Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Đề xuất điều chỉnh 38 tên đường không chính xác ở TP.HCM Sở Văn hóa - thể thao TP.HCM vừa có văn bản đề xuất UBND TP xem xét điều chỉnh 38 tên đường đặt không chính xác trên địa bàn. Đường ...
    Được đăng 05:50, 25 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sông Ba và những cái tên Những câu, từ trong bài hát Ca ngợi anh hùng Núp của nhạc sĩ Trần Quý: “Đây bất khuất Tây Nguyên cao cao/Núi mây điệp trùng gió ào ào ...
    Được đăng 06:17, 25 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tìm hiểu địa danh Lệ Chí, Lệ Cần Lệ Chí, Lệ Cần là những địa danh được người dân Pleiku biết đến nhiều, gắn với một đặc sản mang tên khoai lang Lệ Cần. Đây là những địa ...
    Được đăng 05:46, 25 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Địa danh chùa Luông Bassăc Chùa Luông Bassăc (còn gọi là chùa Bãi Xàu) tọa lạc tại ấp Chợ Cũ, thị trấn Mỹ Xuyên (huyện Mỹ Xuyên). Chùa xây trong một khuôn viên rộng rãi ...
    Được đăng 04:51, 16 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • “Ôi Lôi” - một địa danh làm "đau đầu" bao thế hệ Cũng như nhiều địa phương khác của tỉnh Sóc Trăng, vùng đất Giang Cơ - Trường Khánh vốn la ...
    Được đăng 04:44, 16 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 23. Xem nội dung khác »


Đề xuất điều chỉnh 38 tên đường không chính xác ở TP.HCM

đăng 06:06, 24 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 05:50, 25 thg 9, 2020 ]

Sở Văn hóa - thể thao TP.HCM vừa có văn bản đề xuất UBND TP xem xét điều chỉnh 38 tên đường đặt không chính xác trên địa bàn. 

Đường Kha Vạn Cân ở Q.Thủ Đức được đề xuất đổi thành Kha Vạng Cân. 
Ảnh: Nguyên Vũ. Báo Thanh niên

Sở Văn hóa - thể thao TP cho biết đề xuất này dựa trên kết quả nghiên cứu của Đề án công tác đặt, đổi tên đường, công trình công cộng tại TP.HCM - Khảo sát thực trạng và giải pháp đến năm 2020 vừa được báo cáo UBND TP.

Cụ thể, 38 tên đường không chính xác được chia làm 3 nhóm: 

Nhóm thứ nhất (gồm 5 đường) là nhân vật trên bảng tên đường bị sai so với quyết định của UBND TP.HCM, như đường Bùi Hữu Diên (tên trong quyết định) - Bùi Hữu Diện (tên ghi trên bảng tên đường); đường Đỗ Cơ Quang - Đỗ Quang Cơ; đường Nguyện Trọng Trì - Nguyễn Trọng Trí; đường Đoàn Triết Minh - Đoàn Minh Triết...

Đường Trương Quốc Dung (Q.Phú Nhuận) được đề xuất đổi tên thành đường Trương Quốc Dụng 
Ảnh: Nguyên Vũ. Báo Thanh niên 

Với nhóm này, Sở Văn hóa - thể thao đề xuất Sở Giao thông vận tải điều chỉnh lại bảng tên đường cho đúng.

Nhóm hai (gồm 8 đường) là do quyết định của UBND TP sai họ tên nhân vật lịch sử, chẳng hạn trong quyết định ghi là đường Dương Tự Quán nhưng tên đúng của nhân vật là Dương Tụ Quán; trong quyết định là Hoàng Xuân Hoành nhưng tên đúng là Hoàng Xuân Hành...

Sở Văn hóa - thể thao kiến nghị UBND TP có quyết định điều chỉnh lại cho chính xác theo tên nhân vật.

Nhóm thứ ba là các nhân vật lịch sử được đặt tên không chính xác cần điều chỉnh cho đúng, gồm 8 đường, như đường Kha Vạn Cân điều chỉnh cho đúng là Kha Vạng Cân; đường Lương Nhữ Học thành Lương Như Hộc; đường Trương Quốc Dung thành Trương Quốc Dụng; đường Nguyễn Duy Dương thành đường Võ Duy Dương...

Nhóm này được đề xuất trình HĐND TP đổi tên đường cho chính xác theo các tên nhân vật lịch sử.

Ngoài ra, còn nhóm các nhân vật lịch sử được gọi theo phương ngữ và lệ kỵ húy, chẳng hạn tên trên bảng tên đường là Đoàn Như Hài nhưng nhân vật còn có tên khác là Đoàn Nhữ Hài; trên bảng là Hà Tôn Quyền, tên khác của nhân vật là Hà Tông Quyền.

Còn có các đường mang tên một nhân vật nhưng có nhiều tên gọi, cách gọi như Ký Hòa - Chí Hòa; Lê Thánh Tôn - Lê Thánh Tông; Nơ Trang Long - N’Trang Lơng; Trần Khắc Chân - Trần Khát Chân; Tôn Đản - Tông Đản... 

Với nhóm này, Sở Văn hóa - thể thao đề xuất giữ nguyên các tên đường đang hiện hữu để tránh xáo trộn, gây ảnh hưởng đến người dân. Riêng đường Trương Đình Hợi được đề nghị thay thế bằng tên khác vì trong lịch sử không có nhân vật lịch sử mang tên này và ở quận 8 đã có đường Trương Đình Hội.

Mai Hương

Sông Ba và những cái tên

đăng 06:16, 25 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:17, 25 thg 8, 2020 ]

Những câu, từ trong bài hát Ca ngợi anh hùng Núp của nhạc sĩ Trần Quý: “Đây bất khuất Tây Nguyên cao cao/Núi mây điệp trùng gió ào ào/Đây sóng nước sông Ba dâng trào/Người Bahnar như đàn chim chơ rao” đã làm cho nhiều người biết đến sông Ba, yêu mến con sông huyền thoại này, dù họ chưa một lần đặt chân đến sườn Đông Trường Sơn-quê hương Anh hùng Núp, nơi có dòng sông Ba miệt mài chảy qua, đưa nước xuống vùng duyên hải Phú Yên. Tuy nhiên, khi chảy qua mỗi vùng miền, đi qua mỗi tộc người, sông Ba lại được gọi bằng những cái tên khác nhau hẳn là điều vẫn chưa nhiều người biết.

Bắt nguồn từ núi Ngok Rô ở độ cao 1.549 m, trên dãy Ngok Linh (thuộc tỉnh Kon Tum), sông Ba chảy theo sườn phía Đông của dãy Trường Sơn, qua các tỉnh Gia Lai, Phú Yên để đổ về Biển Đông.

Một góc sông Ba. Ảnh: internet


Sông có lưu vực rộng hơn 13.900 km2 và là lưu vực sông rộng lớn nhất Tây Nguyên. Các nhánh chính của sông Ba là: Ayun, Ia Krông, Krông Năng và sông Hinh đều nằm ở phía hữu ngạn. Từ nguồn về xuôi, sông chảy theo hướng Bắc-Nam, chuyển dần theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Ở phần thượng lưu của sông Ba, núi vây sát các thung lũng, chỗ rộng, chỗ hẹp. Xuống đến Nam huyện Kbang, núi đồi lùi xa về 2 bên nhường chỗ cho những đồng bằng khá rộng kéo dài dọc sông.

Trước khi bị chặn dòng, đổ một phần nước về sông Kôn (khi xây dựng Thủy điện An Khê-Ka Nak), do nằm ở vùng trung gian, chịu ảnh hưởng của cả 2 khối không khí Đông và Tây Trường Sơn nên phân bố dòng chảy trong năm của con sông này khá điều hòa. Tuy nhiên, lưu lượng nước giữa mùa mưa và mùa khô trên sông vẫn có sự khác biệt. Mùa mưa, nước sông Ba dâng cao, lưu lượng rất mạnh, còn về mùa khô lòng sông ở nhiều nơi bị cạn. Phù sa của dòng sông này đã tạo nên một vùng trũng Ayun Pa màu mỡ và nhiều cánh đồng nhỏ dọc theo sông ở các huyện An Khê, Ia Pa, Krông Pa.

Với chiều dài hơn 300 km, sông Ba là con sông dài nhất chảy trên sườn Đông Trường Sơn của Tây Nguyên. Khi len lỏi qua các vùng đất có các tộc người khác nhau sinh sống, dòng sông được cư dân địa phương gọi bằng những cái tên khác nhau như: người Bahnar gọi nó là Đak Krong (sông Lớn) hay Krong Bar; người Jrai gọi là Krông Pa (sông Lớn) hoặc Ia Pa (sông Pa); người Việt (Kinh) ở tỉnh Gia Lai gọi nó là sông Ba (có lẽ là do viết hóa danh từ Pa của các tộc người trong vùng); còn Đà Rằng là cái tên mà người Việt ở Phú Yên dành gọi dòng sông này.

Về nghĩa của địa danh theo cách gọi của cư dân tại chỗ nơi đây, dù đã đi khắp vùng người Bahnar và người Jrai, nhưng hầu như chúng tôi không tìm được lời giải thích thỏa đáng. Đến tận đầu nguồn sông ở xã Krong (huyện Kbang), chúng tôi gặp bok Đinh Byưh và có được lời giải thích duy nhất: Sông này người Bahnar ở đây gọi là Krong Bar/Phar. Bar trong tiếng Bahnar có nghĩa là số 2 (số đếm), vì trước đây, mùa mưa về thường có 1-2 người bị chết đuối trên sông. Dân làng nói đó là những người bị thần nước lấy.

