Con người và sự kiện

Bài mới

  • Dấu chân Đội Cung trên đất Rạng - Lường Đã 80 năm trôi qua (13/1/1941 - 13/1/2021), ý nghĩa cuộc khởi nghĩa Đô Lương do Đội Cung lãnh đạo vẫn còn vẹn nguyên. Trên vùng đất ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Đội Cung - người lãnh đạo khởi nghĩa Đô Lương Cuộc khởi nghĩa Đô Lương diễn ra vào ngày 13/1/1941 do Đội Cung lãnh đạo cùng anh em binh lính đồn Chợ Rạng, Thanh Chương đã tiến về ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Ngắm cây lộc vừng di sản trên 300 tuổi ở Hậu Giang Cây lộc vừng tọa lạc ở ấp Long Hòa B, xã Long Thạnh (huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang) có tuổi đời hơn 300 năm. Có thể xem đây là ...
    Được đăng 04:11, 19 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lễ đổi gác của triều Nguyễn xưa Du khách muốn hiểu thêm về công việc của lính canh xưa có thể tham gia lễ đổi gác, bắt đầu lúc 8h30 hàng ngày tại Ngọ Môn.Đến tham ...
    Được đăng 05:37, 22 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hai bảo vật quốc gia ở Bảo tàng Bình Dương Bảo tàng tỉnh Bình Dương tọa lạc tại số 565 đại lộ Bình Dương, phường Hiệp Thành, TP. Thủ Dầu Một, được khánh thành và đưa vào sử dụng năm ...
    Được đăng 00:31, 22 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 26. Xem nội dung khác »


Dấu chân Đội Cung trên đất Rạng - Lường

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Đã 80 năm trôi qua (13/1/1941 - 13/1/2021), ý nghĩa cuộc khởi nghĩa Đô Lương do Đội Cung lãnh đạo vẫn còn vẹn nguyên. Trên vùng đất Thanh Chương và Đô Lương, nhiều dấu tích xưa nơi Đội Cung từng đóng quân và tập hợp binh sỹ vẫn còn đó như gợi nhớ về một mốc son lịch sử của dân tộc Việt Nam. 

Đội Cung tên thật là Nguyễn Văn Cung. Năm 1926, ông bị bắt đi lính khố xanh, đóng ở đồn Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1930-1931, để đàn áp cao trào Xô viết Nghệ -Tĩnh đang lan tràn khắp nơi, đơn vị Đội Cung được điều từ Thanh Hóa về đóng ở đồn Kim Nhan, huyện Anh Sơn. Ảnh: Ngọc Phương 

Ngày 8/1/1941, Đội Cung được cân nhắc làm đội trưởng thay cho viên đồn trưởng người Pháp là Alôngdô, đóng ở Đồn Rạng thuộc địa phận huyện Thanh Chương. Vùng đất đồn Rạng xưa nằm bên bờ sông Lam, giáp 2 huyện Thanh Chương và Đô Lương, nay thuộc địa bàn xóm Trường Sơn, xã Đại Đồng, huyện Thanh Chương. Đồn có nhiệm vụ kiểm soát cả 2 huyện Thanh Chương và Đô Lương cả đường bộ và đường thủy. Ảnh: Ngọc Phương 

Trên vùng đất này hiện vẫn còn đình Chợ Rạng, chứng kiến bao thăng trầm lịch sử, nơi đây đã in dấu chân của Đội Cung và các binh sỹ Đồn Rạng. Ảnh: Ngọc Phương 

Chùa Vườn xưa, nay thuộc vùng đất cơ quan Huyện ủy Đô Lương là nơi Đội Cung tập hợp binh sỹ, sau khi kéo quân từ Rạng lên Đô Lương. Một miếu nhỏ, giếng nước và bia dẫn tích được Huyện ủy Đô Lương khôi phục vào năm 2014 ngay trong khuôn viên cơ quan. Ảnh: Ngọc Phương 

Bia dẫn tích tại đây có ghi: “Vào hồi 1 giờ sáng ngày 13 tháng 1 năm 1941, ông Đội Nguyễn Văn Cung đã chọn nơi này làm vị trí tập kết quân khởi nghĩa và đến 6 giờ sáng cùng ngày đã phát lệnh đánh chiếm nhà dây thép, đồn lính khố xanh tại khu vực ngã tư thị trấn Đô Lương”. Ảnh: Ngọc Phương 

Giếng Đồn Đô Lương hiện nay vẫn tồn tại, nằm trong khu dân cư thuộc khối 3, thị trấn Đô Lương. Thời trước, giếng là nơi binh lính sử dụng để sinh hoạt. Ảnh: Ngọc Phương 

Cột cờ đồn Đô Lương nằm giữa 2 bờ tường nhà ông Vũ Đình Mộc và Nguyễn Văn Nghị ở khối 3, thị trấn Đô Lương. Trải qua 80 năm, cột cờ bằng thép đã hoen rỉ. Ảnh: Ngọc Phương 

Cách cột cờ vài trăm mét, là gốc cây đa cổ thụ - nơi tập hợp binh sỹ khi đánh đồn Đô Lương. Cây đa và ngôi miếu thờ hiện nằm trong khuôn viên chợ Trung tâm thương mại Đô Lương. Ảnh: Ngọc Phương 

Tượng đài Khởi nghĩa Đô Lương tại ngã 3 Bưu điện ở thị trấn Đô Lương. Khởi nghĩa Đô Lương còn được gọi với các tên khác như: Binh biến Rạng Lường, Binh biến Đô Lương. Mặc dù thất bại nhưng cuộc khởi nghĩa có ý nghĩa quan trọng, thể hiện tinh thần yêu nước của các chiến sỹ cách mạng, không chịu làm nô lệ, khổ sai, vùng lên đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Cuộc khởi nghĩa là tiếng chuông báo động cho các cuộc khởi nghĩa sau này đi đến thắng lợi. Cứ đến ngày 13/1 hàng năm, Đảng bộ và chính quyền Đô Lương lại tổ chức nghi lễ trọng thể nhằm ôn lại truyền thống vùng lên nổi dậy của các binh sĩ và các chiến sĩ cách mạng. Chính máu đào của các binh sĩ và chiến sĩ cách mạng đã tô thắm thêm màu cờ của Tổ quốc, nét son hồng trong trang sử vàng cách mạng của dân tộc Việt Nam. Giờ đây, vùng đất mà Đội Cung làm nên cuộc khởi nghĩa đã đổi thay và phát triển mạnh mẽ. Ảnh: Ngọc Phương 

Ngọc Phương

Đội Cung - người lãnh đạo khởi nghĩa Đô Lương

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Cuộc khởi nghĩa Đô Lương diễn ra vào ngày 13/1/1941 do Đội Cung lãnh đạo cùng anh em binh lính đồn Chợ Rạng, Thanh Chương đã tiến về chiếm đồn Đô Lương, giết tên Đồn trưởng rồi cùng 25 lính tiến về trong đêm với mục đích chiếm trại Giám Vinh Thành Nghệ An sau đó phát triển ra nơi khác.

Đội Cung tên thật là Nguyễn Văn Cung. Năm 1926, Nguyễn Văn Cung bị bắt đi lính khố xanh, đóng ở đồn Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1930-1931, để đàn áp cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh đang lan tràn khắp nơi, đơn vị Nguyễn Văn Cung được điều từ Thanh Hóa về đóng ở đồn Kim Nhan, huyện Anh Sơn.

Sau phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, Đội Cung được điều về đóng ở Vinh để bảo vệ nội thành của thực dân Pháp và bọn tay sai phong kiến Nam triều. Đội Cung sống cương trực, chân thành, hay bênh vực đồng đội và những người gặp khó khăn, hoạn nạn nên rất được anh em kính nể.

Làm thân phận một người lính bắt buộc, ăn cơm, mặc quần áo do thực dân Pháp cung cấp, hàng ngày phải đi đàn áp phong trào cách mạng ở các địa phương, Nguyễn Văn Cung đau lòng, phẫn uất trước cảnh những người dân bị chết vô tội chỉ vì họ đứng lên chống lại chế độ hà khắc của thực dân phong kiến, để bảo vệ quyền sống chính đáng của con người. Thế mà họ bị khép vào tội phản loạn. Chính sách "binh vận" của Đảng ta từ cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh đã lôi kéo binh sĩ tham gia phản chiến, bỏ trốn và cao hơn nữa là về với nhân dân, đứng vào hàng ngũ cách mạng. Ông Măng Dan, lính lê dương đã trở thành người nội ứng cho Đảng Cộng sản trong nhà tù Vinh, là một tấm gương để cho Nguyễn Văn Cung suy nghĩ.

Nơi đóng quân của Đội Cung ở chợ Rạng, Thanh Chương.

