Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Kinh Tàu Hủ Ông Bùi Đức Tịnh ghi nhận rằng kinh Tàu Hủ vốn mang tên Cổ Hủ hay Củ Hủ vì khúc kinh chỗ này phình ra rồi thắt lại giống như ...
    Được đăng 02:39, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mộc mạc tên làng Tây nguyên Nghệ nhân A Jar, người nghiên cứu về văn hóa tên đất, tên làng Tây nguyên. Ảnh: P.AĐồng bào Tây nguyên đặt tên đất, tên làng thường rất ...
    Được đăng 02:08, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Thủ Đức, Thủ Thiêm - tên của những ông quan nhỏ Chữ “Thủ” là quan trấn thủ, tức võ quan lo việc bảo vệ một vùng (Thủ Đức), hoặc thủ ngự là người đứng đầu một ...
    Được đăng 01:36, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lăng Ông Bà Chiểu: Chốn tâm linh Vì khu lăng mộ tọa lạc ở khu vực Bà Chiểu, cạnh chợ Bà Chiểu nên dân gian gọi là lăng Ông - Bà Chiểu. Tên gọi đúng ...
    Được đăng 08:57, 25 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đi tìm địa danh Bình Tuy Có đến hai mươi năm địa danh tỉnh Bình Tuy là một phần đất rộng lớn phía Tây Nam của tỉnh Bình Thuận ngày nay (1956 - 1976). Dưới chế độ ...
    Được đăng 21:01, 19 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Kinh Tàu Hủ

đăng 02:39, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Ông Bùi Đức Tịnh ghi nhận rằng kinh Tàu Hủ vốn mang tên Cổ Hủ hay Củ Hủ vì khúc kinh chỗ này phình ra rồi thắt lại giống như cổ hủ heo, cổ hủ dừa. Ở Long Xuyên cũng có một con kinh mang tên Tàu Hủ, có người gọi là Củ Hủ. Điều ghi nhận của ông Bùi Đức rất hữu lý. Xin lý giải thêm. Trước hết phải viết cổ hũ mới đúngvì từ ghép này vốn chỉ cái cổ của cái hũ (theo Đại Nam quốc âm tự vị). Các vật có hình dáng phình ra rồi thắt lại đều gọi là cổ hũ, như cổ hũ cau, cổ hũ dừa, cổ hũ heo,… Tiếp theo, ta thấy từ ngữ này dùng để chỉ hình dáng của lòng sông, rạch và đã trở thành địa danh, giống như cổ cò (cổ con cò), cổ lịch (cổ con lịch) đã trở thành địa danh (rạch Cổ Cò ở Nhà Bè và Duyên Hải, sông Cổ Lịch ở Cửu Long). Mặt khác, trong hai từ ngữ cổ hũ và tàu hủ, đối với người Nam Bộ có một yếu tố đồng âm: hũ và hủ phát âm như nhau. Trong trường hợp này, từ ngữ nào quen thuộc hơn (ở đây tàu hủ quen thuộc hơn cổ hũ), sẽ thay thế từ ngữ kia: (trái) sầu riêng thay thế đu-riêng, (cái) lục bình thay thế độc bình, (cái) bồ cào thay thế bừa cào… Hơn nữa, kinh Tàu Hủ, trong Gia Định thành thông chí được gọi là sông An Thông, tục danh sông Sài Gòn và được mô tả là “quanh xa mà hẹp nhỏ, khuất khúc, nước cạn” (Tập thượng , quyển I, tờ 22b – 23a).

Kinh Tàu Hủ - Bến Bình Đông tháng 3/2017. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ngoài ra, từ ngữ Củ hủ chỉ là biến âm của cổ hủ (viết đúng chính tả là củ hũ, cổ hũ), theo hiện tượng đồng hóa vần trong tiếng Việt: (cây) so đũa thành sua đũa, y nguyên thành y nguy, bách kích pháo thành bích kích pháo… Vùng Bến Nghé xưa kia có nhiều rạch từ trên gò đất cao của nền thành Ô Ma (Camp de Mares) cũ đổ xuống. Để thoát nước vào mùa mưa, nhiều con kinh đã được đào thêm, về sau được lấp lại thành những con đường Charner (nay là đường Nguyễn Huệ), Bonard (nay là Lê Lợi), De La Somme (nay là Hàm 
Nghi), Pelleri (nay là Nguyễn Thị Minh Khai).

Trong vùng chợ Lớn, vào năm 1819, phía ngọn rạch Bến Nghé trở nên cạn hẹp nên đã được đào vét lại từ cầu Đề Thuông đến ngã tư sông Rạch Cát. Khúc kinh này dài 5.472 mét được đặt tên là An Thông Hà. Khởi công từ ngày 23 – 1, gần 12.000 dân công đã hoàn thành việc đào kênh trên vào ngày 23 – 4 – 1819, dưới sự điều khiển của Phó Tổng trấn Gia Định Huỳnh Công Lý (cha vợ Minh Mạng). Sau đó, năm 1887 và 1889, kinh Tàu Hủ được đào vét thêm 2 lần nữa dưới thời thực dân Pháp.

Cùng với rạch Lò Gốm và kinh Ruột Ngựa nối tiếp với sông Cần Giuộc phía nam, Kinh Tàu Hũ chiếm một vị trí quan trọng về mặt chiến lược và kinh tế, nối liền đường thủy từ đồng bằng sông Cửu Long đến Chợ Lớn, Sài Gòn. Tàu ghe chở nông phẩm từ Lục tỉnh tới lui tấp nập trên kinh, hai bên bờ nhiều nhà máy xay, chà lúa được dựng lên từ Bình Tây đến Bình Đông.

Ngày 15/2/1859 tàu chiến của tướng Pháp Genouilly đã tiến đánh lần đầu tiên các pháo đài ở ngã ba kinh, tức vàm Bến Nghé để chiếm Sài Gòn lần thứ nhất. Năm 1861 khi trở lại chiếm Sài Gòn lần thứ 2, tướng Page đã dùng 50 tàu và thuyền máy đóng dọc từ kinh Tàu Hũ đến rạch Thị Nghè và bố trí một phòng tuyến vòng cung từ Bắc xuống Nam, dựa vào chùa Khải Tường, Chợ Rẫy, Cây Mai đối diện với đồn Chí Hòa. Chiếc pháo hạm Jaccaréo đậu án ngữ trên kinh Tàu Hũ tại đầu đường Tản Đà, một chiếc tàu khác đậu tại Rạch Cát để uy hiếp đồn Cây Mai.

Năm 1934, phong trào tổng bãi công sôi nổi ở Nam Bộ đã mở đầu bằng cuộc tổng bãi công cả 12 nhà máy xay, dọc theo kinh Tàu Hũ. Ngày 15/2/1938 lại nổ ra cuộc bãi công của 4.000 thợ trên 350 chiếc thuyền chở gạo, hàng ngàn công nhân ở các nhà máy xay và các công nhân hưởng ứng.

Trong hai thời kỳ kháng chiến, quân nhân đã nhiều lần vượt qua kinh Tàu Hũ để tấn công địch ở nhiều vị trí của trung tâm thành phố, nhất là vào dịp tết Mậu Thân(1968).

 

Kinh Tàu Hủ - Bến Bình Đông tháng 3/2017. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ảnh: Phạm Hoài Nhân

Mộc mạc tên làng Tây nguyên

đăng 02:08, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nghệ nhân A Jar, người nghiên cứu về văn hóa tên đất, tên làng Tây nguyên. Ảnh: P.A


Đồng bào Tây nguyên đặt tên đất, tên làng thường rất mộc mạc: có tên gắn với truyền thuyết; có tên gắn với đặc trưng về cây cối, di tích liên quan đến ngày lập làng...

Với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Kon Tum, tùy vào từng dân tộc mà họ đặt tên đất, tên làng gắn với những từ như Kon, Đăk, Plei. 

Phía sau những tên gọi này là những chuyện kể, những truyền thuyết mộc mạc, hồn nhiên, dễ thương như người ở xứ này. 

Làng Kon Kơtu. Ảnh: P,A 


Những tên làng gắn với truyền thuyết 

Một sáng tinh sương, chúng tôi được anh A Khoa, cán bộ văn hóa xã hội xã Đăk Tờ Kan (H.Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum) đưa đến làng Đăk Xô Trong, tìm già A Nuế (69 tuổi). Khoa bảo, già A Nuế là người biết chỉnh chiêng và biết rất nhiều chuyện kể, truyền thuyết của người Xê Đăng ở xứ này. 

Hôm ấy có khách về làng, lại cuối năm mùa vụ, già A Nuế thong thả nên quyết định không đi rẫy mà ở nhà bảo lũ trai làng mang rượu cần, chiêng đến nhà "nói chuyện". Trong căn nhà sàn cũ kỹ còn đượm mùi gạo mới, già A Nuế kể cho thanh niên trong làng nghe rất nhiều chuyện thú vị, trong đó có truyền thuyết về hai làng Đăk Kạch Lớn và Đăk Kạch Nhỏ. 

Gìa làng A Nuế kể huyện làng Đăk Kạch, hay gọi là "làng thách thức". Ảnh: P.A 


Hồi đó, tại làng người Xê Đăng có gia đình giàu có, sinh hai anh em trai, người anh là A Sam, em là A Sư. Khi cha mẹ mất, A Sư bỗng nhiên ghen tị với anh trai vì cả hai đều ưng bụng một thiếu nữ trong làng. 

A Sư gặp anh trai A Sam và "thách đấu" bằng cách: ai đánh đàn, hát hay được cô gái và cả làng thích thì thắng. Người thua cuộc phải đi lập làng mới. Hôm đó, khi lúa trên rẫy đã thu hoạch xong, ông mặt trời đã ấm áp hơn, bụng lũ làng no hơn, cuộc thách đấu diễn ra. 

A Sam khi đó dùng kèn môi, vừa thổi vừa hát làm ngất ngây các cô gái làng. Người làng gật gù theo từng tiếng đàn, tiếng hát du dương trầm bổng bay qua các ngọn núi, trong hơn con suối nước tháng 3. Rằng nàng tiên xinh đẹp của lòng anh ơi/em xuống trần này hớp hồn anh/khi em về với Yàng trên trời em có nhớ anh không… 

Thấy anh ruột hát hay, đàn giỏi, A Sư chịu thua không hát, không đàn gì mà lẳng lặng bỏ làng đi lập làng mới bên kia con suối. 

Trong tiếng kể say sưa, già làng A Nuế giải thích, vì sao bây giờ có hai làng Đăk Kạch Lớn và Đăk Kạch Nhỏ. Theo tiếng Xê Đăng, đăk là nước, con nước; kạch là thách thức. Vì vậy có thể gọi hai làng đó là "làng thách thức", hay là làng nước người anh và làng nước người em. 

Mang câu chuyện này trao đổi với ông A Jar (70 tuổi, trú ở làng Plei Đôn, phường Quang Trung, TP.Kon Tum), vừa là nghệ nhân người Xê Đăng, vừa là nhà nghiên cứu phong tục đồng bào thiểu số Tây nguyên, ông A Jar cho biết tên làng đồng bào Xê Đăng, Ba Na, Ja Rai… trong vùng thường gắn với những câu chuyện như thế. 

Ông A Jar kể cho chúng tôi nghe chuyện về làng Yang Roong (hiện thuộc xã Đăk Cấm, TP.Kon Tum), gọi là làng "Thần nuôi dưỡng". 

Chuyện kể rằng, làng này được thần linh cai quản và ban đặc ân là người làng không bao giờ già đi. Vì vậy mà thuở ấy, người làng này có những người sống cả vài trăm tuổi. Trong làng, người già và người trẻ không biết phân biệt nổi giữa các thế hệ. 

