Con người và sự kiện

Bài mới

  • Choáng ngợp cây bún 300 tuổi "báu vật độc nhất vô nhị" ở Hà Nội Cứ vào tháng 3 hàng năm, người dân làng Đình Thôn, phường Mỹ Đình 1 (Nam Từ Liêm - Hà Nội) lại có dịp được ngắm cây bún nở hoa rực ...
    Được đăng 07:43, 2 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đá Mài một thuở... Gần nửa thế kỷ trước, ngọn núi mang tên Đá Mài tọa lạc ở phía tây xã Bình Long (Bình Sơn) từng nhộn nhịp người đào, đục đá đêm ngày ...
    Được đăng 06:57, 24 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cổ miếu bên đồi ông Diên Ngôi miếu cổ nằm cạnh chân đồi với khung cảnh thâm nghiêm, bốn mùa khói hương bảng lảng. Mùa nối mùa, nhiều người dân vẫn đến chiêm bái, cầu mong ...
    Được đăng 05:38, 9 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chùa Phật Lớn trên núi Cấm Đây là tượng Phật Di Lặc trên núi Cấm, thuộc xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, An Giang. Tượng có chiều cao 33,6 m (tính từ dưới chân đế ...
    Được đăng 03:49, 21 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nguyễn Cao Thương - Chân dung họa sĩ tài ba Nguyễn Cao (Kao) Thương (22-3-1918 – 28-3-2003) là một người độc đáo trong làng mỹ thuật Việt Nam. Ông là người đầu tiên ở Việt Nam và ...
    Được đăng 00:23, 25 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Choáng ngợp cây bún 300 tuổi "báu vật độc nhất vô nhị" ở Hà Nội

đăng 07:43, 2 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Cứ vào tháng 3 hàng năm, người dân làng Đình Thôn, phường Mỹ Đình 1 (Nam Từ Liêm - Hà Nội) lại có dịp được ngắm cây bún nở hoa rực rỡ, vẻ đẹp của cây khiến ai đi qua cũng phải ngỡ ngàng.

Theo người dân nơi đây, cây bún ước chừng khoảng 300 tuổi, tọa lạc ngay số 183 đường Đình Thôn. Cây có 2 nhánh, 1 nhánh to ngả hướng Đông Bắc có đường kính khoảng hơn 1m, nhánh ngả sang hướng Tây Nam có đường kính nhỏ hơn.

Người dân cho biết, ở đây từng có 2 cây bún, một cây do nằm trong quy hoạch xây dựng của một công ty nên họ đã phá đi. Cây bún hiện tại, do nằm trên vỉa hè nên người dân đã dùng sắt quây xung quanh để bảo vệ cây. 

Ông Lâm (người dân) cho biết: "Cây bún thân thuộc với người dân nhiều thế hệ ở đây, chứng kiến nhiều thăng trầm của làng".

Cây bún là loại cây thân gỗ tán rộng, nở hoa rộ nhất vào tháng 2 âm lịch, sau đó thưa dần, nhưng đến lúc giao mùa sang hạ, mưa ẩm, cây lại bung lộc trổ hoa từng chùm rất bắt mắt. Hoa bún mọc thành từng chùm phía đầu cành, hoa có hai màu trắng và vàng. 

Cây có chiều cao khoảng gần 30 m, đang thời kỳ ra hoa rực rỡ, toàn bộ tán cây vàng rực khiến nhiều người hiếu kỳ. 

Cây bún là điểm dừng chân lý tưởng của nhiều người sau những giờ lao động mệt nhọc.

Về tên cây bún, nhiều người dân trong làng Đình Thôn cho rằng, sở dĩ có tên như vậy vì chùm hoa bún có 2 màu, có chùm mới bung màu trắng, cánh hoa hình 1 con bún lá, có chùm bung màu vàng rực.

Cũng có người cho rằng, sở dĩ gọi tên là bún vì ngày xưa khi đói kém người dân hay cúng lễ, trong đó có bún rồi mang ra gốc cây này để cho những người ăn mày khắp nơi tới ăn. 

Hoa bún mọc thành từng chùm phía đầu cành, nhẹ đu đưa theo gió. 

Nhiều người dân đi qua khu vực này đều dừng lại, chụp một vài tấm ảnh lưu lại khoảnh khắc cây bún ra hoa rực rỡ.

Phi Hùng

Đá Mài một thuở...

đăng 06:57, 24 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Gần nửa thế kỷ trước, ngọn núi mang tên Đá Mài tọa lạc ở phía tây xã Bình Long (Bình Sơn) từng nhộn nhịp người đào, đục đá đêm ngày. Qua đôi bàn tay khéo léo “cắt, gọt” của người thợ đá, những viên đá mài từ ngọn núi này đã theo các thương nhân đi khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Ấy vậy mà dần dà về sau, khi những dụng cụ mài dao, rựa... hiện đại xuất hiện ngày càng nhiều, cũng là lúc những viên đá mài và núi Đá Mài dần rơi vào lãng quên.

Một thời rộn rã

Lục lại ký ức trở về những năm 80 của thế kỷ trước, cụ ông Đặng Sơn Cổ, ở thôn Long Bình, xã Bình Long (Bình Sơn) bồi hồi kể: “Núi Đá Mài ngày xưa là nơi “kiếm cơm” cho mấy trăm gia đình ở đất Bình Long này. Ngày ấy, chưa có tuyến đường nhựa Bình Long - Trà Bồng, cũng chưa có đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi đi ngang qua núi Đá Mài; chúng tôi lên núi bằng cách đi men theo đường ruộng và đường mòn. Người thì đào hầm đục đá, người thì mang quang gánh để gánh đá từ núi xuống và bán cho các thương lái chờ sẵn bên dưới. Nhộn nhịp và rộn ràng lắm”.

Núi Đá Mài giờ có đường giao thông xẻ qua, lộ ra những phiến đá mài phơi sắc tím ở khắp nơi. Ảnh: Ý THU

Ngày ấy, đá mài được sử dụng nhiều, nên người dân các xã Bình Long, Bình Hiệp, trong thời gian nông nhàn đều tranh thủ lên núi Đá Mài mưu sinh. Theo lời kể của nhiều bậc cao niên tại Bình Long, vào những ngày cao điểm, số lượng người khai thác tại núi Đá Mài lên đến 200 - 300 người. Là nghề khá nặng nhọc, lại đòi hỏi kỹ thuật khi khối đá mài dù chế tác bằng phương pháp thủ công, nhưng phải vuông vức và không bị lồi lõm, sứt mẻ, nên bình quân mỗi ngày, một thợ khai thác đá lành nghề chỉ có thể đục, đẽo được 15 - 20 viên đá mài thành phẩm. Tiền bán số đá mài nói trên dù chỉ đủ cho mỗi người mua được 1 ang lúa khô, nhưng thời ấy, do kinh tế còn khó khăn, nên ai nấy đều cố gắng bám lấy núi Đá Mài để trang trải thêm cho cuộc sống.

Nằm cách Quốc lộ 1 chưa đầy 2km, nên sau khi làm ra những viên đá mài thành phẩm, người dân Bình Long, Bình Hiệp chỉ cần gánh đá xuống quốc lộ (tại vị trí ngã 4 Bình Long bây giờ) là có các thương lái chờ sẵn để mua. “Đá mài mà non thì khi mài dao, đá sẽ nhanh mòn. Còn đá mài mà già, thì bề mặt trơn nhẵn, rất khó mài dao. Riêng đá mài tại Bình Long là loại đá có chất lượng tốt, "không non", "không già", nên được các tay buôn săn đón lắm. Lúc hưng thịnh nhất (từ năm 1979 - 1988), hầu như ngày nào, dưới chân núi Đá Mài cũng có các thương lái từ TP.Quảng Ngãi mang từ 4 - 5 xe tải ra đây chờ sẵn rồi gom mua và chở đi các tỉnh khác để bán. Những người buôn bán nhỏ cũng chờ mua rồi tỏa về bán tại các chợ hoặc đi bán dạo khắp các thôn xóm”, ông Đặng Long, người có thâm niên chẻ đá mài hơn 10 năm, hiện đang sống gần núi Đá Mài hồi tưởng.

