Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Tổng Binh ở đâu? Có những địa danh gắn với lịch sử hình thành của một vùng đất, nhưng nó không phải là tên gọi để chỉ một đơn vị hành chính của vùng ...
    Được đăng 20:20, 13 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cẩm Thành, ai đã đặt tên? Cẩm Thành là mỹ từ của thành cổ Quảng Ngãi, được xây dựng năm 1807, hoàn thành năm 1815, nơi đặt hành cung và bản doanh của bộ máy chính ...
    Được đăng 20:39, 2 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Phong thủy linh thiêng của ngọn núi giúp Phú Yên thành "địa linh nhân kiệt" Quan sát từ các hướng khác nhau, hình nón cân đối của núi Chóp Chài ở Tuy Hòa không thay đổi nhiều. Đặc điềm này khá giống núi Phú Sĩ ...
    Được đăng 04:37, 9 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy Trong bài vọng cổ Tình anh bán chiếu có câu:Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra ...
    Được đăng 19:59, 5 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Anh đi đâu về? Anh vừa đi chơi đâu về?Tui ra đảo Bình Ba ở Nha Trang. Còn anh?Tui tới thác Pongour ở Đà Lạt.Đố bạn đoạn đối thoại trên có ...
    Được đăng 02:27, 13 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 19. Xem nội dung khác »


Tổng Binh ở đâu?

đăng 20:20, 13 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Có những địa danh gắn với lịch sử hình thành của một vùng đất, nhưng nó không phải là tên gọi để chỉ một đơn vị hành chính của vùng đất đó. Tổng Binh ở phía đông huyện Bình Sơn là trường hợp như vậy. Dân Lý Sơn có câu ca dao để nói về địa danh này: “Trời trong ngó thấy Tổng Binh/ Muốn về thăm mẹ bực mình chẳng nghe”. Từ Lý Sơn, chỉ có thể nhìn thấy Tổng Binh khi “trời trong” mà thôi.

Trong quá trình tiến về phương Nam để định hình đất nước chữ S như hôm nay, cha ông ta đã cắm những cột mốc quan trọng sau bước chân mở cõi của những binh phu lẫn những lưu dân chân đất. Tổng Binh ở xã Bình Hải (Bình Sơn) là một “cột mốc” như thế.

Vì sao có tên Tổng Binh?

Nhà giáo Nguyễn Đình Thảng, thầy dạy Hán Nôm khoa Ngữ văn của Đại học Tổng hợp Huế những năm 70-80 của thế kỷ trước, quê vùng đông huyện Bình Sơn đã có lần giải thích theo cách hiểu biết của ông về tên gọi này: “Tổng Binh là chỗ duyệt binh thôi”.

Vịnh Việt Thanh, xã Bình Hải (Bình Sơn) nơi trước đây hơn 500 năm được xem như bàn đạp để Đại Việt tiến quân vào đất liền. ẢNH: TL 


Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, người đã lăn lộn qua nhiều địa danh để tìm hiểu và lý giải các phong tục tập quán văn hóa ven biển Quảng Ngãi thì trưng ra cuốn “Từ điển chức quan Việt Nam” của Đỗ Văn Ninh để giải nghĩa chữ “tổng binh”, đại để đó là một chức quan, tùy theo mỗi triều đại mà quy mô và vai trò lãnh đạo của vị quan giữ chức này bé hay lớn. Ví dụ như Vương Thông- người đã thua tan tác Lê Lợi ở Đông Quan, buộc phải cầu hòa, cũng được nhà Minh sai phái qua Giao Chỉ giữ chức tổng binh trước đó. Tuy nhiên, TS. Nguyễn Đăng Vũ cũng nghiêng về cách lý giải của nhà giáo Nguyễn Đình Thảng, tức đó là nơi duyệt binh hoặc nơi đồn trú của quân lính thời vua Lê Thánh Tông tiến đánh quân Chăm.

Chúng ta đều biết, sau lần gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chăm để đổi lấy hai châu Ô và Rí (Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế ngày nay) vào năm 1306, biên giới của nhà Trần cũng chỉ dừng lại ngang đèo Hải Vân mà thôi. Phải đến 165 năm sau, tức 1471, Lê Thánh Tông mới tiến thêm một bước dài nữa, chiếm luôn kinh đô Đồ Bàn, xác lập chủ quyền Đại Việt đến đèo Cù Mông, tỉnh Bình Định ngày nay. Vị vua thao lược này không lấn đất theo kiểu cuốn chiếu từ Hải Vân đánh vô mà “chặt khúc” ra để giành từng phần một. Cú đổ bộ 2 vạn quân Đại Việt lên bờ biển vịnh Việt Thanh (phía đông Nhà máy Lọc dầu Dung Quất) mùa Xuân năm 1471 để chuẩn bị tiến đánh Đồ Bàn, thủ đô Chămpa thời ấy là một minh chứng cho chiến thuật “chia nhỏ để đánh” này.

Vì sao chọn bờ biển Việt Thanh mà không chọn nơi nào khác? Thứ nhất là quãng đường từ biên giới Đại Việt tại Hải Vân đến kinh đô Đồ Bàn chừng 300 cây số, thì vịnh Việt Thanh nằm ở phần 1/3 quãng đường tính từ phía bắc vào, là “khúc” dễ triển khai lực lượng bộ binh để tiến quân vào kinh đô Chăm. Nhưng điều này mới quan trọng: đây là vịnh biển kín gió có thể đồn trú tàu thuyền, lại nằm trong tầm quan sát từ Lý Sơn- nơi được xem như bàn đạp để Đại Việt tiến quân vào đất liền.

Một điều trùng hợp ngẫu nhiên là người Mỹ cũng đã chọn Việt Thanh để đổ quân bộ binh lên đất liền ngay bãi biển An Cường ngày nay, vào ngày 18.8.1965 sau khi phát hiện tại đây có một đơn vị quân giải phóng đang đồn trú. Trận thắng Vạn Tường vang dội năm nào của quân giải phóng đã diễn ra sau cuộc đổ bộ này của quân đội Mỹ.

