Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Miên man núi lửa 1.Ghềnh Đá Đĩa là một kiệt tác thiên nhiên ở huyện Tuy An, Phú Yên. Nơi đây những cột đá, tảng đá hình ngũ giác, lục giác xếp đều ...
    Được đăng 08:10 18-06-2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cù Mông, Phú Yên Tiếng ai than khóc nỉ nonLà vợ chú lính trèo hòn Cù MôngCông tôi gánh gánh gồng gồngTrở ra theo chồng bảy bị còn baKhông đi ...
    Được đăng 16:50 01-06-2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sông Cái - Phú Yên Nước sông Ba chảy ra sông CáiAnh có vợ rồi de gái làm chi !Anh về rước vợ mau điKẻo chỉ trở dạ e khi bị đòn.Em ...
    Được đăng 07:29 01-06-2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tản mạn về tên gọi Cổ Chiên Ngày hôm qua, 16/05/2015, đã thông xe cầu Cổ Chiên, nối liền Trà Vinh và Bến Tre. Tôi đã nhiều lần đi từ Bến Tre qua Trà Vinh ...
    Được đăng 05:45 18-05-2015 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tản mạn tên đường ở Sài Gòn 1.Tôi đi lang thang trong khu dân cư Gia Hòa, quận 9, TPHCM. Nơi đây vừa đặt một loạt tên đường là tên các văn nghệ sĩ nổi tiếng ...
    Được đăng 07:45 01-03-2015 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 21. Xem nội dung khác »


Miên man núi lửa

đăng 08:10 18-06-2015 bởi Pham Hoai Nhan

1.

Ghềnh Đá Đĩa là một kiệt tác thiên nhiên ở huyện Tuy An, Phú Yên. Nơi đây những cột đá, tảng đá hình ngũ giác, lục giác xếp đều đặn khít vào nhau tựa như có bàn tay của một vị thần. Có những mảng nhìn như tổ ong, những mảng khác như chén đĩa xếp chồng lên nhau.




Truyền thuyết kể rằng đây là một kho báu hóa đá. Xưa kia có một người giáu có, vợ mất sớm, không con, nguyện đem của cải phân phát cho người nghèo. Kho báu ông đặt ở ven biển Tuy An. Khi nguyện vọng chưa thành thì ông đã quy tiên. Kẻ xấu tìm đến đây để chiếm kho báu thì tất cả đã biến thành đá như ta thấy hiện giờ.


Truyền thuyết khác lại kể rằng xưa kia vùng đất này có cảnh trí rất thơ mộng, đến nỗi các vị tiên từ thiên đình chọn nơi đây làm nơi đối ẩm đề thơ, ngâm vịnh. Họ đã chuyển chén vàng dĩa ngọc từ cung đình xuống để bày yến tiệc. Khi các vị tiên này ngao du nơi khác, bỏ quên số chén dĩa nói trên, lâu ngày hóa thành những cột đá để thành Ghềnh Đá Đĩa như ngày nay.




Các nhà địa chất thì giải thích rằng cách đây 50 - 60 triệu năm, dòng dung nham núi lửa phun trào, đến đây gặp nước biển lạnh đông lại thành đá, ứng lực phát sinh khi co rút tạo thành những khối ngũ giác, lục giác.


Có lẽ không cần đến truyền thuyết, giải thích về địa chất cũng đã đẹp như một huyền thoại rồi. Hãy tưởng tượng hàng chục triệu năm trước, dòng dung nham nóng bỏng cuồn cuộn chảy tới đây rồi sững lại đứng yên giữa trời biển bao la, đó đã là bức tranh tráng lệ.


2.

Dòng dung nham ấy không chỉ tuôn trào đến ven biển Phú Yên, nó còn tuôn chảy về phía Bắc đến Quảng Ngãi, về Tây Nam đến Đắk Lắk, về Tây Bắc đến Pleiku.


Từ Ghềnh Đá Đĩa, 150 km theo đường chim bay về hướng Tây Nam là các thác Dray Sáp, Gia Long, Trinh Nữ (trước thuộc Đắc Lắk, nay thuộc Đắk Nông). Nếu để ý, bạn sẽ thấy một số kết cấu đá ở đây giống như ở Ghềnh Đá Đĩa, chỉ có điều không nhiều và không tập trung như nơi đó mà thôi.



Các nhà địa chất đã xác định rằng những khối đá nơi đây cũng chính là dung nham núi lửa tạo thành như Ghềnh Đá Đĩa ở Phú Yên.



Dray Sap. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


3.

Lại 150 km theo đường chim bay từ Ghềnh Đá Đĩa về hướng Tây Bắc là thành phố Pleiku, Các nhà địa chất đã xác định rằng quanh thành phố cao nguyên này là 15 ngọn núi lửa cổ, trong đó quen thuộc nhất là ngọn núi Hàm Rồng.


Núi Hàm Rồng nhìn từ cao ốc Hoàng Anh - Gia Lai. Ảnh Phạm Hoài Nhân


Đứng từ tầng cao tòa nhà Hoàng Anh - Gia Lai ở ngay thành phố, ta có thể nhìn thấy ngọn núi này. Bạn hãy nhìn sườn bên phải của ngọn núi trong hình, theo các nhà khoa học miệng núi là một chiếc phễu và dòng dung nham đã chảy theo triền phải này xuống dưới...


Hàm Rồng - DraySap - Ghềnh Đá Đĩa tạo thành một tam giác đều mà mỗi cạnh khoảng 150 km.


4.

Bây giờ lại nhớ tới quê hương mình, Xuân Lộc - Long Khánh. Từ hồi nhỏ, đã nghe mọi người nói rằng ngọn núi Chứa Chan ở Xuân Lộc là núi lửa đã tắt.


Núi Chứa Chan. Ảnh: Wikipedia


Theo Địa chí Đồng Nai, 1/3 diện tích của tỉnh là địa hình núi lửa, trong đó vùng Xuân Lộc là đồng bằng núi lửa chiếm diện tích lớn nhất.


