Con người và sự kiện

Bài mới

  • Chợ chiều Tổng Bâng- Một thời vang bóng Dẫu cuộc sống nhiều đổi thay, nhưng với nhiều người chợ chiều Tổng Bâng, ở thôn Hiệp Phổ Trung, xã Hành Trung (Nghĩa Hành) vẫn còn mãi trong ký ức ...
    Được đăng 00:26, 16 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Địa điểm Chắc Tức – Bàu Còn Chắc Tức – Bàu Còn, theo lời kể của các vị bô lão địa phương thì trước đây nơi này là một khu đầm lầy, bưng bàu hoang dã, có nhiều ...
    Được đăng 18:59, 15 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sự kiện về Thương cảng Bãi Xàu xưa và chợ Mỹ Xuyên hôm nay Đầu thế kỷ XVIII, một thương cảng được hình thành ở Bãi Xàu (thị trấn Mỹ Xuyên, thuộc huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng ngày nay). Theo nhật ký của ...
    Được đăng 18:54, 15 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Quốc Hương và bài hát “Du kích Long Phú” Quốc Hương tên thật là Nguyễn Quốc Hương, sinh năm 1920 tại xã Kiến Thái, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Năm 17 tuổi, ông vào miền Trung, sau đó ...
    Được đăng 18:46, 15 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sự kiện đắp đê sông, đê biển của tỉnh Sóc Trăng Cách đây 27 năm, vào ngày 27-10-1992, một đợt triều cường lớn xảy ra ở tỉnh Sóc Trăng làm thiệt hại nặng nề đến sản xuất và cuộc ...
    Được đăng 04:06, 14 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 22. Xem nội dung khác »


Chợ chiều Tổng Bâng- Một thời vang bóng

đăng 00:26, 16 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Dẫu cuộc sống nhiều đổi thay, nhưng với nhiều người chợ chiều Tổng Bâng, ở thôn Hiệp Phổ Trung, xã Hành Trung (Nghĩa Hành) vẫn còn mãi trong ký ức, như thể một phần lịch sử, văn hoá của làng.

Nơi giao thương tấp nập

Theo các bậc cao niên, chợ Tổng Bâng nằm trên tuyến đường đi qua nhiều xã ở huyện Nghĩa Hành, nên một thời giao thương tấp nập.

Ông Nguyễn Khắc Lực (66 tuổi) ở thôn Hiệp Phổ Trung, xã Hành Trung cho biết: Ông Nguyễn Khắc Bâng (sinh năm 1775), người dân làng còn gọi là ông Tổng Bâng, là con của ông Cả Trí, người giàu nhất làng. Ông Nguyễn Khắc Bâng làm quan trong triều đại nhà Nguyễn.

Khuôn viên chợ chiều Tổng Bâng ngày ấy, nay là Trường Tiểu học Hành Trung. 


Sau khi cha mẹ mất, ông Tổng Bâng đem hàng trăm mẫu ruộng đất cấp phát cho dân nghèo để canh tác. Ông có quy ước không nộp tô thuế, không được mua bán chuyển nhượng ruộng đất ấy, nếu ai không làm nữa thì giao cho chính quyền đương thời để cấp cho dân nghèo. Năm 1824, ông Tổng Bâng xây dựng chợ để dân làng có nơi giao thương. Chợ chỉ tập trung vào buổi chiều, nên mọi người gọi là chợ chiều Tổng Bâng.

Những ngày đầu hình thành chợ, ông Tổng Bâng cấp vốn cho thương lái đi các chợ trong tỉnh mua hàng hoá về bán, nhất là giao thương với chợ Trạm (tức chợ Sông Vệ). Người dân đi chợ chiều được ăn bữa cơm tối, nên chợ ngày càng đông đúc. Chợ được xây trên diện tích gần 7.000m2, bày bán đủ các mặt hàng, xe thồ và xe xích lô cũng tấp nập đón, trả khách. 

“Ngày ấy, người dân đến chợ không phải chỉ để mua bán, trao đổi hàng hóa, mà cũng là để quên đi nỗi lo toan đời thường, để gặp người quen tay bắt mặt mừng, rôm rả chuyện trò...", bà Võ Thị Thu Thanh ở thôn Hiệp Phổ Trung nhớ lại.

Thời hưng thịnh, chợ chiều Tổng Bâng có số lượng tiểu thương lên đến trên dưới nghìn người, người dân từ nhiều địa phương đến mua tấp nập. Nhiều người cho biết, ngày ấy việc đi lại giao thương hàng hóa với chợ Trạm khó khăn, cách trở vì sông nước, do vậy ông Tổng Bâng xây dựng cầu để đi lại thuận tiện, người dân gọi là cầu Ông Tổng. 

“Sau buổi cơm trưa, chợ đã tụ tập, tiếp nhận những xe hàng, những dòng người. Tiếng tiểu thương trả giá, í ới gọi nhau, bà con đi chợ được ăn bữa cơm no, đến tối sầm là lúc phiên chợ bắt đầu tan... Tôi vẫn nhớ về chợ Tổng Bâng ngày ấy”.


Ông NGUYỄN VĂN THAO, ở thôn Hiệp Phổ Nam, xã Hành Trung (Nghĩa Hành).


Chợ chiều chỉ còn trong ký ức

“Năm 1948, địch thả bom xuống khu vực xã Hành Trung, nên chợ chiều Tổng Bâng bị cháy. Sau đó, chợ được dời đến vườn xoài nhà ông Lễ nhóm chợ vào ban đêm để tránh sự phát hiện của địch. Năm 1955, chợ chiều Tổng Bâng được xây dựng lại ở vị trí ban đầu. 

Đến năm 1979, chợ được chuyển xây dựng tại đội 14, thôn Hiệp Phổ Nam và được đổi tên là chợ Hành Đức (nay là chợ chiều Hành Trung). Còn khuôn viên chợ chiều Tổng Bâng nay là Trường Tiểu học Hành Trung và trụ sở làm việc của Hợp tác xã Hành Trung”, ông Lực cho biết thêm.

Ông Nguyễn Điền (80 tuổi) ở thôn Hiệp Phổ Trung, thì bảo rằng: Chợ chiều Tổng Bâng không những có vai trò trong đời sống kinh tế - văn hoá của người dân địa phương, mà còn một thời lưu giữ những hình ảnh đẹp về tình người, tình quê của ông Tổng Bâng dành cho những người dân nghèo khó.

Chợ Tổng Bâng nay không còn nữa, nhưng vẫn còn in đậm trong ký ức của bao người. Ông Nguyễn Văn Thao, ở thôn Hiệp Phổ Nam, xã Hành Trung vẫn thường kể lại câu chuyện về chợ chiều và ông Tổng Bâng giàu lòng nhân hậu cho con cháu nghe. 

