Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Phong thủy linh thiêng của ngọn núi giúp Phú Yên thành "địa linh nhân kiệt" Quan sát từ các hướng khác nhau, hình nón cân đối của núi Chóp Chài ở Tuy Hòa không thay đổi nhiều. Đặc điềm này khá giống núi Phú Sĩ ...
    Được đăng 04:37, 9 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy Trong bài vọng cổ Tình anh bán chiếu có câu:Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra ...
    Được đăng 19:59, 5 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Anh đi đâu về? Anh vừa đi chơi đâu về?Tui ra đảo Bình Ba ở Nha Trang. Còn anh?Tui tới thác Pongour ở Đà Lạt.Đố bạn đoạn đối thoại trên có ...
    Được đăng 02:27, 13 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nghĩ chuyện bâng quơ Địa danh là gì hở bạn?Cứ từng chữ mà giải thích ra thì địa danh là tên đất, cũng như nhân danh là tên người. Còn chi tiết hơn ...
    Được đăng 01:56, 8 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nghĩa tên gọi "Châu Đốc" là gì? Xin sơ lược trình bày tình hình tra cứu như sau:1- Gia Định Thành Thông Chí (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức (THĐ) là sách đầu tiên chép về tên ...
    Được đăng 04:54, 5 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Phong thủy linh thiêng của ngọn núi giúp Phú Yên thành "địa linh nhân kiệt"

đăng 04:37, 9 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Quan sát từ các hướng khác nhau, hình nón cân đối của núi Chóp Chài ở Tuy Hòa không thay đổi nhiều. Đặc điềm này khá giống núi Phú Sĩ, biểu tượng của đất nước Nhật Bản. Đây cũng là một ngọn núi thiêng theo quan niệm phong thuỷ của người xưa. 

Nằm ở địa phận phận xã Bình Kiến, ngoại ô thành phố Tuy Hòa, núi Chóp Chài là một thắng cảnh nổi tiếng của mảnh đất Phú Yên

 

Núi có chiều cao 363 mét, nổi lên giữa vùng đồng bằng Tuy Hòa bằng phẳng. Chu vi quanh chân núi là 10 km

 

Nhìn từ xa, núi Chóp Chài có hình nón, trông tựa như một kim tự tháp khổng lồ

 

Quan sát từ các hướng khác nhau, dáng vẻ cân đối của ngọn núi không thay đổi nhiều

 

Đặc điềm này của núi Chóp Chài khá giống núi Phú Sĩ, biểu tượng của đất nước Nhật Bản

 

Theo các nhà khoa học, đây là ngọn núi trẻ, căn cứ theo cấu tạo địa chất so với toàn vùng thì không có liên hệ gì với dãy Trường Sơn

 

Hàng triệu năm trước, núi Chóp Chài từng là đảo đá giữa biển, sau này do những chấn động địa chất và phù sa bồi lắng mà khu vực quanh núi trở thành đồng bằng

 

Căn cứ vào hình dáng và thế núi thì nó còn có tên khác là Quy Sơn (núi Rùa) hay hòn Cổ Rùa, bởi nhìn giống một con rùa đang thò cổ ra bò trên mặt đồng rộng

 

Theo quan niệm phong thuỷ của người xưa, sông Đà Rằng là con rồng uốn khúc, đầu ở thượng nguồn, đuôi vắt ngang qua làng Phước Hậu để giao nhau với núi Chóp Chài như con rùa khổng lồ vươn mình ra biển Đông. Thế đất Long Qui giao hoà này khiến Phú Yên là vùng địa linh nhân kiệt.

 

Có lẽ do ảnh hưởng từ quan niệm phong thủy trên mà quanh núi Chóp Chài có nhiều ngôi chùa cổ, có thể kể đến các chùa Hoà Sơn, Minh Sơn, Khánh Sơn, Bảo Lâm và chùa Hang

 

Trong lịch sử Việt Nam, núi Chóp Chài là địa danh gắn với nhiều sự kiện trong cuộc tranh giành quyền bính giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn

 

Thời kháng chiến chống Mỹ, nơi đây đã diễn ra một số trận đánh quan trọng quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam

 

Ngày nay trên núi còn có nhiều công trình viễn thông dân sự và quân sự

 

Trong tâm thức của người dân, núi Chóp Chài cùng với sông Ba đã trở thành biểu tượng quen thuộc của thành phố Tuy Hà và mành đất Phú Yên

Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy

đăng 19:59, 5 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong bài vọng cổ Tình anh bán chiếu có câu:


Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra... chào


và câu


Hỡi ôi, con sông Phụng Hiệp nó chảy ra bảy ngả, mà sao lệ của tôi nó cũng lai láng muôn dòng. 


Bạn thấy có gì lạ không? Ngã Bảy thì dấu ngã, còn bảy ngả thì dấu hỏi!


Tui nói thiệt nghe, hồi nào tui vẫn quen viết chữ Ngả với ý nghĩa là hướng đi bằng dấu hỏi. Thí dụ như: Mỗi người đi mỗi ngả, Đôi ngả chia ly, Đường đời trăm ngả... Nhưng khi viết ngã ba, ngã tư, ngã bảy... thì lại viết dấu ngã (chắc chắn cách viết này đúng, vì có rất nhiều địa danh mang dạng Ngã x, và được thấy viết dấu ngã trên rất nhiều văn bản, bảng tên đường, bảng hiệu...).


Chợ Ngã Bảy ở thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang


Rãnh rỗi, ngồi ngẫm nghĩ, tui thấy rằng trong cả 2 trường hợp trên chữ ngả hoặc ngã đều mang ý nghĩa là hướng đi. Tức là giống nhau! Mà đã giống nhau thì phải là cả 2 cùng dấu hỏi hoặc cùng dấu ngã chớ, sao lại một đứa dấu hỏi, một đứa dấu ngã? Đứa nào sai?


Lại tra từ điển. Hóa ra hai trường hợp đều đúng. Nếu là bảy ngả thì phải viết dấu hỏi, còn ngã bảy thì viết dấu ngã. Từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học) giải thích rõ thêm rằng: Ngã dùng trước từ chỉ số, chỉ chỗ có nhiều ngả đường, ngả sông tỏa đi các hướng khác nhau.


Như vậy, ngã ba, ngã bảy... viết dấu ngã vì theo sau nó là từ chỉ số.


Biết quy tắc vậy rồi, để khỏi sai chính tả rồi, nhưng nếu bây giờ ai cắc cớ hỏi tiếp: Sao lại quy ước sau chữ Ngã là từ chỉ số thì nó phải viết dấu ngã? thì tui... bí. Ai biết trả lời dùm đi?


Phạm Hoài Nhân

Anh đi đâu về?

đăng 02:27, 13 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

  • Anh vừa đi chơi đâu về?
  • Tui ra đảo Bình Ba ở Nha Trang. Còn anh?
  • Tui tới thác Pongour ở Đà Lạt.

