chùa lớn. Các hãng tàu lớn chạy tuyến Cà Mau, Bạc Liêu - Mỹ Tho, Sài Gòn đều ghé qua.

Nhật ký của cố đạo Lavavasseur (1769) cho biết thương cảng Bãi Xàu được hình thành nơi sông Bãi Xàu, bởi nó thông với sông Hậu rồi đổ ra cửa biển. Ngoài gạo, nơi đây còn buôn bán nhiều loại trái cây, rau, gà, vịt, heo... Thay vì chở lúa gạo lên Sài Gòn rồi mới xuất đi nước ngoài, các thương gia người Hoa đã thu mua và bán thẳng cho ghe buôn đến từ nước ngoài. Có lúc thuyền buôn của người Hoa vào đậu san sát từ 100-150 chiếc để mua gạo và đường...

Cầu Ông Điệp - Ảnh: Hoàng Thạch Vân


Nhìn trên bản đồ, từ trung tâm Mỹ Xuyên sông Bãi Xàu uốn khúc tỏa ra hai hướng. Một nối với kênh Tiếp Nhật qua huyện Long Phú, rồi lại nối với sông Saintard đổ ra vàm Đại Ngãi hòa vào dòng chảy sông Hậu. Thật thuận tiện khi từ đây ghe tàu tiếp tục băng ngang sông Măng Thít (Vĩnh Long) để về Sài Gòn. Hướng còn lại vô các huyện Vĩnh Châu, Trần Đề nối với sông Dù Thoa, sông Mỹ Thanh rồi đổ ra biển Đông. Con sông cũng tỏa hướng về Bạc Liêu, Cà Mau nối với mảnh đất tận cùng Tổ quốc.

Theo lời ông Nguyễn Xuân Hồ - nguyên chủ tịch UBND huyện Mỹ Xuyên, hiện là phó bí thư Huyện ủy Trần Đề: “Tới thập niên 1970, thương cảng Bãi Xàu hồi xưa chính là con sông nằm cặp chợ Mỹ Xuyên, vẫn còn là phương tiện lưu thông chính để mua bán lúa gạo ngon nhất ở miền Tây. Lúc đó có ông Huỳnh Yến Truyền, người được mệnh danh “vua mễ cốc miền Tây”, chuyên nghề xay xát, mua bán lúa gạo cung cấp cho thị trường nội địa và xuất khẩu.

Cơ sở của ông Truyền ngày trước hiện là nơi đặt trụ sở UBND huyện Mỹ Xuyên. Doanh nhân Bãi Xàu hồi đó làm ăn rất giỏi. Công xi rượu (“công xi” do nhiều người hùn vốn thành lập, kiểu công ty cổ phần ngày nay) quy mô rất lớn, các thành viên công xi chọn người quản lý, điều hành gọi là “tài phú” giống như giám đốc bây giờ.

Công xi xây ba cái bồn, mỗi bồn chứa cả trăm ngàn lít; rượu chưng cất cho vô bồn chứa, cách sáu tháng mới bán một bồn, người ta nói rượu để càng lâu uống càng ngon là nhờ vậy. Còn nhà máy xay xát lúa gạo xuất khẩu cũng đã có quy trình khép kín rồi. Máy chạy bằng nồi hơi, đốt bằng trấu. Bao nhiêu trấu xay ra đều cho vô lò đốt hết, không thải ra gây ô nhiễm môi trường, lại tiết kiệm nhiên liệu”.

Sông Bãi Xàu nhìn từ cầu Ông Điệp - Ảnh: Hoàng Thạch Vân


Những địa danh kỳ thú

Về tên gọi Bãi Xàu, Tự vị tiếng Việt miền Nam của Vương Hồng Sển có đoạn: “Bãi Xàu là tên Nôm của huyện Phong Nhiêu thời đàng Cựu - thị trấn mua bán lúa gạo lớn trên con sông Mỹ Xuyên, nguồn gốc từ tiếng Khmer là Srok Bai Xau, tiếng Việt nghĩa là “xứ cơm sống”. Tương truyền ngày xưa, những cư dân đầu tiên khám phá vùng đất này đã tạm nghỉ qua đêm nơi đây, dưới một gốc cây bồ đề cổ thụ.

Tình cờ họ bắt gặp trong hốc cây có ổ trứng rắn khá lớn. Vô tình, họ nấu cơm và bỏ trứng vào luộc để làm thức ăn. Không ngờ gốc cây là nơi trú ẩn của cặp rắn thần. Khi đi tìm mồi trở về, cặp rắn thần phát hiện có người xâm nhập lãnh địa và lấy cắp trứng nên giận dữ rượt đuổi. Nhóm cư dân hoảng sợ bỏ chạy trối chết. Khi trời yên gió lặng, áng chừng cặp rắn đã bỏ đi, nhóm cư dân lén quay trở lại thì thấy trứng rắn không còn.

