Con người và sự kiện

Bài mới

  • Di tích Óc Eo hơn 1.000 năm tuổi bỏ hoang Sau 32 năm khai quật, lập quy hoạch, di tích văn hóa Óc Eo trên 1.000 năm tuổi vẫn bị treo, cỏ mọc um tùm.Di tích Bình Tả ...
    Được đăng 05:17, 18 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tháp nước Phan Thiết gần 90 năm tuổi Tháp nước Phan Thiết nằm bên sông Cà Ty xây gần 90 năm trước, do hoàng thân Xuphanuvong (Lào) thiết kế, hiện là biểu tượng của tỉnh Bình Thuận.Tháp ...
    Được đăng 02:04, 18 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chiêm ngưỡng Ấn Hoàng đế vua Quang Trung Với hàng ngàn tư liệu hiện vật gốc, hàng trăm hiện vật phục chế về Nhà Tây Sơn, Bảo tàng Quang Trung đang sở hữu một kho tư liệu, hiện ...
    Được đăng 20:25, 10 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ngắm cao tốc La Sơn - Túy Loan xuyên vườn quốc gia Bạch Mã Cao tốc La Sơn - Túy Loan xuyên giữa những tán rừng xanh ngắt của vườn quốc gia Bạch Mã rồi men theo dòng chảy sông Cu Đê từ thượng nguồn ...
    Được đăng 02:46, 10 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Làng có 8 ngôi nhà cổ hơn 100 năm được công nhận di tích quốc gia Làng cổ Lộc Yên (Quảng Nam) hình thành từ thế kỷ XV-XVI, là một trong bốn làng cổ của cả nước được xếp hạng di tích cấp quốc gia ...
    Được đăng 02:43, 8 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Di tích Óc Eo hơn 1.000 năm tuổi bỏ hoang

đăng 05:17, 18 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Sau 32 năm khai quật, lập quy hoạch, di tích văn hóa Óc Eo trên 1.000 năm tuổi vẫn bị treo, cỏ mọc um tùm.

Di tích Bình Tả (xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa) là cụm phế tích kiến trúc và di chỉ cư trú, được khai quật năm 1987, bao gồm ba khu chính: Gò Đồn, Gò Xoài và Gò Năm Tước. Mỗi khu cách nhau khoảng 500 m.

Quá trình khai quật, các nhà khảo cổ đã thu thập hàng trăm cổ vật có giá trị gồm tượng thần, vật thờ như yoni, linga cùng một bộ sưu tập 26 hiện vật vàng lá 1.200 tuổi, được công nhận báu vật quốc gia.

Năm 1989, cụm di tích Bình Tả được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia.

Toàn bộ khu quy hoạch di tích đang bị bỏ hoang, cỏ mọc um tùm. Ảnh: Hoàng Nam. 


Theo định hướng của địa phương, nơi này sẽ trở thành điểm nghiên cứu, tham quan và du lịch. Khu vực quy hoạch gồm Gò Đồn 7.000 m2, Gò Xoài 2.000
m2 và Gò Năm Tước 1.000 m2.

Năm 2009, khu di tích 10.000
m2 thuộc sở hữu đất của ba hộ dân đã được kê biên, rào chắn xung quanh. Tuy nhiên, do hai trong ba chủ đất cho rằng cơ quan chuyên môn không bồi thường phần thiệt hại hoa màu, nên đã ngăn cản thi công, một số đoạn tường đành phải bỏ dở.

Tại Gò Năm Tước hiện nay, ngoài bốn bức tường bao thi công dang dở chưa có cửa rào, bên trong di tích chỉ là bãi đất cỏ mọc hoang.

Tương tự, ở khu Gò Đồn, các hố khai quật trước đây nằm sâu khoảng một mét, nền đá ong xếp chồng lên nhau, những phiến đá chạm khắc hoa văn bị rêu, cỏ phủ kín, nằm ngổn ngang. Tường rào được xây cao hơn một mét, nhưng chưa bố trí cửa chắc chắn, nên các hộ dân thường xuyên vào chăn thả trâu bò.

Trụ đá cổ tại di tích Gò Xoài bị dây leo bao phủ. Ảnh: Hoàng Nam. 


Ông Nguyễn Thế Liễn, chủ đất khu Gò Đồn cho biết, do lo sợ các di chỉ bị xâm hại, cộng với cỏ mọc nhiều có thể có rắn độc nguy hiểm, nên ông đã lắp một cửa tạm bằng cây để ngăn người lạ ra vào.

Theo ông Liễn, cha ông lúc còn sống định chia mảnh đất cho các con, nhưng không thực hiện được vì vướng quy hoạch. "Không chia tài sản được, tình nghĩa anh em trong gia đình bị sứt mẻ", ông Liễn nói.

Còn tại Gò Xoài, tấm biển sắt ghi chữ "Di tích Gò Xoài" sau nhiều năm mưa nắng đã gỉ sét, hư hỏng, bị người dân vứt bỏ. Những đoạn tường, trụ bêtông chưa hoàn chỉnh cùng các khối đá cổ lớn bị dây leo bao phủ.

Bà Nguyễn Thị Lâm (67 tuổi), chủ đất khu Gò Xoài cho biết, dự định chia cho 6 người con nhưng không thực hiện được. Mảnh đất này trước đây được trồng đậu, xoài mỗi năm thu về lợi nhuận đáng kể, từ lúc quy hoạch cuộc sống gia đình gặp khó khăn. Nhiều năm nay, bà đã nhiều lần khiếu nại đến các cơ quan huyện, tỉnh nhưng vẫn chưa được giải quyết.

"Nếu nhà nước không đền bù thỏa đáng, triển khai dự án thì nên trả lại hiện trạng đất như ban đầu để người dân thuận tiện chuyển nhượng, xây dựng", bà Lâm nói.

Những phiến đá nghìn năm tuổi bị rêu, cỏ bao phủ. Ảnh: Hoàng Nam. 


Theo ông Nguyễn Minh Đăng, Phó chủ tịch UBND xã Đức Hòa Hạ, cụm di tích từ lúc khai quật đến nay đã ảnh hưởng đến đời sống người dân. "Chúng tôi kiến nghị cấp trên sớm xem xét triển khai dự án, bồi thường cho người dân", ông Đăng cho biết.

Bà Nguyễn Thị Sáu, Phó giám đốc Bảo tàng Long An cho biết, nguyên nhân khiến việc đền bù, triển khai dự án chậm trễ là do thiếu vốn. "Theo ước tính kinh phí để đền bù khu di tích trên 10 tỷ đồng. Chúng tôi đang phối hợp các ngành liên quan sẽ hoàn thành phương án đền bù, giải tỏa, ghi vốn trong tháng 10, và triển khai dự án trong năm 2020", bà Sáu nói.

Hoàng Nam

Tháp nước Phan Thiết gần 90 năm tuổi

đăng 02:04, 18 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tháp nước Phan Thiết nằm bên sông Cà Ty xây gần 90 năm trước, do hoàng thân Xuphanuvong (Lào) thiết kế, hiện là biểu tượng của tỉnh Bình Thuận.

Tháp nước Phan Thiết (còn được gọi "Lầu nước") được người Pháp xây dựng 1928-1934 theo chủ trương quy hoạch đô thị của nhà cầm quyền đương thời, phục vụ cung cấp nước sinh hoạt cho Tòa Công sứ Pháp (nay là trụ sở UBND Bình Thuận) và người dân nội thị Phan Thiết.

Vị trí xây dựng tháp nước nằm trên đất làng Long Khê, bên tả ngạn sông Cà Ty, cao ráo thoáng mát, cách Tòa Công sứ chừng 350 m.

Tháp nước Phan Thiết nằm cạnh sông Cà Ty, gần trung tâm hành chính tỉnh Bình Thuận. Ảnh: Việt Quốc. 


