Con người và sự kiện

Bài mới

  • Cặp voi đá cổ độc nhất vô nhị của vương quốc Chăm Pa Tượng voi đá cổ ở thành Đồ Bàn được chế tác theo lối tả thực rất sống động, khác với kiểu tạo hình cách điệu thường thấy ở điêu khắc ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Kiệt tác nghệ thuật của Phật viện lớn nhất vương quốc Chăm Pa Đài thờ Đồng Dương cùng các hiện vật khác được khai quật ở Phật viện Đồng Dương chính là chứng tính quan trọng nhất về sự tồn tại của trung ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Tòa thành kép độc nhất vô nhị của vương quốc Chăm Pa Vì sao thành Cha gồm hai tòa thành được liên kết với nhau, chức năng của từng tòa thành như thế nào vẫn là điều vẫn chưa được nghiên cứu ...
    Được đăng 19:25, 16 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Độc đáo sản phẩm tôm hùm bằng tre Với bàn tay khéo léo và niềm đam mê của mình, cụ Nguyễn Minh Châu (89 tuổi, ở đường Ngô Gia Tự, phường Bình Định, thị xã An Nhơn, tỉnh ...
    Được đăng 06:39, 15 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Dấu ấn lịch sử của cố nghệ sĩ Nhiếp ảnh Lâm Tấn Tài 55 bức ảnh đen trắng được chọn lọc trong kho tàng hàng ngàn bức ảnh của cố nghệ sĩ Nhiếp ảnh Lâm Tấn Tài đã được Hội Nhiếp ảnh Thành ...
    Được đăng 19:40, 16 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 23. Xem nội dung khác »


Cặp voi đá cổ độc nhất vô nhị của vương quốc Chăm Pa

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Tượng voi đá cổ ở thành Đồ Bàn được chế tác theo lối tả thực rất sống động, khác với kiểu tạo hình cách điệu thường thấy ở điêu khắc Chăm.

Nằm ở địa phận xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, thảnh cổ Đồ Bàn từng là kinh đô của vương quốc Chăm Pa. Ngày nay, trong khu vực này còn lưu giữ cặp tượng voi đá cổ rất độc đáo do người Chăm chế tác.

 

Cặp voi này được đặt đối xứng nhau ở trung tâm thành cổ, gồm một voi lớn và một voi nhỏ. Trong đó, voi lớn cao tới 2m, được coi là tượng voi lớn nhất từng được biết tới của điêu khắc Chăm

 

Tượng voi này được chế tác theo lối tả thực rất sống động, khác với kiểu tạo hình cách điệu thường thấy ở điêu khắc Chăm

 

Bức tượng tạc từ một tảng đá nguyên khối rất lớn, được trau chuốt từng chi tiết nhỏ như nếp gấp của tai, hốc mắt...

 

Mắt voi được diễn tả rất có hồn.

 

Chân voi được tạo hình với đầy đủ năm móng

 

Cổ voi đeo vòng, ngà đã bị cụt, không rõ là chủ ý tạo hình của người xưa hay voi từng có ngà dài, nhưng đã bị cụt sau các thăng trầm lịch sử

 

Khi nhìn từ xa, bức tượng không khác gì một con voi thật

 

Đối diện với voi lớn là voi nhỏ, có chiều cao khoảng 1,7m.

 

Con voi này được tạo hình với rất nhiều đồ trang sức trên mình, và dường như là voi cái

 

Cổ voi đeo chùm lục lạc rất lớn

 

Đầu voi đội vương miện

 

Lưng voi có các dải dây thừng vắt qua

 

Hai tai của voi không còn nguyên vẹn

 

Theo các nhà nghiên cứu, hai con voi đá trong thành Đồ Bàn có nhiều dấu ấn mỹ thuật kế thừa từ giai đoạn Trà Kiệu muộn, niên đại thế kỷ 11-12

 

Sau 1.000 năm lịch sử, cặp voi trở thành những dấu tích hiếm hoi còn sót lại của kinh đô vương quốc Chăm Pa xưa

 

Một số hình ảnh khác về voi đá cổ thành Đồ Bàn.

 

 

 

 

Kiệt tác nghệ thuật của Phật viện lớn nhất vương quốc Chăm Pa

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Đài thờ Đồng Dương cùng các hiện vật khác được khai quật ở Phật viện Đồng Dương chính là chứng tính quan trọng nhất về sự tồn tại của trung tâm Phật giáo lớn nhất vương quốc Chăm Pa một thời. 

Được lưu giữ ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, đài thờ Đồng Dương là tên gọi của những đài thờ lớn được phát hiện tại Phật viện Đồng Dương, một trung tâm Phật giáo nằm ở đô thành Indrapura (nay nằm ở huyện Thăng Bình, Quảng Nam) thời kỳ vương triều Indrapura của người Chăm.

 

Cuộc khai quật đầu thế kỷ 20 của người Pháp đã xác định ba nhóm kiến trúc khác nhau trong khu đền chính của Phật viện, trong đó nhóm phía trước gọi là Vihara, nghĩa là tu viện. Đây là khu vực tìm thấy đài thờ Đồng Dương ký hiệu 22.25

 

Đài thờ này gồm các phiến đá lớn chạm được chạm khắc tinh xảo và ghép lại với nhau. Đáng chú ý, phía trên đài thờ có một một tượng Phật (ký hiệu 13.5) được coi là tượng Phật lớn nhất của vương quốc Chăm Pa từng được phát hiện

 

Tượng được thể hiện trong tư thế ngồi trên ghế, hai tay để trên đầu gối, chân buông thẳng xuống nền, được gọi là "kiểu ngồi châu Âu", để phân biệt với kiểu ngồi xếp bàn hai chân hoặc một chân

 

Ở các góc đài thờ có những tượng nhỏ thể hiện hình ảnh những vị tu sĩ đang dâng hoa hoặc trầm hương cúng dường Phật. Tại đây cũng tìm thấy một số tượng các vị thần bảo vệ giáo luật của Phật (Dharmapala hay Deva)

