Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Tại sao Trường Nữ Trung học Gia Long... tên là Gia Long? Sài Gòn có 2 ngôi trường nữ sinh rất nổi tiếng là Gia Long và Trưng Vương. Tên của hai ngôi trường này đi vào thơ, vào nhạc rất nhiều ...
    Được đăng 01:07, 13 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tên người gắn với nhiều địa danh nhất ở Việt Nam Ngày nay, tên người được dùng làm tên đường là một sự vinh danh, nhưng không phải hiếm và lạ. Ngày xưa, tên người được đặt cho tên sông, tên ...
    Được đăng 02:47, 10 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đồng Tháp - Tháp Mười - Đồng Tháp Mười Đồng Tháp và Đồng Tháp MườiNói đến Đồng Tháp Mười, nhiều người (trong đó có tui) nghĩ ngay rằng đó là vùng đất thuộc tỉnh Đồng Tháp. Thiệt ra ...
    Được đăng 06:20, 28 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Xứ Bàu Ấu Thuở nhỏ, tôi thường nghe cha tôi lầm rầm khấn vái câu này mỗi khi mở đầu cho một lệ cúng: “Quảng Ngãi tỉnh, Sơn Tịnh quận, Sơn Trung xã ...
    Được đăng 06:40, 28 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ta gọi tên chùa Khmer Chùa Monivongsa Bopharam ở Cà MauMiền Tây Nam bộ có nhiều ngôi chùa Khmer đẹp và nổi tiếng. Tên chùa bằng tiếng Khmer dài và khó nhớ (nhớ... chết ...
    Được đăng 05:35, 23 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Tại sao Trường Nữ Trung học Gia Long... tên là Gia Long?

đăng 02:24, 12 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:07, 13 thg 5, 2019 ]

Sài Gòn có 2 ngôi trường nữ sinh rất nổi tiếng là Gia Long và Trưng Vương. Tên của hai ngôi trường này đi vào thơ, vào nhạc rất nhiều. Một ngôi trường nữ sinh khác, nhỏ hơn và ít được biết hơn, là trường Lê văn Duyệt. Người ta nói tại chữ Lê văn Duyệt khó đưa vào nhạc, vào thơ hơn Gia Long hay Trưng Vương chớ cứ nữ sinh là nên thơ, là đáng yêu...


Trường Nữ sinh Gia Long. Ảnh: Hội Ái hữu Cựu Nữ sinh Gia Long Bắc California


Tui thì lại thắc mắc vì chuyện khác. Rằng trường nữ sinh mang tên Trưng Vương thì đúng rồi, nhưng tại sao lại mang tên ông vua (Gia Long) hay ông hoạn quan (Lê văn Duyệt)? Nhiều người cho rằng đây là câu hỏi ngớ ngẩn, vì đâu nhất thiết trường nữ phải mang tên phụ nữ, miễn đó là một tên danh nhân là được rồi. Ừ, đúng là ngớ ngẩn thiệt, nhưng mà...


Đứa con sinh ra có thể mang những cái tên chung chung như Tí, Tèo... nhưng thường là những cái tên mà cha mẹ dày công suy nghĩ để gởi gắm những ước mong, kỳ vọng của mình vào đó. Đứa bé gái có thể mang cái tên giống con trai, nhưng thường thì phải là một cái tên con gái. Tên công ty, và đặc biệt là tên một ngôi trường cũng vậy. 


Chúng ta biết một ngôi trường, biết tên ngôi trường ấy là đã đủ rồi. Cố hiểu xem vì sao nó mang tên đó cũng... chẳng để làm gì. Không để làm gì thiệt, nhưng... để thỏa mãn sự tò mò cũng vui mà, phải không?


Vậy là tui đi rà soát tên các trường nữ sinh ở miền Nam thời ấy. Đa số trường đều mang tên nữ danh nhân. Ở Sài Gòn có trường Marie Curie, trường Trưng Vương. Quy  Nhơn có trường Ngô Chi Lan. Đà Lạt có trường Bùi thị Xuân. Huế có trường Jeanne d'Arc. Mỹ Tho có trường Lê Ngọc Hân... Có trường không mang tên danh nhân, nhưng mang cái tên nhiều nữ tính, như trường nữ tu Couvent Des Oiseaux (Chim Non) ở Đà Lạt, trường nữ tu Thiên Phước ở Sài Gòn.


Trường nữ sinh Trưng Vương


Bên cạnh đó có nhiều trường không mang tên nữ danh nhân, cũng không mang tên nữ tính. Phần lớn là mang tên địa phương hay tên con đường nơi ngôi trường tọa lạc. Trường nữ trung học Lê văn Duyệt nêu trên là một ví dụ, ngôi trường trên nằm ở đường Lê văn Duyệt, Gia Định. Hoặc trường nữ trung học Quảng Ngãi ở tỉnh Quảng Ngãi, v.v...


Cũng có những trường mang tên nam danh nhân, như trường Gia Long ở Sài Gòn, trường Đồng Khánh ở Huế, trường Hồng Đức ở Đà Nẵng (toàn là tên vua!)... Các trường công giáo thì mang tên các vị thánh, như trường Nguyễn Bá Tòng (vị giám mục tiên khởi của Công giáo Việt Nam), trường Saint Paul ở Sài Gòn...


Trở lại cái sự tò mò về nguồn gốc của tên trường nữ sinh Gia Long. Theo tài liệu chính thức ban đầu trường không phải tên Gia Long. Trường được khởi công năm 1913, năm 1915 xây dựng xong và khai giảng khóa đầu tiên. Toàn quyền Đông Dương khi đó là ông Ernest Nestor Roume và Thống đốc Courbeil là người cắt băng khánh thành và tuyên bố khai giảng. Khóa đầu tiên trường tuyển 42 nữ sinh, đồng phục khi này là áo dài tím, tượng trưng cho sự tinh khiết của phụ nữ Việt Nam, nên trường còn có tên là Trường Nữ sinh Áo Tím. Đến tháng 9/1922, toàn quyền Albert Sarraut khai giảng lớp đầu tiên của bậc Trung học Ðệ nhất Cấp. Một phiến đá bằng cẩm thạch khắc chữ Collège Des Jeunes Filles Indigènes  (Trường của những Thiếu nữ Bản xứ) được dựng lên trước cổng trường, tuy nhiên trường vẫn được biết đến nhiều hơn với cái tên Trường Nữ Sinh Áo Tím.


Năm 1940, quân đội Nhật chiếm đóng trường trong lúc học sinh nghỉ hè. Cũng trong năm này, trường đổi tên thành Collège Gia Long (Cao đẳng tiểu học Gia Long), rồi Lycée Gia Long (Trường trung học đệ nhị cấp Gia Long).

Năm 1953, đồng phục áo dài tím được thay thế bằng chiếc áo trắng với phù hiệu của trường - đóa mai vàng - khâu lên trên áo, trường được đổi tên là Trường Nữ Trung Học Gia Long. Tên này được duy trì tới 1975.


Trường Nữ sinh Gia Long. Ảnh: Hội Ái hữu Cựu Nữ sinh Gia Long Bắc California


Có chút mơ hồ trong việc chuyển đổi từ 2 cái tên ban đầu (một tên không chính thức nhưng thông dụng là trường Nữ sinh Áo tím và cái tên chính thức nhưng không thông dụng là Collège Des Jeunes Filles Indigènes) sang tên Gia Long. Đó là ai đặt (người Nhật, người Pháp hay người Việt) và tại sao đặt là Gia Long? Không thấy nguồn tư liệu nào giải thích. Tui tự giải thích như sau, để thỏa mãn cái sự tò mò của mình chớ không dám cho rằng đúng.


Chúng ta hãy trở về với ngôi trường Nữ sinh Đồng Khánh ở Huế. Ngôi trường này được khởi công xây dựng năm 1917, sau khi khánh thành trường Áo Tím 2 năm. Lúc bấy giờ đó là ngôi trường nữ sinh đầu tiên và duy nhất của Trung kỳ, giống như Áo Tím là ngôi trường nữ sinh đầu tiên và duy nhất của Nam kỳ. Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi trường này có sự hiện diện của vua Khải Định, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut, Khâm sứ Trung Kỳ J.E. Charles, quyền Khâm sứ Bắc Kỳ J.Le Galler, các hoàng thân, các vị Thượng thư và một số quan chức cao cấp người Pháp tại Đông Dương.