Đố bạn đoạn đối thoại trên có gì sai?


Thác Pongour


Hầu như tất cả mọi người, kể cả các đơn vị tổ chức tour du lịch, đều gọi tour ra đảo Bình Ba là tour đi Nha Trang, tour chơi thác Pongour là tour Đà Lạt. Nhưng thật ra đảo Bình Ba đâu phải ở Nha Trang,  thác Pongour đâu phải ở Đà Lạt!


Về mặt địa lý hành chính, đảo Bình Ba thuộc thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa; thác Pongour thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Nghĩa là 2 địa điểm trên chả dính dáng gì tới Nha Trang hay Đà Lạt cả. Bản thân Nha Trang cũng chỉ là một thành phố của tỉnh Khánh Hòa, và Đà Lạt cũng chỉ là thành phố của tỉnh Lâm Đồng thôi.


Bình Ba


Sự nhầm lẫn này xảy ra là do danh tiếng của 2 địa điểm du lịch là Nha Trang và Đà Lạt quá lớn khiến người ta đánh đồng Nha Trang với tỉnh Khánh Hòa, Đà Lạt với tỉnh Lâm Đồng. Một địa điểm nổi tiếng ở đâu đó thuộc Lâm Đồng thì được gán ngay là ở Đà Lạt (thí dụ như sân bay Liên Khương ở Đức Trọng, Lâm Đồng chớ đâu phải ở Đà Lạt). Tương tự như vậy một địa điểm nổi tiếng ở đâu đó thuộc Khánh Hòa thì được gán ngay là ở Nha Trang (thí dụ như sân bay Cam Ranh ở Cam Ranh, Khánh Hòa chớ đâu phải ở Nha Trang).


Sự nhầm lẫn tương tự cũng xảy ra đối với những địa điểm khác khi mà tên tuổi của thành phố trực thuộc tỉnh quen thuộc hơn so với tên tỉnh, như Phan Thiết so với Bình Thuận, Phan Rang so với Ninh Thuận hoặc thậm chí Biên Hòa so với Đồng Nai. (Sự nhầm lẫn đối với cái tên Phan Rang lại càng lớn hơn nữa, thí dụ như người ta hay nói biển Ninh Chữ ở Phan Rang. Thật ra biển Ninh Chữ ở thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, còn Phan Rang thì... không hề là một địa danh hành chính, mà tên đúng của nó là thành phố Phan Rang - Tháp Chàm).


Những sự nhầm lẫn nói trên không gây tác hại gì, vì nó không khiến người ta... đi lạc, tuy nhiên nếu gọi tên và xác định địa điểm hành chính cho đúng vẫn hay hơn, phải không các bạn?


Cá biệt có một trường hợp gọi sai mà lại được ưa chuộng, yêu thích hơn gọi đúng - thậm chí, đối với nhiều người gọi như vậy mới là đúng. Đó là trường hợp Sài Gòn. Về mặt ní nuận, không tồn tại địa danh hành chính Sài Gòn mà chỉ có TPHCM, nhưng người ta nói đi Sài Gòn, sống ở Sài Gòn, dân Sài Gòn... Có  ai nói gọi vậy là sai hông nè?


Phạm Hoài Nhân

Nghĩ chuyện bâng quơ

đăng 01:56, 8 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Địa danh là gì hở bạn?


Cứ từng chữ mà giải thích ra thì địa danh là tên đất, cũng như nhân danh là tên người. Còn chi tiết hơn nữa, thì theo TS Lê Trung Hoa, địa danh có thể phân làm 4 loại:

  • Địa danh chỉ địa hình tự nhiên: tên sông, tên núi, tên thác, tên hồ... như núi Trường Sơn, sông Cửu Long...
  • Địa danh chỉ công trình xây dựng: cầu cống, chợ, đường phố... như cầu Chương Dương, chợ Bến Thành...
  • Địa danh chỉ đơn vị hành chính: xã, ấp. phường, quận, huyện, tỉnh...
  • Địa danh chỉ vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng, như vùng Bàn Cờ, khu Cầu Chữ Y...


Có cả khoa học nghiên cứu về địa danh, là địa danh học. Khoa học này tìm hiểu về phương thức đặt địa danh, cấu tạo của địa danh, nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh...


Ta có thể đến thăm anh Hai Ẩu, uống cà phê với anh Hai Ẩu chớ không thể tới thăm... cái tên của anh Hai Ẩu hay uống cà phê với cái tên của anh Hai Ẩu. Với cái tên Hai Ẩu, chỉ có thể tìm hiểu xem nó là bút danh hay nickname của thằng cha nào. 


Tương tự như vậy, ta không thể tới thăm một địa danh, chiêm ngưỡng một địa danh mà chỉ có thể tới thăm một địa điểm, chiêm ngưỡng một địa điểm. Với địa danh, việc thường làm là xét xem địa danh đó được đặt từ khi nào, do ai, ý nghĩa là gì...


Vậy mà bây giờ hàng lô hàng lốc bài báo viết về du lịch ghi tựa và nội dung kiểu như vầy: Những địa danh đẹp say lòng du khách tại..., 10 địa danh phải đến trong đời,... Có trang còn đặt hẳn một mục trên Menu là Địa danh nhưng thay vì nội dung trong mục đó là những bài tìm hiểu về nguồn gốc, ý nghĩa các tên sông núi, vùng miền... thì lại là giới thiệu về các danh lam thắng cảnh!


Chắc nhiều bạn sẽ nói tui khó chịu, ghi vậy thì... ai cũng hiểu mà! Ừa, chắc vậy. Chỉ tại tui khi đọc thì thấy nó hơi... bị ức chế nên nói ra vậy thôi, và cũng chỉ nói là nghĩ chuyện bâng quơ thôi mà!


Phạm Hoài  Nhân

Nghĩa tên gọi "Châu Đốc" là gì?

đăng 04:54, 5 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan


Xin sơ lược trình bày tình hình tra cứu như sau:

1- Gia Định Thành Thông Chí (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức (THĐ) là sách đầu tiên chép về tên sông tên đất ở Gia Định xưa (Nam bộ ngày nay) kể từ lúc người Việt ta đặt chân đến đây rồi dần dần làm chủ đến giờ. (Chắc chắn sách được chép vào đời vua Gia Long 1802 – 1820. Bởi sang đầu đời vua Minh Mạng vừa có chiếu cầu sách cũ THĐ đã kịp thời dâng lên).

Theo lời giới thiệu của viện Sử Học Việt Nam trong dịp ấn hành ra mắt GĐTTC vào năm 1998 các sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên Đại Nam Nhất Thống Chí Phần Nam Kỳ Lục Tỉnh do các sử gia triều Nguyễn soạn ra sau đó cũng phải dựa vào đây.

