Con người và sự kiện

Bài mới

  • Ý nghĩa tâm linh của Duyệt Thị Đường Có tầm vóc như “ngôi đền thiêng” của nền nghệ thuật cung đình nhà Nguyễn, mỗi đường nét kiến trúc của Duyệt Thị Đường đều ẩn chứa những ý nghĩa ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Ý đồ phong thủy của Hiển Lâm Các ở Hoàng thành Huế Theo quy định của triều đình nhà Nguyễn, không có bất kỳ công trình nào trong khu vực Hoàng thành được phép xây cao hơn Hiển Lâm Các. Vì sao ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Cổ vật trong tòa nhà hơn 120 năm tuổi Tầng trệt của Bạch Dinh là nơi trưng bày những cổ vật từ con tàu Trung Hoa bị đắm trên vùng biển Côn Đảo cách đây 3 thế kỷ. Bạch ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Cây sanh tạo dáng mái đình ở Thái Bình Tác phẩm cây sanh cổ thụ của anh Trần Văn Khởi (thôn Trà Khê, xã Tân Lập, huyện Vũ Thư, Thái Bình) là tâm điểm thu hút giới chơi cây ...
    Được đăng 02:15, 15 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Điều bất ngờ về phong thủy “chuẩn không cần chỉnh” của lăng Khải Định Phía sau vẻ ngoài kỳ lạ với nhiều yếu tố ngoại lai, lăng vua Khải Định tuân thủ rất nghiêm ngặt các yếu tố phong thủy truyền thống như tiền ...
    Được đăng 05:36, 10 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 16. Xem nội dung khác »


Ý nghĩa tâm linh của Duyệt Thị Đường

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Có tầm vóc như “ngôi đền thiêng” của nền nghệ thuật cung đình nhà Nguyễn, mỗi đường nét kiến trúc của Duyệt Thị Đường đều ẩn chứa những ý nghĩa tâm linh sâu sắc, thể hiện sự tôn thờ cái đẹp của đấng quân vương.

Nằm bên trong Tử Cấm Thành Huế, Duyệt Thị Đường được xây dựng vào năm 1826, triều vua Minh Mạng, là nhà hát cổ nhất của ngành sân khấu Việt Nam. Công trình là nơi biểu diễn các vở tuồng cung đình dành cho vua, hoàng thân quốc thích, các quan khách thưởng thức.

 

Có tầm vóc như “ngôi đền thiêng” của nền nghệ thuật cung đình nhà Nguyễn, mỗi đường nét kiến trúc của Duyệt Thị Đường đều ẩn chứa những ý nghĩa tâm linh sâu sắc, thể hiện sự tôn thờ cái đẹp của đấng quân vương

 

Vể tổng quan, nhà hát hình chữ nhật, rộng rãi với bộ mái có bờ quyết cong, mang đẩy vè tôn nghiêm như những đền chùa ở Huế

 

Ở bên trong, công trình được chống đỡ bởi hai hàng cột lim sơn son, vẽ rồng ẩn mây cuốn xung quanh và được chia làm hai tầng. Lưng chừng mỗi cột treo thêm một bức tranh sơn thuỷ vẽ cảnh Huế. Trần nhà được vẽ hoặc chạm nổi Mặt Trời, Mặt Trăng, tinh tú

 

Cách trang trí này thể hiện sự hài hòa giữa quyền lực đế vương (hình tượng rồng) với cảnh trí xung quanh và xa hơn là cả vũ trụ. Đây vừa là đạo của người cầm quyền, vừa là sự thăng hoa mà nghệ thuật đem lại cho người thưởng thức

 

Có thể hình dung rằng, giữa khung cảnh nhuốm màu sắc tâm linh huyền bí của Duyệt Thị Đường, tâm trí của người làm chính trị như được gột rửa, trở nên bao la, sáng suốt như bầu trời khi những tiếng đàn, lời ca vang lên trong nhà hát

 

Tinh thần này thể hiện rõ nét ở sân khấu nhà hát. Hậu cảnh của sân khấu là một ngôi đền nằm trên cao, được dẫn lên bằng hai cầu thang có bệ rồng. Mặt trước đền có hai câu đối của vua Minh Mạng: “Âm nhạc tinh trần hòa kỳ tâm dĩ dưỡng kỳ chí/ Nghiên xuy tề hiến thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi".

 

Hai câu đối này có nghĩa là: "Âm nhạc cùng phô bày, hoà lòng người để nuôi dưỡng chí khí. Thiện ác cùng trình diện, khiến giữ được cái tốt mà giới hạn cái xấu". Đây thực sự là những quan điểm cô đọng về sức mạnh cảm hóa của nghệ thuật.

 

Và cái tên của nhà hát Duyệt Thị Đường – có nghĩa là “Nơi để xem xét điều phải trái” – lại một lần nữa tôn vinh tinh thần mến mộ cái đẹp ấy.

 

Có thể nói, với một vị vua, bước chân vào nhà hát Duyệt Thị Đường giống như bước vào một chốn linh thiêng. Chốn này là để tu dưỡng tinh thần, không phải để phóng túng tâm tham dật và hưởng lạc...

Ý đồ phong thủy của Hiển Lâm Các ở Hoàng thành Huế

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Theo quy định của triều đình nhà Nguyễn, không có bất kỳ công trình nào trong khu vực Hoàng thành được phép xây cao hơn Hiển Lâm Các. Vì sao lại như vậy?

Nằm ở phía Tây Nam Hoàng thành Huế, Hiển Lâm Các được xây dựng từ năm 1821 - 1822, là nơi thờ cúng các chiến công của các vua đời trước cũng như ghi công các công thần khai quốc

 

Với tổng chiều cao 17 mét (gồm 4 cột gỗ nguyên khối cao 13 mét), đây là công trình kiến trúc cao nhất Hoàng thành Huế

 

Theo quy định của triều đình nhà Nguyễn, không có bất kỳ công trình nào trong khu vực Hoàng thành được phép xây cao hơn Hiển Lâm Các

 

Chiều cao của Hiển Lâm Các chính là thể hiện sự trọng vọng và ghi nhớ công ơn của đất nước đối với các minh quân và công thần đã dựng nên vương triều.

