Con người và sự kiện

Bài mới

  • Hoàng Liên Sơn - điểm du lịch đáng đến 2019 của National Geographic Tạp chí National Geographic (Mỹ) giới thiệu 28 điểm du lịch đáng đến tham quan năm 2019, trong đó có khu vực dãy núi Hoàng Liên Sơn, Việt Nam.Hoa ...
    Được đăng 23:59, 15 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nhà lưu niệm bác sĩ nông học Lương Định Của ở huyện Long Phú, Sóc Trăng Ngoài 8 di tích cấp quốc gia, tỉnh Sóc Trăng còn có 32 di tích cấp tỉnh. Trong đó có di tích Lưu niệm danh nhân Lương Định Của, một ...
    Được đăng 00:49, 14 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nô nức về với đền ông Hoàng Mười Trong những ngày qua, đền Ông Hoàng Mười, tại xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An đã đón hàng chục nghìn lượt người dân địa phương và du khách ...
    Được đăng 04:37, 13 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chiêm ngưỡng “nhà” mới của Điềm Phùng Thị bên bờ sông Hương 175 tác phẩm của nhà điêu khắc nổi tiếng thế giới Điềm Phùng Thị hiến tặng cho Huế, vừa được chuyển từ khu biệt thự số 1 Phan Bội Châu ...
    Được đăng 01:14, 4 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lạc lối ở Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng Cùng với Điềm Phùng Thị, Lê Bá Đảng đã hiến tặng toàn bộ tài sản nghệ thuật của mình cho Huế. Và gần 400 tác phẩm của ông được trưng ...
    Được đăng 23:59, 3 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 19. Xem nội dung khác »


Hoàng Liên Sơn - điểm du lịch đáng đến 2019 của National Geographic

đăng 01:01, 15 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 23:59, 15 thg 1, 2019 ]

Tạp chí National Geographic (Mỹ) giới thiệu 28 điểm du lịch đáng đến tham quan năm 2019, trong đó có khu vực dãy núi Hoàng Liên Sơn, Việt Nam.

Hoa anh đào đóng băng trong tiết trời mùa đông trên dãy Hoàng Liên Sơn - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Khu vực dãy núi Hoàng Liên Sơn của Việt Nam được kênh National Geographic xếp vị trí thứ 7 trên tổng số 28 điểm du lịch đáng tham quan năm 2019.

Núi trải dài khoảng 180km theo hướng tây bắc - đông nam giữa hai tỉnh Lào Cai - Lai Châu, kéo dài đến phía tây tỉnh Yên Bái.

Du khách đến vùng cao nguyên Sa Pa trong khu vực Hoàng Liên Sơn sẽ mê mẩn trước vẻ đẹp của những thửa ruộng bậc thang, thác nước, đồi chè, rừng trúc và trải nghiệm các buổi chợ phiên, đời sống văn hóa của người dân tộc.

Sapa Sisters, một tổ chức liên doanh du lịch bền vững của phụ nữ H’Mông tại Sa Pa, sẽ hướng dẫn du khách chi tiết về các cung đường và các địa điểm du lịch bản địa.

Phía tây bắc dãy núi Hoàng Liên Sơn có nhiều ngọn núi cao trên 2.800m, trong đó có ngọn Fansipan 3.143m cao nhất Việt Nam, được xem là "nóc nhà" của Đông Dương; ngoài ra còn có ngọn Tả Giàng Phình (Sa Pa, Lào Cai) cao 3.090 m.

Cáp treo lên đỉnh Fansipan - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Du khách chụp ảnh lưu niệm sau khi chinh phục đỉnh Fansipan - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Một trong những lý do các biên tập viên của National Geographic chọn Hoàng Liên Sơn là do khu vực này trong thời gian gần đây có số lượng du khách tăng mạnh, khi đưa vào sử dụng tuyến cáp treo đến ngọn núi Fansipan.

Ngoài tuyến cáp treo lên núi Fansipan, du khách có thể trải nghiệm phượt các tuyến trong và xung quanh Vườn quốc gia Hoàng Liên, thung lũng Mường Hoa gần kề; sau đó trải nghiệm văn hóa homestay tại các bản làng của người dân tộc người H’Mông, Dao Đỏ, Tày, Giáy và các nhóm dân tộc thiểu số khác.

Đáng chú ý là cung đường đèo Ô Quý Hồ (hay Ô Quy Hồ) nằm trên tuyến Quốc lộ 4D cắt ngang dãy Hoàng Liên Sơn, nối liền hai tỉnh Lào Cai - Lai Châu.

Ô Quý Hồ được mệnh danh là "vua đèo vùng Tây Bắc" do cung đường hiểm trở thách thức dân phượt có chiều dài lên tới gần 50 km uốn lượn quanh co qua các vách núi cheo leo.

Cung đường đèo hiểm trở Ô Quý Hồ - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Dân phượt trên đường từ Sa Pa đi Thác Bạc với cung đường khoảng 12 km, qua cổng Vườn quốc gia Hoàng Liên tại Trạm Tôn, một trong những xuất phát điểm của tuyến chinh phục đỉnh Fansipan, đi thêm vài km là lên đến đỉnh Ô Quý Hồ có độ cao gần 2.000m so với mực nước biển. Đỉnh đèo nằm giữa mây núi ngút ngàn nên còn được gọi với cái tên Cổng Trời.

Nhiếp ảnh gia Nguyễn Tấn Tuấn (TP. HCM) từng đến vùng núi Hoàng Liên Sơn 3 lần trong năm 2017-2018 cho biết rất ấn tượng và choáng ngợp trước bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp giữa núi rừng hùng vĩ Hoàng Liên Sơn.

Anh Tuấn cho biết, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ vĩ và thơ mộng của khu vực núi Fansipan và vùng cao, thung lũng Sa Pa, du khách nên đến vào lúc mùa hoa anh đào nở khi mỗi độ xuân về, mùa hoa đỗ quyên nở rực sườn đồi vào tháng 3-4 hay mùa của những thửa ruộng bậc thang chín vàng óng vào khoảng tháng 9-12.

"Du khách thích săn tuyết rơi hay ngắm băng và sương giá bám đọng trên cành thì nên đến vùng núi này từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau" - anh Tuấn cho biết thêm.

Tuổi Trẻ Online giới thiệu bộ ảnh tuyệt đẹp của nhiếp ảnh gia Nguyễn Tấn Tuấn với những khoảnh khắc ghi lại được vào lúc mùa đông và mùa xuân trên dãy Hoàng Liên Sơn:

Quang cảnh đỉnh Fansipan mùa băng tuyết - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Biển mây bồng bềnh trên đỉnh Fansipan - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Hoàng hôn trên đỉnh Fansipan - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Mặt trời lặn xuống ngang đường chân trời nhìn từ đỉnh Fansipan - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Băng tuyết bám trên cành lá khu vực Fansipan - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Hoa anh đào khoe sắc trong mùa băng tuyết Fansipan - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Lạc bước rừng cây hoa anh đào trổ lá non giữa đồi chè Sa Pa - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Một buổi sinh hoạt của người Dao Đỏ bên bếp hồng - Ảnh: NGUYỄN TẤN TUẤN


Các địa danh trong top 28 do National Geographic lựa chọn khá đa dạng, từ cảnh quan đồi núi, sông hồ cho tới rừng rậm, biển đảo, đồng thời có các địa điểm đại diện cho từng châu lục.

Khu vực châu Á có 2 địa điểm vào top 28 là dãy núi Hoàng Liên Sơn, Việt Nam (xếp thứ 7/28) và núi Phạm Tịnh (Fanjingshan), tỉnh Quý Châu, Trung Quốc (xếp thứ 3/28).

