Con người và sự kiện

Bài mới

  • 'Văn Thánh' đất Gia Định xưa giờ ở đâu? Đại Nam Nhất Thống Chí - Lục Tỉnh Nam Việt của Quốc Sử Quán triều Nguyễn ghi: Văn Thánh Miếu được xây dựng ở địa phận thôn Phú Mỹ, huyện Bình ...
    Được đăng 02:50, 3 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • 'Hiệp sĩ' Ba Lan trên đất Việt: Xung phong đến Việt Nam Ngày 19-3-2017 này là tròn 20 năm ngày mất của kiến trúc sư người Ba Lan Kazimierz Kwiatkowsky (1944-1997, tên gọi thân mật là Kazik) - “hiệp sĩ ...
    Được đăng 01:56, 27 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mỹ nhân 115 tuổi ở Phủ Tương Cụ Lô Thị Hòa ở bản Quang Phúc, xã Tam Đình (Tương Dương) đã bước sang tuổi 115. Ở độ tuổi này, cụ bà người Thái ấy vẫn còn nhớ ...
    Được đăng 20:43, 19 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Những loài cây gieo chết chóc ở vùng cao Nghệ An Với những người dân miền Tây xứ Nghệ, lá ngón, hoa anh túc hay lá cơi…từ lâu đã không còn xa lạ. Chúng được mệnh danh là những thực ...
    Được đăng 20:27, 19 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Kho báu trong Lăng Thoại Ngọc Hầu: Những kỷ vật từ đất bắc Lồng ấp của Thoại Ngọc Hầu. Ảnh: Lương Chánh Tòng Trong lăng Thoại Ngọc Hầu và phu nhân, các nhà nghiên cứu tìm thấy những chiếc lồng ấp dùng để ...
    Được đăng 04:56, 16 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 15. Xem nội dung khác »


'Văn Thánh' đất Gia Định xưa giờ ở đâu?

đăng 02:50, 3 thg 4, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đại Nam Nhất Thống Chí - Lục Tỉnh Nam Việt của Quốc Sử Quán triều Nguyễn ghi: Văn Thánh Miếu được xây dựng ở địa phận thôn Phú Mỹ, huyện Bình Dương phía đông tỉnh thành Gia Định năm Minh Mệnh thứ 5 (1824). 

Cầu Văn Thánh bắc qua rạch Văn Thách trên đường Nguyễn Hữu Cảnh, Q.Bình Thạnh, TP.HCM - Ảnh: HỒ TƯỜNG 


Từ bến xe Văn Thánh, chợ Văn Thánh 

Trên diện tích rộng 5.983,2 m2 của địa chỉ số 561A đường Điện Biên Phủ, P.25, Q.Bình Thạnh, TP.HCM, trước 1994 là Bến xe Văn Thánh, dành cho một số tuyến xe khách từ TP.HCM đi vài tỉnh miền Đông Nam bộ và khu vực Trung bộ. 

Từ 1994, chợ Văn Thánh được xây dựng trên bến xe Văn Thánh cũ này. Đây là một trong những ngôi chợ có quy mô lớn ở TP.HCM lúc bấy giờ. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm hoạt động, ngày 30-11-2010, chợ Văn Thánh đã đóng cửa, để bàn giao mặt bằng cho một chủ đầu tư thực hiện dự án chuyển đổi công năng của chợ Văn Thánh. 

Hiện nay, trên khuôn viên Bến xe Văn Thánh, chợ Văn Thánh cũ, tòa cao ốc Pearl Plaza đã được xây dựng với 32 tầng nổi và 4 tầng hầm. 

Cao ốc Pearl Plaza xây dựng trên phần đất của chợ Văn Thánh, bến xe Văn Thánh xưa - Ảnh: HỒ TƯỜNG 


Rạch Văn Thánh và cầu Văn Thánh 

Tuy cả bến xe và ngôi chợ mang tên Văn Thánh trên đường Điện Biên Phủ không còn, nhưng hai chữ “Văn Thánh” vẫn còn sử dụng để gọi tên 2 cây cầu bắc qua con rạch cũng mang tên “Văn Thánh”. 

Rạch Văn Thánh chảy trong khu vực Q.Bình Thạnh (TP.HCM) một đầu nối với rạch Cầu Sơn, một đầu nối với rạch Thị Nghè, dài 2.352m, rộng 45m. 

Như nhiều kênh rạch khác ở TP.HCM, rạch Văn Thánh vừa bị ô nhiễm, vừa bị lấn chiếm làm cho dòng chảy hẹp. Hiện nay, trên một khúc rạch Văn Thánh gần sông Sài Gòn, người ta đang xây dựng cầu dành cho tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên. 

Đặc biệt, có 2 cây cầu cùng mang tên “cầu Văn Thánh” vì đều bắc ngang qua rạch Văn Thánh: một cây cầu trên đường Điện Biên Phủ, thuộc địa phận P.25 và một cây cầu trên đường Nguyễn Hữu cảnh, thuộc địa phận P.22, Q.Bình Thạnh. 

Rạch Văn Thánh và các trụ cầu đang xây dựng cho tuyến metro đầu tiên ở TP.HCM - Ảnh: HỒ TƯỜNG 


Khu du lịch Văn Thánh 

Văn Thánh còn là tên gọi của khu du lịch Văn Thánh ở 48/10 đường Điện Biên Phủ, P.22, Q.Bình Thạnh, cách trung tâm Q.1 khoảng 2km. Khu du lịch có diện tích 7,7ha trong đó có 2ha là hồ nước. Tại đây có các khu vực giải trí, nhà hàng với vườn hoa cây cảnh. 

Cổng vào của khu du lịch Văn Thánh nằm trên đường Điện Biên Phủ, P.22, Q.Bình Thạnh - Ảnh: HỒ TƯỜNG 


Bia ghi chùa Văn Thánh xây trên nền Văn Thánh Miếu xưa - Ảnh: HỒ TƯỜNG 


Nhưng tại sao lại mang tên “Văn Thánh”? 

Văn Miếu được xây dựng đầu tiên tại Thăng Long (Hà Nội) từ năm 1070 dưới đời vua Lý Thánh Tông. Đến năm 1808, vua Gia Long ra lệnh xây Văn Thánh Miếu và Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế, đồng thời ra lệnh cho xây Văn Thánh Miếu ở các vùng đất học nổi tiếng trong cả nước. 

Có một điều đáng chú ý là vua nhà Nguyễn không gọi nơi thờ Khổng Tử và các bậc tiên hiền là Văn Miếu mà gọi là Văn Thánh Miếu. Phải chăng nhà Nguyễn muốn thông tin được rõ ràng hơn: Văn Thánh Miếu là miếu thờ Thánh của ngành Văn - Khổng Tử, thay cho hai chữ “Văn Miếu” ý nghĩa chưa cụ thể lắm? 

Riêng tại tỉnh Gia Định, sách Đại Nam Nhất Thống Chí - Lục Tỉnh Nam Việt của Quốc Sử Quán triều Nguyễn ghi: Văn Thánh Miếu được xây dựng ở địa phận thôn Phú Mỹ, huyện Bình Dương phía đông tỉnh thành, sùng bái tiên thánh Khổng Tử, quy chế rộng rãi, phía hữu dựng miếu Khải thánh, dựng năm Minh Mệnh thứ 5 (1824). 

Theo thời gian, vùng đất xung quanh Văn Thánh Miếu đã được gọi thành khu Văn Thánh. 

Sau khi thành Gia Định thất thủ năm 1859, có tài liệu nói khá trùng khớp với lời kể của các vị cao niên rằng: Văn Thánh Miếu của tỉnh Gia Định đã bị quân Pháp tháo dỡ sau năm 1859 để xây dựng cơ quan quản lý tàu thủy ngay trên mảnh đất đầu rạch Bến Nghé, mà sau này cơ quan này được xây dựng lại một lần nữa để thành Nhà Rồng (tức Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện nay). 

Trên khoảnh đất xưa của Văn Thánh Miếu tỉnh Gia Định, về sau người dân địa phương đã xây dựng một ngôi chùa thờ Phật đặt tên là “chùa Văn Thánh” (hiện ở số 115/9 Ngô Tất Tố, P.22, Q.Bình Thạnh). 

Ngôi chùa nằm cạnh chân cầu Phú An (ngày trước gọi là cầu Dầu), đã được Sở Văn hóa - thể thao TP.HCM công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố. 


Trước 1975, khi ở trọ trong hẻm 169 đường Dương Công Trừng (nay là đường Ngô Tất Tố), chúng tôi thường thả bộ đến chùa lúc ấy rộng mênh mông, thoáng mát. Nay khuôn viên đất chùa chỉ còn khoảng 1.000 m2. 

Chánh điện chùa là ngôi nhà cổ xưa 3 gian 2 chái, vách chùa trước đây cũng bằng gỗ, nhưng qua thời gian nay thay bằng tường gạch. Phía trước sân chùa là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen cao. Pho tượng Di Lặc với nụ cười hiền hậu ở phía sau, thấp hơn. 

