Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Địa danh Rạch Ông - Quận 8 Vào những năm đầu thế kỷ 20, khu vực rạch Ong Lớn và rạch Ong Nhỏ là nơi ong thường về làm tổ, người dân vùng này đến đây lấy ...
    Được đăng 06:32, 30 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Phú Hòa - Biến đổi địa danh trong lịch sử Một góc huyện lỵ Phú Hòa - Ảnh: MINH KÝNgày 31/1/2002, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định 15/2002 ...
    Được đăng 17:11, 28 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Những cụm đường mang tên ngồ ngộ ở Sài Gòn 1.Ở phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, các con đường dọc mang tên là những khái niệm như: Dân Chủ, Bác Ái, Công Lý, Thống Nhất, Đoàn Kết, Hữu ...
    Được đăng 09:29, 19 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Từ Phan Lý xưa đến Phan Rí Cửa nay Khi đi tìm tư liệu về tổ chức hành chánh đầu tiên của huyện Hàm Tân - La Gi qua chặng đường hình thành 100 năm, tôi lại phát hiện thêm ...
    Được đăng 04:50, 28 thg 9, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Con đường nay em đi, ngày xưa có tên gì? Dù chính quyền đã đặt tên đường chính thức, có cắm bảng đề tên chính chủ nhưng người Sài Gòn vẫn gọi theo thói quen của họ cho… dễ gọi ...
    Được đăng 06:28, 2 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 24. Xem nội dung khác »


Địa danh Rạch Ông - Quận 8

đăng 06:32, 30 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Vào những năm đầu thế kỷ 20, khu vực rạch Ong Lớn và rạch Ong Nhỏ là nơi ong thường về làm tổ, người dân vùng này đến đây lấy mật nên đã đặt cho nó tên rạch Ong Lớn và rạch Ong Nhỏ, sau khi lấy các mật ong ở rạch này, đem qua 1 vùng cạnh đó bán, nên có một chiếc cầu ở đây mang tên cầu Mật. (Trong Đại Nam quốc âm tự vị ghi rạch Ong Lớn, rạch Ong Nhỏ). Các địa phương chí xưa dịch hai địa danh này ra chữ Hán: Đại Phong Giang và Tiểu Phong Giang. (Phong: con ong). Người Khơ-me gọi rạch Ong Lớn là Prê KimPon Khmum Thom, trong địa danh này có từ Khmum nghĩ là “con ong”.

Chợ Rạch Ông. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ngày nay, nhiều người gọi lầm viết sai thành rạch Ong Lớn, rạch Ong Nhỏ. Sau đó, người địa phương tạo hai địa danh mới và cũng đã viết sai: Cầu Rạch Ông, Chợ Rạch Ông thay vì cầu Rạch Ong (P1), chợ Rạch Ong (P2).

Phú Hòa - Biến đổi địa danh trong lịch sử

đăng 17:11, 28 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan


Một góc huyện lỵ Phú Hòa - Ảnh: MINH KÝ


Ngày 31/1/2002, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định 15/2002/NĐ-CP chia TX Tuy Hòa thành hai đơn vị hành chính là TX Tuy Hòa và huyện Phú Hòa. Đến thời điểm này, địa danh Phú Hòa chính thức có tên trên bản đồ Tổ quốc nhưng trước đó nhiều thế kỷ, vùng đất Phú Hòa đã có lịch sử hình thành và phát triển với những tên gọi khác nhau. 

Năm 1611, phủ Phú Yên được thành lập. Khi mới ra đời, phủ Phú Yên gồm hai đơn vị hành chính là huyện Đồng Xuân và huyện Tuy Hòa. Từ giữa nửa sau thế kỷ XVIII, phủ Phú Yên giữ vị trí xung yếu và nhân dân Phú Yên có đóng góp quan trọng trong phong trào Tây Sơn. 

Phú Yên là địa bàn tranh chấp ác liệt giữa hai lực lượng Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Năm 1801, đất Phú Yên thuộc hẳn về chúa Nguyễn Ánh. Từ năm 1801-1808, Phú Yên gọi là dinh. Từ năm 1808-1826, dinh Phú Yên đổi thành trấn Phú Yên. Trấn Phú Yên lúc này gồm hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa, với 6 tổng (mỗi huyện có 3 tổng Thượng, Hạ, Trung) và thuộc Hà Bạc. Vùng đất bắc sông Đà Rằng thuộc huyện Đồng Xuân (trừ Phú Sen xã, Kỳ Tấn Hà Lãng thôn và Phường Câu thôn ở phía bắc sông thuộc huyện Tuy Hòa) và toàn bộ vùng phía nam sông Đà Rằng thuộc huyện Tuy Hòa. 

Địa bạ Phú Yên năm Gia Long 14-15 (1815-1816) truy dụng năm Minh Mạng 11-12 (1830-1831) đề cập vùng đất huyện Phú Hòa ngày nay thuộc tổng Thượng huyện Đồng Xuân gồm các làng, xã (làng nhỏ gọi là thôn, làng lớn gọi là xã): An Thành xã, Bình An thôn, Cẩm Sơn thôn, Đá Bạc xã, Đại An Thọ Toàn thôn, Đại Phú thôn, Đồng Lâm xã, Ngọc Sơn thôn, Ngọc Sơn xã, Phong Đăng xã, Phú An xã, Phú Lộc xã, Phụng Các xã, Vĩnh An thôn, Phước Toàn xã. 

Năm 1826, vua Minh Mạng thăng làm tỉnh Phú Yên, thuộc tổng đốc Bình Phú thống hạt. Cũng trong năm này, vua Minh Mạng điều chỉnh địa giới các huyện. Huyện Tuy Hòa được mở rộng ra phía bắc sông Đà Rằng với phần lớn tổng Thượng huyện Đồng Xuân thuộc tổng Hòa Bình huyện Tuy Hòa (vùng đất huyện Phú Hòa ngày nay). 

Theo địa bạ triều Nguyễn truy dụng năm 1832 (Minh Mạng), vùng đất huyện Phú Hòa bao gồm: An Thạnh xã (An Nghiệp, Thạnh Nghiệp, Hòa Định Tây), Bình An thôn (nay là thôn Đông Bình, xã Hòa An), Cẩm Sơn thôn (nay là thôn Cẩm Sơn, xã Hòa Quang Bắc), Đá Bạc xã (nay là thôn Cẩm Thạch, xã Hòa Định Tây), Đại An Thọ Toàn thôn (nay là thôn Thạnh Lâm, xã Hòa Quang Bắc và thôn Phú Thạnh, xã Hòa Quang Nam), Đại Phú thôn (nay là thôn Đại Phú, xã Hòa Quang Nam), Đồng Lâm xã (nay là thôn Mậu Lâm Nam, xã Hòa Quang Nam và Mậu Lâm Bắc, xã Hòa Quang Bắc), Ngọc Lãnh thôn (Ngọc Sơn thôn đổi tên thành Ngọc Lãnh thôn), Ngọc Sơn xã (nay là thôn Ngọc Sơn, xã Hòa Quang Bắc), Phong Đăng xã (nay là thôn Phong Niên, xã Hòa Thắng), Phú Ân xã (thôn Phú Ân, xã Hòa An ngày nay), Phú Lộc xã (có hai giáp: giáp đông và giáp tây, tương ứng với thôn Đông Lộc và Phú Lộc, xã Hòa Thắng), Phú Sen xã (nay là thôn Phú Sen, xã Hòa Định Tây), Phụng Các xã (năm 1832 đổi tên là Phụng Tường; năm 1899 chia thành ba làng là Long Tường, Phụng Tường và Phụng Nguyên), Vĩnh An thôn (năm 1832 đổi tên là Vĩnh Phú, nay là thôn Vĩnh Phú, xã Hòa An), Phước Toàn xã (Phước Toàn xã có 3 giáp: giáp đông, giáp tây, giáp trung). Giáp đông xã Phước Toàn chia thành hai giáp nhỏ. 

Năm 1832 giáp đông xã Phước Toàn được đặt tên là làng Đông Phước. Hộ Bình thôn (nguyên là Bình An thôn) sau đổi tên là thôn Đông Bình. Giáp tây xã Phước Toàn được đặt tên là làng Tây Hậu, sau chia thành hai làng là Quy Hậu và Phước Khánh (giáp trung Phước Toàn xã sau là làng Phước Hậu, xã Bình Kiến, nay là phường 9, TP Tuy Hòa). 

Năm 1853 đổi làm đạo Phú Yên, đặt một Quản đạo, giấy tờ phải đặt ba chữ tỉnh Bình Định lên đầu. Năm 1876, lại đặt làm tỉnh Phú Yên vẫn do tổng đốc Bình Phú thống quản. Năm Kỷ Hợi 1899 (Thành Thái 11), tỉnh Phú Yên chia ra thành phủ và hai huyện. Từ đây, bỏ hệ thống phủ cai quản huyện. Phủ và huyện là đơn vị hành chính như nhau, dẫu vẫn giữ nguyên tắc “phủ thống hạt (thống quản) huyện”. Tỉnh lỵ đóng tại Sông Cầu. 

Đầu thế kỷ XX, phủ Tuy Hòa thành lập tổng Hòa Tường (gồm các làng Đại Bình, Đại Phú, Nho Lâm, Hạnh Lâm, Tường Phú, Thường Thạnh, Tịnh Lâm, Mậu Lâm, Cẩm Sơn, Ngọc Lãnh, Đồng Hòa, Đồng Mỹ, Ngọc Sơn và các làng thuộc các xã Hòa Định Đông, Hòa Thắng ngày nay). 

