Con người và sự kiện

Bài mới

  • Người may ‘long bào’ thế kỷ 21 Hơn 20 năm tâm huyết với nghề, nghệ nhân Thanh Nhàn đã trở thành người duy nhất cung ứng trang phục tuồng cho các đoàn hát tại khu vực ĐBSCL ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Đi ngang chợ Đũi và nhớ… Nằm ở góc đường Cách Mạng Tháng Tám - Võ Văn Tần (trước là Lê Văn Duyệt - Trần Quý Cáp) hiện nay là một ngân hàng to, một quán cà phê ...
    Được đăng 02:38, 17 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Quận 5 - Thiên đường ẩm thực Người Sài Gòn trước đây có câu nói: “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1, cướp giật quận 4”, chỉ 14 chữ đã tóm tắt đủ nét ...
    Được đăng 02:32, 17 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • ‘Làng biệt thự’ quận 3 Người Việt nói ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, đi xe Hoa Kỳ. Ăn cơm Tàu thì vào Chợ Lớn, còn ở nhà Tây sang phía quận ...
    Được đăng 02:20, 17 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Gốc bàng 600 tuổi như hang động được trả 35 tỉ mà chủ không bán Ông Kiên sở hữu gốc bàng đá cổ thụ có tuổi thọ trên 600 năm tuổi, đường kính lên đến 14 m, có người hỏi mua với giá 35 tỉ ...
    Được đăng 05:14, 7 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 16. Xem nội dung khác »


Người may ‘long bào’ thế kỷ 21

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Hơn 20 năm tâm huyết với nghề, nghệ nhân Thanh Nhàn đã trở thành người duy nhất cung ứng trang phục tuồng cho các đoàn hát tại khu vực ĐBSCL.

Nghệ nhân Thanh Nhàn cho biết ông tên thật là Võ Công Khanh (66 tuổi, khóm Đông Bình A, xã Đông Thuận, thị xã Bình Minh, Vĩnh Long). Do sinh ra trong một gia đình có truyền thống hát bội nên ngay từ nhỏ, nghệ nhân đã theo ông ngoại đi khắp nơi lưu diễn.

Thợ may độc nhất

Sau khi ông ngoại mất, nghệ nhân Thanh Nhàn đi theo nhiều đoàn hát khác nhau, lưu diễn khắp ĐBSCL rồi lên cả TP.HCM. Cụ thể ông đã tham gia các đoàn như Liên Hữu, Tấn Phát (Long Xuyên, An Giang), Sao Vàng, Văn Thanh (Sóc Trăng), Đồng Thinh (Vĩnh Long), Phước Tuần, Phước Hưng (Cần Thơ), CLB Thể nghiệm của NSƯT Ngọc Khanh và Sĩ Tốt.

Tại các đoàn hát trên, nghệ nhân Thanh Nhàn làm nhiều công việc như bán vé, phụ việc phía sau sân khấu và cả vai trò kép chính. Từ đó kinh nghiệm nghề của ông ngày càng được nâng cao.

Theo nghệ nhân Thanh Nhàn, lúc bấy giờ các điểm may trang phục tuồng không có, nghệ sĩ phải mặc trang phục cũ từ nửa thế kỷ trước. “Trong một lần diễn vai Tạ Ôn Đình, tôi bị khán giả chê mặc đồ cũ nát. Từ đó tôi bắt đầu suy nghĩ đến việc may trang phục để có đồ mới mặc cho lịch sự” - nghệ nhân kể.

Do không có trường dạy may trang phục tuồng nên nghệ nhân Thanh Nhàn đã tự mày mò học hỏi cách may. Ông đi mua những bộ giáp cũ của các anh em nghệ sĩ về tháo ra, nghiên cứu cách may ráp lại. Vì tay ngang nên những sản phẩm đầu tay đã không được như ý muốn, vải nhăn nhúm, màu sắc hoa văn không sinh động, không sang. Vì vậy nghệ nhân phải tháo ra làm lại nhiều lần.

“Lúc đầu nản lắm nhưng được sự động viên, ủng hộ của mọi người, phần vì yêu nghề nên tôi hạ quyết tâm làm cho bằng được. Cuối cùng cũng có vài bộ ra sân khấu được mọi người khen, tôi mừng như trúng số” - nghệ nhân Thanh Nhàn chia sẻ.

Ông cũng chia sẻ thêm, trước khi bắt tay vào làm một bộ trang phục, phải nghiên cứu kỹ trang phục đó là người nào mặc, ở triều đại nào, có thể sử dụng cho những tuồng nào. “Mỗi tuồng có trang phục riêng, mang dấu ấn của thời đại đó. Ví dụ tuồng Xử án Bàng Quý Phi, trong đó có Địch Thanh là tướng soái thì ổng mặc đồ của nguyên soái và ổng cầm đao chứ không thể cầm thương” - nghệ nhân cho biết.

Nghệ nhân Võ Công Khanh (Thanh Nhàn) trong bộ trang phục hoàng đế do mình làm ra.


Nghệ nhân Võ Công Khanh (Thanh Nhàn) đang kiểm tra lại chiếc mão vua.


Trăn trở thế hệ kế thừa

Trong lúc trò chuyện với PV, nghệ nhân lấy ra một bộ trang phục toàn màu kim sa lấp lánh. Các hạt kim sa được kết thành hình một con rồng lớn, trông sống động như thật. Theo nghệ nhân Thanh Nhàn, đây là trang phục cho vua vì thời xưa chỉ có vua chúa mới được mặc trang phục màu vàng và thêu hình rồng. Tất cả công đoạn đều được làm bằng tay, rất tỉ mỉ, cách phối màu chuẩn xác. Một bộ trang phục thế này người thợ giỏi cũng phải mất bảy ngày mới hoàn thành được. 

Sau khi rành về may quần áo, ông bắt đầu làm thêm mão, giày, râu, đao, roi ngựa… Đến nay đôi bàn tay cần mẫn người nghệ nhân có thể may tất cả trang phục, đồ dùng của sân khấu tuồng, tuồng cổ và trở thành người độc quyền cung ứng trang phục tuồng cho các đoàn hát tại ĐBSCL. Số lượng trang phục của ông đã lên đến hàng trăm bộ, đủ để cung ứng cho ba đoàn hát cùng lúc. 

Thời gian gần đây, vì lý do sức khỏe và công việc gia đình nên nghệ nhân Thanh Nhàn chủ yếu tập trung cho thuê trang phục và tham gia các hoạt động lễ hội văn hóa tại địa phương. Ông làm cố vấn đạo diễn, chỉ đạo sân khấu cho các đoàn hát. 

Hiện ông hoạt động trong Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh Long. Ở địa phương, hễ có lễ hội văn hóa, cúng kỳ yên hay khánh thành đình miếu đều mời ông tham gia biểu diễn. 

Theo nghệ nhân Thanh Nhàn, hiện tại nghệ thuật tuồng hát bội đang bị chựng lại, không có thế hệ kế thừa. Bởi nghề này khó kiếm sống và quá khó tập đối với lớp trẻ bây giờ. Phần lớn thế hệ sau này chuyển qua cải lương, tấu hài, kịch nói. “Những người yêu nghề như chúng tôi chắc không có thế hệ kế thừa nữa” - nghệ nhân Thanh Nhàn nói. 


Qua hàng chục năm cống hiến cho nghề, năm 2015 nghệ nhân Thanh Nhàn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú.


Về vận mệnh của sân khấu tuồng hát bội thời nay, ông chia sẻ: “Đời nghệ sĩ khắc nghiệt lắm, đã có lúc tôi định bỏ nghề phần vì lớn tuổi, phần vì không thể nuôi sống gia đình nhưng đã là nghiệp thì đâu dễ dứt được. Có lúc nghe nhiều người chê hát bội, tôi xem như không nghe để tiếp tục làm nghề. Còn về trang phục các đoàn chủ yếu là thuê. Dù sau này không ai thuê nữa thì những bộ trang phục này cũng là một kỷ niệm nghề của người nghệ sĩ”.


HẢI DƯƠNG

Đi ngang chợ Đũi và nhớ…

đăng 02:38, 17 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm ở góc đường Cách Mạng Tháng Tám - Võ Văn Tần (trước là Lê Văn Duyệt - Trần Quý Cáp) hiện nay là một ngân hàng to, một quán cà phê thời thượng.

Nhiều cư dân lâu đời chung quanh khu phố này gọi khu vực đó là khu chợ Đũi. Nhưng lớp người này đã già theo sự lớn lên của đô thị. Rồi mai đây ai còn nhớ đến tên chợ Đũi khi “thế gian biến cải vũng nên đồi”…? 

Chợ Đũi là tên khu vực rộng, khoảng những năm 1930, được khu trú trong khoảng đường Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp. Nơi đây là chốn cư ngụ trước tác của hai nhà văn Minh Hương và Huỳnh Phan Anh. Về phía đường Lê Văn Duyệt có rạp Nam Quang, đi xuống một chút là Trường Trung học Trường Sơn. Còn khu Trần Quý Cáp có Trường Tân Văn (biệt thự cổ vừa bán tỉ… tỉ), bánh ướt Tân Văn… (do bán trước cửa trường, sau này chuyển qua Bà Huyện Thanh Quan). 