Ngày 8/1/1941, thời cơ đã đến, đó là lúc Nguyễn Văn Cung được cất nhắc làm đội trưởng thay cho viên đồn trưởng người Pháp là Alôngdô, đang đóng ở đồn Rạng thuộc địa phận huyện Thanh Chương, có trách nhiệm kiểm soát cả hai huyện Thanh Chương và Đô Lương. Sau khi nhậm chức được 5 ngày, Nguyễn Văn Cung đã chớp lấy thời cơ, kéo quân lên Đô Lương kiểm tra và ông tuyên bố khởi nghĩa.

Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 13/1/1941, Nguyễn Văn Cung và binh sĩ đến phủ Anh Sơn (thị trấn huyện Đô Lương bây giờ). Sau khi cho anh em ăn tối xong, Đội Cung tập hợp binh sĩ tại sân Chùa. Nội dung và lý do cuộc khởi nghĩa được Đội Cung chuẩn bị từ trước, ghi vào một tờ giấy để trong túi áo ngực, khi tập hợp đông đủ anh em, ông mới rút tờ giấy ra đọc, tuyên bố khởi nghĩa và giao nhiệm vụ cho binh sĩ. Nghĩa binh sẽ giết tên Bạch, đồn trưởng Đô Lương, sau đó lên ô tô kéo về thành Vinh giết bọn thực dân Pháp, gồm những tay khét tiếng tàn ác, nắm những cương vị chủ chốt như: Thanh tra, Công sứ, Phó sứ …

Tại Đô Lương, Đội Cung đã cho cắt tất cả đường dây liên lạc ở bưu điện, phá máy điện thoại, điện báo rồi chia thành hai nhóm. Nhóm 1 do Đội Cung chỉ huy đi giết tên đồn trưởng Bạch. Nhóm 2 chịu trách nhiệm giết tên đồn trưởng là Rôsai, sau đó vào phủ đường giết tên tri phủ.

Đội Cung trở về đồn Rạng để giết tên đồn kiểm lâm người Pháp là Lôđagia, sau đó cho 25 binh sĩ về Vinh, lấy ô tô của tên đồn trưởng kiểm lâm cùng hai ô tô tư nhân kéo quân về Vinh. Khi đi qua cầu Cấm, ông ra lệnh cho binh sĩ cắt tất cả dây điện thoại bắc qua cầu và thu nạp thêm 5 binh lính ở đây lên ô tô cùng đi, với mục đích về giải phóng thành Vinh.

Đài tưởng niệm binh biến Đô Lương ở Thị trấn Đô Lương.

Binh sĩ đến Vinh vào lúc 4 giờ ngày 14/1/1941, nghĩa quân tập hợp trước cửa Trường Quốc học Vinh. Đội Cung phân công các mũi tiến quân: Cai Vị dẫn lính ra phía sau thành chờ. Còn Đội Cung và Cai Á dùng ô tô tiến thẳng vào thành. Đội Cung nói với trạm trưởng trực ban, xin vào gặp giám binh Đétxiu để báo cáo về sự việc, hai đồn Rạng và Đô Lương đã bị cộng sản cướp. Người thường trực cho ông vào gặp và giữ cai Cai Á ở lại.

Vì thông thạo đường đi lối lại nên Đội Cung đã đi thẳng vào phòng ngủ, đánh thức anh em binh sĩ dậy, báo tin là lực lượng của ông đã vây thành. Ông kêu gọi anh em binh sĩ giết tên giám binh ở phía trong. Công việc đang tiến hành thì ở phía ngoài có tiếng súng làm cho tên Đétxiu tỉnh dậy khi Đội Cung chưa kịp hành động.

Thấy tình hình bất lợi, Đội Cung vượt tường thành ra bên ngoài. Phía sau Cai Vị thấy động bèn dẫn binh sĩ trốn vào chùa Diệc. Thực dân Pháp điều lính Âu Phi và tung mật thám lùng sục khắp nơi nội, ngoại thành Vinh và chúng đã bắt được toàn bộ binh sĩ. Riêng Cai Á, sau khi bị bắt ông không chịu khuất phục, không chịu khai báo, ông tự sát để giữ tròn khí tiết và tấm lòng yêu nước của một người lính phản kháng.

Còn Đội Cung, sau khi vượt thành trốn thoát, ông ẩn náu ở hang núi được gần một tháng. Ngày 11/2/1941, ông quay lại khu vực ngoại thành để nắm tình hình. Do có kẻ phản bội nên ông đã bị bắt khi vừa vào nhà Tống Gia Liêm, khu vực Cổng Chốt.

Mộ Đội Cung ở phường Đội Cung (thành phố Vinh).

Ngày 20/2/1941, Tòa án binh của Pháp ở Hà Nội đã mở phiên toà xét xử 51 người tham gia cuộc khởi nghĩa, 11 người bị kết án tử hình, 12 án chung thân, 2 án 20 năm tù khổ sai, 7 án 15 năm tù, 1 án 12 năm tù…

Ngày 25/4/1941, thực dân Pháp thi hành án từ hình tại 3 nơi: Vinh, chợ Rạng và Đô Lương.

Ngày thực dân Pháp thi hành án tử hình, các cơ sở của cách mạng - Đảng Cộng sản Đông Dương đã cho rải truyền đơn khắp các miền (Bắc-Trung-Nam) để ủng hộ, biểu dương tinh thần của anh em binh sĩ khởi nghĩa. Truyền đơn được rải ở các nhà máy, thành phố, nông thôn và cả trong trại lính.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nguyễn Văn Cung được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truy tặng bằng: Có công với nước. Tổ quốc ghi công trên phần mộ của ông nơi ông bị xử bắn tại Cổng Chốt, thành Vinh cùng các đồng chí của ông.

Thái Bình (Tổng hợp)

Ngắm cây lộc vừng di sản trên 300 tuổi ở Hậu Giang

đăng 04:10, 19 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 04:11, 19 thg 1, 2021 ]

Cây lộc vừng tọa lạc ở ấp Long Hòa B, xã Long Thạnh (huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang) có tuổi đời hơn 300 năm. Có thể xem đây là một trong những cây cổ thụ hiếm hoi, có tuổi thọ cao ở đồng bằng sông Cửu Long, gắn liền lịch sử khẩn hoang của vùng đất Long Thạnh. Xoay quanh cây lộc vừng ở Hậu Giang này còn có nhiều câu chuyện tâm linh mà mọi người hay kể cho nhau nghe. 

Cây lộc vừng trên 300 tuổi ở Hậu Giang 

Khu vực này xưa kia rất hoang vu, rậm rạp với nhiều thú dữ, đặc biệt là các loài rắn khổng lồ. Câu chuyện mang đầy vẻ huyền bí nhất rất được nhiều người dân nơi đây kể lại là khi xưa có cặp rắn thần to lớn thường về đây bắt heo, gà, vịt rồi đem lại gốc Lộc Vừng nầy ăn sống. Hơn 60 năm trước từ khi người dân thỉnh Bà Chúa Xứ về thờ tại đây thì cặp rắn “thần” chui vào hang sâu dưới gốc cây biến mất. Hiện nay chỉ còn lại chiếc hang ngay giữa bộ rễ cây. 

Cây có chiều cao khoảng 22 m, chi vi gốc 8m và tán rộng gần 100 m2 

Tuy nhiên theo nhiều lão nông cố cựu tại đây kể lại, chiếc hang giữa cây trên là do thời kháng chiến chống Mỹ, cây bị trúng bom ngay giữa phần thân cây nên phần gốc đã bị thủng một lỗ rất to. Tuy nhiên, cây vẫn có sức sống mãnh liệt, nhánh ngày càng vươn rộng. Đến nay, khi tham quan cây lộc vừng, du khách có thể dễ dàng nhìn thấy một vết thủng lớn do dấu tích chiến tranh còn hằn lại. 

Cây nở hoa đỏ rực tuyệt đẹp 

Từ thế hệ này đến thế hệ khác qua đi, cây lộc vừng vẫn sừng sững trước nắng mưa, như một chứng tích mang đậm giá trị văn hóa, lịch sử… Cây lộc vừng được ví như “lộc” ứng với tài lộc – còn “vừng” ứng với nhỏ nhưng nhiều; cộng với màu hoa đỏ tượng trưng cho hỷ sự (chuyện vui trong nhà). Năm nào cũng vậy, độ mùa hoa nở cây lại khoác lên mình một chiếc áo màu đỏ rực cả một vùng quê thanh bình, trông rất đẹp. Người dân đặt trọn niềm tin vào cây lộc vừng này, việc cây nở hoa làm cư dân địa phương vô cùng phấn khởi, bởi theo họ đó là dấu hiệu của một mùa bội thu, làm ăn khấm khá, cuộc sống no đủ. Những năm mà cây không ra hoa người dân buồn rầu, lo lắng. Vì vậy, mọi người rất coi trọng và xem đây là cây cổ thụ linh thiêng. Hàng năm, cứ vào ngày 16/3 âm lịch, người dân nơi đây lại long trọng tổ chức lễ cúng thần, cúng bà với những nghi thức múa, hát đờn ca tài tử… mang đậm nét đặc trưng văn hóa của người dân Nam bộ. 