Ngày 17/10/1921, chính quyền Pháp có nghị định tách Phú Yên trở thành tỉnh độc lập và không còn lệ thuộc vào tỉnh Bình Định. Sự chia tách này có ý nghĩa quan trọng, Phú Yên trở về đơn vị hành chính cấp tỉnh và được đầu tư như một tỉnh lỵ khác ở khu vực Trung Kỳ. Hệ thống hành chính thời Pháp thuộc giữ nguyên trạng đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945. 

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày 22/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh 63 quy định việc tổ chức HĐND cấp tỉnh (thành phố), huyện (thị xã) và xã. Hiến pháp 1946 xác định nguyên tắc hành chính đó. 

Tháng 6/1946, thực hiện chỉ đạo của Ủy ban hành chính Trung Bộ, Phú Yên tiến hành điều chỉnh các cấp hành chính, bỏ cấp phủ và tổng. Nhập các làng nhỏ thành xã, trực thuộc huyện Tuy Hòa, Tuy An, Đồng Xuân, Sơn Hòa và khu Đồng Bò, gồm 84 xã. 

Trên địa bàn Phú Hòa lúc ấy hình thành các xã: Quy Khánh (sáp nhập hai thôn Quy Hậu và Phước Khánh), Nam Tường (sáp nhập ba thôn Phụng Tường, Long Tường, Phụng Nguyên), Trần Hào (sáp nhập các thôn Nho Lâm, Hạnh Lâm, Đại Bình, Đại Phú), Ái Quốc (sáp nhập các thôn Ngọc Sơn, Ngọc Lãnh, Cẩm Sơn, Đồng Mỹ, Đồng Hòa), Thắng Lợi (sáp nhập các thôn Trường Phú, Thường Thạnh, Tịnh Lâm, Mậu Lâm), Vĩnh Nghiệp (sáp nhập các thôn Thạnh Nghiệp, An Nghiệp), Cẩm Phong (sáp nhập các thôn Cẩm Thạch, Phú Sen, Phong Hậu trực thuộc khu Đồng Bò). Khi sáp nhập khu Đồng Bò vào phủ Tuy Hòa thì cắt thôn Phong Hậu về huyện Sơn Hòa và tên xã được đổi lại là Cẩm Phú; Tân Tiến (sáp nhập các thôn Phong Niên, Phú Lộc, Đông Lộc, Mỹ Hòa), Quốc Tuấn (sáp nhập các thôn Vĩnh Phú, Phú Ân, Đông Phước, Đông Bình, Ngọc Lãng). 

Tháng 11/1946, thực hiện chủ trương của Ủy ban hành chính Trung Bộ, Phú Yên chia làm 6 chiến khu và hai huyện miền núi. Chiến khu I gồm các xã phía nam sông Đà Rằng; chiến khu II gồm các xã phía bắc sông Đà Rằng; chiến khu III gồm các xã thuộc huyện Tuy An; chiến khu IV gồm các xã thuộc huyện Sơn Hòa; chiến khu V gồm các xã thuộc phía tây huyện Đồng Xuân; chiến khu VI gồm các xã thuộc phía đông huyện Đồng Xuân (nay là TX Sông Cầu) và hai huyện là Tân Sơn (thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Sơn Hòa) và Tân Xuân (thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Đồng Xuân). 

Cuối năm 1947, thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo Ủy ban kháng chiến, Ủy ban hành chính Trung Bộ; Phú Yên bỏ cấp chiến khu, gọi tên cấp huyện như cũ, sáp nhập huyện Tân Sơn vào huyện Sơn Hòa, huyện Tân Xuân vào huyện Đồng Xuân, khu Đồng Bò vào huyện Tuy Hòa. Đồng thời tỉnh tiến hành nhập một số xã. 

Trên địa bàn Phú Hòa lúc ấy hình thành các xã sau: Hòa Trị (sáp nhập hai xã Quy Khánh và Nam Tường), Hòa Nghiệp (xã Vĩnh Nghiệp đổi tên), Hòa Quý (xã Cẩm Phú đổi tên), Hòa Tường (xã Trần Hào đổi tên), Hòa Hảo (xã Ái Quốc đổi tên), Hòa Lợi (xã Thắng Lợi đổi tên), Hòa Thắng (xã Tân Tiến đổi tên), Hòa An (xã Quốc Tuấn đổi tên) và bao gồm diện tích các phường nội thị Tuy Hòa ngày nay từ phường 1 đến phường 6. 

Ngày 29/3/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 149 sáp nhập Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính các cấp thành Ủy ban kháng chiến - Hành chính. Trên địa bàn Phú Hòa, có các xã sau: Hòa trị, Hòa Quang (sáp nhập ba xã Hòa Tường, Hòa Hảo, Hòa Lợi), Hòa Định (sáp nhập hai xã Hòa Quý và Hòa Nghiệp), Hòa Thắng, Hòa An (bao gồm cả TX Tuy Hòa). 

Địa danh các xã chủ yếu được cấu tạo theo tên huyện như Tuy Hòa có các xã Hòa Thành, Hòa Bình, Hòa Phong, Hòa Tân, Hòa Đồng, Hòa Mỹ, Hòa Hiệp, Hòa Xuân, Hòa Vinh, Hòa Kiến, Hòa Trị, Hòa Quang, Hòa Thắng, Hòa Định, Hòa An; TX Tuy Hòa (lúc khởi nghĩa gọi là khu Tuy Hòa, sau đó thuộc xã Hòa An) gồm các phường: phường 1 (Bình Nhạn), phường 2 (Bình Tịnh), phường 3 (Bình An), phường 4 (Bình Mỹ), phường 5 (Bình Hòa), phường 6 (Bình Lợi), phường 7 (Bình Phú). 

Cuối năm 1953, để tiện quản lý lãnh thổ và củng cố chính quyền phục vụ kháng chiến kiến quốc, các xã phía bắc sông Đà Rằng thuộc huyện Tuy Hòa được tách ra thành lập huyện Tuy Hòa 2. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, Phú Yên tạm giao cho đối phương quản lý trong thời gian chờ hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 

Ngày 27/5/1958, chính phủ Ngô Đình Diệm ký Nghị định 263BNV/HC/P6 quy định đơn vị hành chính Phú Yên. Theo đó, Phú Yên chia thành 6 quận: Đồng Xuân, Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hòa (TX Tuy Hòa còn gọi là xã Châu Thành) và quận Sơn Hòa. 

Ngày 12/7/1962, chính quyền Ngô Đình Diệm ký Nghị định 723NV thành lập quận mới Hiếu Xương gồm 7 xã: Đức Thành (Sơn Thành), Hòa Đồng, Hòa Mỹ, Hòa Thịnh, Hòa Phong, Hòa Tân, Hòa Bình; quận lỵ đặt tại xã Hòa Phong. 

Ngày 21/12/1963, chính quyền Sài Gòn ký Nghị định 304 TTP ĐVHC sáp nhập các xã Hòa Thành, Hòa Hiệp, Hòa Vinh, Hòa Xuân (gốc thuộc quận Tuy Hòa) vào quận Hiếu Xương và nhập hai xã An Thọ, An Chấn (gốc quận Tuy An) vào quận Tuy Hòa. 

Về phía chính quyền cách mạng: Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Tỉnh ủy tập trung xây dựng chiến khu Thồ Lồ, thành lập các huyện ủy Đồng Xuân, Tuy An, Tuy Hòa, Sơn Hòa, giữ vững sự chỉ đạo xuyên xuốt từ tỉnh xuống các địa phương. Cuối năm 1956, Tỉnh ủy Phú Yên quyết định thành lập huyện Tuy Hòa 2 (phía bắc sông Đà Rằng tương đương với huyện Phú Hòa và TP Tuy Hòa ngày nay). 

Tháng 3/1965, Tỉnh ủy Phú Yên thành lập C6 - đơn vị tiền thân của Thị ủy Tuy Hòa. Ngày 6/8/1965, Tỉnh ủy thành lập Thị ủy Tuy Hòa chỉ đạo 6 phường nội thị và các xã Bình Phú A, Bình Phú B, Bình Phú C (tương ứng 2/3 xã Hòa Kiến cũ) để làm bàn đạp hoạt động. 

Huyện Tuy Hòa 2 trong kháng chiến chống Mỹ gồm các xã: Hòa Định, Hòa Quang, Hòa Trị, Hòa Thắng, Hòa Kiến. Đến ngày giải phóng, chính quyền cách mạng Phú Yên có 9 đơn vị huyện, thị trực thuộc: TX Tuy Hòa và các huyện Tuy Hòa 1, Tuy Hòa 2, Tuy An, Đồng Xuân, Sông Cầu, Sơn Hòa, Miền Tây, Tây Nam. Sau ngày giải phóng, UBND cách mạng tỉnh Phú Yên vẫn tiếp tục duy trì 9 đơn vị hành chính. 

Đến tháng 9/1975, toàn tỉnh có 70 xã, phường, thị trấn. Ngày 30/10/1975, Tỉnh ủy và UBND cách mạng tỉnh Phú Yên quyết định sáp nhập huyện Tây Nam vào huyện Sơn Hòa; sáp nhập huyện Đồng Xuân và huyện Sông Cầu thành huyện Đồng Xuân; sáp nhập huyện Tuy Hòa 1 và huyện Tuy Hòa 2 thành huyện Tuy Hòa. 