Cơm nấu khi nãy mới “bảy, tám” chớ không được chín, họ đành phải ăn cơm sống đỡ dạ. Để đánh dấu tai nạn đầu tiên nơi vùng đất mới, họ gọi nơi đây là Srok Bai Xau. Sau đó người Việt nói trại thành Bãi Xàu”.

Còn trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức cho biết: tương truyền ở Bãi Xàu xưa có nhóm người Khmer nổi dậy chống lại triều đình. Bị quân triều đình rượt đuổi, họ chạy đến nơi này tạm dừng nấu cơm ăn thì quân triều đình rượt tới khiến họ phải vội vã chạy tiếp và than thở “bài chau” có nghĩa “cơm chưa chín” (bài là cơm, chau là chưa chín). Người địa phương đọc trại âm thành Bãi Xàu.

Học giả Vương Hồng Sển kể rằng tại Bãi Xàu, gần chỗ công xi nấu rượu nếp và nhà máy xay lúa của ông hội đồng Diệp Văn Giáp vẫn còn nền cái kho bạc cũ. Tương truyền đó là kho chứa bạc của nhà vua. Người dân thường nói “xứ này có kho chứa bạc”. Từ “xứ” tiếng Khmer gọi là Srok, còn “kho, vựa, chỗ chứa bạc” gọi là Kh’leang, ráp lại là Srok Kh’leang, người Việt gọi thành Sóc Trăng.

Theo tư liệu của Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng, năm 1737 chúa Nguyễn lập đạo Trấn Di (bao gồm Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau ngày nay) nằm ở hữu ngạn sông Ba Thắc. Năm 1802, vua Gia Long chia đất Gia Định thành ngũ trấn, trong đó Sóc Trăng là một phần của trấn Vĩnh Thanh.

Năm 1834, vua Minh Mạng lại chia đất Gia Định thành lục tỉnh gồm Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, trong đó Sóc Trăng thuộc tỉnh An Giang. Một năm sau, vua lại lấy đất Ba Thắc đặt làm phủ Ba Xuyên. Kể từ đó, tên gọi Ba Xuyên được sử dụng khá nhiều trong các văn bản hành chính. Năm 1836, vua Minh Mạng cho xây dựng thành của phủ Ba Xuyên với chu vi 200 trượng, cao 3 thước, có ba cửa, xung quanh có hào sâu ngăn cách, đặt tại thôn Hòa Mỹ, huyện Phong Nhiêu (Bãi Xàu, Mỹ Xuyên ngày nay).

Phủ thành Ba Xuyên vừa là nơi làm việc của quan lại vừa là nơi trấn thủ, chống lại sự xâm nhập, cướp phá từ bên ngoài. Cái tên Ba Xuyên đến nay vẫn còn khắc sâu trong tâm trí nhiều người dân Sóc Trăng.

Năm 1867, chính quyền Pháp đổi tên hạt Ba Xuyên thành hạt Sóc Trăng. Năm 1899, toàn quyền Đông Dương quy định tất cả các đơn vị hành chính thuộc ba kỳ đều thống nhất gọi là tỉnh. Nam kỳ lúc đó có 20 tỉnh, trong đó có Sóc Trăng. Năm 1976, tỉnh Sóc Trăng hợp nhất với Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang. Năm 1991, Hậu Giang lại được tách ra thành hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng.

Theo nhiều tư liệu, trước khi có tên Sóc Trăng, xứ này còn được gọi là Ba Thắc - tên Việt hóa của Neak Basak, vốn là một hoàng tử xứ Lào thế kỷ 18 do phạm tội với triều đình nên cùng vợ lên thuyền trốn đi. Thuyền bị bão đánh dạt vào cửa biển Trấn Di (nay là Trần Đề), vợ chồng Neak Basak lưu lạc tới Bãi Xàu định cư.

Với tài lực mang theo, họ biến mảnh đất này thành nơi trù phú. Khi Neak Basak qua đời, để tưởng nhớ công ơn, người dân xây miếu thờ ông và đặt tên là Ba Thắc cổ miếu. Hiện miếu nằm trên đường đi Tham Đôn (Mỹ Xuyên), gần chùa Vat Luong Bassac của người Khmer.

Ba Thắc còn là tên của một trong chín cửa sông Cửu Long đổ ra biển Đông, nằm giữa hai cửa Định An và Trần Đề - người Pháp gọi là sông Bassac - thuộc địa phận xã Đại Ân 1, huyện Cù Lao Dung, Sóc Trăng ngày nay. Cửa Ba Thắc đã bị bồi lấp theo thời gian, ngày nay chỉ còn là con rạch nhỏ.