 

Trong ý nghĩa phong thủy, Hiển Lâm Các thuộc Giáp Mộc (gỗ to) còn tượng trưng cho các trụ cột của triều đình luôn cao lớn mạnh mẽ để gánh vác quốc gia mãi mãi

 

Bởi vì Mộc nhờ Thổ (đất, màu vàng, tượng trưng hoàng gia) mà trở nên cao lớn và có giá trị, đồng thời chính là thể hiện ân trạch hoàng gia vĩnh viễn sâu dày

 

Toàn bộ các cột gỗ ở Hiển Lâm Các sơn màu đỏ, tượng trưng cho trí tuệ của các quan sẽ sinh vượng cho Thổ (hoàng gia) bền vững

 

Đó là một vòng tuần hoàn trong tự nhiên, cũng chính là đạo quân thần nhắc nhở cho cả vua và quan. Chỉ có tôn trọng đạo quân thần thì quốc gia mới hưng thịnh

 

Trên bình diện rộng hơn, Hiển Lâm Các có sự liên kết chặt chẽ với Thế Miếu và Cửu Đỉnh ở phía sau, có dụng ý làm ổn định được tâm thái của các vị vua kế nghiệp

 

Có thể nói, Hiển Lâm Các giống như một chỗ dựa tinh thần vững chắc, giúp bậc quân vương có chỗ luôn giữ được chính tâm và thành ý để có thể tu thân tích đức và trị quốc hiệu quả...

Cổ vật trong tòa nhà hơn 120 năm tuổi

đăng 03:02, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật ]

Tầng trệt của Bạch Dinh là nơi trưng bày những cổ vật từ con tàu Trung Hoa bị đắm trên vùng biển Côn Đảo cách đây 3 thế kỷ. 


Bạch Dinh xây dựng năm 1898, được người Pháp dùng làm nơi nghỉ dưỡng cho Toàn quyền Đông Dương. Công trình có tên gốc là Villa Blanche, dựa theo tên của con gái Toàn quyền Paul Doumer là bà Blanche Richel Doumer. Do màu sơn bên ngoài màu trắng nên người Việt quen gọi dinh thự này là Bạch Dinh. 

Bạch Dinh tọa lạc trên một ngọn núi cao 27m so với mực nước biển. Tòa nhà có chiều cao 19m, rộng 15m, dài 28m, gồm ba tầng. Công trình xây bằng gạch, sơn màu trắng, mái lợp ngói đỏ mang nét kiến trúc của phong cách châu Âu thế kỷ 19.

Bạch Dinh có diện tích hơn 400 m2 gồm nhiều phòng. Tầng trệt với gian chính giữa là phòng khánh tiết, các gian bên cạnh là nơi trưng bày những cổ vật được vớt từ con tàu đắm tại khu vực vùng biển gần đảo Hòn Cau (huyện Côn Đảo) được phát hiện và tiến hành trục vớt năm 1990. 


Trên tường treo bản đồ vị trí phát hiện tàu đắm, con đường hàng hải, hình ảnh mô phỏng tàu và ảnh tư liệu quá trình khai quật cổ vật. Con tàu cổ này dài 32 m, rộng 9 mét, bị chìm dưới mực nước biển 40 m với dáng nằm nghiêng dưới đáy đại dương. 

Theo nghiên cứu, tàu buôn xuất phát từ một hải cảng ở Nam Trung Hoa, vượt đại dương sang châu Âu buôn bán. Khi tàu đến vùng biển gần đảo Hòn Cau thì gặp bão lớn, bị đánh chìm. 

Trong hai năm, chính quyền trục vớt được 68.000 cổ vật gồm các loại đồ dùng bằng gốm, sứ, đất nung, đồng; súng; tiền cổ... được chế tạo cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18 thời vua Khang Hy nhà Thanh. 

Sau khi khai quật, những bộ sưu tập tiêu biểu với nhiều độc bản được lựa chọn đưa về các bảo tàng. Số còn lại với 28.000 món được đưa ra thị trường quốc tế. Đây là lần đầu tiên Việt Nam bán đấu giá cổ vật ở nước ngoài, thu được 6,7 triệu USD. Một phần những hiện vật tiêu biểu của tàu đắm được trưng bày tại Bạch Dinh. 

Đồ gốm, sứ trắng men lam, với chủng loại đa dạng: bình, hũ, lọ, ống cắm bút, ấm, chén, đĩa, tô… sản xuất tại các lò: Cảnh Đức trấn, Sơn Đầu, Đức Hóa (Trung Hoa) thời Khang Hy. Trải qua 3 thế kỷ dưới đáy biển vẫn giữ được vẻ đẹp, nét tinh xảo. 


Những món đồ gốm sứ men trắng được vẽ những cảnh kinh điển trong hội họa Trung Hoa như mai, lan, cúc, trúc; các tích xưa ngư ông đắc lợi, cưỡi ngựa bắn cung, lã vọng câu cá... 


Nhiều cổ vật bằng đá từ tàu đắm được trưng bày trong một tủ kính riêng tại Bạch Dinh. Nổi bật là bức tượng Chuẩn Đề Bồ Tát bằng đá được chế tác tinh xảo. 


Những bức tượng người bằng sứ bằng men màu vẫn còn nguyên vẹn, có niên đại khoảng 300 năm. 


Chiếc ấm bằng đồng thời Khang Hy bị hư hỏng một phần. 


Nhiều vật dụng sinh hoạt khác của các thủy thủ trên tàu như tiền, nghiên mực, con dấu đá, hộp, gương đồng... được trưng bày. 


Chiếc cối xay bột bằng đá vẫn còn nguyên vẹn, phản ảnh đời sống sinh hoạt phong phú trên tàu; nơi những thủy thủy có một hành trình dài sang châu Âu. 