Ngày 3/11/1975, tỉnh Phú Yên sáp nhập với tỉnh Khánh Hòa thành tỉnh Phú Khánh. Ngày 10/3/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 49/CP hợp nhất huyện Tuy An, huyện Đồng Xuân và các xã Sơn Long, Sơn Định, Sơn Xuân, Phú Mỡ thành lập huyện mới Xuân An; hợp nhất huyện Tuy Hòa và TX Tuy Hòa thành huyện Tuy Hòa. Các xã còn lại ở miền núi thuộc huyện Tây Sơn. Bắc Phú Khánh (Phú Yên cũ) chỉ có ba đơn vị hành chính (ba huyện: Tuy Hòa, Xuân An, Tây Sơn). 

Ngày 22/9/1978, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 241/CP chia huyện Tuy Hòa thành hai huyện Tuy Hòa và TX Tuy Hòa. TX Tuy Hòa gồm 6 phường nội thị và hai xã Bình Kiến, Bình Ngọc. 

Ngày 23/4/1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 177/CP thành lập xã Hòa Hội trực thuộc huyện Tuy Hòa trên cơ sở sáp nhập vùng kinh tế mới ở buôn Hố Hầm, thôn Phong Hậu, xã Sơn Hòa, huyện Tây Sơn và thôn Lỗ Rong, xã Hòa Quang, huyện Tuy Hòa. 

Ngày 5/9/1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 100 HĐBT chia tách một số xã thuộc các huyện Đồng Xuân, Tuy An, Tuy Hòa và TX Tuy Hòa. Ở TX Tuy Hòa, chia xã Bình Kiến thành hai xã Bình Kiến và Hòa Kiến; chia xã Hòa Định thành hai xã Hòa Định Đông và Hòa Định Tây. 

Đến thời điểm tách tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, tỉnh Phú Yên được tái lập gồm TX Tuy Hòa và 6 huyện Tuy Hòa, Tuy An, Sông Cầu, Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh (gồm 6 phường, 6 thị trấn và 79 xã). 

Sau ngày tái lập tỉnh (1/7/1989), để đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển, Phú Yên được Chính phủ chấp thuận và có quyết định điều chỉnh địa giới hành chính một số địa phương thuộc quyền quản lý, trong đó có việc thành lập huyện mới Phú Hòa và hình thành một số xã trên vùng đất huyện Phú Hòa ngày nay. 

Ngày 31/1/2002, Chính phủ ban hành Nghị định 15/2002/NĐ-CP chia TX Tuy Hòa thành hai đơn vị hành chính là TX Tuy Hòa và huyện Phú Hòa. 

Ngày 20/8/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 95/2003/CP thành lập xã Ea Ly (huyện Sông Hinh); chia xã Hòa Quang (huyện Phú Hòa) thành hai xã Hòa Quang Bắc và Hòa Quang Nam. 

Ngày 3/12/2007, Chính phủ ban hành Nghị định 175/2007/NĐ-CP thành lập thị trấn Phú Hòa, trung tâm huyện lỵ của huyện Phú Hòa. Đến cuối năm 2009, Phú Yên có 9 đơn vị thành phố, thị xã, huyện trực thuộc (TP Tuy Hòa, TX Sông Cầu và các huyện: Đông Hòa, Tây Hòa, Phú Hòa, Tuy An, Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh). 

Hiện nay, huyện Phú Hòa có 9 đơn vị xã, thị trấn: Hòa Trị, Hòa Quang Nam, Hòa Quang Bắc, Hòa Hội, Hòa Định Tây, Hòa Định Đông, Hòa Thắng, Hòa An và thị trấn Phú Hòa. 

PHAN THANH

Những cụm đường mang tên ngồ ngộ ở Sài Gòn

đăng 09:29, 19 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan


1.

Ở phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, các con đường dọc mang tên là những khái niệm như: Dân Chủ, Bác Ái, Công Lý, Thống Nhất, Đoàn Kết, Hữu Nghị, Hòa Bình. Các con đường ngang mang tên các nhà trí thức, bác học cả Việt Nam lẫn nước ngoài, như: Lê Quý Đôn, Hồng Đức (tức Lê Thánh Tôn), Einstein, Khổng Tử, Lương Khải Siêu, Tagore, Pateur, Hàn Thuyên, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến.



Nghe kể rằng theo quy hoạch Làng đại học Thủ Đức hồi cuối thập niên 1960 thì nơi đây thuộc Làng và là khu nhà ở (dạng biệt thự) cho các giảng viên đại học. Chính vì vậy, các tên đường trong khu này đầy vẻ trí thức. Bây giờ nơi đây không còn là làng đại học (mà chủ yếu là... nhà hàng, quán ăn, như ta thấy trên bản đồ) nhưng đi trên các con đường Tagore, Einstein, Bác Ái, Dân Chủ...  có cảm giác rất thú vị.


2.

Ở khu cư xá Bắc Hải (phường 15, quận 10, TPHCM) có một cụm đường mà các đường ngang là tên núi: Bửu Long, Châu Thới, Thất Sơn, Trường Sơn, Ba Vì, Bạch Mã, Tam Đảo... còn các đường dọc là tên sông: Đồng Nai, Cửu Long, Hương Giang...



Tương tự như cụm đường ở Làng Đại học, xưa kia đây là những con đường nội bộ trong cư xá sĩ quan Chí Hòa. Cư xá này được xây dựng khi quân đội Pháp trở lại chiếm Sài Gòn, nhưng lúc ấy đường chưa có tên.Từ năm 1969, cư xá được giao cho một ban điều hành tự quản, ban điều hành này đã đặt tên các con đường nội bộ như trên.


3.

Ở khu dân cư Gia Hòa, phường Phước Long B, quận 9 có các con đường mang tên văn nghệ sĩ: Thanh Nga, Út Trà Ôn, Xuân Quỳnh, Huy Cận, Trịnh Công Sơn, Diệp Minh Tuyền...



Đây là các con đường nội bộ trong Khu dân cư Gia Hòa, ban đầu được đánh số. Đầu năm 2015, ban quản lý khu dân cư đề xuất và được quận 9 chấp thuận đặt tên đường như trên. Hiện giờ xen giữa những con đường mang tên văn nghệ sĩ vẫn còn những con đường đánh số, trong tương lai có lẽ sẽ được đặt tên dần.


4.

Ở khu Phan Xích Long, quận Phú Nhuận, có những con đường mang tên hoa. Có tất cả 13 loài hoa được đặt cho 13 con đường nhỏ giao nhau như một bàn cờ ở khu Phan Xích Long, đó là các đường: Hoa Hồng, Hoa Lan, Hoa Phượng, Hoa Mai, Hoa Đào, Hoa Cau, Hoa Cúc, Hoa Sứ, Hoa Huệ, Hoa Sữa, Hoa Lài, Hoa Trà, Hoa Thị...



Hơi khác với 3 trường hợp trên, đây không phải những con đường nội bộ mà chỉ là những đường nhỏ quanh Phan Xích Long, trước đây không có tên. Con đường dài nhất trong 13 đường hoa này là đường Hoa Lan cũng chỉ dài 650 met. Không rõ những tên đường này được đặt từ bao giờ, nhưng chắc là sau năm 2000.


Lời bàn:


Nhiều người cho rằng các con đường nội bộ thì tốt nhất là đặt tên bằng số để người ta dễ xác định được vị trí. Như đường số 2 sẽ gần đường số 1. Hoặc là đặt theo dạng N1, N2, N3, D1, D2, D3... trong đó N là đường ngang, D là đường dọc.


Nhiều người cho rằng tên đường phải là tên người, chứ đặt tên hoa, tên núi, tên sông... thì kỳ quá.


Có người khắt khe hơn nữa, cho rằng đặt tên người thì phải là anh hùng, danh tướng, chứ đặt tên văn nghệ sĩ thì không hợp lý.


Tui chỉ ghi lại những ý kiến trên chớ không bàn luận. Riêng tui, tui thấy việc đặt tên đường như các trường hợp kể trên rất thú vị, ít nhất là không nhàm chán!


Phạm Hoài Nhân

Từ Phan Lý xưa đến Phan Rí Cửa nay

đăng 04:50, 28 thg 9, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Khi đi tìm tư liệu về tổ chức hành chánh đầu tiên của huyện Hàm Tân - La Gi qua chặng đường hình thành 100 năm, tôi lại phát hiện thêm một sự kiện có tính lịch sử khá thú vị là ngày 18/2/1916 “Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập thị xã Phan Rí (tỉnh Bình Thuận)”. Như vậy chỉ sau 18 năm, ngày thành lập thị xã Phan Thiết (1898) - thủ phủ của tỉnh Bình Thuận - lại cùng lúc với huyện Hàm Tân. Theo “Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 - 1918)” của Viện Sử học - 2003. Cũng cùng năm này, Toàn quyền Đông Dương quyết định chia tách và thành lập tỉnh Lâm Viên, tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Từ đó tách hai địa lý Đà Lạt và Di Linh ra khỏi Bình Thuận. Sự kiện thành lập thị xã Phan Rí được coi là khá sớm, chỉ sau thị xã Phan Thiết để thấy vị trí của thị xã này quan trọng như thế nào trong sự phát triển ở vùng đất phía Bắc tỉnh Bình Thuận. 