Đỉnh Phượng Hoàng tại núi Phạm Tịnh, Quý Châu, Trung Quốc - Ảnh: Twitter


Phạm Tịnh nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên núi Phạm Tịnh được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 1986, và được công nhận là Di sản thế giới vào năm 2018.

Khu vực núi Phạm Tịnh là một địa điểm Phật giáo linh thiêng với 48 ngôi đền trên núi. Du khách lên núi có thể đi bằng cáp treo, tuy nhiên trải nghiệm leo núi mới mang đến cảm giác thú vị, có thể ngắm cảnh quan đa dang sinh học xung quanh núi và tìm hiểu về loài khỉ mũi hếch xám quý hiếm. Trên đỉnh Phượng Hoàng, du khách có thể thỏa thích ngắm mây bay.

Thủ đô Mexico City của Mexico đứng vị trí quán quân các điểm đáng đến 2019. Mexico có nền ẩm thực phong phú với các món ăn chế biến từ ngô - lương thực chính của đất nước này, có thể kể đến như bánh tortilla, tamales làm từ bột ngô.

Rừng mưa Amazon, Peru được National Geographic xếp ở vị trí thứ 2. Rừng nhiệt đới bao phủ phần lớn diện tích đất nước Peru với cảnh quan đa dạng như rừng rậm, rừng mây, đầm lầy, thác nước và nhánh sông địa nhiệt Boiling thuộc hệ thống Amazon chảy qua địa phận Peru.

Báo đốm con tò mò quan sát trong rừng mưa Amazon, Peru - Ảnh: National Geographic


Danh sách 28 địa điểm đáng đến 2019 do National Geographic giới thiệu:


1. Thủ đô Mexico City, Mexico.
2. Rừng mưa Amazon, Peru.
3. Núi Phạm Tịnh, Quý Châu, Trung Quốc.
4. Thủ đô Dakar, Senegal.
5. Tỉnh Dordogne, Pháp.
6. Vùng Canterbury, New Zealand.
7. Dãy núi Hoàng Liên Sơn, Việt Nam.
8. Hòn đảo viễn Bắc Greendland.
9. Thành phố Wadi an Nakhur, Oman.
10. Thành phố Kansas City, bang Missouri, Mỹ.
11. Vùng lãnh thổ Polynésie thuộc Pháp.
12. Thị trấn Vevey, Thụy Sĩ.
13. Khu vực hoang dã Bisti/De-Na-Zin, bang New Mexico, Mỹ.
14. Belize.
15. Thành phố Matera, Ý.
16. Dòng sông ngũ sắc Caño Cristales, Columbia.
17. Thủ đô Cairo, Ai Cập.
18. Thành phố Toronto, Canada.
19. Thành phố Galway, Ireland.
20. Công viên quốc gia Gorongosa, Mozambique.
21. Thành phố Oakland, bang California, Mỹ.
22. Thành phố Salvador, Brazil.
23. Đảo Isla de los Estados, Argentina.
24. Bảo tàng Bauhaus, thành phố Dessau, Đức.
25. Cộng hòa Macedonia.
26. Thành phố Perth, Úc.
27. Cộng hòa Montenegro.
28. Quận Walton, bang Florida, Mỹ.

HUỲNH PHƯƠNG

Nhà lưu niệm bác sĩ nông học Lương Định Của ở huyện Long Phú, Sóc Trăng

đăng 00:49, 14 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ngoài 8 di tích cấp quốc gia, tỉnh Sóc Trăng còn có 32 di tích cấp tỉnh. Trong đó có di tích Lưu niệm danh nhân Lương Định Của, một trong những nhà khoa học nổi tiếng của đất nước trong lĩnh vực nông nghiệp. Địa điểm Nhà lưu niệm được đặt tại ấp 3, gần vòng xuyến trung tâm của thị trấn Long Phú, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

Chân dung BS Nông học Lương Định Của


Nhà Lưu niệm có diện tích sử dụng hơn 1.350 m
2, được xây dựng vào năm 2010 với kinh phí hơn 3 tỷ đồng từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước. Với kiểu kiến trúc của một ngôi đình Nam bộ, nhà lưu niệm được xem như rất thân quen, gần gũi với mọi người. Bên ngoài là hàng rào cùng khoảng sân rộng, trồng nhiều cây cối, hoa kiểng. Cổng chính được xây dựng khang trang, rộng thoáng cùng 2 cổng phụ. Đi qua cổng chính, bước lên bậc tam cấp là hàng ba của nhà lưu niệm với những hàng cột tròn được chạm trỗ hình tượng rồng quấn chung quanh thân cột. Đi qua hành lang bên ngoài, vào bên trong nhà tưởng niệm chúng ta sẽ thấy được chân dung của Ông được đúc bằng đồng, đặt trên tủ thờ ngay chính giữa gian chính của nhà lưu niệm, hai bên là các tủ trưng bày hiện vật các sách báo viết về Ông; trên tường còn treo các hình ảnh về cuộc đời hoạt dộng nghiên cứu khoa học của Ông. Đặc biệt là Huân chương lao động và danh hiệu Anh hung lao động được đặt trang trọng ở nơi đây.

Ngày 26/11/2015, tại Nhà lưu niệm danh nhân BS Nông học Lương Định Của, Huyện ủy, UBND huyện Long Phú đã long trọng làm lễ tiếp nhận mô hình bông lúa của BS Nông học Lương Định Của do Nhật Bản tặng.

Đại biểu lãnh đạo cấp tỉnh và huyện cùng TS Nobuyuki ISERI


Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở VHTTDL, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Huyện ủy, UBND huyện, các Trung tâm thuộc các Sở có liên quan, đại diện các phòng, ban ngành cấp huyện, thị trấn Long Phú, thị trấn Đại Ngãi cùng đại diện Ban Giám hiệu, giáo viên học sinh trường PTTH Lương Định Của đã về dự. Đặc biệt, là sự có mặt của Tiến sĩ người Nhật Bản, Ông Nobuyuki ISERI, Điều phối viên tổ chức hợp tác kinh tế Nhật Bản Việt Nam, đại diện gia đình Ông Lương Định Của.

Phát biểu tại Lễ tiếp nhận với sự chân thành, đầy cảm xúc, Tiến sĩ Nobuyuki ISERI đã kể lại quá trình sưu tầm, phát hiện mô hình bông lúa của BS Nông học Lương Định Của. Đây là mô hình do BS Nông học tự làm năm 1952 trong điều kiện không có các dụng cụ khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài như hiện nay. Trước đó, năm 1951, Ông Lương Định Của đã bảo vệ xuất sắc Luận văn tốt nghiệp với đề tài “Cách xử lý đa bội thể di truyền nhằm tạo nên giống lúa mới”, được Hội đồng Khoa học Trường Đại học tổng hợp Kyoto cấp học vị bác sĩ Nông học, học vị cao nhất của Nhật Bản lúc đó. Ông là người trẻ nhất là người nước ngoài đầu tiên nhận học vị này tại Nhật Bản. Sau đó Ông còn nhiều đề tài nghiên cứu khác và mô hình Bông lúa là một trong những nghiên cứu khoa học của Ông. Mô hình này được Viện Nghiên cứu sinh học Kyhara, Kyoto, Nhật Bản lưu giữ. Được sự đồng thuận giúp đỡ của Viện Nghiên cứu sinh học Kyhara và Học viện Nông nghiệp Hà Nội cùng sự hỗ trợ của TS.Trần Tấn Phương, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Sóc Trăng và TS. Nobuyuki ISERI, mô hình Bông lúa của Bác sĩ Nông học, Anh hùng lao động Lương Định Của được chuyển về quê nhà Long Phú và trao cho Nhà Lưu niệm danh nhân Lương Định Của giữ gìn và giới thiệu với khách tham quan. 