Bến neo đậu ghe tàu ở cửa biển Trần Đề - Ảnh: Hoàng Thạch Vân


Từ Bãi Xàu tới Trần Đề

Từ cầu Chà Và, chúng tôi quay lại con đường sau lưng chợ Mỹ Xuyên. Ông Lâm Văn Bé nói ngày xưa con đường này là vòng cung của sông Bãi Xàu, dần dần lòng sông ở đó bị bồi lắng cạn dần, người dân lấp luôn xây phố chợ - nay là khu vực chợ Mỹ Xuyên - rồi đào một đoạn kênh ngắn chừng 600m xuyên qua vòng cung để nối liền con sông.

Từ cầu Ông Điệp bắc ngang qua kênh theo tỉnh lộ 8 đi tiếp 30km là tới cửa biển Trần Đề với hàng trăm ghe tàu neo đậu chật kín, đa số là tàu đánh cá của Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, Bà Rịa - Vũng Tàu… Ông Nguyễn Hùng Thanh, chủ ghe tới từ Trà Vinh, cho biết: “Tàu đánh bắt xa bờ ở Trường Sa, Phú Quốc, Côn Đảo về đây cũng thuận tiện vì cửa biển nằm sát biển Đông, “lú” cái ra tới biển liền”.

Cách đó chừng vài trăm thước, cảng cá Trần Đề nhộn nhịp đông vui. Dưới nước là tàu biển san sát, trên bờ lớp lớp xe đông lạnh, từng tốp người cả đàn ông lẫn phụ nữ kẻ bốc xếp, người cân đong. Tàu đánh cá chiếc đưa tôm cá lên, chiếc mang dầu, nước đá, thức ăn xuống chuẩn bị chuyến đi biển dài ngày, chiếc nổ máy rẽ sóng ra khơi.

Ông Nguyễn Thành Long, phó chánh văn phòng Huyện ủy Trần Đề, cho biết: “Có khoảng 500 chiếc tàu đánh bắt xa bờ như vậy ra vô mỗi ngày. Ở đây có đầy đủ dịch vụ hậu cần tàu biển như xăng dầu, nước đá, thực phẩm, bốc xếp, đặc biệt thích hợp ghe tàu neo đậu tránh bão. Từ đây chỉ mất 30 phút là tôm cá vô nhà máy đông lạnh nhờ đường giao thông thuận lợi. Sau đó, thủy sản xuất khẩu cũng sẽ lên đường về cảng Sài Gòn qua đường Nam Sông Hậu vừa hoàn thành, rút ngắn thời gian 7-8 giờ so với trước đây”.

Đứng trên cầu cảng nhìn ra, cửa biển Trần Đề rộng mênh mông. Từ bờ này qua bờ kia ước khoảng 4-5km. Không khó để hình dung khi dông gió nổi lên thì nơi đây nguy hiểm như thế nào, để rồi thấm thía cái tên Ba Xuyên tiền nhân đặt cho vùng đất này (*). Tháng 12-2009, huyện Trần Đề của tỉnh Sóc Trăng được công bố thành lập và được coi là cửa ngõ quan trọng thông ra biển Đông với thế mạnh là khai thác, đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản xuất khẩu.
__________

(*) Có hai cách lý giải tên gọi Ba Xuyên: 1. Dưới thời vua Gia Long, vùng này thường xuyên bị cướp biển xâm nhập giết hại dân lành, quan quân triều đình đi dẹp loạn phải qua Vàm Tấn (Đại Ngãi ngày nay), khúc sông quanh co, hiểm trở, để tránh bị phục kích phải hành quân thần tốc; do vậy họ đặt tên con sông này là Ba Xuyên (“thần tốc đi vào”, theo tiếng Hán - Việt: ba là sóng nước, xuyên là đi qua). 2. Vùng này có ba cửa biển Trấn Di, Định An và Ba Thắc, nơi thường xuất hiện sóng thần hoặc triều cường gây nguy hiểm cho tàu ghe qua lại đòi hỏi người cầm lái phải có nhiều kinh nghiệm lướt sóng, vượt qua phong ba mới có thể vào xuyên nội địa.