Ở đây không có những khối đá như Ghềnh Đá Đĩa, nhưng có những thứ sản phẩm núi lửa rất gần gũi thân quen với người dân Xuân Lộc - Long Khánh. Đó là đá ong và đất đỏ ba-zan.


Không tạo nên thắng cảnh kỳ vĩ, nhưng đá ong và nhất là đất đỏ đã là thứ đặc trưng của Xuân Lộc - Long Khánh, là nỗi nhớ của người xa xứ. Ai đã từng sống ở đó sẽ không thể nào quên được những con đường đất đỏ, bụi đỏ khi nắng và bùn đỏ khi mưa.


Ừ, hóa ra đời mình cũng gắn bó với núi lửa ghê đó chứ!


Phạm Hoài Nhân

Cù Mông, Phú Yên

đăng 16:50 01-06-2015 bởi Pham Hoai Nhan

Tiếng ai than khóc nỉ non
Là vợ chú lính trèo hòn Cù Mông
Công tôi gánh gánh gồng gồng
Trở ra theo chồng bảy bị còn ba

Không đi thì sợ cái nghèo
Có đi thì sợ cái đèo Cù Mông
Không đi thì nhắc thì trông
Có đi thì sợ Cù Mông, Xuân Đài

Cá ngon là cá Cù Mông
Gạo ngon là gạo ở đồng Phú Dương

Đèo Cù Mông. Ảnh: Vũ Vũ, thethaovietnam.vn

Cù Mông là tên dãy núi, tên đèo, tên đầm. Đây là điểm đầu tiên người Việt đến Phú Yên trên bước đường Nam tiến. Cù Mông là dãy núi thuộc Trường Sơn chạy ra biển ngăn cách giữa hai tỉnh Bình Định và Phú Yên. Đèo Cù Mông nằm dài theo quốc lộ 1A quanh co uốn khúc trên mười cây số, phía Tây và Nam núi trùng điệp, trên núi có nhiều đỉnh cao, cây cối xanh tươi bốn mùa như hòn Ông cao 529m, hòn Cả 657m, hòn Chóp Vung 676m, hòn Khô 704m. Vùng núi non này là nơi phát nguyên của hai con sông Bà Nam chảy ra đầm Cù Mông và sông Tam Giang - còn gọi là Sông Cái – chảy ra vũng Chào trong vịnh Xuân Đài. Lưu vực sông tuy nhỏ nhưng độ dốc khá lớn và thay đổi theo mùa. Vũng Cù Mông được che kín bởi bán đảo VĨnh Cửu dài khoảng 15km chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Vũng chỉ có một cửa nhỏ ở Hòn Tôm nằm giữa Vĩnh Cửu Lợi và Từ Nham thuộc xã Xuân Thịnh, khi nước thủy triều lên, cửa sâu chừng 5m. Bờ vũng có nhiều hang hốc là nơi các giống cá sinh sản và phát triển. Cá ở đầm Cù Mông ngon, hợp khẩu vị nhiều người và du khách. Còn gạo ngon ở đây là gạo ở đồng Phú Dương. Phú Dương là đồng ruộng dưới chân dãy núi Cù Mông thuộc xã Xuân Thịnh cách thị trấn Sông Cầu 12km về phía Bắc. Là một xã đồng bằng nhưng có nhiều thôn bán đảo. Hai thôn Vịnh Hòa và Từ Nham sống bằng nghề biển và nuôi tôm hùm, còn thôn Hòa Hiệp và Phú Dương sống bằng nghề nông, ngày xưa đất này màu mỡ, hạt lúa no tròn đã nuôi sống người dân buổi đầu theo bước chân của vị Thành hoàng mở đất : Lương Văn Chánh (1)

Cù Mông dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1460-1497) là vùng đất thuộc Hoa Anh ( Việt Sử xứ Đàng Trong – Phan Khoang). Từ năm 1471 đến năm 1578, vùng đất Cù Mông đến Đèo Cả là đất « Kimi » để cho tự do phát triển. Một sự cộng đồng lỏng lẻo Chiêm Việt tự hình thành. Mãi đến năm 1578, Lương Văn Chánh đưa lưu dân, là những người không sản nghiệp đến đất Cù Mông, Bà Đài ( Xuân Đài ngày nay) để khẩn hoang và được sự giúp đỡ nên vùng đất này phát triển dần dần. Nhưng Cù Mông cũng là vùng đất chịu nhiều gian khổ qua bao cuộc chiến tranh từ thời Tây Sơn, Nguyễn Ánh đến ngày thống nhất đất nước.

Dưới chân núi Cù Mông, thời Tây Sơn có ông Võ Văn Cao, học giỏi thông thạo Kinh Dịch, tính người nghiêm nghị, cương trực, không ưa văn chương phù phiếm. Năm 1773 ( Quý Tỵ) đã cùng với Nguyễn Lữ ( em ruột Nguyễn Huệ) và Nguyễn Văn Lộc đi khắp Phú Yên vào đến Diên Khánh ( tỉnh Khánh Hòa) và Bình Thuận để theo dõi tình hình. Ông liên lạc với vua Thủy Xá (2) và vận động thân hào, nhân sĩ địa phương hưởng ứng cuộc Nam chinh của Tây Sơn.

