Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Địa danh Phú Hữu xưa và nay Phú Hữu hiểu nôm na là vùng đất “giàu có”. Phú Hữu là một xã vùng sâu của huyện Long Phú, có 4 ấp: Phú Hữu, Phú Đa, Phú Thứ ...
    Được đăng 01:11, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Địa danh Lâm Kiết xưa và nay Lâm Kiết trước đây còn có tên là Thạnh Kiết thuộc huyện Châu Thành. Vị trí của xã nằm về phía Bắc của huyện Thạnh Trị, là cửa ngõ án ...
    Được đăng 01:09, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Địa danh Tuân Tức - Thạnh Trị Tuân Tức tên của một đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Địa danh Tuân Tức được hiểu theo từ gốc tiếng Khmer, có ...
    Được đăng 01:06, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Địa danh Long Đức xưa và nay Long Đức là một xã vùng sâu của huyện Long Phú, nằm dọc theo bờ kinh Saintard và sông Hậu. Có diện tích tự nhiên 2.851,56ha, chủ yếu ...
    Được đăng 05:39, 2 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Xóm “Lung Đệl” “Lung Đệl”- có lẽ là một địa danh “lạ hoắc, lạ huơ” với những lớp hậu sinh sau này như tôi nhưng với những “lão nông tri điền” thuộc hàng ...
    Được đăng 05:37, 2 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »

Địa danh Phú Hữu xưa và nay

đăng 01:11, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Phú Hữu hiểu nôm na là vùng đất “giàu có”. Phú Hữu là một xã vùng sâu của huyện Long Phú, có 4 ấp: Phú Hữu, Phú Đa, Phú Thứ và Phú Trường. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1.377,42ha, cách trung tâm huyện 9km, có kênh Saintard dài 6.200m chảy ngang qua, là kênh nối dài Sóc Trăng – Bạc Liêu và thông ra sông Hậu. Dân số toàn xã có trên 6.300 người, đa số dân tộc Kinh.

Ngược dòng lịch sử, Phú Hữu là vùng đất được hình thành nên một quá trình lâu dài và trải qua nhiều thăng trầm, biến đổi của lịch sử. Dưới triều vua Minh Mạng thứ 20, Phú Hữu thuộc tổng Định Khánh, huyện Vĩnh Định, phủ Ba Xuyên, tỉnh An Giang. Trải qua các triều đại vua Thiệu Trị, vua Tự Đức, Phú Hữu nằm trong tổng Định Hòa, huyện Vĩnh Định. Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta và chiếm luôn Nam Kỳ lục tỉnh thì Phú Hữu vẫn thuộc tổng Định Hòa nhưng thuộc hạt thanh tra Ba Xuyên, rồi Sóc Trăng. Từ ngày 5-1-1876, Phú Hữu được gọi là “làng” thuộc hạt tham biện Sóc Trăng, kể từ ngày 1-1-1900 thuộc tỉnh Sóc Trăng. Năm 1920, làng Phú Hữu nằm trong quận Kế Sách thuộc tỉnh Sóc Trăng. 

Đến năm 1952, được sự đồng ý của Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Sóc Trăng, đồng chí Nguyễn Tứ Xuyên – Phó Bí thư Huyện ủy và đồng chí Lý Soi – Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính huyện Long Phú đã triển khai quyết định nhập hai xã Long Đức và Phú Hữu thành xã mới có tên gọi là Phú Đức, mục đích của việc sáp nhập hai xã nói trên nhằm giảm bớt đầu mối chỉ đạo. Mặt khác, lực lượng cán bộ của ta lúc bấy giờ còn quá mỏng, nếu để riêng hai xã sẽ không đủ cán bộ để quán xuyến công việc. Nhưng sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết, xã Phú Đức lại tách ra làm hai xã lấy lại tên như cũ: Long Đức và Phú Hữu cho đến ngày hôm nay. 

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người dân Phú Hữu đổ không biết bao nhiêu xương máu để giành lại độc lập, tự do cho ngày hôm nay. Được biết toàn xã có 4 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 114 liệt sĩ, rất nhiều thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách. Đảng bộ, quân và dân xã Phú Hữu rất vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. 

Phú Hữu hôm nay đã thay da, đổi thịt với một diện mạo mới, nhưng thấm đượm “chất anh hùng thời máu lửa”. Đi trên con đường Tỉnh lộ 935B, đường Huyện lộ 23 được xem là đoạn đường mẫu “sáng – xanh – sạch – đẹp – an toàn”. Nhìn trên những cánh đồng của xã là cả màu xanh của sức sống mới, đời sống người dân không ngừng được cải thiện, hiện tại xã chỉ còn 4,08% hộ nghèo. Đảng bộ cùng nhân dân Phú Hữu ra sức xây dựng nông thôn mới, năm 2019 đã đạt 16/19 tiêu chí. Bộ mặt làng quê đang đẹp lên. Văn hóa, văn nghệ càng được giữ gìn, bảo tồn và phát huy. Cuộc sống yên vui, thanh bình. An ninh trật tự ổn định. Được biết, Đảng bộ, nhân dân xã Phú Hữu đang ra sức quyết tâm thực hiện nâng chất các tiêu chí đã đạt, đồng thời hoàn thành 3 tiêu chí còn lại để năm 2020 được công nhận xã nông thôn mới. 

Về làng quê Phú Hữu, ta cảm nhận niềm vui tươi dào dạt tình làng, nghĩa xóm. Cảm nhận sức sống mới xua đi những nghèo đói. Người dân Phú Hữu hôm nay cuộc sống đổi thay hơn, chứng minh cho địa danh Phú Hữu luôn “giàu có” như tên gọi của chính mình. 

Lê Trúc Vinh

Địa danh Lâm Kiết xưa và nay

đăng 01:09, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Lâm Kiết trước đây còn có tên là Thạnh Kiết thuộc huyện Châu Thành. Vị trí của xã nằm về phía Bắc của huyện Thạnh Trị, là cửa ngõ án ngữ tuyến giao thông thủy, bộ nối liền xã Thạnh Phú (chợ Nhu Gia, huyện Mỹ Xuyên) với ngã tư Mỹ Phước (căn cứ rừng tràm Tỉnh ủy Sóc Trăng).

Địa danh Lâm Kiết hiểu theo từ gốc Hán – Việt có nghĩa là “rừng tươi tốt”. Theo tài liệu lịch sử và các vị cao niên trong vùng cho biết, vùng đất Lâm Kiết đã được khai phá từ rất lâu đời và theo sự phát triển của cư dân di cư tự do cùng với chính sách khai khẩn vùng châu thổ sông Cửu Long của triều đại phong kiến nhà Nguyễn với những cuộc di dân quy mô lớn trên toàn khu vực. Đối mặt với những bất trắc khắc nghiệt của thiên nhiên, bệnh tật và tai ương, ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa đã chung lưng đấu cật, đoàn kết bên nhau qua bao thế hệ đã biến vùng đất sình lầy, rừng hoang, bưng biền âm u giờ đây trở thành cánh đồng thẳng cánh cò bay, ấm áp mùa vàng và những vườn cây trĩu cành hoa trái, những ao, đìa đầy ắp cá tôm, những luống rau, cải, khoai, bí, đậu… tươi ngon được bà con nông dân nơi đây gieo trồng quanh năm, góp phần đáng kể cải thiện cuộc sống đủ đầy. 