Chính vì vị trí rất thuận lợi cho việc triển khai bộ binh từ biển ập vào nên vịnh Việt Thanh và toàn bộ vùng Bình Hải, bao gồm cả An Cường, Vạn Tường, Phước Thiện được chọn làm nơi đồn trú, chuẩn bị quân lương trước khi tiến vào đánh chiếm Đồ Bàn. Tên gọi Tổng Binh có lẽ xuất hiện vào thời điểm này. Sử sách còn ghi, chuyến đi lần ấy, đích thân vua Lê chỉ huy, có đến 500 chiến thuyền hộ tống và 2 vạn binh sĩ đi cùng. Một cuộc biểu dương lực lượng khổng lồ như vậy nên để lại ấn tượng mạnh cho người dân nơi này. Để mãi đến hơn 500 năm sau, cuộc “tập trận” ngày ấy vẫn lưu lại một địa danh mang tên Tổng Binh.

Từ lời đáp của tướng sĩ

Điều thắc mắc mà hậu thế khó có thể lý giải được chung quanh câu chuyện về các địa danh tại vùng đất này. Theo TS. Nguyễn Đăng Vũ, trước khi vua tôi tiến về phương Nam đánh chiếm Đồ Bàn, Lê Thánh Tông tập hợp quân sĩ lại trước Động Hàng Đô (vị trí của UBND xã Bình Hải ngày nay). Sau khi ủy lạo binh sĩ, kết thúc lệnh truyền, vua phán: “Thiên giáng vạn tường, chúc chư đô toàn thắng”. Tướng sĩ đáp từ: “Vạn tường! Vạn tường! Vạn tường!”. Không ngờ lời đáp từ, cũng là kỳ vọng về sự “muôn đời’ ghi ơn công đức của nhà vua, vô tình đã khai sinh ra tên gọi của một vùng đất mới mang tên Vạn Tường. Hỏi những cụ già trong làng vì sao lại có tên Vạn Tường, thì ai cũng nói rằng tên có từ thời xa xưa do ông bà gọi rồi mình gọi theo, chứ không ai nói đến sự liên quan đến câu đáp từ của binh sĩ trên đây.

Bãi biển thôn Phước Thiện, xã Bình Hải (Bình Sơn) được cho là nơi vua Lê tập kết quân trước khi đổ bộ lên Tổng Binh. Ảnh: Văn Xuân 


Địa danh Vạn Tường bắt nguồn từ lời đáp của binh sĩ đối với vị vua anh minh, đó cũng chỉ là giả thiết. Nhưng ít ra, cái tên Vạn Tường vẫn còn “nối mạng” với hậu thế bằng tên gọi của một thôn thuộc xã Bình Hải, còn Tổng Binh thì mãi mãi cũng chỉ là tên gọi được lưu giữ trong ký ức của các thế hệ dân Việt vùng đất này, chứ nó hoàn toàn không mang tên một đơn vị hành chính nào cả. Tương tự, tên gọi Động Hàng Đô cũng vậy, nó chỉ còn là tiếng vọng của quá khứ mà thôi.

Bên cạnh một tên gọi gắn liền với lịch sử mở cõi của cha ông, vùng Tổng Binh còn là nơi trầm tích những vỉa tầng văn hóa khác nhau. Địa danh Gò Yàng ở thôn Phước Thiện-nơi hằn in dấu vết của con người, cả Chăm lẫn Việt; Gành Yến- nơi kiến tạo của thiên nhiên để lại cho chúng ta một “kỳ quan” miệng núi lửa thuở khai thiên lập địa; một giếng Vương ngay giữa làng Thanh Thủy chưa bao giờ bị nhiễm mặn và cạn nước ngay trong những năm đỉnh hạn.

Đã hơn nửa thiên niên kỷ, tiếng vó ngựa của vua tôi nhà Lê đã mất hút vào quá vãng, nhưng âm vang của nó vẫn còn lay động bao con tim dân Việt cho đến tận hôm nay. Như thấy mỗi tấc đất nơi Tổng Binh còn in dấu hài của bậc quân vương thuở đi mở nước.

Cẩm Thành, ai đã đặt tên?

đăng 20:39, 2 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cẩm Thành là mỹ từ của thành cổ Quảng Ngãi, được xây dựng năm 1807, hoàn thành năm 1815, nơi đặt hành cung và bản doanh của bộ máy chính quyền hàng tỉnh lúc bấy giờ. Người xưa cho rằng địa cuộc nơi đây tụ hội khí thiêng, văn mạch của miền đất núi Ấn, sông Trà, nên Cẩm Thành trở thành địa danh văn hoá của Quảng Ngãi. Chính vì vậy, khi toà thành không còn nữa, mỹ từ Cẩm Thành vẫn tiếp tục tồn tại mang theo niềm tự hào của một vùng văn hoá địa linh, nhân kiệt.

Trải qua bao thăng trầm của thời gian, tháp nước tọa lạc ngay cạnh Viễn thông Quảng Ngãi trở thành nét xưa, chấm phá giữa nhịp sống hối hả ngày nay. Ảnh: TL 


Theo các di liệu thời Nguyễn (“Đại Nam nhất thống chí”, “Đồng Khánh địa dư chí”, “Quảng Ngãi tỉnh chí”...), thành được xây bằng đá ong với kiểu kiến trúc vauban, chu vi 500 trượng 2 thước (2.008m), cao 1 trượng (4m). Quanh thành có hào, rộng 5 trượng (20m), sâu 1 trượng (4m), thông thuỷ với sông Trà Khúc ở góc Tây Bắc. Về số cửa thành, “Đại Nam nhất thống chí”chép “3 cửa”, nhưng “Quảng Ngãi tỉnh chí” nói rõ hơn “có trổ 4 cửa thành ngay theo 4 hướng nên gọi là cửa Đông, cửa Tây, cửa Nam, cửa Bắc. Cửa Nam nay đã lấp rồi, chỉ còn 3 cửa”.

Từ những ghi chép như thế, những nhà nghiên cứu đời sau (gần đây nhất là cuốn “Quảng Ngãi: đất nước, con người, văn hoá” do Sở VH-TT xuất bản) phân vân liệu thành “chỉ có 3 cửa” hay “nguyên có 4 cửa, sau còn 3”.

Cầu Trà Khúc thời thuộc Pháp có tên là cầu Pigeaud, dài 620m. 