Trước đó, bản đồ vẽ năm 1883 cho thấy chợ Đũi nằm gần góc đường Chasseloup Laubat - Thuận Kiều (Nguyễn Thị Minh Khai - Cách Mạng Tháng Tám). Đây là một ngôi chợ thuộc loại “già” có hạng của Sài Gòn, có bán một loại hàng đặc sản dệt bằng tơ gốc được gọi là đũi - nếu như tồn tại cho đến nay. Vì theo nhà báo Trần Nhật Vy trong Từ Bến Nghé tới Sài Gòn xác tín chợ Đũi chính là chợ Điều Khiển có từ thế kỷ 18. Lúc ấy chợ Đũi bao gồm một khu vực rộng lớn từ khu Võ Văn Tần, Cách Mạng Tháng Tám, bao quanh khu nhà thờ Huyện Sỹ (còn gọi là nhà thờ Chợ Đũi của họ đạo Chợ Đũi) đến khu vực Phạm Ngũ Lão. Trên bức tường bao quanh ga xe lửa còn ghi rõ hai chữ Chợ Đũi. Dần dần theo thời gian, không gian bị thu hẹp lại theo trí nhớ và sự quy định, khi nói đến khu chợ Đũi người ta chỉ nghĩ đến khu vực góc Võ Văn Tần và Cách Mạng Tháng Tám. 

Nhưng thôi, chuyện chợ Đũi có từ khi nào chỉ là việc “đi tìm lại thời gian đã mất” vì bây giờ chợ Đũi cũng chẳng còn ai nhắc đến. Hiện nay đây là một khu thương mại, có ngân hàng, quán cà phê hiện đại. Dân văn nghệ, trí thức và lao động đã từng sống ở đây hay lai rai mỗi chiều thường nhớ hình ảnh những quán nhậu bình dân lề đường đặc sệt chất chợ Đũi mà họ đã từng ngồi với bạn bè nhìn trời hiu quạnh. Trong nhóm này có nhà thơ Tạ Ký, người từng ngồi nhậu ở chợ Đũi, viết lên câu thơ buồn mà tôi nhớ không chính xác Buồn như ly rượu cạn, không còn bạn để say… Dân học trò Petrus Ký thường gọi nhà thơ là thầy vì ông là giáo sư dạy môn Việt văn. Nhà thơ Tạ Ký trong tạp bút Nhậu ở Chợ Đũi đã chấm phá vài nét về khu vực này: “Các bạn nào đến chợ Đũi nên ghé vào các quán xây ra mặt đường Trần Quý Cáp vì ở đây chỉ có nhậu suông mà thôi. Nếu bạn ghé vào dãy quán ngó ra đường Lê Văn Duyệt thì coi chừng có thể bị bắt cóc vì ở đấy là các demi-bar, cũng có nhậu, có lai rai và có các em ngồi bàn tán nhảm. Ở chợ Đũi làm gì có quán nhậu sang trọng. Tìm đỏ mắt cũng không có bồ câu quay, cua rang muối. Nhưng với dân nhậu thì cần gì món ngon. Ở đây chỉ có khóm (thơm, dứa) chấm muối ớt, xoài xanh chấm ruốc, trái cóc, bưởi… Nếu muốn ngả mặn thì gọi phở xào dòn, bò lúc lắc, lòng heo. Đâu có cần gì phải món đắt tiền mới nhậu được”. 

Lúc trước, có những nhà thơ, nhà văn gắn liền tên mình với một khu vực, một quán mà họ thường ngồi uống cà phê, rượu sang trọng hay thuộc loại bình dân học vụ. Như tôi khi đang ngang qua chợ Đũi thường nhớ đến Tạ Ký và những câu thơ trong bài Chỉ đợi một mình mầy và ngược lại. Những địa danh, tên quán sau này được nhắc đến chính là vì nó là chứng nhân của một thời đã qua và đã mất. Cũng như vậy chợ Đũi! 

Bây giờ còn ai gọi tên góc đường Võ Văn Tần - Cách Mạng Tháng Tám là chợ Đũi? Chợ đâu còn và đũi cũng còn đâu! Quán nhậu bình dân khắc ghi ký ức dân nhậu ở chợ Đũi cũng đâu còn. Mà khách đã đến rồi đi, có người đã đi hẳn khỏi cõi đời. “Buồn như ly rượu cạn. Không còn chợ Đũi để say”… 

LÊ VĂN NGHĨA

Quận 5 - Thiên đường ẩm thực

đăng 02:32, 17 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Người Sài Gòn trước đây có câu nói: “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1, cướp giật quận 4”, chỉ 14 chữ đã tóm tắt đủ nét đặc trưng của bốn quận nổi tiếng nhất trên đất Sài Gòn xưa.

Người Trung Quốc xưa có câu nói: “Ăn ở Quảng Châu, mặc đồ Hàng Châu, lấy vợ Tô Châu và chết ở Liễu Châu” (Quảng Châu nổi tiếng ẩm thực, Hàng Châu nổi tiếng lụa đẹp, Tô Châu nổi tiếng gái đẹp và Liễu Châu có loại gỗ đóng quan tài rất lâu bị mục). Trong bốn yếu tố đó, cái ăn được người Trung Quốc đưa lên hàng đầu, phải ăn ngon để tận hưởng cuộc sống. Được mệnh danh là “kinh đô mỹ vị”, thủ phủ Quảng Châu của Quảng Đông tập trung rất nhiều tinh hoa ẩm thực của Trung Quốc và giao thoa với ẩm thực thế giới. Người Quảng Đông di cư sang Việt Nam rất nhiều và văn hóa ẩm thực Quảng Đông cũng theo đó mà tụ về Chợ Lớn. 

Một tiệm ăn người Hoa xưa. 


Hàng rong và quán nhỏ 

Từ quận 5, nhiều hàng rong đã lan dần sang các quận khác được người Việt ưa thích. Học sinh tụ tập cổng trường không thể quên món bột chiên chảo phẳng và đặc biệt là phá lấu, món ăn được làm từ ruột và bao tử của heo hoặc bò, ướp với nước tương và ngũ vị hương rồi chưng lên cho săn kẹo lại. Phá lấu ăn với bánh mì kẹp, thậm chí ăn không. Có lần tôi chứng kiến một nhóm du khách Hong Kong hay Đài Loan, ai nấy cao lớn, trắng trẻo, mặc đẹp đẽ, sang trọng đứng ngay trên vỉa hè ăn ngon lành những xâu phá lấu của một xe hàng rong cũ mèm. Chắc họ không kìm được sự thèm muốn nếm món ăn quê nhà trên xứ lạ, như người Việt du lịch ở trời Âu rủ nhau tụ tập vào một hàng phở bên đường. 

Gần gũi với xe phá lấu là “ngầu dìn” hay ngưu viên, tức là mớ thịt gân bạc nhạc bỏ đi của con bò được xay nhuyễn, trộn thêm bột hấp lên thành ra cái người Việt gọi là bò viên, xâu thành xâu chấm tương đỏ, tương đen, chua chua, ngọt ngọt, thêm vị cay. Món này cũng được cho vào ăn cùng hủ tiếu thành hủ tiếu bò viên, gọi là diến phảnh. Nhưng món hủ tiếu nổi tiếng nhất của người Hoa lan rộng ra và được ưa chuộng tới tận bây giờ là hủ tiếu xào. Tuy gọi hủ tiếu nhưng bánh sợi to như phở. Để hỗ trợ cho độ mềm của hủ tiếu là một món xào tương tự nhưng bánh chiên giòn tan là mì xào giòn. Ăn nhanh thì mì giòn tan, chậm một chút nước sốt khiến sợi mì mềm hơn nhưng vẫn còn khá dai và xốp trong miệng. À mà đã nói tới mì thì không thể quên món mì vịt tiềm đã thành thương hiệu nổi tiếng Chợ Lớn như của Hải Ký trên đường Nguyễn Trãi tồn tại hơn nửa thế kỷ. 

Cùng với mì xá xíu, mì hoành thánh, mì người Hoa đặc trưng ở chỗ họ hay bán trên các xe gỗ rất to, đẩy đi bán rong hoặc dừng một góc đường nào đó. Mỗi chiếc xe là một tiệm mì lưu động với đủ vật dụng cần thiết. Xe dừng lại chỗ bán, người ta đẩy bản gỗ bên hông lên thành bàn, khách ngồi ăn trên ghế gỗ xếp khung sắt, khi dọn hàng xếp gọn đẩy về. Trên thành xe là các khung kính sáng choang vẽ các tranh điển tích của Tam quốc chí, Đông Chu liệt quốc, Chinh đông chinh tây… Hệ thống tranh vẽ này rất đa dạng, mỗi xe có độ chục cái tranh. Ở cái thời sách báo khan hiếm, người viết mỗi khi được cha mẹ dẫn đi ăn mì coi như được kèm xem truyện tranh. Không chỉ mấy quán mì lưu động, có nhiều tiệm mì vẫn ưa dùng chiếc xe gỗ này vì nó khá tiện, cần đẩy ra đẩy vô chiếm vỉa hè một khúc chưa đầy mét, đương nhiên xe nhanh chóng và tiện lợi hơn khiêng mấy cái bàn cố định nhiều. 

Có những con phố nổi tiếng với những tiệm ăn chuyên bán độc một loại ẩm thực như Hà Tôn Quyền chuyên bán mì sủi cảo, còn phố ăn uống bán đủ mọi thức ăn thì nhiều vô kể, tập trung trên một đoạn đường là hàng chục tiệm san sát nhau, đủ hết từ gà ác tiềm thuốc bắc cho đến đậu hũ Tứ Xuyên, lẩu hải sản, cơm gà, lưỡi heo dưa cải, cháo Tiều, hủ tíu sa tế, bánh bao, xíu mại, há cảo… đủ hết món và mùi vị. Ngồi quán này ăn rồi gọi thêm món ở quán khác cách đó vài chục mét thì phổ ky (người phục vụ) cũng sẵn sàng bưng tới tận nơi không chút phàn nàn. 

