đăng 02:38 27-05-2013 bởi Pham Hoai Nhan
[
đã cập nhật 02:39 27-05-2013
]
Hồi còn nhỏ, tôi chưa được đi nhiều để biết đó biết đây nên chưa có dịp đến và biết bến Ninh Kiều ở Cần Thơ. Thế nhưng tôi lại biết đến địa danh Ninh Kiều! Và tôi nhớ như in rằng đó là một nơi ở gần thành Đông Quan (tức là Hà Nội bây giờ), không phải thông qua tài liệu du lịch mà qua bài học... lịch sử! Trận Ninh Kiều là một trận thắng lẫy lừng của nghĩa quân Lam Sơn diễn ra năm 1426, còn gọi là trận Chúc Động. Ninh Kiều là chiếc cầu bắc qua sông Ninh Giang (sông Đáy), khi quân Minh tháo chạy qua sông, nghĩa quân Lam Sơn đã tập kích và chặt đứt cầu, quân Minh chết đuối làm nghẽn cả một khúc sông. Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi có nhắc đến sự kiện này trong câu: Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm Ninh Kiều ngày ấy nay là thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Sau này, nghe bài Chiếc áo bà ba rất mùi mẫn của Trần Thiện Thanh:
Về bến Ninh Kiều thấy chàng đợi người yêu Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm Tôi đâm ra hoang mang quá, không biết mình có nhớ lộn không, bởi vì với hình ảnh
Chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm Thấp thoáng con xuồng bé nhỏ mong manh Nón lá đổ nghiêng tóc dài con nước đổ Hậu Giang ơi, em vẫn đẹp ngàn đời thì đâu có thấy hình ảnh đằng đằng sát khí, máu chảy thành sông của trận đánh năm xưa đâu? Ở đây nếu có chết thì là chết mê chết mệt ấy! 
Lần đầu đến Ninh Kiều, năm 2001 Tôi đến bến Ninh Kiều lần đầu tiên năm 2001, và sau đó còn đến đây rất nhiều lần. Chắc chắn đây không phải là nơi diễn ra trận đánh năm xưa rồi, nhưng vì sao lại có sự trùng tên? Ngẫu nhiên hay cố ý? Và tên bến Ninh Kiều có tự bao giờ? Website của Thành đoàn TPHCM kể rằng: (tham khảo tại đây) Năm 1957, tỉnh trưởng Phong Dinh (tức Cần Thơ) là ông Đỗ văn Chước đã cho lập nơi bến sông Cần Thơ một công viên cây kiểng và bến dạo mát. Sau đó, theo gợi ý của ông Ngô văn Tâm là trưởng ty nông nghiệp lúc ấy, ông Chước đã đệ trình lên tổng thống Ngô Đình Diệm xin đặt tên công viên và bến là Ninh Kiều. Tên Ninh Kiều được lấy theo địa danh lịch sử thời chống quân Minh như đã kể ở trên. Ngày 04/08/1958, công bố Nghị định đặt tên cho bến và công viên là Ninh Kiều. 
Người ta cho rằng bức tường với chữ Bến Ninh Kiều này được xây nên tại thời điểm "khai trương" tên bến Ninh Kiều Không hiểu vì sao người xưa lại liên tưởng đến trận đánh Ninh Kiều khi đặt tên cho một bến sông thơ mộng của Cần Thơ, chỉ biết rằng cái tên Ninh Kiều lịch sử máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm đã nhạt nhòa mất rồi, để bây giờ nhắc đến Ninh Kiều ta chỉ còn thấy bảng lảng say mơ với câu hát:
Về bến Ninh Kiều, thấy chàng đợi người yêu 
Bến Ninh Kiều 2003 - Ảnh: Phạm Hoài Nhân |
đăng 00:01 27-02-2013 bởi Nhan Pham
“Cái mỏm này gọi là Mã Pí Lèng nhưng dân Mông chúng tôi từ xưa tới nay vẫn gọi là Máo Pì Lèng”, cụ Vương lý giải tên gọi một địa danh nổi tiếng ở đất Hà Giang. Xong việc ở Trạm Biên phòng, chúng tôi về nghỉ ở dinh thự của vua Mèo xã Sà Phìn (huyện Đồng Văn, Hà Giang) và ăn Tết với con cháu cụ Vương. Sớm 27 tháng Chạp thiếu, tôi lên đường về Hà Nội. Trời ướt sũng sương. Con đường đá không tên gồ gề toàn ổ trâu, ổ voi chen đá hộc trơn nhẫy từ Sà Phìn đi Đồng Văn. Già nửa buổi sáng chúng tôi mới tới Mã Pí Lèng trên đất Mèo Vạc. Bất chợt trời hứng chí hửng lên le lói nắng. Đây là một cơ hội hiếm có vào mùa này. Cụ Vương bảo tài Dự dừng xe ''cho tụi nó xem sông Nho Quế''. Tôi và Lê Vui - chuyên viên Vụ Tuyên truyền Ủy ban Dân tộc nhảy khỏi xe, lom khom ra mép vực nhòm xuống sông. Một vệt ngoằn nghèo phản chiếu từ mặt nước hơi ánh lên như dải lụa xanh lơ ai đó vô tình đánh rơi giữa hai vách núi thăm thẳm vẫn còn đang mờ sương.
Khi đã yên vị trên xe, cụ Vương bảo: ''Cái mỏm này gọi là Mã Pí Lèng nhưng dân Mông chúng tôi từ xưa tới nay vẫn gọi là Máo Pì Lèng''. Tôi và Lê Vui lại ngớ ra. Vậy ra hàng trăm bài báo, bài viết về địa danh nổi tiếng này lẽ nào sai? Tôi rón rén hỏi cụ: ''Vậy Mã Pí Lèng có nghĩa gì thưa cụ?''. Cụ thủng thẳng mà rằng: Theo tiếng Mông nó là sống mũi con ngựa. Nhưng không phải Pí mà là Pì. Song như vậy vẫn sai. Tên của nó chính xác là Máo Pì Lèng-tức sống mũi con mèo.

Máo Pì Lèng nằm ở gần trung độ của con đường có tên là Hạnh Phúc từ Đồng Văn đi Mèo Vạc dài 26 km. Từ đây xuống Mèo Vạc còn hơn 12km một chút. Con đường khởi công vào ngày 10/9/1959, mất gần 6 năm mới hoàn thành (15/6/1965). Gần 2 triệu lượt thanh niên trai tráng của 16 dân tộc anh em từ Cao Bắc Lạng, Hà Tuyên Thái, Hải Hưng, Nam Định... với gần 3 triệu ngày công đục khoét, phá gần 3 triệu mét khối đá hoàn toàn bằng sức người và đôi tay rớm máu.
Điểm Máo Pì Lèng cao như ngửi thấy trời dựng đứng, thòi ra một dọc đá như sống mũi con mèo đang nhòm xuống sông Nho Quế ngửi rình cá. Để chinh phục đỉnh cao này, những người dũng cảm nhất đã được lựa chọn vào đội dũng cơ. Dây buộc ngang lưng treo mình trên vách đá dựng đứng trong cái nóng như đổ lửa từ hẻm núi phun ra. Cả một khối núi sừng sững, đặc cứng mất bao công sức mới khoét được một lỗ mìn. Vậy mà cho mìn nổ cũng chỉ văng ra được một mảnh đá chưa bằng chiếc chảo gang của người Mông. Riêng điểm đột phá khẩu Máo Pì Lèng đã mất 11 tháng và hàng chục người đã thiệt mạng. Để rồi có một ngày hai cánh quân ở hai đầu con đường ôm nhau trong nước mắt... 
Đợt đi chơi chợ tình Khau Vai (27/3/2012), mấy anh chị em dừng chân nghỉ ở quán nước đỉnh Máo Pì Lèng. Tôi tranh thủ chuyện với già Mông gần 70 tuổi ra chơi với con là chủ quán nước này. Tôi rụt rè hỏi: ''Cháu có nghe người thì gọi nơi này là Mã Pí Lèng, người thì bảo là Máo Pì Lèng. Ai là người gọi đúng thưa cụ?''. ''Tao chẳng biết ai đúng, ai sai. Chỉ biết từ thời các cụ của họ tao đến nay dân ở đây vẫn gọi là Máo Pì Lèng'', cụ đáp. Vậy là có thêm một nhân chứng cho tôi thêm sự tin cậy vào câu chuyện của cụ Vương.
