Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Con đường nay em đi, ngày xưa có tên gì? Dù chính quyền đã đặt tên đường chính thức, có cắm bảng đề tên chính chủ nhưng người Sài Gòn vẫn gọi theo thói quen của họ cho… dễ gọi ...
    Được đăng 06:28, 2 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Những con phố tên hoa ở Hà Nội Kim Liên, Hồng Mai, Bạch Mai là những con phố tên hoa ở Hà Nội, ngoài ra một số đường còn mang tên chữ Hoa.Không tính các con đường ...
    Được đăng 07:59, 1 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sông rạch xứ Cà Mau Theo tư liệu, địa danh Cà Mau, vùng đất cực Nam Tổ quốc, được hình thành do người Khmer gọi tên vùng đất này là "Tưk Kha-mau", có nghĩa ...
    Được đăng 01:05, 26 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Giai thoại địa danh rạch Bù Mắt Rạch Bù Mắt là tên của một con rạch ở xã Ðất Mới, huyện Năm Căn. Ðịa danh “Bù Mắt” được hình thành do cách gọi dân gian, đọc trại ...
    Được đăng 00:54, 26 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Giai thoại về địa danh Năm Căn Con sông Cửa Lớn chảy qua thị trấn Năm Căn, ở đoạn này cũng được gọi là sông Năm Căn. Theo hướng đi về mũi Ông Trang, phía bên hữu ...
    Được đăng 00:49, 26 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Con đường nay em đi, ngày xưa có tên gì?

đăng 06:28, 2 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Dù chính quyền đã đặt tên đường chính thức, có cắm bảng đề tên chính chủ nhưng người Sài Gòn vẫn gọi theo thói quen của họ cho… dễ gọi và dễ nhớ. 

Đường Duy Tân được đổi thành Phạm Ngọc Thạch, xưa có tên Tây đọc là Lan Si Bê (Blansubé) - Ảnh: T.T.D. 


Nhiều khu cư dân hình thành tự phát từ một nhóm cư dân rồi dần dần thành một khu phố nhỏ và nhiều khu phố nhỏ. Một khu đất trống nhờ xây dựng, có dân đến ở, chia thành những con đường chưa được đặt tên. 

Những cái tên “mắc cười muốn chết” 

Để giải quyết sự rắc rối nhầm lẫn về địa chỉ, người dân ở khu đất mới tự chọn tên đường cho khu mình ở dựa theo đặc điểm mà khu phố khác không có. 

Bởi vậy, ở thành phố hiện nay có những con đường mang những cái tên thoạt nghe mắc cười muốn chết. 

Nào là đường “Mẫu Giáo - Nghĩa Địa”. Có lẽ con đường này có trường mẫu giáo gần nghĩa địa (?). 

Rồi có tên con đường thoạt nghe thấy lạnh run: “Ướp Lạnh” (chắc ở con đường này có nhà máy nước đá hay đông lạnh thủy hải sản nào đó). 

Bà con ở đường “Cựu Chiến Binh Không Rác” chắc vô cùng tự hào vì con đường này vừa mang tính truyền thống vừa bảo vệ môi trường triệt để. 

Dân mê mạng chắc tập trung ở con đường “Facebook”. Ngọt nhất có lẽ là hai con đường “Đường Cát” và “Đường Phèn”... 

Hãy thử tưởng tượng cách bà con đặt tên đường. 

Thoạt đầu có thể như vầy: “Anh (chị) ơi, tôi muốn tìm nhà bà Hai ở xóm trên”/ “Bà Hai hả, anh đi hết con đường có cái trường mẫu giáo, rồi qua nghĩa địa sẽ thấy”/ “Qua mẫu giáo, rồi nghĩa địa”/“Ờ, mẫu giáo, rồi nghĩa địa”. 

Dần dần rồi thành con đường mang tên “Mẫu Giáo - Nghĩa Địa”, đường “Ướp Lạnh” hồi nào chẳng ai hay. Sau cùng khi đặt tên đường, cắm bảng địa phương sẽ dùng cái tên được định sẵn theo cách gọi của người dân địa phương. 

Gọi tên từ vựa cá, hàng cây... 

Nếu như đọc một bài viết của nhà văn Bình Nguyên Lộc - một người Đồng Nai nhưng sống và viết nhiều về Sài Gòn - ta sẽ khám phá cách gọi tên đường thật “bá đạo” ngày xưa. 

Trước hết, họ gọi tên đường theo đặc điểm nơi đây từng có một cơ sở sản xuất gì đó. 

Nếu đi ngang vùng “ngã tư quốc tế”, dân Sài Gòn nào chẳng biết đường Nguyễn Thái Học, trước kia có tên Tây là Kitchener nhưng bà con khoái gọi là đường Lò Heo vì đường này từng có một lò heo. Tương tự, đường Bùi Quang Chiêu (Đặng Thị Nhu) được gọi là đường Cá Hấp vì các vựa cá hấp đóng đô gần khu vực chợ Bến Thành. 

Thứ đến, đặt tên đường thật thơ mộng theo tên những hàng cây dài che bóng mát cho những cặp tình nhân như họ thường gọi hai con đường Hàng Bàng và Hàng Sao thế thân cho đường Chasseloup Laubat (Hồng Thập Tự - Nguyễn Thị Minh Khai), Massiges (đường Mạc Đĩnh Chi) vì hai bên vệ đường từng có hàng cây bàng và cây sao rợp bóng. 

Hoặc cư dân Sài Gòn với lòng tôn kính, biết ơn những người có công góp phần xây dựng thành phố bằng những công trình xây dựng để đời thường dùng ngay chính tên các nhân vật này để gọi, thay vì gọi tên đường do Nhà nước đặt. 

Trường hợp này có đường Frères Guillerault (Bùi Chu - Tôn Thất Tùng) được gọi là đường Huyện Sĩ vì có nhà thờ do ông tri huyện Lê Phát Đạt bỏ tiền túi xây dựng. Đường Alsace Lorraine (Phó Đức Chính) được gọi là đường Chú Hỏa vì tòa biệt thự của Hui BonHoa - sau này được dùng làm bối cảnh quay phim Con ma nhà họ Hứa. 

Tiếp thu “truyền thống” đặt tên đường theo đặc điểm địa phương, không quan tâm đến tên gọi có “hộ khẩu”, người dân gọi những con đường dành riêng cho quan chức, cán bộ là đường “Trần Dư” - nói lái là trừ dân. 

Biết đâu sau này ở tỉnh Yên Bái có con đường mang tên “Chổi Đót”, Đắk Lắk có con đường mang tên “Xe Ôm” hay đường “Chăn Lợn” để ghi nhớ những quan xây biệt phủ bằng con đường lao động đặc thù có một không hai của các quan khi khởi nghiệp làm... quan. 

Tên đường Việt hóa từ chữ Tây 

Trước năm 1954, các con đường thành phố đều đặt theo tên Tây, mỗi lần gọi muốn trẹo lưỡi nên bà con tự động Việt hóa mà không cần đến những nhà ngôn ngữ học. 

Đố ai thời này biết được con đường “Ai Vô Rờ Quẹt” chính là con đường Eyriaud des Verges (Trương Minh Giảng - Lê Văn Sỹ). “Nhăn Răng Rìa Ai Đi Đây?” là cách gọi con đường Legrand de la Liraye (Phan Thanh Giản - Điện Biên Phủ). 

Đường Đít Xơ Mít là cách phiên âm của Dixmude (Đề Thám). Đói bụng hãy nhớ đến đường “Lên Ăn Cơm” khi nói đến đường Léon Combes. 

Đường Duy Tân (Phạm Ngọc Thạch) trước kia có tên Tây là Blansubé thì được bà con gọi như tên một thiếu nữ: Lan Si Bê. 

Đường Monlaii (Huỳnh Thúc Kháng) là đường Mộng Lầu. Ngã sáu Phù Đổng trước kia được gọi là ngã sáu Quẹt Đoong (Verdon)... 

LÊ VĂN NGHĨA 

Những con phố tên hoa ở Hà Nội

đăng 07:59, 1 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Kim Liên, Hồng Mai, Bạch Mai là những con phố tên hoa ở Hà Nội, ngoài ra một số đường còn mang tên chữ Hoa.

Không tính các con đường mang tên hoa trong một số khu đô thị, Hà Nội cũng có nhiều đường phố mang tên hoa được đặt từ xưa.

Phố tên loài hoa

Cổ nhất, có thể kể đến khu phố Kim Liên (sen vàng), mang tên theo ngôi làng cổ tại quận Đống Đa. Lịch sử ghi rằng, từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long năm 1010, khu vực phía Nam kinh thành mới đã có một làng tên gọi Đồng Lầm.

Đến năm Kỷ Sửu (1619), đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Vĩnh Tộ, triều đình đổi tên làng Đồng Lầm thành Kim Hoa (Bông hoa vàng). Làng thuộc phường Kim Hoa và Đông Tác thuộc huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức. Năm Tân Sửu (1841), vua Thiệu Trị đổi tên làng thành làng Kim Liên (Bông sen vàng), vì kỵ húy tên mẹ Vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa. Tên Kim Liên được sử dụng cho đến bây giờ, và được đặt cho cả một phường, trong đó có khu tập thể Kim Liên.

Chùa Kim Liên nằm trên một doi đất bằng phẳng trong thôn Nghi Tàm, xã Quảng An. Ảnh: Hachi8.


Trước đây, tuy không chính thức, tên Kim Liên được dùng để gọi đoạn phố từ ngã tư Lê Duẩn – Giải Phóng – Đại Cồ Việt về hướng Phạm Ngọc Thạch. Từ khi thành phố xây dựng đường vành đai 1, nhiều người gọi đoạn từ ngã tư là đường Kim Liên mới. Đến năm 2008, đoạn phố này mới chính thức có tên là Xã Đàn.

Cũng mang tên hoa sen, Hà Nội còn có phố Liên Trì (ao sen) ở gần hồ Thiền Quang. Nguyên khu vực này là thôn Liên Thủy, sau đổi thành Liên Đường, ở đó có chùa Liên Trì, sau tên chùa được dùng để đặt cho tên phố. Còn trên phố Khâm Thiên, có con ngõ nhỏ tên là ngõ Liên Hoa (hoa sen). Ngõ này dẫn vào thôn Linh Quang, có chùa Liên Hoa ở trong thôn.

Còn ở quận Hà Đông, đối diện trường Đại học Kiến trúc, cũng có một hệ thống ngõ được đặt tên rất thuần Việt là ngõ Ao Sen.

Ở phía bắc Hồ Tây, giáp Công viên nước, trước khi được đặt tên là phố Trịnh Công Sơn, một con đường lãng mạn chạy ngang qua những đầm sen lớn thường được người dân gọi với cái tên thân mật là đường Sen Hồ Tây.

Phố Trịnh Công Sơn cách Hồ Tây khoảng 500m, gần khu đầm sen nổi tiếng bên hồ. Ảnh: Quý Đoàn. 