Nhớ về thời Pháp thuộc (1876 – 1945), vùng đất và người dân Lâm Kiết chịu sự cai trị của thực dân phong kiến hàng năm phải nộp tô, cung cấp lúa cho tên điền chủ người Pháp là Rémi Gressier mà người dân cơ cực gọi là “Tây Ba De”, “Ông Kho”, do hắn có nhà máy xay xát và hệ thống kho rất lớn ở miệt Châu Hưng. Chính đồn điền này cùng với đám điền chủ Tây và bọn địa chủ bản xứ như: Lim Brốt, Hội Chánh Đa Tô Nam Vang, Hội đồng Trạch ở Bạc Liêu… cấu kết với nhau ra sức vơ vét, bóc lột tới tận cùng xương tủy người nông dân hiền lành lấy nông nghiệp làm nghề sinh sống chính. 

Từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo, trong thắng lợi chung của những chặng đường cách mạng, đặc biệt là từ ngày giải phóng miền Nam (30-4-1975) đến nay, đất và người dân Lâm Kiết được giải phóng, người dân được tự do khai hoang, phục hóa, hàn gắn lại vết thương chiến tranh, xây dựng lại cuộc sống mới và đã thu được những thành quả hết sức to lớn, cuộc sống của người nông dân và làng quê Lâm Kiết hôm nay đổi thay hàng ngày. 

Lâm Kiết – một địa danh thân thương như tên gọi chính mình “rừng tươi tốt”. Ba dân tộc anh em Kinh – Khmer – Hoa như từ thuở ban sơ mở ấp, lập làng. Một vùng quê bình dị nhưng rất đổi hiên ngang, bất khuất của vùng đất Sóc Trăng anh hùng. 

Lê Trúc Vinh

Địa danh Tuân Tức - Thạnh Trị

đăng 01:06, 4 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Tuân Tức tên của một đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng. Địa danh Tuân Tức được hiểu theo từ gốc tiếng Khmer, có nghĩa là “dòng nước dịu êm”. Xã Tuân Tức là vùng vành đai phía Bắc của thị trấn Phú Lộc – trung tâm chính trị, kinh tế văn hóa của huyện Thạnh Trị. Xã Tuân Tức hiện tại có 5 ấp, bao gồm: Trung Thành, Trung Hòa, Trung Bình, Trung Thống và Tân Định.

Do Tuân Tức nằm ở vị trí hết sức quan trọng trong tổng thể bố trí cơ cấu hành chính của toàn khu vực nên địa danh, địa giới của Tuân Tức có nhiều thay đổi qua từng giai đoạn lịch sử. 

Trước thế kỷ XVII, xã Tuân Tức và các vùng lân cận là cả vùng hoang vu rừng rậm, sông ngòi, kênh rạch tự nhiên chằng chịt với hệ thống động, thực vật phong phú, có nhiều loài thú dữ. Vùng này có dấu ấn khai phá của con người, nhưng chỉ mang hình thức du canh, du cư, không ổn định, quy mô nhỏ lẻ. 

Từ sau nửa thế kỷ XVIII, những nhóm người Kinh, Khmer, Hoa đến đây khai phá và định cư theo chính sách khuyến khích của các chúa Nguyễn. Trên con đường chinh phục thiên nhiên của những bậc tiền nhân mở cõi, buổi đầu gặp vô vàn khó khăn. Nhưng với tính cách mạnh mẽ, quyết đoán, những con người quả cảm của ba dân tộc Kinh – Khmer – Hoa đã sát cánh bên nhau, từng bước khắc phục khó khăn, vượt qua những tai ương, chướng khí, dốc lòng dốc sức khai phá rừng hoang, khai thông sông rạch, cải tạo, mở mang ruộng đồng, làm ra lúa gạo, đánh bắt cá tôm, săn bẫy thú rừng để sinh tồn. Lâu dần, số người đến vùng đất này khai thác, khẩn hoang, sinh sống ngày càng đông. Đây là vùng đất in đậm dấu ấn văn minh sông nước và văn hóa miệt vườn nên giao thông đường thủy đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động đời sống xã hội từ thuở khai ấp, lập làng. Do đó, cư dân phân bố phần lớn dọc theo hai bờ các dòng sông, kênh rạch. Phương tiện đi lại và vận chuyển lưu thông hàng hóa chủ yếu là xuồng, ghe. 

Cộng đồng dân cư xã Tuân Tức là những người Kinh – Khmer – Hoa. Họ đều là hậu duệ của những lưu dân từ những vùng miền, những nơi khác đến. Những lưu dân đầu tiên có thể là những quan lại được triều đình phái khiển, mang theo gia đình, gia nô, họ tộc, binh đinh nhân điền,... qua nhiều thế hệ, cộng đồng dân cư tạo nên những quần cư đông đúc, đoàn kết gắn bó bên nhau từ buổi đầu khai ấp lập làng và trải qua các cuộc đấu tranh khốc liệt chống chọi với thiên nhiên, với giặc ngoại xâm. Đặc biệt, từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, tất cả quân dân một lòng theo Đảng, kiên cường bất khuất trong đấu tranh cách mạng, giải phóng quê hương. Và hôm nay, toàn dân một lòng, siết chặt tay cùng Đảng bộ xã trong công cuộc chấn hưng xứ sở, xây dựng và phát triển quê hương Tuân Tức ngày càng giàu đẹp và tươi sáng bên những “dòng nước dịu êm”. 

Thế hệ hôm nay và những thế hệ nối tiếp dưới sự lãnh đạo của Đảng nhất định sẽ thực hiện thành công mục tiêu, lý tưởng cao cả của sự nghiệp cách mạng, nhất định sẽ làm cho các tầng lớp nhân dân trên mảnh đất Tuân Tức một thời lửa đạn có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, văn minh. 

Lê Trúc Vinh

Địa danh Long Đức xưa và nay

đăng 05:39, 2 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Long Đức là một xã vùng sâu của huyện Long Phú, nằm dọc theo bờ kinh Saintard và sông Hậu. Có diện tích tự nhiên 2.851,56ha, chủ yếu là đất nông nghiệp, dân số khoảng 10.200 nhân khẩu, gồm 3 dân tộc Kinh – Khmer – Hoa (trong đó người Kinh chiếm đa số).

Long Đức là vùng đất sớm hình thành và phát triển, cùng với biết bao biến đổi thăng trầm, trải qua nhiều lần tách nhập chia cắt. 

Theo sử liệu vùng đất Nam bộ, thì vào ngày 14-4-1896, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định xác nhận đề nghị của chủ tỉnh Sóc Trăng là MARCELLOT xin nhập làng đó là làng Long Hưng và làng Đại Đức. Làng Long Hưng có 4 ấp: An Đức, Hòa Đức, Thạnh Đức và Lợi Đức; làng Đại Đức cũng có 4 ấp: An Hưng, Hòa Hưng, Thạnh Hưng và Lợi Hưng thành xã Long Đức. Đến năm 1952, Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Sóc Trăng quyết định nhập hai xã Long Đức và Phú Hữu thành xã mới có tên gọi là Phú Đức. Nhưng đến năm 1954, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết thì xã Phú Đức được tách ra làm hai xã Long Đức và Phú Hữu cho đến nay. 

Về kinh tế chủ yếu của Long Đức xưa là thuần nông, canh tác lúa nước là thế mạnh của xã, các vườn cây ăn trái chiếm một diện tích khá khiêm tốn là địa bàn nằm ven sông Hậu, kênh Saintard và kênh Bà Xẩm do vậy đây là điều kiện thuận lợi để cư dân khai thác đánh bắt thủy sản. Theo ngược dòng lịch sử, thì trước năm 1930, nghề chài lưới ở làng Đại Đức phát triển mạnh. Đánh bắt cá trên sông là nguồn lợi quan trọng của cư dân nơi đây, nhưng hầu hết sản phẩm chỉ tiêu thụ tại chỗ, xuất bán ra chợ lớn Sóc Trăng chủ yếu là tôm khô và cá muối. 