Tôi có 15 năm công tác, làm việc với cụ Vương, học được nhiều ở cụ nhiều điều, mở rộng được nhiều kiến thức hiểu biết ngoài sách, vở. Có lần cụ bảo: ''Ở cái cơ quan này nói chuyện với mày tao thấy được. Mày chịu nghe, chịu nhớ, chịu ghi chép. Tao gần hết vốn với mày rồi đấy. Đến mức mày biết cả mẹo vào nhà người Mông khi họ treo cành lá cấm trước cửa. Ai vào sẽ chém chết. Mày thành chuyên gia Mông rồi đấy!''

Thú thực, trong những năm công tác cùng cụ, tôi có viết kha khá các bài báo về người Mông, về văn hoá, phong tục tập quán, về thiết chế xã hội dòng họ (gọi là Xênh) khép kín, về đời sống, về xoá đói giảm nghèo, và tôi còn làm cả sách, làm phim về vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Mỗi lần có nhuận bút, tôi lại mua tút thuốc lá và hộp bánh ngon biếu cụ. Mới đấy mà cụ đã thành người thiên cổ được gần 4 năm. Viết loạt bài này thâm tâm tôi như một sự trả ơn cụ. Mong cụ thanh thản dưới suối vàng và yên tâm rằng những điều cụ ''lăn tăn'' sẽ có ngày được mọi người biết tới...
|
đăng 02:19 03-02-2013 bởi Nhan Pham
Trải dài qua địa phận 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang, Vĩnh Tế là con kênh đào dài nhất mang ý nghĩa và tầm nhìn chiến lược do nhà Nguyễn thực hiện từ thời mở cõi mà đến nay vẫn còn giá trị.
Tạm hoãn nhiều lần Khởi đầu tại ngã ba tiếp giáp sông Châu Đốc thuộc xã Vĩnh Ngươn, TX.Châu Đốc (An Giang), kênh Vĩnh Tế có chiều dài gần 90 km chạy song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia qua các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang) rồi nối vào sông Giang Thành, TX.Hà Tiên (Kiên Giang) và đổ ra biển.

Tại ngã ba đầu nguồn cặp bờ sông Châu Đốc có một ngôi đình xưa nằm cạnh đường Tây Xuyên - con đường nhỏ chạy ra biên giới - gọi là đình Vĩnh Ngươn, được trùng tu vào năm 1929. Một cụ già ở địa phương cho biết ngày cúng Kỳ Yên vào 15, 16 tháng chạp hằng năm đều có tế quan Thoại Ngọc Hầu. Theo Đại Nam thực lục, địa điểm này là nơi khởi công đào kênh Vĩnh Tế. Mục đích của việc đào kênh là “Vua thấy Vĩnh Thanh và Hà Tiên tiếp giáp với Chân Lạp, việc công tư đi lại, trước không có đường thủy, bàn muốn nhân sông Châu Đốc mà đào cho thông suốt”.
Bấy giờ, vua Gia Long xuống dụ cho thành Gia Định tiến hành đo đạc tính từ phía tây đồn Châu Đốc, sai Trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thoại và Chưởng cơ Phan Văn Tuyên đốc suất 5.500 người gồm dân phu và binh dân đồn Oai Viễn; Đồng Phù (quan nước Chân Lạp) quản suất dân Chân Lạp 5.000 người và tháng 12.1819 khởi công đào. Đại Nam thực lục chính biên chép: “Tháng 9 năm 1819 vét đào đường sông Châu Đốc thông đến Hà Tiên, cho tên là sông Vĩnh Tế”.
Tuy nhiên, công trình này từ lúc khởi công đến khi hoàn thành nhiều lần phải tạm ngưng vì lý do khác nhau. Lần thứ nhất vào tháng 3 năm Canh Thìn (1820), khi vua Minh Mạng mới lên ngôi, thấy việc đào kênh đã tròn một năm, người người khó nhọc, nên ra dụ tạm hoãn và cấp tiền, vải cho người chết, cấp thuốc men cho người đau ốm.
Đến tháng giêng năm 1821, vua lại hoãn việc đào kênh. Bấy giờ vùng Hà Tiên, Châu Đốc vừa xảy ra nạn dịch lớn, vua muốn để cho dân nghỉ ngơi. Tháng 10.1822, vua Minh Mạng thấy công việc đào kênh cần phải khẩn trương hơn, nên ban dụ nhắc nhở. Lần này, Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt phát hơn 39.000 binh dân ở thành và các trấn Vĩnh Thanh, Định Tường, đồn Oai Viễn, cùng hơn 16.000 người Chân Lạp chia làm ba phiên, quyết tâm đào, kế hoạch đến đầu mùa hạ năm sau thì xong.
Tháng 2.1823, Tổng trấn Lê Văn Duyệt nghe tin ở Hưng Hóa có giặc bèn dâng sớ xin hoãn. Lần này vua bảo: “Không lo đến việc miền Bắc nữa, khanh nên phát binh dân vét đào sông ấy để xong công việc. Nếu để mất cơ hội ấy thì khó bảo đảm kỳ sau, mà nước Chân Lạp có thể dòm ngó chính lệnh của ta”. Chưa được bao lâu thì quan Tổng trấn Lê Văn Duyệt bị bệnh, vua sai Phó tổng trấn Trương Tấn Bửu làm thay. Chỉ được vài tháng vua lại ra lệnh hoãn, vì thời tiết nóng bức. Lúc này kênh Vĩnh Tế đã hoàn thành hơn 10.500 trượng, chỉ còn hơn 1.700 trượng.
Tháng 2.1824, kênh Vĩnh Tế được lệnh đào tiếp 1.700 trượng còn lại. Bấy giờ Phó tổng trấn Trần Văn Năng xin để lại binh dân hai trấn Phiên An, Biên Hòa để đào đá xây thành, nhưng vua Minh Mạng không đồng ý và ra chỉ dụ: “Việc xây dựng năm nay chưa tiện, sẽ đợi sang năm. Còn như sông này, liền với tân cương, rất quan hệ đến việc biên phòng, so với việc xây thành đằng nào cần hơn?”. Với quyết tâm của nhà vua, đến tháng 5 năm Giáp Thân (1824) thì kênh Vĩnh Tế hoàn thành. Dựng bia ghi công
Khi công trình hoàn thành, vua Minh Mạng nói rằng đào con sông ấy thực là lợi ích muôn năm vô cùng về sau, bèn sai Hữu ty lo việc dựng bia ghi công, đồng thời ra lệnh ban thưởng trọng hậu cho Thoại Ngọc Hầu cùng các quan có công và quốc vương Chân Lạp.
Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại sinh năm 1761, là con ông Nguyễn Văn Lượng và bà Nguyễn Thị Tiết. Ông Lượng người thôn An Hải, H.Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Bà Tiết là con ông Nguyễn Khắc Tuân và bà Phạm Thị Thấy ở cù lao Dài (Vĩnh Long). Giả thuyết, Nguyễn Văn Thoại có thể được sinh ra tại Quảng Nam. Sau khi cha mất, ông theo mẹ vào Nam lập nghiệp. Cũng có thể ông Lượng vào Nam lập nghiệp, lấy vợ và sinh con tại cù lao Dài, sau về quê Quảng Nam và mất ở đó. Theo tư liệu của nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường thì bà Châu Thị Vĩnh Tế (phu nhân của Thoại Ngọc Hầu) là cháu gái ông Châu Vĩnh Huy và bà Đỗ Thị Toán, vào cuối thế kỷ 18 đã đến lập nghiệp tại thôn Thái Bình (nay thuộc xã Thanh Bình, H.Vũng Liêm, Vĩnh Long). Ông Châu Vĩnh Huy là người có công xây dựng đình chùa, được tôn Hậu hiền. Còn họ Nguyễn của Thoại Ngọc Hầu đến làng này muộn hơn.
Bia Vĩnh Tế dựng tại núi Sam vào mùa thu năm Mậu Tý (1828), chép việc lập làng, mở ruộng di dân, việc vua lấy tên Thoại Ngọc Hầu phu nhân đặt tên cho kênh đào. Nhưng vì trơ trọi giữa trời lâu năm, chữ đã mòn, mặt bia đã bị nứt bể nhiều chỗ, nên các nhà nghiên cứu không đọc được nội dung hoàn chỉnh của văn bia. Ngoài ra, theo Nguyễn Văn Hầu (trong bài viết Bài Tế nghĩa trủng văn do Thoại Ngọc Hầu chủ tế cô hồn tử sĩ sau ngày đào kênh Vĩnh Tế, đăng trên tập san Sử Địa số 17-18 năm 1970) còn có bia “Vĩnh Tế sơn lộ kiều lương” cũng dựng tại núi Sam “nhưng hiện đã thất lạc”. Năm 1950, tác giả bài viết này còn thấy vài mảnh đá to nghi ngờ là bia bị vỡ.
