Địa lý, dân cư và nguồn gốc những địa danh

Bài mới

  • Ta gọi tên chùa Khmer Chùa Monivongsa Bopharam ở Cà MauMiền Tây Nam bộ có nhiều ngôi chùa Khmer đẹp và nổi tiếng. Tên chùa bằng tiếng Khmer dài và khó nhớ (nhớ... chết ...
    Được đăng 05:35, 23 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đường phố mang tên Việt ở Đà Nẵng trước năm 1955 Đỗ Hữu Vị được người Pháp cho in hình trên con tem phát hành khắp Đông Dương. (Ảnh tư liệu)Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1955, Đà Nẵng ...
    Được đăng 20:50, 21 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sơn Chà hay Sơn Trà Một chiếc xe đò chạy tuyến Sơn Chà - Đà Nẵng trước năm 1975. (Ảnh tư liệu)Về địa danh Sơn Trà đã có nhiều bàn luận với nhiều cứ liệu ...
    Được đăng 20:45, 21 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tổng Binh ở đâu? Có những địa danh gắn với lịch sử hình thành của một vùng đất, nhưng nó không phải là tên gọi để chỉ một đơn vị hành chính của vùng ...
    Được đăng 20:20, 13 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cẩm Thành, ai đã đặt tên? Cẩm Thành là mỹ từ của thành cổ Quảng Ngãi, được xây dựng năm 1807, hoàn thành năm 1815, nơi đặt hành cung và bản doanh của bộ máy chính ...
    Được đăng 20:39, 2 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Ta gọi tên chùa Khmer

đăng 05:35, 23 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Monivongsa Bopharam ở Cà Mau


Miền Tây Nam bộ có nhiều ngôi chùa Khmer đẹp và nổi tiếng. Tên chùa bằng tiếng Khmer dài và khó nhớ (nhớ... chết liền!), cho nên người Việt ta... tự đặt ra những cái tên mới cho dễ gọi, dễ nhớ. Cách gọi tên thường là dựa theo đặc điểm của chùa hoặc phiên âm nôm na tên Khmer theo giọng Nam bộ.


Ngôi chùa nổi tiếng ở Sóc Trăng có tên là Serây Tê Chô Mahatúp, vốn có nghĩa là do phước đức tạo nên. Chùa có nhiều dơi, nên người ta gọi là Chùa Dơi luôn cho tiện. Chùa lại còn được gọi là Chùa Mã Tộc. Ủa, sao đã dơi lại còn có ngựa (mã) vô đây? Hay đây là chùa của dòng họ Mã? Hổng phải, Mã Tộc là do người Việt phiên âm tên Mahatúp đó mà!


Ở Trà Vinh, chùa Kompong Chrây được người dân gọi là chùa Hang, vì cổng chùa có hình dạng  như cái hang.


Chùa Chén Kiểu


Chùa Wath Shro Loun ở Bạc Liêu tên khó đọc, khó nhớ quá, nên người Việt đọc thành chùa Sà Lôn. Chùa này được trang trí bằng rất nhiều mảnh vỡ chén, đĩa sứ nên dân gian đặt luôn tên là chùa Chén Kiểu cho dễ hiểu!


Ngôi chùa ở Trà Cú (Trà Vinh) có tên là Bhagraja Duonkev Phnô Đưng. Đây là tên tui ghi lại theo bảng tên ghi ở cổng chùa chớ không tài gì nhớ nổi. Vậy nên người dân nơi đây đọc tắt là chùa Phnô Đôn, hoặc đơn giản hơn nữa là chùa Nô Đôn. Thế nhưng đó chưa phải là cái tên thông dụng nhứt, tên thông dụng nhứt là Chùa Cò, vừa dễ nhớ, vừa dễ hiểu, lại dễ đọc. Gọi tên như vậy vì ở chùa này có rất nhiều cò. 


Chùa Cò


Ngoài ra, người ta còn gọi tên chùa theo tên địa phương nơi ngôi chùa tọa lạc, nên chùa Cò còn gọi là chùa Giồng Lớn, vì tọa lạc tại ấp Giồng Lớn, xã Đại An, huyện Trà Cú.


Cùng theo nguyên tắc gọi tên theo tên địa phương còn có chùa Selatro ở Châu Thành, Trà Vinh. Chùa này tọa lạc tại ấp Điệp Thạch, xã Đa Lộc, huyện Châu Thành nên người dân gọi là chùa Điệp Thạch.


Hầu như tất cả những chùa Khmer tui đã từng viếng thăm đều có tên tiếng Việt dễ nhớ theo một trong ba quy tắc như nêu trên: đọc gọn tên Khmer theo giọng Nam bộ; đặt tên theo đặc điểm của chùa; đặt tên theo địa phương nơi tọa lạc ngôi chùa.


Chùa Monivongsa Bopharam


Tui tới Cà Mau và viếng thăm ngôi chùa Khmer nổi tiếng ở đây: chùa Monivongsa Bopharam. Lại là một cái tên Khmer dài thoòng, khó nhớ nên tui coi thử nó có tên gì dễ đọc hay không. Chùa này lớn, đẹp, nhưng không có đặc điểm riêng biệt gì như nhiều cò, nhiều dơi hay bằng chén kiểu... để có tên theo quy tắc này. Cũng không nghe thấy tên đọc tắt. Bạn có biết dân Cà Mau gọi tên chùa này là gì không? Là chùa Phường 1, bởi vì chùa Monivongsa Bopharam tọa lạc tại phường 1, thành phố Cà Mau.


Mặc dù vẫn đúng theo một trong các quy tắc gọi tên mà ta đã kể ở trên, nhưng một ngôi chùa Khmer to lớn, hoành tráng lại được gọi tên là chùa Phường 1 thì quả là... nghe hơi ngộ ngộ, phải không bạn? 