Trường nữ sinh Đồng Khánh


Dễ thấy lý do ngôi trường nữ 
đầu tiên và duy nhất của Trung kỳ này được đặt tên là Đồng Khánh. Khác với Nam kỳ là xứ thuộc địa, Pháp chẳng quan tâm gì lắm đến việc đặt tên tiếng Việt cho trường mà chỉ có cái tên chung chung là Collège Des Jeunes Filles Indigènes (Trường của những Thiếu nữ Bản xứ), Trung kỳ là xứ bảo hộ, vẫn có vua tại vị. Lấy tên ông vua cha (Đồng Khánh) đặt tên cho ngôi trường để làm vui lòng ông vua con (Khải Định) là điều người Pháp chẳng mất gì, chỉ có được thôi. Dẫu sao Đồng Khánh vẫn là ông vua thân Pháp mà. Và cái tên Đồng Khánh vẫn được giữ mãi tới 1975, dù rằng ông vua này chẳng có gì hay ho cả!


Tại thời điểm đó, ngôi trường ngang tầm (hoặc hơn) trường Đồng Khánh là trường Áo Tím vẫn chưa có cái tên tương xứng. Thế rồi thời buổi lộn xộn thế chiến thứ 2, ai đó (có thể là Nhật) thấy rằng cần phải có cái tên mới thay cho tên Pháp Collège Des Jeunes Filles Indigènes. Họ nghĩ đến tên của ngôi trường tương tự ngôi trường này ở Huế. Tên mới sẽ tương tự tên Đồng Khánh nhưng ở đẳng cấp cao hơn. Thế là họ chọn tên Gia Long, ông vua khai sáng triều Nguyễn luôn!


Đó là tui nghĩ như vậy, chẳng có chứng cứ nào hết, nhưng tui thấy... có lý! Ai thấy không có lý cũng chẳng sao. Mà ai đó thấy rằng tìm hiểu điều này thật là vớ vẩn và ngớ ngẩn thì cũng... đúng thôi. Tại tui thích và tò mò thôi mà!...


Phạm Hoài Nhân

Tên người gắn với nhiều địa danh nhất ở Việt Nam

đăng 02:47, 10 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày nay, tên người được dùng làm tên đường là một sự vinh danh, nhưng không phải hiếm và lạ. Ngày xưa, tên người được đặt cho tên sông, tên núi - mà lại do vua ban tặng nữa - mới thực sự hiếm có và vẻ vang. Có một người đã được hưởng vinh dự ấy, và còn hơn vậy nữa, nhờ công lao của mình: Thoại Ngọc Hầu Nguyễn văn Thoại.


Tượng Thoại Ngọc Hầu bên bờ hồ Ông Thoại, phía sau là núi Thoại Sơn. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên


Năm 1817, Thoại Ngọc Hầu là trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, thấy việc giao thông thương mại ở vùng đất này gặp nhiều khó khăn, mọi trao đổi hàng hóa thời bấy giờ giữa miền duyên hải Hà Tiên, Rạch Giá đều phải đi vòng đường biển thật bất tiện, đồng thời nhận thấy cần phải khơi nguồn để tháo bớt một phần nước lụt của sông Hậu ra biển. Vì vậy, ông đã nghĩ ngay đến việc phải đào một con kinh.


Phụng mệnh vua, Thoại Ngọc Hầu Nguyễn văn Thoại cho khởi công đào kinh vào đầu năm 1818, nối rạch Long Xuyên ở Tam Khê với hệ thống thủy đạo ở Rạch Giá, huy động khoảng 1.500 nhân công. Nhờ đào theo lạch nước cũ nên công việc khá thuận lợi, một tháng đã hoàn thành với bề rộng 51,2 m, chiều dài 31,7 km.

Kinh đào xong, ông được vua Gia Long khen ngợi và cho lấy tên ông để đặt tên cho con kinh mới đào là Thoại Hà và ngọn núi ở bên bờ kinh (vốn có tên là núi Sập) là Thoại Sơn. Sự việc này được Nguyễn văn Thoại rất cảm kích, cho soạn một bài văn khắc vào bia đá để... ghi nhớ cái sự sướng này. Bia được dựng năm 1822 bên triền Thoại Sơn và gọi là bia Thoại Sơn, đến nay vẫn còn và là di tích lịch sử cấp quốc gia.


Bia Thoại Sơn hiện đặt tại Đình thần Thoại Ngọc Hầu, thị trấn Núi Sập. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên


Chưa hết, từ tháng 12 (âm lịch) năm 1819 đến tháng 5 (âm lịch) năm 1824, Nguyễn văn Thoại cùng chỉ huy trực tiếp đào con kinh song song với đường biên giới Việt Nam - Campuchia, bắt đầu từ bờ tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sông Giang Thành, thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang ngày nay. Con kinh này có chiều dài là 87 km, rộng 30 m, độ sâu trung bình khoảng 2,55m, khi đào xong mang lại lợi ích kinh tế - quốc phòng hết sức to lớn. Lúc bấy giờ vua Gia Long đã qua đời, vua Minh Mạng trị vì, thích quá nên quyết định cho phép lấy tên ông Thoại để đặt tên kinh. Nhưng tên ông Thoại đã được cha của vua Minh Mạng đặt cho kinh Thoại Hà rồi, nên vua nghĩ tới nghĩ lui, bèn cho lấy tên của vợ ông Thoại là bà Châu thị Vĩnh Tế đặt tên cho con kinh. Vậy là ta có kinh Vĩnh Tế (kinh vợ dài và quan trọng hơn kinh chồng!).


Kinh Vĩnh Tế, đoạn chảy qua thị xã Châu Đốc. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên


Tên núi, tên sông thôi chưa đủ, tên ông Thoại còn được đặt cho một vùng đất. Ở An Giang bây giờ có huyện Thoại Sơn, là nơi có Thoại Sơn tọa lạc. Trong huyện Thoại Sơn lại có xã Thoại Giang.

Vẫn chưa hết, sau nhiều năm người ta khai thác đá ở núi Sập (Thoại Sơn) khiến bên chân núi bị khuyết sâu xuống thành hồ nước lớn. Việc khai thác đá bị dừng lại, nơi này được biến thành khu du lịch, và hồ nước bên chân núi được gọi là hồ Ông Thoại.


Ở An Giang còn có cầu Thoại Giang, cầu Thoại Hà. Các địa điểm di tích mang tên ông thì rất nhiều, như: Lăng Thoại Ngọc Hầu (khu lăng mộ ông ở chân núi Sam), đình Thoại Ngọc Hầu (Châu Thành, An Giang - sau này bị chính quyền đổi tên thành đình Cần Đăng),Thoại Sơn Thần miếu và Thoại Sơn tự (ở triền núi Sập), đền thờ Thoại Ngọc Hầu (ở thị trấn Núi Sập).


Đường phố, và nhất là trường học, mang tên ông rất nhiều, dưới dạng là Nguyễn văn Thoại hoặc Thoại Ngọc Hầu. Ở Sài Gòn - Gia Định có tới 2 con đường mang tên ông, đó là đường Nguyễn văn Thoại (nối dài từ đường Hồng Bàng đến Ngã 4 Bảy Hiền) và đường Thoại Ngọc Hầu (thuộc tỉnh Gia Định). Nhưng mà ở TPHCM thì lại không có con đường nào mang tên ông (hic!), đường Nguyễn văn Thoại ngày xưa bây giờ là Lý Thường Kiệt (quận 10), còn đường Thoại Ngọc Hầu nay là đường Phạm Văn Hai (quận Tân Bình).


Phạm Hoài Nhân

Đồng Tháp - Tháp Mười - Đồng Tháp Mười

đăng 06:20, 28 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đồng Tháp và Đồng Tháp Mười


Nói đến Đồng Tháp Mười, nhiều người (trong đó có tui) nghĩ ngay rằng đó là vùng đất thuộc tỉnh Đồng Tháp. Thiệt ra thì không phải vậy! Đồng Tháp Mười là tên gọi một vùng đất ngập nước của đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích 697.000 ha, trải rộng trên ba tỉnh Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp trong đó Long An chiếm hơn phân nửa, thủ phủ vùng là thị xã Kiến Tường.



