Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Cua Heo và đèo Mẹ Bồng Con ở Long Khánh Có 2 địa danh mà có lẽ hầu hết người dân Long Khánh đều biết, mặc dù không hề là địa danh hành chánh chính thức, đó là Cua Heo ...
    Được đăng 16:51, 6 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nhà Bàn hay Nhà Bàng? Nhiều du khách đến Tịnh Biên (An Giang), người dân địa phương từ xưa đến nay đều thắc mắc về một địa danh tồn tại hai cách viết khác nhau ...
    Được đăng 16:22, 6 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đôi nét về vài địa danh cũ chợ Cần Thơ Nói chợ Cần Thơ (chỗ nhà lồng cổ) thì người ta nhớ chợ Hàng Dương nơi đây có hàng dương cao cạnh sông rất đẹp, bà con nhóm chợ trên ...
    Được đăng 16:00, 24 thg 4, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đùa nghịch với tên tỉnh 1. Chữ gì được đặt đầu tên tình nhiều nhất Việt Nam?Có thể thấy ngay đó là chữ Quảng. Ở Việt Nam có 5 Quảng sau đây (tính từ ...
    Được đăng 17:47, 19 thg 4, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
  • Con đường đẹp nhất Biên Hòa Nhiều người nói, kể cả trên mặt báo, rằng con đường đẹp nhất Biên Hòa là con đường Nguyễn Ái Quốc, tức quốc lộ 1K đoạn đi qua TP Biên ...
    Được đăng 18:29, 18 thg 4, 2016 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Cua Heo và đèo Mẹ Bồng Con ở Long Khánh

đăng 16:51, 6 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Có 2 địa danh mà có lẽ hầu hết người dân Long Khánh đều biết, mặc dù không hề là địa danh hành chánh chính thức, đó là Cua Heo  Đèo Mẹ Bồng Con.


Đèo Mẹ Bồng Con. Ảnh: Phạm Tường Nhân, 2011


Cua Heo là khúc cua trên quốc lộ 1 quẹo vô thị xã Long Khánh. Cua là khúc cua thì hiểu rồi, vậy còn Heo là gì?


Tự điển Địa danh học của Lê Trung Hoa ghi:


CUA HEO

Ngã ba ở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Cua Heo gốc nửa Pháp (courbe) nửa tiếng Việt, là khúc quẹo mà các lái buôn chở heo từ miền Trung, miền Bắc vào, ghé lại tắm cho heo trước khi chuyển đi nơi khác.


Thế nhưng những người lớn tuổi ở Long Khánh lại có lời giải thích khác! Theo đó, tên Cua Heo có nguyên do như sau:


Hồi xưa (khoảng 194x, 195x), tại khúc cua này có một chiếc xe chở heo khi quẹo cua thì bị lật, đàn heo xổng ra chạy tứ tung, do đó người dân gọi là cua Heo!


Ngã Ba Cua Heo 1967/1968. Ảnh: Dave DeMilner trên Flickr


Còn đèo Mẹ Bồng Con? Nếu ai đó nghe tên này và tưởng tượng nơi đây có một tượng đá mẹ ôm con trên sườn núi cheo leo thì ắt sẽ thất vọng. Bởi vì không có tượng mẹ bồng con, thậm chí không có cả... đèo. Đây thực chất là một đoạn dốc khá cao trên quốc lộ 1, ở vị trí khoảng 7 km trên đường tới thị xã Long Khánh.(Dù không phải đèo, nhưng cảnh quan nơi đây cũng hấp dẫn lắm!).


Tự điển Địa danh học của Lê Trung Hoa ghi:


MẸ BỒNG CON 

Dốc ở gần ngã ba Dầu Giây, h. Long Khánh, t. Đồng Nai. 

Mẹ Bồng Con vì có hai dốc liên tiếp, dốc lớn tượng trưng cho mẹ, dốc nhỏ tượmg trưng cho con.


Và cũng theo những người lớn tuổi ở Long Khánh lại có lời giải thích khác! Theo đó, tên Mẹ Bồng Con có nguyên do như sau:


Hồi xưa (không rõ lúc nào), tại dốc này có một chiếc xe chở khách bị tai nạn thảm khốc. Trong số những hành khách tử vong có một người phụ nữ khi chết vẫn còn bồng đứa con trên tay rất thương tâm. Từ đó người ta gọi nơi đây là dốc Mẹ Bồng Con hoặc đèo Mẹ Bồng Con.


Tui đọc khá nhiều tư liệu do TS Lê Trung Hoa biên soạn và rất trân trọng các công trình nghiên cứu của ông, riêng với 2 địa danh này thì tui... tin những người già ở Long Khánh (trong đó có ba tui) hơn. Dù sao, tui cũng ghi lại cả 2 nguồn để mọi người tham khảo. Chắc là còn những cách giải thích khác nữa, ai biết thì bổ sung dùm nhé!

___


Ghi chú thêm: Theo sách Địa danh Hành chính - Văn hóa - Lịch sử Đồng Nai do Hội Khoa học Lịch sử Đồng Nai biên soạn thì 2 địa danh Cua Heo và Mẹ Bồng Con không có trong phần Địa danh Hành chính và Văn hóa. Trong phần Địa danh Lịch sử thì ghi như sau:


Cua Heo:


Ngã ba Cua Heo giao lộ giữa QL 1 và đường Hùng Vương, TX Long Khánh. Cửa ngõ vào trung tâm nội ô TX Long Khánh. Đây là nơi diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt của các lực lượng vũ trang cách mạng với Sư 18 quân đội Sài Gòn trong chiến dịch Xuân Lộc giải phóng TX Long Khánh từ 9/4 đến 21/4/1975.


Mẹ Bồng Con


Đèo Mẹ Bồng Con, nằm trên QL 1 thuộc TX Long Khánh. Trong chiến dịch Xuân Lộc giải phóng TX Long Khánh từ 9/4 đến 21/4/1975, Sư đoàn 6 (Quân đoàn 4) đã đánh diệt chiến đoàn 52 sư 18 ngụy Sài Gòn (15/4/75), chiếm đèo Mẹ Bồng Con, cắt QL 1, chặn đường viện quân của địch từ Biên Hòa lên, góp phần buộc địch phải rút chạy khỏi TX Long Khánh (đêm 20 rạng sáng 21/4/75).

___


Phạm Hoài Nhân

Nhà Bàn hay Nhà Bàng?

đăng 16:22, 6 thg 5, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Nhiều du khách đến Tịnh Biên (An Giang), người dân địa phương từ xưa đến nay đều thắc mắc về một địa danh tồn tại hai cách viết khác nhau – Nhà Bàn và Nhà Bàng. Vấn đề tranh luận này đến nay chưa kết thúc, có thể sơ lược sự bất nhất sau:

  • Bảng hiệu đơn vị hành chính, cơ quan, trường học sở tại ghi thị trấn Nhà Bàng.
  • Trong Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng số 56 – HĐBT ngày 10/5/1986 về việc thành lập thị trấn Nhà Bàn/Nhà Bàng ghi “Thị trấn Nhà Bàng”.
  • Trên các cột mốc Km dẫn đường khi ghi Nhà Bàn, lúc thì Nhà Bàng.
  • Có nhiều ý kiến, cách viết ở nhiều tài liệu liên quan đến địa phương (Lịch sử Đảng bộ huyện Tịnh Biên…) cho rằng Nhà Bàn đúng hơn Nhà Bàng và ngược lại.


Thực ra tên gọi này có nguồn gốc lịch sử như thế nào? Vì sao lại tồn tại hai tên gọi, cách viết bất nhất? Để làm sáng tỏ vấn đề, tiến tới thống nhất địa danh, ý kiến nào đúng, ý kiến nào không phù hợp, xin đưa ra một vài trao đổi.

Nhà Bàn và Nhà Bàng hiện tồn tại ba quan điểm giải thích về nguồn gốc tên gọi:
  • Theo tác giả Lê Trung Hoa (trên Tuổi trẻ Online, ngày 4/10/2010): “Nguyên trước đây tại vùng này có một cái nhà chuyên giã cỏ bàng để đan các dụng cụ như bao, giỏ, đệm… Cọng cỏ bàng thân tròn, cứng, nếu không giã thì khó trong việc đan và sử dụng các sản phẩm. Do đó, vùng này có địa danh Nhà Bàng…”. Ngoài ra còn có nhiều nhà nghiên cứu đồng nhất với quan điểm này: “Nhà Bàng là xứ có nhiều cỏ bàng, dùng làm các sản phẩm phục vụ đời sống, người dân gọi quen thành Nhà Bàng”.
  • Theo tác giả Nguyễn Liên Phong trong Nam Kỳ phong tục Nhân vật Diễn ca, xuất bản năm 1909, tại Sài Gòn đề cập đến địa danh này như sau:

“Đốc công tạo lập sở vườn

Thanh hoa đẳng vật coi thường vẻ vang

Cất bên một cái nhà bàn

Để khi ăn uống, nghỉ an luận bàn

Sau lập chợ phố hai hàng

Người đều kêu chợ Nhà Bàn thành danh”

  • Đặc biệt, ngoại lệ có một giả thuyết, sở dĩ xuất hiện tên gọi Nhà Bàn/Bàng là do: “Cái nhà có (trồng) nhiều cây Bàng (loài cây thân gỗ lớn thuộc họ Trâm Bầu) sinh sống nên người dân gọi Nhà Bàng…”.
Quá trình tìm hiểu lịch sử, vấn đề địa danh Nhà Bàn, Nhà Bàng chưa có một tài liệu cổ sử nào đề cập cụ thể (những tài liệu về An Giang: Gia Định Thành thông chí – Trịnh Hoài Đức; Đại Nam Nhất thống chí – Bản dịch Tu trai Nguyễn Tạo; Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Lịch sử đất An Giang – Sơn Nam…) ngoài những câu thơ miêu tả của Nguyễn Liên Phong.

Dẫn luận cơ sở lịch sử nhận định tính xác thực cái “nhà bàn” theo cách miêu tả của Nguyễn Liên Phong đến sự xuất hiện tên gọi Nhà Bàn và nhất quán địa danh Nhà Bàn.
Có thể khẳng định, nếu ai từng đọc Nam Kỳ Phong tục Nhân vật Diễn ca của Nguyễn Liên Phong chắc hằn sẽ thấy độ xác thực sử - địa được diễn bằng thơ ca ở tập sách quý viết về Nam Bộ thời bấy giờ. Tác giả miêu tả sinh động đặc trưng văn hóa – lịch sử Nam Kỳ trong dịp “ngao du” nơi đây giai đoạn 1895-1905. Đất và người Nam Bộ trong tập sách hiện diện cụ thể, rõ ràng từng tiểu tiết (miêu tả từng tỉnh), sau này nhiều nhà văn hóa – sử tìm hiểu, đề cập trong các công trình nghiên cứu. Tập sách Nam Kỳ Phong tục Nhân vật Diễn ca gồm 7.000 câu thơ lục bát. NXB. Đinh Thái Sơn, Sài Gòn, 1909.