Phạm Hoài Nhân

Đường phố mang tên Việt ở Đà Nẵng trước năm 1955

đăng 20:50, 21 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Đỗ Hữu Vị được người Pháp cho in hình trên con tem phát hành khắp Đông Dương. (Ảnh tư liệu)


Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1955, Đà Nẵng chỉ có 45 đường phố được đặt tên, trong đó có đến 40 đường mang tên bằng tiếng Pháp và chỉ 5 đường mang tên Việt thuần túy gồm 2 địa danh là Đò Xu, Quảng Nam và 3 nhân danh là Đồng Khánh, Đỗ Hữu Vị, Gia Long.

Đường Đò Xu sau năm 1955 đổi thành đường Võ Tánh, sau năm 1975 đổi thành đường Núi Thành. Sở dĩ đặt tên này (Đò Xu) là do trên tuyến đường có bến đò Xu đưa khách từ mạn bắc (nay thuộc phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu) sang mạn nam (nay thuộc phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ) sông Cẩm Lệ và ngược lại. Tương truyền, ngày đó người qua lại đò này chỉ trả tiền bằng tiền xu.

Đường Quảng Nam sau năm 1955 đổi thành đường Trưng Nữ Vương và mang tên đó đến nay. Người Pháp đặt tên đường Quảng Nam là do đường này chạy từ trung tâm Đà Nẵng về hướng Quảng Nam.

Đường Đồng Khánh sau năm 1975 nối dài với đường Hùng Vương và mang tên Hùng Vương. Đồng Khánh là hoàng đế thứ 9 của nhà Nguyễn, tại vị từ năm 1885 đến 1889. Đây là ông vua không chống Pháp, sách của Trần Trọng Kim viết: “Đồng Khánh tính tình hiền lành, hay trang sức và cũng muốn duy tân, ở rất được lòng người Pháp”.

Đường Gia Long sau năm 1975 đổi thành đường Lý Tự Trọng. Trên đường Gia Long có Ty Cảnh sát Đà Nẵng của chế độ cũ nên trước năm 1975 người ta thường gọi là “Ty Gia Long”. Gia Long là hoàng đế đã thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820.

Đường Đỗ Hữu Vị mang tên phi công đầu tiên của Việt Nam và cả Đông Nam Á. Ông được người Pháp đặt tên đường cùng với 2 vị vua người Việt là do có công với “mẫu quốc” Pháp. Ông là con thứ hai của Đỗ Hữu Phương (còn gọi là Tổng đốc Phương), một điền chủ giàu có lừng lẫy tiếng tăm ở Nam Kỳ khi người Pháp mới chiếm miền Nam. Đỗ Hữu Vị tốt nghiệp trường Taberd, được cha gởi qua Pháp du học tại trường Collège St.Barbe ở Paris, nói và viết Pháp văn như Pháp. Sau 3 năm ra trường, ông xin theo học không quân.

Lúc bấy giờ thế giới mới phát minh máy bay, làm phi công được xem là rất phi thường. Ông làm phi công tác chiến trong phi đoàn ở Maroc, trở thành phi công đầu tiên của Việt Nam và cả Đông Nam Á. Để cổ vũ tinh thần người dân thuộc địa phục vụ cho “mẫu quốc”, Pháp gởi ông về Việt Nam lái máy bay biểu diễn ở Sài Gòn và Hà Nội, dân chúng khâm phục, hãnh diện và bàn tán sôi nổi một thời.

Chiến tranh Thế giới thứ nhất (1914 - 1918) bùng nổ, ông trở qua Pháp tham gia đánh Đức. Trong một lần giao tranh tại sông Somme, ông bị thương nặng rồi chết, được tưởng thưởng nhiều huy chương và truy thăng đại úy. Pháp cho in hình ông trên con tem phát hành khắp Đông Dương, lấy tên ông đặt cho nhiều trường học, nhiều đường ở Việt Nam thời đó.

Việc Pháp đặt tên đường Đỗ Hữu Vị cùng với 2 vị vua Việt Nam trên đất Tourane nhượng địa là một trong những cách quảng bá sự văn minh của “mẫu quốc” qua hình ảnh một người dân thuộc địa đã “Pháp hóa”.

Đường Đỗ Hữu Vị sau năm 1955 đổi thành đường Hoàng Diệu.

Nói thêm, sau năm 1955, ở Đà Nẵng chỉ có hai tên đường là Pasteur và Yersin là được giữ lại đến bây giờ, tất cả 38 tên đường tiếng Pháp còn lại đều được đổi thành tên Việt.

Đà Nẵng Cuối tuần

Sơn Chà hay Sơn Trà

đăng 20:45, 21 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Một chiếc xe đò chạy tuyến Sơn Chà - Đà Nẵng trước năm 1975. (Ảnh tư liệu)


Về địa danh Sơn Trà đã có nhiều bàn luận với nhiều cứ liệu và luận giải khác nhau.

Bàn về địa danh này, tại trang 19 tập tài liệu “Văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn quận Sơn Trà”, do Phòng Văn hóa và Thông tin quận lưu hành nội bộ năm 2008, cho rằng Sơn Chà bắt nguồn từ một dụng cụ bắt cá của ngư dân địa phương: “Từ thế kỷ XV về trước, Sơn Trà là hải đảo, bốn bề nước bao bọc, giống như cái chà của ngư dân làm, thả gần bờ dụ cá vào để bắt, nên dân địa phương thường gọi là Sơn Chà”. Tài liệu này cũng giải thích cả địa danh Sơn Trà: “Bởi núi có gần như hầu hết cây mọc thấp “tức trà” và cũng có nhiều rừng cây trà núi mọc um tùm rậm rạp, nên gọi là Sơn Trà”.

Có nghĩa là, theo tài liệu đã dẫn thì gọi Sơn Chà hay Sơn Trà đều không sai.

Tuy nhiên, tác giả Trần Xuân An đã đưa ra cách luận giải được cho là khả tín nhất qua bài viết “Thêm một cứ liệu để lý giải địa danh: Sơn Trà hay Sơn Chà?” đăng trên Tạp chí Non Nước số 201 + 202 (tháng 8, 9-2014).

