Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Nghĩa tên gọi "Châu Đốc" là gì? Xin sơ lược trình bày tình hình tra cứu như sau:1- Gia Định Thành Thông Chí (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức (THĐ) là sách đầu tiên chép về tên ...
    Được đăng 04:54, 5 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Không trùng tên, nhưng trùng người TPHCM có rất nhiều con đường trùng tên,theo thống kê thì có đến hơn 200 con đường. Bên cạnh đó, có những con đường tuy không trùng tên nhưng ...
    Được đăng 01:58, 28 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mũi Isabelle ở Đà Nẵng dưới khía cạnh lịch sử và văn hóa Hiện nay, trong văn bản hành chính các cấp từ Trung ương đến địa phương hay trên các website du lịch và cả trong ngôn ngữ thường nhật của người ...
    Được đăng 21:04, 20 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tên ai được đặt thành tên đường nhiều nhất TPHCM? Sài Gòn có một số con đường trùng tên nhau. Theo thống kê, có tới hơn 300 con đường trùng tên. Thí dụ như có ông Nguyễn Đình Chiểu  ...
    Được đăng 01:36, 5 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Địa danh Rạch Ông - Quận 8 Vào những năm đầu thế kỷ 20, khu vực rạch Ong Lớn và rạch Ong Nhỏ là nơi ong thường về làm tổ, người dân vùng này đến đây lấy ...
    Được đăng 06:32, 30 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Nghĩa tên gọi "Châu Đốc" là gì?

đăng 04:54, 5 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan


Xin sơ lược trình bày tình hình tra cứu như sau:

1- Gia Định Thành Thông Chí (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức (THĐ) là sách đầu tiên chép về tên sông tên đất ở Gia Định xưa (Nam bộ ngày nay) kể từ lúc người Việt ta đặt chân đến đây rồi dần dần làm chủ đến giờ. (Chắc chắn sách được chép vào đời vua Gia Long 1802 – 1820. Bởi sang đầu đời vua Minh Mạng vừa có chiếu cầu sách cũ THĐ đã kịp thời dâng lên).

Theo lời giới thiệu của viện Sử Học Việt Nam trong dịp ấn hành ra mắt GĐTTC vào năm 1998 các sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên Đại Nam Nhất Thống Chí Phần Nam Kỳ Lục Tỉnh do các sử gia triều Nguyễn soạn ra sau đó cũng phải dựa vào đây.

2-Theo đó về một vùng đất về một con sông về một cái đồn mà sau này tất cả chúng ta đều gọi là “Châu Đốc” thì THĐ đã chép vào sách của mình bằng hai chữ Hán đọc theo âm Việt là “ Chu Đốc”.( Chữ “Chu” này thuộc bộ Mộc.Chữ “Đốc” thuộc bộ Trúc).

Với hai chữ này xét về nghĩa căn cứ chặt chẽ vào tự dạng thì “Chu” là “sắc đỏ”.Còn “Đốc”có nghĩa là “Thuần hậu không pha tạp” (“Đốc tín” là “dốc một lòng tin”. “Đôn đốc” là “dốc một lòng chăm chỉ trung hậu”).

Vậy nghĩa của tên gọi “Chu Đốc” căn cứ vào tự dạng như trên đã nói là   “Thuần hậu không pha tạp sắc đỏ ” chăng?

Xin thưa không phải vậy.

Vấn đề khá lắc léo phức tạp.Xin trình bày rõ thêm như sau:

Năm 1757 Nặc Tôn một hoàng thân nước Cao Mên dâng đất Tầm-Phong- Long cho chúa người Việt có tên là Nguyễn Phúc Khoát (ông nội vua Gia Long).Đây là thời điểm toàn đất Nam Bộ ngày nay về mặt chánh thức người Việt ta kết thúc xong sự thu phục của mình.

Từ sự kiện này nơi mà ngày nay ta gọi “Châu Đốc” lần đầu tiên trở thành biên địa lãnh thổ của người Việt với nước Cao Mên. Hay cũng có thể nói ngược lại lúc này phủ Mật Luật đối diện bên nước Cao Mên bắt đầu trở thành khu vực giáp giới với đất “Chu Đốc”của người Việt.Về mặt hình dạng của đường biên hồi ấy khúc khuỷu quanh co trông giống “cái mỏ của con heo”.Người Khmer hai bên nhân đó gọi là “mỏ heo” .Tiếng Khmer có âm điệu là  Moọc-Churút.Khi người Việt ta tới đây sinh sống chung lộn với người Khmer cũng dựa vào người bản xứ mà gọi là Moọc-Churút theo.

65 năm sau, vào đời Gia Long.Moọc-Churút bị nói trại đi .Không biết sai chạy đến mức nào, tuy nhiên khi lọt tới tai Trịnh Hoài Đức ông đã dùng hai chữ Hán “Chu Đốc” để phỏng chú cho cụm âm thanh có nguồn gốc thổ ngữ  Khmer này.Do vậy hiện nay nếu cần giải thích nghĩa tên gọi “Châu Đốc” là gì bắt buộc phải đặt đối tượng vào lại bối cảnh lịch sử này.Và tất nhiên “Chu Đốc” chỉ có thể mang nghĩa là “mỏ con heo”.Nói chính xác hơn do đã “rơi” mất thành tố âm ngữ “Moọc” ở phía trước chỉ còn lại “Churút” nên nghĩa của nó theo đó chỉ còn là “Con Heo” mà thôi.

Nhưng chiếu theo tự dạng như trên đã nói đọc là “Chu Đốc” sao hiện nay lại trở thành “Châu Đốc” ?

Theo tôi điều này không lấy gì làm khó hiểu. Hồi ấy ông sơ của vua Gia Long tên Nguyễn Phúc Chu.Mọi người đành kỵ úy đọc chữ “Chu” thành “Châu”.“Chu Đốc” từ đó biến thành “Châu Đốc”.Không thể nói nghĩa của chữ “Châu” ở đây là “đất” hay “một khu vực lãnh thổ…” được. Bởi trong sách GĐTTC của THĐ không hề viết là “Châu” thuộc bộ Xuyên để có thể giải thích nghĩa như trên.Thậm chí giả dụ có là chữ “Châu” thuộc bộ Xuyên đi nữa cũng  vẫn không thể giải nghĩa nó là “một khu vực lãnh thổ…”.Vì hai chữ Hán trong sách GĐTTC nói trên  chỉ làm nhiệm vụ phỏng chú một ngữ âm khmer đã có trước.Một dạng ký âm bằng Hán tự.Rồi sau này khi ta dịch hai chữ Hán kia ra chữ  quốc ngữ mẫu tự La tinh đang dùng hiện nay nó đương nhiên trở thành C-h-â-u  Đ-ố-c. Một kiểu ký âm của ký âm. Thế thôi.


Sa Đéc, Đồng Tháp 25 Tết năm Tân Mão.
Trần Minh Tạo

Không trùng tên, nhưng trùng người

đăng 01:58, 28 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

TPHCM có rất nhiều con đường trùng tên,theo thống kê thì có đến hơn 200 con đường. Bên cạnh đó, có những con đường tuy không trùng tên nhưng... trùng người. Hai trường hợp quen thuộc nhất là cặp đường Đinh Tiên Hoàng - Đinh Bộ Lĩnh  Quang Trung - Nguyễn Huệ.


Ở trường hợp đầu thì ông Đinh Bộ Lĩnh thuở hàn vi ở Bình Thạnh, đến chừng lên làm vua lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng thì chuyển hộ khẩu sang quận 1 ngay. Trường hợp Quang Trung - Nguyễn Huệ thì ngược lại, thuở còn áo vải mang tên Nguyễn Huệ thì ở ngay khu vực trung tâm quận 1, nhưng khi lên ngôi hoàng đế Quang Trung thì chuyển sang tận Gò Vấp.


Nguyễn Huệ ở quận 1


Quang Trung thì ở Gò Vấp


Một trường hợp ông vua khác là Lê Thánh Tôn ở quận 1, lại ở Thủ Đức với niên hiệu Hồng Đức.


Có tới 2 ông Hoàng Hoa Thám, một ông nằm ở quận Bình Thạnh, ông còn lại ở Tân Bình. Lại còn thêm ông Đề Thám ở quận 1 nữa.