Có hay không sự tồn tại của “nhà bàn” theo sự miêu tả rành mạch của Nguyễn Liên Phong đến xuất hiện địa danh Nhà Bàn?

Sau Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), Pháp lần lượt đánh chiếm các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Song song chiến sách bình định, Pháp thành lập bộ máy chính quyền cai trị. Đến đầu thế kỷ thứ 20, cơ bản hoàn thành hệ thống quản lý ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Pháp nhận thấy rằng, miền Tây Nam Bộ là nơi có nhiều tiềm năng kinh tế phục vụ cho chính quốc, Pháp không ngừng đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa. Tăng cường mở rộng diện tích đất nông nghiệp sản xuất lúa gạo, hoa màu, khai thác khoáng sản địa phương, mở rộng các trục lộ giao thông, đảm bảo tiến trình khai thác…

Tuy là vùng đồng bằng có thế mạnh nông nghiệp, nhưng địa hình trũng thấp, hàng năm luôn chịu cảnh lũ lụt, ngập úng nặng nề, tổn thất lớn cơ sở hạ tầng mà Pháp đầu tư vào chuyên canh sản xuất lúa khu Tứ giác Long Xuyên. Đầu thế kỷ XX, An Giang vẫn là nơi hoang địa, sản xuất chưa hiệu quả, mãi đến năm 1923, việc khai thác nông nghiệp của Pháp mới đạt được kết quả với các đồn điền chuyên canh sản xuất.

Việc thu huê lợi nông nghiệp kém, khiến Pháp chú ý nhiều đến vùng đất gò cao để đầu tư vùng chuyên trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, cao su, cây lấy gỗ… như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ… Ở các tỉnh miền Tây, An Giang là vùng đồng bằng – đồi núi, nhiều tiềm năng kinh tế khai thác mỏ, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, vị trí giáp Campuchia… Vì vậy, Bảy Núi trở thành tâm điểm của tư sản Pháp. Theo Sơn Nam: “Từ trước năm 1885, vùng Bảy Núi được thám sát về tiềm năng hầm mỏ; gặp suối nước khoáng chất (kiểu suối Vĩnh Hảo ở Trung Bộ) bên sườn núi Tô, nhưng xa đường chuyên chở… Tên Măn-xê (Manset) lập sở trồng cây ăn trái và cây kỹ nghệ ở khu vực “Nhà Bàn””.

Tiềm năng kinh tế của Bảy Núi là khai mỏ, trồng cây công nghiệp nhưng cuối cùng việc khai thác đá ở Bảy Núi Pháp đành dừng lại vì nhiều nguyên nhân khác nhau, Pháp cho tiến hành ở núi Sam, núi Sập. Khai thác nước khoáng càng không thể vì kinh phí đầu tư công nghệ quá cao, địa thế hiểm trở… Cuối cùng duy chỉ tồn tại một “sở trồng cây”, thứ nhất, thiên nhiên đất đai thuận lợi, đầu tư kinh phí thấp so với các dự án khác, nguồn lực lao động tại chỗ đáp ứng được công việc đơn giản này, sản phẩm gỗ, cây ăn trái vận chuyển dễ dàng…

Để đầu tư phát triển “sở trồng cây”, Pháp xây dựng hệ thống giao thông kết nối nhau, thuận lợi vận chuyển hàng hóa về các mối tiêu thụ; quan Pháp, công nhân đi lại dễ dàng từ “sở trồng cây – nhà bàn” (nhà ăn, nghỉ…) ra kinh Vĩnh Tế. Điển hình: Tuyến đường thủy từ Châu Đốc đi Hà Tiên được khai sâu cho ghe, tàu chở hàng ra biển và sông lớn; hoàn thành lộ trải đá từ núi Sam đi Trà Sư – Hà Tiên năm 1893; những tuyến đường mòn từ Trà Sư đi Ba Chúc được gia cố vững chắc từ 1893-1900; tuyến đường từ “trụ sở trồng cây” đến chợ Cây Mít (giáp kinh Vĩnh Tế), đến xã An Phú (giáp kinh Vĩnh Tế)… Có thể nói, hàng hóa thu hoạch từ “sở trồng cây ăn trái và kỹ nghệ”, cùng thổ sản địa phương mà Pháp thu vén được trong quá trình cai trị ở đây, là đầu mối quan trọng cung cấp cho khu vực thị tứ khác trong tỉnh Châu Đốc và ở các nơi khác theo phương thức vận tải đường bộ và đường sông.

Về “tên Măn-xê (Manset) lập sở trồng cây ăn trái và cây kỹ nghệ ở khu vực “Nhà Bàn”” nhưng có thể hiểu diện tích của sở này không tập trung xung quanh Nhà Bàn mà bao gồm vùng rộng lớn. Do địa hình, phương tiện khai thác hạn chế, cây ăn trái, kỹ nghệ được trồng phân tán theo triền núi, đồi đất ở xã lân cận Nhà Bàn: Thới Sơn, An Phú, Nhơn Hưng hay Vĩnh Trung… Việc đặt một “nhà bàn” - ở trung tâm sở “Để khi ăn uống nghỉ ngơi luận bàn” là nhằm quản lý chặt chẽ công nhân (dân địa phương) trong quá trình làm công ở “sở”.



Vị trí của “sở”  “nhà bàn” này hiện nay ở đâu? Qua nghiên cứu thực địa có thể phỏng đoán, “sở”  “nhà bàn” nằm ngay ngã ba chợ thị trấn Nhà Bàn hiện nay. Thứ nhất, về địa thế, xưa nơi này là điểm giao nhau giữa hai (hoặc ba) tuyến đường mòn (nay có thể là tuyến đường về thị trấn Tịnh Biên, tuyến ra chợ Cây Mít, tuyến vòng về Tri Tôn…) thuận lợi đi lại, vận chuyển hàng. Thứ 2: Nằm ngay chân núi Két, địa hình cao ráo giúp lưu giữ hàng hóa, thủ sở không bị tàn phá bởi mưa bão, lũ lụt hàng năm. Tiếc rằng, dấu tích chứng minh cụ thể cho sự tồn tại cái “nhà bàn” này chẳng thể “đào xới” được, ở địa phương dường như các lão niên biết về vùng đất, “nhà bàn” không còn nữa. Sự biến mất cái “nhà bàn” xưa do nhiều nguyên nhân, xung quanh 2 yếu tố chính:

  • Đầu tư “sở trồng cây ăn trái, kỹ nghệ” là mục đích “kinh tế phụ” của thực dân Pháp ở Bảy Núi (ban đầu dự định khai thác đá và suối nước khoáng), nên việc xây dựng “nhà chủ sở”, “nhà bàn” chỉ tạm bợ từ vật liệu gỗ - lá sẵn có ở địa phương (không riêng gì ở đây, việc xây dựng “nhà việc” thời kỳ đầu thế kỷ XX, Pháp chưa bao giờ thực hiện kiên cố hóa loại trừ những hạ tầng cầu đường, “nhà việc” của quan chức cấp chủ tỉnh), về sau sở này không còn hoạt động (không hiệu quả kinh tế, chiến tranh…) thì “nhà chủ sở”, “nhà bàn” cũng biến mất.
  • Bị tàn phá do nhiều biến động lịch sử ở hai giai đoạn 1945 và 1954 (giai đoạn 1945 sẽ hợp lý hơn)
Có thể khẳng định, bấy giờ “nhà bàn” là địa danh do người dân gọi phỏng, kiểu lấy đặc trưng của nơi, vùng đất (“nhà bàn” – đặc trưng) đặt tên địa danh, chưa phải chợ.

Từ thành lập “sở trồng cây ăn trái, kỹ nghệ” – thành lập “nhà + bàn” để công nhân ăn, ở, nghỉ - dân gian gọi lâu thành thói quen – xuất hiện địa danh Nhà Bàn. Ví dụ: Đi đâu? Đi lên chỗ (có cái) nhà … ăn (ở, nghỉ) … có (cái) bàn (dài) ở chân núi. Gọi lâu ngày đơn giản hóa (tỉnh lược) thành “Nhà Bàn”. Tương tự: gần Nhà Kho, khu Nhà Cháy, Nhà Bè, gần Nhà Thờ, cạnh Nhà Xác, xóm Nhà Ngói… (vấn đề “cây Bàng”, “cỏ bàng”, “nhà + giã cỏ Bàng” => Nhà Bàng sẽ giải thích sau).