“Sau buổi cơm trưa, chợ đã tụ tập, tiếp nhận những xe hàng, những dòng người. Tiếng tiểu thương trả giá, í ới gọi nhau, bà con đi chợ được ăn bữa cơm no, đến tối sầm là lúc phiên chợ bắt đầu tan... Tôi vẫn nhớ về chợ Tổng Bâng ngày ấy”, ông Thao cho biết. Nhiều người cao tuổi vẫn tiếc nhớ cảnh cũ, người xưa, dẫu chợ chiều Tổng Bâng giờ chỉ còn trong ký ức... 

Bài, ảnh: TRUNG ÂN

Địa điểm Chắc Tức – Bàu Còn

đăng 18:59, 15 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chắc Tức – Bàu Còn, theo lời kể của các vị bô lão địa phương thì trước đây nơi này là một khu đầm lầy, bưng bàu hoang dã, có nhiều cỏ dại, lau, sậy và cây dừa nước mọc xen nhau, chưa có con người đến đây khai phá và sinh sống.

Sau khi phong trào Bình Tây của Trương Công Định bị thất thủ, nhiều người dân yêu nước không chịu khuất phục nên bỏ xứ ra đi và đến nơi đây cư trú nhằm lánh nạn, đồng thời tìm cách chống lại thực dân Pháp và bọn quan lại phong kiến, họ khai khẩn đất hoang để sinh sống. Và địa danh “Chắc Tức” xuất phát từ tên gọi của người Khmer địa phương có ý nghĩa là “nước đổ”, con rạch Chắc Tức bắt nguồn từ rừng tràm Mỹ Phước đổ ra rạch Bàu Còn, là một trong hàng trăm con rạch lớn, nhỏ do thực dân Pháp bắt nông dân đào và là những con rạch chính để điều hòa, cấp nước cho khu rừng tràm. Rạch Bàu Còn có chiều dài 9km bắt nguồn từ hướng Tây ngã tư chợ Khu trù mật Cái Trầu đổ ra hướng Đông sông Quản lộ đi Nhu Gia. Thực dân Pháp cho xây dựng tại vàm Chắc Tức – Bàu Còn một cứ điểm nhằm kiểm soát giao thông thủy, bộ và ngăn cắt liên lạc của quân cách mạng ở Tây Nam, đồng thời làm bàn đạp thực hiện âm mưu đánh chiếm vùng giải phóng giành lấy nguồn nhân lực, vật lực tại chỗ để phục vụ lâu dài cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. 

Từ năm 1920, thực dân Pháp bắt đầu đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước ta. Bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, chính quyền thực dân đã bao che cho số công chức người Pháp về hưu cùng bọn địa chủ, tay sai ra sức bao chiếm đất đai của nông dân, bắt nông dân đào kênh, xẻ rạch, xây dựng một khu rừng nhân tạo (rừng tràm Mỹ Phước ngày nay). Trên mặt đất trồng tràm nuôi chim, cò, dưới kinh mương nuôi cá, cấm đoán mọi người dân vào, nếu ai vào lập tức bị bắt đánh đập, tù đày và rạch “Chắc Tức – Bàu Còn” cũng được hình thành từ đó cho đến bây giờ. 

Ngày 15-3-2016, Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định số 352 công nhận địa điểm chiến thắng Chắc Tức – Bàu Còn tại ấp Tân Lộc, xã Lâm Tân (Thạnh Trị) là Di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh. 

Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Lâm Tân đã ý thức được và ra sức lao động, sản xuất, biến vùng đất “trũng” năm xưa thành vùng đất màu mỡ, thích ứng với mọi loại cây trồng, vật nuôi và quyết tâm xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới vào đầu năm 2021. 

Lê Trúc Vinh

Sự kiện về Thương cảng Bãi Xàu xưa và chợ Mỹ Xuyên hôm nay

đăng 18:54, 15 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đầu thế kỷ XVIII, một thương cảng được hình thành ở Bãi Xàu (thị trấn Mỹ Xuyên, thuộc huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng ngày nay). Theo nhật ký của cố đạo Levasseur, vào năm 1768 thì thương cảng này mang tên Bassac, lập ở mé sông, nơi đất thấp, nhà lợp lá dừa nước. Ở đây bán nhiều gạo, trái cây, rau, gà, vịt, heo… Dân ở chợ đa số là người Hoa. Riêng lúa, gạo thương gia địa phương ít khi bán nội vùng lân cận mà chủ yếu chịu mối với các tàu buôn từ nước ngoài tới. Đặc biệt, tàu buôn của người Trung Hoa đậu san sát từ 100 đến 200 chiếc để mua bán, trao đổi hàng hóa.

Chợ Mỹ Xuyên


Lúc bấy giờ, Bãi Xàu là một trung tâm thị tứ quan trọng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng với hơn 6.000 dân cư, phần đông là người Hoa, người Kinh và một ít cư dân Khmer sinh sống. Sản phẩm chủ yếu ở đây là lúa, gạo. “Gạo Bãi Xàu” ngon nổi tiếng gần như suốt năm, nhất là các tháng 2 đến tháng 6, ngày nào cũng có nhiều ghe, tàu luôn vào cảng Bãi Xàu chở lúa gạo đi bán trong và ngoài nước. Hàng năm, ngoài việc bán lúa, gạo, nơi đây còn nhiều cá tươi sống, cá khô xuất bán ra ngoài tỉnh. Ngược lại, các ghe, tàu buôn đã chở vào Thương cảng Bãi Xàu nhiều những mặt hàng gia dụng cần thiết bán lại cho cư dân tỉnh Sóc Trăng như: các loại trái cây, thuốc lá, diêm quẹt, trà, đồ gốm, thuốc bắc, vải sợi, quần áo, tơ lụa… của Trung Quốc, Mã Lai, Campuchia, Nhật Bản… 

Không bao lâu, phố thương mại Bãi Xàu được hình thành, phố này trải dài theo rạch Ba Xuyên, vào mua gặt lúa (từ tháng 11 - 12 âm lịch) cả phố nhộn nhịp hẳn lên khiến người ta nghĩ đó là cái “chợ lớn”. Tại Bãi Xàu có một “Nhà việc” lớn có tầng, một trường học lớn của tổng, một nhà dây thép, một lò mổ gia súc, 2 lò nấu rượu nổi tiếng, 4 nhà máy cưa cây, một lò gạch với chất lượng cao… 

Bãi Xàu nằm ở cuối đường liên tỉnh, trên con rạch tên gọi “Ba Xuyên”, một số ấp hợp lại thành làng Mỹ Xuyên. Làng Mỹ Xuyên xưa – nay là thị trấn Mỹ Xuyên – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Riêng Thương cảng Bãi Xàu xưa, nay là chợ Mỹ Xuyên rất sung túc và sầm uất, kinh doanh, buôn bán đa dạng hàng hóa, người dân cần mua sắm thứ gì có thứ đó. Song, bến cảng Bãi Xàu xưa nay không còn, đã trở thành phố thị. 