Chùa không có trụ trì mà chỉ có người phụ trách trông coi hương khói, những ngày lễ tết hay mùng một, ngày rằm, khách đến thăm viếng chùa khá đông. 

Dưới gốc cây bồ đề được trồng phía bên phải trước chánh điện chùa Văn Thánh có dựng 1 tấm bia với vài dòng chữ Hán ghi lại gốc tích về sự hình thành ngôi chùa này, trong đó có một chi tiết quan trọng: chùa được xây dựng trên khuôn viên của Văn Thánh Miếu tỉnh Gia Định. 

Như vậy đã rõ, Văn Thánh là tên gọi tắt của Văn Thánh Miếu tỉnh Gia Định được xây dựng từ năm 1824. Sau khi thành Gia Định thất thủ năm 1859, Văn Thánh Miếu không còn. Tuy vậy, hai chữ “Văn Thánh” vẫn còn được gọi cho các dấu tích thiên nhiên và nhân tạo cận kề với Văn Thánh Miếu, một biểu tượng của vùng đất học Gia Định xưa. 

TS HỒ TƯỜNG

'Hiệp sĩ' Ba Lan trên đất Việt: Xung phong đến Việt Nam

đăng 01:56, 27 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày 19-3-2017 này là tròn 20 năm ngày mất của kiến trúc sư người Ba Lan Kazimierz Kwiatkowsky (1944-1997, tên gọi thân mật là Kazik) - “hiệp sĩ” của những di sản văn hóa thế giới tại Việt Nam. 

Kazik bên tháp Chăm ở Mỹ Sơn những năm 1980. 


Những câu chuyện 30 năm trước được lần giở sau đây cho chúng ta thấy sự đóng góp to lớn của Kazik như thế nào để trùng tu và giờ đây Mỹ Sơn, Hội An và Huế nổi tiếng khắp thế giới. 

Di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn (huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) giờ thật đẹp, từng đoàn du khách nườm nượp tới đây. 

Nhưng những năm sau 1975, Mỹ Sơn vẫn còn giăng giăng bom mìn sót lại của chiến tranh, cuộc sống người dân vẫn còn đói khổ. Và lúc đó, kiến trúc sư Kazik xuất hiện. 

“Biết ở Mỹ Sơn còn lắm 
nguy hiểm nhưng chỉ cần chậm một ngày thôi là chúng ta sẽ mất vĩnh viễn những ngôi tháp cổ kính này. Thà chúng ta mất đi để giữ gìn những kho báu vô giá của nhân loại này 
Lời Kazik nói với ông Hoàng Châu Sinh, chủ tịch UBND huyện Duy Xuyên lúc đó 

Sự lựa chọn số phận 

Nhắc đến mối “lương duyên” giữa Kazik và Việt Nam, GS Hoàng Đạo Kính là một trong những người am tường nhất. 

Theo ông, lúc bấy giờ Liên hiệp các xí nghiệp phục hồi di tích (PKZ, Bộ Văn hóa và nghệ thuật Ba Lan) có hơn 18.000 chuyên gia, kỹ sư đi trùng tu khắp thế giới. 

Khởi đầu công cuộc hợp tác Việt Nam - Ba Lan, giữa năm 1980, nhân chuyến thăm viếng, tìm hiểu về di tích và văn hóa Việt Nam, tiến sĩ Tadeusz Polak - tổng giám đốc PKZ - đã ngỏ ý hỗ trợ Việt Nam trong việc trùng tu bảo tồn di tích. 

Polak đã mang một khối gạch Chăm về Ba Lan làm thí nghiệm về công nghệ kết dính trong kỹ thuật xây dựng tháp Chăm và trở thành đơn vị đầu tiên thực hiện công việc này bằng phương pháp hiện đại nhất lúc đó. 

Cuối năm 1980, một phái đoàn của Việt Nam sang Ba Lan để cụ thể hóa hợp tác hai bên. 

GS Kính khi ấy là giám đốc Xưởng bảo quản tu bổ di tích T.Ư (Bộ Văn hóa) đã cùng TS Polak ký văn bản thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng. 

Trong các điều khoản ký kết có việc thành lập một tiểu ban hợp tác Ba Lan - Việt Nam về trùng tu và khôi phục di tích Chăm, địa đạo Củ Chi. 

Các chuyên gia Ba Lan sang làm việc, giúp trang thiết bị trùng tu ở Việt Nam hằng năm, Ba Lan trả lương, lo vé máy bay; Việt Nam lo phần chuyên gia Ba Lan nơi làm việc và điều kiện ăn ở. 

TS Polak đã thông tin cho 18 đơn vị trực thuộc của mình rằng ai xung phong làm trưởng đoàn chuyên gia của phía Ba Lan. 

Kiến trúc sư Kazik thuộc Xí nghiệp trùng tu di tích thành phố Lublin đã xung phong lên đường, năm đó ông mới 37 tuổi. 

Ông Phùng Phu - nguyên giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế - nhớ lại: “Kazik lúc ấy đang thực hiện một dự án trùng tu tại Pháp với mức lương gần 3.000 USD, rất cao lúc ấy, nhưng ông đã từ giã để tự nguyện lên đường sang Việt Nam, trong một tiên liệu sẽ rất khó khăn. Tôi cho đó là sự lựa chọn số phận”. 

Kazik đến Việt Nam giữa năm 1981 trên cương vị là trưởng đoàn Ba Lan và trưởng tiểu ban hợp tác Ba Lan - Việt Nam. 

Sống đời nông dân 

Nguyên giám đốc Sở VH-TT tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Hồ Hải Học cho biết sau khi nhìn nhận những giá trị ở Mỹ Sơn, chủ tịch UBND tỉnh Phạm Đức Nam lúc đó luôn thúc giục phải tìm mọi cách để cứu vãn Mỹ Sơn. 

Những cán bộ bảo tàng, trùng tu, nghiên cứu lịch sử Champa được huy động cấp tốc vào Mỹ Sơn để phát quang, dọn dẹp cây cối. 

Trước khi đón đoàn chuyên gia Ba Lan, một cuộc dọn dẹp bom mìn vô cùng chông gai, chết chóc đã được thực hiện. 

Ông Huỳnh Tiến Năm - nguyên xã đội trưởng xã đội Duy Tân (Duy Xuyên, Quảng Nam) - giờ phải đeo cặp kính dày cộp trên đôi mắt bị tổn thương nặng khi bom nổ trong lúc rà phá bom mìn ở Mỹ Sơn. “Mỹ Sơn lúc đó nổi tiếng không phải di sản văn hóa Chăm mà là bom mìn”, ông nói. 

Tháng 9-1981, Mỹ Sơn đón Kazik bằng “đặc sản” khí hậu khắc nghiệt ngày nóng hầm hập, đêm lạnh tê người. Những trận mưa rừng khiến nước Khe Thẻ dâng cao đã cô lập Mỹ Sơn với bên ngoài. 

Họa sĩ Nguyễn Thượng Hỷ - Trung tâm Bảo tồn di tích Quảng Nam - cùng nhà nghiên cứu Trần Phương Kỳ được cử vào tiền trạm Mỹ Sơn để đón chuyên gia Ba Lan. 

“Tụi tôi thầm nghĩ ông ấy vào khảo sát, kiểm tra rồi về nghỉ khách sạn sang trọng nhất ở Đà Nẵng chứ. Nào ngờ, ông ấy đề nghị làm lán trại ở lại khu đền tháp cùng công nhân”, ông Hỷ kể. 

Theo ông Hồ Hải Học, sở có ý định bố trí Kazik ở khách sạn, bởi ông là chuyên gia người nước ngoài, điều kiện ăn ở khác với ta. Nhưng thật xúc động, Kazik nằng nặc đòi dựng cái sạp trong lều ở gần tháp để tiện cho công việc. 

Các công nhân được huy động đi đốn gỗ rừng, tre làm lán cho Kazik ngủ. Giường được đóng xong, nhưng “sáng hôm sau Kazik nói cả đêm không ngủ được vì lán quá ngắn mà chân ông thừa cả khúc ra ngoài làm mồi cho muỗi. Nghe vậy chúng tôi thấy mình thật có lỗi với ông. 

Nhưng Kazik gạt đi: “Nhờ không ngủ được mà tôi có một đêm trọn vẹn ngắm Mỹ Sơn dưới ánh trăng thật tuyệt”. Có thể sau đêm đó, tháp cổ Mỹ Sơn đã chiếm trọn tình yêu ông ấy”, ông Học hồi tưởng. 

Một cái lán nhỏ bên ngôi tháp D2 là chỗ ăn, ở và làm việc của Kazik. Mỹ Sơn ban ngày nắng như thiêu đốt, Kazik mặc chiếc quần soóc, ở trần và làm việc quần quật. 