 

Ở nhóm sau của khu đền chính, các nhà khảo cổ cũng tìm thấy những phiến đá của một đài thờ tương tự như đài thờ ở tu viện phía trước. Đài thờ này được ký hiệu 22.24

 

Các bức chạm khắc trên các phiến đá của đài thờ này thể hiện cảnh sinh hoạt cung đình và một số trích đoạn về cuộc đời Phật Thích ca. Ngoài ra còn có các tượng La Hán

 

Nhóm kiến trúc giữa chỉ còn dấu vết của chân tường, bậc thềm của một ngôi nhà nhỏ hơn tu viện ở nhóm đông. Ở khu vực này đã tìm thấy 4 pho tượng hộ pháp cao gần 2 mét

 

Hơn nửa thế kỷ sau các cuộc khai quật của người Pháp, đến năm 1978, nhân dân địa phương đã đào được một pho tượng bằng đồng ở Phật viện Đồng Dương. Tượng cao 114 cm, đường nét chạm khắc tinh tế. Tượng được gọi tên là tượng nữ thần Tara hoặc Bồ tát Tara.

 

Đây có thể là pho tượng đặt tại đài thờ trung tâm dâng cúng cho thần Lakshmindra Lokeshvara. Hiện tại bức tượng nữ thần Tara đã được công nhận là bảo vật quốc gia của Việt Nam

 

Các nhà nghiên cứu nhận định, khu đền tháp Đồng Dương không chỉ đánh dấu sự ra đời của một triều đại mới mà còn đánh dấu sự thay đổi trong tín ngưỡng từ việc tôn thờ thần Siva là thần bảo hộ chính (như ở di tích Mỹ Sơn) sang thờ các vị Phật và Bồ tát.

 

Sự thay đổi về nội dung cũng đi liền với sự thay đổi trong cách thể hiện nghệ thuật nếu so sánh với cách tạc tượng và trang trí hoa văn ở các tượng và tháp ở phong cách Mỹ Sơn E1.

 

Tượng người chạm khắc trên các đài thờ và tượng ở Đồng Dương có nét cường điệu, đàn ông có khuôn mặt gần như vuông, trán thấp, lông mày rậm và giao nhau, miệng rộng, môi dày, ria mép rậm; phụ nữ có gương mặt thô và bộ ngực lớn

 

Hoa văn trang trí trên tường tháp và các cột trụ là những cành lá cách điệu xoắn xít, rậm rạp trông giống như những con sâu (vermicule)

 

Các đặc điểm này tạo nên sự khác biệt dễ nhận thấy trong phong cách nghệ thuật và tên gọi "phong cách Đồng Dương" được dùng để chỉ tất cả những tác phẩm điêu khắc Chăm có những đặc điểm tương tự, có niên đại khoảng cuối thế kỷ IX đến đầu thế kỷ X

 

Hiện nay, hầu như toàn bộ khu đền tháp Đồng Dương đã trở thành bình địa do chiến tranh, thiên tai và cả tác động của con người.

 

Những hiện vật được lưu giữ ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng chính là chứng tính quan trọng nhất về sự tồn tại của trung tâm Phật giáo lớn nhất vương quốc Chăm Pa một thời. (Bài có sử dụng tư liệu của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng)

Tòa thành kép độc nhất vô nhị của vương quốc Chăm Pa

đăng 19:25, 16 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Vì sao thành Cha gồm hai tòa thành được liên kết với nhau, chức năng của từng tòa thành như thế nào vẫn là điều vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Nằm ở thôn An Thành, xã Nhơn Lộc, Thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, thành Cha là một trong những tòa thành cổ của vương quốc Chăm Pa còn lưu giữ lại dấu tích đến ngày nay. 

 

Theo các nhà nghiên cứu, tòa thành này có thể có niên đại trước thế kỷ 10, từng là trung tâm chính trị của Vijaya, một trong bốn tiểu quốc của Chăm Pa xưa, gần như đóng vai trò kinh đô trong giai đoạn từ cuối thế kỷ 10 đầu 11

 

Hiện nay, những gì còn lại của thành Cha là những đoạn tường thành không còn nguyên vẹn, bị bao phủ bởi cây cối. Dù vậy, những bằng chứng này vẫn đủ để phác họa một tòa thành cổ có kiến trúc độc đáo hiếm có

 

Theo bình đồ, hệ thống thành Cha gồm hai tòa thành hình chữ nhật, một lớn, một nhỏ liên kết với nhau. Tòa thành lớn nằm về phía Đông, tòa thành nhỏ nằm phía Tây. Hai tòa thành này có chung một bức tường ở khu vực tiếp giáp

 

 Theo đo đạc, thành phía Đông có chiều dài khoảng 950 mét, rộng 350 mét, trải dài theo hướng Đông - Tây. Tường thành mặt Đông và mặt Tây có chiều cao khoảng 4 mét, mặt Bắc cao hiện khoảng 1 mét, còn mặt Nam đã bị bào mòn sát mặt đất.

 

Ở vị trí chính giữa thành phía Đông có một gò đất lớn, trên gò có nhiều gạch nung, là dấu tích còn lại của một công trình kiến trúc đã bị sập đổ

 

Tòa thành phía Tây có kích thước nhỏ hơn với chiều dài 440m, chiều rộng 134 mét.

 

Về cách thức xây dựng, thành Cha được xây đắp bằng đất, bên trong có trộn gạch vữa và ngói ống

 

Hiện tại, phần đất bên trong cả hai tòa thành được người dân tận dụng để trồng hoa màu

 

Vì sao hai tòa thành được liên kết với nhau, chức năng của từng tòa thành như thế nào vẫn là điều chưa được nghiên cứu đầy đủ.

 

Nhìn chung, do có rất ít thông tin trong các sử liệu nên thành Cha ở Bình Định hiện vẫn còn rất nhiều bí ẩn, cần được khám phá, tìm hiểu.