2-Theo đó về một vùng đất về một con sông về một cái đồn mà sau này tất cả chúng ta đều gọi là “Châu Đốc” thì THĐ đã chép vào sách của mình bằng hai chữ Hán đọc theo âm Việt là “ Chu Đốc”.( Chữ “Chu” này thuộc bộ Mộc.Chữ “Đốc” thuộc bộ Trúc).

Với hai chữ này xét về nghĩa căn cứ chặt chẽ vào tự dạng thì “Chu” là “sắc đỏ”.Còn “Đốc”có nghĩa là “Thuần hậu không pha tạp” (“Đốc tín” là “dốc một lòng tin”. “Đôn đốc” là “dốc một lòng chăm chỉ trung hậu”).

Vậy nghĩa của tên gọi “Chu Đốc” căn cứ vào tự dạng như trên đã nói là   “Thuần hậu không pha tạp sắc đỏ ” chăng?

Xin thưa không phải vậy.

Vấn đề khá lắc léo phức tạp.Xin trình bày rõ thêm như sau:

Năm 1757 Nặc Tôn một hoàng thân nước Cao Mên dâng đất Tầm-Phong- Long cho chúa người Việt có tên là Nguyễn Phúc Khoát (ông nội vua Gia Long).Đây là thời điểm toàn đất Nam Bộ ngày nay về mặt chánh thức người Việt ta kết thúc xong sự thu phục của mình.

Từ sự kiện này nơi mà ngày nay ta gọi “Châu Đốc” lần đầu tiên trở thành biên địa lãnh thổ của người Việt với nước Cao Mên. Hay cũng có thể nói ngược lại lúc này phủ Mật Luật đối diện bên nước Cao Mên bắt đầu trở thành khu vực giáp giới với đất “Chu Đốc”của người Việt.Về mặt hình dạng của đường biên hồi ấy khúc khuỷu quanh co trông giống “cái mỏ của con heo”.Người Khmer hai bên nhân đó gọi là “mỏ heo” .Tiếng Khmer có âm điệu là  Moọc-Churút.Khi người Việt ta tới đây sinh sống chung lộn với người Khmer cũng dựa vào người bản xứ mà gọi là Moọc-Churút theo.

65 năm sau, vào đời Gia Long.Moọc-Churút bị nói trại đi .Không biết sai chạy đến mức nào, tuy nhiên khi lọt tới tai Trịnh Hoài Đức ông đã dùng hai chữ Hán “Chu Đốc” để phỏng chú cho cụm âm thanh có nguồn gốc thổ ngữ  Khmer này.Do vậy hiện nay nếu cần giải thích nghĩa tên gọi “Châu Đốc” là gì bắt buộc phải đặt đối tượng vào lại bối cảnh lịch sử này.Và tất nhiên “Chu Đốc” chỉ có thể mang nghĩa là “mỏ con heo”.Nói chính xác hơn do đã “rơi” mất thành tố âm ngữ “Moọc” ở phía trước chỉ còn lại “Churút” nên nghĩa của nó theo đó chỉ còn là “Con Heo” mà thôi.

Nhưng chiếu theo tự dạng như trên đã nói đọc là “Chu Đốc” sao hiện nay lại trở thành “Châu Đốc” ?

Theo tôi điều này không lấy gì làm khó hiểu. Hồi ấy ông sơ của vua Gia Long tên Nguyễn Phúc Chu.Mọi người đành kỵ úy đọc chữ “Chu” thành “Châu”.“Chu Đốc” từ đó biến thành “Châu Đốc”.Không thể nói nghĩa của chữ “Châu” ở đây là “đất” hay “một khu vực lãnh thổ…” được. Bởi trong sách GĐTTC của THĐ không hề viết là “Châu” thuộc bộ Xuyên để có thể giải thích nghĩa như trên.Thậm chí giả dụ có là chữ “Châu” thuộc bộ Xuyên đi nữa cũng  vẫn không thể giải nghĩa nó là “một khu vực lãnh thổ…”.Vì hai chữ Hán trong sách GĐTTC nói trên  chỉ làm nhiệm vụ phỏng chú một ngữ âm khmer đã có trước.Một dạng ký âm bằng Hán tự.Rồi sau này khi ta dịch hai chữ Hán kia ra chữ  quốc ngữ mẫu tự La tinh đang dùng hiện nay nó đương nhiên trở thành C-h-â-u  Đ-ố-c. Một kiểu ký âm của ký âm. Thế thôi.


Sa Đéc, Đồng Tháp 25 Tết năm Tân Mão.
Trần Minh Tạo

Không trùng tên, nhưng trùng người

đăng 01:58, 28 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

TPHCM có rất nhiều con đường trùng tên,theo thống kê thì có đến hơn 200 con đường. Bên cạnh đó, có những con đường tuy không trùng tên nhưng... trùng người. Hai trường hợp quen thuộc nhất là cặp đường Đinh Tiên Hoàng - Đinh Bộ Lĩnh  Quang Trung - Nguyễn Huệ.


Ở trường hợp đầu thì ông Đinh Bộ Lĩnh thuở hàn vi ở Bình Thạnh, đến chừng lên làm vua lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng thì chuyển hộ khẩu sang quận 1 ngay. Trường hợp Quang Trung - Nguyễn Huệ thì ngược lại, thuở còn áo vải mang tên Nguyễn Huệ thì ở ngay khu vực trung tâm quận 1, nhưng khi lên ngôi hoàng đế Quang Trung thì chuyển sang tận Gò Vấp.


Nguyễn Huệ ở quận 1


Quang Trung thì ở Gò Vấp


Một trường hợp ông vua khác là Lê Thánh Tôn ở quận 1, lại ở Thủ Đức với niên hiệu Hồng Đức.


Có tới 2 ông Hoàng Hoa Thám, một ông nằm ở quận Bình Thạnh, ông còn lại ở Tân Bình. Lại còn thêm ông Đề Thám ở quận 1 nữa.


Cùng là thủ lĩnh nghĩa quân như Đề Thám, ông Trương Định nằm ở quận 1, lại thêm ông Trương Công Định ở Tân Bình.


Nhà thơ thì có ông Tú Xương ở quận 3, và ông Trần Kế Xương (tức Trần Tế Xương) ở Phú Nhuận.


Điểm sơ sơ thì tui thấy có những con đường tuy không trùng tên, nhưng trùng người như vậy, ai tìm thấy trường hợp khác nữa xin kể thêm dùm nha.


Một trường hợp khá hi hữu là con đường mang tên Chu Thiên, ở phường Hiệp Tân, quận Tân Phú. Chu Thiên (1913 - 1992) là nhà văn, nhà sử học nổi tiếng với tác phẩm Bút nghiên, Bóng nước Hồ Gươm... Ông tên thật là Hoàng Minh Giám. TPHCM có con đường mang tên Hoàng Minh Giám ở Phú Nhuận.Vậy đây cũng là không trùng tên, nhưng trùng người như các trường hợp trên? Ờ, tưởng vậy mà không phải vậy, ngược lại đây là trùng tên, nhưng không trùng người. Vì ông Hoàng Minh Giám ở Phú Nhuận không phải ông Chu Thiên -  Hoàng Minh Giám mà là Hoàng Minh Giám (1904 - 1995), nguyên thứ trưởng bộ Ngoại giao, bộ trưởng bộ Văn hóa!