Ngôi miếu được xây dựng khang trang 

Hiện tại, cây lộc vừng cổ thụ có chiều cao khoảng 22 m, chi vi gốc 8m và tán rộng gần 100 m2. Cứ sau Tết Nguyên đán cây thay lá và tới tháng 3 âm lịch, đúng dịp lễ cúng cây lại xanh tốt, ra hoa và tỏa mùi hương thơm dễ chịu. Cây lộc vừng đã được Hội Bảo vệ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây di sản Việt Nam, trở thành điểm nhấn của ngành du lịch Hậu Giang. 

Cây đã được công nhận là Cây di sản Việt Nam 

Nhằm mục đích tôn tạo và phát triển du lịch, tỉnh Hậu Giang đã quy hoạch một khu đất hơn 3.000 mét vuông để bảo tồn cây quý này. Ngôi miếu tạm bợ cạnh gốc cây trước đây đã được di dời ra gần đó và xây dựng khang trang thờ Bà Chúa Xứ và Phật Quan âm để người dân thập phương đến viếng, sau đó ra ngắm cây quý hiếm bậc nhất vùng Miền Tây này.

Lễ đổi gác của triều Nguyễn xưa

đăng 05:37, 22 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Du khách muốn hiểu thêm về công việc của lính canh xưa có thể tham gia lễ đổi gác, bắt đầu lúc 8h30 hàng ngày tại Ngọ Môn.

Đến tham quan Đại Nội, ngoài nhìn ngắm vẻ đẹp của thành quách cố đô, du khách còn được xem lễ đổi gác được tái hiện bởi các nghệ sỹ Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế.

Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế cho biết, một đội tham gia lễ đổi gác gồm đội trưởng, quan võ, 12 lính ngự. Ngoài ra, vì là lễ tái hiện nên có thêm dàn tiểu nhạc gồm 7 người đi cùng.

Quan võ đứng trước dàn tiểu nhạc và lính ngự. Tất cả theo hiệu lệnh của quan võ để thực hiện các nghi thức.

Nghi thức bắt đầu lúc 8h30 hàng ngày, xuất phát từ Ngọ Môn, sau đó đội đi qua lầu Ngũ Phụng.

Tiếp đó, đội ra sau điện Thái Hòa, đi một vòng tròn, sau đó quay về Duyệt Thị Đường và kết thúc tại đây lúc 9h.

Đội tiểu nhạc sử dụng bài Đăng Đàn Cung (quốc ca thời nhà Nguyễn) trong suốt thời gian diễn ra lễ đổi gác.

Theo cuốn Khâm đinh Đại nam Hội điển Sự lệ, dưới triều Nguyễn việc canh gác và thay phiên nhau của lính được quy định chặt chẽ: “Phàm lính túc vệ ở cung cấm và lính thủ vệ ở các cửa Tử cấm thành, Hoàng thành, đến phiên canh mà không canh gác (người đã hết phiên canh rồi) tự tiện thay thế cho mình cả người đi thay thế ấy, đều phải phạt 60 trượng. Đem người không phải là lính túc vệ , thủ vệ mạo danh mình tự tiện thay thế với nhau, cả người đi thay thế ấy, đều phải phạt 100 trượng. Nếu là quan viên, đều phải gia nặng lên một bậc..."

Ngoài việc giúp du khách hiểu thêm về các hoạt động trong cung cấm của triều Nguyễn, hoạt động này còn góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của di sản Huế.

Vào sự kiện lớn như Festival Huế, số lượng người tham gia tái hiện lễ đổi gác sẽ được tăng thêm để đội hình đẹp hơn.

Ngân Dương - Ảnh: Nguyễn Phúc Bảo Minh

Hai bảo vật quốc gia ở Bảo tàng Bình Dương

đăng 00:30, 22 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 00:31, 22 thg 12, 2020 ]

Bảo tàng tỉnh Bình Dương tọa lạc tại số 565 đại lộ Bình Dương, phường Hiệp Thành, TP. Thủ Dầu Một, được khánh thành và đưa vào sử dụng năm 2004. Bảo tàng có diện tích trưng bày 2.000 m2 gồm 1.300 hiện vật gốc và 50 tài liệu khoa học. Trong đó có hai bảo vật quốc gia là: Mộ chum gỗ nắp trống đồng Phú Chánh và Tượng động vật Dốc Chùa được giới khoa học và du khách chú ý tìm hiểu. 

Mộ Chum gỗ - Trống đồng Phú Chánh có niên đại khoảng từ thế kỷ I đến thế kỷ II đầu Công nguyên. Mộ táng chum gỗ trống đồng được phát hiện vào cuối năm 1988 bởi ông Nguyễn Văn Cường (ấp 6, xã Vĩnh Tân, Tân Uyên). Ngay khi được phát hiện, Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học thuộc Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh phối hợp với Bảo tàng tỉnh đã đào thám sát tại vị trí phát hiện trống đồng thu được một chum gỗ còn nguyên vẹn và một số di vật khác nằm trong lòng chum theo hình thức tùy táng.

Bảo tàng tỉnh Bình Dương thu hút đông đảo khách tham quan, tìm hiểu.

Bảo tàng có diện tích trưng bày 2.000 m2 bao gồm 1.300 hiện vật gốc và 500 tài liệu khoa học. 

Du khách tham quan Bảo tàng tỉnh Bình Dương. 

Chum gỗ huỳnh đàn (chất liệu sưa, trắc thối) cao khoảng 61cm, đường kính miệng 46-50cm, có nhiều đường vân gỗ tròn đồng tâm. Trống đồng cao khoảng 40cm, đường kính mặt trống 47,5cm, đường kính chân đế 44cm. Mặt trống đồng tâm có hình ngôi sao 10 cánh nhọn đầu, xen giữa các cánh sao trang trí họa tiết hình lông công cách đều cùng với các họa tiết hình chữ V ngược lồng nhau. Chum gỗ và trống đồng kết hợp với nhau thành một bộ mộ táng chum gỗ trống đồng.

Đây là kiểu mộ táng mới lạ được phát hiện lần đầu tiên trong lịch sử khảo cổ học Việt Nam và thế giới. Việc sử dụng “áo quan” bằng chum gỗ dùng trống đồng làm nắp đậy là tư liệu rất mới trong nghiên cứu hoạt động sống của các cộng đồng cư dân cổ trên địa bàn Đông Nam bộ.

Mộ chum gỗ, nắp trống đồng- bảo vật quốc gia, khai quật tai di chỉ khảo cổ học Phú Chánh.

Mộ chum gỗ, khai quật tai di chỉ khảo cổ học Phú Chánh.

Tượng động vật Dốc Chùa - bảo vật quốc gia, khai quật tại di chỉ khảo cổ học Dốc Chùa. 

Bên cạnh đó, bảo vật Tượng động vật Dốc Chùa có niên đại cách đây khoảng 3.000 năm, được phát hiện tại di tích khảo cổ Dốc Chùa (xã Tân Uyên, Bình Dương) cho tới nay vẫn là độc bản.

Tượng cao 5,4cm, dài 6,4cm và còn khá nguyên vẹn, chỉ có một vài chi tiết nhỏ bị gãy vỡ. Tượng được đúc từ chất liệu đồng có màu xanh do bị phong hóa, hen rỉ. Tuy nhiên, Tượng động vật Dốc Chùa chưa thể xác định đây là tượng thú gì. Việc phát hiện một tượng đồng có hình dáng một con vật đứng trên một con vật khác đã là một hiện vật hết sức độc đáo, chưa từng thấy ở bất cứ di tích nào khác trong vùng Đông Nam Bộ, đồng thời tượng thú cũng có một giá trị nghiên cứu văn hóa nhất định về đặc trưng văn hóa mộ táng trong thời kỳ tiền sử.

Bài và ảnh: Thông Hải

“Nhất Dương Chỉ, Nhị Thiên Đường...”

đăng 00:02, 22 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:02, 23 thg 12, 2020 ]

Người miền Nam từ đầu thế kỷ XX cho đến thập niên 1970 đều biết đến thương hiệu “Nhị Thiên Đường” của nhà thuốc cùng tên trên đường Triệu Quang Phục, Chợ Lớn. Ngày nay nhà thuốc Nhị Thiên Đường không còn mà tên chỉ còn được nhớ đến qua cây cầu Nhị Thiên Đường ở quận 8. 

Các cuốn sách Nhị Thiên Đường - Vệ sanh chỉ nam in hàng năm từ 1920 đến 1939, do nhà in Imprimerie Nguyễn Văn Của, 13 rue Lucien Mossard, Saigon được chủ nhân nhà thuốc Nhị Thiên Đường nhờ in cho ta nhiều thông tin về chủ nhân và hoạt động của nhà thuốc này. Sách Vệ sanh chỉ nam được phát không cho mọi người từ thành thị đến nông thôn và rất được ưa chuộng ở các bến xe lục tỉnh. Bài này dựa vào một số các sách Vệ sanh chỉ nam của nhà thuốc Nhị Thiên Đường mà Thư viện Quốc gia Pháp và Thư viện Quốc gia Việt Nam may thay còn giữ lại. 