Dương Thế Hùng

Kinh Tàu Hủ

đăng 02:39, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Ông Bùi Đức Tịnh ghi nhận rằng kinh Tàu Hủ vốn mang tên Cổ Hủ hay Củ Hủ vì khúc kinh chỗ này phình ra rồi thắt lại giống như cổ hủ heo, cổ hủ dừa. Ở Long Xuyên cũng có một con kinh mang tên Tàu Hủ, có người gọi là Củ Hủ. Điều ghi nhận của ông Bùi Đức rất hữu lý. Xin lý giải thêm. Trước hết phải viết cổ hũ mới đúngvì từ ghép này vốn chỉ cái cổ của cái hũ (theo Đại Nam quốc âm tự vị). Các vật có hình dáng phình ra rồi thắt lại đều gọi là cổ hũ, như cổ hũ cau, cổ hũ dừa, cổ hũ heo,… Tiếp theo, ta thấy từ ngữ này dùng để chỉ hình dáng của lòng sông, rạch và đã trở thành địa danh, giống như cổ cò (cổ con cò), cổ lịch (cổ con lịch) đã trở thành địa danh (rạch Cổ Cò ở Nhà Bè và Duyên Hải, sông Cổ Lịch ở Cửu Long). Mặt khác, trong hai từ ngữ cổ hũ và tàu hủ, đối với người Nam Bộ có một yếu tố đồng âm: hũ và hủ phát âm như nhau. Trong trường hợp này, từ ngữ nào quen thuộc hơn (ở đây tàu hủ quen thuộc hơn cổ hũ), sẽ thay thế từ ngữ kia: (trái) sầu riêng thay thế đu-riêng, (cái) lục bình thay thế độc bình, (cái) bồ cào thay thế bừa cào… Hơn nữa, kinh Tàu Hủ, trong Gia Định thành thông chí được gọi là sông An Thông, tục danh sông Sài Gòn và được mô tả là “quanh xa mà hẹp nhỏ, khuất khúc, nước cạn” (Tập thượng , quyển I, tờ 22b – 23a).

Kinh Tàu Hủ - Bến Bình Đông tháng 3/2017. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ngoài ra, từ ngữ Củ hủ chỉ là biến âm của cổ hủ (viết đúng chính tả là củ hũ, cổ hũ), theo hiện tượng đồng hóa vần trong tiếng Việt: (cây) so đũa thành sua đũa, y nguyên thành y nguy, bách kích pháo thành bích kích pháo… Vùng Bến Nghé xưa kia có nhiều rạch từ trên gò đất cao của nền thành Ô Ma (Camp de Mares) cũ đổ xuống. Để thoát nước vào mùa mưa, nhiều con kinh đã được đào thêm, về sau được lấp lại thành những con đường Charner (nay là đường Nguyễn Huệ), Bonard (nay là Lê Lợi), De La Somme (nay là Hàm 
Nghi), Pelleri (nay là Nguyễn Thị Minh Khai).

Trong vùng chợ Lớn, vào năm 1819, phía ngọn rạch Bến Nghé trở nên cạn hẹp nên đã được đào vét lại từ cầu Đề Thuông đến ngã tư sông Rạch Cát. Khúc kinh này dài 5.472 mét được đặt tên là An Thông Hà. Khởi công từ ngày 23 – 1, gần 12.000 dân công đã hoàn thành việc đào kênh trên vào ngày 23 – 4 – 1819, dưới sự điều khiển của Phó Tổng trấn Gia Định Huỳnh Công Lý (cha vợ Minh Mạng). Sau đó, năm 1887 và 1889, kinh Tàu Hủ được đào vét thêm 2 lần nữa dưới thời thực dân Pháp.

Cùng với rạch Lò Gốm và kinh Ruột Ngựa nối tiếp với sông Cần Giuộc phía nam, Kinh Tàu Hũ chiếm một vị trí quan trọng về mặt chiến lược và kinh tế, nối liền đường thủy từ đồng bằng sông Cửu Long đến Chợ Lớn, Sài Gòn. Tàu ghe chở nông phẩm từ Lục tỉnh tới lui tấp nập trên kinh, hai bên bờ nhiều nhà máy xay, chà lúa được dựng lên từ Bình Tây đến Bình Đông.

Ngày 15/2/1859 tàu chiến của tướng Pháp Genouilly đã tiến đánh lần đầu tiên các pháo đài ở ngã ba kinh, tức vàm Bến Nghé để chiếm Sài Gòn lần thứ nhất. Năm 1861 khi trở lại chiếm Sài Gòn lần thứ 2, tướng Page đã dùng 50 tàu và thuyền máy đóng dọc từ kinh Tàu Hũ đến rạch Thị Nghè và bố trí một phòng tuyến vòng cung từ Bắc xuống Nam, dựa vào chùa Khải Tường, Chợ Rẫy, Cây Mai đối diện với đồn Chí Hòa. Chiếc pháo hạm Jaccaréo đậu án ngữ trên kinh Tàu Hũ tại đầu đường Tản Đà, một chiếc tàu khác đậu tại Rạch Cát để uy hiếp đồn Cây Mai.

Năm 1934, phong trào tổng bãi công sôi nổi ở Nam Bộ đã mở đầu bằng cuộc tổng bãi công cả 12 nhà máy xay, dọc theo kinh Tàu Hũ. Ngày 15/2/1938 lại nổ ra cuộc bãi công của 4.000 thợ trên 350 chiếc thuyền chở gạo, hàng ngàn công nhân ở các nhà máy xay và các công nhân hưởng ứng.

Trong hai thời kỳ kháng chiến, quân nhân đã nhiều lần vượt qua kinh Tàu Hũ để tấn công địch ở nhiều vị trí của trung tâm thành phố, nhất là vào dịp tết Mậu Thân(1968).