Cùng là thủ lĩnh nghĩa quân như Đề Thám, ông Trương Định nằm ở quận 1, lại thêm ông Trương Công Định ở Tân Bình.


Nhà thơ thì có ông Tú Xương ở quận 3, và ông Trần Kế Xương (tức Trần Tế Xương) ở Phú Nhuận.


Điểm sơ sơ thì tui thấy có những con đường tuy không trùng tên, nhưng trùng người như vậy, ai tìm thấy trường hợp khác nữa xin kể thêm dùm nha.


Một trường hợp khá hi hữu là con đường mang tên Chu Thiên, ở phường Hiệp Tân, quận Tân Phú. Chu Thiên (1913 - 1992) là nhà văn, nhà sử học nổi tiếng với tác phẩm Bút nghiên, Bóng nước Hồ Gươm... Ông tên thật là Hoàng Minh Giám. TPHCM có con đường mang tên Hoàng Minh Giám ở Phú Nhuận.Vậy đây cũng là không trùng tên, nhưng trùng người như các trường hợp trên? Ờ, tưởng vậy mà không phải vậy, ngược lại đây là trùng tên, nhưng không trùng người. Vì ông Hoàng Minh Giám ở Phú Nhuận không phải ông Chu Thiên -  Hoàng Minh Giám mà là Hoàng Minh Giám (1904 - 1995), nguyên thứ trưởng bộ Ngoại giao, bộ trưởng bộ Văn hóa!


Đường Chu Thiên


Đường Hoàng Minh Giám


Chuyện linh tinh về tên đường vậy đó. Vui hông?


Phạm Hoài Nhân

Mũi Isabelle ở Đà Nẵng dưới khía cạnh lịch sử và văn hóa

đăng 21:04, 20 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Hiện nay, trong văn bản hành chính các cấp từ Trung ương đến địa phương hay trên các website du lịch và cả trong ngôn ngữ thường nhật của người Đà Nẵng, mũi đất phía đông-bắc vịnh Nam Chơn gắn liền địa danh Hòn Hành được đồng nhất với tên gọi mũi Isabelle. Tuy nhiên, nếu đặt câu hỏi vì sao địa danh này mang tên là mũi Isabelle, chắc hẳn không phải ai cũng có thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng. 

Mũi Isabelle (Hòn Hành) nhìn từ bờ tây-nam vịnh Nam Chơn hiện nay. Ảnh: T.T 


Hòn Hành trước thế kỷ XIX có tên là núi Thông (Thông sơn: 葱山), tục gọi Hòn Hành (Hòn Hành: 㞩行), nguyên văn là “Thông sơn tục danh Hòn Hành”: 葱山俗名㞩行. Năm 1823, vua Minh Mạng triều Nguyễn đổi tên núi Thông thành núi Định Hải (Định Hải sơn: 定海山), xây pháo đài ở đó gọi là pháo đài Định Hải (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn hóa Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, quyển 5, Sài Gòn, 1962, phần Hán-Nôm, mục Xuyên Sơn, trang 17). 

Vị trí pháo đài Định Hải dưới tên gọi pháo đài Núm vú (Fort du Mamelon) trên bản đồ chiến sự Pháp ngày 18-11-1859. (Nguồn: Colonel Henri de Ponchalon, sách đã dẫn, trang 217) 


Trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Đà Nẵng (1858-1860), do bế tắc trước sức chống trả kiên cường của quân và dân Việt Nam quanh khu vực hạ lưu sông Hàn, ngày 18-11-1859, liên quân Pháp-Tây Ban Nha quyết định mở cuộc tấn công pháo đài Định Hải (nằm trên Hòn Hành) và đồn Chơn Sảng nằm bên bờ vịnh Nam Chơn (gần pháo đài Định Hải) hòng làm chủ con đường đèo Hải Vân và đánh chiếm Hải Vân quan để chặn đường liên lạc giữa Đà Nẵng với Kinh đô Huế. 

Từ 6 giờ sáng, hạm đội 8 chiếc gồm hai pháo hạm Avalanche và Alarme, soái hạm Némésis, tàu Tây Ban Nha Jorgo-Juan, chiến hạm hơi nước Phlégéton, hai tàu lai dắt Prégent và Norzagarai, tàu vận tải Marne rời vụng tàu dưới chân bán đảo Sơn Trà tiến về phía tây-bắc vịnh Đà Nẵng. Cuộc hành quân bị chậm lại bởi cột buồm chính của tàu Prégent gặp sự cố gãy vỡ. 

Liên quân Pháp-Tây Ban Nha chia làm ba cánh: cánh của Thiếu tá Pallières gồm 1 phân đội công binh, 1 đại đội pháo binh và 6 đại đội thủy quân lục chiến Pháp có nhiệm vụ chiếm đồn Chơn Sảng nằm trên đường ngựa trạm; cánh lính Tây Ban Nha có nhiệm vụ bắn sập pháo đài Định Hải xây bằng đá nằm trên Hòn Hành và khống chế vịnh Nam Chơn cùng con đường ngựa trạm; cánh dự bị của Trung tá Reybaud gồm 5 đại đội thủy quân lục chiến Pháp và 2 đại đội lính Tây Ban Nha dàn quân trên vịnh cho đến khi kết thúc cuộc tấn công, với mục tiêu là chiếm khu dịch trạm Nam Chơn nằm bên bờ biển phía trước đồn chính Chơn Sảng. 

Vị trí pháo đài Định Hải dưới tên gọi Fort Isabelle II trên bản đồ chiến sự Pháp năm 1860 (Thiết lập tiếng Pháp từ bản đồ vịnh Đà Nẵng trên báo “Le Monde Illustré” ra ngày 12-5-1860 tại Paris, Pháp, trang 312-313). 


Trước giờ nổ súng, lính tấn công của Pháp-Tây Ban Nha chuyển xuống những chiếc sà lúp chuẩn bị để sẵn sàng đổ bộ, còn lực lượng dự bị ở lại trên tàu vận tải Marne. Lúc này quân Pháp gọi pháo đài Định Hải bằng thuật ngữ pháo đài Núm vú: Fort du Mamelon (Theo Colonel Henri de Ponchalon, Indo-Chine, souvenirs de voyage et de campagne, 1858-1860, Maison A. Mame et Fils à Tours, Paris, 1896, trang 215). 

Vào khoảng 9 giờ, tàu Pháp và Tây Ban Nha bắt đầu khai hỏa cấp tập. Quân nhà Nguyễn trên pháo đài Định Hải nổ súng phản pháo quyết liệt, nhiều quả đại bác bay sượt qua đầu các tàu chiến giặc. Đồn chính Chơn Sảng cũng nổ súng chống trả, nhưng mới bắn được 4 phát đại bác thì bị trúng đạn trái phá từ tàu Tây Ban Nha Jorgo-Juan khiến tiếng đại bác ở đây giảm dần rồi im bặt. 

Song, quả đại bác thứ ba từ đồn chính Chơn Sảng “đã cắt đứt đôi thân mình Thiếu tá công binh Déroulède đang đứng cạnh Chuẩn Đô đốc Page trên khoang thượng phía đuôi soái hạm Némésis, làm Page bị lấm máu khắp người; quả đạn đó còn bay tiếp giết chết thêm một hạ sĩ thủy thủ đài chỉ huy, cắt đứt dây néo cột buồm lái và làm bị thương hai chuẩn úy hải quân cùng một số thuỷ thủ khác” (Theo Colonel Henri de Ponchalon, sách đã dẫn, trang 216). 

Vị trí pháo đài Định Hải trên bản đồ của quân Nguyễn năm 1859 (Thiết lập thêm tiếng Việt từ bản đồ chiến sự Đà Nẵng theo nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/(1858-1859)/media/File:Carte_de_Tourane_1859.jpg) 


Ụ súng bắn đá của đồn Chơn Sảng cũng tham gia chiến đấu, nhưng bắn trả không nhiều bởi những quả đạn trái phá từ các tàu giặc làm cháy bùng đồn Chơn Sảng và tan nát pháo đài Định Hải; những kho thuốc súng nổ tung lên, khiến quân nhà Nguyễn do Phó vệ úy Lê Hòa, Thành thủ úy Tôn Thất Mưu chỉ huy phải bỏ đồn và pháo đài rút quân để bảo toàn lực lượng. 