Làng Kon Klor, người Ba Na gọi là "làng cây bông", do có nhiều cây bông gòn.  Ảnh: T.H 


Nhưng đến một hôm, có người trong làng đi săn xa làng, thấy một đám tang. Người này nhìn người ta khóc lóc, đánh chiêng, nhảy múa rồi làm thịt gia súc, gia cầm ăn uống, thấy lạ lắm, bèn ở lại chứng kiến để xem "cái chết là như thế nào". 

Sau khi từ đám tang nọ trở về, người thợ săn kể chuyện cho người làng biết chết là như thế nào và lũ làng cũng tò mò… muốn thử xem. Dân làng tìm vào rừng bắt một con vượn, giết chết, sau đó tổ chức làm đám ma, khóc lóc rồi nhảy múa, ăn uống. 

Việc này của dân làng khiến thần linh nổi giận, trừng phạt bằng cách cho người làng phải chết thật để biết đau thương là thế nào. Vậy là người làng chết liên tục, mới đầu chỉ vài người, sau thì chết nhiều lắm. 

Quá hoảng sợ, người làng tìm đến pơ dâu (thầy cúng) để xin chuộc tội với thần linh. Thần linh bảo dân làng dâng lễ vật như: bò trắng, trâu trắng, dê trắng, gà trắng để thần linh xá tội. nhưng cũng từ đó, người làng sinh ra, già đi, rồi chết như ở bao làng khác. 

Tên làng gắn với cộng đồng 

Xuồng độc mộc trên dòng sông Đăk Bla, TP.Kon Tum. Ảnh: P.A 


Ông A Jar cho biết với đồng bào dân tộc thiểu số Tây nguyên thì khi lập làng, việc chọn tên làng là do cả làng đồng thuận. Việc này để tạo được nét riêng, cũng là niềm tự hào của cộng đồng làng. Theo đó, tên của làng thường gắn với các đặc điểm liên quan về nguồn nước sinh hoạt, sau nữa là đặc điểm đất đai. 

Chẳng hạn như ở TP.Kon Tum có tên làng Plei Tơ Nghia (nghĩa là làng cây kơ nia). Theo giải thích của ông A Jar, khi thành lập làng này, thì nguồn nước của người làng nắm dưới tán cây kơ nia, nên đặt tên Tơ Nghia. Tương tự như làng Kon Hra (Hra là cây sung, làng này có nguồn nước dưới tán cây sung). Hoặc như làng Đăk Phía ở xã Ngọc Réo (H.Đăk Hà, Kon Tum): Phía có nghĩa là nứa, nguồn nước ở nơi có nhiều nứa nên đặt tên "làng nứa". 

Hỏi ông A Jar về làng Kon Klor (P.Thắng Lợi, thành phố Kon Tum) có phải Klor là cây bông gòn nên lấy tên này. Ông A Jar bảo ngày trước làng này có cây bông gòn mọc đầy làng, nên thành tên. 

Chính vì những nét đặc trưng này, người Tây nguyên không thích việc gộp vài làng thành thôn (để dễ quản lý hành chính) như đã từng xảy ra, vì sợ mất đi ý nghĩa tên làng thậm chí đã có từ vài trăm năm. 

Cấm kỵ việc đặt tên làng trùng nhau

Ông A Jar cho biết, đồng bào thiểu số Kon Tum đặt tên làng không bao giờ trùng nhau, bởi đây là điều cấm kỵ. Điều đáng nói nữa là, trong quá trình phát triển, làng chật hẹp nên có lúc phải tách làng ra làm hai thành lập làng mới, nhưng tên làng cũ vẫn gắn vào. Chẳng hạn như làng Kon Kơtu (làng nguyên thủy) khi tách ra làng mới tên là Kon Klah (Klah nghĩa là "tách ra"). Vì vậy như tên là làng Plei Kroong (làng Sông), sau đó làng Plei Kroong cũng chia thành 2 làng Plei Kroong Kơtu (là làng gốc) và Plei Kroong Klah (là làng mới tách ra).


Phạm Anh

Thủ Đức, Thủ Thiêm - tên của những ông quan nhỏ

đăng 01:36, 26 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chữ “Thủ” là quan trấn thủ, tức võ quan lo việc bảo vệ một vùng (Thủ Đức), hoặc thủ ngự là người đứng đầu một trạm thu thuế đường sông (Thủ Thiêm). 

Ở Nam bộ, rất nhiều địa danh mang tên người. Những nhân vật có quyền cao chức trọng, dân gian kính nể, húy kỵ chỉ gọi chức tước mà không gọi tên, như cầu mang tên ông lãnh binh Thăng thì chỉ gọi cầu Ông Lãnh, hay lăng Tả quân Lê Văn Duyệt thì gọi lăng Ông. Nhưng đối với các quan chức nhỏ thì dân gian gọi cả chức tước lẫn tên, như các địa danh bắt đầu bằng chữ Thủ đứng trước tên người, như Thủ Thừa ở Long An, hay Thủ Đức, Thủ Thiêm ở TP.HCM. 

Thủ Đức - miền đất học 

Theo tài liệu của Phòng Văn hóa thuộc Sở Văn hóa & Thểthao TP.HCM, địa danh Thủ Đức là do lấy theo tên hiệu “Thủ Đức” của ông Tạ Dương Minh, người có công khai khẩn, lập ấp vùng Linh Chiểu xưa và xây dựng ngôi chợ đầu tiên mang tên ông. Nhưng theo một tài liệu khác thì trước khi ông Tạ Dương Minh đến, nơi này có vị quan trấn thủ tên Đức (không rõ họ) lo việc trấn thủ vùng đất mới, chăm lo bảo vệ cuộc sống cho bà con lưu dân mới từ miền Trung vào khẩn hoang lập ấp sinh sống, ông rất được nhân dân trong vùng kính trọng. Khi ông Tạ Dương Minh đến đây lập ấp, lập chợ thì quan trấn thủ tên Đức đã qua đời trong sự thương tiếc của nhân dân trong vùng nên ông Minh đã đặt tên chợ là Thủ Đức để tỏ lòng tôn kính và biết ơn. Từ ngày 1-1-1911, lần đầu tiên Thủ Đức trở thành quận và là một trong bốn quận thuộc tỉnh Gia Định (ba quận kia là Hóc Môn, Gò Vấp, Nhà Bè). Sau này qua nhiều đợt, tỉnh Gia Định thêm mấy quận mới nữa như Tân Bình, Bình Chánh… Toàn tỉnh Gia Định nằm bao quanh đô thành Sài Gòn. 

Nếu như tỉnh Vĩnh Long từ xưa đã được gọi là “đất học” và là “địa linh nhân kiệt” - nơi phát tích nhiều nhân tài, lãnh tụ kiệt xuất thì ở TP.HCM, nhiều người cho rằng Thủ Đức là “đất học”, vùng đất văn hóa cũng không ngoa. Trên địa bàn quận Thủ Đức từ trước đến nay tập trung rất nhiều cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng. Có thể kể: ĐH Quốc gia TP.HCM với ĐH Bách khoa, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH KHXH&NV, ĐH Luật TP.HCM và các trường đại học Công nghệ thông tin, Quốc tế, Cảnh sát nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng, Nông lâm, Sư phạm kỹ thuật, Kinh tế - Luật, Thể dục thể thao… và rất nhiều trường cao đẳng. Nhiều cơ sở giáo dục nhất nếu so sánh với bất cứ quận, huyện nào của TP! Trước năm 1975, Thủ Đức có hai “làng” nổi tiếng cả nước là làng Báo chí và làng Đại học. Làng Báo chí với những dãy nhà liên kế rộng rãi, thoáng mát với những con đường nhỏ thơ mộng, êm đềm. Làng Báo chí cũ sau ngày 1-4-1997 trực thuộc quận 2 mới thành lập, tách ra từ huyện Thủ Đức. Và hiện nay “làng cũ” này trở thành một khu phố nhỏ nằm khiêm tốn bên những khu biệt thự sang trọng dành cho người nước ngoài. Riêng làng Đại học từ trước năm 1975 là những biệt thự hoành tráng, sang trọng, hầu hết xây cất theo phong cách Pháp, mỗi căn rộng cả ngàn mét vuông tọa lạc trên những con đường trong “làng” rất đẹp, được quy hoạch cả những tên gọi đầy tính văn hóa: Những con đường dọc mang những tên Thống Nhất, Hòa Bình, Độc Lập, Đoàn Kết, Bác Ái, Chân Lý, Công Lý, Dân Chủ… Còn những đường ngang là tên các danh nhân văn hóa như Lê Quý Đôn, Einstein, Khổng Tử, Tagore, Chu Mạnh Trinh, Pasteur… 

Chợ Thủ Đức năm 1968. Ảnh: Edmond J. Landers 


Thủ Thiêm - vùng đất trũng chuyển mình thành đô thị hiện đại 

Từ sau khi đại lộ Đông Tây và hầm vượt sông Sài Gòn được thông xe năm 2010 nối Thủ Thiêm, vùng trũng phát triển - cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen với quận 1 thì bán đảo Thủ Thiêm và khu Đông TP đã chuyển mình nhanh chóng thành một đô thị mới hiện đại. Hiện nay bán đảo Thủ Thiêm và khu Đông đang là điểm nóng phát triển bất động sản. Ngoài khu đô thị Sala nằm cách trung tâm quận 1 mấy trăm mét sông Sài Gòn đang ngày đêm hối hả xây dựng, hàng loạt khu nhà cao tầng đang mọc lên san sát dọc đại lộ Mai Chí Thọ, Đồng Văn Cống và cả dọc đường dẫn cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây chạy đến giáp đường Đỗ Xuân Hợp, quận 9 là những khu đô thị mới đang mọc lên. Tận cuối quận 2 gần quận 9 nhưng cũng có các khu chung cư mang tên Thủ Thiêm: Thủ Thiêm Xanh, Thủ Thiêm Star… Một khu đô thị hoàn chỉnh, hiện đại, một trung tâm tài chính, trung tâm thương mại đang hình thành ở bán đảo Thủ Thiêm. 

Chắc ít người còn nhớ từ trước năm 1975 cho đến cuối những năm 1990, bán đảo Thủ Thiêm vẫn là vùng trũng phát triển. Một vùng đất thường xuyên ngập nước, phèn chua, cỏ lát, cỏ năng mọc khắp nơi. Chỉ cách trung tâm TP một con sông rộng năm, bảy trăm mét nhưng như là một vùng sâu, vùng xa nào đó, bao nhiêu năm vẫn nối hai bờ sông bằng những chuyến phà rì rầm, chậm chạp như nhịp sống của dân cư mấy xã, phường nằm ở bờ đông, đêm đêm đứng bên này sông nhìn sang TP như nhìn về một thế giới khác. 

Lịch sử hình thành vùng đất và tên gọi Thủ Thiêm cũng khá thăng trầm. Từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, vùng đất trũng phía Đông sông Sài Gòn dân cư vẫn rất thưa thớt, sản xuất lúa năng suất thấp không đủ ăn nên phần lớn họ tụ cư dọc theo mésông để mua bán với các tàu bè qua lại, một số người làm công nhân cho hãng tàu Caric của Pháp gần bờ sông Sài Gòn. Về địa danh Thủ Thiêm, năm 1971 tôi được nghe mấy cụ cao tuổi sáng sáng thường ngồi quán cà phê đánh cờ tướng gần chợ Thủ Thiêm kể lại. Thời gian này tôi là phóng viên tập sư,̣ thường lang thang qua bến phà Thủ Thiêm trò chuyện với mấy anh công nhân ở Nhà máy đóng tàu Caric. Theo lời các cụ kể thì từ trước khi Pháp chiếm Sài Gòn, vùng này đã có trạm thu thuế đường sông. Ông thủ ngự, tức trưởng trạm thu thuế tên Thiêm (không biết họ) là người nhân hậu, có khi thấy người bán buôn thua lỗ hay không lời, ông đã giảm hay miễn thuế cho họ. Bà con rất cảm kích nên sau khi ông mất, họ gọi vùng đất quanh trạm thuế sông này là bến Thủ Thiêm. Sau này cả chợ và phà đều mang tên Thủ Thiêm… Nhưng vùng đất nhỏ hẹp này cũng có những thăng trầm của nó. 