“Khi nào cũng thấy Kazik cặm cụi ghi chép, vẽ, đo đạc với công nhân. Trưa ông tham gia đi hốt lá khô về để đến đêm đốt lửa, xua cái lạnh ở thung lũng Mỹ Sơn. 

Kazik sống như một người địa phương thực thụ, ngủ giữa lòng tháp biết bao nguy hiểm rình rập với sự thiết tha cứu lấy những ngôi tháp cổ”, ông Hỷ nhớ lại. 

GS Hoàng Đạo Kính cho biết thêm từ năm 1981 - 1987, Ba Lan cử gần 20 chuyên gia luân phiên sang Việt Nam, có những chuyên gia sang 4-5 lần, có người sang 1-2 mùa. 

Nhiều chuyên gia không chịu nổi sự khắc nghiệt ở Mỹ Sơn nên chỉ làm việc ở đây 1-2 mùa rồi đi nơi khác. Riêng Kazik ở lại lâu dài chung thủy nhất ở Mỹ Sơn, lên đến mười mấy năm. 

“Hồi đó Kazik về Ba Lan mới phát hiện trong nách và trong bộ phận kín có con ve chui vào. Chúng tôi phải mách ông lấy dầu bôi vào để ve thấy cay, chui ra. Ông phải sống trong điều kiện như thế đó” - GS Kính cho hay. 

Hình ảnh mặc quần đùi, ở trần quen thuộc của Kazik trong cái nắng gắt của miền Trung bên các tháp Chăm những ngày đó 


Một con người đặc biệt 

Chiều 17-3, tại quảng trường Sông Hoài (TP Hội An, Quảng Nam), UBND TP Hội An phối hợp với Đại sứ quán Ba Lan tại Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm 20 năm ngày mất của cố kiến trúc sư Kazik. 

Ông Nguyễn Chí Trung, giám đốc Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An, chia sẻ buổi lễ là dịp để chính quyền, nhân dân Hội An tưởng niệm và tri ân kiến trúc sư Kazik - người đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản đô thị cổ Hội An. 

“Ngoài buổi lễ tưởng nhớ, tại TP Hội An cũng sẽ diễn ra hàng loạt các hoạt động nhằm kỷ niệm ngày mất của kiến trúc sư Kazik như: phát hành ấn phẩm Kazimierz Kwiatkowsky - Hồi ức một con người đặc biệt, dâng hương tại công viên Kazik (đường Trần Phú), trưng bày ảnh về quá trình công tác của Kazik tại Hội An và di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn...”, ông Trung cho biết. 

THANH BA 

VIỆT HÙNG - ĐOÀN CƯỜNG - THÁI LỘC 

Mỹ nhân 115 tuổi ở Phủ Tương

đăng 20:43, 19 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Cụ Lô Thị Hòa ở bản Quang Phúc, xã Tam Đình (Tương Dương) đã bước sang tuổi 115. Ở độ tuổi này, cụ bà người Thái ấy vẫn còn nhớ không ít câu chuyện về cuộc đời, nhất là chuyện từng tham dự cuộc thi Người đẹp Phủ Tương.

Cái chân đã yếu, mắt không còn tỏ, cái tai cũng đã nặng nhưng cái đầu thì vẫn còn nhớ được nhiều. Có điều, cụ Lô Thị Hòa chỉ nói tiếng Thái, hôm ấy bà Lô Thị Lan - con dâu của cụ phiên dịch giúp chúng tôi. Cụ mở đầu câu chuyện: “Ta sinh năm 1902, quê Qùy Châu, năm còn nhỏ giặc đốt phá bản làng, bố mẹ dắt díu mấy chị em sang đây lánh nạn...”.

Đã 115 tuổi nhưng cụ Lô Thị Hòa còn khá minh mẫn, vẫn nhớ được nhiều chuyện diễn ra trong cuộc đời. Ảnh: Công Kiên 


Mấy chị em cụ lớn lên trong ngôi nhà sàn nhỏ bé cùng với những mùa ngô, mùa lúa. Chẳng mấy chốc, cô bé lấm lem đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp với dáng người thon thả, nước da trắng ngần, cặp mắt đen láy, mái tóc suôn dài và nụ cười rạng rỡ như đóa hoa ban. Vẻ đẹp ấy theo ngọn gió núi tỏa đi khắp vùng, bản gần, bản xa đều biết đến, các chàng trai luôn mong được gặp mặt, hẹn hò.

Năm ấy, Phủ Tương tổ chức thi người đẹp, quan trên có giấy gửi về yêu cầu lên dự thi. Vượt chặng đường hơn 20 cây số lên vùng Cửa Rào, sơn nữ Lô Thị Hòa như choáng ngợp trước cảnh tòa ngang dãy dọc, gấm vóc lụa là. Những cô gái dự thi đa phần đều mặc rất đẹp với những bộ váy áo mới tinh và các loại trang phục sặc sỡ.

Cụ Lô Thị Hòa sống cùng vợ chồng con trai út Lô Khăm Phong, gia đình có 4 thế hệ cùng chung sống. Ảnh: Công Kiên 


Cụ Hòa vì nhà nghèo, không đủ tiền sắm váy áo mới đành vận bộ váy ngày thường dành đi chợ, cưới hỏi và những ngày hội bản. Bộ váy ấy đã bị khuất lấp giữa một rừng trang phục lộng lẫy, và dĩ nhiên chủ nhân không đoạt được giải thưởng nào khiến ai cũng phải xuýt xoa trước vẻ đẹp tự nhiên như đóa hoa rừng, rồi tiếc nuối vì không có trang phục đẹp nên không được nhận giải.

Không có giải thưởng nhưng nàng thôn nữ bản Quang Phúc được nhiều chàng trai để ý, trong đó có những cậu ấm là con nhà giàu, cưỡi trên lưng ngựa, mặc áo gấm thêu hoa, vai mang cả chiếc túi đựng đầy bạc nén. Có người hỏi thẳng: "Có muốn làm vợ ta thì lát nữa xuống thuyền, theo ta về bản, bố mẹ ta nhiều trâu, nhiều bạc nên không sợ nghèo khổ". Cụ Hòa không mảy may quan tâm đến những lời tán tỉnh và hứa hẹn, xong cuộc vội vàng lên thuyền xuôi dòng về bản.

Sau đó ít lâu, sơn nữ Lô Thị Hòa nhận lời làm vợ một chàng trai cùng bản lớn hơn 2 tuổi, có bố làm một chức quan nhỏ trong vùng. Về nhà chồng lại tiếp tục với công việc nương rẫy, ruộng đồng, kéo tơ, dệt vải. Và cũng từ đây, cuộc đời cụ bắt đầu với bao nỗi vất vả, lo toan. Đứa con đầu lòng trút hơi thở cuối cùng khi mới chào đời chưa được bao lâu; đứa thứ hai cũng chung số phận.

Sau đận ấy, cụ bị mắc chứng bệnh rong kinh, chờ mãi chẳng thấy mang thai, có lúc nghĩ mình đã mất đi thiên chức làm mẹ. Kiên trì chạy chữa, không quản ngại núi đèo, đi khắp mường trên, bản dưới tìm thầy bốc thuốc, cuối cùng đã được trời thương. Đứa con gái thứ 3 đặt tên là Lô Thị Thân chào đời khi người mẹ đã qua ngưỡng tuổi 40, trong niềm vui sướng của cả gia đình dòng họ.

Mấy năm sau, bé trai Lô Khăm Cường chào đời, niềm vui sướng không thể nào kể xiết. Rồi gia đình có thêm thành viên nhỏ bé Lô Khăm Phong (SN 1950), vợ chồng cụ Hòa thực sự hạnh phúc và mãn nguyện, dẫu có muộn màng...

Bức ảnh chụp vợ chồng cụ Lô Thị Hòa cùng 3 người con và người cháu họ từ năm 1952. Đã 65 năm trôi qua nhưng gương mặt vẫn còn khá rõ (ảnh gia đình cung cấp). 


Ký ức cụ Lô Thị Hòa vẫn còn lưu giữ những ngày vui khi nhân dân giành được chính quyền trong cuộc cách mạng Tháng Tám (1945). “Ngày đó, bản nào cũng rợp màu cờ đỏ thắm, các bản đều tổ chức ăn mừng, bà con ai cũng hò reo. Người ta nói với nhau rằng từ đây thoát khỏi cảnh sống nô lệ” - cụ chia sẻ.

Những năm tháng chiến tranh ác liệt, chồng cụ (cụ Lô Văn Hòa) mấy lần đi dân công, gùi lương, tải đạn ra chiến trường. Cụ Hòa ở nhà vừa phụng dưỡng bố mẹ chồng và chăm sóc 3 đứa con thơ. Sáng dậy từ lúc 2 giờ để giã gạo, rồi chuẩn bị bữa ăn cho cả nhà. Ăn xong ra đồng hoặc lên rẫy làm quần quật cả ngày, trưa vào lán nghỉ được một lúc.