Tổng thể Nhà lưu niệm


Với việc tiếp nhận mô hình bông lúa này, Nhà Lưu niệm danh nhân Lương Định Của có thêm hiện vật quý báu, bổ sung cho các hiện vật, hình ảnh về cuộc đời hoạt động nghiên cứu khoa học của Bác sĩ Nông học, Anh hùng lao động Lương Định Của.

Nhà lưu niệm


Đến Nhà lưu niêm, du khách sẽ được nghe giới thiệu về quê hương và quá trình sinh sống, học tập trong nước và nước ngoài của Ông; khâm phục về nghị lực, tài ba và trí tuệ cùng nhân cách sống và làm việc hết mình của Ông cho quê hương đất nước, cho lĩnh vực nghiên cứu khoa học nông nghiệp.

Được biết quê gốc của ông thuộc làng Đại Ngãi, tổng Định Tường, huyện Long Phú (nay là xã Đại Ngãi huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng). Cha của Ông là Lương Định Giáp, là một điền chủ có tiếng của tỉnh Sóc Trăng thời bấy giờ.

Ông sinh ngày 16/8/1920, là con trai trưởng của một gia đình giàu có ở làng Đại Ngãi. Từ nhỏ Ông được gia đình cho đi học ở Sóc Trăng. Sau đó, lên Sài Gòn học ở trường dòng Saint Tabert (đường Nguyễn Du). Đến năm 12,13 tuổi cha mẹ của Ông lần lượt qua đời. Được sự bảo trợ của người Bác trong họ tộc, Ông tiếp tục học ở Sài Gòn và lấy bằng tú tài (baccalaureat) lúc 17 tuổi. Sau đó, Ông tiếp tục sang học Đại học y khoa và tiếng Anh ở Hồng Kông. Học đến năm thứ 3 thì Lương Định Của sang Trung Quốc theo học Đại học Kinh tế ở Thượng Hải. Do chiến tranh thế giới lần thứ 2, nhà trường đóng cửa, Lương Định Của sang Nhật Bản vừa tìm cách mưu sinh và xin học ở khoa Nông nghiệp, trường Đại học quốc lập Kyushu ( tỉnh Fukuoka, trên đảo Kyushu). Do tài năng học tập được đánh giá cao nên nhà trường đặc cách cho Lương Định Của vào học năm thứ 3 của khoa này.

Năm 1945 là năm Lương Định Của tốt nghiệp Đại học Nông Nghiệp và lập gia đình với Nakamura Nobuko, 23 tuổi, một nữ sinh viên quê ở Kyushu đã tốt nghiệp Đại học Nữ công.Tháng 9 năm 1945, hay tin nước nhà độc lập, hăm hở muốn tìm cách trốn về quê hương ngay, nhưng theo lời khuyên của anh em cần phải trau đồi thêm tri thức mới có thể trốn về giúp ích nước nhà, Lương Định Của nén lòng ở lại nước Nhật vào làm việc trong Viện thực nghiệm, Trường Đại học Quốc lập Kyushu. Một thời gian sau, Lương Định Của tiếp tục ghi tên học ngành Di truyền chọn giống ở Tây Kinh (Kyoto), chuyên sâu về tế bào học. Vốn rất thông minh, nghiêm túc và cần cù trong học tập, nghiên cứu, Lương Định Của đã tốt nghiệp, được nhận bằng Bác sĩ Nông học loại ưu. Đây là học vị cao nhất trong ngành Nông học Nhật Bản và Lương Định Của là người thứ 96 trên nước Nhật được nhận học vị này. Chính phủ Nhật Bản phong Lương Định Của là Giáo thụ trường Đại học Quốc lập Kyushu.

Lúc này, Lương Định Của càng nung nấu trong lòng ý định tìm đường về Tổ quốc. Năm 1952, được sự đồng tâm của người vợ Nhật, Lương Định Của và vợ cùng với 2 người con đã xuống tàu sang Hồng Ko6ng để tìm đường về nước. Đến Hồng Kông, toàn bộ hành lý bị thất lạc, nhờ sự giúp đỡ của một người bạn học là anh Trương Văn Hi, Lương Định Của và gia đình nhỏ của mình về đến Sài Gòn an toàn với 1 chiếc va ly lúa giống mà Ông luôn cẩn thận mang theo người.

Được tin Lương Định Của về nước, Chính quyền thân Pháp ở Sài Gòn cử người đến tiếp xúc, hứa hẹn nhiều việc làm và chức vụ cho ông, kể cả giao cho Ông phụ trách một cơ sở nghiên cứu nông nghiệp ở Mỹ Tho. Viện cớ mới về nước, không am hiểu được tình hình, nên Ông chỉ nhận một chân hợp đồng ở Bộ Canh Nông và ngấm ngầm tìm cách liên lạc với cơ sở kháng chiến phía Nam và thành phố Sài Gòn.

Sau gần 2 năm chờ đợi, việc móc nối mới kết thúc tốt đẹp. Thành ủy Sài Gòn bí mật cử giao liên đưa gia đình Ông xuống Phụng Hiệp (nay thuộc tỉnh Hậu Giang), rồi qua Chắc Bưng (Rạch Giá) để theo đoàn cán bộ tập kết ra Bắc vào cuối năm 1954.

Trong 2 năm đầu ở miền Bắc, Lương Định Của được phân công ở bộ phận Tổ Lúa, rồi làm nhiệm vụ phó phòng Khảo cứu thuộc Viên Nghiên cứu Nông Lâm, còn Bà Nakamura Nobuko được nhận vào công tác trong một phòng khác thuộc Viện. Sau đó, do con nhỏ lại đau yếu luôn nên Bà phải xin nghỉ việc để chăm sóc con cái. Đến năm 1962, Bà mới làm việc lại ở Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam. Năm 1956, Trường Đại học Nông Lâm được thành lập ở Văn Điển, Lương Định Của được phân công làm Phó Hiệu trưởng của Trường phụ trách khoa học kỹ thuật, rồi lần lượt giữ các chức vụ: phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp, Viện trưởng Viện cây lương thực và thực phẩm. Ông còn là đại biểu Quốc hội khóa II đến khóa V, đồng thời là ủy viên UBTW.MTTQVN, phó Hội trưởng Hội hữu nghị Việt Nam- Nhật Bản.

Trong điều kiện còn nhiều khó khăn thiếu thốn, người cán bộ đầu tàu của ngành Di truyền học vừa nghiên cứu, vừa tham gia giảng dạy. Nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu của Ông về nông nghiệp đã ra đời, phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp của miền Bắc lúc bấy giờ. Ông là cha đẻ của các giống lúa Nông nghiệp 1- giống lúa lai đầu tiên của nước ta, được lai tạo giữa giống lúa Ba Thắc (nam bộ) với giống lúa Bun Ko (Nhật Bản); giống lúa mùa muộn, giống lúa chiêm 314, giống lúa 388 được phân lập từ dòng IR8 hay là Nông nghiệp 8; giống lúa xuân sớm (Nông nghiệp 75-1)… Ngoài nghiên cứu lai tạo các giống lúa, Ông còn nghiên cứu các loại rau củ khác như giống dưa hấu không hạt, rau muống, khoai lang, cà chua… đem lại năng suất cao, phù hợp với các loại đất trồng.Những nghiên cứu đã đem lại thành công về các giống cây trồng của nhà khoa học được những người nông dân, những xã viên hợp tác xã của các tỉnh miền Bắc tiếp nhận, thay đổi tập quán cũ, canh tác lúa, rau củ, giống mới có năng suất cao hơn. Vì vậy, các giống khoai, đậu của nhà khoa học còn được gọi một cách dân dã là “giống khoai lang ông Của”, “giống dưa leo ông Của” v.v…

Hiệu quả các công trình nghiên cứu của Ông được Chính phủ và nhiều Bộ, ngành Trung ương đánh giá cao và tặng Bằng khen. Đặc biệt, Ông được tặng 2 Huận chương lao động hạng Nhì vào năm 1961 và 1962; vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Nhà nước ký quyết định phong tặng cho Ông danh hiệu Anh hùng lao động ngày 1/1/1967 cùng với 110 đồng chí khác.