Lê Trúc Vinh

Quốc Hương và bài hát “Du kích Long Phú”

đăng 18:46, 15 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 18:46, 15 thg 11, 2019 ]

Quốc Hương tên thật là Nguyễn Quốc Hương, sinh năm 1920 tại xã Kiến Thái, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Năm 17 tuổi, ông vào miền Trung, sau đó vào Sài Gòn và ông làm nhiều việc để mưu sinh như: công nhân xe lửa, thủy thủ, bốc vác… 

NSND Quốc Hương


Năm 1944, Quốc Hương là một trong những người đầu tiên hát vang bài “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước tại rạp hát Nguyễn Văn Hảo, Sài Gòn. Năm 1945, ông tham gia Ban Tuyên truyền Sài Gòn – Chợ Lớn với nhiệm vụ là ca hát những bài ca yêu nước. Khi kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ tại miền Nam, ông gia nhập Vệ quốc quân, làm tiểu đội trưởng, ca hát và chiến đấu ở khắp các chiến trường Quân khu 7, Quân khu 8 và Quân khu 9. Thời gian này, ông còn tham gia giảng dạy lớp nhạc do Quân khu 9 mở. 

Một lần ông được cử về Sóc Trăng và đến các xã Cù Lao Dung (lúc đó là huyện Long Phú) công tác. Đến đây, ông được nghe nhân dân và tận mắt chứng kiến những chiến công của Đội du kích Long Phú, nhất là những thành tích gan dạ, dũng cảm của người đội viên du kích Sơn Ton. Mến phục và xúc cảm trước những hoạt động của Đội du kích Long Phú, chỉ sau một đêm ông đã sáng tác xong bài hát “Du kích Long Phú” và bản thân ông đã hát tặng ngay cho đồng bào, bà con Long Phú trong khoảng thời gian công tác nơi đây. 

Bài hát “Du kích Long Phú” trở thành hồi kèn tiến quân, làm tăng thêm uy danh của đội quân du kích Long Phú. Từ đó, có thể nói đội quân du kích Long Phú ra quân là chiến thắng, làm cho kẻ thù khiếp sợ. Cán bộ và nhân dân Long Phú nói riêng và tỉnh Sóc Trăng nói chung càng tự hào hăng say giết giặc, lập công. 

Năm 1954, Quốc Hương tập kết ra miền Bắc, sau đó ông đã tu nghiệp tại Nhạc viện Budapest – Hungary. Sau khi về nước, Quốc Hương làm việc tại Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam. Tuy nhiên, Quốc Hương vẫn thích đi vào các chiến trường để tiếp tục ca hát phục vụ chiến sĩ và nhân dân trong vùng giải phóng. 

Năm 1975, đất nước thống nhất, Quốc Hương chuyển về TP. Hồ Chí Minh làm ca sĩ cho Đoàn Nghệ thuật Bông Sen. Thời gian này, dù đã lớn tuổi, nhưng ông vẫn tiếp tục công việc ca hát và giảng dạy nghệ thuật. Đến năm 1984, Quốc Hương được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân đợt đầu tiên (cùng với nghệ sĩ ngâm thơ Châu Loan, nghệ sĩ piano Đặng Thái Sơn và ca sĩ Thanh Tuyền). 

Quốc Hương không những hát hay mà còn là một nhạc sĩ lớn với những tác phẩm nhớ đời, sống mãi với thời gian như bài: Du kích Long Phú, Cô gái Vĩnh Hanh, Đoàn người đi tòng quân, Tầm Vu (viết cùng Đắc Nhẫn)… và người đời, nhất là người dân quê hương Long Phú, Cù Lao Dung (Sóc Trăng) gọi ông là “ông 307”. Nhạc sĩ Phan Nhân nhận xét về ông: “Yêu mến quê hương, yêu mến tiếng ca Quốc Hương, đã vượt qua sông Cửu Long, đã qua đến bến Rạch Già. Bài ca anh viết lên còn vang mãi mùa thu đến. Thêm xanh nước Hậu Giang, thêm tươi đất Hậu Giang”. 

Năm 1987, Quốc Hương đã từ biệt cỏi đời nhưng lời ca, tiếng hát của ông vẫn còn sống mãi với thời gian. 

Lê Trúc Vinh

Sự kiện đắp đê sông, đê biển của tỉnh Sóc Trăng

đăng 04:06, 14 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cách đây 27 năm, vào ngày 27-10-1992, một đợt triều cường lớn xảy ra ở tỉnh Sóc Trăng làm thiệt hại nặng nề đến sản xuất và cuộc sống của nhân dân vùng ven biển của các huyện Long Phú - Cù Lao Dung, Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu. Sau lần thiên tai này, việc xây dựng hệ thống đê sông, đê biển ở Sóc Trăng đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Hệ thống đê sông, đê biển của tỉnh Sóc Trăng được khởi công vào trung tuần tháng 6-1993, do Công ty Xây dựng thủy lợi đảm trách thi công. Theo dự kiến, công trình sẽ hoàn thành trong thời gian từ 3 đến 5 năm, nhưng với tinh thần nỗ lực vượt bậc, “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền…”, Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng tập trung toàn lực hoàn thành công trình trong 10 tháng và tổ chức khánh thành vào ngày 28-4-1994, nhân kỷ niệm 19 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tại buổi lễ khánh thành, đồng chí Lê Thanh Bình, lúc bấy giờ là Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng nhiệt liệt biểu dương tinh thần tự nguyện đóng góp sức người, sức của của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ trong tỉnh, đặc biệt là nhân dân 3 huyện Long Phú, Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu để công trình sớm đưa vào sử dụng. 

Lễ Khánh thành hoàn thành hệ thống đê sông, đê biển tỉnh Sóc Trăng ngày 28-4-1994. Ảnh: Ngọc Nhuần 


Hệ thống đê gồm 5 tuyến: Đê Long Phú – Tiếp Nhật; đê sông Mỹ Thanh; đê biển Vĩnh Châu; đê sông Mỹ Phước – Nhu Gia; đê An Thạnh 3 – Long Phú (nay là xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung) với tổng chiều dài 202km, thu hút trên 100.000 lượt người tham gia, đóng góp hơn 1 triệu ngày công, đào đắp 3.384.000m3, với kinh phí đầu tư 24,97 tỉ đồng. Mặt đê có chiều rộng 6m, chiều cao từ 1,5m đến 2,8m để bảo đảm ngăn được đỉnh lũ như đợt triều cường vào tháng 10-1992. 

Đây là công trình có ý nghĩa lịch sử, mang đậm dấu ấn “lòng dân, ý Đảng”, “ý chí quyết chiến, quyết thắng” được hun đúc ngàn năm và thể hiện sự quyết tâm chiến thắng với thiên tai của Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng đoàn kết một lòng xây dựng lại quê hương. 

Công trình đưa vào sử dụng, phục vụ ngăn mặn cho 52.490ha, tiêu lũ trong mùa mưa, phòng chống lũ lụt, triều cường, tạo điều kiện thuận lợi cho khai hoang, phục hóa, thâm canh, tăng vụ cả cây lúa và cây màu; nuôi cá, tôm, trồng cây ăn trái, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn. Đồng thời, bố trí lại dân cư, mở rộng giao thông, củng cố quốc phòng, an ninh. Đặc biệt hệ thống đê sông, đê biển đó đã tạo tiền đề cực kỳ quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, góp phần nâng sản lượng lúa của tỉnh Sóc Trăng, từ 700.000 tấn (năm 1993) lên trên 1 triệu tấn (năm 1994) và trên 2 triệu tấn trong nhiều năm qua. 