Ngoài việc dựng bia, vua còn ra lệnh tổ chức lễ tế các binh lính và sưu dân đã bỏ mình trong công cuộc đào kênh và soạn Tế nghĩa trủng văn, đọc trong buổi lễ. Tế nghĩa trủng văn còn gọi là bài “Thừa đế lịnh, tế cô hồn Vĩnh Tế tân kinh”. Vào dịp lễ tế, thừa lệnh vua, Thoại Ngọc Hầu đã làm một cuộc cải táng tập thể, trang nghiêm và quy mô, nhưng chưa biết địa điểm hành lễ. Tác giả Nguyễn Văn Hầu căn cứ vào câu cuối bài văn tế “Sam sơn chi tây hề khả dĩ toại khu trì” và đoán rằng địa điểm hành lễ có lẽ là bên triền phía tây núi Sam, cạnh lăng mộ Thoại Ngọc Hầu, chỗ có cắm bia “Đặc tứ Vĩnh Sơn bia ký” và cũng là nơi có nhiều nấm mộ. Cho đến nay, việc tế lễ các vong hồn bỏ mạng trong cuộc đào kênh vẫn còn được duy trì ở địa phương, người ta gọi đó là lễ “Tống gió”.
|
đăng 19:39 01-02-2013 bởi Nhan Pham
Tọa lạc dưới chân núi Bình San (P.Bình San, TX.Hà Tiên, Kiên Giang), Phù Dung cổ tự là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của đất Hà Tiên. Những năm gần đây, trên các diễn đàn học thuật có nhiều tranh luận về lịch sử ngôi chùa này.
Tao đàn Chiêu Anh các
Chuyện bắt đầu từ địa chỉ của Tao đàn Chiêu Anh các cùng đền thờ Đức Khổng tử do Mạc Thiên Tích cất năm 1736. Theo nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, trước đây nhiều người xác quyết rằng Chiêu Anh các chỉ là danh xưng của một hội Tao đàn, ý nói là Chiêu Anh các không có nơi sinh hoạt. Nhưng muốn xác định vị trí ngôi nhà này phải dày công nghiên cứu qua thơ văn của Tao đàn và qua thư tịch, như Kiến Văn tiểu lục và Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh và cả Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức... 
Chùa Phù Dung ở thị xã Hà Tiên - Ảnh: H.P
Cũng theo ông Đạt thì sách Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh có một chi tiết đáng chú ý là “ông Mạc Thiên Tích có dựng ra Chiêu Anh các để thờ tiên thánh và làm nơi đón tiếp hiền tài”. Ta nên hiểu đền thờ tiên thánh ấy là đền thờ Đức Khổng tử. Đồng thời, qua lời đề tựa của Mạc Thiên Tích khi in quyển Hà Tiên thập vịnh thì ngôi nhà nơi tập hợp các văn nhân thi sĩ, kể cả các nhân sĩ hay các võ quan, gọi là Thụ Đức Hiên - tức mái nhà thờ Thánh Đức.
“Về thơ văn, trong bài Giang Thành dạ cổ của Mạc Thiên Tích có câu mô tả chi tiết liên quan đến nền nhà “Khách phượng trì cũng gồm thao lược/Chốn thi đàn bảy bước tranh phong”. Tôi ngờ ngợ cái “thi đàn bảy bước này” nói thềm nhà có 7 bậc. Ngoài ra, trong bài viết Tương quan giữa nền nhà Chiêu Anh các xưa và chùa Phù Dung ngày nay đăng trên tạp chí Chiêu Anh Các cách đây mười năm, tôi đã có phân tích về những cột đá sa thạch mà tôi nghi ngờ đó chính là những cây cột đá của kiến trúc Tào đàn Chiêu Anh các”, ông Đạt nói.
Di tích Chiêu Anh các và đền thờ Đức Khổng tử có lẽ tồn tại đến năm 1833. Thời điểm ấy, quân Xiêm cử đại binh sang chiếm đất Hà Tiên, theo lời cầu viện của Lê Văn Khôi. Trận đó nhiều công trình, dinh thự ở Hà Tiên đã bị giặc hủy hoại. Cho đến năm 1845, cơ sở này vẫn còn một vài kiến trúc. Vì vậy, khi Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn đến đây, có viết như sau: “Cảnh còn đó mà người xưa đâu tá? Vừa rời khỏi yên ngựa ta đã hạ lệnh cho tướng sĩ mau dâng lên tập Hà Tiên thập vịnh của Mạc tướng công... Bấy giờ là nửa đêm… ta đương trầm ngâm đọc bài Giang Thành dạ cổ của Mạc Tướng công, trong thư phòng của chính người xưa”.
Chùa Phù Dung cất lại
Phù Dung là tên một ngọn núi đã có từ trước, ngôi chùa xưa vì cất trên núi nên được gọi cùng tên. Theo sách Hoàn Vũ ký của Nguyễn Thu, được biên soạn vào khoảng năm 1841-1847 thì “Núi Phù Cừ cách tỉnh về phía tây bắc hơn một dặm, hang động xanh rì, chân núi có chùa Phù Cừ, do đó tên núi là núi Phù Cừ”. Đối chiếu với Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức thì thấy chùa Phù Dung ở triền tây nam núi Phù Dung, sang đời Thiệu Trị đổi tên núi và chùa là Phù Cừ.
Tuy nhiên, trên thực tế thì Phù Dung cổ tự trên núi Phù Dung đã không còn kể từ năm 1833. Khi giặc Xiêm chiếm Hà Tiên, chúng bắt hết già trẻ lớn bé ở đây và người trụ trì chùa Phù Dung cũng bị bắt. Sau khi đánh đuổi giặc Xiêm khỏi đất Hà Tiên, nhà Nguyễn không phục hồi ngay mà dời lên Giang Thành đặt lỵ sở Hà Tiên ở đó. Năm 1845, Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn về đây và gặp hòa thượng Tiên Giác - Bửu Châu. Hai người ngồi trên nền Chiêu Anh các đàm đạo việc cất lại chùa Phù Dung. Ngài Tổng đốc không muốn cất lại chùa ở chỗ cũ, vì vậy đã quyết định đem chùa về núi Bình San, tức nền Chiêu Anh các. Đại Nam nhất thống chí có nhắc chi tiết này: “Chùa Phù Dung được cất trên nền di tích xưa của Mạc Thiên Tích”. Nhưng “nền di tích xưa” đó lại không được phân định rõ là nền gì, nên người đời sau đã phải vất vả tìm lại di tích Chiêu Anh các.
Khi chùa Phù Dung được cất lại ở núi Bình San nhưng không được tiếp tục duy trì tên cũ vì kỵ húy “tên cúng cơm” của vua Thiệu Trị. Thời đó, từ Bắc chí Nam, các địa danh có chữ Dung đều phải đổi. Chẳng hạn như huyện Phù Dung ở ngoài Bắc đổi lại là huyện Phù Cừ. Còn ở Hà Tiên, núi Phù Dung cũng đổi lại là núi Phù Cừ. Do đó, sau khi cất lại chùa, ông Doãn Uẩn quyết định đổi tên là chùa Phù Anh (tức Phù Dung và Chiêu Anh các ghép lại). Thời đó lũy chung quanh núi cũng gọi là lũy Phù Anh.
Nguyên nhân lầm lẫn vị trí và tên gọi chùa Phù Dung, Phù Cừ là từ sách vở. Theo ông Trương Minh Đạt thì: “Đời Minh Mạng có Gia Định thành thông chí, đời Thiệu Trị có Hoàn Vũ ký, đời Tự Đức có Đại Nam nhất thống chí. Khi thực hiện bộ sách Đại Nam nhất thống chí, trình lên vua Tự Đức xem thì vua bảo, sách còn sai nhiều chỗ, đem về làm thêm bản phụ biên để sửa. Nhưng trong lúc tập phụ biên đang làm thì Pháp tấn công Đà Nẵng rồi sau đó chiếm luôn Gia Định và Nam kỳ. Triều đình Tự Đức trong giai đoạn này, văn khố lộn xộn, nhiều tài liệu sách vở bị thất lạc. Bộ sách Đại Nam nhất thống chí được người đời sau tìm những gì còn sót chép lại, còn phần bổ biên không tìm thấy. Sau khi Tự Đức qua đời, đến thời vua Duy Tân, Đại Nam nhất thống chí được làm lại. Bấy giờ Nam kỳ đã không còn là thủy thổ của triều đình Huế, sách không nói đến lục tỉnh, nên không có Hà Tiên”.