Khi khảo cứu lại các tư liệu, chúng tôi nhận thấy “Đại Nam nhất thống chí” chép về thành Quảng Ngãi chỉ đại lược mấy dòng và cách ghi “3 cửa” là ghi theo hiện trạng. Điều này không phủ định cách hiểu “nguyên trạng có 4 cửa, sau 1 cửa bị lấp, còn 3”. Riêng “Quảng Ngãi tỉnh chí” là cuốn địa chí chuyên khảo về Quảng Ngãi, những người biên soạn (Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đình Chí, Khiếu Hữu Kiều) vốn là quan lại trấn nhậm ở Quảng Ngãi và là những nhà khảo cứu có uy tín đương thời; phần viết về tỉnh, thành khá cụ thể, mạch lạc, nên là tài liệu khả tín.

Hơn nữa, đến nay trong dân gian vẫn còn lưu truyền câu chuyện “Hai con yêu cửa Nam thành Quảng Ngãi”, nhắc đến oan hồn của 2 người phụ nữ chết oan lúc thành mới xây, cũng là một cứ liệu truyền ngôn góp phần khẳng định thành Quảng Ngãi vốn có 4 cửa.

Với các bài thơ vịnh cảnh Thiên Ấn niêm hà, Thạch Bích tà dương, Nguyễn Cư Trinh (1716- 1767) người từng giữ chức tuần vũ ở Quảng Ngãi khoảng năm 1750 - 1752 có lẽ là người đầu tiên mang hai chữ Cẩm Thành vào trong thơ.

Nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Đình Thảng (đã quá cố) cho rằng, những bài thơ nôm vịnh cảnh đẹp Quảng Ngãi (trong đó có 2 bài đã nhắc trên) có thể không phải của Nguyễn Cư Trinh lý do là những bài này họa Hà tiên thập vịnh (vịnh 10 cảnh đẹp Hà Tiên), mà Hà Tiên thập vịnh dùng chữ Hán; xướng chữ Hán, họa chữ Nôm quả là đáng ngờ.

Mặt khác, tỉnh thành Quảng Ngãi chuyển về khu vực nay ta gọi là Thành Cổ - đầu đời Gia Long (đầu thế kỷ XIX); trong khi đó Nguyễn Cư Trinh mất năm 1767 làm sao ông lại có thể nhắc đến một toà thành mà sau khi ông qua đời gần 100 năm và với bao nhiêu biến động mới được xây dựng?

Nghi vấn của cụ Nguyễn Đình Thảng về cái gọi là “Quảng Ngãi thập nhị cảnh” nêu ra trong cuốn thơ văn Nguyễn Cư Trinh do ông Phan Hứa Thuỵ biên soạn (NXB Thuận Hoá – 1989) là có cơ sở. Xin chép lại đoạn văn sau đây của “Đại Nam liệt truyện tiền biên”: “Cư Trinh ở ngoài biên 10 năm, oai vọng lẫy lừng, dân Việt, người Nam thảy đều khâm phục. Lại ưa ngâm vịnh, thường cùng đô đốc Hà Tiên Mạc Thiên Tứ lấy thơ văn tặng đáp qua lại với nhau, lời lẽ bình đạm, đẹp đẽ. Những thơ văn ấy vì nhiều biến cố không được ghi chép lại, song có thơ họa “Hà Tiên thập vịnh” truyền tụng ở đời”.

Trạm cứu thương ở Quảng Ngãi thời Pháp thuộc. (ảnh tư liệu, Lê Hồng Khánh sưu tầm và chú giải) 


Đã rõ, xướng là “thập vịnh” (10 bài), thì họa cũng thập vịnh, lấy đâu ra thập nhị (12). Trong 12 cảnh đẹp Quảng Ngãi, truyền tụng bấy nay, Nguyễn Cư Trinh chỉ vịnh 10 cảnh, còn 2 cảnh “Vân phong túc vũ” và “Thạch ky điếu tẩu” là do người đời sau thêm vào thôi.

Cũng có thể hiểu theo một cách khác để giải đi chữ “ngờ” đối với việc Nguyễn Cư Trinh nhắc đến Cẩm Thành. Phải chăng Cẩm Thành trong thơ Nguyễn Cư Trinh nói đến thành phủ Quảng Nghĩa khi còn đóng ở Phú Nhơn, phía bắc sông Trà Khúc. Khi phủ Quảng Nghĩa dời về Chương Nghĩa, xây thành mới, người ta đã mang theo luôn cái mỹ tự Cẩm Thành theo chăng?

Khi Cẩm Thành đã trở thành địa danh văn hoá của cả vùng đất Quảng Ngãi, thì sự đồng nhất giữ lỵ sở ở Phú Nhơn và lỵ sở ở Chánh Lộ trong một cách gọi thiên về văn hoá tinh thần cũng là điều có thể xảy ra.

Dù sao cũng chỉ là giả thiết. Mong các nhà nghiên cứu bàn thêm để cùng nhau hiểu biết nhiều hơn về quê hương Quảng Ngãi mến yêu, như lời cha ông nhắc nhở “cây có cội, nước có nguồn”! 

Lê Hồng Khánh

Phong thủy linh thiêng của ngọn núi giúp Phú Yên thành "địa linh nhân kiệt"

đăng 04:37, 9 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Quan sát từ các hướng khác nhau, hình nón cân đối của núi Chóp Chài ở Tuy Hòa không thay đổi nhiều. Đặc điềm này khá giống núi Phú Sĩ, biểu tượng của đất nước Nhật Bản. Đây cũng là một ngọn núi thiêng theo quan niệm phong thuỷ của người xưa. 