Sau ngày mất 28/12/1975, nhà khoa học đầu đàn trên lĩnh vực nông nghiệp của nước ta được Chủ tịch nước ký quyết định ngày 29/12/1975 truy tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, 5 người con (3 nam, 2 nữ) của nhà Bác sĩ Nông học Lương Định Của và Nakamura Nobuko đều nối gót theo chí hướng khoa hoc của người cha, đều học tốt nghiệp Đại học hoặc sau Đại học, trong này có 3 người là nhà khoa học về nông nghiệp, 1 là ngành y và 1 là nhà vật lý.

Trân trọng những đóng góp và ghi nhớ công lao của một trong những nhà trí thức khoa học tiêu biểu của đất nước, Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang đã ký quyết định đổi tên trường cấp 2-3 thị trấn Long Phú thành trường cấp 2-3 Lương Định Của và đặt tên Ông cho một con đường của thị xã Sóc Trăng hướng về Đại Ngãi. Ngày 12/5/2004, UBND tỉnh Sóc Trăng ra quyết định số 655/QĐ.HC.04 công nhận Di tích cấp tỉnh Nhà lưu niệm danh nhân Lương Định của ở ấp Ngãi Hội 1, xã Đại Ngãi, huyện Long Phú. Sau này, địa điểm Di tích được dời về thị trấn Long Phú để được thuận tiện về mọi mặt. Tại thủ đô Hà nội, TP. Hồ Chí Minh, tên Lương Định Của được đặt cho một số tuyến đường và là tên của một số trường học.

“Với ý chí và nghị lực không mệt mõi, với tâm niệm một lòng hướng về phục vụ Tổ quốc và nhân dân, Lương Định Của đã vượt qua mọi trở ngại để học hành thành đạt, rời bỏ cuộc sống đầy tiện nghi ở Nhật Bản, tìm mọi cách đưa gia đình về quê hương, đóng góp to lớn cho sự phát triển của ngành nông nghiệp non trẻ của nước nhà và là tấm gương lao động nghiên cứu không mệt mõi. Với tác phong giản dị, hòa mình với tập thể, luôn lạc quan trong cuộc sống, Ông là một trong những nhà khoa học rất gần gũi với nông dân và mọi người chung quanh. Ra đi ở độ tuổi còn đang sung sức và còn nhiều hoài bảo, công trình đang nghiên cứu dở dang, nhà Bác sĩ nông học Lương Định Của để lại nhiều tình cảm thương tiếc của mọi người và là một tổn thất lớn cho Đảng và Nhà nước, cho ngành Nông nghiệp, cho tập thể những anh, chị, em khoa học kỹ thuật nông nghiệp và cho gia đình” (trích điếu văn trong tang lễ Bác sĩ Nông học Lương Định Của ngày 29/12/1975, do Bộ trưởng Nghiêm Xuân Yêm đọc).

Với những công lao to lớn đối với ngành nông nghiệp nước nhà, nhiều hiện vật được trưng bày tại Nhà lưu niệm tại huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng chưa thể tái hiện hết những hoạt động nghiên cứu khoa học của Bác sĩ Nông học Lương Định Của, cũng như về cuộc sống đời thường của một nhà khoa học; nhưng thông qua những bài báo, ấn phẩm, đặc biệt là cuốn sách do Bà Nakamura Nobuko viết về Ông… chúng ta sẽ từng bước hiểu thêm về con người hết sức bình thường nhưng vô cùng trong sáng và trí tuệ, là tấm gương cho những thế hệ thanh niên, những nhà nghiên cứu khoa học hôm nay và mai sau.

* Tài liệu tham khảo:
  • Tư liệu chính được tham khảo từ quyển “Anh hùng lao động Bác sĩ Nông học Lương Định Của” (Vũ Lân- Phương Hạnh biên soạn, Sở Nông nghiệp tỉnh Hậu Giang xb năm 1991) và gặp gỡ gia đình Bà Nakamura Nobuko.
  • Một số bài viết về Sóc Trăng và Côn Đảo – Lịch sử, nhân vật và truyền thuyết, Tác giả: Tiến sĩ Trịnh Công Lý, Hội KHLS Sóc Trăng, xuất bản năm 2013.
  • Ảnh chụp của tác giả và scan lại trên trang web các báo.
TS. Trịnh Công Lý

Nô nức về với đền ông Hoàng Mười

đăng 04:37, 13 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Trong những ngày qua, đền Ông Hoàng Mười, tại xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An đã đón hàng chục nghìn lượt người dân địa phương và du khách các tỉnh về tham quan, đi lễ cầu bình an, may mắn, trong những ngày trước và trong thời gian diễn ra Lễ hội.

Năm nay thời tiết thuận lợi, nên ngay từ 14-18/11 người dân địa phương và du khách thập phương đã nô nức về đi lễ đền ông Hoàng Mười. Mặc dù lượng khách đông nhưng không xảy ra tình trạng chen lấn, xô đẩy. Chỗ dừng đỗ xe được chỉ dẫn chu đáo, hàng quán, các dịch vụ phục vụ người dân đi lễ phong phú. 

Trong chiều ngày 15/11 bà con nhân dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An và du khách thập phương tham gia buổi lễ Rước Sắc, Lễ Tế và Lễ yết Cáo tại đền Ông Hoàng Mười (Hưng Nguyên, Nghệ An) 

Để bảo đảm an toàn cho du khách tham gia lễ hội, huyện Hưng Nguyên sẽ triển khai nhiều giải pháp nhằm đảm bảo an ninh trật tự và an toàn giao thông, bố trí lực lượng làm tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ trước, trong và sau Lễ hội; ngăn chặn, giải quyết các hiện tượng tiêu cực xảy ra trong quá trình Lễ hội… Như vậy, nhân dân địa phương và du khách thập phương đến đền Hoàng Mười trong dịp lễ hội sẽ được hòa mình trong không gian văn hóa tâm linh tín ngưỡng đậm đà bản sắc dân tộc và có những trải nghiệm văn hóa thực sự ý nghĩa và đáng nhớ 

Được biết, đền Hoàng Mười ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh là ngôi đền thờ đạo Mẫu Tứ phủ, vị thần được thờ chính là Ông Hoàng Mười. 

Ông Hoàng Mười là một "Đức Thánh Minh" trong hàng các ông quan Hoàng của tín ngưỡng Đạo Mẫu, được nhiều người ngưỡng mộ và được thờ ở nhiều địa phương trong cả nước. Ông được giao cai quản về tâm linh - trấn giữ một vùng non nước dọc sông Lam, nên những nơi thờ Tứ Phủ theo Đạo mẫu Nghệ An đều thờ ông, nhưng chỉ là phối thờ. 

Còn đền thờ chính Ông Hoàng Mười ở xã Hưng Thịnh, Hưng Nguyên, đền có tên là đền Xuân Am (theo địa danh làng Xuân Am) hay Mỏ Hạc Linh Từ (theo địa hình thế đất núi sông của thuyết phong thủy). 

Và theo truyền thuyết, Ông Hoàng Mười là con thứ mười của Đức Vua cha Bát Hải Động Đình. Theo lệnh, ông giáng trần để giúp dân. Ông Hoàng Mười không chỉ vì ông là con trai thứ mười mà ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn). 