Nhà hàng Chợ Lớn 

Sài Gòn cũng có nhiều nhà hàng ăn uống nhưng sự khác biệt rất lớn giữa nhà hàng quận 5 với nơi khác là nhà hàng nơi đây sáng rực với đèn màu nhấp nháy màu đỏ và nội thất bên trong cũng đỏ rực trên các cột kèo, tường mái. Màu đỏ với người Hoa là may mắn, phát tài. 

Người Hoa vốn thích ăn trên lầu. Cao lầu ở Chợ Lớn không phải chỉ một lầu mà đến 5-7 lầu như Đồng Khánh, Ái Huê, Soái Kình Lâm, Bát Đạt, Á Đông, Triều Châu, Kim Thành, Ngọc Lan Đình... buổi tối lúc nào cũng đông nghẹt khách ăn. Khách lẻ vãng lai ăn bàn nhỏ, khách đặt trước ăn bàn lớn, mỗi bàn thường cho 12 người, luôn có một người phục vụ đứng dựa vách sau lưng quan sát, phục vụ khách. Có khi khách mới mở túi lấy bao thuốc ra, vừa cầm điếu thuốc, chưa kịp thò tay tìm hộp quẹt đã thấy mồi lửa của cô/cậu phục vụ tốc hành đưa tới trước mặt. 

Khách liên tục ra vào đông như mắc cửi, còn thức ăn từ tầng trệt được thang máy vận chuyển lên liên tục tỏa ra các tầng, đến từng bàn, không để khách than phiền vì chờ đợi. 

Món ăn Quảng Đông nhiều nhưng các vùng ẩm thực khác cũng góp mặt không ít như vịt quay Bắc Kinh, cơm chiên Dương Châu, sò huyết Tứ Xuyên, vịt rút xương Triều Châu, cơm gà Siu Siu (Hải Nam)… Ông Nguyễn Thanh Vân, Việt kiều Mỹ, kể lại: “Bên đó nhiều nhà hàng Hoa nhưng ăn không đã bằng quán Chợ Lớn. Về Việt Nam chơi, tôi toàn nhờ người quen đưa đi ăn Chợ Lớn hằng đêm. Một phần vì quen khẩu vị tuổi thơ gắn bó, phần nữa là nguyên liệu, như cơm gà Siu siu (Hải Nam) ở Mỹ thịt gà sao ngon được như gà ở Việt Nam”. 

Nhất dạ đế vương 

Loại xe mì này đang vắng bóng dần, rải rác còn vài tiệm có tiếng lâu năm như Tam Ký ở Cao Văn Lầu, Thiệu Ký hẻm 66 Lê Đại Hành… 


Một trong những đặc sản nổi tiếng và bí hiểm của nhà hàng Chợ Lớn, bắt chước theo mô hình ở Hong Kong được đồn thổi rất nhiều vì người thường ít ai có cơ hội được nếm trải, đó là Nhất dạ đế vương, được làm vua một đêm thỏa thích. 

Không có nhiều nhà hàng có Nhất dạ đế vương, không phải vì họ không đủ sức thực hiện mà vì không có quá nhiều khách hàng bởi cái giá để làm vua ấy quá đắt. Theo đồn đại, chính tỉ phú Lý Long Thân đã chiêu đãi cho tướng Bình Xuyên Bảy Viễn một đêm Nhất dạ đế vương với cái giá tới 4 triệu đồng lúc đó. Chỉ có các đại gia, xì thẩu máu mặt Chợ Lớn hoặc quan chức, tướng lĩnh được các vị “vua không ngai” Chợ Lớn chiêu đãi mới đặt chân vào đó. Báo chí Sài Gòn đã từng tìm hiểu viết về Nhất dạ đế vương, không rõ độ chính xác bao nhiêu nhưng cũng phần nào khiến người tò mò được khai thông đôi chút. 

Nhất dạ đế vương diễn ra trong một gian phòng rộng, bài trí cực kỳ sang trọng, sơn son thếp vàng lộng lẫy, “vua” được mặc long bào vàng rực, những người đi theo (nếu có) sẽ trong trang phục hoàng tử, công chúa, đại thần… ngồi trên mâm tiệc chủ trì buổi dạ yến. Phần này có vẻ cũng hơi giống dịch vụ Cơm vua ở Huế khi khách được mặc trang phục vua và hoàng hậu, ăn món ăn cung đình nhưng Nhất dạ đế vương quy mô hơn với cả một triều đình có các quan lại, cung tần mỹ nữ (là diễn viên đóng vai) vây quanh chúc tụng, rồi dàn nhạc cung đình trỗi dậy, các ca nương nhảy múa, ca hát, biểu diễn mua vui. Tiệc là những món ăn đắt tiền nhập ngoại như bào ngư, vi cá, yến, sâm nhung… được chế biến theo thực đơn cung đình Mãn Thanh cùng các loại rượu bồ đào mỹ tửu đặc biệt khác mà điểm chung đều có chức năng cường dương. Bởi vì khi tàn tiệc, tiết mục hấp dẫn nhất của “vua” là chọn cung tần cho một đêm ân ái. Cả chục “cung phi” nhan sắc tuyệt trần trong trang phục lộng lẫy lần lượt bước ra cho “vua” chọn phục vụ cuộc hoan lạc thâu đêm. 

Những nhà hàng nổi tiếng nhất của dịch vụ này là Bát Đạt, Đại La Thiên và Arc-en-ciel (nay là Thiên Hồng) - vốn là nơi các đại gia thường đến ăn uống bàn bạc chuyện kinh doanh, đầu cơ tích trữ. 


Đến bây giờ, dù người Hoa không còn tập trung quá đông ở quận 5 mà một phần tản mác ra nhiều quận, huyện khác, hệ thống ẩm thực ở quận 5 vẫn không ngừng phình ra. Thêm rất nhiều con phố ăn uống được mở như phố chè Thái Nguyễn Tri Phương, phố trái cây dĩa Nguyễn Cảnh Chân… bởi vì Sài Gòn bây giờ dân số đã tăng lên gấp bốn lần so với trước năm 1975.

PHẠM TRƯỜNG GIANG

‘Làng biệt thự’ quận 3

đăng 02:20, 17 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Người Việt nói ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, đi xe Hoa Kỳ. Ăn cơm Tàu thì vào Chợ Lớn, còn ở nhà Tây sang phía quận 3. Tại sao quận 3 lại có lắm nhà Tây?

Lúc kiến trúc sư (KTS) Ngô Viết Thụ còn sống, có lần ông giảng giải cho tôi về quy hoạch của Sài Gòn dưới thời Pháp. Đại khái, người Pháp sau khi chiếm thành Gia Định, đặt nền móng thuộc địa ở xứ này, họ xây nhà thờ chính tòa ở nơi cao nhất của TP trên đỉnh một ngọn đồi, chính là nhà thờ Đức Bà. Gần đó, họ xây dinh Thống đốc Nam Kỳ, gọi là dinh Norodom (tức dinh Độc Lập, hội trường Thống Nhất bây giờ). Từ hai công trình lớn này, người ta làm hai con đường chạy xuống chân đồi, thẳng tới sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé. Hai con đường tạo thành hai trục chính, gọi là trục Cardos và Dominius. Từ hai trục chính này, họ bắt đầu tạo những con đường vuông vức theo ô bàn cờ để phân lô. Những con đường nằm trong và rìa của hai trục này là khu vực trung tâm hành chính, bắt đầu xây dựng các tòa nhà công sở, dịch vụ, kinh doanh… đấy chính là quận 1 sau này. 

Còn từ phía bắc ngọn đồi trở đi được quy hoạch chủ yếu là nơi ở cho các viên chức Pháp hoặc người Việt. Rất nhiều dinh thự, biệt thự đã được xây dựng nơi đây, đủ hình đủ kiểu, cực kỳ đa dạng, đó là khu vực quận 3. 

Đa dạng kiến trúc 

Xét về các kiến trúc trước năm 1975, ở Sài Gòn tồn tại ba trào lưu kiến trúc, cả ba trào lưu này đều có đầy đủ và rất nhiều ở khu vực quận 3, đó là: 

Kiến trúc bản địa: Những kiến trúc cổ lúc còn thành Gia Định, chủ yếu bằng gỗ, gạch như tòa nhà gỗ (dinh Tân Xá) trong khuôn viên tòa Tổng Giám mục Sài Gòn… 

Kiến trúc Đông Dương, hay còn gọi là kiến trúc thuộc địa, là những tòa nhà kiểu Pháp cổ bằng bê tông cốt thép, phần lớn màu vàng hoặc trắng, có rất nhiều và đa dạng như cụm các biệt thự cổ của KTS Huỳnh Tấn Phát trên đường Tú Xương hay dinh phó tổng thống ở cuối đường Lê Quý Đôn (nay là Nhà thiếu nhi TP), các trường học Gia Long (nay là Trường Nguyễn Thị Minh Khai, Trường Marie Curie…). 

Bông giấy, “mốt” một thời khá nhiều với đường phố vắng xe. (Ảnh tư liệu) 


Kiến trúc hiện đại trong những năm 1960, hay còn gọi là kiến trúc nhiệt đới, là những kiến trúc hiện đại, vuông vức, mái bằng hoặc dùng fibrocement nhưng thiết kế phù hợp với điều kiện khí hậu nóng ở miền Nam. Lối kiến trúc tạo sự thoáng đãng với nhiều cửa sổ và dùng rất nhiều bông gió để thông gió mà vẫn che nắng, đồng thời trang trí luôn cho công trình. Điển hình là nhiều biệt thự trên đường Yên Đổ (nay là đường Lý Chính Thắng), đường Bà Huyện Thanh Quan… Nhiều KTS nổi tiếng ở Sài Gòn đã nhận được lời mời thiết kế các biệt thự quận 3. Đặc biệt là KTS Trần Đình Quyền, mặc dù ông ít thiết kế biệt thự mà chủ yếu thiết kế bệnh viện nhưng triết lý thiết kế hạn chế sử dụng máy lạnh vừa tốn kém năng lượng vừa không lợi cho sức khỏe mà đề cao việc tạo không gian thông thoáng để luân chuyển không khí sạch và mát của ông đã tác động đến rất nhiều KTS khác, góp phần tạo nên sự phong phú của phong cách kiến trúc hiện đại này tại các biệt thự ở quận 3. 