Còn Đồng Tháp là tên tỉnh như chúng ta đều đã biết. Điều cần biết là tên này chỉ mới được chính quyền cách mạng đặt từ 1976 thôi, trước đây chỗ này thuộc hai tỉnh Kiến Phong và Sa Đéc. Đồng Tháp quả là có liên quan đến Đồng Tháp Mười, vì một phần vùng đất này nằm trong địa phận Đồng Tháp, nhưng chỉ là phần nhỏ thôi, còn hơn phân nửa Đồng Tháp Mười thuộc về Long An kia mà. Thủ phủ của vùng Đồng Tháp Mười cũng thuộc về Long An đó thôi.

Còn Tháp Mười là gì?


Cho đến giờ vẫn chưa rõ sao lại có tên Tháp Mười. Trong dân gian có 4 giả thuyết như sau:

  • Ngày xưa, cánh đồng này thuộc một vương quốc giàu có. Trong nước có 10 đời quốc vương, mỗi ông xây cho mình một ngôi tháp làm nơi an nghỉ cuối cùng; ngôi tháp của ông vua thứ 10 là ngôi tháp mà chúng ta đang nói (Tháp Mười). Từ đó, có lời đồn là trong Tháp Mười có vàng.
  • Cho rằng đây là cái chùa - tháp thứ 10, tính từ Lục Chân Lạp xuống, nối liền các chùa - tháp này là các con đường lót đá.
  • Đây là cái tháp 10 tầng của Chân Lạp; có lẽ, theo thuyết này nên chính quyền Ngô Đình Diệm, vào năm 1958, cho xây lại một cái tháp 10 tầng cao 42 m, theo kiểu tháp chùa Thiên Mụ (Huế), một loại hình kiến trúc Trung Quốc.
  • Đây là tháp canh thứ 10 (tính từ Ba Sao vào Gò Tháp), hoặc 10 tầng của nghĩa quân Thiên Hộ Dương để canh chừng giặc Pháp.

Nghe qua thì... chẳng cái nào đủ sức thuyết phục! Nhà văn Sơn Nam (trong Danh thắng miền Nam, NXB Đồng Tháp 1998, trang 80-82) nhận định rằng:


Vấn đề này còn đang trong vòng tranh luận, chưa dứt khoát. Bảo rằng đây là cái tháp canh thứ 10, từ phía bờ sông Tiền đếm trở vào, ông Thiên Hộ Dương bố trí những chòi canh theo kiểu nhà nhỏ, khá cao, nhằm quan sát. Nếu thấy địch, người trên chòi canh làm hiệu lệnh, đánh mõ, hoặc phất cờ, đốt lửa lúc ban đêm để đề phòng.

Lối giải thích này mặc nhiên xác nhận vùng này trước kia không có tên, và mới được đặt tên từ thời Thiên Hộ Dương mà thôi. Nghe vô lý, từ xưa lưu dân đã đến làm ruộng, bắt cá rải rác. Hơn nữa, Thiên Hộ Dương vào Tháp Mười lúc quân Pháp đã chiếm đóng vùng phụ cận như Cai Lậy, Cần Lố rồi Cao Lãnh. Lập chiến khu bí mật mà bố trí tháp canh công khai chẳng khác nào "lạy ông con ở bụi này".

Lại giải thích đây là vị trí của trạm y tế thời Thủy Chân Lạp, nhà vua bấy giờ bị bệnh phong (cùi) nên tổ chức nhièu trạm y tế giúp dân, đây là trạm thứ 10.

Thuyết này nghe xa vời quá, vả lại làm sao thời xưa ở vùng này đông đúc dân cư để tổ chức một trạm?

Tháp Mười nghe qua, ta hình dung một ngọn tháp cổ xưa, thời xưa khi khẩn hoang, đồng bào ta đã gặp di chỉ. Đọc "Đại Nam Nhất Thống Chí" thời Tự Đức không nghe tên này, chẳng thấy mô tả dấu vết xây cất. Phải chăng đây là kiểu tháp nhỏ, không đáng ghi chép? Nay ta đã khai quật khá công phu, gặp nhiều hiện vật bằng đá, tượng Phật bằng cây mù u, đồ gốm không men, nền nhà, chứng tỏ thời xa xưa có lúc gò đất cao này là nơi dân cư trù mật, về sau, trước nạn ngoại xâm, dân bỏ xứ ra đi, không trở lại. Di chỉ còn tìm được cho thấy đây là kiểu văn minh Ấn Độ, dính dấp đến đạo Bà La Môn. Phải chăng đây là ngôi tháp không to như tháp của người Chăm nay còn thấy ở miền Trung, trên nóc có những khía từ to đến nhỏ, sau cùng là chót tháp, mỗi nấc gọi là một tầng?


Bạn Giang Huỳnh đang đi kiếm cái tháp trong Đồng Tháp Mười


Kỹ sư Hồ Đình Hải trích dẫn Lê Hương (không rõ nguồn) như sau:


Lê Hương, trong một bài viết, cho rằng: Tháp Mười là một trong những ngôi tháp bằng đá, do vua Jayavarman VII (1181 - 1218) xây cất trên khắp lãnh thổ để thờ vị thần Bà La Môn Lockecvara là vị thần có chức năng trị bệnh cho nhân loại. Những ngôi tháp này được xây dọc theo những con đường lớn trong nước mà ngôi tháp trong đồng Tháp Mười, tính từ điểm xuất phát, đứng vào hàng thứ 10. Thời gian đã tàn phá công trình kiến trúc này, dãy nhà gỗ tiêu tan, chỉ còn lại một tượng sư tử và một linh phù (linga) bằng đá, dưới bệ có khắc chữ Bắc Phạn (Sanskrit) ghi tên tháp thứ mười. Năm 1932, nhà khảo cổ học người Pháp, Parmentier, vào Tháp Mười phát hiện ra ngôi tháp đổ nát và đã đọc những dòng chữ Phạn ghi tên ngôi tháp thứ mười.


Không biết chắc thuyết nào là đúng, chỉ biết dân ta gọi tên Tháp Mười từ xưa lắc xưa lơ, và vì vùng đất này là một đồng trũng nước nên gọi nó là đồng Tháp Mười, trong đó đồng là danh từ chung. Lâu ngày, chữ đồng gắn liền với Tháp Mười thành Đồng Tháp Mười tạo thành một danh từ riêng luôn.


Thôi kệ, Tháp Mười xuất phát từ đâu cũng được héng bạn!


Nguyễn Hiến Lê với Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười


Có lẽ cuốn sách viết về Đồng Tháp Mười được nhiều người biết đến nhất là Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười của Nguyễn Hiến Lê. Sự ra đời của cuốn sách này khá éo le. Trong hồi ký của mình, cụ Nguyễn kể:


“(…) bác Ba tôi từ năm 1913 hay 1914, phải lẻn về làng Tân Thạnh ở ven Đồng Tháp Mười để tránh bọn mật thám Sài Gòn, rồi lập nghiệp ở đó, nên biết được cảnh hoang vu của Đồng Tháp hồi đầu thế kỷ, kể cho tôi nghe nhiều chuyện về dân tình, lối sống, thổ sản miền đó; sau đó tôi lại đi đo trong Đồng Tháp trong một thời gian rồi đi kinhlý nhiều lần từ Hồng Ngự tới Tân An; về Sài Gòn tôi đọc thêm được nhiều tài liệu của Sở Thủy lợi, mua được cuốn La Plaine des Joncs của V. Delahaye, nhờ vậy tôi biết được khá nhiều về Đồng Tháp.

Sau khi nhận lời anh Vũ Đình Hòe viết giúp tờ Thanh Nghị , tôi khảo cứu thêm các cuốn sử, địa phương chí, các số báo Courrier de Sài Gòn năm 1865-1866, đọc tất cả những gì liên quan đến Đồng Tháp để viết cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười , nhưng sau sáu bảy tháng viết xong thì Sở Bưu điện Sài Gòn không còn nhận đồ bảo đảm ra Hà Nội nữa vì giao thông trắc trở, tôi đành cất bản thảo đi, đợi một cơ hội khác. Cuốn đó tôi viết công phu, nhưng sau bản thảo mất ngay trong ngay trong Đồng Tháp Mười hồi tôi tản cư về đó, năm 1946. Tôi rất tiếc, và tám năm sau tôi phải viết lại”.


Cuốn sách được viết lại và do chính cụ Nguyễn Hiến Lê xuất bản năm 1954, được sự ủng hộ nhiệt tình của độc giả. Đây được xem là cuốn sách du khảo về đất nước Việt Nam đầu tiên.