Không những là vị tướng xông pha chinh chiến nơi trận mạc, ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương. Với truyền thuyết về vị tướng “Tài đức vẹn toàn”, đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân, nên ngôi đền được xây dựng năm 1634 từ thời hậu Lê. 

Đền nằm ở vị trí cảnh quan đẹp với phong cảnh non xanh nước biếc hữu tình. Trước mặt đền (hướng Nam) là dòng Lam giang như một dải lụa xanh trải rộng, thuyền bè tấp nập ngược xuôi sông Cồn Mộc quanh co, uốn khúc ôm ấp quanh đền, đôi bờ là những đồng lúa bát ngát, xanh tươi. 

Phía sau, bên kia sông Cồn Mộc là núi Kỳ Lân, núi Dũng Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô với những dấu tích lịch sử, những rừng thông, bạch đàn bạt ngàn tươi tốt. Ngoài cảnh đẹp kỳ thú, từ lâu, đền đã nổi tiếng linh thiêng vì ở đây ngoài thờ Quan Hoàng Mười theo tín ngưỡng Đạo Mẫu, còn phối thờ các vị Song Đồng Ngọc Nữ Vị Quốc Công Thái Bảo Phúc Quận Công, Phụ Quốc Thượng Tướng quân Nguyễn Duy Lạc. 

Với những giá trị lịch sử, ý nghĩa linh thiêng, đền Ông Hoàng Mười đã và đang ngày càng thu hút đông đảo nhân dân trong và ngoài tỉnh đến dâng hương, cầu lễ. Sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với quan Hoàng Mười và sự đặc sắc về cảnh quan thiên nhiên, di tích đền Hoàng Mười cùng với đền Quang Trung, núi Quyết, Phượng Hoàng Trung Đô đang là điểm đến hấp dẫn trong tour du lịch ven sông Lam của tỉnh Nghệ An hiện nay. 

Lực lượng Công An huyện Hưng Nguyên thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh, phân luồng cho xe lưu thông trên trục đường vào đền ông Hoàng Mười. Ảnh: Nguyễn Lăng. 


Cụ bà Hầu Đồng tôn kính ngài Hoàng Mười. Ảnh: Nguyễn Lăng. 


Buổi Đại lễ được diễn ra một cách tôn nghiêm vào sáng 17/11/2018 tại đền thờ ông Hoàng Mười. Ảnh: Nguyễn Lăng 


Các buổi Hầu Đồng luôn được diễn ra trong tháng điện ông Hoàng Mười. Ảnh: Nguyễn Lăng 



Đền thờ Ông Hoàng Mười tại xóm Xuân An, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Cách Thành phố Vinh khoảng 2 km đường bộ. Ảnh: Nguyễn Lăng 


Khung cảnh bên trong Điện Chính của ngồi đến tôn thờ ông Hoàng Mười. Ảnh: Nguyễn Lăng. 



Du khách về với đền ông Hoàng Mười cầu tài, cầu lộc cho bản than và gia đình. Ảnh: Nguyễn Lăng 


Nguyễn Lăng

Chiêm ngưỡng “nhà” mới của Điềm Phùng Thị bên bờ sông Hương

đăng 00:35, 4 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:14, 4 thg 1, 2019 ]

175 tác phẩm của nhà điêu khắc nổi tiếng thế giới Điềm Phùng Thị hiến tặng cho Huế, vừa được chuyển từ khu biệt thự số 1 Phan Bội Châu về “nhà” mới tuyệt đẹp ở số 17 Lê Lợi, nằm bên bờ sông Hương.


"Nhà" mới của Điềm Phùng Thị ở Huế. Ảnh: H.V.M 


Điềm Phùng Thị tên thật là Phùng Thị Cúc (1920-2002) là một tên tuổi lớn của nền điêu khắc thế giới, từng được ghi danh trong “Từ điển La Rousse: Nghệ thuật thế kỷ XX”; Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học, Văn học và Nghệ thuật châu Âu...



Bà sinh ngày 18.8.1920 tại làng Châu Ê, xã Thủy Bằng, thành phố Huế. Là con gái ông Phùng Duy Cẩn từng làm quan triều Nguyễn, có thời làm tham công chỉ huy việc xây Lăng Khải Định. 

Năm 1946, bà tốt nghiệp Nha khoa tại trường Đại học Y khoa Hà Nội và đi theo kháng chiến. Vì một cơn bạo bệnh, bà được đưa sang Pháp điều trị.






Tại Pháp sau khi khỏi bệnh, bà tiếp tục học và tốt nghiệp tiến sĩ nha khoa của Pháp. Sau đó bà kết hôn với người đồng nghiệp là ông Bửu Điềm). Và nghệ danh Điềm Phùng Thị ra đời từ đó. 

Thú vị là mãi đến năm 30 tuổi, Điềm Phùng Thị mới đến với nghệ thuật điêu khắc. Và mãi đến năm 46 tuổi, bà mới có cuộc triển lãm đầu tiên và được công chúng Pháp đón nhận rất nồng hậu.





Liên tục sau đó là hàng chục cuộc triển lãm quy mô của Điềm Phùng Thị được tổ chức khắp nước Pháp và Đức, Ý, Đan Mạch, Thụy Sĩ... Cùng với việc 36 tượng đài của bà được đặt khắp lãnh thổ nước Pháp khiến tên tuổi của Điềm Phùng Thị nổi danh khắp Châu Âu.




Năm 1991, bà cùng với Ziao Wou Ki - họa sĩ trừu tượng nổi tiếng người Trung Quốc, là 2 nghệ sĩ được đứng vào danh sách những tài năng lớn của nghệ thuật thế kỷ XX trong từ điển Larousse. Năm 1992, Điềm Phùng Thị được bầu làm Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học, văn học và nghệ thuật châu Âu.




Giáo sư Mady Ménier - Đại học Paris I đã có những nhận xét thú vị về Điềm Phùng Thị: “Lần đầu tiên không cầu kỳ chuộng lạ hương xa, một nhà tạc tượng - trong số biết bao nhà tạc tượng từ Viễn Đông đến Paris - giành được chỗ đứng cho châu Á ngay trong lòng ngành điêu khắc rất hiện đại của Paris... 

Sự đơn giản hóa cao độ và tinh tế các hình thể, hiếm có tinh khiết, đan xen nhau, đã trực tiếp dự báo rõ rệt đặc điểm sau này của nghệ thuật Điềm Phùng Thị, một phong cách sáng tạo độc đáo...”





Cái độc đáo riêng biệt của Điềm Phùng Thị là việc bà sáng tạo ra một nghệ thuật điêu khắc trên cơ sở lắp ghép và biến tấu 7 mô-đun hình học. Nhà phê bình nghệ thuật Raymond Cogniat gọi là mẫu tự. Còn giáo sư Trần Văn Khê thì gọi là 7 nốt nhạc.






7 chữ cái ấy tiền thân là những mẫu gỗ thừa mà người ta vứt đi trong xưởng mỹ thuật của trường nghệ thuật thực hành. Những mẫu gỗ thừa hình vuông, chữ nhật, hình thang... ngẫu nhiên, nhưng là cả một thế giới hình tượng hết sức sinh động qua con mắt của Điềm Phùng Thị.



Từ trong đống những mẫu vụn ấy, bà đã chọn ra được 10 ký hiệu, rồi qua quá trình tiến hóa dưới bàn tay khéo léo và tài hoa của Điềm Phùng Thị, bảng mẫu tự ấy đã cô đọng lại với 7 chữ cái.





Từ hình người chấp tay, thêm vào mấy mô-đun thành một ông quan, xoay qua xoay lại thành người phụ nữ, lật ngược, lật xuôi thành bông hoa... 