Năm 1965, quận Thủ Đức thuộc tỉnh Gia Định có 15 xã, Thủ Thiêm thuộc xã An Khánh. Đến năm 1966, chính quyền cắt xã An Khánh sáp nhập vào đô thành Sài Gòn, tách thành hai phường: Phường An Khánh và phường Thủ Thiêm, thuộc quận 1. Đầu năm 1967, phường An Khánh và phường Thủ Thiêm được nâng cấp trở thành quận 9, thuộc đô thành Sài Gòn. Tại An Khánh, người ta xây dựng khu nhà công nhân cả mấy trăm căn, chủ yếu dành cho công nhân hãng Caric. Khu nhà công nhân này tồn tại mãi đến gần đây mới được giải tỏa để xây dựng khu đô thị mới. Sau ngày thống nhất, ngày 20-5-1976 chính quyền cách mạng giải thể quận 9, phường An Khánh và phường Thủ Thiêm trở thành hai xã thuộc huyện Thủ Đức. Ngày 6-1-1997 giải thể huyện Thủ Đức để thành lập thành ba quận mới. Từ 1-4-1997 các quận Thủ Đức, quận 2 và quận 9 chính thức hoạt động, Thủ Thiêm lại trở thành một phường thuộc quận 2. Đó là “những bước thăng trầm” của Thủ Thiêm. Vùng đất trũng này đang chuyển mình, vươn vai thành khu Đông TP, giàu có và sang trọng. 


Làng Đại học thành làng... nhậu


Rất may sau năm  1975, những tên đường ở làng Đại học Thủ Đức vẫn được giữ nguyên trong khi nhiều đường cùng tên ở trung tâm TP đã bị thay đổi! Chỉ có điều đáng quan ngại là khoảng vài chục năm nay, từ khi quận Thủ Đức mới được thành lập thì làng Đại học dần dần trở thành “làng nhậu”, “phố cà phê” với hàng trăm quán nhậu, quán cà phê. Hầu hết những căn biệt thự đẹp sang trọng đã được cải tạo, sửa sang thành nhà hàng, quán cà phê đã phá vỡ cảnh quan và nét văn hóa vốn có.


PHẠM ĐÌNH

Lăng Ông Bà Chiểu: Chốn tâm linh

đăng 08:57, 25 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Vì khu lăng mộ tọa lạc ở khu vực Bà Chiểu, cạnh chợ Bà Chiểu nên dân gian gọi là lăng Ông - Bà Chiểu. Tên gọi đúng của khu lăng mộ này là Thượng Công miếu - là ba chữ Hán khắc trên cổng tam quan. 


Lăng Ông, tức khu lăng mộ thờ đức Tả quân - Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt (1764-1832), rộng 18.500 m2, tọa lạc giữa bốn con đường: Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức và Vũ Tùng. Khu lăng mộ được xây dựng năm 1948. Hình ảnh cổng tam quan lăng Ông in trên các tấm thiệp bưu chính (card postale) trước năm 1975 được coi như biểu tượng của vùng Sài Gòn - Gia Định xưa. 

Bà Chiểu - một tên gọi gây nhiều hiểu lầm 

Khu vực chợ Bà Chiểu hiện nay ngày xưa là một cái ao tự nhiên trong một vùng đất cao, um tùm cây cao bóng cả. Dân cư bấy giờ còn thưa thớt. Họ tin nơi này rất linh thiêng nên đã dựng lên một cái miếu thờ Bà (theo tín ngưỡng dân gian) bên cạnh ao nước. Vì vậy từ “chiểu” không phải là tên bà nào cả, mà nghĩa chữ Hán là “cái ao” nên dân gian gọi nơi này là Bà Chiểu. Theo nhà văn - nhà nghiên cứu Sơn Nam, Bà Chiểu nghĩa là “Nữ thần thờ nơi ao nước”. Bà Chiểu trở thành tên vùng đất, giống như địa danh Linh Chiểu ở Thủ Đức vậy. Lại càng không phải “bà Chiểu” là một trong năm bà vợ của ông Lãnh binh Thăng, mỗi người cai quản một ngôi chợ gồm: bà Chiểu, bà Hạt, bà Điểm, bà Quẹo và bà Hom như một bài viết đăng trên một trang báo mạng gần đây. Cả các địa danh Bà Hom, Bà Quẹo cũng chẳng phải là tên người mà là do đọc chệch các địa danh Bàu Hom (tức là cái bàu ngâm hom tre), Bàu Quẹo (cái bàu nơi khúc quẹo một cung đường) - như địa danh Bàu Cát gần đó, một cái bàu nhiều cát đã bị lấp, nay là một khu dân cư sầm uất, hiện đại. 

Cũng theo nhà văn - nhà nghiên cứu Sơn Nam thì địa danh Bà Chiểu mới có từ thời Tự Đức. Còn chợ Bà Chiểu mãi đến năm 1942 mới chính thức được xây dựng. Năm 1987, chợ Bà Chiểu được trùng tu, nâng cấp với gần 800 gian hàng, nổi tiếng là chợ bán lẻ trong khu vực với hơn 40 ngành hàng. Chợ Bà Chiểu hiện nay có khu vực trước chợ và một khoảng độ vài trăm mét là đường Hồng Bàng, cùng khu vực đường Bùi Hữu Nghĩa bên hông chợ khi đêm xuống trở thành khu chợ đêm buôn bán rất náo nhiệt. Mặt hàng chính của chợ đêm Bà Chiểu là quần áo, giày dép, giá cả rất mềm. Nhân đây cũng xin nhắc tới chuyện đặt tên đường cực kỳ bất hợp lý ở khu vực quanh chợ Bà Chiểu. Đó là chỉ một dãy phố dài mấy chục mét nằm một bên đường gần chợ Bà Chiểu lại mang tên đường Hồng Bàng (phía nửa bên kia là đường Phan Đăng Lưu). Không chỉ bất hợp lý mà còn xúc phạm tới tổ tiên họ Hồng Bàng của dân tộc Việt! 

Khu vực Bà Chiểu không có tên trên bản đồ hành chính nhưng từ lâu đời đã nằm trong tâm thức bà con cư dân ở đây. Vùng Bà Chiểu được mặc định khoanh vùng từ đầu đường Nơ Trang Long chạy tới ngã năm Bình Hòa, xuống đường Chu Văn An, qua đường Đinh Bộ Lĩnh tới Điện Biên Phủ, chạy tới cầu Điện Biên Phủ quẹo bờ kè đường Trường Sa, bọc qua khu Miếu Nổi tới cầu Hoàng Hoa Thám, rồi qua đường Vạn Kiếp trở về tới BV Nhân dân Gia Định đầu đường Nơ Trang Long… 

Đền thờ Tả quân Lê Văn Duyệt. 


Lăng Ông - lịch sử và sự kính ngưỡng 

Sau khi Lê Văn Duyệt mất năm 1932, vua Minh Mạng cho đổi trấn Gia Định thành tỉnh Phiên An và cử Nguyễn Văn Quế làm tổng đốc, Bạch Xuân Nguyên làm bố chánh. Cả hai theo mật lệnh của vua Minh Mạng vào truy tội Lê Văn Duyệt và hạch tội con nuôi của ông là Lê Văn Khôi. Họ bắt giam nhiều người thân cận với vị tổng trấn quá cố, trong đó có Lê Văn Khôi. Nên nhớ Minh Mạng rất thù Lê Văn Duyệt, người đã từng dám chặt đầu cha vợ của vua là Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý vì tội tham ô, bởi Lê Văn Duyệt có thượng phương bảo kiếm do vua Gia Long trao cho, có quyền tiền trảm hậu tấu. Lê Văn Duyệt cũng đã đuổi Bạch Xuân Nguyên, một thân tín của Minh Mạng, về kinh. Lê Văn Khôi bị bắt giam vào ngục nhưng ông đã móc nối được các quan quản cơ và binh lính nội ứng, phá ngục, giết cả Tổng đốc Nguyễn Văn Quế và Bố chánh Bạch Xuân Nguyên, chiếm giữ thành Gia Định trong gần ba năm trong sự bất lực của quân triều đình đã nhiều lần vào đánh tái chiếm. Trận chiến đẫm máu giữa quân triều đình và quân nổi dậy kéo dài mấy năm trời. Khi Lê Văn Khôi chết vì bệnh năm 1835, quân nổi dậy của ông do phó tướng, cũng là em kết nghĩa, là Tần La Hiệp thay ông chỉ huy bị quân triều đình dẹp tan. Vua Minh Mạng kết tội Lê Văn Duyệt gián tiếp gây ra biến loạn, đã ra chỉ dụ san bằng mộ, đánh 100 trượng lên mộ và xích một sợi dây xích sắt vào cột đá dựng trên mộ có khắc tám chữ “Quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xử” (chỗ tên hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội), theo Đại Nam thực lục chính biên. Sau khi chiếm lại thành, năm 1836 vua Minh Mạng cho đổi tên tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định. Đến năm 1841, vua Thiệu Trị lên ngôi cho dẹp bỏ trụ đá hài tội và đắp lại mộ Ông. Bảy năm sau, vua Tự Đức lên ngôi lại phục hồi quan tước cho Lê Văn Duyệt và con cháu nhưng vì ông không có con cháu ruột, chỉ có người cháu họ là cháu nội của người em Lê Văn Phong, tên Lê Văn Thi, từ lâu nay trốn tránh vì sợ tội liên lụy, đã được phép đến chăm sóc hương khói lăng Ông. Hiện nay ở trong lăng có thờ ông Thi làm tiền hiền. 

Lăng Ông là khu đền và ngôi mộ đôi của Tả Quân Lê Văn Duyệt và vợ là bà Đỗ Thị Phận. Lê Văn Duyệt vốn là người không có khả năng làm chồng nhưng vì muốn chứng tỏ mình là đàn ông nên ngoài người vợ là Đỗ Thị Phận, vốn là một cung nhân do vua Gia Long gả cho, ông còn cưới thêm hai cô hầu nữa. Tương truyền, khi Tả quân - Tổng trấn mất, dân Gia Định đi theo quan tài rồng rắn hàng mấy dặm. Tiễn biệt ông, ngoài người Việt, đông đảo người Hoa còn có giới Phật giáo, tín đồ Thiên Chúa giáo và cả các nhà truyền giáo Việt và Tây dương cũng đưa tiễn ông. Lúc đầu ngôi mộ được xây bằng đá ong. Cạnh cây đa lớn trong khuôn viên, người dân dựng lên một ngôi miếu có tên là “Thượng Công linh miếu”, không ngày nào là không có người đến dâng hoa trái, đốt hương cầu nguyện. Năm 1914, đốc phủ Gia Định Đỗ Hữu Vị đã thành lập Hội Thượng Công quý tế, tổ chức việc cúng tế và lo việc trùng tu lăng miếu. Giỗ ông hằng năm được tổ chức vào các ngày 29 hoặc 30-7 và mùng 1, mùng 2 tháng 8 âm lịch. Dân gian từ xưa nay coi ông như thần và tế lễ ông tại lăng mang nghi thức thờ thần, tế thần. Ngoài người địa phương còn có khách các tỉnh xa. Đặc biệt người Hoa chiếm một nửa đi tế lễ ông, họ coi ông như Phúc thần vì lúc sinh tiền, Tổng trấn Gia Định thành đã có những chính sách, chủ trương nâng đỡ, tạo điều kiện cho cộng đồng người Hoa làm ăn, an cư lạc nghiệp. 