Chúng tôi cho rằng cách giải thích trên chưa thật sự thuyết phục. Nhưng với cách lý giải nào thì cư dân các dân tộc tỉnh Gia Lai, nơi có sông Ba chảy qua, vẫn có cách hiểu chung tên gọi của sông Ba là dòng sông lớn.

Kim Vân

Tìm hiểu địa danh Lệ Chí, Lệ Cần

đăng 05:46, 25 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Lệ Chí, Lệ Cần là những địa danh được người dân Pleiku biết đến nhiều, gắn với một đặc sản mang tên khoai lang Lệ Cần. Đây là những địa danh được hình thành khá sớm ở Gia Lai.

Từ năm 1957 đến năm 1962, thực hiện chính sách dinh điền, chính quyền Ngô Đình Diệm (Việt Nam Cộng hòa) đã di dân từ đồng bằng ven biển miền Trung lên lập nhiều dinh điền ở các tỉnh Tây Nguyên. Trên địa bàn nay thuộc huyện Đak Đoa, có 2 địa điểm dinh điền được hình thành trong giai đoạn này, đó là dinh điền Lệ Chí và dinh điền Lệ Cần.

Xã Nam Yang, huyện Đak Đoa (xã Lệ Chí cũ). Ảnh: K.N.B


Lệ Cần ban đầu là tên của một dinh điền được thành lập ngày 1-7-1957, với tên gọi địa điểm dinh điền Plei Piơm 1. Những cư dân đầu tiên của dinh điền này là 2.175 người, do chính quyền Sài Gòn đưa từ Quảng Nam lên, định cư tại vị trí phía Nam quốc lộ 19, trong khoảng từ km 149 đến km 150 hiện nay.

Lệ Chí cũng là một địa điểm dinh điền được thành lập ngày 3-11-1957 với tên gọi địa điểm dinh điền Plei Piơm 2. Dân số ở thời điểm đó là 2.602 người, do chính quyền Sài Gòn đưa từ Quảng Nam lên.

Ngày 20-2-1959, theo Sắc lệnh số 36a-TTP của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, các địa điểm dinh điền lập năm 1957 được chuyển thành xã. Lệ Chí từ đây là một xã thuộc quận Lệ Trung, tỉnh Pleiku. Đến năm 1964, xã Lệ Chí có 2.539 nhân khẩu, thuộc quận Lệ Trung, tỉnh Pleiku. Ngày nay, bộ phận dân cư này thuộc xã Nam Yang.

Theo Sắc lệnh số 36a-TTP, ngày 20-2-1959, của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, các địa điểm dinh điền lập năm 1957 được chuyển thành xã. Từ đây, Lệ Cần và Lệ Chí trở thành các xã, thuộc quận Lệ Trung, tỉnh Pleiku.

Sau năm 1975, từ khu vực Lệ Cần, một số hộ đã tiến vào vùng đất thuộc ấp Kồ (khu dồn dân lớn ở quận Lệ Trung trước giải phóng), cách thị trấn Đak Đoa 12 km về phía Nam để lập nghiệp và hình thành thôn Tân Lập ở khu vực trung tâm của xã Trang. Còn vùng đất Lệ Cần trước kia, sau giải phóng thuộc xã Tân Bình và lần lượt là đơn vị hành chính thuộc thị xã Pleiku, sau đó chuyển giao cho huyện Mang Yang và từ khi huyện Đak Đoa hình thành, xã này thuộc huyện Đak Đoa theo các văn bản chia tách, chuyển đổi, sáp nhập địa giới hành chính liên quan.

Bộ phận dân cư gốc từ dinh điền Lệ Cần trước kia nay sinh sống tập trung tại thôn 1, thôn 2 xã Tân Bình. Tuy nhiên, địa danh Lệ Cần vẫn được nhân dân trong vùng và phụ cận sử dụng.

Còn đối với vùng đất Lệ Chí, sau năm 1975, trên cơ sở xã Lệ Chí cũ, xã Nam Yang được thành lập thuộc huyện Mang Yang và nay là một xã của huyện Đak Đoa. Theo giải thích của những người dân địa phương, tên của xã được đặt là Nam Yang vì phần đông dân số ban đầu của xã là những người Kinh, từ Quảng Nam lên sinh sống ở huyện Mang Yang.

Hình thành từ năm 1957, trải qua 60 năm hình thành và phát triển, đến nay, Lệ Chí và Lệ Cần vẫn là những vùng đất mang nét văn hóa đặc trưng của người Quảng Nam trên quê hương mới.

TS. Nguyễn Thị Kim Vân

Địa danh chùa Luông Bassăc

đăng 04:51, 16 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Luông Bassăc (còn gọi là chùa Bãi Xàu) tọa lạc tại ấp Chợ Cũ, thị trấn Mỹ Xuyên (huyện Mỹ Xuyên). Chùa xây trong một khuôn viên rộng rãi và rợp bóng mát cây cổ thụ. Ban đầu chùa có tên là “Wat Luông Bassac” (Bassac là tên gọi vùng Hậu Giang; còn “Wat Luông Bassac” là chùa Vua Bassac).

Chùa Luông Bassăc


Ngoài ra, theo lời kể của Lục cả thì nguồn gốc của chùa còn có liên quan đến truyền thuyết mà người dân quanh vùng vẫn còn lưu truyền: rằng xưa kia có ông Vua Bassac cùng vợ là công chúa nước Lào, do phạm tội nên cùng đoàn tùy tùng chạy trốn về vùng sông Hậu. Nhưng đến cửa Vàm Tấn (Đại Ngãi ngày nay) bị bão lớn nên vợ chồng ông vua và đoàn tùy tùng lạc nhau. Riêng vợ chồng ông vua lạc vào vùng đất Bãi Xàu, lúc đó có tên là Srock Bai-Xau, một nơi vẫn còn là khu rừng rậm, hoang vu, rất ít người cư trú. Vợ chồng ông vua định cư tại đây và ra sức đốn cây, vỡ đất biến nơi đây thành vùng đất trù phú cho đến hôm nay. 

Với đức độ và tài năng của mình, vua đã thu phục được nhân tâm mọi người trong vùng. Khi ông mất, hài cốt ông được dân hỏa táng theo lễ nghi và xây tháp tại chùa Bassac. Nhưng sau đó không lâu chùa Luông Bassac được gọi là chùa Bãi Xàu (gọi theo địa danh Srock Bai-Xau) tức là gọi theo tên vùng đất trước kia (tiếng Khmer có nghĩa là “Sóc Cơm Sống”); người Việt đọc trại thành “Bãi Xàu”. Tên gọi này có liên hệ tới một truyền thuyết về Nàng Chanh mà các nhà sư và người dân trong vùng vẫn truyền tụng đến ngày nay. Ngoài ra, người dân nơi đây còn gọi chùa là “chùa Bốn Mặt” vì ở đây có ngọn tháp tạc tượng thần MahaBrum (Brahma). 

Cũng như các ngôi chùa khác trong tỉnh Sóc Trăng, chùa Luông Bassăc (chùa Bãi Xàu) được xem là trung tâm sinh hoạt văn hóa và tôn giáo của cư dân Khmer trong vùng. Hàng năm đến ngày lễ cúng ông bà Sene Đôn Ta; ngày lễ nhập hạ CholVossa; lễ mãn hạ chinh Vossa; lễ ăn cốm dẹp Oóc Om Bóc; lễ dâng bông Katha; lễ đặt cơm vắt/pzoc chum bân; lễ Phật Đản; lễ cầu an cho Sóc/BunKomSan hay ngày tết cổ truyền vào năm mới Chôl Chnăm Thmây… mọi người tụ họp đến chùa để cùng nhau dự lễ, vui tết sau những ngày làm việc, lao động vất vả. 

LÊ TRÚC VINH

“Ôi Lôi” - một địa danh làm "đau đầu" bao thế hệ

đăng 04:44, 16 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cũng như nhiều địa phương khác của tỉnh Sóc Trăng, vùng đất Giang Cơ - Trường Khánh vốn là nơi sinh sống cộng cư lâu đời của 3 dân tộc anh em: Kinh - Khmer - Hoa. Trong tiến trình lịch sử phát triển, sự giao thoa văn hóa của 3 dân tộc anh em thể hiện rõ nét trên cả phương diện vật chất lẫn tinh thần. Điều đó được thể hiện qua các sinh hoạt thường ngày: trong tết cổ truyền, trong các lễ hội, trong lao động sản xuất, trong ẩm thực, trong phương ngữ... trong đó, địa danh thể hiện sự giao thoa khá rõ nét.

Xã Trường Khánh ngày nay. Ảnh: mapio.net


Trước kia, địa danh “Sầng Ke” là tên gọi đầu tiên của vùng đất Giang Cơ - Trường Khánh. “Sầng Ke” - theo cách gọi của bà con Khmer để chỉ cây trâm bầu, một loại cây thân gỗ cả vùng Sóc Trăng nơi nào cũng có. Từ “Sầng Ke” được người dân bản địa phát âm dần dần thành Giang Cơ (hay Giăng Cơ). Mãi đến đầu thế kỷ XX, tên Trường Khánh mới được đưa vào văn bản hành chánh: làng Trường Khánh thuộc tổng Nhiêu Khánh. Vùng đất Giang Cơ - Trường Khánh chỉ có 2 làng: làng Trường Kế và làng Ôi Lôi. Trên con rạch Giang Cơ một bên bờ Nam thuộc làng Ôi Lôi, còn bên kia thuộc về Trường Kế. Theo các cụ cao niên kể lại, người dân ở làng Trường Kế có cuộc sống sung túc vì “thừa hưởng” được chợ Giang Cơ - một trong những khu thương mại ngang tầm với Bố Thảo, Phú Lộc, Vũng Thơm... Còn người dân làng Ôi Lôi đa số là tá điền, người lao động tự do làm thuê nên cuộc sống người dân phần lớn cơ cực. 