Với 7 chữ cái độc đáo đó, Điềm Phùng Thị đã lắp ghép, đã biến hóa thành muôn vàng hình tượng: Thành một thế giới Điềm Phùng Thị đậm đặc phong vị và triết lý phương Đông...




Những năm cuối đời, bà về nước nhiều lần và tổ chức các cuộc triển lãm tại thủ đô Hà Nội, Huế, TP HCM. Tháng 2.1994, ở tuổi 81, bà hiến tặng toàn bộ tài sản nghệ thuật của mình cho Huế với 175 tác phẩm.





Sinh thời bà từng phát biểu: “Khi sáng tác, tôi đã hạnh phúc, đã đau khổ. Tác phẩm điêu khắc đó giờ không còn thuộc về tôi nữa. Tôi trao lại các bạn hoặc đúng hơn, nói theo cách của Bissière, tôi trao tôi cho các bạn”.



“Và nếu có ai đó ngắm nhìn, dừng chân và cảm mến con người trong tôi tức là tôi đã thành công. Nếu tôi thất bại và chẳng ai chìa tay cho tôi, tôi sẽ đút tay vào túi, thật sâu. Mặc kệ. Không sao đâu, Maria, em vẫn đẹp như thường”.

Hoàng Văn Minh

Lạc lối ở Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng

đăng 23:59, 3 thg 1, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 23:59, 3 thg 1, 2019 ]

Cùng với Điềm Phùng Thị, Lê Bá Đảng đã hiến tặng toàn bộ tài sản nghệ thuật của mình cho Huế. Và gần 400 tác phẩm của ông được trưng bày tại Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng – một biệt thự kiểu Pháp nằm bên bờ sông Hương là một tài sản nghệ thuật vô giá không chỉ của riêng Huế.


Lê Bá Đảng (27.6.1921 – 7.3.2015) sinh tại làng Bích La Đông, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông có mặt trong số 20 ngàn người Việt sang Pháp trong những năm 1939 trong phong trào “Lính thợ” và đã tham gia vào những đội quân chống phát xít của nước Pháp, bị Đức quốc xã bắt làm tù binh.


Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “đóng góp cho đất nước bằng cách học nghề để sau này về xây dựng quê hương”. Chàng trai trẻ Lê Bá Đảng đã trải qua quãng thời gian cơ cực và đã trở thành nghệ sĩ lớn trong bối cảnh lịch sử ấy.


Ông học tại Học viện Nghệ thuật Toulouse và trở thành một họa sĩ nổi tiếng ở Châu Âu. Triển lãm đầu tiên của ông ra mắt tại Paris vào năm 1950.



Năm 1989 nhận giải thưởng "Nghệ sĩ có tài năng lớn và tư tưởng nhân đạo" của Việt Quốc tế Saint-Louis của Mỹ. Năm 1992 được Trung tâm tiểu sử quốc tế thuộc Đại học Tổng hợp Cambridge của Anh đưa vào danh mục những người có tên tuổi của thế giới.



Năm 1994 được Nhà nước Pháp tặng "Huân chương Văn hóa nghệ thuật Pháp". Được giới nghệ thuật đánh giá là bậc thầy của hai thế giới Đông – Tây.




Ông từng nói về mình, là một người bướng bỉnh, cứng đầu, không chịu làm nô lệ một trường phái nào, không chịu bắt chước ai, không Đông, không Tây. Có lẽ vì thế mà tranh của ông mang một phong cách riêng.




Tính kiên nhẫn, chăm chỉ, bền chí đã đưa Lê Bá Đảng tới thành công. Từ những bức tranh vẽ mèo phải nài nỉ để gửi bán, ông dần được các chủ gallery đặt hàng, triển lãm.

Tranh của ông được yêu thích và bán ở khắp các phòng tranh danh tiếng trên thế giới. Có thời điểm, một họa sĩ Mỹ từng kêu rằng Lê Bá Đảng đã chiếm hết thị trường của họ (những năm 1990, tranh của Lê Bá Đảng có tại 33 phòng tranh ở Mỹ).



Ông tạo ra một khái niệm trong hội họa, gọi tên là "Không gian Lê Bá Đảng" (Le Ba Dang Espace). Ông được người Mỹ trao tặng giải thưởng "Nghệ sĩ có tài năng và tư tưởng nhân đạo" năm 1989, được người Anh bầu chọn là người nổi tiếng toàn cầu năm 1992, người Pháp tặng ông huân chương Văn hóa nghệ thuật Pháp vào năm 1994.


Tuy sống và làm việc ở Pháp, nhưng Lê Bá Đảng luôn hướng về quê hương. Ông đã cùng các họa sĩ danh tiếng như Picasso, Matta... kêu gọi văn nghệ sĩ, trí thức thế giới tham gia vào "Ngày vì tri thức Việt Nam" để ủng hộ hòa bình và chống chiến tranh ở Việt Nam.


Những năm 1970, ông vẽ tranh về ý chí của người Việt trong gian lao, chiến trận. Triển lãm "Phong cảnh bất khuất" được ông thực hiện ở Thụy Điển, Pháp, Mỹ...

Lê Bá Đảng thể hiện tình cảm trong một bài viết: "Tôi đưa vào đây tất cả tâm hồn, tài nghệ và tấm lòng kiêu hãnh, kính trọng những con người không chịu bất khuất".




Năm 2006, theo lời mời của UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế, họa sĩ Lê Bá Đảng cũng đã trở về Huế và có nhiều hoạt động nghệ thuật tại các kỳ Festival Huế. Cùng năm đó, UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế đã ra quyết định giao tòa biệt thự tuyệt đẹp, nguyên là trụ sở của Sở Tài chính Thừa Thiên-Huế, ngay bên dòng sông Hương, tại số 15 Lê Lợi, TP.Huế, để thành lập Trung tâm nghệ thuật Lê Bá Đảng.



Họa sĩ Lê Bá Đảng đã hiến tặng cho tỉnh Thừa Thiên-Huế 394 tác phẩm, trong đó có 349 tác phẩm của họa sĩ Lê Bá Đảng sáng tác và 45 tranh, tư liệu của một số họa sĩ nổi tiếng trên thế giới như Picasso, Matta, Pignon… mà vợ chồng họa sĩ Lê Bá Đảng sưu tập được.


Sau khi thành lập trung tâm, họa sĩ Lê Bá Đảng cũng đã rất nhiều lần về Huế, tổ chức nhiều chương trình triển lãm, sáng tác và hoạt động mỹ thuật tại Huế.


Nhà văn Tô Nhuận Vỹ, người góp công rất lớn cho việc hình thành Trung tâm nghệ thuật Lê Bá Đảng tại Huế và hiện tại đang phối hợp cùng gia đình sáng lập Quỹ sáng tạo Lê Bá Đảng cùng nhiều dự án khác tại Huế, cho biết: “Khi còn sống, họa sĩ Lê Bá Đảng còn rất nhiều dự định và ấp ủ nhưng chưa làm được. Ông luôn đau đáu làm sao để xây dựng cho được một nền mỹ thuật Việt Nam mà “Tây không có, Tàu cũng không có, chỉ có ở Việt Nam”.



Họa sĩ Lê Bá Đảng qua đời ngày 7.3.2015 tại Paris, Pháp, hưởng thọ 94 tuổi. Nhưng với Huế, ông đã và sẽ còn sống dài hơn cuộc đời của mình.

Hoàng Văn Minh

Bảo vật quốc gia được khoan cắt từ vách núi ở Lai Châu

đăng 01:34, 30 thg 12, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Khối đá nặng 15 tấn in bút tích của vua Lê Lợi đã tồn tại gần 600 năm.