Đèo Cù Mông. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Năm Kỷ Mùi ( 1799), Nguyễn Ánh đã cho sửa đường sá từ đỉnh Cù Mông trở vào. Về sau khi lên ngôi, năm 1802, Gia Long cho đặt các trạm Bình Phú để giao dịch trên đỉnh Cù Mông giữa tỉnh Bình Định và Phú Yên. Cùng năm ấy, Gia Long cho xây miếu Biểu Trung ở hòn Nần trong đầm Cù Mông thuộc làng Vĩnh Cửu tổng Xuân Bình thờ Thiếu Quận Công Mai Đức Nghị và 526 tử sĩ trong cuộc chiến. Lúc đầu miếu có tên là ‘‘ Cù Mông Công Thần Miếu ’’, đến năm 1851 ( Tân Hợi) vua Tự Đức đổi tên là ‘‘ Miếu Biểu Trung’’. Trước thời Thành Thái cúng tế một năm hai lần vào dịp cúng xuân và thu. Từ thời Thành Thái đến năm 1933 chỉ tế một lần vào dịp xuân kỳ. Trong những năm khói lửa chiến tranh, vùng đất dưới chân đèo Cù Mông thuộc xã Xuân Lộc đã hy sinh hơn 300 người con cho quê hương thanh bình phát triển. Toàn xã hiện nay có một trường phổ thông trung học, bốn trường tiểu học, một phân viện y tế và khu văn hóa. Chợ Xuân Lộc được xây dựng từ năm 1962 đến nay được sửa chữa khang trang. Xuân Lộc đi lên với những khu rừng bạt ngàn xanh tốt, những cây thực phẩm chủ yếu trồng ở Diêm Trường với diện tích 25 ha (1998), với những vườn dừa, vườn đào lộn hột, những đàn bò và đồng cỏ ở Tây Chánh Lộc , Thạch Khê ... Đầm Cù Mông xây dựng làng tôm nuôi trồng thủy sản đến vài trăm hecta ở Long Thạnh. Cù Mông ngày nay không còn tiếng ai than khóc nỉ non và cảnh gánh gánh, gồng gồng nữa.

Vùng đất có diện tích 8.489 ha, dân số 13.292 người ( 1999), có núi Chóp Vung cao 676m giáp ranh với Bình Định. Vùng này có mỏ cao lanh trữ lượng nhỏ, giá trị công nghiệp thấp và mỏ cát Diêm trường có khả năng đáp ứng cho nhu cầu xây dựng vì trữ lượng tương đối lớn. Xuân Lộc còn có sông Bà Bông dài 9,2km và Bà Nam chiều dài 9,4 km đổ ra biển với diện tích lưu vực chừng 28km2 có đập Long Thành và thác Thạch Khê cảnh quan đẹp có tiềm năng du lịch. Xuân Lộc còn có di chỉ khảo cổ Cồn Đình, thuộc thôn Diêm Trường mà Bảo tàng Phú Yên phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam khai quật năm 1997 trên diện tích 80m2 ở độ sâu 1,1m, phát hiện 168 hiện vật, có 51 hòn ghè bằng đá cuội tròn nhẵn, 25 hòn kê có vết lõm trên bề mặt dấu vết ghè đập...

(1) Ông là người vùng Thanh Nghệ, sinh vào khoảng 1540 và mất năm 1611. Lăng miếu mộ ở làng Phụng Tường, xã Hòa Trị, Tuy Hòa được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia.

(2) Nước Thủy Xá ở phía Nam nước Chiêm Thành cũ ( Phương Đình dư địa chí)

Bài: Nguyễn Đình Chúc
Trích từ sách Tìm hiểu địa danh qua tục ngữ, ca dao Phú Yên
Ảnh: Phạm Hoài Nhân (tổng hợp)

Sông Cái - Phú Yên

đăng 07:29 01-06-2015 bởi Pham Hoai Nhan

Nước sông Ba chảy ra sông Cái
Anh có vợ rồi de gái làm chi !
Anh về rước vợ mau đi
Kẻo chỉ trở dạ e khi bị đòn.

Em ra sông Cái em nhào
Nghĩa nhơn để lại biết vào tay ai !

Sông Cái còn gọi là sông Kỳ Lộ - sông La Hiên ở thượng nguồn, con sông lớn thứ hai trong tỉnh, phát nguyên từ dãy núi cao trên 1000m ở phía Đông Nam tỉnh Gia Lai và Tây Nam tỉnh Bình Định. Đoạn ở ngoài tỉnh, sông chảy theo hướng gần như Bắc Nam qua vùng núi cao hiểm trở, lòng sông hẹp, độ dốc 3%. Ở đoạn này sông nhận thêm nước của các nhánh chính Tiovan, Cà Tơn, Trà Bương ở bên phải và nước Khe Cách, suối Gấm, suối Cát, suối Mun, suối Đập,..v.v..ở bên trái. Từ Xuân Quang đến biển, sông chảy theo hướng Tây Đông, song cũng có đoạn ngắn chuyển hướng khác nhau. Dòng sông từ Hà Bằng đến Mỹ Long chuyển hướng về Đông Nam. Từ quốc lộ 1A, dòng sông chuyển hướng Đông Bắc và chia làm hai nhánh. Một nhánh chảy ra vịnh Xuân Đài, còn nhánh chính khi đến làng Ngân sơn chia làm hai đưa nước vào đầm Ô Loan và nhánh kia qua làng Hội Phú lại chia hai nhánh nữa, đổ ra biển bằng cửa Bình Ba qua vịnh Xuân Đài.

Sông Cái ( theo bản đồ của Google map)


Sông Cái có chiều dài 102Km, nhưng chỉ chảy trong vùng đất của tỉnh vào khoảng 76km. Diện tích lưu vực sông rộng 1950km2, phần chảy trong tỉnh chỉ rộng 1560km2. Hằng năm lượng nước đổ ra biển khoảng một tỷ rưỡi mét khối. Trữ lượng điện năng khoảng 160.000KW. Trên sông đã có các công trình thủy lợi, nhiều đập chắn nước đưa nước vào ruộng như đập Hòn Cao, đập Triêm Đức, đập Cây Vừng, hồ Phú Hòa và theo qui hoạch còn nhiều vị trí khác có thể xây dựng các công trình thủy lợi khác. Lòng sông Cái rộng, mùa nước lớn ghe thuyền có thể đến Cà Lố ( Kỳ Lộ ngày nay).

