Con người và sự kiện

Bài mới

  • Một số câu chuyện về chùa Ba Thắc (Bãi Xàu - Sóc Trăng) Trong sách giáo khoa về địa lý trước năm 1975 thường nhắc đến con sông Mê Kong bắt nguồn từ Tây Tạng, chạy sang 5 nước và khi về biên ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Quốc tế công nhận trạm khí tượng trên 100 năm ở Việt Nam Tổ chức Khí tượng thế giới công nhận Trạm Khí tượng Phù Liễn, quận Kiến An, TP Hải Phòng là trạm khí tượng duy nhất ở Việt Nam góp mặt ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Người khai khoa của Quảng Ngãi 200 năm trước Năm 1819, một người quê làng Mỹ Khê, phủ Bình Sơn (nay thuộc TP.Quảng Ngãi), đỗ khoa thi đầu tiên được tổ chức dưới thời thống nhất đất nước ...
    Được đăng 05:27, 22 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cây gạo 150 năm tuổi được công nhận cây di sản ở Quỳnh Lưu Trải qua hơn 150 năm thăng trầm cùng lịch sử dân tộc và vượt mọi thiên tai, bão gió, cây gạo ở xóm 4, xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu ...
    Được đăng 05:40, 21 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đèn bốn ngọn - một phần không thể thiếu của Long Xuyên Chẳng biết từ bao giờ, tên gọi “vòng xoay đèn bốn ngọn” (hay gọi tắt là “đèn bốn ngọn”) lại phổ biến ở TP. Long Xuyên đến thế, trở thành ...
    Được đăng 02:01, 15 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 25. Xem nội dung khác »

Danh mục


Một số câu chuyện về chùa Ba Thắc (Bãi Xàu - Sóc Trăng)

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Trong sách giáo khoa về địa lý trước năm 1975 thường nhắc đến con sông Mê Kong bắt nguồn từ Tây Tạng, chạy sang 5 nước và khi về biên giới phía Tây của Việt Nam, được gọi là sông Cửu Long. Con sông này đổ ra biển bằng 9 cửa: trên sông Tiền có 6 cửa và trên sông Hậu có 3 cửa (sông Tiền có Cửa Tiểu, cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu; sông Hậu có cửa Định An, Trần Đề và Ba Thắc. Đến thời điểm năm 2002, sông Cửu Long đổ ra biển còn có 7 cửa [1] .

Cây Tra Lâm Vồ (trước ngôi chùa với nhiều truyền thuyết về cặp rắn thần to lớn, ẩn mình trong hốc cây này, chuyên lướt đi trên các ngọn cây); ảnh LP


Điều đáng lưu ý là tên các cửa sông Cửu Long đổ ra biển thường không gắn với tên đình chùa nào cả, nhưng tên cửa Ba Thắc lại gắn với tên chùa Ba Thắc xuất hiện từ lúc nào không ai rõ. Hiện nay, chùa Ba Thắc tọa lạc trên địa bàn ấp Chợ Cũ, thị trấn Mỹ Xuyên, cách trung tâm huyện lỵ Mỹ Xuyên chưa đầy 2 km và cách trung tâm thành phố Sóc Trăng khoảng 5km. Theo con đường liên huyện từ trung tâm chợ Bãi Xàu về Tham Đôn, rẽ phải đi khoảng 400m theo con đường mòn trên đất giồng cát, nay đã được bê tông hóa, chúng ta sẽ đến ngôi chùa này.

Đoàn khảo sát Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khảo sát thu thập thông tin tại chùa Ba Thắc; ảnh LP


Trong khuôn viên khá rộng còn một số cây cổ thụ. Trong đó, còn 1 cây Tra Lâm Vồ (trước ngôi chùa vói nhiều truyền thuyết về cặp rắn thần to lớn, ẩn mình trong hốc cây này, chuyên lướt đi trên các ngọn cây). Ngôi chùa khá nhỏ so với khoảng đất rộng chung quanh, có mái lợp ngói âm dương; bề ngang khoảng 6m và chiều sâu cũng chỉ khoảng 10m. Từ ngoài nhìn vào trên khung cửa còn thấy được hàng chữ, số để rõ tên chùa Ba Thắc và năm tu sửa chùa là năm 1927. Hai bên ngôi chùa có hai căn nhà nhỏ để tiếp khách và kho chứa đồ, dụng cụ bàn ghế của chùa. Giữa năm 2009, Ông từ chăm sóc ngôi chùa tên là Lâm Văn Tuấn, lúc đó gần 60 tuổi cho biết chùa có cách nay khoảng 200 năm, còn ngôi chùa hiện nay là trùng tu lại theo kiến trúc cũ. Trước ngôi chùa có cây cổ thụ rất to gọi là cây Tra Lâm Vồ khoảng trên 200 năm tuổi . Phía bên trong chùa thì có bàn thờ Ông gọi là Ông Ba Thắc. Ông không có hình hay tượng thờ, mà chỉ có một tảng đá gọi là cốt để thờ Ông. Chùa có Ban Quản trị để quản lý chung và cử người như là Ông từ để chăm sóc, nhang khói cho Ông hàng ngày. Mỗi năm, Ban quản trị chùa tổ chức lễ cúng Ông vào ngày 21/2âl, có mời gánh hát đến diễn phục vụ bà con liên tục 3 đêm.

Bệ thờ trong chùa Ba Thắc


Nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Ông được truyền lại từ nhiều thế hệ, nhưng vẫn chưa có cơ sở khoa học để xác định. Cho đến nay, cũng chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào để làm rõ về gốc tích lai lịch của Ông. Có truyền thuyết nói Ông là người trong hoàng tộc của Vương quốc Lào, đi du ngoạn đến nơi này thì bị bệnh mất; một số ý kiền khác cho rằng là Ông là người Nam Vang (Campuchia) hoặc người Hoa đến vùng này để lập nghiệp buôn bán và bị bệnh mất v.v. . .

Khách tham quan Ba Thắc cổ miếu; ảnh Thanh Dũng


Thực tế, qua một số tác phẩm nghiên cứu về vùng đất Ba Thắc cho thấy khu vực chung quanh chùa là nơi từng xảy ra chiến trận, có thể là giữa quân triều đình nhà Nguyễn và số nghĩa quân chống lại triều đình. Mặt khác, cũng có giả thuyết cho rằng nơi này từng là nơi giao tranh giữa quân Xiêm với quân của tướng Tây Sơn Nguyễn Huệ. Chuyện không rõ thực hư và sử sách cũng không thấy ghi lại rõ ràng2. Chỉ biết rằng, trong khuôn viên chùa, từ nhiều năm trước đó, cứ vào mùa mưa nước chảy làm lộ lên nhiều xương, cốt của người. Nhà chùa cứ gom lại trong các cái quách để thờ cúng. Đến năm 2008, Ban Quản trị chùa đã cho xây một ngôi mộ chung và để 2 cái quách lớn với nhiều hài cốt vào trong ngôi mộ này. Hiện nay, sân chùa đã được lót đal nên việc phát hiện hài cốt không còn nữa. Có thể dưới các lớp cát giồng và dưới những tấm đal kia vẫn còn nhiều bộ hài cốt của người xưa. Tiếc rằng, đến nay, vẫn chưa có một đoàn cán bộ khoa học nào đến nơi đây để khảo cứu hoặc dùng phương pháp khoa học để xác định nguồn gốc của các bộ hài cốt, xác định tuổi có các loại cây cổ thụ trong khuôn viên chùa Từ đó, có thể giúp chúng ta lý giải được nhiều vấn đề về lịch sử của vùng đất này.

Tuy nhiên, với các cứ liệu lịch sử, chúng ta được biết rằng địa điểm chùa Ba Thắc hiện nay lại rất gần và gắn với thương cảng Bãi Xàu vào giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Nơi đây tập trung các thuyến buôn các nước đến chở lúa gạo đi các nơi, cả đi nước ngoài. Bãi Xàu là trung tâm thương mại lớn của vùng Hậu Giang và là 1 trong 3 thương cảng lớn của vùng đất Nam bộ xưa3. Thương cảng này tập trung đông đào thương nhân người Hoa tại chỗ và thương buôn từ các nơi đến. Phố xá nằm dọc theo hai bên rạch. Hàng hóa được xuất chở đi các nơi theo đường thủy chủ yếu là lúa gạo, muối, gà vịt, heo, cá... Cuối thế kỷ XIX, Bãi Xàu là trung tâm thị tứ quan trọng của của hạt Sóc Trăng, dân cư khu vực này lên đến 6.000 người, hoạt động thương mại ngày càng phát triển. Từ tháng 2 đến tháng 6, bình quân hàng tháng, có khoảng 250 ghe thuyền từ các nơi như của thương buôn Trung Quốc, Mã Lai, Bắc kỳ... chở hàng đến như vải sợi, tơ lụa, đồ gốm, thuốc lá, thuốc bắc... và chở đi gạo Bãi Xàu, là mặt hàng chủ lực được xuất đi các nơi, cùng một số sản phẩm cá và khô... Rượu Bãi Xàu là một thương hiệu nổi tiếng cả vùng Nam kỳ. Đầu thế kỷ XX, Bãi Xàu được công nhận là trung tâm loại 1 cùng lúc với thành phố Sóc Trăng.