 

Từ đầu những năm 2000, các cuộc khai quật đã được tiến hành bên trong thành Cha. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy nhiều ngói vỡ, mảnh phù điêu trang trí bằng đất nung thể hiện tu sĩ Bà-la-môn, hình phụ nữ...

 

Trong cuộc khai quật năm 2015-2016, nhiều dữ liệu quan trọng đã được thu thập, góp phần hiểu sâu sắc thêm quá trình hình thành, phát triển thành Cha nói riêng và văn hóa Chăm Pa ở Bình Định nói chung

 

Kết quả của cuộc khai quật này cho thấy địa tầng khu di tích có hai lớp văn hóa: Sa Huỳnh muộn ở dưới và lớp văn hóa Chăm Pa ở trên. Lớp văn hóa Chăm lại chia thành hai giai đoạn khác nhau

 

Từ các chứng tích được tìm thấy, có thể khẳng định, trước khi thành Cha được xây dựng, khu vực này đã là điểm định cư lâu đời của người Chăm

 

Với những giá trị to lớn về lịch sử và kiến trúc, vào năm 2003, thành Cha đã được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia của Việt Nam

Độc đáo sản phẩm tôm hùm bằng tre

đăng 06:39, 15 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Với bàn tay khéo léo và niềm đam mê của mình, cụ Nguyễn Minh Châu (89 tuổi, ở đường Ngô Gia Tự, phường Bình Định, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định) đã tạo ra sản phẩm tôm hùm làm bằng tre độc đáo, tinh xảo.

Sản phẩm tôm hùm bằng tre độc đáo của cụ Châu. Ảnh: Đ.Phùng 


Cụ Châu kể, thời trai trẻ, cụ là người nổi tiếng khéo tay nhất làng. Dù chẳng được học hành bài bản nhưng cụ rất mê hội họa, mê đến gắn đời vào nó. Sau khi lập gia đình, cụ mưu sinh bằng nghề đắp tranh nổi. Nhưng rồi, nghề cũng “bạc”, cuộc sống gia đình vẫn khó khăn. 

Hồi ấy, sống ở nông thôn, đi đâu cũng đụng tre, thế là cụ nghĩ đến chuyện làm ra những sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Suy nghĩ mãi, cụ quyết định làm những con tôm hùm bằng tre.


Sản phẩm tôm hùm bằng tre được treo khắp nhà tạo ấn tượng với khách tham quan. Ảnh: Đ.Phùng 


“Năm 1985, những con tôm hùm bằng tre đầu tiên ra đời rất thô mộc, chỉ to bằng nắm tay, chẳng có màu mè gì, toàn thân tinh một màu vàng của tre được hơ lửa. Có lẽ do nó quá thô mộc nên chưa thu hút được khách mua, sản phẩm làm ra bán chỉ đủ tiền chợ. Tôi lại mày mò, nghiên cứu làm những con tôm hùm to hơn, được tô điểm màu sắc như con tôm hùm thật. Thế là tôi gắn đời với nó cho tới hôm nay”, cụ Châu cười nói. 

Cụ Châu gắn điện vào mắt sản phẩm tôm hùm để trang trí trong nhà. Ảnh: Đ.Phùng 


Theo lời cụ Châu, phần đầu của tôm hùm tre nhìn phức tạp nhưng được chế tác rất đơn giản, chỉ bằng gỗ cây bông gòn rất mềm và nhẹ, phủ lên lớp keo, sau đó rải thêm lớp cát mịn, gắn râu. Tuy nhiên, khó nhất là công đoạn tạo dáng cong cong cho thân tôm. Phần thân này được làm bằng những khúc tre tròn, cưa xéo, xếp theo quy cách từ lớn đến nhỏ dần về phía đuôi và được kết nối nhau bằng dây thép. Phần đuôi là những miếng tre được chẻ rất mỏng, vuốt láng, xếp xòe ra. Râu tôm được làm bằng dây chuối quấn vào sợi thép để dễ ngoe nguẩy. 

Các công đoạn để tạo ra sản phẩm đều được làm bằng tay. Ảnh: Đ.Phùng 


Thợ làm tôm tre trong cơ sở sản xuất của cụ Châu toàn là người trong gia đình, gồm: vợ chồng cụ Châu, vợ chồng người con trai và 2 người cháu họ. Theo ông Nguyễn Phúc Sơn (57 tuổi, con trai cụ Châu), làm tôm hùm tre khó nhất là lúc uốn lưng của con tôm sao cho sinh động. Vì khi con tôm tre được tạo dáng sẽ thoát ra khỏi dáng dấp thô kệch của thân tre, công việc khi ấy mới thành công. 

Sản phẩm tôm tre của gia đình cụ Châu có nhiều kích cỡ, loại nhỏ nhất có giá 350.000 đồng/con, loại lớn 1.000.000 đồng/con. Bình quân, mỗi tháng gia đình cụ bán được khoảng 200 - 300 con tôm tre đủ cỡ, ngày Tết thì lượng hàng bán ra tăng gấp 2 - 3 lần. 

Sản phẩm tôm hùm thô và tôm đã được sơn màu. Ảnh: Đ.Phùng 


Không quảng bá, thậm chí đến cái biển để gắn ở ngoài cũng không có. Thế nhưng sản phẩm tôm hùm làm bằng tre của gia đình cụ Châu được nhiều người biết đến. Khách trong Nam, ngoài Bắc gọi điện đặt hàng. Không ít những con tôm hùm bằng tre của gia đình cụ theo chân khách du lịch có mặt ở các nước. “Họ nói có nhiều Việt kiều rất thích sản phẩm này nên đặt hàng mang qua tận Mỹ, Anh làm quà, để ngắm cho bớt nhớ quê. Tôi nghe mà lòng thấy lâng lâng”, cụ Châu chia sẻ.