Đường Chu Thiên


Đường Hoàng Minh Giám


Chuyện linh tinh về tên đường vậy đó. Vui hông?


Phạm Hoài Nhân

Mũi Isabelle ở Đà Nẵng dưới khía cạnh lịch sử và văn hóa

đăng 21:04, 20 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Hiện nay, trong văn bản hành chính các cấp từ Trung ương đến địa phương hay trên các website du lịch và cả trong ngôn ngữ thường nhật của người Đà Nẵng, mũi đất phía đông-bắc vịnh Nam Chơn gắn liền địa danh Hòn Hành được đồng nhất với tên gọi mũi Isabelle. Tuy nhiên, nếu đặt câu hỏi vì sao địa danh này mang tên là mũi Isabelle, chắc hẳn không phải ai cũng có thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng. 

Mũi Isabelle (Hòn Hành) nhìn từ bờ tây-nam vịnh Nam Chơn hiện nay. Ảnh: T.T 


Hòn Hành trước thế kỷ XIX có tên là núi Thông (Thông sơn: 葱山), tục gọi Hòn Hành (Hòn Hành: 㞩行), nguyên văn là “Thông sơn tục danh Hòn Hành”: 葱山俗名㞩行. Năm 1823, vua Minh Mạng triều Nguyễn đổi tên núi Thông thành núi Định Hải (Định Hải sơn: 定海山), xây pháo đài ở đó gọi là pháo đài Định Hải (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Nha Văn hóa Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, quyển 5, Sài Gòn, 1962, phần Hán-Nôm, mục Xuyên Sơn, trang 17). 

Vị trí pháo đài Định Hải dưới tên gọi pháo đài Núm vú (Fort du Mamelon) trên bản đồ chiến sự Pháp ngày 18-11-1859. (Nguồn: Colonel Henri de Ponchalon, sách đã dẫn, trang 217) 


Trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Đà Nẵng (1858-1860), do bế tắc trước sức chống trả kiên cường của quân và dân Việt Nam quanh khu vực hạ lưu sông Hàn, ngày 18-11-1859, liên quân Pháp-Tây Ban Nha quyết định mở cuộc tấn công pháo đài Định Hải (nằm trên Hòn Hành) và đồn Chơn Sảng nằm bên bờ vịnh Nam Chơn (gần pháo đài Định Hải) hòng làm chủ con đường đèo Hải Vân và đánh chiếm Hải Vân quan để chặn đường liên lạc giữa Đà Nẵng với Kinh đô Huế. 

Từ 6 giờ sáng, hạm đội 8 chiếc gồm hai pháo hạm Avalanche và Alarme, soái hạm Némésis, tàu Tây Ban Nha Jorgo-Juan, chiến hạm hơi nước Phlégéton, hai tàu lai dắt Prégent và Norzagarai, tàu vận tải Marne rời vụng tàu dưới chân bán đảo Sơn Trà tiến về phía tây-bắc vịnh Đà Nẵng. Cuộc hành quân bị chậm lại bởi cột buồm chính của tàu Prégent gặp sự cố gãy vỡ. 

Liên quân Pháp-Tây Ban Nha chia làm ba cánh: cánh của Thiếu tá Pallières gồm 1 phân đội công binh, 1 đại đội pháo binh và 6 đại đội thủy quân lục chiến Pháp có nhiệm vụ chiếm đồn Chơn Sảng nằm trên đường ngựa trạm; cánh lính Tây Ban Nha có nhiệm vụ bắn sập pháo đài Định Hải xây bằng đá nằm trên Hòn Hành và khống chế vịnh Nam Chơn cùng con đường ngựa trạm; cánh dự bị của Trung tá Reybaud gồm 5 đại đội thủy quân lục chiến Pháp và 2 đại đội lính Tây Ban Nha dàn quân trên vịnh cho đến khi kết thúc cuộc tấn công, với mục tiêu là chiếm khu dịch trạm Nam Chơn nằm bên bờ biển phía trước đồn chính Chơn Sảng. 

Vị trí pháo đài Định Hải dưới tên gọi Fort Isabelle II trên bản đồ chiến sự Pháp năm 1860 (Thiết lập tiếng Pháp từ bản đồ vịnh Đà Nẵng trên báo “Le Monde Illustré” ra ngày 12-5-1860 tại Paris, Pháp, trang 312-313). 


Trước giờ nổ súng, lính tấn công của Pháp-Tây Ban Nha chuyển xuống những chiếc sà lúp chuẩn bị để sẵn sàng đổ bộ, còn lực lượng dự bị ở lại trên tàu vận tải Marne. Lúc này quân Pháp gọi pháo đài Định Hải bằng thuật ngữ pháo đài Núm vú: Fort du Mamelon (Theo Colonel Henri de Ponchalon, Indo-Chine, souvenirs de voyage et de campagne, 1858-1860, Maison A. Mame et Fils à Tours, Paris, 1896, trang 215). 

Vào khoảng 9 giờ, tàu Pháp và Tây Ban Nha bắt đầu khai hỏa cấp tập. Quân nhà Nguyễn trên pháo đài Định Hải nổ súng phản pháo quyết liệt, nhiều quả đại bác bay sượt qua đầu các tàu chiến giặc. Đồn chính Chơn Sảng cũng nổ súng chống trả, nhưng mới bắn được 4 phát đại bác thì bị trúng đạn trái phá từ tàu Tây Ban Nha Jorgo-Juan khiến tiếng đại bác ở đây giảm dần rồi im bặt. 

Song, quả đại bác thứ ba từ đồn chính Chơn Sảng “đã cắt đứt đôi thân mình Thiếu tá công binh Déroulède đang đứng cạnh Chuẩn Đô đốc Page trên khoang thượng phía đuôi soái hạm Némésis, làm Page bị lấm máu khắp người; quả đạn đó còn bay tiếp giết chết thêm một hạ sĩ thủy thủ đài chỉ huy, cắt đứt dây néo cột buồm lái và làm bị thương hai chuẩn úy hải quân cùng một số thuỷ thủ khác” (Theo Colonel Henri de Ponchalon, sách đã dẫn, trang 216). 

Vị trí pháo đài Định Hải trên bản đồ của quân Nguyễn năm 1859 (Thiết lập thêm tiếng Việt từ bản đồ chiến sự Đà Nẵng theo nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/(1858-1859)/media/File:Carte_de_Tourane_1859.jpg) 


Ụ súng bắn đá của đồn Chơn Sảng cũng tham gia chiến đấu, nhưng bắn trả không nhiều bởi những quả đạn trái phá từ các tàu giặc làm cháy bùng đồn Chơn Sảng và tan nát pháo đài Định Hải; những kho thuốc súng nổ tung lên, khiến quân nhà Nguyễn do Phó vệ úy Lê Hòa, Thành thủ úy Tôn Thất Mưu chỉ huy phải bỏ đồn và pháo đài rút quân để bảo toàn lực lượng. 