Sau khi Lê Văn Duyệt chết, bà Phận đi tu tại một ngôi chùa ở gần chợ Rẫy - khu BV Chợ Rẫy hiện nay. Khi bà chết được chôn cạnh ông. Trước sân lăng là ngôi mộ song đôi của ông bà. Còn mộ hai cô hầu nằm cách xa bên tả trong một khuôn viên ở góc đường Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh. Trong lăng, nơi chính điện hiện có bức tượng đức Tả quân bằng đồng nguyên chất, cao 2,7 m, nặng ba tấn do nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng thực hiện nằm trong chương trình “Mỗi người một giọt đồng đúc tượng danh nhân” do tạp chí Xưa và Nay thuộc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức quyên góp. Tôi nhớ đến cuộc tọa đàm do tạp chí Xưa và Nay tổ chức năm 2000 nhằm trả lại sự công bằng cho nhân vật lịch sử Lê Văn Duyệt, người có hơn 20 năm, hai lần làm tổng trấn Gia Định thành. Đặc biệt, cuộc tọa đàm có sự tham dự của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, bấy giờ là cố vấn Ban Chấp hành Trung ương. Ông đã có bài phát biểu rất tâm huyết: “… Qua những gì được nghe hôm nay kết hợp với những gì được đọc trước đây, tôi thấy tư duy và ứng xử của Lê Văn Duyệt có nhiều điều ở tầm quốc sách và có những mặt khá gần với một số chủ trương của chúng ta trong thời kỳ đổi mới…” (Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ - NXB Văn hóa Sài Gòn).


PHẠM ĐÌNH

Đi tìm địa danh Bình Tuy

đăng 21:01, 19 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Có đến hai mươi năm địa danh tỉnh Bình Tuy là một phần đất rộng lớn phía Tây Nam của tỉnh Bình Thuận ngày nay (1956 - 1976). Dưới chế độ Việt Nam cộng hòa, từ một sắc lệnh ký ngày 25/10/1956 tỉnh Bình Tuy được thành lập gồm một phần đất của hai huyện Hàm Thuận, Tánh Linh và một phần đất của hai tỉnh Long Khánh, Lâm Đồng lúc bấy giờ. Nhiều câu hỏi địa danh tỉnh mới này tại sao là Bình Tuy, mang ý nghĩa gì? Đối với Ngô Đình Diệm - Tổng thống đệ nhất Việt Nam cộng hòa vốn là người được hấp thụ nhiều Tây học nhưng cũng chịu ảnh hưởng nền giáo dục Nho giáo của gia đình, cho nên quyết định một tên tỉnh mới phải có lý do nào đó.

Mũi điện Kê Gà. Ảnh: Ngọc Lân 


Thời ấy, Bình Tuy có một vị trí chiến lược quan trọng về quân sự và kinh tế, là địa bàn án ngữ phía Bắc miền Đông Nam bộ, nối dài từ vùng núi cuối dãy Trường Sơn đến bờ biển Đông. Có người suy diễn tên tỉnh Bình Tuy là ghép tên tỉnh Bình Thuận và Phước Tuy bởi liên quan đến phần đất của hai tỉnh này. Thực ra tỉnh Phước Tuy (phần lớn là đất tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay) được thành lập cùng lúc với tỉnh Bình Tuy, nguyên từ phủ Phước Tuy dưới thời Minh Mạng thứ 18 (1837). Như vậy cách giải thích đó không mấy thuyết phục.

Khi tỉnh Bình Tuy mới thành lập, tuy đặt tỉnh lỵ tại La Gi nhưng chính quyền lúc đó lấy địa bàn vùng núi đang còn hoang sơ để hình thành các khu dinh điền với quy mô đầu tư hạ tầng rất lớn, quy tập cư dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi… từ miền Trung đến đây lập nghiệp. Các xã Võ Đắc, Võ Xu, Sùng Nhơn (Đức Linh) và Nghị Đức, Huy Khiêm, Bắc Ruộng, Đồng Kho (Tánh Linh) ngày nay có từ thời kỳ đó. Hơn ai hết, Ngô Đình Diệm từ năm 1929 dưới triều Nguyễn được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Bình Thuận đã biết khá rõ về tiềm năng thiên nhiên của vùng đất này. Bởi trước đó, năm Tự Đức thứ 30 (1877) đã cử doanh điền sứ Nguyễn Thông đi khảo sát miền núi phía Tây Nam Bình Thuận. Qua “Nghỉ thỉnh thượng du đồn khẩn nghi sớ” càng thấy ở đây là một vùng đất trù phú, mênh mông rộng trên 3.000 mẫu, nằm cặp theo dòng sông La Ngà và các đầm, hồ lớn Biển Lạc, Đồng Kho… Đây là bản địa của người dân tộc S’tiêng, Chơ ro… cho nên các địa danh từ tiếng dân tộc chuyển sang chữ Hán Việt bị thay đổi khá nhiều. Khi mãi tìm nguồn gốc địa danh Bình Tuy thì may sao trong bài biểu về khai khẩn đồn điền, Nguyễn Thông có ghi “Thần Nguyễn Thông từ phía Tây sông La Ngư xuôi xuống bờ sông phía Bắc qua Bác Dã (Bắc Ruộng), bờ phía Nam qua cửa Biển Lạc (Lạc Dã). Mé dưới là sông La Ngà. Còn mé thượng lưu thì qua Chu Lư, Ba Kế, Côn Hiên, Đại Đồng đến sông Thang, tiếp giáp với xã Cao Cương, tổng Bình Tuy thuộc hạt bên kia” (ý nói thuộc Đồng Nai Thượng). Như vậy địa danh Bình Tuy đã là một đơn vị hành chính cấp “tổng” hồi đó. Liên hệ địa bạ tỉnh Biên Hòa, trước năm 1836, các thôn, sách Định Quát (sau là Định Quán), Cao Lang, Gia Canh, Thuận Tùng, Túc Trưng, Vĩnh An thuộc tổng Bình Tuy, huyện Phước Bình. Đến năm 1899, tổng Bình Tuy nhập vào tỉnh Đồng Nai Thượng. Điều này càng được xác lập rõ hơn ở bản đồ Province de Bình Thuận - năm 1910 (phần phía Tây Tánh Linh và Nam Đắc Lắc) có thể hiện địa danh Bình Tuy nằm bên bờ sông La Ngà thuộc tỉnh Bình Thuận. Theo Đại Nam nhất thống chí (Bình Thuận), năm Thành Thái 13 (1901) trích 2 tổng Cam Thang, Ngân Chử của huyện Tuy Lý đặt làm huyện này (tức Tánh Linh, trước đó là thôn Tấn Linh) để thuộc vào tỉnh Đồng Nai Thượng. Đến năm 1924, làng Định Quán vẫn còn thuộc tổng Bình Tuy thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng. 

Nói về tên gọi Bình Tuy đối với một vùng đất có ý nghĩa yên bình cũng phù hợp nhưng để đặt cho một tỉnh thì địa danh Bình Tuy có từ một tổng lâu đời nằm ở vị trí trung tâm tiềm năng thiên nhiên và có tầm chiến lược để phát triển là lý do để Ngô Đình Diệm chọn lựa.

Đến bây giờ vẫn còn một lớp người mang tên nơi chốn chào đời trên giấy khai sinh của mình gắn với địa danh Bình Tuy và người xa xứ ngày nào cũng còn mãi hoài niệm về Bình Tuy… một địa danh mang nhiều cung bậc trong ký ức một thời. 

PHAN CHÍNH

Thị Nghè: Rạch, cầu, chợ đều đi vào lịch sử

đăng 02:30, 17 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Thị Nghè là tên ngôi chợ có từ gần 200 năm nằm bên bờ con kênh cùng tên, nối với kênh Nhiêu Lộc từ cầu Nguyễn Văn Trỗi chảy ra sông Sài Gòn. Thị Nghè cũng là tên cây cầu bắc ngang kênh, nối đường Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1 với đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, quận Bình Thạnh.

Địa giới khu vực Thị Nghè hiện nay bao gồm các phường 17, 19 và 21, quận Bình Thạnh, từ bờ kênh phía đường Trường Sa về hướng bắc tới đường Điện Biên Phủ; từ cầu Điện Biên Phủ chạy qua ngã tư Hàng Xanh đến cầu Sài Gòn rồi vòng lại theo đường Nguyễn Hữu Cảnh đến cầu Thị Nghè 2 - cây cầu cũng bắc qua kênh Thị Nghè, nối quận 1 và Bình Thạnh… 

Thị Nghè - tên đất, tên người 

Thị Nghè là một địa danh có bề dày lịch sử gắn liền với vùng đất Gia Định - Sài Gòn từ hơn 200 năm qua. Thị Nghè xưa là vùng đất cao được bao quanh bởi sông Sài Gòn và nhiều con rạch, nằm trên đường thiên lý Bắc Nam được lập từ năm 1748. Vùng Thị Nghè xưa là nơi có ruộng tịch điền, có đàn xã tắc, có miếu thờ Thần Nông, đàn Tiên Nông (nay là khu vực Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè), có Văn Thánh miếu thờ Khổng Tử, Trường tỉnh Gia Định (nay là khu vực Văn Thánh)… Trên địa bàn Thị Nghè xưa cũng đã từng có các cơ sở công nghiệp như hãng chén (nay là Công ty Sứ Thiên Thanh), hãng dầu Phú Mỹ, hãng ô tô buýt (nay là Trường Phú Mỹ, gần cầu Ngô Tất Tố)… Đặc biệt Thị Nghè là nơi có nhà in đầu tiên ở Sài Gòn: Nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết ra đời năm 1917, nằm gần cầu Thị Nghè, là nhà in lớn kiêm nhà sách. Đến trước năm 1975, nhà in Nguyễn Văn Viết (không còn chữ Joseph và cũng không còn bán sách) là nhà in màu offset nổi tiếng đẹp nhất nhì Sài Gòn. Năm 1972, người viết hằng tuần vẫn lui tới nhà in Nguyễn Văn Viết để lo in bìa offset bốn màu cho tờ tuần báo đang công tác. 

Nhà thờ Thị Nghè được xây dựng từ đầu thế kỷ 18. Nhà thờ và Giáo xứ Thị Nghè thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn. Trường Tiểu học Phù Đổng hiện nay nằm cạnh nhà thờ Thị Nghè, trước năm 1975 là Trường Trung học Phước An, nằm trong sân nhà thờ Thị Nghè. Người viết đã có một thời gian ngắn dạy ở Trường Phước An. Tuy chỉ tạm dạy thay một người bạn bị động viên nhưng sau này mỗi khi có dịp đi ngang qua ngôi trường xưa đã đổi tên, trong lòng vẫn gợn lên chút ngậm ngùi. Bấy giờ tôi ở Phú Nhuận, đi dạy hay đến nhà in Nguyễn Văn Viết đều phải đi ngang qua ngã tư Hàng Xanh để đến trường hay nhà in gần đó, phía bên kia đường. 

Chuyện đọc chệch tên đất, tên rạch, tên cầu thậm chí cả tên người ở Nam Bộ khá phổ biến. Như tên chợ, tên rạch, tên cầu Thị Nghè ban đầu là “Bà Nghè” nhưng không biết từ lúc nào bị gọi chệch thành “Thị Nghè”. Bà Nghè tên thật là Nguyễn Thị Khánh, trưởng nữ của quan Khâm sai Chánh thống Vân trường hầu Nguyễn Cửu Vân (ở khu vực này hiện nay có con đường Nguyễn Cửu Vân nối đường Điện Biên Phủ đến đường Xô Viết Nghệ Tĩnh). Trong Gia Định thành thông chí, mục Trấn Phiên An, Trịnh Hoài Đức viết: “… (bà) có chồng là thư ký mỗ, nên người đương thời gọi là bà Nghè mà không xưng tên. Sở dĩ có tên ấy là do khi đầu bà khai hoang đất ở, cho bắc cầu ngang qua rạch để tiện việc đi lại nên gọi là cầu Bà Nghè, cũng gọi sông ấy là sông Bà Nghè…”. 