Phan Rí Cửa về đêm. Ảnh minh họa 


Năm 1832 khi lập tỉnh Bình Thuận, gồm có phủ Ninh Thuận (có Tuy Phong) và phủ Hàm Thuận (có Hòa Đa). Theo địa chí Phan Rí Cửa, ngày xưa tiểu vùng Phan Rí (Pảrik) nằm trong vùng đất Tam Phan (tức Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết), bao gồm cả hai huyện Tuy Phong và Bắc Bình ngày nay. Địa danh Phan Lý / Phan Rí được mô tả là phần đất nằm từ sông Lòng Sông (Tuy Phong) đến sông Phú Hài (Phan Thiết). Đến năm 1888, triều đình Huế xác lập lại một số xã và lúc này tỉnh Bình Thuận còn lại phủ Hàm Thuận gồm 4 huyện Tuy Phong, Hòa Đa, Hòa Đa Thổ và Tuy Lý (có Hàm Tân). Địa danh Phan Lý tồn tại từ xưa đối với vùng đất Tuy Phong - Bắc Bình, sự kết hợp đặc thù của cư dân Kinh và Chăm có một vị trí trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Dưới thời chúa Nguyễn, Phan Lý Thành là thủ phủ của trấn Thuận Thành sau là sở lỵ của tỉnh Bình Thuận. Đến năm 1910, tỉnh Bình Thuận có 8 đơn vị hành chánh phủ, huyện. Trong đó có huyện Tuy Phong, huyện Hòa Đa (Kinh), phủ Phan Lý (Chăm). Khi chia tách có 2 đơn vị Phan Rí Thành (Bắc Bình) và Phan Rí Cửa (Tuy Phong). Từ giữa thế kỷ 19, theo sách Đại Nam nhất thống chí nói về địa danh Phan Rí qua con sông Phan Lý / Phan Rí như sau: “…có một chi từ núi Kỳ La chảy vào nam 23 dặm, đến xã Thanh Tu nhập lại rồi chảy độ 3 dặm nữa thì ra cửa biển Phan Rí”. Năm 1955, dưới thời chính quyền VNCH, Hòa Đa Thổ huyện sau là quận Phan Lý Chàm (các xã ấp người Chăm) và Phan Rí có tên chính thức là Phan Rí Cửa, thuộc quận Hòa Đa, tỉnh Bình Thuận. Phan Rí Cửa từ nguyên tên của các bản đồ thời Pháp thuộc ghi là “Phanri-port”, tức hải cảng Phan Rí vì nằm ngay tả ngạn cửa sông Lũy tiếp giáp 2 huyện Bắc Bình - Tuy Phong. Từ năm 1977, xã Phan Rí Cửa được nâng lên thị trấn. Lợi thế Phan Rí Cửa ngày nay là có đường quốc lộ 1A, nay có thêm tuyến đường du lịch ven biển nối với Hòa Phú, Bàu Trắng và dự án sân bay Hòa Thắng (Bắc Bình). Tiềm năng kinh tế biển ở đây với ngư trường lớn, là một trong ba địa điểm quan trọng về thủy sản của Bình Thuận (Phan Rí Cửa, Phan Thiết, La Gi). Năm 2010, nghị quyết HĐND tỉnh Bình Thuận trong quy hoạch đến năm 2030, xác định thị trấn Phan Rí Cửa, cùng thị xã La Gi là trung tâm tiểu vùng phía Bắc và Nam của tỉnh Bình Thuận. Hiện nay Phan Rí Cửa vẫn còn là thị trấn được thành lập cách đây 40 năm. Năm 2011, Phan Rí Cửa có đề án đề nghị công nhận là đô thị loại IV lên thị xã nhằm xác định vai trò, vị trí của Phan Rí Cửa có đủ các điều kiện tác động tích cực đến sự phát triển của khu vực phía Bắc tỉnh Bình Thuận. 

PHAN CHÍNH

Con đường nay em đi, ngày xưa có tên gì?

đăng 06:28, 2 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Dù chính quyền đã đặt tên đường chính thức, có cắm bảng đề tên chính chủ nhưng người Sài Gòn vẫn gọi theo thói quen của họ cho… dễ gọi và dễ nhớ. 

Đường Duy Tân được đổi thành Phạm Ngọc Thạch, xưa có tên Tây đọc là Lan Si Bê (Blansubé) - Ảnh: T.T.D. 


Nhiều khu cư dân hình thành tự phát từ một nhóm cư dân rồi dần dần thành một khu phố nhỏ và nhiều khu phố nhỏ. Một khu đất trống nhờ xây dựng, có dân đến ở, chia thành những con đường chưa được đặt tên. 

Những cái tên “mắc cười muốn chết” 

Để giải quyết sự rắc rối nhầm lẫn về địa chỉ, người dân ở khu đất mới tự chọn tên đường cho khu mình ở dựa theo đặc điểm mà khu phố khác không có. 

Bởi vậy, ở thành phố hiện nay có những con đường mang những cái tên thoạt nghe mắc cười muốn chết. 

Nào là đường “Mẫu Giáo - Nghĩa Địa”. Có lẽ con đường này có trường mẫu giáo gần nghĩa địa (?). 

Rồi có tên con đường thoạt nghe thấy lạnh run: “Ướp Lạnh” (chắc ở con đường này có nhà máy nước đá hay đông lạnh thủy hải sản nào đó). 

Bà con ở đường “Cựu Chiến Binh Không Rác” chắc vô cùng tự hào vì con đường này vừa mang tính truyền thống vừa bảo vệ môi trường triệt để. 

Dân mê mạng chắc tập trung ở con đường “Facebook”. Ngọt nhất có lẽ là hai con đường “Đường Cát” và “Đường Phèn”... 

Hãy thử tưởng tượng cách bà con đặt tên đường. 

Thoạt đầu có thể như vầy: “Anh (chị) ơi, tôi muốn tìm nhà bà Hai ở xóm trên”/ “Bà Hai hả, anh đi hết con đường có cái trường mẫu giáo, rồi qua nghĩa địa sẽ thấy”/ “Qua mẫu giáo, rồi nghĩa địa”/“Ờ, mẫu giáo, rồi nghĩa địa”. 

Dần dần rồi thành con đường mang tên “Mẫu Giáo - Nghĩa Địa”, đường “Ướp Lạnh” hồi nào chẳng ai hay. Sau cùng khi đặt tên đường, cắm bảng địa phương sẽ dùng cái tên được định sẵn theo cách gọi của người dân địa phương. 

Gọi tên từ vựa cá, hàng cây... 

Nếu như đọc một bài viết của nhà văn Bình Nguyên Lộc - một người Đồng Nai nhưng sống và viết nhiều về Sài Gòn - ta sẽ khám phá cách gọi tên đường thật “bá đạo” ngày xưa. 

Trước hết, họ gọi tên đường theo đặc điểm nơi đây từng có một cơ sở sản xuất gì đó. 

Nếu đi ngang vùng “ngã tư quốc tế”, dân Sài Gòn nào chẳng biết đường Nguyễn Thái Học, trước kia có tên Tây là Kitchener nhưng bà con khoái gọi là đường Lò Heo vì đường này từng có một lò heo. Tương tự, đường Bùi Quang Chiêu (Đặng Thị Nhu) được gọi là đường Cá Hấp vì các vựa cá hấp đóng đô gần khu vực chợ Bến Thành. 

Thứ đến, đặt tên đường thật thơ mộng theo tên những hàng cây dài che bóng mát cho những cặp tình nhân như họ thường gọi hai con đường Hàng Bàng và Hàng Sao thế thân cho đường Chasseloup Laubat (Hồng Thập Tự - Nguyễn Thị Minh Khai), Massiges (đường Mạc Đĩnh Chi) vì hai bên vệ đường từng có hàng cây bàng và cây sao rợp bóng. 

Hoặc cư dân Sài Gòn với lòng tôn kính, biết ơn những người có công góp phần xây dựng thành phố bằng những công trình xây dựng để đời thường dùng ngay chính tên các nhân vật này để gọi, thay vì gọi tên đường do Nhà nước đặt. 

Trường hợp này có đường Frères Guillerault (Bùi Chu - Tôn Thất Tùng) được gọi là đường Huyện Sĩ vì có nhà thờ do ông tri huyện Lê Phát Đạt bỏ tiền túi xây dựng. Đường Alsace Lorraine (Phó Đức Chính) được gọi là đường Chú Hỏa vì tòa biệt thự của Hui BonHoa - sau này được dùng làm bối cảnh quay phim Con ma nhà họ Hứa. 

Tiếp thu “truyền thống” đặt tên đường theo đặc điểm địa phương, không quan tâm đến tên gọi có “hộ khẩu”, người dân gọi những con đường dành riêng cho quan chức, cán bộ là đường “Trần Dư” - nói lái là trừ dân. 

Biết đâu sau này ở tỉnh Yên Bái có con đường mang tên “Chổi Đót”, Đắk Lắk có con đường mang tên “Xe Ôm” hay đường “Chăn Lợn” để ghi nhớ những quan xây biệt phủ bằng con đường lao động đặc thù có một không hai của các quan khi khởi nghiệp làm... quan. 

Tên đường Việt hóa từ chữ Tây 

Trước năm 1954, các con đường thành phố đều đặt theo tên Tây, mỗi lần gọi muốn trẹo lưỡi nên bà con tự động Việt hóa mà không cần đến những nhà ngôn ngữ học. 

Đố ai thời này biết được con đường “Ai Vô Rờ Quẹt” chính là con đường Eyriaud des Verges (Trương Minh Giảng - Lê Văn Sỹ). “Nhăn Răng Rìa Ai Đi Đây?” là cách gọi con đường Legrand de la Liraye (Phan Thanh Giản - Điện Biên Phủ). 

Đường Đít Xơ Mít là cách phiên âm của Dixmude (Đề Thám). Đói bụng hãy nhớ đến đường “Lên Ăn Cơm” khi nói đến đường Léon Combes. 