Đê sông, đê biển Sóc Trăng được bạn bè trong và ngoài nước lúc bấy giờ ví như “con rồng” – đưa Sóc Trăng thoát nghèo và phát triển giàu có không xa – thật vậy, lời nhận xét ấy không sai chút nào. 

Lê Trúc Vinh

Sân bay Sóc Trăng

đăng 20:10, 12 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Vào thời Pháp chiếm đóng, nơi đây là Trường đua ngựa. Trước năm 1950, tại đây có hãng bay tư nhân “Avions Taxis d`Indochina” (ATAVINA) hoạt động. Đến năm 1951, hãng hàng không AIR Việt Nam ra đời, hoạt động đến năm 1975… Khu “Sân bay Sóc Trăng” này (từ đường Trần Hưng Đạo, Phường 2, kéo dài gần tới ngã ba Trà Tim, Phường 10, TP. Sóc Trăng hiện nay), hiện là Trường Quân sự Quân khu 9.

Trường đua ngựa Sóc Trăng tồn tại đến năm 1945 – 1946. Sau Nhật đảo chính Pháp và phong trào tiêu thổ kháng chiến lắng xuống, Pháp trở lại tái chiếm Đông Dương, thực hiện ý đồ xâm lược “thực dân kiểu cũ”. Chúng nhận thấy khu vực Trường đua ngựa này có vị trí chiến lược quân sự thuận lợi gần trung tâm hành chính tỉnh lỵ, để kiểm soát trên đường Quốc lộ 4, là đường liên tỉnh nối liền Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau nên Pháp dẹp bỏ Trường đua ngựa và cho xây dựng thành Sân bay Sóc Trăng. 

Sân bay Sóc Trăng xưa. Ảnh: Flickr Tommy Truong/Internet 


Cao điểm đến năm 1964, để củng cố vị trí quân sự kết hợp dân sự trên đường hàng không, chính quyền Sài Gòn ra lệnh cho tỉnh giải tỏa khu nghĩa địa của bà con quanh vùng và mua thêm đất chung quanh mở rộng “Sân bay Ba Xuyên” với hào sâu, lô cốt, hàng rào thép gai dày đặc bao quanh để hoạt động đến năm 1975 thì tan rã… 

Toàn cảnh Sân bay Sóc Trăng xưa. Ảnh: Internet 


Trước năm 1950, có một nhóm doanh nhân 5 người gồm: Nguyễn Bá Vạng, Nguyễn Châu (hai người này là cựu nhân viên của hãng Avions Taxis d`Indochine), La Đông Toan, Đặng Vi và Pháp kiều Aroulanda, mỗi người góp cổ phần 10.000 đồng bạc Đông Dương để mở Hội Việt Nam Hàng không Vận tải Đại lý cuộc (ATAVINA) với các lĩnh vực chính là bán vé hành khách, hàng hóa và lo việc thuê máy bay khi có nhu cầu. 

Khu vực này trước đây là đường băng của Sân bay Sóc Trăng. 


Anh Tùng ở Phường 2, TP. Sóc Trăng cho biết: “Hồi xưa, ngoại cho ba mình học tiếng Tây ở Trường Primaire Sóc Trăng rồi lên học tiếp trên Sài Gòn. Sau đó, ba mình tên Âu Đông Hớn về quê và ra làm sếp điều hành của đại lý hàng không “Avion de taxi”, bay tuyến Sài Gòn - Sóc Trăng - Sài Gòn. Đây là hãng máy bay dân sự nhỏ với các loại máy bay cánh quạt nhỏ như DC3, DC4, CESSNA… chuyên chở thuê ít khách và hàng hóa, nó có công dụng như mình thuê bao xe taxi 5 - 7 chỗ ngồi bây giờ. Hãng hoạt động tại Sân bay Sóc Trăng – nay là doanh trại bộ đội trên đường Trần Hưng Đạo hướng về xã Đại Tâm. Đến khoảng năm 1950, máy bay của hãng gặp tai nạn trên Đà Lạt, phi công và hành khách tử nạn, hãng ATAVINA bồi thường số tiền hồi đó rất lớn nên tuyên bố phá sản. Ba mình sau đó chuyển về làng Phú Nổ (Phú Tâm) dạy học cho đến lúc nghỉ hưu rồi ba mất hơn chục năm nay”. 

Tại vị trí này là khu tiếp nhiên liệu, sửa chữa máy bay. Ngày nay là khu vực khán đài của Trường Quân sự Quân khu 9. 


Hãng hàng không mới AIR Việt Nam ra đời năm 1951, với số vốn ban đầu là 18 triệu tiền Đông Dương, tương đương hơn 300 triệu franc Pháp lúc bấy giờ. Phân nửa vốn của chính phủ, phần còn lại do các công ty Pháp hợp tác. Hãng khai thác đường bay Sài Gòn đi các tỉnh Cần Thơ, Ba Xuyên (Sóc Trăng), Phan Thiết, Long Xuyên, Cà Mau… mở rộng ra Băng Cốc, Singapore, Nhật Bản… 

Riêng đại lý bán vé máy bay của AIR Việt Nam tại Châu Thành Khánh Hưng xưa nằm gần góc đường Đại Ngãi (nay là góc đường Hai Bà Trưng – Phan Chu Trinh) hoạt động hơn 20 năm thì giải thể... Mặt tiền Sân bay Sóc Trăng - trên đường Trần Hưng Đạo ngày nay. 

Vương Khánh Hưng

Đặc sắc lễ hội Đền Cả - Dinh đô Quan Hoàng Mười ở thị xã Hồng Lĩnh

đăng 20:46, 4 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chiều 3/11, Sở VH-TT&DL Hà Tĩnh và UBND thị xã Hồng Lĩnh long trọng tổ chức lễ hội Đền Cả - Dinh đô Quan Hoàng Mười; tổng kết, trao thưởng Liên hoan thực hành nghi lễ thờ Mẫu Tam phủ của người Việt tỉnh Hà Tĩnh mở rộng năm 2019.

Tham dự buổi lễ có đại diện lãnh đạo một số sở, ban, ngành cấp tỉnh cùng đông đảo nhân dân và du khách thập phương


Theo tư liệu lịch sử và tư liệu truyền ngôn, Đền Cả - Dinh đô quan Hoàng Mười hay còn gọi là Đền Mỏ Hạc Linh Từ các bậc tiền nhân kiến tạo cách đây trên 700 năm, vào thời nhà Lý. Đền có quy mô kiến trúc đồ sộ, được xây theo lối chữ “Nhất”; bao gồm: Hậu cung (hay còn gọi là cung cấm, nhà Thượng điện, Trung điện và Hạ điện). Đây là ngôi đền lớn nhất của cả tổng nên được gọi là Đền Cả. Còn tên gọi Dinh đô quan Hoàng Mười là theo nhân vật thờ chính tại đền. (Trong ảnh: Người dân địa phương tổ chức lễ rước nghinh Thánh)


Đền được xây dựng trên vùng đất đắc địa, nơi giao nhau gữa 3 con sông (Sông Lam, Sông La và Sông Minh); được cả 3 dòng sông bồi đắp tạo nên thế đất như hình mỏ hạc. Chính vì vậy, thường được nhân dân gọi là Mỏ Hạc Linh Từ.