Theo đó, có một loại cây trái được dân gian gọi là cây sơn chà, trái sơn chà. Trong cuốn “Tự vị An Nam - La-tinh” (Dictionarium Anamitico Latinum, 1772 – 1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine (Bá Đa Lộc Bỉ Nhu), có cả hai mục từ này, được ký âm bằng bộ chữ cái La-tinh và giải nghĩa sang tiếng La-tinh:

“Cây sơn chà: Thứ cây gần giống như cây cau, người Bồ [Đào Nha] gọi là Romania”.

“Trái sơn chà: Thứ trái cây giống như cây ô-liu, người Bồ gọi là Romania”.

Một mục từ gần gũi khác:

“Cây chà là: Thứ cây gần giống như cây cau”.

Có thể cây sơn chà, trái sơn chà chính là một loại chà là ở vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, hiện nay vẫn còn tồn tại, khác với các loại chà là ở các vùng địa lý khác. Phải chăng vùng bán đảo Sơn Chà (Sơn Trà), vừa là địa hình đồi trọc vừa thuộc vùng ven biển, nhoài xa ra biển, ngày trước vốn có nhiều loại cây sơn chà này?

Trong “Quốc triều chính biên toát yếu”, Sơn Chà không phải bị ghi thành Trà Sơn hay Sơn Trà (như “Đại Nam thực lục” hay “Đại Nam nhất thống chí”) mà đúng là Sơn Chà. Có đến hai đoạn đề cập đến địa danh này:

“Năm Canh Thân thứ mười ba (1860), tháng Giêng, tàu binh Đại Pháp ở vũng Sơn Chà chạy đi, nhưng còn ở lại Chơn Sảng và Đà Nẵng. Ngài dụ khiến 2 đạo quân thứ Quảng Nam và Hải Vân nhắm thế mà chỉnh bị”.

“Tháng 3, Đại Pháp sai đốt các đồn An Hải, Điện Hải tại núi Sơn Chà, rồi những tàu binh đậu vũng Sơn Chà đều chạy đi hết. Ngài dụ quan Quân thứ và các địa phương chỗ nào có hải phòng phải phòng bị cho nghiêm ngặt”.


Tác giả Trần Xuân An kết luận: “Địa danh “Sơn Chà” được hai lần nhắc đến trong hai trích đoạn trên đã giúp chúng ta thật sự không còn chút băn khoăn, thắc mắc nào nữa, khi xác định Sơn Chà, chứ không phải Sơn Trà như trên giấy tờ hành chính hiện nay; và còn không nghi ngờ gì nữa, đó chính là một địa danh, không những trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân Quảng Nam – Đà Nẵng, mà từ xưa cũng là một địa danh hành chính chính thức”.

Đà Nẵng Cuối tuần

Tổng Binh ở đâu?

đăng 20:20, 13 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Có những địa danh gắn với lịch sử hình thành của một vùng đất, nhưng nó không phải là tên gọi để chỉ một đơn vị hành chính của vùng đất đó. Tổng Binh ở phía đông huyện Bình Sơn là trường hợp như vậy. Dân Lý Sơn có câu ca dao để nói về địa danh này: “Trời trong ngó thấy Tổng Binh/ Muốn về thăm mẹ bực mình chẳng nghe”. Từ Lý Sơn, chỉ có thể nhìn thấy Tổng Binh khi “trời trong” mà thôi.

Trong quá trình tiến về phương Nam để định hình đất nước chữ S như hôm nay, cha ông ta đã cắm những cột mốc quan trọng sau bước chân mở cõi của những binh phu lẫn những lưu dân chân đất. Tổng Binh ở xã Bình Hải (Bình Sơn) là một “cột mốc” như thế.

Vì sao có tên Tổng Binh?

Nhà giáo Nguyễn Đình Thảng, thầy dạy Hán Nôm khoa Ngữ văn của Đại học Tổng hợp Huế những năm 70-80 của thế kỷ trước, quê vùng đông huyện Bình Sơn đã có lần giải thích theo cách hiểu biết của ông về tên gọi này: “Tổng Binh là chỗ duyệt binh thôi”.

Vịnh Việt Thanh, xã Bình Hải (Bình Sơn) nơi trước đây hơn 500 năm được xem như bàn đạp để Đại Việt tiến quân vào đất liền. ẢNH: TL 


Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, người đã lăn lộn qua nhiều địa danh để tìm hiểu và lý giải các phong tục tập quán văn hóa ven biển Quảng Ngãi thì trưng ra cuốn “Từ điển chức quan Việt Nam” của Đỗ Văn Ninh để giải nghĩa chữ “tổng binh”, đại để đó là một chức quan, tùy theo mỗi triều đại mà quy mô và vai trò lãnh đạo của vị quan giữ chức này bé hay lớn. Ví dụ như Vương Thông- người đã thua tan tác Lê Lợi ở Đông Quan, buộc phải cầu hòa, cũng được nhà Minh sai phái qua Giao Chỉ giữ chức tổng binh trước đó. Tuy nhiên, TS. Nguyễn Đăng Vũ cũng nghiêng về cách lý giải của nhà giáo Nguyễn Đình Thảng, tức đó là nơi duyệt binh hoặc nơi đồn trú của quân lính thời vua Lê Thánh Tông tiến đánh quân Chăm.

Chúng ta đều biết, sau lần gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chăm để đổi lấy hai châu Ô và Rí (Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế ngày nay) vào năm 1306, biên giới của nhà Trần cũng chỉ dừng lại ngang đèo Hải Vân mà thôi. Phải đến 165 năm sau, tức 1471, Lê Thánh Tông mới tiến thêm một bước dài nữa, chiếm luôn kinh đô Đồ Bàn, xác lập chủ quyền Đại Việt đến đèo Cù Mông, tỉnh Bình Định ngày nay. Vị vua thao lược này không lấn đất theo kiểu cuốn chiếu từ Hải Vân đánh vô mà “chặt khúc” ra để giành từng phần một. Cú đổ bộ 2 vạn quân Đại Việt lên bờ biển vịnh Việt Thanh (phía đông Nhà máy Lọc dầu Dung Quất) mùa Xuân năm 1471 để chuẩn bị tiến đánh Đồ Bàn, thủ đô Chămpa thời ấy là một minh chứng cho chiến thuật “chia nhỏ để đánh” này.