Theo ông Đạt thì một người Pháp tìm ra bộ Đại Nam nhất thống chí còn rơi rớt ở đâu đó trong văn khố triều đình rồi đem về Hội Những người nghiên cứu Đông Dương dịch, xem chỗ nào thiếu thì thêm vô và cho ra đời Đại Nam nhất thống chí - Lục tỉnh Nam Việt. Chính việc thêm vô này khiến vấn đề chùa Phù Anh trở nên mờ mịt. Vì vậy người đọc bộ Đại Nam nhất thống chí - Lục tỉnh Nam Việt được ấn hành trước năm 1975 ở Sài Gòn, thì thấy chùa Phù Anh bị sửa lại là chùa Phù Cừ. Còn trong thực tế không có ngôi chùa nào mang tên là Phù Cừ, lỗi là do tác giả sách Hoàn Vũ ký không cập nhật thông tin sau năm 1845, khi chùa Phù Dung đã dời điểm và được ông Doãn Uẩn đổi tên là Phù Anh.
“Trong khi vấn đề còn đang tranh cãi chưa ngã ngũ thì di chỉ người xưa tiếp tục bị hủy hoại. Trụ đá còn sót lại của đền thờ Đức Khổng tử hay Chiêu Anh các hiện thời đã bị đập bỏ, một số công trình của người xưa đã bị xâm hại nghiêm trọng do sự thiếu hiểu biết của người nay”, ông Đạt bức xúc.
|
đăng 19:40 31-01-2013 bởi Nhan Pham
Đó là khẳng định của nhà “Hà Tiên học” Trương Minh Đạt. Theo ông thì đây là sự lầm lẫn đáng tiếc xảy ra do các tác giả Đông Hồ và Mộng Tuyết, và điều này ông đã có bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử hồi năm 1999.
Châu Nham ở Bãi Ớt
Ông Đạt đưa ra các nguồn tài liệu để chứng minh cho ý kiến của mình là sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Đại Nam thực lục chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn, Nam kỳ lục tỉnh dư địa chí của Duy Minh Thị... Và gần nhất là Địa chí Hà Tiên in năm 1901 của người Pháp.
Đặc biệt, Gia Định thành thông chí mô tả khá chi tiết: “Châu Nham tục danh là Bãi Ớt, cách phía đông trấn 22 dặm rưỡi, đỉnh núi tròn xoe, sườn đá chênh vênh chạy thẳng đến bờ biển, có những ghềnh rạng gồ ghề, vũng sâu bùn cát bao bọc hai bên tả hữu. Trong vũng có đá tinh quang, ở dưới có nhiều con sò sọc đỏ. Tương truyền khi Mạc Cửu còn nhỏ đi đến dưới nham ấy bắt được ngọc châu kính thốn quý báu vô giá. Cửu đem dâng cho vua...”. Địa chí Hà Tiên ghi vắn tắt “Đồi Châu Nham trong cụm núi Bãi Ớt, xưa che giấu một viên ngọc trai quý vô giá”.
Vào thời Minh Mạng ở đó có lập một đồn binh, cử ra 50 người đi xuống khu vực Bình An - Hòn Chông để mở rộng sản xuất, cung cấp lương thực cho đồn Châu Nham. Sách Đại Nam thực lục chính biên có ghi lại việc Trần Chấn chọn được vùng thôn Bình An, gần đồn Châu Nham có đất bỏ không, có thể cày cấy được, bèn liệu định thế rộng hẹp, xin 50 người giữ đồn Châu Nham, 100 người đến đó cày cấy, lập đồn điền Bình An, nay thuộc khu vực xã (Bình An) và Dương Hòa. Đây đích thực là Châu Nham trong bài thơ Châu Nham lạc lộ của Mạc Thiên Tích.

Núi Thạch Động - Ảnh: H.P
Cũng theo ông Trương Minh Đạt thì trong sách Minh Mạng chính yếu có một câu ý nói Châu Nham ở núi Đá Dựng. Ý đó khiến người đời sau làm căn cứ khẳng định Châu Nham là Đá Dựng. Sự lầm lẫn này kéo dài rồi tiếp tục được củng cố bởi các bài báo trong những năm đầu thế kỷ 20. Chẳng hạn trong bài ký Chơi Châu Nham của Đông Hồ, đăng trên Đông Pháp thời báo năm 1926, có đoạn mở đầu rằng Châu Nham lạc lộ tục gọi là núi Đá Dựng, là một cảnh trong Hà Tiên thập cảnh vịnh của Mạc Thiên Tích. Bài viết này có nhiều sai lạc cả về vị trí của núi Đá Dựng và ý nghĩa của hai chữ Châu Nham.
Bài báo trên sau đó được đăng lại trên Nam Phong tạp chí tháng 9.1930. Thời gian sau nhà thơ Đông Hồ và Mộng Tuyết ra quyển sách Hà Tiên thập cảnh - Đường vào Hà Tiên, một dạng sách bỏ túi giới thiệu du lịch do Nhà xuất bản Bốn Phương ấn hành năm 1960. Rồi năm 1970, bộ giáo trình Văn học miền Nam - Văn học Hà Tiên được Nhà xuất bản Quỳnh Lâm, Sài Gòn in, cùng một số bài viết trên các báo ở miền Nam thời đó đều ghi theo những điều mà nhà thơ Đông Hồ viết Châu Nham là núi Đá Dựng , tiếp tục quảng bá sự sai lầm đó cho đến ngày nay.
Trận đánh Châu Nham
Đồn Châu Nham xưa do Trần Chấn thiết lập vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835) tại khu Bãi Ớt, xã Dương Hòa. Căn cứ thư tịch thì đồn Châu Nham thời Nguyễn quân số không đông, chỉ khoảng độ vài trăm người, trong đó hai phần ba quân số phải làm nhiệm vụ sản xuất lương thực. Chốt giữ đồn thường trực có khoảng 50 lính. Tuy nhiên, đây là địa đầu thường xuyên phải đối phó với giặc cướp, bọn thổ phỉ và xâm lược.
Theo nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt, khi lập đồn điền đầu tiên tại Hà Tiên, đồn Châu Nham có khoảng 100 lính người Phiên (Khmer) trấn giữ. Đến khi thổ phỉ các nơi nổi lên, người Phiên làm phản, chiếm đồn Châu Nham làm cứ điểm chống lại triều đình. Đại Nam thực lục ghi chép sự kiện này như sau: “Năm Minh Mệnh thứ 21 (Canh Tý, 1840), bọn thổ phỉ ở Hà Tiên có hơn 2.000 tên, đánh vây đồn Châu Nham rồi đốt đài Hỏa Phong ở núi Lộc Tỵ (Mũi Nai), đánh trống reo hò tiến sát đến lũy dài. Giặc chiếm giữ đồn Chu (Châu - PV) Nham”.
Bấy giờ, quyền thự Tổng đốc An-Hà là Dương Văn Phong, đem binh chia đường đánh dẹp. Phó vệ úy thủ vệ Định Tường Nguyễn Văn Điệp; Cai đội thủy vệ An Giang Ngô Thiên Tường và biền binh tất cả hơn 70 người bị chết trận, súng nhỏ súng lớn bị thất lạc nhiều. Tháng 10 cùng năm, Dương Văn Phong đã thu lại đồn Châu Nham. Bọn giặc từ sau khi vòng vây ở Quảng Biên bị tan vỡ, đều đến đấy tụ họp đến 3.000 người. Phong bắt phá chằm rậm/rừng hoang, bắc cầu, rồi đích thân chỉ huy 900 binh dũng, chia đường đồng loạt tiến quân. Giặc dựa chỗ hiểm chống cự lại, quân ta không tránh gươm giáo, tranh nhau lên trước lũy. Hương dũng là Nguyễn Văn Tuấn xông pha trong trận, chém được thủ cấp tên đầu sỏ giặc là Nha Tiên. Bọn giặc khiếp sợ, quan binh thừa thế, hoặc lấy dao chém, hoặc lấy giáo đâm, giết chết và đâm bị thương vô kể, giặc bỏ đồn chạy tan, thu được súng và khí giới rất nhiều.
Năm Thiệu Trị thứ nhất (Tân Sửu, 1841), vào tháng 3, bọn thổ phỉ ở Hà Tiên lại vây đánh đồn Châu Nham, quân có đến hàng nghìn. Án sát Huỳnh Mẫn Đạt cho Lãnh binh Nguyễn Văn Thai và Phó quản cơ Dương Văn Thuận đem quân đến hiệp sức giữ đồn rồi sai người phi báo cho thành Trấn Tây phái thêm quân tiếp viện...