Người con trai thứ năm của Nguyễn Cửu Vân (cũng là em bà Khánh) là Nguyễn Cửu Đàm nối nghiệp cha, cho xây dựng Lũy Bán Bích và đào kênh Ruột Ngựa (Mã Trường Giang) nối từ rạch Bến Nghé với rạch Thị Nghè năm 1772, tạo một vòng cung bao quanh Sài Gòn như một hòn đảo rộng khoảng 50 km2 để chống quân Xiêm. Rất tiếc, Nguyễn Cửu Đàm tử trận năm 1777. Rạch Thị Nghè được tính từ cầu Nguyễn Văn Trỗi đến sông Sài Gòn, dài chừng 4,5 km. Trong Gia định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức mô tả rạch Thị Nghè chi tiết như sau: “Sông Bình Trị, tục gọi là sông Bà Nghè ở địa phận tổng Bình Trị, về phía Bắc Trấn, từ sông Tân Bình quanh sau trấn lỵ đến cầu Ngang, ngược dòng lên tây độ bốn dặm rưỡi đến cầu Cao Miên (tức cầu Bông hiện nay), chảy về tây bắc độ hai dặm đến chợ Bà Chiểu, chảy về nam độ bốn dặm đến Phú Nhuận, sáu dặm rưỡi nữa đến cầu Huệ là cùng nguyên. Nơi đây có nhiều ao vũng…”. 

Trước khi có tên gọi Bà Nghè, Thị Nghè thì tên rạch được người Khmer gọi là Prêk Kompon Lu, sau đó người Việt gọi là rạch Nghi Giang, rạch Bình Trị. Cầu Thị Nghè và chợ Thị Nghè đều do bà Nguyễn Thị Khánh cho xây dựng từ đầu thế kỷ 18. Đến năm 1838 cầu được sửa chữa lại. Bấy giờ chợ Thị Nghè là nơi giao thương rộn rịp bậc nhất nhờ thuận tiện giao thông thủy lộ. Năm 1837, Sở thuế Thị Nghè đã thu được số tiền thuế cao nhất nhì Nam Kỳ bấy giờ với hơn 13.000 quan tiền. Nhưng sau này thời thuộc Pháp, với sự phát triển nhanh chóng của TP Sài Gòn, những ngôi chợ lớn nằm ở vị trí đắc địa như Bình Tây, An Đông, Hòa Bình… trở thành chợ đầu mối giao thương thì chợ Thị Nghè, cũng như chợ Bà Chiểu gần đó, đều thuộc tỉnh Gia Định, chỉ phát triển ổn định là những ngôi chợ bán lẻ dành cho người tiêu dùng trong khu vực thôi. Nhưng chợ Thị Nghè, cầu Thị Nghè lại là những địa danh gắn liền với lịch sử Gia Định - Sài Gòn trong hàng trăm năm qua. 

Rạch Thị Nghè năm 1964. 


Một thời huy hoàng và những tiếc nuối 

Trở lại một chút với lịch sử vùng đất Thị Nghè: Trước khi quân Pháp đem quân đánh chiếm Sài Gòn năm 1859, vùng Thị Nghè đã khá phát triển, bên cạnh khu chợ sầm uất là các ụ đóng tàu ở bến rạch Thị Nghè. Các ụ xưởng này chuyên đóng tàu chiến cho quân binh chúa Nguyễn. Rất tiếc các ụ xưởng đóng tàu này đã mất theo thành Gia Định sau khi bị Pháp chiếm. Theo sử gia Trần Trọng Kim thì: “Ở Gia Định bấy giờ tuy có nhiều binh khí nhưng binh lính không tập luyện, việc võ bị bỏ trễ nải cho nên khi quân Pháp từ Cần Giờ tiến lên, quan Hộ đốc Võ Duy Ninh vội vàng đi các tỉnh lấy binh về cứu viện nhưng chỉ hai ngày là thành vỡ”. 

Thành mất. Võ Duy Ninh tự vẫn (hiện nay ở Thị Nghè có con đường nhỏ mang tên Võ Duy Ninh, nối từ đường Nguyễn Hữu Cảnh với đường Ngô Tất Tố). Còn GS sử học Trần Văn Giàu viết một cách đau xót: “Khi Pháp tiến đánh, trong thành Gia Định chỉ có hơn 1.000 quân thủ thành, trong khi có đủ khí giới lương thực cho 10.000 quân trong một năm. Điều đó chứng tỏ triều đình thờ ơ với việc phòng ngự, trong khi trước đó Pháp đã tấn công Đà Nẵng và lúc bấy giờ đang chuyển quân từ Cần Giờ tiến đánh Sài Gòn”. Thành mất, quân ta đã bỏ lại trong thành 200 khẩu đại bác bằng đồng hay gang, 20.000 vũ khí các loại, 86.000 kg thuốc súng và số gạo đủ nuôi hàng vạn quân cả năm. Đặc biệt còn có chín chiến thuyền đã đóng xong và đang đóng ở ụ rạch Thị Nghè. Tất cả tính theo thời giá bấy giờ lên đến 20 triệu quan! 

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Thị Nghè là một địa danh thường xuyên được nhắc tới trên báo chí với nhiều trận đánh nảy lửa và đẫm máu của cả hai bên. Bởi địa bàn Thị Nghè rất quan trọng, tuy thuộc địa phận tỉnh Gia Định nhưng nằm sát nách quận 1, gần trung tâm các cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn. Tại đường Trường Sa bên bờ kênh Thị Nghè hiện nay có đài và bia ghi công các chiến sĩ đã hy sinh ở mặt trận cầu Thị Nghè. Bia cao 4,7 m, do ĐH Mỹ thuật TP.HCM thiết kế rất đẹp, được Quận ủy, UBND và MTTQ VN quận Bình Thạnh dựng ngày 24-8-2014. Cũng liên quan tới lịch sử, vùng đất Thị Nghè được đưa vào tiểu thuyết và phim ảnh. Đó là tiểu thuyết tình báo nổi tiếng Ông cố vấn - Hồ sơ một diệp viên của Hữu Mai, sau được dựng thành phim truyền hình do chính tác giả văn học chuyển thể với nhân vật chính là Hai Long, nguyên mẫu ngoài đời là nhà tình báo chiến lược Vũ Ngọc Nhạ. Khi di cư vào Nam năm 1954, Hai Long - Vũ Ngọc Nhạ đưa vợ con đến sống ở khu chợ Thị Nghè cho vợ buôn bán kiếm sống. 

Một thời nhà sàn mọc đầy trên kênh


Thị Nghè trước kia có nhiều nhà sàn dựng dọc trên kênh rạch, cư dân hầu hết từ các vùng quê chạy lên TP lánh nạn chiến tranh, từ thời chống Pháp tới thời chống Mỹ. Họ sinh con đẻ cháu, nhiều đời vẫn bám trên kênh rạch. Hòa bình lập lại, chỉ một số về lại quê, hầu hết tiếp tục ở lại. Cách nay vài chục năm, TP chủ trương giải tỏa toàn bộ nhà sàn và nhà lấn chiếm kênh rạch trong TP, những cư dân ở trên và lấn chiếm kênh rạch được tái định cư, một số may mắn được ra mặt tiền con đường mới ven kênh sạch đẹp, đổi đời. Nhưng quanh chợ Thị Nghè hiện nay vẫn còn không ít người cùng khổ bám trụ kiếm sống.


PHẠM ĐÌNH

Giồng Ông Tố: Đất giồng hóa đất vàng

đăng 02:22, 17 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

“Coi ngoài rạch Bà Nghè, dòng trắng hây hây tờ quyến trải/ Ngó lên giồng Ông Tố, cây xanh nghịt nghịt lá chàm rai”. Đó là hai câu trong bài Gia Định phú của tác giả khuyết danh viết khoảng đầu thế kỷ 20, do nhà Nam Bộ học Vương Hồng Sển sưu tầm và chép lại trong sách Tập thành của ông. 

Rạch Bà Nghè, tức rạch Thị Nghè bây giờ, là một dòng kênh xanh biếc, cá lội tung tăng, hai bên bờ là hai con đường tuyệt đẹp với một bên là những mảng cây cỏ xanh tươi mát mắt, một bên là phố xá sầm uất. Giồng Ông Tố cũng không còn cảnh rừng tràm “cây xanh nghịt nghịt” mà hai bên bờ sông Giồng hiện nay là các khu nhà cao tầng mới xây nối tiếp những khu biệt thự sang trọng của một đô thị hiện đại. 

Ngược dòng về thời ông Tố đi khẩn hoang 

Trước tiên, từ “giồng” là phương ngữ Nam Bộ, biến âm của từ “vồng”, tức một dải đất phù sa nổi lên ven sông, rạch tự nhiên hoặc do bàn tay người vun xới, đắp nên những luống, những vồng để trồng trọt. Đất vồng phù sa ven sông, rạch thường được trồng dưa gang, khoai lang, bầu, bí… Như lời một bài hát mang âm hưởng dân ca Nam Bộ: “Trên đất giồng mình trồng khoai lang/ Trên đất giồng mình trồng dưa gang…”. Ở Nam Bộ có nhiều địa danh bắt đầu từ “giồng” như Giồng Trôm - một huyện của tỉnh Bến Tre; Giồng Riềng - một huyện của tỉnh Kiên Giang… 

Vùng đất giồng hai bên rạch Ông Tố ngày xưa một phần tự nhiên do phù sa đắp bồi mà thành nhưng một phần cũng do bàn tay người nạo vét rạch, đào đắp nên để trồng trọt. Họ là những lưu dân người Hoa, người Việt và người Khmer do ông Trương Vĩnh Tố chiêu mộ đến đây vét rạch, đào kênh, lên vồng canh tác, dựng chợ, lập ấp từ cuối thế kỷ 17. Trương Vĩnh Tố là tướng của phong trào “phản Thanh phục Minh” thất bại, chạy từ Trung Quốc sang thần phục chúa Nguyễn, cùng đợt với hai bại tướng khác là Trần Thượng Xuyên (tức Trần Thắng Tài) và Dương Ngạn Địch. Hai ông Trần và Dương được chúa Nguyễn cho vào khẩn hoang, lập ấp ở vùng đất mới chiêu nạp của Chân Lạp. Trần Thượng Xuyên dựng nên Nông Nại Đại Phố (tức Biên Hòa ngày nay). Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến có công thành lập Mỹ Tho (Tiền Giang). Cùng đợt này còn có Mạc Cửu đến khai khẩn vùng Hà Tiên. Nhưng họ Mạc đến thần phục vua Chân Lạp trước, sau khi thành lập Hà Tiên đã bị quân Xiêm đánh phá nên Mạc Cửu mới dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn, được chúa Nguyễn phong làm tổng trấn, trấn giữ Hà Tiên. 

Riêng trường hợp Trương Vĩnh Tố, do đến sau hai ông Trần, Dương vài năm, khoảng năm 1679 được chúa Nguyễn cho đến khẩn hoang vùng đất mới toàn rừng tràm, dừa nước “cây xanh nghịt nghịt” - bây giờ là khu vực giồng Ông Tố. Rừng rậm lắm cọp, báo; nước ngập nhiều cá sấu, muỗi mòng; đất lại lắm phèn, canh tác thất bát, dân cư dần bỏ đi. Trương Vĩnh Tố buồn sinh bệnh chết, được chôn cất cạnh mộ vợ trên vùng đất vồng bên bờ rạch. Con rạch từ đó mang tên Ông Tố. Cả vùng đất vồng hai bên rạch được gọi là giồng Ông Tố, đọc theo giọng Nam Bộ. 