Ông chủ nhân Vi Thiều Bá là người quen biết khá nhiều các nhà văn, nhà báo ở Sài Gòn và Chợ Lớn như các ông Nguyễn Kim Đính (chủ nhiệm Đông Pháp Thời Báo), Lê Hoằng Mưu (tác giả Hà Hương Phong nguyệt, Oan kia theo mãi), Nguyễn Chánh Sắt (chủ bút Nông Cổ Mín Đàm và tác giả nhiều tiểu thuyết như Nghĩa hiệp kỳ duyên, Tài mạng tương đố, Gái trả thù cha, Lòng người nham hiểm), Hồ Biểu Chánh (tác giả Ngọn cỏ gió đùa, Chúa tàu Kim Quy, Cay đắng mùi đời...). 

Ngay trong các sách Vệ sanh chỉ nam của nhà thuốc Nhị Thiên Đường cũng in các truyện đã xuất bản trên các nhật báo hay đã in thành sách trước đó, cho khách mua thuốc hay người vãng lai xem vì tiểu thuyết lúc bấy giờ rất thịnh hành, như truyện của nhà văn Nguyễn Chánh Sắt Nghĩa hiệp kỳ duyên đăng lần đầu trên báo Nông Cổ Mín Đàm, rồi được nhà thuốc Nhị Thiên Đường in cho khách hàng. 

Tờ Đông Pháp Thời Báo (1.7.1925) cũng đăng thông tin nhà văn Hồ Biểu Chánh cho phép in tiểu thuyết Tình mộng trong sách Vệ sanh chỉ nam (1925), xen kẽ với các toa thuốc. Đây là hình thức quảng cáo thuốc rất sáng tạo. 

Trong sách Nhị Thiên Đường (1931) dày 336 trang, hai trang đầu có in hai bằng khen do Hoàng đế An Nam và vua Cam Bốt tặng ông Vi Thiều Bá (tự Vi Khai) chủ hãng dầu Nhị Thiên Đường ở Chợ Lớn và Nam Vang. Ảnh phải: lương y Vi Tế Sanh, người bào chế các thuốc và sáng lập Nhị Thiên Đường ở Quảng Đông (trên đường Đại Tân), nội tổ của ông Vi Thiều Bá. 

Nhà in Imprimerie de l’Union, sau này là nhà in Nguyễn Văn Của (13 rue L. Mossard, Nguyễn Du ngày nay) có in các sách truyện mà tiệm Nhị Thiên Đường ở 47 rue de Canton cho in để quảng cáo thuốc. 

Ngoài ra còn có một tiệm nhánh của Nhị Thiên Đường ở Chợ Lớn là số 38 rue de Canton, gần đối diện trụ sở số 47. 

Theo cuốn Vệ sanh chỉ nam (1925) thì tiệm thuốc Nhị Thiên Đường ở Chợ Lớn là tiệm nhánh của tiệm thuốc Nhị Thiên Đường ở Quảng Đông, thành lập ngót 100 năm (từ năm 1925) qua ba đời. Người đầu tiên là ông Vi Tế Sanh đã qua Nam kỳ nên biết phong thổ vùng nhiệt đới, khi về lại Quảng Đông, ông lập ra nhà thuốc Nhị Thiên Đường. 

Đến năm 1938 thì nhà thuốc Nhị Thiên Đường đã có các tiệm ở Quảng Đông, Hương Cảng, Thượng Hải, Bangkok, Singapore, Java, Nam Vang, Hà Nội và Chợ Lớn. Dầu Nhị Thiên Đường cũng được biết tiếng ở các nơi này, hơn xa loại dầu Tiger Balm xuất xứ Miến Điện và Singapore. Ngày nay thì dầu Tiger Balm nổi tiếng ở Đông Nam Á nhưng dầu Nhị Thiên Đường đã biến mất. 

Tiệm thuốc Nhị Thiên Đường 47 rue de Canton (Vệ sanh chỉ nam, 1929). 

Nội dung trong sách Vệ sanh chỉ nam của Nhị Thiên Đường Đại Dược Phòng có hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh, chữa các thứ bệnh và truyện vui hay tiểu thuyết giải buồn. Lời tựa Vệ sanh chỉ nam có các ông Nguyễn Kim Đính, chủ nhiệm (tổng lý) tờ Đông Pháp Thời Báo, đại biểu Hội đồng thành phố Saigon, ông Nguyễn Chánh Sắt và Nguyễn Tử Thức. Ông Sắt có viết như sau: 

... Nhà thuốc Nhị-Thiên-Đường là một nhà thuốc rất to tác trong dược-giới bên cỏi Á-Đông nầy, thuốc chế đã tinh-anh mà giá bán lại rẻ, danh tiếng vang lừng khắp trong hoàn-võ; đối với văn minh xã hội trong thế kỷ hai mươi nầy thì cái công lao cũng chẳng nhỏ. 

Nay ông chủ tiệm Nhị-Thiên -Đường chẳng nài hao tốn mà in ra quyển Vệ Sanh Chỉ Nam nầy thì tiện lợi cho xã hội là dường nào; người chưa bịnh thì biết chổ mà dự phòng, kẻ có bịnh lại biết thuốc hay mà điều trị... 

Tiệm thuốc Nhị Thiên Đường năm 2020, 47 Triệu Quang Phục, quận 5 (ảnh của tác giả). 

Ông Nguyễn Kim Đính cho biết đầu năm 1925 ông đánh ăn trộm rồi bị người nhà đánh lầm vào lưng bất tỉnh nhân sự, ông đã uống thuốc Tây đủ loại nhưng không giảm được đau, đi đứng hay nằm không yên. Ông Vi Thiều Bá nghe tin đến thăm, cho người về tiệm lấy 4 viên “Vi-Tế-Sanh Trật Đã Hườn” nói với ông Đính là uống 4 viên sẽ hết. Ông Đính ngâm 4 viên thuốc với nửa chai rượu cognac, rồi lớp thoa lớp uống, đau giảm và đi đứng lần mạnh mẽ như xưa. 

Phần quảng cáo trong sách, có đăng nhiều thơ cảm tạ từ khắp lục tỉnh (Gia Định, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cái Bè...) ngay cả Trung kỳ, Bắc kỳ, Cam Bốt và từ Lào gởi về nhà thuốc. Ông Trần Quan Tịnh, soạn giả gánh cải lương Sĩ Đồng Ban cũng có viết thơ năm 1923 cám ơn và khen tặng sự hiệu nghiệm của các liều thuốc mà ông đã dùng khi lưu diễn ở lục tỉnh. 

Ông Vi Thiều Bá. 

Nhà văn Lê Hoằng Mưu cũng có viết thơ cho ông chủ tiệm thuốc Nhị Thiên Đường khen cuốn Vệ sanh chỉ nam và thuốc của nhà thuốc Nhị Thiên Đường tốt, có kết quả so với các loại thuốc của các đông y khác, không nguồn gốc, bán dạo ở nhiều tỉnh thành. Sau đây là một trong các căn bịnh và loại thuốc trong sách Vệ sanh chỉ nam trị được: 

Hoàng-hậu bảo dưỡng hoàn 

Thứ thuốc hườn nầy vãn là thuốc của trào nhà Minh Châu-Thái-Tổ ngự chế; Ngài dùng những tran phẩm dược liệu mà chế ra, để trong cung dùng; nên mới gọi là Hoàng-hậu bảo dưỡng huờn.

Ông Y-học-sĩ Vi-tế-Sanh của Bổn-đường tìm được phương thuốc rất quí nầy, nên người phải bổn thân chịu nhọc, đi tìm cho được các thượng hạng dược liệu, rồi cứ tuân theo phép chế luyện ra để mà cứu chúng giúp đời, cho khỏi phụ lòng của chư tôn huệ cố bấy nay... 

Ít biết hơn là nhà thuốc Nhị Thiên Đường cũng có làm xà bông. Khác với xà bông thường, “xà bông vệ sanh” trị được vi trùng, tắm rửa giặt đồ hay rửa mặt sẽ trị được mụn độc, ghẻ lở. 

Tranh minh họa thông báo thưởng 500 đồng cho ai bắt kẻ gian giả mạo thuốc Nhị Thiên Đường (trái) và dầu Nhị Thiên Đường (phải). 

Sách Vệ sanh chỉ nam cũng cho ta biết thuốc của nhà thuốc Nhị Thiên Đường vì tiếng tăm hiệu nghiệm đã bị nhiều người làm giả mạo. Tiệm thuốc Nhị Thiên Đường kêu gọi mọi người phòng hờ thuốc giả khi mua và nên coi kỹ nhãn hiệu có hình ông Phật Mập là nhãn hiệu cầu chứng của Nhị Thiên Đường. 