Sau những trận đánh liên miên, tháng 11 năm Tân Sửu (1841), Lĩnh tuần phủ tỉnh An Giang là Nguyễn Công Trứ tâu với triều đình xin bố trí lại lực lượng biên phòng: “Hà Tiên là đất xung yếu, phía đông giáp với Đông Hồ, đông nam tiếp giáp với biển, có thể dựa vào thế hiểm trở thiên nhiên ấy được, duy hai mặt tây, bắc, đường bộ đi thông ba ngả, mà đồn Châu Nham cách tỉnh vài chục trượng, chỗ lũy đất đặt súng cùng đối diện nhau, bắn ra không tiện. Xin cho đặt vài ba cỗ súng lớn trên núi Bình Sơn trong lũy để khống chế mặt tây, bắc. Trên núi Tô Châu xin dựng một vọng lâu, đặt 2 cỗ súng lớn để khống chế mặt đông nam. Và triệt bỏ đồn Chu Nham để cho đỡ bớt binh lực”. Vua nghe theo lời tâu ấy.
Hà Tiên có 2 Thạch Động, một Thạch Động nằm cạnh đường lên cửa khẩu Xà Xía và hai là núi Đá Dựng. Núi Đá Dựng có nhiều hang động, xưa có một nhà sư trụ trì chùa Tiên Sơn đã liên tưởng các hang động và hình thù cây đàn đá rồi gán ghép vào câu chuyện Thạch Sanh - Lý Thông cho ra một dị bản “Thạch Sanh chém chằn”, hấp dẫn không kém bản Thạch Sanh - Lý Thông ở các tỉnh phía bắc. |
|
đăng 19:13 23-01-2013 bởi Nhan Pham
Hồ Ba Bể là hồ nước ngọt nằm giữa hai huyện Ba Bể, Chợ Đồn thuộc tỉnh Bắc Kạn. Hồ dài 8km, rộng 3km, nằm trên độ cao 145m so với mặt nước biển và được hình thành từ cách đây hơn 200 triệu năm. Bao quanh hồ là những dãy núi đá vôi cổ có niên đại hơn 450 triệu năm. Nơi đây được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam. 
Vẻ đẹp tự nhiên của hồ Ba Bể Theo tiếng địa phương, hồ Ba Bể là "Slam Pé" (ba hồ), là tên gọi chung của 3 hồ thông nhau gồm Pé Lầm, Pé Lù và Pé Lèng. Hồ Ba Bể được hình thành cách đây hơn 200 triệu năm, do cuộc kiến tạo lục địa Đông Nam Á cuối kỷ Camri đã đưa một khối nước khổng lồ với bề mặt xấp xỉ 5 triệu m2 và chiều dày hơn 30m lên lưng chừng vùng núi đá vôi, tạo ra hồ Ba Bể.
Giá trị lớn nhất của Hồ Ba Bể là cảnh quan địa chất độc đáo. Theo các nhà địa chất của Viện địa chất Việt Nam và Hội địa chất Bỉ đã khẳng định, đá vôi tại vùng hồ Ba Bể có niên đại 450 triệu năm và là đá vôi cổ có đặc điểm kiến tạo rất đặc biệt. Bởi trong quá trình biến đổi địa chất, đá vôi ở khu vực này đã biến thành những mảng đá hoa cương. Cùng với đó, đáy hồ Ba Bể có một lớp đất sét dày tới 200m bịt kín, chính địa tầng sét này không cho nước thoát xuống và hồ được hình thành.
Giá trị nổi bật của hồ là đa dạng sinh học. Đây là hồ nước ngọt thiên nhiên lớn nhất Việt Nam. Hồ Ba Bể có chiều dài hơn 8km, chỗ rộng nhất khoảng 3km, sâu khoảng 20 đến 30m. Hồ ở độ cao 145m so với mặt nước biển, diện tích mặt hồ khoảng 500ha được bao bọc bởi những dãy núi đá vôi có nhiều suối ngầm và hang động. Ðoạn giữa các hồ hơi eo lại. Giữa lòng hồ có hai đảo nhỏ nổi lên (đảo An Mã và đảo Bà Góa). Xung quanh hồ là quần thể du lịch Ao Tiên, đảo Pò Giả Mải, động Puông, thác Đầu Đẳng... Ngoài những giá trị về mặt cảnh quan và địa chất, hồ Ba Bể còn là nơi cư ngụ của khoảng 50 loài cá nước ngọt, trong đó có những loài cá rất quý hiếm như cá cóc Ba Bể, cá chiên, cá lầm xanh, cá sình ga…. và nhiều loài thực vật quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam như nghiến, đinh, lim, trúc dây…

Hang động với những nhũ đá độc đáo Đổ vào hồ Ba Bể có 3 dòng chảy chủ yếu từ sông Chợ Lùng đổ vào hồ tại bản Pác Ngòi; suối Nam Cường từ phía Bắc huyện Chợ Đồn đổ vào hồ tại bản Bó Lù và sông Tả Han bắt nguồn lừ Xuân Lạc đổ vào phía Tây hồ ở Cốc Tộc. Nước hồ Ba Bể biến động theo mùa mưa và mùa khô, mức chênh lệch giữa 2 mùa khoảng từ 1 - 2m, trở thành nơi điều tiết nước cho sông Năng từ cửa Bế Cam trở xuôi. Nhờ hệ thống hồ, sông, suối, núi rừng, hang động bao quanh đã giữ cho nước hồ Ba Bể có nhiệt độ trung bình năm khoảng 22oC. Mùa đông ấm áp, mùa hè mát mẻ.
Đến hồ Ba Bể, du khách có thể dạo quanh hồ nước bằng thuyền độc mộc rất đặc trưng của dân tộc bản địa hoặc bằng thuyền máy ngắm nhìn nhiều thắng cảnh tự nhiên.

Đi dạo hồ Ba Bể bằng thuyền độc mộc là nét đặc trưng nơi đây Với nhiều nét đặc trưng độc đáo và thắng cảnh thiên nhiên đẹp, tháng 3/1995, hồ Ba Bể đã được Hội nghị Hồ nước ngọt thế giới tổ chức tại Mỹ công nhận là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệt của thế giới cần được bảo vệ và phát triển. Ngày13/03/1977, Ba Bể được công nhận là danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử. Ngày 30/09/1996, hồ Ba Bể được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hoá. Cuối năm 2004, Vườn quốc gia Ba Bể được công nhận là di sản Asean, đặc biệt trong đó có hồ Ba Bể - một trong những hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam, đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1996.
Hồ cách thị trấn Chợ Rã (huyện Ba Bể) 18km. Từ thị xã Bắc Kạn, chúng ta có thể đi đến hồ Ba Bể theo 2 cách: Theo tỉnh lộ 256 từ thị xã Bắc Kạn tới Ba Bể dài hơn 60 km; theo tỉnh lộ 257 từ thị xã Bắc Kạn đến Chợ Đồn và đi tiếp đến Ba Bể dài khoảng 70 km./.
|
đăng 04:59 18-12-2012 bởi Nhan Pham
Xẻo
Quýt là khu rừng tràm rộng khoảng 200.000 m2, thuộc huyện Cao Lãnh,
Đồng Tháp. Nơi này xưa kia là căn cứ của tỉnh ủy Kiến Phong (Đồng Tháp).
Đến đây vừa thưởng thức vẻ đẹp của rừng tràm, vừa là tham quan những di
tích cách mạng: hầm trú ẩn, chòi làm việc...
Nhưng thôi, chuyện
kể về Xẻo Quýt xin dành cho một dịp khác, hôm nay chỉ kể chuyện đàm đạo
của cha con Hai Ẩu về địa danh Xẻo Quýt thôi.
Bùm hỏi: Xẻo Quýt nghĩa là gì ba?
Hai Ẩu: Xẻo là một danh từ của dân miền Tây, để chỉ ngọn nước nhỏ hơn rạch. Rạch là dòng nước đổ ra sông nhưng nhỏ hơn sông. Tóm lại, theo thứ tự lớn nhỏ thì là sông, rạch, xẻo.
À, còn có danh từ mương, mương cũng giống xẻo, nhưng khác cái là mương
là dòng nước do người ta đào, còn xẻo là do tự nhiên mà có!
Bùm:
Vậy người ta kêu rạch Xẻo Quýt là dư một chữ phải không ba? Bởi vì rạch
cũng tương đương với xẻo rồi. Còn Quýt trong chữ Xẻo Quýt là gì?
Hai Ẩu: Ba cũng không biết, có thể là ngày xưa ở đây nhiều quýt chăng?

Bùm
đưa mắt nhìn quanh, mênh mông rừng tràm, cỏ dại đầy, và cả lúa trời
nữa, những cây lúa mọc hoang... Chim bay chấp chới xuống ăn lúa. Tuyệt
nhiên không thấy cây quýt nào.
Bùm
nói: Ở Đồng Tháp này có rừng tràm Tam Nông nhiều chim, người ta gọi là
tràm chim Tam Nông. Con thấy ở cái xẻo này có nhiều chim, mình nên gọi
là...