Không chỉ ở mặt tiền, trong các con hẻm ở quận 3 cũng có rất nhiều biệt thự. Đây mới đúng là nơi cực kỳ yên tĩnh để ở vì hoàn toàn khuất tiếng xe cộ. Đó là những hẻm lớn với các căn biệt thự tiếp nối. Đường Duy Tân nổi tiếng với những con hẻm cụt biệt thự, nơi cư ngụ của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng: Trịnh Công Sơn, Bạch Tuyết, Thẩm Thúy Hằng… Mua biệt thự ở quận 3 là mục tiêu của những người giàu có ngày đó để khẳng định địa vị cũng như tận hưởng không gian sống. 

Có một dạo từ những năm 1960, chủ nhân nhiều biệt thự ở quận 3 ưa thích trồng những hàng bông giấy đủ màu ở cổng biệt thự. Giống hoa này, đất càng khô cằn càng nở nhiều hoa. Sài Gòn chỉ có hai mùa mưa nắng, sáu tháng mùa khô là lúc những hàng bông giấy nở tung, đường phố đẹp hẳn với những cánh hoa giấy trắng, hồng, cam phủ đầy trên hàng rào cũng như dưới vỉa hè. 

Những con đường thi nhân 

Trả lại em yêu, khung trời đại học
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
(Phạm Duy). 

Là khu vực để ở với không gian biệt thự rộng, thoáng, quận 3 được trồng rất nhiều cây xanh tỏa bóng. Khác với Hà Nội, Hải Phòng hay Huế, Đà Nẵng ở miền Bắc và miền Trung chỉ trồng những loại cây thấp, nhỏ, tán hẹp lá thưa, Sài Gòn là TP có rất nhiều cây xanh cao vút và có bóng mát tỏa rộng trên đường. Lý do rất đơn giản là Sài Gòn không lo bị bão lớn như những TP khác, xác suất cây bị gió quật đổ, bật gốc rất thấp. Nhờ vậy, giữa trưa nắng nóng chang chang chạy vào các con đường quận 3 mát rười rượi bởi những hàng cây phủ bóng mát kín khắp mặt đường. 

Nhiều biệt thự nên ít căn hộ, cuộc sống khép kín nên ít hàng quán, cửa hàng, xe cộ cũng thưa, giảm ồn ào tiếng máy nổ, cộng thêm mật độ cây xanh dày đặc nhất TP, quận 3 luôn tĩnh lặng, tịch mịch, trầm lắng, thời gian như trôi qua chậm hơn ở đây. Chính không gian lãng mạn đó đã khiến những người đặt tên đường chọn những thi nhân để đặt tên cho con đường rợp bóng cây: Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Yên Đổ, Kỳ Đồng, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Đình Chiểu… Ngoài ra, còn một số quan lại, nhà nho, nhà văn hóa để lại tác phẩm văn học cho đời cũng được đặt tên ở đây như Lê Quý Đôn, Nguyễn Thông, Ngô Thời Nhiệm, Lê Ngô Cát, Trương Minh Ký… Chạy xe trên những con phố ở quận 3, qua những hàng me xanh, những con đường đầy hoa hoàng điệp lại liên tưởng đến bài hát ca ngợi về những vẻ đẹp Sài Gòn xưa: 

Nhớ Sài Gòn những chiều ngợp gió
Lá hát như mưa suốt con đường đi
Có mặt đường vàng hoa như gấm
Có không gian màu áo bay lên 
(Trịnh Công Sơn). 

Sau năm 1975, những con đường rợp cây và hoa ở quận 3 vẫn tạo nên cảm xúc cho những nhạc sĩ mới đặt chân về Sài Gòn. Khi nhẩm hát những lời tình ca cũ theo vòng bánh xe quay, chợt thấy lòng nhẹ nhàng phơi phới, thấy nắng nhạt đi và cuộc đời thật đẹp. 

Mai một 

Đã hai lần biệt thự ở quận 3 trải qua kiếp nạn, thay hình đổi dáng. Cả hai lần đều diễn ra sau khi đất nước thống nhất. Lần đầu tiên là ngay sau ngày 30-4, những người chủ cũ đã vội vã rời khỏi Việt Nam, di cư ra nước ngoài khi tiếng súng vẫn còn nổ ầm ì ngoài phía Nam Trung Bộ, những ngôi nhà vắng chủ được trưng dụng và phân lại cho các chủ nhân mới. Sau đó là một thời gian dài kinh tế xuống dốc, cuộc sống khó khăn, nhiều căn biệt thự bị hủy hoại từ chính chủ nhân mới. Thảm cỏ xinh đẹp vốn không được chăm sóc nay bị cày xới lên để trồng rau hay khoai lang. Hồ bơi bị bít lại để làm thành ao nuôi cá. Sân chơi, nhà mát bị gia cố làm chuồng heo. Sợ trộm cướp, người ta rào thêm kẽm gai hàng rào hoặc dùng bất cứ tấm sắt hay tôn cũ nào che chắn để nâng tường rào lên mà mới nhìn qua bên ngoài trông biệt thự như những căn nhà ổ chuột. Đấy là chưa kể biệt thự được chia cho nhiều hộ ở chung, người ta xây tường chia cắt các gian phòng, xẻ tường thêm cửa… Tóm lại là nhếch nhác từ trong ra ngoài, rất hiếm biệt thự còn giữ được phần nào vẻ đẹp nguyên thủy. Khi mà giải quyết cái đói, cái lo là mối quan tâm, là ưu tiên hàng đầu, cái đẹp bị gạt xuống tận cùng hoặc xóa sổ. 

Sau 20 năm, kinh tế khá dần lên, xuất hiện những nhà giàu mới. Một số biệt thự được sang tay, tu sửa, trả lại vẻ đẹp cũ nhưng nhiều biệt thự khác ở quận 3 không may mắn như vậy, nó bị sửa chữa biến đổi công năng, không còn là nơi để ở mà trở thành nơi kinh doanh như quán cà phê, karaoke, nhà hàng… Tệ hơn, nhiều biệt thự đứng trước nguy cơ bị phá hủy luôn để lấy đất xây cao ốc. Tốc độ đập phá biệt thự lên đến mức chóng mặt, không gian kiến trúc đặc thù của quận 3 bị hủy hoại không thương tiếc mặc dù hàng loạt chương trình nghiên cứu bảo tồn kiến trúc của TP đã ra đời. Ông Tim Doling, người viết cuốn Exploring Ho Chi Minh City, than thở: “Trong thời gian chờ in cuốn sách hướng dẫn du lịch về các di sản của TP.HCM, chỉ sáu tháng đó thôi mà tôi phải loại ra khỏi bản thảo năm địa chỉ biệt thự vì nó đã bị phá bỏ”. 

Với sự gia tăng chóng mặt của các cao ốc, nhà hàng, quán nhậu, văn phòng công ty…, chẳng bao lâu nữa những quần thể biệt thự yên ả của quận 3 rồi cũng phôi pha, trở thành chốn thị thành náo nhiệt như các quận khác. 


KTS Lê Quang Ninh, nguyên Chủ nhiệm chương trình bảo tồn cảnh quan kiến trúc đô thị TP.HCM:


Mất đi hơn 50% biệt thự quý


Tôi nghĩ công trình của chúng tôi đã thất bại. 108 biệt thự có giá trị của TP, trong đó rất nhiều ở quận 3 mà chương trình đã  đưa vào danh sách cần bảo tồn, giữ gìn nay phỏng đoán bị mất đi trong thời gian qua là khoảng 25% nhưng nếu khảo sát sẽ cho thấy đã mất đến hơn 50%.


PHẠM TRƯỜNG GIANG

Gốc bàng 600 tuổi như hang động được trả 35 tỉ mà chủ không bán

đăng 05:14, 7 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Ông Kiên sở hữu gốc bàng đá cổ thụ có tuổi thọ trên 600 năm tuổi, đường kính lên đến 14 m, có người hỏi mua với giá 35 tỉ đồng nhưng ông không bán.

Ông Kiên lọt thỏm, nhỏ bé bên trong gốc bàng đá khổng lồ như hang động. Ảnh: HOÀNG VÂN


Nhiều ngày qua, người dân khắp nơi đang bàn tán xôn xao về một gốc bàng đá cổ thụ khổng lồ ở Sóc Trăng được một người dân địa phương mua về chế tác tạo thành một công trình điêu khắc với nhiều pho tượng, nhiều hình thù độc đáo. 

Không ít đại gia, người chơi cây cảnh khắp nơi hỏi mua gốc bàng này với giá lên đến hàng chục tỉ đồng nhưng chủ nhân không bán.

Gốc bàng đá có hình thù độc đáo Ảnh: HOÀNG VÂN


Trò chuyện với chúng tôi, ông Mai Kiên (67 tuổi, ngụ tại đường Tôn Đức Thắng, P.5, TP.Sóc Trăng), cho biết ông là người gắn bó với nghề gỗ trên 40 năm. 

Năm 2014, có dịp đi ngang qua Đình Thần, ở ấp Phụng Tường 1, xã Song Phụng, H.Long Phú, ông thấy có hai cây bàng đá rất lớn, trong đó có một cây đã chết khô, nhiều cành đã bị mục nên ghé lại xem. Hỏi thăm người trông coi Đình Thần thì được biết hai cây bàng này có từ mấy trăm năm trước nhưng một cây đã chết.