Tiệm Nhị Thiên Đường còn rao thưởng 500 đồng (khoảng 200 triệu ngày nay) cho ai bắt kẻ giả mạo thuốc. 

Theo lời đăng của ông Nguyễn Thiện Ý trong Vệ sanh chỉ nam (1925) thì tờ Lục Tỉnh Tân Văn (7.7.1930), Opinion (3.7.1930) và tờ Dân Quốc Nhựt Báo (11.7.1930) có đăng bản án của tòa xử vụ ông Vi Khai (Vi Thiều Bá) kiện ông Trương Xuyên chủ tiệm Nhị Ngươn Đường (hay Nhị Thái Đường) vào năm 1928. Tòa xét là chữ Thái giống chữ Thiên và ve hộp cũng có ông Phật giống như dầu Nhị Thiên Đường nên tuyên ông Trương Xuyên phải bồi thường cho ông Vi Khai 10.000 đồng thiệt hại. 

Bắt đầu từ thập niên 1950, thuốc bắc nói chung không còn phổ thông như trước và tiệm thuốc Nhị Thiên Đường chỉ được biết nhiều qua dầu Nhị Thiên Đường. Nay thì tòa nhà 47 Triệu Quang Phục với dáng dấp hiệu thuốc từng nổi tiếng khắp Nam Kỳ nói riêng và Đông Dương nói chung vẫn còn đó, nhưng hồn xưa giờ ở đâu? 

Nguyễn Đức Hiệp
Người Đô thị - 20/12/2020

Hương vải trăm năm

đăng 19:06, 13 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trong một lần đến chùa Svay Ta Hon (xã An Tức, Tri Tôn, An Giang), tôi khá bất ngờ khi bắt gặp 2 cây vải thiều 300 năm tuổi. Có lẽ, đây là cây vải thiều to lớn nhất mà tôi từng thấy. 

Chùa Svay Ta Hon vào một ngày mưa. Lối dẫn vào chùa với lớp đá phủ dấu thời gian và hàng cột nhiều màu sắc tạo ấn tượng khá đặc biệt cho những ai lần đầu tới đây. Trong cái lạnh buốt của cơn mưa xứ núi vừa mới đi qua, tôi ngồi trò chuyện cùng sư cả Chau Hênh về lịch sử của 2 cây vải thiều cổ thụ này. Là người cởi mở, sư cả Chau Hênh vui vẻ chỉ tay về 2 cây đại thụ được công nhận là cây di sản trong khuôn viên ngôi chùa yên ắng này và câu chuyện về chúng dần hé lộ qua những ly trà nóng. 

“Cây có hồi nào thì sư không biết chắc. Chỉ nghe ông già, bà cụ nói lại là tuổi cây tương xứng với tuổi chùa. Có một ông sư cả đã cất công lên đến Xiêm Riệp (Campuchia) để mang về 3 cây vải thiều trồng trong sân chùa. Qua mấy trăm năm, có 1 cây đã chết. Hiện giờ còn 2 cây sống tốt nên sư cũng ra sức bảo quản, giữ gìn như kỷ vật của cha ông để lại. Mấy ông già đi trước đã giữ gìn thì tới sư phải bảo quản thiệt tốt, vì nhà nước đã công nhận là cây di sản” - sư cả Chau Hênh thiệt tình. 

Hai cây vải thiều đại thụ trong khuôn viên chùa Svay Ta Hon 

Trong cái vắng vẻ của sân chùa ngày mưa, 2 cây vải thiều trầm mặc, lặng lẽ như hàng mấy trăm năm qua chúng đã chứng kiến những đổi thay của thế sự. Dẫn tôi ra xem cây vải, sư cả Chau Hênh không giấu được sự tự hào về 2 cây vải độc đáo này. Đôi tay ông lần dò những mấu cây già nua, sần sùi ghi dấu vết của thời gian. Mùa hè, 2 cây vải xanh um lộng tiếng ve ngân. Mùa thu, lá vải sũng ướt những cơn mưa và trở nên trầm mặc. Mùa xuân, cây vải tốt tươi đón ánh nắng mừng năm mới. Tháng 2, vải bắt đầu có bông. Tháng 3, vải cho những chùm quả đầu tiên. 

“Lúc vải kết trái mới đẹp, mùa này chỉ có lá thôi. Khi trái lớn bằng ngón chân cái thì bắt đầu chín. Dù là di sản của đời trước để lại nhưng sư cũng không hẹp hòi. Ai muốn ăn thì xin sư một tiếng. Sư đồng ý cho bẻ xuống ăn chơi, chứ không bán. Vị vải chua chua, ngọt ngọt chứ không giống như vải bán ngoài chợ. Nhiều người có lòng thành, bẻ trái xuống cúng Phật rồi mới ăn, sư thấy vậy cũng vui lắm” - sư cả Chau Hênh tâm tình. 

Vào lúc trái rộ, sư cả Chau Hênh thường sai người bẻ một ít mang biếu các sư ở chùa lân cận. Mùa trái vải kéo dài chừng 1 tháng thì dứt. Vì 2 cây vải thiều cổ thụ này thuộc diện rất hiếm nên có những bạn trẻ ghé lại tham quan, chụp ảnh. Hiện nay, dưới chân 2 cây vải là tấm bảng công nhận “Cây di sản Việt Nam” của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam. Sư cả Chau Hênh đã cho cất nhà tiền chế nhằm bảo vệ tấm bảng công nhận này, tiện thể ông dự định sẽ đặt một tượng Phật tại đây để mọi người có thể chiêm bái khi cần thiết. 

Hơn 70 năm gắn bó với mảnh đất An Tức hào hùng, ông Châu Kim Sơn yêu quý 2 cây vải thiều trong sân chùa Svay Ta Hon. Hàng ngày, ông lui tới phụ giúp sư cả Chau Hênh coi sóc công việc quan trọng của chùa, trong đó có việc giữ gìn, bảo quản 2 cây vải thiều di sản này. Ông cho biết: “Mỗi cây vải có kích thước to đến 2-3 người ôm mới giáp. Hồi tôi còn nhỏ đã thấy cây sừng sững trong sân chùa. Trải qua bom đạn, mấy cây vải vẫn tồn tại cho tới bây giờ nên người dân xung quanh rất quý chúng. Nhà chùa chỉ bảo quản và chăm sóc cây, không phun thuốc hay bón phân hóa học mà để cây sống, kết trái một cách tự nhiên như ông bà xưa đã làm”. 

Đứng trước thân cây già nua to lớn, bất cứ ai cũng phải xuýt xoa bởi sự trường tồn, vững chãi của chúng qua thời gian. Bản thân tôi khá ấn tượng với 2 cây vải thiều cổ thụ này, bởi chúng đã cho đời mấy trăm mùa trái mà vẫn xanh tươi, trở thành điểm tham quan lý tưởng cho du khách. 

Với sư cả Chau Hênh, 2 cây vải thiều đã trở thành biểu tượng cho ngôi chùa Svay Ta Hon nên ông sẽ tiếp tục giữ gìn và truyền lại cho thế hệ kế thừa. Đồng thời, ngành chức năng và địa phương cần có phương án hỗ trợ việc giữ gìn, bảo vệ để hương vị của trái vải thiều cổ thụ tiếp tục trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của người dân địa phương như mấy trăm năm qua. 

THANH TIẾN

Tiệm sách lâu đời nhất ở "phố sách Đinh Lễ" Hà Nội

đăng 04:27, 25 thg 11, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm ở gác 2 trong ngõ nhỏ số 5 phố Đinh Lễ, “Nhà sách Mão” là nhà sách lâu đời nhất ở Hà Nội gắn bó với ký ức của bao thế hệ người Hà Thành. 

Người ta ví von ông bà chủ “Nhà sách Mão” tư nhân nổi tiếng nhất Hà Nội này chính là thành hoàng khởi nghiệp cho nghề bán sách khu phố Đinh Lễ. Bởi sau khi nhà sách được bà Mão và ông Luy khởi dựng lên thì khu phố Đinh Lễ bắt đầu có thêm nhiều nhà sách khác được mở để trở thành phố sách như ngày nay.

Ông Luy vẫn nhớ như in vào những năm 90, khi cuộc sống vẫn khó khăn nhưng hai vợ chồng những vẫn quyết tâm vay lãi ngân hàng để mua mặt bằng mở tiệm sách. “Nhà sách Mão” ban đầu vốn chỉ là một chiếc bàn sách nhỏ của vợ chồng ông bày bán trên vỉa hè phố Đinh Lễ, phía ngoài Bưu điện Hà Nội. Sau nhiều năm tích góp, ông bà đã tìm mua được căn nhà nhỏ trên gác 2 khu tập thể số 5 Đinh Lễ để kinh doanh và cho tới bây giờ, hiệu sách lâu năm của ông bà vẫn thu hút đông đảo người yêu sách ghé thăm mỗi ngày. Trải qua hơn 20 năm, “Nhà Sách Mão” vẫn luôn là "thánh địa" cho các độc giả yêu sách gần xa, luôn là nơi giữ lửa cho văn hóa đọc sách. 