Hai Ẩu: Là Xẻo Chim phải không con? Ờ, tên Xẻo Chim hay lắm đó!
Vừa nói xong, Hai Ẩu nắm tay Bùm lôi đi: Đi con ơi, nếu đây là Xẻo Chim thì cha con mình phải dzọt liền, nếu ở đây thì... không còn cái gì để làm giống, con à!
|
đăng 08:28 08-10-2012 bởi Nhan Pham
Đi
chơi rong ruổi suốt ngày ở Hà Nam, Nam Định, đến tối về Hai Ẩu cùng Mẹ
Bụ lại đi cà phê trong thành phố Phủ Lý. Đi tới một con đường rộng rãi,
sáng rực ánh đèn, Hai Ẩu bỗng dụi mắt, tưởng mình ngủ gục: các bảng hiệu
hai bên đường cho thấy đây đang là... Biên Hòa.
Hai Ẩu hỏi Mẹ Bụ: Đây là đường Biên Hòa à? (đường (đi) Biên Hòa, không phải đường (ngọt) Biên Hòa). Mẹ Bụ cười hì hì: Thế đấy, nên mới đưa anh Hai tới đây cho biết!
Chẳng
những ở Phủ Lý có một con đường mang tên Biên Hòa, mà đó là con đường
lớn nữa. Các bạn hãy xem trên bản đồ Google thì biết:
Giao lộ Biên Hòa - Nguyễn văn Trỗi
Hai
Ẩu chợt nhớ ra ở Biên Hòa có một trường cấp 3 mang tên Nam Hà và một
rạp hát cũng mang tên Nam Hà, và nhớ mang máng rằng Nam Hà và Đồng Nai
là 2 tỉnh kết nghĩa...
À, thì ra có một phong trào kết nghĩa Bắc Nam được khởi xướng từ năm 1960, cứ một tỉnh thành miền Bắc lại kết nghĩa với một tỉnh thành miền Nam. Và cặp đôi tình nghĩa Bắc Nam đầu tiên của cả nước ấy chính là cặp đôi Biên Hòa - Hà Nam.
Thời
điểm 1960 không có tỉnh Đồng Nai, mà chỉ có tỉnh Biên Hòa, còn ở Bắc
thì có tỉnh Hà Nam. Do đó kết nghĩa là Biên Hòa - Hà Nam chứ không phải
Đồng Nai - Hà Nam.
Giờ lại nảy sinh một thắc mắc: Tại sao trường học và rạp hát kết nghĩa ở Biên Hòa lại là Nam Hà chứ không phải Hà Nam?
Té ra là thế này: Tên tỉnh Hà Nam có từ thời vua Thành Thái (1890), đến năm 1965 Hà Nam nhập với Nam Định thành Nam Hà, đến tháng 12/1975 Nam Hà lại ghép với Ninh Bình làm Hà Nam Ninh, đến năm 1992 lại tách ra là Nam Hà và Ninh Bình, rồi đến năm 1996 lại trở về ngày xưa, là Hà Nam! (Thiệt là lộn xộn đó nghe!).
Vậy, tại thời điểm kết nghĩa, Hà Nam là Hà Nam. Thời điểm giải phóng (tháng 4/75) Hà Nam là Nam Hà,
khi ấy Biên Hòa đặt tên cho trường và rạp hát là Nam Hà. Mấy tháng sau,
Nam Hà thành Hà Nam Ninh, nhưng Biên Hòa chẳng biết làm sao, đành giữ
lại tên đã đặt là Nam Hà, cho tới bây giờ luôn!
Thôi
kệ, chả nhắc nhở Hà Nam Nam Hà Hà Lam Lam Hà chi cho nó ngọng, chỉ biết
rằng Hà Nam và Biên Hòa đã kết nghĩa từ năm 1960, lúc đó Hai Ẩu mới 1
tuổi, còn Mẹ Bụ thì chưa sinh ra. Và cứ coi như bây giờ vẫn còn kết
nghĩa đi (bằng chứng là ở Hà Nam có con đường Biên Hòa và 1 trường PTTH
chuyên tên Biên Hòa), tình nghĩa Bắc Nam, tình thương mến thương dào dạt
luôn! Hi hi hi!
Hai Ẩu |
đăng 04:34 03-09-2012 bởi Nhan Pham
TÊN NHA TRANG XUẤT HIỆN TỪ KHI NÀO?
Từ năm 1653, với việc thành lập đơn vị hành chính
dinh Thái Khang cai quản hai phủ
Thái Khang và Diên Ninh,
vùng đất Nha Trang-Khánh Hòa ngày nay đã trở thành
một phần lãnh thổ của quốc gia Đại Việt(1).
Có thể tên Nha Trang đã xuất hiện ngay
từ buổi đầu khi lưu dân người Việt theo lệnh chúa
Nguyễn đến khai khẩn và định cư ở vùng đất ven biển
này. Trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư,
tập bản đồ đường xá Việt Nam do nho sinh trúng
thức họ Đỗ Bá tự Công Đạo soạn vào khoảng nửa cuối
thế kỷ XVII, đã thấy có tên Nha Trang môn
(cửa Nha Trang)(2). Trong một bản đồ khác
cũng có niên đại cuối thế kỷ XVII mang tên
Giáp Ngọ niên bình Nam đồ của Đoan
Quận công Bùi Thế Đạt cũng thấy ghi rõ Nha
Trang hải môn (cửa biển Nha Trang)(3).
Đây có lẽ là những tài liệu sớm nhất đề cập đến địa
danh này. Mặt khác, trong thư từ của các giáo sĩ
châu Âu đến truyền đạo ở Đàng Trong vào đầu thế kỷ
XVIII, lần đầu tiên ta thấy tên Nha Trang
được ghi lại bằng mẫu tự La-tinh. Chẳng hạn trong lá
thư đề ngày 31-5-1715 của Giám mục người Pháp Marin
gởi cho những giám đốc Chủng viện kể lại một vụ đắm
tàu của người Hà Lan tại vùng đảo Hoàng Sa, tác giả
có nhắc đến một địa danh nguyên văn như sau: “un
port nommé Nhatlang” (một cảng biển có tên
Nha Trang). Ở một lá thư khác đề ngày 16-10-1718 ông
lại viết: “le canton de Nhatlang”
(tổng Nha Trang)(4). Điều đáng chú ý ở
đây là cách ghi âm địa danh Nha Trang =
Nhatlang. Ngoài dạng này, ta còn thấy một số
cách ghi tương tự như trong tập Mémoire sur la
Cochinchine (Hồi ký về xứ Đàng Trong) viết
năm 1744 của thương nhân người Pháp Pierre Poivre,
trong đó Nha Trang đã được viết là
Natlang (5), hoặc trong
một lá thư xuất bản năm 1746 của M. Faure, một thầy
lễ Thụy Sĩ, tả lại các tổ yến trên vách đá của những
hòn đảo ngoài khơi thành phố Nathlang
(6). Về mặt ngữ âm, tiếng Việt ở thế kỷ
XVI, XVII có một số tổ hợp phụ âm đầu như bl,
ml, tl... về sau này
không còn nữa mà biến thành một số phụ âm khác, ví
dụ tl sau này biến thành tr
(Trong “Từ điển Annam - Lusitan - Latinh”
của Alexandre de Rhodes xuất bản lần đầu năm 1651 có
các từ TLĂM = TRĂM, TLÂU = TRÂU, TLÊN = TRÊN...)(7). Một tài liệu khác có thể cho ta biết tường tận xã
hội Đàng Trong vào đầu thế kỉ XVIII là sách
Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết vào năm
1776 khi ông trấn nhậm hai đạo Thuận - Quảng. Trong
tác phẩm này có ghi những địa danh như Nha
Trang nguyên (nguồn Nha Trang),
Nha Trang đàm (đầm Nha Trang), Nha
Trang dinh (dinh Nha Trang), Nha Trang
dinh thị (chợ dinh Nha Trang) (thuộc phủ
Diên Khánh), Nha Trang lãnh (đèo Nha
Trang) (thuộc phủ Bình Khang). Điều đáng chú ý là,
qua sự ghi chép tỉ mỉ của Lê Quý Đôn, ta có thể thấy
rằng vào thời bấy giờ tên Nha Trang là
tục danh rất thông dụng trong dân gian để chỉ chung
phủ Diên Khánh, nơi đặt lị sở của
dinh Bình Khang, tức vùng đất bao gồm cả
thành phố Nha Trang lẫn huyện Diên Khánh ngày nay,
như trong đoạn văn sau đây: “Phàm hóa vật được
sản xuất ở các phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Quảng Ngãi,
Quy Nhơn, Bình Khang và dinh Nha Trang…”(8). Nhiều tài liệu về sau cũng cho thấy cách gọi này đã
tồn tại một thời gian dài. Trong một bài hịch của
vua Quang Trung viết năm 1792 có đoạn: “Các
ngươi sẽ thấy rằng Trẫm chỉ đánh một trận là Bình
Khang, Nha Trang ... tức khắc được thu phục”(9).