ĐÌNH PHÙNG

Dấu ấn lịch sử của cố nghệ sĩ Nhiếp ảnh Lâm Tấn Tài

đăng 01:06, 13 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 19:40, 16 thg 9, 2018 ]

55 bức ảnh đen trắng được chọn lọc trong kho tàng hàng ngàn bức ảnh của cố nghệ sĩ Nhiếp ảnh Lâm Tấn Tài đã được Hội Nhiếp ảnh Thành phố Hồ Chí Minh trưng bày nhằm tưởng nhớ 17 năm ngày mất của ông. Ông được coi là người thầy và là một trong những cánh chim đầu đàn của phong trào Nhiếp ảnh thành phố Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam. 

Trong những tác phẩm trưng bày tại triển lãm có cả một bộ ảnh (gồm 5 ảnh) về đề tài chiến tranh vừa vinh dự nhận được Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật chuyên ngành Nhiếp ảnh đợt 5 - năm 2016, trao giải vào năm 2017. 

Các bức ảnh được trưng bày thể hiện dấu ấn lịch sử của Việt Nam, về những khoảnh khắc tiêu biểu của quân và dân Nam bộ trong lao động, sản xuất, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ông Nguyễn Thanh Tâm - Chủ tịch Hội Nhiếp ảnh Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu trong lễ Khai mạc đã khẳng định: “Ảnh Đen - Trắng của anh Lâm Tấn Tài là đỉnh cao của nghệ thuật nhiếp ảnh. Là tư liệu rất quý của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đối với thế hệ sau này ghi nhớ và học tập.”

Du khách đến tham quan triển lãm. Ảnh: Đặng Kim Phương


Rất nhiều du khách cảm phục sự hy sinh và dấn thân của tác giả được thể hiện qua từng bức ảnh. Ảnh: Đặng Kim Phương


Các tác phẩm thể hiện được sự tàn khốc của chiến tranh. Ảnh: Thông Hải 


Tưởng nhớ về người thầy, người anh Lâm Tấn Tài, NSNA Lê Xuân Thăng - Uỷ viên Thường vụ, Phó Chủ tịch Hội NSNAVN, Phó Chủ tịch Hội Nhiếp ảnh Thành phố Hồ Chí Minh cũng xúc động bày tỏ: "NSNA Lâm Tấn Tài là người đã mở đường, gây dựng nên phong trào nhiếp ảnh nghệ thuật ở Tp. Hồ Chí Minh cùng cả hai khu vực Đông Nam bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long. Ông là người anh, người thầy, tấm gương yêu nghề, yêu nghệ thuật cho thế hệ hôm nay và mai sau"...

Gần 50 năm hoạt động Nhiếp ảnh, cố nghệ sĩ Lâm Tấn Tài luôn sống hết mình vì sự nghiệp Nhiếp ảnh và được đồng nghiệp nhiều thế hệ ghi nhận như một nghệ sĩ tâm huyết, luôn hết lòng vì sự phát triển của Nhiếp ảnh thành phố và khu vực. Trong sự nghiệp công tác của mình, ông vừa tham gia kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, vừa hoàn thành nhiệm vụ của một phóng viên ảnh chiến trường. Các tác phẩm của ông đã góp phần ghi lại những khoảnh khắc hào hùng của lịch sử dân tộc như: “Thần tốc tiến về Sài Gòn”, “Công binh mở đường Trường Sơn cho xe qua”, “Vượt Trường Sơn”, “Biệt động Sài Gòn”, “Hiệp định Paris 1973, Mỹ rút quân”… là những tư liệu lịch sử quý giá của nhiếp ảnh về đề tài chiến tranh để các thế hệ hậu sinh có được cái nhìn khách quan, chân thực và sinh động nhất về cuộc chiến đấu ác liệt mà vinh quang của quân và dân ta trong lịch sử kháng chiến chống lại kẻ thù xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Tác phẩm: Biệt động Sài Gòn.


Tác phẩm: Công binh mở đường Trường Sơn cho xe qua.


Tác phẩm: Đại đội 4, tiểu đoàn 6 quyết thắng hành quân về vùng ven, chuẩn bị chiến dịch Mậu Thân 1968.


Tác phẩm: Vượt Trường Sơn về Nam chiến đấu.


Tác phẩm: Thần tốc tiến về Sài Gòn.


Tác phẩm: Đoàn quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập.


Tác phẩm: Các thành viên Chính phủ Dương Văn Minh trong lễ phóng thích.


Tác phẩm: Trong trận đánh tham gia cầm súng, sau trận đánh chăm sóc thương binh.


Tác phẩm: Bác sĩ người Ê Đê.


Tác phẩm: Cháu Việt Hải.


Tác phẩm: Buồng tối phòng ảnh.


Tác phẩm: Cuộc sống trên sông.


Tác phẩm: Mưa đồng. 


NSNA Lâm Tấn Tài (1935 - 2001)
Sinh ra tại Thắng Tam, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Quê gốc xã Mỹ An Hưng, huyện Thạnh Hưng, tỉnh Đồng Tháp.
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
 
  • Hoạt động cách mạng từ khi mới 12 tuổi (làm liên lạc cho Công an huyện Long Thành - Biên Hòa và Đại đội B, Chi đội 6 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), sau trở thành phóng viên chiến trường thuộc Thông tấn xã Giải phóng.
  • Nguyên Phó Tổng Thư ký, Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam (khóa 5).
  • Nguyên Tổng Thư ký Hội Nhiếp ảnh thành phố Hồ Chí Minh suốt 3 nhiệm kỳ.
Thực hiện: Đặng Kim Phương – Trịnh Thông Hải

Những công trình kiến trúc Pháp tiêu biểu ở Huế

đăng 19:39, 11 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

UBND tỉnh Thừa Thiên Huế vừa công bố 27 công trình kiến trúc Pháp tiêu biểu của địa phương để có hướng bảo tồn. 


27 công trình kiến trúc Pháp tiêu biểu ở Huế bao gồm 11 công trình cơ quan nhà nước quản lý như Đại học Huế, Bia Quốc học, trường Quốc học, trường THPT Hai Bà Trưng, trụ sở Bảo tàng Văn hóa Huế, nhà trưng bày Điềm Phùng Thị, dãy lớp học Trường Tiểu học Lê Lợi, dãy lớp học A&B Đại học Khoa học Huế, trường Cao đẳng Công nghiệp Huế, trung tâm Festival, sân vận động Tự Do. 