Trong khi đó, ở phía nam kinh thành Thăng Long cũ, nhưng chếch về phía đông, có một số làng cổ cũng được đặt tên theo những loài hoa rất đẹp: Bạch Mai (mai trắng) và Hoàng Mai (mai vàng). Theo các nhà nghiên cứu, thì phố Bạch Mai xưa có tên là Hồng Mai (mai hồng), nhưng cũng vì kỵ húy tên vua Tự Đức (Hồng Nhậm) mà đổi thành Bạch Mai.

Từ trước cách mạng tháng Tám, các tên làng này đã được dùng để gọi cho tên phố. Ngày nay, Hồng Mai và Bạch Mai là hai con phố vuông góc với nhau, còn đường Hoàng Mai thì lùi xuống dưới một chút, chạy từ phố Trương Định xuống đường Tam Trinh.

Một con phố nằm ở quận Hai Bà Trưng, mang tên cố đô nước Đại Cổ Việt là Hoa Lư, nhưng nguồn gốc tên địa danh này cũng nói về một loài hoa (hoa lau). Do đó, việc cái tên cố đô này được đặt cho con phố nối giữa phố Lê Đại Hành và đường Đại Cồ Việt là điều rất hợp lý.

Phố tên có chữ Hoa

Như trên đã nói, làng Kim Liên xưa có tên gọi là Kim Hoa, do đó cửa ô Đồng Lầm còn có tên gọi ô Kim Hoa. Vì vậy, ngày nay có một con phố nhỏ nằm song song với đường vành đai 1 Xã Đàn, đi từ cửa ô Kim Liên về phía sau lưng đình Kim Liên có tên gọi là phố Kim Hoa.

Trong những năm gần đây, thành phố Hà Nội đặt thêm tên mới cho một số con đường ven hồ Tây, trong đó có phố Yên Hoa (2012) và Từ Hoa (2013).

Những ngôi nhà xanh mướt trên phố Yên Hoa, Từ Hoa. Ảnh: Đoàn Mạnh. 


Phố Yên Hoa nối từ đường Thanh Niên, đoạn gần cổng chùa Trấn Quốc, chạy ngang qua làng Yên Phụ, tới cổng Khách sạn Thắng Lợi trên Nghi Tàm. Lưu ý tên phố Yên Hoa có thể nhầm với phố Yên Hòa, con phố nằm ở quận Cầu Giấy.

Còn con đường chạy quanh làng cổ Nghi Tàm mang tên bà chúa tằm: Công chúa Từ Hoa. Theo sử sách, Từ Hoa là công chúa con gái vua Lý Thần Tông, người đã lập phủ tại làng Nghi Tàm sinh sống. Bà có công dạy dân trồng dâu nuôi tằm tạo nên một vùng đất nổi tiếng của kinh thành Thăng Long.

Năm 2014, thành phố đặt thêm tên một loạt đường phố nữa, trong đó trên khu vực Hồ Tây, đoạn đường từ cổng chùa Phú Xá đến sau trường THCS Phú Thượng được đặt tên là phố Phúc Hoa.

Còn tại khu vực quận Cầu Giấy, tên phố Quan Hoa được đặt cho đoạn từ cầu T11 chạy ven sông Tô Lịch đến ngã tư giao cắt với đường Cầu Giấy (trụ sở UBND quận Cầu Giấy).

Lê Tiên Long

Sông rạch xứ Cà Mau

đăng 01:05, 26 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Theo tư liệu, địa danh Cà Mau, vùng đất cực Nam Tổ quốc, được hình thành do người Khmer gọi tên vùng đất này là "Tưk Kha-mau", có nghĩa là "nước đen", bởi lá tràm của rừng U Minh bạt ngàn rụng xuống phân hủy làm đổi màu nước. Khám phá những con sông, rạch của xứ Cà Mau sẽ cho ta hiểu thêm về vùng đất:

"Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um".

Có một điều khá đặc biệt là các sông rạch của Cà Mau không nằm trong hệ thống tự nhiên của sông Cửu Long như phần lớn sông rạch ở các tỉnh khác của Tây Nam bộ. Nó được nối, thông với sông Hậu bởi những con kênh do người Pháp đào ở thế kỷ trước như kinh Cái Côn – Phụng Hiệp, kinh Quản Lộ, Cái Lớn - Trèm Trẹm, Bạc Liêu- Cà Mau. Đặc biệt hơn, sông rạch ở Cà Mau đều có giai thoại, sự tích về nguồn gốc xuất xứ tên gọi.

Xóm ven sông xã Đất Mũi.


Sông Ông Đốc - trong sách Gia Định Thành thông chí có tên là Khoa Giang. Sông đổ ra vịnh Thái Lan (biển Tây), hai bên có nhiều rạch phụ, nhiều xóm làng phì nhiêu, sung túc. Theo tri phủ Trần Văn Từ (trang 53 – bài Sông Ông Đốc, Cà Mau xưa - Nguyễn Văn Lương- Huỳnh Minh – NXb Thanh Niên, 2003): Khi chúa Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi, ông và tùy tùng, gia quyến chạy vào xóm Cái Tàu ẩn nấp. Vài tháng sau, Nguyễn Ánh theo con sông nầy định ra hòn Thổ Chu rồi sang Xiêm cầu viện. Nhưng khi đoàn thuyền đi được một đỗi, thì bị quân Tây Sơn phát hiện đuổi theo. Đô Đốc Thủy binh Nguyễn Văn Vàng, khoác hoàng bào giả Nguyễn Vương để đánh lạc hướng quân giặc. Ông bị quân Tây Sơn giết chết. Nguyễn Ánh nhờ đó mà chạy thoát qua ngả khác!

Do vậy sông Khoa Giang còn được gọi là sông Ông Đốc hay sông Đốc. Hiện nay, thị trấn Sông Đốc là một trong những cảng cá lớn, nhộn nhịp nhất ở ĐBSCL. Sông Đốc cũng là một điểm tập kết ra Bắc của hàng vạn cán bộ, chiến sĩ miền Nam sau hiệp định Giơ-neo-vơ (20-7-1954). Tại nơi này, gần 60 năm về trước (26-11-1954), đã chứng kiến cuộc chia ly cảm động của những người tiễn chồng, cha, con, em mình đi tập kết trên con tàu Kilinxki của Ba Lan. Vàm sông Ông Đốc trở thành địa danh gây nhiều cảm xúc trong lòng người Nam bộ. Ngày nay, thị trấn nầy là nơi có nghề cá mạnh vào bậc nhất nước ta, sản lượng trên dưới 60.000 tấn mỗi năm.

Sông Bảy Háp khá lớn. Theo Nhà nghiên cứu dân gian Huỳnh Minh thì chữ Háp bắt nguồn từ cách đếm và tính bội số theo: phân, chỉ, lượng, cân, yến, tạ, đàm, háp… Các sản vật như lúa, gạo, than, cá, khô, mắm, heo thường được tính theo đơn vị đo lường này. Thông thường thì 10 tạ (1 tạ=60kg) vô 1 đàm, 10 đàm vô 1 háp. Bảy Háp có trọng lượng quy đổi chừng 60kg x 10x10x 7= 42.000kg.

Sông Bảy Háp nước chảy lờ đờ, có nhiều con rạch trên đồng đổ xuống nên có rất nhiều tôm cá. Chuyện xưa, đầu thế kỷ trước, có một gia đình lão ngư chuyên nghề "hạ bạc" (nghề chài lưới) chỉ có hai miệng đáy đóng ở vàm Giá Ngựa (huyện lỵ Đầm Dơi ngày nay). Năm ấy (1909), hai miệng đáy của ông trúng đậm, phơi làm tôm khô được "7 háp" (42 tấn), một kỷ lục chưa từng có. Nếu tính theo giá thị trường hiện nay 500.000 đồng một ký tôm khô thì vụ tôm đó thu hoạch được khoảng 21 tỉ đồng. Sông Bảy Háp có xuất xứ tên gọi từ giai thoại trên!

Bình minh trên sông Cửa Lớn.


Sông Cửa Lớn - tên chữ là Đại Môn Giang. Đây là con sông có dòng chảy độc đáo – bắt nguồn từ biển Tây chảy ra biển Đông. Sông dài chừng 58 km, rộng 600 m và sâu 12 m. Con sông này đầu bên biển Đông là cửa Bồ Đề, còn đầu bên biển Tây là cửa Ông Trang, gần mũi Cà Mau.

Đại Môn Giang chia cắt khu vực cuối bán đảo Cà Mau thành như một đảo. Hiện cầu Năm Căn bắc qua sông Cửa Lớn đang thi công. Đây là cây cầu có chiều dài nhất Việt Nam (3.390m). Đại Môn Giang với hệ sinh thái nước lợ là một ngư trường khai thác nhiều loại thủy hải sản có giá trị kinh tế. Cảng Năm Căn nằm trên sông Cửa Lớn, gần thị trấn Năm Căn.

Từ thị trấn Năm Căn ra cửa Bồ Đề (biển Đông), cửa Ông Trang (biển Tây), hai bên sông Cửa Lớn là những cánh rừng đước bạt ngàn. Hiện vẫn còn nhiều khỉ, vượn sinh sống trong những khu rừng đước, mắm. Lưu vực sông Cửa Lớn rất dồi dào thủy hải sản. Ngoài nghề đáy sông truyền thống, cư dân ở dọc theo sông còn có nhiều nghề mưu sinh khác như đăng lưới, đẩy te, chài, giăng câu...Vào khoảng tháng 9 đến tháng 11 hằng năm, khi có gió chướng thổi, trái mắm chín rụng đầy sông, cá dứa từ biển lội vào sông từng bầy tìm ăn trái mắm. Cá dứa là một loài cá biển da trơn có hình dáng giống như cá tra nước ngọt, thường mỗi con có trọng lượng từ 2-3 kg, đôi khi có con nặng trên dưới 10kg, thịt thơm, ngon. Người dân dùng thuyền nhỏ len lỏi trong rừng mắm và dùng lao đâm cá. Cũng có thể câu cá dứa bằng mồi là trái mắm chín!

Sông Trẹm còn gọi là sông Tràm Trẹm, Trèm Trẹm, dài chừng 36 km bắt nguồn từ sông Cái Lớn, đổ vào sông Ông Đốc. Sông Trẹm chảy qua huyện An Minh (Kiên Giang) và huyện Thới Bình (Cà Mau). Sông Trẹm không rộng lắm, nó là ranh giới tự nhiên của vùng thượng và hạ U Minh. U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau, U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang.