Vì sao chọn bờ biển Việt Thanh mà không chọn nơi nào khác? Thứ nhất là quãng đường từ biên giới Đại Việt tại Hải Vân đến kinh đô Đồ Bàn chừng 300 cây số, thì vịnh Việt Thanh nằm ở phần 1/3 quãng đường tính từ phía bắc vào, là “khúc” dễ triển khai lực lượng bộ binh để tiến quân vào kinh đô Chăm. Nhưng điều này mới quan trọng: đây là vịnh biển kín gió có thể đồn trú tàu thuyền, lại nằm trong tầm quan sát từ Lý Sơn- nơi được xem như bàn đạp để Đại Việt tiến quân vào đất liền.

Một điều trùng hợp ngẫu nhiên là người Mỹ cũng đã chọn Việt Thanh để đổ quân bộ binh lên đất liền ngay bãi biển An Cường ngày nay, vào ngày 18.8.1965 sau khi phát hiện tại đây có một đơn vị quân giải phóng đang đồn trú. Trận thắng Vạn Tường vang dội năm nào của quân giải phóng đã diễn ra sau cuộc đổ bộ này của quân đội Mỹ.

Chính vì vị trí rất thuận lợi cho việc triển khai bộ binh từ biển ập vào nên vịnh Việt Thanh và toàn bộ vùng Bình Hải, bao gồm cả An Cường, Vạn Tường, Phước Thiện được chọn làm nơi đồn trú, chuẩn bị quân lương trước khi tiến vào đánh chiếm Đồ Bàn. Tên gọi Tổng Binh có lẽ xuất hiện vào thời điểm này. Sử sách còn ghi, chuyến đi lần ấy, đích thân vua Lê chỉ huy, có đến 500 chiến thuyền hộ tống và 2 vạn binh sĩ đi cùng. Một cuộc biểu dương lực lượng khổng lồ như vậy nên để lại ấn tượng mạnh cho người dân nơi này. Để mãi đến hơn 500 năm sau, cuộc “tập trận” ngày ấy vẫn lưu lại một địa danh mang tên Tổng Binh.

Từ lời đáp của tướng sĩ

Điều thắc mắc mà hậu thế khó có thể lý giải được chung quanh câu chuyện về các địa danh tại vùng đất này. Theo TS. Nguyễn Đăng Vũ, trước khi vua tôi tiến về phương Nam đánh chiếm Đồ Bàn, Lê Thánh Tông tập hợp quân sĩ lại trước Động Hàng Đô (vị trí của UBND xã Bình Hải ngày nay). Sau khi ủy lạo binh sĩ, kết thúc lệnh truyền, vua phán: “Thiên giáng vạn tường, chúc chư đô toàn thắng”. Tướng sĩ đáp từ: “Vạn tường! Vạn tường! Vạn tường!”. Không ngờ lời đáp từ, cũng là kỳ vọng về sự “muôn đời’ ghi ơn công đức của nhà vua, vô tình đã khai sinh ra tên gọi của một vùng đất mới mang tên Vạn Tường. Hỏi những cụ già trong làng vì sao lại có tên Vạn Tường, thì ai cũng nói rằng tên có từ thời xa xưa do ông bà gọi rồi mình gọi theo, chứ không ai nói đến sự liên quan đến câu đáp từ của binh sĩ trên đây.

Bãi biển thôn Phước Thiện, xã Bình Hải (Bình Sơn) được cho là nơi vua Lê tập kết quân trước khi đổ bộ lên Tổng Binh. Ảnh: Văn Xuân 


Địa danh Vạn Tường bắt nguồn từ lời đáp của binh sĩ đối với vị vua anh minh, đó cũng chỉ là giả thiết. Nhưng ít ra, cái tên Vạn Tường vẫn còn “nối mạng” với hậu thế bằng tên gọi của một thôn thuộc xã Bình Hải, còn Tổng Binh thì mãi mãi cũng chỉ là tên gọi được lưu giữ trong ký ức của các thế hệ dân Việt vùng đất này, chứ nó hoàn toàn không mang tên một đơn vị hành chính nào cả. Tương tự, tên gọi Động Hàng Đô cũng vậy, nó chỉ còn là tiếng vọng của quá khứ mà thôi.

Bên cạnh một tên gọi gắn liền với lịch sử mở cõi của cha ông, vùng Tổng Binh còn là nơi trầm tích những vỉa tầng văn hóa khác nhau. Địa danh Gò Yàng ở thôn Phước Thiện-nơi hằn in dấu vết của con người, cả Chăm lẫn Việt; Gành Yến- nơi kiến tạo của thiên nhiên để lại cho chúng ta một “kỳ quan” miệng núi lửa thuở khai thiên lập địa; một giếng Vương ngay giữa làng Thanh Thủy chưa bao giờ bị nhiễm mặn và cạn nước ngay trong những năm đỉnh hạn.

Đã hơn nửa thiên niên kỷ, tiếng vó ngựa của vua tôi nhà Lê đã mất hút vào quá vãng, nhưng âm vang của nó vẫn còn lay động bao con tim dân Việt cho đến tận hôm nay. Như thấy mỗi tấc đất nơi Tổng Binh còn in dấu hài của bậc quân vương thuở đi mở nước.

Cẩm Thành, ai đã đặt tên?

đăng 20:39, 2 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cẩm Thành là mỹ từ của thành cổ Quảng Ngãi, được xây dựng năm 1807, hoàn thành năm 1815, nơi đặt hành cung và bản doanh của bộ máy chính quyền hàng tỉnh lúc bấy giờ. Người xưa cho rằng địa cuộc nơi đây tụ hội khí thiêng, văn mạch của miền đất núi Ấn, sông Trà, nên Cẩm Thành trở thành địa danh văn hoá của Quảng Ngãi. Chính vì vậy, khi toà thành không còn nữa, mỹ từ Cẩm Thành vẫn tiếp tục tồn tại mang theo niềm tự hào của một vùng văn hoá địa linh, nhân kiệt.