Quân Pháp-Tây Ban Nha dùng sà lúp đổ bộ vào bờ, nhưng không bắt gặp ai tại đồn chính và ụ súng bắn đá của đồn Chơn Sảng, thu được 3 đại bác dùng cho thủy quân cỡ nòng 12cm và vài súng bắn đá. Còn tại pháo đài Định Hải, quân Tây Ban Nha bắt sống 3 lính nhà Nguyễn, chiếm được 5 khẩu đại bác cỡ nòng 24cm bằng sắt đã hơi hoen rỉ. Khu làng Chơn Sảng còn nguyên vẹn nhưng liền bị liên quân đốt rụi. 

Vào giữa trưa, những toán lính Pháp khác tiến sang chiếm đóng dịch trạm Nam Chơn, lính Tây Ban Nha giữ pháo đài Định Hải, còn cánh quân dự bị quay lại Đà Nẵng. 

Trong thời gian chiếm đóng pháo đài Định Hải, lính Tây Ban Nha không dùng tên pháo đài Núm vú do người Pháp gọi trước đó, mà lấy tên nữ hoàng đương triều của mình là Isabelle Đệ nhị, tức Isabelle II nếu viết theo tiếng Pháp, còn tiếng Tây Ban Nha là Isabel II (1830-1904, tên đầy đủ: María Isabel Luisa de Borbón y Borbón-Dos Sicilias) để đặt tên nơi đây thành pháo đài Isabelle II (Theo Colonel Henri de Ponchalon, sách đã dẫn, trang 231). Tên pháo đài Isabelle II còn được đưa lên bản đồ quân sự từ thời điểm này. 

Tranh pháo đài Định Hải bị liên quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công ngày 18-11-1859. (Nguồn: Báo “L’Illustration, Journal Universel” ra ngày 21-1-1860 tại Paris, Pháp, trang 41) 


Sau hơn ba tháng kể từ ngày chiếm đóng nhưng vẫn bế tắc vì luôn thất bại trong nỗ lực đánh chiếm đường đèo Hải Vân, vào 7 giờ sáng 29-2-1860, liên quân Pháp-Tây Ban Nha đánh mìn giật sập pháo đài Định Hải, đồn Chơn Sảng và dịch trạm Nam Chơn rồi rút về những tiền đồn ở chân núi Sơn Trà, trước khi di tản toàn bộ khỏi Đà Nẵng vào 23-3-1860. 

Như vậy, tại Hòn Hành, từ tên pháo đài Định Hải, trước khi chiếm đóng quân Pháp gọi là pháo đài Núm vú, song quân Tây Ban Nha đổi tên lại là pháo đài Isabelle II sau khi chiếm giữ. 

Trải qua thời gian dài, người Việt đã lược giản tên Nữ hoàng Isabelle II thành Isabelle theo quy luật giản âm của ngôn ngữ, tạo thành thói quen cho đến ngày nay, để cùng với nghĩa địa Y Pha Nho là hai địa danh để lại dấu tích ngôn ngữ Tây Ban Nha trong cuộc chiến mà họ liên quân với Pháp xâm lược Đà Nẵng 160 năm trước. 

Tên mũi Isabelle hiện nay không còn thể hiện nội hàm nguyên nghĩa, nhưng tri thức về nguồn gốc tên gọi Isabelle vẫn rất cần thiết được phổ biến trên báo chí, sách vở và trong đời sống xã hội; bởi nếu không nắm rõ những giá trị lịch sử và văn hóa kèm theo, địa danh chỉ còn là sự trống rỗng, vô hồn và xa lạ với xã hội hiện đại. 

NGUYỄN QUANG TRUNG TIẾN

Tên ai được đặt thành tên đường nhiều nhất TPHCM?

đăng 22:29, 18 thg 3, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:36, 5 thg 6, 2018 ]

Sài Gòn có một số con đường trùng tên nhau. Theo thống kê, có tới hơn 300 con đường trùng tên. Thí dụ như có ông Nguyễn Đình Chiểu ở quận 3 và có ông Nguyễn Đình Chiểu khác ở quận Phú Nhuận, có ông Lý Thường Kiệt ở quận 10 và ông Lý Thường Kiệt khác ở Gò Vấp,... Đó là chưa kể trường hợp không trùng tên nhưng... trùng người. Thí dụ như đường Quang Trung (Gò Vấp) với đường Nguyễn Huệ (quận 1), đường Đinh Tiên Hoàng (quận 1, Bình Thạnh) với đường Đinh Bộ Lĩnh (Bình Thạnh)...


Ngoài đường Nguyễn Huệ nổi tiếng ở quận 1, ta còn có các con đường... Quang Trung ở Gò Vấp. Hóc Môn và quận 9!


Hai (hoặc 3) con đường trùng tên với nhau ở TPHCM là khá phổ biến, thế nhưng có một trường hợp đặc biệt: tên một vị danh nhân được dùng đặt cho 5 con đường khác nhau ở TPHCM! Vị danh nhân đó là ai vậy?


Điều bất ngờ là mặc dù cũng là nhân vật đáng kính phục, nhưng công trạng của vị danh nhân này không hề nổi trội so với các vị danh nhân được đặt tên khác. Ông là Nguyễn Trường Tộ.


Thống kê các con đường mang tên Nguyễn Trường Tộ ở TPHCM như sau:


Đường Nguyễn Trường Tộ quận Phú Nhuận



Đường Nguyễn Trường Tộ quận 4



Đường Nguyễn Trường Tộ quận 9


Ở khu vực này ta thấy không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn hàng loạt đường trùng tên khác, nhu Quang Trung, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo...


Đường Nguyễn Trường Tộ quận Tân Phú



Đường Nguyễn Trường Tộ quận Thủ Đức



Thống kê thì tui thấy như vậy, các bạn có tìm thấy gì hay hơn thì xin kể cho nghe với nha!


Phạm Hoài Nhân

Địa danh Rạch Ông - Quận 8

đăng 06:32, 30 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Vào những năm đầu thế kỷ 20, khu vực rạch Ong Lớn và rạch Ong Nhỏ là nơi ong thường về làm tổ, người dân vùng này đến đây lấy mật nên đã đặt cho nó tên rạch Ong Lớn và rạch Ong Nhỏ, sau khi lấy các mật ong ở rạch này, đem qua 1 vùng cạnh đó bán, nên có một chiếc cầu ở đây mang tên cầu Mật. (Trong Đại Nam quốc âm tự vị ghi rạch Ong Lớn, rạch Ong Nhỏ). Các địa phương chí xưa dịch hai địa danh này ra chữ Hán: Đại Phong Giang và Tiểu Phong Giang. (Phong: con ong). Người Khơ-me gọi rạch Ong Lớn là Prê KimPon Khmum Thom, trong địa danh này có từ Khmum nghĩ là “con ong”.