Hệ thống rừng dọc theo sông Trẹm có gần 300 loài thực vật và ?ộng vật phong phú. Qua khảo sát, các nhà chuyên môn cho biết tại khu vực rừng Sông Trẹm có tới 30 loài bò sát thuộc 14 họ cùng 21 loài thú rừng lớn, nhỏ khác thuộc 12 chi họ. Chim có 96 loài, nằm trong 32 họ. Riêng nguồn cá đồng thì nhiều vô số, ăn, bán tươi không hết phải làm khô, mắm…

Chiều ở rừng U Minh bên sông Trẹm, khách sẽ được chứng kiến muôn ngàn loài chim bay rợp trời về tổ và có thể nghe xa xa, tiếng hú của lũ khỉ vượn, tiếng rống của heo rừng, tiếng chim ríu rít gọi đàn…

Ở sông Trẹm, bông súng ma rất nhiều! Bông súng ma lá nhỏ như lá môn nước, cỡ bàn tay xòe của người lớn, xăm xắp, là đà, liêu phiêu ở dưới nước, hai bên triền sông. Đến mùa ra hoa, bông súng nở trắng, trải dài hằng mươi cây số, tỏa hương ngan ngát, đẹp như trong tranh. Sông Trẹm lúc ấy chỉ còn một lối hẹp cho xuồng ghe đi.

***

Đến Cà Mau, đi trên những con sông dài xa tít tắp, giữa đất trời còn nhuốm màu hoang sơ, bí ẩn, bất cứ phút giây nào cũng gợi bâng khuâng nhớ về quá khứ thuở tiền nhân khai mở đất phương Nam.

Hải Hồ

Tham khảo từ tư liệu:
  • Cà Mau xưa (Nguyễn Văn Lương- Huỳnh Minh – Nxb Thanh Niên 2003). 
  • Cà Mau đất & người ( Sở Du lịch&Thương mại tỉnh Cà Mau 2002). 
  • Đại Nam thực lục ( Quốc sử quán triều Nguyễn - NXB Giáo dục HN 2002). 
  • Lịch sử khai khẩn đất phương Nam (Sơn Nam- NXB Trẻ 1997).

Giai thoại địa danh rạch Bù Mắt

đăng 00:54, 26 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Rạch Bù Mắt là tên của một con rạch ở xã Ðất Mới, huyện Năm Căn. Ðịa danh “Bù Mắt” được hình thành do cách gọi dân gian, đọc trại từ tên “bọ mắt”, một loại côn trùng nhỏ hơn hạt mè (vừng) sống ở nơi ẩm ướt, hay đeo bám vào da người và hút máu như muỗi.

Trước đây, ở hai bên bờ con rạch này có rất nhiều cây bụi mọc hoang, nhiều nhất lá dừa nước, tạo môi trường lý tưởng cho loài bọ mắt sinh sôi nảy nở. Trong truyện ký “Cây đước Cà Mau”, Nhà văn Ðoàn Giỏi mô tả: “Xứ này, muỗi, bù mắt như trấu, nhiều người không có mùng mà ngủ, phải chằm khíu bao bố tời, đệm cho cả nhà nằm”.

Buổi trưa, hoặc những ngày nắng ráo, bọ mắt thường trốn trong bụi rậm bên bờ sông, hoặc đậu trên lá dừa nước mọc ven sông rạch nên ít người phát hiện. Bọ mắt chỉ xuất hiện nhiều nhất lúc trời chạng vạng tối, buổi sáng sớm hoặc những lúc trời mưa lâm râm (mưa nhỏ hạt). Khi đó, chúng thường kéo thành từng bầy, bám vào những nơi ẩm ướt, phát hiện hơi người là chúng bám vào da để chích. Ðiểm đáng chú ý là khi chích, bọ mắt thường gom thành từng cụm chính vào một chỗ, dân gian gọi là bù mắt “xây đùn”, chỗ bị chích sau đó thành một vệt đen sạm.

Một đoạn rạch Bù Mắt ngày nay.


Nơi đây vẫn còn lưu truyền câu chuyện, ngày trước có viên quan nọ có việc phải đi qua con rạch này, vốn đã nghe trước lời đồn, ông thuê sẵn một chiếc ghe có mui, cửa nẻo kín đáo và có mùng cẩn thận. Khi đến nơi đây thì trời sắp tối, ông bảo người chèo ghe nấu bữa cơm đơn giản, cho hai trứng vịt vào hấp, ăn tạm lót dạ để sáng mai lên đường.

Nồi cơm vừa chín, hai trứng vịt được lột ra trắng phau để trong cái tô nhỏ. Vừa lúc ghe cập bến một nhà dân ven rạch, chủ nhà nghe tiếng động liền xuống mời vị quan lên nhà nghỉ ngơi, vì sợ trời tối lại nhiều muỗi, bọ mắt không thể ở dưới ghe được.

Sau mấy câu chào hỏi, một lúc nhìn lại hai trứng vịt lúc nãy trắng phau giờ đã chuyển sang màu đen như hai cục than, do bọ mắt bám vào. Vị khách phải mang trứng đi rửa sạch để vào mùng ăn cơm. Hôm sau, viên quan có dịp đi dạo quanh xóm mới biết đa số dân nghèo bị bọ mắt cắn đến nỗi bị ghẻ lở, bệnh tật, nhiều người không có mùng ngủ phải lấy nóp bàng nhúng nước cho sợi bàng nở ra để chui vào ngủ.

Cuốn sách “Cà Mau xưa” của các tác giả Nghê Văn Lương và Huỳnh Minh (NXB Thanh Niên, 2003) ở trang 70 có đoạn kể về con rạch này: “Lần nọ, tam bản tôi ghé lại mé rạch đặng bắn lọ nồi, lúc trời mưa lâm râm. Chừng 10 phút sau, tôi trở xuống ghe, mặt mày ngứa ngáy khó chịu, phải lấy dầu cù là mà thoa. Khi lấy kiếng soi mặt thì chính tôi không còn nhìn được tôi nữa”.

Khu vực này xưa kia có nhiều xóm rẫy của Huê kiều (Hoa kiều) trồng nhiều loại hoa màu như rau, dưa, cà, đặc biệt là ớt sừng trâu, người địa phương hay gọi là những “rẫy Chệt” (người Nam Bộ gọi dân Hoa kiều là dân “Chệt”, do đó mà xuất hiện nhiều địa danh: Bãi Chệt, Rẫy Chệt, kinh Chệt Tửng, kinh Chệt Sáu, kinh Chệt Sậy, kinh Chệt Ớt, kinh Chệt Thợ…). Thỉnh thoảng có thương lái từ chợ Cà Mau, chợ Năm Căn ghé vào cân sỉ để về bán lại.

Vốn là một nhánh của sông Bảy Háp, lại là nơi cung cấp rau quả tươi sống, ghe xuồng của thương lái thường đi lại nên con rạch cũng được nhiều người biết đến. Trong một số tài liệu và bản đồ địa lý trước đây ghi tên rạch này là rạch Mang Dỗ. Qua tra cứu các từ điển Hán Việt không thấy nghĩa của từ này, có giả thiết rằng, tên Mang Dỗ được đọc trại từ “Mang Rỗ” (do người Hoa kiều đọc “Mang Rỗ” thành “Mang Dỗ”), là tên của một loài cá từng xuất hiện rất nhiều ở khu vực này.

Cá mang rỗ (tên khoa học là Toxotes charareus) sống ở môi trường nước lợ và nước ngọt, gần các cửa sông lớn, tại Việt Nam phân bố chủ yếu ở khu vực (trong đó có Cà Mau). Cá mang rỗ (có tài liệu ghi là “măng rỗ”) có đầu nhọn, miệng rộng, thân dẹt và thon dài, khi trưởng thành có thể dài đến 30 cm, nặng trên 1 kg. Ðặc biệt, thức ăn của chúng chủ yếu là các loài giáp xác và côn trùng trong không khí (trong đó có muỗi, bọ mắt…), chúng thường bơi gần mặt nước và săn mồi bằng cách phun những tia nước rất mạnh vào côn trùng đang bay hoặc đang đậu trên cây, làm con mồi rớt xuống và lao đến đớp lấy. Cá mang rỗ có thể thực hiện cú bắn chính xác và hạ gục con mồi ở khoảng cách từ 1-2 m, vì vậy, trong dân gian còn gọi cá này bằng những tên khác như: cá cung thủ, cá phun nước, cá cao xạ pháo… Loài cá này hiện nay còn rất ít trong tự nhiên, nhưng đã được thuần hoá thành cá nuôi cảnh với kích thước nhỏ hơn.

Tên gọi rạch Bù Mắt (bọ mắt) ngày nay và rạch Mang Dỗ (mang rỗ) trước kia đều có nguồn gốc từ tên các loài động, thực vật xuất hiện nhiều ở địa phương. Ðây chính là một trong những tính chất đặc thù của địa danh dân gian ở vùng sông nước, đồng thời phản ánh quy luật định danh đối với các địa danh ở Cà Mau nói riêng, địa danh Nam Bộ nói chung.

Ngày nay, rạch Bù Mắt đã trở thành địa danh hành chính (ấp Bù Mắt, xã Ðất Mới, huyện Năm Căn). Người dân ở đây không còn chịu cảnh bọ mắt cắn “xây đùn” như trước nữa, vì kinh rạch đã được khơi thông, nhiều gia đình lấy nguồn nước tự nhiên vào vuông nuôi tôm, môi trường cũng thông thoáng hơn…, các loài muỗi, bọ mắt từ đó mà giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên, những câu chuyện kể về rạch Bù Mắt một thời vẫn còn lưu lại trong trí nhớ người già, thỉnh thoảng lúc trà dư, tửu hậu lại có dịp kể lại cho con cháu nghe.

Bài và ảnh: Huỳnh Thăng

Giai thoại về địa danh Năm Căn

đăng 00:49, 26 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Con sông Cửa Lớn chảy qua thị trấn Năm Căn, ở đoạn này cũng được gọi là sông Năm Căn. Theo hướng đi về mũi Ông Trang, phía bên hữu ngạn là chợ Năm Căn, thị trấn sầm uất với đường sá, công trình, nhà cửa và các khu thương mại, dịch vụ phát triển nhanh chóng. Nơi đây hứa hẹn hình thành một đô thị năng động trong tương lai.

Ngày trước, chợ Năm Căn là địa điểm giao thương thuận lợi vì chỗ này là ngã tư sông, nơi dừng chân của khách thương hồ. Họ là chủ những ghe hàng đi xuống cửa Ông Trang mua tôm khô, cá khô, hoặc ra Rẫy Chệt mua dưa hấu, xuống Rạch Gốc chở ba khía và ốc len, những xuồng ghe qua rạch Bà Thanh, Ông Định chở củi về hầm than…

Một góc thị trấn Năm Căn. Ảnh: NHÂN KIỆT


Sau những chuyến đi dài "chèo chống mỏi mê", họ dừng lại bến này nghỉ ngơi chờ nước xuôi để đi tiếp, có khi gặp lúc nước ròng, phải chờ con nước lớn. Đây là thời gian khách thương hồ gặp gỡ trao đổi hàng hóa, hoặc chuyện trò, hoặc hỏi đường, dần dần rồi thành chợ bên sông. Nhiều chợ ở khắp vùng sông nước Cà Mau đã được hình thành như vậy.