Long Đức là một vùng lam lũ, quanh năm nghèo khó, đói khổ đeo đẳng, đến nay Long Đức khoác lên mình tấm áo mới của sự ấm no, giàu đẹp. Điểm nhấn là Đảng bộ, nhân dân đoàn kết, gắn bó, quyết tâm xây dựng thành công xã nông thôn mới, đã được công nhận vào tháng 7-2019 và đang trong lộ trình xây dựng xã nông thôn mới nâng cao, mục tiêu hướng về xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu của huyện Long Phú. 

Đặc biệt, toàn xã chỉ còn 88 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 3,48%, hộ cận nghèo là 84 hộ, chiếm 3,32%; thu nhập bình quân đầu người đạt 45,61 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên chiếm 91,50%. 

Long Đức hôm nay đang từng ngày thay da đổi thịt là nhờ có sự đồng thuận “ý Đảng – lòng dân”. Nhờ có đội ngũ đảng viên gương mẫu, nhiệt tình, tận tâm với công việc cách mạng mà Đảng và nhân dân giao trọng trách. Phong trào học tập và làm theo tấm gương Bác ở Long Đức ngày càng lan tỏa như “ăn cơm, uống nước” hàng ngày. Từ đó tạo nên sức mạnh xây dựng làng quê Long Đức an toàn, tươi vui, hòa thuận, sum vầy. 

Lê Trúc Vinh

Xóm “Lung Đệl”

đăng 05:37, 2 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

“Lung Đệl”- có lẽ là một địa danh “lạ hoắc, lạ huơ” với những lớp hậu sinh sau này như tôi nhưng với những “lão nông tri điền” thuộc hàng U80 thì cũng có ít nhiều ông lão đã từng nghe và từng gọi...

Sinh thời, ông ngoại tôi thường kể về con kinh nhỏ ấy - một nơi đã gắn liền tuổi thơ của ngoại tôi, mấy cậu và cả tôi. “Hồi nẫm” con kinh này chỉ là con rạch nhỏ, cạn sệt, nước lớn chỉ ngập ngang cổ còn nước ròng thì cạn sát đáy. Bề ngang chỉ chừng chục thước, lại thêm nào dừa nước, nga, lau, sậy ken cứng hai bên nên con kinh đã nhỏ càng thêm nhỏ. Rồi thêm hàng vạn đám lục bình bịt kín lòng kinh quanh năm suốt tháng. 

Xưa kia, vùng đất này thuộc điền của ông Hàm (xin dấu tên) nhưng do rất xa, lại là vùng đất bưng trũng trầm thủy chèo chống khó khăn nên rất ít khi đám cọp rằn lui tới hoạnh họe. Tôi còn nhớ, cái xóm nhỏ với vài chục căn nhà cũng rất nhỏ cất cặp bờ kinh ấy không hề có chiếc vỏ máy nào mà chỉ rặt ròng xuồng ba lá, ghe tam bản mới có thể chèo chống vượt qua được khúc lục bình đặc cứng dài thậm thượt ấy. Tôi không nhớ mình đã bao nhiêu lần “luồn” xuống đám lục bình ấy để bẻ mớ bông về chấm với mắm kho - một món ăn quê mùa dân dã mà lại ngon vô cùng. 

Rồi những tháng hè, tập vở quăng vô một xó nào đó, tôi cùng đám bạn trang lứa “nung” theo hai bên bờ kinh mò tôm, cá rô biển, cá bống dừa... Siêng chút thì dậm “mà” bắt mớ trê vàng, trê trắng... Có hôm bị trê trắng “chém” cho một nhát, nhức đến “méo miệng” nhưng vẫn bường theo anh em cho tới tàn cuộc chơi. Thời đó, cá tôm trên ruộng hay dưới con kinh Lung Đệl nhiều vô kể - nhất là cá trê vàng. Ngoại tôi nói, cá trê vàng ở Lung Đệl ngon hơn chỗ khác, da vàng, thịt cũng vàng và săn chắc hơn nên làm mắm bò hóc óp thì ngon “nhứt xứ Ba Xuyên” luôn. Năm nào cũng vậy, mấy cậu tôi chất vài đống chà trên mặt kinh trước nhà đến khi dỡ chà lúc nào cũng chừa lại cho ngoại vài chục ký trê vàng roi roi để làm mắm bò hóc óp. Những con mắm nhận vào chiếc gáo dừa rồi treo la liệt trên giàn bếp in đậm trong tâm trí tôi đến tận bây giờ... 

Rồi những buổi chiều tà sau một ngày ruộng đồng vất vả, ngoại tôi ngồi “độc ẩm” với dĩa mồi nhậu khi thì con cá lóc nướng trui lửa rơm, khi thì cá trê vàng nướng than vỏ dừa hoặc vài con tôm càng nướng cùng với rổ rau rừng cù nèo, rau mát, bông lục bình và một chén nước chấm mắm bò hóc óp thơm lừng lựng. Thỉnh thoảng tôi được ngồi ăn cơm “ké” với chén nước chấm thơm lừng kia và ngoại tôi kể lan man nghe những “chuyện xưa, tích cũ”. Có lần ngoại tôi hỏi tôi: “Lung Đệl là gì?”. Rồi ngoại tôi giải thích: Trây - đệl là cá trê, lung trây đệl là lung cá trê. Bà con mình nói trại “Lung Đệl” riết thành “Lung Đen”. Tôi ngớ người: Thì ra Lung Đen xuất phát từ Lung Đệl. Đó có lẽ là “bài học” đầu tiên về địa danh quê mình. 

Tôi rời quê bắt đầu cuộc sống đi học xa nhà, xa quê ngoại cũng là lúc phong trào đào kinh thủy lợi khai nước, xổ phèn cũng bắt đầu phát triển. Con kinh Lung Đệl được Nhà nước đầu tư nạo vét cho dòng chảy thông thoáng để không còn tình trạng ngập úng hàng năm. Những bụi lau lách, nga, sậy được “bứng” thẩy tuốt lên bờ cùng chung số phận với đám lục bình làm phân xanh cho hàng dừa mới vừa nhú đọt. Đi dọc theo con kinh Lung Đen ngày nào giờ tìm đám lau, nga, sậy đỏ con mắt cũng không thấy. Dòng kinh Lung Đệl - Lung Đen ngày nào bị bịt kín hàng hàng, lớp lớp lục bình giờ đã thông thoáng và những cây cầu khỉ nối liền hai bên bờ kinh giờ cũng không còn. Cảnh cũ, người xưa đã quá nhiều thay đổi sau nhiều năm tôi không về thăm quê ngoại. Con đường mòn hẹp té ngày nào giờ đã được bêtông hóa phẳng phiu. 

Trên con đường này, tôi trầy trật mãi mới tìm được nhà ông anh bà con cô cậu - người anh thân thiết của tôi ngày xưa, ngôi nhà tường khá bề thế - thành quả của hàng chục năm làm lụng vất vả. Ngồi dưới tán xoài rợp mát phía sau nhà, câu đầu tiên trước khi nâng ly, anh hỏi: “Chú mầy thấy quê mình sao?”. Tôi cười cười: “Tất cả đều lạ. Lạ từ con đường, con kinh Lung Đen, ngoài ruộng... Khác quá xa hồi xưa của tụi mình”. Rồi anh em lan man nhắc lại chuyên xưa, cái thuở anh em ngụp lặn dưới lòng kinh đầy lục bình bất chấp muỗi mòng, đỉa vắt... Tiếng bà chị dâu bất chợt: “Hai thằng già đầu bạc, nhậu ít ít thôi, còn chừa bụng ăn cơm nhen!”. Hai gã đầu bạc nhìn nhau cười ngả nghiêng: Mấy chục năm rồi, không khác mới lạ. Con kinh thiên nhiên kia còn thay đổi huống chi con người. 