 

Kinh Tàu Hủ - Bến Bình Đông tháng 3/2017. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ảnh: Phạm Hoài Nhân

Mộc mạc tên làng Tây nguyên

đăng 02:08, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nghệ nhân A Jar, người nghiên cứu về văn hóa tên đất, tên làng Tây nguyên. Ảnh: P.A


Đồng bào Tây nguyên đặt tên đất, tên làng thường rất mộc mạc: có tên gắn với truyền thuyết; có tên gắn với đặc trưng về cây cối, di tích liên quan đến ngày lập làng...

Với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Kon Tum, tùy vào từng dân tộc mà họ đặt tên đất, tên làng gắn với những từ như Kon, Đăk, Plei. 

Phía sau những tên gọi này là những chuyện kể, những truyền thuyết mộc mạc, hồn nhiên, dễ thương như người ở xứ này. 

Làng Kon Kơtu. Ảnh: P,A 


Những tên làng gắn với truyền thuyết 

Một sáng tinh sương, chúng tôi được anh A Khoa, cán bộ văn hóa xã hội xã Đăk Tờ Kan (H.Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum) đưa đến làng Đăk Xô Trong, tìm già A Nuế (69 tuổi). Khoa bảo, già A Nuế là người biết chỉnh chiêng và biết rất nhiều chuyện kể, truyền thuyết của người Xê Đăng ở xứ này. 

Hôm ấy có khách về làng, lại cuối năm mùa vụ, già A Nuế thong thả nên quyết định không đi rẫy mà ở nhà bảo lũ trai làng mang rượu cần, chiêng đến nhà "nói chuyện". Trong căn nhà sàn cũ kỹ còn đượm mùi gạo mới, già A Nuế kể cho thanh niên trong làng nghe rất nhiều chuyện thú vị, trong đó có truyền thuyết về hai làng Đăk Kạch Lớn và Đăk Kạch Nhỏ. 

Gìa làng A Nuế kể huyện làng Đăk Kạch, hay gọi là "làng thách thức". Ảnh: P.A 


Hồi đó, tại làng người Xê Đăng có gia đình giàu có, sinh hai anh em trai, người anh là A Sam, em là A Sư. Khi cha mẹ mất, A Sư bỗng nhiên ghen tị với anh trai vì cả hai đều ưng bụng một thiếu nữ trong làng. 

A Sư gặp anh trai A Sam và "thách đấu" bằng cách: ai đánh đàn, hát hay được cô gái và cả làng thích thì thắng. Người thua cuộc phải đi lập làng mới. Hôm đó, khi lúa trên rẫy đã thu hoạch xong, ông mặt trời đã ấm áp hơn, bụng lũ làng no hơn, cuộc thách đấu diễn ra. 

A Sam khi đó dùng kèn môi, vừa thổi vừa hát làm ngất ngây các cô gái làng. Người làng gật gù theo từng tiếng đàn, tiếng hát du dương trầm bổng bay qua các ngọn núi, trong hơn con suối nước tháng 3. Rằng nàng tiên xinh đẹp của lòng anh ơi/em xuống trần này hớp hồn anh/khi em về với Yàng trên trời em có nhớ anh không… 

Thấy anh ruột hát hay, đàn giỏi, A Sư chịu thua không hát, không đàn gì mà lẳng lặng bỏ làng đi lập làng mới bên kia con suối. 

Trong tiếng kể say sưa, già làng A Nuế giải thích, vì sao bây giờ có hai làng Đăk Kạch Lớn và Đăk Kạch Nhỏ. Theo tiếng Xê Đăng, đăk là nước, con nước; kạch là thách thức. Vì vậy có thể gọi hai làng đó là "làng thách thức", hay là làng nước người anh và làng nước người em. 

Mang câu chuyện này trao đổi với ông A Jar (70 tuổi, trú ở làng Plei Đôn, phường Quang Trung, TP.Kon Tum), vừa là nghệ nhân người Xê Đăng, vừa là nhà nghiên cứu phong tục đồng bào thiểu số Tây nguyên, ông A Jar cho biết tên làng đồng bào Xê Đăng, Ba Na, Ja Rai… trong vùng thường gắn với những câu chuyện như thế. 

Ông A Jar kể cho chúng tôi nghe chuyện về làng Yang Roong (hiện thuộc xã Đăk Cấm, TP.Kon Tum), gọi là làng "Thần nuôi dưỡng". 

Chuyện kể rằng, làng này được thần linh cai quản và ban đặc ân là người làng không bao giờ già đi. Vì vậy mà thuở ấy, người làng này có những người sống cả vài trăm tuổi. Trong làng, người già và người trẻ không biết phân biệt nổi giữa các thế hệ. 