Hàng năm, theo tục lệ của địa phương, để tưởng nhớ công lao đóng góp của Đức quan Hoàng Mười và các vị thần được thờ tại đền đã có công trấn giữ và bảo vệ dân làng khỏi nạn giặc dã thiên tai, người dân trong vùng đã mở lễ hội để tôn vinh công trạng, đồng thời cầu cho đồng bào an lạc, mùa màng tốt tươi. Lễ hội thường được tổ chức vào tháng 10 âm lịch, chính lễ vào ngày trùng thập (mồng 10/10) với nhiều hoạt động và trò chơi dân gian thu hút nhiều du khách và nhân dân thập phương tham dự.


Liên hoan thực hành tín ngưỡng cũng được tổ chức trong dịp này với mong muốn để đông đảo công chúng tiếp tục hiểu hơn về nét đẹp của loại hình văn hóa tín ngưỡng dân gian đặc sắc. Các tiết mục xuất sắc tại liên hoan đã được trình diễn tại lễ hội Đền Cả - Dinh đô Quan Hoàng Mười. (Trong ảnh: Giá hầu “Chầu Bé” do Nghệ nhân Lê Thị Sử đến từ Nghi Xuân biểu diễn)


Giá hầu: Ông Hoàng Mười do Thanh đồng Ngô Minh Trực đến từ Quảng Bình biểu diễn


Sau hơn 3 ngày liên hoan, với hơn 40 thanh đồng tham dự, Liên hoan đã thực sự thành công và để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng khán giả và du khách thập phương. Tại Lễ hội Đền Cả- Dinh đô Quan Hoàng Mười, lãnh đạo thị xã Hồng Lĩnh trao giấy khen của Sở VHTT&DL Hà Tĩnh cho các nghệ nhân, đồng thầy, đạo quan, cung văn về tham dự liên hoan.


Nằm trong chuỗi hoạt động lễ hội Đền Cả, hội thi gói bánh chưng dâng thánh do Hội LHPN thị xã Hồng Lĩnh chủ trì tổ chức với hơn 120 thành viên tham gia đến từ 6 phường, xã trên địa bàn. Sau hơn 1 ngày, 600 chiếc bánh chưng được gói và nấu đảm bảo yêu cầu về thẩm mỹ và chất lượng, thực sự là lễ vật thành tâm dâng lên bàn thờ Thánh, thể hiện tấm lòng thành kính và tri ân công đức của các vị Thánh nhân của nhân dân Hồng Lĩnh.


Lãnh đạo thị xã Hồng Lĩnh trao giải nhất Hội thi “Nấu bánh chưng dâng Thánh” cho Hội LHPN phường Nam Hồng; giải nhì cho Hội LHPN các phường Trung Lương, Đậu Liêu và giải ba cho Hội LHPN các phường Bắc Hồng, Đức Thuận, xã Thuận Lộc.


Nhân dịp này, các đại biểu cắt băng hoàn công việc khôi phục, trùng tu, tôn tạo Đền Cả - Dinh đô Quan Hoàng Mười


Nam Giang – Quang Sáng

Đi tìm dấu tích tù trưởng Ama Thuột

đăng 01:45, 19 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nước ta có 2 thành phố hiếm hoi mang tên người, đó là Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Buôn Ma Thuột của tỉnh Đắk Lắk. Thế nhưng trong khi Danh nhân Văn hóa Thế giới Hồ Chí Minh đã quá rõ ràng cho việc cắt nghĩa nguồn gốc của địa danh thì với địa danh mang tên Ama Thuột, việc cắt nghĩa nguồn gốc không phải dễ dàng. 

Cho đến nay, người ta chỉ biết đến Ama Thuột là một tù trưởng nổi tiếng của người Êđê xưa, còn ông là người thế nào, công trạng của ông, cũng như gia thế, dòng họ ra sao… thì không có câu trả lời nào cụ thể và chính xác. Nhà nghiên cứu văn hóa Linh Nga Niê Kđăm - người đã có hơn 40 năm nghiên cứu, sưu tầm văn hóa Tây Nguyên nói: “Tôi cho rằng Ama Thuột là có thật - một tù trưởng nói theo kiểu của người Êđê là dũng mãnh, và không chỉ dũng mãnh mà còn là người biết thương dân, biết nhìn xa trông rộng vì buôn làng vì quê hương. Một tù trưởng có ảnh hưởng trong khắp vùng.”. 

Buôn làng Êđê xưa. Ảnh tư liệu 


Theo những lời truyền tụng trong dân gian, ông Ama Thuột có hai vợ nhưng không có con đẻ, và có tới 5 người con nuôi. Còn theo tư liệu của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa thì Ama Thuột có tên khai sinh là Y Mun H’Dơk. Trong quá trình đi tìm dấu vết Ama Thuột, chỉ có duy nhất một ghi chép được biết đến là của một người Pháp tên Roland Dorgeles thuộc Viện Hàn lâm Goncuort, đăng trên tạp chí Les Aunales số ra ngày 15-5-1930 về đám tang Ama Thuột. Sau này được tác giả Minh Mẫn dịch lại với câu chuyện “Đám tang Ama Thuột” đăng trên tạp chí Xưa và Nay, hiện đang lưu giữ tại bảo tàng Đắk Lắk. Theo đó, mùa hè năm 1923, một người Pháp tên Roland Dorgeles trong khi đi khám phá Đắk Lắk đã chứng kiến đám tang của Ama Thuột và ông đã ghi chép lại sự kiện này như sau: 

“Sinh thời ông Ama Thuột là một nhân vật quan trọng. Ngôi nhà của ông ta rất dài, có nghĩa là ông ta rất giàu… Ngay sau khi vị tộc trưởng già qua đời, cả vùng sôi động hẳn lên. Đó không phải là cái chết của ông trùm tang tóc lên Đắc Lắc mà vì không biết ai sẽ là người thừa hưởng những con voi, trâu, ché rượu, cồng chiêng và thóc lúa ông ta để lại. Toàn thể dân Ban Mê Thuột đến dân làng lân cận, và cả các tay thợ săn voi của Bản Đôn đều có mặt lên đường từ ngày hôm trước với ngọn đao trên vai, họ đã phải qua đêm sau hàng rào của trạm bảo vệ nghỉ vì sợ bị cọp vồ. Đàn voi và bầy ngưạ dẫn đầu đám tang… Để đưa được một bậc kỳ hào đến nơi an nghỉ cuối cùng thì gào thét tốt hơn là khóc lóc. Và do đó tiếng gào thét của đám đông xô bồ ấy át cả tiếng trống… Đám tang vị tù trưởng có rất đông người dân Ban Mê Thuột, các buôn lân cận và cả thợ săn voi vùng Bản Đôn đến đưa tang. Huyệt mộ nằm trong một khoảnh rừng thưa, phải dùng đàn voi giày, làm ngã cây mới có lối vào…”. 