Thiên Lý

Địa danh cầu Bon

đăng 04:16, 14 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày xưa, khi chính quyền thực dân Pháp tại tỉnh lỵ Sóc Trăng chưa cho đào kênh Maspéro thì trên địa bàn làng Khánh Hưng (nay là TP. Sóc Trăng) chỉ có con kênh duy nhất mang tên Delanoue (tên của chủ tỉnh lúc bấy giờ). Con kênh này là nơi thoát nước thải chủ yếu của các cống lộ thiên dọc theo đường Hàng Me (nay là đường Hai Bà Trưng) để đưa ra sông lớn. Tên gọi cầu Bon là người dân địa phương nói trại theo tiếng Pháp (Pont - cầu).

Sóc Trăng xưa (1966 - 1968). Ảnh: TeeMack


Từ những năm 1900, kênh Delanoue hay còn gọi là kênh cầu Bon là nơi tập trung khá đông ghe, tàu chở hàng hóa lưu thông qua lại đoạn sông này. Đây là cây cầu chủ yếu nối liền khu vực hành chính (Dinh tỉnh trưởng, tòa án…) với khu thương mại (chợ làng Khánh Hưng) và khu dân cư (phía bên kia kênh Maspéro sau này). 

Cầu Bon là mẫu cầu điển hình của người Pháp, được làm bằng sắt, với chiều ngang 6m, chiều dài trên 20m, chính giữa thân cầu là một nhịp rời dễ dàng quay kéo lên cao để cho các loại ghe lớn qua lại. Người pháp gọi đó là pontl levis (cầu kéo) để phân biệt với pont tournant (cầu quay). Đến những năm 1910, do mật độ dân cư ngày càng phát triển, hệ thống nước thải cùng với rác ngày càng nhiều nên tạo sự bồi lắng khá nhanh làm cho kênh Delanoue ngày càng cạn dần, ghe, tàu lưu thông gặp nhiều khó khăn, hệ thống thoát nước luôn trong tình trạng ứ đọng, gây ra tình trạng ô nhiễm trong các khu chợ, khu dân cư nội thành. 

Trước thực trạng đó, năm 1910, viên tỉnh trưởng Sóc Trăng lúc bấy giờ là Maspéro cho đào con kênh nối liền Sóc Trăng với kênh Xáng (Phụng Hiệp) đặt tên là Maspéro và xây dựng cây cầu thứ hai tại tỉnh lỵ là cầu Quay (pont tournant). Sau khi cầu Quay hình thành, nhà cầm quyền lúc bấy giờ nhận thấy cây cầu kéo (pont levis) đã lỗi thời nên cho thay bằng cầu đúc bê tông để phù hợp hơn với mỹ quan khu đô thị. 

Trên con kênh Delanoue này, vốn một thời là nơi lưu thông chủ yếu của giới thương hồ với vựa trái cây miệt vườn, tiệm chài lưới, chành lúa… và đó cũng là nơi tọa lạc ngôi nhà lầu đẹp nhất, bề thế nhất của Châu Thành, Sóc Trăng lúc bấy giờ, đó là ngôi nhà lầu của bà Phủ An (đại địa chủ Phủ hàm Lê Văn An). 

Cây cầu Bon năm xưa nay đã không còn nữa, con kênh Delanoue cũng đã bị san lấp nhưng nó vẫn nằm lại trong ký ức của nhiều người con của quê hương Sóc Trăng. 

Lê Trúc Vinh

Địa danh Xẻo Gừa và Mỹ Hương

đăng 04:02, 14 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Xẻo Gừa là tên gọi đầu tiên của vùng đất xã Mỹ Hương (Mỹ Tú) ngày nay. 

Xẻo Gừa ngày nay


“Xẻo” có nghĩa là một đường nước ngắn, còn gọi là “lạch”; “Gừa” là cây gừa – một loại cây khá phổ biến ở vùng bãi bồi. Như vậy, Xẻo Gừa có thể hiểu là vùng đất có nhiều cây gừa mọc hai bên đường nước ngắn. Trong thực tế, xứ Mỹ Hương từ xưa đến nay có rất nhiều cây gừa, đặc biệt mọc thành rừng dọc theo con lạch ở mé sau chợ cũ, dưới chân cầu Xẻo Gừa hôm nay. Tên gọi Xẻo Gừa có khi gọi nhầm là “Xẻo Dừa” với ngụ ý xứ này cũng có nhiều dừa (cây dừa). Dù thực tế xứ này có nhiều dừa đi nữa, nhưng tên “Xẻo Gừa” là xuất phát từ cây gừa nói trên. 

Còn tên gọi Mỹ Hương được sử dụng đầu tiên vào năm 1956. Nguồn gốc tên gọi Mỹ Hương xuất phát từ việc hợp nhất hai đơn vị hành chính là Thiện Mỹ và Thiện Hương, bằng cách ghép hai từ Mỹ và Hương nằm cuối hai địa danh. Một số tài liệu có ghi nguồn gốc Mỹ Hương là xuất phát từ Minh Hương – với ngụ ý là vùng này có nhiều người Minh Hương (người Minh Hương là người Hoa – Kinh hoặc Hoa – Khmer). Ngày nay, Mỹ Hương được dùng đặt tên cho một xã, bao gồm vùng đất của hai xã Thiện Mỹ và Thiện Hương nằm dọc theo hai bên sông Xẻo Gừa. 

Tên gọi hành chính ban đầu của vùng đất này là Thiện Mỹ Thôn (tên gọi thông thường Xẻo Gừa). Giai đoạn tiếp theo sau tách thành hai vùng là Thiện Mỹ (tên gọi thường là Xóm Lớn) và Thiện Hương (tên gọi thông thường là Xóm Vắng). Đến năm 1956 thì hợp lại thành Mỹ Hương và được sử dụng cho đến ngày nay. 

Từ năm 1975 đến nay, Xẻo Gừa là tên gọi của một ấp nằm ở trung tâm chợ xã Mỹ Hương. Người dân địa phương và các vùng lân cận hay dùng tên chung là Xẻo Gừa - Mỹ Hương – nói tới Xẻo Gừa tức là nói tới Mỹ Hương. Mọi hoạt động thương mại dịch vụ đều xoay quanh chợ Xẻo Gừa. 

Ở buổi đầu khẩn hoang, chợ Xẻo Gừa chỉ là một chợ “chồm hổm” gồm một số nhà lá của cư dân trong chợ dựng lên để mua, bán các loại nhu yếu phẩm cho vùng dân cư. Đến những năm 1930, chợ Xẻo Gừa được dựng lên ở vị trí chợ cũ hiện nay, gồm có nhà lồng chợ bằng vật liệu gỗ và lợp ngói, nền lát gạch tàu, do một thợ mộc (tục gọi là thầy Tư Quy) thiết kế và xây dựng; kinh phí xây dựng do bà Hồ Thị Lan và con gái bà là phu nhân của ông Nguyễn Duy Tiên tài trợ. Các dãy hàng quán, cửa hiệu của hai phố xung quanh chợ cũng dần dần được dựng lên. 