16 công trình thuộc sở hữu các tổ chức gồm: Ga Huế, khách sạn Sài Gòn Morin, nhà hàng Festival Huế, La Residence Hue Hotel & Spa, khách sạn Le Domaine de Cocodo, nhà máy nước Vạn Niên, nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, giáo xứ Chính Tòa Phủ Cam (dòng Khâm Mạng), nhà thờ Giáo xứ Phủ Cam, Tòa Tổng Giám Mục Huế, tu viện Thánh Tâm, Đại Chủng Viện Huế, Dòng con Đức Mẹ Vô Nhiễm, đan viện Carmel Huế, nhà thờ Phanxico, nhà nguyện (Hội dòng thánh Phao Lô). 

Ga Huế (ảnh) nằm tại phường Đúc, TP Huế, được người Pháp xây dựng vào năm 1908, trước kia được gọi là ga Trường Súng. Trải qua hơn 100 năm, ga Huế vẫn giữ nguyên vẹn nét kiến trúc cổ kính ban đầu. 


Đài tưởng niệm chiến sĩ trận vong hay còn được gọi là Bia Quốc Học nằm sát bờ nam sông Hương, trước mặt trường Quốc Học. Công trình này được xây dựng vào năm 1920 để tưởng niệm những binh sĩ người Pháp và người Việt ở Trung Kỳ đã tham chiến và bỏ mạng trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất. 


Trường Trung học Phổ thông Chuyên Quốc Học được thành lập vào ngày 23/10/1896. Đây là một trong những ngôi trường trung học phổ thông đầu tiên tại Việt Nam. Hiện nay, trường Quốc Học là một trong ba trường phổ thông trung học chất lượng cao của Việt Nam (cùng với trường Lê Hồng Phong tại TP HCM, trường Chu Văn An tại Hà Nội). 


Bảo tàng văn hóa Huế gồm hai khối nhà kiến trúc Pháp tọa lạc trên khu đất rộng gần 6.000 m2 nằm bên sông Hương. Trước đây, hai khối nhà này là trụ sở UBND TP Huế. 


Nhà trưng bày Điềm Phùng Thị là ngôi nhà hai tầng mang kiến trúc Pháp nằm gần cầu Trường Tiền bên bờ sông Hương. Trước đây ngôi nhà này được sử dụng làm Trung tâm Festival. 


Nhà thờ chính tòa Phủ Cam là nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Huế, tọa lạc trên đồi Phước Quả (phường Phước Vĩnh, TP Huế). Đây là một trong những nhà thờ to lớn, nổi tiếng và lâu đời nhất tại Huế. Nhà thờ được xây theo lối kiến trúc hiện đại, do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế. 


Trường THPT Hai Bà Trưng được thành lập ngày 15/7/1917 với tên gọi là trường Đồng Khánh. Trải qua hơn 100 năm, ngôi trường này vẫn giữ nét kiến trúc Pháp cổ kính. 


Khách sạn Saigon - Morin Huế ra đời từ năm 1901, do một doanh nhân người Pháp tên là Bogarde xây dựng và đưa vào kinh doanh. Hơn 100 năm qua, khách sạn từng thuộc quyền sở hữu của nhiều nhà buôn và các chính quyền khác nhau, trong đó, có giai đoạn trở thành trụ sở của Đại học Huế và Đại học Tổng hợp Huế. 

Ngoài 27 công trình kiến trúc Pháp tiêu biểu vừa công bố, tỉnh Thừa Thiên Huế còn hàng chục công trình kiến trúc Pháp khác như Trụ sở Hội văn học nghệ thuật tỉnh, trụ sở UBND phường Phú Hòa... 

Võ Thạnh

Bồn tắm vương giả của "vợ yêu" vua Mèo

đăng 00:51, 10 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Không chỉ lạ lùng về vẻ ngoài, chiếc bồn tắm sữa dê trong dinh thự vua Mèo cũng được sử dụng theo cách thức rất đặc biệt...

Không chỉ nổi tiếng với kiến trúc độc đáo, dinh thự của vua Mèo Vương Chính Đức (1865 - 1947) ở Sà Phìn, Đồng Văn, Hà Giang còn là nơi lưu giữ những hiện vật quý gắn bó với cuộc đời của người từng cai quản toàn bộ vùng cao nguyên đá 1 thế kỷ trước

 

Trong số đó, có một hiện vật hết sức đặc biệt: Chiếc bồn tắm được chế tác từ một tảng đá nguyên khối, nặng hàng trăm kg

 

Bồn có hình bán nguyệt, chiều dài khoảng 1 mét, rộng nửa mét, thành dày 5cm, được tạc từ một tảng đá lớn tìm thấy trong vùng

 

Dù có vẻ ngoài thô mộc, chiếc bồn này đòi hỏi công sức rất lớn của những người thợ làm đá khi họ phải tỉ mẩn khoét rỗng ruột một khối đá lớn với độ chính xác cao

 

Không chỉ lạ lùng về vẻ ngoài, chiếc bồn này cũng được sử dụng theo cách thức rất đặc biệt

 

Chỉ có những người vợ của vua Mèo mới được sử dụng bồn, và nước tắm trong bồn không phải nước bình thường mà là sữa dê đun nóng

 

Từ nhiều thế kỷ trước, tắm sữa dê đã được coi là bí quyết gìn giữ tuổi thanh xuân của phụ nữ trong các cung đình

 

Để có thể phục vụ như cầu tắm sữa dê của thê thiếp, vua Mèo Vương Chính Đức đã phải thu mua một một phần lớn sữa dê được sản xuất trong vùng.