65 năm sau ngày tác phẩm ra đời, đọc lại mà tui tự thấy xấu hổ cho chính mình quá trời luôn. Bây giờ, đầy đủ phương tiện tra cứu, đi lại, lại thêm kinh nghiệm của người đi trước quá nhiều về thể loại này, vậy mà tui dám chắc mình không tài nào viết hay được dù chỉ bằng một góc của cụ Nguyễn Hiến Lê. Để lâu sợ quên những điều mình cảm nhận, nên tui đành mạo muội viết chút đỉnh về Đồng Tháp Mười, đặt tựa là 1/7 ngày trong Đồng Tháp Mười (1/7 ngày tức là... hơn 3 tiếng đồng hồ á!), nhưng không phải bây giờ, mà là từ từ đã... Dài quá rồi, đọc chán.



Phạm Hoài Nhân

Xứ Bàu Ấu

đăng 06:40, 28 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:40, 28 thg 3, 2019 ]

Thuở nhỏ, tôi thường nghe cha tôi lầm rầm khấn vái câu này mỗi khi mở đầu cho một lệ cúng: “Quảng Ngãi tỉnh, Sơn Tịnh quận, Sơn Trung xã, Hà Nhai ấp, Bàu Ấu xứ...”. Nghe mãi mà thuộc chứ chẳng hiểu Bàu Ấu xứ ở đâu và nghĩa làm sao? Cho đến cách đây chừng 10 năm, lúc cha tôi còn khỏe mạnh và minh mẫn, tôi bèn hỏi ông thắc mắc trên. Hóa ra mình sinh ra, lớn lên, được hít thở khí trời của cái “xứ Bàu Ấu” ấy đến năm 19 tuổi (1979) mà mình chẳng hiểu biết gì về nó.

Tên Bàu Ấu giờ “hóa thân” vào cây cầu sắt ở phía bắc gác chắn đường lên Sơn Hà: Cầu Bàu Ấu. “Trùm” lên xứ Bàu Ấu ấy là Hà Nhai, từ xã qua thôn.

Sự dịch chuyển của địa danh

Câu mở đầu cho mỗi lệ cúng trên đây là nói từ thời trước năm 1975. Hồi ấy, huyện được gọi là quận, Sơn Trung là đơn vị hành chính của xã (Tịnh Hà ngày nay), Hà Nhai là ấp. Thói quen ấy, cha tôi vẫn duy trì cho đến sau ngày thống nhất đất nước mấy năm. Năm 1979, tôi đi học xa rồi đi làm, không ở quê nữa nên cũng không rõ mỗi khi cúng, cha tôi có “cập nhật” tên gọi mới không.

Cầu sắt Bàu Ấu nằm trên tuyến đường sắt Bắc - Nam qua thôn Hà Nhai. Ảnh: TRẦN ĐĂNG 


Nhiều người ở thôn Hà Nhai hiện nay, trong đó có tôi lúc nhỏ, vẫn thường thắc mắc điều này: Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) lúc làm tuần vũ Quảng Ngãi (1750) có bài thơ “Hà Nhai vãn độ” (cảnh đò chiều ở bến Hà Nhai), nói về cảnh đẹp và buồn mênh mang của dòng sông Trà ở bến đò Hà Nhai. Trong khi đó, thôn Hà Nhai hiện nay thì cách bến đò trong thơ của Nguyễn Cư Trinh những 2-3 cây số! Có nhầm lẫn gì đây chăng? Hoàn toàn không có sự nhầm lẫn nào cả. Sự “dịch chuyển” của các địa danh đã dẫn đến sự “vô lý” trên đây.

Trước đây, Hà Nhai là tên của một xã thuộc tổng Tịnh Thượng, phủ Bình Sơn, bao gồm các thôn Hà Nhai, Ngân Giang, Thọ Lộc và một phần của thôn Trường Xuân ngày nay. Sau này, xã Hà Nhai được đổi thành xã Tịnh Hà (sau năm 1945 và sau 1975), rồi Sơn Trung (sau năm 1954). Nó cũng được chia nhỏ ra nhiều thôn, trong đó vẫn giữ lại tên gọi cũ, tức Hà Nhai, nhưng lại là đơn vị hành chính của một thôn. Tuần vũ Nguyễn Cư Trinh vịnh 12 cảnh đẹp, trong đó có “Hà Nhai vãn độ” từ lúc nó còn là đơn vị hành chính của một xã. Vậy nên, bến đò ven sông Trà ấy thuộc xã Hà Nhai ngày trước, chứ không phải là thôn Hà Nhai bây giờ.

Công điền, công thổ

Sự “vô lý” thứ hai cũng được nhiều người thắc mắc: Vì sao người dân thôn Hà Nhai mà có công điền công thổ tận Thọ Lộc? Như đã nói trên đây, công điền của Hà Nhai, nhưng nằm ở Thọ Lộc là vì số ruộng công ấy đã có từ thời còn là xã Hà Nhai. Công điền, công thổ là đất canh tác của làng, chứ không thuộc cá nhân hay tổ chức nào. Trước năm 1945, mỗi ngôi làng truyền thống của người Kinh (như Hà Nhai chẳng hạn) đều có một số đất dưới dạng ruộng công do hội đồng kỳ dịch quản lý. Công điền có nhiều hạng, tùy theo hương ước của làng đề ra.

Thường thì ruộng công được dùng vào mục đích cho thuê để thu lợi nhuận nhằm trang trải chi phí cho làng qua các “lệ” cúng giỗ, thanh minh và các hoạt động phục vụ cộng đồng khác. Số ruộng công này cũng dành ra một phần diện tích để giúp đỡ cho những người cùng cố là công dân của làng bằng việc cho thuê ruộng hoặc giúp những người có công lớn với làng. Giúp ở đây được hiểu là làng cho thuê một số diện tích đất công ấy chứ không phải cho không.

Dù là với mục đích gì, ruộng công khi giao cho người canh tác thì cũng không được phép chuyển nhượng quyền sở hữu mà chỉ giao cho quyền canh tác tạm thời. Xã Hà Nhai thời phong kiến có đến 52 mẫu công điền thuộc địa phận thôn Thọ Lộc ngày nay. Nhờ quản lý tốt số công điền này nên hằng năm, ngoài chi dùng cho việc làng, số lãi còn lại, hội đồng kỳ dịch quyết định mua thêm đất. Do vậy, Hà Nhai mới có 42 mẫu ruộng công nữa ở Thành Bàu (gần ga Đại Lộc thuộc xã Tịnh Thọ ngày nay).

Ông Nguyễn Tùng là ấp trưởng ấp Hà Nhai từ năm 1964-1975 là người trực tiếp đi đo đạc toàn bộ diện tích công điền của ấp Hà Nhai thời ấy, giải nghĩa: “Không phải xã nào cũng có công điền đâu mà thường là những địa phương “có uy”, tức là những bậc tiền hiền đi khai khẩn đất hoang, trong đó có cả những vị chức sắc “có tâm”. Họ dành một số diện tích đất khai hoang để sung vào “đất công”. Đất ấy sẽ sử dụng vào những mục đích cho thuê để lấy lãi nhằm phục vụ cho các chi phí việc công ở làng, tưởng thưởng cho người có công lớn...

Bàu Ấu xứ

Cha tôi giải thích theo kiểu nông dân của ông, nhưng nghe có lý: Bàu Ấu là bàu nước có nhiều cỏ ấu, thế thôi. Chỗ cầu Bàu Ấu hiện nay, nguyên nó là một bàu nước chứ chưa thành kênh như bây giờ. Năm 1947, chính quyền Việt Minh đã huy động sức dân đào một kênh nối với sông Trà, bắt đầu từ thôn Ngân Giang xuyên qua Bàu Ấu, chạy thẳng xuống cầu kênh băng qua Quốc lộ 1, thẳng tới Tịnh Hòa.

Con kênh Sơn Tịnh này là công trình thủy lợi quan trọng nhất thời chống Pháp, nó giải hạn cho hàng trăm hecta đất phía bắc sông Trà mà hệ thống kênh dẫn của bờ xe nước sông Trà không vươn tới được. Nó cũng góp phần rửa mặn cho cánh đồng Châu Me, xã Tịnh Hòa.