Chợ Rạch Ông. Ảnh: Phạm Hoài Nhân


Ngày nay, nhiều người gọi lầm viết sai thành rạch Ong Lớn, rạch Ong Nhỏ. Sau đó, người địa phương tạo hai địa danh mới và cũng đã viết sai: Cầu Rạch Ông, Chợ Rạch Ông thay vì cầu Rạch Ong (P1), chợ Rạch Ong (P2).

Phú Hòa - Biến đổi địa danh trong lịch sử

đăng 17:11, 28 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan


Một góc huyện lỵ Phú Hòa - Ảnh: MINH KÝ


Ngày 31/1/2002, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định 15/2002/NĐ-CP chia TX Tuy Hòa thành hai đơn vị hành chính là TX Tuy Hòa và huyện Phú Hòa. Đến thời điểm này, địa danh Phú Hòa chính thức có tên trên bản đồ Tổ quốc nhưng trước đó nhiều thế kỷ, vùng đất Phú Hòa đã có lịch sử hình thành và phát triển với những tên gọi khác nhau. 

Năm 1611, phủ Phú Yên được thành lập. Khi mới ra đời, phủ Phú Yên gồm hai đơn vị hành chính là huyện Đồng Xuân và huyện Tuy Hòa. Từ giữa nửa sau thế kỷ XVIII, phủ Phú Yên giữ vị trí xung yếu và nhân dân Phú Yên có đóng góp quan trọng trong phong trào Tây Sơn. 

Phú Yên là địa bàn tranh chấp ác liệt giữa hai lực lượng Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Năm 1801, đất Phú Yên thuộc hẳn về chúa Nguyễn Ánh. Từ năm 1801-1808, Phú Yên gọi là dinh. Từ năm 1808-1826, dinh Phú Yên đổi thành trấn Phú Yên. Trấn Phú Yên lúc này gồm hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa, với 6 tổng (mỗi huyện có 3 tổng Thượng, Hạ, Trung) và thuộc Hà Bạc. Vùng đất bắc sông Đà Rằng thuộc huyện Đồng Xuân (trừ Phú Sen xã, Kỳ Tấn Hà Lãng thôn và Phường Câu thôn ở phía bắc sông thuộc huyện Tuy Hòa) và toàn bộ vùng phía nam sông Đà Rằng thuộc huyện Tuy Hòa. 

Địa bạ Phú Yên năm Gia Long 14-15 (1815-1816) truy dụng năm Minh Mạng 11-12 (1830-1831) đề cập vùng đất huyện Phú Hòa ngày nay thuộc tổng Thượng huyện Đồng Xuân gồm các làng, xã (làng nhỏ gọi là thôn, làng lớn gọi là xã): An Thành xã, Bình An thôn, Cẩm Sơn thôn, Đá Bạc xã, Đại An Thọ Toàn thôn, Đại Phú thôn, Đồng Lâm xã, Ngọc Sơn thôn, Ngọc Sơn xã, Phong Đăng xã, Phú An xã, Phú Lộc xã, Phụng Các xã, Vĩnh An thôn, Phước Toàn xã. 

Năm 1826, vua Minh Mạng thăng làm tỉnh Phú Yên, thuộc tổng đốc Bình Phú thống hạt. Cũng trong năm này, vua Minh Mạng điều chỉnh địa giới các huyện. Huyện Tuy Hòa được mở rộng ra phía bắc sông Đà Rằng với phần lớn tổng Thượng huyện Đồng Xuân thuộc tổng Hòa Bình huyện Tuy Hòa (vùng đất huyện Phú Hòa ngày nay). 

Theo địa bạ triều Nguyễn truy dụng năm 1832 (Minh Mạng), vùng đất huyện Phú Hòa bao gồm: An Thạnh xã (An Nghiệp, Thạnh Nghiệp, Hòa Định Tây), Bình An thôn (nay là thôn Đông Bình, xã Hòa An), Cẩm Sơn thôn (nay là thôn Cẩm Sơn, xã Hòa Quang Bắc), Đá Bạc xã (nay là thôn Cẩm Thạch, xã Hòa Định Tây), Đại An Thọ Toàn thôn (nay là thôn Thạnh Lâm, xã Hòa Quang Bắc và thôn Phú Thạnh, xã Hòa Quang Nam), Đại Phú thôn (nay là thôn Đại Phú, xã Hòa Quang Nam), Đồng Lâm xã (nay là thôn Mậu Lâm Nam, xã Hòa Quang Nam và Mậu Lâm Bắc, xã Hòa Quang Bắc), Ngọc Lãnh thôn (Ngọc Sơn thôn đổi tên thành Ngọc Lãnh thôn), Ngọc Sơn xã (nay là thôn Ngọc Sơn, xã Hòa Quang Bắc), Phong Đăng xã (nay là thôn Phong Niên, xã Hòa Thắng), Phú Ân xã (thôn Phú Ân, xã Hòa An ngày nay), Phú Lộc xã (có hai giáp: giáp đông và giáp tây, tương ứng với thôn Đông Lộc và Phú Lộc, xã Hòa Thắng), Phú Sen xã (nay là thôn Phú Sen, xã Hòa Định Tây), Phụng Các xã (năm 1832 đổi tên là Phụng Tường; năm 1899 chia thành ba làng là Long Tường, Phụng Tường và Phụng Nguyên), Vĩnh An thôn (năm 1832 đổi tên là Vĩnh Phú, nay là thôn Vĩnh Phú, xã Hòa An), Phước Toàn xã (Phước Toàn xã có 3 giáp: giáp đông, giáp tây, giáp trung). Giáp đông xã Phước Toàn chia thành hai giáp nhỏ. 

Năm 1832 giáp đông xã Phước Toàn được đặt tên là làng Đông Phước. Hộ Bình thôn (nguyên là Bình An thôn) sau đổi tên là thôn Đông Bình. Giáp tây xã Phước Toàn được đặt tên là làng Tây Hậu, sau chia thành hai làng là Quy Hậu và Phước Khánh (giáp trung Phước Toàn xã sau là làng Phước Hậu, xã Bình Kiến, nay là phường 9, TP Tuy Hòa). 

Năm 1853 đổi làm đạo Phú Yên, đặt một Quản đạo, giấy tờ phải đặt ba chữ tỉnh Bình Định lên đầu. Năm 1876, lại đặt làm tỉnh Phú Yên vẫn do tổng đốc Bình Phú thống quản. Năm Kỷ Hợi 1899 (Thành Thái 11), tỉnh Phú Yên chia ra thành phủ và hai huyện. Từ đây, bỏ hệ thống phủ cai quản huyện. Phủ và huyện là đơn vị hành chính như nhau, dẫu vẫn giữ nguyên tắc “phủ thống hạt (thống quản) huyện”. Tỉnh lỵ đóng tại Sông Cầu. 