 

Sữa dê dùng cho mỗi một lần tắm có giá trị tương đương với hàng tạ gạo, ngô

 

Điều này cho thấy mức độ vương giả trong cuộc sống của vua mèo Vương Chính Đức - người đã tích lũy khối lượng của cải khổng lồ nhờ việc buôn thuốc phiện

 

Do rất nặng và khó phá hủy nên chiếc bồn tắm lịch sử đã tồn tại cùng khu dinh thự bề thế sau 1 thế kỷ đầy biến động


Cây cầu gỗ tại Sa Pa vô tình nổi tiếng khắp thế giới

đăng 05:41, 9 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Tấm ảnh chụp cây cầu gỗ ở Việt Nam trở thành một trong những sản phẩm trang trí bán chạy nhất của hãng nội thất Thụy Điển. 

Nếu từng đặt chân vào một cửa hàng Ikea ở bất kỳ đâu trên thế giới, bạn có nhiều khả năng sẽ thấy một bức ảnh chụp hình một cây cầu mờ ảo trong sương. Đây chính là tác phẩm do nhiếp ảnh gia Mỹ, Skip Nall, thực hiện trong chuyến du lịch Sa Pa năm 2006.

Tác phẩm mang tên 'Bridge Jungle Journey' (Cây cầu dẫn tới rừng xanh) có giá từ 139 USD, cho kích thước khoảng 1x1,3m. Ảnh: Skip Nall. 


Chia sẻ về bức ảnh để đời, Nall kể lại rằng mình nhận được một cuộc điện thoại vào năm 2009, từ một công ty hỏi mua bản quyền tác phẩm cho một mẫu in ấn. Khi ấy, Nall đang chuyển nhà đến Philippines và toàn bộ dữ liệu, tập tin... đều nằm trên một tàu chở hàng trên biển. Ông trả lời phía công ty rằng mình sẽ gọi lại khi ổn định tại nhà mới.

Máy tính cùng dữ liệu cá nhân cuối cùng cũng chuyển đến chỗ của Nall tại Philipines. Nhưng ông quá bận rộn để hòa nhập với môi trường mới và quên khuấy về cuộc điện thoại nọ.

Sáu tháng sau, trên một chuyến bus đêm giữa thủ đô Manila, chuông điện thoại của Nall lại reo lên - đầu bên kia là một người ở công ty từng gọi cho ông trước đó.

"Họ rất sốt sắng về chuyện bản quyền, sẵn sàng trả trước 1.000 USD để có thể sử dụng. Tôi tự hỏi, chuyện quái quỷ gì đang xảy ra thế nhỉ", Nall chia sẻ. Ông đồng ý với đề xuất đó, ký hợp đồng và bắt đầu chuyển dữ liệu cho họ.

Skip Nall (bên phải) chụp cùng đồng nghiệp trước bức ảnh để đời. Ảnh: Skip Nall. 


Gần 8 tháng sau, bức ảnh của ông có mặt trên kệ của toàn bộ hệ thống cửa hàng Ikea. Trong tuần đầu tiên ra mắt, tác phẩm đã thu hút sự chú ý của rất nhiều người.

"Tôi đã nhận được vô số email bày tỏ rằng họ yêu thích bức ảnh đến nhường nào, trông nó mới tuyệt làm sao khi treo trên tường nhà và một số thắc mắc tôi đã chụp nó ở đâu", Nall hồi tưởng.

Victoria, một người Mỹ, chia sẻ: "Tại cửa hàng ở Florida, có ba người (gồm cả tôi) đã đứng đó, chăm chú ngắm nhìn bức ảnh này. Chúng tôi bàn luận sôi nổi về nó. Quả là một khung hình bắt mắt đến ngoạn mục".

Blogger Kristi cho biết: "Con trai tôi đã nhìn thấy bức ảnh này trong cửa hàng và thích ngay lập tức. Tiếc là ảnh quá lớn so với phòng của thằng bé (nó sẵn sàng gắn ảnh lên trần nhà). Gần đây, con bắt đầu yêu nhiếp ảnh, tôi hy vọng ngày nào đó thằng bé cũng có thể kể một câu chuyện như của anh".

Nhiếp ảnh gia Mỹ cảm thấy may mắn và phấn khích khi đón nhận phản ứng tích cực từ những người yêu nghệ thuật. Ông tiết lộ mình đã chụp nó ở Sa Pa, miền núi phía bắc Việt Nam.

Hiện tại, cây cầu gỗ từng khiến Nall nổi tiếng là điểm thu hút nhiều du khách tìm đến khám phá và chụp cho mình những bức ảnh ấn tượng. Gần đây, Sarah Trần, blogger du lịch gốc Việt được mệnh danh là "công chúa tóc mây", cùng bạn trai cũng ghé thăm cây cầu này.

Blogger gốc Việt cho biết, cô không thể chụp được tấm hình như bản gốc do cây cầu khá nguy hiểm. Ảnh: Sarah Trần. 


"Một người bạn của tôi sống ở Đức ấn tượng với bức ảnh đó đến nỗi anh ấy mua cỡ lớn nhất để treo trong phòng. Chúng tôi có thể nhìn vào nó hàng giờ khi hàn huyên với nhau và ngưỡng mộ vẻ đẹp ám ảnh của tác phẩm. Mỗi lần bước chân vào một cửa hàng Ikea tại bất kỳ nơi đâu trên thế giới, tôi đều trông thấy bản in của nó và lại cảm thấy ngất ngây như lần đầu", Sarah trải lòng. 

Tiểu Bảo

Bộ đôi nhạc cụ cực lạ của cung đình nhà Nguyễn

đăng 02:54, 9 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Sau thành công bước đầu của việc phục chế, biên chung và biên khánh tiếp tục được hoàn thiện và biểu diễn trong dàn nhạc ở các dịp lễ hội lớn tái hiện lại các hoạt động của thời nhà Nguyễn như lễ tế đàn Xã Tắc, đàn Nam Giao…

Được trưng bày tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, biên chung và biên khánh là hai nhạc cụ hết sức độc đáo từng được sử dung trong cung đình nhà Nguyễn xưa

 

Trong hai nhạc cụ này, bộ biên khánh gồm 12 chiếc khánh hình chữ L ngược làm bằng đá núi Nhồi ở Thanh Hóa

 

Mỗi chiếc khánh có độ dày mỏng khác nhau để tạo ra âm vực khác nhau khi gõ

 

Bộ biên chung gồm 12 quả chuông đồng được đúc rỗng, độ dày mỏng giữa các chuông khác nhau

 

Trên thân chuông đúc 5 đường gờ nổi song song tượng trưng cho ngũ hành, và đúc nổi 9 nút nhỏ ở mỗi đường gờ để làm điểm gõ chuông.