Mặt trời gác núi mới về bản, tranh thủ ra suối xúc cá, tìm mấy ngọn rau cho bữa tối. Xong lại lo cho lợn, gà; ngồi vào khung cửi đến tận canh khuya, đêm chỉ ngả lưng được 2 - 3 tiếng đồng hồ. Không phải một mình cụ, mà hầu hết phụ nữ người Thái nơi đây đều thế, lấy sự yên ấm, no đủ của gia đình làm niềm vui, dẫu mình phải chịu nhiều nhọc nhằn, gian nan, vất vả.

Hiện tại, cụ Lô Thị Hòa sống cùng vợ chồng người con trai út Lô Khăm Phong, trong ngôi nhà sàn ấy có 4 thế hệ cùng chung sống. Cụ ông Lô Văn Hòa và những người con khác đều đã mất. Thật may, gia đình vẫn còn giữ được bức ảnh vợ chồng cụ Hòa với 3 người con cùng 1 người cháu họ chụp từ năm 1952, trải qua 65 năm nhưng gương mặt của mọi người vẫn còn khá rõ.

Đại tá Nguyễn Hữu Cầu - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh tặng quà cụ Lô Thị Hòa nhân dịp đón Xuân Đinh Dậu. Ảnh: Công Kiên 


Đến nay, số cháu và chắt của cụ Hòa đã lên tới con số 30 và có thêm 4 chít (đời thứ 5). Cụ nói rằng cuộc sống bây giờ thật sung sướng, được ăn ngon, mặc đẹp, có ti vi để xem, đi làm có xe máy, đi xa có ô tô. Không như ngày xưa trong năm mất mấy tháng thiếu đói, quần áo sờn rách, đi đâu cũng cuốc bộ, đi xa phải chèo thuyền.

Cụ cũng rất vui khi mỗi độ Tết đến, Xuân về, lãnh đạo huyện và tỉnh về tận nhà thăm hỏi, tặng quà. Xuân Đinh Dậu vừa qua, cụ được Chủ tịch UBND tỉnh gửi giấy chúc thọ và được Giám đốc Công an tỉnh lên trao quà.

Khi được hỏi về bí quyết trường thọ, cụ Lô Thị Hòa thong thả đáp: “Ta không có bí quyết nào cả, suốt đời uống nước khe Cớ, ăn xôi nếp rẫy, ăn cơm gạo do mình trồng ra, tôm cá tự đi xúc, làm việc quanh năm, lúc ốm đau vào rừng tìm cây thuốc. Về già sống vui vẻ và giúp đỡ con cháu, không gây hiềm khích với ai, gắng ăn cơm đều đặn hàng ngày...”

Công Kiên

Những loài cây gieo chết chóc ở vùng cao Nghệ An

đăng 20:27, 19 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Với những người dân miền Tây xứ Nghệ, lá ngón, hoa anh túc hay lá cơi…từ lâu đã không còn xa lạ. Chúng được mệnh danh là những thực vật gieo chết chóc bởi độc tính của mình.

Cây thuốc phiện hay còn gọi là cây anh túc trước đây được trồng nhiều trên khu vực núi cao, nhất là các bản làng người Mông Nghệ An. Trong thực tế, anh túc, cần sa được điều chế thành các loại biệt dược, và chỉ được sử dụng với sự giám sát đặc biệt của bác sỹ, nhân viên y tế. Tuy nhiên, do tính chất độc hại, gây nghiện, gieo "chết chóc" của loại cây này nên từ nhiều năm nay nó đã được xóa bỏ và Nhà nước cũng nghiêm cấm trồng loài cây nguy hại này. Tuy nhiên, theo một số người dân vùng cao, hiện ở các khu vực bên kia biên giới nơi có các bản làng người Lào, nhiều đối tượng vẫn lén lút trồng anh túc, họ thậm chí còn sử dụng loài độc dược này để làm thực phẩm rau xanh trong bữa ăn. Ảnh: Xuân Hòa 


Đã có những trường hợp vận chuyển cây anh túc từ bên kia biên giới vào Việt Nam qua các huyện Kỳ Sơn, Quế Phong bị lực lượng chức năng bắt giữ. Trong ảnh: Công an huyện Kỳ Sơn thu giữ 1 lô anh túc khi xâm nhập vào địa bàn. Ảnh: Lữ Phú 


Nhiều người tin rằng, quả của loại cây này ngâm rượu có tác dụng bồi bổ sức khỏe, tăng cường sinh lực đàn ông, nhưng theo các nhà nghiên cứu, rượu ngâm cây thuốc phiện có thể gây ngộ độc cho người sử dụng. Ảnh: Lữ Phú 


Ở miền Tây Nghệ An, cây ngón được xem là "chúa độc". Chúng phân bố ở khắp nơi ở các huyện miền núi. Đặc trưng của "chúa độc" là thân dây leo, lá mỏng, mềm, hoa nhỏ màu vàng trông rất đẹp. Ảnh: Đào Thọ 


Cận cảnh một cây ngón. Ảnh: Đào Thọ 


Theo người dân, chỉ cần vô tình ăn phải vài lá ngón có thể dẫn đến đến chết người nếu không kịp thời cứu chữa. Một thực tế cho thấy rằng, trong nhiều năm qua, khi buồn phiền chuyện tình cảm nhiều nam nữ vùng cao thường tìm đến lá ngón để tự vẫn. Ảnh: Đào Thọ 


Ngoài ra, lá cơi cũng là một loài cây có độc được người dân vùng cao sử dụng trong đánh bắt cá ở các khe suối. Ảnh: Đào Thọ 


Lá cơi được lấy về giã nát sau đó thả xuống khe suối khiến cá bị say và cay mắt để dễ dàng đánh bắt. Ảnh: Đào Thọ 


Cá bị say lá cơi nằm nổi trên mặt nước cạn. Tuy hiện nay, các loài cây này đã được vận động, tuyên truyền xóa bỏ song nhiều người vẫn chưa hiểu hết tác hại của chúng. Ảnh: Đào Thọ 


Đào Thọ

Kho báu trong Lăng Thoại Ngọc Hầu: Những kỷ vật từ đất bắc

đăng 04:56, 16 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Lồng ấp của Thoại Ngọc Hầu. Ảnh: Lương Chánh Tòng 


Trong lăng Thoại Ngọc Hầu và phu nhân, các nhà nghiên cứu tìm thấy những chiếc lồng ấp dùng để sưởi ấm, đồ dùng rất hiếm gặp ở vùng đất phương Nam quanh năm nắng ấm. 

Lồng ấp bằng đồng trong khối di vật của Thoại Ngọc Hầu có tới 3 chiếc, trong đó bà 2 chiếc, ông 1 chiếc. Ông và bà đều có 1 chiếc tương tự nhau giống với những chiếc lồng ấp thời Nguyễn tìm thấy tại Huế, dạng hình lục giác vai nở bo tròn nhỏ dần về đáy, miệng bát giác, không thấy nắp.

Lồng ấp chế tác bằng đồng là vật dùng để sưởi ấm tay vào mùa đông giá buốt, chủ yếu dùng trong các nhà quý tộc hoặc giàu có ở miền Trung và miền Bắc nước ta thời phong kiến. Lồng ấp có lẽ xuất hiện khá sớm vì khí hậu lạnh lẽo ở miền Trung, miền Bắc VN vào mùa đông cần đến những vật dụng này. Nghề sản xuất công cụ bằng đồng khá phát triển ngay từ thời đầu Công nguyên nên người ta có thể dễ dàng chế tác được chúng. Tuy nhiên, đến nay khảo cổ học cũng chưa xác định được chiếc lồng ấp xuất hiện vào lúc nào tại VN. 

Lồng ấp của bà Vĩnh Tế. Ảnh: Lương Chánh Tòng 


Thời Nguyễn, lồng ấp bằng đồng được sử dụng phổ biến trong các nhà quyền quý từ hoàng tộc đến tư dinh các quan, vì vậy loại này còn thấy rất nhiều tại Huế. Tên gọi “lồng ấp” hơi khó hiểu và đến nay không biết phát xuất từ đâu nhưng có ý kiến cho rằng nó xuất phát từ Huế, thật ra có thể gọi “lồng ấp” là “lò sưởi tay” thì đúng với chức năng của nó hơn. 

Chiếc lồng ấp giống như một chiếc hộp đựng than hồng được thiết kế nhỏ gọn để làm ấm đôi bàn tay, chúng có dạng khối vuông, chữ nhật, lục giác hoặc bát giác, các cạnh vai vuốt tròn, thân nhỏ dần về đáy, phần miệng lồng ấp thu nhỏ lại. Trên miệng lồng ấp có nắp. Nắp có hình dạng theo thân lồng ấp và khum ôm khít phần miệng, được đục thủng nhiều hàng ngang dọc những lỗ tròn khắp bề mặt để khối than cháy đỏ bên trong lấy không khí và để thoát khói. Lồng ấp có quai đôi có thể ngả ra 2 bên vai, quai tiết diện vuông bẻ nhiều góc đối nhau kiểu thước thợ đầy nét mỹ thuật... 