Trải qua bao thăng trầm của thời gian, tháp nước tọa lạc ngay cạnh Viễn thông Quảng Ngãi trở thành nét xưa, chấm phá giữa nhịp sống hối hả ngày nay. Ảnh: TL 


Theo các di liệu thời Nguyễn (“Đại Nam nhất thống chí”, “Đồng Khánh địa dư chí”, “Quảng Ngãi tỉnh chí”...), thành được xây bằng đá ong với kiểu kiến trúc vauban, chu vi 500 trượng 2 thước (2.008m), cao 1 trượng (4m). Quanh thành có hào, rộng 5 trượng (20m), sâu 1 trượng (4m), thông thuỷ với sông Trà Khúc ở góc Tây Bắc. Về số cửa thành, “Đại Nam nhất thống chí”chép “3 cửa”, nhưng “Quảng Ngãi tỉnh chí” nói rõ hơn “có trổ 4 cửa thành ngay theo 4 hướng nên gọi là cửa Đông, cửa Tây, cửa Nam, cửa Bắc. Cửa Nam nay đã lấp rồi, chỉ còn 3 cửa”.

Từ những ghi chép như thế, những nhà nghiên cứu đời sau (gần đây nhất là cuốn “Quảng Ngãi: đất nước, con người, văn hoá” do Sở VH-TT xuất bản) phân vân liệu thành “chỉ có 3 cửa” hay “nguyên có 4 cửa, sau còn 3”.

Cầu Trà Khúc thời thuộc Pháp có tên là cầu Pigeaud, dài 620m. 


Khi khảo cứu lại các tư liệu, chúng tôi nhận thấy “Đại Nam nhất thống chí” chép về thành Quảng Ngãi chỉ đại lược mấy dòng và cách ghi “3 cửa” là ghi theo hiện trạng. Điều này không phủ định cách hiểu “nguyên trạng có 4 cửa, sau 1 cửa bị lấp, còn 3”. Riêng “Quảng Ngãi tỉnh chí” là cuốn địa chí chuyên khảo về Quảng Ngãi, những người biên soạn (Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đình Chí, Khiếu Hữu Kiều) vốn là quan lại trấn nhậm ở Quảng Ngãi và là những nhà khảo cứu có uy tín đương thời; phần viết về tỉnh, thành khá cụ thể, mạch lạc, nên là tài liệu khả tín.

Hơn nữa, đến nay trong dân gian vẫn còn lưu truyền câu chuyện “Hai con yêu cửa Nam thành Quảng Ngãi”, nhắc đến oan hồn của 2 người phụ nữ chết oan lúc thành mới xây, cũng là một cứ liệu truyền ngôn góp phần khẳng định thành Quảng Ngãi vốn có 4 cửa.

Với các bài thơ vịnh cảnh Thiên Ấn niêm hà, Thạch Bích tà dương, Nguyễn Cư Trinh (1716- 1767) người từng giữ chức tuần vũ ở Quảng Ngãi khoảng năm 1750 - 1752 có lẽ là người đầu tiên mang hai chữ Cẩm Thành vào trong thơ.

Nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Đình Thảng (đã quá cố) cho rằng, những bài thơ nôm vịnh cảnh đẹp Quảng Ngãi (trong đó có 2 bài đã nhắc trên) có thể không phải của Nguyễn Cư Trinh lý do là những bài này họa Hà tiên thập vịnh (vịnh 10 cảnh đẹp Hà Tiên), mà Hà Tiên thập vịnh dùng chữ Hán; xướng chữ Hán, họa chữ Nôm quả là đáng ngờ.

Mặt khác, tỉnh thành Quảng Ngãi chuyển về khu vực nay ta gọi là Thành Cổ - đầu đời Gia Long (đầu thế kỷ XIX); trong khi đó Nguyễn Cư Trinh mất năm 1767 làm sao ông lại có thể nhắc đến một toà thành mà sau khi ông qua đời gần 100 năm và với bao nhiêu biến động mới được xây dựng?

Nghi vấn của cụ Nguyễn Đình Thảng về cái gọi là “Quảng Ngãi thập nhị cảnh” nêu ra trong cuốn thơ văn Nguyễn Cư Trinh do ông Phan Hứa Thuỵ biên soạn (NXB Thuận Hoá – 1989) là có cơ sở. Xin chép lại đoạn văn sau đây của “Đại Nam liệt truyện tiền biên”: “Cư Trinh ở ngoài biên 10 năm, oai vọng lẫy lừng, dân Việt, người Nam thảy đều khâm phục. Lại ưa ngâm vịnh, thường cùng đô đốc Hà Tiên Mạc Thiên Tứ lấy thơ văn tặng đáp qua lại với nhau, lời lẽ bình đạm, đẹp đẽ. Những thơ văn ấy vì nhiều biến cố không được ghi chép lại, song có thơ họa “Hà Tiên thập vịnh” truyền tụng ở đời”.

Trạm cứu thương ở Quảng Ngãi thời Pháp thuộc. (ảnh tư liệu, Lê Hồng Khánh sưu tầm và chú giải) 


Đã rõ, xướng là “thập vịnh” (10 bài), thì họa cũng thập vịnh, lấy đâu ra thập nhị (12). Trong 12 cảnh đẹp Quảng Ngãi, truyền tụng bấy nay, Nguyễn Cư Trinh chỉ vịnh 10 cảnh, còn 2 cảnh “Vân phong túc vũ” và “Thạch ky điếu tẩu” là do người đời sau thêm vào thôi.