Tại vị trí các ngã ba, ngã tư sông đầu tiên xuất hiện những xóm nhà, rồi đến hàng quán cho khách nghỉ ngơi ăn uống, những cửa tiệm chạp phô (tạp hóa) bày bán nhu yếu phẩm, đồ gia dụng, dần dần phát triển thành chợ.

Theo truyền miệng trong dân gian thì tên gọi "Năm Căn" đã có từ hơn 200 năm nay. Đầu tiên, có một người Hoa Kiều tên là Chệt Hột đến đây dựng lên 5 căn trại đáy, phía trên bờ thì làm rẫy. Công việc làm ăn rất phát đạt do nguồn cá tôm dồi dào và chưa có người khai thác.

Thấy có nhiều hoa lợi nên những người Hoa Kiều và người Việt cũng đến đây làm ăn sinh sống, lần hồi trở nên đông đúc. Vì có vị trí thuận lợi về đường sông nên ghe xuồng thường qua lại chỗ này, và người ta căn cứ vào dấu hiệu là dãy trại đáy 5 căn xuất hiện đầu tiên để gọi tên, lâu ngày thành địa danh "Năm Căn".

Tìm hiểu các sử liệu ghi chép lại từ thời Mạc Cửu khai phá vùng Hà Tiên đến Cà Mau khoảng năm 1680, nhưng không thấy nhắc đến địa danh Năm Căn. Mãi đến thời nhà Nguyễn có địa bạ ghi chép về huyện Long Xuyên (là vùng đất Cà Mau ngày nay) mới có nhắc đến. Địa bạ triều Nguyễn năm 1836 (năm Minh Mạng thứ 17) gọi là xứ Năm Căn, lúc đó theo thống kê đặc điền thì ở huyện Long Xuyên (thuộc tỉnh Hà Tiên) gồm 2 tổng: Long Thủy và Quảng Xuyên. Riêng tổng Quảng Xuyên có diện tích ruộng đất trên 445 mẫu, gồm 14 xã thôn, trong đó có "thôn Tân Hưng ở 5 xứ: Rạch Nón, Cái Mũi, Cái Lân, Năm Căn, Đồng Cùng có trên 192 mẫu ruộng (112 mẫu công điền và trên 80 mẫu tư điền với 1 chủ điền)”.

Thời thuộc Pháp, Năm Căn đã trở thành thị trấn sung túc, hai bên bờ sông mọc lên nhiều lò than, nhà cửa san sát, dân cư tấp nập, có bến tàu đò, có đường xe hơi đi từ Cà Mau về đến Năm Căn… Lúc bấy giờ, Năm Căn là 1 trong 6 quận nổi tiếng của Cà Mau. Năm Căn được coi là mỏ "vàng đen", cung cấp than đước cho cả Nam Kỳ lục tỉnh.

Ranh giới tự nhiên giữa 2 huyện Năm Căn và Ngọc Hiển là con sông Năm Căn, vốn có tên gọi là sông Cửa Lớn (tên chữ Hán là "Đại Môn Giang"), chiều dài 58 km, rộng trung bình 400 m. Đoạn từ thị trấn Năm Căn đến cửa Bồ Đề rộng đến 500 m, độ sâu từ 12-20 m. Sông có 2 cửa đổ ra biển là cửa Bồ Đề ở phía biển Đông và cửa Ông Trang ở phía biển Tây.

Con sông này được nhà thám hiểm Jacques-Yves Cousteau, thuyền trưởng tàu Calypso, đánh giá là 1 trong 100 dòng sông lớn nhất thế giới. Điểm đặc biệt nhất là dòng sông có dòng chảy từ biển ra… biển. Nói cách khác, đây là con sông không có thượng nguồn và hạ nguồn, đó là nét độc đáo so với những dòng sông nổi tiếng khác.

Sông Năm Căn là trục sông chính, có rất nhiều chi lưu tạo ra hệ thống sông ngòi chằng chịt ôm lấy những cánh rừng đước, sú, vẹt, mắm bạt ngàn. Với tài nguyên thiên nhiên rừng - biển vô cùng phong phú, cuộc sống của cư dân sông nước nơi đây từ lâu đã hình thành nếp sinh hoạt rất đặc trưng:

"Cha chài mẹ lưới con câu,
Chàng rể đóng đáy, con dâu ngồi nò"

Nghề đóng đáy xuất hiện từ rất sớm trên dòng sông này. Đây là nghề đánh bắt mang lại nguồn lợi kinh tế cao. Để đóng đáy, người ta chọn đoạn sông có dòng chảy tốt, độ sâu vừa phải, dùng cây gỗ lớn cắm xuống dòng sông, giăng thành hàng ngang từ 20-30 miệng đáy, rồi dùng dây thừng néo vào nhau cho cố định. Chờ khi nước ròng thì thả lưới, tôm cá theo con nước đi vào miệng đáy.

Ở đoạn sông gần cửa Bồ Đề có nghề săn cá dứa. Đây là loài cá biển có hình dáng giống cá ba sa hay cá tra, nhưng lớn hơn, có khi nặng đến 10 kg, thịt ăn rất ngon. Vào khoảng tháng 8 âm lịch là mùa trái mắm rụng xuống sông, cá dứa từ biển kéo vào từng đàn nổi lên mặt nước ăn trái mắm. Người dân dùng xuồng nhỏ chèo theo đàn cá vào, dùng lao đâm cá, người săn giỏi trong một buổi có thể đâm được vài chục con.

Mùa này cũng là mùa ba khía hội, ba khía là đặc sản của rừng Năm Căn, thịt rất thơm nhờ ăn trái mắm đen. Ngày xưa, ba khía được muối đem bán khắp Nam Kỳ lục tỉnh và không biết tự bao giờ, dân gian đã lưu truyền câu dân ca: "Anh ơi, tháng tám mưa dầm. Nhớ về Năm Căn săn ba khía hội…".

Huỳnh Thăng

Giếng nước Mỹ Tho, có "miệng giếng" rộng 7 ha!

đăng 03:29, 5 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Hôm bữa tui có kể về cái giếng nước lớn nhứt Việt Nam (hổng chừng là cả thế giới luôn nữa), đó là giếng nước Mỹ Tho, kèm theo một số thắc mắc. Bữa nay, sau khi... lặn xuống giếng tìm hiểu một hồi tui viết thêm bài này để giới thiệu thêm một số thông tin mới biết được.

Tự điển tiếng Việt định nghĩa Giếng như sau: Hố đào thẳng đứng, sâu vào lòng đất, dùng để lấy nước. Mở rộng ra hơn nữa, ta có giếng dầu do các giàn khoan đào ngoài biển khơi. Dù là giếng nước hay giếng dầu đi nữa thì hình ảnh chung của cái giếng là độ sâu lớn hơn nhiều so với miệng giếng.


Thôi, không kể giếng dầu là thứ đặc biệt (và thường là rất lớn), ở đây ta chỉ xét giếng nước thôi. Có ai không biết cái giếng là gì hông? Ờ, thì giếng nước là vầy nè:




Vậy cái này phải cái giếng hông?




Tui cảm thấy băn khoăn ghê lắm, nhưng câu trả lời chính thức thì đúng nó là cái giếng
Gọi đầy đủ là Giếng Nước hoặc Giếng Đôi (vì gồm 2 cái giếng). Tên của nơi có cái giếng này là Công viên Giếng Nước, thuộc thành phố Mỹ Tho. 


Thông tin về Giếng nước Mỹ Tho ghi trong Địa chí Tiền Giang như sau:


“Giếng nước Mỹ Tho là một hệ thống gồm 2 giếng được đào với mục đích trữ nước cấp cho Thành phố Mỹ Tho:

Giếng nhỏ nằm kề sông Tiền giới hạn bởi các đường xe lửa (Bắc, nay là Lý Thường Kiệt), Doudard de Lagrec (Đông, nay là Yersin), đường tỉnh số 26 (Nam, nay là Lê Thị Hồng Gấm) và đường Tết Mậu Thân hiện nay (Tây). Giếng nhỏ dài trung bình 190 m, rộng 85 m.

Giếng lớn ở ngay phía Bắc giếng nhỏ, kéo dài từ đường Lý Thường Kiệt (Nam) đến đường Ấp Bắc hiện nay (Bắc), phía Tây và Đông vẫn là đường Tết Mậu Thân và Yersin. Chiều dài giếng lớn là 800 m, bề rộng như giếng nhỏ.

Giếng nhỏ thông với Sông Tiền qua một cống ngầm dưới đường Lê Thị Hồng Gấm và 2 giếng thông nhau cũng bằng một cống ngầm dưới đường Lý Thường Kiệt. Trước đây nước từ sông được lấy trữ trong giếng nhỏ để lắng bớt phù sa sau đó cho vào giếng lớn và cấp cho nhà máy nước. Hiện nay nhà máy đã không còn lấy nước từ giếng nữa, tuy vậy nước ngoài sông vẫn được cho vào, chủ yếu để tạo cảnh quan đô thị. Đến năm 1988 bờ giếng lớn phía đường Ấp Bắc và đường Lý Thường Kiệt bị xói lở dần ảnh hưởng đến sự ổn định của đường, vì vậy hai đầu giếng lớn đã được lấp cạn một đoạn khá dài để vừa gia cố đường vừa hình thành công viên. Năm 1998-1999 mái bờ của 2 giếng được lát đá hộc, quanh giếng xây lan can như hiện nay.”



Mô tả giếng nước Mỹ Tho như vậy khá chi tiết, nhưng tài liệu này chưa nói giếng nước Mỹ Tho... ở đâu ra! Tui lò dò... lặn xuống giếng tìm hiểu thì biết thêm:


Tác giả Nguyễn Ngọc Phan trong “Trăm năm dâu bể” cho biết về xuất xứ của Giếng Nước Mỹ Tho: Giếng nước Mỹ Tho nguyên thủy là hào thành Định Tường được đào năm 1826. Lúc chiếm Định Tường (1862), đề phòng nghĩa quân tấn công, chính quyền thực dân đã cải tạo hào thành nầy thành kinh, đặt tên là kinh Nicolais. Kinh Nicolas theo thời gian bị bùn lấp cạn dần. Hai bên bờ cỏ lau rậm rạp. Đến năm 1927, kỹ sư người Pháp Partilény lập đề án cải tạo kinh Nicolas thành hồ chứa nước. Công trình này hoàn thành năm 1933, đây là thời điểm nó được gọi là Giếng nước Mỹ Tho như ghi trong Địa chí Tiền Giang.

Như vậy, xuất xứ và mô tả Giếng Nước Mỹ Tho khá rõ ràng. Tuy nhiên, có một thắc mắc chưa được giải đáp: Tại sao lại gọi đây là “giếng” mà không phải là “hồ”?