Bản thiết kế tháp nước do hoàng thân Xuphanuvong (Lào, khi đó ông là du học sinh trường Albert Sarraut tại Việt Nam) vẽ, được Sở Công chánh Hà Nội duyệt và công trình được đưa ra đấu thầu. Trong số hai nhà thầu Pháp và hai nhà thầu Việt, thì nhà thầu Ưng Du (người gốc Huế, làm việc ở Bình Thuận) trúng thầu.

Tháp nước được xây dựng theo hình trụ bát giác đều. Chiều cao từ đế lên đỉnh tháp là 32 m. Tổng thể chia làm 3 phần, gồm: thân tháp, bầu đài và phần mái. Phần thân tháp có hình trụ bát giác, mỗi cạnh rộng 3,9 m càng lên cao càng thu nhỏ lại. Đường kính chân tháp dài 9 m, chu vi 31,2 m, diện tích sàn 73,4 m2.

Dọc theo các cạnh của thân tháp từ trên xuống có bố trí 5 ô thông gió được trang trí các hoa văn chữ triện tương ứng với 5 chữ: "Hỷ", "Phúc", "Thọ", "Kiết", "Lộc". Hàm ý cầu chúc cho muôn người vui vẻ, hạnh phúc, trường thọ, thịnh vượng và no ấm. Riêng cạnh phía Tây ô thông gió chữ "Lộc" được thay bằng cửa sắt ra vào tháp.

Phần bầu đài, tức là bồn nước, cũng được thiết kế hình bát giác cao 5 m, đường kính 9 m, chứa 350 m3 nước. Xung quanh bầu đài có 8 hình tròn được đắp nổi bằng mảnh sành sứ cách điệu bốn chữ U.E.P.T, viết tắt của cụm từ tiếng Pháp "Usine des Eaux de Phan Thiet" (nghĩa là Nhà máy nước Phan Thiết). Với đặc điểm kiến trúc vươn cao nên công trình cũng được sử dụng như một cột cờ.

Thạc sĩ Nguyễn Chí Phú, Phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Bình Thuận cho biết, trong quá trình xây dựng, các chuyên gia và nhân công đã tuân thủ nghiêm ngặt thiết kế kỹ thuật. Sỏi phải đem rửa 5 lần cho sạch cát bụi. Cát đúc cũng phải rửa 3 lần cho sạch chất bẩn. Sắt đúc phải dùng giấy nhám chà xát cho hết hoen rỉ. Ván dùng làm cốt pha phải bào láng để khi tháo ra không cần phải tô trét gì thêm. Nhờ đó, công trình được vững chãi, bền bỉ đến ngày hôm nay.

Trên bầu đài có 8 hình tròn được đắp nổi bằng mảnh sành cách điệu 4 chữ U.E.P.T. Ảnh: Việt Quốc. 


Trải qua gần 90 năm tồn tại, dù trước bom đạn chiến tranh và môi trường khắc nghiệt, nhất là qua hai trận lũ lịch sử năm Nhâm Thìn (1952) và Quý Dậu (1993), tháp nước vẫn đứng vững uy nghi giữa lòng thành phố, trở thành biểu tượng thiêng liêng, đi vào thơ ca và âm nhạc của xứ biển Phan Thiết. 

"Hình ảnh lầu nước thật thân quen và in vào tiềm thức người dân Phan Thiết chúng tôi. Mỗi lúc đi đâu xa, chúng tôi cũng nhớ về quê hương, nhớ về lầu nước này", cụ Trần Văn Út, người dân Phan Thiết, nói.

Từ lâu, hình ảnh tháp nước Phan Thiết được nhiều công ty, doanh nghiệp địa phương cách điệu thành biểu tượng của đơn vị. Năm 2005, Bình Thuận đã chọn tác phẩm "Tháp nước Phan Thiết" của họa sĩ Nguyễn Công Quang làm logo - biểu tượng chính thức của tỉnh sau cuộc thi sáng tác do địa phương phát động.

Ngày 19/10/2018, tháp nước Phan Thiết đã được UBND Bình Thuận quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh. Mới đây, chính quyền tỉnh đã thống nhất chủ trương sửa chữa, tu bổ chống xuống cấp công trình nhằm bảo vệ phát huy giá trị di tích, phục vụ phát triển du lịch địa phương. Công việc tu bổ sẽ sớm được hoàn thành trước Tết Nguyên đán 2020.

Việt Quốc

Chiêm ngưỡng Ấn Hoàng đế vua Quang Trung

đăng 20:25, 10 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Với hàng ngàn tư liệu hiện vật gốc, hàng trăm hiện vật phục chế về Nhà Tây Sơn, Bảo tàng Quang Trung đang sở hữu một kho tư liệu, hiện vật giàu có, phong phú về một thời đại lừng lẫy, vị vua kiệt xuất nhất, được yêu mến trong lịch sử dân tộc.

Ấn Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ. 


Nằm ở thị trấn Phú Phong (huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) quê hương của 3 anh em người anh hùng dân tộc Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ; cũng là nơi phát sinh phong trào khởi nghĩa Tây Sơn. Bảo tàng Quang Trung là nơi lưu giữ khá đầy đủ những di tích hiện vật có liên quan tới phong trào Tây Sơn.

Bảo tàng Quang Trung cách trung tâm TP. Quy Nhơn (tỉnh Bình Định) khoảng 45 km theo quốc lộ 19.


Tại đây, ta có thể gặp những báu vật như ấn tín, các sắc phong, gia phả của nhiều văn thần, võ tướng; chuông đồng, súng thần công, ấn tín, tiền đồng Thái Đức, Quang Trung, Cảnh Thịnh, tấm bia mộ tổ dòng họ Tây Sơn…


Bộ sưu tập tiền đồng thời Tây Sơn. 


Bia Lăng mộ Tổ Tây Sơn Tam Kiệt (thôn Phú Lạc, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn).


Nồi đồng được tìm thấy trong vườn nhà Tây Sơn, trong đợt khai quật nền móng năm 1977.


Súng thần công tìm thấy ở đầm Thị Nại – căn cứ thủy binh thời Tây Sơn.


Ấn Hoàng đế Thái Đức - Nguyễn Nhạc (1778- 1793).


Súng trụ - vũ khí thời Tây Sơn, tìm thấy ở khu vực gò Kho – căn cứ quan Tây Sơn (xã Cát Minh, huyện Phù Cát, Bình Định).


Bảo tàng Quang Trung được đầu tư xây dựng để thu hút du khách. 


N.T

Lao Động online - 03/09/2019

Ngắm cao tốc La Sơn - Túy Loan xuyên vườn quốc gia Bạch Mã

đăng 02:46, 10 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cao tốc La Sơn - Túy Loan xuyên giữa những tán rừng xanh ngắt của vườn quốc gia Bạch Mã rồi men theo dòng chảy sông Cu Đê từ thượng nguồn về biển nối liền một dải Thừa Thiên - Huế với Đà Nẵng.

Tại địa phận Đà Nẵng, con đường uốn lượn men theo dòng chảy của dòng sông Cu Đê từ thượng nguồn Bạch Mã - Ảnh: TẤN LỰC


Dự án đường Hồ Chí Minh đoạn La Sơn - Túy Loan nối tỉnh Thừa Thiên Huế và TP Đà Nẵng giai đoạn 1 dài 77,6 km. Con đường bắt đầu từ ngã ba La Sơn và kết thúc tại ngã tư Túy Loan, được thiết kế để nối vào quy hoạch cao tốc Bắc - Nam.

Trước mắt, khi hoàn thành con đường này sẽ thông suốt với cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, rút ngắn thời gian di chuyển từ Thừa Thiên - Huế đi Quảng Ngãi mà không cần qua hầm Hải Vân.

Con đường đi giữa những tán rừng keo, cao su và rừng già vườn quốc gia Bạch Mã vô cùng đẹp mắt và mát mẻ. Khi vào địa phận Đà Nẵng, tuyến đường ôm sát theo dòng chảy sông Cu Đê qua những bãi bồi xanh ngát ruộng mía và vàng ươm lúa chín thơ mộng.