Nằm ở địa phận phận xã Bình Kiến, ngoại ô thành phố Tuy Hòa, núi Chóp Chài là một thắng cảnh nổi tiếng của mảnh đất Phú Yên

 

Núi có chiều cao 363 mét, nổi lên giữa vùng đồng bằng Tuy Hòa bằng phẳng. Chu vi quanh chân núi là 10 km

 

Nhìn từ xa, núi Chóp Chài có hình nón, trông tựa như một kim tự tháp khổng lồ

 

Quan sát từ các hướng khác nhau, dáng vẻ cân đối của ngọn núi không thay đổi nhiều

 

Đặc điềm này của núi Chóp Chài khá giống núi Phú Sĩ, biểu tượng của đất nước Nhật Bản

 

Theo các nhà khoa học, đây là ngọn núi trẻ, căn cứ theo cấu tạo địa chất so với toàn vùng thì không có liên hệ gì với dãy Trường Sơn

 

Hàng triệu năm trước, núi Chóp Chài từng là đảo đá giữa biển, sau này do những chấn động địa chất và phù sa bồi lắng mà khu vực quanh núi trở thành đồng bằng

 

Căn cứ vào hình dáng và thế núi thì nó còn có tên khác là Quy Sơn (núi Rùa) hay hòn Cổ Rùa, bởi nhìn giống một con rùa đang thò cổ ra bò trên mặt đồng rộng

 

Theo quan niệm phong thuỷ của người xưa, sông Đà Rằng là con rồng uốn khúc, đầu ở thượng nguồn, đuôi vắt ngang qua làng Phước Hậu để giao nhau với núi Chóp Chài như con rùa khổng lồ vươn mình ra biển Đông. Thế đất Long Qui giao hoà này khiến Phú Yên là vùng địa linh nhân kiệt.

 

Có lẽ do ảnh hưởng từ quan niệm phong thủy trên mà quanh núi Chóp Chài có nhiều ngôi chùa cổ, có thể kể đến các chùa Hoà Sơn, Minh Sơn, Khánh Sơn, Bảo Lâm và chùa Hang

 

Trong lịch sử Việt Nam, núi Chóp Chài là địa danh gắn với nhiều sự kiện trong cuộc tranh giành quyền bính giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn

 

Thời kháng chiến chống Mỹ, nơi đây đã diễn ra một số trận đánh quan trọng quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam

 

Ngày nay trên núi còn có nhiều công trình viễn thông dân sự và quân sự

 

Trong tâm thức của người dân, núi Chóp Chài cùng với sông Ba đã trở thành biểu tượng quen thuộc của thành phố Tuy Hà và mành đất Phú Yên

Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy

đăng 19:59, 5 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong bài vọng cổ Tình anh bán chiếu có câu:


Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra... chào


và câu


Hỡi ôi, con sông Phụng Hiệp nó chảy ra bảy ngả, mà sao lệ của tôi nó cũng lai láng muôn dòng. 


Bạn thấy có gì lạ không? Ngã Bảy thì dấu ngã, còn bảy ngả thì dấu hỏi!


Tui nói thiệt nghe, hồi nào tui vẫn quen viết chữ Ngả với ý nghĩa là hướng đi bằng dấu hỏi. Thí dụ như: Mỗi người đi mỗi ngả, Đôi ngả chia ly, Đường đời trăm ngả... Nhưng khi viết ngã ba, ngã tư, ngã bảy... thì lại viết dấu ngã (chắc chắn cách viết này đúng, vì có rất nhiều địa danh mang dạng Ngã x, và được thấy viết dấu ngã trên rất nhiều văn bản, bảng tên đường, bảng hiệu...).


Chợ Ngã Bảy ở thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang


Rãnh rỗi, ngồi ngẫm nghĩ, tui thấy rằng trong cả 2 trường hợp trên chữ ngả hoặc ngã đều mang ý nghĩa là hướng đi. Tức là giống nhau! Mà đã giống nhau thì phải là cả 2 cùng dấu hỏi hoặc cùng dấu ngã chớ, sao lại một đứa dấu hỏi, một đứa dấu ngã? Đứa nào sai?


Lại tra từ điển. Hóa ra hai trường hợp đều đúng. Nếu là bảy ngả thì phải viết dấu hỏi, còn ngã bảy thì viết dấu ngã. Từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học) giải thích rõ thêm rằng: Ngã dùng trước từ chỉ số, chỉ chỗ có nhiều ngả đường, ngả sông tỏa đi các hướng khác nhau.


Như vậy, ngã ba, ngã bảy... viết dấu ngã vì theo sau nó là từ chỉ số.


Biết quy tắc vậy rồi, để khỏi sai chính tả rồi, nhưng nếu bây giờ ai cắc cớ hỏi tiếp: Sao lại quy ước sau chữ Ngã là từ chỉ số thì nó phải viết dấu ngã? thì tui... bí. Ai biết trả lời dùm đi?


Phạm Hoài Nhân

Anh đi đâu về?

đăng 02:27, 13 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

  • Anh vừa đi chơi đâu về?
  • Tui ra đảo Bình Ba ở Nha Trang. Còn anh?
  • Tui tới thác Pongour ở Đà Lạt.

Đố bạn đoạn đối thoại trên có gì sai?


Thác Pongour


Hầu như tất cả mọi người, kể cả các đơn vị tổ chức tour du lịch, đều gọi tour ra đảo Bình Ba là tour đi Nha Trang, tour chơi thác Pongour là tour Đà Lạt. Nhưng thật ra đảo Bình Ba đâu phải ở Nha Trang,  thác Pongour đâu phải ở Đà Lạt!


Về mặt địa lý hành chính, đảo Bình Ba thuộc thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa; thác Pongour thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Nghĩa là 2 địa điểm trên chả dính dáng gì tới Nha Trang hay Đà Lạt cả. Bản thân Nha Trang cũng chỉ là một thành phố của tỉnh Khánh Hòa, và Đà Lạt cũng chỉ là thành phố của tỉnh Lâm Đồng thôi.


Bình Ba


Sự nhầm lẫn này xảy ra là do danh tiếng của 2 địa điểm du lịch là Nha Trang và Đà Lạt quá lớn khiến người ta đánh đồng Nha Trang với tỉnh Khánh Hòa, Đà Lạt với tỉnh Lâm Đồng. Một địa điểm nổi tiếng ở đâu đó thuộc Lâm Đồng thì được gán ngay là ở Đà Lạt (thí dụ như sân bay Liên Khương ở Đức Trọng, Lâm Đồng chớ đâu phải ở Đà Lạt). Tương tự như vậy một địa điểm nổi tiếng ở đâu đó thuộc Khánh Hòa thì được gán ngay là ở Nha Trang (thí dụ như sân bay Cam Ranh ở Cam Ranh, Khánh Hòa chớ đâu phải ở Nha Trang).