Quân Pháp-Tây Ban Nha dùng sà lúp đổ bộ vào bờ, nhưng không bắt gặp ai tại đồn chính và ụ súng bắn đá của đồn Chơn Sảng, thu được 3 đại bác dùng cho thủy quân cỡ nòng 12cm và vài súng bắn đá. Còn tại pháo đài Định Hải, quân Tây Ban Nha bắt sống 3 lính nhà Nguyễn, chiếm được 5 khẩu đại bác cỡ nòng 24cm bằng sắt đã hơi hoen rỉ. Khu làng Chơn Sảng còn nguyên vẹn nhưng liền bị liên quân đốt rụi. 

Vào giữa trưa, những toán lính Pháp khác tiến sang chiếm đóng dịch trạm Nam Chơn, lính Tây Ban Nha giữ pháo đài Định Hải, còn cánh quân dự bị quay lại Đà Nẵng. 

Trong thời gian chiếm đóng pháo đài Định Hải, lính Tây Ban Nha không dùng tên pháo đài Núm vú do người Pháp gọi trước đó, mà lấy tên nữ hoàng đương triều của mình là Isabelle Đệ nhị, tức Isabelle II nếu viết theo tiếng Pháp, còn tiếng Tây Ban Nha là Isabel II (1830-1904, tên đầy đủ: María Isabel Luisa de Borbón y Borbón-Dos Sicilias) để đặt tên nơi đây thành pháo đài Isabelle II (Theo Colonel Henri de Ponchalon, sách đã dẫn, trang 231). Tên pháo đài Isabelle II còn được đưa lên bản đồ quân sự từ thời điểm này. 

Tranh pháo đài Định Hải bị liên quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công ngày 18-11-1859. (Nguồn: Báo “L’Illustration, Journal Universel” ra ngày 21-1-1860 tại Paris, Pháp, trang 41) 


Sau hơn ba tháng kể từ ngày chiếm đóng nhưng vẫn bế tắc vì luôn thất bại trong nỗ lực đánh chiếm đường đèo Hải Vân, vào 7 giờ sáng 29-2-1860, liên quân Pháp-Tây Ban Nha đánh mìn giật sập pháo đài Định Hải, đồn Chơn Sảng và dịch trạm Nam Chơn rồi rút về những tiền đồn ở chân núi Sơn Trà, trước khi di tản toàn bộ khỏi Đà Nẵng vào 23-3-1860. 

Như vậy, tại Hòn Hành, từ tên pháo đài Định Hải, trước khi chiếm đóng quân Pháp gọi là pháo đài Núm vú, song quân Tây Ban Nha đổi tên lại là pháo đài Isabelle II sau khi chiếm giữ. 

Trải qua thời gian dài, người Việt đã lược giản tên Nữ hoàng Isabelle II thành Isabelle theo quy luật giản âm của ngôn ngữ, tạo thành thói quen cho đến ngày nay, để cùng với nghĩa địa Y Pha Nho là hai địa danh để lại dấu tích ngôn ngữ Tây Ban Nha trong cuộc chiến mà họ liên quân với Pháp xâm lược Đà Nẵng 160 năm trước. 

Tên mũi Isabelle hiện nay không còn thể hiện nội hàm nguyên nghĩa, nhưng tri thức về nguồn gốc tên gọi Isabelle vẫn rất cần thiết được phổ biến trên báo chí, sách vở và trong đời sống xã hội; bởi nếu không nắm rõ những giá trị lịch sử và văn hóa kèm theo, địa danh chỉ còn là sự trống rỗng, vô hồn và xa lạ với xã hội hiện đại. 

NGUYỄN QUANG TRUNG TIẾN

Tên ai được đặt thành tên đường nhiều nhất TPHCM?

đăng 22:29, 18 thg 3, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:36, 5 thg 6, 2018 ]

Sài Gòn có một số con đường trùng tên nhau. Theo thống kê, có tới hơn 300 con đường trùng tên. Thí dụ như có ông Nguyễn Đình Chiểu ở quận 3 và có ông Nguyễn Đình Chiểu khác ở quận Phú Nhuận, có ông Lý Thường Kiệt ở quận 10 và ông Lý Thường Kiệt khác ở Gò Vấp,... Đó là chưa kể trường hợp không trùng tên nhưng... trùng người. Thí dụ như đường Quang Trung (Gò Vấp) với đường Nguyễn Huệ (quận 1), đường Đinh Tiên Hoàng (quận 1, Bình Thạnh) với đường Đinh Bộ Lĩnh (Bình Thạnh)...


Ngoài đường Nguyễn Huệ nổi tiếng ở quận 1, ta còn có các con đường... Quang Trung ở Gò Vấp. Hóc Môn và quận 9!


Hai (hoặc 3) con đường trùng tên với nhau ở TPHCM là khá phổ biến, thế nhưng có một trường hợp đặc biệt: tên một vị danh nhân được dùng đặt cho 5 con đường khác nhau ở TPHCM! Vị danh nhân đó là ai vậy?


Điều bất ngờ là mặc dù cũng là nhân vật đáng kính phục, nhưng công trạng của vị danh nhân này không hề nổi trội so với các vị danh nhân được đặt tên khác. Ông là Nguyễn Trường Tộ.


Thống kê các con đường mang tên Nguyễn Trường Tộ ở TPHCM như sau:


Đường Nguyễn Trường Tộ quận Phú Nhuận



Đường Nguyễn Trường Tộ quận 4



Đường Nguyễn Trường Tộ quận 9


Ở khu vực này ta thấy không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn hàng loạt đường trùng tên khác, nhu Quang Trung, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo...


Đường Nguyễn Trường Tộ quận Tân Phú



Đường Nguyễn Trường Tộ quận Thủ Đức



Thống kê thì tui thấy như vậy, các bạn có tìm thấy gì hay hơn thì xin kể cho nghe với nha!


Phạm Hoài Nhân

Địa danh Rạch Ông - Quận 8

đăng 06:32, 30 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Vào những năm đầu thế kỷ 20, khu vực rạch Ong Lớn và rạch Ong Nhỏ là nơi ong thường về làm tổ, người dân vùng này đến đây lấy mật nên đã đặt cho nó tên rạch Ong Lớn và rạch Ong Nhỏ, sau khi lấy các mật ong ở rạch này, đem qua 1 vùng cạnh đó bán, nên có một chiếc cầu ở đây mang tên cầu Mật. (Trong Đại Nam quốc âm tự vị ghi rạch Ong Lớn, rạch Ong Nhỏ). Các địa phương chí xưa dịch hai địa danh này ra chữ Hán: Đại Phong Giang và Tiểu Phong Giang. (Phong: con ong). Người Khơ-me gọi rạch Ong Lớn là Prê KimPon Khmum Thom, trong địa danh này có từ Khmum nghĩ là “con ong”.

Chợ Rạch Ông. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ngày nay, nhiều người gọi lầm viết sai thành rạch Ong Lớn, rạch Ong Nhỏ. Sau đó, người địa phương tạo hai địa danh mới và cũng đã viết sai: Cầu Rạch Ông, Chợ Rạch Ông thay vì cầu Rạch Ong (P1), chợ Rạch Ong (P2).

Phú Hòa - Biến đổi địa danh trong lịch sử

đăng 17:11, 28 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan


Một góc huyện lỵ Phú Hòa - Ảnh: MINH KÝ


Ngày 31/1/2002, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định 15/2002/NĐ-CP chia TX Tuy Hòa thành hai đơn vị hành chính là TX Tuy Hòa và huyện Phú Hòa. Đến thời điểm này, địa danh Phú Hòa chính thức có tên trên bản đồ Tổ quốc nhưng trước đó nhiều thế kỷ, vùng đất Phú Hòa đã có lịch sử hình thành và phát triển với những tên gọi khác nhau. 

Năm 1611, phủ Phú Yên được thành lập. Khi mới ra đời, phủ Phú Yên gồm hai đơn vị hành chính là huyện Đồng Xuân và huyện Tuy Hòa. Từ giữa nửa sau thế kỷ XVIII, phủ Phú Yên giữ vị trí xung yếu và nhân dân Phú Yên có đóng góp quan trọng trong phong trào Tây Sơn. 