Bây giờ đìu hiu

Núi Đá Mài từng là nơi rộn rã tiếng búa đục, đẽo, tiếng người í ới rủ nhau gánh đá xuống núi suốt những năm 80, 90 của thế kỷ trước. Nghề khai thác đá mài từng là nghề mưu sinh chính của người dân ở vùng đồng bằng hữu ngạn sông Trà Bồng. Ấy thế mà bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, núi Đá Mài trở nên đìu hiu, thưa vắng dấu chân người.

Những phiến đá mài nằm lăn lóc khắp nơi dưới chân núi Đá Mài, nhưng chẳng còn ai tìm đến khai thác như ngày xưa. Ảnh: Ý THU

“Kể từ khi các loại dao hiện đại xuất hiện, nghề rèn điêu đứng, nghề khai thác đá mài của chúng tôi rồi cũng dần tàn theo. Gần hai chục năm nay, chẳng còn thấy ai lên núi khai thác đá mài”, ông Nguyễn Sơn, ở xã Bình Long, buồn bã cho hay.

Khi những sản phẩm dao làm bằng inox, thép... lần lượt chiếm lĩnh thị trường, khi những dụng cụ mài dao bằng thiếc, bằng nhựa có gắn các đồng xu kim loại xuất hiện... cũng là lúc chẳng còn mấy ai tha thiết đến các loại dao rèn truyền thống cùng những viên đá mài của ngày xưa. Lò rèn thôi đỏ lửa, nghề chẻ đá mài cũng thôi rộn ràng. Núi Đá Mài bây giờ có đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi xẻ qua, phơi ra màu đá tím khắp nơi. Nhìn những khối đá từng được mọi người nâng niu, săn đón ấy, giờ nằm “chơ vơ” giữa dòng người qua lại ngược xuôi, tôi chợt thấy tiếc cho những sản phẩm truyền thống vốn rất tốt và bền, nhưng lại không bắt nhịp kịp với thị hiếu để rồi dần dà bị rơi vào quên lãng...

Ý THU

Cổ miếu bên đồi ông Diên

đăng 05:38, 9 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Ngôi miếu cổ nằm cạnh chân đồi với khung cảnh thâm nghiêm, bốn mùa khói hương bảng lảng. Mùa nối mùa, nhiều người dân vẫn đến chiêm bái, cầu mong gia đình may mắn, xóm làng yên vui...

Miếu cổ bên làng

Làng Thạnh Đức 1 (giờ là tổ dân phố Thạnh Đức 1, phường Phổ Thạnh, TX.Đức Phổ) nằm bên biển Sa Huỳnh bốn mùa lộng gió. Đồi ông Diên tựa tường thành che chắn cho làng khỏi họa cuồng phong từ biển cả bao la. Bên chân đồi có ngôi miếu cổ xây dựng hàng trăm năm trước, bốn mùa khói hương bảng lảng. Miếu quay về phía làng với mái ngói lô xô và đầm Nước Mặn, nơi tàu cá chen chúc neo đậu sau chuyến vươn khơi. "Theo lời ông bà kể lại thì miếu thờ bà Cửu Thiên Huyền Nữ, xây dựng từ hàng trăm năm trước, nhưng không có sử liệu ghi chép cụ thể vào năm nào...", Bí thư Chi bộ tổ dân phố Thạnh Đức 1 Võ Đức Thuận cho hay.

Ngôi miếu cổ bên chân đồi ông Diên. ẢNH: TRANG THY

Sự bào mòn của thời gian làm cho miếu hư hại trước ánh mắt xót xa của bao người. Cư dân trong làng cùng con em sinh sống phương xa góp tiền của và công sức xây mới, lợp mái che bao phủ khuôn viên miếu thờ để tiện việc dâng hương, cúng tế. Trước miếu có bình phong đắp hình hổ khá oai phong. Mặt sau bình phong tạc hình rồng với những đường nét uyển chuyển. Hai bên bình phong có đôi trụ với cặp nghê sứ ngồi chầu trên đỉnh.

Quanh trụ vẽ hình chim hạc với ước mong ấm êm, trường thọ, trí tuệ minh mẫn... Hai bên cửa miếu có đôi câu đối viết bằng chữ Hán: Anh linh thiên cổ tại/ Hiển hách tứ thời tân (dịch nghĩa: Anh linh muôn thuở còn nguyên/ Hiển hách bốn mùa đổi mới). Giữa miếu thờ là bức tượng Bà với hình dáng người phụ nữ gương mặt hiền hậu, diện mạo uy nghi. Hai bên thờ những vị thần hộ vệ, bên trái và phía sau có các am thờ Quan Thánh, Thần Tài, Thổ Địa... theo tín ngưỡng dân gian bao đời.

Sau miếu là vách đồi cao chen chúc đá lớn nhỏ, như thạch trận chặn bước hung thần gieo rắc tai ương nơi xóm làng. Cây da cổ thụ với bộ rễ bám chặt vào đá, ngăn đá lăn vào khuôn viên miếu thờ. Tàn cây che phủ tạo nên khung cảnh thâm u, nhuốm màu huyền bí. Gió từ khơi xa thổi vào bờ xào xạc cây lá trên đỉnh đồi vang vọng xuống làng như lời nhắc nhở của tiền nhân với hậu thế. "Lúc còn nhỏ, tôi cùng bạn bè ít khi dám đến gần miếu. Mỗi khi có việc phải đi ngang qua là sợ lắm. Giờ tuổi đã lớn, khu miếu thờ Bà cũng quang đãng hơn xưa, nên thỉnh thoảng tôi lên đây thắp hương cầu cho gia đình được bình an", chị Võ Thị Sương, ở tổ dân phố Thạnh Đức 1, bộc bạch.

"Anh linh thiên cổ tại..."

Sáng cũng như chiều, ông Hồ Thảo, nhà ở cạnh miếu luôn đến cung kính thắp hương và quét lá rơi rụng. Hơn 5 năm trước, ông bị thương vùng đầu khá nặng khi đang đánh bắt hải sản trên vùng biển Hoàng Sa. Con trai ông hộc tốc đưa cha vào bờ chữa trị. Thoát chết, ông rời tàu cá và tự nguyện trông nom miếu thờ. Trưa hè oi ả, ông mang võng đến cột dưới mái che và tán cây râm mát cạnh miếu để nghỉ ngơi, tiện việc hương khói. "Năm nay tôi 67 tuổi, đi đứng được như thế này là nhờ Bà phù hộ, chứ lúc đó bị thương nặng lắm, ai cũng nghĩ chết chứ không sống nổi.

Ông Hồ Thảo khấn vái trước ban thờ. ẢNH: TRANG THY

Dân trong làng thường đến đây cầu xin ra khơi bình an, đánh bắt được nhiều cá tôm, con cái học hành giỏi giang, xóm làng yên vui. Nhiều người ở xa cũng đến khấn vái, nhất là vào ngày rằm và mùng một", ông Thảo chia sẻ.