Là trung tâm thương mại sầm uất, những cư dân lúc này cũng cần có nơi thờ cúng để thể hiện nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của mình. Ngôi chùa Ba Thắc được hình thành để giải quyết nhu cầu trên. Nhưng đến nay, vẫn chưa có cơ sở để khẳng định là tên chùa có trước hay tên cửa Ba Thắc có trước. Dù có trước hay có sau, thì tên Ba Thắc đã đi vào lịch sử của vùng đất Nam bộ nói chung, của Sóc Trăng nói riêng. Tên cửa Ba Thắc trên bản đồ không còn, nhưng tên chùa và ngôi chùa vẫn còn. Nơi này vẫn thường xuyên có bà con đến thăm viếng thắp nhang cúng bái, nhất là trong những ngày giỗ Ông hay dịp rằm tháng 7 hay Tết âm lịch hàng năm.

Sóc Trăng có hơn 200 ngôi chùa, đình thần của 3 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa. Có nhiều ngôi chùa nổi tiếng như chùa Dơi, chùa Đất Sét, chùa Kh’leng, chùa Chén Kiểu, chùa Bốn Mặt, chùa La Hán... nhưng ngôi chùa Ba Thắc ít ai biết đến và vì vậy ngôi chùa này vẫn còn ẩn chứa nhiều truyền thuyết về nguồn gốc của mình, và có thể liên quan cả đến lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta(?). Riêng Ông Ba Thắc được cư dân Bãi Xàu phong là Chánh Thần như trong Long Miếu Cổ tự thuộc địa bàn thị trấn Mỹ Xuyên có bàn thờ Ông Ba Thắc cùng với Thiên Hậu Thánh Mẫu.

Điều khá thú vị và khiên cho mọi người phải suy nghĩa là trên địa bàn của ấp Chợ Cũ trên một tuyến lộ lại là nơi hội tụ của nhiều cơ sở thờ tự khác nhau của 3 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa như chùa Phước Lâm của dân tộc Kinh xây dựng năm 1886, chùa Luông Bassac Bãi Xàu của dân tộc Khmer xây dựng năm 1892, các ngôi miếu, cổ tự của dân tộc Hoa được xây dựng từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thề kỷ XX. Tiêu biểu là Quan Thánh Đế Miếu được xây dựng từ năm 1850. Nơi đây còn có 01 nhà thờ Công giáo và đặc biệt có 1 ngôi đình là di tích cấp tỉnh. Đó là đình thần Mỹ Xuyên tọa lạc tại ấp Chợ Cũ này. Đến với thị trấn Mỹ Xuyên, và đặc biệt là ấp Chợ Cũ, chúng ta sẽ cảm nhận được tình đoàn kết của các dân tộc, tôn giáo của cộng đồng dân cư xứ Bãi Xàu xưa, sự chan hòa, góp sức nhau trong chung vui các lễ hội của 3 dân tộc và các tôn giáo, Một không khí hòa đồng sẽ giúp cho mọi người cảm thấy quý trọng nhau hơn trong cuộc sống và muốn đến nhiều lần nữa đối với vùng đất yên lành này.

[1] Ngày 22 tháng 3 năm 2002, cửa sông Ba Lai được lấp thay bằng con đập Ba Lai ngang 600m, thay vào đó là cống Ba Lai dài 84 m với 10 cửa đóng mở tự động. Trước đó, cửa Ba Thắc cũng bị phù sa bồi lắng và trở thành một nhánh sông đổ ra cửa Trần Đề.

[2] Tên khoa họcThespesia populnea (L.) Soland, chi Thespesia, họ Malvaceae họ Cẩm quỳ, bộ Malvales Bộ Cẩm quỳ hay bộ Bông. Không những là một loài hoa đẹp, Tra Lâm Vồ trong dân gian còn được xem là một bài thuốc hay chữa được khá nhiều bệnh nơi miền nhiệt đới.

TS.Trịnh Công Lý (Hội Khoa học Lịch sử Sóc Trăng)

Quốc tế công nhận trạm khí tượng trên 100 năm ở Việt Nam

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Tổ chức Khí tượng thế giới công nhận Trạm Khí tượng Phù Liễn, quận Kiến An, TP Hải Phòng là trạm khí tượng duy nhất ở Việt Nam góp mặt trong nhóm những trạm khí tượng trên 100 năm của thế giới. 

Lễ gắn biển công nhận Trạm Khí tượng Phù Liễn trên 100 năm - Ảnh: XUÂN LONG


Sáng 23-3, tại quận Kiến An, TP Hải Phòng, Tổ chức Khí tượng thế giới đã trao bằng công nhận Trạm Khí tượng Phù Liễn, quận Kiến An, TP. Hải Phòng là trạm khí tượng trên 100 năm tuổi. 

Lễ gắn biển trạm khí tượng thủy văn được Tổ chức Khí tượng thế giới công nhận trên 100 năm tuổi cũng được thực hiện ngay sau đó.

Theo Tổ chức Khí tượng thế giới, Trạm Khí tượng Phù Liễn đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí như: được xây dựng ít nhất 100 năm; có hoạt động liên tục ít nhất một yếu tố khí tượng tính từ khi bắt đầu hoạt động đến nay và đang hoạt động bình thường tính đến thời điểm đề cử; trạm được quan trắc, vận hành theo tiêu chuẩn của Tổ chức Khí tượng thế giới; có bộ dữ liệu lịch sử, có tọa độ địa lý thực tế, hoặc có nguồn gốc cụ thể gồm độ cao, thành phần khí tượng được xác định và đơn vị khí tượng, cũng như lịch trình quan trắc. 

Vì vậy, Hội đồng Điều hành Tổ chức Khí tượng thế giới đã bỏ phiếu thông qua và cấp bằng công nhận Trạm Khí tượng Phù Liễn là Trạm Khí tượng 100 năm tuổi trên thế giới.

Những thiết bị của Trạm Khí tượng Phù Liễn được lưu giữ tại phòng truyền thống - Ảnh: XUÂN LONG


Chia sẻ với Tuổi Trẻ Online, GS. Nguyễn Đức Ngữ, 82 tuổi, nguyên quan trắc viên của Trạm Khí tượng Phù Liễn, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn giai đoạn 1991-1999, cho biết đây là trạm khí tượng thủy văn có lịch sử lâu đời nhất ở Việt Nam.

Trạm Khí tượng Phù Liễn được thành lập và bắt đầu hoạt động từ ngày 16-9-1902. Ông Ngữ cho biết nếu tính theo lịch sử hoạt động, năm 2019 Trạm Khí tượng Phú Liễn có lịch sử 117 năm tuổi.

"Trước đây trạm khí tượng này đơn sơ, chỉ có thiết bị quan trắc khí tượng và thiết bị quan trắc từ trường, mãi sau này mới có thêm thiết bị quan trắc thiên văn, máy đo địa chấn, trạm đo động đất" - ông Ngữ cho hay.

Theo ông Ngữ, với tuổi đời 117 năm, Trạm Khí tượng Phù Liễn có giai đoạn còn đóng vai trò quan trắc khí tượng cho ba nước Đông Dương gồm Việt Nam, Lào, Camphuchia.

Theo Tổ chức Khí tượng thế giới, trên thế giới hiện chỉ có khoảng 100 Trạm Khí tượng trên 100 tuổi, trong đó có Trạm Khí tượng Phù Liễn. Những Trạm Khí tượng trên 100 tuổi được khuyến nghị cần bảo tồn, bảo vệ vì những giá trị của chuỗi số liệu trên 100 năm trong đánh giá những thay đổi, biến đổi khí hậu trong thế kỷ gần đây.