Nguyên nhân có thể do ảnh hưởng từ việc thi công một công trình bên cạnh nên chính quyền địa phương đề nghị Ban quản lý Đình Thần cho đốn bỏ cây bàng này, tránh nguy hiểm cho người dân. Do cây quá lớn nên Ban quản lý Đình Thần thuê người dân địa phương đốn nhưng khi tới nhìn thân cây quá “khủng”, không ai dám đốn hạ.

Gốc bàng đá khổng lồ, có người hỏi mua với giá 35 tỉ đồng nhưng ông Kiên không bán Ảnh: HOÀNG VÂN


Sau đó, có một nhóm người ở nơi khác tới nhận lời đốn cây. Nhưng, sau khi mới đốn được một số nhánh cây thì họ không đốn nữa, bỏ luôn tiền công cho phần đã đốn mà không nói lý do vì sao. 

"Sau này tôi nghe người ta kể lại nhóm người đốn cây bàng đó đang nằm ngủ thì không biết mơ thấy cái gì mà sáng ra là họ bỏ đi luôn. Thành ra từ đó không ai nhận đốn cây nữa. Cứ thế, cây khô dần, nhiều phần bị mục", ông Kiên kể. 

Nhìn thân cây bàng đang bị khô đi, ông Kiên thấy gốc cây có nhiều hình thù rất đẹp, cuốn hút nên hỏi người phụ trách Đình Thần giá bán bao nhiêu?. Đại diện Đình Thần nói 50 triệu đồng. 

"Lúc đầu, tôi trả 30 triệu đồng nhưng họ không bán nên tôi về. Suốt đêm tôi trằn trọc không ngủ được cũng vì gốc cây bàng đá đó. Có một cái gì đó rất khó hiểu cứ mê hoặc mình, khiến cho tôi thấy cây bàng như đang ở bên cạnh. Sáng hôm sau, người quản lý Đình Thần tự tìm đến tôi và nói thêm cho đình 5 triệu nữa là 35 triệu. Tôi đồng ý mua gốc bàng với giá trên. Sau khi thỏa thuận xong, tôi thuê người, chọn thời gian phù hợp cho người và phương tiện vào đào đưa gốc cây về nhà. 

Ông Kiên mướn thợ chế tác nhiều tượng từ gốc bàng đá Ảnh: HOÀNG VÂN 


“Khi vào, trước lúc đào, tôi cũng có “tâm sự” với cụ bàng rằng cụ đã chết, nay chỉ còn thân xác thôi, nếu để giữa mưa nắng thì hư hết, xin cụ cho tôi được đưa thân cụ về nhà mình bảo quản, chăm sóc chu đáo, lâu dài. Mong cụ phù hộ cho mọi điều suôn sẻ. Sau đó, tôi cho người và phương tiện tiến hành đào toàn bộ thân, rễ bàng về đến nhà an toàn, không xảy ra bất kỳ một sự cố nào, dù là nhỏ nhất”, ông Kiên kể.

Phần lõi bên trong góc bàng đá khổng lồ. Ảnh: HOÀNG VÂN 


Theo ông Kiên, các nhà khoa học về thực vật xem xét đã đánh giá tuổi của cây bàng đá này từ 600 - 700 năm trở lên. 

Một lãnh đạo Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Sóc Trăng cũng xác nhận với phóng viên Thanh Niên là gốc bàng đá này ít nhất 600 năm tuổi. Gốc bàng này rất lớn, đường kính ở phần gốc sát đất khoảng 14m, còn tính luôn bộ rễ chìa ra thì khoảng 25m. 

Để đưa gốc bàng lên, ông Kiên và các công nhân phải đào sâu xuống đất và cắt gốc bàng thành hai nửa rồi sau đó thuê xe cẩu hạng nặng đưa lên xe chuyển về TP Sóc Trăng. Theo ước đoán, trọng lượng của gốc bàng này phải lên tới cả trăm tấn và chi phí đưa về tận nơi hết khoảng 700 triệu đồng. 

Sau khi đưa được thân bàng này về nhà, ông Kiên cho người gia công để tạo thành một gốc cây với nhiều hình thù rất đẹp, rất lạ mắt khiến nhiều người thích thú, luôn tìm đến để xem. Để bảo quản gốc bàng, ông thuê làm một căn nhà rộng hàng trăm mét vuông với kinh phí khoảng 1 tỉ đổng để làm nơi trưng bày. 

Theo ông Kiên, sau khi đưa gốc bàng về, có người đến xem và hỏi mua với giá trên 2 tỉ đồng nhưng ông không bán mà chỉ để lưu lại làm kỷ niệm về một gốc cây có một không hai ở địa phương. Sau đó, có nhiều đại gia, người chơi cây cảnh biết ông Kiên sở hữu gốc cây khủng tìm đến hỏi mua với giá hàng chục tỉ đồng nhưng không thuyết phục được ông. 

Ông Kiên, cho biết mới đây có một người dân ở TP.HCM trực tiếp hỏi mua với giá 35 tỉ đồng nhưng ông không bán, bởi ông coi đó là một kỷ niệm đẹp, một cơ duyên hiếm có trong đời làm cây cảnh của mình. 

"Tôi chỉ để lại làm vật kỷ niệm về một gốc cây cổ thụ của Sóc Trăng quê mình cho mọi người chiêm ngưỡng thôi. Hiện nay tôi đang hoàn thiện dần các chi tiết, dự kiến năm 2018 sẽ hoàn thành và mở cửa cho mọi người tham quan gốc bàng độc đáo này", ông Kiên tâm sự. 

Trần Thanh Phong - Hoàng Vân

Những cây cổ thụ trăm tuổi ở Sóc Trăng

đăng 04:27, 7 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đặt chân đến vùng đất Sóc Trăng, nhiều người không khỏi ngạc nhiên khi được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm

Cây còng (me tây) ở P.5, TP.Sóc Trăng. Ảnh: Hoàng Vân


Trước cửa Đình thần Phú An (ấp 3, xã An Mỹ, H.Kế Sách) là một cây bàng và một cây sung mọc cách nhau gần 100 m. Theo ông Đặng Anh Tuấn (54 tuổi), người dân địa phương không biết hai cây này có tự bao giờ, nhưng khi lớn lên đã thấy cây mọc rất to.

Cây bàng nhìn từ xa Ảnh: Hoàng Tuấn 


“Ba tôi năm nay 100 tuổi. Ông kể khi còn nhỏ, đi học ở trường làng thì đã có cây bàng và cây sung này rồi. Riêng cây bàng thì gốc to khoảng 4 - 5 người ôm mới xuể. Ba tôi nói các cụ cao niên cho biết hai cây này được trồng khi xây dựng Đình thần Phú An cách đây ít nhất khoảng 150 năm”, ông Tuấn nói.

Cây bàng hiện nay đứng sừng sững cạnh bờ sông, trước nhà ông Tuấn. Mỗi năm cây thay lá 2 lần vào giữa tháng 2 và tháng 9 (âm lịch). Mỗi lần thay lá, lá già rụng hết sau đó mọc lên một lớp lá non xanh mướt, trông rất đẹp. 




Cây bàng ở Đình thần Phú An Ảnh: Hoàng Vân 


Ông Tuấn cùng một người khác dùng dây đo chu vi ở phần gốc, kết quả gốc cây bàng có chu vi 19,5 m, chiều cao ước từ 30 - 40 m, tỏa bóng mát bao trùm cả một vùng rộng lớn.
Cũng theo ông Tuấn, cách đây không lâu, có một người phụ nữ từ TP.HCM đến hỏi mua cây bàng này nhưng bà con không bán vì “đây là cây chung của cả xóm, cây được tổ tiên trồng từ khi xây dựng đình thần nên giá cao bao nhiêu cũng không bán”.

Riêng cây sung cao chừng 15 - 20 m, gốc to, vỏ xù xì, càng lên trên thì thân thắt lại trông như một cái chai khổng lồ. Dù đã có tuổi cả trăm năm nhưng cây sung này vẫn cho trái nhiều.


Dù tuổi đã khoảng 150 năm tuổi nhưng cây sung ở Đình thần Phú An vẫn cho trái đều đặn Ảnh: Hoàng Vân 


Cũng tại H.Kế Sách, đến ấp Phong Thới, xã Phong Nẫm, nhiều người rất thú vị khi chứng kiến những cây măng cụt cổ thụ của gia đình ông Hứa Văn Lến. 

Ông Lến cho biết những cây măng cụt này được trồng từ đời ông nội của ông, đến nay đã được trên 90 năm. Đây là những cây măng cụt có tuổi đời cao, rất hiếm hoi của vùng đất này. Mỗi cây có chiều cao khoảng 10 m, gốc cây to đến mức một người lớn ôm không hết.
“Những cây măng cụt này tuy tuổi cao những vẫn cho trái rất đều đặn, mỗi cây cho từ 250 - 400 kg trái/năm. Điều đáng nói là những cây này ít khi bị bệnh như những cây măng cụt khác nên việc chăm sóc rất thuận lợi”, ông Lến cho biết.

Những cây măng cụt trên 90 năm tuổi của ông Hứa Văn Lến Ảnh: Hoàng Vân 


Tại nghĩa địa Triều Châu, thuộc P.5, TP.Sóc Trăng có một cây còng (me tây) được trồng từ năm Mậu Tý (1888) đến nay đã gần 130 năm mà vẫn phát triển tốt, cành lá xum xuê tỏa bóng mát khắp cả một vùng rộng lớn. Thân cây to khoảng 5 - 6 người ôm mới tròn vòng, cây cao khoảng 40 m…

Cây còng cổ thụ gần 130 năm tuổi ở P.5, TP. Sóc Trăng Ảnh: Hoàng Vân 


Đến trường Tiểu học - THCS – THPT iSchool Sóc Trăng (TP Sóc Trăng, Sóc Trăng), nhiều người rất ngỡ ngàng khi được tận mắt chứng những cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm và được xem là những cây cổ thụ hiếm hoi còn sót lại ở TP Sóc Trăng. 