Lại có nhiều ý kiến cho rằng: “Nếu tên gọi Nhà Bàn xuất phát từ quá trình trồng cây ăn trái, kỹ nghệ thì ở miền Đông, Tây Nguyên… Pháp cất nhiều “nhà bàn” phục vụ cho trồng cây công nghiệp sao người dân không gọi địa danh nơi đó là Nhà Bàn như trường hợp Nhà Bàn – An Giang?”. Thứ nhất:
  • Khi lập vùng chuyên canh cây công nghiệp, khai khoáng, những đồn điền chè, cà phê… người Pháp lấy tên gọi có sẵn của vùng đất để đặt tên (lúc này địa danh Nhà Bàn ở Tịnh Biên chưa ra đời), hay lấy chính tên chủ sở người Pháp đặt tên cho đồn điền. Ví dụ: đồn điền cao su Phú Riềng, đồn điền cao su Cam Tiên, đồn điền cà phê Buôn Mê Thột, công ty than Tuyên Quang; miền Tây có Đồn điền Cái Sắn (Société Civile des Rizieres de CaiSan), đồn điền Miền Tây (Domaina Agri cole de l’Ouest)…
  • Về quy mô, “sở trồng cây ăn trái, kỹ nghệ” ở Nhà Bàn không phải là đồn điền thực thụ, không có địa thế bằng phẳng, nối tiếp nhau hàng trăm, hàng ngàn hécta. Đây là ở trồng cây phân tán, lại không được đầu tư lớn về khoa học kỹ thuật nên chưa có tên gọi, “bảng hiệu” hẳn hoi như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ… Có thể ban đầu giới chức Pháp gọi “sở” này bằng chính tên của người Pháp (Măn-xê) nhưng trong thói quen đặt – gọi tên đất, tên người của lưu dân Nam Bộ, họ lấy đặc điểm, đặc trưng của bổn xứ đặt tên đất, tên người, ví dụ: Ngô Thất Sơn, miếu Bà chúa Xứ Bàu Mướp, Vịnh Tre, cầu Cây Me… Cái tên Pháp khó đọc, khó hiểu không được dân bản xứ tiếp nhận. Vì vậy, “nhà bàn” là đặc trưng của vùng, sở tại gọi lâu phổ biến thành địa danh “Nhà Bàn” (tương tự/; Nhà Bè, cầu – chợ Cây Me, chợ Cây Mít, sông Cái Lớn, Làng Chài, Làng Gạch…).
Một sự kiện lịch sử khá quan trọng nữa chứng minh sự có mặt của “sở trồng cây ăn trái, kỹ nghệ” và “nhà bàn” – Nhà Bàn là: Khi phong trào Cần Vương tan rã, các cuộc khởi binh của dân ta bị Pháp đàn áp dã man, nhiều sĩ phu yêu nước bơ vơ như “rắn mất đầu”, mang một nỗi buồn vong quốc “thoái ẩn” chờ cơ hội phục thù. Các danh sĩ từ Mỹ Tho, Gò Công, Đồng Tháp Mười, Hà Tiên… đến ẩn thân vào Bảy Núi vì có địa thế “linh thiêng” thuận lợi “tu học”, lập căn cứ. Pháp thấy rõ vai trò, sức hút của Bảy Núi đối với nho sĩ, người dân (qua trường hợp Ngô Lợi, Trần Văn Thành, Phan Xích Long…) nên việc đặt một “doanh trại bán quân sự, mật thám” để theo dõi “động tĩnh” ở “Bảy ngọn núi thiêng” là điều cần thiết. Vì vậy, sự ra đời của “sở trồng cây ăn trái, kỹ nghệ” – “nhà bàn” không nằm ngoài mục đích chính trị, quân sự. Đó là sự “trá hình” kín đáo mà Pháp sử dụng hòng dập tắt phong trào vận động, tập hợp lực lượng yêu nước của các sĩ phu thất thế từ lúc manh nha nửa cuối thế kỷ XIX đầu XX.

Qua giải thích, chứng minh bằng những sự kiện lịch sử có thể khẳng định, tên gọi Nhà Bàn xuất phát từ sự tồn tại của “nhà bàn” của Pháp xây dựng phục vụ công cuộc khai thác thổ sản và mục đích chính trị ở An Giang. Không còn nghi ngờ gì nữa, vậy cách nói, viết “Nhà Bàng” tất nhiên không phù hợp, cần thống nhất lại “Nhà Bàn”!

Một sự nhầm lẫn về tên gọi “cây Bàng”, “cỏ Bàng” và “nhà giã cỏ Bàng” đến địa danh “Nhà Bàng”.
Theo Gia Định Thành thông chí (Trịnh Hoài Đức, Lý Việt Dũng dịch và chú giải), quyển 2, Sơn Xuyên chí, trang 69 (bản điện tử) thì “cỏ Bàng” có tên gọi “Không tâm bồ”, “dùng để dệt đệm, bao cà ròn”. Theo Sơn Nam miêu tả về vùng trũng Châu Đốc, Hà Tiên những năm 30, thế kỷ XX: “… Rồi trông chờ nước lụt, ai siêng năng rủ vài bạn cất nhà sàn, ngắm trời nước bao la, sống với cá tôm, chống xuồng đi nhổ cỏ Bàng, bán cho người ở xóm chân núi đương đệm, cà ròn…”.

Cỏ Bàng – loại cây có mặt trên khắp vùng Nam Bộ, cỏ Bàng gắn chặt với con người Nam Bộ đến nỗi trở thành một nét “văn hóa cộng đồng” trong sinh sống, lao động sản xuất. Chính vì lẽ này, rất nhiều tác giả quy chiếu cỏ Bàng, nghề sản xuất cỏ Bàng cho tên đất lẽ dĩ nhiên không mang tính khách quan lịch sử, làm tăng thêm sự nhầm lẫn trong thời gian dài. Ở đây, chỉ xin dẫn ra những điểm không phù hợp trên:
  • Cỏ Bàng, nghề đan Bàng xuất hiện từ lâu đời, các địa phương khác (Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Tiền Giang…) có cỏ Bàng, nghề đan cỏ Bàng (có nhà giã cỏ Bàng) sao người dân nơi đó không gọi – đặt tên Nhà Bàng như trường hợp Nhà Bàng ở An Giang (duy chỉ địa danh bến đò Cỏ Bàng – Thủ Thiêm – sao không gọi Nhà Bàng mà gọi Cỏ Bàng, trong khi nơi bến đò này có nghề sản xuất sản phẩm cỏ Bàng từ lâu đời?) mà phải gọi bằng tên khác? Chắc hẳn trường hợp Nhà Bàn (Tịnh Biên) có một “đặc trưng” đặc biệt mà người dân nhớ sâu đậm nhất, hơn cả cỏ Bàng – nhà giã cỏ Bàng, đó là “nhà bàn” của Pháp. Theo tâm lý người dân sở tại, sự vật, hiện tượng “người lạ” mang đến, hoặc xảy ra sự kiện quan trọng gắn liền với vùng đất dễ gây ấn tượng sâu sắc. Ví dụ: Nhà Việc, Cầu Quay, khu Nhà Cháy, Nhà Thí, Nhà Láng, Nhà Kho, Nhà Bè, Nhà Mồ…
  • Nghề đan cỏ Bàng (đệm, cà ròn, nốp, xách bàng… ) có lâu đời, xưa, nghề giã – đan cỏ Bàng chủ yếu lẻ tẻ theo hộ gia đình, chưa bao giờ xuất hiện “tổ hợp tác”, với một “nhà giã cỏ Bàng” rầm rộ như một số tác giả suy luận (!?). Qua tìm hiểu, cây cỏ Bàng, nghề giã - đan cỏ Bàng có nhiều nhất ở xã vùng trũng ngập nước (thuận lợi cho cỏ Bàng sinh sống): An Nông, Vĩnh Gia, Lạc Quới, các xã nằm dọc theo kinh Vĩnh Tế về đến Hà Tiên, nguyên liệu cỏ Bàng để đan do người dân từ Vĩnh Điều, Giang Thành ra bán lại. Ở Nhà Bàn nghề này trước kia chỉ vài hộ gia đình, chủ yếu do di cư nơi khác lại. Vì vậy, quan điểm nghê giã – đan cỏ Bàng ở Nhà Bàn từ năm 1900 rất sung túc – xây dựng “nhà giã cỏ Bàng” là không có cơ sở; thêm nữa, Nhà Bàn, các xã lân cận Vĩnh Trung, An Phú, Nhơn Hưng… là vùng đất núi, nếu có “cỏ Bàng” thì cũng rất hiếm!
  • Từ 1990 về trước, các sản phẩm từ cỏ Bàng được xem mặt hàng tiêu dùng chính, quan trọng đối với người dân Nam Bộ. Một số nghề truyền thống vùng Bảy Núi như dệt thổ cẩm (Văn Giáo), gốm Châu Lăng xuất hiện hơn 100 năm, qua mấy thăng trầm lịch sử đến nay vẫn tồn tại, dù người dân không còn sử dụng gốm hay dệt. Vì vậy, sự có mặt làng nghề đan “cỏ Bàng” đến thành lập “nhà giã cỏ Bàng” và gọi Nhà Bàng, sao hôm nay, nơi đây nghề này không còn dấu tích?
Có ý kiến cho rằng Nhà Bàn/Nhà Bàng – nơi tụ tập bày bán sản phẩm từ cỏ Bàng: nón bàng, đệm bàng… gọi lâu thành Nhà Bàng. Ý kiến này là sự phỏng đoán gần giống “nhà giã cỏ Bàng” trên. Theo đặc trưng địa văn hóa vùng Nam Bộ, việc thành lập chợ luôn được người dân chọn địa điểm gần sông, thứ nhất, tập trung được lượng khách địa phương lân cận đến mua bán (việc đi lại chủ yếu bằng xuồng, ghe – chợ gần sông thành đặc trưng địa văn hóa), thứ hai, dễ vận chuyển hàng hóa… Vì vậy, mua bán các sản phẩm từ cỏ Bàng phải bày biện ở các chợ gần sông, nơi tập trung đông thương buôn để tiêu thụ, trong khi đó chợ Cây Mít (nơi có trồng Cây Mít, nay chợ Nhơn Hưng) thành lập từ năm 1893 cách vị trí Nhà Bàn khoảng 5km, địa thế ngay bến sông Vĩnh Tế, sao người dân không đem ra khu chợ sầm uất Cây Mít buôn bán, hà tất “họp chợ” bán sản phẩm cỏ Bàng ở nơi thưa người, hẻo lánh? Vì vậy, cách lý giải “nơi bày bán các sản phẩm từ cỏ Bàng” – Nhà Bàng lẽ nhiên không hợp lý!

Từ vị trí chợ Cây Mít gần sông, người viết còn nghi ngờ, tuyến đường từ Nhà Bàn ra chợ Cây Mít là do Pháp thành lập nhằm vận chuyển hàng hóa từ “thủ sở trồng cây ăn trái, kỹ nghệ” ra sông Vĩnh Tế để chở đi nơi khác (!?).

Về giả thiết, sự tồn tại cái nhà có (trồng) nhiều “cây Bàng” đến “Nhà Bàng” càng không có cơ sở trên nhiều bình diện. Thực tế, nếu “cây Bàng” xuất hiện ở đây vậy hôm nay không còn một “cây Bàng cổ thụ” nào minh chứng? (đất cát núi, loài cây này sinh trưởng nhiều và nhanh), ngoại trừ các cây trồng cảnh quan đô thị sau này. Trong khi “cây Bàng” có sức sống dẻo dai, phát triển mạnh trong các loài cây nhiệt đới (nhiều cây cao đến 35 – 40 mét, đường kính 2,5-3 mét như cây Bàng Côn Đảo. Và nếu có “cây Bàng” đi chăng thì người dân nơi đó phải gọi “xã, chợ Cây Bàng” mới đúng, sao phải gọi Nhà Bàng? Một điển hình “gặp mặt đặt tên” rất bình dị của người dân mà địa danh gần đó còn lưu lại đến nay: chợ Cây Mít (có trồng cây Mít), chợ - cầu Cây Me (có trồng cây Me – Tri Tôn), xa hơn như bến đò Cỏ Túc (vàm sông dày đặc cỏ Túc – Vĩnh Hậu, An Phú)… Vậy, giả thuyết Nhà Bàn (Bàng) do người dân gọi theo “nhà” có nhiều “cây Bàng” nghiễm nhiên mâu thuẫn, khó chấp nhận sự suy diễn áp đặt này!