Dự án đường La Sơn - Túy Loan có tổng mức đầu tư gần 11.500 tỉ đồng, thực hiện theo hình thức xây dựng - chuyển giao (BT).

Giai đoạn 1 đầu tư 2 làn xe, giai đoạn 2 nâng lên 4 làn xe, mặt cắt ngang rộng 23-24 mét, tốc độ cho phép 80km/giờ.

Hiện tại, hầu hết các hạng mục đã hoàn thiện để thông xe kỹ thuật. Tuy nhiên, dự án gặp vướng mắt lớn về giải phóng mặt bằng 11,5km đoạn từ Khu công nghệ cao Đà Nẵng đến nút giao Túy Loan.

Cũng vì chậm giải phóng mặt bằng mà tiến độ dự án này kéo dài 2 năm nay khiến chủ đầu tư đã phải trả lãi vay nước ngoài 132 triệu USD (khoảng 3 ngàn tỉ đồng).

Mời bạn đọc cùng ngắm nhìn cảnh sắc con đường xuyên dãy Bạch Mã:

Tuyến cao tốc La Sơn - Túy Loan đi qua xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng - Ảnh: TẤN LỰC


Người dân xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, tranh thủ phơi lúa trên mặt đường chưa đưa vào khai thác - Ảnh: TẤN LỰC


Con đường xuyên qua những tán rừng xanh ngút ngàn của vườn quốc gia Bạch Mã - Ảnh: TẤN LỤC


Hầm Mũi Trâu giữa địa phận Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng dài 1320 mét trị giá 1500 tỉ đồng đã cơ bản hoàn thiện - Ảnh: TẤN LỰC


Tuyến đường như sợi chỉ đi xuyên trập trùng núi - Ảnh: TẤN LỰC


Con đường đi qua khu vực rừng trồng keo lá tràm của người dân - Ảnh: TẤN LỰC


Vòng xuyến khớp nối vào đường tránh Nam Hải Vân tại Khu công nghệ cao Đà Nẵng đang được thi công - Ảnh: TẤN LỰC


Công nhân kẻ vạch sơn đường ngày 8-9 tại địa phận Đà Nẵng - Ảnh: TẤN LỰC


TẤN LỰC

Làng có 8 ngôi nhà cổ hơn 100 năm được công nhận di tích quốc gia

đăng 02:43, 8 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Làng cổ Lộc Yên (Quảng Nam) hình thành từ thế kỷ XV-XVI, là một trong bốn làng cổ của cả nước được xếp hạng di tích cấp quốc gia. 

Tối 6/9, UBND huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam đã tổ chức lễ đón nhận Bằng di tích Quốc gia “Làng cổ Lộc Yên”. Đây là làng cổ đầu tiên ở Quảng Nam hình thành từ thế kỷ thế kỷ XV-XVI. 

Lộc Yên có 8 ngôi nhà cổ từ 100 đến 150 năm 

Ông Hường Văn Minh - Chủ tịch UBND huyện Tiên Phước cho biết: Vùng đất Lộc Yên, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước có quá trình hình thành gắn với công cuộc khai hoang lập làng vào thế kỷ XV-XVI. 

Đến thời Tây Sơn (1771-1802) làng Lộc Yên mới chính thức được khai sinh với tên gọi ban đầu là Lộc An thôn, do ông Nguyễn Công Tuyết người làng Tân Phước (Tam Kỳ) khai phá. Năm 1947, thực hiện chủ trương liên hiệp xã của chính phủ cách mạng, Lộc Yên thôn được đổi tên thành làng Tiên Lộc. Năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi tên “huyện” thành “quận” và các thôn được đổi tên theo thứ tự dãy số, làng Lộc Yên được đổi tên thành thôn 4, tên gọi này được giữ cho đến ngày nay. 

Làng cổ Lộc Yên đã được công nhận là Di tích Quốc gia 


Làng Lộc Yên có tổng diện tích tự nhiên 279ha, có 4 tổ đoàn kết, với 191 hộ, 896 khẩu, có 97,7% số hộ đạt gia đình văn hóa các cấp, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 4,3% - thấp nhất so với tỷ lệ chung toàn xã. Ở Lộc Yên đa phần dân sống bằng nghề nông, 100% số hộ có điện thắp sáng và sử dụng nước sạch. 

Đường vào làng cổ Lộc Yên hai bên là đồng ruộng, ở giữa là ngõ đá - Ảnh: Khôi Nhật Lam 


“Tại Lộc Yên, nhân dân hiện còn lưu giữ 8 ngôi nhà cổ có niên đại từ 100 đến 150 năm. Bàn tay tài hoa của các nghệ nhân phường mộc Vân Hà đã thổi hồn vào từng thớ gỗ, biến những thanh gỗ thô cứng trên mỗi ngôi nhà cổ trở thành những tác phẩm nghệ thuật sống động, tinh anh. Với kiểu thức kết cấu là nhà lá mái và nhà rường cùng kiến trúc độc đáo, tinh xảo, các ngôi nhà cổ Lộc Yên luôn được đánh giá là quần thể có giá trị cao về mặt kỹ xảo và mỹ thuật. 

Vào những năm 50 của thế kỷ 20, Lộc Yên là nơi đặt công binh xưởng QB 150 chế tạo vũ khí, đạn dược cung cấp cho chiến trường khu V. Trong kháng chiến chống Mỹ, nhiều gia đình ở Lộc Yên là cơ sở của cách mạng. Làng Lộc Yên hiện có 12 gia đình là thân nhân liệt sỹ, nhiều người là thương binh và bệnh binh. 


Làng cổ Lộc Yên với vẻ đẹp thanh bình, yên ả - Ảnh: Khôi Nhật Lam. 


Trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử, làng Lộc Yên vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt và ngày càng phát triển. Ở đây, ta tìm thấy được những hình ảnh rất giản dị, gần gũi, thân thiết, rất đặc trưng của làng quê xứ Quảng, đó là những ngôi nhà ẩn mình dưới tán lá rợp mát của những khu vườn cây ăn quả. Những ngôi nhà cùng hòa mình vào cảnh quan tự nhiên của đồi, gò, sông, suối, ruộng, vườn. Giá trị của những công trình kiến trúc này được nâng cao bởi chúng tồn tại trong không gian văn hóa mà chúng đã được hình thành. Những vườn cây lưu niên, được phân tầng bậc bằng các bờ đá thẳng tắp, những con ngõ dài dặc được xếp bằng đá khéo léo và kỹ xảo với hàng chè tàu xanh mướt, những giếng nước trong veo, những bờ mương róc rách tiếng con nước đổ vào ruộng thật quyến rũ” - ông Minh chia sẻ. 

Đưa làng cổ thành điểm du lịch của xứ Quảng 

Ông Hường Văn Minh nhấn mạnh thêm, nhận thấy được giá trị của làng cổ Lộc Yên, trong những năm qua, UBND huyện Tiên Phước đã có nhiều biện pháp tích cực cùng với nhân dân Lộc Yên bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị của di tích, với nhiều chương trình, đề án vận động, hỗ trợ nhân dân Lộc Yên trùng tu nhà cổ, tái tạo không gian vườn, lối đi, nhà ở theo hướng phục cổ, phát huy văn hóa đá trong tạo dựng không gian sinh hoạt, sản xuất. 


Ngõ đá ở làng cổ Lộc Yên - Ảnh: Khôi Nhật Lam 


Bên cạnh những ngôi nhà rường cổ, những con ngõ, bờ vườn, mộ cổ, giếng cổ… được xây bằng đá có thời gian hàng trăm năm tuổi, người dân Lộc Yên đã biết kế thừa di sản quý báu, tận dụng những nguyên liệu sẵn có để thiết kế không gian sống, sinh hoạt, lao động của gia đình, cộng đồng, vừa hạn chế được sự khô cứng của bê tông, cốt thép, vừa giữ gìn và phát huy được không gian văn hóa truyền thống vốn có từ bao đời. 