Ông Trần Hồng Thái - Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng thủy văn (Bộ Tài nguyên - Môi trường) cho biết Trạm Khí tượng Phù Liễn hiện nay còn có thêm trạm rađa thời tiết Phù Liễn. 

Trạm Phù Liễn vẫn đang tiếp tục sứ mệnh cùng hệ thống mạng lưới khí tượng thủy văn thực hiện các nhiệm vụ quan trắc và giám sát khí tượng thủy văn phục vụ công tác dự báo, cảnh báo và điều tra cơ bản góp phần giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra ở khu vực Đông Bắc.

Tại lễ phát động hưởng ứng Ngày Khí tượng thế giới năm 2019 sáng 23-3 với chủ đề "Mặt trời, Trái đất và Thời tiết", Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - môi trường Lê Công Thành khẳng định ngành khí tượng thủy văn đang góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước. 

Thứ trưởng Thành kêu gọi các bộ, ban, ngành địa phương phối hợp chặt chẽ với ngành khí tượng thủy văn để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai.

XUÂN LONG

Người khai khoa của Quảng Ngãi 200 năm trước

đăng 05:27, 22 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Năm 1819, một người quê làng Mỹ Khê, phủ Bình Sơn (nay thuộc TP.Quảng Ngãi), đỗ khoa thi đầu tiên được tổ chức dưới thời thống nhất đất nước- thời Gia Long, đó là Trương Đăng Quế (1793 - 1865).

Đứa trẻ mồ côi trong gia đình nghèo khó

TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ (1793 - 1865) 


Theo gia phả họ Trương làng Mỹ Khê, được viết vào năm Bảo Đại thứ 2 (1926), Trương Đăng Quế là ông tổ đời thứ 7 của tộc họ Trương của làng này. Ông thủy thế tổ là Trương Đăng Nhất, vốn người huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh, vào Quảng Ngãi lập nghiệp đầu thế kỷ XVII.

Trương Đăng Quế là con thứ 3, trong số 8 người con của quan Tri huyện Mộ Hoa, sau thăng làm Hữu Tuyên phủ phủ Hòa Nghĩa (là phần đất tương đương tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) thời Tây Sơn, có tên là Trương Đăng Phác, vốn là một vị quan tài năng, thông minh, nhưng sống thanh bần. Ông Phác mất lúc 44 tuổi (1801), khi đó Trương Đăng Quế chỉ mới 8 tuổi.

Bài minh khắc trên bia mộ Thái sư Trương Đăng Quế, có ghi rằng: Lúc ra đời tiên sinh (Quế) có vẻ khôi ngô khác thường. Ngay từ nhỏ tiên sinh đã trọn lòng hiếu thảo, ghi nhớ lâu. Người đương thời đều cho rằng nhà họ Trương tích đức được bao nhiêu đời mới có được một người như thế này.

Trên văn bia viết về thân sinh của ông - ông Trương Đăng Phác, Trương Đăng Quế cũng có kể về thân phận gia đình, rằng: "Quế khi thiếu thời mồ côi cùng với bá huynh, trọng huynh nương tựa với Thái Phu nhân họ Đỗ. Thủ chí ở cảnh nghèo, tiết kiệm, từ ái, bà thường kể đến chí hướng, công nghiệp và phẩm hạnh của Tiên khảo để dạy chúng tôi cố gắng học hành để nối gia phong" (theo bản dịch của cuốn Gia phả họ Trương Mỹ Khê).

Có lẽ nhờ truyền thống gia tộc, sự dưỡng dục của mẹ, và sự thông minh vượt bậc, nên mặc dầu sống trong cảnh bần hàn cùng 8 anh em côi cút, Trương Đăng Quế cũng đã quyết chí lặn lội ra tận Thừa Thiên ứng thí vào kỳ thi Hương đầu tiên tổ chức dưới thời nhà Nguyễn và đỗ Hương tiến (Cử nhân) vào năm Gia Long thứ 18 - Kỷ Mão (1819). Ông là người khai khoa của tỉnh Quảng Ngãi.

Một cuộc đời cống hiến cho non sông

Sau khi đỗ Hương tiến, Trương Đăng Quế được bổ làm Hành tẩu bộ Lễ. Mười ba năm sau, dưới thời Minh Mạng, sau khi trải qua nhiều chức vụ quan trọng trong triều, chuyên lo sắp đặt các công việc trong Nội các, chủ khảo các cuộc thi giáo chức tại Quốc sử Quán, biên soạn Quốc sử, ông được thăng Thượng thư Bộ Binh.

Năm 1835, được nhận chức Đại thần trong Cơ mật viện, gia làm Thái tử Thiếu bảo, làm chủ khảo các kỳ thi Hội, sau đó còn đi kinh lược việc quân binh, tuyển chọn binh lính ở nhiều nơi trong cả nước. Đặc biệt là việc đi vỗ yên dân chúng và khám xét, đo đạc ruộng đất ở Nam Kỳ.

Nhà thờ họ Trương ở Tịnh Khê (TP.Quảng Ngãi). 


Theo nhiều tài liệu, sau khi được vua Minh Mạng cử làm Kinh lược đại thần đi kinh lý Nam Kỳ vào năm 1836, với tài năng siêu việt, Trương Đăng Quế đã hoàn thành sứ mệnh: Công cuộc bình định vùng đất này hoàn tất (dù cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi để lại tàn dư mất ổn định rất lớn); đất đai của Nam Kỳ đã được đo vẽ, lập sổ bộ chỉ sau 5 tháng; lập được đinh bạ và địa bạ cho từng thôn xã ở vùng đất rộng lớn này, điều mà người Pháp lúc sang cai trị, đã hết lời thán phục, nhất là trong việc lập địa bạ.

Vào năm đầu triều Thiệu Trị (1841), nhà vua chuẩn cho Trương Đăng Quế làm Văn Minh điện Đại học sĩ, gia hàm Thái bảo, quản lý bộ Binh, kiêm Cơ mật viện, kiêm sung chức Tổng tài ở Quốc sử quán. Năm Thiệu Trị thứ sáu (1846), ông được ban dụ khắc vàng 4 chữ: "Cố mệnh lương thần" và đến năm Thiệu Trị thứ bảy (1847), lại được vua cho khắc tên vào cỗ súng đại bác thứ nhất ("Bảo đại định công"), sau khi được nhà vua nêu cao công trạng của ông với nước nhà, nhất là trong việc bình định vùng đất biên cương phía tây Nam Bộ và Hà Tiên, làm cho "nước Xiêm phục, nước Miên hàng, nộp lễ cống, chầu hầu".


Nhà thơ, nhà viết sử


Bên cạnh sự nghiệp kinh bang tế thế, Trương Đăng Quế còn là một nhà thơ, một nhà viết sử có nhiều đóng góp quan trọng vào bậc nhất trong lịch sử văn hóa dân tộc. Sáng tác của ông khá nhiều, tiêu biểu là "Quảng Khê văn tập", "Trương Quảng Khê thi văn", "Trương Quảng Khê tiên sinh tập tự". Ông tham gia biên soạn các bộ sử và điển lệ, lúc làm Tổng tài Quốc sử quán, tiêu biểu là: "Đại Nam liệt truyện tiền biên". "Đại Nam thực lục tiền biên", "Đại Nam hội điển toát yếu"...


Khi Tự Đức lên ngôi, ông được vua thăng hàm Cần chánh điện Đại học sĩ, tấn phong Tuy Thạnh quận công. Đến tháng 8 năm Tự Đức thứ 3 (1850) lại được nhà vua ban khánh vàng khắc 4 chữ "Tam triều thạc phụ".

Sách "Đại Nam chính biên liệt truyện" có ghi chép: "(Trương Đăng) Quế lúc làm quan, giữ mình khiêm tốn, chính trực, kiến văn nhiều, xử đoán khéo, trải làm quan hơn 40 năm, ngồi ở chức Tể tướng; thế mà ăn mặc giản tiện sơ sài, không khác gì lúc còn chưa làm quan, và lại có tính siêng năng (...), đã biết thì không điều gì không nói, đã nói thì không có điều gì không nói hết lời. Triều đình lấy làm trọng, các tiên thánh vốn vẫn chọn dùng...".

Xin giáng chức và dừng đúng lúc

Vào thời vua Tự Đức, mặc dù luôn được trọng vọng, tin dùng, nhưng nhiều lần ông tha thiết xin cáo quan, về hưu, vì thấy mình không còn phù hợp với diễn biến thời cuộc. Có tài liệu nói rằng, có cả thảy 6 lần ông dâng sớ xin về quê nhà sống ẩn dật, nhưng đều bị nhà vua khước từ.