Hai bên bờ sông ruộng đồng xanh tốt nhờ phù sa bồi đắp lâu đời. Núi Trường Sơn chạy sát biển, nên vùng Đồng Xuân còn nhiều con suối thêm nước cho dòng sông như suối Cà Tơn, suối Trà Bương, suối Cay, suối Đông Cô ( Tà Hô) bên hữu ngạn và suối Hải Tim bên tả ngạn, lóng sông mở rộng độ dốc giảm chỉ còn một phần ngàn. Sông Cái khi ngang qua nơi nào thì được lấy tên vùng đó gắn cho sông như Kỳ Lộ, cây Dừa, La Hai.v.v..Từ đầu thượng nguồn đến xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân sông Cái còn có tên là sông La Hiên vì sông chảy dưới chân núi này – Núi La Hiên cao hơn 1318m, quanh năm mây che đầu núi, là căn cứ và sào huyệt của Võ Trứ, Nguyễn Hào Sự và phong trào Cần Vương, Cách mạng.

Từ Phú Giang đến cầu sắt La Hai, sông Cái có tên là sông Kỳ Lộ, hai bên bờ sông là núi cao, lòng sông hẹp có nhiều ghềnh. Mùa nước lũ ghe có thể đi lại được. Đây là đoạn sông mà trước kia dân chúng dùng thuyền độc mộc để đi vào các buôn của người dân tộc ở vùng này.

Sông Kỳ Lộ đi qua thung lũng Xuân Phước, Xuân Quang để lại phù sa hai bên tạo ra một màu xanh bát ngát của mía, lúa, bắp...Vùng đất có nhiều làng, dân cư qui tụ đông đúc, sông nước hữu tình mà câu ca dao còn ghi nhớ :

Sông Kỳ Lộ vừa sâu vừa hẹp
Nước Kỳ Lộ vừa mát vừa trong
Thuyền em bơi giữa dòng sông
Tìm anh cho thỏa tấm lòng nhớ thương. 

 Sông Kỳ Lộ khi ngang qua làng Triêm Đức thì lòng sông mở rộng ra, thoáng đãng hơn, con nước lững lờ. Ở vùng này có nhiều bến đò và những chuyến đò ngang, dân thường qua lại, trong số ấy có bến Bà Bang, câu hò còn vang vọng :

Chèo đò đến bến Bà Bang
Đến đền Bà Sứ em than đôi lời! 

Đến thị trấn La Hai, sông Cái còn có phụ lưu nữa là sông Con, phát nguyên từ Vân Canh chảy theo hướng Bắc Nam, men theo tỉnh lộ 6 và dọc theo đường sắt. Hai bên dòng sông đất đai màu mỡ, đồng lúa tốt tươi, gái trai tình tứ nhất vùng :

Nhất gái La Hai
Nhì trai Phường Lụa

Đua thuyền trên Sông Cái ( ảnh Lê Minh)


Sông Cái ích lợi nhiều không những cho nông ngư nghiệp của địa phương mà còn hỗ trợ cho việc giao thông giữa vùng cao và hạ lưu để trao đổi hàng hóa, lương thực, thực phẩm. Không những thế, vào mùa nước lớn, những bè gỗ tre nứa và củi đốt từ rừng sâu cũng được đưa về với vùng hạ lưu sông Cái.

Nguyễn Đình Chúc

Tản mạn về tên gọi Cổ Chiên

đăng 05:45 18-05-2015 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày hôm qua, 16/05/2015, đã thông xe cầu Cổ Chiên, nối liền Trà Vinh và Bến Tre. Tôi đã nhiều lần đi từ Bến Tre qua Trà Vinh trên chuyến phà Cổ Chiên, nên đọc thông tin này lại nhớ đến những phút giây bồng bềnh trên sông nước Cổ Chiên.


Trên những chuyến phà này


Bước ra ngắm nhìn sông nước


Có chiếc ghe chở lu trên dòng Cổ Chiên


Rồi cập bến Trà Vinh


Tại sao con sông, cửa sông (và bây giờ là chiếc cầu) có tên là Cổ Chiên nhỉ?


Có 3 giả thuyết thường được đưa ra để giải thích nguồn gốc tên Cổ Chiên:


1. Vào năm 1785, khi bị đại bại ở trận Rạch Gầm – Xoài Mút, tàn quân của Nguyễn Ánh phải dùng thuyền chạy trốn xuống phía Nam, đến dòng sông này bị thuyền của Tây Sơn đuổi theo sát quá, quan quân của Nguyễn Ánh cuống quít, sợ hãi đã làm rơi cả trống và chiêng lệnh xuống sông (theo từ Hán - Việt, Cổ là cái trống, Chinh là chiêng). Từ sự kiện này, nhân dân địa phương gọi sông Cổ Chiên (do đọc trại từ "Cổ Chinh" mà ra).


2. Ngày xưa trên dòng sông này thường hiện lên những hình thù quái dị nên người dân bèn lập đàn cầu siêu. Từ đó về sau không còn thấy những hình thù kỳ lạ đó nữa. Nhưng lạ thay, cũng từ ấy người dân lại nghe văng vẳng từ đáy sông có tiếng chiêng trống. Từ đó, người ta gọi là sông Cổ Chiên.

3. Sông này có tên gọi ban đầu là Cochin do các thương nhân Bồ Đào Nha đặt vào thế kỷ XV. Cochin là một thành phố nhỏ trên đất liền của Ấn Độ, quay mặt ra hòn đảo Goa, thuộc địa của Bồ Đào Nha hồi thế kỷ XV. Sau này, người Việt đọc trại thành Cổ Chiên.


Cá nhân tôi không tin chút nào vào thuyết thứ 1 và 2. Khó lòng tên một con sông lớn ở vùng đất Chân Lạp xưa kia lại có tên gốc Hán Việt.


Anh Khiếu văn Chí có vẻ đồng tình với thuyết thứ 3, khi giải thích: Ngày xưa, nước ta là nước Giao Chỉ, dân Malay đọc chữ này thành Kuchi, người Bồ Đào Nha phiên âm sao đó thành Cochin (Chắc là nhầm lẫn với thành phố Cochin bên Ấn Độ). Sau này, từ "Cochinchine" được dùng để chỉ vùng Nam bộ ngày nay (Thêm cái đuôi "chine" thành "Cochin gần China" để khỏi nhầm với Cochin của Ấn Độ). Tên sông Cổ Chiên là từ chữ Cochin mà ra. 