Những bờ đá, đường đá mới xây dựng, cây xanh, cây ăn quả phủ bóng đã tạo nên một không gian văn hóa sinh thái. Đường làng, ngõ xóm khang trang sạch đẹp - một không gian kiến trúc xanh đúng nghĩa, một bộ mặt nông thôn mang đậm văn hóa Việt. 

Nhà cổ ở Lộc Yên - Ảnh: CTV 


“Mặc dù hiện nay chưa tổ chức các tour du lịch bài bản nhưng hằng năm lượng khách đến Lộc Yên tương đối lớn, khoảng 10.000 lượt khách/năm. Huyện đã tổ chức và phối hợp tổ chức nhiều tour famtrip, presstrip, giới thiệu du lịch Tiên Phước đến nhiều nhà doanh nghiệp, đơn vị lữ hành du lịch, các cơ quan thông tấn, báo chí, hợp đồng chuyên gia hỗ trợ phát triển du lịch tại Lộc Yên. Nhiều nhà khoa học, văn nghệ sĩ đã tìm đến Lộc Yên để nghiên cứu, sáng tác… Đây là tín hiệu đáng mừng cho sự phát triển của hoạt động du lịch trong tương lai” - ông Minh cho biết. 

Vị chủ tịch huyện này chia sẻ thêm, Tiên Phước có lợi thế rất quan trọng trong giao thương, vận chuyển hàng hóa, hành khách, phát triển KT-XH, văn hóa, du lịch, thương mại, dịch vụ. Bảo tồn, gìn giữ làng và văn hóa làng cổ Lộc Yên có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng và phát triển văn hóa, kinh tế xã hội của địa phương, theo định hướng chung của cả nước, của tỉnh Quảng Nam. 

“Hôm nay huyện Tiên Phước vinh dự đón nhận bằng xếp hạng di tích Quốc gia Làng cổ Lộc Yên, đồng thời cũng nhận trách nhiệm trọng đại nặng nề này, tôi kêu gọi toàn thể nhân dân Tiên Phước, đặc biệt là nhân dân Tiên Cảnh và làng Lộc Yên cùng chung tay với Đảng bộ và chính quyền huyện nhà nỗ lực trong việc gìn giữ di sản mà tiền nhân đã để lại; sáng tạo và năng động tìm mọi nguồn lực để phát huy giá trị di tích, coi đó là niềm vinh dự, tự hào và cũng là trách nhiệm lớn lao đối với sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam” - ông Minh phấn khởi. 


Cùng ngày, Thứ trưởng Bộ TNMT Võ Tuấn Nhân cùng đoàn công tác đại diện các bộ, ngành TƯ và địa phương đã có chuyến đi thực tế tham quan mô hình xây dựng khu dân cư mới kiểu mẫu, vườn mẫu gắn liền với du lịch tại xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.


Đây là hoạt động bên lề Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên diễn ra ngày 7/9.


Thứ trưởng Bộ TNMT Võ Tuấn Nhân cùng đoàn công tác đã đi thực tế tại thôn Lộc Yên, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước. Đây là một trong 3 thôn được huyện Tiên Phước chọn xây dựng vườn mẫu, khu dân cư NTM kiểu mẫu giai đoạn 2018 - 2020.


Được biết, những năm qua, cùng với nguồn vốn đầu tư của tỉnh (500 triệu đồng/khu dân cư NTM kiểu mẫu), huyện Tiên Phước đã huy động nguồn vốn từ các Chương trình NTM, Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, Đề án 548 “Phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại, du lịch sinh thái mang đặc trưng vùng trung du xứ Quảng giai đoạn 2017 - 2025”, Dự án phát triển cây tiêu… hỗ trợ người dân xây dựng khu dân cư NTM kiểu mẫu, vườn mẫu. Hiện, toàn huyện có hơn 1.650 hộ đăng ký chỉnh trang vườn, tường rào, cổng ngõ theo hướng xanh - sạch - đẹp - hiệu quả.   


Trương Hồng

Phà Bến Thủy - Chứng tích lịch sử bất tử

đăng 02:48, 4 thg 9, 2019 bởi Pham Hoai Nhan


Có ai đó đã nói rằng, nếu lấy cầu Bến Thủy 1 làm tâm, vẽ một vòng tròn với chu vi tầm 4 – 5 km, có thể đếm được hàng chục đơn vị và cá nhân anh hùng trong đó. Trong quần thể dày dặn chứng tích anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ ấy, riêng trọng điểm phà Bến Thủy vinh dự 2 lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 


Nhiều ghi chép lịch sử về phà Bến Thuỷ những năm chống Mỹ còn in đậm số liệu kinh hoàng: Từ năm 1965 – 1968, trong 2.912 trận oanh kích của máy bay và pháo biển, phà Bến Thuỷ đã phải hứng chịu 11.377 quả rocket, bom, pháo các loại… Đặc biệt, trong 9 tháng năm 1972, đã có 13.253 quả bom, pháo… dội vào. 


Phà Bến Thuỷ bấy giờ còn có tên gọi khác là “Yết hầu lửa”. Tên gọi xuất phát từ vị trí chiến lược của phà, là điểm trung chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam trên “mạch máu” giao thông nối hậu phương lớn miền Bắc. Trung bình mỗi đêm có từ vài trăm đến gần ngàn xe di chuyển qua phà, chở theo vũ khí, lương thực, thực phẩm, quân trang… vào Nam. Vì vị trí chiến lược ấy, tháng 11/1965, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định chuyển nhiệm vụ vượt sông tại phà Bến Thuỷ từ Bộ Giao thông Vận tải sang cho Quân đội đảm nhiệm. Đơn vị công binh phụ trách phà Bến Thuỷ thời kỳ đó thực chất là cán bộ, chiến sĩ 3 đại đội hợp thành: Đại đội pháo binh Hoàng Mai, Đại đội pháo binh Nam Đàn và Đại đội công binh Bến Thuỷ. Tập thể kiên cường này đã chống chọi qua hàng ngàn trận bom Mỹ, đảm bảo cho những chuyến phà thông suốt. Đến cuối năm 1968, phà Bến Thuỷ được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. 

Máy bay Mỹ ném bom đánh phá thành phố Vinh.


Cũng thời điểm này, cuộc chiến tranh chống Mỹ có những chuyển biến, đòi hỏi sự thay đổi trong chiến lược giao thông vận tải. Phà Bến Thuỷ lại được giao về cho ngành Giao thông phụ trách, trên cơ sở lực lượng sẵn có với hơn 300 người, chia làm 2 kíp vận hành phà liên tục từ 19h đêm đến 5h sáng. Một tổng đài được đặt trong hang núi Quyết, kết nối thẳng với Bộ Giao thông Vận tải và các ban, ngành của tỉnh, thành phố. Đặc biệt, trong những năm tháng ác liệt nhất (1968 – 1972), từ tổng đài này, chỉ huy phà Bến Thuỷ có thể liên lạc trực tiếp với Trung đoàn Pháo cao xạ 233, thông báo khẩn những nội dung về khu vực có bom nổ chậm, bom từ trường, yêu cầu chi viện… 

Tình hình cuộc chiến ngày càng ác liệt, giặc Mỹ điên cuồng ném bom lên từng tấc đất, mạch sông, có ngày 3 – 4 trận bom dội vào “yết hầu” trọng điểm này. Vượt qua mưa bom, anh em trực phà không chỉ đảm bảo cho những chuyến xe qua, mà còn không ngừng sáng tạo, cải tiến phương thức vận chuyển theo phương châm an toàn, nhanh chóng. Nếu như trước đây, một chuyến phà sang sông trong con nước bình lặng cũng phải mất 1 tiếng đồng hồ, thì càng ngày thời gian càng được rút ngắn: 9 người đảm bảo 1 chuyến phà qua sông mất 40 phút, rồi giảm xuống còn 6 người với thời gian 10 – 15 phút… Cao điểm năm 1972, một chuyến phà qua sông rộng 600m, đi và về 2 chiều chậm nhất chỉ mất 12 phút. 1 phà chở được 6 xe vận tải nặng, có đêm huy động 4 ca nô, kéo 2 phà ghép lại với nhau chở được 12 xe. Cứ như vậy, một đêm có khoảng 500, 700 đến gần 1.000 xe qua phà. 