Cả những hiện vật bị vỡ, hư hỏng cũng được giữ lại; hầu hết là các món đồ bằng đất nung.


Năm 1992, Bạch Dinh được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Giá vé vào tham quan di tích 15.000 đồng một người. 

Quỳnh Trần

Cây sanh tạo dáng mái đình ở Thái Bình

đăng 02:15, 15 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Tác phẩm cây sanh cổ thụ của anh Trần Văn Khởi (thôn Trà Khê, xã Tân Lập, huyện Vũ Thư, Thái Bình) là tâm điểm thu hút giới chơi cây cảnh Việt Nam.

Cây sanh cổ thụ cao 6m, đường kính gốc một người ôm được tạo dáng mái đình làng cổ vùng quê Bắc Bộ.

Cây sanh độc đáo là niềm ao ước của những người chơi cây


Toàn bộ phần tán cây được nghệ nhân cây cảnh quê lúa tạo dáng hình mái đình có chiều dài 7m, rộng 5m. Phần mái lên đến ngọn có độ dốc thoải, được chia đều cân đối.



Mái đình làng quê Bắc bộ được tái hiện bằng cây rất sinh động, họa tiết cổ như lưỡng long chầu nguyệt ở phần mái chính; các họa tiết mái vẩy cong ở bốn xung quanh, bốn con long bằng 4 tay cành chuông đều 4 góc...

Toàn bộ phần mái được đỡ bởi khung sắt kiên cố. Theo thời gian, những tay cành của cây sanh khổng lồ ôm kín tạo thành mái đình đan dày và mịn.

Cây sanh là niềm tự hào của người dân quê lúa




Những chi tiết nghệ thuật của mái đình bằng cây


Từ một cây sanh cổ thụ trăm năm tuổi, nghệ nhân Trần Văn Khởi bằng tài hoa và tâm huyết, tỉ mỉ nắn chỉnh trong hơn chục năm mới hoàn thành.



Trong không gian nhà vườn khoáng đạt, cây sanh mái đình được anh Khởi đặt ở vị trí trung tâm, đối diện với ngôi nhà ba gian xây theo kiểu cổ.

Cổng vào khu vực này cũng được làm bằng cây tạo thành một công trình nghệ thuật độc đáo.

Thân cây sanh cổ thụ có đường kính hơn 1 người ôm


Cây sanh ôm kín một trụ tường xây bằng gạch


Những tay cành khổng lồ


Anh Trần Văn Khởi - chủ nhân của tác phẩm Mái đình làng cổ bằng cây


Chủ nhân của tác phẩm này cho biết, rất nhiều người đến xem, trải nghiệm cảm giác ngồi dưới "mái đình", uống nước vối quê, hút thuốc lào, ngắm trăng... hàn huyên những chuyện quê kiểng... 


Chủ nhân của siêu cây là một "cao nhân" của làng cây cảnh Trà Khê, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình


Thái Bình

Điều bất ngờ về phong thủy “chuẩn không cần chỉnh” của lăng Khải Định

đăng 05:36, 10 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Phía sau vẻ ngoài kỳ lạ với nhiều yếu tố ngoại lai, lăng vua Khải Định tuân thủ rất nghiêm ngặt các yếu tố phong thủy truyền thống như tiền án, hậu chẫm, hổ phục, rồng chầu, minh đường, thủy tụ...

Tọa lạc trên triền núi Châu Chữ (xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên – Huế), lăng vua Khải Định còn gọi là Ứng Lăng, được coi là lăng mộ có kiến trúc độc đáo nhất trong số các lăng mộ của vua nhà Nguyễn ở Cố đô Huế

 

Ngược dòng lịch sử, vua Khải Định bước lên ngai vàng vào năm 1916 trong tư thế của một ông vua do người Pháp giật dây. Trên ngôi vua, ông ít quan tâm chuyện triều chính nhưng rất say mê với việc xây dựng các công trình hoành tráng. Trị vì được một thời gian, ông nghĩ đến việc tạo dựng nơi an nghỉ cuổi cùng của mình

 

Mặc dù rất ưa chuộng phong cách kiến trúc mỹ thuật mới mẻ đến từ phương Tây, nhưng dưới sự cố vấn của các quan đại thần vua vẫn tuân thủ truyền thống, ứng dụng dịch lý và phong thủy vào việc xây lăng cho mình, như các đời vua trước đã làm

 

Điều đó thể hiện rất rõ qua việc vua Khải Định sai các thầy địa lý cùng các quan chuyên trách đương thời khảo sát kỹ lưỡng địa thế và đặc điểm sơn thủy ở nhiều nơi trong vùng Nam sông Hương. Và họ đã tìm được một cuộc đất tốt nằm cách kinh thành Huế khoảng 10 km về phía Tây Nam

 

Khu vực đó là núi Châu Chữ, nơi có độ dốc vừa phải, không cao lắm song nằm giữa khung cảnh thiên nhiên thoáng đãng, có dòng nước uốn mình qua chân núi, có các dãy đồi nhấp nhô xa xa dưới tầm nhìn và một rừng cây xanh bao bọc

 

Yếu tố nước (thủy) và núi (sơn) kết hợp cùng các chi tiết cát tường về mặt phong thủy khiến nhà vua hài lòng, chấp thuận và ra lệnh huy động hàng ngàn nhân công lên vùng núi Châu Chữ vào mùa thu năm 1920 để phát quang, định hình một khu đất trên sườn núi, nơi sau này lăng tọa lạc

 

Các kiến trúc sư của triều đình đã lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án, lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn chầu trước mặt làm “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ” cho khu lăng mộ. Lại có khe nước Châu Ê chảy từ trái qua phải làm “thủy tụ”, gọi là “minh đường”

 

Núi Châu Chữ - vừa là hậu chẩm, vừa là mặt bằng của lăng - được đổi tên thành Ứng Sơn và khu lăng được đặt tên theo tên núi là Ứng Lăng

 

Có thể nói, lăng Khải Định là bằng chứng sống động về giai đoạn đầu của sự tiếp nhận kiến trúc Tây phương trên nền tảng của truyền thống tâm linh Đông phương, với sự kết hợp kỹ thuật xây dựng hiện đại nhất với việc tuân thủ nghiêm ngặt các yếu tố phong thủy như tiền án, hậu chẫm, hổ phục, rồng chầu, minh đường, thủy tụ... 