Hiện nay hai ngôi mộ đã hoang phế, điêu tàn nằm trong sân sau của hai nhà số 33 và 35 đường Nguyễn Duy Trinh, quận 2. Mộ ông Tố nằm trong sân sau nhà số 33, chỉ còn một mảng tường đá ong đổ nát, tấm bia trên mộ chữ đã mất. Tấm bia bình phong lại nằm áp vào tường một căn nhà phía sau, có lẽ chữ cũng đã xóa mờ theo thời gian. Còn mộ bà, theo lời người hàng xóm, lại lọt qua sân sau nhà số 35, người viết không thể tiếp cận được. Những người sống quanh khu mộ cũng ít người biết thân thế ông Tố. Một người bảo có cô giáo ở Trường Tiểu học Giồng Ông Tố khi dạy học trò về tên trường đã bảo ông Tố là người chèo đò đưa Nguyễn Ánh qua sông Sài Gòn chạy trốn quân Tây Sơn! 

Hai ngôi mộ cổ nằm cạnh nhau, qua thời gian đất đai được chia nhỏ cho nhiều hộ dân cất nhà dựng phố, vô tình đã ngăn chia bởi một bức tường chia đôi hai nhà. Người viết xin phép chủ nhà số 33 vào thăm mộ và chụp tấm ảnh mộ ông Trương Vĩnh Tố. 

Mộ Ông Tố


Khu dân cư sông Giồng nhìn từ cầu Giồng Ông Tố. Ảnh: PHẠM ĐÌNH 


Đất giồng hóa đất vàng 

Con rạch hay cũng có thể gọi là sông Ông Tố nhưng dân gian vẫn gọi là sông Giồng Ông Tố, gọi tắt là sông Giồng, bắt đầu từ rạch Ông Nhiêu đổ ra sông Sài Gòn, dài hơn 5.600 m. Rạch Ông Nhiêu cũng có cây cầu mang tên Ông Nhiêu trên đường Nguyễn Duy Trinh, nối hai phường Phú Hữu và Long Trường (quận 9). Sông Giồng đoạn gần giáp sông Sài Gòn khá rộng, nước trong xanh, là một trong vài sông, rạch ở thành phố ít bị ô nhiễm nhất. Ngôi chợ ở đầu đường Nguyễn Duy Trinh, cạnh cầu Giồng Ông Tố 1, tên bảng hiệu là “chợ Bình Trưng” nhưng bà con vẫn gọi là chợ Giồng. Chợ Giồng Ông Tố được thành lập từ năm 1902, nằm bên sông Giồng, bấy giờ thuộc thôn Bình Trưng, tổng An Bình, tỉnh Gia Định. Trước năm 1997, cầu Giồng Ông Tố nối hai xã An Phú và Bình Trưng trên tỉnh lộ 25, nay là đường Nguyễn Thị Định. Và chợ Giồng, tức chợ Bình Trưng, thuộc xã Bình Trưng, huyện Thủ Đức. 

Ngày 1-4-1997, huyện Thủ Đức chia thành ba quận làquận Thủ Đức, quận 2 và quận 9. Xã Bình Trưng được chia làm hai phường là Bình Trưng Tây và Bình Trưng Đông. Giồng Ông Tố là tên của cả ba ngôi trường: Tiểu học, THCS và THPT đều nằm trên địa bàn phường Bình Trưng Tây (quận 2). Đặc biệt, trong khuôn viên Trường Tiểu học Giồng Ông Tố và Trường Mẫu giáo Vành Khuyên ở góc đường Nguyễn Tư Nghiêm và đường số 6 (phường Bình Trưng Tây), trước kia là nghĩa trang Nam Đào, có một cặp mộ cổ xây rất kiên cố. Khi giải tỏa nghĩa trang, thợ thủ công dùng cảcuốc, xẻng đào bới và xe xúc cẩu vẫn không di dời được. Vì có hiện tượng tâm linh bất thường nên hai ngôi mộ cổ được xây tường xung quanh giữ lại trong sân trường. Nhiều người ngộ nhận đó là mộ của vợ chồng ông Trương Vĩnh Tố. Thật ra đó là đôi mộ của vợ chồng đại quan họ Trần (trên bia chỉ còn lại họ, không rõ tên) triều Gia Long và mất vào thời Minh Mạng. 

Giồng Ông Tố là khu vực hai bên sông Giồng, thuộc các phường An Phú, Bình Trưng Tây, Bình Trưng Đông (quận 2) và phường Phú Hữu (quận 9). Hai bên bờ sông Giồng bây giờ toàn những khu nhà cao tầng đẹp đẽ, tiện nghi, hiện đại nối kết với những khu biệt thự sang trọng. Đại lộ Mai Chí Thọ đoạn từ đường Đồng Văn Cống (gần cầu Giồng Ông Tố 2) gần như chạy song hành với sông Giồng đến hầm vượt sông Sài Gòn làm tăng giá trị đất đai ở đây. Từ đầu sông Giồng đoạn giáp sông Sài Gòn phía bên Bình Trưng Tây là khu Đảo Kim Cương, rồi khu biệt thự Thế Kỷ 21, phía bên An Phú là các khu biệt thự Văn Minh, Sông Giồng. Hàng loạt dự án nhà cao tầng đang được xây dựng san sát nhau soi bóng xuống dòng sông Giồng. Cả một khu đô thị hiện đại Lakeview City nằm dọc bờ sông phía An Phú (quận 2) đang được gấp rút hoàn thành. Gần bên, chỉ cách con đường Đỗ Xuân Hợp (quận 9) là khu biệt thự cực kỳ sang trọng The Venica của Công ty Khang Điền, giá chừng vài chục tỉ đồng một căn trở lên. Khu vực Giồng Ông Tố hiện nay khá hấp dẫn giới đầu tư địa ốc. Giá đất ở đây bây giờ tăng chóng mặt, từ vài chục triệu đồng/m2 trong hẻm mấy con đường gần đó đến 40-50 triệu đồng/
m2 ở khu quy hoạch hay mặt tiền sông. Hai bên bờ sông Giồng Ông Tố bây giờ hầu hết được xây kè đá và trồng cây trông sạch đẹp và vững chãi, đâu còn cảnh cỏ lát, lau sậy, dừa nước mọc tràn lan như mươi năm trước. Cái địa danh nghe mộc mạc, dân dã Giồng Ông Tố hiện nay cùng với Đông Thủ Thiêm là thương hiệu địa ốc “hot” - hướng phát triển về phía đông của TP.HCM. 

Buổi sáng ngồi ở quán cà phê bên bờ sông Giồng Ông Tố (phía Bình Trung Đông), nhìn ngắm công trình xây dựng khu đô thị Lakeview City hoành tráng bên kia bờ sông phía An Phú đang trong giai đoạn nước rút hoàn chỉnh, nghe mấy tay môi giới nói chuyện giá cả nhà đất mà giật mình. Một người nói với một ông khách: “Ông lạc hậu rồi, trước Tết nhà liền kề thô kêu 7 tỉ mấy, giờ đã 8 tỉ mà không còn. Biệt thự rao giá 15-16 tỉ nay đã 18-19 tỉ rồi”. Một anh chàng ngồi cạnh hát nghêu ngao: “Trên đất giồng xưa trồng khoai lang/ Trên đất giồng nay trồng cây vàng…”.


PHẠM ĐÌNH

Chợ Cầu Ông Lãnh - dấu xưa xe ngựa…

đăng 02:09, 17 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chợ Cầu Ông Lãnh nằm bên rạch Bến Nghé, cạnh cầu Ông Lãnh, đã bị xóa sổ gần 14 năm qua từ khi cây cầu mà chợ mang tên được xây mới. 

Cầu Ông Lãnh cũ bắc qua rạch Bến Nghé từ đường Bến Chương Dương (quận 1) đến đường Bến Vân Đồn (quận 4) đã được phá đi để xây cây cầu mới dài hơn, rộng hơn, đẹp hơn. 

Cầu mới bắt đầu từ ngay nền chợ trên đường Nguyễn Thái Học (quận 1), choàng qua đường Bến Chương Dương cũ - nay là đại lộ Võ Văn Kiệt, bên này rạch Bến Nghé và phủ qua đường Bến Vân Đồn, chạy xuống gần tới đường Hoàng Diệu (quận 4). Cầu Ông Lãnh mới dài 256 m, là cây cầu dài nhất bắc qua rạch Bến Nghé. Còn ngôi chợ mang tên cầu, từ năm 2003 được dời lên Tam Bình (quận Thủ Đức) mang tên “chợ nông sản đầu mối Thủ Đức”. 

Tên cầu, tên chợ 

Khi nhắc tới cái tên chợ Cầu Ông Lãnh, chắc ai cũng biết chợ được lập sau cầu nên tên chợ mới đặt theo tên cầu. Cầu xây từ lúc nào chưa có tài liệu nào ghi chính xác nhưng theo học giả Trương Vĩnh Ký viết năm 1885 thì cây cầu gỗ bắc qua rạch Bến Nghé là do ông Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, một tướng triều Nguyễn, trấn thủ đồn Cây Mai - Thủ Thiêm gần đó, cho bắc để tiện việc giao thông và phòng thủ chống quân Pháp tấn công vào Gia Định. Nhân dân kính trọng gọi là cầu Ông Lãnh chứ không dám gọi tên ông. 

Sau khi lập chợ, người ta đào một con kênh từ rạch Bến Nghé vào tới chợ để ghe thuyền dễ dàng đưa hàng nông sản vào tận trong chợ, xuồng ghe dày đặc cả một khúc kênh và được chia bến như bến Mỹ Tho, bến Sóc Trăng, bến Long Xuyên… Bên kia kênh là những kho muối và mắm chở từ Bạc Liêu lên, từ Phan Thiết vào, chờ đưa qua Cao Miên bán. Muối, mắm chứa trong những căn nhà lá nằm dọc bờ rạch cùng chiếc cầu ván bắc từ ghe lên bờ để chuyển muối lên, gọi là cầu Muối. Sau này có lẽ do buôn muối gặp nhiều khó khăn, lái muối không buôn nữa, bỏ trống kho là các nhà lá, dân tứ xứ bèn chiếm cứ cư ngụ rồi cũng lập thành cái chợ bán mắm, muối, cá, tôm bên cầu ván, gọi là chợ Cầu Muối. Những phu vác hàng ở các bến đều có sự bảo kê của các tay giang hồ. Đã có không ít những cuộc đánh chém nhau giành quyền kiểm soát, bảo kê. Cụm từ “anh chị Cầu Muối”, “dân Cầu Muối” nổi tiếng khắp Sài Gòn lục tỉnh.