Những cây cổ thụ ở trường Tiểu học - THCS - THPT iSchool Sóc Trăng. Ảnh: Hoàng Vân 


Theo nhiều người cao niên ở Sóc Trăng, những nây cổ thụ này chủ yếu là cây me tây (người địa phương gọi là cây Còng) có tuổi đời ngót nghét trăm năm. Tán lá của những cây cổ thụ che mát cả khoảng sân rộng của trường. 



Cây cổ thụ ở trường Tiểu học - THCS - THPT iSchool Sóc Trăng Ảnh: Hoàng Vân 



Hoàng Vân

Phố guitar giữa lòng Sài Gòn lên báo Mỹ

đăng 04:21, 19 thg 9, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

CNN mới có bài viết giới thiệu về đường Nguyễn Thiện Thuật - nơi vốn được nhiều thế hệ nhạc sĩ miền Nam biết đến với tên gọi "phố Guitar". 

Dưới đây là những dòng chia sẻ của Duncan Forgan, phóng viên CNN, khi anh tìm đến đường Nguyễn Thiện Thuật, để mua một cây đàn guitar.

Mở cửa hàng guitar Duy Ngọc cùng anh em, ông Ánh đã chứng kiến biết bao thăng trầm của con phố qua thời gian, và không phải sự thay đổi nào cũng khiến ông thích thú.

"Những tiêu chuẩn cứ trượt dài. Quá nhiều người làm guitar mà chất lượng không phải lúc nào cũng được đảm bảo", ông Ánh vừa ôm đàn vừa trầm ngâm.

Tôn Thất Ánh tại cửa hàng. Ảnh: Duncan Forgan. 


Những cây đàn guitar thủ công tại Duy Ngọc phải mất khoảng một tháng để hoàn thành. Với những cây đàn cao cấp hơn với phần sơn vẽ hay nhiều chi tiết tỉ mỉ, thợ cần tới 4 tháng mới xong. Mức giá dao động 200 - 1.000 USD (4,5 - 22,7 triệu đồng), một cây đàn chất lượng tương đương có giá tới 10.000 USD (hơn 227 triệu đồng) tại các nước phương Tây.

Xưởng của ông Ánh và anh em nhập gỗ từ những cánh rừng châu Âu và Bắc Mỹ để làm đàn. "Gỗ tại Việt Nam hay từ những khu rừng nhiệt đới thường không bền, dễ bị nứt", ông giải thích.

Ông Ánh cũng như nhiều nghệ nhân làm guitar khác trên con phố này rất kỹ tính trong công việc, điều này rất dễ hiểu bởi họ "sống chết" nhờ danh tiếng của chính mình. Họ phải gây dựng tên tuổi từ những ngày đường Nguyễn Thiện Thuật trở thành cái nôi của đàn guitar, sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975 và Sài Gòn được đổi tên thành TP HCM.

Trải qua hàng thập kỷ, những nghệ nhân làm guitar được nhiều thế hệ nhạc sĩ kính trọng và biết ơn. Trong khi đó, thời kỳ mở cửa kéo theo dòng người nước ngoài tới Việt Nam định cư và làm ăn, từ đó những nghệ nhân làm guitar bắt đầu kinh doanh nghiêm túc. Bằng chứng là họ có nhiều khách hàng hơn.

Những tấm ảnh ông Ánh chụp cùng các ca sĩ nhạc rock phương Tây treo kín bức tường. Ảnh: Duncan Forgan. 


Buôn may, bán đắt

"Họ đến từ khắp mọi nơi, từ Australia, Mỹ và Anh. Mới đây tôi còn có đơn đặt hàng từ Chile. Tại các nước phương Tây, đàn guitar thủ công có giá hàng nghìn USD, ở đây rẻ hơn nhiều mà chất lượng vẫn tốt", ông Ánh cho biết.

Ông Nguyễn Văn Bình, chủ cửa hàng Guitar Bình trên phố Nguyễn Thiện Thuật, không giấu nổi niềm vui khi tên tuổi của con phố đang vang xa. Ngay khi tôi bước qua cửa, ông chìa ngay ra một bản photo của bài báo đăng trên một tạp chí guitar Mỹ.

"Kinh doanh guitar đang phát đạt, nhờ có báo chí và truyền thông đã đưa tin", ông Bình nói.

Nỗi lo của người làm nghề

Có hơn 30 cửa hàng guitar trên con đường Nguyễn Thiện Thuật chỉ dài chừng 500 m, họ bán mọi thứ từ đàn guitar acoustic thủ công cho tới đàn điện tử, đàn cổ Mandolin hay những nhạc cụ dây truyền thống của Việt Nam.

Nhưng số lượng không đi cùng chất lượng trên phố guitar, đó là một trong những nỗi trăn trở lớn nhất của những người đã dành 40 năm trên con đường này để gây xựng và đánh bóng tên tuổi.

Bên trong một cửa hàng bán guirtar. Ảnh: Duncan Forgan. 


Theo ông Ánh, một số người "đến sau" đang làm đàn từ gỗ chất lượng thấp, quy trình sản xuất công nghiệp nhanh chóng, chỉ để có đàn lên kệ càng sớm càng tốt. Phí thuê cửa hàng cao cũng khiến nhiều người lo lắng.

Ngay cả chiếc guitar tôi (phóng viên Ducan) mua với giá 250 USD cũng không khiến ông Ánh vui hơn.

"Nhìn chung kinh doanh đang tốt, nhưng tiền thuê cửa hàng dần tăng cao và đắt đỏ. Nhiều người đang cắt chỗ này đắp vào chỗ nọ. Chúng tôi từng làm việc và chơi nhạc cùng nhau, giờ càng ngày càng ít - thật đáng hổ thẹn", ông nói. 

Phạm Huyền

Nhãn tím 'độc nhất vô nhị' miền Tây: Nhìn là mê, sờ là thích

đăng 04:32, 11 thg 9, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Loại nhãn tím độc nhất ở Sóc Trăng khiến ai nhìn thấy một lần cũng “mê” và phải sờ vào cho bằng được coi nhãn giả hay thật và khi đã thấy là thật thì thích luôn không thể rời

Loại nhãn độc nhất vô nhị này xuất hiện trong vườn nhà ông Trần Văn Huy (ngụ ấp Phong Thạnh, xã Phong Nẫm, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng).


Ông Huy cho biết, cách đây khoảng 17 năm, trong quá trình chăm sóc vườn nhãn long (nhãn trắng) thì bất ngờ phát hiện 1 nhánh nhãn màu tím. Đoán nhãn bị đột biến, ông Huy cắt nhánh nhãn này mang đi trồng và kết quả, cây sinh trưởng và cho trái nhãn màu tím, rất đẹp.


Biết “trời ban cho” giống nhãn quý, ông Bảy Huy liền chiết ra nhiều nhánh đem trồng quanh nhà. Năm 2012, ông Huy mang loại nhãn tím quý hiếm của mình đi trưng bày tại “Lễ hội sông nước miệt vườn” diễn ra ở Sóc Trăng khiến nhiều người rất thích thú. 


Từ đây, tiếng tăm của loại nhãn này lan rộng khắp nơi. Có người ở Đồng Nai, Bến Tre hay tận Hà Nội… thậm chí du khách từ Đài Loan, Thái Lan cũng tìm đến nhà ông Huy để thăm vườn nhãn tím và hỏi mua cành về trồng. 


Anh Trung Thành Trọng cho biết: “Lần đầu tôi thấy cây nhãn có màu tím độc đáo này. Bề ngoài nó rất đẹp, ăn vào có vị như các giống nhãn bình thường khác”.


Ông Huy bán 100.000 đồng/kg nhãn tím tại vườn.


Theo ngành chức năng địa phương khuyến cáo người dân không nên trồng ồ ạt nhãn tím. Việc phát triển diện tích cây nhãn tím sẽ được mở rộng khi nắm bắt chính xác nhu cầu của thị trường và tránh ồ ạt, cung vượt quá cầu.


Hiện nay Viện cây ăn quả miền Nam đã mang cây nhãn tím về nghiên cứu để sớm xác định được các đặc tính, quá trình sinh trưởng của cây và đặt tên cho cây theo khoa học.


Hoài Thanh

Tam Tông Miếu - Long đong số phận một ngôi chùa

đăng 16:52, 7 thg 9, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nghe 3 chữ "Tam Tông Miếu" mọi người (ở miền Nam) đều nghĩ ngay đến một loại lịch dùng để xem ngày tốt xấu. Một số ít người khác biết thêm rằng đây là tên một ngôi chùa ở đường Cao Thắng, Sài Gòn, nơi biên soạn và phát hành những bộ lịch này (trước 1975).


Ấy, xin dừng lại một chút ở cái tên Chùa Tam Tông Miếu. Đã "chùa" sao lại còn "miếu"? Bạn có thấy kỳ không?


Nói thiệt, cho tới gần đây, tui vẫn nghĩ Tam Tông Miếu là một ngôi chùa, tức là nơi thờ Phật. Nhưng đi tới nơi rồi, tìm hiểu thêm thì mới biết không phải. Tam Tông Miếu đâu phải là ngôi chùa Phật giáo! Vậy Tam Tông Miếu là gì?


Tam Tông Miếu là cơ sở tín ngưỡng của Minh Lý đạo, và tên chính thức Minh Lý đạo gọi nơi đây là: Thánh Sở Tam Tông Miếu.