Đầu thế kỷ XX, phủ Tuy Hòa thành lập tổng Hòa Tường (gồm các làng Đại Bình, Đại Phú, Nho Lâm, Hạnh Lâm, Tường Phú, Thường Thạnh, Tịnh Lâm, Mậu Lâm, Cẩm Sơn, Ngọc Lãnh, Đồng Hòa, Đồng Mỹ, Ngọc Sơn và các làng thuộc các xã Hòa Định Đông, Hòa Thắng ngày nay). 

Ngày 17/10/1921, chính quyền Pháp có nghị định tách Phú Yên trở thành tỉnh độc lập và không còn lệ thuộc vào tỉnh Bình Định. Sự chia tách này có ý nghĩa quan trọng, Phú Yên trở về đơn vị hành chính cấp tỉnh và được đầu tư như một tỉnh lỵ khác ở khu vực Trung Kỳ. Hệ thống hành chính thời Pháp thuộc giữ nguyên trạng đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945. 

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày 22/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh 63 quy định việc tổ chức HĐND cấp tỉnh (thành phố), huyện (thị xã) và xã. Hiến pháp 1946 xác định nguyên tắc hành chính đó. 

Tháng 6/1946, thực hiện chỉ đạo của Ủy ban hành chính Trung Bộ, Phú Yên tiến hành điều chỉnh các cấp hành chính, bỏ cấp phủ và tổng. Nhập các làng nhỏ thành xã, trực thuộc huyện Tuy Hòa, Tuy An, Đồng Xuân, Sơn Hòa và khu Đồng Bò, gồm 84 xã. 

Trên địa bàn Phú Hòa lúc ấy hình thành các xã: Quy Khánh (sáp nhập hai thôn Quy Hậu và Phước Khánh), Nam Tường (sáp nhập ba thôn Phụng Tường, Long Tường, Phụng Nguyên), Trần Hào (sáp nhập các thôn Nho Lâm, Hạnh Lâm, Đại Bình, Đại Phú), Ái Quốc (sáp nhập các thôn Ngọc Sơn, Ngọc Lãnh, Cẩm Sơn, Đồng Mỹ, Đồng Hòa), Thắng Lợi (sáp nhập các thôn Trường Phú, Thường Thạnh, Tịnh Lâm, Mậu Lâm), Vĩnh Nghiệp (sáp nhập các thôn Thạnh Nghiệp, An Nghiệp), Cẩm Phong (sáp nhập các thôn Cẩm Thạch, Phú Sen, Phong Hậu trực thuộc khu Đồng Bò). Khi sáp nhập khu Đồng Bò vào phủ Tuy Hòa thì cắt thôn Phong Hậu về huyện Sơn Hòa và tên xã được đổi lại là Cẩm Phú; Tân Tiến (sáp nhập các thôn Phong Niên, Phú Lộc, Đông Lộc, Mỹ Hòa), Quốc Tuấn (sáp nhập các thôn Vĩnh Phú, Phú Ân, Đông Phước, Đông Bình, Ngọc Lãng). 

Tháng 11/1946, thực hiện chủ trương của Ủy ban hành chính Trung Bộ, Phú Yên chia làm 6 chiến khu và hai huyện miền núi. Chiến khu I gồm các xã phía nam sông Đà Rằng; chiến khu II gồm các xã phía bắc sông Đà Rằng; chiến khu III gồm các xã thuộc huyện Tuy An; chiến khu IV gồm các xã thuộc huyện Sơn Hòa; chiến khu V gồm các xã thuộc phía tây huyện Đồng Xuân; chiến khu VI gồm các xã thuộc phía đông huyện Đồng Xuân (nay là TX Sông Cầu) và hai huyện là Tân Sơn (thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Sơn Hòa) và Tân Xuân (thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Đồng Xuân). 

Cuối năm 1947, thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo Ủy ban kháng chiến, Ủy ban hành chính Trung Bộ; Phú Yên bỏ cấp chiến khu, gọi tên cấp huyện như cũ, sáp nhập huyện Tân Sơn vào huyện Sơn Hòa, huyện Tân Xuân vào huyện Đồng Xuân, khu Đồng Bò vào huyện Tuy Hòa. Đồng thời tỉnh tiến hành nhập một số xã. 

Trên địa bàn Phú Hòa lúc ấy hình thành các xã sau: Hòa Trị (sáp nhập hai xã Quy Khánh và Nam Tường), Hòa Nghiệp (xã Vĩnh Nghiệp đổi tên), Hòa Quý (xã Cẩm Phú đổi tên), Hòa Tường (xã Trần Hào đổi tên), Hòa Hảo (xã Ái Quốc đổi tên), Hòa Lợi (xã Thắng Lợi đổi tên), Hòa Thắng (xã Tân Tiến đổi tên), Hòa An (xã Quốc Tuấn đổi tên) và bao gồm diện tích các phường nội thị Tuy Hòa ngày nay từ phường 1 đến phường 6. 

Ngày 29/3/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 149 sáp nhập Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính các cấp thành Ủy ban kháng chiến - Hành chính. Trên địa bàn Phú Hòa, có các xã sau: Hòa trị, Hòa Quang (sáp nhập ba xã Hòa Tường, Hòa Hảo, Hòa Lợi), Hòa Định (sáp nhập hai xã Hòa Quý và Hòa Nghiệp), Hòa Thắng, Hòa An (bao gồm cả TX Tuy Hòa). 

Địa danh các xã chủ yếu được cấu tạo theo tên huyện như Tuy Hòa có các xã Hòa Thành, Hòa Bình, Hòa Phong, Hòa Tân, Hòa Đồng, Hòa Mỹ, Hòa Hiệp, Hòa Xuân, Hòa Vinh, Hòa Kiến, Hòa Trị, Hòa Quang, Hòa Thắng, Hòa Định, Hòa An; TX Tuy Hòa (lúc khởi nghĩa gọi là khu Tuy Hòa, sau đó thuộc xã Hòa An) gồm các phường: phường 1 (Bình Nhạn), phường 2 (Bình Tịnh), phường 3 (Bình An), phường 4 (Bình Mỹ), phường 5 (Bình Hòa), phường 6 (Bình Lợi), phường 7 (Bình Phú). 

Cuối năm 1953, để tiện quản lý lãnh thổ và củng cố chính quyền phục vụ kháng chiến kiến quốc, các xã phía bắc sông Đà Rằng thuộc huyện Tuy Hòa được tách ra thành lập huyện Tuy Hòa 2. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, Phú Yên tạm giao cho đối phương quản lý trong thời gian chờ hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. 