Làng Kon Klor, người Ba Na gọi là "làng cây bông", do có nhiều cây bông gòn.  Ảnh: T.H 


Nhưng đến một hôm, có người trong làng đi săn xa làng, thấy một đám tang. Người này nhìn người ta khóc lóc, đánh chiêng, nhảy múa rồi làm thịt gia súc, gia cầm ăn uống, thấy lạ lắm, bèn ở lại chứng kiến để xem "cái chết là như thế nào". 

Sau khi từ đám tang nọ trở về, người thợ săn kể chuyện cho người làng biết chết là như thế nào và lũ làng cũng tò mò… muốn thử xem. Dân làng tìm vào rừng bắt một con vượn, giết chết, sau đó tổ chức làm đám ma, khóc lóc rồi nhảy múa, ăn uống. 

Việc này của dân làng khiến thần linh nổi giận, trừng phạt bằng cách cho người làng phải chết thật để biết đau thương là thế nào. Vậy là người làng chết liên tục, mới đầu chỉ vài người, sau thì chết nhiều lắm. 

Quá hoảng sợ, người làng tìm đến pơ dâu (thầy cúng) để xin chuộc tội với thần linh. Thần linh bảo dân làng dâng lễ vật như: bò trắng, trâu trắng, dê trắng, gà trắng để thần linh xá tội. nhưng cũng từ đó, người làng sinh ra, già đi, rồi chết như ở bao làng khác. 

Tên làng gắn với cộng đồng 

Xuồng độc mộc trên dòng sông Đăk Bla, TP.Kon Tum. Ảnh: P.A 


Ông A Jar cho biết với đồng bào dân tộc thiểu số Tây nguyên thì khi lập làng, việc chọn tên làng là do cả làng đồng thuận. Việc này để tạo được nét riêng, cũng là niềm tự hào của cộng đồng làng. Theo đó, tên của làng thường gắn với các đặc điểm liên quan về nguồn nước sinh hoạt, sau nữa là đặc điểm đất đai. 

Chẳng hạn như ở TP.Kon Tum có tên làng Plei Tơ Nghia (nghĩa là làng cây kơ nia). Theo giải thích của ông A Jar, khi thành lập làng này, thì nguồn nước của người làng nắm dưới tán cây kơ nia, nên đặt tên Tơ Nghia. Tương tự như làng Kon Hra (Hra là cây sung, làng này có nguồn nước dưới tán cây sung). Hoặc như làng Đăk Phía ở xã Ngọc Réo (H.Đăk Hà, Kon Tum): Phía có nghĩa là nứa, nguồn nước ở nơi có nhiều nứa nên đặt tên "làng nứa". 

Hỏi ông A Jar về làng Kon Klor (P.Thắng Lợi, thành phố Kon Tum) có phải Klor là cây bông gòn nên lấy tên này. Ông A Jar bảo ngày trước làng này có cây bông gòn mọc đầy làng, nên thành tên. 

Chính vì những nét đặc trưng này, người Tây nguyên không thích việc gộp vài làng thành thôn (để dễ quản lý hành chính) như đã từng xảy ra, vì sợ mất đi ý nghĩa tên làng thậm chí đã có từ vài trăm năm. 

Cấm kỵ việc đặt tên làng trùng nhau

Ông A Jar cho biết, đồng bào thiểu số Kon Tum đặt tên làng không bao giờ trùng nhau, bởi đây là điều cấm kỵ. Điều đáng nói nữa là, trong quá trình phát triển, làng chật hẹp nên có lúc phải tách làng ra làm hai thành lập làng mới, nhưng tên làng cũ vẫn gắn vào. Chẳng hạn như làng Kon Kơtu (làng nguyên thủy) khi tách ra làng mới tên là Kon Klah (Klah nghĩa là "tách ra"). Vì vậy như tên là làng Plei Kroong (làng Sông), sau đó làng Plei Kroong cũng chia thành 2 làng Plei Kroong Kơtu (là làng gốc) và Plei Kroong Klah (là làng mới tách ra).


Phạm Anh

Thủ Đức, Thủ Thiêm - tên của những ông quan nhỏ

đăng 01:36, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chữ “Thủ” là quan trấn thủ, tức võ quan lo việc bảo vệ một vùng (Thủ Đức), hoặc thủ ngự là người đứng đầu một trạm thu thuế đường sông (Thủ Thiêm). 

Ở Nam bộ, rất nhiều địa danh mang tên người. Những nhân vật có quyền cao chức trọng, dân gian kính nể, húy kỵ chỉ gọi chức tước mà không gọi tên, như cầu mang tên ông lãnh binh Thăng thì chỉ gọi cầu Ông Lãnh, hay lăng Tả quân Lê Văn Duyệt thì gọi lăng Ông. Nhưng đối với các quan chức nhỏ thì dân gian gọi cả chức tước lẫn tên, như các địa danh bắt đầu bằng chữ Thủ đứng trước tên người, như Thủ Thừa ở Long An, hay Thủ Đức, Thủ Thiêm ở TP.HCM. 