Thánh sở Tam Tông Miếu, tại 82 Cao Thắng, quận 3, Sài Gòn


Sự hình thành Minh Lý đạo


Minh Lý Đạo hay Đạo Minh Lý, nói tắt là Minh Lý, là một chi trong Ngũ Chi Minh Đạo, gồm: Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý, Minh Thiện, Minh Tân. Tuy nhiên, trong ngũ chi này hiện nay dường như chỉ còn Minh Lý tồn tại độc lập (?).


Bắt nguồn từ đầu những năm 1920, ông Âu Kiệt Lâm (1896 - 1941), người gốc Minh Hương, cùng một số thân hữu vốn là trí thức, công chức đã tập trung và cùng nghiên cứu, tìm hiểu về giáo lý của tam giáo: Thích – Lão – Nho, mua sách từ Pháp nghiên cứu về nhân điện. Đến năm 1924, những người đó đã giác ngộ chơn lý của đạo và sáng lập tôn giáo lấy tên là Minh Lý đạo.


Đêm 27/11 Giáp Tý (23/12/1924) (thuộc tháng Bính Tý, ngày Bính Tý, giờ Mậu Tý), Minh Lý Đạo Khai Minh tại Thiên Bàn nhà Ngài Âu Minh Chánh.

Trong tên Minh Lý Đạo, Minh có nghĩa là thông hiểu nhận biết rõ ràng, Lý là lẽ phải tuyệt đối. Minh Lý là thông hiểu đến sự tuyệt đối đạt tới lẽ phải mà thành đạo.


Sáu vị chức sắc khai đạo Minh Lý gồm có ông Âu Kiệt Lâm (pháp danh Minh Chánh), ông Nguyễn Văn Xưng (Minh Giáo), ông Nguyễn Văn Đề (Minh Đạo), ông Lê Văn Ngọc (Minh Truyền), ông Nguyễn Văn Miết (Minh Thiện), ông Võ Văn Thạnh (Minh Trực). Trong 6 vị này, sau ngài Âu Minh Chánh (chủ trì từ đầu đến 1938) thì ngài Minh Thiện (chủ trì từ 1938 đến khi quy tiên năm 1972) là người góp công sức lớn nhất cho việc phát triển Minh Lý đạo.


Xây dựng Tam Tông Miếu


Sau khi khai đạo cuối năm 1924, Minh Lý đạo chưa có nơi để tụ tập lễ bái, tu học... Chư vị sau đó được trụ trì Linh Sơn Tự (đường Cô Giang) cho mượn chùa làm nơi lễ bái, tụng kinh. Cũng chính do mượn chùa, các đạo hữu phải tránh các ngày rằm và mùng Một – nhường cho gia chủ – nên lệ cúng hằng tháng vào các ngày 14 và 30 âm lịch còn giữ đến nay.

Nhờ ông bà Trần Kim Ký hiến đất vùng Bàn Cờ (lúc ấy trước chùa chỉ là một con hẻm đất, sau mới mở thành đường Cao Thắng) cùng một số vị khác giúp một phần tài chánh, ngày 10/8/1926 ngôi chùa của Minh Lý đạo đặt viên đá đầu tiên. Cuối tháng 1/1927 việc xây dựng hoàn tất. Ngày 2/2/1927 khai buổi cúng đầu tại chùa mới.


Tượng ghi ơn ông bà Trần Kim Ký


Tam Tông Miếu năm 1927


Theo tư liệu của Minh Lý đạo, khi chuẩn bị xây dựng, Đức Diêu Trì Kim Mẫu giáng đàn ban đạo hiệu chùa là Tam Tông Miếu. Trong đó:


Tam: là Tam thể đồng nhứt; Tam giáo đồng nguyên.

Tông: là thừa kế, tiếp nghiệp của Tổ truyền.

Miếu: là tòa ngự của các Đấng Thiêng Liêng tại thế.

Ngôi Tam Tông Miếu có dáng như ngày nay được trùng tu năm 1957..


Một số đặc điểm của Minh Lý đạo


Minh Lý đạo có một số điểm tương đồng với đạo Cao Đài, tuy nhiên không phải Minh Lý đạo chịu ảnh hưởng của Cao Đài (dù rằng xét về quy mô số tín đồ Minh Lý đạo nhỏ hơn rất nhiều so với Cao Đài), mà ngược lại. Minh Lý khai đạo năm 1924, còn Cao Đài khai đạo năm 1926. Ngũ Chi Minh Đạo, trong đó có Minh Lý, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của đạo Cao Đài.


Những điểm tương đồng giữa Minh Lý đạo và đạo Cao Đài là:

  • Cùng hình thành vào khoảng giữa thập niên 1920, do những vị khai đạo là trí thức, công chức (cho chính quyền Pháp).
  • Kinh sách, các lời dạy của Đạo được Ơn trên (các đấng thiêng liêng) ban cho bằng cách giáng cơ (cơ bút, cầu cơ - Minh Lý đạo phân biệt khá kỹ các dạng cầu huyền cơ, đại ngọc cơ, xin phép không ghi lại đây).
  • Minh Lý đạo chủ trương Tam giáo đồng nguyên (Phật - Nho - Lão), Cao Đài cũng vậy, nhưng thêm cả Cơ Đốc giáo và Hồi giáo.

Kinh của Minh Lý đạo hoàn toàn dùng tiếng Việt để người đọc dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc. Bộ kinh được chia làm 5: Kinh Bố cáo, Kinh Sám hối, Kinh Tịnh nghiệp vãn, Kinh Nhựt tụng, Kinh Giác thế. Một số bài kinh của Minh Lý đạo được đạo Cao đài sử dụng như bài Niệm hương, Bài Khai kinh, Kinh sám hối…


Không giống Phật giáo, Minh Lý đạo không thờ thánh tượng hoặc hình ảnh mà chỉ thờ bài vị. Gian chính của Tam Tông Miếu không gọi là chánh điện mà là bửu điện. Bửu điện của Minh Lý đạo là Thiên bàn có 5 cấp: Cấp thứ nhất thờ bài vị Diêu Trì Kim Mẫu; cấp thứ hai thờ bài vị Ngọc hoàng Thượng đế, Hồng quân Lão tổ; cấp thứ ba thờ Tam Giáo tổ sư (Phật Thích Ca, Thái Thượng Lão quân (Lão tử), Khổng tử); cấp thứ tư thờ Tứ đại Bồ tát (Địa tạng Bồ tát, Văn Thù Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Quan Âm Bồ tát); cấp thứ năm thờ 7 bài vị của Ngũ đẩu Tinh quân và chư Phật, chư Tiên.


Bửu điện Tam Tông Miếu không thờ tượng mà chỉ thờ bài vị


Đạo phục của Minh Lý đạo là: nam mặc áo dài đen, quần trắng, khăn đóng đen; nữ mặc áo dài đen, quần đen (Cao Đài là áo trắng, quần trắng). Môn sanh (không gọi là tu sĩ) cũng vẫn để tóc, không cạo đầu như đạo Phật.


Đạo phục của Minh Lý đạo là áo đen, quần trắng, khăn đóng đen


Về tổ chức Minh Lý đạo: cơ quan cao nhất là Hội đồng Hội thánh, kế đó là Viện Bảo đạo lo phần tu tịnh, giữ gìn đạo pháp, đứng đầu là Tổng lý; Viện Hành đạo lo về công việc hành chính của đạo, đứng đầu là Hiệp lý.


Người đứng đầu ngôi Tam Tông miếu gọi là chủ trì (không gọi là trụ trì như Phật giáo).


Hình ảnh ở vị trí tương ứng trong thánh thất Cao Đài sẽ là Thiên Nhãn (con mắt trái)


Long đong số phận một ngôi chùa


Không như đạo Cao Đài hay Phật giáo Hòa Hảo, có đến hàng triệu tín đồ trên cả nước, Minh Lý đạo chỉ có hơn 400 môn sanh, phạm vi hoạt động chỉ ở 3 nơi là Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu và TP. HCM.


Thời gian 1941 đến 1965, Minh Lý đạo có nhiều khó khăn, các môn sanh phải tự tu học, một số đạo hữu nản lòng tu hành. Tuy vậy, một số vị trung kiên đã quyết chí tu hành ở lại chùa lo đạo, duy trì cúng lễ và trùng tu Tam Tông miếu. Thời gian này, ông Nguyễn Minh Thiện đã phế bỏ việc đời để chuyên tâm dẫn dắt mối đạo.Từ năm 1965 đến năm 1975, đây là thời kỳ Minh Lý đạo hoàn thiện về tổ chức, hình thành Hội thánh và hoàn chỉnh bộ kinh “Minh Lý chơn giải” để bổ túc cho cuốn “Minh Lý học thuyết”.


Cơ sở tu tập của Minh Lý đạo hiện nay chỉ có ở 2 nơi: phần học Công truyền ở tại Thánh sở Tam Tông miếu (82 Cao Thắng, quận 3, TPHCM), phần học Tâm pháp giảng và tu tại Bác Nhã Tịnh đường (Long Hải, Bà Rịa - Vũng Tàu). Một cơ sở mới đang được xúc tiến xây dựng ở Long An.



Tam Tông Miếu, năm 2017


Có lẽ nếu không có bộ lịch Tam Tông Miếu rất nổi tiếng thì chẳng mấy người biết đến ngôi chùa Tam Tông Miếu, và có biết đến chùa Tam Tông Miếu rồi thì cũng chưa chắc biết đến Minh Lý đạo! (giống như tui vậy).