Bàn ủi của bà Vĩnh Tế.  Ảnh: Lương Chánh Tòng 


Thân lồng ấp của ông có 2 chữ Hán Thọ đối nhau trên 2 cạnh, đế lồng ấp bằng gỗ chạm. Chiếc lồng ấp còn lại của bà cũng dạng hình lục giác với các cạnh bo tròn, cân đối nhỏ dần về đáy, nhưng nó đặc biệt hơn với chất liệu bạc và nắp chạm thủng hình hoa dây với núm hình hồ lô, thân lồng ấp chạm hình tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng), khắc chìm chữ Hán Thự Trung. Lồng ấp bằng chất liệu bạc là hiện vật khá lạ và có giá trị cao, chưa từng thấy tại các bảo tàng. Có lẽ đây là chiếc lồng ấp ông tặng riêng bà khi bà theo ông ra miền Bắc nhận nhiệm vụ trấn thủ Lạng Sơn trong những năm 1803 - 1807 vì bà là người phương Nam không quen chịu lạnh. Cũng trong những năm này, bà đã cùng ông lập ra chùa Am tại Cửa Bắc, Hà Nội. Tại ngôi chùa này đến nay vẫn còn tấm bia ghi rõ tên hai ông bà dâng cúng. 

Những năm cuối đời, ông bà Thoại Ngọc Hầu được về trấn thủ Châu Đốc, nơi phương Nam ấm áp và chỉ huy những công trình lớn của đất nước. Lúc này, lồng ấp cũng ít được sử dụng nhưng gia đình Thoại Ngọc Hầu vẫn mang theo 3 chiếc lồng ấp đã sử dụng ở xứ bắc. Đó chính là đồ kỷ niệm những tháng năm ông bà đã sống ở nơi có mùa đông lạnh lẽo như Bắc Thành trong đời đi làm việc xa của mình.

Bàn ủi của bà Vĩnh Tế

Trong mộ bà, đáng chú ý là chiếc bàn ủi bằng đồng dạng gáo với miệng hình cánh hoa loe về phía có tay cầm. Thân bàn ủi chạm nổi hoa văn chữ Thọ, ô trám lồng. Tay cầm được tra cán bằng gỗ nhưng cán đã bị gãy, có lẽ bị hư hỏng trong sự phân hủy hơn 180 năm dưới lòng đất. Đặc biệt, trôn bàn ủi có chỗ còn nhẵn bóng không bị ô xít hóa chứng tỏ nó đã được sử dụng rất nhiều lần.

Bàn ủi dùng làm khô và phẳng y phục, lúc đầu dùng trong các nhà quyền quý, đã hiện diện khá sớm ở VN nhưng đến nay chưa xác định được chính xác thời điểm chúng xuất hiện. Bàn ủi xưa có thể tích nhỏ, không có nắp, sử dụng than. Hiện nay loại hiện vật này được trưng bày tại một số bảo tàng lớn trong cả nước như Bảo tàng Lịch sử VN tại TP.HCM, Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế...


Phạm Hữu Công

Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Bí ẩn đồng tiền Minh Đức thông bảo

đăng 04:48, 16 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 04:49, 16 thg 3, 2017 ]

Đồng Minh Đức thông bảo do Nguyễn Nhạc phát hành. Ảnh: Lương Chánh Tòng 


Sự xuất hiện của đồng tiền Minh Đức thông bảo trong đồ tùy táng của bà Châu Thị Vĩnh Tế (vợ ông Thoại Ngọc Hầu) là một hiện tượng lạ, gây bất ngờ cho các nhà khoa học. 

Hai loại tiền Minh Đức thông bảo 

Đồ tùy táng là đồ dùng được chôn theo người chết, đó là những món đồ mà người chết lúc sinh thời ưa thích, thường dùng hoặc là món đồ có liên quan đặc biệt với người quá cố. 

Đồ tùy táng trong lăng mộ Thoại Ngọc Hầu đều là những vật dụng cá nhân và những đồ kỷ niệm của hai ông bà. Đáng lẽ trong khối đồ tùy táng của ông bà Thoại Ngọc Hầu phải có những đồng tiền Gia Long thông bảo hoặc Minh Mạng thông bảo vì đây chính là đồng tiền do triều đại mà ông bà đã có công vun đắp, gầy dựng. Vì vậy, sự có mặt của đồng Minh Đức thông bảo thật sự rất đặc biệt, khi một đồng tiền bằng đồng không có ý nghĩa gì về mặt giá trị kinh tế, nhất là đối với một gia đình quan lại cấp cao như Thoại Ngọc Hầu. 

Trong lịch sử VN, ông vua lấy niên hiệu Minh Đức là Mạc Đăng Dung (1483 - 1541). Năm 1528, Mạc Đăng Dung cho đúc tiền Minh Đức thông bảo. Đồng tiền loại này hiện vẫn còn phát hiện nhiều tại khu vực các tỉnh phía bắc nhưng rất hiếm gặp ở các tỉnh phía nam. 
Trên thực tế, nước ta đã có thêm kiểu đồng tiền Minh Đức thông bảo được phát hành bởi triều Tây Sơn. Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, niên hiệu là Thái Đức và cho đúc tiền Thái Đức thông bảo. Tuy nhiên, tác phẩm Tiền kim loại Việt Nam của Bảo tàng Lịch sử VN và tài liệu về tiền cổ của nhà nghiên cứu Nguyễn Anh Huy thì cho rằng Nguyễn Nhạc có đúc tiền Minh Đức thông bảo năm 1787 sau khi xưng là Trung Ương hoàng đế với hiệu Minh Đức vương. Allan Barker trong cuốn sách The historical cash coins of Vietnam cũng công nhận có đồng tiền Minh Đức thông bảo của Nguyễn Nhạc nhưng về niên đại đúc thì lại cho muộn hơn vào năm 1789. Loại tiền này được tìm thấy khá nhiều ở các tỉnh Trung bộ. 

Một tình bạn cao cả 

Đồng tiền tìm thấy trong khu vực đồ tùy táng của bà Châu Thị Vĩnh Tế có cùng phong cách thư pháp và một loại hợp kim, kích thước, độ dày với đồng của Nguyễn Nhạc phát hành. 
Về lý thì cả hai loại tiền của Mạc Đăng Dung lẫn của Nguyễn Nhạc đều không có lý do gì để có mặt trong đồ tùy táng của gia đình quan Bảo hộ, nhất là tiền của Mạc Đăng Dung vì không có cơ sở liên quan về huyết thống, về độ quý giá hoặc bất cứ một lãnh vực nào khác. Trong khi tiền của Nguyễn Nhạc có cơ sở hơn vì cùng thời đại với Thoại Ngọc Hầu nên nhiều khả năng nó có một mối liên quan nào đó. 

Tra cứu thân thế, sự nghiệp của Thoại Ngọc Hầu và phu nhân có vài điểm đáng lưu ý: Thoại Ngọc Hầu là hàng xóm cùng làng cùng quê với Thái phó Trần Quang Diệu (1760 - 1802) của Tây Sơn ở An Hải, tổng An Lưu Hạ, H.Diên Phước, phủ Điện Bàn (Quảng Nam). Trần Quang Diệu và Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) là bạn bè thân thiết. Sau này theo phò Nguyễn Ánh, khác nhau chiến tuyến, Nguyễn Văn Thoại vẫn nhớ về giao tình cũ với gia đình ông Diệu và ngược lại. Năm 1800, Nguyễn Văn Thoại được phong Khâm sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân, phối hợp với Lào đánh quân Tây Sơn ở Nghệ An. Nghe tin có Trần Quang Diệu từ Quy Nhơn ra tiếp cứu quân Tây Sơn, ông Thoại liền giao binh quyền cho phó tướng là Lưu Phước Tường rồi trở vào Gia Định. Vì việc này, ông bị Nguyễn Ánh bắt tội là không có lệnh của vua mà tự tiện về, phạt giáng cấp ông từ Khâm sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân xuống làm Cai đội cai quản đạo Thanh Châu. Đến năm 1802, trong dịp khen thưởng những người có công, ông cũng chỉ được Gia Long phong làm Khâm sai Thống binh cai cơ rồi sau nữa mới thăng làm Chưởng cơ. 

Việc Nguyễn Văn Thoại tự ý về Nam năm 1800 vẫn còn chưa rõ nguyên nhân và động cơ vì không có sách nào ghi chép nhưng chắc chắn Gia Long và cả Minh Mạng sau này đã nghi ngờ ông tránh né đối đầu với Trần Quang Diệu nên đối đãi với ông hơi nhạt nhẽo trong những lần phong thưởng. Vì không có bằng chứng và vì lòng trung trinh của ông đối với nhà Nguyễn là không thể bác bỏ nên ông vẫn tiếp tục được nhà Nguyễn sử dụng. 