Cứ mùng 10 tháng 8 âm lịch, người làng cùng con em sinh sống phương xa về quê tụ họp, góp tiền mua sắm thực phẩm, sửa soạn mâm cỗ rồi kính cẩn cúng tế. Mọi người cùng nhau ăn uống, chuyện trò, xua tan bao hờn giận thường ngày. Tình nghĩa thêm bền chặt, tựa sợi dây níu chân những người con tha hương quay về xứ sở sau bao ngày xa cách. Chừng vài ba năm, làng mời đoàn hát bội đến biểu diễn vào dịp cúng tế, thu hút đông đảo người dân đến xem.

"Lệ cúng Bà vào mùng 10 tháng 8 có từ lâu rồi. Thuở nhỏ tôi cùng bạn bè mang chén đũa đến ăn, đông vui lắm...", cụ Thuận cho biết. "Ngày 25 tháng Chạp, chúng tôi nấu xôi, chè cùng bánh trái, hương hoa dâng cúng Bà để báo cáo công việc xóm làng trong năm", ông Thảo góp chuyện và không quên chắp tay vái Bà trước khi rời miếu trong nắng xuân hanh vàng.

TRANG THY

Chùa Phật Lớn trên núi Cấm

đăng 00:08, 3 thg 3, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:49, 21 thg 3, 2021 ]

Đây là tượng Phật Di Lặc trên núi Cấm, thuộc xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, An Giang. Tượng có chiều cao 33,6 m (tính từ dưới chân đế đến đỉnh đầu), diện tích bệ tượng 27 x 27 m, tổng trọng lượng cả nền và vỏ tượng gần 1.700 tấn bê tông, cốt thép. Tượng thuộc chùa Phật Lớn, chánh điện nằm cách đó không xa. Ngày 29/5/2013, tượng được công nhận là Tượng Phật Di Lặc lớn nhất trên đỉnh núi ở châu Á.


Đây là toàn cảnh chùa Phật Lớn:



Đây là ngôi chánh điện chùa Phật Lớn


Đây là bên trong chánh điện với tượng Phật Lớn


Trên đây là những hình ảnh chụp vào tháng 1/2021 khi tui và nhóm bạn du lịch nửa ngày trên núi Cấm.

Và bây giờ là phần chính câu chuyện mà tui muốn trích để kể lại cho các bạn. Đây là trích đoạn viếng chùa Phật Lớn do học giả Nguyễn văn Hầu kể lại trong cuốn Nửa tháng trong miền Thất Sơn. Chuyến du khảo nửa tháng được cụ Nguyễn văn Hầu và các bạn thực hiện và ghi chép lại vào năm 1951 (cách nay tròn 70 năm) nhưng do nhiều nguyên nhân, mãi đến năm 1970 mới được in.

Bìa cuốn Nửa tháng trong miền Thất Sơn, do Hương Sen xuất bản năm 1970

Chùa đã đổ nát không còn gì. Trước nền chùa là một tượng Phật đắp bằng xi măng, cũng bị vỡ ra nhiều mảnh. Một cụ già mặc áo đen ở trong am gần đó, nghe tiếng động ra đón chúng tôi. Cụ đốt một cây nhang cắm vào chiếc lon tạm dùng làm lư hương đặt trước tượng Phật lộ thiên, xá ba xá rồi nói với chúng tôi:
  • Mô Phật, khổ quá đi mấy ông à! Tây hết phá chùa thì tới phiên Thổ đốt, cho cả tới cái tượng Phật này cũng không thoát được cảnh tang thương! Có lẽ bần tăng khổ sĩ là phải chịu đựng như vậy đó!
Thấy cụ già quắc thước, cử chỉ tề chỉnh và lời nói có vẻ con người có học, tôi lễ phép hỏi thăm cụ:
  • Thưa cụ, cụ ở đây một mình?
  • Dạ.
  • Cụ có liên quan gì với sư trụ trì chùa này ngày trước?
  • Có. Tôi là môn hạ của đạo sĩ Bảy Do, Chưởng giáo Nam Cực Đường. Vì nhớ thầy, thương đạo, tôi ở tu nơi này để gìn giữ vết tích xưa.
  • Nam Cực Đường là gì, thưa cụ?
  • Là tên của ngôi chùa này và cũng chính là bản doanh của nghĩa đảng.
  • Nghĩa đảng? Cụ Bảy Do cũng là một nhân vật cách mạng nương bóng Phật Đà?
  • Dạ.
  • Cụ có thể vui lòng cho chúng tôi biết về mọi hoạt động của Nam Cực Đường ngày trước?
  • Được. Mời các ông tạm ngồi xuống thềm đá đây, tôi nhắc qua chuyện cũ cho các ông nghe.
Bản đồ miền Thất Sơn trong sách Nửa tháng trong miền Thất Sơn

Đoạn cụ trầm giọng buồn buồn:
  • Hồi đó, năm 1908, tôi là một giáo viên nặng lòng trách nhiệm, bỏ sở theo phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu. Tôi chưa kịp xuất dương sang Nhật thì bể tiếng, phải bỏ trốn. Tôi từ Mỹ Tho chạy về miền Thất Sơn. Bấy giờ Bảy Do vẫn còn sinh sống ở nguyên quán tại làng An Hội, tỉnh Bến Tre.
Ông vốn là học trò cháu của Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa. Bởi ông cha đều tử trận trong các cuộc kháng Pháp, cho nên ông ngoài đường học văn, còn cố công luyện võ để chờ dịp phục thù.

Năm 1911, người ta thấy xuất hiện tại sườn núi Cấm này một thảo am với một đạo sĩ lực lưỡng, mình khoác áo tràng đen chân giẫm đất, đầu búi tóc, ngày hai buổi ngồi thiền nhưng đêm đêm vẫn mài gươm dưới nguyệt. Người nào tò mò dọ hỏi lắm mới biết là đạo sĩ Nguyễn Văn Do, thứ bảy, nên tục gọi Bảy Do.

Tuy đổi với các sơn nhân trong vùng có vẻ như xa lạ, nhưng từ phương xa người ta kéo về quy phục rất đông. Họ đem dâng cúng đủ thứ, kể cả vật liệu xây cất nữa.

Trong số những người đi theo ông Bảy Do đó, có tôi. Ông Bảy dựng lên một ngôi chùa lớn, lấy tên là Nam Cực Đường. Với phương pháp tiên đoán tương lai, làm phù chú giáng phúc trừ họa, Nam Cực Đường thu phục hàng ngàn đệ tử và nơi ấy nghiễm nhiên biển thành tổng hành dinh của một cơ quan chống Pháp.

Pháp thả mật thám giả làm bổn đạo để dò xét. Tông tích bại lộ. Trong năm 1917, chúng đem quân vào vây Nam Cực Đường, tức ngôi chùa mà bây giờ chỉ còn cái nền trước mặt các ông đây. Thu gươm giáo và bị bắt gặp dùng 6.000 chiếc đũa cùng với 20 cái chảo đụn cỡ lớn dành nấu cơm cho hàng ngàn người ăn. Ông Bảy bị bắt sống với hơn chục môn đệ, còn bây nhiêu thì chạy tản lạc vào rừng. Ông bị đưa về giam tại Khám Lớn Sài Gòn và bị kêu án 5 năm cấm cố. Sau đó, bị phát vãng Côn Lôn. Ông Bảy đã cắn lưỡi tử tiết trong đề lao trên hải đảo vào ngày rằm tháng 3 năm Bính Dần (1926), lúc đó mới 45 tuổi.

Nói đến đây, sắc mặt cụ già đượm một vẻ buồn. Cụ tiếp:
  • Những người trước tôi đã hết, đời tôi cũng coi như đã hết, vậy mà quân thù vẫn còn đầy dẫy trên đất nước ta. Các ông còn trẻ, sứ mạng của các ông là phải tiếp tục cho đến cùng những công việc của tiền nhân!
Chúng tôi thảy đều lặng thinh, ngầm ý tán thành lời nói phải.