Sự nhầm lẫn tương tự cũng xảy ra đối với những địa điểm khác khi mà tên tuổi của thành phố trực thuộc tỉnh quen thuộc hơn so với tên tỉnh, như Phan Thiết so với Bình Thuận, Phan Rang so với Ninh Thuận hoặc thậm chí Biên Hòa so với Đồng Nai. (Sự nhầm lẫn đối với cái tên Phan Rang lại càng lớn hơn nữa, thí dụ như người ta hay nói biển Ninh Chữ ở Phan Rang. Thật ra biển Ninh Chữ ở thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, còn Phan Rang thì... không hề là một địa danh hành chính, mà tên đúng của nó là thành phố Phan Rang - Tháp Chàm).


Những sự nhầm lẫn nói trên không gây tác hại gì, vì nó không khiến người ta... đi lạc, tuy nhiên nếu gọi tên và xác định địa điểm hành chính cho đúng vẫn hay hơn, phải không các bạn?


Cá biệt có một trường hợp gọi sai mà lại được ưa chuộng, yêu thích hơn gọi đúng - thậm chí, đối với nhiều người gọi như vậy mới là đúng. Đó là trường hợp Sài Gòn. Về mặt ní nuận, không tồn tại địa danh hành chính Sài Gòn mà chỉ có TPHCM, nhưng người ta nói đi Sài Gòn, sống ở Sài Gòn, dân Sài Gòn... Có  ai nói gọi vậy là sai hông nè?


Phạm Hoài Nhân

Nghĩ chuyện bâng quơ

đăng 01:56, 8 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Địa danh là gì hở bạn?


Cứ từng chữ mà giải thích ra thì địa danh là tên đất, cũng như nhân danh là tên người. Còn chi tiết hơn nữa, thì theo TS Lê Trung Hoa, địa danh có thể phân làm 4 loại:

  • Địa danh chỉ địa hình tự nhiên: tên sông, tên núi, tên thác, tên hồ... như núi Trường Sơn, sông Cửu Long...
  • Địa danh chỉ công trình xây dựng: cầu cống, chợ, đường phố... như cầu Chương Dương, chợ Bến Thành...
  • Địa danh chỉ đơn vị hành chính: xã, ấp. phường, quận, huyện, tỉnh...
  • Địa danh chỉ vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng, như vùng Bàn Cờ, khu Cầu Chữ Y...


Có cả khoa học nghiên cứu về địa danh, là địa danh học. Khoa học này tìm hiểu về phương thức đặt địa danh, cấu tạo của địa danh, nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh...


Ta có thể đến thăm anh Hai Ẩu, uống cà phê với anh Hai Ẩu chớ không thể tới thăm... cái tên của anh Hai Ẩu hay uống cà phê với cái tên của anh Hai Ẩu. Với cái tên Hai Ẩu, chỉ có thể tìm hiểu xem nó là bút danh hay nickname của thằng cha nào. 


Tương tự như vậy, ta không thể tới thăm một địa danh, chiêm ngưỡng một địa danh mà chỉ có thể tới thăm một địa điểm, chiêm ngưỡng một địa điểm. Với địa danh, việc thường làm là xét xem địa danh đó được đặt từ khi nào, do ai, ý nghĩa là gì...


Vậy mà bây giờ hàng lô hàng lốc bài báo viết về du lịch ghi tựa và nội dung kiểu như vầy: Những địa danh đẹp say lòng du khách tại..., 10 địa danh phải đến trong đời,... Có trang còn đặt hẳn một mục trên Menu là Địa danh nhưng thay vì nội dung trong mục đó là những bài tìm hiểu về nguồn gốc, ý nghĩa các tên sông núi, vùng miền... thì lại là giới thiệu về các danh lam thắng cảnh!


Chắc nhiều bạn sẽ nói tui khó chịu, ghi vậy thì... ai cũng hiểu mà! Ừa, chắc vậy. Chỉ tại tui khi đọc thì thấy nó hơi... bị ức chế nên nói ra vậy thôi, và cũng chỉ nói là nghĩ chuyện bâng quơ thôi mà!


Phạm Hoài  Nhân

Nghĩa tên gọi "Châu Đốc" là gì?

đăng 04:54, 5 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan


Xin sơ lược trình bày tình hình tra cứu như sau:

1- Gia Định Thành Thông Chí (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức (THĐ) là sách đầu tiên chép về tên sông tên đất ở Gia Định xưa (Nam bộ ngày nay) kể từ lúc người Việt ta đặt chân đến đây rồi dần dần làm chủ đến giờ. (Chắc chắn sách được chép vào đời vua Gia Long 1802 – 1820. Bởi sang đầu đời vua Minh Mạng vừa có chiếu cầu sách cũ THĐ đã kịp thời dâng lên).

Theo lời giới thiệu của viện Sử Học Việt Nam trong dịp ấn hành ra mắt GĐTTC vào năm 1998 các sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên Đại Nam Nhất Thống Chí Phần Nam Kỳ Lục Tỉnh do các sử gia triều Nguyễn soạn ra sau đó cũng phải dựa vào đây.

2-Theo đó về một vùng đất về một con sông về một cái đồn mà sau này tất cả chúng ta đều gọi là “Châu Đốc” thì THĐ đã chép vào sách của mình bằng hai chữ Hán đọc theo âm Việt là “ Chu Đốc”.( Chữ “Chu” này thuộc bộ Mộc.Chữ “Đốc” thuộc bộ Trúc).

Với hai chữ này xét về nghĩa căn cứ chặt chẽ vào tự dạng thì “Chu” là “sắc đỏ”.Còn “Đốc”có nghĩa là “Thuần hậu không pha tạp” (“Đốc tín” là “dốc một lòng tin”. “Đôn đốc” là “dốc một lòng chăm chỉ trung hậu”).

Vậy nghĩa của tên gọi “Chu Đốc” căn cứ vào tự dạng như trên đã nói là   “Thuần hậu không pha tạp sắc đỏ ” chăng?

Xin thưa không phải vậy.

Vấn đề khá lắc léo phức tạp.Xin trình bày rõ thêm như sau:

Năm 1757 Nặc Tôn một hoàng thân nước Cao Mên dâng đất Tầm-Phong- Long cho chúa người Việt có tên là Nguyễn Phúc Khoát (ông nội vua Gia Long).Đây là thời điểm toàn đất Nam Bộ ngày nay về mặt chánh thức người Việt ta kết thúc xong sự thu phục của mình.