Thời kỳ 1945 – 1954, dân cư ở chợ và các khu phố hai bên đều tản cư ra tỉnh lỵ hoặc ra Trà Cú ở; nhà cửa, chợ búa đều bị tiêu thổ kháng chiến. Sau năm 1954, chợ và các khu nhà xung quanh được người dân trở về xây dựng lại và tồn tại, phát triển cho đến ngày nay. Năm 1992 – 1993, chợ được đầu tư xây dựng mới nằm cách chợ cũ khoảng 100m. Vị trí chợ mới là nền nhà cũ của gia đình điền chủ Nguyễn Duy Tiên thời kỳ trước năm 1945 và đồn Xẻo Gừa thời kỳ trước năm 1975. 

Xẻo Gừa – Mỹ Hương hôm nay đã phát triển và thay đổi rất nhiều, đời sống người dân ngày càng sung túc. 

Lê Trúc Vinh

Một số địa danh cổ xưa trên đất Ninh Thuận

đăng 19:27, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Xét địa danh trong địa bàn Ninh Thuận hiện tại, chúng ta có thể thấy nhiều sự thay đổi qua nhiều lớp thời gian, và nếu nhắc lại chỉ riêng phần tên núi đồi, sông hồ, tên làng xóm thôi thì cũng có nhiều điều thú vị. Với một diện tích không lớn, song lại chứa đựng bao truyền thống quý báu, bao tình đất, tình người trong lịch sử. Một trong sự quý báu đó là tên đất, tên làng xa xưa mà đôi khi tìm hiểu, ta lại nhớ các bậc tiền nhân khai sơn, phá thạch, kiến tạo nước non nhà.


Đi dọc từ Du Long vào Cà Ná, có thể thấy mấy tên xưa nay hoặc còn lưu lại, hoặc đã thay đổi.

+ Kiền Kiền và Du Long: Tên thường gọi chung cả vùng Bắc tỉnh, nguyên xưa nhất là thời Nhà Nguyễn, có tên là Du Lai. Kể thêm tên Kiền Kiền: hiện nay có thôn Kiền Kiền, xã Lợi Hải, ở phía Đông của vùng Bắc tỉnh, liên quan có dãy núi Kiền Kiền, trong có khe nước, từ xưa đặt tên là khe Kiền Kiền. Sách xưa ghi: “Khe Kiền Kiền: ở huyện Yên Phước, nguồn ra từ núi Ba Tiêu, chảy về phía Đông 5 dặm làm suối Du Lai đổ vào đầm làng Đăng“. (Quốc sử quán Triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB Thuận Hóa – 2006, trang 162).


Một góc xã Lợi Hải, trung tâm hành chính huyện Thuận Bắc ngày nay


+ Đầm Nại: Xưa gọi là đầm Hương Cựu (bên cạnh làng Hương Cựu, làng Đăng), cũng gọi là Phương Cựu, thông ra biển bằng sông Tri Thủy, xưa gọi là cửa biển Ma Văn.


Bình minh trên Đầm Nại. Ảnh: Hữu Thành


+ Kể thêm tên Hòn Thiên: Hiện nay là địa chỉ hấp dẫn các nhà nhiếp ảnh nghệ thuật, nằm ven Đầm Nại. Sách xưa ghi: “Phía Bắc núi kề đầm Hương Cựu, gần đấy có núi Bình Thiên [Hòn Thiên], núi Ni Cô, núi Bà Tu [Cà Đú?], núi Dư Khánh, núi Mậu Trường, núi Dốc Liệt“ Trang 154.

+ Cà Đú: Nay là một địa danh có tiếng trên ngã ba quốc lộ 1A Bắc – Nam đi Ninh Chử, nằm bên núi Cà Đú có độ cao 318m. Cà Đú là gọi trại tiếng Chăm: Chơk Du’, nghĩa là núi có hình giống con vích; quả thật nếu đứng từ Gò Đền nhìn núi, ta thấy như con vích, con rùa đang bò ra phía biển.

+ Thái An: Tên xưa là Lũng Lúa, Bãi Lúa, theo Nguyễn Đình Tư trong Non nước Ninh Thuận thì có 3 sự giải thích. Thứ nhất: “dân chúng ở đây hay làm rẫy và gặt lúa thuê“. Hằng năm cứ đến mùa gặt, họ lên gặt thuê ở các làng dọc quốc lộ 1, “Khi về đến đây thì đã mệt, họ ngồi tụ lại nghỉ chân, chia nhau lúa trước khi về nhà“. Thứ hai: “Trước kia Thái An có thờ một vỏ lúa rất to, vỏ lúa của thời loài người chưa phải trồng trọt khó nhọc, tự lúa mọc ngoài đồng, khi chín thì tự lăn về... y như truyện cổ tích“. Quá mơ hồ. Thứ ba: “Xưa có đoàn ghe bầu của Triều đình chở lúa đi dọc biển, đến vùng này chẳng may bị chìm, viên tải lương bèn ra lệnh vớt lúa đem lên bãi phơi. Khi lúa khô và được thu góp lại, một số bị rớt lại trên bãi và sau một trận mưa, lúa mọc lên xanh cả bãi“.


Thôn Thái An thuộc xã Vĩnh Hải (huyện Ninh Hải) ngày nay


+ Ninh Chử: Nguyên xưa đặt tên là Ninh Chử là do vùng vịnh biển này đẹp, sóng lặng, yên bình, nghĩa chữ Hán, Ninh: bình yên, thái hòa, Chử: bờ bãi, (lưu ý Chử dấu hỏi ?), như La Chử, Hải Chử, thậm chí cả Minh Chử, được ghi trong Địa bạ Triều Nguyễn 1836.


Bãi biển Ninh Chử xinh đẹp thu hút du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng


+ Vũng Tàu: Lại kể ra, nguyên xưa ghe thuyền vào đậu tránh sóng gió, trao đổi, mua bán tại Mỹ Thành, Mỹ Hòa ở phường Đông Hải nên dân gian gọi là Vũng Tàu, cũng như thành phố Vũng Tàu, nguyên xưa cũng thế.

+ Sông Dinh: Sông Cái (Sông Dinh): phát nguồn từ Tô Hạp (Khánh Hòa) chảy qua địa phận Khánh Hòa vào xã Phước Tân huyện Bác Ái tiếp nhận một phụ lưu là sông Ma Lâm, sau đó tiếp nhận thêm các phụ lưu: sông Pha (Krông Pha, sông Ông), sông Ta Mo/Cho Mo, sông Chá tại huyện Ninh Sơn, sau đó chảy vào đồng bằng Phan Rang, cuối sông ra đến biển Đông ở cửa biển phường Đông Hải. Tổng chiều dài 119 km. Sông Cái có nhiều tên gọi khác nhau qua mỗi đoạn sông và qua mỗi thời kỳ lịch sử: sông Mai Lung ở Đắc Nhơn, Sông Dinh. Trong sách Đại Nam nhất thống chí gọi là sông Phan Rang, ngày xưa tên là sông Mai Lang, Mai Nương, Man Rang, nguồn ra tự 2 núi Tham Lý và Tà Trú, chảy qua thôn Thịnh Mỹ, chảy về phía Nam 14 dặm đến xã Đắc Nhân gọi là sông Mai Lung. Càng về biển, sông Dinh tiếp nhận thêm 2 phụ lưu: sông Quao, sông Lu trước khi ra cửa biển Đông Hải.


Một góc Sông Dinh, đoạn chảy qua cầu Móng thuộc địa phận phường Bảo An.