Nguyễn văn Hầu
(Trích trong Nửa tháng trong miền Thất Sơn, Hương Sen xuất bản 1970)

Chùa Phật Lớn được xây dựng năm 1912. Khi cụ Nguyễn văn Hầu đến viếng chùa và nghe kể câu chuyện này, đó đã là câu chuyện đời xưa. Còn bây giờ ta đọc lại chuyện của cụ Nguyễn văn Hầu kể, đó đã là chuyện đời xưa của chuyện đời xưa.

Phạm Hoài Nhân
(vài mươi năm sau, nếu blog này còn để cháu tui đọc, nó sẽ biết rằng đây là chuyện đời xưa của chuyện đời xưa của chuyện đời xưa)

Nguyễn Cao Thương - Chân dung họa sĩ tài ba

đăng 00:23, 25 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Nguyễn Cao (Kao) Thương (22-3-1918 – 28-3-2003) là một người độc đáo trong làng mỹ thuật Việt Nam. Ông là người đầu tiên ở Việt Nam và toàn Đông Dương bắn rơi máy bay của giặc Pháp. Ông cũng là người đặt tên cho Trường Trung học Mỹ thuật trang trí Đồng Nai, tiền thân của Trường Cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai ngày nay và làm hiệu trưởng cho đến ngày nghỉ hưu. Năm 2012, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Chân dung tự họa, sơn dầu của Nguyễn Cao Thương.

Năm 1944, sau khi theo học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội), Nguyễn Cao Thương vào Sài Gòn tham gia phong trào sinh viên học sinh. Tháng 9-1945, ông gia nhập Cộng hòa vệ binh Nam bộ và được phân công giữ chức phân đội trưởng rồi đại đội trưởng đại đội Vĩnh Trà thuộc Bộ Tư lệnh quân khu 8.

Họa sĩ Lê Thanh Trừ nhớ lại: “Mùa hè năm 1947, một sự kiện xảy ra ở xã Cái Chương (Trà Vinh) vốn là một “vùng trắng” - hậu cứ của địch. Nơi đây tựa như một cù lao chênh vênh giữa cánh đồng lúa, muốn vào làng phải băng qua khoảng trống. Ở vòng ngoài, đồn bốt giặc đóng giăng giăng. Đêm ấy, chỉ huy đơn vị triệu tập toàn đại đội để phổ biến kế hoạch hành quân vào sâu trong lòng địch. Quân Pháp ở Trà Vinh được tin, lập tức chuẩn bị kéo quân đánh phủ đầu.

Mặt trời vừa ló dạng, từ phía thị trấn Càng Long tiếng xe ầm ì vọng lại, trên đầu máy bay gầm rú. Về phía ta, anh em nằm phục dưới công sự, chỉ có viên chỉ huy vẫn đang theo dõi địch ở… trên cây. Ông lên đạn khẩu trung liên, miệng lầm bầm: “Mày mà qua một lần nữa tao cho mày biết tay”. Máy bay lượn vòng vòng, từ ngọn cây loạt trung liên nổ giòn giã. Chị chủ nhà đứng dưới gốc cây bỗng la lên: “Trúng đạn rồi! Hoan hô, xe bay trúng đạn rồi!”.

Bộ đội và dân làng reo vang, viên chỉ huy vẫn còn trên cây, bị cành lá che khuất, giờ mới biết chính mình hạ được máy bay!”. Đó là Nguyễn Cao Thương - người đầu tiên ở Việt Nam và Đông Dương bắn rơi máy bay của giặc Pháp.

Năm 1948, trong trận đánh ác liệt ở Dừa Đỏ (Trà Vinh), Nguyễn Cao Thương bị thương, nằm viện một thời gian dài và sau này giám định thương tật thuộc loại 3/4. Thế là chấm dứt đời lính, ông trở về với vai trò họa sĩ - nhà giáo.

Năm 1976, Bộ Văn hóa - Thông tin đề bạt ông làm trưởng đoàn tiếp quản Trường Kỹ thuật Biên Hòa - tiền thân là Trường Mỹ nghệ Biên Hòa. Năm 1978, ông trở thành hiệu trưởng của trường và chính thức đổi tên trường thành Trường Trung học Mỹ thuật trang trí Đồng Nai và xây dựng các chuyên ngành đào tạo của trường gồm: Trang trí công thương nghiệp; Gốm mỹ thuật; Điêu khắc trang trí; Gỗ trang trí; Đúc đồng trang trí; Sắt trang trí; Khắc, chạm đá nhân tạo; Đồ chơi trẻ em… và bắt đầu tuyển sinh những khóa đầu tiên.

Ngược xuôi quản lý đào tạo mỹ thuật trong nhiều năm, tháng 10-1980, thầy Nguyễn Cao Thương nghỉ hưu. Về địa phương thầy tham gia nhiều hoạt động trong phong trào quần chúng và được bầu làm đại biểu hội đồng nhân dân phường, tham gia giảng dạy tại Trường Đại học Mỹ thuật TPHCM. Ông cũng dành thời gian sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị…

Bìa sách Nguyễn Cao Thương - Vẽ là lẽ sống.

Trong thời gian làm họa sĩ - thầy giáo, ông Nguyễn Cao Thương được cử đi nhiều nước trên thế giới như Liên Xô, Trung Quốc, Mông Cổ, Cuba, Lào… để nghiên cứu về hội họa, văn hóa nghệ thuật, trên cơ sở đó đúc kết những tinh hoa văn hóa nghệ thuật của thế giới để truyền thụ cho học trò, đồng nghiệp ở Việt Nam.

Đến đâu ông cũng say mê quan sát, tận tình tìm hiểu và tỉ mỉ ký họa, ghi chép. Thế nhưng, theo lời anh Nguyễn Hiếu Trung - con trai họa sĩ Nguyễn Cao Thương: “Khi ở nhà cũ, tác phẩm không được bảo quản cẩn thận nên mối mọt ăn nhiều. Năm 2002 khi chuyển nhà thì ông bỏ hết đi, chỉ mang theo được màu và giấy vẽ”.

Vì thế, khi ông Tira Vanichtheeranont, nhà sưu tầm nghệ thuật người Thái Lan, công bố bộ sưu tập được in thành sách Nguyễn Cao Thương - Vẽ là lẽ sống, ai nấy đều hồ hởi. Ông Tira cho biết, ông mua được bộ sưu tập của họa sĩ Nguyễn Cao Thương vào tháng 6-2013 tại TPHCM từ ông Ralph Matthews, nhà sưu tầm nghệ thuật người Mỹ.

Bộ sưu tập gồm 256 bức ký họa và màu nước, một nửa trong số đó là tranh màu nước trên khổ giấy lớn và sáu tranh sơn dầu trên bìa cứng/giấy bồi của họa sĩ tài ba Nguyễn Cao Thương thuộc trường phái hiện thực xã hội. Toàn bộ những ký họa, màu nước và sơn dầu trong bộ sưu tập này chưa một lần được giới thiệu với công chúng trong suốt 40 năm qua.

Cùng với một loạt tài liệu viết tay, đây là một cuốn nhật ký sinh động minh họa cuộc đời của họa sĩ, và là cơ sở để có thể đánh giá hoàn cảnh sáng tác hay tính xác thực những tác phẩm được tìm thấy sau này của ông.

Sau ngày thống nhất đất nước, một số tác phẩm của Nguyễn Cao Thương sáng tác vào những năm cuối đời khoảng 1997, được Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam sưu tầm và lưu giữ. Những tác phẩm này đã giành một số giải thưởng mỹ thuật.