Đường Duy Tân (Phạm Ngọc Thạch) trước kia có tên Tây là Blansubé thì được bà con gọi như tên một thiếu nữ: Lan Si Bê. 

Đường Monlaii (Huỳnh Thúc Kháng) là đường Mộng Lầu. Ngã sáu Phù Đổng trước kia được gọi là ngã sáu Quẹt Đoong (Verdon)... 

LÊ VĂN NGHĨA 

Những con phố tên hoa ở Hà Nội

đăng 07:59, 1 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Kim Liên, Hồng Mai, Bạch Mai là những con phố tên hoa ở Hà Nội, ngoài ra một số đường còn mang tên chữ Hoa.

Không tính các con đường mang tên hoa trong một số khu đô thị, Hà Nội cũng có nhiều đường phố mang tên hoa được đặt từ xưa.

Phố tên loài hoa

Cổ nhất, có thể kể đến khu phố Kim Liên (sen vàng), mang tên theo ngôi làng cổ tại quận Đống Đa. Lịch sử ghi rằng, từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long năm 1010, khu vực phía Nam kinh thành mới đã có một làng tên gọi Đồng Lầm.

Đến năm Kỷ Sửu (1619), đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Vĩnh Tộ, triều đình đổi tên làng Đồng Lầm thành Kim Hoa (Bông hoa vàng). Làng thuộc phường Kim Hoa và Đông Tác thuộc huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức. Năm Tân Sửu (1841), vua Thiệu Trị đổi tên làng thành làng Kim Liên (Bông sen vàng), vì kỵ húy tên mẹ Vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa. Tên Kim Liên được sử dụng cho đến bây giờ, và được đặt cho cả một phường, trong đó có khu tập thể Kim Liên.

Chùa Kim Liên nằm trên một doi đất bằng phẳng trong thôn Nghi Tàm, xã Quảng An. Ảnh: Hachi8.


Trước đây, tuy không chính thức, tên Kim Liên được dùng để gọi đoạn phố từ ngã tư Lê Duẩn – Giải Phóng – Đại Cồ Việt về hướng Phạm Ngọc Thạch. Từ khi thành phố xây dựng đường vành đai 1, nhiều người gọi đoạn từ ngã tư là đường Kim Liên mới. Đến năm 2008, đoạn phố này mới chính thức có tên là Xã Đàn.

Cũng mang tên hoa sen, Hà Nội còn có phố Liên Trì (ao sen) ở gần hồ Thiền Quang. Nguyên khu vực này là thôn Liên Thủy, sau đổi thành Liên Đường, ở đó có chùa Liên Trì, sau tên chùa được dùng để đặt cho tên phố. Còn trên phố Khâm Thiên, có con ngõ nhỏ tên là ngõ Liên Hoa (hoa sen). Ngõ này dẫn vào thôn Linh Quang, có chùa Liên Hoa ở trong thôn.

Còn ở quận Hà Đông, đối diện trường Đại học Kiến trúc, cũng có một hệ thống ngõ được đặt tên rất thuần Việt là ngõ Ao Sen.

Ở phía bắc Hồ Tây, giáp Công viên nước, trước khi được đặt tên là phố Trịnh Công Sơn, một con đường lãng mạn chạy ngang qua những đầm sen lớn thường được người dân gọi với cái tên thân mật là đường Sen Hồ Tây.

Phố Trịnh Công Sơn cách Hồ Tây khoảng 500m, gần khu đầm sen nổi tiếng bên hồ. Ảnh: Quý Đoàn. 


Trong khi đó, ở phía nam kinh thành Thăng Long cũ, nhưng chếch về phía đông, có một số làng cổ cũng được đặt tên theo những loài hoa rất đẹp: Bạch Mai (mai trắng) và Hoàng Mai (mai vàng). Theo các nhà nghiên cứu, thì phố Bạch Mai xưa có tên là Hồng Mai (mai hồng), nhưng cũng vì kỵ húy tên vua Tự Đức (Hồng Nhậm) mà đổi thành Bạch Mai.

Từ trước cách mạng tháng Tám, các tên làng này đã được dùng để gọi cho tên phố. Ngày nay, Hồng Mai và Bạch Mai là hai con phố vuông góc với nhau, còn đường Hoàng Mai thì lùi xuống dưới một chút, chạy từ phố Trương Định xuống đường Tam Trinh.

Một con phố nằm ở quận Hai Bà Trưng, mang tên cố đô nước Đại Cổ Việt là Hoa Lư, nhưng nguồn gốc tên địa danh này cũng nói về một loài hoa (hoa lau). Do đó, việc cái tên cố đô này được đặt cho con phố nối giữa phố Lê Đại Hành và đường Đại Cồ Việt là điều rất hợp lý.

Phố tên có chữ Hoa

Như trên đã nói, làng Kim Liên xưa có tên gọi là Kim Hoa, do đó cửa ô Đồng Lầm còn có tên gọi ô Kim Hoa. Vì vậy, ngày nay có một con phố nhỏ nằm song song với đường vành đai 1 Xã Đàn, đi từ cửa ô Kim Liên về phía sau lưng đình Kim Liên có tên gọi là phố Kim Hoa.

Trong những năm gần đây, thành phố Hà Nội đặt thêm tên mới cho một số con đường ven hồ Tây, trong đó có phố Yên Hoa (2012) và Từ Hoa (2013).

Những ngôi nhà xanh mướt trên phố Yên Hoa, Từ Hoa. Ảnh: Đoàn Mạnh. 


Phố Yên Hoa nối từ đường Thanh Niên, đoạn gần cổng chùa Trấn Quốc, chạy ngang qua làng Yên Phụ, tới cổng Khách sạn Thắng Lợi trên Nghi Tàm. Lưu ý tên phố Yên Hoa có thể nhầm với phố Yên Hòa, con phố nằm ở quận Cầu Giấy.

Còn con đường chạy quanh làng cổ Nghi Tàm mang tên bà chúa tằm: Công chúa Từ Hoa. Theo sử sách, Từ Hoa là công chúa con gái vua Lý Thần Tông, người đã lập phủ tại làng Nghi Tàm sinh sống. Bà có công dạy dân trồng dâu nuôi tằm tạo nên một vùng đất nổi tiếng của kinh thành Thăng Long.

Năm 2014, thành phố đặt thêm tên một loạt đường phố nữa, trong đó trên khu vực Hồ Tây, đoạn đường từ cổng chùa Phú Xá đến sau trường THCS Phú Thượng được đặt tên là phố Phúc Hoa.

Còn tại khu vực quận Cầu Giấy, tên phố Quan Hoa được đặt cho đoạn từ cầu T11 chạy ven sông Tô Lịch đến ngã tư giao cắt với đường Cầu Giấy (trụ sở UBND quận Cầu Giấy).

Lê Tiên Long

Sông rạch xứ Cà Mau

đăng 01:05, 26 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Theo tư liệu, địa danh Cà Mau, vùng đất cực Nam Tổ quốc, được hình thành do người Khmer gọi tên vùng đất này là "Tưk Kha-mau", có nghĩa là "nước đen", bởi lá tràm của rừng U Minh bạt ngàn rụng xuống phân hủy làm đổi màu nước. Khám phá những con sông, rạch của xứ Cà Mau sẽ cho ta hiểu thêm về vùng đất:

"Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um".

Có một điều khá đặc biệt là các sông rạch của Cà Mau không nằm trong hệ thống tự nhiên của sông Cửu Long như phần lớn sông rạch ở các tỉnh khác của Tây Nam bộ. Nó được nối, thông với sông Hậu bởi những con kênh do người Pháp đào ở thế kỷ trước như kinh Cái Côn – Phụng Hiệp, kinh Quản Lộ, Cái Lớn - Trèm Trẹm, Bạc Liêu- Cà Mau. Đặc biệt hơn, sông rạch ở Cà Mau đều có giai thoại, sự tích về nguồn gốc xuất xứ tên gọi.

Xóm ven sông xã Đất Mũi.


Sông Ông Đốc - trong sách Gia Định Thành thông chí có tên là Khoa Giang. Sông đổ ra vịnh Thái Lan (biển Tây), hai bên có nhiều rạch phụ, nhiều xóm làng phì nhiêu, sung túc. Theo tri phủ Trần Văn Từ (trang 53 – bài Sông Ông Đốc, Cà Mau xưa - Nguyễn Văn Lương- Huỳnh Minh – NXb Thanh Niên, 2003): Khi chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi, ông và tùy tùng, gia quyến chạy vào xóm Cái Tàu ẩn nấp. Vài tháng sau, Nguyễn Ánh theo con sông nầy định ra hòn Thổ Chu rồi sang Xiêm cầu viện. Nhưng khi đoàn thuyền đi được một đỗi, thì bị quân Tây Sơn phát hiện đuổi theo. Đô Đốc Thủy binh Nguyễn Văn Vàng, khoác hoàng bào giả Nguyễn Vương để đánh lạc hướng quân giặc. Ông bị quân Tây Sơn giết chết. Nguyễn Ánh nhờ đó mà chạy thoát qua ngả khác!

Do vậy sông Khoa Giang còn được gọi là sông Ông Đốc hay sông Đốc. Hiện nay, thị trấn Sông Đốc là một trong những cảng cá lớn, nhộn nhịp nhất ở ĐBSCL. Sông Đốc cũng là một điểm tập kết ra Bắc của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ miền Nam sau hiệp định Giơ-neo-vơ (20-7-1954). Tại nơi này, gần 60 năm về trước (26-11-1954), đã chứng kiến cuộc chia ly cảm động của những người tiễn chồng, cha, con, em mình đi tập kết trên con tàu Kilinxki của Ba Lan. Vàm sông Ông Đốc trở thành địa danh gây nhiều cảm xúc trong lòng người Nam bộ. Ngày nay, thị trấn nầy là nơi có nghề cá mạnh vào bậc nhất nước ta, sản lượng trên dưới 60.000 tấn mỗi năm.