Thủ Đức - miền đất học 

Theo tài liệu của Phòng Văn hóa thuộc Sở Văn hóa & Thểthao TP.HCM, địa danh Thủ Đức là do lấy theo tên hiệu “Thủ Đức” của ông Tạ Dương Minh, người có công khai khẩn, lập ấp vùng Linh Chiểu xưa và xây dựng ngôi chợ đầu tiên mang tên ông. Nhưng theo một tài liệu khác thì trước khi ông Tạ Dương Minh đến, nơi này có vị quan trấn thủ tên Đức (không rõ họ) lo việc trấn thủ vùng đất mới, chăm lo bảo vệ cuộc sống cho bà con lưu dân mới từ miền Trung vào khẩn hoang lập ấp sinh sống, ông rất được nhân dân trong vùng kính trọng. Khi ông Tạ Dương Minh đến đây lập ấp, lập chợ thì quan trấn thủ tên Đức đã qua đời trong sự thương tiếc của nhân dân trong vùng nên ông Minh đã đặt tên chợ là Thủ Đức để tỏ lòng tôn kính và biết ơn. Từ ngày 1-1-1911, lần đầu tiên Thủ Đức trở thành quận và là một trong bốn quận thuộc tỉnh Gia Định (ba quận kia là Hóc Môn, Gò Vấp, Nhà Bè). Sau này qua nhiều đợt, tỉnh Gia Định thêm mấy quận mới nữa như Tân Bình, Bình Chánh… Toàn tỉnh Gia Định nằm bao quanh đô thành Sài Gòn. 

Nếu như tỉnh Vĩnh Long từ xưa đã được gọi là “đất học” và là “địa linh nhân kiệt” - nơi phát tích nhiều nhân tài, lãnh tụ kiệt xuất thì ở TP.HCM, nhiều người cho rằng Thủ Đức là “đất học”, vùng đất văn hóa cũng không ngoa. Trên địa bàn quận Thủ Đức từ trước đến nay tập trung rất nhiều cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng. Có thể kể: ĐH Quốc gia TP.HCM với ĐH Bách khoa, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH KHXH&NV, ĐH Luật TP.HCM và các trường đại học Công nghệ thông tin, Quốc tế, Cảnh sát nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng, Nông lâm, Sư phạm kỹ thuật, Kinh tế - Luật, Thể dục thể thao… và rất nhiều trường cao đẳng. Nhiều cơ sở giáo dục nhất nếu so sánh với bất cứ quận, huyện nào của TP! Trước năm 1975, Thủ Đức có hai “làng” nổi tiếng cả nước là làng Báo chí và làng Đại học. Làng Báo chí với những dãy nhà liên kế rộng rãi, thoáng mát với những con đường nhỏ thơ mộng, êm đềm. Làng Báo chí cũ sau ngày 1-4-1997 trực thuộc quận 2 mới thành lập, tách ra từ huyện Thủ Đức. Và hiện nay “làng cũ” này trở thành một khu phố nhỏ nằm khiêm tốn bên những khu biệt thự sang trọng dành cho người nước ngoài. Riêng làng Đại học từ trước năm 1975 là những biệt thự hoành tráng, sang trọng, hầu hết xây cất theo phong cách Pháp, mỗi căn rộng cả ngàn mét vuông tọa lạc trên những con đường trong “làng” rất đẹp, được quy hoạch cả những tên gọi đầy tính văn hóa: Những con đường dọc mang những tên Thống Nhất, Hòa Bình, Độc Lập, Đoàn Kết, Bác Ái, Chân Lý, Công Lý, Dân Chủ… Còn những đường ngang là tên các danh nhân văn hóa như Lê Quý Đôn, Einstein, Khổng Tử, Tagore, Chu Mạnh Trinh, Pasteur… 

Chợ Thủ Đức năm 1968. Ảnh: Edmond J. Landers 


Thủ Thiêm - vùng đất trũng chuyển mình thành đô thị hiện đại 

Từ sau khi đại lộ Đông Tây và hầm vượt sông Sài Gòn được thông xe năm 2010 nối Thủ Thiêm, vùng trũng phát triển - cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen với quận 1 thì bán đảo Thủ Thiêm và khu Đông TP đã chuyển mình nhanh chóng thành một đô thị mới hiện đại. Hiện nay bán đảo Thủ Thiêm và khu Đông đang là điểm nóng phát triển bất động sản. Ngoài khu đô thị Sala nằm cách trung tâm quận 1 mấy trăm mét sông Sài Gòn đang ngày đêm hối hả xây dựng, hàng loạt khu nhà cao tầng đang mọc lên san sát dọc đại lộ Mai Chí Thọ, Đồng Văn Cống và cả dọc đường dẫn cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây chạy đến giáp đường Đỗ Xuân Hợp, quận 9 là những khu đô thị mới đang mọc lên. Tận cuối quận 2 gần quận 9 nhưng cũng có các khu chung cư mang tên Thủ Thiêm: Thủ Thiêm Xanh, Thủ Thiêm Star… Một khu đô thị hoàn chỉnh, hiện đại, một trung tâm tài chính, trung tâm thương mại đang hình thành ở bán đảo Thủ Thiêm. 