Phà Bến Thủy chở xe qua sông Lam.



Những cán bộ, chiến sỹ anh hùng của tập thể 2 lần đạt danh hiệu Anh hùng ấy, nay người còn, người mất. Trong số những người may mắn bước ra từ cuộc chiến có ông Nguyễn Đăng Chế – người trưởng phà Bến Thuỷ trong giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ. Nguyễn Đăng Chế không phải là nhân vật xa lạ với báo chí. Dễ có hàng trăm bài báo đã viết về ông, đã tri ân và ngợi ca người Anh hùng LLVTND của ngành giao thông vận tải “lúc nào cũng đeo băng đỏ có dòng chữ Trưởng phà Bến Thủy nơi cánh tay, cao to, vững chãi như nhà chỉ huy quân sự” (trích Bút ký lịch sử của nhà văn Đào Thắng). Ấy nhưng hôm nay, trong căn hộ chung cư yên tĩnh giữa lòng thành Vinh, lại là một Nguyễn Đăng Chế thật khác, tĩnh lặng, thâm trầm, và muôn nỗi xúc động chực trào nơi khoé mắt, khi ông nhớ về con phà năm xưa, về những anh em, đồng đội gắn bó máu thịt, về những người vĩnh viễn nằm lại… 

Nguyễn Đăng Chế lãnh vai trưởng phà Bến Thuỷ vào đầu năm 1969, năm đó vừa 27 tuổi, là đảng viên trẻ từng có vài năm kinh nghiệm trên cương vị cán bộ khảo sát giao thông, rồi đội trưởng đội rà phá bom mìn trên sông Lam. Hiểu rằng lãnh vai trưởng phà đồng nghĩa với việc xông vào tuyến đầu sinh tử, “lo thì rất lo, nhưng là đảng viên nhẽ nào lùi bước. Cả một tập thể kiên cường như thế đã chống chọi qua hàng ngàn trận bom Mỹ, giờ mình về, phải làm thế nào cho xứng đáng…” – ông Nguyễn Đăng Chế nói. 

Anh hùng Nguyễn Đăng Chế bên bến phà năm xưa.


Và thế là, suốt 8 năm bám trụ thông phà, người trưởng phà ấy đã không một phút giây nào làm người đứng sau, mà luôn là “mũi tên” xông pha trong mọi trận tuyến. Đêm dầm mình trên ca-nô, dẫn hàng trăm, hàng nghìn chuyến xe qua sông an toàn, mờ sáng, ông cùng anh em trở về “căn cứ” núi Quyết, ngả vội tấm ván gỗ nghỉ ngơi cho lại sức, rồi bật dậy vắt mì chống đói, trăn trở cách thức làm sao để phà đi nhanh hơn, xe di chuyển được nhiều hơn, tránh bom từ trường của giặc Mỹ hiệu quả hơn… 

Phà Bến Thuỷ cũng là địa điểm nhiều lần diễn ra lễ truy điệu sống cho những người làm nhiệm vụ. “Có những thời điểm ác liệt đến nỗi, chỉ cần anh em bước xuống phà rời bến thôi đã là anh hùng rồi. Bom Mỹ thả liên tục, dày đặc, cái chết rập rình từng giây, từng phút… Chính tay tôi đây, đã có lúc cùng đội mai táng 8 anh em hy sinh. Vừa đắp mộ xong, bom lại hất tung lên…” – người trưởng phà năm xưa rưng rưng nhớ lại. 


Nguyễn Đăng Chế cũng chính là người trở về từ cõi chết sau một chuyến phà cảm tử vào tháng 11/1972. Thời điểm đó, giặc Mỹ ném bom nổ chậm và bom từ trường thế hệ mới, gây nhiều khó khăn trong lưu thông đường thủy. Sau nhiều đêm suy nghĩ, trưởng phà Nguyễn Đăng Chế nêu sáng kiến dùng phà lớn, tốc độ nhanh lướt trên bom với kích từ mạnh để kích nổ, mở đường cho những chuyến phà sau. Ông trực tiếp dẫn phà đi chuyến ấy, rà trên sông đến vòng thứ 3 thì kích nổ 2 quả bom từ trường, đồng thời gây nổ dây chuyền một loạt bom khác. Những tiếng nổ dữ dội vang lên, những cột nước ầm ào trùm lên tất thảy, hất tung phà và ca-nô lên trời. Nguyễn Đăng Chế bị sức ép nặng, hôn mê sâu đến mức đơn vị đã báo tử về cho gia đình, song ý chí thép của người “đứng mũi chịu sào” dường như đã là động lực đưa ông trở về với người thân, đồng đội, tiếp tục gắn bó với bến phà sinh tử. 


Trong suốt cuộc trò chuyện, ông luôn nhắc đi nhắc lại rằng những người anh em, đồng đội của mình nơi phà Bến Thuỷ năm xưa, bám trụ qua giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ, đều xứng đáng là những anh hùng. Những người anh hùng lặng thầm ấy, vẫn luôn hiển hiện trong tâm trí ông, và trong những dòng thơ viết vội trong bao đêm không ngủ: “Những người kéo phà đi sơ tán/ Để lại dấu chân/ Hoàng hôn ra đi, trở về mờ sáng/ Dấu chân/ Dấu chân/ Dấu chân/ Bùn đen máu lẫn/ Khắc vào đất niềm tin và lòng bất khuất…” 

Quang cảnh cầu Bến Thủy.


Nội dung: Phước Anh - Ảnh: Sách Nguyễn - Tư liệu - Thiết kế - Kỹ thuật: Hữu Quân 
Báo Nghệ An online - 01/09/2019

Mục sở thị cây thị cổ hơn 700 tuổi ở Hà Tĩnh

đăng 02:44, 29 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Trải qua hơn 7 thế kỷ, cây thị cổ ở xã Sơn Phúc, huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) vẫn sừng sững, đầy sức sống, tỏa bóng xanh mát, trĩu quả khi vào mùa. Đặc biệt “cụ thị” này còn gắn với sự tích cứu Vua Lê Lợi.

Cây thị cổ nằm trong khu vườn của gia đình bà Trần Thị Nhuận, thuộc xóm Kim Sơn 2, xã Sơn Phúc. Cây cao khoảng 35 - 40m, tán lá rộng chừng 30m, đường kính thân cây 5 người ôm không xuể. Gốc cây sần sùi, rêu xanh bám quanh. Phía trong gốc cây rỗng, 2 - 3 người có thể ngồi vừa trong đó.


Phía dưới gốc cây cổ thụ, người dân trong vùng lập bàn thờ, đặt tên là “Gốc thị sử tích”.


Chủ tịch UBND xã Sơn Phúc - Nguyễn Xuân Linh cho biết: “Vào năm 1425, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh gặp khó khăn, Lê Lợi đã quyết định kéo quân di chuyển vào vùng đất Đỗ Gia (tức Hương Sơn, Hà Tĩnh ngày nay) để lập căn cứ. Biết tin thủ lĩnh nghĩa quân Cốc Sơn Nguyễn Tuấn Thiện đang đứng lên khởi nghĩa ở vùng núi Hương Sơn, Lê Lợi đã tìm đến chiêu quân, kết nghĩa anh em. Sau đó cả hai cùng giết ngựa trắng, cắt tóc ăn thề dưới gốc thị cổ, thể hiện quyết tâm đồng lòng cùng nhau đánh giặc ngoại xâm”.