Mãi đến tháng 3, năm Tự Đức thứ mười sáu (1863), nhà vua mới đồng ý phê chuẩn cho ông được về an nghỉ tại quê nhà. Tuy về hưu, nhưng nhà vua luôn cho người vào tận nhà hỏi ông những việc hệ trọng. Vì việc hệ trọng nên có lần ông phải dâng sớ tâu 5 điều liên quan đến quốc gia, dân tộc. Trong đó một điều ông khuyên vua Tự Đức, nhưng vẫn còn nguyên giá trị thời sự cho đến ngày hôm nay: "Đường lối trị nước, cần ở dùng người, nhất là quan lại cấp huyện. Muốn quan thanh liêm, không gì bằng bớt viên chức đi, mà tăng lương bổng..." (Đại Nam chánh biên liệt truyện). Năm 1865, Trương Đăng Quế mất, thọ 73 tuổi.

Với hơn 43 năm giữ nhiều trọng trách trong triều đình nhà Nguyễn, từ Gia Long, sang Thiệu Trị, Tự Đức, trong đó có 20 năm quyền lực tựa Tể tướng, chỉ đứng sau vua, Trương Đăng Quế là vị đại thần có ảnh hưởng lớn nhất trong ba triều vua. Dù ở cương vị nào ông cũng luôn tỏ ra là một vị danh thần trung quân, tài năng xuất chúng, là một người hết lòng vì dân, vì nước, giữ phẩm hạnh, sống thanh bạch, nghĩa khí cho đến ngày nằm lại yên bình nơi quê hương chôn nhau cắt rốn của mình. Ông mãi mãi là tấm gương sáng cho hậu thế.

Bài, ảnh: ĐĂNG VŨ

Cây gạo 150 năm tuổi được công nhận cây di sản ở Quỳnh Lưu

đăng 05:40, 21 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Trải qua hơn 150 năm thăng trầm cùng lịch sử dân tộc và vượt mọi thiên tai, bão gió, cây gạo ở xóm 4, xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu vẫn sừng sững vươn mình nẩy lộc, đâm chồi, tỏa bóng mát, nở hoa rực rỡ giữa đường làng. 

Cây gạo đặc biệt có tuổi đời hơn 150 năm này có đường kính thân cây gần 4m, chiều cao hơn 30m, tỏa bóng trên một diện tích rộng lớn giữa xóm 3 và xóm 4, xã Quỳnh Lương. Trên gốc cây gạo có nhiều cành, tán lá sum suê. 

Cây gạo hơn 150 năm tuổi ở Quỳnh Lương, Quỳnh Lưu. Ảnh: Hồ Chiến 


Những ngày này, cây gạo vươn mình nở từng chùm hoa đỏ rực rỡ cả một khoảng trời khiến ai đi qua cũng không kiềm được ngước nhìn thích thú. Người dân nơi đây chẳng ai rõ cây gạo lớn lên trên đất này tự lúc nào, chỉ biết suốt bao năm qua cây vẫn sừng sững đứng đó, chứng kiến bao biến cố thăng trầm của ngôi làng.

Cây gạo đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử. Ảnh: Hồ Chiến 


Sử sách còn ghi, ngày 3/2/1930, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước và đội ngũ công nhân Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Ngày 20/4/1930, Huyện ủy lâm thời Quỳnh Lưu được thành lập và ra tờ báo "Lao động" làm cơ quan ngôn luận, truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lê nin, hướng dẫn quần chúng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc. Phong trào ngày một lên cao, Huyện ủy đã cử đồng chí Phan Hữu Khiêm về gây dựng cơ sở đảng ở vùng Bãi Ngang. Lớp thanh niên tiên tiến đã hăng hái nhận truyền đơn, giấu trong giỏ cá và bí mật rải truyền đơn ở khắp các đình, đền, cắm cờ Đảng trên đỉnh cây gạo của làng để cổ vũ tinh thần cách mạng. 

Góc cây to lớn tràn đầy nhựa sống. Ảnh: Hồ Chiến 


Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cây gạo là “lá chắn” cho nhiều mục tiêu trung tâm chính trị, hành chính của địa phương, góp phần bảo vệ xóm làng thoát khỏi các cuộc mưa bom bão đạn của địch. Nơi đây cũng chính là nơi hội tụ của lớp lớp thanh niên trước lúc lên đường nhập ngũ vào chiến trường chống Mỹ cứu nước, địa điểm tổ chức các buổi liên hoan, văn nghệ tiễn đưa tân binh; đồng thời, cũng là nơi che chở cho trạm xá xã trong chiến tranh. Trải qua thời gian, cây gạo trăm tuổi vẫn vươn mình mạnh mẽ, trở thành nơi nghỉ mát lý tưởng cho người nông dân mỗi khi đi làm đồng về và là nơi chơi đùa thân thuộc trong tuổi thơ lũ trẻ làng. 

Chứng nhận Cây gạo di sản của Việt Nam. Ảnh: Hồ Chiến Sau khi được các nhà khoa học xác định tuổi thọ khoảng hơn 150 năm, vào tháng 12/2015, cây gạo đã chính thức được Hội Sinh vật cảnh công nhận cây gạo di sản của Việt Nam. 


Diệp Phương

Đèn bốn ngọn - một phần không thể thiếu của Long Xuyên

đăng 02:01, 15 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chẳng biết từ bao giờ, tên gọi “vòng xoay đèn bốn ngọn” (hay gọi tắt là “đèn bốn ngọn”) lại phổ biến ở TP. Long Xuyên đến thế, trở thành biểu tượng riêng có của thành phố. Khách phương xa đến Long Xuyên, gì thì gì cũng từng đi ngang hoặc biết đến khu vực này. Người dân địa phương lại càng thân thuộc với đèn bốn ngọn hơn, bởi cuộc sống của họ gắn liền với những vòng chuyển động quanh ngọn đèn…

Đó là một trụ đèn hình tháp, nằm ngay trung tâm nội ô TP. Long Xuyên, tạo thành vòng xoay, kết nối điểm giao giữa đường Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi và Hà Hoàng Hổ. Bốn góc của trụ đèn nhìn ra 4 phía, bao quát cả thành phố. Trên đỉnh là chùm đèn hình oval, như hàng trăm nhụy hoa nở rộ. Toàn bộ bóng đèn là màu trắng ngọc trai, tròn trịa, xinh xắn. Chóp đỉnh gắn 1 bóng đèn trắng có kích thước to gấp mấy lần các bóng đèn khác. Nhìn từ xa, đèn bốn ngọn mang đậm nét trang nhã và dịu dàng, như những cô gái xuân thì của nhiều thập niên trước. Ban đêm, ánh sáng trắng từ chùm đèn tô điểm cho thành phố thêm rực rỡ, trở thành điểm nhấn thú vị khi ngắm toàn thành phố từ trên cao. Những ai trót mê mẩn nét đẹp cổ điển, thanh lịch ấy của đèn bốn ngọn, chắc chắn sẽ rất hoài niệm về chúng mỗi khi đi xa. 

Tôi chưa tiếp cận được nguồn thông tin chính xác về lịch sử xuất hiện của đèn bốn ngọn. Thông tin về địa điểm này gần như chẳng có gì. Ngọn đèn không rõ đã tồn tại bao nhiêu năm, qua bao nắng mưa, thăng trầm của quá khứ? Thậm chí, ít người để ý đếm số lượng cụ thể bóng đèn được kết nối lại trong chùm đèn, chỉ hạo hạo khoảng hơn 100 bóng. “Xuất thân” mơ hồ là vậy, nhưng đèn bốn ngọn đã trở thành một phần không thể thiếu của Long Xuyên - một thành phố bình yên nép mình bên sông Hậu. Muốn hỏi đường, chỉ đường, cứ định vị “đèn bốn ngọn” là được. Từ phà Vàm Cống lên Châu Đốc, phải đi ngang qua đèn bốn ngọn, đi dọc Quốc lộ 91. Muốn vào núi Sập (Thoại Sơn), cứ định hướng đèn bốn ngọn - đường Hà Hoàng Hổ. Muốn đi thăm thú chợ Long Xuyên, cù lao Ông Hổ, thì từ đèn bốn ngọn chỉ thẳng ra bờ sông… “Năm ngoái, bạn bè tôi từ TP. Hồ Chí Minh về An Giang tham quan. Qua phà Vàm Cống rồi, tụi nó đi vào Long Xuyên, nhưng bị lạc đường. Chỉ đường nhưng chẳng đứa nào hiểu, tôi bảo mấy đứa hỏi người dân, tìm đến đèn bốn ngọn, đứng đó, chờ tôi ra đón. Cả nhóm tìm được đèn bốn ngọn rất dễ dàng. Sau này rút kinh nghiệm, tôi thường lấy đèn bốn ngọn làm cột mốc chỉ đường cho khách ở xa đến, bảo đảm họ ít lạc đường hơn” - anh Nguyễn Minh Hùng (30 tuổi, ngụ phường Mỹ Xuyên) chia sẻ. 