Như ta thấy, xuất xứ đây là hào, rồi thành kinh, từ kinh chuyển thành hồ chứa nước. Vậy mà không gọi là hồ, lại gọi là giếng. Ta có thể tính được diện tích mặt giếng nhỏ là 16.150 m², diện tích mặt giếng lớn là 68.000 m². Như vậy, giếng lớn có “miệng giếng” rộng tới… gần 7 ha, đây có lẽ là miệng giếng rộng nhất Việt Nam!


Giếng nước Mỹ Tho trên Google Maps


Hầu hết người dân Mỹ Tho đều tỏ ra quá quen thuộc với cái tên Giếng Nước quê mình đến mức chẳng buồn thắc mắc vì sao cái giếng lại… to như thế! Khi được hỏi thì họ ngẩn ngơ một chút, rồi có người giải thích: Tại vì nó chứa nước để uống nên gọi là giếng, còn hồ là chứa nước để… tắm!


Anh Mai Việt Hùng – một người thuở nhỏ sống ở Tiền Giang – nêu ra một lý giải khá thú vị: Người Định Tường xưa (tức Tiền Giang ngày nay) rất khiêm tốn. Họ luôn thu mình lại trước các sự việc bất kỳ. Thí dụ như con sông có bến phà qua Kiến Hòa ngày xưa (tức Bến Tre ngày nay) nó tên là “Rạch Miễu”, dù nó rộng bằng 20 con rạch nhập lại. Chiều dài cầu Rạch Miễu bắc qua “con rạch” này là 2.868 met, trong khi cầu Mỹ Thuận bắc qua sông Tiền chỉ dài 1.535 met cho thấy “con rạch” này rộng tới cỡ nào! Vậy thì chuyện họ gọi cái hồ lớn thành cái giếng cũng là lẽ thường thôi.


Dù giải thích thế nào đi nữa, một điều hiển nhiên rằng Giếng nước Mỹ Tho là một thắng cảnh ở thành phố này, đáng để ta đến tham quan và trầm trồ: Đây là cái giếng lớn nhất Việt Nam!



Phạm Hoài Nhân

Biển lở nơi miệng rồng

đăng 03:01, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nhiều người cho rằng Hàm Luông có tên gốc là Hàm Long. Thời nhà Nguyễn do “kỵ húy” để tránh chữ Long (Long là rồng, tượng trưng cho nhà vua) nên gọi chệch là Luông, lâu dần thành quen.

Những người nông dân ở bên cửa sông Hàm Luông luôn lo lắng trước nguy cơ sạt lở đất - Ảnh: Tấn Đức


Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức miêu tả vùng cửa sông này như sau:

“Sông rộng như là vực rồng, hang giao, thường có cá to, sấu lớn trồi lên hụp xuống. Nước sông thường trong, ngọt, sóng gió dập dình, có cái hứng nhìn một cái trông rõ mênh mông vạn khoảnh”. Nhưng bây giờ...

Biển lở

Bên rẫy dưa hấu vừa trồng hơn tuần, ông Đào Văn Khỏe (Út Khỏe, 43 tuổi), ấp Thạnh Thới B, nói trong âu lo: “Đang lúc nước ròng, biển lùi ra xa hàng mấy trăm thước vậy đó, nhưng khi thủy triều lên sóng biển tràn vô tuốt trong này.

Để bảo vệ 6 công đất (6.000m2) còn lại, mấy năm trước tui đã tốn cả trăm triệu đồng mướn Kobe (xe ủi đất) làm bờ bao rồi kêu xáng thổi giồng cho đất cao lên để làm rẫy.

Không biết con đê này có chịu nổi qua mùa gió chướng năm nay (thường bắt đầu vào tháng 9, kết thúc vào tháng 11 âm lịch) không nữa”.

Ông Út Khỏe cho biết đây không phải lần đầu tiên ông làm bờ bao chắn sóng. Hồi mới lấy vợ, ông Út được cha mẹ chia cho hơn 2ha đất bên cửa sông Hàm Luông.

Vài năm gần đây có khi qua một mùa gió chướng, cơ quan chức năng địa phương xuống đo đạc lại để điều chỉnh diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông thấy mất tới hơn 2 công đất.

Tiếc của, vợ chồng Út Khỏe vắt sức đào đắp bờ bao rồi trải cao su mặt ngoài để ngăn sạt lở, nhưng vẫn không kìm được nước chân “hà bá”.

Không chỉ mất đất, năm ngoái ruộng dưa của ông Út Khỏe còn chừng nửa tháng là tới ngày thu hoạch, nhưng chỉ qua một đêm dông sóng vỗ tràn bờ đánh tan tác khiến ông thiệt hại hơn 40 triệu đồng đã đầu tư.

“Chỉ mong 6 công đất rẫy còn lại sẽ trụ được thêm 3 - 4 năm nữa để tui có thể lo cho con trai đang học ở Đại học Đồng Tháp” - ông Út Khỏe buồn hiu nói.

Cạnh rẫy dưa của ông Út Khỏe, vợ chồng ông Nguyễn Văn Ô cũng đang đứng ngồi không yên vì sóng biển đã vỗ về mí chân đê. “Trồng đại vậy chứ không biết có kịp ăn không nữa” - ông Ô bày tỏ âu lo khi chúng tôi hỏi rẫy đậu phộng của ông bao giờ thì nhổ.

Trong khoảng chục năm nay, ông Ô đã mất gần 1ha đất do sạt lở. Cách đây tám năm, vợ chồng ông cất nhà sâu trong bờ nhưng bây giờ biển đã lở vô gần tới.

“Nhiều đêm nằm nghe sóng vỗ ì ầm sát bên nhà ngủ không được, lại xách đèn pin ra bờ đê kiểm tra lỗ mọi. Nếu mình không phát hiện kịp thời để trám lại, sẽ bị sóng đánh rộng ra kể như mất trắng cả rẫy lẫn nhà” - ông Ô than.

Để đảm bảo an toàn, vợ chồng ông đã gửi hai đứa con nhỏ, đứa lên 7, đứa lên 9, đến nhà ngoại ở xã Giao Thạnh (huyện Thạnh Phú) trạm trú. Hằng ngày một mình ông ở lại bám trụ để canh mấy công rẫy nuôi vợ con.

Đó cũng là tình trạng chung của nhiều chủ đất đang sinh sống trên cung đường ven cửa sông Hàm Luông như ông Ba Tuất, ông Bảy Thạo, ông Hai Lẹo, bà Tư Tròn, ông Út Minh... Với giá đất hiện tại khoảng 40 triệu đồng/công, tính sơ tài sản thiệt hại của mỗi gia đình đã lên tới nửa tỉ đồng.

“Trong khoảng 10 năm trở lại đây, tình trạng sạt lở diễn ra với tốc độ nhanh trên đoạn hơn 3km bờ biển, có nơi ăn sâu vào bờ hàng trăm mét khiến nhiều hộ dân không chỉ mất đất sản xuất mà còn mất luôn chỗ ở. Thiệt hại do thiên nhiên gây ra đã vượt ngoài khả năng đối phó của địa phương” - ông Hà Văn Doi, chủ tịch UBND xã Thạnh Hải, bày tỏ lo lắng.

Cửa Hàm Luông nhìn từ cồn Bửng - Ảnh: Tấn Đức


Mưu sinh ở cồn Bửng

Cồn Bửng nằm kề bên ấp Thạnh Thới B, một trong những địa bàn xa xôi nhất của cù lao Minh. Mấy năm trước chưa có cầu, từ trung tâm huyện Thạnh Phú muốn đến xứ “cồn trên cồn này” phải qua phà Cầu Ván, sau đó đi đò ngang qua cồn Tra, rồi thêm một chuyến đò nữa mới ra tới cồn Bửng.

Nằm ở mé ngoài cửa sông Hàm Luông, hướng ra Biển Đông, những năm qua tình trạng sạt lở ở đây cũng không kém phần “ác liệt” nhưng nhiều gia đình vẫn kiên trì bám biển mưu sinh.

Chúng tôi đi tìm ông Hồ Văn Na (Năm Na, 61 tuổi), một trong những người đã sinh sống lâu nhất ở cồn Bửng. Đó là một người đàn ông khá đặc biệt: không biết chữ, không biết đi xe máy, và đặc biệt rất hiếm khi ra khỏi địa phương, vì như ông nói “hễ xa cồn, xa biển là tui bịnh liền”!

Hồi đó nhà ông Năm Na ở đầu cồn Bửng. Từ sau cơn bão Linda (1997), cồn Bửng bắt đầu lở mạnh. Biển đã nuốt cả một đoạn cồn dài hơn cây số, đuổi hàng chục gia đình chạy trối chết, trong đó có ông.

Sau năm lần dời nhà chạy lở trên thửa đất khai hoang, Năm Na được địa phương cấp mấy công đất phía đuôi cồn để sinh sống.

Nhận đất, vợ chồng ông cùng tám người con (được đặt tên theo từng cặp đôi cho dễ nhớ: Được - Việc, Phượng - Thắm, Nam - Quốc, Chiến - Trận) đã mất nhiều công sức bồi đắp, tôn cao con đê xung quanh không cho nước biển tràn vô, rồi ngày qua ngày bới cát nhặt hơn 100 giạ ốc viết, vỏ sò đổ đi mới trồng cây xuống được.

Ngoài thời gian chăm sóc mấy công rẫy, hễ rảnh tay cả nhà lại vác xiệp ra biển đẩy ruốc. Bắt được bao nhiêu mang ra phơi ngay trên bãi cát.

Tới mùa ruốc hội lại kéo nhau đi đẩy xiệp, rồi phơi ngay trên bãi cát ven biển. Mỗi ngày cũng kiếm được vài giạ ruốc khô, thu nhập chừng 300.000 đồng. Hết mùa rẫy, mùa ruốc, lại xoay qua nghề đóng đáy sáo.

“Đây là nghề hơi đặc biệt” - ông Năm Na cho biết. Về hình thức cũng giống như đáy hàng khơi, nhưng đáy sáo không tập trung thành hàng, thành dãy mà phân tán mỗi nơi chừng vài ba miệng.

Người chủ đáy sáo mỗi tháng chỉ thả hai đợt vào thời điểm trăng sáng nhất và tối nhất, mỗi đợt kéo dài 3-5 ngày. Đây là lúc nước rong (triều cường) dòng chảy mạnh, dễ trúng cá tôm.

Ngoài thời gian này chủ tháo miệng đáy đem về nhà cất, chỉ để lại mấy hàng cọc cho những bạn đáy “vãng lai” mượn đóng tạm. Không cam kết, hứa hẹn gì nhưng đã thành thông lệ: hễ ai thấy cọc đáy bỏ không thì cứ mang miệng đáy ra đóng, không cần hỏi han gì hết.

Tới chừng nước rong, “chính chủ” mang miệng đáy ra thả thì bạn đáy vãng lai tự động dỡ đi. Cứ vậy mà khai thác, chưa thấy xảy ra “tranh chấp chủ quyền” bao giờ.