Không gian “Nhà sách Mão” luôn yên bình, cổ kính, bước chân vào nhà sách, bạn sẽ có cảm giác như đang lạc vào xứ sở cổ tích với muôn vàn câu chuyện, sắc màu khác nhau khi xung quanh chỉ toàn sách là sách. Sách nằm trên bàn, để trên những chiếc kệ cao đến ngất ngưởng đủ sức thu hút níu kéo bạn đọc ở đây cả ngày dài mà không chán.

Nhà sách Mão tọa lạc trên gác 2 của khu tập thể số 5, phố Đinh Lễ, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Với những người mê sách ở Hà Nội, không mấy ai là không biết đến "Nhà sách Mão" của ông bà Lê Luy - Phạm Thị Mão.

Ban đầu "Nhà sách Mão" chỉ là một chiếc bàn sách bé tí được ông Luy và bà Mão bày bán ở cạnh vỉa hè.

Khách đến với Nhà sách Mão đủ mọi lứa tuổi.

Sách ở đây phong phú đa dạng, phù hợp với mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi.

Chân cầu thang xoắn ở giữa nhà chất đầy sách.

Đến "Nhà sách Mão", những người yêu sách có thể tìm đọc những cuốn sách hiếm, có niên đại lâu năm.

Sách được chia ra những khu vực khác nhau theo từng chủ đề và có hướng dẫn cụ thể.

Những cuốn truyện tiếu lâm, truyện cười dân gian… nhỏ bằng lòng bàn tay mà hiện tại ít thấy bán trên thị trường cũng có rất nhiều ở đây.

Những cuốn sách được phát hành tại tầng 2 – số 5 phố Đinh Lễ, Hà Nội.

Nhà sách Mão đã trở thành điểm đến quen thuộc của nhiều thế hệ độc giả yêu sách.

Sách ở Nhà sách Mão vô cùng phong phú, đa dạng với nhiều thể loại khác nhau.

Bạn sẽ cảm thấy ngỡ ngàng giống như bước vào một thế giới sách khi lần đầu đặt chân tới nơi đây.

Không chỉ là nhà sách, trên căn gác nhỏ còn có cả một quán cafe sách với không gian nhỏ xinh phục vụ các khách hàng tới mua sách.

Giữa lòng thành phố đông đúc, Nhà sách Mão mang theo những kỷ niệm đẹp từ thế kỷ trước cho đến tận bây giờ. 

Với diện tích hơn 200m2, “Nhà sách Mão” được chia thành 5 gian, sách được phân loại từng khu để người đọc dễ tra cứu, tìm kiếm. Tại đây, độc giả có thể tìm đủ loại đầu sách mình muốn từ văn học Việt Nam, văn học nước ngoài, sách thiếu nhi, sách về kỹ năng sống, sách về Hà Nội… Đặc biệt, trong số những cuốn sách tại “Nhà sách Mão” phải kể đến một số ấn phẩm được ông bà chủ nhà sách tự tay in ấn và phát hành sách độc quyền như: Thăng Long Thi Văn Tuyển, Almanach– Những nền văn minh thế giới, Từ điển văn hoá cổ truyền Trung Hoa, Dã linh y nhân nữ hoàng Võ Tắc Thiên...

Dẫu nhiều năm trôi qua, tâm huyết của ông bà chủ hiệu sách vẫn chẳng thay đổi. Chính vì vậy, sau khi bà Mão mất, ông Luy đã cho sửa lại và mở rộng phòng sách rộng rãi, thoáng đãng và đẹp đẽ hơn nhiều để trở thành không gian làm việc yên tĩnh, đọc sách miễn phí được mọi người lui tới. Với việc cải tiến không gian bên trong với lối kiến trúc Phương Tây bằng đường cầu thang xoắn ốc, “Nhà sách Mão” không chỉ là điểm dừng chân đọc sách để tĩnh tâm mà còn trở thành địa điểm check-in của giới trẻ hiện nay.

Chị Lê Ngọc Anh, con gái của ông bà chủ cũng là người trông coi nhà sách hiện nay cho biết: “Khi còn nhỏ, mình cũng từng nói với bố mẹ, chắc sau này lớn lên sẽ không làm sách vì thấy nó quá vất vả, những đồng tiền thu được như góp những đồng tiền lẻ vậy. Vậy mà thời gian đã thay đổi hoàn toàn suy nghĩ của mình. Việc bố mẹ lựa chọn, nâng niu và tư vấn từng cuốn sách đến tận tay người đọc đã tiếp lửa cho mình tiếp tục duy trì và phát triển nhà sách này”.

Mang đậm nét hoài cổ và quan trọng nhất là đượm mùi thơm của những trang sách, nhà sách Mão như trở thành chốn dừng chân bình yên cho nhiều người giữa nhịp sống hối hả, vội vàng của Hà Nội.

Bài: Ngân Hà - Ảnh: Công Đạt

Giữ cổ thụ 100 năm cho bến Người tình

đăng 20:41, 4 thg 11, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

'Cây da cổ thụ thân thương đã trở thành một phần ký ức của người Sa Đéc rồi. Chúng tôi quyết bảo tồn dù có người muốn đốn bỏ' - ông Võ Thanh Tùng, nguyên chủ tịch UBND TP Sa Đéc (Đồng Tháp), chia sẻ. 

Cây da trước khi chưa bị nghiêng - Ảnh: THANH NGHĨA

Về Sa Đéc, du khách hỏi thăm cây da trăm tuổi hay quán cơm Cây Da tại phường 1, chắc hẳn dân địa phương nào cũng có thể hướng dẫn chính xác. 

Cùng với đình thần Vĩnh Phước gần đó và rạch Cái Sơn, hình ảnh "cây đa, bến nước, sân đình" thân thuộc của làng quê Việt Nam tái hiện ngay tại mảnh đất bên dòng sông Tiền.

Đổi nền, tốn chi phí hàng trăm triệu đồng để bảo tồn được cây da. Nhưng chính quyền chọn cây cũng là chọn theo ý nguyện nhiều người dân và con cháu mai sau.

Ông VÕ THANH TÙNG

Đời cây, bao đời người

Cây da nằm sừng sững trên đường Hùng Vương nhộn nhịp bậc nhất TP. Xung quanh là chợ xưa Sa Đéc, nhà cổ Huỳnh Thủy Lê và ngôi Trường tiểu học Trưng Vương gắn liền với tuổi thơ của nữ văn sĩ người Pháp Marguerite Duras - người viết nên cuốn tiểu thuyết Người tình nổi tiếng. 

Nhiều năm qua, cây da có đường kính hơn 5m, cao trên 20m trở thành một trong những biểu trưng cho phố cổ Sa Đéc. Hình ảnh cổ cây thân thương đến mức nhiều Việt kiều trở về quê hương đều đến thăm "cụ da trăm tuổi" để ôn lại ký ức tuổi thơ.

Ông Ôn Nguyên Thuận (73 tuổi, phường 1), nhà gần gốc da, cho biết thời ông nội mình đã thấy cây da, ước tính ít nhất phải hơn 100 năm. Đình thần Vĩnh Phước gần đó được xây dựng từ năm 1807 nên người dân xung quanh cho rằng cây da cũng xuất hiện khoảng niên đại đó. 

"Cây da này được nhiều người tin và thờ phụng lắm. Họ tin rằng có ông thần cây bảo vệ, giúp người dân ở đây cuộc sống yên bình, hạnh phúc" - ông Thuận kể.

Còn bà Nguyễn Thị Hòa (81 tuổi, phường 1) cho biết cây da nổi tiếng đến mức cái quán cơm bên gốc cũng được đặt tên quán cơm Cây Da và nhờ vậy luôn đông khách. Du khách phương xa hay ghé lại thưởng thức món ăn Sa Đéc dưới gốc đa cổ thụ rợp bóng mát. 

"Nó là một phần ký ức, hoài niệm rồi. Bởi vậy TP mới bảo tồn mà không bứng đi trồng nơi khác" - bà Hòa tâm sự.

Kể chuyện xưa, ông Nguyễn Nhất Thống, chủ tịch Hội Sử học TP Sa Đéc, cho biết không ai rõ chính xác tuổi cây da, nhiều người tin rằng cổ cây có thể xuất hiện cùng với việc dựng đình thần Vĩnh Phước. 

"Người xưa hay có câu "cây đa, bến nước, sân đình". Xưa vùng này toàn kênh rạch, muốn lên bờ phải từ bến nước đi lên. Ngoài ra, thuở mở cõi, người ta cũng dựng đình, trồng cây đa để phục vụ nhu cầu tâm linh. Do vậy, cây da này có ý nghĩa rất quan trọng với đời sống tinh thần người dân Sa Đéc" - ông Thống chia sẻ.