Nói đến địa danh Giang Cơ – Trường Khánh là phải nhắc đến địa danh Ôi Lôi - một trong những địa danh của tỉnh Sóc Trăng đã làm “đau đầu” bao thế hệ ra công tìm hiểu. Về mặt phương ngữ, người ta băn khoăn: Ôi Lôi hay Oi Loi? Nhất là tên gọi Ôi Lôi (Oi Loi) có ý nghĩa gì? Nếu “Sầng Ke” là cây trâm bầu, “lum pu” là cây bần, Khdon (bâng Khdon: bưng con Ốc)... thì Ôi Lôi có ý nghĩa là gì? Ngay từ thuở sinh thời, cố học giả Vương Hồng Sển đã bỏ không ít công sức sưu tra hàng trăm trang sách Pháp văn, đã từng gặp gỡ và trao đổi các cụ cao niên đương thời nhưng nguồn gốc ý nghĩa địa danh Ôi Lôi vẫn “bặt vô âm tính”. 

Nhắc đến Ôi Lôi – Trường Kế (nay là Trường Khánh) là nhắc đến một đặc sản nức tiếng một thời của bà con Khmer nơi đây: món “thèo lèo cứt chuột”. Nghe các cụ cao niên ngày trước kể lại: vùng đất Trường Khánh là nơi phát tích món ngon “thèo lèo” nức tiếng khắp miền Nam lúc bấy giờ. Các loại bánh của bà con người Hoa như bánh pía, bánh in, mè láo… làm theo “mùa nào, thức đó”, nhưng riêng “thèo lèo” thì được sản xuất quanh năm. Các đám tiệc “quan - hôn - tang - tế”, thèo lèo đều được dâng cúng trang trọng trên bàn thờ gia tiên. Rồi uống trà quạu nhâm nhi với thèo lèo là một trong những thú vui của người xưa. Nhưng vì sao bà con xưa kia lại gọi “thèo lèo cứt chuột”, một tên gọi ghê ghê của một món ăn rất ngon này? Khi đặt “vấn đề” này với các cụ cao niên nơi đây đều nhận cái lắc đầu: bó tay! 

Trải qua bao thăng trầm biến đổi, tên gọi Ôi Lôi chân chất ngày nào đã dần dần biến mất theo xu hướng phát triển của nhân loại. Những ngôi nhà “cột tre, vách lá” lụp xụp, con lộ nhỏ lầy lội ngày nào cũng đã dần biến mất trong tiến trình thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới đang được toàn Đảng, toàn dân ra sức thực hiện. 

THIÊN LÝ

Đôi điều về địa danh Khánh Hưng

đăng 04:36, 16 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trong kho tàng địa danh của tỉnh Sóc Trăng, tên gọi Khánh Hưng tuy chính quyền sở tại xưa kia ít sử dụng trong các văn bản hành chính nhưng nó đã sớm quen thuộc và gần gũi với người dân địa phương.

Lật lại từng trang sử trên vùng đất này cho thấy, khi mà toàn bộ “lãnh thổ” Sóc Trăng còn chìm dưới mặt thủy triều, có chăng là những giồng cát lẻ loi nhấp nhô trên mặt nước - Đó là giồng Srock Khleang (trung tâm tỉnh lỵ) cùng với các giồng cát bao bọc xung quanh: giồng M’hatup (Mã Tộc – Bãi Xàu), giồng T’roi tum (Trà Tim), giồng Kompong Trop (Bưng Tróp – Chông Nô), giồng Sầng ke (Trường Khánh), giồng Phnoroka – Khsăk (Vũng Thơm – Kế Sách)… Vô hình trung thiên nhiên ban tặng cho giồng Srock Khleang thành trung tâm cư trú của những dòng người từ phương xa đến khai cơ lập nghiệp. 

Khánh Hưng (Sóc Trăng) năm 1961. Ảnh: Howard Sochurek. Sưu tập của Mạnh Hải trên Flickr

Từ vùng đất không có dấu chân người, ở nơi giồng cát trung tâm ngày nào dần dần trở thành nơi quy tụ của những người dân tứ xứ tìm phương sinh sống. Mực thủy triều rút đến đâu, họ phát quang đến đó, diện tích đất giồng ngày càng được mở rộng. Ở những nơi giồng đất cao thì trồng rẫy, cấy lúa, nơi đất thấp thì lên liếp làm vườn trồng cây ăn trái. Do địa thế “sông sâu, nước chảy” nên phù sa hàng năm bồi đắp trong điều kiện đất đai đã được phát quang càng làm cho vùng đất mới trở nên màu mỡ hơn. Cây trái tươi tốt, ruộng lúa phì nhiêu, sản vật (đặc sản) của địa phương được khai thác là tiền đề hội tụ dân cư tứ xứ tìm tới cho công cuộc mưu sinh. Người đến trước, người theo sau theo ý thức “tầm phương sinh kế”, dần dần vùng đất giồng trung tâm Srock Khleang trở nên đông đúc, làng mạc, xóm ấp dần dần hình thành. Là vùng đất cộng cư của 3 dân tộc anh em nên cách gọi về vùng đất mới cũng có cách “phát âm” khác nhau. Những tên gọi Ba Thắc, Srock Khleang, Sóc Trăng, Nguyệt Giang, Khánh Hưng… dần xuất hiện trong quá trình phát triển của vùng đất mới. 

Theo sử liệu, chợ Sóc Trăng hình thành vào khoảng cuối thế kỷ XVIII khi thương cảng Ba Thắc - Bãi Xàu bắt đầu suy vong. Các nhà buôn ở thương cảng Bãi Xàu chuyển dần về trung tâm Sóc Trăng để hình thành trung tâm thương mại bề thế sau này. Trong quyển “Hậu Giang – Ba Thắc”, học giả Vương Hồng Sển ghi lại: “Nguyên chợ Sóc Trăng được xây dựng trên một giồng cát bao la đứng giữa nhiều giồng cát khác bủa vây 8 hướng không khác chưn cẳng một con nhện khổng lồ và mỗi đầu giồng nhỏ ấy là một chợ búa đặc sắc có mỗi món ăn hấp dẫn…”. Đó là chợ Trường Kế, chợ Bố Thảo, chợ Vũng Thơm – Phú Nổ, chợ Bang Long – Giếng nước, chợ Bãi Xàu, chợ Chroi tum (Trà Tim)… Chợ trung tâm Sóc Trăng xưa kia vẫn là dãy nhà dài, mái thấp nhưng trong nhà lồng chợ thì rộng rãi. Rải rác chung quanh nhà lồng là những căn tiệm tạp hóa, sạp khô, gạo… Con rạch nhỏ (sau này gọi là kinh Cô Bắc) là nơi lên xuống hàng hóa. Từ một khu chợ với diện tích vài trăm mét vuông dần dần được mở rộng ra theo nhu cầu buôn bán của thị trường. Đến những năm giữa thế kỷ XIX, khi chính quyền thực dân cho đào kênh Maspéro nối liền tuyến đường thủy Sóc Trăng – Ngã Bảy, đào kênh Cầu Bon tạo thế lưu thông đường thủy nội thành thì trung tâm thương mại Sóc Trăng càng được mở rộng. Dãy nhà vựa trên kênh Cầu Bon, các dãy nhà phố 10 căn vội vã hình thành phục vụ nhu cầu buôn bán của các thương nhân. 

Hiện nay nhiều công trình ở Sóc Trăng mang tên Khánh Hưng. Ảnh: hotel84.com


Ngày 22-10-1956, chính quyền Ngô Đình Diệm ra Sắc lệnh số 143-NV để “thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam”. Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Lúc này, tên Sóc Trăng được thay bằng tên cũ Ba Xuyên, tỉnh lỵ đặt tại Sóc Trăng nhưng lúc này lại đổi tên là Khánh Hưng. Tỉnh lỵ Khánh Hưng lấy theo tên xã Khánh Hưng thuộc quận Châu Thành (sau năm 1958 là quận Mỹ Xuyên) vốn là nơi đặt tỉnh lỵ tỉnh Ba Xuyên. Lúc này địa bàn tỉnh lỵ Khánh Hưng bao gồm 18 ấp trực thuộc: Khánh Bình, Khánh Thành, Khánh Bạch, Khánh Vĩnh, Khánh Diệu, Khánh Tâm, Khánh Hùng, Khánh Hòa, Khánh Quang, Khánh Sơn, Nhà Việc, Giồng, Chông Chát, Kho Dầu, Sung Đinh 1, Sung Đinh 2, Kênh Sáng, Tự Do. 

Trải qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, những tên gọi - địa danh xưa dần dần thay đổi hoặc mất đi. Những tên gọi: Đình làng Khánh Hưng, Nhà việc Khánh Hưng, chợ Khánh Hưng… giờ ít còn được nhắc tới. Có chăng là những nhà hàng, khách sạn, công ty kinh doanh cũng còn ít nhiều hoài cổ khi đặt lại tên xưa: Khánh Hưng! 

Thiên Lý

Lưu tên lại với đời

đăng 04:12, 27 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Có rất nhiều địa danh, công trình ở nông thôn Quảng Ngãi xưa được đặt tên theo người có công lao, nghĩa hiệp với làng. Cách đặt tên đó xuất phát từ việc người xưa muốn con cháu mai sau ghi nhớ công ơn của bậc tiền nhân.

Trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết vào thời điểm những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có đoạn: “Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại/ Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương/ Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm/ Người học trò nghèo giúp Đất nước mình núi Bút, non Nghiên/ Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh/ Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”. 