Bốn câu thơ vẫn được người dân lưu truyền để ghi nhớ giai thoại này: “Cắt tóc, giết ngựa trắng/Dưới gốc thị thề nguyền/Nguyện đồng tâm đồng chí/Phá giặc xây cơ đồ”.


Tương truyền, có lần Lê Lợi bị giặc Minh truy đuổi gắt gao, bí quá ông chạy đến trốn vào gốc cây thị. Khi giặc Minh đuổi đến nơi cũng là lúc trời bắt đầu tối nên bọn chúng liền cho chó săn vây quanh cây thị để lục soát. Trong lúc tính mạng của nhà vua đang hết sức nguy nan, bỗng có một con cáo đốm trắng ngồi trên ngọn cây thị vì sợ đàn chó nhảy xuống bỏ chạy. Ngay lập tức, đàn chó săn cùng binh lính liền đuổi theo con cáo, nhờ vậy Vua Lê Lợi mới thoát nạn.


Bên trong cây thị cổ rỗng ruột.


Cây thị cổ với cành lá sum suê quanh năm, vung tỏa ra cả một khoảng không gian rộng lớn. Mùa Vu lan cũng là thời điểm cây thị lúc lỉu quả, tỏa mùi thơm ngào ngạt.


Cây thị được bà con trong vùng tôn kính, xem đây như là một biểu tượng lịch sử. Người dân sống quanh thường xuyên đến dọn dẹp, xem cây thị như vị Thành hoàng của làng. Ai nấy đều mong muốn cây thị cổ được công nhận là "Cây Di sản" để được bảo vệ, gìn giữ.


Theo bà Nhuận, mặc dù cây thị có tuổi đời trên 700 trăm tuổi nhưng hàng năm vẫn ra hoa kết trái đều đặn. Điều đặc biệt thị ở đây mang mùi thơm khác với thị ở những nơi khác. “Những ngày này, thị bắt đầu chín rộ, trẻ con và người lớn đến đây đông hơn”, bà Nhuận cho hay.


Vào mùa, thị chín rụng nhiều quanh gốc, tạo nên khung cảnh yên bình chốn thôn quê.

Đội cồng chiêng làng Kon Pring

đăng 03:53, 6 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đến thăm Làng văn hóa du lịch cộng đồng Kon Pring (xã Đăk Long, huyện Kon Plông) vào một buổi chiều cuối tháng 6/2019, tôi gặp chị Y Lim cùng 2 cô gái trẻ Y Vứt và Y Nhúa đang náo nức chuẩn bị biểu diễn chiêng xoang phục vụ đoàn khách du lịch sắp tới…

Chiều muộn. Những đám mây ùn ùn kéo đến, phủ lên những đồi thông. Ánh nắng mặt trời chỉ còn le lói trên đỉnh nhà rông của Làng văn hóa du lịch cộng đồng Kon Pring.

Dù có vẻ thấm mệt sau một ngày làm rẫy vất vả, nhưng trên gương mặt của 3 người vẫn tràn ngập niềm vui. Y Lim vừa giúp Y Vứt chỉnh lại trang phục vừa phấn khởi nói: Đến nay thì mọi người đã quen dần với việc làm du lịch, khi mà khách đến tham quan Làng văn hóa du lịch cộng đồng Kon Pring ngày càng nhiều.

Vài năm trở lại đây, ngoài việc lên rẫy, mỗi thành viên đội cồng chiêng ở Kon Pring còn có thêm nguồn thu nhập 3 - 5 triệu đồng/tháng từ việc làm du lịch, nhờ đó cuộc sống của các gia đình cũng được cải thiện - Y Nhúa nhỏ nhẹ kể.

Chị Y Lim (ngoài cùng bên trái) đang trang điểm cùng Y Vứt và Y Nhúa. Ảnh: ĐT 


Ở những ngôi nhà sàn khác, các thành viên còn lại của đội chiêng xoang cũng đang tất bật chuẩn bị. Cách nhà chị Y Lim không xa, anh A Đron cùng nhóm đàn ông đánh chiêng cũng đang tập hợp lại. Hiện tại A Đron là người phụ trách nhóm đánh chiêng của đội, nhiệm vụ mà anh tiếp nhận lại từ bố vợ của mình - già làng A Đreng.

Đội chiêng xoang làng Kon Pring có gần 30 người, trong đó 20 người là thường xuyên tham gia biểu diễn, được chia thành 2 nhóm: nhóm đàn ông đánh chiêng và nhóm phụ nữ múa xoang. Những người còn lại làm công tác hậu cần và thay thế khi người biểu diễn chính không tham gia được. Ngoài việc biểu diễn trong những lễ hội quan trọng của làng, đội tham gia biểu diễn phục vụ các đoàn khách du lịch khi có yêu cầu.

Trên con đường bê tông dẫn đến nhà rông, chị Y Lim cùng các thành viên trong đội cồng chiêng rảo bước nhanh, đoàn khách du lịch sắp đến nên ai cũng vội vã; một số người bưng những mâm thức ăn nóng hổi, được sắp đặt đẹp mắt, hoặc ôm những ghè rượu thơm ngào ngạt…

Từ khi làm du lịch, ngoài biểu diễn chiêng xoang, các thành viên trong đội còn kiêm luôn đầu bếp, chuẩn bị thức ăn cho khách đến tham quan. Tùy theo số lượng khách đặt, mọi người sẽ tư vấn phù hợp để khách du lịch vừa được thưởng thức bữa tiệc đứng theo kiểu buffet với đầy đủ các món ăn dân dã, truyền thống, đặc trưng của vùng, lại vừa xem được cồng chiêng múa xoang bên ánh lửa bập bùng tại sân nhà rông.

Để không ảnh hưởng cho việc biểu diễn, bàn thức ăn được bố trí ở ngay góc sân, cạnh cầu thang lên xuống của nhà rông. Giữa sân nhà rông, việc chất củi để đốt lửa trại cũng đang gấp rút được hoàn thành.

Khi mọi người vẫn đang chuẩn bị, từ phía xa, tại nơi giao nhau giữa Quốc lộ 24 với con đường bê tông dẫn vào Làng văn hóa du lịch cộng đồng Kon Pring, chiếc xe ô tô 24 chỗ chở khách du lịch dần tiến vào.

Chị Y Lim vẫn bình tĩnh hướng dẫn các thành viên trong đội hoàn thành các phần việc của mình như đã định. Với kinh nghiệm tiếp đón các đoàn khách du lịch, chị Y Lim hiểu rằng, khi khách đến làng, họ sẽ không vào nhà rông thưởng thức các món ăn và xem biểu diễn chiêng, xoang ngay, mà họ sẽ đi tham quan khung cảnh của làng trước.

Và đúng như chị dự đoán, khi đoàn khách vừa bước xuống xe, tất cả đều reo vui trước khung cảnh bình yên và không khí trong lành ở Kon Pring. Sau khi bắt tay chị Y Lim và chào các thành viên của đội, du khách dạo quanh các con đường trong làng, tham quan nhà rông, ghé thăm từng ngôi nhà sàn, tíu tít hỏi chuyện và chụp hình cùng với bà con.

Du khách nào cũng tỏ ra thích thú với không gian hữu tình, còn mang nét hoang sơ của Làng văn hóa du lịch cộng đồng Kon Pring. Bản thân tôi, dù đã không ít lần về với Kon Pring nhưng vẫn bị hút hồn, nói gì những người lần đầu đặt chân đến. 

Làng Kon Pring có những con đường bê tông uốn lượn với hai bên là thảm cỏ xanh mướt, những ngôi nhà sàn với hàng rào gỗ, những đầm sen, những con suối nhỏ nước chảy róc rách, những cánh đồng bậc thang, chưa kể khuôn viên trong làng được giữ gìn rất sạch sẽ cùng những bụi hoa được trồng khắp mọi nơi… tất cả những điều này đều gây ấn tượng và có sức hút mạnh mẽ đối với du khách.