Trong thời gian này, ông được cử đi nhiều nước trên thế giới theo các đoàn ngoại giao như Cuba, Trung Quốc, Mông Cổ và Liên Xô, nơi ông đã ghi lại không biết bao nhiêu hình ảnh về phong cảnh và con người. Rất nhiều bức chân dung ông vẽ trong những chuyến đi này còn lưu chữ ký của nhân vật. Đây quả là một nguồn lưu trữ lịch sử quan trọng.

Ông Ralph Matthews, nhà sưu tầm nghệ thuật người Mỹ, nhận định: “Bây giờ chúng ta đã có một nguồn tư liệu bổ sung khá dồi dào về họa sĩ Nguyễn Cao Thương. Những tác phẩm chưa từng được biết đến giúp chúng ta hiểu hơn sự tôn kính mà những người cùng thời dành cho ông với vai trò là một giảng viên mỹ thuật và giúp chúng ta hiểu hơn về sự nghiệp của ông. Di sản ông để lại có thể khẳng định ông là nghệ sĩ phác họa và họa sĩ màu nước tài ba nhất so với những họa sĩ cùng thời”.

Ngày 27-4-2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký quyết định về việc tặng Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật cho họa sĩ Nguyễn Cao Thương với các tác phẩm: Bác Hồ thăm trận địa pháo ở hồ Tây (sơn dầu), Hành quân qua bưng biền Đồng Tháp Mười (sơn dầu), Xây dựng khu gang thép Thái Nguyên (sơn mài)

ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

Người triển lãm tranh lập thể đầu tiên tại Sài Gòn là ai?

đăng 00:15, 25 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Giới họa sĩ và người yêu hội họa trong nước sẽ trả lời ngay là Tạ Tỵ - họa sĩ mở cuộc triển lãm tranh theo trường phái lập thể (Cubism) đầu tiên của mình tại Sở Thông tin Sài Gòn vào năm 1956.

Chân dung tự họa - sơn dầu của Nguyễn Cao Thương

Nhưng thật bất ngờ, năm 1943 Sài Gòn đã có hội họa lập thể.

Năm 1956, tại phòng triển lãm Sở Thông tin (góc đường Đồng Khởi và Lê Lợi bây giờ), Tạ Tỵ ra mắt giới thưởng ngoạn 57 bức tranh lập thể mà ông đã vẽ từ khi vào Sài Gòn và ít nhiều một số tranh cũ mang từ Hà Nội vào.

Từ đó, có những nhận định như "Đây cũng là lần đầu tiên dân chúng Sài Gòn được thưởng ngoạn một lối vẽ mới, từ xưa chưa có", "Tôi là nghệ sĩ đầu tiên tại VN vẽ tranh lập thể và trừu tượng" (Tạ Tỵ dấu ấn sáng tạo, Nguyễn Quốc Định, 2019); "Tạ Tỵ không hiểu đã xem tranh lập thể ở đâu mà thường được coi là họa sĩ VN đầu tiên đưa hình khối vào tranh..." (Phạm Duy, theo Tạ Tỵ dấu ấn sáng tạo, trang 66).

Trong lịch sử mỹ thuật VN, Tạ Tỵ được xem là họa sĩ đầu tiên theo trường phái lập thể (và sau đó là trừu tượng) cũng như đưa trường phái này vào hội họa VN.

Bài báo "Xem tranh"

Tôi cũng nghĩ chính Tạ Tỵ là họa sĩ đầu tiên theo lập thể nếu không đọc được một bài báo trên Nam Kỳ tuần báo số ra ngày 19-9-1943. Trong bài báo "Xem tranh" (trang 9), tác giả Trang Sinh đã cho biết chính họa sĩ Nguyễn Cao Thương là người đã triển lãm những bức tranh Sài Sơn, Mùa Xuân, Khóm chuối rừng màu xanh, Đôi trâu trên quãng đồng hung hung đỏ... được vẽ theo trường phái lập thể tại nhà hàng Continental vào tháng 8-1943.

Năm này, Tạ Tỵ còn là sinh viên Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và vẫn chưa vẽ tranh lập thể.

Xin trích đoạn bài viết của ông Trang Sinh: "Tôi bước lên mấy bực thang của nhà hàng Continental ở Sài Gòn với nhiều thành kiến đã có sẵn. Người ta nói với tôi rất nhiều về lối lập thể. Người ta bảo nó kỳ hoặc, lạ lùng, khó hiểu.

Tôi không phải là một nhà mỹ thuật lại cũng không từng phê bình khoa ấy, nhưng lòng yêu đẹp chắc thế nào cũng cho tôi nhiều cảm giác hay hay... Vậy cảm giác của tôi ra thể nào sau khi xem tranh, là tôi chép y ra dưới đây, lời quê mộc mạc mong quý bạn đọc biết giùm...

Hai họa sĩ Cao Thương và Thúc Chương cùng chung tranh trong một phòng rộng. Nhưng hai lối vẽ lại khác nhau, chọi nhau gần như là đen với trắng. Lối cổ điển của Thúc Chương thì dịu dàng, lối lập thể của Cao Thương lại gân guốc...

Thoạt nhìn, tôi chỉ thấy những nét bệt, nét gạch hết sức dơ bẩn, những cái hình vuông, hình góc không ra quái gì, tôi không nhận ra được gì gì cả. Thế mà khi đứng lùi ra xa, xa hơn mọi khi, tôi bỗng ngạc nhiên thấy hiện lên toàn thể bức tranh, tôi mới nhận ra được cảnh vật trên bức họa, rõ rệt và phân biệt. Đẹp một cách rắn rỏi, tươi một điệu ngọt ngào!...

Màu sắc họa sĩ dùng cũng có một lối tân kỳ. Chúng nó tươi đặc biệt, sặc sỡ như những sợi thắt lưng hoa hòe của mấy cô đầm... Vậy mà tại sao người ta lại nói xấu rất nhiều lối ấy? Có lẽ tại người ta chưa quen được với nó chăng?

Nhưng nếu biết được cái quan niệm về nghệ thuật của họa sĩ Nguyễn Cao Thương là "tìm hiểu tạo vật" chớ không phải "chụp ảnh" như lời họa sĩ đã nói với bà Renée Fabrice thì chắc người ta sẽ hết ngạc nhiên trước những cái táo bạo lạ lùng của lối lập thể".


Thật tiếc, có lẽ do kỹ thuật in ấn vào năm 1943 nên Nam Kỳ tuần báo chẳng in được một bức tranh nào của họa sĩ Nguyễn Cao Thương. Tuy nhiên, theo bài báo, có thể thấy họa sĩ Nguyễn Cao Thương là người đầu tiên vẽ và triển lãm tranh lập thể tại Sài Gòn và cả VN.

Nguyễn Cao Thương là ai?

Khi vẽ những bức tranh lập thể, Nguyễn Cao Thương chỉ là họa sĩ tự học và vào năm 1944, chàng trai sinh năm 1918 tại tỉnh An Giang đã vào học tại Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở Hà Nội.

Ông thuộc lớp họa sĩ đầu tiên theo kháng chiến và về sau không còn thấy vẽ theo họa phái lập thể nữa, trong khi Tạ Tỵ làm hai cuộc triển lãm lớn - mỗi lần 57 bức tại Hà Nội (1951) và Sài Gòn (1956) - và tiếp tục theo họa phái này đến năm 1960 mới chuyển qua trường phái trừu tượng.

Và điều hết sức lý thú: họa sĩ - chiến sĩ Nguyễn Cao Thương là người VN đầu tiên bắn rơi máy bay Pháp. Ông cũng là người đặt tên cho Trường trung học Mỹ thuật trang trí Đồng Nai, tiền thân của Trường cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai ngày nay và làm hiệu trưởng đến ngày nghỉ hưu.