Phú Yên là địa bàn tranh chấp ác liệt giữa hai lực lượng Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Năm 1801, đất Phú Yên thuộc hẳn về chúa Nguyễn Ánh. Từ năm 1801-1808, Phú Yên gọi là dinh. Từ năm 1808-1826, dinh Phú Yên đổi thành trấn Phú Yên. Trấn Phú Yên lúc này gồm hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa, với 6 tổng (mỗi huyện có 3 tổng Thượng, Hạ, Trung) và thuộc Hà Bạc. Vùng đất bắc sông Đà Rằng thuộc huyện Đồng Xuân (trừ Phú Sen xã, Kỳ Tấn Hà Lãng thôn và Phường Câu thôn ở phía bắc sông thuộc huyện Tuy Hòa) và toàn bộ vùng phía nam sông Đà Rằng thuộc huyện Tuy Hòa. 

Địa bạ Phú Yên năm Gia Long 14-15 (1815-1816) truy dụng năm Minh Mạng 11-12 (1830-1831) đề cập vùng đất huyện Phú Hòa ngày nay thuộc tổng Thượng huyện Đồng Xuân gồm các làng, xã (làng nhỏ gọi là thôn, làng lớn gọi là xã): An Thành xã, Bình An thôn, Cẩm Sơn thôn, Đá Bạc xã, Đại An Thọ Toàn thôn, Đại Phú thôn, Đồng Lâm xã, Ngọc Sơn thôn, Ngọc Sơn xã, Phong Đăng xã, Phú An xã, Phú Lộc xã, Phụng Các xã, Vĩnh An thôn, Phước Toàn xã. 

Năm 1826, vua Minh Mạng thăng làm tỉnh Phú Yên, thuộc tổng đốc Bình Phú thống hạt. Cũng trong năm này, vua Minh Mạng điều chỉnh địa giới các huyện. Huyện Tuy Hòa được mở rộng ra phía bắc sông Đà Rằng với phần lớn tổng Thượng huyện Đồng Xuân thuộc tổng Hòa Bình huyện Tuy Hòa (vùng đất huyện Phú Hòa ngày nay). 

Theo địa bạ triều Nguyễn truy dụng năm 1832 (Minh Mạng), vùng đất huyện Phú Hòa bao gồm: An Thạnh xã (An Nghiệp, Thạnh Nghiệp, Hòa Định Tây), Bình An thôn (nay là thôn Đông Bình, xã Hòa An), Cẩm Sơn thôn (nay là thôn Cẩm Sơn, xã Hòa Quang Bắc), Đá Bạc xã (nay là thôn Cẩm Thạch, xã Hòa Định Tây), Đại An Thọ Toàn thôn (nay là thôn Thạnh Lâm, xã Hòa Quang Bắc và thôn Phú Thạnh, xã Hòa Quang Nam), Đại Phú thôn (nay là thôn Đại Phú, xã Hòa Quang Nam), Đồng Lâm xã (nay là thôn Mậu Lâm Nam, xã Hòa Quang Nam và Mậu Lâm Bắc, xã Hòa Quang Bắc), Ngọc Lãnh thôn (Ngọc Sơn thôn đổi tên thành Ngọc Lãnh thôn), Ngọc Sơn xã (nay là thôn Ngọc Sơn, xã Hòa Quang Bắc), Phong Đăng xã (nay là thôn Phong Niên, xã Hòa Thắng), Phú Ân xã (thôn Phú Ân, xã Hòa An ngày nay), Phú Lộc xã (có hai giáp: giáp đông và giáp tây, tương ứng với thôn Đông Lộc và Phú Lộc, xã Hòa Thắng), Phú Sen xã (nay là thôn Phú Sen, xã Hòa Định Tây), Phụng Các xã (năm 1832 đổi tên là Phụng Tường; năm 1899 chia thành ba làng là Long Tường, Phụng Tường và Phụng Nguyên), Vĩnh An thôn (năm 1832 đổi tên là Vĩnh Phú, nay là thôn Vĩnh Phú, xã Hòa An), Phước Toàn xã (Phước Toàn xã có 3 giáp: giáp đông, giáp tây, giáp trung). Giáp đông xã Phước Toàn chia thành hai giáp nhỏ. 

Năm 1832 giáp đông xã Phước Toàn được đặt tên là làng Đông Phước. Hộ Bình thôn (nguyên là Bình An thôn) sau đổi tên là thôn Đông Bình. Giáp tây xã Phước Toàn được đặt tên là làng Tây Hậu, sau chia thành hai làng là Quy Hậu và Phước Khánh (giáp trung Phước Toàn xã sau là làng Phước Hậu, xã Bình Kiến, nay là phường 9, TP Tuy Hòa). 

Năm 1853 đổi làm đạo Phú Yên, đặt một Quản đạo, giấy tờ phải đặt ba chữ tỉnh Bình Định lên đầu. Năm 1876, lại đặt làm tỉnh Phú Yên vẫn do tổng đốc Bình Phú thống quản. Năm Kỷ Hợi 1899 (Thành Thái 11), tỉnh Phú Yên chia ra thành phủ và hai huyện. Từ đây, bỏ hệ thống phủ cai quản huyện. Phủ và huyện là đơn vị hành chính như nhau, dẫu vẫn giữ nguyên tắc “phủ thống hạt (thống quản) huyện”. Tỉnh lỵ đóng tại Sông Cầu. 

Đầu thế kỷ XX, phủ Tuy Hòa thành lập tổng Hòa Tường (gồm các làng Đại Bình, Đại Phú, Nho Lâm, Hạnh Lâm, Tường Phú, Thường Thạnh, Tịnh Lâm, Mậu Lâm, Cẩm Sơn, Ngọc Lãnh, Đồng Hòa, Đồng Mỹ, Ngọc Sơn và các làng thuộc các xã Hòa Định Đông, Hòa Thắng ngày nay). 

Ngày 17/10/1921, chính quyền Pháp có nghị định tách Phú Yên trở thành tỉnh độc lập và không còn lệ thuộc vào tỉnh Bình Định. Sự chia tách này có ý nghĩa quan trọng, Phú Yên trở về đơn vị hành chính cấp tỉnh và được đầu tư như một tỉnh lỵ khác ở khu vực Trung Kỳ. Hệ thống hành chính thời Pháp thuộc giữ nguyên trạng đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945. 

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày 22/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh 63 quy định việc tổ chức HĐND cấp tỉnh (thành phố), huyện (thị xã) và xã. Hiến pháp 1946 xác định nguyên tắc hành chính đó. 

Tháng 6/1946, thực hiện chỉ đạo của Ủy ban hành chính Trung Bộ, Phú Yên tiến hành điều chỉnh các cấp hành chính, bỏ cấp phủ và tổng. Nhập các làng nhỏ thành xã, trực thuộc huyện Tuy Hòa, Tuy An, Đồng Xuân, Sơn Hòa và khu Đồng Bò, gồm 84 xã. 

Trên địa bàn Phú Hòa lúc ấy hình thành các xã: Quy Khánh (sáp nhập hai thôn Quy Hậu và Phước Khánh), Nam Tường (sáp nhập ba thôn Phụng Tường, Long Tường, Phụng Nguyên), Trần Hào (sáp nhập các thôn Nho Lâm, Hạnh Lâm, Đại Bình, Đại Phú), Ái Quốc (sáp nhập các thôn Ngọc Sơn, Ngọc Lãnh, Cẩm Sơn, Đồng Mỹ, Đồng Hòa), Thắng Lợi (sáp nhập các thôn Trường Phú, Thường Thạnh, Tịnh Lâm, Mậu Lâm), Vĩnh Nghiệp (sáp nhập các thôn Thạnh Nghiệp, An Nghiệp), Cẩm Phong (sáp nhập các thôn Cẩm Thạch, Phú Sen, Phong Hậu trực thuộc khu Đồng Bò). Khi sáp nhập khu Đồng Bò vào phủ Tuy Hòa thì cắt thôn Phong Hậu về huyện Sơn Hòa và tên xã được đổi lại là Cẩm Phú; Tân Tiến (sáp nhập các thôn Phong Niên, Phú Lộc, Đông Lộc, Mỹ Hòa), Quốc Tuấn (sáp nhập các thôn Vĩnh Phú, Phú Ân, Đông Phước, Đông Bình, Ngọc Lãng). 