 

Năm 1925, vua Khải Định băng hà sau 9 năm ở ngôi. Lúc ấy khu lăng mộ kỳ vĩ của ông đã được xây trong 5 năm nhưng chưa xong và phải tốn thêm 6 năm nữa công trình mới hoàn thành dưới thời vua Bảo Đại, năm 1931

 

Lăng Khải Định có diện tích rất khiêm tốn so với lăng các đời vua đầu tiên, nhưng lại tốn nhiều công sức, tiền của và thời gian để xây dựng nhất. Và đây cũng là lăng mộ cuối cùng của các vua triều Nguyễn. Có thể nói rằng, khu lăng mộ kỳ lạ này chính là biểu tượng cho hồi kết của một triều đại...

'Biến' tre thành 'tôm hùm' y như thật, mỗi tháng xuất ngoại hàng trăm tôm tre

đăng 00:20, 8 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Từ những thanh tre thô kệch nhưng qua bàn tay tài hoa, nông dân Bình Định đã cho ra đời những con tôm hùm tre giống y như thật được khách trong và ngoài nước ưa chuộng.

Bình quân, mỗi tháng gia đình cụ Châu bán được khoảng 200 - 300 con tôm tre, ngày tết thì số lượng có thể tăng gấp 2-3 lần - Ảnh: THÁI THỊNH


Từ nhiều năm nay, căn nhà cụ Nguyễn Minh Châu (91 tuổi) nằm trên đường Ngô Gia Tự, phường Bình Định, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định luôn được nhiều du khách trong và ngoài nước tìm đến mua những con tôm "khổng lồ" làm bằng tre đem về trang trí.

Cụ Châu chia sẻ để làm ra những tôm tre giống như thật, ban đầu cụ phải quan sát rất kỹ con tôm hùm thật. Thậm chí, cụ còn mua vỏ tôm hùm về để xem cấu tạo nó ra sao và đối chiếu với sản phẩm mình làm ra. Phải mất hàng chục năm, cụ Châu mới có thể hoàn thiện được con tôm tre như bây giờ.

Phần đầu của tôm hùm tre nhìn phức tạp nhưng được chế tác rất đơn giản, làm bằng gỗ cây bông gòn rất mềm và nhẹ. Sau đó, phủ lên lớp keo, rải thêm lớp cát mịn rồi gắn râu. Khó nhất là công đoạn tạo dáng cong cong của thân tôm. 

Tre được gọt thành những càng con tôm để ghép - Ảnh: THÁI THỊNH


Thân tôm được làm bằng những khúc tre tròn, cưa xéo, xếp theo trình tự từ lớn đến nhỏ dần về phía đuôi và được kết nối nhau bằng dây thép. 

Phần đuôi là những miếng tre được chẻ rất mỏng… xếp xòe ra. Râu tôm được làm bằng dây chuối quấn vào sợi thép để dễ ngoe nguẩy, tạo nét sinh động bề ngoài cho con tôm.

Ghép chân tôm hùm bằng tre - Ảnh: THÁI THỊNH


Để tôm tre không bị mối mọt tấn công, cây tre nguyên liệu sau khi chặt về phải ngâm liên tục trong 6 tháng dưới ao bùn. Sau đó, vớt lên phơi thật khô và có bí quyết riêng để tăng tuổi thọ cho tôm tre.

Năm 1987, sản phẩm tôm hùm tre của cụ Châu được giải thưởng thủ công mỹ nghệ toàn quốc tại một hội chợ ở Quảng Ngãi. Sản phẩm tôm tre của cụ được đánh giá "mới nhất, độc nhất và giống thật nhất". Từ đó, khách đặt hàng ngày càng nhiều và nghề làm tôm hùm tre trở thành nghề chính của gia đình cụ suốt 35 năm qua.

Thanh tre thô kệch được gọt thành những bộ phận con tôm hùm - Ảnh: THÁI THỊNH


Sản phẩm tôm tre của gia đình cụ Châu được phân thành 3 loại (phân theo kích cỡ), gồm: loại nhỏ nhất có giá 350.000 đồng/con, loại trung bình 400.000 đồng/con, cỡ lớn 1 triệu đồng/con. Bình quân, mỗi tháng gia đình cụ bán được khoảng 200 - 300 con tôm tre, ngày tết thì số lượng có thể tăng gấp 2-3 lần.

Những con tôm hùm sau khi được chế tác thô được treo lên phơi - Ảnh: THÁI THỊNH


Sản phẩm tôm hùm làm bằng tre của gia đình cụ Châu được nhiều người biết đến. Nhiều khách trong Nam, ngoài Bắc cũng gọi điện đặt hàng. Thậm chí, nhiều Việt kiều cũng rất thích sản phẩm này nên đặt hàng để mang qua tận Mỹ để làm quà tặng.

Phần đầu của tôm hùm tre nhìn phức tạp nhưng được chế tác rất đơn giản, làm bằng gỗ cây bông gòn rất mềm và nhẹ - Ảnh: THÁI THỊNH


Thân tôm được làm bằng những khúc tre tròn, cưa xéo, xếp theo trình tự từ lớn đến nhỏ dần về phía đuôi và được kết nối nhau bằng dây thép - Ảnh: THÁI THỊNH


Râu tôm được làm bằng dây chuối quấn vào sợi thép để dễ ngoe nguẩy, tạo nét sinh động bề ngoài cho con tôm - Ảnh: THÁI THỊNH


Tôm làm bằng tre sau khi hoàn thành giống y như thật - Ảnh: THÁI THỊNH


THÁI THỊNH

Chợ Lớn xưa và nay

đăng 01:04, 3 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:36, 9 thg 3, 2020 ]

Ngoài một số công trình kiến trúc vẫn nguyên vẹn thì những con đường, dòng kênh, tòa nhà... ở Chợ Lớn đã thay đổi.