Từ “Nhà Bàn” thành “Nhà Bàng” không loại trừ khả năng “tính dị bản” trong thói quen gọi tên, cách viết của nhiều người.
Thói quen tự ý viết, nói của người dân, các cơ quan chức năng cũng là nguyên nhân dẫn đến “tính dị bản” gây tranh luận vô cớ Nhà Bàn (gốc) – Nhà Bàng (bản sao). Việc viết sai này bởi các tác nhân:
  • Nhầm lẫn từ “Bàn” – bàn làm việc (ăn, nghỉ…) và “bàng” trong “cỏ Bàng” và “cây Bàng” qua các tác động thông tin đại chúng khiến người dân “đánh đồng”, dẫn đến nói, viết sai: Nhà Bàn thành Nhà Bàng. Trường hợp tương tự: Cản Dừa – Cảng Dừa, Cù lao Giêng – Cù lao Ven (Den); Cần Tọt – Cần Giọt – Cần Giuộc, Mốp Văn – Mớp Văn…
  •  “Quy luật lây lan” trong lỗi kỹ thuật morasse (lỗi chính tả, in ấn) khiến Nhà Bàn thành Nhà Bàng làm không ít người tự tin nói, viết theo => nối tiếp từ sai đến sai. Ví dụ: Trong Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập “Thị trấn Nhà Bàng” làm cho đơn vị sở tại ghi – treo bảng hiệu “Hội đồng Nhân dân thị trấn Nhà Bàng”…; hoặc do trụ chỉ dẫn Km “Nhà Bàng” theo các tuyến lộ làm người dân, cơ quan chức năng khác “bắt chước” thành thói quen cố hữu. Thực ra thì Nhà Bàn mới đúng như giải thích ở trên!

Nếu không còn nghi ngờ, qua bài viết từ nay về sau mong các cơ quan chức năng trong, ngoài tỉnh khi đề cập đến địa danh Nhà Bàn (Tịnh Biên, An Giang) thì đúng như tên gốc Nhà Bàn! Quan điểm “Nhà Bàng” do “cây Bàng”, “cỏ Bàng” – “nhà giã cỏ Bàng”, “bày bán các sản phẩm từ cỏ Bàng” chỉ là sự quy kết vội vàng, gây nhầm lẫn địa danh “Nhà Bàn” bấy lâu nay…


Liêu Ngọc Ân.

Bài đăng trên Tạp chí Văn hóa Lịch sử An Giang số 86, tháng 05-2012

Đôi nét về vài địa danh cũ chợ Cần Thơ

đăng 16:00, 24 thg 4, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Nói chợ Cần Thơ (chỗ nhà lồng cổ) thì người ta nhớ chợ Hàng Dương nơi đây có hàng dương cao cạnh sông rất đẹp, bà con nhóm chợ trên bờ hàng dương. Hàng Dương có bến tàu đi các tỉnh và trong tỉnh. Năm 1915, chính quyền Sài Gòn (người Pháp) xây chợ Sài Gòn (chợ Bến Thành) và chợ Bình Tây thì đồng thời chính quyền Cần Thơ thời đó (người Pháp) cùng xây dựng nhà lồng chợ Cần Thơ (nay gọi là nhà lồng chợ cổ). Từ bến Hàng Dương giáp đầu đường Ngô Quyền có cột lồng đèn cao, ba ngọn đèn tỏa sáng khi có nhà máy đèn Cần Thơ.

Ngày 22-10-1956 thời tỉnh trưởng Đặng Văn Quang (từ tháng 1-1956 đến tháng 4-1957) tỉnh Cần Thơ đổi thành tỉnh Phong Dinh. Đến 1958 tỉnh trưởng Đổ Văn Chước (từ tháng 4-1957 đến tháng 12-1959) đổi tên bến Hàng Dương thành bến Ninh Kiều ngày 7-8-1958. (Ninh Kiều là sự tích Bình định Vương Lê Lợi đánh bại quân xâm lược nhà Minh (Trung Quốc) tại Ninh Kiều đất Bắc xưa nay thuộc Hà Tây, Hà Nội). Nhà lồng cổ Ninh Kiều nay, trước đây tỉnh trưởng người Pháp Tholance (từ tháng 3-1915 đến tháng 11-1915) khởi công xây, đến tỉnh trưởng Caillard (từ 11-1915 đến 4-1917) thì khánh thành mua bán từ đó. Từ chợ đi lên tới ngã ba sông Pháp xây dinh thự Pháp ở, lính đồn trú, ta gọi Bungalo, sau này là nhà hàng Ninh Kiều cả khách sạn Quân Khu.

Từ chợ đi xuống tới cầu Xéo, nói cầu Xéo chớ nay không còn cầu, lúc trước Nhà nước xây cầu (gỗ xi măng) xéo để cho ghe chài đưa hàng lên (nay là chợ Tân An). Nơi đây nhà máy cưa gỗ, gạo, than, củi, hàng tiêu dùng, cá mắm các nơi đến chợ Cần Thơ bán tấp nập.


Từ chợ đi ra phía phải có hàng dừa sau nhà việc Tân An (có lúc là cơ quan UBND TP Cần Thơ). Hàng dừa thuở ấy cao, rất đẹp sau này cũng có nhóm chợ ở đây rất đông đúc.

Tiếp tục xuôi về hướng đường Hòa Bình (trước là đường Hàng Xoài) con đường trung tâm của thành phố lâu nay, đụng bệnh viện, trước đây là nhà thương lớn Cần Thơ, có tên bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa. (Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ đang xây dựng hiện nay). Bên phải đối diện bệnh viện có hàng bả đậu xum xuê rất nhiều dãy tiệm quán mà một thời là bến xe đậu ở đây; cũng ở đây có lúc thương phế binh chế độ cũ cắm dùi chiếm chỗ ở gây khó khăn cho nhà đương cuộc thời đó. Bên kia đối diện hàng bả đậu là đất thánh Tây (nay là công viên Lưu Hữu Phước) ở đây Pháp chôn viên chức, sĩ quan Pháp chết. Sau này thời chính quyền Ngô Đình Diệm diệt Ba Cụt (Lê Quang Vinh) ngày 13-7-1956 cũng chôn ở đây. Mộ Pháp đã lấy cốt về Pháp, mộ khác thân nhân lấy cốt về gia đình.

Dãy phố cặp đường Châu Văn Liêm (trước đó là Nguyễn An Ninh) là con rạch từ sông Cần Thơ chảy vào được nhà đương cục thời đó lấp để mở rộng thành phố.

Từ bệnh viện đi thẳng vào, qua cầu rạch Tham Tướng tới chợ Tham Tướng (nay là chợ Xuân Khánh) thẳng vào Ngã ba Hợp tác xã đến Đầu Sấu, về Cái Răng. Trước đây xe cộ các nơi về Sóc Trăng, Bạc Liêu theo đường này khi chưa có lộ 3 Tháng 2 như ngày nay. Khỏi chợ Tham Tướng vào Ngã ba Hợp tác xã, hai bên rất ít nhà, phía trái bà con làm rẫy bán ra chợ Cần Thơ, phía phải là vườn. Khi chiến tranh ác liệt chính quyền cũ cho lập nghĩa trang, xây nhà máy nước (20-9-1973) trước đó trên con đường này, phía trái chính quyền cũ lần lượt xây trại nhập ngũ số 4 (1965), xây đài phát thanh Cần Thơ ngày 20-12-1967, xây khu đại học Cần Thơ ngày 31-3-1966…

Từ dinh tỉnh trưởng cũ (nay là UBND TP Cần Thơ) đến đường Nguyễn Trãi đi thẳng lên Bình Thủy.

Nhắc lại một chút: ngày 25-6-1867, Pháp chiếm vùng Cần Thơ lúc đó gọi là huyện Phong Phú; ngày 1-1-1868 huyện Phong Phú (Cần Thơ) nhập vào hạt tham biện Sadéc do quan cai trị Pháp ở đây. Đến ngày 30-4-1872, huyện Phong Phú nhập Bắc Trang (Vĩnh Long) do tham biện Trà Ôn rồi từ Trà Ôn dời qua Cái Răng và tỉnh trưởng lúc đó là Deseravalle. Năm 1872 – 1874 ông ta làm tỉnh trưởng ở đây, đến ngày 23-6-1876 dưới thời tỉnh trưởng Schneider đổi tên hạt tham biện Trà Ôn thành tham biện Cần Thơ, tòa bố dời về Tân An (Cần Thơ) (chánh tham biện ngang tỉnh trưởng sau này). Đến ngày 30-9-1970, chính quyền Sài Gòn lập thị xã Cần Thơ (phần nội ô của tỉnh Phong Dinh) thành thị xã trực thuộc chính quyền Sài Gòn gồm quận nhất: phường An Lạc 7 khóm 33.018 dân; An Cư 16.596 dân; An Nghiệp 3 khóm 24.476 dân; An Hòa 5 khóm 35.763 dân; An Thới 3 khóm 16.596 dân; An Hội, Thới Bình ta lập thêm sau. Quận nhì gồm Hưng Lợi 3 khóm 18.051 dân; Hưng Phú 3 khóm 14.919 dân; Hưng Thạnh 2 khóm 3.590 dân; chung 8 phường 32 khóm 182.424 dân. Nói về thôn, làng, xã… của Cần Thơ thì 1867 huyện Phong Phú (Cần Thơ) có ghi để lại:
  • Thôn Tân An (lập thời vua Gia Long)
  • Thôn Thới Bình (lập thời vua Gia Long)
  • Thôn Bình Thủy (lập thời vua Gia Long)
  • Thôn Nhơn Ái (thời Minh Mạng)
  • Thôn Nhơn Nghĩa (thời Minh Mạng)
  • Thôn Thường Thạnh (thời Minh Mạng)
Khi Pháp xây dựng tòa bố và dinh tỉnh trưởng Pháp, trên đường Nguyễn Trãi Pháp xây dựng nhà máy đèn, nhà máy nước (còn đến nay: Công ty điện lực Cần Thơ, công ty cấp thoát nước Cần Thơ). Đường Nguyễn Trãi ngày 5-3-1964 xóm chợ Cầu Củi bị cháy dữ dội. Dân nghi ngờ trung tá Trần Bá Di (tỉnh trưởng từ 11-1-1963 đến 25-5-1965) đuổi xóm lao động Cầu Củi không được, chúng nghi dân lao động ở đây từ Cái Cui, Bùng Binh, Bến Bạ, Phong Điền (Cần Thơ), Mỹ Hòa (Vĩnh Long) được cách mạng đưa ra bằng ghe, bán củi, chài lưới, làm thuê… để hoạt động. Do đó chúng có ý đồ xây dựng khu tư dinh tư lịnh vùng bốn về đây (nay là Đoàn 30 QK9) cùng câu lạc bộ sĩ quan VNCH (nay là Quận ủy Ninh Kiều). Chúng đốt xóm nhà lá này cháy rụi khổ sở cho dân. Cuộc đấu tranh của dân rất gay go và sau chúng bồi thường và dân ở lại chỗ cũ.