Tháng 11/1946, thực hiện chủ trương của Ủy ban hành chính Trung Bộ, Phú Yên chia làm 6 chiến khu và hai huyện miền núi. Chiến khu I gồm các xã phía nam sông Đà Rằng; chiến khu II gồm các xã phía bắc sông Đà Rằng; chiến khu III gồm các xã thuộc huyện Tuy An; chiến khu IV gồm các xã thuộc huyện Sơn Hòa; chiến khu V gồm các xã thuộc phía tây huyện Đồng Xuân; chiến khu VI gồm các xã thuộc phía đông huyện Đồng Xuân (nay là TX Sông Cầu) và hai huyện là Tân Sơn (thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Sơn Hòa) và Tân Xuân (thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Đồng Xuân). 

Cuối năm 1947, thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo Ủy ban kháng chiến, Ủy ban hành chính Trung Bộ; Phú Yên bỏ cấp chiến khu, gọi tên cấp huyện như cũ, sáp nhập huyện Tân Sơn vào huyện Sơn Hòa, huyện Tân Xuân vào huyện Đồng Xuân, khu Đồng Bò vào huyện Tuy Hòa. Đồng thời tỉnh tiến hành nhập một số xã. 

Trên địa bàn Phú Hòa lúc ấy hình thành các xã sau: Hòa Trị (sáp nhập hai xã Quy Khánh và Nam Tường), Hòa Nghiệp (xã Vĩnh Nghiệp đổi tên), Hòa Quý (xã Cẩm Phú đổi tên), Hòa Tường (xã Trần Hào đổi tên), Hòa Hảo (xã Ái Quốc đổi tên), Hòa Lợi (xã Thắng Lợi đổi tên), Hòa Thắng (xã Tân Tiến đổi tên), Hòa An (xã Quốc Tuấn đổi tên) và bao gồm diện tích các phường nội thị Tuy Hòa ngày nay từ phường 1 đến phường 6. 

Ngày 29/3/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 149 sáp nhập Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính các cấp thành Ủy ban kháng chiến - Hành chính. Trên địa bàn Phú Hòa, có các xã sau: Hòa trị, Hòa Quang (sáp nhập ba xã Hòa Tường, Hòa Hảo, Hòa Lợi), Hòa Định (sáp nhập hai xã Hòa Quý và Hòa Nghiệp), Hòa Thắng, Hòa An (bao gồm cả TX Tuy Hòa). 

Địa danh các xã chủ yếu được cấu tạo theo tên huyện như Tuy Hòa có các xã Hòa Thành, Hòa Bình, Hòa Phong, Hòa Tân, Hòa Đồng, Hòa Mỹ, Hòa Hiệp, Hòa Xuân, Hòa Vinh, Hòa Kiến, Hòa Trị, Hòa Quang, Hòa Thắng, Hòa Định, Hòa An; TX Tuy Hòa (lúc khởi nghĩa gọi là khu Tuy Hòa, sau đó thuộc xã Hòa An) gồm các phường: phường 1 (Bình Nhạn), phường 2 (Bình Tịnh), phường 3 (Bình An), phường 4 (Bình Mỹ), phường 5 (Bình Hòa), phường 6 (Bình Lợi), phường 7 (Bình Phú). 

Cuối năm 1953, để tiện quản lý lãnh thổ và củng cố chính quyền phục vụ kháng chiến kiến quốc, các xã phía bắc sông Đà Rằng thuộc huyện Tuy Hòa được tách ra thành lập huyện Tuy Hòa 2. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, Phú Yên tạm giao cho đối phương quản lý trong thời gian chờ hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 

Ngày 27/5/1958, chính phủ Ngô Đình Diệm ký Nghị định 263BNV/HC/P6 quy định đơn vị hành chính Phú Yên. Theo đó, Phú Yên chia thành 6 quận: Đồng Xuân, Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hòa (TX Tuy Hòa còn gọi là xã Châu Thành) và quận Sơn Hòa. 

Ngày 12/7/1962, chính quyền Ngô Đình Diệm ký Nghị định 723NV thành lập quận mới Hiếu Xương gồm 7 xã: Đức Thành (Sơn Thành), Hòa Đồng, Hòa Mỹ, Hòa Thịnh, Hòa Phong, Hòa Tân, Hòa Bình; quận lỵ đặt tại xã Hòa Phong. 

Ngày 21/12/1963, chính quyền Sài Gòn ký Nghị định 304 TTP ĐVHC sáp nhập các xã Hòa Thành, Hòa Hiệp, Hòa Vinh, Hòa Xuân (gốc thuộc quận Tuy Hòa) vào quận Hiếu Xương và nhập hai xã An Thọ, An Chấn (gốc quận Tuy An) vào quận Tuy Hòa. 

Về phía chính quyền cách mạng: Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Tỉnh ủy tập trung xây dựng chiến khu Thồ Lồ, thành lập các huyện ủy Đồng Xuân, Tuy An, Tuy Hòa, Sơn Hòa, giữ vững sự chỉ đạo xuyên xuốt từ tỉnh xuống các địa phương. Cuối năm 1956, Tỉnh ủy Phú Yên quyết định thành lập huyện Tuy Hòa 2 (phía bắc sông Đà Rằng tương đương với huyện Phú Hòa và TP Tuy Hòa ngày nay). 

Tháng 3/1965, Tỉnh ủy Phú Yên thành lập C6 - đơn vị tiền thân của Thị ủy Tuy Hòa. Ngày 6/8/1965, Tỉnh ủy thành lập Thị ủy Tuy Hòa chỉ đạo 6 phường nội thị và các xã Bình Phú A, Bình Phú B, Bình Phú C (tương ứng 2/3 xã Hòa Kiến cũ) để làm bàn đạp hoạt động. 

Huyện Tuy Hòa 2 trong kháng chiến chống Mỹ gồm các xã: Hòa Định, Hòa Quang, Hòa Trị, Hòa Thắng, Hòa Kiến. Đến ngày giải phóng, chính quyền cách mạng Phú Yên có 9 đơn vị huyện, thị trực thuộc: TX Tuy Hòa và các huyện Tuy Hòa 1, Tuy Hòa 2, Tuy An, Đồng Xuân, Sông Cầu, Sơn Hòa, Miền Tây, Tây Nam. Sau ngày giải phóng, UBND cách mạng tỉnh Phú Yên vẫn tiếp tục duy trì 9 đơn vị hành chính. 

Đến tháng 9/1975, toàn tỉnh có 70 xã, phường, thị trấn. Ngày 30/10/1975, Tỉnh ủy và UBND cách mạng tỉnh Phú Yên quyết định sáp nhập huyện Tây Nam vào huyện Sơn Hòa; sáp nhập huyện Đồng Xuân và huyện Sông Cầu thành huyện Đồng Xuân; sáp nhập huyện Tuy Hòa 1 và huyện Tuy Hòa 2 thành huyện Tuy Hòa. 

Ngày 3/11/1975, tỉnh Phú Yên sáp nhập với tỉnh Khánh Hòa thành tỉnh Phú Khánh. Ngày 10/3/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 49/CP hợp nhất huyện Tuy An, huyện Đồng Xuân và các xã Sơn Long, Sơn Định, Sơn Xuân, Phú Mỡ thành lập huyện mới Xuân An; hợp nhất huyện Tuy Hòa và TX Tuy Hòa thành huyện Tuy Hòa. Các xã còn lại ở miền núi thuộc huyện Tây Sơn. Bắc Phú Khánh (Phú Yên cũ) chỉ có ba đơn vị hành chính (ba huyện: Tuy Hòa, Xuân An, Tây Sơn). 

Ngày 22/9/1978, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 241/CP chia huyện Tuy Hòa thành hai huyện Tuy Hòa và TX Tuy Hòa. TX Tuy Hòa gồm 6 phường nội thị và hai xã Bình Kiến, Bình Ngọc. 

Ngày 23/4/1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 177/CP thành lập xã Hòa Hội trực thuộc huyện Tuy Hòa trên cơ sở sáp nhập vùng kinh tế mới ở buôn Hố Hầm, thôn Phong Hậu, xã Sơn Hòa, huyện Tây Sơn và thôn Lỗ Rong, xã Hòa Quang, huyện Tuy Hòa. 