Đền thờ vua Lê Lợi thuộc địa phận huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Đền được xây dựng vào năm 2012 để tưởng nhớ công lao của nhà vua trong lần dẹp loạn vùng Tây Bắc. 


Đền nằm trên một ngọn đồi cao ráo với vị trí đắc địa nhìn ra được bốn phía. Lối lên điện thờ rộng rãi, được cây xanh che phủ tạo bóng mát nên du khách có thể thong thả tản bộ không thấy mệt. 


Trong khuôn viên đền có phần bút tích văn bia của vua Lê Lợi. Năm 1431, tù trưởng Đèo Cát Hãn làm phản nên vua Lê Lợi thân chinh chỉ huy các đạo quân dẹp loạn. Sau khi bình định vùng Tây Bắc, nhà vua đã cho tạc vào vách đá Pú Huổi Chỏ bên bờ Bắc sông Đà để lưu lại cho muôn đời sau về sự kiện này. 


Năm 2005, nhà máy thủy điện Sơn La - Lai Châu khởi công. Để tránh bị ngập, phần văn bia đã được di dời ra khỏi vách đá dưới dạng một tảng đá lớn có kích thước dài 2,62 m, cao 1,85 m, trọng lượng trên 15 tấn. 


Nội dung tấm bia ghi lại sự kiện lịch sử năm 1431. 


Năm 2012, bia Lê Lợi đã được di dời đến khuôn viên đền thờ vua Lê Thái Tổ cách vị trí cũ 500 m. Bia được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1981, công nhận là Bảo vật quốc gia vào năm 2016. 


Các chi tiết chạm trổ phủ dấu ấn thời gian đem lại cảm giác xưa cũ cho công trình. 


Nếu mỏi bước, du khách có thể dừng chân nghỉ ngơi, ngắm cảnh dòng sông Đà uốn lượn giữa những vách núi hùng vĩ. 


An Yên

Bí ẩn cột đá chùa Dạm

đăng 01:26, 30 thg 12, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Qua thời gian gần 1000 năm, cột đá có kiến trúc đặc sắc được công nhận là Bảo vật Quốc gia nằm ở chùa Dạm thuộc xã Nam Sơn (Tp. Bắc Ninh) mang trong mình những bí ẩn cộng với những câu chuyện truyền khẩu dân gian hư thực đã tạo nên sức hút kỳ diệu đối với du khách thập phương. 

Theo tài liệu lịch sử, chùa Dạm còn có tên khác là Cảnh Long Đồng Khánh, hay Đại Lãm Tự, từng là trung tâm Phật giáo lớn, đại danh lam thắng cảnh thời nhà Lý (1009 - 1225), được đích thân Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan chọn đất và cho xây dựng từ năm 1086, hoàn thành vào năm 1094.

Ban đầu chùa có 12 tòa nhà, thời sau được tôn tạo lại với quy mô rất lớn lên tới hơn 100 gian. Qua nhiều biến cố thời gian, hầu hết mọi công trình kiến trúc cổ xưa của chùa Dạm đã không còn nhưng những vết tích còn lại vẫn đủ để gợi nhắc về vẻ đẹp hoành tráng của ngôi đại tự cổ. Trong đó, nguyên vẹn nhất phải kể đến cây cột đá ngàn năm sừng sững nằm ở ngoài khuôn viên của chùa. Cột đá này cao khoảng 5 mét, lưng dựa vào núi Đại Lãm (núi Dạm) mặt hướng về phía Đông với cấu trúc gồm 2 phần: phần gốc hình vuông với tiết diện dài gần 2m; phần ngọn hình tròn có đường kính lên tới gần 1,5m. Điểm nhấn độc đáo nhất trên trụ đá là đôi rồng thời Lý tuyệt đẹp được chạm nổi. Đầu rồng uy nghi với mào lửa vươn cao chầu ngọc. Thân rồng uyển chuyển uốn khúc hình chữ s quấn quanh cột hai đuôi ngoắc vào nhau. Ngay cả những chi tiết nhỏ nhất như vảy rồng, chân rồng với móng sắc nhọn cũng được người xưa chạm khắc rất chi tiết, tỉ mỉ.

Người dân vùng Bắc Ninh thường đến thắp hương tại cột đá cổ trong những ngày rằm và mùng một hàng tháng.


Qua bao thời gian, chiếc cột đá độc đáo này vẫn đứng sừng sững ở khuôn viên chùa Dạm.


Nhiều người cho rằng chiếc cột đá có kích thước rất lớn này được làm từ loại đá ở vùng khác, khác hoàn toàn với các loại đá tại địa phương.


Hai con rồng thời Lý được chạm nổi trên cột đá là điểm nhấn trên chiếc cột ngàn năm.


Phần thân rồng uyển chuyển uốn khúc hình chữ s quấn quanh cột hai đuôi ngoắc vào nhau trên cột.


Có rất nhiều vết tích ở khu vực cột đá như một minh chứng về sự tồn tại của công trình kiến trúc cổ tự hoành tráng thời Lý.


Đường lên cột đá cổ chùa Dạm men theo triền dốc.


Cột đá chùa Dạm, công trình kiến trúc hoàng tráng, đặc sắc bậc nhất của thời Lý còn lưu lại cho hậu thế.


Do không còn nguyên bản nên cây cột đá linh thiêng này còn là điều bí ẩn, hấp dẫn khiến rất nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cố gắng làm sáng tỏ về ý nghĩa thực sự của nó với vô vàn giả thiết. Căn cứ là hình dạng, cấu trúc tương đồng, có giả thuyết lại cho rằng cột đá chùa Dạm là chiếc Linga. Nếu dựa vào chi tiết những rãnh dầm, lỗ đá còn nguyên vẹn ở phần trên cùng của cây cột, nhiều người cho đó hẳn phải là lỗ kỹ thuật và trụ đá chắc là phần trụ đỡ cho một kiến trúc là toà sen hay một ngôi chùa nhỏ ở phía trên. Ngay cả đôi rồng chạm trên đá cũng là đề tài tranh luận sôi nổi của nhiều người. Phần lớn cho rằng đấy là đôi rồng quyền uy đang chầu ngọc nhưng có người lại căn cứ vào những chiếc vảy rồng được chạm ngược trên thân một con rồng để nói đôi rồng là biểu tượng của sự sinh sôi nảy nở và hình tròn trên đó là quả trứng …

Dù có nhiều giả thuyết khác nhau nhưng hơn hết tất cả đều chung quan điểm, chiếc cột đá tuyệt đẹp này là công trình kiến trúc hoàng tráng, đặc sắc của thời Lý còn lưu lại cho hậu thế.

Bài và ảnh: Việt Cường

Cận cảnh đài thờ Đồng Dương 22.24, bảo vật quốc gia

đăng 04:08, 29 thg 12, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định về việc công nhận bảo vật quốc gia (đợt 7), năm 2018. Theo đó, 22 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia, trong đó có đài thờ Đồng Dương hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng.

Theo tư liệu của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, Đồng Dương là một trung tâm Phật giáo của Champa, nằm ở vùng đồng bằng, cách thung lũng Mỹ Sơn khoảng 20km về phía Nam, thuộc tổng Châu Đức, phủ Thăng Bình, Quảng Nam (nay là xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam). Các kiến trúc tại Đồng Dương cho thấy sự phát triển của Phật giáo Đại thừa tại Champa với phong cách ấn tượng của nghệ thuật Chăm, trong đó nổi bật là đài thờ Đồng Dương 22.24.


Đài thờ Đồng Dương 22.24 được làm bằng chất liệu đá sa thạch.


Có niên đại vào cuối thế kỷ 9 - đầu thế kỷ 10.


Đài thờ Đồng Dương 22.24 cao 197 cm, dài 396 cm, rộng 354 cm.