Chợ Lớn được hình thành từ thế kỷ 17 đến 19, khi cộng đồng người Hoa đến định cư, xây dựng một đô thị sầm uất. Vào thời Pháp, Chợ Lớn là một thành phố tách bạch với Sài Gòn trước khi được hợp nhất năm 1956. Ngày nay, khu vực chợ Lớn tương ứng với quận 5, 6. 

Khu chợ nhộn nhịp nhất mang tên Bình Tây (Chợ Lớn mới) do thương gia người Hoa - Quách Đàm xây dựng năm 1928. Chợ rộng 25.000 m2, kiến trúc hình bát quái, gồm 12 cổng, bên trong có hoa viên rộng rãi để khách ngồi nghỉ. Không ảnh chụp vào năm 1950 và hiện nay cho thấy kiến trúc chợ vẫn giữ nguyên. Cuối năm 2016, chợ được nâng cấp, sửa chữa toàn diện và hoạt động trở lại sau hai năm. Hiện, chợ có hơn 2.300 sạp hàng, mỗi năm có khoảng 120.000 khách nước ngoài đến tham quan, mua sắm. 



Bức ảnh chụp đầu thế kỷ 20 là khu chợ trung tâm cũ trước khi chợ Lớn mới được xây dựng. Chợ cũ, nằm ở vị trí tương đương với Bưu điện quận 5 ngày nay, được mô tả có vị trí thuận tiện, tấp nập ghe thuyền chở lúa gạo miền Tây. Chợ cũ tuy là trung tâm buôn bán sầm uất, nhưng kiến trúc xập xệ, mặt bằng nhỏ hẹp nên chính quyền xây Chợ Lớn mới (tức chợ Bình Tây) rộng, khang trang hơn. 



Tòa nhà được chụp năm 1895 là Bưu điện đầu tiên của thành phố Chợ Lớn nằm tại góc đường Hồng Bàng - Tổng Đốc Phương (nay là Châu Văn Liêm) ngày nay. Đến khoảng năm 1930, bưu điện được dời về vị trí của chợ Lớn cũ, là trụ sở của bưu điện quận 5 ngày nay. Công trình này hiện không còn, thay vào đó là toà nhà của một ngân hàng. 



Tòa Hành chánh Chợ Lớn (ảnh trái), nằm trên khu đất ngày nay là đại học Y được TP HCM, mặt chính tòa nhà nhìn thẳng ra đường Jaccaréo (ngày nay là đường Tản Đà). Tòa nhà được người dân địa phương gọi là Dinh xã Tây, do quan trưởng xã đều là người Pháp. Khi tòa nhà bị phá bỏ, ở gần khu đất công trình này người ta dựng chợ Xã Tây vào năm 1925, còn tồn tại đến ngày nay. 



Hội quán Tuệ Thành hay chùa Bà Thiên Hậu (đường Nguyễn Trãi, quận 5) trong ảnh chụp năm 1866. Chùa được nhóm người Hoa gốc Tuệ Thành (tức Quảng Châu) di dân sang Việt Nam xây dựng năm 1760 và được trùng tu nhiều lần. Chùa nằm trong khu trung tâm của những người Hoa đầu tiên đến tạo lập nên Chợ Lớn sau này. 



Nhà thờ Cha Tam (đường Học Lạc, quận 5) trong ảnh chụp đầu thế kỷ 20 của nhiếp ảnh gia người Pháp Pierre Dieulefils. Nhà thờ có tên chính thức Saint Francisco Xavier, xây dựng năm 1900 và hoàn thành sau hai năm. Nhà thờ được xây dựng cho người Hoa theo Công giáo ở Chợ Lớn có nơi hành lễ. Người đứng ra xây dựng là linh mục Pierre d’ Assou, cũng là vị cha xứ đầu tiên của nhà thờ. Ông có tên Hoa là Đàm Á Tố - phiên âm là Tam An Su. Vì vậy mọi người quen gọi là nhà thờ Cha Tam. 



Nhà hát của người Hoa tại đường Rue de Paris (đường Phùng Hưng, quận 5). Công trình này những năm 1970 chuyển đổi công năng thành kho bạc và nay là chi cục thuế quận 5. 



Góc đường Đồng Khánh - Tổng Đốc Phương (tức Trần Hưng Đạo - Châu Văn Liêm) trong ảnh trái chụp năm 1950 của tác giả Carl Mydans. Thời điểm này, khu Chợ Lớn vẫn thuộc quản lý của chính quyền Pháp. 



Cầu Ba Cẳng bắc qua kênh Hàng Bàng là địa chỉ quen quen thuộc với người dân Chợ Lớn. Ba Cẳng xây đầu thế kỷ 20, là cầu đi bộ đầu tiên của Sài Gòn. Cầu có 3 chân là các lối đi lên, xây bằng bêtông cốt thép, có một vòm nhịp, tạo khoảng không cho ghe thuyền qua lại. Đây cũng là nơi giao thương đường thủy tấp nập của khu Chợ Lớn xưa. 

Ba Cẳng sập năm 1990, vị trí lùm cây trong ảnh phải là điểm giữa của cầu ngày xưa. Con kênh Hàng Bàng ngày nay đã bị lấp đến 90%, trở thành đường Bãi Sậy và đường Phạm Văn Khỏe (quận 6).



Kênh Hàng Bàng dài khoảng 1.800 m, một thời là con đường thủy tấp nập. Dọc hai bờ, dân địa phương trồng cây bàng nên gọi là Hàng Bàng. 

Trong ảnh năm 1950, con kênh vẫn đông đúc thuyền ghe ra vào. Tác giả bức ảnh đứng trên cầu Palikao (nay là đường Ngô Nhân Tịnh), chụp theo hướng về phía mặt sau của chợ Bình Tây. 