Ngày 5/9/1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 100 HĐBT chia tách một số xã thuộc các huyện Đồng Xuân, Tuy An, Tuy Hòa và TX Tuy Hòa. Ở TX Tuy Hòa, chia xã Bình Kiến thành hai xã Bình Kiến và Hòa Kiến; chia xã Hòa Định thành hai xã Hòa Định Đông và Hòa Định Tây. 

Đến thời điểm tách tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, tỉnh Phú Yên được tái lập gồm TX Tuy Hòa và 6 huyện Tuy Hòa, Tuy An, Sông Cầu, Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh (gồm 6 phường, 6 thị trấn và 79 xã). 

Sau ngày tái lập tỉnh (1/7/1989), để đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển, Phú Yên được Chính phủ chấp thuận và có quyết định điều chỉnh địa giới hành chính một số địa phương thuộc quyền quản lý, trong đó có việc thành lập huyện mới Phú Hòa và hình thành một số xã trên vùng đất huyện Phú Hòa ngày nay. 

Ngày 31/1/2002, Chính phủ ban hành Nghị định 15/2002/NĐ-CP chia TX Tuy Hòa thành hai đơn vị hành chính là TX Tuy Hòa và huyện Phú Hòa. 

Ngày 20/8/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 95/2003/CP thành lập xã Ea Ly (huyện Sông Hinh); chia xã Hòa Quang (huyện Phú Hòa) thành hai xã Hòa Quang Bắc và Hòa Quang Nam. 

Ngày 3/12/2007, Chính phủ ban hành Nghị định 175/2007/NĐ-CP thành lập thị trấn Phú Hòa, trung tâm huyện lỵ của huyện Phú Hòa. Đến cuối năm 2009, Phú Yên có 9 đơn vị thành phố, thị xã, huyện trực thuộc (TP Tuy Hòa, TX Sông Cầu và các huyện: Đông Hòa, Tây Hòa, Phú Hòa, Tuy An, Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh). 

Hiện nay, huyện Phú Hòa có 9 đơn vị xã, thị trấn: Hòa Trị, Hòa Quang Nam, Hòa Quang Bắc, Hòa Hội, Hòa Định Tây, Hòa Định Đông, Hòa Thắng, Hòa An và thị trấn Phú Hòa. 

PHAN THANH

Những cụm đường mang tên ngồ ngộ ở Sài Gòn

đăng 09:29, 19 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan


1.

Ở phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, các con đường dọc mang tên là những khái niệm như: Dân Chủ, Bác Ái, Công Lý, Thống Nhất, Đoàn Kết, Hữu Nghị, Hòa Bình. Các con đường ngang mang tên các nhà trí thức, bác học cả Việt Nam lẫn nước ngoài, như: Lê Quý Đôn, Hồng Đức (tức Lê Thánh Tôn), Einstein, Khổng Tử, Lương Khải Siêu, Tagore, Pateur, Hàn Thuyên, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến.



Nghe kể rằng theo quy hoạch Làng đại học Thủ Đức hồi cuối thập niên 1960 thì nơi đây thuộc Làng và là khu nhà ở (dạng biệt thự) cho các giảng viên đại học. Chính vì vậy, các tên đường trong khu này đầy vẻ trí thức. Bây giờ nơi đây không còn là làng đại học (mà chủ yếu là... nhà hàng, quán ăn, như ta thấy trên bản đồ) nhưng đi trên các con đường Tagore, Einstein, Bác Ái, Dân Chủ...  có cảm giác rất thú vị.


2.

Ở khu cư xá Bắc Hải (phường 15, quận 10, TPHCM) có một cụm đường mà các đường ngang là tên núi: Bửu Long, Châu Thới, Thất Sơn, Trường Sơn, Ba Vì, Bạch Mã, Tam Đảo... còn các đường dọc là tên sông: Đồng Nai, Cửu Long, Hương Giang...



Tương tự như cụm đường ở Làng Đại học, xưa kia đây là những con đường nội bộ trong cư xá sĩ quan Chí Hòa. Cư xá này được xây dựng khi quân đội Pháp trở lại chiếm Sài Gòn, nhưng lúc ấy đường chưa có tên.Từ năm 1969, cư xá được giao cho một ban điều hành tự quản, ban điều hành này đã đặt tên các con đường nội bộ như trên.


3.

Ở khu dân cư Gia Hòa, phường Phước Long B, quận 9 có các con đường mang tên văn nghệ sĩ: Thanh Nga, Út Trà Ôn, Xuân Quỳnh, Huy Cận, Trịnh Công Sơn, Diệp Minh Tuyền...



Đây là các con đường nội bộ trong Khu dân cư Gia Hòa, ban đầu được đánh số. Đầu năm 2015, ban quản lý khu dân cư đề xuất và được quận 9 chấp thuận đặt tên đường như trên. Hiện giờ xen giữa những con đường mang tên văn nghệ sĩ vẫn còn những con đường đánh số, trong tương lai có lẽ sẽ được đặt tên dần.


4.

Ở khu Phan Xích Long, quận Phú Nhuận, có những con đường mang tên hoa. Có tất cả 13 loài hoa được đặt cho 13 con đường nhỏ giao nhau như một bàn cờ ở khu Phan Xích Long, đó là các đường: Hoa Hồng, Hoa Lan, Hoa Phượng, Hoa Mai, Hoa Đào, Hoa Cau, Hoa Cúc, Hoa Sứ, Hoa Huệ, Hoa Sữa, Hoa Lài, Hoa Trà, Hoa Thị...



Hơi khác với 3 trường hợp trên, đây không phải những con đường nội bộ mà chỉ là những đường nhỏ quanh Phan Xích Long, trước đây không có tên. Con đường dài nhất trong 13 đường hoa này là đường Hoa Lan cũng chỉ dài 650 met. Không rõ những tên đường này được đặt từ bao giờ, nhưng chắc là sau năm 2000.


Lời bàn:


Nhiều người cho rằng các con đường nội bộ thì tốt nhất là đặt tên bằng số để người ta dễ xác định được vị trí. Như đường số 2 sẽ gần đường số 1. Hoặc là đặt theo dạng N1, N2, N3, D1, D2, D3... trong đó N là đường ngang, D là đường dọc.


Nhiều người cho rằng tên đường phải là tên người, chứ đặt tên hoa, tên núi, tên sông... thì kỳ quá.


Có người khắt khe hơn nữa, cho rằng đặt tên người thì phải là anh hùng, danh tướng, chứ đặt tên văn nghệ sĩ thì không hợp lý.


Tui chỉ ghi lại những ý kiến trên chớ không bàn luận. Riêng tui, tui thấy việc đặt tên đường như các trường hợp kể trên rất thú vị, ít nhất là không nhàm chán!


Phạm Hoài Nhân

Từ Phan Lý xưa đến Phan Rí Cửa nay

đăng 04:50, 28 thg 9, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Khi đi tìm tư liệu về tổ chức hành chánh đầu tiên của huyện Hàm Tân - La Gi qua chặng đường hình thành 100 năm, tôi lại phát hiện thêm một sự kiện có tính lịch sử khá thú vị là ngày 18/2/1916 “Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập thị xã Phan Rí (tỉnh Bình Thuận)”. Như vậy chỉ sau 18 năm, ngày thành lập thị xã Phan Thiết (1898) - thủ phủ của tỉnh Bình Thuận - lại cùng lúc với huyện Hàm Tân. Theo “Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 - 1918)” của Viện Sử học - 2003. Cũng cùng năm này, Toàn quyền Đông Dương quyết định chia tách và thành lập tỉnh Lâm Viên, tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Từ đó tách hai địa lý Đà Lạt và Di Linh ra khỏi Bình Thuận. Sự kiện thành lập thị xã Phan Rí được coi là khá sớm, chỉ sau thị xã Phan Thiết để thấy vị trí của thị xã này quan trọng như thế nào trong sự phát triển ở vùng đất phía Bắc tỉnh Bình Thuận. 