 

Các nút nhỏ này chính là điểm ký hiệu về “cường độ” và “trường độ” của quả chuông lúc trình tấu

 

Móc treo của các quả chuông được chạm trổ tinh xảo

 

Tất cả 12 chiếc chuông và chiếc khánh được treo trên một giá đỡ bằng gỗ quý sơn son thếp vàng, chia thành hai hàng trên và dưới, mỗi hàng có 6 ô lắp móc treo

 

Chiếc giá đỡ này có thể di chuyển đến nơi trình diễn rất dễ dàng, do phần có đòn gánh chạm nổi hình đầu rồng, hai người gánh đi bằng vai.

 

Chân giá đỡ chạm hình con nghê khá sinh động

 

Vào thời nhà Nguyễn, biên chung và biên khánh cùng thuộc dàn Nhã nhạc cung đình, chỉ được đưa ra sử dụng trong những buổi tế lễ trọng đại như: lễ Đại triều ở điện Thái Hòa, lễ Tế Nam Giao, lễ Tế Xã Tắc.

 

Theo các nhà nghiên cứu, biên chung, biên khánh có nguồn gốc từ lâu đời trong văn hóa Trung Hoa cổ đại, về sau được du nhập vào Triều Tiên và Việt Nam

 

Ở Việt Nam, hai nhạc cụ này được dùng trong dàn Nhã nhạc thời Lê (1427 - 1788) và thời Nguyễn (1802 - 1945)

 

Cho đến cuối thế kỷ 20, cả biên chung và biên khánh đều đã thất truyền, chỉ còn lưu giữ lại được một số bộ phận riêng lẻ và cũng không còn ai biết cách trình tấu.

 

Từ những năm 2010, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã phối hợp với các chuyên gia Hàn Quốc thuộc Trung tâm Nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn truyền thống quốc gia Hàn Quốc tiến hành nghiên cứu và phục chế bộ biên chung và biên khánh

 

Vào các năm 2012-2013, hai loại nhạc cụ này lần lượt được trình diễn thử nghiệm trong các sự kiện của Festival Huế

 

Sau thành công bước đầu, biên chung và biên khánh tiếp tục được hoàn thiện và biểu diễn trong dàn nhạc ở các dịp lễ hội lớn tái hiện lại các hoạt động cuar thời nhà Nguyễn như lễ tế đàn Xã Tắc, đàn Nam Giao…

Nghệ nhân Ngô Tấn Đức: Người "giữ hồn" cho Làng nghề Tủ thờ Gò Công

đăng 01:39, 3 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Ông Ngô Tấn Đức, nhiều người gọi thân mật bằng ông Ba Đức, gần 80 tuổi, tóc đã bạc trắng nhưng còn rất minh mẫn. Ông được xem là một trong những nghệ nhân lão luyện, người góp phần “giữ hồn” cho Làng nghề Tủ thờ Gò Công trải dài cả trăm năm.

Nặng nợ với nghề

Chúng tôi hẹn gặp ông vào ngày cận Tết Giáp Ngọ 2014, ngay sau khi ông nhận Huân chương Lao động hạng III do Chủ tịch nước trao tặng nhằm ghi nhận những đóng góp của ông trong hàng chục năm qua. Đó là phần thưởng vô giá cho một lão nông cả đời gắn bó với những chiếc tủ thờ Gò Công vang danh khắp cả nước.

Tiếp chúng tôi không phải ở những cửa hàng kinh doanh bàn ghế, tủ thờ mang tên Ba Đức ở dọc ấp Ông Non, xã Tân Trung (TX. Gò Công) hoành tráng, sang trọng mà ông dẫn chúng tôi về ngôi nhà có nét cổ kính, cũ kỹ. Ông lý giải, ngôi nhà này đã gắn bó với vợ chồng ông đã gần 50 năm, kể từ khi ông lập gia đình, ra riêng và gầy dựng sự nghiệp. Và có lẽ nơi đây đã chứa đựng nhiều ký ức của cả đời lập thân, lập nghiệp.

Ngay gian chính ngôi nhà này, ông cho đặt chiếc tủ thờ trị giá 300 triệu đồng. Ông nói, chiếc tủ này một phần dùng để thờ tổ tiên, ông bà, một phần cũng muốn ghi lại dấu ấn của nghề mà mấy chục năm ông đã theo đuổi. Bên tách trà cuối năm, ông chậm rãi kể rằng, thời trẻ gia đình ông rất nghèo, nên ông sớm đi làm thuê và học nghề mộc, được chủ thương gả con gái.

“Tôi được cha vợ truyền nghề đóng tủ, bàn ghế. Nghề này đầu tiên là do ông cố (ông Nguyễn Văn Non, tức ông Cả Non, sau này lấy tên ông đặt thành ấp Ông Non, xã Tân Trung - NV) gầy dựng. Năm 19 tuổi, tôi đã học được nghề đóng tủ” - ông Ba Đức cho biết.

Ông Ngô Tấn Đức bên chiếc tủ thờ trị giá 300 triệu đồng.


Sau khi lập gia đình, sinh con, có nghề nghiệp, những tưởng ông Ba Đức bắt đầu sự nghiệp của mình. Nhưng không, ông theo cách mạng khi phong trào Đồng Khởi năm 1960 nổ ra. Ông nói: “Tui “mê” Việt Cộng quá nên đành xa vợ xa con”. Ông cũng đã từng tham gia giải phóng Khám lớn Gò Công trong trận Tết Mậu Thân 1968. Trong trận này, ông bị thương nặng nhưng vẫn kiên cường chống chọi với thương tích và tham gia giải phóng được nhiều tù nhân chính trị của ta.