Từ sự kiện này nơi mà ngày nay ta gọi “Châu Đốc” lần đầu tiên trở thành biên địa lãnh thổ của người Việt với nước Cao Mên. Hay cũng có thể nói ngược lại lúc này phủ Mật Luật đối diện bên nước Cao Mên bắt đầu trở thành khu vực giáp giới với đất “Chu Đốc”của người Việt.Về mặt hình dạng của đường biên hồi ấy khúc khuỷu quanh co trông giống “cái mỏ của con heo”.Người Khmer hai bên nhân đó gọi là “mỏ heo” .Tiếng Khmer có âm điệu là  Moọc-Churút.Khi người Việt ta tới đây sinh sống chung lộn với người Khmer cũng dựa vào người bản xứ mà gọi là Moọc-Churút theo.

65 năm sau, vào đời Gia Long.Moọc-Churút bị nói trại đi .Không biết sai chạy đến mức nào, tuy nhiên khi lọt tới tai Trịnh Hoài Đức ông đã dùng hai chữ Hán “Chu Đốc” để phỏng chú cho cụm âm thanh có nguồn gốc thổ ngữ  Khmer này.Do vậy hiện nay nếu cần giải thích nghĩa tên gọi “Châu Đốc” là gì bắt buộc phải đặt đối tượng vào lại bối cảnh lịch sử này.Và tất nhiên “Chu Đốc” chỉ có thể mang nghĩa là “mỏ con heo”.Nói chính xác hơn do đã “rơi” mất thành tố âm ngữ “Moọc” ở phía trước chỉ còn lại “Churút” nên nghĩa của nó theo đó chỉ còn là “Con Heo” mà thôi.

Nhưng chiếu theo tự dạng như trên đã nói đọc là “Chu Đốc” sao hiện nay lại trở thành “Châu Đốc” ?

Theo tôi điều này không lấy gì làm khó hiểu. Hồi ấy ông sơ của vua Gia Long tên Nguyễn Phúc Chu.Mọi người đành kỵ úy đọc chữ “Chu” thành “Châu”.“Chu Đốc” từ đó biến thành “Châu Đốc”.Không thể nói nghĩa của chữ “Châu” ở đây là “đất” hay “một khu vực lãnh thổ…” được. Bởi trong sách GĐTTC của THĐ không hề viết là “Châu” thuộc bộ Xuyên để có thể giải thích nghĩa như trên.Thậm chí giả dụ có là chữ “Châu” thuộc bộ Xuyên đi nữa cũng  vẫn không thể giải nghĩa nó là “một khu vực lãnh thổ…”.Vì hai chữ Hán trong sách GĐTTC nói trên  chỉ làm nhiệm vụ phỏng chú một ngữ âm khmer đã có trước.Một dạng ký âm bằng Hán tự.Rồi sau này khi ta dịch hai chữ Hán kia ra chữ  quốc ngữ mẫu tự La tinh đang dùng hiện nay nó đương nhiên trở thành C-h-â-u  Đ-ố-c. Một kiểu ký âm của ký âm. Thế thôi.


Sa Đéc, Đồng Tháp 25 Tết năm Tân Mão.
Trần Minh Tạo

Không trùng tên, nhưng trùng người

đăng 01:58, 28 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

TPHCM có rất nhiều con đường trùng tên,theo thống kê thì có đến hơn 200 con đường. Bên cạnh đó, có những con đường tuy không trùng tên nhưng... trùng người. Hai trường hợp quen thuộc nhất là cặp đường Đinh Tiên Hoàng - Đinh Bộ Lĩnh  Quang Trung - Nguyễn Huệ.


Ở trường hợp đầu thì ông Đinh Bộ Lĩnh thuở hàn vi ở Bình Thạnh, đến chừng lên làm vua lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng thì chuyển hộ khẩu sang quận 1 ngay. Trường hợp Quang Trung - Nguyễn Huệ thì ngược lại, thuở còn áo vải mang tên Nguyễn Huệ thì ở ngay khu vực trung tâm quận 1, nhưng khi lên ngôi hoàng đế Quang Trung thì chuyển sang tận Gò Vấp.


Nguyễn Huệ ở quận 1


Quang Trung thì ở Gò Vấp


Một trường hợp ông vua khác là Lê Thánh Tôn ở quận 1, lại ở Thủ Đức với niên hiệu Hồng Đức.


Có tới 2 ông Hoàng Hoa Thám, một ông nằm ở quận Bình Thạnh, ông còn lại ở Tân Bình. Lại còn thêm ông Đề Thám ở quận 1 nữa.


Cùng là thủ lĩnh nghĩa quân như Đề Thám, ông Trương Định nằm ở quận 1, lại thêm ông Trương Công Định ở Tân Bình.


Nhà thơ thì có ông Tú Xương ở quận 3, và ông Trần Kế Xương (tức Trần Tế Xương) ở Phú Nhuận.


Điểm sơ sơ thì tui thấy có những con đường tuy không trùng tên, nhưng trùng người như vậy, ai tìm thấy trường hợp khác nữa xin kể thêm dùm nha.


Một trường hợp khá hi hữu là con đường mang tên Chu Thiên, ở phường Hiệp Tân, quận Tân Phú. Chu Thiên (1913 - 1992) là nhà văn, nhà sử học nổi tiếng với tác phẩm Bút nghiên, Bóng nước Hồ Gươm... Ông tên thật là Hoàng Minh Giám. TPHCM có con đường mang tên Hoàng Minh Giám ở Phú Nhuận.Vậy đây cũng là không trùng tên, nhưng trùng người như các trường hợp trên? Ờ, tưởng vậy mà không phải vậy, ngược lại đây là trùng tên, nhưng không trùng người. Vì ông Hoàng Minh Giám ở Phú Nhuận không phải ông Chu Thiên -  Hoàng Minh Giám mà là Hoàng Minh Giám (1904 - 1995), nguyên thứ trưởng bộ Ngoại giao, bộ trưởng bộ Văn hóa!


Đường Chu Thiên


Đường Hoàng Minh Giám


Chuyện linh tinh về tên đường vậy đó. Vui hông?