Đồng tiền Minh Đức thông bảo phát hiện trong khu vực đồ tùy táng của bà Châu Thị Vĩnh Tế chính là bằng chứng sống động của việc Thoại Ngọc Hầu vẫn nhớ kỷ niệm với gia đình Trần Quang Diệu để rồi lưu giữ chỉ duy nhất đồng tiền của Tây Sơn để nhớ về người bạn cùng quê nhưng không cùng chiến tuyến, mặc dù ông biết rằng việc lưu giữ này có thể gây tai họa. Cuối cùng vì ý thức được mầm họa có thể xảy đến bất cứ lúc nào nếu sau khi ông chết mà đồng tiền này bị kẻ xấu phát giác nên khi bà Châu Thị Vĩnh Tế qua đời, chính ông đã gửi gắm đồng tiền cho người vợ thân yêu gìn giữ bí mật của đời mình. 

Cuối cùng sự cảnh giác của ông đã không sai. Năm 1830, sau khi mất không bao lâu, ông bị tố cáo là nhũng nhiễu nhân dân - một tội rất mơ hồ - và bị Minh Mạng truy giáng phẩm tước, tịch thu tài sản một phần đem bán, hậu nhân của ông thì bị ly tán, cũng may mà không có tố cáo về tàng trữ đồ của Tây Sơn. 

Phạm Hữu Công

Kho báu trong Lăng Thoại Ngọc Hầu: Hé lộ đời sống cách đây hàng trăm năm

đăng 04:41, 16 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đồng tiền châu Âu, một cổ vật tìm thấy trong lăng Thoại Ngọc Hầu và phu nhân Châu Thị Vĩnh Tế Ảnh: Lương Chánh Tòng 


Bà Châu Thị Vĩnh Tế mất trước ông Thoại Ngọc Hầu 3 năm (bà mất năm 1826, ông mất năm 1829), tuy nhiên vẫn chưa rõ tài sản của ông và bà được chôn cùng lúc hay chôn riêng rẽ theo đám tang từng người. 

Các nhà khảo cổ học thật sự kinh ngạc khi nhìn thấy từng món đồ lấy lên từ hố khai quật lăng Thoại Ngọc Hầu vì mức độ phong phú và đa dạng của chúng, từ đồ sinh hoạt cá nhân, đồ được tặng biếu, được ban thưởng, đồ quý kim làm của để dành, đồ kỷ niệm, đồ y tế, đồ dùng trong thú vui thưởng ngoạn...

Một điều đáng tiếc là y phục, phẩm phục và các rương hòm cũng như một số đồ bằng giấy, vải, gỗ... đã bị mục nát chỉ còn tàn tích không thể đoán định cũng như phục hồi. Tuy nhiên, những gì còn lại đã là những di vật cực kỳ quý giá về nhiều mặt để có thể hình dung được phần nào cuộc sống của Thoại Ngọc Hầu và gia đình cũng như đồ dùng của giai đoạn cách chúng ta 2 - 3 thế kỷ, vừa quen lại vừa lạ... 

Lọ vôi bằng vàng 


Hơn 300 hiện vật quý của bà 

Có khoảng 304 hiện vật và khá nhiều tàn tích hiện vật thuộc về bà Châu Thị Vĩnh Tế. Chất liệu gốm sứ Trung Quốc chiếm số lượng lớn với 151 sản phẩm là các loại đồ đựng: bát, đĩa, muỗng, thố (tiềm)... bằng sứ cao cấp men xanh trắng, men ngũ thái..., chân đèn kiểu con tiện, các loại ô trầu, bình, ấm men nhiều màu. Bên cạnh đó là các sản phẩm từ Xiêm La (Thái Lan): hũ hình trái bí, bát gốm Bencharong men nhiều màu, nậm rượu thếp vàng phần cổ và chân, thố có nắp; Chân Lạp (Campuchia): hộp đựng vôi, đĩa bồng, mâm bồng. 

Các cổ vật của VN tìm thấy trong mộ bà rất đa dạng: những nén vàng mỗi nén nặng 5 lượng; trang sức như nhẫn, khuyên tai, vòng tay, trâm (cán bằng bạc), hộp, vật hình quai... các loại đĩnh bạc, hộp bạc, những chiếc lồng ấp, bàn ủi, ống nhổ, nồi, chảo, âu, đĩa chân cao, ô trầu, chậu, đèn treo (chùm), mâm, ấm, chén, bình vôi, vá, tẩu thuốc, bàn ủi... bằng đồng. Đồ bằng sắt có bếp lò, dao bổ cau. Có một đồng tiền Minh Đức thông bảo; bộ khóa và chìa, có một bộ móc gồm 8 cái hình lưỡi câu chưa rõ công dụng tạm gọi là móc mùng... Ngoài ra còn có một chiếc răng người và chiếc hộp bằng hổ phách. 

Đặc biệt, có khá nhiều cổ vật xuất xứ từ châu Âu, cho thấy các vật dụng châu Âu đã được sử dụng trong đời sống các gia đình quyền quý thời đó: đèn chùm treo giữa phòng của Pháp, các loại thố, đĩa, ống nhổ, cốc ly, muỗng, lọ... màu trong hoặc màu xanh. Có 1 chai rượu khắc chìm hoa và phủ nhũ vàng. Có cả hai đồng tiền vàng của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. 

Thỏi bạc thời Minh Mệnh 


Móc mùng của bà Vĩnh Tế 


Những hiện vật dùng riêng của ông 

Hiện vật tìm thấy trong khu vực mộ ông Thoại Ngọc Hầu về mặt chất liệu tương đương với hiện vật của bà, nhưng về số lượng thì có ít hơn một chút và so ra cũng có khá nhiều khác biệt. Ông có những hiện vật dùng riêng mà bà không có. 

Bà có nhiều hơn ông những đồ dùng trong việc ăn, còn ông nhiều hơn bà những vật dụng cho việc uống: chẳng hạn ông có nhiều ấm đất nung, bà có nhiều muỗng hơn... Điểm đáng chú ý là ông có 4 hiện vật mà bà không có: 3 chung, 1 đĩa sứ Cảnh Đức men xanh trắng vẽ phong cảnh sơn thủy do vua ban. 

Hiện vật vàng của ông và bà khác nhau nhiều nhất. Ông không có trâm cài tóc, nhẫn, hộp, tiền vàng Bồ Đào Nha... nhưng lại có chiếc mão quan bằng vàng gồm 33 chi tiết. Nhưng chiếc bình vôi của bà bằng vàng thì của ông lại bằng bạc. Ông có một cái lấy ráy tai, cái tẩu hút thuốc mà bà không có. Riêng chiếc lệnh bài mang chữ Thưởng thì ông có 1 cái giống hệt của bà. 

Đặc biệt, ông có 1 kính đeo mắt gọng kim loại của châu Âu có thể gấp lại, mắt kính tròn, loại 2,5 độ. 

Phạm Hữu Công

Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Khắc tên trên bảo vật trấn quốc

đăng 04:32, 16 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đã có nhiều tác phẩm viết về sự nghiệp và công lao của Thoại Ngọc Hầu, tuy nhiên cuộc sống đời thường của ông ít ai biết.


Chỉ đến khi kho báu đồ sộ trong lăng mộ ông được khai quật và giải mã, người ta mới hình dung phần nào đời sống của nhân vật lẫy lừng này. 

Thoại Ngọc Hầu (1761 - 1829, tên thật là Nguyễn Văn Thoại) là tướng lĩnh thân cận của chúa Nguyễn Ánh (sau này là vua Gia Long triều Nguyễn). Ông được người dân Nam bộ rất mực tôn kính vì có công lớn trong việc lập làng lập ấp, giữ yên và phát triển miền Tây; là người chỉ huy đào kênh Thoại Hà và kênh Vĩnh Tế, hai con kênh hết sức quan trọng trong việc phát triển giao thương. 

Ngay khi Thoại Ngọc Hầu và bà chính thất Châu Thị Vĩnh Tế còn sống, tên ông bà đã được đặt cho núi (Thoại sơn, Vĩnh Tế sơn), tên sông (Thoại hà, Vĩnh Tế hà) và còn được khắc lên Cửu đỉnh - bảo vật trấn quốc của triều Nguyễn đặt trong hoàng thành Huế ngay trước miếu thờ các vua Nguyễn. Sau này, tên ông bà còn tiếp tục được đặt cho các đơn vị hành chính (H.Thoại Sơn, xã Thoại Giang, thôn Thoại Sơn, xã Vĩnh Tế...), tên khu du lịch Hồ ông Thoại, khu dân cư Ngọc Hầu, Châu Đốc, nhiều trường học, đường sá và cây cầu tại 7 tỉnh (An Giang, Kiên Giang, Đà Nẵng, TP.HCM, Gia Lai, Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế). Tổng cộng, có tới 7 loại hình và 40 cơ sở trên toàn quốc mang tên ông và bà. 