Chiếc cầu ván mà ông Nguyễn Thời khởi xướng xây dựng, giờ đã được thay thế bằng một cây cầu bê tông vững chãi, song người dân ở tổ dân phố 6, phường Quảng Phú gọi tên cầu là cầu ông Thời. 


Đoạn thơ trên đã khái quát một cách sinh động về “cách đặt tên cho địa danh của xứ sở” - nét đặc trưng trong văn hóa Việt tồn tại hàng nghìn năm nay. Khi viết “Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắc đến xu hướng lấy tên người có công lao để định danh của người xưa. Và tại Quảng Ngãi, có rất nhiều địa danh, công trình được người Quảng xưa đặt tên theo cách này. Đằng sau mỗi cái tên là câu chuyện về một con người với những nghĩa cử cao đẹp, luôn đặt lợi ích của tập thể, của làng lên trên.

Trăm năm cầu Ông Thời

Người dân ở tổ dân phố 6, phường Quảng Phú (TP.Quảng Ngãi) kể rằng, tổ dân phố này từng có tên gọi khác là xóm Cù Lao. Xóm Cù Lao có tuyến kênh Tư Nghĩa chảy vòng qua xóm, nên người dân ở Cù Lao ngày ấy mỗi lần muốn vào trung tâm thành phố đều phải vượt qua chiếc cầu khỉ tròng trành, hoặc phải dùng bè chuối, đu dây vượt lòng kênh rộng hơn chục mét.

Cám cảnh lưu thông vất vả, gia đình ông Nguyễn Thời - một gia đình thuộc dạng khá giả ở xóm Cù Lao ngày ấy đã tự bỏ tiền mua tre, rồi vận động cả làng cùng hợp sức làm cầu. Nhờ sự nhiệt tâm của ông, chỉ trong một thời gian ngắn, người làng Cù Lao ngày ấy đã có cây cầu tre để đi, thay thế cho cây cầu khỉ hoặc bè chuối như trước. Rồi sau này, khi ông Thời tiếp tục nâng cấp cây cầu tre thành cây cầu ván, thì việc đi lại của người làng thuận lợi hơn rất nhiều.

“Lúc tôi sinh ra đã có cầu Ông Thời. Theo lời cha tôi kể lại, cầu ông Thời được làm nên từ thời kháng chiến chống Pháp, lúc kênh Tư Nghĩa vừa được đào đắp ngang qua làng. Ngày ấy, để ghi nhớ công sức, tấm lòng của người khởi xướng nên chuyện làm cầu, làng tôi đã lấy tên ông Thời để đặt tên cho cầu. Cái tên “cầu ông Thời” cứ thế tồn tại mãi cho đến ngày nay”, ông Bùi Phụ Vân (68 tuổi) trầm ngâm nhớ lại.

Trải qua bao thăng trầm của thời gian, chiếc cầu ván mà ông Nguyễn Thời khởi xướng xây dựng năm nào giờ đã được thay thế bằng một cây cầu bê tông vững chãi từ mười mấy năm nay. Ông Nguyễn Thời cũng đã trở về với đất Mẹ, nhưng cái tên “cầu Ông Thời” hiện vẫn được mọi người gìn giữ và trở thành một địa danh đặc trưng của tổ dân phố 6 bây giờ.

Vẹn tình kênh Ông Cát

Người làng Ngân Giang, xã Tịnh Hà (Sơn Tịnh) vẫn thường tự hào kể về tuyến kênh ông Cát- tuyến kênh khởi nguồn từ Ngân Giang rồi từ đấy tỏa đi khắp các xã khu đông của huyện Sơn Tịnh và từng là hệ thống thủy lợi chủ lực, đảm đương nhiệm vụ tưới mát cho hơn 1.500ha ruộng đồng.

Lý giải về cái tên kênh Ông Cát, Bí thư Đảng ủy xã Tịnh Hà Lê Hoàng Thu kể rằng: “Theo thế hệ đi trước kể lại, thấy nông dân khu đông Sơn Tịnh không có nước tưới lúa, trong khi con sông Trà thì mênh mông nước chảy qua địa bàn xã Tịnh Hà, ông Nguyễn Cát khi ấy đã lặn lội nghiên cứu thủy thế rồi sau đó chọn một lạch nước sông Trà chảy qua thôn Ngân Giang làm khởi nguồn cho tuyến kênh.

Điều đáng ngưỡng mộ nhất ở cụ Nguyễn Cát ngày ấy là dù không có máy móc đo đạc như bây giờ, nhưng ông đã tính toán được thủy thế, giúp kênh mương không bị lũ lụt phá vỡ. Trong hai năm 1948 - 1949, dưới sự chỉ huy của ông, nhân dân đã góp hàng nghìn ngày công, đào nên tuyến kênh dài 16km. Ghi nhớ công ơn của ông, người dân mới đặt tên cho tuyến kênh này là kênh Ông Cát”.

Men theo kênh Ông Cát, tôi càng khâm phục tài nghiên cứu “thủy thế” của ông Nguyễn Cát năm xưa. Giữa một vùng đồng bằng phẳng lỳ qua các thôn Ngân Giang, Thọ Lộc (Tịnh Hà) và các xã Tịnh Phong (Sơn Tịnh), Tịnh Thiện, Tịnh Hòa (TP.Quảng Ngãi), dòng kênh vẫn cứ uốn quanh co để làm chậm dòng chảy vào mùa lũ và tăng diện tích ruộng đồng được tưới mát vào mùa cạn. Khi chảy về đến khu vực cầu Kênh, thì chia đôi nhánh, một nhánh chảy về Tịnh Phong còn nhánh kia xuôi về Tịnh Thiện, Tịnh Hòa...

Theo thời gian, thủy lợi Thạch Nham hiện đã thay tuyến kênh Ông Cát đảm đương nhiệm vụ dẫn nước về các xứ đồng các xã phía đông huyện Sơn Tịnh (nay thuộc TP.Quảng Ngãi), nhưng người dân quanh vùng đều lưu truyền câu chuyện về kênh Ông Cát. Bởi với họ, đó là con kênh đã đi cùng họ suốt dặm dài lịch sử, chứng kiến bao thăng trầm, đổi thay bao thế hệ gắn bó với nghề nông ở mảnh đất này.

Từ câu chuyện về cầu Ông Thời, kênh Ông Cát và nhiều cái tên khác nữa như chợ ông Bố (đặt tên theo người lập chợ), đập ông Nghè (đặt tên theo tên ông Nghè Kim - người khởi xướng, kêu gọi và cùng nhân dân sửa đập) mới thấy rằng, người xưa luôn đề cao đạo lý “uống nước nhớ nguồn” bằng cách lấy tên người đặt tên cho địa danh, công trình. Những tên người có nghĩa cử cao đẹp, công lao với làng nhờ đó mà trường tồn với thời gian.

Bài, ảnh: ĐÔNG YÊN

Núi Thiên Mã và dòng sông Kinh

đăng 21:15, 21 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trong những cảnh vật kỳ thú ở bờ tả sông Trà Khúc, cửa Cổ Lũy, không thể không kể đến núi Thiên Mã và dòng sông Kinh (TP.Quảng Ngãi). Núi Thiên Mã nay đang xây dựng khu văn hóa Phật giáo, đứng bên bờ cây cầu đang xây dựng sát bên cửa biển, còn dòng sông Kinh lại gắn với nhiều cảnh quan mà khách đến Khu du lịch Mỹ Khê không thể bỏ qua.

Thiên Mã có nghĩa là ngựa trời. Lệ thường khi có ngọn núi thiêng liêng thì người ta có gắn với chữ Thiên, có nghĩa là trời, như Thiên Ấn, Thiên Bút. Dân gian thường gọi núi này là núi Ngựa. Ca dao xưa có câu: "Bao giờ Thiên Mã sang sông/ Thì làng Mỹ Lại mới không công hầu". 

Buổi sáng trên sông Kinh (TP.Quảng Ngãi). Ảnh: Tấn Cư 


Hai chữ Thiên Mã cũng có khi đọc là “núi Ngựa” là vì vậy. Nhưng ít người biết, xưa núi này còn có tên là Gióng. Ngư dân đánh bắt ngoài biển nhìn vào đất liền, thấy núi rõ mồn một, cận kề là núi Đầu Voi hay núi Tranh (vì có nhiều cỏ tranh), lại có câu ca: "Ngó vô Tranh, Gióng giao kề/ Tiếng oan anh chịu, em về tay ai". Em về tay ai mà tiếng oan anh chịu, thì có liên quan gì với hai ngọn núi Tranh, Gióng giao kề? Nó tựa một truyền ngôn bí ẩn.

Không biết xem thế địa cuộc sao đó, từ xưa núi Thiên Mã không hề có chùa như nhiều núi khác tương tự, như núi Thiên Ấn, núi Thình Thình. Tôi lạc lối đến phía chân núi gần cửa Cổ Lũy hàng chục năm trước đây, chỉ thấy có một ngôi miếu nho nhỏ dưới chân núi (nay còn ở vệ đường trải nhựa). Hồi này, tôi đến các căn nhà gần cửa sông, trong tre pheo và cây cối rợp bóng, lá cây rụng đầy khắp mọi nơi, người vắng, không khí tĩnh lặng buồn hiu. Dông núi Thiên Mã đầy sỏi, người địa phương trồng các loài cây lớn, như bạch đàn, phi lao.

Còn ở triền núi thì trồng rau đậu để làm kế sinh sống. Phía tây núi là xã Tịnh Long, phía đông núi là thôn Trường Định, xã Tịnh Khê (đều thuộc TP.Quảng Ngãi). Thời chiến tranh, quân Mỹ và quân đội Sài Gòn đóng đồn trên núi. Tôi lại đi dọc thôn Cổ Lũy, bờ đông sông Kinh nhìn về phía tây là Thiên Mã, còn ghi lại được những chi tiết hoang sơ của núi. Nét hoang sơ này giờ không thể còn, khi núi được đào đắp cật lực bởi các dự án. 