Một thời trai trẻ ông cũng từng là thanh niên xung phong trên khắp chiến trường, nhất là khu vực Ấp Bắc, Ba Dừa, Mỹ Phước Tây (huyện Cai lậy), đi mở đường, tải thương, cứu thương, rồi tham gia Tiểu đoàn tăng cường tiếp viện cho lực lượng thanh niên xung phong ở ngã ba Đồng Lộc. Khi hòa bình lập lại, ông trở lại nghề gia truyền.

“Năm 1976, tôi mua miếng đất được 15 sào, cất cái chòi 1 mái bằng cây dầu gió, đước, lợp lá chầm đốp, mưa dột khắp nhà nên phải che mũ cho con ngủ. Đùng cái, năm 1978 sâu rầy hoành hành, thất mùa nên ngưng làm tủ hết một thời gian do bà con không có tiền để mua. Lúc này thợ đóng tủ đã bỏ đi xứ khác làm ăn gần hết, chỉ còn tui và các con làm đắp đổi qua ngày, vừa làm vừa truyền nghề cho các con. Từ năm 1980 trở về sau, tôi mới bắt đầu ổn định nghề và phát triển dần” - ông Ba Đức chậm rãi kể về sự nghiệp của mình.

Ông “vua” tủ thờ

Có lẽ ngày nay nhắc đến tủ thờ Gò Công nhiều người nghĩ ngay đến thương hiệu Ba Đức. Tủ thờ Ba Đức giờ đây không chỉ có mặt trong cả nước mà còn xuất khẩu sang nước ngoài. Ông Ba Đức cho biết, hiện tại gia đình có 15 cơ sở lớn nhỏ, trong đó có 9 cơ sở lớn đều do các con ông đứng ra sản xuất và kinh doanh.

Các cơ sở này tập trung ở ấp Ông Non (xã Tân Trung, TX. Gò Công). Mới đây, con ông cũng mở cửa hàng kinh doanh tủ thờ, bàn ghế mang tên Ba Đức ở xã Tân Mỹ Chánh, TP. Mỹ Tho. “Tôi cũng đã đặt cơ sở mua gỗ bên Lào được 5 năm. Nhờ đó không thiếu gỗ để làm ra những bộ bàn ghế có chất lượng cao” - ông Ba Đức cho biết.

Chiêm nghiệm cuộc đời hơn 50 năm gắn bó với nghề, ông Ba Đức tự hào: Đời ông cố và ông nội chỉ làm được chiếc tủ thờ Gò Công thường với 3 trụ, đến đời cha ông nâng cấp lên từ 5-7 trụ và đến thời của ông đã phát triển từ 7 trụ dần lên đến 21 trụ. Đặc biệt, vào cuối năm 2013 ông đã hoàn thành chiếc tủ với 30 trụ. Đây được xem là chiếc tủ thờ mang tính kỷ lục cả về số trụ và về giá bán, lên đến 750 triệu đồng. Chiếc tủ thờ này có 30 trụ đứng được chạm trổ tinh xảo, mặt tiền được cẩn xà cừ đẹp mắt và được ông đóng theo đơn đặt hàng của một nữ trí thức ở huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh.

Ông Ba Đức kể, hôm khách xuống Gò Công xem hàng trưng bày rồi phác thảo ý tưởng chiếc tủ không đụng hàng với bất cứ ai, cha con ông toát mồ hôi hột, nửa muốn nhận, nửa muốn từ chối. Vì lòng tự ái nghề nghiệp, ông quyết định ký hợp đồng và chấp nhận đánh cược với danh tiếng của mình suốt hơn 50 năm qua.

Ông giải thích: “2 năm trước tui đóng được cái tủ thờ 550 triệu đồng với 21 trụ là hú hồn, hú vía rồi. Còn cái tủ 750 triệu đồng này tui vừa làm vừa hồi hộp, vì nếu khách không chịu lấy có nước đổ nợ, dù họ đã đặt cọc 30%. Vậy là suốt 2 tháng ròng đóng tủ, tôi và người con trai thứ Bảy không dám rời khỏi xưởng, lúc nào cũng đứng canh thợ làm để chỉnh sửa từng chi tiết nhỏ”.

Nghề đóng tủ thờ Gò Công được khai sinh trên vùng đất này cách đây cả 100 năm. Tủ thờ Gò Công nổi tiếng vì được đóng bằng những loại gỗ quý, kiểu dáng đẹp, cẩn xà cừ tinh xảo. Nhờ vậy, tủ thờ Gò Công nói chung và tủ thờ mang thương hiệu Ba Đức nói riêng không chỉ được bán khắp cả nước, mà còn được bán ra nước ngoài.

Ông Ba Đức kể: “Trong 5 năm qua, tui đã bán hơn 100 chiếc tủ thờ Gò Công cho Việt kiều ở Mỹ, Canada, Úc và Pháp. Họ về nước xem hàng rồi ký hợp đồng. Đóng xong tui chở lên TP. Hồ Chí Minh gửi tàu chở qua cho họ. Có 2 Việt kiều ở Úc thường xuyên đặt hàng mua tủ thờ để bán lại cho người Việt ở bên ấy”.

Đi dọc Quốc lộ 50 về hướng phà Mỹ Lợi, qua địa bàn xã Tân Trung, chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy cổng chào ghi dòng chữ “Làng nghề truyền thống Tủ thờ Gò Công” và hàng chục cửa hàng, cơ sở sản xuất, buôn bán tủ thờ, bàn ghế bằng gỗ. Trong số này có tới gần chục cơ sở mang tên Ba Đức 1, Ba Đức 2... Trải qua hơn 50 năm gắn bó với nghề, ông Ba Đức đã tự tay làm ra không biết bao nhiêu chiếc tủ thờ Gò Công, góp phần to lớn trong việc “giữ hồn” cho làng nghề truyền thống vang danh này.

NHÓM PV KINH TẾ

1-10 of 23