Bởi nói như Năm Na: “Mình có hàng (đặt đáy trúng) thì phải chia sớt cho bạn đáy nghèo để họ còn có tiền mua gạo. Vậy làm nghề mới bền lâu được”.

Chiều muộn chúng tôi gặp lại gia đình ông Chín Tiền, bà Hai Giả, bà Năm Liên và nhiều ngư dân lấm lem đất cát đang trên đường về nhà sau một ngày lao động.

Người thì hớn hở với mấy con cá to đùng giăng được, người khác lại nghiêng thùng khoe mớ cua ốc nhặt trong các vũng nước đọng lại trên bãi biển.

Vài năm gần đây khi con đường ra cồn Bửng được khai thông, vào mùa khô khách du lịch các nơi rục rịch đổ về cồn Bửng để tắm biển và tham quan bãi ốc viết.

Nhà nghỉ, quán ăn đã dựng lên. Nhưng bên cạnh không gian náo nhiệt do khách phương xa tạo ra đó, nhiều ngư dân cồn Bửng vẫn lặng lẽ mưu sinh như bao năm dài vẫn vậy.

Theo Hội Nghề cá tỉnh Bến Tre, vùng cửa sông Hàm Luông hiện tại có chiều dài khoảng 20km tính theo đường chim bay, chỗ hẹp nhất 1,73km, chỗ rộng nhất 10km (khu vực cửa sông đổ ra biển), bao gồm tám xã: Mỹ An, An Điền, Thạnh Phong, Thạnh Hải (huyện Thạnh Phú), An Hiệp, Hiệp Đức, An Hòa Tây, An Thủy (huyện Ba Tri), với hơn 18.000 hộ, 81.000 người, trong đó khoảng 85% sống bằng nghề cá.

TẤN ĐỨC

Cửa Tiểu không còn như xưa

đăng 02:55, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chưa làm “biến mất” một dòng sông, nhưng thời gian qua nhiều cồn bãi có diện tích lớn đã và đang hình thành nơi cửa sông Cửa Tiểu.

Cửa Tiểu nhìn từ phà Đèn Đỏ - Ảnh: Tấn Đức


Robinson cồn Ngang

“Thủy triều ở đây lên xuống nhanh lắm, chậm một chút sẽ mắc cạn, không ra tới cồn Ngang được đâu” - anh lính biên phòng nói át tiếng máy rồi tăng ga cho chiếc ghe bứt lên.

Không đầy nửa giờ sau, chúng tôi đã đặt chân lên bãi cát mịn còn in dấu “công trình” do đám dã tràng tạo ra.

Tiếp tục đi bộ băng qua mấy dãy rừng bần, rừng dương, trụ sở làm việc của Đội kiểm soát biên phòng cồn Ngang hiện ra.

Thật bất ngờ khi thấy vườn rau xanh, bể chứa nước mưa, thêm đàn heo rừng vài chục con chạy loanh quanh trong chuồng.

Càng vui hơn khi biết nơi đây đã có điện năng lượng mặt trời và sóng điện thoại di động.

Không chỉ vậy, tỉnh Tiền Giang đang kêu gọi đầu tư làm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng chất lượng cao trên dải đất dài hơn 5,5km, tổng diện tích trên 1.600ha và vẫn đang không ngừng mở rộng về phía đất liền.

Tiềm năng du lịch của cồn Ngang đang được đánh thức, nhưng những ai đã từng gắn bó với Cửa Tiểu không khỏi giật mình trước những biến đổi thiên tạo.

Thiếu tá Nguyễn Thái Dũng (45 tuổi), một trong những người lính biên phòng đầu tiên làm nhiệm vụ ở cồn Ngang, nhớ lại: “Từ thập niên 1980, người dân sinh sống ở Cửa Tiểu đã nghe những tiếng gầm gừ rất lạ từ biển khơi vọng vào mỗi khi thủy triều rút. Người ta lý giải âm thanh đó là tiếng sóng biển va vào bãi cát ngầm của cồn Ngang đang nhô dần lên”.

Khoảng giữa năm 1992, ở tuổi 22, Dũng cùng một chiến sĩ được giao nhiệm vụ ra cồn Ngang bảo vệ an ninh biển và giúp đỡ, hướng dẫn ngư dân vào bờ trú tránh bão.

“Đã biết trước sẽ như Robinson trên hoang đảo, nhưng chúng tôi vẫn mất không ít thời gian để quen với hoàn cảnh sống mới, bởi cồn Ngang bấy giờ chỉ như vạt đất dài giữa biển hoang lạnh, rất ít cây và gần như chìm trong nước mỗi khi triều lên” - thiếu tá Dũng kể tiếp.

Rồi anh đùa: Đặc sản ở cồn Ngang hồi ấy là cát. Làm gì cũng gặp cát, ăn cơm cũng ăn chung với cát. Nước ngọt thiếu thốn vô cùng, chỉ để dành nấu cơm và uống, còn mọi sinh hoạt khác đều bằng nước mặn.

Tới cao điểm mùa biển động (khoảng tháng 9 đến tháng 10), ngư dân ít ra khơi. Có hôm khát nước đến khô họng, không còn nước uống, anh em tụi tôi phải lấy dưa gang ngư dân cho để ăn cho đỡ khát. Rồi một sự kiện khó quên xảy đến.

“Đó là một ngày đầu tháng 10 - 1992, thời tiết đột ngột xấu, gió cấp 7-8 quật liên hồi kèm theo mưa lớn, nước dâng nhanh ngập đến ngang thắt lưng. Bộ đàm đã mất liên lạc từ lúc trời mới mưa nên chúng tôi hoàn toàn bị cô lập giữa biển nước, chỉ còn biết ôm trụ chòi cầm cự trong những đợt sóng ngày càng lớn” - thiếu tá Dũng nhớ lại.

Qua một đêm, liệu bề khó trụ được, Dũng đành bảo đồng đội: “Bỏ chòi, tìm bập dừa mà bám”. Liền sau đó, căn chòi đã bị dông gió cuốn đi.

Ban đầu Dũng còn tỉnh, cố gắng căng mắt tìm tàu đi ngang để kêu cứu. Rồi anh ngất đi, tay vẫn bám chặt thân dừa. Khoảng 17g hôm ấy, người dân xã Thừa Đức, huyện Bình Đại, Bến Tre (địa bàn giáp ranh Tân Phú Đông) thấy có người bám lặc lè trên thân dừa dạt vô bờ thì xúm lại cứu.

Sau năm tiếng trôi trên biển, Dũng và đồng đội đã được cứu sống. Nghỉ ngơi hai ngày, anh lại tiếp tục ra cồn Ngang làm nhiệm vụ.

Anh cùng ngư dân dựng lại chòi khác, cao như chòi canh nghêu (cỡ 5m), làm lại bếp núc vì tất cả đồ đạc đã trôi hết. Nhắc chuyện cũ, anh lại cười: “Lúc đó gia đình tôi nghe người dân kể loáng thoáng tưởng tôi đã chết, cuống cả lên...”.

Thiếu tá Nguyễn Thái Dũng (bìa trái), người gắn bó với cồn Ngang nhiều năm - Ảnh: nhân vật cung cấp


Cửa Tiểu bây giờ

Nhiều năm gắn bó với vùng đất nơi cửa sông, ông Sáu Tràm (72 tuổi, ở ấp Đèn Đỏ, xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông) đã chứng kiến bao thăng trầm, biến chuyển của thiên tạo.

“Ngày trước Cửa Tiểu hẹp hơn bây giờ nhiều. Để định vị cho tàu thuyền, người ta đã làm một cột hải đăng ở bờ bắc, thuộc xã Tân Thành, huyện Gò Công Đông.

Trụ đèn cao cả chục thước, được dựng trên trụ sắt vững chãi, nhưng do sạt lở đã sụp mất xuống biển. Từ mé bờ bây giờ ra đến trụ đèn ấy tới nửa cây số chứ chẳng chơi” - ông Sáu Tràm kể.

Trụ đèn đỏ không còn, cả một khu vực rộng lớn bờ bắc Cửa Tiểu, thuộc hai ấp Tân Phú, Cầu Muống (xã Tân Thành) cũng đang bị sạt lở nặng, làm biến dạng cả một đoạn bờ hơn 3km, có nơi tiến sát vào đê biển ngăn mặn cho cả vùng Gò Công.

Vậy nhưng địa danh Đèn Đỏ vẫn được truyền lưu khi nó trở thành tên hành chính quy tụ nhiều cư dân làm nghề biển khắp nơi tìm về.

Và tại đây đã có lúc người ta lại thắp đèn dầu đỏ rực một vùng quê biển để lấy ánh sáng cân đong, phân loại cá tôm mỗi khi tàu thuyền cập bến. Bây giờ thì tất cả đã lùi xa, nhường chỗ cho đèn điện sáng choang.

Trong khi đó phía bờ nam Cửa Tiểu, thuộc xã Phú Tân, huyện cù lao Tân Phú Đông, nơi ông Mười Rớt (65 tuổi) sinh ra lại được bồi tụ liên tục.

“Trước đây đuôi cù lao Tân Phú Đông rất gần với lũy Pháo Đài (xã Phú Tân), nhưng về sau đã bồi tụ, lấn dài ra biển hàng mấy cây số khiến cho vùng đất này có thời gian hoang hóa, đất đai mênh mông nhưng không làm gì được.

Đến khi Nông trường Phú Đông rồi sau này là huyện Tân Phú Đông thành lập (năm 2008), tiến hành khai hoang, làm đê ngăn mặn, đắp đường giao thông, người dân các nơi mới về khai hoang, lập nghiệp ngày càng đông đúc, tạo nên những xóm dân cư như bây giờ” - ông Mười Rớt nhớ lại.

Nhà sưu khảo Phan Thanh Sắc (79 tuổi), cựu hiệu trưởng Trường trung học Hòa Tân (tỉnh Gò Công), một trong những nhân chứng sống của cuộc biến thiên nơi Cửa Tiểu, kể thêm: “Thời phong kiến, triều đình nhà Nguyễn đã cho xây dựng ở cửa sông này nhiều đồn, bảo để kiểm soát, thu thuế tàu thuyền, đồng thời phòng bị, ngăn chặn tàu chiến của Pháp qua đây để đánh chiếm Mỹ Tho, trong đó có cản hàn bằng đá hộc, cọc gỗ nhọn hoắt ngay Cửa Tiểu, mà sau này dân gian vẫn gọi là đập đá hàn.

Điều đó cho thấy Cửa Tiểu từng có một vị trí rất quan trọng trong lịch sử phát triển của vùng đất Tây Nam bộ. Nhưng bây giờ dường như vai trò ấy đã không còn. Người ta nhắc nhiều hơn tới những luồng tàu qua sông Hậu!” - ông Phan Thanh Sắc nhìn nhận.