Ông mất năm 2003, được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật với các tác phẩm: Bác Hồ thăm trận địa pháo ở hồ Tây (sơn dầu), Hành quân qua bưng biền Đồng Tháp Mười (sơn dầu), Xây dựng khu gang thép Thái Nguyên (sơn mài) vào năm 2012.

Dù triển lãm tranh lập thể sau họa sĩ Nguyễn Cao Thương, phải thừa nhận họa sĩ Tạ Tỵ là người đặt nền móng cho tranh lập thể bởi suốt cuộc đời thăng trầm của mình, ông luôn đeo đuổi phong cách hội họa này một cách quyết liệt.

Họa sĩ Siu Quý nhận định: Với trường phái lập thể, họa sĩ Tạ Tỵ đã thổi một luồng gió mới vào hội họa VN và để lại dấu ấn khó quên cho người xem.

Ngày nay ít họa sĩ vẽ lối lập thể, có thể do bối cảnh xã hội thay đổi, nhịp sống trở nên gấp gáp hơn và nghệ sĩ cũng chọn cách vẽ biểu hiện, hiện thực, ấn tượng để thể hiện sự hối hả đó.

Còn với trường phái lập thể hay xa hơn là trừu tượng, người vẽ cần tích tụ đủ vốn sống, sự trải đời, một tâm hồn trăn trở cùng cảm quan thẩm mỹ phân tích - tổng hợp được rèn giũa nhiều năm mới có thể sáng tác được.

MAI THỤY ghi

Ông tổ châm cứu Việt Nam

đăng 04:22, 24 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Nhiều thế kỷ nay, những di sản về cách trị bệnh không dùng thuốc mà danh y Nguyễn Đại Năng để lại cho đời vẫn được các thế hệ lương y trong cả nước gìn giữ và phát huy trong chữa bệnh cứu người, góp phần nâng tầm vị thế nền y học nước nhà.

Cuốn sách "Châm cứu tiệp hiệu diễn ca" là di sản quý về phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc

Cuốn sách quý "Châm cứu tiệp hiệu diễn ca"

Trong lịch sử y dược học của dân tộc, Hải Dương xưa tự hào là nơi sinh ra, nuôi dưỡng nhiều thầy thuốc có đóng góp rất lớn cho nền y - dược học nước nhà như đại danh y Tuệ Tĩnh - người được suy tôn là Thánh thuốc nam hay Hải Thượng Lãn Ông - một đại danh y uyên thâm nhiều lĩnh vực vốn sinh trưởng trên đất Thượng Hồng… Trong số các thầy thuốc nổi danh của vùng đất xứ Đông xưa, danh y Nguyễn Đại Năng nổi lên như một trường hợp đặc biệt khi ông sử dụng thuật châm cứu để chữa bệnh cứu người. Phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc của ông được các thế hệ lương y trong cả nước kế thừa, phát huy đến tận ngày nay.

Thời gian đã lùi xa hơn 6 thế kỷ, rồi chiến tranh loạn lạc liên miên nên những di sản của danh y Nguyễn Đại Năng để lại cho đời không còn nhiều. Công trình lớn nhất góp phần tạo nên danh tiếng của ông là tác phẩm: "Châm cứu tiệp hiệu diễn ca" - cuốn sách "gối đầu giường" của các nhà châm cứu Việt Nam nhiều thế kỷ nay. Nội dung của cuốn sách không phải là những câu chữ chuyên ngành y học khô khan mà là những bài thơ viết bằng chữ Nôm ghi lại cách chữa 130 loại bệnh với 170 huyệt châm cứu, trong đó có 34 huyệt trước đó chưa hề có trong bất cứ tác phẩm y dược học nào. "Cách chữa bệnh bằng châm cứu đã xuất hiện ở nước ngoài đương thời nhưng nhiều huyệt châm trong sách này chỉ thấy ở Việt Nam. Đây là những sáng tạo quý báu do Nguyễn Đại Năng tìm ra hoặc do kinh nghiệm đương thời mà ông đã áp dụng và ghi lại. Đặc biệt, cuốn sách được viết bằng chữ Nôm đã thể hiện lòng tự hào dân tộc cao đẹp của vị danh y này", nhà sử học Tăng Bá Hoành nhận xét.

Cầm trên tay cuốn "Châm cứu tiệp hiệu diễn ca", lương y Nguyễn Anh Tuấn, Phó Giám đốc phụ trách khu vực Đông Bắc thuộc Trung tâm Dịch vụ Nam y (Hội Nam y Việt Nam) cho biết cuốn sách đã đúc kết những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình chữa bệnh cứu người, hướng dẫn cách lấy huyệt, chỉ định huyệt chữa bệnh, sắp xếp các huyệt theo từng bộ vị, từng kinh mạch của cơ thể. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, tác phẩm “Châm cứu tiệp hiệu diễn ca” là di sản quý báu về phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc mà danh y Nguyễn Đại Năng đã để lại cho hậu thế, góp phần xây dựng nền khoa học châm cứu Việt Nam. Hình thức, ngôn ngữ của tác phẩm mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam. Những kiến thức về châm cứu của danh y để lại đã ảnh hưởng to lớn đến nhiều thế hệ những nhà châm cứu sau này, trong đó có “bàn tay vàng” Nguyễn Tài Thu, người đưa châm cứu Việt Nam ra thế giới, khiến cho cả thế giới ngưỡng mộ.

Quảng trường trung tâm thị xã Kinh Môn mang tên Nguyễn Đại Năng

Những câu hỏi còn bỏ ngỏ

Đến nay, những gì hậu thế biết về danh y Nguyễn Đại Năng chỉ là một số thông tin ít ỏi được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư: Năm Quý Mùi, niên hiệu Khai Đại nguyên niên (1403): “Người phương sĩ ở Giáp Sơn tên là Nguyễn Đại Năng có thuật lấy lửa chích hoặc lấy kim châm để chữa bệnh cho người. Hán Thương bổ làm chức Tự thừa, đặt quan thuộc thự Quảng tế (cơ quan y tế) bắt đầu từ đấy. Đại Năng… có sức khỏe, có thể bắn được nỏ cứng. Sau làm Quảng tế lệnh kiêm giữ dinh Binh qua, coi quân Sùng uy". Những dòng ghi chép ngắn ngủi trong chính sử chỉ cho chúng ta biết ông quê ở Giáp Sơn, phủ Kinh Môn, nay là phường Hiệp An (Kinh Môn). Ngoài ra không có bất cứ thông tin nào về năm sinh, năm mất, dòng tộc hoặc nơi thờ tự của ông.

Để làm rõ thân thế, quê quán, dòng tộc và nơi thờ phụng danh y Nguyễn Đại Năng, Hội Châm cứu Hải Dương phối hợp với Bảo tàng tỉnh đã nghiên cứu trên quy mô rộng gồm 101 di tích lịch sử, văn hóa của Kinh Môn và vùng phụ cận với sự hỗ trợ, cộng tác của các bảo tàng phía Bắc, kết hợp điền dã ở các xã trọng điểm thuộc thị xã Kinh Môn và các huyện Thủy Nguyên, An Hải (Hải Phòng). Tuy nhiên, tất cả những cố gắng đó đến nay vẫn chưa có kết quả. Thời gian đã xóa nhòa những dấu tích về một thầy thuốc kỳ tài trong lịch sử dân tộc.

Các nhà nghiên cứu cho rằng có thể vào những năm cuối triều Trần, đầu triều Hồ đất nước rơi vào cảnh loạn lạc rồi quốc gia Đại Việt lại chịu 20 năm đô hộ của nhà Minh nên những di tích về ông đã bị phá hủy. Hay vì là một trung thần nên khi nhà Hồ bị diệt ông đã mai danh ẩn tích, thay tên đổi họ để cho người đời không còn ai biết đến cái tên "Nguyễn Đại Năng" nữa? Hoặc ông đã chịu chung số phận với hàng nghìn thợ khéo, thầy thuốc giỏi đã bị nhà Minh bắt đưa về Trung Quốc để rồi mãi mãi nằm lại nơi xứ người?