Theo tôi, thuyết này chưa thuyết phục lắm, nhưng vẫn đáng tin cậy hơn thuyết 1 và 2.


Bùi Đức Tịnh trong Lược khảo nguồn gốc địa danh Nam bộ có nhắc đến tên Cổ Chiên. Theo ông, dựa theo ghi chép trên các bản đồ (của người Pháp) ghi tên sông này là Cochin khiến người ta không biết tên gốc ban đầu là gì, Cổ Chiên hay Cỏ Chiên? Theo ông, có lẽ đúng ra là Cỏ Chiên. Nhưng Bùi Đức Tịnh không giải thích được do đâu có tên gọi Cỏ Chiên.


GS.TS Lê Trung Hoa trong Địa danh học Việt Nam thì khẳng định rằng Cổ Chiên là địa danh có nguồn gốc từ tiếng Khmer, và tên cửa sông Cổ Chiên trong tiếng Khmer là Păm Prêk Alon Kon. Păm là vàm, ngã ba sông rạch, prêk là rạch, Alon Kon là danh từ riêng. Tên gốc này hẳn là đúng rồi, nhưng điều khiến tôi cảm thấy băn khoăn khó hiểu là: Alon Kon sao lại có thể chuyển thành Cổ Chiên được nhỉ?


Một vài ý kiến khác cho rằng chữ Cổ trong Cổ Chiên là từ tiếng Khmer Koh nghĩa là cù lao. Cổ Chiên  cù lao Chiên. Nhưng cũng chỉ thế thôi, không chắc lắm, và cũng không nói được cù lao Chiên là cù lao nào!


Tóm lại, tên gọi Cổ Chiên do đâu mà ra vẫn còn là một câu hỏi chưa có câu trả lời dứt khoát. Không sao, nghĩ đấy là chiêng trống để nhớ một thời lịch sử khi đi trên sông cũng được, nghĩ về một thời xa xưa phương Tây đặt chân lên vùng đất này cũng tốt, mà nghĩ đến những người dân Khmer sinh sống nơi đây từ bao đời cũng hay....


Phạm Hoài Nhân

Tản mạn tên đường ở Sài Gòn

đăng 07:45 01-03-2015 bởi Pham Hoai Nhan

1.

Tôi đi lang thang trong khu dân cư Gia Hòa, quận 9, TPHCM. Nơi đây vừa đặt một loạt tên đường là tên các văn nghệ sĩ nổi tiếng. Đường Thanh Nga, đường Út Trà Ôn, đường Diệp Minh Tuyền, đường Xuân Quỳnh, đường Huy Cận, đường Trịnh Công Sơn...



Trước đây các con đường này được đánh số. Kể ra đánh số thì dễ tìm hơn, vì chẳng hạn mình sẽ biết kế con đường số 5 là đường số 6, còn bây giờ mình sẽ không biết Thanh Nga ở kế bên Út Trà Ôn hay Xuân Quỳnh. Nhưng tên đường là tên người thì thú vị hơn nhiều (nhất là tên các văn nghệ sĩ rất quen thuộc và gần gũi với mình), các tên đường này sẽ được cập nhật vào bản đồ, dần trở nên quen thuộc, cũng dễ tìm thôi mà!


Nghe nói đường số 9 dự kiến được đặt tên là đường Bùi Giáng nhưng cuối cùng được thay bằng tên Nguyễn Đình Thi. Không hiểu vì lý do gì, có người nói là tại ông mất chưa tới 20 năm (nhưng Trịnh Công Sơn mất cũng đâu đã tới 20 năm), có người nói là tại ông... điên (hic, nhưng ông điên rực rỡ kia mà).


Quả thật, nếu đặt tên Bùi Giáng cạnh tên văn nghệ sĩ trong Nam như Thanh Nga, Út Trà Ôn, Trịnh Công Sơn hay thậm chí văn nghệ sĩ ngoài Bắc như Xuân Quỳnh, Huy Cận... thì thấy vẫn hợp hơn Nguyễn Đình Thi! Nhưng tên ông đã không được chọn, thôi đành vậy!


À, mà có đường Xuân Quỳnh sao không có đường Lưu Quang Vũ nhỉ? Ở đó vẫn còn những con đường đang đánh số mà.


2.

Tôi đi lang thang ở Phú Mỹ Hưng. Nơi đây có những tên đường lạ. Rất nhiều tên người nước ngoài. Có một bảng tên đường như thế này:


Ảnh: NS Tuấn Khanh


Tôn Dật Tiên, hay Tôn Văn, là nhà cách mạng Trung hoa Dân quốc thì biết rồi. Nhưng Morison là ai?


Trước hết, e rằng Morison là sai, mà phải là Morrison (2 chữ r) mới đúng.


Thứ hai. nếu đúng Morrison thì là Morrison nào? Wikipedia cho một đống ông Morrison: Rober Morrison là một nhà truyền giáo người Anh, người đầu tiên dịch Kinh thánh sang tiếng Hoa, Jim Morrison là một ca sĩ người Mỹ nổi tiếng, John Morrison là tên của khoảng vài chục ông từ chính trị gia đến vận động viên thể thao, còn Toni Morrison là một nhà văn nữ Mỹ đoạt giải Nobel văn học năm 1993... Vậy tên đường ở đây tôn vinh Morrison nào?


E rằng không phải vị Morrison nổi tiếng nào trong các vị nêu trên, mà lại là một Morrison khác. Một ông Morrison không được nhắc tên trên Wiki. Đó là Norman Morrison (1933 - 1965), người tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam ngày 2/11/1965. Nhân vật được Tố Hữu nhắc đến trong bài thơ "Emily con ơi".