Ngày 27/5/1958, chính phủ Ngô Đình Diệm ký Nghị định 263BNV/HC/P6 quy định đơn vị hành chính Phú Yên. Theo đó, Phú Yên chia thành 6 quận: Đồng Xuân, Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hòa (TX Tuy Hòa còn gọi là xã Châu Thành) và quận Sơn Hòa. 

Ngày 12/7/1962, chính quyền Ngô Đình Diệm ký Nghị định 723NV thành lập quận mới Hiếu Xương gồm 7 xã: Đức Thành (Sơn Thành), Hòa Đồng, Hòa Mỹ, Hòa Thịnh, Hòa Phong, Hòa Tân, Hòa Bình; quận lỵ đặt tại xã Hòa Phong. 

Ngày 21/12/1963, chính quyền Sài Gòn ký Nghị định 304 TTP ĐVHC sáp nhập các xã Hòa Thành, Hòa Hiệp, Hòa Vinh, Hòa Xuân (gốc thuộc quận Tuy Hòa) vào quận Hiếu Xương và nhập hai xã An Thọ, An Chấn (gốc quận Tuy An) vào quận Tuy Hòa. 

Về phía chính quyền cách mạng: Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Tỉnh ủy tập trung xây dựng chiến khu Thồ Lồ, thành lập các huyện ủy Đồng Xuân, Tuy An, Tuy Hòa, Sơn Hòa, giữ vững sự chỉ đạo xuyên xuốt từ tỉnh xuống các địa phương. Cuối năm 1956, Tỉnh ủy Phú Yên quyết định thành lập huyện Tuy Hòa 2 (phía bắc sông Đà Rằng tương đương với huyện Phú Hòa và TP Tuy Hòa ngày nay). 

Tháng 3/1965, Tỉnh ủy Phú Yên thành lập C6 - đơn vị tiền thân của Thị ủy Tuy Hòa. Ngày 6/8/1965, Tỉnh ủy thành lập Thị ủy Tuy Hòa chỉ đạo 6 phường nội thị và các xã Bình Phú A, Bình Phú B, Bình Phú C (tương ứng 2/3 xã Hòa Kiến cũ) để làm bàn đạp hoạt động. 

Huyện Tuy Hòa 2 trong kháng chiến chống Mỹ gồm các xã: Hòa Định, Hòa Quang, Hòa Trị, Hòa Thắng, Hòa Kiến. Đến ngày giải phóng, chính quyền cách mạng Phú Yên có 9 đơn vị huyện, thị trực thuộc: TX Tuy Hòa và các huyện Tuy Hòa 1, Tuy Hòa 2, Tuy An, Đồng Xuân, Sông Cầu, Sơn Hòa, Miền Tây, Tây Nam. Sau ngày giải phóng, UBND cách mạng tỉnh Phú Yên vẫn tiếp tục duy trì 9 đơn vị hành chính. 

Đến tháng 9/1975, toàn tỉnh có 70 xã, phường, thị trấn. Ngày 30/10/1975, Tỉnh ủy và UBND cách mạng tỉnh Phú Yên quyết định sáp nhập huyện Tây Nam vào huyện Sơn Hòa; sáp nhập huyện Đồng Xuân và huyện Sông Cầu thành huyện Đồng Xuân; sáp nhập huyện Tuy Hòa 1 và huyện Tuy Hòa 2 thành huyện Tuy Hòa. 

Ngày 3/11/1975, tỉnh Phú Yên sáp nhập với tỉnh Khánh Hòa thành tỉnh Phú Khánh. Ngày 10/3/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 49/CP hợp nhất huyện Tuy An, huyện Đồng Xuân và các xã Sơn Long, Sơn Định, Sơn Xuân, Phú Mỡ thành lập huyện mới Xuân An; hợp nhất huyện Tuy Hòa và TX Tuy Hòa thành huyện Tuy Hòa. Các xã còn lại ở miền núi thuộc huyện Tây Sơn. Bắc Phú Khánh (Phú Yên cũ) chỉ có ba đơn vị hành chính (ba huyện: Tuy Hòa, Xuân An, Tây Sơn). 

Ngày 22/9/1978, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 241/CP chia huyện Tuy Hòa thành hai huyện Tuy Hòa và TX Tuy Hòa. TX Tuy Hòa gồm 6 phường nội thị và hai xã Bình Kiến, Bình Ngọc. 

Ngày 23/4/1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 177/CP thành lập xã Hòa Hội trực thuộc huyện Tuy Hòa trên cơ sở sáp nhập vùng kinh tế mới ở buôn Hố Hầm, thôn Phong Hậu, xã Sơn Hòa, huyện Tây Sơn và thôn Lỗ Rong, xã Hòa Quang, huyện Tuy Hòa. 

Ngày 5/9/1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 100 HĐBT chia tách một số xã thuộc các huyện Đồng Xuân, Tuy An, Tuy Hòa và TX Tuy Hòa. Ở TX Tuy Hòa, chia xã Bình Kiến thành hai xã Bình Kiến và Hòa Kiến; chia xã Hòa Định thành hai xã Hòa Định Đông và Hòa Định Tây. 

Đến thời điểm tách tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, tỉnh Phú Yên được tái lập gồm TX Tuy Hòa và 6 huyện Tuy Hòa, Tuy An, Sông Cầu, Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh (gồm 6 phường, 6 thị trấn và 79 xã). 

Sau ngày tái lập tỉnh (1/7/1989), để đáp ứng yêu cầu quản lý và phát triển, Phú Yên được Chính phủ chấp thuận và có quyết định điều chỉnh địa giới hành chính một số địa phương thuộc quyền quản lý, trong đó có việc thành lập huyện mới Phú Hòa và hình thành một số xã trên vùng đất huyện Phú Hòa ngày nay. 

Ngày 31/1/2002, Chính phủ ban hành Nghị định 15/2002/NĐ-CP chia TX Tuy Hòa thành hai đơn vị hành chính là TX Tuy Hòa và huyện Phú Hòa. 

Ngày 20/8/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 95/2003/CP thành lập xã Ea Ly (huyện Sông Hinh); chia xã Hòa Quang (huyện Phú Hòa) thành hai xã Hòa Quang Bắc và Hòa Quang Nam. 

Ngày 3/12/2007, Chính phủ ban hành Nghị định 175/2007/NĐ-CP thành lập thị trấn Phú Hòa, trung tâm huyện lỵ của huyện Phú Hòa. Đến cuối năm 2009, Phú Yên có 9 đơn vị thành phố, thị xã, huyện trực thuộc (TP Tuy Hòa, TX Sông Cầu và các huyện: Đông Hòa, Tây Hòa, Phú Hòa, Tuy An, Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh). 

Hiện nay, huyện Phú Hòa có 9 đơn vị xã, thị trấn: Hòa Trị, Hòa Quang Nam, Hòa Quang Bắc, Hòa Hội, Hòa Định Tây, Hòa Định Đông, Hòa Thắng, Hòa An và thị trấn Phú Hòa. 

PHAN THANH

1-10 of 18