Những câu hỏi đó cần được giải đáp để hậu thế có thể hiểu rõ hơn về ông tổ thuật châm cứu Việt Nam. Tên của ông đã được đặt cho nhiều tuyến đường ở TP Hải Dương, thị xã Kinh Môn và một số tỉnh, thành phố khác trong nước. Quảng trường trung tâm thị xã Kinh Môn cũng được mang tên ông. Thế nhưng những người nặng lòng với nền y học cổ truyền còn mong muốn tôn vinh Nguyễn Đại Năng là đại danh y, thành lập viện châm cứu mang tên ông, xây đền thờ hoặc khu tưởng niệm trên quê hương Kinh Môn... để xứng đáng với đóng góp của ông.

VỊ THỦY

Chiêm ngưỡng đại tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cao 42 m ở Nghệ An

đăng 01:09, 14 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Sau 1 năm rưỡi thi công, ngôi tượng Phật Thích Ca Mâu Ni chùa Phúc Lạc, xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc đã khánh thành. Tượng cao 42m được đánh giá là ngôi tượng to lớn bậc nhất khu vực Bắc Trung Bộ.

Chiều tối 17/1, chùa Phúc Lạc đã tổ chức lễ khánh thành, an vị đại tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tham dự buổi lễ có đại diện UBMTTQ tỉnh, các sở, ban, ngành cấp tỉnh, huyện Nghi Lộc, các vị hòa thượng, thượng tọa, đại đức tăng ni và hàng nghìn phật tử trong và ngoài tỉnh. Ảnh: Huy Thư

Công trình đại tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cao 42m, đường kính phía dưới 32m, gồm 3 phần: thân tượng, đài sen và lầu bát giác, được làm nên từ bê tông sắt thép. Tượng tọa lạc ngay trước chùa Phúc Lạc. Ảnh: Huy Thư

Thân tượng tạo tác đức Phật theo kiểu ngồi thiền, tay trái lật ngửa, tay phải nằm sấp, mặt nhìn ra phía Đông. Tượng do nhiều nhóm thợ thi công, trong đó, phần thân tượng do nhóm thợ Thừa Thiên Huế hoàn thiện. Ảnh: Huy Thư

Lầu bát giác có nhiều cột, mái ngói cong vút đầu đao, có 4 cửa thông ra 4 hướng. Ảnh: Huy Thư

Đại tượng Phật Thích Ca Mâu Ni chùa Phúc Lạc không chỉ đồ sộ về kích thước, kiến trúc mà còn mang vẻ đẹp hài hòa cân đối, sắc nét, thẩm mỹ trong từng chi tiết, từ khuôn mặt đến nếp áo, cánh sen... Ảnh: Huy Thư

Phần sau của đại tượng nhìn từ nhà tăng chùa Phúc Lạc. Ảnh: Huy Thư

Công trình đại tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cao 42m được thi công trong thời gian dài và trải qua nhiều thời khắc khó khăn. Tuy nhiên, nhờ sự đồng lòng của các chư tăng, bà con phật tử, nhà đầu tư, công trình đã khánh thành đúng tiến độ. Ảnh: Huy Thư

Bên trong gian lầu bát giác (phần dưới của đại tượng) có không gian rộng, là nơi thờ đức Phật, các phật tử có thể tập trung về lễ Phật. Ảnh: Huy Thư

Buổi lễ đã diễn ra trong không khí trang trọng với nhiều phần nghi lễ. Tại đàn tràng, đại diện nhà đầu tư đã bàn giao công trình cho chùa Phúc Lạc. Nhà chùa đã tán thán công đức của các mạnh thường quân, quý chư tăng, phật tử và nhân dân trong việc gia trì xây dựng tương Phật. Ảnh: Huy Thư

Đại tượng Phật Thích Ca Mâu Ni chùa Phúc Lạc là kết tinh công sức, tâm nguyện và trí nguyện của nhiều người. Đây là công trình tâm linh đặc sắc ở Nghệ An mang thông điệp yêu thương và hòa bình gửi đến muôn nơi. Sau khi khánh thành, đại tượng Phật được đánh giá là công trình tượng Phật to lớn bậc nhất Bắc Trung Bộ cho đến thời điểm hiện tại. Ảnh: Huy Thư

Huy Thư

Về đình Phú Tự ngắm cây Bạch Mai di sản ở Bến Tre

đăng 20:47, 8 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Đình Phú Tự tọa lạc tại ấp Phú Hào, Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre là một trong số những ngôi đình cổ còn tồn tại đến ngày nay. Từ trung tâm thành phố Bến Tre, đi theo tỉnh lộ 885 hướng về Giồng Trôm khoảng 5km, gặp ngã ba thì rẻ trái vào con đường nhựa sẽ gặp đình cổ Phú Tự.

Cổng đình Phú Tự

Đình Phú Tự thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Cho đến nay, vẫn chưa có tư liệu nào xác định thời gian xây dựng ngôi đình nhưng theo lời các cao niên thì đình được xây dựng trước năm 1904 rất lâu.

Tiền thân của đình Phú Tự là một ngôi miếu nhỏ được những lưu dân mới đến khai cơ lập địa xây dựng để làm nơi thờ cúng các bậc tiền hiền, cầu cho mưa thuận gió hòa. Về sau, Chánh bái làng Phú Tự – ông Trần Văn Cương – đã hiến đất và đứng ra xây dựng ngôi đình làng, thay cho ngôi miếu cũ.

Đình Phú Tự được xây theo kiểu chữ Tam

Đình Phú Tự được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ, mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương. Các gian tứ trụ trang trí lưỡng long chầu nguyệt, bát tiên. Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Nền cao 0,5m, lót gạch tàu.

Đình chính gồm ba ngôi: nhà võ ca để hát cúng, nhà thính trưng bày các vật cúng lễ và nhà chính gồm: trung đình thờ Quốc tổ Hùng Vương, thần đình Phú Tự và các vị tiền hiền, hậu hiền là những người có công khai khẩn; hậu đình nơi đặt dãy nhà khách, nhà bếp…. Trước sân đình ngoài bàn thờ Thần Nông (còn gọi là Đàn xã tắc) và bàn thờ Sơn Quân (ông Hổ) còn có Đài liệt sĩ để tưởng nhớ các liệt sĩ đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và bảo vệ biên giới Tây Nam của đất nước.

Bên trong đình

Thêm một điều thú vị khi đi khách du lịch Bến Tre ghé thăm nơi này là tại sân đình có cây Bạch Mai đã hơn 300 năm tuổi, được mệnh danh là “Thần Mai” hay “Danh mộc Bạch Mai”. Đây là một trong những cây bạch mai cổ thụ quý hiếm của cả nước gắn với lịch sử khai mở đất phương Nam của cha ông ta.

Cây Bạch Mai đã hơn 300 năm tuổi

Tương truyền, từ thời vua Minh Mạng, khi dân địa phương chọn đất xây dựng đình Phú Tự đã thấy cây bạch mai mọc xanh tốt. Các cụ cao niên ở đây kể lại, vào những năm đầu thế kỷ XIX, ngôi đình được trùng tu, đổi hướng quay mặt ra sông Bến Tre, cây cổ thụ bạch mai đứng giữa sân trước như bây giờ, làm tăng thêm vẻ cổ kính của ngôi đình.