Các lão nông ở huyện Sơn Tịnh từng sống qua thời Việt Minh hẳn còn nhớ là dọc theo con kênh đào hàng chục cây số, chỉ làm ban đêm vì sợ máy bay Pháp và hoàn toàn bằng sức người này, có rất nhiều “xe nước một bánh”, cần mẫn mang nước ngọt lên đồng, tưới tắm cho hàng trăm hecta dọc hai bên kênh vào mỗi mùa nắng hạn.

Xứ Bàu Ấu giờ chỉ còn trong ký ức của lớp người già. Thậm chí, tên gọi ấy cũng không còn thấy xuất hiện trong các lễ cúng thanh minh nữa. Tôi viết những dòng này, có thể có những chi tiết chưa thật chính xác, song tôi muốn đánh thức một địa danh “Bàu Ấu xứ” như một sự tri ân những bậc tiền nhân đã có công khai mở ngôi làng ấy từ hàng trăm năm trước.

TRẦN ĐĂNG

Ta gọi tên chùa Khmer

đăng 05:35, 23 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 05:35, 23 thg 11, 2018 ]

Chùa Monivongsa Bopharam ở Cà Mau


Miền Tây Nam bộ có nhiều ngôi chùa Khmer đẹp và nổi tiếng. Tên chùa bằng tiếng Khmer dài và khó nhớ (nhớ... chết liền!), cho nên người Việt ta... tự đặt ra những cái tên mới cho dễ gọi, dễ nhớ. Cách gọi tên thường là dựa theo đặc điểm của chùa hoặc phiên âm nôm na tên Khmer theo giọng Nam bộ.


Ngôi chùa nổi tiếng ở Sóc Trăng có tên là Serây Tê Chô Mahatúp, vốn có nghĩa là do phước đức tạo nên. Chùa có nhiều dơi, nên người ta gọi là Chùa Dơi luôn cho tiện. Chùa lại còn được gọi là Chùa Mã Tộc. Ủa, sao đã dơi lại còn có ngựa (mã) vô đây? Hay đây là chùa của dòng họ Mã? Hổng phải, Mã Tộc là do người Việt phiên âm tên Mahatúp đó mà!


Ở Trà Vinh, chùa Kompong Chrây được người dân gọi là chùa Hang, vì cổng chùa có hình dạng  như cái hang.


Chùa Chén Kiểu


Chùa Wath Shro Loun ở Bạc Liêu tên khó đọc, khó nhớ quá, nên người Việt đọc thành chùa Sà Lôn. Chùa này được trang trí bằng rất nhiều mảnh vỡ chén, đĩa sứ nên dân gian đặt luôn tên là chùa Chén Kiểu cho dễ hiểu!


Ngôi chùa ở Trà Cú (Trà Vinh) có tên là Bhagraja Duonkev Phnô Đưng. Đây là tên tui ghi lại theo bảng tên ghi ở cổng chùa chớ không tài gì nhớ nổi. Vậy nên người dân nơi đây đọc tắt là chùa Phnô Đôn, hoặc đơn giản hơn nữa là chùa Nô Đôn. Thế nhưng đó chưa phải là cái tên thông dụng nhứt, tên thông dụng nhứt là Chùa Cò, vừa dễ nhớ, vừa dễ hiểu, lại dễ đọc. Gọi tên như vậy vì ở chùa này có rất nhiều cò. 


Chùa Cò


Ngoài ra, người ta còn gọi tên chùa theo tên địa phương nơi ngôi chùa tọa lạc, nên chùa Cò còn gọi là chùa Giồng Lớn, vì tọa lạc tại ấp Giồng Lớn, xã Đại An, huyện Trà Cú.


Cùng theo nguyên tắc gọi tên theo tên địa phương còn có chùa Selatro ở Châu Thành, Trà Vinh. Chùa này tọa lạc tại ấp Điệp Thạch, xã Đa Lộc, huyện Châu Thành nên người dân gọi là chùa Điệp Thạch.


Hầu như tất cả những chùa Khmer tui đã từng viếng thăm đều có tên tiếng Việt dễ nhớ theo một trong ba quy tắc như nêu trên: đọc gọn tên Khmer theo giọng Nam bộ; đặt tên theo đặc điểm của chùa; đặt tên theo địa phương nơi tọa lạc ngôi chùa.


Chùa Monivongsa Bopharam


Tui tới Cà Mau và viếng thăm ngôi chùa Khmer nổi tiếng ở đây: chùa Monivongsa Bopharam. Lại là một cái tên Khmer dài thoòng, khó nhớ nên tui coi thử nó có tên gì dễ đọc hay không. Chùa này lớn, đẹp, nhưng không có đặc điểm riêng biệt gì như nhiều cò, nhiều dơi hay bằng chén kiểu... để có tên theo quy tắc này. Cũng không nghe thấy tên đọc tắt. Bạn có biết dân Cà Mau gọi tên chùa này là gì không? Là chùa Phường 1, bởi vì chùa Monivongsa Bopharam tọa lạc tại phường 1, thành phố Cà Mau.


Mặc dù vẫn đúng theo một trong các quy tắc gọi tên mà ta đã kể ở trên, nhưng một ngôi chùa Khmer to lớn, hoành tráng lại được gọi tên là chùa Phường 1 thì quả là... nghe hơi ngộ ngộ, phải không bạn? 


Phạm Hoài Nhân

Đường phố mang tên Việt ở Đà Nẵng trước năm 1955

đăng 20:50, 21 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 20:50, 21 thg 11, 2018 ]

Đỗ Hữu Vị được người Pháp cho in hình trên con tem phát hành khắp Đông Dương. (Ảnh tư liệu)


Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1955, Đà Nẵng chỉ có 45 đường phố được đặt tên, trong đó có đến 40 đường mang tên bằng tiếng Pháp và chỉ 5 đường mang tên Việt thuần túy gồm 2 địa danh là Đò Xu, Quảng Nam và 3 nhân danh là Đồng Khánh, Đỗ Hữu Vị, Gia Long.

Đường Đò Xu sau năm 1955 đổi thành đường Võ Tánh, sau năm 1975 đổi thành đường Núi Thành. Sở dĩ đặt tên này (Đò Xu) là do trên tuyến đường có bến đò Xu đưa khách từ mạn bắc (nay thuộc phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu) sang mạn nam (nay thuộc phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ) sông Cẩm Lệ và ngược lại. Tương truyền, ngày đó người qua lại đò này chỉ trả tiền bằng tiền xu.

Đường Quảng Nam sau năm 1955 đổi thành đường Trưng Nữ Vương và mang tên đó đến nay. Người Pháp đặt tên đường Quảng Nam là do đường này chạy từ trung tâm Đà Nẵng về hướng Quảng Nam.

Đường Đồng Khánh sau năm 1975 nối dài với đường Hùng Vương và mang tên Hùng Vương. Đồng Khánh là hoàng đế thứ 9 của nhà Nguyễn, tại vị từ năm 1885 đến 1889. Đây là ông vua không chống Pháp, sách của Trần Trọng Kim viết: “Đồng Khánh tính tình hiền lành, hay trang sức và cũng muốn duy tân, ở rất được lòng người Pháp”.

Đường Gia Long sau năm 1975 đổi thành đường Lý Tự Trọng. Trên đường Gia Long có Ty Cảnh sát Đà Nẵng của chế độ cũ nên trước năm 1975 người ta thường gọi là “Ty Gia Long”. Gia Long là hoàng đế đã thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820.

Đường Đỗ Hữu Vị mang tên phi công đầu tiên của Việt Nam và cả Đông Nam Á. Ông được người Pháp đặt tên đường cùng với 2 vị vua người Việt là do có công với “mẫu quốc” Pháp. Ông là con thứ hai của Đỗ Hữu Phương (còn gọi là Tổng đốc Phương), một điền chủ giàu có lừng lẫy tiếng tăm ở Nam Kỳ khi người Pháp mới chiếm miền Nam. Đỗ Hữu Vị tốt nghiệp trường Taberd, được cha gởi qua Pháp du học tại trường Collège St.Barbe ở Paris, nói và viết Pháp văn như Pháp. Sau 3 năm ra trường, ông xin theo học không quân.