Núi Thiên Mã. 


Nói đến vùng này lại không thể quên sông Kinh. Sông Trà Khúc đổ nước ra đến gần bên biển, không hiểu thế nào, lại mở một đường nước khác, phía đông chân Thiên Mã, chảy dọc ra hướng bắc, quanh co khuất khúc xẻ dọc rẻo phía đông xã Tịnh Khê là thôn Cổ Lũy, đổ nước ra đầm thuộc xã Tịnh Kỳ, dài ngót nghét 6, 7 cây số.

Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Trần Cao Minh, quê nhà ở vùng bờ tây sông Kinh, có lần kể với tôi rằng dòng sông Kinh xưa rất đẹp, nước sông trong xanh, có rừng dừa nước, đôi bờ là rừng bần, rừng đước, đến mùa hoa nở ngát hương, trắng xóa suốt dọc sông. Từ sông Kinh, người bên bờ nam cửa Cổ Lũy vượt cửa sông, chèo thuyền theo sông Kinh ra hướng Sa Kỳ để buôn bán. Ghe thuyền đi lại trên sông tấp nập.

Trên sông Kinh còn có rất nhiều rớ bè của người dân đánh cá. Người ta ăn, ngủ, sinh hoạt trên bè. Từ ấy mà các câu ca, điệu hát trên sông Kinh mới hình thành và lưu truyền. Cô nàng đi buôn chèo ghe dọc sông thấy anh chàng dân vãi chài ngâm mình dưới dòng nước, mới mở giọng hát trêu ghẹo: "Mồ cha tám kiếp cái lão chài/ Cha ông gì bắt mà nằm dài dưới sông". “Lão chài” bèn hát đáp lại: "Em ơi chớ có thày lay/ Anh vung một cái bằng ngàn ngày em đi buôn!".

Người ta còn sáng tác nhiều câu ca khác để chòng ghẹo dân sống bè rớ: "Con ơi hãy lấy trai cày/ Đừng lấy chồng bè rớ có ngày chết trôi!"...

Người bè rớ phản bác lại bằng cách tự ca ngợi mình bằng nhiều câu ca, như: "Em về bè rớ thì mê/ Gạo chợ đem về, cá mắm khỏi mua".

Về sau này, do xã hội chuyển đổi, người ta không còn làm bè rớ và cũng không sống dưới bè rớ nữa.

Trên dòng sông Kinh nước triều lên xuống cũng tạo nên những cảnh ngoạn mục. Khi nước triều rút, hàng trăm người dân không ai bảo ai liền hình thành một đoàn dàn hàng ngang cầm nơm ra sông úp cá. Câu thơ của ông Võ Nhự, người xã Tịnh Khê “Đoàn người Đồng Nón đi nơm ban chiều” phản ánh thực tế này. Đồng Nón là tên dân gian của xóm Khê Bình, thôn Trường Định, xã Tịnh Khê.

Lòng sông Kinh có rất nhiều loài thủy sản đặc trưng, đặc biệt là sò huyết, chằm chặp, lịch... mà nhiều thứ trong số đó khách du lịch Mỹ Khê vẫn còn được thưởng thức. Tiếc rằng cho đến nay chưa có dự án nào phục hồi hệ sinh thái sông Kinh, trong bối cảnh mà chung quanh nó rất nhiều thứ đang được xây dựng, với rất nhiều tiền của.

Bài, ảnh: CAO CHƯ

Quận có tên đường hai vị hoàng tử

đăng 04:08, 19 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:17, 20 thg 5, 2020 ]

Quận 8 của Sài Gòn có hình thế khá đặc biệt, nằm giữa xung quanh kênh rạch. Những câu chuyện về một vùng đất xưa kia “trên bến dưới thuyền” tạo nên nét riêng biệt, vốn được mệnh danh là miền đất 5 cù lao.

Kênh Tàu Hủ nhìn từ phía đại lộ Võ Văn Kiệt 


Sự trùng hợp thú vị 

Từ những năm cuối của thập niên 1990, tôi có quen biết với vài người làm công tác văn hóa thuộc Trung tâm văn hóa quận 8. Thỉnh thoảng lại đưa những bản tin ngắn về hoạt động văn hóa của miệt đất này, nên thường chú ý đến đặc điểm lịch sử những con đường, có nơi mang tên rất dân dã, lại có nơi mang tên hoàng tộc. Đặc biệt là sự hiện diện của hai vị hoàng tử triều Nguyễn, là Tùng Thiện vương và Tuy Lý vương, được đặt tên cho hai con đường nằm gần một nơi khá tấp nập, là chợ Xóm Củi, ngôi chợ truyền thống nổi tiếng. Sự ngẫu nhiên về cuộc đời của hai vị ấy khiến tôi cố công tìm hiểu.

Cả hai hoàng tử đều là con của vua Minh Mạng, nhưng khác mẹ. Một người là Nguyễn Phúc Miên Thẩm (tước Tùng Thiện vương) và một người là Nguyễn Phúc Miên Trinh (tước Tuy Lý vương). Theo nhiều nguồn sử liệu, đặc biệt là hai học giả Trần Trọng Kim và Vương Hồng Sển thì thái tử Đảm (sau này là Đức Thánh Tổ Minh Mạng) được sinh hạ năm 1791 ở hậu liêu của ngôi chùa Khải Tường ở làng Tân Lộc (vị trí nay thuộc khu vực đầu đường Võ Văn Tần, Q.3, TP.HCM), giữa lúc còn chiến tranh ly loạn giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn. Ngôi chùa ấy, sau đó trong các cuộc chiến kháng Pháp của quân dân Nam bộ, đã bị phá hủy. 

Năm trước khi vua Minh Mạng lên ngôi (1819), vị hoàng tử thứ 10 là Miên Thẩm được hạ sinh. Năm kế tiếp, đúng vào lúc nhà vua bước lên ngai vàng (1820), hoàng tử thứ 11 là Miên Trinh chào đời. 

Có những sự trùng hợp giữa hai nhân vật này khá thú vị. Thứ nhất, họ đều là những nhà thơ trụ cột của Mạc Vân thi xã đầu thế kỷ 19 tại Huế. Thứ hai, họ đều được bổ nhiệm chức Tôn Nhân Phủ của triều Nguyễn trong cùng một năm, nhưng một người là tả Tôn Nhân Phủ và một người là hữu Tôn Nhân Phủ. Và thứ ba, cả hai vị đều được đặt tên đường cạnh nhau ở Q.8 cho đến bây giờ! 

Kênh Tàu Hủ ở Q.8 nhìn từ cầu Chà Và - ẢNH: TRẦN THANH BÌNH 


Những câu chuyện ấy trở lại khi một ngày tôi đi theo đường Nguyễn Biểu (Q.5) để băng lên cầu Chữ Y về hướng Q.8, để về đường Hưng Phú nhộn nhịp. Những quanh co kênh rạch khiến tôi lan man nhớ đến một nhân vật đáng kính. Gần 200 năm trước, quan đại thần Trương Đăng Quế (thầy học của vua Thiệu Trị, và là nhạc phụ của Tùng Thiện vương Miên Thẩm) vào kinh lý xứ Nam kỳ để thiết lập một hệ thống địa bạ cho toàn cõi. Để rồi sau này, khi cần đạc điền thống kê hoặc phân xử các tranh chấp, bộ sổ địa bạ ấy vẫn được lưu giữ sử dụng rất hiệu quả và chính xác, hơn cả trăm năm sau còn được đem ra tham khảo. Bây giờ tên vị quan đại thần này cũng được đặt tên cho một con đường ở Q.Gò Vấp. 

Cầu chà, chợ củi 

Sở dĩ Q.8 được xem là vùng đất những cù lao, vì hình dáng thon dài, nằm lọt thỏm giữa các sông và kênh rạch chằng chịt như sông Cần Giuộc, kênh Tàu Hủ, kênh Lò Gốm, kênh Ruột Ngựa, rạch Ụ Cây và rạch Ông Lớn nằm ở mé giáp Q.7... Bên trái quận có 5 dải đất nhỏ giống như các cù lao, còn bên phải là một doi đất to dần về phía đông, hiện là trung tâm hành chính của quận. Trên trục đường Dương Quang Đông, là nơi tập hợp trụ sở nhiều cơ quan, kéo dài về phía nam là H.Bình Chánh, cuối dải đất ấy là chợ đầu mối Bình Điền. 

Kênh Tàu Hủ ở Q.8 nhìn từ cầu Chà Và - ẢNH: TRẦN THANH BÌNH 


Dài dòng một chút về địa thế, để thấy sinh hoạt lâu đời của cư dân vùng này gắn liền với nhiều bến sông, cũng là điều dễ hiểu. Đó là bến Than, bến Củi, bến Mễ Cốc và có địa danh các xóm liên quan đến từng loại hàng mà họ mua bán. 