Thời gian trôi qua, TP. Long Xuyên ngày càng phát triển. Người đông, xe cộ nhiều lên. Vào giờ cao điểm, muốn đi qua đèn bốn ngọn phải chạy thật khéo mới tránh được dòng người từ 4 ngả đổ về. Những dịp lễ, Tết, hay lúc mừng chiến thắng của đội tuyển bóng đá Việt Nam, vòng xoay đèn bốn ngọn chỉ toàn người và người, lưu lượng phương tiện giao thông dày đặc. Ngọn đèn vẫn đứng yên, tỏa ánh sáng dịu dàng, kiên nhẫn chờ dòng người tan ra, cho đến lúc các ngả đường thông thoáng trở lại. 

Thế nhưng, ngọn đèn đã "mệt mỏi". Mấy năm gần đây, đèn bốn ngọn đôi khi chẳng còn cháy sáng đủ… 4 ngọn đèn. Bóng đèn này vừa sửa xong thì đến bóng đèn kia tắt ngúm. Thậm chí có hôm, cả chùm đèn chỉ còn thưa thớt mấy điểm sáng lẻ loi, hiu hắt trong màn đêm, trông thật buồn. Nhiều bạn đọc phản ánh đến Báo An Giang: vì sao đèn cứ hỏng liên tục? Đi tìm câu trả lời từ ngành chức năng, thì ra các nhánh tay đèn ở tầng trên đã mục, rỉ sét. Muốn sửa chữa, thay thế đèn bất khả thi, do không đảm bảo an toàn, nhất là vào mùa mưa bão. Chỉ còn phương án tối ưu là thiết kế mới trụ đèn. 

Hiện nay, chùm đèn được trang trí tạm bằng hình tượng các ngôi sao vàng bay ra từ ánh lửa đỏ. Tuy khá bắt mắt, nhưng vẫn có người chưa quen nhìn, càng hoài niệm hình ảnh vốn có của đèn bốn ngọn xưa kia. Theo UBND TP. Long Xuyên, công trình đèn bốn ngọn hiện đang trong giai đoạn hoàn chỉnh phương án thiết kế kiến trúc. Địa phương thực hiện bước trưng bày, triển lãm, tham vấn ý kiến cộng đồng đối với phương án đạt giải tại 2 vị trí (Bảo tàng tỉnh An Giang và tuyến phố đi bộ Hai Bà Trưng). Thời gian tham vấn cộng đồng là 7 ngày, kể từ ngày 19-2. Sau khi hoàn thành công tác trưng bày, triển lãm, tham vấn ý kiến cộng đồng, UBND thành phố sẽ đăng ký thông qua Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phương án đạt giải qua thi tuyển. Trường hợp được chấp thuận, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực TP. Long Xuyên sẽ tham mưu UBND thành phố thực hiện các bước tiếp theo, đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành công trình trong năm 2019. 

Rồi sẽ đến lúc đèn bốn ngọn khoác lên mình chiếc áo mới, hiện đại và trẻ trung hơn. Chùm đèn trắng đã chấm dứt nhiệm vụ của mình, lùi vào dĩ vãng, chỉ còn hiện hữu trong những bức ảnh cũ. Nhưng chúng sẽ mãi trở thành một ký ức không thể nào phai mờ trong tâm tưởng người dân. 

Bài, ảnh: KHÁNH HƯNG

Về đình Thoại Ngọc Hầu tìm hiểu bia Thoại Sơn

đăng 01:57, 15 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Là một trong những nơi lưu dấu của danh thần Thoại Ngọc Hầu trong quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ, đình thần Thoại Ngọc Hầu gắn với bia Thoại Sơn (thị trấn Núi Sập, Thoại Sơn) trải qua thời gian vẫn giữ nguyên nét cổ xưa, huyền bí.

Theo lời kể của các cao niên, đầu thế kỷ XIX, vùng núi Sập hoang vu, mịt mù cây rừng, cỏ dại, đất đai khai khẩn chưa được bao nhiêu, người dân sinh sống thưa thớt, các lạch nước tuy có sẵn tự bao giờ nhưng rất nhỏ hẹp, bùn đọng, cỏ, cây giăng lắp. Trước đây, sông Đông Xuyên (nay là Long Xuyên) chỉ kéo dài đến Ba Bần, mọi sự đi lại của ghe tàu từ các tỉnh ĐBSCL sang Rạch Giá, Hà Tiên và ngược lại phải dùng đường biển vòng xuống Cà Mau. 

Năm 1817, khi Thoại Ngọc Hầu về trấn thủ Vĩnh Thanh, ông chủ trương đào kênh Đông Xuyên - Rạch Giá. Sau khi được vua Gia Long chấp thuận, đầu mùa xuân năm 1818, ông chỉ huy 1.500 dân binh khởi công đào kênh. Kênh đào theo lạch nước cũ nên thuận lợi dễ dàng, trải qua 1 tháng đã hoàn thành công trình. Kênh có bề rộng 20 tầm (hơn 50m), chiều dài tới Rạch Giá 12.400 tầm (hơn 31km). Kênh Đông Xuyên-Rạch Giá là kênh đào sớm nhất ở miền Nam, rất quan trọng cho việc giao thông vận tải đường sông và phát triển nông nghiệp, nâng cao đời sống kinh tế và văn hóa của vùng đất Thoại Sơn như ngày nay. Công trình đào kênh hoàn tất, Thoại Ngọc Hầu vẽ bản đồ và báo cáo với triều đình Huế được vua Gia Long khen ngợi, ra lệnh lấy tên Thoại Ngọc Hầu đặt cho tên sông là Thoại Hà. Lại thấy trên bờ đông của sông Thoại Hà có một trái núi gọi là núi Sập, liền cho cải tên là Thoại Sơn. 

Bia đá được dịch lại phía ngoài sân đình 


Để đánh dấu kỷ niệm trọng đại trong cuộc đời mình và ghi nhớ ý nghĩa công trình, Thoại Ngọc Hầu soạn một bài văn khắc vào bia đá. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), Thoại Ngọc Hầu làm lễ dựng bia. Tổng thể bia là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo. Đầu bia chạm 2 chữ “Thoại Sơn”, mặt bia gồm 629 chữ Hán được chạm, khắc tinh xảo, đẹp mắt. Về nội dung bia là một áng văn chương sắc sảo. Bia Thoại Sơn là 1 trong 3 công trình di tích lịch sử loại bia ký nổi tiếng ở Việt Nam dưới triều đại phong kiến còn lưu lại cho đến ngày nay được nhiều người truyền tụng. Bia Thoại Sơn được công nhận là Di tích Lịch sử-Văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 993/VH.QĐ ngày 28-9-1990. Năm 2013, Di tích lịch sử đình Thoại Ngọc Hầu được Liên hiệp các Hội Unesco Việt Nam tặng bảng vàng, bình chọn nằm trong “Top 100” điểm đến ấn tượng Việt Nam. 

Ngày nay, đình Thoại Ngọc Hầu là điểm tham quan lý tưởng với kiến trúc cổ kính, nhiều cây dầu lớn nằm trong không gian rộng mát trên triền núi Sập (thị trấn Núi Sập, Thoại Sơn). Hàng năm, vào ngày mùng 10,11,12 tháng 3 (âm lịch), dòng người từ khắp mọi nơi về núi Sập để tham dự lễ hội Kỳ yên đình Thoại Ngọc Hầu. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm của huyện Thoại Sơn. Do lễ hội tổ chức trùng với ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10-3 âm lịch) nên lượng người tham gia rất đông. Lễ hội là dịp để mọi người tưởng nhớ công lao to lớn của danh thần Thoại Ngọc Hầu trong việc khẩn hoang, khai phá vùng đất Thoại Sơn, An Giang nói riêng và vùng đất Nam Bộ nói chung, qua đó giáo dục truyền thống “ăn quả nhớ người trồng cây” tốt đẹp của dân tộc cho thế hệ trẻ mai sau. 