Lúc bấy giờ thế giới mới phát minh máy bay, làm phi công được xem là rất phi thường. Ông làm phi công tác chiến trong phi đoàn ở Maroc, trở thành phi công đầu tiên của Việt Nam và cả Đông Nam Á. Để cổ vũ tinh thần người dân thuộc địa phục vụ cho “mẫu quốc”, Pháp gởi ông về Việt Nam lái máy bay biểu diễn ở Sài Gòn và Hà Nội, dân chúng khâm phục, hãnh diện và bàn tán sôi nổi một thời.

Chiến tranh Thế giới thứ nhất (1914 - 1918) bùng nổ, ông trở qua Pháp tham gia đánh Đức. Trong một lần giao tranh tại sông Somme, ông bị thương nặng rồi chết, được tưởng thưởng nhiều huy chương và truy thăng đại úy. Pháp cho in hình ông trên con tem phát hành khắp Đông Dương, lấy tên ông đặt cho nhiều trường học, nhiều đường ở Việt Nam thời đó.

Việc Pháp đặt tên đường Đỗ Hữu Vị cùng với 2 vị vua Việt Nam trên đất Tourane nhượng địa là một trong những cách quảng bá sự văn minh của “mẫu quốc” qua hình ảnh một người dân thuộc địa đã “Pháp hóa”.

Đường Đỗ Hữu Vị sau năm 1955 đổi thành đường Hoàng Diệu.

Nói thêm, sau năm 1955, ở Đà Nẵng chỉ có hai tên đường là Pasteur và Yersin là được giữ lại đến bây giờ, tất cả 38 tên đường tiếng Pháp còn lại đều được đổi thành tên Việt.

Đà Nẵng Cuối tuần

Sơn Chà hay Sơn Trà

đăng 20:45, 21 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 20:45, 21 thg 11, 2018 ]

Một chiếc xe đò chạy tuyến Sơn Chà - Đà Nẵng trước năm 1975. (Ảnh tư liệu)


Về địa danh Sơn Trà đã có nhiều bàn luận với nhiều cứ liệu và luận giải khác nhau.

Bàn về địa danh này, tại trang 19 tập tài liệu “Văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn quận Sơn Trà”, do Phòng Văn hóa và Thông tin quận lưu hành nội bộ năm 2008, cho rằng Sơn Chà bắt nguồn từ một dụng cụ bắt cá của ngư dân địa phương: “Từ thế kỷ XV về trước, Sơn Trà là hải đảo, bốn bề nước bao bọc, giống như cái chà của ngư dân làm, thả gần bờ dụ cá vào để bắt, nên dân địa phương thường gọi là Sơn Chà”. Tài liệu này cũng giải thích cả địa danh Sơn Trà: “Bởi núi có gần như hầu hết cây mọc thấp “tức trà” và cũng có nhiều rừng cây trà núi mọc um tùm rậm rạp, nên gọi là Sơn Trà”.

Có nghĩa là, theo tài liệu đã dẫn thì gọi Sơn Chà hay Sơn Trà đều không sai.

Tuy nhiên, tác giả Trần Xuân An đã đưa ra cách luận giải được cho là khả tín nhất qua bài viết “Thêm một cứ liệu để lý giải địa danh: Sơn Trà hay Sơn Chà?” đăng trên Tạp chí Non Nước số 201 + 202 (tháng 8, 9-2014).

Theo đó, có một loại cây trái được dân gian gọi là cây sơn chà, trái sơn chà. Trong cuốn “Tự vị An Nam - La-tinh” (Dictionarium Anamitico Latinum, 1772 – 1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu), có cả hai mục từ này, được ký âm bằng bộ chữ cái La-tinh và giải nghĩa sang tiếng La-tinh:

“Cây sơn chà: Thứ cây gần giống như cây cau, người Bồ [Đào Nha] gọi là Romania”.

“Trái sơn chà: Thứ trái cây giống như cây ô-liu, người Bồ gọi là Romania”.

Một mục từ gần gũi khác:

“Cây chà là: Thứ cây gần giống như cây cau”.

Có thể cây sơn chà, trái sơn chà chính là một loại chà là ở vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, hiện nay vẫn còn tồn tại, khác với các loại chà là ở các vùng địa lý khác. Phải chăng vùng bán đảo Sơn Chà (Sơn Trà), vừa là địa hình đồi trọc vừa thuộc vùng ven biển, nhoài xa ra biển, ngày trước vốn có nhiều loại cây sơn chà này?

Trong “Quốc triều chính biên toát yếu”, Sơn Chà không phải bị ghi thành Trà Sơn hay Sơn Trà (như “Đại Nam thực lục” hay “Đại Nam nhất thống chí”) mà đúng là Sơn Chà. Có đến hai đoạn đề cập đến địa danh này:

“Năm Canh Thân thứ mười ba (1860), tháng Giêng, tàu binh Đại Pháp ở vũng Sơn Chà chạy đi, nhưng còn ở lại Chơn Sảng và Đà Nẵng. Ngài dụ khiến 2 đạo quân thứ Quảng Nam và Hải Vân nhắm thế mà chỉnh bị”.

“Tháng 3, Đại Pháp sai đốt các đồn An Hải, Điện Hải tại núi Sơn Chà, rồi những tàu binh đậu vũng Sơn Chà đều chạy đi hết. Ngài dụ quan Quân thứ và các địa phương chỗ nào có hải phòng phải phòng bị cho nghiêm ngặt”.


Tác giả Trần Xuân An kết luận: “Địa danh “Sơn Chà” được hai lần nhắc đến trong hai trích đoạn trên đã giúp chúng ta thật sự không còn chút băn khoăn, thắc mắc nào nữa, khi xác định Sơn Chà, chứ không phải Sơn Trà như trên giấy tờ hành chính hiện nay; và còn không nghi ngờ gì nữa, đó chính là một địa danh, không những trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng, mà từ xưa cũng là một địa danh hành chính chính thức”.

Đà Nẵng Cuối tuần

Tổng Binh ở đâu?

đăng 20:20, 13 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 20:20, 13 thg 10, 2018 ]

Có những địa danh gắn với lịch sử hình thành của một vùng đất, nhưng nó không phải là tên gọi để chỉ một đơn vị hành chính của vùng đất đó. Tổng Binh ở phía đông huyện Bình Sơn là trường hợp như vậy. Dân Lý Sơn có câu ca dao để nói về địa danh này: “Trời trong ngó thấy Tổng Binh/ Muốn về thăm mẹ bực mình chẳng nghe”. Từ Lý Sơn, chỉ có thể nhìn thấy Tổng Binh khi “trời trong” mà thôi.

Trong quá trình tiến về phương Nam để định hình đất nước chữ S như hôm nay, cha ông ta đã cắm những cột mốc quan trọng sau bước chân mở cõi của những binh phu lẫn những lưu dân chân đất. Tổng Binh ở xã Bình Hải (Bình Sơn) là một “cột mốc” như thế.

Vì sao có tên Tổng Binh?

Nhà giáo Nguyễn Đình Thảng, thầy dạy Hán Nôm khoa Ngữ văn của Đại học Tổng hợp Huế những năm 70-80 của thế kỷ trước, quê vùng đông huyện Bình Sơn đã có lần giải thích theo cách hiểu biết của ông về tên gọi này: “Tổng Binh là chỗ duyệt binh thôi”.

Vịnh Việt Thanh, xã Bình Hải (Bình Sơn) nơi trước đây hơn 500 năm được xem như bàn đạp để Đại Việt tiến quân vào đất liền. ẢNH: TL 


Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, người đã lăn lộn qua nhiều địa danh để tìm hiểu và lý giải các phong tục tập quán văn hóa ven biển Quảng Ngãi thì trưng ra cuốn “Từ điển chức quan Việt Nam” của Đỗ Văn Ninh để giải nghĩa chữ “tổng binh”, đại để đó là một chức quan, tùy theo mỗi triều đại mà quy mô và vai trò lãnh đạo của vị quan giữ chức này bé hay lớn. Ví dụ như Vương Thông- người đã thua tan tác Lê Lợi ở Đông Quan, buộc phải cầu hòa, cũng được nhà Minh sai phái qua Giao Chỉ giữ chức tổng binh trước đó. Tuy nhiên, TS. Nguyễn Đăng Vũ cũng nghiêng về cách lý giải của nhà giáo Nguyễn Đình Thảng, tức đó là nơi duyệt binh hoặc nơi đồn trú của quân lính thời vua Lê Thánh Tông tiến đánh quân Chăm.