Việc chọn ai để đặt tên đường, có xứng đáng hay không là chuyện của chính quyền, không bàn đến. Nhưng một cái tên dễ trùng như Morrison thì sao không thêm một chút như: Norman Morrison, hay đơn giản là N. Morrison cũng được, để người ta còn biết mình ghi tên ai chứ!


Và quan trọng nhất là đừng viết sai chính tả. Morrison mà ghi thành Morison thì là bôi bác chớ đâu phải tôn vinh!


Phạm Hoài Nhân

Địa danh Cù lao Tân Triều

đăng 01:19 26-02-2015 bởi Pham Hoai Nhan

Cù lao Tân Triều, huyện Vĩnh Cửu , Biên Hòa tên gọi này đã từng bị hiểu lầm là “triều đình mới”, “kinh đô mới” do Nguyễn Ánh thiết lập ở Trấn Biên, Biên Hòa để đối đầu với nhà Tây Sơn chẳng hạn như tác giả Mathilde Tuyết Trần qua bài viết Đi tìm dấu vết Bá Đa Lộc (Mgr Pigneau de Béhaine)… 

Trong làng bưởi Tân Triều. Ảnh: PHN


Không phải sự hiểu lầm chỉ có ở các tác giả Việt Nam nhưng thật ra ngay từ năm 1863 Aubaret dịch giả sách Gia Định thành thông chí ra tiếng Pháp, có lẽ là người đầu tiên lầm lẫn khi cho Tân Triều là “lâu đài, triều đình mới”. Nguyên nhân lầm lẫn này có 2 lý do: 

1/ Giám mục P. Béhaine chạy chốn Tây Sơn đã về vùng cù lao Tân Triều để lập chủng viện và sau đó Nguyễn Ánh đã từng tới lui trao đổi, bàn quốc sự với Giám mục ở Tân Triều, do đó người ta lầm tưởng Tân Triều là triều đình mới. Linh mục Louvet, người viết tiểu sử Đức giám mục Pigneau, cho biết rằng: “những lúc không bận hành quân xa, Nguyễn Phúc Ánh có nhiều cuộc gặp gỡ với ĐGM Pigneau. Lúc thì ông mời ngài tới nơi mình ở tại Biên Hòa, lúc thì ông với 2 hay 3 vị quan tới thăm ngài ở Tân Triều...”

2/ Do tên gọi âm Hán Việt và chữ viết La tinh là “Tân triều”: Tân 新 nghĩa Hán là mới và triều có 2 nghĩa: a/ Triều 朝: Nơi vua tôi bàn chính sự (ngày xưa). Như: triều đình 朝廷 và b/ 潮 triều: Con nước, thủy triều. Vì “triều” là đồng âm khác nghĩa nên dễ ngộ nhận là “triều đình”. Thực ra trong thư tịch chữ Hán đã viết cù lao Tân Triều là 新潮, triều 潮 (có bộ thủy) chứ không phải là 朝 như Trịnh Hoài Đức chép trong Gia Định thành thông chí: “… năm Giáp Tý (1744), niên hiệu Cảnh Hưng thứ 4 vì có lũ lớn, bị xói lở chia làm 2, phía đông thành cù lao Ngô phía tây thành cù lao Tân Triều, ở giữa có một sông nhỏ vừa cạn vừa hẹp chia ranh giới”Như vậy, chính xác tên gọi Tân Triều chỉ hình thành sau năm 1744 do trận lũ lụt chứ không phải là ra đời sau khi Nguyễn Ánh có mặt ở Tân Triều cùng với Bá Đa Lộc. Danh xưng “tân triều (tân trào)” chỉ triều đình, kinh đô mới của Nguyễn Ánh thực ra là ở Sài Gòn, thành Gia Định. Năm 1788, Nguyễn Ánh đánh chiếm được Sài Gòn, xây dựng thành quách để chống lại Tây Sơn.

Tóm lại, địa danh cù lao Tân Triều không thể được hiểu là triều đình mới của Nguyễn Ánh như một số tác giả đã hiểu lầm nhưng chỉ là tên gọi chỉ một cù lao mới được tạo ra sau trận lụt lớn năm 1744 từ 1 cù lao ban đầu là cù lao Ngô.

Đinh văn Tuấn

Tên phường - xã Việt Nam bắt đầu bằng chữ gì nhiều nhất?

đăng 02:08 25-02-2015 bởi Pham Hoai Nhan

Theo số liệu thống kê cuối năm 2006, Việt Nam có 10.899 đơn vị hành chánh cấp xã, phường, thị trấn. Từ đó đến nay có một số thay đổi nhỏ như thành lập thêm, sát nhập hoặc nâng cấp (thị trấn thành thị xã)... các đơn vị hành chánh này, tuy nhiên về tổng thể con số gần 11.000 đơn vị hành chánh cấp xã, phường, thị trấn vẫn là chính xác.


Một xả ở làng quê Nam bộ. Ảnh: PHN


Tên thị trấn - phường - xã Việt Nam bắt đầu bằng chữ gì nhiều nhất?


Những chữ bắt đầu tên phường - xã được dùng nhiều nhất là:



Chữ đầu

Số lượng

1

Tân

547

2

Phú

264

3

An

257

4

Bình

245

5

Vĩnh

232

6

Xuân

219

7

Yên

199

8

Thanh

196

9

Hòa

188

10

Mỹ

175


Nếu so sánh với những chữ đầu tên được dùng nhiều nhất trong tên quận - huyện (xem tại đây) ta thấy có sự tương đồng:

  • Tên quận huyện: Tân - Yên - Phú - Châu - Bình
  • Tên phường - xã: Tân - Phú - An - Bình - Vĩnh - Xuân - Yên

Trong tên quận huyện, trừ sự có mặt của Châu (do sự xuất hiện bất thường của Châu Thành) thì Tân - Phú - Bình - Yên vẫn là những chữ đầu tên được ưa chuộng nhất.


Sự xuất hiện thường xuyên của Phú - Bình - Yên cho thấy ước vọng của cha ông ta khi đặt tên địa phương của mình là mong được giàu có, bình an.