Bia đá Thoại Sơn bên trong đình 


“Nghe người lớn kể lại, thuở trước mọi người làm ăn chỉ hứa miệng với nhau tại đình. Nếu có chuyện xích mích, cãi vã thường đến đình để giải quyết. Khi ấy, chỉ cần thắp xong 1 nén nhang, ai làm sai quấy sẽ tự nhận lỗi. Thế là chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không, mọi người vui vẻ sửa sai, làm hòa. Có lẽ, nhờ tôn kính oai nghiêm của thần nên mọi người không muốn ông phải chứng kiến chuyện không hay… Ngày thường, lúc nào cũng có người đến thắp nhang cho thần. Đến lễ hội Kỳ yên và những ngày đầu năm mới, mọi người đến đình lễ bái rất đông với hy vọng thần phù hộ gia đình bình an, cầu tài lộc và làm ăn thuận lợi”- ông Nguyễn Trung Nhựt (74 tuổi, thủ từ đình thần Thoại Ngọc Hầu) chia sẻ. 

TRỌNG TÍN

Đàn đá Lộc Hòa, nhạc cụ chế tác tinh xảo của người tiền sử

đăng 17:11, 14 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Vừa qua, Bộ Đàn đá Lộc Hòa (xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước) đã vinh dự được Chính phủ ký Quyết định công nhận là bảo vật Quốc gia. Hiện vật đang được trưng bày tại bảo tàng tỉnh Bình Phước. Bảo vật Quốc gia Đàn đá Lộc Hòa - bộ nhạc cụ có kỹ thuật chế tác tinh xảo của người tiền sử, với niên đại trên 3.000 năm. Đây là minh chứng tiêu biểu cho sự hiện diện của người cổ xưa trên mảnh đất Bình Phước, chứng minh bề dày truyền thống của những cư dân đã sinh sống lâu đời trên mảnh đất này.

Đàn đá Lộc Hòa là nhạc cụ có kỹ thuật chế tác tinh xảo của người tiền sử


Bảo vật cấp Quốc gia duy nhất của Bình Phước

Bộ Đàn đá Lộc Hòa được phát hiện vào 10/1996, khi canh tác vườn nhà, ông Bùi Hữu Triều, ấp 8 xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh đã phát hiện 12 thanh đàn đá nằm xếp gần nhau theo kích thước từ lớn đến nhỏ. Ít ngày sau, ông tiếp tục phát hiện 14 thanh đá cách nơi phát hiện 12 thanh đá trước đó khoảng 1m. Ông Triều đã báo cáo cho cơ quan chức năng để có phương án xử lý. Phát hiện này nâng số lượng bộ đàn đá trên địa bàn Bình Phước tăng lên đáng kể.

Nhiều mãnh vỡ của Đàn đá cùng chất liệu như 2 bộ Đàn đá Lộc hòa được phát hiện nhiều nơi trên địa bàn tỉnh.


Sau khi tiếp nhận thông tin, các cơ quan chức năng của xã Lộc Hòa, huyện Lộc Ninh phối họp với Bảo tàng tỉnh Sông Bé cũ (nay là Bảo tàng tỉnh Bình Phước) để phối hợp với các cơ quan khoa học tiến hành khai quật và nghiên cứu hiện vật mới được phát hiện. Qua nghiên cứu bước đầu, Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ, trường Đại học Khoa học xã hội Nhân văn TP. Hồ Chí Minh xác định đây là Đàn đá - một loại nhạc cụ cổ xưa của người tiền sử.

Trong quá trình khai quật các di chỉ đắp đất hình tròn, các nhà khoa học đã liên tục phát hiện nhiều mảnh vỡ của Đàn đá cùng chất liệu tương tự như hai bộ Đàn đá Lộc Hòa như: Tân Lợi (Hớn Quản); Lộc Khánh, Lộc Điền (Lộc Ninh); Thọ Sơn (Bù Đăng)... Di tích Lộc Hòa (nơi phát hiện đàn đá) đã được khai quật những năm 1997 - 1998 có sự nghiên cứu tổng hợp về địa hình địa lý. Đặc biệt, các nhà khoa học đã nghiên cứu các tầng văn hóa khảo cổ và các di vật để nhận biết về môi trường văn hóa xung quanh địa điểm tìm thấy bộ Đàn đá Lộc Hòa.

Về chất liệu, Đàn đá Lộc Hòa ở Bình Phước được chế tác từ loại đá mắc ma. Loại đá này chịu sự tác động phong hóa ở các mức độ khác nhau, thường có các màu sắc xanh đen, xám xanh, xám tro… Nhìn chung, những loại đá này có độ cứng trung bình nên dễ ghè đẽo và tu chỉnh. Về kỹ thuật chế tác, hầu hết được ghè đẽo, tạo dáng và tu chỉnh bằng phương pháp thủ công trực tiếp. Về tính chất âm thanh, loại nhạc cụ này có âm sắc gọn, độ cao rõ rệt, ngân dài, đạt được yêu cầu của một nhạc khí. Bộ đàn đá ở Lộc Hòa, Lộc Ninh có chung bình đồ với hàng ngàn di vật thời tiền sử ở Bình Phước. Nhờ phát hiện khảo cổ học này, lịch sử văn hóa vật chất, tinh thần thời tiền sử, sơ sử của cộng đồng cư dân Bình Phước nói riêng và cả nước nói chung đã có thêm một bằng chứng sinh động, độc đáo.

Các nhà khoa học của Hội đồng thẩm định Di sản văn hóa Quốc gia thẩm định Di vật Đàn đá Lộc Hòa vào 11/2017


Sau khi nghiên cứu và xác định rõ giá trị của bộ Đàn đá quý giá này. Năm 2017, UBND tỉnh Bình Phước đã chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bảo tàng tỉnh về việc lựa chọn hiện vật xây dựng hồ sơ xin công nhận bảo vật Quốc gia cho Đàn đá Lộc Hòa. Các thủ tục xây dựng hồ sơ được tiến hành đúng trình tự, đạt yêu cầu, hồ sơ đã trình ra Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch. Tài liệu hồ sơ về hiện vật được Hội đồng thẩm định di sản Quốc gia đánh giá cao về giá trị. Đồng thời, Hội đồng thẩm di bảo vật Quốc gia đã tiến hành nghiên cứu làm rõ tính xác thực của bộ Đàn đá này. Đến ngày 25/12/2017, thừa lệnh Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã ký Quyết định số 2089/TTg công nhận bộ Đàn đá là bảo vật Quốc gia.

Ông Phạm Hữu Hiến, Phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Bình Phước cho biết, hiện nay trên địa bàn tỉnh có khá nhiều cổ vật, hiện vật đa dạng và phong phú, nhưng riêng Bộ Đàn đá Lộc Hòa là cổ vật duy nhất của tỉnh được công nhận là bảo vật Quốc gia.

Các nhà khoa học của Hội đồng thẩm định Di sản văn hóa Quốc gia thẩm định Di vật Đàn đá Lộc Hòa vào 11/2017


Bảo tồn và phát huy giá trị bảo vật

PGS.TS Bùi Chí Hoàng, Ủy viên Hội đồng di sản văn hóa quốc gia, Phó viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ, trưởng nhóm thẩm định cho biết: Đàn đá là một nhạc cụ gõ cổ nhất của Việt Nam và là một trong những loại nhạc cụ cổ thô sơ nhất của loài người. Đàn được làm bằng các thanh đá với kích thước dài, ngắn, dày, mỏng khác nhau. Thanh đá dài, to, dày có âm vực trầm trong, khi thanh đá ngắn, nhỏ, mỏng thì tiếng thanh. Người xưa sử dụng vài loại đá có sẵn ở vùng núi Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ để tạo ra nhạc cụ này. Đàn đá đã được UNESCO xếp vào danh sách các nhạc cụ trong không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên. Hiện trong cả nước có rất nhiều bộ Đàn đá, nhưng bộ Đàn đá Lộc Hòa rất độc đáo có kỹ thuật chế tác tinh xảo của người tiền sử, có niên đại cổ xưa trên 3.000 năm. Đặc biệt, bộ 14 thanh còn đầy đủ và nguyên vẹn. Đó là điều mà các bộ Đàn đá khác không có. Đây là minh chứng tiêu biểu cho sự hiện diện của người cổ xưa trên mảnh đất Bình Phước. Đồng thời đây cũng là minh chứng cho bề dày truyền thống của những cư dân đã sinh sống lâu đời trên mảnh đất này.