Vụ cháy chợ Cầu Ông Lãnh năm 1971. Ảnh: TƯ LIỆU 


Suốt một thời gian dài, chợ Cầu Muối tồn tại song song với chợ Cầu Ông Lãnh hai bên kênh đào. Năm 1929, con kênh đào từ rạch vào chợ được lấp thành đường - nay là đường Nguyễn Thái Học để xây cầu Ông Lãnh bằng xi măng cốt thép, bấy giờ hai ngôi chợ Cầu Ông Lãnh và Cầu Muối lại nằm cạnh nhau, đến nỗi nhiều người nhầm hai chợ là một. Năm 1971, chợ Cầu Ông Lãnh bị một trận cháy lớn, chính quyền huy động cả lực lượng cứu hỏa mà không chữa nổi, phải nhờ trực thăng Chinook khổng lồ của Mỹ đến hỗ trợ chữa lửa. Bấy giờ tôi đang ở nhà bà dì bên Khánh Hội, chạy ra Bến Vân Đồn chứng kiến cảnh chiếc trực thăng Chinook khổng lồ, loại chuyên cẩu xe tăng, xe tải cho quân đội Mỹ, đang cẩu chiếc thùng thật bự múc nước từ rạch bay vào thả xuống dập lửa đang bùng cháy dữ dội. Gian hàng bán đồ trang sức và mỹ phẩm rẻ tiền trong nhà lồng chợ của bà dì tôi thành tro bụi, sự nghiệp tan tành, bà khóc đến sưng cả mắt. Chứng kiến cảnh bà dì tôi cùng hàng trăm tiểu thương khác khóc lóc, than trời trách đất, mặt mày thất thần, tôi cũng muốn khóc theo! Đó là trận hỏa hoạn lớn nhất mà tôi chứng kiến trong đời. Cũng xin nói thêm, tuy là chợ đầu mối nông sản chuyên bán rau quả tươi nhưng trong nhà lồng chợ cũng có bán đủ các mặt hàng gia dụng, trang sức chủ yếu là vàng giả, mỹ phẩm rẻ tiền… 

Năm 1999, chợ Cầu Ông Lãnh lại bị cháy một lần nữa, tôi đang đi công tác ở Cần Thơ, chỉ nghe đồng nghiệp gọi điện thoại kể lại. Đám cháy dữ dội, thiêu rụi nhiều gian hàng. Sau trận hỏa hoạn này, cùng lúc công tác giải phóng chợ để xây cầu Ông Lãnh mới, nhiều hộ kinh doanh thủy hải sản ở chợ Cầu Muối dời về chợ đầu mối thủy hải sản Bình Điền (Bình Chánh), một số nhỏ dời qua chợ cá Chánh Hưng (quận 8), chợ cá Hòa Bình (quận 5). Còn các hộ kinh doanh nông sản thì dời tạm về chợ đầu mối Tân Xuân (Hóc Môn), chờ vài năm sau chuyển lên chợ đầu mối mới đang xây dựng rất hoành tráng ở Tam Bình (quận Thủ Đức). 

Khi chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối dời đi, không chỉ các chủ vựa hay bà con tiểu thương chia tay chốn cũ ngậm ngùi, luyến nhớ khu chợ đã gắn bó với nhiều thế hệ mà còn là nỗi khốn đốn của những người lao động phụ việc vốn trước giờ sống bám vào chợ, làm bữa sáng lo bữa chiều. Nhiều gia đình nhiều đời sống bám vào chợ. Họ là mấy trăm xã viên hợp tác xã bốc xếp, mấy trăm người đẩy xe cút kít chuyển hàng trong chợ và cả ngàn người gọt củ, lặt rau, đóng hàng, dọn dẹp… phải thất nghiệp. Chỉ có một ít người theo các chủ vựa đến nơi buôn bán mới, số còn lại hầu hết phải xoay qua công việc khác, buôn bán vặt mưu sinh… 

Cầu còn đây mà chợ đã bị xóa tên 

Chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối tuy đã không còn hiện hữu nhưng trong ký ức của người Sài Gòn, nhất là những cư dân sống quanh vùng cầu và chợ, hình ảnh những hoạt động, mua bán rộn rịp suốt ngày đêm của ngôi chợ tuổi đời hơn trăm năm như vẫn còn thấp thoáng đâu đây. Một vài gian hàng rau trái lèo tèo bên lề nhánh đường rẽ từ đại lộ Võ Văn Kiệt lên đường Nguyễn Thái Học và ngược lại phía nhánh rẽ bên kia, từ đường Nguyễn Thái Học xuống đường Võ Văn Kiệt, bên chân cầu là mấy mẹt hải sản cá, tôm, mắm, muối. Tất cả như còn lưu luyến và tưởng niệm hai ngôi chợ nổi tiếng một thời. 

Việc di dời chợ Cầu Ông Lãnh lên Thủ Đức, dời chợ Cầu Muối xuống chợ đầu mối Bình Điền là hợp lý cả cho việc mở rộng giao thương và giao thông, cũng như tạo được cảnh quan vệ sinh môi trường thông thoáng, sạch đẹp cho thành phố. Nhưng nhiều người vẫn thấy tiếc nhớ ngậm ngùi mỗi khi có dịp qua đây. Cầu còn đây, khang trang, to đẹp hơn mà chợ đã bị xóa tên rồi. Chợ mang tên cầu. Chợ bên cầu như một cặp đôi nhưng duyên trăm năm có lẽgiờ chỉ còn mỗi cầu thôi. Cầu đứng nghênh ngang, ngạo nghễ nhìn xuống dòng kênh Bến Nghé được nạo vét trong xanh, hai con đường tuyệt đẹp chạy hai bên bờ kênh dưới chân cầu hình như đang ngước nhìn cầu trách móc đã phụ bạc ngôi chợ một thời vang bóng. Cả “em chợ lẻ” Cầu Muối cũng rất đáng yêu với mùi tôm, cá, mắm giờ cũng không còn! Nhưng vẫn như nghe tiếng gọi nhau ơi ới của những người đẩy xe cút kít, của những phu bốc xếp. Và tiếng la hét gây gổ, đâm chém nhau để giành mối bảo kê của dân anh chị Cầu Muối ngày xưa. 


Người có công làm nên cây cu


Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng sinh năm 1798 tại Giồng Trôm (Bến Tre), tử trận tại Gò Công năm 1866. Do là người có công cho làm cầu qua rạch Bến Nghé nên khi ông mất được tôn thành hoàng và được thờ ở đình Nhơn Hòa trên đường Cô Giang, phường Cầu Ông Lãnh (quận 1). Học giả Trương Vĩnh Ký là một nhà bác học uy tín, lại sống vào thời đó nên những điều ông viết rất đáng tin cậy. Thế nhưng báo Tri Tân xuất bản tháng 6-1942 có đăng một bài viết của ký giả Phong Vũ - Trần Văn Hai cho rằng sau khi mất toàn bộ lục tỉnh, Nam Kỳ trở thành thuộc địa Pháp. Năm 1874, vua Tự Đức đã cử Nguyễn Thành Ý vào mở lãnh sự quán tại Sài Gòn. Ông lãnh sự đi xe song mã, thường đậu ở bờ rạch Bến Nghé cạnh cây cầu gỗ bắc qua rạch Bến Nghé nên bà con gọi cầu này là cầu Ông Lãnh (?). Giả thiết này không thuyết phục bởi ngôi chợ mang tên chợ Cầu Ông Lãnh đã được lập từ năm 1874, cùng năm ông Nguyễn Thành Ý mới vào Sài Gòn lập lãnh sự quán, mà cây cầu gỗ mang tên Ông Lãnh đã có từ trước đó.


PHẠM ĐÌNH

Ông Tạ - rất quen và rất lạ

đăng 02:00, 17 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Rất quen, bởi đó không chỉ là tên một ngôi chợ, một ngã ba đường - cả hai đều mang tên “Ông Tạ” - mà cả khu vực rộng lớn quanh đó cũng mang tên “khu Ông Tạ” đã ăn sâu vào tiềm thức bao thế hệ người Sài Gòn.

Và rất lạ, bởi người được gọi tên cho cả vùng đất, ngã ba và ngôi chợ không phải là một danh nhân, anh hùng, liệt sĩ… mà chỉ là một thầy tu tại gia, thầy thuốc Nam bình thường. 

Lạ nhất và có lẽ hiếm hoi nhất là địa danh Ông Tạ có từ khi nhân vật này còn sống khỏe mạnh. Và đặc biệt là do người dân quanh vùng gọi lâu dần thành quen chứ không phải do chính quyền nào đặt tên. 

Tên được đặt khi nhân vật còn sống 

Khu Ông Tạ hiện nay và vùng đất quanh đó, từ vùng giáp ranh quận 3, quận 10 và quận Tân Bình chạy xuống ngã tư Bảy Hiền, quẹo qua khu vực hiện nay là chợ Tân Bình… trước năm 1954 là ruộng và rừng cao su. 

Sau hiệp định Genève, khi cả triệu người miền Bắc di cư vào Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đã phân phối bà con đến sinh sống và khai thác những vùng đất còn hoang sơ, trong đó có vùng Ông Tạ hiện nay. 

Khi những di dân người Bắc mà hầu hết là đồng bào Công giáo đến, vùng này chỉ lèo tèo mấy căn nhà lá, có căn nhà nhỏ của ông Trần Văn Bỉ, một thầy thuốc Nam tu tại gia, chuyên bốc thuốc chữa bệnh cho dân nghèo quanh vùng. 

Ông Bỉ sinh năm 1918, gốc người Mỹ Tho, từ nhỏ đã từng lên học đạo và học nghề bốc thuốc Nam với sư phụ núi trên chùa núi Bà Đen (Tây Ninh). Sau, ông về cất am tu và bốc thuốc cứu người. Bà con quanh vùng và cả từ các tỉnh lân cận như Long An, Định Tường… cũng lên chữa bệnh, hầu hết là bà con nghèo. 

Ông rất thương người nghèo, trước nhà ông ngày trước lúc nào cũng có một thùng đựng bạc lẻ để cho bà con nghèo lỡ đường. Có nhiều người nghèo quá, ông bắt mạch, bốc thuốc không lấy tiền mà còn cho tiền ăn, tiền xe về quê. Mọi người rất kính trọng nhưng không ai biết ông thầy tu bốc thuốc Nam tên gì, thấy ông trụ trì một am nên gọi ông là thầy Thủ Tọa, đọc theo giọng bình dân Nam Bộ là “Thủ Tạ”, rồi lâu dần bà con chỉ gọi “Ông Tạ”. 

PGS-TS Lê Trung Hoa, nhà nghiên cứu địa danh học, gắn cho ông cái biệt hiệu là Tạ Thủ, nghĩa là “cánh tay nâng người bệnh”. Tôi cũng không biết căn cứ từ đâu? 

Sau năm 1954, như đã viết ở trên, bà con người Bắc di cư vào sinh cơ lập nghiệp đông đúc nhưng vùng đất này chưa có tên nên bà con gọi là khu Ông Tạ, theo tên thầy Thủ Tạ bốc thuốc giúp người từ lâu ở đây. 

Con đường quốc lộ 1 từ Tây Ninh về trung tâm Sài Gòn chạy ngang qua đây có thêm một nhánh nhỏ, sau được đặt tên là Thoại Ngọc Hầu. Có lẽ những người đặt tên đường Thoại Ngọc Hầu cũng như con đường Nguyễn Văn Thoại gần đó do liên tưởng tới công nghiệp mở mang bờ cõi phương Nam của Thoại Ngọc Hầu - Nguyễn Văn Thoại. 

Sau ngày thống nhất, đường Thoại Ngọc Hầu đổi thành Phạm Văn Hai, đường Nguyễn Văn Thoại đổi thành Lý Thường Kiệt. Với sự cần cù lao động, buôn bán của bà con người Bắc di cư, khu vực này phát triển rất nhanh, một ngôi chợ được lập gần am tu của thầy Thủ Tạ nên được gọi là chợ Ông Tạ. Sau năm 1980, chợ dời về khu nghĩa trang Thánh Minh Tương Tế mới giải tỏa gần đó nhưng bà con tiểu thương ở đây vẫn tiếp tục buôn bán các mặt hàng truyền thống ở hai bên đường Phạm Văn Hai. 

Vì Ông Tạ tu tại gia, am tu cũng là nhà và là nơi bốc thuốc chữa bệnh ở trong ngõ nên khi khu vực này phát triển, lập chợ, ông Thủ Tạ cũng mở một cửa hàng thuốc Nam ngay tại ngã ba mang tên ông. Ông Tạ mất năm 1983, được chôn cất ngay trong vườn nhà ông. 

Ngã ba Ông Tạ ngày nay. 