Sau khi tham quan ngôi làng, đoàn khách du lịch bắt đầu tập trung về lại sân nhà rông để thưởng thức chương trình văn nghệ do đội cồng chiêng làng Kon Pring thực hiện. Tiếng cồng chiêng bắt đầu vang lên, từ dưới sàn nhà rông, chị Y Lim dẫn đầu nhóm phụ nữ múa xoang đi chân trần từ từ bước ra theo nhịp, đôi tay đong đưa với những điệu múa tái hiện lại cảnh sản xuất, sinh hoạt đời thường của người Xơ Đăng. Nhóm đàn ông vừa đánh chiêng vừa bước theo sau nhóm phụ nữ, mọi người tạo thành vòng tròn, cứ thế đi quanh đống lửa.

Thích thú với màn biểu diễn của đội chiêng xoang, một số du khách tiến vào vòng tròn tham gia biểu diễn cùng, một số du khách khác thì cầm máy quay phim và chụp hình để lưu lại kỷ niệm, số còn lại thì thưởng thức các món ăn với những lời khen ngợi.

Mặt trời khuất sau dãy núi, đống củi giữa sân được châm lửa, cháy rừng rực, soi sáng cả khoảng sân rộng. Đội chiêng xoang cùng du khách say sưa nhảy múa, hương rượu cần bay xa... Trời về đêm se lạnh, hơi ấm của lửa, của men rượu cần gắn kết mọi người lại với nhau.

Đội cồng chiêng làng Kon Pring biểu diễn bên ánh lửa bập bùng. Ảnh: ĐT 


Cứ thế, mọi người chìm đắm trong văn hóa cồng chiêng và khám phá ẩm thực của đồng bào Xơ Đăng ở làng Kon Pring. Việc biểu diễn cồng chiêng chỉ thực hiện trong khoảng một tiếng đồng hồ, nhưng chương trình giao lưu giữa du khách và đội cồng chiêng cùng bà con trong làng thì được kéo dài đến gần nửa đêm, khi than từ đống củi ở giữa sân đã tàn.

Chị Y Lim cùng các thành viên trong đội tranh thủ dọn dẹp, trả lại khuôn viên sạch sẽ cho ngôi nhà rông. Đoàn du khách bịn rịn chia tay làng Kon Pring với những tình cảm đong đầy, hứa một ngày không xa sẽ quay trở lại.

ĐỨC THÀNH

Xuôi về ngã tư Ba La

đăng 03:34, 6 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Từ xa xưa, ngã tư Ba La (nay là ngã năm), nơi phân rẽ hai tuyến đường quan trọng nối trung tâm tỉnh lỵ Quảng Ngãi xuống Phú Thọ, cửa Đại Cổ Lũy chếch đông bắc còn thẳng đông là vạn phố Thu Xà cùng với những đổi thay lưu dấu trang sử địa phương, nên được nhiều người, nhiều nơi biết và nhắc đến!

Thời kỳ sơ khai của làng Ba La (nay thuộc xã Nghĩa Dõng, TP.Quảng Ngãi) có thể kể từ thế kỷ thứ XVII, cuộc sống và tổ chức làng xã phát triển dần ở các thế kỷ thứ XVIII, XIX. Lúc đó cư dân đông đúc dọc bờ nam sông Trà Khúc trải dài từ bến đò Tuyển đến giáp xóm Vạn Chài làng Vạn Tượng, bởi vùng đất này phù sa màu mỡ và giao thông đường sông phát triển. Thế rồi, sự biến động của sông, sông Trà chuyển dòng xói lở bờ nam, mỗi năm sông xâm thực vào đất liền cả chục mét.

Ngã tư Ba La. 


Cũng giai đoạn ấy, đồng đất phía nam làng Ba La chuyển từ một vụ ăn nước trời sang hai vụ nhờ người làng Ba La phối hợp với làng Điện An khai thác nguồn nước sông Văn (Nghĩa Hành) về và đắp đập Ba Điện, khai mương dẫn thủy phục vụ canh tác. Cư dân làng Ba La cũng chuyển dần từ ven sông vào khu vực giữa và nam làng. Và rồi cuộc sống đổi thay, sự thuận lợi của giao thông đường bộ dần chiếm phần quan trọng.

Tuyến đường từ tỉnh thành Quảng Ngãi đi Thu Xà, Phú Thọ được chính quyền đương thời khai mở phục vụ cho việc quản lý địa hạt và tạo mối giao thông từ cửa Đại Cổ Lũy, Phú Thọ, cửa Lở, vạn phố Thu Xà lên các vùng miền trung tâm tỉnh. 

Ngã tư Ba La ở đầu làng, nằm trên trục lộ Quảng Ngãi- Thu Xà, một phân nhánh lộ rẽ bắc về Phú Thọ qua các làng Vạn Tượng, Thanh Khiết, Hổ Tiếu, một phân nhánh đối diện rẽ nam ra đồng Đá Dựng, lên Thiên Bút. Ngã tư Ba La từ đó người ở cũng dần đông lên, văn hóa tâm linh làng xã được xác lập. Tại đây cư dân lập một nghĩa từ và phía tây không xa có miếu Nghĩa Lũng đều thờ thần và các vong linh không nơi thờ phụng.

Khoảng đầu thế kỷ trước khi chưa có ô tô, xe máy lưu thông, chỉ thỉnh thoảng có xe kéo, mỗi buổi sáng giữa ngã tư Ba La dân địa phương nhóm chợ. Đây là chợ nhỏ nông thôn, hàng hóa gồm nông sản rau quả, tôm cá sông, cá biển từ vùng biển mang đến và một số nhu yếu phẩm đơn sơ. Người mua bán là dân trong vùng và các làng lân cận, không sầm uất, nhưng cũng đông vui kẻ bán người mua tạo nét mới trong sinh hoạt thuần nông thời ấy. 

Cứ thế khu vực ngã tư Ba La thu hút dần phần tấp nập của khu bến đò Tuyển bờ nam sông Trà (một bến đò ghe thuyền lên nguồn xuống biển hay sang làng An Phú bên kia sông). Dần dà khu vực ngã tư có thêm quán bán rượu, nước chè xanh, hớt tóc, về sau có thêm quán bún...

Khi phương tiện giao thông phát triển lên, người và xe cộ đi lại nhiều, chợ nhóm giữa ngã tư không tồn tại nữa mà chuyển dời thêm vài vị trí khác. Đến sau 1945, thời kháng chiến chống Pháp, chợ nhóm vào chiều tối dưới hai hàng mù u cổ trước cổng đình Ba La để tránh máy bay Pháp. Tên chợ Mù U có từ thời đó!

Ngã tư Ba La là nơi lưu dấu những bước đổi thay của làng xã, là đầu mối giao thương nhỏ của khu vực, cũng là nơi lưu lại nhiều dấu ấn lịch sử cách mạng. Rạng sáng ngày 31.1.1931 đoàn người biểu tình phản đối thực dân Pháp đàn áp phong trào cách mạng, đòi giảm sưu thuế, đòi Việt Nam hoàn toàn độc lập... từ các làng bên sông của huyện Sơn Tịnh và phía đông Tư Nghĩa kéo lên tỉnh thành Quảng Ngãi, đến đây thì bị thực dân Pháp ngăn chặn, xả súng bắn làm bảy người chết và nhiều người bị thương.

Qua nhiều giai đoạn lịch sử, ngã tư Ba La tuy có phát triển, nhưng chưa trở thành thị tứ. Đến sau năm 1990, chợ Nghĩa Dõng được xây dựng tương đối quy mô trên khu gò Nghĩa Lũng. Ban đầu chợ thưa thớt, nay đông đúc người mua bán, hàng hóa phong phú, nhóm họp chủ yếu vào buổi sáng đến trưa. Buổi chiều chợ cổ Mù U vẫn hoạt động kiểu tự phát, nhưng đông vui, thuận tiện cho mua bán nhỏ, bởi vị trí giữa làng.