Phan Rí Cửa về đêm. Ảnh minh họa 


Năm 1832 khi lập tỉnh Bình Thuận, gồm có phủ Ninh Thuận (có Tuy Phong) và phủ Hàm Thuận (có Hòa Đa). Theo địa chí Phan Rí Cửa, ngày xưa tiểu vùng Phan Rí (Pảrik) nằm trong vùng đất Tam Phan (tức Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết), bao gồm cả hai huyện Tuy Phong và Bắc Bình ngày nay. Địa danh Phan Lý / Phan Rí được mô tả là phần đất nằm từ sông Lòng Sông (Tuy Phong) đến sông Phú Hài (Phan Thiết). Đến năm 1888, triều đình Huế xác lập lại một số xã và lúc này tỉnh Bình Thuận còn lại phủ Hàm Thuận gồm 4 huyện Tuy Phong, Hòa Đa, Hòa Đa Thổ và Tuy Lý (có Hàm Tân). Địa danh Phan Lý tồn tại từ xưa đối với vùng đất Tuy Phong - Bắc Bình, sự kết hợp đặc thù của cư dân Kinh và Chăm có một vị trí trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Dưới thời chúa Nguyễn, Phan Lý Thành là thủ phủ của trấn Thuận Thành sau là sở lỵ của tỉnh Bình Thuận. Đến năm 1910, tỉnh Bình Thuận có 8 đơn vị hành chánh phủ, huyện. Trong đó có huyện Tuy Phong, huyện Hòa Đa (Kinh), phủ Phan Lý (Chăm). Khi chia tách có 2 đơn vị Phan Rí Thành (Bắc Bình) và Phan Rí Cửa (Tuy Phong). Từ giữa thế kỷ 19, theo sách Đại Nam nhất thống chí nói về địa danh Phan Rí qua con sông Phan Lý / Phan Rí như sau: “…có một chi từ núi Kỳ La chảy vào nam 23 dặm, đến xã Thanh Tu nhập lại rồi chảy độ 3 dặm nữa thì ra cửa biển Phan Rí”. Năm 1955, dưới thời chính quyền VNCH, Hòa Đa Thổ huyện sau là quận Phan Lý Chàm (các xã ấp người Chăm) và Phan Rí có tên chính thức là Phan Rí Cửa, thuộc quận Hòa Đa, tỉnh Bình Thuận. Phan Rí Cửa từ nguyên tên của các bản đồ thời Pháp thuộc ghi là “Phanri-port”, tức hải cảng Phan Rí vì nằm ngay tả ngạn cửa sông Lũy tiếp giáp 2 huyện Bắc Bình - Tuy Phong. Từ năm 1977, xã Phan Rí Cửa được nâng lên thị trấn. Lợi thế Phan Rí Cửa ngày nay là có đường quốc lộ 1A, nay có thêm tuyến đường du lịch ven biển nối với Hòa Phú, Bàu Trắng và dự án sân bay Hòa Thắng (Bắc Bình). Tiềm năng kinh tế biển ở đây với ngư trường lớn, là một trong ba địa điểm quan trọng về thủy sản của Bình Thuận (Phan Rí Cửa, Phan Thiết, La Gi). Năm 2010, nghị quyết HĐND tỉnh Bình Thuận trong quy hoạch đến năm 2030, xác định thị trấn Phan Rí Cửa, cùng thị xã La Gi là trung tâm tiểu vùng phía Bắc và Nam của tỉnh Bình Thuận. Hiện nay Phan Rí Cửa vẫn còn là thị trấn được thành lập cách đây 40 năm. Năm 2011, Phan Rí Cửa có đề án đề nghị công nhận là đô thị loại IV lên thị xã nhằm xác định vai trò, vị trí của Phan Rí Cửa có đủ các điều kiện tác động tích cực đến sự phát triển của khu vực phía Bắc tỉnh Bình Thuận. 

PHAN CHÍNH

Con đường nay em đi, ngày xưa có tên gì?

đăng 06:28, 2 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Dù chính quyền đã đặt tên đường chính thức, có cắm bảng đề tên chính chủ nhưng người Sài Gòn vẫn gọi theo thói quen của họ cho… dễ gọi và dễ nhớ. 

Đường Duy Tân được đổi thành Phạm Ngọc Thạch, xưa có tên Tây đọc là Lan Si Bê (Blansubé) - Ảnh: T.T.D. 


Nhiều khu cư dân hình thành tự phát từ một nhóm cư dân rồi dần dần thành một khu phố nhỏ và nhiều khu phố nhỏ. Một khu đất trống nhờ xây dựng, có dân đến ở, chia thành những con đường chưa được đặt tên. 

Những cái tên “mắc cười muốn chết” 

Để giải quyết sự rắc rối nhầm lẫn về địa chỉ, người dân ở khu đất mới tự chọn tên đường cho khu mình ở dựa theo đặc điểm mà khu phố khác không có. 

Bởi vậy, ở thành phố hiện nay có những con đường mang những cái tên thoạt nghe mắc cười muốn chết. 

Nào là đường “Mẫu Giáo - Nghĩa Địa”. Có lẽ con đường này có trường mẫu giáo gần nghĩa địa (?). 

Rồi có tên con đường thoạt nghe thấy lạnh run: “Ướp Lạnh” (chắc ở con đường này có nhà máy nước đá hay đông lạnh thủy hải sản nào đó). 

Bà con ở đường “Cựu Chiến Binh Không Rác” chắc vô cùng tự hào vì con đường này vừa mang tính truyền thống vừa bảo vệ môi trường triệt để. 

Dân mê mạng chắc tập trung ở con đường “Facebook”. Ngọt nhất có lẽ là hai con đường “Đường Cát” và “Đường Phèn”... 

Hãy thử tưởng tượng cách bà con đặt tên đường. 

Thoạt đầu có thể như vầy: “Anh (chị) ơi, tôi muốn tìm nhà bà Hai ở xóm trên”/ “Bà Hai hả, anh đi hết con đường có cái trường mẫu giáo, rồi qua nghĩa địa sẽ thấy”/ “Qua mẫu giáo, rồi nghĩa địa”/“Ờ, mẫu giáo, rồi nghĩa địa”. 

Dần dần rồi thành con đường mang tên “Mẫu Giáo - Nghĩa Địa”, đường “Ướp Lạnh” hồi nào chẳng ai hay. Sau cùng khi đặt tên đường, cắm bảng địa phương sẽ dùng cái tên được định sẵn theo cách gọi của người dân địa phương. 

Gọi tên từ vựa cá, hàng cây... 

Nếu như đọc một bài viết của nhà văn Bình Nguyên Lộc - một người Đồng Nai nhưng sống và viết nhiều về Sài Gòn - ta sẽ khám phá cách gọi tên đường thật “bá đạo” ngày xưa. 

Trước hết, họ gọi tên đường theo đặc điểm nơi đây từng có một cơ sở sản xuất gì đó. 

Nếu đi ngang vùng “ngã tư quốc tế”, dân Sài Gòn nào chẳng biết đường Nguyễn Thái Học, trước kia có tên Tây là Kitchener nhưng bà con khoái gọi là đường Lò Heo vì đường này từng có một lò heo. Tương tự, đường Bùi Quang Chiêu (Đặng Thị Nhu) được gọi là đường Cá Hấp vì các vựa cá hấp đóng đô gần khu vực chợ Bến Thành. 

Thứ đến, đặt tên đường thật thơ mộng theo tên những hàng cây dài che bóng mát cho những cặp tình nhân như họ thường gọi hai con đường Hàng Bàng và Hàng Sao thế thân cho đường Chasseloup Laubat (Hồng Thập Tự - Nguyễn Thị Minh Khai), Massiges (đường Mạc Đĩnh Chi) vì hai bên vệ đường từng có hàng cây bàng và cây sao rợp bóng. 

Hoặc cư dân Sài Gòn với lòng tôn kính, biết ơn những người có công góp phần xây dựng thành phố bằng những công trình xây dựng để đời thường dùng ngay chính tên các nhân vật này để gọi, thay vì gọi tên đường do Nhà nước đặt. 

Trường hợp này có đường Frères Guillerault (Bùi Chu - Tôn Thất Tùng) được gọi là đường Huyện Sĩ vì có nhà thờ do ông tri huyện Lê Phát Đạt bỏ tiền túi xây dựng. Đường Alsace Lorraine (Phó Đức Chính) được gọi là đường Chú Hỏa vì tòa biệt thự của Hui BonHoa - sau này được dùng làm bối cảnh quay phim Con ma nhà họ Hứa. 