Sông Bảy Háp khá lớn. Theo Nhà nghiên cứu dân gian Huỳnh Minh thì chữ Háp bắt nguồn từ cách đếm và tính bội số theo: phân, chỉ, lượng, cân, yến, tạ, đàm, háp… Các sản vật như lúa, gạo, than, cá, khô, mắm, heo thường được tính theo đơn vị đo lường này. Thông thường thì 10 tạ (1 tạ=60kg) vô 1 đàm, 10 đàm vô 1 háp. Bảy Háp có trọng lượng quy đổi chừng 60kg x 10x10x 7= 42.000kg.

Sông Bảy Háp nước chảy lờ đờ, có nhiều con rạch trên đồng đổ xuống nên có rất nhiều tôm cá. Chuyện xưa, đầu thế kỷ trước, có một gia đình lão ngư chuyên nghề "hạ bạc" (nghề chài lưới) chỉ có hai miệng đáy đóng ở vàm Giá Ngựa (huyện lỵ Đầm Dơi ngày nay). Năm ấy (1909), hai miệng đáy của ông trúng đậm, phơi làm tôm khô được "7 háp" (42 tấn), một kỷ lục chưa từng có. Nếu tính theo giá thị trường hiện nay 500.000 đồng một ký tôm khô thì vụ tôm đó thu hoạch được khoảng 21 tỉ đồng. Sông Bảy Háp có xuất xứ tên gọi từ giai thoại trên!

Bình minh trên sông Cửa Lớn.


Sông Cửa Lớn - tên chữ là Đại Môn Giang. Đây là con sông có dòng chảy độc đáo – bắt nguồn từ biển Tây chảy ra biển Đông. Sông dài chừng 58 km, rộng 600 m và sâu 12 m. Con sông này đầu bên biển Đông là cửa Bồ Đề, còn đầu bên biển Tây là cửa Ông Trang, gần mũi Cà Mau.

Đại Môn Giang chia cắt khu vực cuối bán đảo Cà Mau thành như một đảo. Hiện cầu Năm Căn bắc qua sông Cửa Lớn đang thi công. Đây là cây cầu có chiều dài nhất Việt Nam (3.390m). Đại Môn Giang với hệ sinh thái nước lợ là một ngư trường khai thác nhiều loại thủy hải sản có giá trị kinh tế. Cảng Năm Căn nằm trên sông Cửa Lớn, gần thị trấn Năm Căn.

Từ thị trấn Năm Căn ra cửa Bồ Đề (biển Đông), cửa Ông Trang (biển Tây), hai bên sông Cửa Lớn là những cánh rừng đước bạt ngàn. Hiện vẫn còn nhiều khỉ, vượn sinh sống trong những khu rừng đước, mắm. Lưu vực sông Cửa Lớn rất dồi dào thủy hải sản. Ngoài nghề đáy sông truyền thống, cư dân ở dọc theo sông còn có nhiều nghề mưu sinh khác như đăng lưới, đẩy te, chài, giăng câu...Vào khoảng tháng 9 đến tháng 11 hằng năm, khi có gió chướng thổi, trái mắm chín rụng đầy sông, cá dứa từ biển lội vào sông từng bầy tìm ăn trái mắm. Cá dứa là một loài cá biển da trơn có hình dáng giống như cá tra nước ngọt, thường mỗi con có trọng lượng từ 2-3 kg, đôi khi có con nặng trên dưới 10kg, thịt thơm, ngon. Người dân dùng thuyền nhỏ len lỏi trong rừng mắm và dùng lao đâm cá. Cũng có thể câu cá dứa bằng mồi là trái mắm chín!

Sông Trẹm còn gọi là sông Tràm Trẹm, Trèm Trẹm, dài chừng 36 km bắt nguồn từ sông Cái Lớn, đổ vào sông Ông Đốc. Sông Trẹm chảy qua huyện An Minh (Kiên Giang) và huyện Thới Bình (Cà Mau). Sông Trẹm không rộng lắm, nó là ranh giới tự nhiên của vùng thượng và hạ U Minh. U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau, U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang.

Hệ thống rừng dọc theo sông Trẹm có gần 300 loài thực vật và ?ộng vật phong phú. Qua khảo sát, các nhà chuyên môn cho biết tại khu vực rừng Sông Trẹm có tới 30 loài bò sát thuộc 14 họ cùng 21 loài thú rừng lớn, nhỏ khác thuộc 12 chi họ. Chim có 96 loài, nằm trong 32 họ. Riêng nguồn cá đồng thì nhiều vô số, ăn, bán tươi không hết phải làm khô, mắm…

Chiều ở rừng U Minh bên sông Trẹm, khách sẽ được chứng kiến muôn ngàn loài chim bay rợp trời về tổ và có thể nghe xa xa, tiếng hú của lũ khỉ vượn, tiếng rống của heo rừng, tiếng chim ríu rít gọi đàn…

Ở sông Trẹm, bông súng ma rất nhiều! Bông súng ma lá nhỏ như lá môn nước, cỡ bàn tay xòe của người lớn, xăm xắp, là đà, liêu phiêu ở dưới nước, hai bên triền sông. Đến mùa ra hoa, bông súng nở trắng, trải dài hằng mươi cây số, tỏa hương ngan ngát, đẹp như trong tranh. Sông Trẹm lúc ấy chỉ còn một lối hẹp cho xuồng ghe đi.

***

Đến Cà Mau, đi trên những con sông dài xa tít tắp, giữa đất trời còn nhuốm màu hoang sơ, bí ẩn, bất cứ phút giây nào cũng gợi bâng khuâng nhớ về quá khứ thuở tiền nhân khai mở đất phương Nam.

Hải Hồ

Tham khảo từ tư liệu:
  • Cà Mau xưa (Nguyễn Văn Lương- Huỳnh Minh – Nxb Thanh Niên 2003). 
  • Cà Mau đất & người ( Sở Du lịch&Thương mại tỉnh Cà Mau 2002). 
  • Đại Nam thực lục ( Quốc sử quán triều Nguyễn - NXB Giáo dục HN 2002). 
  • Lịch sử khai khẩn đất phương Nam (Sơn Nam- NXB Trẻ 1997).

Giai thoại địa danh rạch Bù Mắt

đăng 00:54, 26 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Rạch Bù Mắt là tên của một con rạch ở xã Ðất Mới, huyện Năm Căn. Ðịa danh “Bù Mắt” được hình thành do cách gọi dân gian, đọc trại từ tên “bọ mắt”, một loại côn trùng nhỏ hơn hạt mè (vừng) sống ở nơi ẩm ướt, hay đeo bám vào da người và hút máu như muỗi.

Trước đây, ở hai bên bờ con rạch này có rất nhiều cây bụi mọc hoang, nhiều nhất lá dừa nước, tạo môi trường lý tưởng cho loài bọ mắt sinh sôi nảy nở. Trong truyện ký “Cây đước Cà Mau”, Nhà văn Ðoàn Giỏi mô tả: “Xứ này, muỗi, bù mắt như trấu, nhiều người không có mùng mà ngủ, phải chằm khíu bao bố tời, đệm cho cả nhà nằm”.

Buổi trưa, hoặc những ngày nắng ráo, bọ mắt thường trốn trong bụi rậm bên bờ sông, hoặc đậu trên lá dừa nước mọc ven sông rạch nên ít người phát hiện. Bọ mắt chỉ xuất hiện nhiều nhất lúc trời chạng vạng tối, buổi sáng sớm hoặc những lúc trời mưa lâm râm (mưa nhỏ hạt). Khi đó, chúng thường kéo thành từng bầy, bám vào những nơi ẩm ướt, phát hiện hơi người là chúng bám vào da để chích. Ðiểm đáng chú ý là khi chích, bọ mắt thường gom thành từng cụm chính vào một chỗ, dân gian gọi là bù mắt “xây đùn”, chỗ bị chích sau đó thành một vệt đen sạm.

Một đoạn rạch Bù Mắt ngày nay.


Nơi đây vẫn còn lưu truyền câu chuyện, ngày trước có viên quan nọ có việc phải đi qua con rạch này, vốn đã nghe trước lời đồn, ông thuê sẵn một chiếc ghe có mui, cửa nẻo kín đáo và có mùng cẩn thận. Khi đến nơi đây thì trời sắp tối, ông bảo người chèo ghe nấu bữa cơm đơn giản, cho hai trứng vịt vào hấp, ăn tạm lót dạ để sáng mai lên đường.

Nồi cơm vừa chín, hai trứng vịt được lột ra trắng phau để trong cái tô nhỏ. Vừa lúc ghe cập bến một nhà dân ven rạch, chủ nhà nghe tiếng động liền xuống mời vị quan lên nhà nghỉ ngơi, vì sợ trời tối lại nhiều muỗi, bọ mắt không thể ở dưới ghe được.

Sau mấy câu chào hỏi, một lúc nhìn lại hai trứng vịt lúc nãy trắng phau giờ đã chuyển sang màu đen như hai cục than, do bọ mắt bám vào. Vị khách phải mang trứng đi rửa sạch để vào mùng ăn cơm. Hôm sau, viên quan có dịp đi dạo quanh xóm mới biết đa số dân nghèo bị bọ mắt cắn đến nỗi bị ghẻ lở, bệnh tật, nhiều người không có mùng ngủ phải lấy nóp bàng nhúng nước cho sợi bàng nở ra để chui vào ngủ.