Ngã tư Ba La giờ đây được quy hoạch thành ngã năm, giao nhau của các tuyến đường Bích Khê lên trung tâm thành phố, đường Hồ Quý Ly thẳng xuống ngã tư Quán Láng, đường Trần Anh Tông về xã Nghĩa Dũng hướng Phú Thọ, đường Trần Khánh Dư lên Thiên Bút và tuyến mới là đường Lê Thánh Tôn nối dài. Trong kiến trúc đô thị tương lai, thì giữa ngã tư giờ là ngã năm sẽ có bùng binh. Xung quanh điểm giao nhau này nét đổi thay thấy rõ, trên bốn tuyến đường cũ bán kính non cây số cư dân đông đúc. Các hộ dân sống trong vùng chuyển hầu hết từ nông nghiệp sang thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dịch vụ... 

Bài, ảnh: Bùi Văn Tạo

Người Lý Sơn trồng gì nhiều trước khi trồng tỏi?

đăng 03:29, 6 thg 8, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Lý Sơn hiện được mệnh danh là "vương quốc tỏi". Tuy nhiên, để giải thích nghề trồng hành tỏi có từ bao giờ trên hòn đảo xinh đẹp này, thì hình như lại có nhiều ý kiến khác nhau. Nhưng có một điều chắc chắn, vào thế kỷ XIX, người Lý Sơn chưa lấy cây tỏi, lẫn cây hành làm cây trồng truyền thống, mà là một loại cây trồng khác.

Từ một bản tấu trình

Hiện nay, tại nhà thờ của các tộc họ trên đảo Lý Sơn còn lưu giữ hàng vạn trang tài liệu Hán Nôm, mà trong số đó có những tài liệu Hán Nôm có niên đại rất sớm, từ thời vua Lê Kính Tông, niên hiệu Hoằng Định (1601–1619), liên quan đến việc khai phá đất đảo Lý Sơn. 

Trong đó có một bản tấu trình vào tháng 5, năm Minh Mạng thứ 6 (1825) của Cựu lĩnh suất (đội) Biệt nạp Cai hợp Thắng (Nguyễn Quang Thắng), Xã trưởng Trương Văn Liễu, Xã trưởng Nguyễn Văn Kháng, Cai đình Nguyễn Văn Sắt, Chấp sự Dương Văn Nhạc, Thủ bản Nguyễn Văn Chiến, cùng toàn phường phường An Hải - Lý Sơn, thuộc Nội phủ, huyện Bình Sơn. 

Lý Sơn được mệnh danh là "vương quốc tỏi", nhưng theo nhiều tài liệu Hán Nôm thì trước khi trồng tỏi, người dân Lý Sơn đã nổi tiếng với cây đậu phụng. ẢNH: PV 


Tờ tấu trình ghi rõ: Vào tháng 8 năm Tân Dậu (1801), phường An Hải có đơn xin gia nhập đội biệt nạp phụng du (dầu phụng) tại điện Tây kỳ. Vào năm Bính Dần (1806), nhờ được phê chuẩn, nên dân binh trong cùng sổ bạ vẫn được nộp thuế tại kinh. 

Đến năm Kỷ Tỵ (1809) cũng theo lệ như vậy, tất cả đều nộp về kinh kỳ. Nhưng đến tháng 9 năm Giáp Thân (1824), thì Bộ Hộ lại có công văn gửi về trấn yêu cầu phải nộp thuế tại bản trấn. Tự xét thấy, do điều kiện biển đảo cách trở, sóng gió thường xuyên, nên dân binh phường An Hải vào đất liền nộp thuế rất gian nan, vì vậy dân binh An Hải cúi xin đường quan bản trấn xét thương cho, cho dân bản trấn được tiếp tục nộp theo như lệ cũ (tức tại kinh kỳ).

Thấy gì qua bản tấu trình này?

Bản tấu trình này chỉ có hai trang, nhưng phản ánh nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử, hành chính, địa danh, thuế khóa, sản vật địa phương... Ở đây, chúng tôi chỉ xin đề cập đến một vài vấn đề. Thứ nhất, là về loại thuế, thì đây là loại thuế biệt nạp, là loại thuế mà các hạng người phải đóng bằng sản vật (phân biệt với thực nạp là hạng phải đóng thuế bằng tiền và lúa, tức thuế đinh và thuế điền). 

Quy định nộp thuế như trên là hoàn toàn phù hợp với quy định hiện thời, bắt đầu từ năm 1801, khi Nguyễn Ánh tái chiếm Phú Xuân. Bởi theo một số tài liệu lịch sử, vào tháng 5, năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh tái chiếm Phú Xuân và bắt đầu tổ chức bổ nhiệm các quan chức tại địa phương sau khi chiếm lại được từ tay nhà Tây Sơn; ban thưởng cho những người có công; đồng thời cũng ra chỉ dụ về việc thu thuế, với lý do mà theo Nguyễn Ánh là "việc bất đắc dĩ" phải tạm thu thuế theo ngạch cũ để dùng vào việc binh.

Trong sách Đại Nam thực lục (chính biên), đệ nhất kỷ, có ghi chép: Vào tháng 6 năm Tân Dậu, cho "thu các thuế điền tô, sai dư và biệt nạp ở các phủ huyện Thuận Hóa" và còn ghi thêm rằng: Cho "thu thuế điền và thuế biệt nạp ở Quảng Ngãi, thuế biệt nạp ở Quảng Nam, đều y theo lệ Thuận Hóa mà làm" (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (chính biên), bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002, tập 1, tr. 450 và tr 455).

Thứ hai, người chuyên lo thu thuế biệt nạp là Cai hợp đội Biệt nạp Nguyễn Quang Thắng, làm Cai hợp trong Tam ty từ thời các chúa Nguyễn (sau này, theo quan chế thời Gia Long -1804, Cai hợp là chức hàm quan văn, trật tòng lục phẩm, làm việc tại các Ty Lệnh sử thuộc lục bộ). Thứ ba, nơi nộp: Nộp trực tiếp cho kinh thành Phú Xuân (chứ không phải nộp vào tỉnh thành Quảng Ngãi). Thứ tư, loại thuế phải nộp, tài liệu này nêu rõ: đó là phụng du, tức dầu phụng.

Suy đoán và gợi mở thêm

Từ việc quy định phải nộp thuế biệt nạp, tức phải nộp bằng chính sản vật đặc trưng của địa phương, thì thứ mà người An Hải, Lý Sơn phải nộp thời bấy giờ, đó chính là phụng du, tức dầu phụng. Qua việc phải nộp thuế bằng dầu phụng, có thể suy đoán rằng: lúc đó ở phường An Hải (tức là xã An Hải bây giờ) nói riêng và có thể cả Lý Sơn nói chung, có trồng nhiều cây đậu phụng, là thứ cây trồng đặc trưng ở đây (tức cây lạc, chứ không phải là hành tỏi như hiện nay).

Nhưng mỗi người đến tuổi chịu thuế phải nộp bao nhiêu dầu phụng? Trong một bản tấu trình khác, cũng của gia tộc họ Nguyễn Quang làng An Hải, được viết vào ngày 12, tháng 11, năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), do Lý trưởng Nguyễn Văn Huân, chức dịch Lê Văn Xúc cùng các Hương mục thuộc 7 họ bản phường phường An Hải, Lý Sơn, có cho biết rõ thêm: Vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), triều đình lại quy định: Hằng năm, mỗi người phải chịu nạp thuế biệt nạp là 50 cân dầu phụng và còn nộp thêm hương du (dầu thơm) vốn được trồng ở khu vực xứ Con Bò, cùng cá khô, cá trích... 

TS. NGUYỄN ĐĂNG VŨ

1-10 of 18