Kho báu bí mật suốt 180 năm 

Lăng Thoại Ngọc Hầu uy nghi tọa lạc tại P.Núi Sam, TP.Châu Đốc, tỉnh An Giang. Khu vực chính có 3 ngôi mộ lớn: mộ ông nằm ở giữa, một bên là phu nhân chính thất Châu Thị Vĩnh Tế ngang bằng với mộ ông, mộ bà thứ thất Trương Thị Miệt được xây lùi xuống một chút. Đã hơn 180 năm kể từ khi ông qua đời, khói nhang trong lăng mộ chưa bao giờ tắt. 

Một điều kỳ lạ là cho đến trước khi phát hiện, trong dân gian hầu như không có những huyền thoại lưu truyền về đồ tùy táng của đức Thoại Ngọc Hầu. Thậm chí những ký ức về cuộc sống gia đình ông cho đến nay cũng không còn dấu vết, đặc biệt là khu vực dinh quan bảo hộ (ông từng giữ chức Thống chế Bảo hộ Cao Miên), nơi sinh sống của gia đình Thoại Ngọc Hầu lúc đương thời cũng chưa xác định được chính xác. Chỉ đến năm 2003, kết quả khảo sát mới cho thấy có dấu hiệu dinh quan bảo hộ cũ hiện nay nằm trong khu vực doanh trại Quân đội nhân dân VN ở Châu Đốc. 

Cũng trong hơn 180 năm đó, lăng Thoại Ngọc Hầu đã trải qua nhiều nhiệm kỳ của nhiều ban quản lý và hàng chục lần trùng tu sửa, nhưng tuyệt nhiên đã không có một phát hiện hoặc một ghi chép nào về đồ tùy táng của Thoại Ngọc Hầu. Điều đó chứng tỏ hậu nhân của ông, những người được giao sứ mạng chôn cất các di vật, đã giữ bí mật một cách tuyệt đối khối di sản quý giá này trong lòng đất. 

Những mảnh vàng của chiếc mão hổ đầu thu được sau khi khai quật 


Khối lượng di vật to lớn, quý giá 

Ngày 20.9.2009, trong quá trình tu bổ lăng mộ, khi dọn dẹp mặt bằng để chuẩn bị lát gạch chung quanh, công nhân thuộc Công ty Hà Phúc đã phát hiện một lằn phui sụp xuống. Sự việc được báo cáo cho Ban Quản lý khu di tích Lăng miếu núi Sam và Bảo tàng An Giang. Sau khi khảo sát, ban quản lý và Bảo tàng An Giang nhất trí rằng khả năng có khu vực chôn đồ tùy táng là rất lớn, lập tức xin phép UBND tỉnh và Sở VH-TT-DL An Giang tiến hành khai quật khu vực này. 

Sau 4 ngày, cuộc khai quật khẩn cấp đã thành công. Số lượng hiện vật thu được rất lớn: hơn 500 hiện vật và hàng trăm tàn tích đồ gỗ, đồ vải, đồ kim loại... Hiện vật phong phú và đa dạng, gồm nhiều chất liệu: vàng, bạc, đồng, đồng tráng men (pháp lam), sắt, antimony, gỗ, gốm sứ, thủy tinh, đá, ngà, xương, răng, nanh hổ, vỏ ốc...; cổ vật thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19 thuộc nhiều nước: VN, Trung Quốc, Xiêm La (Thái Lan), Chân lạp (Campuchia), Bồ Đào Nha, Pháp, Tây Ban Nha ... Với số lượng hiện vật quý giá như trên, có thể nói phát hiện khảo cổ học tại lăng mộ Thoại Ngọc Hầu rất độc đáo và thú vị. Bởi cho đến nay, những phát hiện đã công bố về đồ tùy táng của các quan lại đại thần phong kiến VN, thậm chí của cả vua nữa, chưa từng có nhân vật nào vừa có công lao, tài đức mà còn để lại một khối lượng di vật to lớn, quý giá và phong phú như vậy. Các hiện vật này đã giúp phần nào hình dung về cuộc sống của tầng lớp quan lại cấp cao VN đầu thế kỷ 19 tại khu vực biên giới phía Tây Nam. 

Phạm Hữu Công

Khởi nghiệp tuổi xế chiều

đăng 03:59, 7 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đã lên chức ông, chức bà nhưng họ không ngần ngại bắt tay khởi nghiệp ở những lĩnh vực hoàn toàn lạ lẫm với bản thân... 

Ông Lê Văn Thành (giữa) thăm hỏi sự hài lòng của du khách khi đến điểm du lịch của ông - Ảnh: NGỌC TÀI 


Hơn nửa đời người gắn bó với cái cuốc, cái cày, lão nông Lê Văn Thành - ngụ xã Tân Thuận Đông, thành phố Cao Lãnh (Đồng Tháp) - hiểu lắm nỗi cơ cực của nghề nông. Lam lũ cả đời, ông mới có được chút ít ruộng vườn để lại cho con cháu. 

Đến tuổi U-90, những tưởng ông sẽ chọn cách hưởng thú điền viên, an nhàn, nhưng ai cũng té ngửa khi ông quyết định mở điểm 
du lịch sinh thái. 

Lão nông mê du lịch sinh thái 

Ông Thành cùng với một doanh nghiệp làm du lịch nhận thấy cồn Tân Thuận Đông có phong cảnh nên thơ hữu tình, cây xanh trái ngọt, sông nước hiền hòa nên quyết định làm du lịch sinh thái. 

Điểm du lịch Thiện Thành tại nhà ông Thành hiện là điểm du lịch sinh thái được UBND thành phố Cao Lãnh chọn để khai trương Năm du lịch 2017. 

Điểm này không chỉ được du khách trong nước tìm đến, mà nhiều du thuyền chuẩn 3 sao quốc tế cũng đưa khách nước ngoài cập bến tham quan. Trung bình mỗi tháng điểm du lịch của ông Thành đón tiếp hơn 1.000 lượt khách. 

Bạn Lý Hữu Phúc, hướng dẫn viên du lịch của Công ty du lịch MeKong Eyes, nhận xét: 

“Những gian nhà lá phục vụ thức ăn đồng quê rất vừa miệng. Nhà vệ sinh và các dịch vụ kèm theo cũng được khách Tây đánh giá cao. Nhất là cách ông Thành chào hỏi khách rất nhiệt tình, gần gũi. Ông tạo thêm động lực cho giới trẻ biết làm ăn. Ai nghĩ ông cụ gần 90 tuổi mà khởi nghiệp 
giỏi như vậy”. 

Ông Phan Văn Thương, chủ tịch UBND thành phố Cao Lãnh, chia sẻ: “Ông Năm đã vượt lên tuổi tác, không chỉ là người đặt nền móng phát triển mới cho nông dân xứ cồn Tân Thuận Đông mà còn là người truyền cảm hứng, giúp các bạn trẻ mạnh dạn đeo 
đuổi ước mơ”. 

Bà Nguyễn Thị Bích Vân bên những cây bồ công anh mà bà mất hơn 2 năm thuần dưỡng - Ảnh: NGỌC TÀI 


“U-60 thì đã sao” 

Bà Nguyễn Thị Bích Vân (huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp) bắt đầu khởi nghiệp với một số vốn ít ỏi khi tuổi đã U-60, mang trong người nhiều chứng bệnh trầm kha. Bà Vân hiện là giám đốc chi nhánh một công ty chuyên sản xuất trà, cà phê làm từ bồ công anh. 

Bà không thích người khác gọi mình là giám đốc, mà muốn được gọi là dì Bảy. “Thú thật lần đầu nghe nói đến chức danh giám đốc tui cảm thấy không quen, nghe kỳ kỳ vì mình chỉ là một người lao động bình thường ở nông thôn, không qua trường lớp bài bản 
nào” - bà Vân nói. 

Lúc 50 tuổi, bà Vân đi Pháp phụ giúp việc nhà cho người quen và tại đây, bà được một ân nhân chỉ cho cách trồng và làm trà từ bồ công anh. 

Năm 2014, bà Vân mang giống bồ công anh từ Pháp về, chúng khá yếu ớt lại không thể thích ứng với khí hậu nhiệt đới. Không đến một tuần, 20.000 cây giống giá 100 triệu đồng của bà Vân chết sạch. “Lúc đó cũng không thể nào buồn hơn được nữa” - bà Vân nhớ lại. 

Quãng đời bôn ba, cay đắng đều nếm cả nên bà Vân nhanh chóng đứng dậy và mua tiếp vài ngàn cây giống khác. 

Lần này bà không vội xuống giống ngay, mà mang đến Trung tâm Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao Đồng Tháp để thực hiện quá trình nuôi cấy mô. Dù vậy, phải gần 2 năm sau những cây bồ công anh mới chịu 
sống trên đất Việt. 