Cây da đã được cắt tỉa, ép cọc, cố định khung sắt giúp đứng vững an toàn - Ảnh: THÀNH NHƠN

Quyết tâm bảo tồn cây

Do ảnh hưởng từ cơn bão số 3 năm 2019, cây da bị nghiêng một phần gây hư hại nhà dân xung quanh. Ông Nguyễn Văn Của (62 tuổi), chủ tiệm gần gốc cây da, cho biết cây nghiêng gây e ngại cho nhiều hộ dân sống gần. Bản thân ông nhiều hôm mưa gió không dám ngủ tại nhà, mà phải tìm chỗ khác. 

"Người dân phản ảnh lên chính quyền vì sợ cây ngã đổ gây nguy hiểm tính mạng, nhà cửa. Sau nhiều lần thương thảo, cuối cùng chính quyền cũng thỏa thuận vừa tạo điều kiện cho những hộ dân gần đó tiếp tục kinh doanh vừa có cách khoa học duy trì an toàn cho cây da trăm tuổi này" - ông Của chia sẻ.

"Bứng cây da đi thì được lòng chỉ 5-10 hộ dân sống gần đó, nhưng mất lòng hàng trăm ngàn dân sống tại Sa Đéc. Mình không sợ mất tiền, tiền có thể làm ra, nhưng mất cây da thì tổn hại không đo đếm được. 

Anh có thể cất cái nhà 50-60 tầng trong vài năm, nhưng phải mất trăm năm mới có được một cây da như thế" - ông Thống từng trút nỗi niềm với một vị lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp khi được trực tiếp hỏi về việc di dời hay bảo tồn cây da.

Theo ông Thống, nếu bứng cây da đi nơi khác mà lỡ cây chết thì sẽ có lỗi với tiền nhân. Hiện trên địa bàn TP Sa Đéc có 2 cây da, ngoài cây da đang bảo tồn thì còn một cây da khác tại đình Tân Quy Tây. 

Cây da không ai biết bao nhiêu tuổi nhưng nó đã song hành, chứng kiến lịch sử thăng trầm của TP Sa Đéc.

Ông Võ Thanh Tùng, nguyên chủ tịch UBND TP Sa Đéc, là một trong những người rất tâm huyết với việc bảo vệ cây da trăm tuổi. 

"Sau cơn bão số 3 thì cây da nghiêng và làm nứt nhà của hai hộ dân. Có 3 phương án đưa ra là đốn bỏ, di dời hoặc bảo tồn cây da. Địa phương đau đáu tìm cách giải quyết. Sau khi tham khảo ý kiến nhiều chuyên gia, người dân, cuối cùng TP quyết tâm bảo tồn mặc dù cây da này không phải là cây di sản" - ông Tùng bộc bạch.

Thời còn trên cương vị chủ tịch TP, ông Tùng đã 4 lần đối thoại với dân xung quanh vấn đề cây da. Do dưới gốc cây có quán cơm lâu đời tồn tại trước năm 1975 nên nhiều người đến ăn. Chủ đất không muốn dời đi vì "chén cơm", trong khi TP muốn bảo tồn cây trăm tuổi. 

Sau nhiều lần thương thảo bất thành, cuối cùng chính quyền và người dân đồng ý với phương án TP sẽ lấy một phần diện tích đất xung quanh cây da của người dân và đổi lại bằng một nền đất khác trong khu dân cư. Đồng thời quán cơm vẫn tiếp tục duy trì ở vị trí cũ, chỉ thu hẹp diện tích. 

"Hiện chính quyền đã chi ngân sách 550 triệu đồng để bảo tồn cây da. TP tiến hành ép cọc, canh chỉnh thẳng lại, xây tường chắn cách ly khỏi nhà dân" - ông Tùng chia sẻ.

Một đời cây, bao đời người. Với những tấm lòng muốn gìn giữ tán xanh cho mai sau, cây da cổ thụ vẫn sừng sững nơi góc phố xưa. Mai này, du khách về thăm Sa Đéc vẫn được ngồi nghe chuyện Người tình - L’Amant dưới bóng cây trăm năm…

THÀNH NHƠN

Nguyễn Duy Trinh - Chiến sỹ cách mạng tiêu biểu trên quê hương Xô viết anh hùng

đăng 06:55, 24 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Với 75 tuổi đời, 57 năm tuổi Đảng, gần 60 năm hoạt động cách mạng liên tục cả 3 miền Trung, Nam, Bắc, đồng chí Nguyễn Duy Trinh là chiến sỹ thuộc lớp cận vệ đầu tiên của Đảng, một học trò trung thành và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Người con ưu tú của quê hương xứ Nghệ 

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh tên thật là Nguyễn Đình Biền sinh ngày 15/07/1910, tại làng Cổ Đan, tổng Đặng Xá (nay là xóm 12, xã Phúc Thọ), huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Mảnh đất giàu truyền thống lịch sử, địa linh sinh hào kiệt anh tài, làm rạng danh truyền thống trên cả 2 phương diện võ công và văn nghiệp. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh là hậu duệ đời thứ 15 của Thủy tổ Thái sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí. 

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh. Ảnh tư liệu 

Thuở nhỏ, Nguyễn Đình Biền được cha là cụ Cử nhân Nguyễn Đình Tiếp kèm cặp, sau đó theo học Quốc ngữ ở Đặng Xá. Vốn thông minh sáng dạ, giỏi cả Hán văn và Pháp ngữ, năm 12 tuổi, Nguyễn Đình Biền được gia đình cho theo học tại Trường Quốc học Vinh. Năm 1924, đồng chí là học trò của thầy giáo Trần Phú. Nguyễn Đình Biền đã sớm tham gia phong trào học sinh chống áp bức của thực dân phong kiến, đòi tự do hoạt động chính trị ở Vinh như: Tham gia lễ truy điệu nhà chí sỹ yêu nước Phan Chu Trinh, tham gia ký tên vào bản yêu sách đòi thực dân Pháp trả tự do cho Phan Bội Châu…

Năm 1928, Nguyễn Đình Biền tham gia Đảng Tân Việt - một trong những tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam, sau đó được tổ chức tín nhiệm phân công hoạt động tại Sài Gòn- Gia Định. Để tránh sự truy lùng của mật thám, đồng chí đổi tên thành Nguyễn Duy Trinh - cái tên đã theo đồng chí đến hết cuộc đời hoạt động cách mạng kiên cường của mình. Cuối năm 1928, đồng chí Nguyễn Duy Trinh bị Pháp bắt tại một cơ quan của Tân Việt ở Sài Gòn. Không khai thác được thông tin gì, tháng 7/1930, Thống đốc Nam Kỳ Cơ-rô-tê-ne (Jean-Félix Krautheimer) ký nghị định trục xuất Nguyễn Duy Trinh về nguyên quán để hạn chế nguy cơ mầm mống cách mạng. 

Lá cờ đầu trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh 

Ngày 28/12/1930, hưởng ứng lời kêu gọi của Xứ ủy Trung kỳ tổ chức lễ truy điệu các chiến sỹ đã hy sinh, đồng chí Nguyễn Duy Trinh cùng các cấp ủy Đảng ở Nghi Lộc lãnh đạo Nông hội đỏ, Hội phụ nữ giải phóng, Thanh niên cộng sản đoàn… phối hợp với Tỉnh ủy Vinh - Bến Thủy vận động được hàng ngàn quần chúng nhân dân Nghi Lộc cùng với công nhân các nhà máy, nhân dân thị xã Vinh và phủ Hưng Nguyên tập trung về dăm Mụ Nuôi, làng Lộc Đa (Hưng Lộc) dự lễ. Cuộc vận động này đã được đồng chí Nguyễn Ái Quốc phản ánh trong bài "Nghệ Tĩnh đỏ" gửi Bộ Phương Đông của Quốc tế cộng sản ngày 19/2/1931. 

Sáng ngày 02/01/1931, Tri huyện Tôn Thất Hoàn đưa lính đến nhà lý trưởng làng Song Lộc đàn áp quần chúng và bắt hai gia đình cách mạng. Với lòng căm thù cao độ khí thế cách mạng sục sôi quần chúng đã vùng lên giết Tri huyện Tôn Thất Hoàn, Phó Chánh tổng Đặng Xá, phó lý, chánh đoàn làng Song Lộc và 5 tên lính trước cây đa đền Chính Vị. Trước tình hình đó, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã lãnh đạo các Chi bộ Đảng, ban chấp hành nông hội đỏ tiến hành họp hội nghị khẩn cấp bàn biện pháp đối phó. Cử cán bộ đến phối hợp cùng các chi bộ Đảng, một mặt đưa số cán bộ, đảng viên đã bị lộ mặt đi hoạt động nơi khác, họp hội viên nông hội đỏ thảo luận kế hoạch đối phó khi địch đến đàn áp, chuẩn bị tinh thần đấu tranh cho nhân dân. 