Chắc ít người còn nhớ từ trước năm 1975 cho đến cuối những năm 1990, bán đảo Thủ Thiêm vẫn là vùng trũng phát triển. Một vùng đất thường xuyên ngập nước, phèn chua, cỏ lát, cỏ năng mọc khắp nơi. Chỉ cách trung tâm TP một con sông rộng năm, bảy trăm mét nhưng như là một vùng sâu, vùng xa nào đó, bao nhiêu năm vẫn nối hai bờ sông bằng những chuyến phà rì rầm, chậm chạp như nhịp sống của dân cư mấy xã, phường nằm ở bờ đông, đêm đêm đứng bên này sông nhìn sang TP như nhìn về một thế giới khác. 

Lịch sử hình thành vùng đất và tên gọi Thủ Thiêm cũng khá thăng trầm. Từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, vùng đất trũng phía Đông sông Sài Gòn dân cư vẫn rất thưa thớt, sản xuất lúa năng suất thấp không đủ ăn nên phần lớn họ tụ cư dọc theo mésông để mua bán với các tàu bè qua lại, một số người làm công nhân cho hãng tàu Caric của Pháp gần bờ sông Sài Gòn. Về địa danh Thủ Thiêm, năm 1971 tôi được nghe mấy cụ cao tuổi sáng sáng thường ngồi quán cà phê đánh cờ tướng gần chợ Thủ Thiêm kể lại. Thời gian này tôi là phóng viên tập sư,̣ thường lang thang qua bến phà Thủ Thiêm trò chuyện với mấy anh công nhân ở Nhà máy đóng tàu Caric. Theo lời các cụ kể thì từ trước khi Pháp chiếm Sài Gòn, vùng này đã có trạm thu thuế đường sông. Ông thủ ngự, tức trưởng trạm thu thuế tên Thiêm (không biết họ) là người nhân hậu, có khi thấy người bán buôn thua lỗ hay không lời, ông đã giảm hay miễn thuế cho họ. Bà con rất cảm kích nên sau khi ông mất, họ gọi vùng đất quanh trạm thuế sông này là bến Thủ Thiêm. Sau này cả chợ và phà đều mang tên Thủ Thiêm… Nhưng vùng đất nhỏ hẹp này cũng có những thăng trầm của nó. 

Năm 1965, quận Thủ Đức thuộc tỉnh Gia Định có 15 xã, Thủ Thiêm thuộc xã An Khánh. Đến năm 1966, chính quyền cắt xã An Khánh sáp nhập vào đô thành Sài Gòn, tách thành hai phường: Phường An Khánh và phường Thủ Thiêm, thuộc quận 1. Đầu năm 1967, phường An Khánh và phường Thủ Thiêm được nâng cấp trở thành quận 9, thuộc đô thành Sài Gòn. Tại An Khánh, người ta xây dựng khu nhà công nhân cả mấy trăm căn, chủ yếu dành cho công nhân hãng Caric. Khu nhà công nhân này tồn tại mãi đến gần đây mới được giải tỏa để xây dựng khu đô thị mới. Sau ngày thống nhất, ngày 20-5-1976 chính quyền cách mạng giải thể quận 9, phường An Khánh và phường Thủ Thiêm trở thành hai xã thuộc huyện Thủ Đức. Ngày 6-1-1997 giải thể huyện Thủ Đức để thành lập thành ba quận mới. Từ 1-4-1997 các quận Thủ Đức, quận 2 và quận 9 chính thức hoạt động, Thủ Thiêm lại trở thành một phường thuộc quận 2. Đó là “những bước thăng trầm” của Thủ Thiêm. Vùng đất trũng này đang chuyển mình, vươn vai thành khu Đông TP, giàu có và sang trọng. 


Làng Đại học thành làng... nhậu


Rất may sau năm  1975, những tên đường ở làng Đại học Thủ Đức vẫn được giữ nguyên trong khi nhiều đường cùng tên ở trung tâm TP đã bị thay đổi! Chỉ có điều đáng quan ngại là khoảng vài chục năm nay, từ khi quận Thủ Đức mới được thành lập thì làng Đại học dần dần trở thành “làng nhậu”, “phố cà phê” với hàng trăm quán nhậu, quán cà phê. Hầu hết những căn biệt thự đẹp sang trọng đã được cải tạo, sửa sang thành nhà hàng, quán cà phê đã phá vỡ cảnh quan và nét văn hóa vốn có.


PHẠM ĐÌNH

1-10 of 20