Phạm Hoài Nhân

Mũi Isabelle ở Đà Nẵng dưới khía cạnh lịch sử và văn hóa

đăng 21:04, 20 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Hiện nay, trong văn bản hành chính các cấp từ Trung ương đến địa phương hay trên các website du lịch và cả trong ngôn ngữ thường nhật của người Đà Nẵng, mũi đất phía đông-bắc vịnh Nam Chơn gắn liền địa danh Hòn Hành được đồng nhất với tên gọi mũi Isabelle. Tuy nhiên, nếu đặt câu hỏi vì sao địa danh này mang tên là mũi Isabelle, chắc hẳn không phải ai cũng có thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng. 

Mũi Isabelle (Hòn Hành) nhìn từ bờ tây-nam vịnh Nam Chơn hiện nay. Ảnh: T.T 


Hòn Hành trước thế kỷ XIX có tên là núi Thông (Thông sơn: 葱山), tục gọi Hòn Hành (Hòn Hành: 㞩行), nguyên văn là “Thông sơn tục danh Hòn Hành”: 葱山俗名㞩行. Năm 1823, vua Minh Mạng triều Nguyễn đổi tên núi Thông thành núi Định Hải (Định Hải sơn: 定海山), xây pháo đài ở đó gọi là pháo đài Định Hải (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn hóa Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, quyển 5, Sài Gòn, 1962, phần Hán-Nôm, mục Xuyên Sơn, trang 17). 

Vị trí pháo đài Định Hải dưới tên gọi pháo đài Núm vú (Fort du Mamelon) trên bản đồ chiến sự Pháp ngày 18-11-1859. (Nguồn: Colonel Henri de Ponchalon, sách đã dẫn, trang 217) 


Trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Đà Nẵng (1858-1860), do bế tắc trước sức chống trả kiên cường của quân và dân Việt Nam quanh khu vực hạ lưu sông Hàn, ngày 18-11-1859, liên quân Pháp-Tây Ban Nha quyết định mở cuộc tấn công pháo đài Định Hải (nằm trên Hòn Hành) và đồn Chơn Sảng nằm bên bờ vịnh Nam Chơn (gần pháo đài Định Hải) hòng làm chủ con đường đèo Hải Vân và đánh chiếm Hải Vân quan để chặn đường liên lạc giữa Đà Nẵng với Kinh đô Huế. 

Từ 6 giờ sáng, hạm đội 8 chiếc gồm hai pháo hạm Avalanche và Alarme, soái hạm Némésis, tàu Tây Ban Nha Jorgo-Juan, chiến hạm hơi nước Phlégéton, hai tàu lai dắt Prégent và Norzagarai, tàu vận tải Marne rời vụng tàu dưới chân bán đảo Sơn Trà tiến về phía tây-bắc vịnh Đà Nẵng. Cuộc hành quân bị chậm lại bởi cột buồm chính của tàu Prégent gặp sự cố gãy vỡ. 

Liên quân Pháp-Tây Ban Nha chia làm ba cánh: cánh của Thiếu tá Pallières gồm 1 phân đội công binh, 1 đại đội pháo binh và 6 đại đội thủy quân lục chiến Pháp có nhiệm vụ chiếm đồn Chơn Sảng nằm trên đường ngựa trạm; cánh lính Tây Ban Nha có nhiệm vụ bắn sập pháo đài Định Hải xây bằng đá nằm trên Hòn Hành và khống chế vịnh Nam Chơn cùng con đường ngựa trạm; cánh dự bị của Trung tá Reybaud gồm 5 đại đội thủy quân lục chiến Pháp và 2 đại đội lính Tây Ban Nha dàn quân trên vịnh cho đến khi kết thúc cuộc tấn công, với mục tiêu là chiếm khu dịch trạm Nam Chơn nằm bên bờ biển phía trước đồn chính Chơn Sảng. 

Vị trí pháo đài Định Hải dưới tên gọi Fort Isabelle II trên bản đồ chiến sự Pháp năm 1860 (Thiết lập tiếng Pháp từ bản đồ vịnh Đà Nẵng trên báo “Le Monde Illustré” ra ngày 12-5-1860 tại Paris, Pháp, trang 312-313). 


Trước giờ nổ súng, lính tấn công của Pháp-Tây Ban Nha chuyển xuống những chiếc sà lúp chuẩn bị để sẵn sàng đổ bộ, còn lực lượng dự bị ở lại trên tàu vận tải Marne. Lúc này quân Pháp gọi pháo đài Định Hải bằng thuật ngữ pháo đài Núm vú: Fort du Mamelon (Theo Colonel Henri de Ponchalon, Indo-Chine, souvenirs de voyage et de campagne, 1858-1860, Maison A. Mame et Fils à Tours, Paris, 1896, trang 215). 

Vào khoảng 9 giờ, tàu Pháp và Tây Ban Nha bắt đầu khai hỏa cấp tập. Quân nhà Nguyễn trên pháo đài Định Hải nổ súng phản pháo quyết liệt, nhiều quả đại bác bay sượt qua đầu các tàu chiến giặc. Đồn chính Chơn Sảng cũng nổ súng chống trả, nhưng mới bắn được 4 phát đại bác thì bị trúng đạn trái phá từ tàu Tây Ban Nha Jorgo-Juan khiến tiếng đại bác ở đây giảm dần rồi im bặt. 

Song, quả đại bác thứ ba từ đồn chính Chơn Sảng “đã cắt đứt đôi thân mình Thiếu tá công binh Déroulède đang đứng cạnh Chuẩn Đô đốc Page trên khoang thượng phía đuôi soái hạm Némésis, làm Page bị lấm máu khắp người; quả đạn đó còn bay tiếp giết chết thêm một hạ sĩ thủy thủ đài chỉ huy, cắt đứt dây néo cột buồm lái và làm bị thương hai chuẩn úy hải quân cùng một số thuỷ thủ khác” (Theo Colonel Henri de Ponchalon, sách đã dẫn, trang 216). 

Vị trí pháo đài Định Hải trên bản đồ của quân Nguyễn năm 1859 (Thiết lập thêm tiếng Việt từ bản đồ chiến sự Đà Nẵng theo nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/(1858-1859)/media/File:Carte_de_Tourane_1859.jpg) 


Ụ súng bắn đá của đồn Chơn Sảng cũng tham gia chiến đấu, nhưng bắn trả không nhiều bởi những quả đạn trái phá từ các tàu giặc làm cháy bùng đồn Chơn Sảng và tan nát pháo đài Định Hải; những kho thuốc súng nổ tung lên, khiến quân nhà Nguyễn do Phó vệ úy Lê Hòa, Thành thủ úy Tôn Thất Mưu chỉ huy phải bỏ đồn và pháo đài rút quân để bảo toàn lực lượng. 