Cũng có thể hiểu theo một cách khác để giải đi chữ “ngờ” đối với việc Nguyễn Cư Trinh nhắc đến Cẩm Thành. Phải chăng Cẩm Thành trong thơ Nguyễn Cư Trinh nói đến thành phủ Quảng Nghĩa khi còn đóng ở Phú Nhơn, phía bắc sông Trà Khúc. Khi phủ Quảng Nghĩa dời về Chương Nghĩa, xây thành mới, người ta đã mang theo luôn cái mỹ tự Cẩm Thành theo chăng?

Khi Cẩm Thành đã trở thành địa danh văn hoá của cả vùng đất Quảng Ngãi, thì sự đồng nhất giữ lỵ sở ở Phú Nhơn và lỵ sở ở Chánh Lộ trong một cách gọi thiên về văn hoá tinh thần cũng là điều có thể xảy ra.

Dù sao cũng chỉ là giả thiết. Mong các nhà nghiên cứu bàn thêm để cùng nhau hiểu biết nhiều hơn về quê hương Quảng Ngãi mến yêu, như lời cha ông nhắc nhở “cây có cội, nước có nguồn”! 

Lê Hồng Khánh

Phong thủy linh thiêng của ngọn núi giúp Phú Yên thành "địa linh nhân kiệt"

đăng 04:37, 9 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Quan sát từ các hướng khác nhau, hình nón cân đối của núi Chóp Chài ở Tuy Hòa không thay đổi nhiều. Đặc điềm này khá giống núi Phú Sĩ, biểu tượng của đất nước Nhật Bản. Đây cũng là một ngọn núi thiêng theo quan niệm phong thuỷ của người xưa. 

Nằm ở địa phận phận xã Bình Kiến, ngoại ô thành phố Tuy Hòa, núi Chóp Chài là một thắng cảnh nổi tiếng của mảnh đất Phú Yên

 

Núi có chiều cao 363 mét, nổi lên giữa vùng đồng bằng Tuy Hòa bằng phẳng. Chu vi quanh chân núi là 10 km

 

Nhìn từ xa, núi Chóp Chài có hình nón, trông tựa như một kim tự tháp khổng lồ

 

Quan sát từ các hướng khác nhau, dáng vẻ cân đối của ngọn núi không thay đổi nhiều

 

Đặc điềm này của núi Chóp Chài khá giống núi Phú Sĩ, biểu tượng của đất nước Nhật Bản

 

Theo các nhà khoa học, đây là ngọn núi trẻ, căn cứ theo cấu tạo địa chất so với toàn vùng thì không có liên hệ gì với dãy Trường Sơn

 

Hàng triệu năm trước, núi Chóp Chài từng là đảo đá giữa biển, sau này do những chấn động địa chất và phù sa bồi lắng mà khu vực quanh núi trở thành đồng bằng

 

Căn cứ vào hình dáng và thế núi thì nó còn có tên khác là Quy Sơn (núi Rùa) hay hòn Cổ Rùa, bởi nhìn giống một con rùa đang thò cổ ra bò trên mặt đồng rộng

 

Theo quan niệm phong thuỷ của người xưa, sông Đà Rằng là con rồng uốn khúc, đầu ở thượng nguồn, đuôi vắt ngang qua làng Phước Hậu để giao nhau với núi Chóp Chài như con rùa khổng lồ vươn mình ra biển Đông. Thế đất Long Qui giao hoà này khiến Phú Yên là vùng địa linh nhân kiệt.

 

Có lẽ do ảnh hưởng từ quan niệm phong thủy trên mà quanh núi Chóp Chài có nhiều ngôi chùa cổ, có thể kể đến các chùa Hoà Sơn, Minh Sơn, Khánh Sơn, Bảo Lâm và chùa Hang

 

Trong lịch sử Việt Nam, núi Chóp Chài là địa danh gắn với nhiều sự kiện trong cuộc tranh giành quyền bính giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn

 

Thời kháng chiến chống Mỹ, nơi đây đã diễn ra một số trận đánh quan trọng quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam

 

Ngày nay trên núi còn có nhiều công trình viễn thông dân sự và quân sự

 

Trong tâm thức của người dân, núi Chóp Chài cùng với sông Ba đã trở thành biểu tượng quen thuộc của thành phố Tuy Hà và mành đất Phú Yên

Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy

đăng 19:59, 5 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong bài vọng cổ Tình anh bán chiếu có câu:


Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra... chào


và câu


Hỡi ôi, con sông Phụng Hiệp nó chảy ra bảy ngả, mà sao lệ của tôi nó cũng lai láng muôn dòng. 


Bạn thấy có gì lạ không? Ngã Bảy thì dấu ngã, còn bảy ngả thì dấu hỏi!


Tui nói thiệt nghe, hồi nào tui vẫn quen viết chữ Ngả với ý nghĩa là hướng đi bằng dấu hỏi. Thí dụ như: Mỗi người đi mỗi ngả, Đôi ngả chia ly, Đường đời trăm ngả... Nhưng khi viết ngã ba, ngã tư, ngã bảy... thì lại viết dấu ngã (chắc chắn cách viết này đúng, vì có rất nhiều địa danh mang dạng Ngã x, và được thấy viết dấu ngã trên rất nhiều văn bản, bảng tên đường, bảng hiệu...).


Chợ Ngã Bảy ở thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang


Rãnh rỗi, ngồi ngẫm nghĩ, tui thấy rằng trong cả 2 trường hợp trên chữ ngả hoặc ngã đều mang ý nghĩa là hướng đi. Tức là giống nhau! Mà đã giống nhau thì phải là cả 2 cùng dấu hỏi hoặc cùng dấu ngã chớ, sao lại một đứa dấu hỏi, một đứa dấu ngã? Đứa nào sai?


Lại tra từ điển. Hóa ra hai trường hợp đều đúng. Nếu là bảy ngả thì phải viết dấu hỏi, còn ngã bảy thì viết dấu ngã. Từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học) giải thích rõ thêm rằng: Ngã dùng trước từ chỉ số, chỉ chỗ có nhiều ngả đường, ngả sông tỏa đi các hướng khác nhau.


Như vậy, ngã ba, ngã bảy... viết dấu ngã vì theo sau nó là từ chỉ số.