Lên tới ngã tư bến xe mới ngày nay thì lúc trước chưa có bến xe, chưa mở lộ vào Đầu Sấu (Hùng Vương – Trần Hưng Đạo – 3 Tháng 2) nơi ấy có cây xăng và quẹo phải thì ra bến bắc (phà) theo đường Thủ Khoa Nghĩa, nay là đường Trần Phú. Lúc ấy, muốn lên bến bắc phải qua cầu Sáu Thanh (ngay chợ Cái Khế) con rạch này nối Khai Luông đến xóm Lò heo (nay là đường Trần Văn Khéo chạy ra sân banh Cần Thơ). Bến bắc Cần Thơ Pháp xây sau bắc Mỹ Thuận (1915). Bắc Cần Thơ 1918 mới khánh thành lúc đầu có 3 phà đi qua lại.

Đến 1965 khi Mỹ đổ quân vào miền Nam, cố vấn Mỹ xuống Cần Thơ khá đông, lập các cơ quan Mỹ nằm ở miền Tây – chính quyền cũ mở rộng Cần Thơ làm thủ phủ miền Tây, hãng thầu xây dựng của Mỹ RMK – PRJ đến Cần Thơ mở đường, làm sân bay, kho đạn cho hậu cứ chúng. Con đường từ chỗ cây xăng chúng san ủi lập ra bến xe mới, mở rộng lộ lên Long Xuyên, xây khu quân sự từ An Thới lên Trà Nóc thì nhà hai bên đường mới mọc lên chớ trước còn rất vắng. Đến ngày 12-2-1968 Nguyễn Văn Lộc, Thủ tướng chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lập khu kỹ nghệ Cần Thơ với tên phòng thương mại công kỹ nghệ tập hợp nhà buôn hoạt động ở Cần Thơ.

Từ bến xe mới chúng phóng lộ mở tới Đầu Sấu để xe từ bến bắc lên về các tỉnh: Sóc Trăng, Bạc Liêu thì đi đường này. Lúc đầu đường tên Nguyễn Viết Thanh (Tư lịnh Vùng bốn trước đây, chết trận năm 1970), sau 30-4-1975 ta đổi thành đường 3 Tháng 2 đến nay.

Cầu Sắt Cái Răng (nay không còn). Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên trên Panoramio


Qua khỏi cầu Đầu Sấu là tới chợ Cái Răng có cầu Cái Răng trước đây khi lập tỉnh Cần Thơ, chính quyền xây cầu sắt 1913. Trong kháng chiến chống Mỹ, ngày 7-4-1972 công binh Cần Thơ đánh sập cầu Cái Răng sau đó Mỹ xây lại cầu đúc, đến sau ngày 30-4-1975 xây lại cầu đúc, nay xây lại cầu mới. Chợ Cái Răng có sự kiện đáng nhớ khi Pháp tái chiếm Cần Thơ (26-10-1945), Pháp đóng quân ở nhà việc Cái Răng xưa kia là làng Thường Thạnh do đại úy Rouan chỉ huy. Ngày 12-11- 1945, các anh quốc gia tự vệ cuộc gồm anh: Lê Bình cùng Bùi Quang Trinh, Nhật Tảo, Trần Chiến, Cao Minh Lộc đánh chiếm Cái Răng, đại úy Rouan bị thương; các anh quốc gia tự vệ cuộc của ta hy sinh hết. (Rouan là sĩ quan Pháp bị thương, ông là đảng viên đảng Cộng sản Pháp, khi về hưu ở Pháp ông có hồi ký hết sức khâm phục các chiến sĩ quốc gia tự vệ cuộc nói trên).

10 năm TP Cần Thơ trực thuộc Trung ương, bộ mặt Cần Thơ xưa đã có những đổi thay lớn:
  • Nhiều công trình kinh tế - xã hội tăng thêm, đời sống người dân được cải thiện.
  • Các công trình lớn như cầu Cần Thơ, nhà máy nhiệt điện Ô Môn, sân bay quốc tế Cần Thơ, cảng Cái Cui, Đại học Y Dược (chưa kể đại học – cao đẳng dân lập).
  • Hàng trăm hẻm lao động được nâng cấp.
  • Đường Quang Trung – Cái Cui – Sóc Trăng; Cần Thơ – Vị Thanh, Cần Thơ – sân bay được làm mới hoặc mở rộng.
  • Hệ thống trường học từ phổ thông trung học, cơ sở các quận đều khởi sắc.
  • Hệ thống bệnh viện thành, quận được trang bị thêm.
  • Hồ Xáng Thổi lâu nay ao tù, nước đọng nay là nơi thư giãn của nhân dân…
10 năm tuy ngắn nhưng làm được các việc trên thôi thúc các cấp, ngành, đoàn thể trong thành phố không ngừng nâng cao tinh thần phục vụ, đưa thành phố xứng tầm là trung tâm khu vực ĐBSCL.

Nguyễn Hà Phan

Đùa nghịch với tên tỉnh

đăng 17:47, 19 thg 4, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

1. Chữ gì được đặt đầu tên tình nhiều nhất Việt Nam?


Có thể thấy ngay đó là chữ Quảng. Ở Việt Nam có 5 Quảng sau đây (tính từ Bắc xuống Nam): Quảng Ninh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi.


Đếm đi đếm lại thì đúng là 5 Quảng thiệt, nhưng mà ai nói Ngũ Quảng chính là 5 tỉnh này thì lại... trật lất!


Người xưa gọi Ngũ Quảng là 5 tình miền Trung, bao gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi (ừ, Ngũ Quảng hổng có miền Bắc nghen!), trong đó Quảng Đức chính là khu vực Thừa Thiên - Huế ngày nay. (Ngoài ra còn có anh Quảng Tín là một tỉnh được tách ra từ Quảng Nam năm 1962 nhưng sau đó đã được nhập lại, anh này không được kể là Ngũ Quảng vì đã được kể trong Quảng Nam rồi).


Thánh địa Mỹ Sơn ở Quảng Nam


2. Chữ gì được đặt cuối tên tình nhiều nhất Việt Nam?


Đó là chữ Giang. Có tới 6 tỉnh có tên tận cùng là Giang, miền Nam có 4 tỉnh: Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, miền Bắc có 2 tỉnh: Bắc Giang, Hà Giang.


3 tỉnh miền Nam Tiền Giang, Hậu Giang, An Giang thì tên tỉnh cũng là tên con sông chính của tỉnh. Riêng Kiên Giang thì tuy tỉnh cũng có nhiều sông nhưng sao tui hổng thấy con sông nào tên Kiên Giang hết? Ai biết sông Kiên Giang xin chỉ dùm.


Dòng An Giang sông sâu, nước biếc...


Ở ngoài Bắc, Hà Giang là tỉnh vùng cao, theo tui thấy thì cũng hổng có sông Hà Giang.


Đến Bắc Giang mới là lạ. Bắc Giang có tới 3 con sông chính, lớn, đó là: sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam. Không có sông Bắc Giang! Con sông Bắc Giang, theo sách địa lý là một chi lưu của sông Kỳ Cùng, bắt nguồn từ Bắc Kạn, chảy qua Lạng Sơn, không hề chảy qua Bắc Giang. Sao kỳ vậy?


3. Miền Tây nào (Tây Bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ) vừa có trăng, có thơ, lại có... tiền?


Đây là một câu đố rất dễ thương, câu trả lời là miền Tây Nam bộ. Nơi đây vừa có Sóc Trăng, có Cần Thơ, lại có... Tiền Giang nữa!


Trong khuôn viên chùa Kh'leang ở Sóc Trăng



4. Tỉnh nào tên là Tây, ở phía Tây nhưng lại thuộc... miền Đông?


Đó là tỉnh Tây Ninh. Phía Tây tỉnh Tây Ninh là biên giới Campuchia, do đó hiển nhiên tỉnh ở phía Tây rồi, tên tỉnh cũng là Tây luôn. Ấy, nhưng theo phân vùng thì Tây Ninh thuộc miền Đông Nam bộ!


Thôi, nay nghịch nhiêu đây đủ rồi. Bữa nào rãnh lại nghịch tiếp!


Hai Ẩu

Con đường đẹp nhất Biên Hòa

đăng 18:29, 18 thg 4, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Nhiều người nói, kể cả trên mặt báo, rằng con đường đẹp nhất Biên Hòa là con đường Nguyễn Ái Quốc, tức quốc lộ 1K đoạn đi qua TP Biên Hòa. Tui sống ở một chung cư cao tầng trên đường này nên thường xuyên có dịp ngắm con đường từ trên cao. Công nhận rằng đẹp thì có đẹp thiệt, nhưng đó là cái đẹp của sự hoành tráng, sang trọng chớ không phải cái đẹp lãng mạn, nên thơ. Ừ, nếu muốn cho con đường Nguyễn Ái Quốc cái nhất thì có cái nhất đo được đây: đây là con đường dài nhất Biên Hòa (8.533 met) và cũng là con đường rộng nhất (rộng 44 met, lộ giới 55 met).


Đẹp lãng mạn, nên thơ nhất ở Biên Hòa, theo tui phải kể đến đường Nguyễn văn Trị - con đường dọc theo công viên bờ sông. Thế nhưng đẹp là một nhận định cảm tính, không đo bằng con số, thay đổi theo từng người, do vậy chắc hẳn nhiều người có những ý kiến khác.


Vậy mà có một con đường ở Biên Hòa ngày xưa (trước 1975) được hầu như tất cả mọi người thời đó công nhận là con đường đẹp nhất. Đường nào vậy? Bây giờ còn không?