Hiện tại ngoài cơ sở ở Tân Hồng, bà Vân còn trồng bồ công anh ở Lâm Đồng và Long An với hơn 20ha. Ngoài mặt hàng trà, bà còn làm cà phê bồ công anh. Mới đây, sản phẩm của bà được một công ty bao tiêu sản phẩm với số lượng 300 thùng/tháng. 

Nếu có ai đó khen bà rằng tuổi cao mà biết làm ăn giỏi thì bà sẽ trả lời ngay rằng: “U-60 thì đã sao”. 

NGỌC TÀI

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

đăng 07:07, 4 thg 3, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

1. 

Hàng năm, cứ đến dịp Tết Nguyên đán là hoa mai anh đào ở Đà Lạt lại nở rộ tạo thêm nét hấp dẫn cho thành phố hoa. UBND tỉnh Lâm Đồng thấy vậy khoái lắm, nên quyết định tổ chức Lễ hội mai anh đào để hút khách du lịch tới đây ngắm hoa. Lễ hội mai anh đào đầu tiên dự kiến tổ chức vào giữa tháng 1/2017 - tức là khoảng cận Tết âm lịch, sure là hoa sẽ nở, Tết mà!


Nhưng gần Tết, những cây mai anh đào ở Đà Lạt hổng thèm có hoa, lấy gì mà nở? Hơi quê, nhưng UBND tỉnh đâu chịu thua. Bàn tay ta làm nên tất cả mà, tỉnh Lâm Đồng quyết dời lễ hội mai anh đào chậm đi một tháng, tới ngày 11/2/2017, nghĩ thầm mấy cô nàng mai anh đào này có lì lắm thì thêm gần một tháng nữa cũng phải nể mặt quan trên mà nở chứ!


Nhưng gần tới ngày 11/2, vẫn chả có tín hiệu khả quan nào hết. Hổng lẽ dời ngày nữa? Tỉnh Lâm Đồng đành tuyên bố hủy bỏ Lễ hội mai anh đào. Quê độ lắm đó, nhưng biết làm sao hơn?


Về lý do mai anh đào nở muộn và thời điểm nào hoa nở, anh Khiếu văn Chí có bài viết thú vị trên Facebook, mà tui xin phép trích đăng lại ở cuối bài viết này.


2.

Tui hỏi bạn bè mình ở Đà Lạt là anh Chí, anh Tài rằng ước chừng ngày nào mai anh đào nở rộ để lên thăm các anh và ngắm hoa. Được biết rằng hoa sẽ nở khoảng đầu tuần 20/2/2017. Ngày thứ Ba, 21/2, các anh cho biết hoa nở rồi nhưng lưa thưa chớ không rộ như các năm trước. Đâu sao! Miễn có là được rồi. Tui lên đường đi Đà Lạt đêm 21/2.


Tui, Bùm và anh Hà Duy Đức đi dọc theo đường Trần Hưng Đạo - là con đường nội ô Đà Lạt có nhiều mai anh đào nhứt - để ngắm hoa và chụp hình. Đúng như các bạn đã nói, hoa nở rộ rồi nhưng không nhiều lắm. Tuy vậy, cũng làm thành phố bảng lảng sắc hồng và thêm lung linh. Vài tấm hình chụp được như vầy nè:






Nói chung là có hoa, nhưng rải rác, lưa thưa dọc hai bên đường chứ không nở rợp cả khung trời như ta tưởng tượng. Muốn nhìn cho có vẻ nhiều hoa thì... chụp hoa không thôi, đừng chụp con đường.



Hoặc là chen thêm mimosa vô, cho nó... phong phú! 



Tụi tui chạy hết đường Trần Hưng Đạo, chạy về hướng Trại Mát, rồi sau đó theo tỉnh lộ 723 lên Lạc Dương. Rải rác bên đường có những cây mai đào đang ra hoa, nhưng cũng chỉ rải rác mà thôi...


3.

Ngay lúc ở Đà Lạt, tui mở điện thoại ra và đọc tin trên mạng. Có một tin với tiêu đề như vầy: Nhuộm hồng phố núi với hoa mai anh đào nở rộ khắp Đà Lạt. Ái chà, thiệt hông ta? Ngày đăng tin là 22/2/2017 tức là đúng ngày tui đang ở Đà Lạt đây. Vậy chắc mình già rồi, mắt lòa nên không thấy mai anh đào nhuộm hồng Đà Lạt. Bài báo có hình nhiều, dĩ nhiên rồi, thấy mới tin chớ. Dưới đây là vài hình mà tui xin đăng lại:




Chú thích cho các hình nói trên là đường Trần Hưng Đạo, Đà Lạt.


Hic, con đường đúng là đường mình đi qua, ngày đúng là ngày mình có mặt nơi ấy, vậy mà sao cặp mắt phàm phu tục tử của mình không thấy được như người viết bài vậy ta? Tui bàng hoàng ngó xuống dưới bài coi tên tác giả là ai để tỏ lòng ngưỡng mộ thì thấy ghi như sau: Na tổng hợp từ Internet. Ôi, đúng là người cõi trên thiệt rồi!


Tui ngắm mấy tấm hình mai anh đào của ai kia đăng năm nay mà bỗng nhớ thơ Thôi Hộ: Đào hoa y cựu tiếu đông phong - đã được dịch sang tiếng Việt Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. Ờ, đúng rồi, Hoa đào năm ngoái còn cười hi hi!


Hai Ẩu


Bài viết của anh Khiếu văn Chí trên Facebook 24/2/2017

Mai Anh Đào nở! Du khách lại nườm nượp lên Đà Lạt ngắm hoa. Ai cũng nói nào là năm nay hoa nở muộn, xuân đến muộn, thời tiết thất thường bla bla bla... Thưa quý vị hoa nở đúng tiết vũ thuỷ như mọi năm chớ chả muộn gì hết trơn, chỉ có tết Nguyên Đán năm nay sớm thôi. Xuân là xuân mà tết là tết. Tết Nguyên Đán của Tàu có thể đến trong khoảng từ 21/1 dến 19/2 dương lịch, còn xuân thì đến vào ngày 5 hoặc 5/2 dương lịch, gọi là ngày lập xuân. Mai Anh Đào luôn nở trong khoảng từ tiết lập xuân đến tiết vũ thuỷ, và năm nay cũng đúng như thế.



Tết Nguyên Đán của Tàu rơi vào tiết nào, ngày dương lịch nào là theo bảng này, cứ 19 năm lại lặp lại, xê xích chỉ 1 ngày thôi. Trong bảng này, cột bên trái là ngày dương lịch, ô màu vàng là ngày tết Nguyên Đán của Tàu, dòng dưới cùng là số dư của phép tính số hiệu của năm dương lịch chia cho 19, ví dụ 2017 chia cho 19 có số dư là 3. cột bên phải là tiết khí, những năm tô màu đỏ là năm nhuận âm lịch, những năm này tết Nguyên Đán của Tàu luôn đến sớm, rơi vào tiết đại hàn cho nên Mai Anh Đào không thể nở trước tết được. Những năm liền sau năm nhuận, tết Nguyên Đán của Tàu đến sau tiết lập xuân, gần tiết vũ thuỷ nên Mai Anh Đào nở đúng tết.


Chu kỳ 19 năm này Tàu gọi là "chương", phương Tây gọi là chu kỳ Metonic, là chu kỳ mà ngày dương lịch và ngày âm lịch trở lại như cũ, chỉ sau khoảng 4 lần 19 năm thì mới đổi một chút, Tàu gọi 4 lần 19 năm là một "bộ." Sở dĩ như vậy là vì năm dương lịch có 365,24 ngày, tháng âm lịch có 29,53 ngày, hai số này không có bội số chung nhưng 19 năm dương lịch gần xấp xỉ bằng 235 tháng âm lịch (365,24x19 ≈ 6939,56 ngày ≈ 235x29,53 ≈ 6939,55 ngày.) Nếu mỗi năm âm lịch chỉ có 12 tháng thì 19 năm là 228 tháng, thiếu 7 tháng so với 235 nên trong 19 năm phải có 7 năm nhuận.


Cái chính là thời tiết thì phụ thuộc lớn nhất vào mặt trời, do góc chiếu của nắng thay đổi trong năm mà nhiệt lượng thu được từ mặt trời biến đổi sinh ra các mùa, thời tiết phụ thuộc rất ít vào mặt trăng vì mặt trăng cung cấp rất ít năng lượng cho trái đất, hầu như không đáng kể. Vậy thì hoa nở hay mùa màng là theo dương lịch chứ không theo âm lịch, trái với nhiều người Việt vẫn cứ nghĩ thời tiết, mùa màng phụ thuộc âm lịch, quan niệm sai lầm này cứ tồn tại dai dẳng mãi chả biết đến khi nào mới dứt nữa.


Khiếu văn Chí

1-10 of 15