Biết quy tắc vậy rồi, để khỏi sai chính tả rồi, nhưng nếu bây giờ ai cắc cớ hỏi tiếp: Sao lại quy ước sau chữ Ngã là từ chỉ số thì nó phải viết dấu ngã? thì tui... bí. Ai biết trả lời dùm đi?


Phạm Hoài Nhân

Anh đi đâu về?

đăng 02:27, 13 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

  • Anh vừa đi chơi đâu về?
  • Tui ra đảo Bình Ba ở Nha Trang. Còn anh?
  • Tui tới thác Pongour ở Đà Lạt.

Đố bạn đoạn đối thoại trên có gì sai?


Thác Pongour


Hầu như tất cả mọi người, kể cả các đơn vị tổ chức tour du lịch, đều gọi tour ra đảo Bình Ba là tour đi Nha Trang, tour chơi thác Pongour là tour Đà Lạt. Nhưng thật ra đảo Bình Ba đâu phải ở Nha Trang,  thác Pongour đâu phải ở Đà Lạt!


Về mặt địa lý hành chính, đảo Bình Ba thuộc thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa; thác Pongour thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Nghĩa là 2 địa điểm trên chả dính dáng gì tới Nha Trang hay Đà Lạt cả. Bản thân Nha Trang cũng chỉ là một thành phố của tỉnh Khánh Hòa, và Đà Lạt cũng chỉ là thành phố của tỉnh Lâm Đồng thôi.


Bình Ba


Sự nhầm lẫn này xảy ra là do danh tiếng của 2 địa điểm du lịch là Nha Trang và Đà Lạt quá lớn khiến người ta đánh đồng Nha Trang với tỉnh Khánh Hòa, Đà Lạt với tỉnh Lâm Đồng. Một địa điểm nổi tiếng ở đâu đó thuộc Lâm Đồng thì được gán ngay là ở Đà Lạt (thí dụ như sân bay Liên Khương ở Đức Trọng, Lâm Đồng chớ đâu phải ở Đà Lạt). Tương tự như vậy một địa điểm nổi tiếng ở đâu đó thuộc Khánh Hòa thì được gán ngay là ở Nha Trang (thí dụ như sân bay Cam Ranh ở Cam Ranh, Khánh Hòa chớ đâu phải ở Nha Trang).


Sự nhầm lẫn tương tự cũng xảy ra đối với những địa điểm khác khi mà tên tuổi của thành phố trực thuộc tỉnh quen thuộc hơn so với tên tỉnh, như Phan Thiết so với Bình Thuận, Phan Rang so với Ninh Thuận hoặc thậm chí Biên Hòa so với Đồng Nai. (Sự nhầm lẫn đối với cái tên Phan Rang lại càng lớn hơn nữa, thí dụ như người ta hay nói biển Ninh Chữ ở Phan Rang. Thật ra biển Ninh Chữ ở thị trấn Khánh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, còn Phan Rang thì... không hề là một địa danh hành chính, mà tên đúng của nó là thành phố Phan Rang - Tháp Chàm).


Những sự nhầm lẫn nói trên không gây tác hại gì, vì nó không khiến người ta... đi lạc, tuy nhiên nếu gọi tên và xác định địa điểm hành chính cho đúng vẫn hay hơn, phải không các bạn?


Cá biệt có một trường hợp gọi sai mà lại được ưa chuộng, yêu thích hơn gọi đúng - thậm chí, đối với nhiều người gọi như vậy mới là đúng. Đó là trường hợp Sài Gòn. Về mặt ní nuận, không tồn tại địa danh hành chính Sài Gòn mà chỉ có TPHCM, nhưng người ta nói đi Sài Gòn, sống ở Sài Gòn, dân Sài Gòn... Có  ai nói gọi vậy là sai hông nè?


Phạm Hoài Nhân

Nghĩ chuyện bâng quơ

đăng 01:56, 8 thg 8, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Địa danh là gì hở bạn?


Cứ từng chữ mà giải thích ra thì địa danh là tên đất, cũng như nhân danh là tên người. Còn chi tiết hơn nữa, thì theo TS Lê Trung Hoa, địa danh có thể phân làm 4 loại:

  • Địa danh chỉ địa hình tự nhiên: tên sông, tên núi, tên thác, tên hồ... như núi Trường Sơn, sông Cửu Long...
  • Địa danh chỉ công trình xây dựng: cầu cống, chợ, đường phố... như cầu Chương Dương, chợ Bến Thành...
  • Địa danh chỉ đơn vị hành chính: xã, ấp. phường, quận, huyện, tỉnh...
  • Địa danh chỉ vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng, như vùng Bàn Cờ, khu Cầu Chữ Y...


Có cả khoa học nghiên cứu về địa danh, là địa danh học. Khoa học này tìm hiểu về phương thức đặt địa danh, cấu tạo của địa danh, nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh...


Ta có thể đến thăm anh Hai Ẩu, uống cà phê với anh Hai Ẩu chớ không thể tới thăm... cái tên của anh Hai Ẩu hay uống cà phê với cái tên của anh Hai Ẩu. Với cái tên Hai Ẩu, chỉ có thể tìm hiểu xem nó là bút danh hay nickname của thằng cha nào. 


Tương tự như vậy, ta không thể tới thăm một địa danh, chiêm ngưỡng một địa danh mà chỉ có thể tới thăm một địa điểm, chiêm ngưỡng một địa điểm. Với địa danh, việc thường làm là xét xem địa danh đó được đặt từ khi nào, do ai, ý nghĩa là gì...


Vậy mà bây giờ hàng lô hàng lốc bài báo viết về du lịch ghi tựa và nội dung kiểu như vầy: Những địa danh đẹp say lòng du khách tại..., 10 địa danh phải đến trong đời,... Có trang còn đặt hẳn một mục trên Menu là Địa danh nhưng thay vì nội dung trong mục đó là những bài tìm hiểu về nguồn gốc, ý nghĩa các tên sông núi, vùng miền... thì lại là giới thiệu về các danh lam thắng cảnh!