Cuốn sách “Cà Mau xưa” của các tác giả Nghê Văn Lương và Huỳnh Minh (NXB Thanh Niên, 2003) ở trang 70 có đoạn kể về con rạch này: “Lần nọ, tam bản tôi ghé lại mé rạch đặng bắn lọ nồi, lúc trời mưa lâm râm. Chừng 10 phút sau, tôi trở xuống ghe, mặt mày ngứa ngáy khó chịu, phải lấy dầu cù là mà thoa. Khi lấy kiếng soi mặt thì chính tôi không còn nhìn được tôi nữa”.

Khu vực này xưa kia có nhiều xóm rẫy của Huê kiều (Hoa kiều) trồng nhiều loại hoa màu như rau, dưa, cà, đặc biệt là ớt sừng trâu, người địa phương hay gọi là những “rẫy Chệt” (người Nam Bộ gọi dân Hoa kiều là dân “Chệt”, do đó mà xuất hiện nhiều địa danh: Bãi Chệt, Rẫy Chệt, kinh Chệt Tửng, kinh Chệt Sáu, kinh Chệt Sậy, kinh Chệt Ớt, kinh Chệt Thợ…). Thỉnh thoảng có thương lái từ chợ Cà Mau, chợ Năm Căn ghé vào cân sỉ để về bán lại.

Vốn là một nhánh của sông Bảy Háp, lại là nơi cung cấp rau quả tươi sống, ghe xuồng của thương lái thường đi lại nên con rạch cũng được nhiều người biết đến. Trong một số tài liệu và bản đồ địa lý trước đây ghi tên rạch này là rạch Mang Dỗ. Qua tra cứu các từ điển Hán Việt không thấy nghĩa của từ này, có giả thiết rằng, tên Mang Dỗ được đọc trại từ “Mang Rỗ” (do người Hoa kiều đọc “Mang Rỗ” thành “Mang Dỗ”), là tên của một loài cá từng xuất hiện rất nhiều ở khu vực này.

Cá mang rỗ (tên khoa học là Toxotes charareus) sống ở môi trường nước lợ và nước ngọt, gần các cửa sông lớn, tại Việt Nam phân bố chủ yếu ở khu vực (trong đó có Cà Mau). Cá mang rỗ (có tài liệu ghi là “măng rỗ”) có đầu nhọn, miệng rộng, thân dẹt và thon dài, khi trưởng thành có thể dài đến 30 cm, nặng trên 1 kg. Ðặc biệt, thức ăn của chúng chủ yếu là các loài giáp xác và côn trùng trong không khí (trong đó có muỗi, bọ mắt…), chúng thường bơi gần mặt nước và săn mồi bằng cách phun những tia nước rất mạnh vào côn trùng đang bay hoặc đang đậu trên cây, làm con mồi rớt xuống và lao đến đớp lấy. Cá mang rỗ có thể thực hiện cú bắn chính xác và hạ gục con mồi ở khoảng cách từ 1-2 m, vì vậy, trong dân gian còn gọi cá này bằng những tên khác như: cá cung thủ, cá phun nước, cá cao xạ pháo… Loài cá này hiện nay còn rất ít trong tự nhiên, nhưng đã được thuần hoá thành cá nuôi cảnh với kích thước nhỏ hơn.

Tên gọi rạch Bù Mắt (bọ mắt) ngày nay và rạch Mang Dỗ (mang rỗ) trước kia đều có nguồn gốc từ tên các loài động, thực vật xuất hiện nhiều ở địa phương. Ðây chính là một trong những tính chất đặc thù của địa danh dân gian ở vùng sông nước, đồng thời phản ánh quy luật định danh đối với các địa danh ở Cà Mau nói riêng, địa danh Nam Bộ nói chung.

Ngày nay, rạch Bù Mắt đã trở thành địa danh hành chính (ấp Bù Mắt, xã Ðất Mới, huyện Năm Căn). Người dân ở đây không còn chịu cảnh bọ mắt cắn “xây đùn” như trước nữa, vì kinh rạch đã được khơi thông, nhiều gia đình lấy nguồn nước tự nhiên vào vuông nuôi tôm, môi trường cũng thông thoáng hơn…, các loài muỗi, bọ mắt từ đó mà giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên, những câu chuyện kể về rạch Bù Mắt một thời vẫn còn lưu lại trong trí nhớ người già, thỉnh thoảng lúc trà dư, tửu hậu lại có dịp kể lại cho con cháu nghe.

Bài và ảnh: Huỳnh Thăng

Giai thoại về địa danh Năm Căn

đăng 00:49, 26 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Con sông Cửa Lớn chảy qua thị trấn Năm Căn, ở đoạn này cũng được gọi là sông Năm Căn. Theo hướng đi về mũi Ông Trang, phía bên hữu ngạn là chợ Năm Căn, thị trấn sầm uất với đường sá, công trình, nhà cửa và các khu thương mại, dịch vụ phát triển nhanh chóng. Nơi đây hứa hẹn hình thành một đô thị năng động trong tương lai.

Ngày trước, chợ Năm Căn là địa điểm giao thương thuận lợi vì chỗ này là ngã tư sông, nơi dừng chân của khách thương hồ. Họ là chủ những ghe hàng đi xuống cửa Ông Trang mua tôm khô, cá khô, hoặc ra Rẫy Chệt mua dưa hấu, xuống Rạch Gốc chở ba khía và ốc len, những xuồng ghe qua rạch Bà Thanh, Ông Định chở củi về hầm than…

Một góc thị trấn Năm Căn. Ảnh: NHÂN KIỆT


Sau những chuyến đi dài "chèo chống mỏi mê", họ dừng lại bến này nghỉ ngơi chờ nước xuôi để đi tiếp, có khi gặp lúc nước ròng, phải chờ con nước lớn. Đây là thời gian khách thương hồ gặp gỡ trao đổi hàng hóa, hoặc chuyện trò, hoặc hỏi đường, dần dần rồi thành chợ bên sông. Nhiều chợ ở khắp vùng sông nước Cà Mau đã được hình thành như vậy.

Tại vị trí các ngã ba, ngã tư sông đầu tiên xuất hiện những xóm nhà, rồi đến hàng quán cho khách nghỉ ngơi ăn uống, những cửa tiệm chạp phô (tạp hóa) bày bán nhu yếu phẩm, đồ gia dụng, dần dần phát triển thành chợ.

Theo truyền miệng trong dân gian thì tên gọi "Năm Căn" đã có từ hơn 200 năm nay. Đầu tiên, có một người Hoa Kiều tên là Chệt Hột đến đây dựng lên 5 căn trại đáy, phía trên bờ thì làm rẫy. Công việc làm ăn rất phát đạt do nguồn cá tôm dồi dào và chưa có người khai thác.

Thấy có nhiều hoa lợi nên những người Hoa Kiều và người Việt cũng đến đây làm ăn sinh sống, lần hồi trở nên đông đúc. Vì có vị trí thuận lợi về đường sông nên ghe xuồng thường qua lại chỗ này, và người ta căn cứ vào dấu hiệu là dãy trại đáy 5 căn xuất hiện đầu tiên để gọi tên, lâu ngày thành địa danh "Năm Căn".

Tìm hiểu các sử liệu ghi chép lại từ thời Mạc Cửu khai phá vùng Hà Tiên đến Cà Mau khoảng năm 1680, nhưng không thấy nhắc đến địa danh Năm Căn. Mãi đến thời nhà Nguyễn có địa bạ ghi chép về huyện Long Xuyên (là vùng đất Cà Mau ngày nay) mới có nhắc đến. Địa bạ triều Nguyễn năm 1836 (năm Minh Mạng thứ 17) gọi là xứ Năm Căn, lúc đó theo thống kê đặc điền thì ở huyện Long Xuyên (thuộc tỉnh Hà Tiên) gồm 2 tổng: Long Thủy và Quảng Xuyên. Riêng tổng Quảng Xuyên có diện tích ruộng đất trên 445 mẫu, gồm 14 xã thôn, trong đó có "thôn Tân Hưng ở 5 xứ: Rạch Nón, Cái Mũi, Cái Lân, Năm Căn, Đồng Cùng có trên 192 mẫu ruộng (112 mẫu công điền và trên 80 mẫu tư điền với 1 chủ điền)”.

Thời thuộc Pháp, Năm Căn đã trở thành thị trấn sung túc, hai bên bờ sông mọc lên nhiều lò than, nhà cửa san sát, dân cư tấp nập, có bến tàu đò, có đường xe hơi đi từ Cà Mau về đến Năm Căn… Lúc bấy giờ, Năm Căn là 1 trong 6 quận nổi tiếng của Cà Mau. Năm Căn được coi là mỏ "vàng đen", cung cấp than đước cho cả Nam Kỳ lục tỉnh.

Ranh giới tự nhiên giữa 2 huyện Năm Căn và Ngọc Hiển là con sông Năm Căn, vốn có tên gọi là sông Cửa Lớn (tên chữ Hán là "Đại Môn Giang"), chiều dài 58 km, rộng trung bình 400 m. Đoạn từ thị trấn Năm Căn đến cửa Bồ Đề rộng đến 500 m, độ sâu từ 12-20 m. Sông có 2 cửa đổ ra biển là cửa Bồ Đề ở phía biển Đông và cửa Ông Trang ở phía biển Tây.