Đó là con đường ngày xưa mang tên Lê văn Duyệt. Hãy đọc những dòng cảm xúc sau đây của tác giả Nghiêm Hải trên trang web trường Ngô Quyền:


"Ai cũng thế cả! Cái gì thuộc về mình thì luôn luôn đẹp nhất dù nhiều khi, nếu so sánh thật sự thì chưa chắc! Nhưng, Tôi có thể nói chắc như đinh đóng cột là: chỉ có con đường của cái xóm Bắc dốc Tòa của chúng tôi là đẹp nhất tỉnh Biên Hòa ngày đó mà thôi! Nó sống mãi trong tâm hồn ấu thơ, thời kỳ 1959-1965 và lụi tàn dần vì chặt bỏ do sợ bão lớn gây đổ chết người ... Đó là hai hàng cây sao cổ thụ dọc hai bên đường, đã sống từ rất lâu đời, khi chúng tôi di cư vào Nam và chúng đã hiện hữu! Cứ cách khoảng nhau từ 10 m đến 15 m lại có một cây, xanh mát quanh năm và là nơi tuổi thơ của xóm đã gắn liền vào gốc rễ!"

Hình ảnh con đường Lê văn Duyệt thời ấy (cũng trên trang web trường Ngô Quyền) đây:



Nhà của cô Duyên, nhân vật "cô Bắc kỳ" trong nhiều bài thơ của Nguyễn Tất Nhiên ở trên đường này. Cuối đường là bờ sông, xưa Nguyễn Tất Nhiên đã cùng Duyên đi học về, đưa Duyên từ bờ sông về nhà, để rồi sau đó ông sáng tác nên Khúc tình buồn (mà Phạm Duy đã phổ nhạc thành Thà như giọt mưa):


Người từ trăm năm

Về qua sông rộng

Ta ngoắc mòn tay

Trùng trùng gió lộng


(Về chi tiết này, xin xem bài Người từ trăm năm - Về qua sông rộng)


Trên trang web Ngô Quyền, cô Duyên (không ghi rõ, nhưng tôi đoán chắc là cô Duyên bạn học của Nguyễn Tất Nhiên ngày xưa) nhớ lại:


" ... hình ảnh con đường Lê Văn Duyệt đẹp cổ kính với những cây cổ thụ to cao... cuối con đường là bờ sông Đồng Nai nhẹ nhàng uốn qua thành phố, của một thời mới lớn... "


Hàng cổ thụ đã bị đốn từ lâu. Sau 1975, đường Lê văn Duyệt đổi tên thành Bùi văn Hòa, rồi từ 2013 đổi thành Hoàng Minh Châu cho đến bây giờ.


Đường Hoàng Minh Châu bây giờ dài 320 met, rộng 9 met, lộ giới 19 met. Đường đặt theo tên Hoàng Minh Châu, chủ tịch tỉnh Biên Hòa đầu tiên sau 1945. Con đường ngắn, bình thường, không đẹp, không xấu. Còn chút nên thơ là cuối đường hướng ra bờ sông.


Đường Hoàng Minh Châu, hướng từ bờ sông nhìn ra


Đường Hoàng Minh Châu, hướng từ đường Cách mạng Tháng 8 nhìn về bờ sông


Những hình ảnh ngày xưa đã phai nhạt mất rồi, nhưng người xưa nếu có về lại Biên Hòa ắt sẽ đi lại con đường này để nghe lòng xao xuyến, nhớ thuở nào...


Phạm Hoài Nhân

Núi Bửu Long, Châu Thới ở... Sài Gòn!

đăng 22:18, 12 thg 4, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Ai ở Biên Hòa mà lại không biết núi Bửu Long, núi Châu Thới? Sông Đồng Nai tên chữ là Phước Long, là con rồng mang phước, người xưa nói rằng đầu rồng là Bửu Long, đuôi rồng là Châu Thới. Xưa kia đầu và đuôi rồng đều thuộc Biên Hòa, nhưng bây giờ chỉ còn đầu rồng Bửu Long là ở Biên Hòa thôi, còn đuôi rồng Châu Thới đã về Dĩ An, Bình Dương rồi. Ý, hổng phải trái núi biết đi đâu, chẳng qua là các nhà quản lý vẽ lại địa giới hành chính ấy mà!


Từ trên núi Bửu Long nhìn xuống Hồ Long Ẩn


Nói Bửu Long ở Biên Hòa, Châu Thới ở Bình Dương hay thậm chí nói cả Bửu Long và Châu Thới ở Biên Hòa thì cũng coi như đúng, nhưng nói núi Bửu Long, Châu Thới ở Sài Gòn thì nghe chẳng đúng tí nào!


Vậy mà đây lại là sự thật 100%, không phải ngày xưa mà hiện bây giờ. Coi bản đồ này sẽ rõ:



Ờ, Bửu Long và Châu Thới là... tên 2 con đường ở Cư xá Bắc Hải, quận 10, TPHCM. Trên bản đồ ta thấy tên đường Bửu Long, còn đường Châu Thới ở trên, chỗ có giọt lệ hồng (vị trí nhỏ quá không ghi tên được).


Đường Bửu Long dài 173 met, lộ giới 10 met. Đường Châu Thới dài 182 met, lộ giới 10 met. Hai con đường nằm ở phường 15, quận 10, TPHCM.


Ở khu vực này ta thấy các đường ngang mang tên núi (Châu Thới, Bửu Long, Thất Sơn, Trường Sơn, Bạch Mã, Ba Vì, Hồng Lĩnh, Tam Đảo), đường dọc mang tên sông (Đồng Nai, Cửu Long, Hương Giang). Việc đặt tên núi hơi tùy tiện, khi 2 anh Bửu Long, Châu Thới chỉ cao vài chục met lại đứng chung với những ngọn núi hay dãy núi hùng vĩ cao hàng ngàn met. Hổng sao, tuy thấp bé, nhưng cho đứng chung thì cứ đứng, ngại gì?


Các con đường này có từ khi cư xá sĩ quan Chí Hòa được xây dựng sau khi quân đội Pháp trở lại chiếm Sài Gòn nhưng ban đầu chỉ là đường nội bộ cư xá, không có tên. Từ năm 1969, cư xá được giao cho một ban điều hành tự quản, ban này đặt tên đường như ta thấy từ ấy cho đến giờ.


Vậy mọi người có đồng ý rằng Sài Gòn cũng có núi Bửu Long, Châu Thới chưa?


Phạm Hoài Nhân

Con đường ngắn nhất Biên Hòa

đăng 22:33, 11 thg 4, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Dạo ấy tui ra Hà Nội, đi tìm đến con phố ngắn nhất Hà Nội (tức là con đường ấy mà), đó là phố Hồ Hoàn Kiếm, dài 45 met (xem bài này). Rồi lại thấy có người lò dò tìm ra con đường ngắn nhất Sài Gòn, đó là đường Đỗ văn Sửu, cũng dài 45 met (xem bài này). Tui tự nghĩ, mình ở Biên Hòa mà không chỉ ra được con đường ngắn nhất Biên Hòa, chỉ biết ở Hà Nội và Sài Gòn thì coi sao được! Vậy nên tui vừa đọc tư liệu, vừa đi thử, kết quả là đã xác định được.


Con đường ngắn nhất Biên Hòa là đường Cô Giang, ở khu vực chợ Biên Hòa. Đường Cô Giang là một con đường không những ngắn mà còn hẹp, đường dài 60 met, rộng 5 met, một đầu giáp với đường Cách mạng Tháng Tám, đầu kia giáp với đường Nguyễn thị Hiền.


Đường Cô Giang nhìn từ hướng Cách mạng Tháng 8, từ đầu đường này thấy ngay đầu đường kia.


Ngoài đặc điểm là con đường ngắn nhất, đường Cô Giang không có gì đặc biệt. Là một con đường trong chợ, hai bên đường san sát các cửa hiệu: tiệm vàng, tiệm đàn, tạp hóa... 



Tui chỉ biết nói vậy thôi, không có gì hơn nữa. À, cũng sẵn tiện xin nhắc là cách đây ít lâu trên báo Pháp luật TPHCM online có một tác giả người Biên Hòa viết rằng con đường ngắn nhất Biên Hòa là đường Nguyễn Thái Học, dài 130 met, rộng 9 met. Có lẽ người viết sơ xuất hoặc có ý tứ gì đó, chứ đường Nguyễn Thái Học có chiều dài lẫn chiều rộng đều xấp xỉ gấp đôi con đường mang tên... vợ ông (Cô Giang). Thêm nữa, là từ 2013 theo quyết định đặt tên và đổi tên đường mới thì tên đường Nguyễn Thái Học đã không tồn tại nữa, mà đoạn đường đó đã thành Nguyễn văn Trị nối dài.


Phạm Hoài Nhân

Phân biệt những bãi biển trùng tên dễ bị nhầm lẫn ở Việt Nam

đăng 16:33, 28 thg 3, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Bãi Rạng, bãi Nồm, bãi Sa Huỳnh hay biển Mỹ Khê là những bãi biển nổi tiếng. Tuy nhiên, nếu không để ý, bạn sẽ rất dễ bị nhầm lẫn vì tên gọi những bãi biển này xuất hiện ở khắp nơi trên bản đồ Việt Nam.

Bãi Rạng

1. Bãi Rạng Phan Thiết: hay còn gọi là Biển Rạng, có lẽ đây là bãi tắm đẹp nhất của Phan Thiết. Bãi Rạng cách Phan Thiết khoảng 15 km và nằm về phía Bắc của thành phố Phan Thiết. Được tạo nên với nét hòa lẫn giữa biển và hàng dừa vì bãi Rạng nằm dưới những rặng dừa dày đặc trông giống khu rừng dừa rất đẹp.

Ảnh: Dulichmuine


2. Bãi Rạng bán đảo Sơn Trà: là một bãi biển đẹp và hoang sơ thuộc bán đảo Sơn Trà, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 5 km. Quang cảnh thiên nhiên bãi Rạng vẫn còn khá hoang sơ và chưa bị thương mại hóa nên du khách đến đây sẽ được trải nghiệm những hoạt động du lịch đặc biệt. Bạn có thể đến bãi Rạng bất kỳ lúc nào, khung cảnh ở đây đẹp ấn tượng mọi lúc, mọi nơi. Tuy nhiên, thời điểm tuyệt nhất để tham quan, khám phá vẻ đẹp hoang sơ, mộc mạc và tĩnh lặng của bãi Rạng chính là khi bình minh hoặc hoàng hôn.