Ngày nay, trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Đàn đá được người M’nông, K’ho sử dụng rộng rãi trong các hoạt động nghi lễ, hội hè. Tiếng Đàn đá tạo cho các nghi thức tế lễ thêm linh thiêng. Tiếng đàn đá phối tấu cùng các nhạc cụ khác tạo nên những tiết tấu sôi động cho các động tác nhảy múa trong các lễ hội. Trong âm thanh rộn ràng vang vọng của Đàn đá cả thôn, buôn làng cùng hòa mình vào những điệu múa tập thể, các nghi thức lễ hội như: Lễ hội mừng lúa mới, mừng nhà mới, cúng tạ ơn thần linh…Với người M’nông, K’ho, âm thanh của Đàn đá như biểu hiện cho tiếng lòng của con người, tiếng thì thầm của tổ tiên vọng về. Tiếng Đàn đá trong những ngày lễ hội hay nghi lễ thay cho lời kể, niềm an ủi, lúc vui, lúc buồn trong cuộc sống của con người.

Một nghệ nhân ở huyện Lộc Ninh đang thể hiện một bản nhạc với công cụ Đàn đá


Ngoài hai bộ Đàn đá đang được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Bình Phước, còn có 2 bộ ở huyện Bù Đăng và 2 bộ ở huyện Lộc Ninh. Trên địa bàn tỉnh còn rất nhiều cổ vật đa dạng và quý hiếm chưa được phát hiện và khai quật. Vì vậy, ngành văn hóa tỉnh Bình Phước luôn khuyến khích, khen thưởng, động viên các tổ chức, cá nhân trong toàn tỉnh đăng ký, hiến tặng các hiện vật, di vật có giá trị. Qua đó sẽ góp phần làm tăng thêm sự đa dạng, phong phú, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóạ trên địa bàn tỉnh.

Theo ông Phạm Hữu Hiến: Hiện nay, Bảo tàng tỉnh đã xây dựng các phương án đảm bảo an toàn tuyệt đối và phát huy giá trị bảo vật Đàn đá như: trưng bày, giới thiệu, quảng bá, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền giá trị bảo vật Quốc gia trên các phương tiện thông tin đại chúng đến du khách trong và ngoài nước để xứng tầm với danh hiệu bảo vật Quốc gia. Đồng thời tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, liên kết chặt chẽ với các nhà khoa học để phát huy hơn nữa các tiềm năng về các lĩnh vực khảo cổ học góp phần vào thúc đẩy du lịch của tỉnh. Việc bảo quản, lưu giữ và phát huy giá trị của bảo vật này không chỉ là trách nhiệm của ngành Văn hoá Thể thao và Du lịch mà cần có sự chung sức của toàn xã hội. Bên cạnh đó, để phát huy tối đa giá trị của bộ Đàn đá, Bảo tàng tỉnh Bình Phước sẽ triển khai tổ chức dạy đánh Đàn đá cho những ai yêu thích loại nhạc cụ này. Tin rằng tiếng Đàn đá sẽ tiếp nối ngàn xưa ngân vang trong các ngày lễ lớn của tỉnh để mọi người thưởng thức và tìm hiểu.

Văn Đoàn

Hình ảnh thú vị về tranh Đông Hồ đầu thế kỷ 20

đăng 04:00, 12 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Bên cạnh các đề tài truyền thống, tranh Đông Hồ đầu thế kỷ 20 còn mô tả những biến đổi về kinh tế - xã hội ở Việt Nam thời thuộc địa qua những nét vẽ rất sinh động.

"Phong tục cải lương" - một bức tranh Đông Hồ đặc sắc ra đời đầu thế kỷ 20. Bức tranh minh họa sự thay đổi về phong tục thời kỳ thuộc địa, với hình ảnh một người Pháp cầm khẩu súng trường bắt tay một người đội mũ lưỡi trai, dắt xe đạp, bên cạnh là con chó Tây.

 

"Nữ học trường", một bức tranh Đông Hồ lý thú mô tả trường nữ sinh ở Hà Nội thời thuộc địa

 

Cùng một cặp với "Nữ học trường" là "Nam học trường", mô tả trường nam sinh

 

Bức tranh này vẽ cảnh một cuộc diễu hành của những người lính mang cờ Pháp dẫn đầu. Những người lính Pháp được theo sau bởi những người lính Việt Nam dưới cái nhìn của những người qua đường, trong đó có một cặp vợ chồng Hoa-Việt

 

ranh "Đám cưới chuột", một trong những bức tranh Đông Hồ nổi tiếng nhất. Bức tranh mô tả cảnh họ hàng nhà chuột dâng lễ cho mèo để đám cưới chuột diễn ra an bình

 

Một phiên bản khác của tranh" Đám cưới chuột".

 

Tranh "Thầy đồ cóc" thể hiện một thế giới của cóc, nhái, ễnh ương rất nhộn nhịp trong lớp học với một thầy ếch lớn ngồi chễm chệ trên chiếc sập đang dạy học. Vào phiên chợ tết các bà mẹ Việt Nam thường mua cho con bức tranh này với hy vọng con mình sẽ chăm chỉ học hành.

 

Một phiên bản khác của "Thầy đồ cóc". Bức tranh này còn một tên khác là "Ếch đi học"

 

Bức "Em bé ôm gà" mang ngụ ý đón xuân tốt lành

 

Tranh "Đi chơi núi" (Du sơn) với hình ảnh một bé gái cưỡi chú dê

 

Hai phiên bản phổ biến của tranh "Lợn đàn" hay "Đàn lợn âm dương"

 

Hai phiên bản phổ biến của tranh "Đàn gà mẹ con"

 

Bức "Vinh Quy Bái Tổ" hay "Quan Trạng về làng", vẽ một nhà nho trở lại làng quê của mình sau khi vượt qua kỳ thi Hương. Anh cưỡi trên con ngựa của mình và đi trước những người mang cờ mừng thành công của anh. Một trợ lý che cho anh ta bằng một chiếc lọng, một biểu tượng của phẩm giá

 

Một bức tranh chim phượng

 

Bức tranh Đông Hồ này mô tả một đám rước rồng vào dịp Tết Nguyên đán

 

Cảnh chợ làng trên tranh Đông Hồ


T.B (tổng hợp)

Bí ẩn loạt lăng mộ cổ giữa khu dân cư Sài Gòn

đăng 03:44, 12 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:48, 12 thg 3, 2019 ]

Lăng mộ đại gia Lý Tường Quan trong con hẻm 79/30 Phú Thọ Hòa, mộ nhà bác học Trương Vĩnh Ký ở số 520 Trần Hưng Đạo, lăng võ tướng Trương Tấn Bửu ở 41 Nguyễn Thị Huỳnh... là loạt lăng mộ cổ độc đáo nằm giữa các khu dân cư đông đúc ở TP HCM.

1. Trong con hẻm 79/30 Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, TP HCM có một công trình kiến trúc cổ khá đặc biệt: Khu lăng mộ ông Lý Tường Quan (1842-1896), còn được gọi là Bá hộ Xường - vị đại gia người Hoa được xếp thứ ba trong Tứ đại Phú hộ Sài Gòn xưa

 

Khu lăng mộ cổ này được xây từ ngày Bá hộ Xường qua đời, nằm trên một diện tích rộng khoảng 200 m2, gồm có cổng, tường bao, nhà mộ và mộ phần với những nét kiến trúc độc đáo, mang phong cách phương Tây kết hợp với trang trí họa tiết truyền thống của vùng đất Nam Bộ

 

Trong nhà mộ là ngôi mộ bằng đá của Bá hộ Xường, có hình chữ nhật cao 0,77m; rộng 2,45m; dài 3,64m; trên cùng được phủ cát vàng, bốn góc có 4 cột trụ. Toàn bộ ngôi mộ là một tác phẩm điêu khắc đá rất đặc sắc

 

2. Nơi an nghỉ của cụ Trương Vĩnh Ký - người Việt được vinh danh là một trong 18 nhà thông thái thế giới tọa lạc ở số 520 Trần Hưng Đạo, thuộc quận 5 TP HCM. Lăng mộ được xây vào năm 1889 theo phong cách kiến trúc Pháp kết hợp với một số họa tiết phương Đông, có diện tích khoảng 50 m2, nằm trong khuôn viên rộng hơn 2.000 m2