Sách Đại Việt địa dư toàn biên của
Nguyễn Văn Siêu và Bùi Quỹ soạn dưới thời Tự Đức ghi
lại sự kiện sau: “Năm Quý Sửu (1793) đại quân
lấy lại Bình Khang, tiến đánh thành Quy Nhơn. Lúc
ban sư, đắp thành đất ở thủ sở Nha Trang gọi là
thành Diên Khánh, núi sông thật là thiên hiểm, tục
gọi là thành Nha Trang”(10). Đến
đời Gia Long đổi tên dinh Bình Khang
thành dinh Bình Hòa rồi sau đó là
trấn Bình Hòa thì trong An Nam
đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd in năm
1838 cũng ghi: “Nha Trang seu Bình Hòa trấn”
(Nha Trang tức trấn Bình Hòa)(11). Mãi
đến 1924 khi thị trấn Nha Trang được
hình thành từ 5 ngôi làng cổ ven biển của thuộc Hà
Bạc huyện Vĩnh Xương là Xương Huân, Phương Câu, Vạn
Thạnh, Phương Sài, Phước Hải, địa danh Nha
Trang mới thu hẹp lại để chỉ vùng đất là
thành phố Nha Trang hiện nay.
NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA ĐỊA DANH NHA TRANG
Không kể cách giải thích Nha Trang
có nghĩa là Nhà Trắng (12)
chỉ là câu chuyện vui trong dân gian, đến nay đã có
nhiều giả thuyết về nguồn gốc địa danh Nha Trang:
a) Nha Trang
là địa danh Hán-Việt do người Việt đặt khi đến vùng
đất này. Từ trang (nghĩa Hán-Việt là
trại làm ruộng) trong Nha Trang
thể hiện “dấu vết tổ chức nông nghiệp thời phong
kiến” (Theo Trần Thanh Tâm, Thử bàn về địa
danh Việt Nam, 1976).
b) Nha Trang là địa danh Hán-Việt do
vua Trần Nhân Tông đặt khi vào thăm đất Chiêm Thành
năm 1301 theo lời mời của vua Chiêm là Chế Mân.
(Theo Mịch Quang & Nguyễn Hồng Sinh, Nha Trang
là gì ?, 1992).
c) Nha Trang từ tiếng Chăm ýa
krưm nghĩa là sông tre (Theo
A. Cabaton).
d) Nha Trang từ tiếng Chăm ýa
trăh nghĩa là chỗ hai dòng nước gặp
nhau (Theo Nguyễn Khắc Ngữ).
e) Nha Trang
từ tiếng Chăm ýa trang nghĩa là
sông lau (Theo Gerald Moussay, Thái Văn
Kiểm, Quách Tấn, Nguyễn Đình Tư).
Giả thuyết (a) và (b) với cách giải thích
Nha Trang dựa vào nghĩa Hán-Việt khá khiên
cưỡng vì không có sử liệu minh chứng cụ thể.
Các giả thuyết còn lại (c, d và e), mặc dù có khác
nhau trong việc lí giải các thành tố cấu tạo nên địa
danh Nha Trang nhưng chúng đều thống
nhất ở điểm:
- Nha Trang là địa danh phiên âm từ
tiếng Chăm, tiếng nói của một dân tộc vốn cư trú lâu
đời ở vùng đất này.
- Nha Trang
nguyên là tên sông (chỉ sông Cái, Nha Trang), sau
được dùng để gọi rộng ra cả vùng đất.
Theo chúng tôi, tên Nha Trang có thể
được hình thành do cách đọc Hán-Việt phỏng theo âm
một địa danh Chăm vốn có trước là Ýa Trang.
Trong sách Dictionnaire
Căm-Vietnamien-Francais (Từ điển
Chàm-Việt-Pháp) do linh mục Gerald Moussay và cộng
sự biên soạn, có ghi như sau:
- trang : cây lau
- ýa : nước, bến nước, sông
- paley ýa trang : xứ Nha
Trang (13)
Thành tố /ýa/ trong tiếng Chàm (và các ngôn ngữ chi
Chàm như Ê-đê, Raglai ...) có nghĩa là nước,
nguồn nước, đôi khi cũng dùng với
nghĩa chỉ sông, suối.
Cách đặt địa danh gồm những thành tố chỉ sông, suối,
rừng, núi ... kết hợp với những thành tố khác chỉ
đặc điểm, thuộc tính của chúng là những phương thức
quen thuộc của các tộc người Nam Á, Nam Đảo mà
Ýa Trang (sông lau) là một ví dụ. Mặt
khác, cuộc sống của con người bao giờ cũng gắn với
nguồn nước - một yếu tố quan trọng trong sinh hoạt
hàng ngày. Từ tên nguồn nước (sông, suối ...) sau
được dùng để gọi rộng ra vùng đất cư trú là quy luật
phổ biến trong việc cấu tạo địa danh.
Sự tồn tại của địa danh Chăm Ýa Trang
còn được minh chứng qua các cứ liệu sau:
- Khi kể lại sự tích vua Pô Klong Garai (tục gọi là
vua Lác, nay còn đền thờ ở Tháp Chàm,
Phan Rang), người Chăm có câu ca: “Ko ýa ru
iku ýa trang” (nghĩa là “đầu ở xứ Ninh
Hòa đuôi ở xứ Nha Trang”) để tả cảnh dân
chúng đi đưa chàng Lác về Kinh làm vua, kéo thành
một đoàn dài vô tận (14).
- Trong tín ngưỡng dân gian của dân tộc Chăm, hình
tượng nữ thần Pô I-nư Na-ga (người Việt gọi là Bà
Thiên Y A Na hay Bà Chúa Ngọc) chiếm một vị trí hết
sức quan trọng. Mỗi thôn xóm, mỗi vùng cư trú của
người Chăm xưa đều thờ Bà mẹ xứ
của họ, ngày nay ta còn nghe truyền tụng những
cái tên như Pô I-nư Na-ga ha-mu Ca-wet (Mẹ xứ chim)
ở Lạc Trị, Phan Rí; Pô I-nư Na-ga ha-mu Tan-răn (Mẹ
xứ đồng bằng) ở Hữu Đức, Phan Rang; Pô I-nư Na-ga
ha-mu Ýa Trang (Mẹ xứ lau) ở Nha Trang (15).
Tóm lại, tên Nha Trang, gốc từ
tiếng Chăm Ýa Trang (sông lau),
là địa danh của người Việt gọi vùng đất đã thuộc chủ
quyền của mình từ năm 1653. Hơn 3 thế kỉ rưỡi trải
qua nhiều biến động lịch sử, ban đầu chỉ là
tục danh, về sau trở thành địa danh
hành chính chính thức, tên Nha Trang
vẫn tồn tại như một địa danh truyền thống cho đến
ngày nay. Nguyễn Man Nhiên Dẫn lại theo Quỹ Khuyến học Ninh Hòa
CHÚ THÍCH:
(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực
lục tiền biên, bản dịch của NXB Sử Học, Hà
Nội 1962, tập 1, tr. 83.
(2) & (3) Hồng Đức bản đồ, bản dịch
của Bửu Cầm và cộng sự, Viện Khảo Cổ Sài Gòn, 1962.
(4) Nguyễn Nhã, Hoàng Sa qua vài tài liệu văn
khố của Hội truyền giáo Paris, Sử Địa số 29,
Sài Gòn 1-1975, tr. 268-272 .
(5) Pierre Poivre, Hồi ký về xứ Cochinchine
năm 1744, bản dịch của GS Nguyễn Phan Quang,
tạp chí Kiến Thức Ngày Nay.
(6) M.Fauvre, Lettres défiantes et curieuses
sur la visite apostolique de M. de la Baume, évêque
d’Halicarnasse, à la Cochinchine en l’année 1740,
Venise 1746.
(7) Alexandre de Rhodes, Từ điển Annam -
Lusitan - Latinh, bản dịch của Thanh Lãng,
Hoàng Xuân Việt , Đỗ Quang Chính, NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội 1991.
(8) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản
dịch của NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1977, tr. 234.
(9) Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ,
NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1977, tr. 423 - 424.
(10) Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình dư địa chí,
bản dịch của Ngô Mạnh Nghinh, NXB Tự Do, Sài Gòn
1960, tr. 161.