Tán xòe rộng trên 200m2, vươn cao 14m

Trải qua bao năm thăng trầm, biến cố lịch sử, cây bạch mai vẫn sống khỏe đến nay với tư thế vững chãi, tán lá xanh um, tỏa rộng khắp sân đình. Nhiều vị cố cựu ở xung quanh kể rằng, năm 1968 có trận đánh lớn ở gần đó, xung quanh đình bị 3 trái bom xăng, cây bạch mai cũng bị trúng ngay cành nhưng cũng chỉ bị cháy xém một vài nhánh. Cây bạch mai sao đó lại phát triển bình thường. Hiên tại, thân cây mẹ không còn mà có rất nhiều nhánh nhỏ vươn ra, tán xòe rộng trên 200 m2, vươn cao 14m.

Từ rằm tháng giêng đến rằm tháng hai Âm lịch cây Bạch mai lại nở hoa

Hằng năm, vào giữa tiết Lập xuân và tiết Thanh minh (từ rằm tháng giêng đến rằm tháng hai Âm lịch), cây Bạch mai lại nở hoa. Trong những ngày hoa nở, tán cây bao phủ một màu trắng tinh, mang vẻ đẹp thuần khiết của thiên nhiên. Đêm về gió thoảng đưa hương ngào ngạt, lan tỏa cả vùng. Hoa nở chừng hai tuần thì mãn khai nhưng cánh hoa vẫn còn trắng muốt.

Tán cây bao phủ một màu trắng tinh

Vào mùa hoa nở, người dân địa phương đem vải bạt đến lót quanh gốc cây để lấy hoa mai rụng về phơi khô nấu nước uống, xem như một loại trà, có mùi thơm rất thú vị.

Hương ngào ngạt, lan tỏa cả vùng

Hiện nay, tại đình Phú Tự còn 4 câu thơ xưa nói về cổ thụ bạch mai: “Khí thiêng hun đúc bạch mai thần/ Phú Tự đình xưa bóng rợp sân/ Xuân trổ ngàn hoa đơm trắng phếu/ Đông đâm muôn lộc phủ trong ngần”.

Ngày 10-1-2008, UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 75/QĐ-UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ bạch mai là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Tại đình Phú Tự còn có 2 cây cổ thụ khác có tuổi thọ trên 100 năm. Đó là cây khế chua và cây thị nằm phía sau đình. Do chính quyền và người dân địa phương thấy được giá trị văn hóa của ngôi đình và các cây cổ thụ nên rất quan tâm chăm sóc, bảo vệ.

Hàng năm ngoài các lễ cúng Kỳ yên, thượng điền, hạ điền, đình Phú Tự còn là nơi tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, ngày thơ Việt Nam, giỗ tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ… dưới cội “mai thần” thu hút đông đảo du khách xa gần đến thắp hương và chiêm ngưỡng những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Về chùa Giác Lương ngắm cây sứ hơn 200 tuổi

đăng 00:23, 5 thg 2, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

“Cổng tam quan và cây sứ hơn 200 năm tuổi là nét đặc trưng ở chùa Giác Lương đó chị”.

Lời giới thiệu của thầy Hải, giáo viên Trường tiểu học Đông Hiền ở xã Phong Hiền (Phong Điền) thôi thúc tôi có quyết định chọn được điểm đến cuối tuần vừa rồi.

Cây sứ trước gian thờ chính đã trải qua hơn 2 thế kỷ

Chùa Giác Lương cách cổng làng Hiền Lương khoảng hơn trăm mét. Nằm ở vùng trũng của huyện Phong Điền, dấu vết những đợt thiên tai vừa qua còn in rõ trên nền sân gạch và các bức tường, nhưng ngôi chùa có kiến trúc nhà rường cổ đã vững vàng sau thiên tai. Thầy Hải khẳng định, việc tham quan chùa không ảnh hưởng đến thời tiết, nên dù hôm chúng tôi đến chùa là thời điểm cả dải đất miền Trung đang chuẩn bị đón cơn bão số 10, trời lúc tạnh lúc mưa nhưng quan cảnh bên trong vẫn thoáng đãng, trang nghiêm.

Như lời thầy Hải giới thiệu, cổng chùa cao 3 tầng quả là nguy nga so với ngôi chùa cổ nhỏ bé nằm bên trong. Anh Nguyễn Đức Thiện, người kế nghiệp cha lo chuyện hương đăng ở chùa cho biết, theo lời người già ở làng, chùa do bà Hoàng Thị Phú xây dựng cách đây hơn hai thế kỷ để thờ Phật và các vị thần. Người xây chùa còn có chủ ý tạo nơi thờ các ngài khai canh và 12 họ đầu tiên sinh sống ở làng Hiền Lương để nhắc nhở con cháu nhớ về nguồn cội, tổ tiên ông bà của mình. Anh Thiện nhấn mạnh thêm, không nhiều chùa ở Huế xây cổng tam quan, mà tầng hai của cổng còn có án thờ ngài hộ pháp để trấn giữ chùa mà như lời bà con ở đây là rất linh thiêng.

Nhiều trường học đưa học sinh đến tham quan Giác Lương tự

Tôi may mắn gặp được mệ Trần Thị Biên, năm nay 80 tuổi, sinh ra và lớn lên ở làng Hiền Lương, kể: “Trong chiến tranh, chùa là nơi che giấu nhiều cán bộ lắm. Mậu Thân, bom rải khắp làng mà chùa không bị chi”.

Có lẽ từ những ấn tượng tốt ấy mà dù suốt một thời gian dài, nhà chùa hoàn toàn không có nguồn kinh phí nào để chăm sóc hay trùng tu; lễ vật và tiền bà con mang đến cúng vào các dịp lễ tết… cũng chưa đủ nhang đèn, hương hoa; người dân trong làng vẫn tự nguyện góp công chăm sóc, nhang khói, giữ gìn chùa luôn được chu toàn.

Cụ Biên trải lòng: “Còn khỏe, có thời gian thì tui lo quét sân, chừ già, không quét dọn được nữa thì ra đây hóng mát cũng thấy người thoải mái, nhẹ nhàng hơn”.

Anh Thiện cho biết, trước ba anh là cụ Nguyễn Đắc Định làm trù trì ở chùa nhiều năm, cụ mất cách đây 5 năm, anh Thiện thay ba lo việc hương khói, nhưng nếu một mình anh thì lo không xuể, mà nhờ bà con, người quét sân, nhổ cỏ, người trồng cây... nên không gian chùa luôn sạch sẽ, hương đèn đầy đủ.

Về quê nội sau ngày đất nước giải phóng, vườn nhà tôi có hơn chục cây sứ hoa đỏ hoa vàng, tính đến nay chúng đã có vài chục năm tuổi. Nhưng cây sứ cổ ở Giác Lương tự thực sự gây ấn tượng với tôi. Cây nằm bên phải gian nhà chính của chùa, gốc cây to, nhiều nhánh mọc cao vút tỏa bóng hết nửa sân chùa. Với chừng ấy thời gian, không biết cây đã hứng chịu bao đợt thiên tai, bão lũ nhưng vẫn vững chãi trước thời gian.

Với không gian yên tĩnh, trong lành, cùng những giá trị lịch sử văn hóa, nhiều năm nay, Giác Lương tự là điểm tham quan được giáo viên chủ nhiệm và tổng phụ trách Đội các trường ở huyện Phong Điền và các địa phương lân cận đưa học sinh đến tham quan, giới thiệu.

Thầy giáo Nguyễn Phi Hùng, Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phong Điền cho biết: “Từ Giác Lương tự, chúng tôi sẽ nghiên cứu, tìm thêm nhiều điểm đến bổ ích ngay trên địa bàn để đưa học sinh đến tham quan”.

Bài, ảnh: HƯƠNG LAN

1-10 of 20