Khoảng năm 2000, kênh Hàng Bàng bị lấp để làm cống hộp. Năm 2015, TP HCM khởi công dự án khôi phục lại dòng kênh nhằm giải quyết hệ thống thoát nước, chống ngập cho khu vực, trả lại dòng kênh “trên bến dưới thuyền”. Kênh Hàng Bàng đang được đào lại như cũ, hai bên trồng cây xanh, dự kiến hoàn thành trong năm nay. 



Đường Triệu Quang Phục năm 1925 và ngày nay là khu chuyên bán thuốc Bắc. Con đường có tên Pháp là Rue de Canton, được coi là trung tâm sinh hoạt thương mại và văn hóa chính của người Hoa đầu thế kỷ 20. 



Tàu Hủ là con kênh quan trọng trong khu Chợ Lớn xưa. Tàu Hủ nối với kênh Bến Nghé chảy ra sông Sài Gòn là tuyến đường thủy trọng yếu. Hai bên bờ kênh đông đúc người Hoa sinh sống, nhiều nhà máy được xây dựng. Ảnh trái chụp năm 1925 cho thấy cảnh tàu ghe tấp nập. 

Ngày nay, kênh Tàu Hủ dù không còn nhộn nhịp thuyền bè như trước kia nhưng vẫn là tuyến đường thủy quan trọng. Sau một thời gian ô nhiễm, con kênh được cải tạo, làm bờ kè, trồng cây xanh. Dọc theo kênh là đại lộ Võ Văn Kiệt, nối liền cửa ngõ phía Đông - Tây thành phố.

Quỳnh Trần
Ảnh xưa: Tư liệu, Manh Hai/Flickr

Khám phá hình tượng các loài hoa trên Cửu đỉnh nhà Nguyễn

đăng 23:53, 2 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Các loài hoa là một phần không thể thiếu để tạo nên hương sắc mùa xuân. Cùng điểm qua các loài hoa xuất hiện trên Cửu Đỉnh nhà Nguyễn - 9 chiếc đỉnh chạm khắc những hình ảnh mang tính biểu tượng cho sự giàu đẹp của nước Việt.

Cao đỉnh là chiếc đỉnh đầu tiên trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn. Trên chiếc đỉnh này có hình tượng "Tử vi hoa", nghĩa là hoa tường vi. Đây là một loài hoa mọc thành chùm màu tím rất đẹp

 

Nhân đỉnh, chiếc đỉnh thứ hai trong Cửu Đỉnh có hình tượng "Liên hoa", là hoa sen, loài hoa tượng trưng cho sự cao quý bất chấp nghịch cảnh, đồng thời cũng là một loài hoa của đạo Phật

 

Chương đỉnh, chiếc đỉnh thứ ba có hình tượng "Mạt lị", nghĩa là hoa nhài, loài hoa thơm màu trắng được trồng phổ biến trong các khu vườn của người Việt

 

Anh đỉnh, chiếc đỉnh thứ tư có hình tượng "Mai khôi hoa" là cây hoa hồng, loài cây cho hoa thơm và đẹp, được trồng phổ biển trong các khu vườn xưa.

 

Nghị đỉnh, chiếc đỉnh thứ năm có hình tượng "Mai", nghĩa là cây hoa mai, loài cây nằm trong bộ Tứ quý Tùng, Cúc, Trúc, Mai theo quan niệm truyền thống của người Việt.

 

Trên nghị đỉnh còn có hình tượng một loài hoa khác là "Hải đường hoa" - hoa hải đường. Đây là loài hoa tượng trưng cho phú quý, thường được trưng trong nhà vào dịp Tết theo văn hóa truyền thống của người Việt.

 

Thuần đỉnh, chiếc đỉnh thứ sáu có hình tượng "Quỳ hoa" là cây hoa hướng dương, loài cây được trồng để lấy hoa làm cảnh và lấy hạt làm thực phẩm, dược liệu

 

Tuyên đỉnh, chiếc đỉnh thứ bảy có hình tượng "Trân châu hoa" là hoa sói trắng, loài hoa nhỏ mọc thành chùm như chuỗi hạt trân châu, mùi thơm dịu, thường được dùng để ướp trà

 

Dụ đỉnh, chiếc đỉnh thứ tám có hình tượng "Thuần hoa" là cây hoa dâm bụt, loài cây có hoa đỏ rất đẹp thường được trồng làm hàng rào ở nông thôn Việt xưa

 

Huyền đỉnh là chiếc đỉnh cuối cùng trong Cửu Đỉnh nhà Nguyễn. Trên Huyền đỉnh có hình tượng "Ngũ diệp lan", nghĩa là cây hoa ngọc lan, một loài cây thường được trồng trong vườn lấy bóng mát, có hoa rất thơm

Rạng danh dòng họ Lê ở Thu Xà

đăng 03:37, 1 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cách trung tâm TP.Quảng Ngãi khoảng 9km về hướng đông, nhà thờ họ Lê toạ lạc tại thôn Thu Xà, xã Nghĩa Hoà (Tư Nghĩa). Đây không chỉ là di tích có giá trị lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, mà còn là địa điểm tham quan của du khách gần xa.

Lưu danh sử sách

Theo các nguồn chính sử, gia phả và lời kể của các cụ cao niên, họ Trần, họ Nguyễn (cư trú ở làng Tiên Sà) rồi đến họ Lê, họ Đặng (cư trú ở làng Hà Khê) được xem là những dòng họ người Việt có mặt đầu tiên, góp phần quá trình khai phá, hình thành và phát triển Thu Xà. Thủy tổ của dòng họ Lê ở Thu Xà là ngài Lê Kim Hoàn, người làng An Chỉ (nay là xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành). Giữa thế kỷ XVIII, ông Lê Kim Hoàn đưa vợ con từ vùng trung du nghèo khó đến Thu Xà định cư, lập nghiệp và nhà thờ họ Lê ở Thu Xà cũng được dựng nên từ đó. 