Nhiều cồn bãi có diện tích lớn đang hình thành

Báo cáo của Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam về tình hình xói lở, bồi tụ ven biển Nam bộ cho biết đoạn bờ biển nằm giữa sông Cửa Tiểu và Cửa Đại được bồi tụ rất mạnh, tốc độ bồi tụ trung bình trên 100m/năm, tính từ năm 1965 đến 1989 bờ đã được bồi ra khoảng 3km.

Từ năm 1989 đến nay đã xuất hiện cồn Nổi (cồn Cống) phía Cửa Tiểu, cách đường bờ cũ khoảng 2,7km và liên tục phát triển về phía bờ, đến thời điểm hiện tại cồn Nổi đã gắn liền với cù lao Tân Phú Đông.

Trong khi đó, khảo sát thực tế của tỉnh Tiền Giang cũng cho thấy ngoài cồn Nổi và cồn Ngang, gần đây đã xuất hiện bãi Vượt cách bờ khoảng 10km. Bãi có chiều dài lên tới 10km, ngang 3km, chỉ nổi lên khỏi mặt nước khi triều xuống.

TẤN ĐỨC - YẾN TRINH

Đổi đời ở cửa Trần Đề

đăng 02:48, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Khi chưa có cảng, Trần Đề là xóm ngụ cư của những gia đình làm nghề đóng đáy và nghề lưới, phần đông là hộ nghèo nhưng bậy giờ thì đã đổi khác.

Một góc khu thị tứ bên cảng cá Trần Đề - Ảnh: Tấn Đức


Ông Trần Văn Niên, cựu trưởng ban nhân dân tự quản ấp Cảng (thị trấn Trần Đề), nhớ lại: “Hồi trước, khi chưa có cảng, nơi đây là xóm ngụ cư của những gia đình làm nghề đóng đáy và nghề lưới, phần đông là hộ nghèo, làm ăn nhỏ lẻ, chưa có phương tiện công suất lớn để ra khơi xa. 

Nhưng bây giờ thì đã đổi khác, nhiều ngư dân trong tay có cả chục chiếc tàu, làm ăn khấm khá, cất được nhà lầu ba, bốn tầng”.

Đó là những gì đang diễn ra ở cảng cá Trần Đề, một điểm sáng nghề biển ở bờ nam cửa sông Trần Đề (huyện Trần Đề, Sóc Trăng).

Từ cửa Trần Đề đến cảng Trần Đề

8g sáng, chợ Kinh Ba hiện ra không khác gì một thị tứ sầm uất miệt biển, với những căn nhà rộng, dài, cao ba, bốn tầng. Dãy ghe thuyền, ken chật khúc sông từ cầu Kinh Ba (đường Nam Sông Hậu) ra tới cửa sông Trần Đề từ tối hôm trước, đã nổ máy ra khơi tự lúc nào.

Khu vực quanh cảng cá chỉ còn khoảng ba, bốn chục chiếc ghe neo đậu cách xa nhau, có cả ghe đánh bắt cá cơm, giàn đèn công suất lớn của ngư dân Bình Thuận cùng những chiếc thuyền thúng úp sụp hai bên.

Vài phụ nữ đội nón lá cắm cúi trở bề cá khô trên giàn, vài người nữa mời khách qua đường mua mấy món hàng khô của họ bày bán gần đó. Cuộc sống êm trôi, nhường lại nhọc nhằn bão tố cho những người đàn ông đang lu bù với lưới với ghe ngoài biển xa.

Theo dòng hồi tưởng của ông Ba Thành - chủ đội tàu đánh bắt xa bờ ở ấp Cảng, thị trấn Trần Đề, hơn chục năm trước nhà cửa ở đây còn thưa lắm. Để gầy dựng khu thị tứ này, Nhà nước đã tiến hành cấp đất cho ngư dân.

Các chủ ghe, tàu đi biển được cấp mé trước, ven bờ Kinh Ba để tiện cho việc vận chuyển sản phẩm. Phần đất liền kề theo phía sau được cấp cho ngư phủ, chuyên làm công ăn chia sản phẩm với chủ ghe.

Vậy là khu dân cư miệt biển của ngư dân tứ xứ đổ về bám biển mưu sinh nhanh chóng định hình.

Rồi nghiệp đoàn đánh bắt hải sản - tổ chức nghề nghiệp của ngư dân - cũng ra đời. “Tiếng nói” của người đi biển không còn đơn lẻ nữa. Con cá, con tôm không lo bị ép giá. Dân mới đi ghe chưa có mối mang, đã có nghiệp đoàn hỗ trợ. Những ngư phủ bán sức lao động trên những ghe tàu có nơi tập trung để dễ bề thuê mướn...

“Trước đây người dân đi đánh bắt về nhà nào đậu ở phía sau nhà đó, vậy nên chuyện mua bán cũng tự bắt mối, tự định giá, “tự xử”. Còn bây giờ ghe vô chưa tới bờ đã gọi điện khắp nơi, giá cả, mối mang đã có sẵn hết trơn, thuận mua vừa bán. Khỏe ru” - một chủ ghe vừa tấp vào cảng để lên hàng phấn khởi cho hay.

Đổi thay trong cung cách mua bán là bước khởi đầu cho những cuộc làm ăn lớn. Tại ấp Cảng, có những chủ tàu đã dám đầu tư hàng chục tỉ đồng để đóng mới đội tàu 20 - 30 chiếc, toàn công suất lớn để ra xa bờ hơn.

Kèm theo đó là các dịch vụ hậu cần: thu mua sản phẩm, cung ứng nhiên liệu, lương thực, thực phẩm tận ngư trường để giảm chi phí đi lại, kéo dài thời gian khai thác trên biển cho ngư dân.

Lớp chủ tàu thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba cũng khó mà đếm xuể. Như gia đình anh Nguyễn Văn Na đi biển cha truyền con nối, đến nay anh đã sắm sửa được hai ghe đánh bắt xa bờ trị giá hơn 4 tỉ đồng, bỏ lại sau lưng cái thời đi ghe lưới quàng, đánh bắt ven bờ, năng suất chẳng bao nhiêu. “Nếu có tiền, tui sẽ tiếp tục đầu tư một cào đôi, cho bạn đi ăn chia” - anh Na cho hay.

Từ ngư phủ, ông Nguyễn Văn Thơ đã vươn lên làm chủ hai chiếc tàu cá đánh bắt xa bờ - Ảnh: Tấn Đức


Ước mơ đời ngư phủ

Ông Năm Thơ (59 tuổi), ở ấp Cảng, nhớ lại buổi đầu khởi nghiệp cách đây hơn 30 năm, bằng việc đi bạn cho tàu cá của người bác ruột.

“Thời đó ra biển không có máy định vị, cũng không có máy tầm ngư hay điện thoại di động như bây giờ, mà chủ yếu nhờ vào kinh nghiệm, có khi đi thì khí thế, về được một nhúm cá” - ông Năm Thơ kể.

Mấy ngày đầu ông bị sóng quật tả tơi, nhưng vẫn quyết bám trụ, chứ không thì vợ con ở nhà bị đói. Thấy ông say sóng, người bác đâm lo, định trả ông về đất liền, nhưng ông kiên quyết: “Say sóng không chết được đâu, bác đừng lo, cứ cho cháu theo học nghề”.

Dần dà ông trở thành ngư phủ, rồi tài công, thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm. Mỗi chuyến đi biển 2 - 3 tuần ông được chia bảy, tám trăm ngàn, có khi cả triệu đồng. Đó là số tiền rất lớn, vì lúc ấy tuy thiếu phương tiện nhưng nghề biển thường trúng đậm, cá bán cũng được giá hơn bây giờ.

Nhờ vậy, sau mười mấy năm đi bạn, ông Thơ đã tích lũy được hơn 30 lượng vàng, tách ra đóng cho riêng mình một chiếc ghe nhỏ. Rồi từ ghe chuyển lên tàu, trang thiết bị hiện đại hơn để vươn ra xa bờ.

Tích cóp dần, đến giờ trong tay ông đã có hai chiếc tàu lớn, mỗi chiếc trị giá hàng tỉ đồng, trang bị đầy đủ phương tiện hiện đại, một chiếc giao cho con trai, chiếc còn lại thuê tài công, bạn lưới, ông ngồi nhà điều khiển công việc từ xa qua điện thoại di động. Khi chúng tôi đang ngồi chuyện trò, người con trai của ông từ ngoài biển gọi về thông báo tình hình.

Nghe xong ông khoe: “Nó nói ở ngoải êm lắm, trúng luồng cá, sắp đầy ghe rồi, ít bữa nữa vô”. Câu chuyện từ ngư phủ trở thành chủ tàu của ông Năm Thơ được nhiều ngư dân ở cảng Trần Đề nhắc tới với lòng ngưỡng mộ.

“Dân làm nghề biển kiêng kỵ nhất là chuyện ngay trước lúc xuất hành, ai đó vui miệng chúc chuyến đi bình an, thuyền đầy ắp cá.

Nhưng trong thâm tâm chúng tôi luôn cầu mong cho “bà cậu” độ đi mau về mau, trúng đậm vài chuyến đặng còn sắm sửa ghe tàu để được đổi đời như ông Năm Thơ” - ông Út Hồng, một ngư phủ quê ở Chợ Gạo (Tiền Giang), nói.

Đó cũng là ước ao của nhiều ngư phủ đang ngồi trên sạp tàu trong khu neo đậu, chờ chia tiền sau chuyến ra khơi.

Họ là dân tứ xứ, từ Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau tới Quảng Ngãi, Bình Định... phần lớn tuổi đời còn khá trẻ, nhưng nhiều người đã có cả chục năm gắn bó với nghề.

Theo nhiều ngư phủ, bình quân mỗi chuyến đi biển chừng 20 ngày, trừ tiền dầu, tiền ăn, tiền nước đá ướp cá, mỗi người được chủ ghe chia khoảng 7 - 8 triệu đồng.

Nếu gặp luồng cá, thời gian đi biển rút ngắn còn phân nửa, trong khi thu nhập tăng gấp đôi, gấp ba. Bởi vậy, nghề đi bạn với những niềm vui bất ngờ, đôi khi lại có hấp lực thu hút cả ngàn lao động tìm về nơi cảng cá thuộc loại lớn nhất miệt Tây Nam bộ!

Chiều muộn, chuyến đò ngang từ cù lao Dung băng qua cửa biển Trần Đề, cặp bến sát bên cảng cá, khiến thị tứ nơi cửa biển càng trở nên rộn rịp hơn.

Vùng đất một thời mang tên Kinh Ba - Bãi Giá (nơi mọc nhiều cây giá), gợi tưởng sự xa xôi, cách trở đang đổi thay từng ngày kể từ khi có cảng cá Trần Đề, có quốc lộ 91C (đường Nam Sông Hậu) thênh thang chạy qua.

Thị trấn Trần Đề hiện có gần 400 tàu khai thác hải sản, tập trung ở ấp Cảng, trong đó 263 chiếc đánh bắt xa bờ (công suất 250 CV trở lên), mỗi năm thu về khoảng 30.000 tấn sản phẩm.