Quân Pháp-Tây Ban Nha dùng sà lúp đổ bộ vào bờ, nhưng không bắt gặp ai tại đồn chính và ụ súng bắn đá của đồn Chơn Sảng, thu được 3 đại bác dùng cho thủy quân cỡ nòng 12cm và vài súng bắn đá. Còn tại pháo đài Định Hải, quân Tây Ban Nha bắt sống 3 lính nhà Nguyễn, chiếm được 5 khẩu đại bác cỡ nòng 24cm bằng sắt đã hơi hoen rỉ. Khu làng Chơn Sảng còn nguyên vẹn nhưng liền bị liên quân đốt rụi. 

Vào giữa trưa, những toán lính Pháp khác tiến sang chiếm đóng dịch trạm Nam Chơn, lính Tây Ban Nha giữ pháo đài Định Hải, còn cánh quân dự bị quay lại Đà Nẵng. 

Trong thời gian chiếm đóng pháo đài Định Hải, lính Tây Ban Nha không dùng tên pháo đài Núm vú do người Pháp gọi trước đó, mà lấy tên nữ hoàng đương triều của mình là Isabelle Đệ nhị, tức Isabelle II nếu viết theo tiếng Pháp, còn tiếng Tây Ban Nha là Isabel II (1830-1904, tên đầy đủ: María Isabel Luisa de Borbón y Borbón-Dos Sicilias) để đặt tên nơi đây thành pháo đài Isabelle II (Theo Colonel Henri de Ponchalon, sách đã dẫn, trang 231). Tên pháo đài Isabelle II còn được đưa lên bản đồ quân sự từ thời điểm này. 

Tranh pháo đài Định Hải bị liên quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công ngày 18-11-1859. (Nguồn: Báo “L’Illustration, Journal Universel” ra ngày 21-1-1860 tại Paris, Pháp, trang 41) 


Sau hơn ba tháng kể từ ngày chiếm đóng nhưng vẫn bế tắc vì luôn thất bại trong nỗ lực đánh chiếm đường đèo Hải Vân, vào 7 giờ sáng 29-2-1860, liên quân Pháp-Tây Ban Nha đánh mìn giật sập pháo đài Định Hải, đồn Chơn Sảng và dịch trạm Nam Chơn rồi rút về những tiền đồn ở chân núi Sơn Trà, trước khi di tản toàn bộ khỏi Đà Nẵng vào 23-3-1860. 

Như vậy, tại Hòn Hành, từ tên pháo đài Định Hải, trước khi chiếm đóng quân Pháp gọi là pháo đài Núm vú, song quân Tây Ban Nha đổi tên lại là pháo đài Isabelle II sau khi chiếm giữ. 

Trải qua thời gian dài, người Việt đã lược giản tên Nữ hoàng Isabelle II thành Isabelle theo quy luật giản âm của ngôn ngữ, tạo thành thói quen cho đến ngày nay, để cùng với nghĩa địa Y Pha Nho là hai địa danh để lại dấu tích ngôn ngữ Tây Ban Nha trong cuộc chiến mà họ liên quân với Pháp xâm lược Đà Nẵng 160 năm trước. 

Tên mũi Isabelle hiện nay không còn thể hiện nội hàm nguyên nghĩa, nhưng tri thức về nguồn gốc tên gọi Isabelle vẫn rất cần thiết được phổ biến trên báo chí, sách vở và trong đời sống xã hội; bởi nếu không nắm rõ những giá trị lịch sử và văn hóa kèm theo, địa danh chỉ còn là sự trống rỗng, vô hồn và xa lạ với xã hội hiện đại. 

NGUYỄN QUANG TRUNG TIẾN

Tên ai được đặt thành tên đường nhiều nhất TPHCM?

đăng 22:29, 18 thg 3, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:36, 5 thg 6, 2018 ]

Sài Gòn có một số con đường trùng tên nhau. Theo thống kê, có tới hơn 300 con đường trùng tên. Thí dụ như có ông Nguyễn Đình Chiểu ở quận 3 và có ông Nguyễn Đình Chiểu khác ở quận Phú Nhuận, có ông Lý Thường Kiệt ở quận 10 và ông Lý Thường Kiệt khác ở Gò Vấp,... Đó là chưa kể trường hợp không trùng tên nhưng... trùng người. Thí dụ như đường Quang Trung (Gò Vấp) với đường Nguyễn Huệ (quận 1), đường Đinh Tiên Hoàng (quận 1, Bình Thạnh) với đường Đinh Bộ Lĩnh (Bình Thạnh)...


Ngoài đường Nguyễn Huệ nổi tiếng ở quận 1, ta còn có các con đường... Quang Trung ở Gò Vấp. Hóc Môn và quận 9!


Hai (hoặc 3) con đường trùng tên với nhau ở TPHCM là khá phổ biến, thế nhưng có một trường hợp đặc biệt: tên một vị danh nhân được dùng đặt cho 5 con đường khác nhau ở TPHCM! Vị danh nhân đó là ai vậy?


Điều bất ngờ là mặc dù cũng là nhân vật đáng kính phục, nhưng công trạng của vị danh nhân này không hề nổi trội so với các vị danh nhân được đặt tên khác. Ông là Nguyễn Trường Tộ.


Thống kê các con đường mang tên Nguyễn Trường Tộ ở TPHCM như sau:


Đường Nguyễn Trường Tộ quận Phú Nhuận



Đường Nguyễn Trường Tộ quận 4



Đường Nguyễn Trường Tộ quận 9


Ở khu vực này ta thấy không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn hàng loạt đường trùng tên khác, nhu Quang Trung, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo...


Đường Nguyễn Trường Tộ quận Tân Phú



Đường Nguyễn Trường Tộ quận Thủ Đức



Thống kê thì tui thấy như vậy, các bạn có tìm thấy gì hay hơn thì xin kể cho nghe với nha!


Phạm Hoài Nhân

1-10 of 19