Nhà thờ họ Lê ở Thu Xà, Nghĩa Hòa (Tư Nghĩa). Ảnh: K.Hồng 


Dòng họ Lê đã sản sinh ra nhiều người con làm rạng rỡ quê hương, dân tộc. Tiêu biểu như Lê Trọng Khanh (1840 - 1895)- một danh thần triều Nguyễn ở thế kỷ XIX, còn gọi là Lê Kim Kiên, hiệu An Khuê. Ông đỗ cử nhân năm Tự Đức 21 (1868), lần lượt giữ các chức Tri phủ Phủ Lý, Viên ngoại lang tại Cơ Mật viện. Sau khi Pháp xâm lược, triều đình rối ren, ông cáo bệnh từ quan, lui về ở ẩn. Lúc bấy giờ, tên Việt gian độc ác Nguyễn Thân - Tiễu phủ sơn phòng muốn tiến cử ông chức Tham biện Sơn phòng để tiện dẹp phong trào yêu nước do Phan Đình Phùng, Nguyễn Quang Bích lãnh đạo. Trước sức ép của Nguyễn Thân, ông đã tự vẫn để giữ trọn khí tiết, giữ trọn tấm lòng yêu nước thương dân.

Theo di nguyện của Lê Trọng Khanh, các anh, em trai là Lê Trọng Tương - Đề lại ở Nha kinh lược Bắc Kỳ (1886 - 1897), Lê Trọng Tuấn - Tri huyện Sơn Tịnh, lần lượt từ quan về quê ở ẩn. Ông Lê Cao Lập (81 tuổi), cháu gọi nhà thơ Bích Khê bằng chú ruột, kể rằng: “Sau sự kiện này, Nguyễn Thân đã dâng tấu sớ xin triều đình ra chiếu chỉ cấm dòng họ Lê Trọng không được tham gia khoa cử. Để tránh sự o ép của chính quyền thực dân nửa phong kiến đối với con cháu cụ Lê Trọng Khanh (làng Hà Khê), các con cháu của dòng “Lê Trọng” đổi phụ danh “Trọng” sang “Quang, Quý, Tấn” và lấy nguyên quán làng An Chỉ trong bản kê khai nhân khẩu để tham dự các kỳ khoa cử”.

Những người yêu nước

Đến đầu thế kỷ XX, trong dòng họ có Lê Trọng Kha (1900 - 1931), cháu gọi Lê Trọng Khanh bằng bác ruột, lại được lưu danh vào sử sách. Năm 1925, Lê Trọng Kha cùng các ông Trần Toại, Hồ Độ, Võ Sĩ thành lập Tân Việt Quảng Ngãi. Năm 1927, tham gia Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên Quảng Ngãi. Năm 1928, Lê Trọng Kha sang Thái Lan dự lớp tập huấn do đồng chí Nguyễn Ái Quốc mở. Sau đó, ông về nước tuyên truyền Chủ nghĩa Mác - Lênin và các tư tưởng yêu nước.

Cuối tháng 7.1929, Lê Trọng Kha tham dự cuộc họp thành lập tổ chức “Dự bị cộng sản” tại núi Xương Rồng (Đức Phổ). Ngày 26.10.1929, ông bị địch bắt, kết án 5 năm tù và bị đày đi ngục Kon Tum. Tại đây, ông cùng với Trương Quang Trọng đã chiến đấu và hy sinh anh dũng trước họng súng của kẻ thù trong cuộc đấu tranh lưu huyết ngày 12.2.1931.

Cháu nội của Lê Trọng Khanh là Lê Quang Lương (1916 - 1946), một tài năng thi ca bạc mệnh, với bút hiệu Bích Khê, Lê Mộng Thu. Nhà thơ Bích Khê là con út của ông Lê Trọng Toản (sau đổi tên là Lê Quang Dục) - một nhà nho yêu nước đã từng tham gia các phong trào Đông kinh Nghĩa thục, phong trào chống sưu khất thuế. Bích Khê cùng với Nguyễn Vỹ, Tế Hanh trở thành ba gương mặt nổi bật của Quảng Ngãi trong phong trào Thơ Mới...

Giữ gìn giá trị truyền thống

Trải qua hơn 300 năm từ khi Thủy tổ Lê Kim Hoàn lập nghiệp và sinh sống tại Thu Xà cho đến nay, tộc họ Lê đã có những đóng góp quan trọng trên mọi phương diện và để lại những dấu ấn sâu đậm trong lịch sử nước nhà. Nhà thờ họ Lê là chứng tích lịch sử gắn với những thăng trầm trong cuộc đời, sự nghiệp của những con người sống tại mảnh đất này. Ban đầu, nhà thờ là nhà ở của thủy tổ Lê Kim Hoàn và bà Đinh Thị Tấm. Ngôi nhà được tu bổ khi ông Lê Trọng Khanh đỗ cử nhân và được bổ làm quan. Nhà thơ Bích Khê từng ở trong ngôi nhà này.

Trong kháng chiến chống Mỹ, ngôi nhà đã bị phá hủy hoàn toàn bởi bom đạn. Năm 2003, trên nền ngôi nhà cũ, con cháu trong dòng họ đã đóng góp phục dựng lại nhà thờ theo kiến trúc truyền thống, gồm nhà thờ, nhà trù và không gian lưu niệm nhà thơ Bích Khê. Hằng năm, vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch, từ khắp mọi miền đất nước, con cháu tộc họ Lê và nhân dân trong làng tề tựu về nhà thờ để giỗ tổ nhằm tri ân, động viên nhau phát huy những truyền thống tốt đẹp của cha ông.

DI HÀ - K.HỒNG

"San tuyết" Trà Nham

đăng 03:34, 1 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Không biết bằng cách nào, từ thời cổ đại, chè trở thành thức uống phổ biến bậc nhất địa cầu và lưu truyền cho tới bây giờ. Tôi có cái thú đi miền núi, hỏi những điều tưởng như đơn giản, nhưng lại không dễ gì những bộ óc uyên thâm có thể ngồi trong phòng sang trọng mà nghĩ ra nổi.