Đài thờ gồm 24 khối đá ghép lại với nhau tạo nên cấu trúc đài thờ với 4 bộ phận: Đế, bệ thờ lớn mặt bằng hình vuông, trên bệ thờ lớn là bệ thờ nhỏ cũng hình vuông và một bệ thờ cao hơn áp vào mặt sau của bệ thờ lớn.


Phần đế đặt dưới cùng của đài thờ gồm 7 phiến đá cao 20cm, có giật cấp thu vào 10cm và chạm khắc đơn giản. Vị trí lớn nhất của phần đế (cũng là vị trí lớn nhất của toàn thể đài thờ) có kích thước là 354 x 396cm.



Mặt ngoài bờ thành của các bậc cấp và xung quanh đài thờ nói chung có chạm khắc các nhân vật theo kiểu chạm nổi.


Các hình ảnh chạm khắc trên đài thờ đặc tả về sự tích đản sanh, giác ngộ của Đức Phật Thích Ca, các hình ảnh về cuộc đời Đức Phật và các cảnh sinh hoạt cung đình.


Hiện vật mang tính độc bản, hình thức độc đáo, có giá trị đặc biệt tiêu biểu cho khuynh hướng, phong cách của một thời đại.


Đài thờ Đồng Dương 22.24 là đài thờ đầy đủ, hoàn chỉnh, độc đáo nhất, nguyên gốc độc bản với các nội dung được thể hiện qua hình thức riêng biệt không trộn lẫn với bất cứ Đài thờ nào khác trong nền văn hóa Chămpa ở Việt Nam.


Hiện đài thờ đang được trưng bày ở Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng.


HOÀNG VINH

Hà mã đầu tiên sinh con tại Đồng Nai

đăng 19:14, 23 thg 12, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Sinh tự nhiên tại sở thú Vườn Xoài, hà mã con nặng 29 kg, được đặt tên là “Bé Xoài”. 

Hà mã con - Bé Xoài luôn theo sát bên mẹ. 


Bé Xoài được sinh tự nhiên ngày 19/11/2018, từ cặp hà mã nhập từ Châu Phi. Cặp hà mã này được khu du lịch nuôi và thuần dưỡng trong hơn hai năm. Việc mang thai hoàn toàn tự nhiên mà không có sự can thiệp của nhân viên vườn thú.

Đây cũng là hà mã con đầu tiên được sinh ra tại sở thú này và tỉnh Đồng Nai. Được 4 tuần tuổi, nó hoàn toàn khỏe mạnh và hiện bú sữa hà mã mẹ.

Hà mã (Hippopotamus amphibius) hiện là loài động vật hoang dã nằm trong sách đỏ thế giới có nguy cơ tuyệt chủng cao. 


Đây là tin rất vui đến toàn thể cán bộ nhân viên trong quá trình xây dựng phát triển sở thú Vườn Xoài. Nơi đây đã thuần dưỡng và nhân giống thành công nhiều loài quý như: hổ, sư tử, gấu đen, các loài linh dương và loài chim khác.

Sở thú cũng có nhiều loài thú quý hiếm được nhập từ châu Phi như báo đen, tê giác, gấu nâu, linh cẩu, hươu cao cổ, ngựa vằn, cá hải tượng, cùng các loài lông vũ như chim công, trĩ bảy màu, hồng hạc, thiên nga...

Trong vườn còn có nhiều loài thú quý hiếm khác. 


Vườn Xoài là sở thú bán hoang dã được phát triển và định hình hoàn toàn trong khuôn viên khu du lịch sinh thái cùng tên. Nhiều loài động vật quý hiếm đến từ các châu lục trên thế giới đã được nhập về nhằm mục đích bảo tồn, gây giống, trưng bày và giáo dục.

Cách TP HCM hơn một giờ đi xe, khu du lịch sinh thái này là điểm đến được nhiều du khách lựa chọn cho những ngày cuối tuần hay kỷ nghỉ lễ. Với tổng diện tích hơn 50 ha, bao phủ toàn bộ khu du lịch là màu xanh của cây, đan xen là các chuỗi dịch vụ phục vụ mọi nhu cầu của du khách trong và ngoài nước như: trạm dừng chân, tham quan vườn thú, giải trí dã ngoại, ẩm thực - nghỉ dưỡng và tổ chức sự kiện.

Khu du lịch sinh thái Vườn Xoài 
Địa chỉ: 537 Đinh Quang Ân, ấp Tân Cang, xã Phước Tân, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 
Hotline: 0942.968 163 – 0943.968 163 – 0947.968.163 
Email: letan.vuonxoai@gmail.com - Website: www.vuonxoai.vn 

Bảo vật quốc gia hơn 300 tuổi còn hoạt động được ở Hải Dương

đăng 05:44, 8 thg 12, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Tháp gỗ Cửu Phẩm Liên Hoa là tác phẩm kiến trúc Phật giáo chỉ có ở Việt Nam, du khách có thể xoay tròn để cầu mong hạnh phúc. 

Cửu Phẩm Liên Hoa nằm trong di tích lịch sử quốc gia chùa Giám, thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương. Theo đại diện Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương, ngôi chùa xây dựng từ năm 1336, thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh. 


Toà tháp hình lăng trụ lục giác là công trình nổi bật nhất của chùa Giám, làm từ gỗ lim, cao khoảng 8 m, nặng 4 tấn với nhiều chi tiết chạm trổ cầu kỳ. Ở giữa tháp là một trục quay giúp cả công trình có thể xoay tròn bằng sức đẩy của một người. 


Mỗi tầng tháp có 18 bức tượng. Mỗi mặt có 3 bức gồm tượng Phật ở giữa và tượng Bồ Tát ở hai bên. Giữa các tầng đều có cột đỡ chạm khắc mô phỏng thân cây trúc. 


Tên tháp Cửu Phẩm Liên Hoa nghĩa là 9 tầng hoa sen, tượng trưng cho 9 cấp tu hành chính quả của Phật giáo. Trong Phật pháp, hoa sen là biểu tượng của trí tuệ. Tác giả Trang Thanh Hiền, nhà nghiên cứu về Cửu Phẩm Liên Hoa, cho biết: “Việc quay tòa tháp là hình thức vừa cầu kinh, vừa quay một vật như con lắc, quả chuông, tòa tháp… làm cho lời kinh được phát tán vào trời đất, trong đó ý nghĩa chính là cầu cho thế giới được hòa bình, con người được hạnh phúc”. 


Tại các tầng đều chạm trổ 5 lớp cánh sen, sơn màu hồng nhạt, khoảng cách giữa các tầng đều nhau. Nếu đứng nhìn tòa tháp từ dưới lên khi đang quay, du khách sẽ cảm thấy như tầng tầng lớp lớp hoa sen bung nở phía trên. 


Bảng công nhận tòa tháp trở thành bảo vật quốc gia vào năm 2015. Hiện nay, trên cả nước chỉ còn ba tòa Cửu Phẩm Liên Hoa còn tồn tại, trong đó có một tháp ở Bắc Ninh và hai tháp ở Hải Dương. 


6 tháng đầu năm 2018, tỉnh Hải Dương đón 2 triệu lượt khách du lịch, doanh thu đạt khoảng 900 tỷ đồng. Ở đây có nhiều điểm đến nổi tiếng như Côn Sơn, Kiếp Bạc, Văn Miếu Mao Điền, làng chạm khắc gỗ Đông Giao, đền Bia, đảo Cò Chi Lăng… 

Trong 2 ngày 28-29/11, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương phối hợp với Ủy ban Nhân dân huyện Cẩm Giàng và Thanh Miện tổ chức chương trình khảo sát, tọa đàm phát triển du lịch, tìm cách thu hút du khách đến với địa phương. 

Kiều Dương

1-10 of 19