Chúng ta đều biết, sau lần gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chăm để đổi lấy hai châu Ô và Rí (Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế ngày nay) vào năm 1306, biên giới của nhà Trần cũng chỉ dừng lại ngang đèo Hải Vân mà thôi. Phải đến 165 năm sau, tức 1471, Lê Thánh Tông mới tiến thêm một bước dài nữa, chiếm luôn kinh đô Đồ Bàn, xác lập chủ quyền Đại Việt đến đèo Cù Mông, tỉnh Bình Định ngày nay. Vị vua thao lược này không lấn đất theo kiểu cuốn chiếu từ Hải Vân đánh vô mà “chặt khúc” ra để giành từng phần một. Cú đổ bộ 2 vạn quân Đại Việt lên bờ biển vịnh Việt Thanh (phía đông Nhà máy Lọc dầu Dung Quất) mùa Xuân năm 1471 để chuẩn bị tiến đánh Đồ Bàn, thủ đô Chămpa thời ấy là một minh chứng cho chiến thuật “chia nhỏ để đánh” này.

Vì sao chọn bờ biển Việt Thanh mà không chọn nơi nào khác? Thứ nhất là quãng đường từ biên giới Đại Việt tại Hải Vân đến kinh đô Đồ Bàn chừng 300 cây số, thì vịnh Việt Thanh nằm ở phần 1/3 quãng đường tính từ phía bắc vào, là “khúc” dễ triển khai lực lượng bộ binh để tiến quân vào kinh đô Chăm. Nhưng điều này mới quan trọng: đây là vịnh biển kín gió có thể đồn trú tàu thuyền, lại nằm trong tầm quan sát từ Lý Sơn- nơi được xem như bàn đạp để Đại Việt tiến quân vào đất liền.

Một điều trùng hợp ngẫu nhiên là người Mỹ cũng đã chọn Việt Thanh để đổ quân bộ binh lên đất liền ngay bãi biển An Cường ngày nay, vào ngày 18.8.1965 sau khi phát hiện tại đây có một đơn vị quân giải phóng đang đồn trú. Trận thắng Vạn Tường vang dội năm nào của quân giải phóng đã diễn ra sau cuộc đổ bộ này của quân đội Mỹ.

Chính vì vị trí rất thuận lợi cho việc triển khai bộ binh từ biển ập vào nên vịnh Việt Thanh và toàn bộ vùng Bình Hải, bao gồm cả An Cường, Vạn Tường, Phước Thiện được chọn làm nơi đồn trú, chuẩn bị quân lương trước khi tiến vào đánh chiếm Đồ Bàn. Tên gọi Tổng Binh có lẽ xuất hiện vào thời điểm này. Sử sách còn ghi, chuyến đi lần ấy, đích thân vua Lê chỉ huy, có đến 500 chiến thuyền hộ tống và 2 vạn binh sĩ đi cùng. Một cuộc biểu dương lực lượng khổng lồ như vậy nên để lại ấn tượng mạnh cho người dân nơi này. Để mãi đến hơn 500 năm sau, cuộc “tập trận” ngày ấy vẫn lưu lại một địa danh mang tên Tổng Binh.

Từ lời đáp của tướng sĩ

Điều thắc mắc mà hậu thế khó có thể lý giải được chung quanh câu chuyện về các địa danh tại vùng đất này. Theo TS. Nguyễn Đăng Vũ, trước khi vua tôi tiến về phương Nam đánh chiếm Đồ Bàn, Lê Thánh Tông tập hợp quân sĩ lại trước Động Hàng Đô (vị trí của UBND xã Bình Hải ngày nay). Sau khi ủy lạo binh sĩ, kết thúc lệnh truyền, vua phán: “Thiên giáng vạn tường, chúc chư đô toàn thắng”. Tướng sĩ đáp từ: “Vạn tường! Vạn tường! Vạn tường!”. Không ngờ lời đáp từ, cũng là kỳ vọng về sự “muôn đời’ ghi ơn công đức của nhà vua, vô tình đã khai sinh ra tên gọi của một vùng đất mới mang tên Vạn Tường. Hỏi những cụ già trong làng vì sao lại có tên Vạn Tường, thì ai cũng nói rằng tên có từ thời xa xưa do ông bà gọi rồi mình gọi theo, chứ không ai nói đến sự liên quan đến câu đáp từ của binh sĩ trên đây.

Bãi biển thôn Phước Thiện, xã Bình Hải (Bình Sơn) được cho là nơi vua Lê tập kết quân trước khi đổ bộ lên Tổng Binh. Ảnh: Văn Xuân 


Địa danh Vạn Tường bắt nguồn từ lời đáp của binh sĩ đối với vị vua anh minh, đó cũng chỉ là giả thiết. Nhưng ít ra, cái tên Vạn Tường vẫn còn “nối mạng” với hậu thế bằng tên gọi của một thôn thuộc xã Bình Hải, còn Tổng Binh thì mãi mãi cũng chỉ là tên gọi được lưu giữ trong ký ức của các thế hệ dân Việt vùng đất này, chứ nó hoàn toàn không mang tên một đơn vị hành chính nào cả. Tương tự, tên gọi Động Hàng Đô cũng vậy, nó chỉ còn là tiếng vọng của quá khứ mà thôi.

Bên cạnh một tên gọi gắn liền với lịch sử mở cõi của cha ông, vùng Tổng Binh còn là nơi trầm tích những vỉa tầng văn hóa khác nhau. Địa danh Gò Yàng ở thôn Phước Thiện-nơi hằn in dấu vết của con người, cả Chăm lẫn Việt; Gành Yến- nơi kiến tạo của thiên nhiên để lại cho chúng ta một “kỳ quan” miệng núi lửa thuở khai thiên lập địa; một giếng Vương ngay giữa làng Thanh Thủy chưa bao giờ bị nhiễm mặn và cạn nước ngay trong những năm đỉnh hạn.

Đã hơn nửa thiên niên kỷ, tiếng vó ngựa của vua tôi nhà Lê đã mất hút vào quá vãng, nhưng âm vang của nó vẫn còn lay động bao con tim dân Việt cho đến tận hôm nay. Như thấy mỗi tấc đất nơi Tổng Binh còn in dấu hài của bậc quân vương thuở đi mở nước.

Cẩm Thành, ai đã đặt tên?

đăng 20:39, 2 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 20:39, 2 thg 10, 2018 ]

Cẩm Thành là mỹ từ của thành cổ Quảng Ngãi, được xây dựng năm 1807, hoàn thành năm 1815, nơi đặt hành cung và bản doanh của bộ máy chính quyền hàng tỉnh lúc bấy giờ. Người xưa cho rằng địa cuộc nơi đây tụ hội khí thiêng, văn mạch của miền đất núi Ấn, sông Trà, nên Cẩm Thành trở thành địa danh văn hoá của Quảng Ngãi. Chính vì vậy, khi toà thành không còn nữa, mỹ từ Cẩm Thành vẫn tiếp tục tồn tại mang theo niềm tự hào của một vùng văn hoá địa linh, nhân kiệt.

Trải qua bao thăng trầm của thời gian, tháp nước tọa lạc ngay cạnh Viễn thông Quảng Ngãi trở thành nét xưa, chấm phá giữa nhịp sống hối hả ngày nay. Ảnh: TL 


Theo các di liệu thời Nguyễn (“Đại Nam nhất thống chí”, “Đồng Khánh địa dư chí”, “Quảng Ngãi tỉnh chí”...), thành được xây bằng đá ong với kiểu kiến trúc vauban, chu vi 500 trượng 2 thước (2.008m), cao 1 trượng (4m). Quanh thành có hào, rộng 5 trượng (20m), sâu 1 trượng (4m), thông thuỷ với sông Trà Khúc ở góc Tây Bắc. Về số cửa thành, “Đại Nam nhất thống chí”chép “3 cửa”, nhưng “Quảng Ngãi tỉnh chí” nói rõ hơn “có trổ 4 cửa thành ngay theo 4 hướng nên gọi là cửa Đông, cửa Tây, cửa Nam, cửa Bắc. Cửa Nam nay đã lấp rồi, chỉ còn 3 cửa”.

Từ những ghi chép như thế, những nhà nghiên cứu đời sau (gần đây nhất là cuốn “Quảng Ngãi: đất nước, con người, văn hoá” do Sở VH-TT xuất bản) phân vân liệu thành “chỉ có 3 cửa” hay “nguyên có 4 cửa, sau còn 3”.