+ Sông Quao: Phát nguồn từ núi Tà Mú (còn gọi Tà Trú, Tha Thu) từ 2 suối Nung Tá (còn gọi Tà Cai, Trại Thịt) và suối Ya Hac (hay suối Tầm Ru), cuối sông ra đến Sông Dinh với tổng chiều dài 47 km. Sông chảy qua các địa phận có tên sông Lanh Ra, sông Trí, sông Tà Câu, sông Na Lung. Qua khỏi quốc lộ 1A mới gọi là sông Quao. Trong sách Đại Nam nhất thống chí gọi là sông Ma Nê/ Ma Nãi từ trong núi chảy ra.

+ Sông Lu: Còn gọi là sông Biêu/ Viêu. Trong sách Đại Nam nhất thống chí gọi là sông Ma Bố: “Có sông Ma Bố từ thôn Đại Định chảy về phía Đông Bắc 37 dặm đến hợp vào [sông Dinh] lại chảy về phía Nam 3 dặm mà đổ ra cửa biển Phan Rang“

+ Mũi Dinh: Có ngọn Hải đăng xây thời Pháp, thuộc thôn Sơn Hải là thắng cảnh của tỉnh, mũi dinh nôm na là lớn, ca dao xưa người đi ghe bầu dọc biển có câu:

Mũi Nậy bảy bị còn ba,

Mũi Dinh chín bị không tha bị nào.


Nghĩa là mùa gió chướng, ghe bầu đi qua Mũi Nậy (Phú Yên), bảy bị gạo ăn bốn còn ba mới qua được, đến Mũi Dinh thì ăn cả chín bị chưa chắc đã qua được, do sóng, nước ngầm chảy xiết. Địa danh này hơi khó giải, bởi trong sách Đại Nam nhất thống chí xưa ghi là: Diên/ Diên Chủy. “Núi Mũi Diên: Diên Chủy [nay là núi Mũi Dinh trong phần đất thuộc Ninh Thuận], ở phía Đông Nam huyện Tuy Phong [lúc này phần đất Nam sông Ma Bố trở vào sông Duồng tên huyện là Tuy Phong thuộc phủ Ninh Thuận]. Chân núi có 9 khúc hình như các ngón tay, nằm ngang trên bãi biển, chỗ ấy nước biển chia đường, một đường chảy về Bắc, một đường chảy về Nam, chảy rất xiết, thuyền ghe qua đấy phải cẩn thận. Phía Nam có đầm Vũng Diên [vịnh bãi Cà Ná], gặp gió Nam thì thuyền có thể đỗ yên được. Năm Tự Đức 13 liệt vào hành danh sơn, ghi vào điển thờ.“ Trang 153-154. Như vậy nếu chúng ta thống nhất theo mô tả của sách xưa thì Diên = Dinh. Hiện nay tra cứu các tên núi có xuất hiện núi Diên nằm giáp ranh hai tỉnh Ninh Thuận - Bình Thuận. Tây Nam tỉnh Ninh Thuận, có một chi núi thuộc Cao Nguyên Di Linh chạy dài ra biển tới Mũi Dinh nhưng phần lớn các ngọn núi này nằm trên địa bàn Bắc tỉnh Bình Thuận, chỉ một ít nằm trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Ngọn cao nhất là núi Hòn Điều (Hòn Diên 1.528m).


Ngọn hải đăng được người Pháp xây dựng trên Mũi Dinh


+ Núi Chà Bang 432m: Sách xưa gọi hòn Tam Sơn, bởi cả dãy có 3 đỉnh núi nổi bật, còn sách Đại Nam nhất thống chí xưa ghi: “Núi Trà Na: ở phía Đông huyện [Tuy Phong], bên đường có trạm, trong có một đỉnh cao vọt, tả hữu có hai đỉnh như mũi gươm [theo chúng tôi có thể là núi Chà Bang, chùa Trà Cang hiện nay]“. Người Chăm gọi Chơk Chabbang (núi chẻ 2 nhánh), do trên đỉnh chẻ ra 2 nhánh và truyền thuyết Pô Nai yêu Dũng sĩ Kay Kamau kèm theo. Đã có Tam Sơn, trong tỉnh cũng có địa danh núi Thất Sơn (566m) nhưng ở xa, đó là phần núi các xã Phước Trung, Phước Chính huyện Bác Ái và Phước Kháng của huyện Thuận Bắc tạo nên vùng rừng núi rộng lớn.


Một góc núi Chà Bang thuộc xã Phước Nam, huyện Thuận Nam. Ảnh: Sơn Ngọc


Chuyện địa danh xưa nay còn quá nhiều điều thú vị, nay xin trình bày vài địa danh nêu trên để mà thêm yêu, thêm mến quê hương.

Đình Hy

Địa danh Ô Cam ở Ninh Thuận

đăng 16:49, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Xét toàn tỉnh Ninh Thuận hiện nay và trong bản đồ của tỉnh, địa danh Ô Cam, có khi gọi Ô Căm, Ô Câm chỉ còn lưu hành là sông Ô Căm, đập nước Ô Căm thuộc địa phận xã miền núi Phước Trung, huyện Bác Ái được người xưa khởi dựng, bồi đắp.

Thật vậy, theo Nhà báo Sơn Ngọc trong bài “Lễ tế sắc Po Klong Kachhat“ mô tả đồng bào Chăm Bà ni thôn Lương Tri tổ chức cúng tế Po Klong Kachhat thì hệ thống thủy lợi Ô Câm xuất phát từ việc ông Po Klong Kachhat có tài xây dựng hệ thống thủy lợi và kiến thiết ruộng đồng, được vua Po Klong Girai (1151 – 1205) trọng dụng. Po Klong Kachhat đã tổ chức đắp đập Ô Câm và hướng dẫn dân chúng đào mương dẫn nước từ xã Phước Trung về tưới cho đồng ruộng Chà Vum. Nhờ đó người dân địa phương có cuộc sống ấm no. Khi Po Klong Kachhat qua đời, người dân Lương Tri lập đền thờ phụng. Năm Tự Đức thứ 31 (1881), vua có sắc phong ghi nhận công lao của ông. Sắc phong hiện còn lưu giữ tại đền thờ Po Klong Kachhat.

Suối Lô Pa là mạch nguồn chính của đập Ô Cam và hồ chứa nước Phước Trung chứa trên 2,3 triệu mét khối nước bảo đảm tưới cho hàng trăm hecta đất canh tác. Ảnh: Sơn Ngọc


Ghi nhận từ thực địa và theo hồ sơ thủy lợi thì hiện nay có địa danh hồ Ô Cam/Căm vị trí ở xã Phước Trung, dung tích 0,31 triệu mét khối. Hồ này khác với hồ Phước Trung mới xây dựng sau này.

Đến đây chúng ta bằng lòng với địa danh Ô Cam. Nhưng trong các sách xưa, như sách Đại Nam Nhất Thống Chí do Quốc Sử quán Triều Nguyễn biên soạn dưới thời vua Tự Đức thì địa danh Ô Cam xuất hiện hoàn toàn khác và “bất ngờ”. Phần miêu tả về núi, sách ghi: “Đường núi ngăn chặn có núi Ô Cam“, “Núi Ô Cam: ở phía Đông Nam huyện kề bãi biển. Đầu bản triều, Chưởng cơ Tống Phước Hòa đánh nhau với Tây Sơn, đóng binh ở Ô Cam, tức là đây“. Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB Thuận Hóa, 2006, trang 154.

Ở đây lưu ý là thời điểm biên soạn sách, Ninh Thuận thuộc phủ Bình Thuận có 2 huyện: Yên Phước và Tuy Phong; huyện Tuy Phong từ phía Nam sông Lu trở vào Long Hương, Bình Thạnh.