Q.8 ngày nay (vào trước năm 1975 bao gồm diện tích 2 quận 7 và 8 với 11 phường đều có tên chữ như Rạch Ông, Xóm Củi, Bến Đá…), từ năm 1987 đến nay giữ ổn định 16 phường là đơn vị hành chính trực thuộc, được đánh số từ 1 đến 16. Địa hình và địa mạo Q.8 được hình thành bởi sự chia cắt của hơn 20 sông, kênh và rạch. Quận có diện tích tự nhiên 19,18 km2 (tương đương với Q. Gò Vấp là 19,74 km2), dân số 424.000 người với mật độ 22.200 người/km2

Như xóm Củi chuyên nghề bán củi, xóm Than chuyên nghề bán than, nay đều đã trở thành phường phố. Ở đoạn nối thông từ đường Hải Thượng Lãn Ông của Q.5 sang phía chợ Xóm Củi của Q.8 là chiếc cầu có tên Chà Và bắc qua kênh Tàu Hủ. Tìm hiểu mới biết, vào giữa thế kỷ 19 dưới triều Nguyễn có nhiều thương nhân người Ấn Độ đến làm ăn tại Sài Gòn. Lúc ấy, người ta thường gọi người Ấn (hoặc một số chủng dân có sắc da ngăm đen như người Indonesia, người Mã Lai…) là người Chà Và. Nhưng nguồn gốc của Chà Và lại xuất phát từ tên đảo Java ở Indonesia, được đọc trại ra, rồi chỉ luôn những người ngoại quốc đến Việt Nam, có màu da ngăm đen như người Ấn. Những con phố của người Ấn quần cư ở Q.8 một thời thường mở các cửa tiệm vải vóc tơ lụa, là mặt hàng kinh doanh chủ yếu của họ. Theo thời gian, chiếc cầu được lấy luôn tên Chà Và, do người Ấn ban đầu đã đóng góp tiền xây dựng ra nó, nhằm để đi lại thông thương qua kênh rạch. 

Nhớ lại, cách đây 23 năm, tôi có dịp đi miền Tây để thực hiện phóng sự Hiểm họa ở vùng đất lở về xứ lụa Tân Châu (An Giang), phản ánh nỗi trăn trở lo lắng của người dân cho miền đất thơ mộng nằm ven thượng nguồn sông Tiền, trước nguy cơ bị “xóa sổ” do bị xói lở. Vùng này vốn nổi tiếng về nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa. Bài báo đăng trên Thanh Niên ngày 24.9.1997, đến nay vẫn còn lưu giữ như một kỷ niệm. Lúc ấy hỏi chuyện, nghe vài vị cao niên kể rằng nhiều người Ấn ở Q.8, Sài Gòn thời trước đã tìm về đây mua tơ lụa, đặc biệt là loại lãnh Mỹ A, một sản phẩm làng nghề độc đáo của miệt Tân Châu, mà họ rất chuộng. Sau năm 1945, nhiều thương nhân người Ấn đã trở về nước. Tính ra, những “giao dịch lụa là” ấy lùi về dĩ vãng cũng đã hơn 50 - 60 năm rồi! 

Cầu Chà Và Q.8 - ẢNH: TRẦN THANH BÌNH 


Kênh Tàu Hủ nhìn từ phía đại lộ Võ Văn Kiệt - ẢNH: TRẦN THANH BÌNH 


Cho đến nay, dù không còn mua bán ở các bến thuyền nhưng những địa danh gắn liền với đủ loại hàng hóa trao đổi xưa kia vẫn còn ở Q.8 như chợ Xóm Củi, đường Xóm Củi hoặc bến Mễ Cốc… Riêng ngôi chợ một thời nổi tiếng với sự tập trung sinh hoạt xa hoa ở các tầng lầu phía trên cách đây hơn 25 năm, vẫn tồn tại như một quá vãng. Bất giác, hình dung rằng một thời nơi đây, đã từng có hàng chục nhà máy xay lúa, ghe thương hồ rộn ràng từ miền Tây lên trao đổi lắm thứ, thường cập các bến ở Q.8 để giao thương. 

Một ngày đẹp trời, khi chụp vài tấm hình, tôi chợt thấy kênh Tàu Hủ có lẽ đã hẹp dòng hơn xưa, nhưng đại lộ Võ Văn Kiệt chạy dọc bên kênh vẫn ngược xuôi người xe, thênh thang trong nắng! 

Tôn Nhân Phủ 

Năm Minh Mạng thứ 17 (Bính Thân - 1836), vua đặt ra Tôn Nhân Phủ và đặt quan chức để coi mọi việc trong họ nhà vua. Nhà vua thờ tiên tổ có 7 miếu: những miếu phía tả gọi là chiêu, những miếu phía hữu gọi là mục. Con cháu các dòng chiêu hay mục đều phải phân biệt chi nào ra chi ấy. Đặt tôn nhân lệnh một người, tả hữu tôn chính hai người, tả hữu tôn nhân hai người, để coi việc hoàng tộc và việc phân biệt tự hàng chiêu hàng mục, ghi chép hàng lượt người thân người sơ, việc nuôi nấng và cấp tước lộc cho mọi người trong hoàng tộc. Lại đặt tả hữu tôn khanh hai người, tả hữu tá lý hai người, để coi thứ trật mọi người trong tôn thất và việc cấp dưỡng cho kẻ cô ấu, giúp đỡ những việc tang hôn… (theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, bản đặc biệt - NXB Kim Đồng, trang 433 - 434)

Trần Thanh Bình

Núi Dục Thúy, ngôi nhà bảo tàng thiên tạo lưu giữ văn thơ

đăng 22:56, 17 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

I. Dục Thúy – Núi Lịch sử.

Đến thành phố Ninh Bình, du khách sẽ ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kỳ thú của hòn núi đá nghênh bóng chênh vênh, lặng lẽ soi mình bên bờ giữa ngã ba sông Đáy - sông Vân. Đó là núi Dục Thuý (núi Non Nước), tạo nên vẻ huyền diệu, sơn thuỷ hữu tình của thành phố.

Núi có từ lâu lắm, bể dâu thay đổi, biển lùi xa và núi từ mặt đất trội lên, lặn ngụp thách thức với thời gian, như một nghệ sĩ tuyệt vời, thiên nhiên đã kiến tạo nên. Nói như Ngô Thì Sĩ, bốn chữ Hán lớn khắc ở vách núi “Vũ Trụ Dĩ Lai”, từ khi có vũ trụ, có trời đất là có núi này và bốn chữ Hán nữa cũng khắc ở vách núi, “Y Nhiên Thiên Cổ” (muôn đời vẫn thế) của Nguyễn Hữu Tường. 

Núi cao khoảng 25 mét, đỉnh tương đối bằng phẳng, phía trước nhô cao hơn phía sau. Phía bắc và phía đông chân núi, lưỡi sóng đã liếm mòn quanh, bào gọt, khoét sâu hõm vào, làm cho thế núi muốn nhô ra để soi trọn mình trên tấm gương sông Đáy, tạo thành một mái hiên hình vòm cuốn, đổ bóng, che rợp một khoảng sông có chiều dài 15 mét. Dưới bóng rợp ngàn đời đó, nước sông ngả màu xanh đen mỗi khi mặt trời xế bóng hay lung linh bảy sắc cầu vồng khi bình minh chiếu sáng, những chiếc tàu thuyền lớn nhỏ chở vật liệu xây dựng tấp nập nghỉ ngơi, yên tĩnh đến xao lòng.

Chính vì vậy, có một thời, không rõ ai “đã viết một chữ “Xảo” (khéo) thật lớn ở phía ngoài cửa động (động Tam Phủ), nét bút thực cứng cáp, không thấy đề năm tháng, họ tên”, “Núi Dục Thuý chỉ duy mình là “khéo” cho nên nó là của chung để mọi người trong thiên hạ thưởng ngoạn” (Vũ Phạm Khải), với hàm ý thiên nhiên tuyệt đẹp.

Phía Bắc núi, nước biển hàng triệu năm đẽo gọt làm cho vách đá nhẵn lì như mài và mòn lõm chạy sâu vào làm thành động, gọi là động Tam Phủ (Thiên Phủ, Địa Phủ, Thuỷ Phủ). Đó là những kỳ công tuyệt tác của tạo hoá mà con người không thể nào làm được.

Cũng ở sườn núi phía Bắc, tảng đá gần dòng nước, có khắc ba chữ Hán: Khán Giao Đình (Đình ngồi xem giao long) của vua Lê Hiển Tông (1740 – 1786) được chạm khắc vào năm 1782. Phía tây nam chân núi có đền thờ Sơn Tinh và Thuỷ Tinh. Hiện nay đền Trương Hán Siêu ở đó.

Trên các vách núi, nhũ đá rêu phong, những lùm cây mọc xanh biếc, có nhiều mỏm đá như hình muôn tượng hoá thành.

Muốn đến đỉnh núi Dục Thuý, du khách phải bước lên gần 100 bậc đá ở sườn núi phía nam, nhiều bậc đá mòn lõm, nhẵn lỳ vì đã có nhiều người lên núi. Lên đến đỉnh núi, du khách nhìn thấy cảnh sông nước bao la, mây trời tuyệt đẹp và cõi lòng lắng xuống để thả bay trong gió những lo toan trần tục của cuộc sống thường nhật.

Từ ngàn xưa, núi có tên là Non Nước. Đến thời Trần, ông Trương Hán Siêu đặt tên núi là Dục Thuý, có nghĩa là con chim trả tắm mình bên dòng sông nước bạc (Dục là tắm, Thuý là con chim trả) – tên gọi rất tượng hình, đầy màu sắc mộng mơ.

Núi còn có một số tên gọi khác nữa như: Băng Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thuỷ, Sơn Thuỷ, Hộ Thành Sơn, Thanh Hoa Ngoại Trấn Sơn, Trấn Hải Đài, Dục Thuý Sơn Hải Khẩu,... Tên gọi nào cũng đẹp, cũng thơ. Còn nhân dân thì gọi núi là Non Nước – cái tên nôm na, giản dị bằng những câu ca dao dân dã: “Ai về qua đất Ninh Bình/ Mà xem phong cảnh hữu tình nên thơ/ Nước non, non nước như mơ/ Càng nhìn Non Nước càng ngơ ngẩn tình.”