(11) Nguyễn Q. Thắng, Hoàng Sa Trường Sa,
NXB Trẻ, TP. HCM 1988, tr. 64.
(12) Quách Tấn, Xứ Trầm hương, NXB Lá
Bối, Sài Gòn 1969, tr. 158.
(13) Gerald Moussay, Dictionnaire Căm –
Vietnamien - Francaise, Trung tâm Văn hóa
Chàm - Phan Rang, 1971, tr. 475.
(14) Bố Thuận, Sự tích vua Pô Klong Garai
hay là sự tích Tháp Chàm, tạp chí Bách Khoa
(Sài Gòn).
(15) Văn Đình Hy, Quá trình chuyển hóa từ Pô
Nưga (Chàm) đến Thiên Y A Na (Việt), tạp chí
Văn Học số 6-1979. |
đăng 05:39 20-08-2012 bởi Nhan Pham
Đắm say với các kỳ quan của núi lửa TTO - Một trong những “thành quả” nổi tiếng sau quá trình núi lửa phun trên khắp một “vành đai lửa” rộng lớn và suốt nhiều giai đoạn vận động tạo sơn cách nhau cả triệu năm, có lẽ là ghềnh Đá Đĩa ở tỉnh Phú Yên.
Ghềnh Đá Đĩa là một danh thắng đã được Nhà nước Việt Nam xếp hạng Thắng cảnh quốc gia từ lâu. Khi dung nham tuôn chảy gặp không khí bên ngoài, dần dà đông kết lại thành hàng vạn hàng triệu cột bazan hình lục lăng, ngũ giác, lục giác nằm đều chằn chặn và cũng khá tùy hứng. Các nhà khoa học gọi đấy là “bazan dạng cột”. Đến ghềnh Đá Đĩa, bạn sẽ chiêm ngưỡng các cột đá nằm ngang dọc, xiên xẹo thành cả ngọn núi trước biển rất kỳ thú.
 Các cột đá bazan nằm ngang dọc, xiên chếch
Có khi đều chằn chặn như... hạt lựu, cả một vách núi toàn những cột bazan đen nhoáy, xếp rỗng hình lục lăng đều nhau tăm tắp đến... ngỡ ngàng!
Kỳ quan ghềnh Đá Đĩa không chỉ đẹp ở từng viên đá, mà còn nổi tiếng bởi một không gian biển, đảo, đất, sắc màu đại dương... rất riêng của một thành tạo núi lửa độc đáo
Cả một ghềnh đá không giống bất cứ nơi nào, những cột bazan thò ngàn vạn cái tiết diện hình lục lăng của mình lên không gian, giống hệt những cái... đĩa “tròn một cách vuông vức” giăng xếp dọc bờ biển. Có lẽ vì thế thắng cảnh này có tên là ghềnh Đá Đĩa - một thắng cảnh cấp quốc gia Còn ở vùng Ba Làng An, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, PGS.TS Trịnh Dánh đã đề nghị làm một công viên địa chất quốc gia đặc biệt, bởi dấu tích núi lửa tràn ra biển, đá đen nổi trên mặt biển tuyệt đẹp, đẹp đến kỳ quái.
Dấu tích núi lửa tràn ra biển, đá đen nổi trên mặt biển với các lớp dung nham rõ rệt, cùng các “viên than núi lửa” đen và xốp ở vùng Ba Làng An (Bình Sơn, Quảng Ngãi)
Còn đây là những cột bazan thuôn dài, uốn lượn, gồ ghề, phần nhô lên mặt đất hơi vuốt nhọn, khá ấn tượng ở xã Đắc Phơi, huyện Lắc, tỉnh Đắc Lắc.
Các cột bazan xếp khít vào nhau tạo thành cả một mảng núi, thành nhiều bức tường thành kiểu... núi lửa phun.
Nguồn nước cho đám trẻ nô đùa trong ráng chiều ám ảnh này đã được chảy trên những khối bazan dạng cột khổng lồ. Cả một thung lũng, cả nhiều dòng thác ra đời do bazan đông kết thành những bức tường kỳ vĩ giống như ai đó đã đổ một chảo bột mì khổng lồ đang sột sệt ướt ra, sau khi ngào nhuyễn, để rồi nó đông kết, vỡ bửa, cháy đen, hóa đá mãi đến ngày nay
Ở thác Trinh Nữ (trên sông Krông Nô, cách TP Buôn Ma Thuột 20km), nhiều phiến bazan dạng cột được quá trình phun trào và đông kết của nham thạch vuốt gọt tuyệt vời. Nó uốn lượn như một tà áo, như những nếp sóng đang tung tăng trước mắt du khách! Cạnh đó, tất nhiên là những khối bazan đen kịt, nó như những viên than củi khổng lồ của một cây gỗ khổng lồ vừa bị đốt, nằm án ngữ giữa dòng sông ghềnh thác!
Bazan cột tạo nên ngọn thác lớn, bazan cũng nằm dưới chân thác, đen nhánh, thăn thớ, thẳng băng và lớp lang như có bàn tay của người nghệ sĩ tài năng nào đó đã tạo tác
Cách đó không xa là thác Đray Sap nổi tiếng, các khối bazan cao như núi, màu sắc kỳ ảo đã chặn đứng dòng sông, thác chảy trên bazan, cả một thế giới những viên đá đen, xốp, nhẹ, lỗ chỗ như tổ ong ngập tràn xung quanh thắng cảnh. Điều đó khiến nhiều người gọi Đray Soap là con nước của núi lửa.
Con thác được “vinh danh” nhất của các thành tạo núi lửa ở Việt Nam có lẽ là thác Gia Long. Thác chảy trên các khối bazan cột tuyệt mỹ, đẹp đến mức vua Bảo Đại phải mang tên vua Gia Long "bậc tổ phụ” khả kính của mình ra đặt tên cho ngọn thác, nhiều công trình lớn đang được ông vua ưa du lịch mạo hiểm kia xây dựng... đến nay vẫn còn dang dở đã chứng minh điều đó
Ở Tây nguyên, trên địa bàn huyện Cư M’Ga, có một ngọn núi duy nhất mang tên là Núi Lửa (các nhà địa chất đã chứng minh đây là một miệng núi lửa từng hoạt động), chúng tôi đã đến đó, phỏng vấn người dân, ghi nhận nhiều điều, nhưng đoàn làm phim tiếc hùi hụi vì Núi Lửa đã bị người dân phá tan hoang để lấy đất đá xây dựng san lấp suốt nhiều năm qua.
Đất đá trong lòng núi đen xám như... than đá Kỷ lục nữa liên quan đến núi lửa: ở vùng núi huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, có một khu thành đá hình móng lừa được “xây” bằng những trụ đá hình lục lăng rất lớn, đá đều tăm tắp, thành xây cao vút lên đỉnh trời, xây kín cả một rông núi. Tòa thành đã được bà con Ba Na Kriêm kể vào trong sử thi của mình.
 Khi chúng tôi có mặt, các nhà địa chất đã ghi nhận bằng văn bản: nó là một thành tạo núi lửa, các viên gạch “xây thành” là những cột bazan dựng đứng trong rừng sâu bí ẩn
Núi lửa ở Buôn Chóa (Đắc Lắc) lại được giới địa chất ghi nhận với nhiều kỷ lục khác: đá magma trải rộng trên một vùng rộng lớn, bà con leo trên magma như leo núi ở... Tây Bắc; với những ruộng ngô trồng trên đá magma đen trũi như ngoài cao nguyên đá Đồng Văn
Giữa cái dữ dội đó, chợt chúng tôi ước ao: núi lửa phun thì nó đã phun rồi, sao độ ấy nó không phun ra những gò đồi, thung lũng đất bazan vân vi phì nhiêu như ở Pleiku cho bà con đỡ khổ!
Ai đó bảo nhan sắc núi lửa lúc đang phun là thứ nhan sắc chết người, dung nham, đá magma của nó lắm lúc cũng khô cằn, khốc liệt đấy; song vẻ đẹp, sự quyến rũ của nó - cùng các thắng cảnh mà nó sinh ra - thật tuyệt vời. Thật là một thứ vưu vật của trời đất ban tặng cho thiên nhiên xứ sở.
Sau nhiều ngày đi theo chân núi lửa ở Việt Nam, trở về, tôi bắt đầu ngồi ước ao: ước gì các nhà làm du lịch ở Việt Nam sớm nghĩ đến những tour du lịch, học tập, nghiên cứu "về nguồn"... với các ngọn núi lửa cùng thành tạo của nó. Núi lửa là một phần không thể thiếu của quả đất này mà!
ĐỖ LÃNG QUÂN |
|