Từ những miêu tả trong sách Đại Nam nhất thống chí nêu trên, chúng tôi cho rằng địa danh núi Ô Cam chính là núi sát eo biển Cà Ná trong phần đất thuộc Ninh Thuận ngày nay. Bởi vì phần miêu tả có nêu chi tiết: “kề bãi biển” và ở phần đền miếu của sách có ghi: “Đền thần Ô Cam: ở trên núi Ô Cam huyện Tuy Phong, thờ Phu Nhân Cố Hỉ rất thiêng”, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, NXB Thuận Hóa – 2006, trang 175.

Khảo sát tại Cà Ná, hiện nay còn đền thờ Cố Hỉ Phu Nhân trên núi đá, gọi là dinh Cố, Cố Hỉ Mẫu Nương Nương, 5 sắc phong, khôi phục sửa chữa năm 1989.

Địa danh núi Ô Cam này lại rắc rối khi còn có tên khác là núi Ô Rem, (có khi trùng phát âm Hán Việt). Vì trước khi sách Đại Nam nhất thống chí ra đời 70 năm, sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí do Lê Quang Định, Thượng thư Bộ Binh biên soạn thời Gia Long 1806, đã mô tả đường thiên lý Bắc Nam: “Trạm Thuận Lãng: Đặt lính thường trực ở trạm gồm 17 suất... phía Đông có con đường nhỏ đi 580 tầm thì đến cửa biển Cà Ná, phía bờ Bắc là thôn Lạc Nghiệp, dân cư rất trù mật, làm nghề chài lưới... Đến Bãi Chùy, dài 150 tầm, phía Đông chạy dọc theo bãi biển, đường toàn bằng đá san hô nhỏ lẫn với cát thô, phía Tây là rừng cây tươi tốt, đến lũy Ô Rem, phía Đông là lũy biển, phía Nam gần một dãy núi, tục gọi là núi Ô Rem, phía bên phải là phủ do Kính Quận công sai lính đắp bằng đá để trấn giữ chỗ hiểm yếu để chống lại quân Tây Sơn trước đây... đi 770 tầm, đây là giồng Ô Rem, phía đông Đường là bãi biển, phía Tây ven theo chân núi”, Lê Quang Định: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, (Phan Đăng dịch, NXB Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005, trang 60.

Chúng tôi khẳng định chắc chắn vùng này là eo biển Cà Ná, vì những miêu tả phù hợp hiện nay, có chi tiết về lũy chống quân Tây Sơn... và núi này xưa kia có tên: Ô Cam và Ô Rem!

Đình Hy

Những địa danh, di tích "ngựa" ở Tiền Giang

đăng 00:49, 17 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày xưa, đường bộ ở vùng đất Nam kỳ chưa phát triển, việc đi lại, vận chuyển chủ yếu bằng ghe xuồng. Năm 1792, chúa Nguyễn đắp đường Thiên Lý từ Gia Định về Cái Thia, lập các trạm mục, cấp ngựa cho trạm phu để thực hiện các công việc hỏa tốc vào mùa khô, nhưng mùa mưa họ vẫn sử dụng ghe thuyền để chuyển công văn giấy tờ. 

Đến khi người Pháp chiếm đất Nam kỳ, thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, mở mang giao thông đường bộ cùng với các phương tiện cơ giới khác như tàu chạy bằng máy hơi nước, xe lửa… thì việc dùng ngựa dần dần phổ biến, nhưng chỉ trong giới thượng lưu và quan chức; còn người bình dân vẫn thích dùng xe trâu, xe bò. 

Chợ Vòng Nhỏ. 


1. Sau khi chiếm Định Tường, chính quyền thực dân Pháp bắt dân đắp hai con đường ở phía tây thành Định Tường sử dụng vào việc tuần tra, đề phòng nghĩa quân tập kích. Sau đó hai con đường được mở rộng trải đá, hai bên trồng dừa. Theo mô tả dân gian, chiều chúa nhật các “thầy chú” thường cỡi xe đạp dạo quanh con đường nầy, đặc biệt là những ngày lễ lớn quan Tham biện Chủ tỉnh thường tổ chức đua ngựa. 

Đường đua thứ nhất dân gian đặt tên là đường Vòng nhỏ (người Pháp ghi là Petit tour d’Inspection - Vòng nhỏ của quan Tham biện). Đường thứ hai là đường Vòng lớn (Grande tour d’Inspection - Vòng lớn của quan Tham biện). Tấm ảnh của nhà chụp hình Nadal ở Sài Gòn chụp khoảng năm 1925 cho thấy hai bên đường Vòng nhỏ đã có hai hàng dừa cao, ước tính vài chục năm. Từ đó có thể giả định con đường nầy được đắp trễ nhất cũng vào khoảng năm 1900. 

Lúc bấy giờ, đường Vòng lớn và Vòng nhỏ đều ở ngoài đồng trống. Về sau dân cư phát triển mới trở nên đông đúc. Đường Vòng nhỏ chạy từ đầu đường Địa hạt số 6 (Route local No 6), nay là đường Ấp Bắc, vô ngã tư Hòa Phong rồi ra tận bờ sông Tiền. Vùng nầy xưa kia thuộc làng Bình Tạo, nhưng trước năm 1945 thuộc ấp Hòa Phong, xã Điều Hòa. 

Khi bắt đầu chỉnh trang đô thị, các làng thuộc TP. Mỹ Tho hiện nay đã bị xáo trộn rất lớn, đường Vòng nhỏ trở thành ranh giới 3 làng Điều Hòa, Bình Đức và Đạo Thạnh từ ngày 1-1-1933. Đường Vòng nhỏ hiện nay là đường Trần Hưng Đạo, trước năm 1975 mang tên là đường Pasteur. Cung đường còn sót lại ngôi chợ cùng tên: Chợ Vòng nhỏ, được lập từ lúc chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách dồn dân lập ấp. Hiện nay chợ Vòng nhỏ là một trong những ngôi chợ khá sầm uất của TP. Mỹ Tho. 

Bến Tắm Ngựa ngày xưa, nay là cuối đường Nguyễn Huỳnh Đức, P.2, TP. Mỹ Tho. 


Đường Vòng lớn cũng chạy từ đường Địa hạt số 6 ra tận tỉnh lộ 25, sát bờ sông Tiền. Đầu đường Vòng lớn có cầu Cống, có lẽ được xây từ lúc mới đắp con đường nầy, nay chỉ còn tên gọi. Địa điểm nầy thuộc làng Trung Lương, nay là xã Trung An. 

Đường Vòng lớn dài trên 2 cây số, cuối đường có kinh Xáng cụt do thực dân Pháp đào từ năm 1935; đến năm 1965 chính quyền Sài Gòn tiếp tục đào để lấy đất xây dựng căn cứ pháo binh, khu gia binh và khu gom dân. Con kinh xuyên qua lộ nên phải bắc cầu sắt, gọi là cầu sắt Bình Tạo. Đường Vòng Lớn hiện nay là Quốc lộ 60 đi qua cầu Rạch Miễu sang Bến Tre. 

Ở Gò Công cũng có một nơi dành để đua ngựa. Thực dân Pháp cho đào một cái ao lớn hơn 1 ha, bề sâu khoảng 3 mét, vừa để lấy đất làm nền cho các công sở dinh thự, vừa chứa nước cho người dân sử dụng. Mấy năm sau đó, họ đắp một con đường quanh bờ ao, chu vi gần 3 cây số. 