Còn Tân? Dễ thấy là mỗi khi tạo lập một làng xã mới thì cha ông tặng ngay cho nó một chữ mới (Tân) ở đầu tên. Do đó tên phường - xã bắt đầu bằng chũ Tân có số lượng vượt trội so với những chữ khác. Tân Thành (mới thành hình) là tên của 36 xã phường, Tân Lập (mới lập nên) là tên của 29 xã phường.


Một xã ở làng quê Bắc bộ. Ảnh: PHN


Có một dạng tên nữa cũng cần nhắc tới. Đó là tên bằng số. Nếu ở quận - huyện chỉ TPHCM có quận dùng tên bằng số (quận 1, quận 2...) thì ở cấp phường - xã rất nhiều nơi đặt tên phường bằng số. Nếu gọi tên chúng bằng Phường n (như Phường 1, Phường 2, Phường 3...) thì ta sẽ có số đơn vị phường xã có tên bắt đầu bằng chữ... Phường là 297! Nhiều thứ nhì, chỉ thua tên bắt đầu bằng chữ Tân thôi!


Phạm Hoài Nhân

Tên quận - huyện Việt Nam bắt đầu bằng chữ gì nhiều nhất?

đăng 17:34 24-02-2015 bởi Pham Hoai Nhan

Nếu xét theo tên tỉnh thì chữ Quảng được dùng làm chữ đầu tên tỉnh nhiều nhất. Ta có 5 tỉnh có tên bắt đầu bằng Quảng:


Quảng Ninh

Quảng Bình

Quảng Trị

Quảng Nam

Quảng Ngãi


(dù có đúng 5 tỉnh bắt đầu bằng chữ Quảng nhưng Ngũ Quảng lại không phải 5 tỉnh như thế này à nghen!)



Kế đến là chữ Hà và Bình, Bắt đầu bằng chữ Hà có 4 tỉnh - thành:


Hà Nội

Hà Nam

Hà Giang

Hà Tĩnh


(nếu Hà Tây không sát nhập với Hà Nội thì ta có tói 5 tỉnh)


Bắt đầu bằng chữ Bình có 4 tỉnh thành:


Bình Định

Bình Dương

Bình Phước

Bình Thuận


Giờ xin đố bạn, nếu xét theo đơn vị cấp quận - huyện - thị xã - thị trấn thì tên bắt đầu bằng chữ gì nhiều nhất?


Các chữ bắt đầu tên quận huyện được dùng nhiều là:


Bình: có 13 quận - huyện có tên bắt đầu bằng chữ Bình, như: Bình Chánh, Bình Thạnh, Bình Tân (TPHCM), Bình Đại (Bến Tre), Bình Lục (Hà Nam)...


Châu: có 13 quận - huyện có tên bắt đầu bằng chữ Châu, gồm Châu Đức (Bà Rịa - Vũng Tàu), Châu Đốc, Châu Phú (An Giang) và đến... 10 huyện Châu Thành!


Phú: có 14 quận - huyện có tên bắt đầu bằng chữ Phú, như: Phú Nhuận (TPHCM), Phú Quốc (Kiên Giang), Phú Quý (Bình Thuận)...


Chữ xuất hiện đến 16 lần ở đầu tên quận - huyện là Yên. Liệt kê ra như sau:


1. Yên Thủy (Hoà Bình)

2. Yên Thế (Bắc Giang)

3. Yên Thành (Nghệ An)

4. Yên Sơn (Tuyên Quang)

5. Yên Phong (Bắc Ninh)

6. Yên Mỹ (Hưng Yên)

7. Yên Mô (Ninh Bình)

8. Yên Minh (Hà Giang)

9. Yên Lập (Phú Thọ)

10. Yên Lạc (Vĩnh Phúc)

11. Yên Khánh (Ninh Bình)

12. Yên Hưng (Quảng Ninh)

13. Yên Dũng (Bắc Giang)

14. Yên Định (Thanh Hoá)

15. Yên Châu (Sơn La)

16. Yên Bình (Yên Bái)
(Bảng liệt kê của anh Khiếu văn Chí)


Nhưng vẫn còn thua một chữ khác! Chữ bắt đầu tên quận huyện được dùng nhiều nhất là chữ Tân.


Có 18 quận - huyện có tên bắt đầu bằng chữ Tân, đó là:


1. Tân Phú (TPHCM)

2, Tân Bình (TPHCM)

3. Tân An (Long An)

4. Tân Biên (Tây Ninh)

5. Tân Châu (An Giang)

6. Tân Châu (Tây Ninh)

7. Tân Hiệp (Hậu Giang)

8. Tân Hiệp (Kiên Giang)

9. Tân Hồng (Đồng Tháp)

10. Tân Hưng (Long An)

11. Tân Kỳ (Nghệ An)

12. Tân Lạc (Hòa Bình)

13. Tân Phú (Đồng Nai)

14. Tân Phước (Tiền Giang)

15. Tân Thạnh (Long An)

16. Tân Thành (Bà Rịa - Vũng Tàu)

17. Tân Trụ (Long An)

18. Tân Uyên (Bình Dương)


Giờ đố tiếp nhé? Nếu xét theo đơn vị cấp phường - xã thì tên bắt đầu bằng chữ gì nhiều nhất? (Bài tới sẽ trả lòi!)


Phạm Hoài Nhân

Cái Mơn là... cái gì?

đăng 18:06 18-01-2015 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 18:13 18-01-2015 ]

Nhắc đến Cái Mơn


Những người sành ăn sẽ nghĩ ngay tới sầu riêng Cái Mơn, loại sầu riêng ngon nổi tiếng.



Những người yêu ca hát sẽ nghĩ ngay tới điệu Lý Cái Mơn, điệu dân ca da diết thân quen:




Những người mộ đạo công giáo sẽ nghĩ ngay tới nhà thờ Cái Mơn, một trong những nhà thờ xưa nhất và lớn nhất ở Nam bộ.