 

Trong lăng mộ có 3 mộ phần, gồm 3 bia đá khác màu có chiều rộng khoảng 1m, dài gần 2m, được lát bằng phẳng mà mới nhìn cứ tưởng là nền nhà mồ. Mộ cụ Trương Vĩnh Ký nằm ở giữa, hai bên là người vợ Vương Thị Thọ và con trai cả Trương Vĩnh Thế

 

Do có diện tích rộng lại nằm ở vị trí đắc địa giữa trung tâm thành phố nên khuôn viên nhà mồ Trương Vĩnh Ký đã được tận dụng làm nơi trông giữ xe cho người dân trong khu vực

 

3. Nằm ở số 41 Nguyễn Thị Huỳnh, phường 8, quận Phú Nhuận, TP.HCM, lăng Trương Tấn Bửu là nơi yên nghỉ của Long Vân Hầu Trương Tấn Bửu, một trong Ngũ hổ tướng Gia Định xưa. Lăng nằm trong khuôn viên rộng hơn 2.300 m2, có tường bao được xây bằng ô dước và gạch thức

 

Mộ phần tướng Trương Tấn Bửu có dạng như ngôi nhà, dài hơn 3m, chiều ngang khoảng 2m, cao hơn 2m, được xây bằng ô dước (hợp chất gồm vôi, cát giấy do, than hoạt tính, mật đường)

 

Trên các công trình của lăng Trương Tấn Bửu từng được trang trí rất nhiều họa tiết tinh xảo như hình kỳ lân, búp sen, phù điêu hình cây tùng và chim hạc, các cặp liễn đối... Tiếc rằng phần nhiều các tác phẩm này đã bị hủy hoại theo thời gian

 

. Tọa lạc tại khu phố 4, phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức, TP HCM, mộ Tiền hiền Tạ Dương Minh là nơi an nghỉ của người khai khẩn vùng đất Thủ Đức. Tên hiệu của ông được đặt tên huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, nay là quận Thủ Đức

 

Về kiến trúc, mộ có diện tích 112,6  m2, được xây dựng theo cấu trúc mộ điển hình của các công thần nhà Nguyễn với hai vòng tường bao. Các trụ cổng có hình búp sen, góc tường bao có trang trí hoa văn

 

Nấm mộ hình Ngưu miên (Trâu ngủ), dạng mộ dành cho những người thuộc giới quyền quý. Trong nhiều năm, mộ đã bị lấn chiếm làm chỗ để xe và xuống cấp nghiêm trọng. Công trình đã được đại trùng tu và khánh thành vào dịp giỗ Tiền hiền Tạ Dương Minh năm 2016..

 

5. Trong con hẻm 472 Trần Hưng Đạo ở quận 5, TP HCM có một công trình kiến trúc cổ khá đặc biệt. Đó là lăng mộ ông Trịnh Khánh Tấn (1856 - 1913), một quan chức cao cấp trong chính quyền thuộc địa, đồng thời là một tín đồ Công giáo với tên Thánh là Dominique-Thomas


Khu mộ được xây năm 1914 trên một khoảng đất hình vuông rộng khoảng 40 m2, theo kiến trúc phương Tây cổ điển. Các chi tiết kiến trúc rất cầu kỳ cho thấy đây là khu mộ của một người có thế lực trong xã hội thời đó

 

Bên trong khu mộ có 3 phần mộ đá nằm song song với nhau. Bên phải là mộ ông Dominique-Thomas Trịnh Khánh Tấn. Mộ vợ ông Trịnh Khánh Tấn là bà Lê Thị Gương nằm bên trái. Giữa hai ngôi mộ trên là mộ bà Trịnh Thị Thiết, con gái của hai ông bà

 

6. Ở phường 12, quận Tân Bình, TP.HCM có một ngôi mộ cổ sở hữu đến hai mặt tiền ở khu vực kinh doanh sầm uất. Ngôi mộ này có mặt trước quay ra đường Nguyễn Thái Bình, mặt sau giáp với đường Trương Hoàng Thanh

 

Mộ được xây bằng hợp chất, có chiều dài khoảng 10 m, rộng chừng 7 m, xung quanh có tường thành bao quanh. Mặt tiền công trình được xây dạng một cái am nhỏ có mái giả bằng xi măng. 4 góc mộ có 4 trụ cột hình búp sen

 

Bia mộ ghi chữ quốc ngữ dựa trên bia chữ Hán cũ: “Đại Nam quốc. Phần mộ Võ Tánh. Mất ngày 27/7/1801 năm Tân Dậu”. Theo đó, người nằm dưới mộ là tướng Võ Tánh của nhà Nguyễn. Điều này khiến giới nghiên cứu bối rối vì Võ Tánh đã có một ngôi mộ chính ở Bình Định và một mộ gió ở Phú Nhuận, TP.HCM. Không có sử liệu nào nhắc đến "mộ thứ ba"

Cây di sản trên Ngũ Hành Sơn

đăng 01:53, 5 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Bên cạnh hệ thống chùa chiền, hang động và núi đá độc đáo, di tích cấp quốc gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn còn sở hữu quần thể 4 loài với 7 cây đại thụ quý được vinh danh là cây di sản Việt Nam.

Cây đa sộp (đa lá đỏ) có tuổi đời khoảng 600 năm, nằm ở sườn đông ngọn Thủy Sơn (sau lưng chùa Linh Ứng). 


Quần thể 7 cây di sản tại di tích cấp quốc gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn có những cây đại thụ với tuổi đời từ 206 đến 611 năm tuổi, mang nhiều ý nghĩa về lịch sử, văn hóa, gồm có: Cây đa sộp (đa lá đỏ) ở sườn đông ngọn Thủy Sơn (sau lưng chùa Linh Ứng), 2 cây bàng âm dương trước cổng chùa Tam Thai trên ngọn Thủy Sơn, cây thị sau lưng chùa Tam Thai và cụm 3 cây bồ kết ở động Tàng Chơn thuộc khu vực phía nam ngọn Thủy Sơn. 

Quần thể này đã được Hội đồng Cây di sản Việt Nam công nhận là cây di sản Việt Nam vào ngày 7-1-2017. 

Cây đa sộp mọc trên phần núi đá sau lưng chùa Linh Ứng với tán cây phát triển mạnh, phủ lên mái chùa tạo nên cảnh quan kỳ vĩ. 


Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ, cây đa có tuổi đời khoảng 600 năm này là nơi tụ họp, nghỉ ngơi của các chiến sĩ cách mạng. Dưới gốc cây đa này là động Tàng Chơn - căn cứ hoạt động mật của quân ta trong kháng chiến chống Mỹ. 


Sau lưng chùa Linh Ứng, phía nam ngọn Thủy Sơn có một lối nhỏ dẫn vào động Tàng Chơn, đây là nơi có cụm 3 cây bồ kết di sản với đường kính lớn. 


Trong cụm 3 cây bồ kết này, cây nhỏ nhất có tuổi đời hơn 160 năm, cây lớn nhất khoảng 211 năm. 


Phần ngọn và tán lá của các cây bồ kết bị cây đa sộp che bóng. Hiện cụm bồ kết này đang được chăm sóc, phun thuốc trừ sâu mọt định kỳ 2 lần/năm. 


Một cây di sản khác là cây thị nằm sau lưng chùa Tam Thai, có tuổi đời hơn 200 năm. 


Cây di sản này nằm trong khu vực khép kín, bị che khuất bởi mái chùa Tam Thai và núi đá nên ít du khách được tiếp cận trực tiếp với cây. 


Cây thị này vẫn ra hoa và kết trái hằng năm, chứng tỏ được sức sống trường tồn qua năm tháng. 


Trước sân chùa Tam Thai có 2 cây di sản là 2 cây bàng âm - dương được trồng đối xứng ở 2 bên cổng chùa. 


Cây bàng âm (bên trái) có tuổi đời hơn 350 năm, cây bàng dương (bên phải) có tuổi đời 240 năm. Cả 2 cây đều có phần tán rộng, vào thời điểm lá mọc nhiều, phần tán này có thể che mát sân chùa. 


Thân cân lớn với dáng vóc đẹp mắt. 


Gốc cây với phần rễ trồi lên mặt đất có nhiều hình thù lạ mắt. 


Tương truyền, 2 cây bàng âm - dương trước chùa Tam Thai gắn với nhiều câu chuyện dân gian, truyền thuyết về tình yêu đôi lứa. 


XUÂN SƠN (thực hiện)

1-10 of 25