“Đa số hộ gia đình sống bằng nghề biển ở đây kinh tế khá ổn định, nhưng việc đánh bắt xem ra ngày càng đòi hỏi sự đầu tư lớn hơn, bởi đánh bắt theo kinh nghiệm dân gian, đánh bắt gần bờ không còn trúng như trước đây” - ông Trần Văn Niên cho hay.

TẤN ĐỨC - YẾN TRINH

Ba Lai - chia hai mặn ngọt

đăng 02:40, 3 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Sông Ba Lai chảy qua bốn huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Bình Đại và Ba Tri (Bến Tre), tổng chiều dài khoảng 55km.

Những con rạch phía ngoài cống đập Ba Lai thuộc xã Tân Xuân, huyện Ba Tri thường xuyên cạn kiệt do bồi lắng nhanh - Ảnh: Ngọc Tài


Hơn mười năm trước, người ta đã xây cống đập Ba Lai chắn ngang dòng sông. Từ đấy cuộc sống của người dân bắt đầu thay đổi...

Đổi khác một vùng rừng ngập mặn

Những năm đầu thập niên 1970, hạ nguồn sông Ba Lai là ranh giới của hai huyện, hữu ngạn là huyện Bình Đại, tả ngạn là huyện Ba Tri. Tuy chỉ ngăn cách một con sông nhưng thổ nhưỡng lại hoàn toàn khác.

Phía bờ huyện Ba Tri là những cánh đồng trù phú, mênh mông một dãy. Người dân chủ yếu tận dụng nguồn nước biển làm muối. Phía bên kia sông thuộc huyện Bình Đại lại là những vạt rừng ngập mặn xanh ngắt.

Nhà báo Hàn Vĩnh Nguyên (Bến Tre) từng có hai năm “nằm vùng” tại rừng ngập mặn thuộc bốn xã Bình Đại, Thạnh Phước, Thới Thuận, Thừa Đức (huyện Bình Đại) kể trước đây vùng đất này trời ban tôm cá “nhiều như nước sông”.

Chỉ cần ra các con tắc (kênh rạch nhỏ) chờ nước rút lội xuống mò một chút là cá, cua đủ cho cả xóm ăn! “Có lần đi công tác với anh Thanh Liêm khi ấy là chánh văn phòng Huyện ủy Bình Đại, thấy nước cạn anh em rủ nhau giăng lưới.

Mới thả một tay lưới chừng hơn chục thước, quay lại gỡ cá mỏi tay vẫn chưa hết. Thế là cả cơ quan có một bữa cá đuối no nê” - ông Nguyên nhớ lại.

Bây giờ những vạt rừng trong ký ức của nhà báo Vĩnh Nguyên đã thành những vườn dừa, vuông tôm thẳng tắp. Cuộc khai khẩn bắt đầu mạnh mẽ từ sau khi đập Ba Lai hình thành (năm 2002).

Công trình nằm sừng sững, uy nghiêm hiện hữu đã hơn một thập niên qua chứng kiến bao đổi khác của mảnh đất cù lao An Hóa và cù lao Bảo.

Dòng nước cuộn tròn phù sa hay những lượt ghe tàu chở sản phẩm nhà vườn tấp nập nối đuôi nhau vào ra cửa Ba Lai ngày nào giờ chỉ còn là ký ức của nhiều người dân sinh sống hai bên bờ sông này. Thay vào đó, sông Ba Lai giờ trôi yên ả, hiền hòa như chính con người nơi đây.

Ông Hà Văn Vĩ (Hai Vĩ, 82 tuổi), ngụ xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại) chìa đôi bàn tay sần sùi và đôi bàn chân vàng ngoét cả 10 ngón, miên man kể về sự đổi khác của một vùng quê:

“Cảnh vật bây giờ đã khác xưa nhiều lắm rồi. Hồi trước cây mắm mọc khắp nơi. Bước chân ra khỏi nhà là phải đùm cơm và muối hột theo để khi nào đói thì ăn chớ quay về coi như mất nửa buổi. Ngày đi khai hoang tối về dụm lửa nấu cơm, gian khó kể sao cho hết” - ông Hai Vĩ nhớ lại.

Rồi cũng như bao nông dân khác trong vùng, ông Hai Vĩ đào ao, lên liếp để sáu tháng mùa khô nước mặn theo cửa Ba Lai lấn sâu vô ông nuôi cua biển, thả tôm thiên nhiên.

Sáu tháng mùa mưa, nước ngọt từ thượng nguồn sông Ba Lai về nhiều, đẩy lùi nước mặn thì ông trồng bầu, bí, rau màu các loại. Chịu khó chuyển đổi thời vụ nuôi trồng theo tự nhiên gia đình ông cũng đủ ăn, đủ xài. Cho tới ngày con đập Ba Lai hình thành...

“Người dân chúng tôi thật sự được giải cơn khát ngọt! Từ sáu tháng mặn giờ chỉ còn 1-2 tháng (vào thời điểm cận Tết Nguyên đán, khi nước mặn men theo kênh nhánh từ sông Hàm Luông thông qua), nên không còn phải nặng lo cảnh thiếu nước sinh hoạt. Việc trồng trọt có thể diễn ra liên tục, sướng bụng lắm” - ông Hai Vĩ khoe.

Chưa hết, nước ngọt về nhiều, vườn dừa của ông trở nên sung mãn đến lạ. Rồi như để chứng minh, ông Hai Vĩ dẫn chúng tôi ra sau vườn, gọi người cháu dùng móc “giật” mấy quả xuống đãi khách.

“Dừa khô lên giá, chủ vườn lên đời. Nhờ trúng mùa, trúng giá mà không ít gia đình đã có nhà cửa tươm tất, lo cho con cái học hành đàng hoàng” - ông Hai Vĩ khoe.

Cống đập Ba Lai - Ảnh: Ngọc Tài


Cơn khát mặn - ngọt

Dù đập Ba Lai đã và đang mang lại lợi ích cho số đông người dân, nhưng nó cũng sinh ra một cơn “khát mặn” âm ỉ trong nhiều năm qua.

Dạo giá tôm sú, tôm thẻ chân trắng tăng theo chiều thẳng đứng, có khi năm sau cao gấp đôi năm trước, nhiều nông dân như “ngồi trên đống lửa”, chỉ muốn phá hết vườn tược, đào ao nuôi tôm.

Thực tế cho thấy chỉ một vài năm trước đây thôi, bất chấp “lệnh cấm” nuôi thủy hải sản nước mặn trong vùng ngọt hóa, người dân vẫn đào hàng ngàn ao với tổng diện tích hơn 1.000ha để nuôi tôm.

Đi liền theo đó, người ta cũng âm thầm khoan trái phép hàng ngàn cây nước để lấy nguồn nước mặn phục vụ nuôi trồng. Rồi cơ quan chức năng siết việc nuôi trồng theo quy hoạch.

Khắp các làng quê của ba huyện về Ba Tri, Bình Đại, Giồng Trôm (Bến Tre), đi đến đâu cũng nghe người ta bàn tán, lo lắng vì thời hạn Nhà nước cấm nuôi tôm đang đến gần trong khi lợi nhuận từ con tôm vẫn như một giấc mơ đổi đời với nhiều nhà vườn.

Có người còn ví von rằng ba đời trồng dừa không bằng một vụ tôm trúng giá.

Thế rồi do phát triển “nóng” quá, không riêng gì người dân nuôi tôm ở Bến Tre đã phải nếm trái đắng vì giá tôm lên xuống thất thường, dịch bệnh phát sinh ngoài tầm kiểm soát.

Từ chỗ phất lên làm giàu như diều căng gió, nhiều chủ vuông thở dài thườn thượt: Nuôi tiếp không được mà lấp ao cũng chẳng xong, vì hễ dấn vô nuôi thì sợ lỗ, sợ phạt mà lấp ao thì không đủ tiền.

Việc chuyển đổi kinh tế từ mặn sang ngọt xem ra trở thành bài toán khó giải. Ông Lê Văn Em, đại biểu HĐND tỉnh Bến Tre, tặc lưỡi chia sẻ:

“Giờ mười người nuôi chỉ có hai người lời, ba huề và năm người lỗ đứt đường. Hồi trước chính quyền các cấp ra sức cản ngăn nhưng người dân bất chấp, giờ họ mới hiểu”.

Chưa hết, do hiện tượng bồi lắng nhanh làm cản dòng chảy nên tình trạng thiếu nước ngọt đang có dấu hiệu tái phát, nhất là khu vực phía dưới đập Ba Lai. Hơn 20.000 đồng/m3 nước ngọt là số tiền mà hàng trăm hộ dân của xã Tân Xuân và Bảo Thạnh (huyện Ba Tri) nhiều khi phải gồng gánh giờ tiếp diễn trở lại.

“Từng gáo nước ngọt đều được tính bằng tiền nên định kỳ mỗi tháng hai bận (giữa và cuối tháng), đập Ba Lai xả nước ngọt là người dân khát ngọt phía hạ nguồn vui như tết vì được tắm gội thoải mái” - ông Ba Độ, ngụ xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, cho biết.

Rồi ông Độ đưa chúng tôi ra sau nhà, chỉ vào một đoạn kênh gần đập Ba Lai, nói:

“Từ ngày đập Ba Lai hình thành, con kênh này cũng thường kiệt nước hơn vì tốc độ bồi lắng rất dữ. Nhớ lúc chưa có đập, chỉ cần lội ra chừng chục thước là nước lút đầu. Bây giờ cũng lút đầu nhưng không phải nước mà là sình nhão”.

Thời thế là vậy nhưng ông Ba Độ tỏ ra an nhiên: “Tùy cơ ứng biến thôi, đất bồi thì người ta nuôi sò. Ngó vậy mà tiền không đó...”.

Cống đập Ba Lai chắn ngang dòng sông Ba Lai, cách cửa biển khoảng 10km, được khởi công vào tháng 1-2000, hoàn thành tháng 4-2002. Đây là một trong chín hạng mục của dự án ngọt hóa vùng Bắc Bến Tre, với tổng kinh phí dự toán trên 1.200 tỉ đồng.

Theo quy hoạch, dự án có nhiệm vụ cung cấp nước sinh hoạt, ngăn mặn, giữ ngọt, tạo nguồn ngọt, tiêu úng, tiêu chua, rửa phèn, cải tạo khoảng 115.000ha đất tự nhiên, trong đó 88.500ha đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản của các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành và TP Bến Tre.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại nhiều hạng mục khác vẫn chưa hoàn thiện, có thời điểm nước mặn vẫn theo một số kênh nhánh thông với sông Mỹ Tho và sông Hàm Luông đi vào sông Ba Lai, rồi ngược ra phía biển nên Ba Lai bị nhiễm mặn.

NGỌC TÀI - TẤN ĐỨC

1-10 of 20