Có một chi tiết nhỏ cần kể thêm. Vì ngài Minh Thiện không có con nên người em gái của ngài là bà Toàn Lạc mới đưa một cô con gái làm con nuôi. Cô này tên Nguyễn thị Kim Tuyết (còn gọi là Châu), sau này là phu nhân trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, nguyên tư lịnh quân đoàn 4 VNCH. Cả bà Kim Tuyết lẫn trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đều là môn sanh Minh Lý đạo. Có lẽ điều này ít nhiều cũng có tác động tốt đến vị thế của Tam Tông Miếu thời kỳ trước 1975.


Sau tháng 4/1975, các hoạt động tôn giáo bị hạn chế nhiều, riêng Minh Lý đạo không hề được công nhận như một tôn giáo. Mãi đến năm 2008 - tức là 33 năm sau - Ban Tôn giáo Chính phú mới chính thức thừa nhận Minh Lý đạo là một tôn giáo độc lập.


Bàn ghế nơi tụng kinh ở Tam Tông Miếu, ít và đơn giản


Tui thắc mắc, hỏi vị môn sanh Minh Lý đạo ở Tam Tông Miếu: Trong hơn 30 năm ấy, với số lượng môn sanh ít ỏi chỉ hơn 400 người, lại không được công nhận chính thức thì các vị làm sao duy trì được việc tu tập, làm sao duy trì được tín ngưỡng của mình?


Vị này trả lời: Nhà nước không công nhận, nhưng cũng không phải là cấm hẳn. Vì thế các môn sanh vẫn đến chùa tụng kinh, tu tập, có mối liên hệ với các tôn giáo bạn (như Cao Đài) để duy trì đạo giáo. Chỉ có các hoạt động xã hội, như in ấn sách lịch Tam Tông Miếu, các hoạt động cứu trợ xã hội... thì không có danh nghĩa chính thức để làm thôi.


Tui được biết đến Minh Lý đạo rất muộn màng, thông qua việc viếng thăm Tam Tông Miếu và thỉnh được một số sách ấn tống. Mạo muội tóm tắt và kể lại chuyện nơi đây, nếu có gì sai sót mong các vị góp ý và bỏ qua dùm.


Phạm Hoài Nhân

Con đường sang trọng bậc nhất Sài Gòn thay đổi qua 3 thế kỷ

đăng 02:05, 5 thg 9, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đường Đồng Khởi dài chưa đầy một km nhưng có nhiều cửa hàng, khách sạn sang trọng, sầm uất bậc nhất Sài Gòn suốt 3 thế kỷ.



Đường Đồng Khởi (quận 1, TP HCM) dài 630 m vốn có từ thời Nguyễn, là đường dành riêng cho vua đi thẳng từ thành Gia Định ra sông Sài Gòn. Sau này, người Pháp đã quy hoạch thành một trong những con đường chính của thành phố và được đặt tên là đường số 16.

Năm 1865, Đề đốc De La Grandière đổi đường 16 thành Catinat – tên một vị thống chế người Pháp ở thế kỷ 17, cũng là tên chiến thuyền đánh vào Đà Nẵng năm 1858 và Sài Gòn năm 1959.

Sau năm 1954, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi tên đường thành Tự Do. Khi đất nước thống nhất, con đường lại một lần nữa đổi tên thành Đồng Khởi. 



Catinat được người Pháp sử dụng làm trung tâm của bộ máy thuộc địa, tập trung nhiều các cơ quan quan trọng của chính quyền. Bức ảnh chụp năm 1900, ở đầu đường gần nhà thờ Đức Bà là hai tòa nhà cổ kính.

Căn nhà bên trái xây dựng năm 1881, từng là Sở thuế, Kho bạc. Năm 1917 là trụ sở của Sở Mật thám Nam Kỳ, nơi bắt giữ những người yêu nước. Người dân thường gọi cơ quan này là \"bót Catinat\". Từ năm 1955 - 1975 là trụ sở Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng Hòa. Hiện tại tòa nhà này là Sở Văn hóa Thể thao TP HCM.

Tòa nhà bên trái là nhà ở công vụ của Sở Thuế, sau năm 1955 lần lượt là trụ sở Bộ Tài chính và Bộ Xã hội của chính quyền Sài Gòn. Sau năm 1975, chuyển thành Sở Lao động- Thương binh xã hội TP HCM cho đến năm 1998 thì bị phá bỏ để xây dựng cao ốc. 



Tính từ khu vực Nhà hát thành phố, nếu đầu đường Catinat chủ yếu là các cơ quan công quyền thì ở giữa đường hầu hết là khách sạn, cửa hàng, tụ điểm giải trí... sang trọng, sầm uất bậc nhất Sài Gòn từ thế kỷ 19 đến nay. 

Continental - khách sạn đầu tiên ở Sài Gòn hoàn thành năm 1880 - là nơi dừng chân của các viên chức, sĩ quan cao cấp của Pháp đến công tác xứ thuộc địa. Từ năm 1955 nhiều nhà văn, nhà báo, chính khách nghỉ ở khách sạn để thảo luận, tình báo... về chiến tranh Việt Nam. Sau năm 1975, khách sạn đổi tên thành Hải Âu cho đến năm 1990 thì trở lại tên cũ.

Nhà hát lớn thành phố hoàn thành năm 1900, để phục vụ nhu cầu giải trí của sĩ quan, chính khách. Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, nơi đây được chuyển công năng thành trụ sở Quốc hội, cho đến năm 1975 mới được trả lại chức năng ban đầu là tổ chức biểu diễn nghệ thuật. 



Bên hông nhà hát là khách sạn ba tầng được xây dựng khoảng năm 1881. Tầng trệt là quán Grand cafe de la Terrace, một trong những quán cà phê đầu tiên và nổi tiếng của Sài Gòn từ cuối thế kỷ 19. Đến năm 1956, tòa nhà này phá bỏ để xây dựng khách sạn Caravelle, hoàn thành sau 3 năm. 

Khi ấy, Caravelle là khách sạn sang trọng hiện đại nhất Sài Gòn với hệ thống phân phối nước nóng lạnh, máy phát điện, điều hòa, thang máy vận chuyển hàng hóa, kiếng chống đạn... Sau năm 1975, khách sạn đổi tên là Độc Lập và trở lại tên cũ sau 20 năm. Năm 1997, Caravelle được nâng cấp để kết nối vào cao ốc 24 tầng kế bên. 



Đối diện khách sạn Cotinental là dãy nhà cửa hàng dọc theo đường Catinat. Tòa nhà ngoài cùng là quán cà phê de Lamusic năm ở góc Catinat - Bonard (Đồng Khởi - Lê Lợi ngày nay) hoạt động từ năm 1890. Năm 1922, quán cà phê chuyển thành nhà thuốc L.Solirène.

Khu vực này sau năm 1954 được xây dựng lại thành Thương xá Eden với hệ thống nhà hàng, quán xá, rạp chiếu phim sang trọng. Đến năm 2010 thương xá bị phá bỏ, thay vào là một trung tâm thương mại bao trọn bốn mặt đường Đồng Khởi, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Lê Thánh Tôn. 



Ảnh chụp năm 1950, tòa nhà ba tầng ở giữa là tiệm thuốc Normale, cạnh đó là tiệm bán thịt A.Guyonnet, nổi tiếng và lâu đời nhất trên đường này. Phía xa là góc đường Catinat - Carabelli (Đồng Khởi - Nguyễn Thiệp ngày nay). Khoảng 1960, hai khách sạn được xây dựng trên nền tiệm thuốc, tiệm thịt ngày xưa. 



Tòa nhà văn phòng và nhà in tờ báo L\'Impartial, ngay góc đường Catinat - D\'Ormay (Đồng Khởi - Mạc Thị Bưởi) vào năm 1920. Năm 1970, căn nhà này bị phá để xây dựng khách sạn Astor, sau năm 1975 thì đổi tên thành Hương Sen. 



Tòa nhà cao 4 tầng là khách sạn Grand xây dựng từ năm 1930 tại góc đường Catinat - Vannier (Đồng Khởi - Ngô Đức Kế), đến năm 1937 đổi tên thành Saigon Palace.



Bức ảnh chụp khoảng năm 1900, tòa nhà ba tầng ở giữa bên tay trái là Grand Hotel de France, đối diện là quán Café de la Terrasse (ngày nay là khách sạn Caravelle). Cạnh đó là các tiệm bán tạp hóa, quần áo, đổi tiền, đồ lưu niệm... 

Vào những năm 1920 - 1930, Grand Hotel de France được mở rộng thành khu cửa hàng, căn hộ, văn phòng, rạp chiếu phim và tồn tại đến ngày nay. 



Ảnh chụp năm 1920, tiệm Photo studio nằm sát khách sạn Cotinental, đối diện là các cửa hàng (sau này là khu Thương xá Eden). Năm 2002, tòa nhà có tiệm chụp ảnh phá bỏ để xây trung tâm thương mại. 



Gần tiệm chụp ảnh là công viên Pages, thời Việt Nam Cộng Hòa đổi tên thành Chi Lăng. Bức ảnh chụp năm 1967, công viên ở đối diện tòa nhà trụ sở Bộ Kinh tế Việt Nam Cộng Hòa (hiện nay là Sở Công thương TP HCM).

Công viên được xây dựng năm 1935 trên gò đất cao ở góc đường Catinat - Espagne (Đồng Khởi - Lê Thánh Tôn). Năm 2002, công viên bị phá bỏ và nay chỉ còn là khuôn viên của một trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng. 



Đoạn cuối đường Catinat hướng thẳng ra bờ sông Sài Gòn. Tòa nhà bên trái là Hotel d\'Annam tồn tại đến năm 1925 thì phá để xây khách sạn Majestic. Tòa nhà bên phải là Hotel de la Rotonde, trụ sở của các công ty, lãnh sự quán. Đến năm 1980, tòa nhà này được xây dựng lại với hình dáng như hiện nay. 

Quỳnh Trần

1-10 of 16