60 năm đặc sản Bắc ở khu Ông Tạ 

Khu vực mang tên Ông Tạ hiện nay bao gồm các phường 3, 4, 5, 6 và 7 quận Tân Bình, nằm hai bên đường Cách Mạng Tháng Tám (CMT8), từ Công viên Lê Thị Riêng (trước năm 1975 là nghĩa địa Đô Thành, sau giải tỏa, xây dựng công viên) chạy dọc xuống ngã tư Bảy Hiền; chạy ngang từ đường Bùi Thị Xuân tới khu Đất Thánh, cạnh Trường THCS Nguyễn Gia Thiều. 

Khu vực này đa số dân cư là đồng bào theo đạo Công giáo, có nhiều giáo xứ, nhà thờ như Tân Chí Linh, An Lạc, Xây Dựng, Nghĩa Hòa, Mân Côi, Mai Khôi, An Tôn, Vinh Sơn… Đặc biệt có nhà thờ Chí Hòa cổ kính trên đường Bành Văn Trân là nơi an dưỡng của các giám mục, linh mục thuộc giáo phận Sài Gòn nghỉ hưu. 

Bên trong khuôn viên nhà thờ là nghĩa trang dành để chôn cất các vị khi Chúa rước. Con đường trước nhà thờ trước kia là đường Nhà Thờ, sau năm 1975 được ráp với đường Thánh Mẫu đổi thành đường Bành Văn Trân. 

Con đường này hình chữ L, bắt đầu từ đường CMT8 và cuối đường cũng là CMT8. Cũng trên đường CMT8, gần ngã ba Ông Tạ trước kia có Trường Trung học Thánh Tâm do các sư huynh Công giáo lập. 

Sau năm 1975, trường đổi thành Trung học Bán công Tân Bình. Năm 1973, khi tôi làm việc ở một tòa soạn báo đặt ngay trong nhà in báo Xây Dựng trên đường Thánh Mẫu (nay là Bành Văn Trân), gần đó có quán cà phê Thăng Long có hàng chữ nổi bật dưới tên bảng hiệu: “20 năm danh tiếng”. 

Nhà in Xây Dựng chuyên in nhật báo Xây Dựng do linh mục Nguyễn Quang Lãm chủ nhiệm kiêm chủ bút với bút danh Thiên Hổ rất nổi tiếng, rất có uy mà cả giới chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng rất ngại. Ông linh mục - nhà báo này tướng cao lớn, chuyên mặc áo sơmi carô, tự tay lái xe hơi đến tòa soạn và giảng thuyết. 

Bên cạnh nhà in là ngôi nhà nguyện nhỏ, mỗi tuần cha Lãm đến giảng một lần. Nhà nguyện ngày ấy bây giờ đã được nâng cấp thành một nhà thờ khang trang. Còn quán cà phê Thăng Long “20 năm danh tiếng” mà tôi vẫn ngồi mỗi sáng ngày ấy bây giờ không còn nữa, nhưng mỗi khi có dịp đi ngang lòng vẫn thấy nao nao! 

Thời gian này, thỉnh thoảng tôi thấy ông Tạ ngồi bắt mạch hay bốc thuốc cho bệnh nhân mỗi khi đi ngang qua nhà thuốc ở ngay ngã ba mang tên ông - tức ngã ba đường Phạm Hồng Thái và Thoại Ngọc Hầu, trước kia thuộc tỉnh Gia Định. Với dáng người đậm, nét mặt hiền từ, nhân hậu, ông Tạ dễ gây cảm tình và sự quý mến của người tiếp xúc. 

Như đã viết, nổi tiếng nhất khu chợ Ông Tạ là món thịt chó. Không phải là các quán thịt chó mà là thịt chó thui nguyên con treo lủng lẳng hay bày hàng dãy trước khu chợ cũ. Nổi tiếng đến nỗi những người Hàn Quốc, vốn rất hảo món thịt chó, sinh sống và làm việc ở TP cũng đổ về nơi này ở để tiện mua thịt chó. 

Con đường nhỏ bên cạnh chợ Phạm Văn Hai, tức chợ Ông Tạ cũ, hiện nay có đông đảo người Hàn Quốc đến ở, được gọi là “Phố Hàn Quốc”. Ngoài thịt chó, khu Ông Tạ còn nổi tiếng với các mặt hàng truyền thống Bắc đặc trưng như bánh đậu xanh, bánh cốm, trà Bắc, trà thảo dược, thuốc lào, hạt giống và nhất là các loại thuốc Nam vô cùng phong phú. 


Những địa danh hành chính hoặc tên đường qua một thời kỳ lịch sử có khi được thay đổi cho phù hợp bởi những tên đất, tên đường ấy được các nhà cầm quyền đặt để. Nhưng những địa danh do người dân gọi thì khó mà đổi thay bởi nó “từ nhân dân mà ra”.


Như trường hợp địa danh Ông Tạ. Nó ăn sâu vào tiềm thức của người Sài Gòn hơn nửa thế kỷ qua, không chỉ vì các món đặc sản và phong cách buôn bán đặc trưng của người Bắc di cư ngày ấy mà còn bởi cái cách mà vùng đất này được nhân dân gọi tên.


PHẠM ĐÌNH

Nha Trang - lấy tên sông đặt cho thành phố hay dùng tên thành phố gọi tên sông?

đăng 00:15, 9 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Sông Cái (Nha Trang), đoạn qua xã Vĩnh Ngọc. Ảnh: Mai Lĩnh


Có nhiều người cạn nghĩ hễ nghe nói là tin, tin rằng Nha Trang do hai chữ “Nhà Trắng” mà ra. Sự thật không phải thế.

Nha Trang là do tiếng Chàm Ya Tran mà ra. Ya là nước, là sông; Tran nghĩa là cây lau, cây sậy. Ya Tran nghĩa là sông lau. Vì con sông Cái chạy từ Diên Khánh xuống đến biển, mọc đầy lau lách ở hai bên bờ nên người Chàm gọi là Ya Tran. Sau khi đất Chiêm Thành sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam, thì người Việt phiên âm chữ Ya Tran ra Nha Trang để gọi con sông Cái chạy từ Diên Khánh đến biển.

Như thế, Nha Trang là tên sông.

Vì sao tên sông lại trở thành tên thành phố?

Xa xa là núi Cô Tiên, một hình ảnh độc đáo của Nha Trang. Ảnh: ML


Xin đáp:

Phần đất Khánh Hòa ngày nay, khi còn thuộc về người Chiêm Thành tức người Chàm thì gọi là Cù Huân (Kaut Hara). Đất Cù Huân sáp nhập vào lãnh thổ Việt nam khoảng đầu thế kỷ thứ 18, thời Chúa Nguyễn, chúa Nguyễn đổi tên đất Cù Huân làm dinh Bình Khang, sau đổi là Bình Hòa. Dinh Bình Hòa chia làm 2 phủ là phủ Ninh Hòa và phủ Diên Khánh. Dinh quan Tổng trấn Bình Hòa đóng tại Ninh Hòa trên bờ sông (cho nên con sông Ninh Hòa mang tên là sông Dinh). Hậu bán thế kỷ thứ 18 dinh Bình Hòa thuộc về nhà Tây Sơn. 
Tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu vào làm Tổng trấn, nhận thấy Ninh Hòa không có thế dụng binh, bèn dời dinh vào Diên Khánh. Để trấn giữ quân Chúa Nguyễn ở phía Nam, Trần Quang Diệu bèn xây thành đắp lũy kiên cố nơi đóng binh và gọi là Diên Khánh thành.

Cầu đường sắt nối hai bờ sông Cái. Đầu cầu bên trái là hầm xe lửa cuối cùng trên lộ trình đường sắt Bắc Nam. Ảnh: ML


Vào cuối thế kỷ thứ 18, chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Ánh đánh lấy được thành Diên Khánh, và cử tướng Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn Bình Hòa. Nguyễn Văn Thành cho xây đắp lại thành Diên Khánh và lấy tên Nha Trang của con sông Cái mà đặt tên cho thành gọi là Nha Trang thành.

Đến triều Minh Mạng (1820-1840) dinh Bình Hòa đổi thành tỉnh Khánh Hòa. Thành Nha Trang được xây lại theo kiểu Vauban và bỏ tên Nha Trang lấy lại tên Diên Khánh: Diên Khánh thành.

Sau khi thực dân Pháp chiếm được toàn cõi Việt Nam nói chung, tỉnh Khánh Hòa nói riêng, thì đặt cơ quan cai trị ở miền Duyên Hải và lấy hai chữ Nha Trang mà đặt tên cho địa phận đóng cơ quan cai trị tức là thành phố Nha Trang hiện thời. Như thế là thành phố Nha Trang đã lấy tên sông, nhưng không phải lấy trực tiếp mà lấy qua thành Diên Khánh. Có người không đi sâu vào bối cảnh lịch sử, thấy sông Nha Trang chảy qua thành phố Nha Trang thì bảo rằng sông mang tên thành phố.

* * *
Để chứng minh cho những điều trình bày trên đây, tôi xin trích vài ba câu thơ cổ còn lưu truyền.

Đại Lãnh văn viên, cô nguyệt hạ
Nha Trang xạ hổ loạn vân gian.

Nghĩa là:

Lắng vượn trăng mờ đêm Đại Lãnh
Bắn hùm mây loạn núi Nha Trang.

Nha Trang đây là thành Nha Trang ở Diên Khánh chớ không phải là thành phố Nha Trang. Bởi vì thành phố Nha Trang mới bắt đầu xây dựng sau ngày thực dân Pháp đặt nền đô hộ trên toàn cõi Việt Nam dưới triều Đồng Khánh (1885-1888). Còn câu thơ này làm vào khoảng cuối triều Tự Đức (1848-1883). Đó là câu thơ của Nguyễn Tư Giản làm quan ở triều đình Huế tặng Nguyễn Thông làm Án sát tỉnh Khánh Hòa, dưới triều Nguyễn vẫn gọi Khánh Hòa là Nha Trang thành:

Ảnh: Mai Lĩnh


Lưỡng ngạn lô hoa trường đáo hải
Tứ biên hoàng diệp tổng vi thu.

Nghĩa là:

Trắng ngập đôi bờ lau xuống biển
Vàng bay bốn mặt lá gieo thu.

Đó là câu thơ của nhà chí sĩ Trần Quý Cáp đã làm năm 1905, lúc cùng hai bạn đồng chí là Huỳnh Thúc Kháng và Phan Chu Trinh đi cổ động cho phong trào Đông du của chí sĩ Phan Bội Châu ghé ngang qua Nha Trang. Trong câu thơ không có chữ Nha Trang nhưng câu “Lưỡng ngạn lô hoa trường đáo hải cho chúng ta biết đó là sông Nha Trang . Bởi “Lưỡng ngạn lô hoa” nghĩa là “hai bên bờ sông hoa lau”, mà “sông lau” tức là sông Nha Trang. Câu đó cũng cho chúng ta thấy rằng mãi đến thời thực dân phong kiến sông Nha Trang vẫn còn đầy lau lách ở hai bên bờ.

Như thế thì hai chữ Nha Trang quả là tên con sông Cái đã có từ xưa. Rồi tên sông lấy đặt tên cho thành, rồi tên thành lấy đặt tên cho thành phố, rồi thành phố và sông đều mang chung một tên.

* * *
Con sông Nha Trang đã đi vào lịch sử và đã vào văn chương, chẳng những văn chương chữ Hán mà cả văn chương chữ Việt. Xin đơn cử một bài chữ Việt:

Hòn Bút và Hòn Chữ ở cửa sông Nha Trang. Ảnh: ML


Sông Nha Trang,
Cát vàng sóng lục
Nhởn nhơ con cá đục
Lội dọc lội ngang...
Đã nguyền cùng em giữ dạ đá vàng,
Sao anh nỡ ham tách cà phê đen, ly sữa bò trắng
Mà phụ phàng nước non?!
Bớ anh ơi,
Nét bia Hòn Chữ chưa mòn.
Lưỡi gươm rửa hận hãy còn mài trăng.

Quách Tấn

1-10 of 18