Ảnh: dulichsontra


3. Bãi Rạng Quy Nhơn: Nằm ở làng chài Hải Minh, từ thành phố Quy Nhơn bạn phải đi tàu mới đến được nơi này. Bãi Rạng ít được du khách biết đến bởi vị trí hẻo lánh và không thuận tiện, tuy nhiên đây là một bãi biển nhỏ còn hoang sơ và rất đẹp. Bãi Rạng nằm bên trái hang Dơi, cách một ghềnh đá nhỏ. Leo qua các đồi khác dọc triền núi, bạn sẽ đến các bãi khác mà dân đảo vẫn gọi là bãi Rạng 2, bãi Rạng 3… Nơi đây, cát trắng, biển trong xanh, sóng nhẹ nhàng, e ấp… bạn có thể hoà mình vào sóng nước.

Ảnh: wikimapia


4. Bãi Rạng Phú Yên: Từ Vịnh Xuân Đài đi thẳng vào khoảng 15km mới đến lối vào Bãi Rạng. Bãi biển này còn rất hoang sơ, chỉ có người dân biết, vì vậy đường vào không có bảng chỉ dẫn gì cả. Nhưng bù lại, khung cảnh ở đây tuyệt đẹp và không một bóng người.

Ảnh: wegotoday


5. Bãi Rạng Đầm Môn: Nằm trên cung đường chinh phục cực Đông, Mũi Đôi tỉnh Khánh Hòa, bãi Rạng được nhiều phượt thủ biết đến vì đây là bãi biển dùng để cắm trại qua đêm để ngắm bình minh đầu tiên ở Việt Nam. Bãi Rạng nhiều đá, không tắm được nhưng bù lại phong cảnh rất hữu tình. Để đến bãi Rạng, bạn sẽ phải băng qua những đồi cát mênh mông, đường rừng với những dây gai chằng chịt.

Ảnh: cuongchan


Bãi Nồm

1. Bãi Nồm đảo Bình Ba: Bãi Nồm hướng về phía Nam đảo do đó hạn chế duy nhất của bãi biển này là bạn không thể ngắm hoàng hôn hay bình minh ở đây nhưng không có nghĩa là nơi này mất đi sức hút khó cưỡng của nó. Bãi Nồm được 2 dãy núi ôm sát hai bên tạo thành một hình vòng cung quanh năm êm sóng, lại thêm cát mịn nên nơi đây tầm chiều khoảng 4 giờ, mặt trời tắt nắng là khách du lịch và dân địa phương ra tắm rất đông vui.

Ảnh: Trúc Phan


2. Bãi Nồm bán đảo Sơn Trà: hay còn gọi là bãi Nam, là một trong những bãi biển đẹp của khu du lịch bán đảo Sơn Trà, tại đây có khu nghỉ dưỡng 4 sao Sơn Trà resort & spa. Nếu bạn nhìn từ bãi biển Mỹ Khê Đà Nẵng, bạn sẽ thấy bãi Nồm ở xa xa. Tại khu vực biển bãi Nồm, ra xa bờ khoảng vài trăm mét là khu vực san hô rất đẹp, các hoạt động lặn ngắm san hô thường diễn ra tại đây.


3. Bãi Nồm bán đảo Vĩnh Cửu: Bãi Nồm ở Phú Yên có sức hút lạ lùng đặc biệt là với khách Tây ba lô. Nơi này có ưu điểm là cảnh quan đẹp tự nhiên, bãi biển rất sạch. Đứng xa bãi Nồm, du khách sẽ chiêm ngưỡng được không gian bãi biển tuyệt đẹp được vòng tay của những dãy núi đá trùng điệp ôm vào lòng. Đến gần bãi Nồm, du khách còn mê đắm hơn, khi tận hưởng cảm giác vùi chân dưới cát trắng mịn màng, rồi sau đó để những con sóng mạnh mẽ vỗ vào bờ cuốn đi dấu chân.

Ảnh: Justin Hans


Biển Mỹ Khê

1. Biển Mỹ Khê Đà Nẵng: Tạp chí kinh tế hàng đầu của Mỹ Forbes đã bình chọn bãi biển Mỹ Khê Đà Nẵng là một trong sáu bãi biển quyến rũ nhất hành tinh. Có thể nói, bãi biển Mỹ Khê đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí bình chọn cơ bản của Forbes như thuận tiện về giao thông, bãi biển mở miễn phí cho tất cả du khách, bãi biển có bờ cát dài và phẳng, ánh nắng và mức sóng phù hợp cho việc chơi các môn thể thao, có khả năng đảm bảo an toàn cho du khách, có các khu nghỉ dưỡng hạng sang, các biệt thự đạt tiêu chuẩn quốc tế…

Ảnh: tapchiotodulich


2. Biển Mỹ Khê Quảng Ngãi: Bãi biển Mỹ Khê thuộc thôn Cổ Lũy, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi chạy dài 7 km. Bãi biển uốn cong hình vầng trăng khuyết, gây ấn tượng bởi vẻ đẹp còn đậm chất hoang sơ, không gian thoáng đạt hữu tình, vời vợi mây trời, rì rào sóng vỗ… tất cả như mời gọi lữ khách đến thăm. Phía trên bãi biển là một vài xóm chài yên ả, nằm nép mình bên mặt biển mênh mông, lác đác tàu thuyền neo đậu. Hình ảnh những chiếc thuyền câu, thuyền thúng mộc mạc nằm phơi mình giữa nắng gió, như phác họa thêm những nét chấm phá dung dị cho bức tranh biển xanh, cát trắng.

Ảnh: vietnamtourism


Bãi Sa Huỳnh

1. Bãi Sa Huỳnh đảo Bình Ba: Để đến bãi này phải đi tàu từ Bình Ba ra khá xa so với những bãi biển khác vì nó thuộc khu quân sự bán đảo Cam Ranh. Bãi Sa Huỳnh là một bãi cát dài trắng muốt, nước trong xanh, nếu không định vị được không gian bạn sẽ tưởng mình như lạc vào một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh ở xứ trời Tây.

Ảnh: Tiểu Duy


2. Bãi Sa Huỳnh Quảng Ngãi: Bãi biển Sa Huỳnh chạy dài đến 5, 6km, cong cong hình lưỡi liềm. Đáy biển thoai thoải, không có bãi đá ngầm, có thể là những bãi tắm lý tưởng đối với du khách đến đây nghỉ hè, vui chơi và tắm biển. Ngoài ra, Sa Huỳnh còn có thắng cảnh ghềnh đá Châu Me, đảo Khỉ… thu hút du khách vào các ngày nghỉ cuối tuần và các ngày lễ tết.

Ảnh: dulichvtv


Bãi Ngự

1. Bãi Ngự đảo Nam Du: khung cảnh ở bãi Ngự choáng ngợp bởi sự kết hợp quá đỗi tuyệt vời giữa núi và biển. Đây là bãi duy nhất ở Nam Du quanh năm êm sóng. Tương truyền trên đường qua Xiêm, vua Gia Long đã dừng lại đây nên khu vực này có tên là bãi Ngự. Mùa khô, bãi này vẫn đầy đủ nước ngọt trong khi các khu vực khác thiếu nước trầm trọng.

Ảnh: Tiểu Duy


2. Bãi Ngự đảo Thổ Chu: là nơi có bãi biển trong xanh, sạch đẹp và hoang sơ nhất đảo Thổ Chu. Bãi Ngự có hình dạng vòng cung, được che chắn bởi hai dãy núi nên biển rất êm, nước trong veo nhìn tận đáy. Bãi biển mang dáng vẻ đẹp hoang sơ, êm đềm với những hàng cây phong ba, bàng vuông cổ thụ, những hàng dừa tuyệt đẹp khiến bạn thỏa chí vùng vẫy với thiên nhiên mà chẳng muốn rời đi.

Ảnh: LingaVN


Theo Tiểu Duy

Ngắm những con đường ngắn nhất Sài Gòn

đăng 16:07, 19 thg 3, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Bộ ảnh độc đáo chụp lại những con đường ngắn nhất ở Sài Gòn của chàng trai 29 tuổi Trần Đặng Đăng Khoa nhận được rất nhiều lời khen ngợi.

“Trước đây tôi luôn tự hỏi rằng con đường ngắn nhất Sài Gòn là ở đâu, đặc biệt là sau khi đọc bài viết Những con phố ngắn nhất Hà Nội trên báo mạng thì cái sự tò mò ấy lại dâng cao hơn nữa. Liệu ở Sài Gòn có con đường nào phá được “kỷ lục" của Hà Nội hay không?”, Đăng Khoa chia sẻ về ý tưởng thực hiện bộ ảnh. 

Đăng Khoa chỉ mất 4 ngày để thực hiện bộ ảnh nhưng anh mất gần nửa năm để tìm thông tin trên mạng, trong sách báo, mò tìm trên Google maps, tính cự li, lộ trình… để tìm ra những con đường ngắn nhất của Sài Gòn. 

Mặc dù không phải là người Sài Gòn, nhưng Đăng Khoa chia sẻ anh hay đi du lịch khám phá Việt Nam và nhiều nước, đồng thời có kỹ năng tìm kiếm thông tin, xem bản đồ nên anh "mò đường" rất tốt. 

Bộ ảnh này được Đăng Khoa thực hiện như kỷ niệm dấu mốc 10 năm anh "nương thân" ở Sài Gòn. 

Chung cư Đỗ Văn Sửu ngay bên đường Đỗ Văn Sửu 


Đường Đỗ Văn Sửu theo Đăng Khoa là con đường ngắn nhất Sài Gòn với chiều dài 45m, nằm ngay chân cầu Chà Và bên phía quận 5 


Điều thú vị nữa là đường Đỗ Văn Sửu lại có chiều dài đúng bằng chiều dài của con phố ngắn nhất Hà Nội là phố Hồ Hoàn Kiếm (45m) 


Đường Đinh Lễ (56m) mới thật sự là con đường ngắn và độc đáo nhất với chỉ một số nhà đó là số 01 Đinh Lễ, không có số 02, số 03... Đinh Lễ. Và địa chỉ số 01 Đinh Lễ là nơi mà hầu như tất cả mọi người đều biết đó là Chợ Xóm Chiếu, Quận 4. 