Tiếp thu “truyền thống” đặt tên đường theo đặc điểm địa phương, không quan tâm đến tên gọi có “hộ khẩu”, người dân gọi những con đường dành riêng cho quan chức, cán bộ là đường “Trần Dư” - nói lái là trừ dân. 

Biết đâu sau này ở tỉnh Yên Bái có con đường mang tên “Chổi Đót”, Đắk Lắk có con đường mang tên “Xe Ôm” hay đường “Chăn Lợn” để ghi nhớ những quan xây biệt phủ bằng con đường lao động đặc thù có một không hai của các quan khi khởi nghiệp làm... quan. 

Tên đường Việt hóa từ chữ Tây 

Trước năm 1954, các con đường thành phố đều đặt theo tên Tây, mỗi lần gọi muốn trẹo lưỡi nên bà con tự động Việt hóa mà không cần đến những nhà ngôn ngữ học. 

Đố ai thời này biết được con đường “Ai Vô Rờ Quẹt” chính là con đường Eyriaud des Verges (Trương Minh Giảng - Lê Văn Sỹ). “Nhăn Răng Rìa Ai Đi Đây?” là cách gọi con đường Legrand de la Liraye (Phan Thanh Giản - Điện Biên Phủ). 

Đường Đít Xơ Mít là cách phiên âm của Dixmude (Đề Thám). Đói bụng hãy nhớ đến đường “Lên Ăn Cơm” khi nói đến đường Léon Combes. 

Đường Duy Tân (Phạm Ngọc Thạch) trước kia có tên Tây là Blansubé thì được bà con gọi như tên một thiếu nữ: Lan Si Bê. 

Đường Monlaii (Huỳnh Thúc Kháng) là đường Mộng Lầu. Ngã sáu Phù Đổng trước kia được gọi là ngã sáu Quẹt Đoong (Verdon)... 

LÊ VĂN NGHĨA 

Những con phố tên hoa ở Hà Nội

đăng 07:59, 1 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Kim Liên, Hồng Mai, Bạch Mai là những con phố tên hoa ở Hà Nội, ngoài ra một số đường còn mang tên chữ Hoa.

Không tính các con đường mang tên hoa trong một số khu đô thị, Hà Nội cũng có nhiều đường phố mang tên hoa được đặt từ xưa.

Phố tên loài hoa

Cổ nhất, có thể kể đến khu phố Kim Liên (sen vàng), mang tên theo ngôi làng cổ tại quận Đống Đa. Lịch sử ghi rằng, từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long năm 1010, khu vực phía Nam kinh thành mới đã có một làng tên gọi Đồng Lầm.

Đến năm Kỷ Sửu (1619), đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Vĩnh Tộ, triều đình đổi tên làng Đồng Lầm thành Kim Hoa (Bông hoa vàng). Làng thuộc phường Kim Hoa và Đông Tác thuộc huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức. Năm Tân Sửu (1841), vua Thiệu Trị đổi tên làng thành làng Kim Liên (Bông sen vàng), vì kỵ húy tên mẹ Vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa. Tên Kim Liên được sử dụng cho đến bây giờ, và được đặt cho cả một phường, trong đó có khu tập thể Kim Liên.

Chùa Kim Liên nằm trên một doi đất bằng phẳng trong thôn Nghi Tàm, xã Quảng An. Ảnh: Hachi8.


Trước đây, tuy không chính thức, tên Kim Liên được dùng để gọi đoạn phố từ ngã tư Lê Duẩn – Giải Phóng – Đại Cồ Việt về hướng Phạm Ngọc Thạch. Từ khi thành phố xây dựng đường vành đai 1, nhiều người gọi đoạn từ ngã tư là đường Kim Liên mới. Đến năm 2008, đoạn phố này mới chính thức có tên là Xã Đàn.

Cũng mang tên hoa sen, Hà Nội còn có phố Liên Trì (ao sen) ở gần hồ Thiền Quang. Nguyên khu vực này là thôn Liên Thủy, sau đổi thành Liên Đường, ở đó có chùa Liên Trì, sau tên chùa được dùng để đặt cho tên phố. Còn trên phố Khâm Thiên, có con ngõ nhỏ tên là ngõ Liên Hoa (hoa sen). Ngõ này dẫn vào thôn Linh Quang, có chùa Liên Hoa ở trong thôn.

Còn ở quận Hà Đông, đối diện trường Đại học Kiến trúc, cũng có một hệ thống ngõ được đặt tên rất thuần Việt là ngõ Ao Sen.

Ở phía bắc Hồ Tây, giáp Công viên nước, trước khi được đặt tên là phố Trịnh Công Sơn, một con đường lãng mạn chạy ngang qua những đầm sen lớn thường được người dân gọi với cái tên thân mật là đường Sen Hồ Tây.

Phố Trịnh Công Sơn cách Hồ Tây khoảng 500m, gần khu đầm sen nổi tiếng bên hồ. Ảnh: Quý Đoàn. 


Trong khi đó, ở phía nam kinh thành Thăng Long cũ, nhưng chếch về phía đông, có một số làng cổ cũng được đặt tên theo những loài hoa rất đẹp: Bạch Mai (mai trắng) và Hoàng Mai (mai vàng). Theo các nhà nghiên cứu, thì phố Bạch Mai xưa có tên là Hồng Mai (mai hồng), nhưng cũng vì kỵ húy tên vua Tự Đức (Hồng Nhậm) mà đổi thành Bạch Mai.

Từ trước cách mạng tháng Tám, các tên làng này đã được dùng để gọi cho tên phố. Ngày nay, Hồng Mai và Bạch Mai là hai con phố vuông góc với nhau, còn đường Hoàng Mai thì lùi xuống dưới một chút, chạy từ phố Trương Định xuống đường Tam Trinh.

Một con phố nằm ở quận Hai Bà Trưng, mang tên cố đô nước Đại Cổ Việt là Hoa Lư, nhưng nguồn gốc tên địa danh này cũng nói về một loài hoa (hoa lau). Do đó, việc cái tên cố đô này được đặt cho con phố nối giữa phố Lê Đại Hành và đường Đại Cồ Việt là điều rất hợp lý.

Phố tên có chữ Hoa

Như trên đã nói, làng Kim Liên xưa có tên gọi là Kim Hoa, do đó cửa ô Đồng Lầm còn có tên gọi ô Kim Hoa. Vì vậy, ngày nay có một con phố nhỏ nằm song song với đường vành đai 1 Xã Đàn, đi từ cửa ô Kim Liên về phía sau lưng đình Kim Liên có tên gọi là phố Kim Hoa.

Trong những năm gần đây, thành phố Hà Nội đặt thêm tên mới cho một số con đường ven hồ Tây, trong đó có phố Yên Hoa (2012) và Từ Hoa (2013).

Những ngôi nhà xanh mướt trên phố Yên Hoa, Từ Hoa. Ảnh: Đoàn Mạnh. 


Phố Yên Hoa nối từ đường Thanh Niên, đoạn gần cổng chùa Trấn Quốc, chạy ngang qua làng Yên Phụ, tới cổng Khách sạn Thắng Lợi trên Nghi Tàm. Lưu ý tên phố Yên Hoa có thể nhầm với phố Yên Hòa, con phố nằm ở quận Cầu Giấy.

Còn con đường chạy quanh làng cổ Nghi Tàm mang tên bà chúa tằm: Công chúa Từ Hoa. Theo sử sách, Từ Hoa là công chúa con gái vua Lý Thần Tông, người đã lập phủ tại làng Nghi Tàm sinh sống. Bà có công dạy dân trồng dâu nuôi tằm tạo nên một vùng đất nổi tiếng của kinh thành Thăng Long.

Năm 2014, thành phố đặt thêm tên một loạt đường phố nữa, trong đó trên khu vực Hồ Tây, đoạn đường từ cổng chùa Phú Xá đến sau trường THCS Phú Thượng được đặt tên là phố Phúc Hoa.

Còn tại khu vực quận Cầu Giấy, tên phố Quan Hoa được đặt cho đoạn từ cầu T11 chạy ven sông Tô Lịch đến ngã tư giao cắt với đường Cầu Giấy (trụ sở UBND quận Cầu Giấy).

Lê Tiên Long

1-10 of 20