Thời kỳ này dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Duy Trinh tổ chức Đảng ở huyện Nghi Lộc đã phát triển từ 15 chi bộ với 58 đảng viên lên 23 chi bộ với 162 đảng viên, Nông hội đỏ phát triển từ 1.574 hội viên hoạt động trong 19 làng xã lên 4.926 hội viên. Ngoài ra còn có 118 hội viên hội phụ nữ giải phóng, 64 đoàn viên thanh niên Cộng sản đoàn và hàng chục hội viên hội cứu tế đỏ hội tán trợ cách mạng… 

Khu lưu niệm nhà ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tại xóm 10, xã Phúc Thọ (Nghi Lộc). Ảnh tư liệu: Giao Hưởng

Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, thực dân Pháp và chính quyền Nam triều phong kiến đã nhanh chóng tập trung lực lượng để phá cho được thành quả Xô Viết Nghệ Tĩnh. Chúng dựng lên ở Nghi Lộc một hệ thống đồn bốt dày đặc. Tháng 4 năm 1931, trong một xóm nghèo ở làng Đức Thịnh trên đường đi Cửa Hội, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Duy Trinh, các đồng chí đã tiến hành họp bàn kế hoạch và lập ra ban cán bộ Huyện ủy mới, tiếp tục duy trì sự hoạt động của Đảng bộ. Hội nghị đã tín nhiệm bầu đồng chí Nguyễn Duy Trinh làm Bí thư Huyện ủy Nghi Lộc mới. 

Sau hội nghị, đồng chí Nguyễn Duy Trinh và Ban cán sự đã tìm cách liên lạc được với Xứ ủy Trung Kỳ đóng tại Bến Thủy. Cuối tháng 4/1931, đồng chí Nguyễn Duy Trinh tham dự cuộc hội nghị khuếch đại (mở rộng) của Xứ ủy do đồng chí Nguyễn Phong Sắc - Trung ương Ủy viên của Đảng phụ trách. 

Địch đã tiến hành các chính sách đàn áp phong trào với những đòn khủng bố hung dữ nhất, tiến hành nhiều vụ thảm sát đẫm máu, gây tổn thất nặng cho phong trào. Chính quyền cách mạng khắp các xã tan rã, trước tình thế ngặt nghèo, đồng chí Nguyễn Duy Trinh không hề nhụt chí, tiếp tục bắt mối liên lạc với những đồng chí đảng viên chưa sa vào lưới giặc. Các đồng chí một mặt kiên nhẫn tìm cách khắc phục khó khăn, duy trì phong trào cách mạng địa phương, rút dần vào bí mật. Ngày 18/1/1932, đồng chí Nguyễn Duy Trinh sa lưới địch. 

Nêu cao khí tiết cách mạng trong nhà tù thực dân phong kiến 

Cuối tháng 11 năm 1928 đồng chí Nguyễn Duy Trinh bị bắt lần thứ nhất. Đồng chí bị thực dân Pháp đưa vào Khám lớn Sài Gòn, tuy nhiên, theo giấy tờ lúc đó, đồng chí chưa đủ tuổi vị thành nên bị nhốt trong khám tù vị thành niên. Trong môi trường đó, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã tranh thủ thời gian vừa ôn luyện những “bài huấn luyện” đã được học, vừa tập trung cảm hóa những “bạn tù”. Cũng trong thời gian này, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã làm quen được với nhiều nhà yêu nước khác như Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thúc Bao và đặc biệt là đồng chí Tôn Đức Thắng. 

Tháng 7 năm 1930, thực dân Pháp đưa Nguyễn Duy Trinh và những người bị tình nghi liên quan đến vụ án tại ngôi nhà số 7, đường Barbier Sài Gòn ra xét xử. Nguyễn Duy Trinh bị thực dân Pháp kết án 18 tháng tù nhưng ngay sau đó Thống đốc Nam Kỳ ký nghị định trục xuất về Nghệ An. Đưa Nguyễn Duy Trinh “hồi hương” chẳng khác nào thực dân Pháp “thả hổ về rừng” vì ngọn lửa cách mạng trong đồng chí chưa bao giờ tắt và nó bùng lên mạnh mẽ hơn khi được trui rèn qua đòn roi của ngục tù đế quốc. 

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh trong thời gian bị tù đày. Ảnh do mật thám Pháp chụp, lưu tại Cục Hồ sơ nghiệp vụ an ninh. 

Ngày 18/01/1932, đồng chí bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai do sự chỉ điểm của một kẻ phản bội. Bắt được Nguyễn Duy Trinh, thực dân Pháp và tay sai dùng mọi hình thức từ mua chuộc cho đến tra tấn dã man hòng lay chuyển ý chí của đồng chí nhưng chúng đều thất bại. Bất lực, chúng xét xử qua loa rồi đưa đồng chí đi tù đày ở Nhà đày Buôn Ma Thuột.

Tháng 6 năm 1935, đồng chí Nguyễn Duy Trinh và 5 người khác bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo. Tại đây, đồng chí Nguyễn Duy Trinh gặp lại những người cộng sản kiên trung khác đang bị giam giữ như: Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Hoan, Lê Đức Thọ… Tháng 6 năm 1936, đồng chí Nguyễn Duy Trinh được bầu làm Bí thư, các đồng chí Hồ Văn Long, Phạm Hùng, Lê Văn Lương làm chi ủy viên. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Duy Trinh các đảng viên tiếp tục nghiên cứu sâu nhiều vấn đề của chủ nghĩa Mác - Lênin, tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin cho tù nhân. 

Ngày 19 tháng 12 năm 1941, đồng chí Nguyễn Duy Trinh mãn hạn tù, thực dân Pháp không phóng thích mà chúng đưa đồng chí lên giam ở trại Đăklei. Tại đây, Nguyễn Duy Trinh đã cùng với các đồng chí cốt cán khác tổ chức học tập lý luận cách mạng. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh là Trưởng bộ môn lý luận Mác – Lênin và đường lối của Đảng. 

Đầu năm 1943, Nguyễn Duy Trinh cùng với đồng chí Chu Huy Mân, Huỳnh Ngọc Huệ và Hà Thế Hạnh tổ chức vượt ngục Đăklei. 

Sau đó đồng chí Nguyễn Duy Trinh bị bắt lại. Tháng 5 năm 1945 đồng chí Nguyễn Duy Trinh được tự do, nhanh chóng bắt liên lạc với tổ chức và tham gia vận động Tổng khởi nghĩa ở thành phố Vinh và Huế. Sau Cách mạng Tháng Tám, đồng chí lần lượt kinh qua nhiều vị trí lãnh đạo ở địa phương và Trung ương. Cho dù ở cương vị nào, đồng chí Nguyễn Duy Trinh cũng phát huy được phẩm chất cách mạng của một người chiến sĩ cộng sản kiên trung. 

Tấm gương sáng về người cán bộ, mẫu mực, suốt đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng 

Sự năng động trong thực tiễn đầy gian khổ, hy sinh mà đồng chí Nguyễn Duy Trinh trải qua đã góp phần cùng với Đảng ta hình thành quan điểm, đường lối cách mạng đúng đắn. Trên cương vị là Bộ trưởng Bộ ngoại giao, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã tham gia nhiều hội nghị của Bộ Chính trị, của Trung ương và Chính phủ để xây dựng hoàn thiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, phù hợp với tình hình, nhằm đoàn kết, tập hợp lực lượng quốc tế hiểu đúng Việt Nam, giúp đỡ, ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ. 

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Ảnh tư liệu: TTXVN 

Đó không chỉ là thắng lợi về chính trị ngoại giao mà cả về kinh tế, quốc phòng, đảm bảo nguồn lực cũng như hậu thuẫn rất cần thiết cho cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Tổ quốc và nhân dân ta mãi mãi ghi nhớ tài năng trí tuệ của đồng chí Nguyễn Duy Trinh, người đã kinh qua nhiều chức vụ cao cấp của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là 26 năm giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị, 15 năm giữ chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao góp phần không nhỏ vào chiến công chung của toàn dân tộc. Kinh nghiệm và bài học mà đồng chí Nguyễn Duy Trinh để lại trên mặt trận ngoại giao vẫn còn nguyên giá trị đối với quá trình hội nhập quốc tế của chúng ta hôm nay. 

Đồng chí Nguyễn Duy Trinh sống giản dị, cần kiệm, yêu mến nhân dân. Đó là đức tính mà đồng chí tiếp nhận từ gia đình, quê hương và được bồi đắp nuôi dưỡng trọn đời mình. Không phải trong thời kỳ hoạt động gian khổ, thiếu thốn mà sau khi cách mạng đã thành công, chuyển sang thời kỳ Đảng cầm quyền, bản thân đồng chí đã trở thành một cán bộ cao cấp, đồng chí vẫn giữ nếp sống giản dị, thanh đạm, chan hòa nhưng tâm hồn thì trong sáng ung dung, tự tại. Với tài năng, phẩm chất đạo đức ấy, đồng chí Nguyễn Duy Trinh thực sự là tấm gương sáng ngời để các thế hệ nối tiếp nhau học tập noi theo. 

Nguyễn Văn Bích - Hồ Hải Liễu (Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh)

1-10 of 26