Bản dịch bài báo về đám tang ông Ama Thuột. 


Bàn về các chi tiết trong ghi chép này, Nhà nghiên cứu văn hóa Linh Nga Niê Kđăm chia sẻ: “Sau năm 1975 tôi và một số nhà nghiên cứu sưu tầm văn hóa dân gian có đến thăm ngôi nhà cũ của Ama Thuột. Người ta bảo ngày xưa ngôi nhà cũ nó dài ra đến tận ngoài đường lớn (tức là quốc lộ 14 ngày nay ) sau đó bị cháy rồi mới làm lại. Trong nhà có 2 người cao tuổi trong đó có bà H’ Xuân là dòng họ của Ama Thuột. Đường vào nhà cụ khi xưa có 5 cây Pơ lang cổ thụ 2 người ôm không hết (vì trước đây người ta hay đánh dấu buôn bằng cây gạo), nay là đường Ama Khê. Lúc đó trong nhà vẫn còn ngồn ngộn những hiện vật văn hóa như chiêng, ché, ghế kpan dài, ngắn, to nhỏ... Sau này người ta bán đi lúc nào không biết”. 

Cũng theo các nhà nghiên cứu văn hóa, xưa kia nhiều buôn làng của người Êđê, với nhiều ngôi nhà dài nằm dọc theo suối Ea Tam, xuôi theo dòng đổ ra sông Sêrêpôk. Các buôn được điều hành bởi già làng cho mỗi buôn. Những buôn làng đầu tiên trên địa bàn thành phố là: Buôn Kram, buôn Alê, buôn Păn Lăn, buôn Kô Sier... Theo tư liệu lịch sử, năm 1904, người Pháp chuyển Đại lý hành chính từ Bản Đôn, tức huyện Buôn Đôn ngày nay về khu vực buôn của Ama Thuột cai quản, lấy tên là Đại lý hành chính Ban Mê Thuột. Ngày 22-11-1904, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Đắk Lắk, tỉnh lỵ là Buôn Ma Thuột. Cũng trong Ghi chép của nhà văn Roland Dorgeles thì: “Một cách đương nhiên những người Pháp đầu tiên đi ngang vùng này đã lấy tên ông ta để đặt cho nơi này sau trở thành tỉnh lỵ sở của tỉnh Đắk Lắk. Buôn Ma Thuột nghĩa là thành phố của cha ông Thuột. Bởi tại xứ xở kỳ lạ này chính con cái cho cha mẹ tên”. 

Bản đồ Buôn Ma Thuột năm 1930. 


Để làm rõ thân thế lai lịch của vị tù trưởng năm xưa, TS. Văn hóa Lương Thanh Sơn (nguyên Giám đốc Bảo tàng Đắk Lắk) cũng cho biết:“Ama Thuột là nhân vật có thật chứ không phải chỉ là cái tên. Tuy nhiên do hình ảnh không có, thông tin ít không rõ nét, nên hơn 30 năm nay tôi nghiên cứu về chủ đề này, đã tìm kiếm khắp các trung tâm lưu trữ quốc gia, nhiều thư viện, nhiều nhà sách…; đã tới buôn Kô Sier phỏng vấn và tìm kiếm thông tin về ông và gia đình ông. Đã ngồi tại ngôi nhà sàn của ông nhiều lần, nhưng đã không có bất cứ một hình ảnh nào về ông. 

Tôi luôn đặt câu hỏi: Tại sao trên bản đồ của người pháp năm 1905 chỉ có buôn Gram mà không có buôn của Ama Y Thuột. Ông ấy không giống như những người trưởng buôn khác. Tôi nghiên cứu đặt ra nhiều câu hỏi để trả lại đúng tên đúng bản chất của ông. Vậy ông có theo Pháp hay không theo Pháp? Vì những người theo Pháp thì ai cũng được chụp hình còn ông ấy thì không. 

Chúng ta lưu ý các thời điểm lịch sử. Bởi con người thì không thoát khỏi lịch sử. Năm 1905, năm 1918, và năm 1930 người Pháp đã có bản đồ hành chính và trên bản đồ đó đã có tên Ban Mê Thuột. Ta thử hình dung thủ phủ tỉnh Đắk Lắk là ở Buôn Đôn từ năm 1889. Sau đó 4 năm người ta dời thủ phủ từ Bản Đôn về Buôn Ma Thuột. Như vậy ông Ama Thuột lúc đó chưa làm trưởng buôn, mà là ông Ama Blơi làm trưởng buôn Kô Sier. Điều này sách của người Pháp có ghi, sách của các nhà khoa học Xã hội học Việt Nam sau 1975 và nhiều sách khác của Viện khoa học Xã hội Việt Nam cũng có ghi Ama Blơi là trưởng buôn - trưởng bến nước Kô Sier. Và Ama Thuột là con rể của Ama Blơi. Dòng họ ông cũng đã và đang được Bảo tàng Đắk Lắk làm gia phả. 

Thử hình dung là năm 1904 người Pháp dời thủ phủ từ Bản Đôn về Buôn Ma Thuột đến 1923 mới chính thức thành lập lại tỉnh Đắk Lắk. Và cũng trong mùa hè năm này tù trưởng Ama Thuột chết. Ông chết cháy chứ không phải chết do ốm đau bệnh tật và xác được đem về để tại phòng y tế. Cái chết của ông để lại cho tôi nhiều nghi vấn, nhiều câu hỏi chưa có câu trả lời”. 

Đóng góp của Ama Thuột thì chưa rõ thế nào, nhưng cái chết của ông thì qua ghi chép của nhà văn Roland Dorgeles, thì ông chết cháy rồi trong đám tang của ông có xảy ra tình trạng tranh chấp tài sản giữa người con cái nuôi với gia đình của ông. Đám tang ông đông đúc quan khách gần xa đến thăm viếng. Từ ghi chép của nhà văn Pháp, khiến ta dễ dàng hình dung ra tầm cỡ của một tù tưởng năm xưa. Tuy nhiên những gì cụ thể về ông, những đóng góp của ông cho mảnh đất này, thì vẫn còn mơ hồ. 

TS. Lương Thanh Sơn cũng cho rằng: “Vì ghi chép về ông ấy rất ít, không rõ nét nên nếu muốn có thì các cấp chính quyền cần căn cứ theo cái phông dữ liệu mà Bảo tàng Đắk Lắk đã tìm mà phát triển thêm, cho dù ít thì cũng phải tìm hiểu để thấy chân dung rõ ràng của ông. Cơ quan có trách nhiệm phải làm rõ. Theo tôi, thậm chí còn phải sang Pháp tra cứu các tư liệu lưu trữ ngày trước nói về Ama Thuột vì ở Việt Nam rất ít, nếu không nói là không có. Điều tôi rất muốn chia sẻ với những con người đang lấy Đắk Lắk làm quê hương của mình: hãy hiểu, hãy tự hào về vùng đất mang tên ông. Vì cội nguồn là cái gì đó mà con người không được quên… nó bao giờ cũng cần cho mỗi con người”. 