Lộ này dùng làm đường đua ngựa, gần bên ao có xây khán đài rất cao. Mỗi khi có cuộc lễ hay Tết Nguyên đán thì mở cuộc đua ngựa chạy quanh đường này. Sau đó thêm các cuộc đua xe đạp để giúp vui, cho nên người dân gọi là ao Trường Đua. Hiện nay khu vực này trở thành công viên ở trung tâm TX. Gò Công. 

Khi việc sử dụng xe ngựa phổ biến ở vùng Gò Công hơn các địa phương phía tây, Nhà thơ Hoàng Tố Nguyên trong tập thơ Gò Me đã ghi lại hình ảnh chiếc xe ngựa (có lẽ là xe thổ mộ) ở quê mình: 

“Con đê cát đỏ cỏ viền
Leng keng nhạc ngựa, đường lên chợ Gò”.

2. Khi xe ngựa phát triển thì có thêm dịch vụ đóng xe ngựa, xén lông, đóng móng... và một vài địa phương đắp đường đi ngựa, hay có những chỗ dành cho ngựa tắm, nay còn sót lại những địa danh như: Bờ Ngựa ở xã Nhị Quí (Cai Lậy), Bến Tắm Ngựa ở phường 2 (TP. Mỹ Tho). 

Bến Tắm Ngựa ở phường 2 (TP. Mỹ Tho) nằm cuối đường Nguyễn Huỳnh Đức, nơi ngày xưa từng là bãi đậu ghe thuyền của giới thương hồ. Chưa biết bến tắm này hình thành bao giờ, nhưng có lẽ sớm nhất cũng vào khoảng thời gian sau khi Tây chiếm Định Tường, lập trại ngựa, kho chứa cỏ và sử dụng ngựa làm phương tiện đi lại, tuần tra. 

Cuối thế kỷ XIX, ở đây có một bến đò sang Rạch Miễu (Bến Tre), sau đó dời lên đặt tại đầu đường De Castelneau (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), trở thành bến bắc Mỹ Tho, nay đã đi vào quá khứ. 

Đường Vòng Nhỏ ngày xưa. 


Hồi thực dân Pháp trở lại tái chiếm, rồi Nam bộ kháng chiến, bến Tắm Ngựa có lúc trở thành pháp trường. Bọn lính Tây ruồng bố, bắt được những người tình nghi là Việt Minh thì đem ra bến Tắm Ngựa xử bắn rồi đạp xác xuống sông. Ở khu phố này đã chứng kiến sự hy sinh oanh liệt của một chiến sĩ Việt Minh tên là Biếu, hy sinh vào năm 1946. 

Sự kiện được Nhà thơ Lương Giang ghi lại trong bài thơ “Cái chết của anh Biếu”: 

Nó đem lên xe kéo
Kéo ra bến Tắm Ngựa
Treo trước ngực đính bài
Đọc bản án rồi xử
Bắn anh tôi ngã gục
Nó xô xuống mé sông
Chiều về trên Cửu Long
Một buổi chiều vắng lặng... 

Bến Tắm Ngựa dừng hoạt động khi Mỹ Tho... không còn xe ngựa. Sau năm 1954, có lúc nơi đây là sào huyệt của các tay anh chị. Du đảng bến Tắm Ngựa đã từng bao vây đánh đoàn hát Thanh Minh tại rạp Viễn Trường và chuốc lấy thất bại, vì trong đoàn hát có các diễn viên rất giỏi võ như: Văn Ngà, Ba Xây, Ba Nghĩa... trấn giữ trước cửa rạp.

3. Ngoài ra, còn có nhiều địa danh khác như: 

Miếu Bạch Mã: Tọa lạc ấp Bình Lợi, xã Tân Mỹ Chánh (TP. Mỹ Tho). Miếu thờ Bạch Mã đã được người dân tôn tạo nhiều lần do bị hỏa hoạn và xuống cấp bởi thời gian. Tuy nhiên, trong căn miếu vẫn còn lưu giữ được tấm bia có khắc dòng chữ sắc phong từ khi lập miếu. 

Theo lưu truyền dân gian, trên đường bôn tẩu trước sự truy đuổi của quân Tây Sơn, vua Gia Long cưỡi ngựa bạch chạy đến vùng Gò Cát (nay thuộc ấp Bình Lợi) thì ngựa bị sa xuống một cái ao, không lên được. Nhà vua cùng tùy tùng tìm mọi cách cứu ngựa nhưng vẫn không cứu được, đành bỏ ngựa lại và chạy xuống vàm Kỳ Hôn. 

Trước khi đi, con ngựa chảy nước mắt như muốn từ biệt và gục chết… Thương con vật trung thành, sau này khi nghiệp lớn đã thành, vua Gia Long ra lệnh cho lập miếu và phong thần cho con vật đã trung thành với chủ. 

Bà Trần Thị Năm (66 tuổi, ở ấp Bình Lợi), là chủ khu vườn có miếu thờ, cho biết: Sự tích miếu thờ này có viết thành một tập giấy, được lưu giữ tại miếu, nhưng sau này vì hỏa hoạn đã bị đốt cháy. Theo lời kể của thân phụ bà (đã mất), trước đây còn có một cái ao nơi ngựa bạch chết, luôn đầy ắp nước ngay cả mùa khô. Lệ cúng Thần Bạch Mã tại miếu này được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 âm lịch, do bà con trong vùng đóng góp sản vật và tiền bạc tổ chức. 

Mả ngựa: Trong quá trình sưu tầm tài liệu cho bài viết về ngôi đình thần thờ Phó lãnh binh Phan Văn Dõng, một trong những phó tướng của Trương Định đã bị Pháp xử chém vì không đầu hàng giặc, chúng tôi tìm thấy mộ phần của ông hiện đang chôn tại khu vực Gò Hùm, thuộc ấp Bình Ninh, xã Bình Phục Nhứt, huyện Chợ Gạo. 

Ông Phan Văn Diễn (92 tuổi, ấp Bình Phú) là cháu sờ của ông Phan Văn Dõng kể lại: Trước đây, gần khu mộ có gò mả ngựa, nguyên là nơi chôn cặp ngựa quý mà Phó lãnh binh Phan Văn Dõng nuôi ở nhà dùng để cưỡi. Sau khi gia nhập nghĩa quân Trương Định và sau ngày ông bị Pháp xử chém, cặp ngựa này đã bỏ ăn, nhịn đói và chết theo. Thương đôi vật có tình, người nhà Phó lãnh binh đã mang đem chôn gần mộ phần của ông. Nghe lời kể lại, nơi mả ngựa rộng khoảng một mặt ghế bàn tròn, hoàn toàn không có ngọn cỏ nào mọc được. 

Cũng theo lời ông Bảy Diễn, làng Bình Trị ngày xưa (nay thuộc ấp Bình Phú, xã Bình Phục Nhứt) cũng là một trong những làng nuôi ngựa của miệt Chợ Gạo - Gò Công. Thời nhỏ, thân phụ của ông cùng nhiều người trong vùng có nuôi ngựa để chở hàng hóa và chở người. 

Ông còn nhớ rõ chi tiết, đến lệ cúng đình thần thờ Phó lãnh binh Phan Văn Dõng là cha ông mặc áo dài, đầu đội khăn đóng và cưỡi ngựa qua dự cúng đình. Vì là cháu họ của Phó lãnh binh Phan Văn Dõng, nên khi về, cha ông bao giờ cũng được Ban phụng sự đình gửi biếu cái thủ lợn và đến ngày nay ông cũng được ưu tiên hưởng phần như vậy. 

NGUYỄN NGỌC PHAN - PHÙNG LONG

1-10 of 18