Con sông này được nhà thám hiểm Jacques-Yves Cousteau, thuyền trưởng tàu Calypso, đánh giá là 1 trong 100 dòng sông lớn nhất thế giới. Điểm đặc biệt nhất là dòng sông có dòng chảy từ biển ra… biển. Nói cách khác, đây là con sông không có thượng nguồn và hạ nguồn, đó là nét độc đáo so với những dòng sông nổi tiếng khác.

Sông Năm Căn là trục sông chính, có rất nhiều chi lưu tạo ra hệ thống sông ngòi chằng chịt ôm lấy những cánh rừng đước, sú, vẹt, mắm bạt ngàn. Với tài nguyên thiên nhiên rừng - biển vô cùng phong phú, cuộc sống của cư dân sông nước nơi đây từ lâu đã hình thành nếp sinh hoạt rất đặc trưng:

"Cha chài mẹ lưới con câu,
Chàng rể đóng đáy, con dâu ngồi nò"

Nghề đóng đáy xuất hiện từ rất sớm trên dòng sông này. Đây là nghề đánh bắt mang lại nguồn lợi kinh tế cao. Để đóng đáy, người ta chọn đoạn sông có dòng chảy tốt, độ sâu vừa phải, dùng cây gỗ lớn cắm xuống dòng sông, giăng thành hàng ngang từ 20-30 miệng đáy, rồi dùng dây thừng néo vào nhau cho cố định. Chờ khi nước ròng thì thả lưới, tôm cá theo con nước đi vào miệng đáy.

Ở đoạn sông gần cửa Bồ Đề có nghề săn cá dứa. Đây là loài cá biển có hình dáng giống cá ba sa hay cá tra, nhưng lớn hơn, có khi nặng đến 10 kg, thịt ăn rất ngon. Vào khoảng tháng 8 âm lịch là mùa trái mắm rụng xuống sông, cá dứa từ biển kéo vào từng đàn nổi lên mặt nước ăn trái mắm. Người dân dùng xuồng nhỏ chèo theo đàn cá vào, dùng lao đâm cá, người săn giỏi trong một buổi có thể đâm được vài chục con.

Mùa này cũng là mùa ba khía hội, ba khía là đặc sản của rừng Năm Căn, thịt rất thơm nhờ ăn trái mắm đen. Ngày xưa, ba khía được muối đem bán khắp Nam Kỳ lục tỉnh và không biết tự bao giờ, dân gian đã lưu truyền câu dân ca: "Anh ơi, tháng tám mưa dầm. Nhớ về Năm Căn săn ba khía hội…".

Huỳnh Thăng

Giếng nước Mỹ Tho, có "miệng giếng" rộng 7 ha!

đăng 03:29, 5 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Hôm bữa tui có kể về cái giếng nước lớn nhứt Việt Nam (hổng chừng là cả thế giới luôn nữa), đó là giếng nước Mỹ Tho, kèm theo một số thắc mắc. Bữa nay, sau khi... lặn xuống giếng tìm hiểu một hồi tui viết thêm bài này để giới thiệu thêm một số thông tin mới biết được.

Tự điển tiếng Việt định nghĩa Giếng như sau: Hố đào thẳng đứng, sâu vào lòng đất, dùng để lấy nước. Mở rộng ra hơn nữa, ta có giếng dầu do các giàn khoan đào ngoài biển khơi. Dù là giếng nước hay giếng dầu đi nữa thì hình ảnh chung của cái giếng là độ sâu lớn hơn nhiều so với miệng giếng.


Thôi, không kể giếng dầu là thứ đặc biệt (và thường là rất lớn), ở đây ta chỉ xét giếng nước thôi. Có ai không biết cái giếng là gì hông? Ờ, thì giếng nước là vầy nè:




Vậy cái này phải cái giếng hông?




Tui cảm thấy băn khoăn ghê lắm, nhưng câu trả lời chính thức thì đúng nó là cái giếng
Gọi đầy đủ là Giếng Nước hoặc Giếng Đôi (vì gồm 2 cái giếng). Tên của nơi có cái giếng này là Công viên Giếng Nước, thuộc thành phố Mỹ Tho. 


Thông tin về Giếng nước Mỹ Tho ghi trong Địa chí Tiền Giang như sau:


“Giếng nước Mỹ Tho là một hệ thống gồm 2 giếng được đào với mục đích trữ nước cấp cho Thành phố Mỹ Tho:

Giếng nhỏ nằm kề sông Tiền giới hạn bởi các đường xe lửa (Bắc, nay là Lý Thường Kiệt), Doudard de Lagrec (Đông, nay là Yersin), đường tỉnh số 26 (Nam, nay là Lê Thị Hồng Gấm) và đường Tết Mậu Thân hiện nay (Tây). Giếng nhỏ dài trung bình 190 m, rộng 85 m.

Giếng lớn ở ngay phía Bắc giếng nhỏ, kéo dài từ đường Lý Thường Kiệt (Nam) đến đường Ấp Bắc hiện nay (Bắc), phía Tây và Đông vẫn là đường Tết Mậu Thân và Yersin. Chiều dài giếng lớn là 800 m, bề rộng như giếng nhỏ.

Giếng nhỏ thông với Sông Tiền qua một cống ngầm dưới đường Lê Thị Hồng Gấm và 2 giếng thông nhau cũng bằng một cống ngầm dưới đường Lý Thường Kiệt. Trước đây nước từ sông được lấy trữ trong giếng nhỏ để lắng bớt phù sa sau đó cho vào giếng lớn và cấp cho nhà máy nước. Hiện nay nhà máy đã không còn lấy nước từ giếng nữa, tuy vậy nước ngoài sông vẫn được cho vào, chủ yếu để tạo cảnh quan đô thị. Đến năm 1988 bờ giếng lớn phía đường Ấp Bắc và đường Lý Thường Kiệt bị xói lở dần ảnh hưởng đến sự ổn định của đường, vì vậy hai đầu giếng lớn đã được lấp cạn một đoạn khá dài để vừa gia cố đường vừa hình thành công viên. Năm 1998-1999 mái bờ của 2 giếng được lát đá hộc, quanh giếng xây lan can như hiện nay.”



Mô tả giếng nước Mỹ Tho như vậy khá chi tiết, nhưng tài liệu này chưa nói giếng nước Mỹ Tho... ở đâu ra! Tui lò dò... lặn xuống giếng tìm hiểu thì biết thêm:


Tác giả Nguyễn Ngọc Phan trong “Trăm năm dâu bể” cho biết về xuất xứ của Giếng Nước Mỹ Tho: Giếng nước Mỹ Tho nguyên thủy là hào thành Định Tường được đào năm 1826. Lúc chiếm Định Tường (1862), đề phòng nghĩa quân tấn công, chính quyền thực dân đã cải tạo hào thành nầy thành kinh, đặt tên là kinh Nicolais. Kinh Nicolas theo thời gian bị bùn lấp cạn dần. Hai bên bờ cỏ lau rậm rạp. Đến năm 1927, kỹ sư người Pháp Partilény lập đề án cải tạo kinh Nicolas thành hồ chứa nước. Công trình này hoàn thành năm 1933, đây là thời điểm nó được gọi là Giếng nước Mỹ Tho như ghi trong Địa chí Tiền Giang.

Như vậy, xuất xứ và mô tả Giếng Nước Mỹ Tho khá rõ ràng. Tuy nhiên, có một thắc mắc chưa được giải đáp: Tại sao lại gọi đây là “giếng” mà không phải là “hồ”?


Như ta thấy, xuất xứ đây là hào, rồi thành kinh, từ kinh chuyển thành hồ chứa nước. Vậy mà không gọi là hồ, lại gọi là giếng. Ta có thể tính được diện tích mặt giếng nhỏ là 16.150 m², diện tích mặt giếng lớn là 68.000 m². Như vậy, giếng lớn có “miệng giếng” rộng tới… gần 7 ha, đây có lẽ là miệng giếng rộng nhất Việt Nam!


Giếng nước Mỹ Tho trên Google Maps


Hầu hết người dân Mỹ Tho đều tỏ ra quá quen thuộc với cái tên Giếng Nước quê mình đến mức chẳng buồn thắc mắc vì sao cái giếng lại… to như thế! Khi được hỏi thì họ ngẩn ngơ một chút, rồi có người giải thích: Tại vì nó chứa nước để uống nên gọi là giếng, còn hồ là chứa nước để… tắm!


Anh Mai Việt Hùng – một người thuở nhỏ sống ở Tiền Giang – nêu ra một lý giải khá thú vị: Người Định Tường xưa (tức Tiền Giang ngày nay) rất khiêm tốn. Họ luôn thu mình lại trước các sự việc bất kỳ. Thí dụ như con sông có bến phà qua Kiến Hòa ngày xưa (tức Bến Tre ngày nay) nó tên là “Rạch Miễu”, dù nó rộng bằng 20 con rạch nhập lại. Chiều dài cầu Rạch Miễu bắc qua “con rạch” này là 2.868 met, trong khi cầu Mỹ Thuận bắc qua sông Tiền chỉ dài 1.535 met cho thấy “con rạch” này rộng tới cỡ nào! Vậy thì chuyện họ gọi cái hồ lớn thành cái giếng cũng là lẽ thường thôi.


Dù giải thích thế nào đi nữa, một điều hiển nhiên rằng Giếng nước Mỹ Tho là một thắng cảnh ở thành phố này, đáng để ta đến tham quan và trầm trồ: Đây là cái giếng lớn nhất Việt Nam!



Phạm Hoài Nhân

1-10 of 24