Từ thế kỷ thứ X, Đinh Bộ Lĩnh đã dựa vào thế núi, tấn công tiêu diệt một cánh quân mạnh nhất của một trong mười hai sứ quân thời ấy là sứ quân Phạm Phòng Át tức Bạch Hổ.

Khi lên ngôi vua (968 – 979) Đinh Tiên Hoàng đặt tên núi là Ngự Trấn Phòng Sơn và cho xây đồn luỹ trên núi, dùng núi như một tiền đồn kiểm soát con đường bộ từ Tam Điệp ra, con đường biển vòng qua cửa Đại Ác, sau đổi là Đại An (nay là ngã ba Độc Bộ, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Lê Đại Hành lên ngôi vua (980) cho quân lính thiện chiến ở núi canh gác, cũng coi núi như một tiền đồn để bảo vệ Kinh đô Hoa Lư.

Vào thời Lý, vua Lý Nhân Tông, niên hiệu Quảng Hựu thứ 7, Tân Mùi (1091), dựng ở trên núi một cái tháp cao (chưa rõ cao bao nhiêu tầng). Ngoài tháp Linh Tế, trên đỉnh núi còn được xây dựng thêm chùa Sơn Thuỷ (chùa Non Nước). Ngôi chùa này còn tồn tại đến đầu thời Nguyễn. Đời vua Gia Long (1802 – 1819), nhân dân địa phương đã chuyển dời đến núi Cánh Diều (núi Ngọc Mỹ Nhân) nằm ở giữa thành phố Ninh Bình.

Sang thời Trần, vua Trần Anh Tông (1293 – 1314) đã từng lên thăm núi vào năm Nhâm Tý (1312).

Thời kỳ này, núi đứng gần cửa biển, gọi là cảng Phúc Thành.

Một thời gian sau tháp trên đỉnh núi đã đổ vỡ. Đến năm Đinh Sửu, niên hiệu Khai Hựu thứ 9, đời vua Trần Hiến Tông, tức là năm 1337, tháp Linh Tế được khởi công xây dựng lại, kéo dài trong 6 năm, mãi đến năm 1342 mới hoàn thành, người đứng lên chủ trì việc xây dựng tháp là nhà sư Trí Nhu (người phủ Tràng An, châu Đại Hoàng), học trò Pháp Loa (đệ nhị tổ dòng phái Trúc Lâm). “Tháp xây 4 tầng, đêm toả hào quang, kẻ xa người gần đều trông thấy rõ”. Tháp Linh Tế được xây dựng do yêu cầu chôn cất xá lị (tro xác) của Pháp Loa (người Chí Linh, Hải Dương).

Niên hiệu Thiệu Phong thứ ba (1343), triều vua Trần Dụ Tông (1341 – 1369), do yêu cầu của nhà chùa và sư Trí Nhu, khi đang giữ chức Tả ty lang trung, Tả gián nghị đại phu, Trương Hán Siêu đã viết bài “Dục Thuý sơn Linh Tế tháp ký” (Bài ký tháp Linh Tế ở núi Dục Thuý). Trương Hán Siêu đã cho khắc bài ký đó bên sườn núi về phía bên tay phải lối đi lên núi. Trương Hán Siêu cũng cho khắc bài thơ chữ Hán “Dục Thuý Sơn” của mình (khắc theo lối chữ Lệ - lối viết như triện nhưng ít nét và hình vuông) trên vách núi Dục Thuý.

Thời Lê, vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), năm Quang Thuận thứ 8 (1467), khi ở Vĩnh Lăng (Thanh Hoá) trở ra đã dừng thuyền lên thăm núi Dục Thuý. Nhà vua đã viết bài thơ “Đề núi Dục Thuý” và cho khắc bài thơ đó trên vách núi Dục Thuý.

Vua Lê Thánh Tông còn cho dựng Hành cung ở núi, gọi là cung Sơn Thuỷ.

Vua Lê Hiến Tông (1498 – 1504) cũng lên thăm núi, có đề thơ khắc ở vách núi.

Thời Lê (1428 – 1527), tháp Linh Tế vẫn còn. Nguyễn Trãi nhiều lần đến thăm núi Dục Thuý đã viết bài thơ Dục Thuý sơn, có nói về tháp Linh Tế: “Bóng tháp hình trâm ngọc/ Gương sông ánh tóc huyền.”

Đến thời Hậu Lê (1533-1778) tháp Linh Tế bị đổ vỡ.

Niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786), vua Lê Hiển Tông cũng dựng Ly Cung ở núi để phòng khi vua chúa đi tuần hành lên núi. Ly Cung được xây dựng theo thế núi, quy cách rất lộng lẫy. Sau khi vạc đổi, Cung bỏ làm trường lương Tràng An, tháp (tháp Linh Tế) cũng đổ nát (Phạm Đình Hổ - Tang thương ngẫu lục).

Khi kéo quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh, Nguyễn Huệ đặt tổng hành dinh ở dưới chân núi Dục Thuý. Sau khi đánh tan quân Thanh, trên đường trở về Phú Xuân, Nguyễn Huệ còn dừng chân trên núi. Tương truyền, trên đỉnh núi, có tảng đá bằng phẳng như chiếc chiếu trông rõ 3 vết lõm. Đó là dấu hai bàn chân và mũi kiếm của vua Quang Trung khi Người chống kiếm đứng ngắm vùng non nước kỳ thú nơi đây. Tảng đá này không còn nữa vì giặc Pháp đã phá huỷ khi chúng xây lô cốt trên đó.

Sang nhà Nguyễn, năm 1821, vua Minh Mạng (1820-1840), năm thứ hai, tuần du ra Bắc Hà, lên thăm núi Dục Thuý, ban sắc cho dựng lầu ở trên núi. Đến năm Minh Mạng thứ 5, tức là năm 1824, cho xây tỉnh thành Ninh Bình bằng gạch kề ngay vào núi, lấy núi làm một phần góc thành về phía hai bờ sông Đáy và sông Vân. Vì vậy, năm 1842, vua Thiệu Trị (1841-1847) cũng tuần đu Bắc Hà, khi dừng chân nơi đây, gọi núi là Hộ Thành Sơn.

Núi Dục Thúy Ảnh: ĐÀO MINH TIẾN


Nhà vua cho dựng Hành Cung và xây Bi Đình (Đình Bia), gọi là Đình Bia Ngự Thi, cao ngất, đối diện với Hành Cung ở trên đỉnh núi để che mưa nắng, gió sương, bảo vệ các bài thơ khắc trên vách núi của các vua chúa và thi nhân thời trước.

Nhà vua còn cho “xây đắp nữ tường và dựng xưởng súng ở trên núi” (Đại Nam nhất thống chí).

Năm 1883, thực dân Pháp đánh chiếm Ninh Bình. Từ đó núi Dục Thuý đã mất đi dáng vẻ lộng lẫy của mình.

Năm 1929, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng quyết định tổ chức trọng thể kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga lần thứ 12 (1917-1929).

Để thực hiện nghị quyết đó, Ban lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã họp vào đầu tháng 10 năm 1929, quyết định tiến hành nhiều nội dung hành động, trong đó có nhiệm vụ treo cờ búa liềm trên đỉnh núi Dục Thuý. Đây là ngọn núi có vị trí chiến lược rất quan trọng, nằm sát đường xe lửa chạy Bắc Nam và đường liên tỉnh Ninh Bình - Nam Định, địch lại đang đóng trên đỉnh núi, canh phòng cẩn mật, gần đến ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, chúng càng ráo riết phòng bị suốt ngày đêm.

Anh Nguyễn Văn Hoan khi đó 23 tuổi và anh Lương Văn Tụy 15 tuổi là hai thanh niên cộng sản ở Ninh Bình đã được Ban lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Ninh Bình giao nhiệm vụ cắm cờ búa liềm trên đỉnh núi Dục Thuý. Tượng đài anh Lương Văn Tụy hiện nay đã dựng trên đỉnh núi.

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc, núi Dục Thuý đã từng ghi những chiến công oanh liệt của quân và dân Ninh Bình ở chiến dịch Quang Trung năm 1951.

Anh Giáp Văn Khương, anh Xạ và anh Lục lại tình nguyện ở trên đỉnh núi chiến đấu để cho đồng đội rút lui xuống núi. Kẻ địch rất đông, tràn lên đỉnh núi, bên ta chỉ có 3 người. Các anh phải dựa vào các lùm cây, hốc đá trên đỉnh núi đánh trả rất ác liệt. Sau khi đồng đội đã xuống núi hết, anh Giáp Văn Khương, anh Xạ và Lục mới rút lui. Dây buộc trên đỉnh núi thả xuống dòng sông Đáy đã đứt. Không còn con đường nào khác, các anh đã lao người từ một điểm trên núi Dục Thuý xuống dòng sông Đáy. Dòng sông Đáy khi đó dày đặc bèo tây. Các anh lặn một hơi sang phía bên kia sông, đội bèo về căn cứ. Đây quả là một cuộc chiến đấu dũng cảm và một cuộc rút quân độc đáo, oanh liệt.

Núi Dục Thuý chính là nhân chứng muôn đời của đất nước, chứng kiến biết bao chiến tích vẻ vang theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

Ngày nay lên thăm núi Dục Thúy, du khách thấy Nghênh Phong Các. Trước đây Nghênh Phong Các được Trương Hán Siêu xây dựng trên đỉnh núi nhưng đã bị đổ vỡ. Đến cuối thời Hậu Lê, nhân dân đã xây dựng lại Nghênh Phong Các, bên trong có treo bức hoành phi với 4 chữ Hán sơn son thếp vàng: Trương Công Như Tại (Cụ Trương vẫn còn đây). Sang thời Nguyễn, Nghênh Phong Các vẫn còn. Thực dân Pháp xâm chiếm Ninh Bình, xây lô cốt trên đỉnh núi, Nghênh Phong Các được chúng sử dụng như một trại lính. Rồi thiên nhiên khắc nghiệt góp phần làm cho Nghênh Phong Các không còn nữa.