Xã Trà Nham (Tây Trà) có các thôn Trà Cương, Trà Huynh, Trà Long, Trà Vân, là nơi đồng bào Cor sinh sống. Nói xã Trà Nham xa cũng không đúng, mà nói gần cũng có thể là sai. Từ phía hữu ngạn sông Trà Bồng đi ngược về phía tây, qua huyện Trà Bồng, lên đến đỉnh dốc Eo Chim lộng gió mây trời, nếu đi tiếp nữa thì sẽ lên các xã Trà Lãnh, Trà Phong (Tây Trà). Còn muốn đi xã Trà Nham thì phải rẽ trái, đi về hướng đông nam, quanh co năm, sáu cây số nữa, nơi thấp thoáng núi Cà Đam hùng vĩ trước mặt. 

Cây chè đã bén duyên với đất Trà Nham (Tây Trà) từ thuở xa xưa. Ảnh: THIÊN HẬU 


Xã Trà Nham nằm ở khối núi bắc Cà Đam, với thung lũng sâu, núi dựng cao, giữa đất trời rộng thoáng. Đây cũng là quê nhà của ông Phó Mục Gia, thủ lĩnh nghĩa quân Cor can trường chống Pháp trong phong trào Nước Xu Đỏ trước năm 1945. Nhiều người cho biết ông có tầm vóc quắc thước, sống lâu trăm tuổi và không biết chừng là nhờ cây chè quê hương.

Trên lưng chừng núi cao phía bắc núi Cà Đam hùng vĩ từ thuở nào người Cor đã trồng chè và dùng chè. Ở Quảng Ngãi rải rác đâu đâu cũng có trồng chè. Người Kinh ở đồng bằng trong vườn thường có một ít cây chè trồng hái lấy lá uống. Ở miền núi cũng vậy, trên các rẫy đồng bào miền núi cũng trồng ít chè để dùng. Vào dịp lễ hội, người ta nấu nước chè trong cái nồi bung to để đủ cung cấp cho cả làng. Có vùng chè như ở huyện Minh Long bà con người Hrê trồng nhiều chè, cứ sáng sáng lên rẫy cắt chè đầy gùi, cõng xuống chợ bán.

Ở núi Cà Đam, sườn phía nam núi Cà Đam với các thôn Quế, thôn Trung cũng trồng nhiều chè. Nhưng đặc biệt ở phía bắc núi, tức vùng Trà Nham, bà con người Cor trồng chè thành rừng. Có những cây chè cổ thụ to cả người ôm.

Người ta kể, xưa kia, người Kinh cũng từng lên đây mua chè, ở lại sấy cho lá khô khỏi rơi rụng, rồi mang về bán ở miền xuôi. Còn với đồng bào tại chỗ, việc nấu chè uống hằng ngày, đơn giản là cắt từng nhánh chè tươi đem về cho vào nồi nấu chín, cũng có khi kỹ hơn nữa thì giã cho lá chè nát trước khi nấu.

Người Cor còn bỏ thêm vào nồi chè một ít vỏ cây a-zên mà bà con cho rằng nó có thể trị đau lưng. Lại còn có cách là giã nát chè, nấu suốt cả ngày, chè sẽ cô đặc thành bánh, để khô tựa như miếng bánh dầu để dành, khi cần thì cắt một mẩu nhỏ bỏ vào nước sôi là có chén chè để uống. Cách cô đặc chè kiểu này cũng khá độc đáo.

Khi chúng tôi lên thăm vườn chè thôn Trà Vân, có cô Đỗ Thị Lành ở UBND xã Trà Nham đi cùng. Đứng trước vườn chè xanh mướt như ngọc, cô Lành bảo: Chè ở đây là loại chè cọng, không phải chè búp, bảo đảm sạch, vì bà con không ai dùng đến thuốc trừ sâu, vì đây là cây chè đã ăn chịu đất này từ nhiều thế kỷ. Tôi nhìn rừng chè khỏe mạnh, lá dày và tin lời cô Lành nói. Chúng tôi hái mấy lá chè và nhai, không quên hỏi mua một bó chè to với giá rất rẻ. 

Chè là thức uống được nhiều người dân ưa chuộng. Ảnh: T.H 


Tôi nhớ, chừng khoảng năm 1984, có lần tôi lặn lội lên tìm hiểu để viết về cây chè ở nông trường Bình Khương phía tây huyện Bình Sơn. Trước khi đi tôi đọc bằng hết giáo trình viết về cây chè của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Đến giờ, tôi hãy còn nhớ là cách trồng chè ra sao, giữ đai rừng phòng hộ chung quanh vườn chè ra sao, thế nào là đốn tạo hình, thế nào là hái chè búp... nhưng nhớ nhất là cái ý: Chè là một thức uống lý tưởng.

Sau vụ bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki ở Nhật, người ta nghiệm ra rằng, nơi người ta uống nhiều chè nhất là nơi ít bị nhiễm xạ nhất. Chè có chất tanin giải độc tố trong cơ thể, ngoài những vitamin vốn có. Cho nên nhiều phụ nữ còn dùng chè nấu nước tắm để khử trùng cho da, tẩy đi các tế bào chết, cho da sạch sẽ, hồng hào. Khi tôi nói điều này, cô Lành cũng buộc miệng: “Người dân ở đây cũng đặc biệt rất ít bị bệnh, chắc do uống nhiều chè!”

Chè trên vùng Cà Đam nói chung, hay chè ở Trà Nham nói riêng trồng trên núi cao, trong khí hậu mát mẻ, thổ nhưỡng đặc thù, nên có lẽ không giống với giống chè ở đồng bằng hay núi thấp. Ở trên thượng ngàn và thanh sạch, lối khai thác sử dụng tự nhiên, có lẽ nên gọi là “San tuyết” Trà Nham và thử dùng để biết. Chè ở đây hiện có khoảng 50ha, đang được chính quyền địa phương lập hồ sơ đăng ký nhãn hiệu và quy hoạch mở rộng.

CAO CHƯ

1-10 of 16