Còn theo Tiến sĩ sử học Phan Văn Bé: “Lúc cụ ở thế gian do điều kiện lịch sử không có gì lưu lại ngoài một số vật dụng của gia đình nay cũng mất hết. Có thể khi thực dân Pháp đến làm việc với cụ chắc chắn sẽ có hình ảnh và người ta sẽ đang lưu tại Bảo tàng Pháp. Theo tôi thì đây là nhân vật có thật. Vì trong những tư liệu mà người Pháp viết thì lúc Thực dân Pháp muốn đặt tỉnh lỵ tại Buôn Ma Thuột này thì phải tiếp xúc làm việc với cụ và tên tuổi cụ phải được Pháp ghi. Lịch sử đã để lại 1 thành phố mang tên buôn của cụ, thành phố gắn với 1 sự kiện lịch sử nữa là nơi là điểm đầu tiên mở màn cho cuộc tổng tiến công giải phóng miền Nam bắt đầu từ Buôn Ma Thuột. Khái niệm Buôn Ma Thuột mang tính chất lịch sử rất lớn đối với thế giới. Thành phố gắn liền với tên nhân vật tù trưởng người Êđê thì chúng ta phải biết rõ lai lịch thân thế của cụ để giải thích với khách thập phương đến với Buôn Ma Thuột. Muốn vậy thì phải tiếp tục nghiên cứu về Cụ”. 

Thành phố Buôn Ma Thuột mang tên của một người Êđê. Vinh dự ấy không phải đâu cũng có. Thiết nghĩ niềm tự hào đó cần phải được tìm hiểu một cách đầy đủ nhất. Tiếc là, hiện vẫn chưa có công trình nào tiếp tục nghiên cứu về ông một cách bài bản. Và liệu rằng, cái chết của ông, cuộc đời thân thế sự nghiệp của ông có được ghi vào sử sách hay sẽ mãi mãi hư hư thực thực? Câu trả lời vẫn đang còn ở phía trước. 

Xuân Hòa

Nhớ hơ mon…

đăng 01:36, 19 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Là loại hình văn nghệ dân gian độc đáo, sử thi góp phần làm nên nét đẹp văn hóa của đồng bào các DTTS Tây Nguyên. Bây giờ, tuy không còn phổ biến như cồng chiêng, xoang hay các nhạc cụ truyền thống, song sử thi (tiếng Ba Na là hơ mon) vẫn được gìn giữ, tiếp nối niềm tự hào của thế hệ đi trước. Với hơ mon, gần cả cuộc đời, già A Lưu ở làng Kon Klor (xã Đăk Rơ Wa, thành phố Kon Tum) vẫn nhớ...

Đã lâu mới trở lại. Con đường nhỏ từ ngã ba trên trục đường chính của xã Đăk Rơ Wa rẽ vào nhà già A Lưu ngày trước lởm chởm sỏi đá, giờ đã được bê tông hóa phẳng lì. Chỉ có căn nhà nhỏ của gia đình ông ở chỗ thưa dân này thì vẫn vậy, có chăng là ngả màu cũ hơn. Vừa qua một trận ốm, già A Lưu chưa hết mệt mỏi. Mới đây, có đoàn quay phim của VTV về Kon K’tu mời già hát kể hơ mon nhưng đành phải từ chối.

Ông bảo “tiếc quá”, nhưng “lực bất tòng tâm”. Đã ngoài 80 rồi còn gì. Những cơn ho tức ngực, đau xương nhức cốt, run tay run chân… Lâu không hát kể, thấy nhớ hơ mon làm sao! Nghe hỏi về sử thi, mắt già sáng lên, cười móm mém. Bao nhiêu chất chứa trong lòng được dịp giãi bày. 

Già A Lưu sinh ra và lớn lên ở làng Kon Tum Kơ Nâm, một trong số làng đầu tiên của đồng bào Ba Na được hình thành ở Kon Tum. Tiếp bước ông ngoại, ngày trước, mẹ Y Ngao của già A Lưu cũng là người hát kể hơ mon nổi tiếng trong vùng. Không được ghi chép thành chữ, hơ mon là những câu chuyện được truyền miệng bằng giai điệu, chủ yếu kể về nhân vật có sức mạnh siêu nhiên, trái tim nhân hậu; những dũng sĩ diệt ác, giúp đỡ dân lành…

Là loại hình nghệ thuật đặc thù, ngày xưa, nghệ nhân hát kể hơ mon rất ít nên thuộc hàng “quý hiếm”. Không chỉ tận tâm phục vụ dân làng, họ còn nhiệt tình đến tận nhà xa, khi có lời mời. Không được “ngỏ lời”, người hát kể sử thi không bao giờ tự ý đến, cho dù đó là lễ hội, đám cưới, đám chết hay cuộc rượu gia đình… 

Già A Lưu cùng vợ và các cháu. Ảnh: TN 


Nguyên gốc, hơ mon thường được hát kể vào ban đêm. Dưới mái nhà rông, trong nếp nhà sàn, hay bên bếp lửa ấm, mọi người thường thoải mái nằm để nghe. Nghệ nhân nhiều khi cũng nằm mà hát kể; mà vẫn nằm lòng, trôi phiêu, cuốn hút. Mỗi câu chuyện không chỉ được hát kể trong một đêm mà có thể kéo dài trong nhiều đêm, tạo thành một mạch chuyện hấp dẫn người nghe…

Theo mẹ đi hát kể sử thi từ khi 9 tuổi, nên lâu dần, lời lẽ, ý tứ, giai điệu của câu chuyện dần ngấm vào hơi thở, máu thịt A Lưu, trở nên thân thuộc như lời ăn tiếng nói hàng ngày. Thuộc nhiều, nhớ lâu, hát hay, A Lưu không chỉ phục vụ dân làng mà còn thường xuyên được mời đem hơ mon đến các thôn, làng lân cận. Có khi thâu đêm suốt sáng, trẻ già thường say sưa nghe hát kể, khó dứt bên ché rượu. Riêng người hát sử thi thì không được “quá chén” vì còn phải đủ tỉnh táo để nhớ lời câu chuyện và giữ giọng thật tốt để vừa kể, vừa hát theo mạch chuyện khiến người nghe thích thú…

Trong kho tàng hơ mon của người Ba Na, phổ biến và được yêu thích nhất là chuyện về chàng Đăm Giông anh hùng. Chuyện được cấu thành bởi nhiều phần, kể về hoàn cảnh anh em Giông Giớ mồ côi, Giông làm nhà mồ, Giông đánh quỷ Bung Lung, Giông cứu đói dân nghèo, Giông đạp đổ núi đá, Giông lấy nàng Bia Phu… 