Mãi đến năm 1961, Nhà nước ta tiến hành xây dựng lại Nghênh Phong Các.

Cùng với việc xây dựng Nghênh Phong Các, nhân dân Ninh Bình đã góp công sức vận chuyển theo gần 100 bậc đá, đưa lên đỉnh núi hàng ngàn khối đất, san lấp bằng phẳng đỉnh núi như một vườn nhà, rộng hơn 3 sào bắc bộ để trồng cây và trồng hoa.

II. Dục Thúy – Núi Thơ.

Trương Hán Siêu là người khai sinh ra truyền thống khắc thơ vào núi ở Ninh Bình, tạo nên một nét đẹp văn hóa đặc sắc của dân tộc.

Sau Trương Hán Siêu cho khắc bài thơ “Dục Thúy Sơn” (Hiện nay không còn), các nhà vua và các tao nhân mặc khách nổi tiếng cho khắc nhiều thơ ở núi gồm: Tiến sĩ Phạm Sư Mạnh, vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497), vua Lê Hiến Tông (1461 – 1504), vua Lê Tương Dực ( 1455 – 1516), Thám hoa Nguyễn Huy Oánh (1713 – 1789), Tiến sĩ Ngô Phúc Lâm (1722 – 1784), Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), Tuần phủ Ninh Bình Tôn Thất Tĩnh, Hoàng giáp Phạm Văn Nghị (1805 – 1881), Phó bảng Bùi Văn Dị (1833 – 1895), Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp (1834 – 1902) khắc 2 bài, Tiến sĩ Nguyễn Tái, Tuần phủ Ninh Bình Nguyễn Hữu Tường khắc 2 bài, Niết sứ Ninh Bình Nguyễn Đình Chuẩn khắc 2 bài, Tiến sĩ Từ Đạm (1862 – 1936) khắc 3 bài, nhà thơ Tản Đà (1888 – 1939), Phó bảng Từ Thiệp (1866 - ?), Tri phủ Nho Quan Trần Tâm, Nguyễn Đình Giác, Tri phủ Yên Mô Phạm Huy Toại, Tuần phủ Ninh Bình Phan Đình Hòe (1876 – 1954), Tuần phủ Ninh Bình Bùi Thiện Cơ khắc 2 bài, Tuần phủ Quảng Yên Nguyễn Văn Đào, đặc biệt có một người Trung Quốc sống ở đời vua Càn Long là Phạm Bá Đàn cũng có thơ khắc ở núi.

Như thế, hiện nay, trên núi Dục Thúy chỉ có 30 bài thơ (30 bút tích thơ) được chạm khắc của 24 tác giả, trong đó gồm 23 bài thơ chữ Hán, một bài thơ chữ Nôm duy nhất của Tri phủ Nho Quan Trần Tâm, 6 bài thơ chạm khắc chữ Quốc ngữ của 6 tác giả: Nguyễn Đình Chuẩn, Từ Đạm, Tản Đà, Từ Thiệp, Nguyễn Đình Giác, Phạm Huy Toại. (Một số sách và bài báo viết núi Dục Thúy, hiện nay còn 44 bia với 41 bài thơ là chưa chính xác).

Dĩ nhiên núi Dục Thúy còn có một số bài thơ chạm khắc nữa nhưng do thực dân Pháp phá núi xây dựng lô cốt trên núi, nên hiện nay không còn, chỉ còn 30 bài thơ mà thôi.

Theo một số sách chữ Hán xưa, còn ghi thì 9 tác giả có 10 bài thơ chữ Hán chạm khắc trên núi (hiện còn trên thác bản) là: Trương Hán Siêu, Nguyễn Hữu Nghi, Hoàng Quýnh Liệt, vua Thiệu Trị, Tiến sĩ Trương Quốc Dụng, Bùi Huy Tùng, Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản, Hoàng giáp Lê Hữu Thanh, Trần phủ Ninh Bình Trần Thiện Chính có 2 bài. Trên núi Dục Thúy không tìm thấy 10 bài thơ này.

Ngoài ra, núi Dục Thúy còn được khắc bài “Dục Thúy Sơn Linh Tế tháp ký” của Trương Hán Siêu viết vào năm 1343; Thánh chỉ của Thái Thượng Hoàng đế Trần Minh Tông khắc vào niên hiệu Thiệu Phong, năm Kỷ Sửu (1349) đời vua Trần Dụ Tông; các văn bản liên quan tới ruộng đất, địa giới, địa danh cổ; bia cúng tiến, ruộng đất của hai công chúa Huyền Tư và Huệ Thục; Bia “Nhất kí Thiên Long thường trụ tam bảo vật” (không còn trên núi, chỉ còn mảnh vỡ); Bia “Bắc trường thập sào…” (không còn trên núi, mảnh đá rơi xuống chân núi); Đặc biệt có tấm bia lớn ghi niên hiệu Thiệu Phong năm thứ 2 Nhâm Ngọ (1342) nói về việc xây dựng và mở hội chùa mùa xuân. Như thế các bia chạm khắc văn xuôi chỉ có khoảng 8 bài.

(Một số sách và báo viết núi Dục Thúy hiện nay còn chạm khắc 16 bài văn là chưa chính xác).

Ngoài nhiều bài thơ, bài văn khắc trên núi, còn có đến hàng trăm bài thơ kim cổ khác viết vịnh núi Dục Thúy của các ông vua và những thi nhân như: Trần Anh Tông, Thiệu Trị, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Ninh Tốn, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Xuân Ôn, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Quý Thứ, Trần Thiện Chính, Lê Hữu Thanh, Nguyễn Miên Thẩm, Vũ Duy Thanh, Vũ Phạm Khải, Đoàn Triển, Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Tư Giản, Trần Văn Cận, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Đăng Quế, Nguyễn Can Mộng, Trần Tử Mẫn, Nguyễn Thượng Hiền, Vũ Bang Hành, Hoàng Tạo, Phan Đình Hòe, Nguyễn Văn Thuật, Trần Thánh Tiến, Phạm Như Khuê, Vũ Tiến Cự, Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Tử Dự, Ngô Vi Lâm. Nguyễn Hữu Nghi, Hoàng Quýnh, Trương Quốc Dụng, Trần Tư Thành, Ngô Thế Vinh, Lê Danh Đề, Đặng Thạch Hà, Bùi Huy Tùng, Phạm Hy Lượng, Nguyễn Tái, Đặng Huy Xán, Lương Ngọc Dĩ, Lê Thị Tử, Ngô Thuần, Đạm Trai,… các tác giả khuyết danh.v..v.

Không một ngọn núi nào trên đất nước Việt Nam có nhiều thơ khắc như ở núi Dục Thúy. Núi được khắc 30 bài thơ hiện còn trong 07 thế kỷ qua, chính vì thế nó còn được gọi là Núi Thơ. Đó là những bức thông điệp văn học vô giá – trường tồn cho các thế hệ mai sau. Nó cũng thể hiện tài năng sáng tạo, kỹ thuật tinh xảo, điêu luyện của các nghệ nhân khắc chữ Hán trên đá thời xưa. Bất luận thời gian, trải qua bao độ phong sương, mưa nắng của đất trời, những bài thơ chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, nét chữ to, nét chữ nhỏ, được đặt trân trọng trong khung hay không, khắc trên các vách núi vẫn chưa mờ như những tác phẩm điêu khắc tạo hình hoàn chỉnh cho cái đẹp của núi, đã cuốn hút nhiều du khách đến ngoạn mục, lòng không muốn rời, chân không muốn xa, để chìm say trong cảnh núi sông tuyệt mỹ.

Mỗi bài thơ khắc ở núi đều có một nét riêng tỏa sáng như viên ngọc quý có nhiều màu làm cho núi càng tăng thêm kỳ ảo. “Con chim trả khổng lồ” ấy đã xăm đầy mình và đôi cánh những bài thơ kim cổ bất hủ. Thơ khắc kín tất cả các sườn non Dục Thúy, ở ngay cả những vách đá chênh vênh trên cao, dưới thấp. Những vách gấm này, đã vững chãi giữa trời mây, non nước bao la. Và vì vậy, con chim trả kiều diễm mang nặng thơ, vẫn đậu mãi cho đến bây giờ.

Không chỉ là nhà Bảo tàng thiên tạo lưu giữ thơ văn, núi Dục Thúy còn gắn liền với hai kiến trúc Văn hóa và Phật giáo.

Dưới chân núi ở phía Tây Nam có đền thờ Danh nhân Văn hóa Trương Hán Siêu.

Đền được khởi công xây dựng từ năm 1998, đến cuối năm 2000 hoàn thành.

Dưới chân núi phía Đông Bắc là chùa Non Nước có từ xưa, hiện nay xây dựng lại khang trang to đẹp hoàn thành năm 2019 thờ Phật.

Hai kiến trúc này cùng núi Thơ Dục Thúy là cụm Di tích lịch sử Văn hóa độc đáo, đặc biệt của thành phố Ninh Bình, lại có thêm dòng sông Vân huyền thoại chảy dọc giữa thành phố Ninh Bình, “Núi Thúy – Sông Vân” đã tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình thơ mộng.

Ngày nay, nói như tác giả Trần Thuyết Minh vào năm 1922: “Tôi muốn rằng, ta nên tìm chỗ thanh cao thoáng đãng, thu hấp lấp không khí thuần nhất tinh lương để nuôi cho linh hồn thân thể… à, mà phải đấy, ta lên non Dục Thúy”.

LÃ ĐĂNG BẬT

1-10 of 23