Chắc nhiều bạn sẽ nói tui khó chịu, ghi vậy thì... ai cũng hiểu mà! Ừa, chắc vậy. Chỉ tại tui khi đọc thì thấy nó hơi... bị ức chế nên nói ra vậy thôi, và cũng chỉ nói là nghĩ chuyện bâng quơ thôi mà!


Phạm Hoài  Nhân

Nghĩa tên gọi "Châu Đốc" là gì?

đăng 04:54, 5 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan


Xin sơ lược trình bày tình hình tra cứu như sau:

1- Gia Định Thành Thông Chí (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức (THĐ) là sách đầu tiên chép về tên sông tên đất ở Gia Định xưa (Nam bộ ngày nay) kể từ lúc người Việt ta đặt chân đến đây rồi dần dần làm chủ đến giờ. (Chắc chắn sách được chép vào đời vua Gia Long 1802 – 1820. Bởi sang đầu đời vua Minh Mạng vừa có chiếu cầu sách cũ THĐ đã kịp thời dâng lên).

Theo lời giới thiệu của viện Sử Học Việt Nam trong dịp ấn hành ra mắt GĐTTC vào năm 1998 các sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên Đại Nam Nhất Thống Chí Phần Nam Kỳ Lục Tỉnh do các sử gia triều Nguyễn soạn ra sau đó cũng phải dựa vào đây.

2-Theo đó về một vùng đất về một con sông về một cái đồn mà sau này tất cả chúng ta đều gọi là “Châu Đốc” thì THĐ đã chép vào sách của mình bằng hai chữ Hán đọc theo âm Việt là “ Chu Đốc”.( Chữ “Chu” này thuộc bộ Mộc.Chữ “Đốc” thuộc bộ Trúc).

Với hai chữ này xét về nghĩa căn cứ chặt chẽ vào tự dạng thì “Chu” là “sắc đỏ”.Còn “Đốc”có nghĩa là “Thuần hậu không pha tạp” (“Đốc tín” là “dốc một lòng tin”. “Đôn đốc” là “dốc một lòng chăm chỉ trung hậu”).

Vậy nghĩa của tên gọi “Chu Đốc” căn cứ vào tự dạng như trên đã nói là   “Thuần hậu không pha tạp sắc đỏ ” chăng?

Xin thưa không phải vậy.

Vấn đề khá lắc léo phức tạp.Xin trình bày rõ thêm như sau:

Năm 1757 Nặc Tôn một hoàng thân nước Cao Mên dâng đất Tầm-Phong- Long cho chúa người Việt có tên là Nguyễn Phúc Khoát (ông nội vua Gia Long).Đây là thời điểm toàn đất Nam Bộ ngày nay về mặt chánh thức người Việt ta kết thúc xong sự thu phục của mình.

Từ sự kiện này nơi mà ngày nay ta gọi “Châu Đốc” lần đầu tiên trở thành biên địa lãnh thổ của người Việt với nước Cao Mên. Hay cũng có thể nói ngược lại lúc này phủ Mật Luật đối diện bên nước Cao Mên bắt đầu trở thành khu vực giáp giới với đất “Chu Đốc”của người Việt.Về mặt hình dạng của đường biên hồi ấy khúc khuỷu quanh co trông giống “cái mỏ của con heo”.Người Khmer hai bên nhân đó gọi là “mỏ heo” .Tiếng Khmer có âm điệu là  Moọc-Churút.Khi người Việt ta tới đây sinh sống chung lộn với người Khmer cũng dựa vào người bản xứ mà gọi là Moọc-Churút theo.

65 năm sau, vào đời Gia Long.Moọc-Churút bị nói trại đi .Không biết sai chạy đến mức nào, tuy nhiên khi lọt tới tai Trịnh Hoài Đức ông đã dùng hai chữ Hán “Chu Đốc” để phỏng chú cho cụm âm thanh có nguồn gốc thổ ngữ  Khmer này.Do vậy hiện nay nếu cần giải thích nghĩa tên gọi “Châu Đốc” là gì bắt buộc phải đặt đối tượng vào lại bối cảnh lịch sử này.Và tất nhiên “Chu Đốc” chỉ có thể mang nghĩa là “mỏ con heo”.Nói chính xác hơn do đã “rơi” mất thành tố âm ngữ “Moọc” ở phía trước chỉ còn lại “Churút” nên nghĩa của nó theo đó chỉ còn là “Con Heo” mà thôi.

Nhưng chiếu theo tự dạng như trên đã nói đọc là “Chu Đốc” sao hiện nay lại trở thành “Châu Đốc” ?

Theo tôi điều này không lấy gì làm khó hiểu. Hồi ấy ông sơ của vua Gia Long tên Nguyễn Phúc Chu.Mọi người đành kỵ úy đọc chữ “Chu” thành “Châu”.“Chu Đốc” từ đó biến thành “Châu Đốc”.Không thể nói nghĩa của chữ “Châu” ở đây là “đất” hay “một khu vực lãnh thổ…” được. Bởi trong sách GĐTTC của THĐ không hề viết là “Châu” thuộc bộ Xuyên để có thể giải thích nghĩa như trên.Thậm chí giả dụ có là chữ “Châu” thuộc bộ Xuyên đi nữa cũng  vẫn không thể giải nghĩa nó là “một khu vực lãnh thổ…”.Vì hai chữ Hán trong sách GĐTTC nói trên  chỉ làm nhiệm vụ phỏng chú một ngữ âm khmer đã có trước.Một dạng ký âm bằng Hán tự.Rồi sau này khi ta dịch hai chữ Hán kia ra chữ  quốc ngữ mẫu tự La tinh đang dùng hiện nay nó đương nhiên trở thành C-h-â-u  Đ-ố-c. Một kiểu ký âm của ký âm. Thế thôi.


Sa Đéc, Đồng Tháp 25 Tết năm Tân Mão.
Trần Minh Tạo

1-10 of 18