Cầu Trà Khúc thời thuộc Pháp có tên là cầu Pigeaud, dài 620m. 


Khi khảo cứu lại các tư liệu, chúng tôi nhận thấy “Đại Nam nhất thống chí” chép về thành Quảng Ngãi chỉ đại lược mấy dòng và cách ghi “3 cửa” là ghi theo hiện trạng. Điều này không phủ định cách hiểu “nguyên trạng có 4 cửa, sau 1 cửa bị lấp, còn 3”. Riêng “Quảng Ngãi tỉnh chí” là cuốn địa chí chuyên khảo về Quảng Ngãi, những người biên soạn (Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đình Chí, Khiếu Hữu Kiều) vốn là quan lại trấn nhậm ở Quảng Ngãi và là những nhà khảo cứu có uy tín đương thời; phần viết về tỉnh, thành khá cụ thể, mạch lạc, nên là tài liệu khả tín.

Hơn nữa, đến nay trong dân gian vẫn còn lưu truyền câu chuyện “Hai con yêu cửa Nam thành Quảng Ngãi”, nhắc đến oan hồn của 2 người phụ nữ chết oan lúc thành mới xây, cũng là một cứ liệu truyền ngôn góp phần khẳng định thành Quảng Ngãi vốn có 4 cửa.

Với các bài thơ vịnh cảnh Thiên Ấn niêm hà, Thạch Bích tà dương, Nguyễn Cư Trinh (1716- 1767) người từng giữ chức tuần vũ ở Quảng Ngãi khoảng năm 1750 - 1752 có lẽ là người đầu tiên mang hai chữ Cẩm Thành vào trong thơ.

Nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Đình Thảng (đã quá cố) cho rằng, những bài thơ nôm vịnh cảnh đẹp Quảng Ngãi (trong đó có 2 bài đã nhắc trên) có thể không phải của Nguyễn Cư Trinh lý do là những bài này họa Hà tiên thập vịnh (vịnh 10 cảnh đẹp Hà Tiên), mà Hà Tiên thập vịnh dùng chữ Hán; xướng chữ Hán, họa chữ Nôm quả là đáng ngờ.

Mặt khác, tỉnh thành Quảng Ngãi chuyển về khu vực nay ta gọi là Thành Cổ - đầu đời Gia Long (đầu thế kỷ XIX); trong khi đó Nguyễn Cư Trinh mất năm 1767 làm sao ông lại có thể nhắc đến một toà thành mà sau khi ông qua đời gần 100 năm và với bao nhiêu biến động mới được xây dựng?

Nghi vấn của cụ Nguyễn Đình Thảng về cái gọi là “Quảng Ngãi thập nhị cảnh” nêu ra trong cuốn thơ văn Nguyễn Cư Trinh do ông Phan Hứa Thuỵ biên soạn (NXB Thuận Hoá – 1989) là có cơ sở. Xin chép lại đoạn văn sau đây của “Đại Nam liệt truyện tiền biên”: “Cư Trinh ở ngoài biên 10 năm, oai vọng lẫy lừng, dân Việt, người Nam thảy đều khâm phục. Lại ưa ngâm vịnh, thường cùng đô đốc Hà Tiên Mạc Thiên Tứ lấy thơ văn tặng đáp qua lại với nhau, lời lẽ bình đạm, đẹp đẽ. Những thơ văn ấy vì nhiều biến cố không được ghi chép lại, song có thơ họa “Hà Tiên thập vịnh” truyền tụng ở đời”.

Trạm cứu thương ở Quảng Ngãi thời Pháp thuộc. (ảnh tư liệu, Lê Hồng Khánh sưu tầm và chú giải) 


Đã rõ, xướng là “thập vịnh” (10 bài), thì họa cũng thập vịnh, lấy đâu ra thập nhị (12). Trong 12 cảnh đẹp Quảng Ngãi, truyền tụng bấy nay, Nguyễn Cư Trinh chỉ vịnh 10 cảnh, còn 2 cảnh “Vân phong túc vũ” và “Thạch ky điếu tẩu” là do người đời sau thêm vào thôi.

Cũng có thể hiểu theo một cách khác để giải đi chữ “ngờ” đối với việc Nguyễn Cư Trinh nhắc đến Cẩm Thành. Phải chăng Cẩm Thành trong thơ Nguyễn Cư Trinh nói đến thành phủ Quảng Nghĩa khi còn đóng ở Phú Nhơn, phía bắc sông Trà Khúc. Khi phủ Quảng Nghĩa dời về Chương Nghĩa, xây thành mới, người ta đã mang theo luôn cái mỹ tự Cẩm Thành theo chăng?

Khi Cẩm Thành đã trở thành địa danh văn hoá của cả vùng đất Quảng Ngãi, thì sự đồng nhất giữ lỵ sở ở Phú Nhơn và lỵ sở ở Chánh Lộ trong một cách gọi thiên về văn hoá tinh thần cũng là điều có thể xảy ra.

Dù sao cũng chỉ là giả thiết. Mong các nhà nghiên cứu bàn thêm để cùng nhau hiểu biết nhiều hơn về quê hương Quảng Ngãi mến yêu, như lời cha ông nhắc nhở “cây có cội, nước có nguồn”! 

Lê Hồng Khánh

Phong thủy linh thiêng của ngọn núi giúp Phú Yên thành "địa linh nhân kiệt"

đăng 04:37, 9 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 04:37, 9 thg 9, 2018 ]

Quan sát từ các hướng khác nhau, hình nón cân đối của núi Chóp Chài ở Tuy Hòa không thay đổi nhiều. Đặc điềm này khá giống núi Phú Sĩ, biểu tượng của đất nước Nhật Bản. Đây cũng là một ngọn núi thiêng theo quan niệm phong thuỷ của người xưa. 

Nằm ở địa phận phận xã Bình Kiến, ngoại ô thành phố Tuy Hòa, núi Chóp Chài là một thắng cảnh nổi tiếng của mảnh đất Phú Yên

 

Núi có chiều cao 363 mét, nổi lên giữa vùng đồng bằng Tuy Hòa bằng phẳng. Chu vi quanh chân núi là 10 km

 

Nhìn từ xa, núi Chóp Chài có hình nón, trông tựa như một kim tự tháp khổng lồ

 

Quan sát từ các hướng khác nhau, dáng vẻ cân đối của ngọn núi không thay đổi nhiều

 

Đặc điềm này của núi Chóp Chài khá giống núi Phú Sĩ, biểu tượng của đất nước Nhật Bản

 

Theo các nhà khoa học, đây là ngọn núi trẻ, căn cứ theo cấu tạo địa chất so với toàn vùng thì không có liên hệ gì với dãy Trường Sơn

 

Hàng triệu năm trước, núi Chóp Chài từng là đảo đá giữa biển, sau này do những chấn động địa chất và phù sa bồi lắng mà khu vực quanh núi trở thành đồng bằng

 

Căn cứ vào hình dáng và thế núi thì nó còn có tên khác là Quy Sơn (núi Rùa) hay hòn Cổ Rùa, bởi nhìn giống một con rùa đang thò cổ ra bò trên mặt đồng rộng

 

Theo quan niệm phong thuỷ của người xưa, sông Đà Rằng là con rồng uốn khúc, đầu ở thượng nguồn, đuôi vắt ngang qua làng Phước Hậu để giao nhau với núi Chóp Chài như con rùa khổng lồ vươn mình ra biển Đông. Thế đất Long Qui giao hoà này khiến Phú Yên là vùng địa linh nhân kiệt.

 

Có lẽ do ảnh hưởng từ quan niệm phong thủy trên mà quanh núi Chóp Chài có nhiều ngôi chùa cổ, có thể kể đến các chùa Hoà Sơn, Minh Sơn, Khánh Sơn, Bảo Lâm và chùa Hang

 

Trong lịch sử Việt Nam, núi Chóp Chài là địa danh gắn với nhiều sự kiện trong cuộc tranh giành quyền bính giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn

 

Thời kháng chiến chống Mỹ, nơi đây đã diễn ra một số trận đánh quan trọng quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam

 

Ngày nay trên núi còn có nhiều công trình viễn thông dân sự và quân sự

 

Trong tâm thức của người dân, núi Chóp Chài cùng với sông Ba đã trở thành biểu tượng quen thuộc của thành phố Tuy Hà và mành đất Phú Yên

1-10 of 20