Gần cả cuộc đời dành cho sử thi, trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, “vốn liếng” quý giá của già A Lưu là gần 100 bài hơ mon được lưu giữ và hát kể. Ý nghĩa nhất với già là cuộc gặp gỡ với các cán bộ văn hóa đến từ Hà Nội, triển khai Dự án "Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên", trong những năm 2004 - 2007. Lần đầu tiên cũng là duy nhất, bao nhiêu “vốn liếng” hơ mon về chàng trai Đăm Giông huyền thoại cất giữ lâu ngày được già hát kể lại một cách có hệ thống để ghi âm vào băng catset, ký tự bằng văn bản với chữ viết Ba Na và dịch sang tiếng phổ thông. Trong số 75 tác phẩm sử thi của các DTTS được tập hợp trong bộ sách “Kho tàng sử thi Tây Nguyên” Viện Khoa học Xã hội Việt Nam xuất bản từ năm 2004 đến 2007, có hơn 20 tác phẩm sử thi được già A Lưu hát kể và chiếm hơn 2/3 tổng số tác phẩm sử thi của đồng bào dân tộc Ba Na, Xơ Đăng tỉnh Kon Tum được lựa chọn, tập hợp trong bộ sử thi Tây Nguyên đồ sộ này.

Hát kể sử thi của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Ảnh: Internet 


Với vốn liếng hơ mon đáng nể, từ năm 2006, già A Lưu đã là 1 trong số 3 nghệ nhân đầu tiên của tỉnh được công nhận danh hiệu Nghệ nhân dân gian. Tháng 3/2019, ông vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng Nghệ nhân ưu tú.

Gần cả cuộc đời sống với hơ mon, điều mà lâu nay già chưa nguôi trăn trở, là trong bối cảnh cuộc sống có nhiều đổi khác, hơ mon đang dần bị lãng quên, mai một, không tránh khỏi nguy cơ sẽ mất đi trong cuộc sống. Cho dù đã có lịch sử hàng trăm năm và được xem là loại hình tri thức dân gian vô cùng độc đáo, song đến nay, loại hình nghệ thuật cổ xưa này gần như không có người theo học, không người nối truyền. “Hồi trước, cũng có mấy người theo học, mình chỉ cho, nhưng rồi không theo nổi. Họ bảo khó quá, không thuộc được, không hát không kể cho thành bài…” - già A Lưu chia sẻ.

Thương cha, gần đây, con gái út Y Len của già A Lưu đã ngoài 45 tuổi vẫn ráng làm quen với hơ mon. Sức khỏe không cho phép, nên già A Lưu chỉ có thể hát kể để con gái dùng điện thoại ghi âm lại, sau đó mở ra nghe và dần tập theo để hiểu cặn kẽ hơn về cách lấy hơi, ghìm giọng hay ngân nga, luyến láy. Kiên trì rèn luyện, bước đầu, Y Len đã khá thông thạo hai bài “Giông lấy dây mây” và “Giông đạp đổ núi đá”.

Thời gian qua, việc mở các lớp dạy cồng chiêng, xoang, chế tác và sử dụng nhạc cụ dân tộc, dạy nghề truyền thống đã được quan tâm tổ chức, duy trì. Riêng hát kể sử thi thì vẫn chỉ là ước ao, mong muốn. Nếu không có điều kiện trao truyền, thì có lẽ, cho đến cuối cuộc đời, các nghệ nhân lão làng như già A Lưu sẽ chỉ còn nỗi nhớ…hơ mon.

Thanh Như

Tìm về đập Cây Gáo

đăng 03:19, 13 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Giữa cánh đồng ruộng liên thôn Hoà Thọ và Vinh Thọ, xã Hành Phước (Nghĩa Hành), vào năm 1965 đã xảy ra vụ thảm sát đập Cây Gáo. Đập Cây Gáo ngày ấy nay không còn, nhưng câu chuyện lịch sử thì vẫn được người dân nhắc đến.

Ông Phạm Ngọc Quân (74 tuổi) ở thôn Vinh Thọ, xã Hành Phước kể: Ngày trước, đập Cây Gáo được nông dân trong xã xây dựng để phục vụ tưới, tiêu cho ruộng lúa. Dọc hai bên bờ đập là gò đất cao, mọc nhiều cây gáo lâu năm đan xen, do vậy nơi đây là nơi ẩn nấp của người dân khi địch mở những cuộc hành quân càn quét.

Tại cánh đồng lúa này là nơi đã xảy ra vụ thảm sát đập Cây Gáo. Ảnh: PV 


Ông Quân là nhân chứng sống trong vụ thảm sát năm ấy. Ông Quân nhớ lại: Tháng 5.1965, trong một cuộc hành quân càn quét tiến chiếm lại xã Hành Phước, ngoài xe tăng yểm trợ, địch còn dùng 3 chiếc trực thăng quần đảo trên bầu trời sẵn sàng bắn phá bất cứ một điểm nghi ngờ nào dưới đất. 

Lúc này quân chủ lực của ta đã rút đi trước, còn lại một bộ phận nhỏ phối hợp với dân du kích địa phương chặn đánh mũi tiến công của địch từ thôn Hoà Vinh kéo lên. Để tránh địch, một số người dân di tản xuống hầm trú ẩn, một số ẩn nấp vào ruộng mía, còn lại đa số chạy men theo mương nước lên ẩn nấp ở đập Cây Gáo. Một số người đào hầm “ếch” để ẩn nấp, một số khác ẩn dưới gốc cây gáo.

“Địch dùng máy bay trực thăng tầm thấp để càn quét. Máy bay địch bay lên vùng đập Cây Gáo, xả những tràng đại liên vào người dân ẩn nấp dưới gốc gáo. Nhiều người bị bắn chết. Chỉ có vài người ẩn nấp sâu trong hầm mới còn sống sót", ông Quân cho hay.

Sau năm 1975, Hợp tác xã nông nghiệp cải tạo lại diện tích đất ở đập Cây Gáo để trồng lúa, đập được dời xuống phía đông cách đó khoảng 200m, xây dựng bờ kè chắn bằng bê tông cốt thép. 

Trưởng thôn Vinh Thọ Trương Ngọc Hùng cho biết: Người dân trong thôn có nguyện vọng xây dựng bia tưởng niệm các nạn nhân trong vụ thảm sát tại đập Cây Gáo. Đây cũng là địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ ở địa phương. Qua nhiều lần tiếp xúc cử tri, người dân trong thôn kiến nghị cơ quan chức năng hỗ trợ xây dựng bia tưởng niệm, nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết.

Chủ tịch UBND xã Hành Phước Võ Công Thành cho biết: Di tích vụ thảm sát đập Cây Gáo là chứng tích tội ác ghi lại hành động dã man của Mỹ - ngụy đã giết hại 36 thường dân vô tội. Di tích đã được UBND xã quy hoạch với diện tích đất 470,7m². Tuy nhiên, do kinh phí khó khăn, nên hiện tại khu tưởng niệm vẫn chưa được xây dựng. 

TR.ÂN - Đ.SƯƠNG

1-10 of 22