Cái Mơn nổi tiếng như vậy đó, nhưng...


Cái Mơn ở đâu?


Tìm hết các đơn vị hành chính ở Việt Nam (huyện, xã, phường, khóm, ấp...) sẽ không thấy tên Cái Mơn đâu cả! Vậy Cái Mơn ở đâu?


Vùng đất Cái Mơn bây giờ tương ứng với xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.


Đơn vị hành chính nhà nước thì không có tên Cái Mơn, nhưng về công giáo thì lại có đấy. Giáo hạt Cái Mơn, thuộc giáo phận Vĩnh Long là một vùng công giáo lớn mạnh ở đồng bằng sông Cửu Long. (Lưu ý là về mặt nhà nước thì không có tên Cái Mơn, và xét về vị trí địa lý thì vùng đất này thuộc tỉnh Bến Tre, còn xét về công giáo thì Cái Mơn là một giáo hạt - cấp lớn hơn giáo xứ - và lại thuộc giáo phận Vĩnh Long).


Xét về địa danh thì có con rạch Cái Mơn. Huyện Chợ Lách nằm giữa 2 con sông Hàm Luông và Cổ Chiên, rạch Cái Mơn nối liền 2 con sông này. Có 2 cây cầu bắc qua rạch Cái Mơn, là cầu Cái Mơn nhỏ  cầu Cái Mơn lớn.


Bên rạch Cái Mơn


Cái Mơn là cái gì?


Theo khảo cứu của nhà văn Sơn Nam, xưa kia hai bên bờ rạch Cái Mơn cây trái sum suê nên có rất nhiều ong mật. Tiếng Khmer ong mật là kh'mân, người Việt đọc trại thành Cái Mơn. Cũng có thể chữ Mơn  kh'mân, còn Cái là chỉ con rạch lớn.


Một giả thuyết khác cho rằng: Cái Mơn do tiếng Pháp đọc trại ra. Caiman là con Sấu mõm dài. Điều này rất có lý vì xưa là nơi có nhiều cá, nhiều cá thì có nhiều cá sấu. Lập luận này cho rằng Cái Mơn xuất xứ từ tiếng Pháp, vì tên các nhà thờ, giáo xứ... do các cha xứ người Pháp đặt. Cá nhân tôi không tin lắm về điều này, và nghĩ rằng Cái Mơn có gốc từ tiếng Khmer như trên thì đúng hơn.


Phạm Hoài Nhân

Con phố ngắn nhất Hà Nội

đăng 07:56 06-11-2014 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 07:48 01-03-2015 ]

À, xin nói thêm một chút: ở Hà Nội thì phố tức là đường ở miền Nam, nhỏ hơn phố là ngõ (trong Nam gọi là hẽm), nhỏ hơn ngõ là ngách (trong Nam hình như không có danh từ tương đương!). Như vậy được mang tên phố ắt phải là con đường khá rộng lớn.


Người ta nói rằng con phố ngắn nhất Hà Nội chỉ dài 45 met, thế nhưng khi đến đấy tôi có cảm giác nó chỉ dài 30 met là cùng, nếu tính từ vạch qua đường đầu này đến vạch qua đường đầu kia.


Con phố ngắn nhất ấy mang cái tên không hề khiêm tốn như độ dài của nó: phố Hồ Hoàn Kiếm!


Phố Hồ Hoàn Kiếm bắt đầu từ phố Cầu Gỗ và đâm thẳng ra Bờ Hồ (phố Đinh Tiên Hoàng) như trên bản đồ Google này:(chú ý rằng vì con phố quá ngắn nên khi xem phải phóng to bản đồ ra mới thấy)



Đầu phố Hồ Hoàn Kiếm, phía Cầu Gỗ


Đầu phố Hồ Hoàn Kiếm, nhìn từ hướng Hồ Gươm (phố Đinh Tiên Hoàng). Ảnh: Báo Lao động.


Bạn hãy nhìn 2 vạch qua đường ở đầu và cuối phố để ước lượng chiều dài con phố


Mỗi bên chỉ có khoảng 5 - 6 căn nhà.


Phố Hồ Hoàn Kiếm có rất lâu, từ thời Pháp. Hồi đó nó có tên là Philharmonique (nghĩa là phố Hội Nhạc), vì hồi đó đây là nơi có rạp chiếu bóng, điểm ca nhạc giải trí của Hà Nội (chắc là chỗ nhà sách Bờ Hồ bây giờ). Tên phố Hồ Hoàn Kiếm được đặt sau 1945. Dân Hà Nội thì gọi đây là phố Hàng Chè vì nơi đây có nhiều chỗ bán chè (trà đấy, đừng có lộn là chè đậu của miền Nam nhá!). Bây giờ thì không chỉ là chè mà đủ thứ món ăn vặt vỉa hè: nộm bò khô (gỏi), phở cuốn, bánh bột lọc, nem chua rán...


Có một chi tiết lý thú là phố đã ngắn, ít nhà rồi, mà một bên thì địa chỉ lại lấy theo tên phố Đinh Tiên Hoàng (bên tay phải, bạn hãy nhìn ảnh ở đầu phố phía Cầu Gỗ) chứ không là phố Hồ Hoàn Kiếm, còn bên đối diện thì mỗi nhà có... 2 địa chỉ luôn như sau:



Như vậy, dọc theo mặt phố chỉ có khoảng 5 - 6 căn có địa chỉ là phố Hồ Hoàn Kiếm mà thôi!


Phố Hồ Hoàn Kiếm nằm trong khu phố cổ Hà Nội, lại đâm thẳng ra Hồ Gươm (bản thân tên nó đã là Hồ Gươm rồi!), dọc phố có nhiều chỗ ngồi ăn quà vặt nên quả thật là một trải nghiệm lý thú cho khách phương xa đến Hà Nội. Bạn có thể khoe với mọi người là mình đã đi từ đầu đến cuối một con phố ở Hà Nội trong vòng... 1 phút!

Phạm Hoài Nhân

1-10 of 21