Chợ Xóm Chiếu với số nhà lẻ loi trên con đường siêu ngắn Đinh Lễ vào một buổi chiều nắng vàng cuối tuần 


Đường Phú Định có chiều dài vỏn vẹn 65m nằm ở Quận 5 này bị giới hạn bởi đường Nguyễn Án và đường Lương Nhữ Học 


Ở đầu đường Phú Định giao Lương Nhữ Học có hai bảng tên đường đối diện nhau, một bảng có vẻ khá lâu đời và một bảng mới nhưng bị che khuất bởi mái hiên của một tiệm bánh xèo khá ngon 


Con đường nhỏ Trần Doãn Khanh (70m) yên tĩnh ẩn mình giữa hai con đường cũng tương đối vắng vẻ không kém là đường Nguyễn Văn Thủ và Nguyễn Thành Ý 


Trong những con đường ngắn nhất Sài Gòn, có lẽ Nguyễn Thiệp (90m) là con đường đã chứng kiến nhiều thăng trầm nhất trong lịch sử hình thành và phát triển của Sài Gòn từ thời Pháp 


Đường Nguyễn Thiệp ngày nay tập trung nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, đổi ngoại tệ, các cửa hàng ăn uống quen thuộc 


Dài nhỉnh hơn đường Nguyễn Thiệp một chút là đường Hưng Long (92m) ở Quận 10 


Đường Hưng Long yên tĩnh và vắng vẻ những ngày cuối tuần 


Con đường nhỏ Huyền Quang vắng vẻ và yên tĩnh này chỉ dài vỏn vẹn 94m, nhưng lại có lịch sử hình thành khá lâu đời. Ngày xưa có tên gọi là đường Génibrel,rồi đổi tên là Huyền Quang từ năm 1955. Génibrel là tên một giáo sĩ người Pháp đã dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du và Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu sang tiếng Pháp 


Một mảng tường rất ấn tượng trên đường Huyền Quang trong ánh nắng chiều nghiêng 


Con đường Nguyễn Hữu Thận phía trước chợ Bình Tây và Bến xe Chợ Lớn rất đỗi quen thuộc của người Sài Gòn cũng như du khách khi đi tham quan chợ có chiều dài 95m 


Con đường Phan Văn Đạt (103m) nhỏ nhưng rất lâu đời nằm ngay góc công trường Mê Linh, và chân tòa tháp Vietcombank Tower mới xây xong gần đây 


"Con đường xe ngựa" Mã Lộ (115m) sau lưng chợ Tân Định tuy nhỏ nhưng lại có tuổi đời đã gần một thế kỷ 


Ngoài ra, ở Sài Gòn còn rất nhiều con đường có tên và rất ngắn và tuổi đời khá trẻ như 3 đường mang tên 3 loại hoa nằm liền nhau ở quận Phú Nhuận: Hoa Thị 38m, Hoa Lài 43m, Hoa Trà 44m. Hay những con đường Số 1, Số 2, đường mới mở ở các đô thị và khu dân cư mới... 


Linh San - Ảnh: Trần Đặng Đăng Khoa cung cấp

Những hòn đảo đẹp mang tên loài vật ở Việt Nam

đăng 16:48, 9 thg 3, 2016 bởi Pham Hoai Nhan

Trong hệ thống đảo Việt Nam có những đảo mang tên loài vật khiến du khách tò mò muốn khám phá như đảo rùa, khỉ, chim ó, yến, cò...

Đảo Rùa

Đảo Rùa còn có tên gọi khác là Hòn Tre, thuộc tỉnh Kiên Giang. Đây là một trong những đảo gần bờ nhất và có hệ thống công trình tôn giáo mang đậm nét văn hóa của biển. Nhìn từ xa Hòn Tre giống như một con rùa lớn nhô ra biển khơi. Người dân ở đây sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá và làm rẫy.

Đến đảo Rùa, du khách sẽ bắt gặp hệ thống đá với các hình khối to nhỏ khác nhau có nhiều hình thù độc đáo. Một số bãi tắm đẹp được người dân đảo yêu thích là Đuôi Hà Bá, Bãi Chén và Động Dừa. Tại Bãi Chén du khách có thể thả mình dưới dòng nước trong xanh, mát lạnh để thư thái.

Đảo Rùa còn rất hoang sơ và ít khách du lịch nên đến đây bạn nên chuẩn bị đầy đủ các vật dụng cần thiết cũng như thức ăn, nước uống.

Ở Việt Nam, ngoài Kiên Giang, còn nhiều nơi có những hòn đảo cùng mang tên đảo Rùa, như ở Quảng Ninh, Nha Trang...

Đảo Cò

Đảo Cò với hàng nghìn con làm tổ. 


Đảo Cò thuộc xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ở đảo Cò, ấn tượng đầu tiên của du khách là cảnh tượng thiên nhiên lạ mắt với hàng nghìn con cò, vạc đậu trên các cành tre, bụi cây, trông xa như những đốm trắng điểm xuyên suốt trên nền xanh cây lá.

Vào những ngày gió heo may, mọi người khắp nơi lại tìm đến đảo Cò để tận mắt chứng kiến một thiên đường cò, bay kín cả mặt hồ, kín cả đảo tạo thành một vùng trắng muốt. Đặc biệt từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm sau là thời điểm cò làm tổ nên đến tham quan vào dịp này, du khách sẽ ngỡ ngàng trước những chú cò non, cảnh cò mẹ, cò cha kiếm ăn... Tất cả tạo nên một khung cảnh thiên nhiên hoang dã mà không phải nơi đâu cũng có được.

Hòn Gà Chọi

Hòn Gà Chọi còn có tên gọi khác là hòn Trống Mái thuộc Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đảo hiện lên với hình ảnh hai chú gà khổng lồ: một trống, một mái chụm đầu vào nhau, chân thót lại tạo tư thế chênh vênh độc đáo, ấn tượng.

Giữa biển trời bao la, đảo Gà Chọi hiện lên thật đẹp, thách thức thiên nhiên, thời tiết mà hàng trăm năm qua, đôi gà vẫn đứng hiên ngang giữa biển trời. Mỗi sáng bình minh, ánh mặt trời nhuộm đỏ đôi gà tạo cảnh sắc đẹp đến lung linh, mơ hồ.

Hình ảnh tuyệt đẹp của đảo Gà Chọi đã thu hút rất nhiều khách du lịch tìm đến và cũng là biểu tượng của du lịch Hạ Long. Nhiều nhiếp ảnh gia, các nghệ sĩ đã đến đây để thực hiện những tác phẩm đặc sắc. 

Đảo Cá Voi

Đảo Hòn Ông ở Nha Trang còn được biết đến với tên gọi là đảo Cá Voi. 


Nha Trang không chỉ biết đến là thành phố biển xinh đẹp mà còn nổi tiếng với nhiều hòn đảo trong xanh, hoang sơ. Trong đó đảo Cá Voi hay còn có tên gọi quen thuộc khác là Hòn Ông, một trong những hòn đảo với cảnh sắc hữu tình với nhiều bãi biển đẹp. Biển ở đây nước trong vắt có thể nhìn xuống tận đáy, thấy cả những con cá tung tăng bơi lội. Bãi cát trải dài, lăn tăn gợn sóng, mặt nước phẳng lặng và ít người tắm nên cho ta cảm giác rất riêng tư.

Bên cạnh đó các hoạt động khiến du khách thích thú khi đến với đảo Cá Voi như lặn biển, khám phá đường bộ trên đảo, chèo thuyền kayak, lặn biển...

Đảo Chim Ó

Đảo Chim Ó hay còn được gọi là đảo Ó là một trong những hòn đảo hoang sơ, chưa được khai thác nhiều. Thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, đảo Ó nằm giữa hồ Trị An hiện lên với môi trường sạch đẹp cùng vẻ đẹp yên bình, tĩnh lặng. Khung cảnh đảo với hệ thống cây xanh bóng mát, các bãi tắm đẹp sẽ là nơi lý tưởng để du khách ngâm mình, dạo chơi, thưởng ngoạn.

Đặc biệt các hoạt động như câu cá, ca nô, chèo thuyền, cắm trại hay khám phá cuộc sống của người dân nơi đây sẽ cho bạn những cảm nhận tuyệt vời, không thể nào quên.

Đảo Khỉ

Đảo Khỉ sẽ đem tới cho bạn một cảm giác rất đặc biệt, vừa sợ hãi vừa thú vị. 


Đảo Khỉ ở Nha Trang hiện nay có khoảng 1.200 con khỉ, gồm có khỉ Mặt Đỏ và khỉ Lông Xám. Khỉ ở đây được thả trong rừng nguyên sinh tạo môi trường hoang dã thuận lợi cho khỉ sinh tồn.

Đến với đảo khỉ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy thích thú khi được ngắm nhìn các hoạt động của các chú khỉ, xem xiếc khỉ, đi dạo trên bãi biển dưới những hàng dừa cao vút, xanh mát. Ngoài ra mọi người dễ dàng được ngâm mình trong làn nước trong vắt vởi bãi tắm Hòn Lao.

Đảo Khỉ sẽ cho du khách những cảm nhận sâu sắc và dễ dàng giúp ta thực hiện được những bức ảnh mang tên “Hoa quả sơn” và bãi tắm đẹp.

Đảo Khỉ - Cần Giờ

Đảo Khỉ - Cần Giờ, cách TP HCM khoảng 50 km về phía đông nam là một trong những hòn đảo với hơn 1.000 con khỉ, thuộc nhiều loài khác nhau được thả tự do trong rừng. Chúng rất tinh khôn, bạn có thể cho chúng ăn, chơi đùa với chúng và đừng quên thực hiện những bức ảnh với loài vật này để làm kỷ niệm.

Đến với đảo khỉ tại Cần Giờ mọi người có thể tham gia nhiều trò chơi như câu cá sấu, nô đùa thỏa thích trên bãi biển, khám phá rừng ngập mặn Vàm Sát, tận mắt chứng kiến cảnh người dân chài làm việc…

Đảo Yến

Đảo Yến thuộc thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là một hòn đảo có số lượng chim yến rất lớn. Chim yến về đây cư ngụ, làm tổ từ đời này sang đời khác. Thời gian du lịch đảo yến là từ tháng 4 đến tháng 8, các tháng còn lại có thể do mưa bão hoặc do công nhân khai thác tổ yến. Tận mắt chứng kiến đảo yến với vô vàn tổ yến cũng như cách làm tổ, sinh hoạt của loài chim này sẽ cho bạn những trải nghiệm lý thú.

Để đi đến Đảo Yến, du khách phải nghỉ chân tại Hòn Nội, từ đây nhìn vào, Đảo Yến hiện ra với màu trắng đục của các tổ yến. Tại Hòn Nội, mọi người có thể tha hồ vùng vẫy bởi bãi tắm nước trong xanh, bãi cát mịn trải dài, sóng gợn nhẹ. Ngoài ra du khách có thể đi thăm Hòn Ngoại, Hòn Thẩm - chỉ cách Hòn Nội vài phút đi tàu.

Vĩnh Hy

1-10 of 20