Con người và sự kiện

Bài mới

  • Dấu ấn cây da trăm tuổi Hơn mấy trăm năm trơ gan với mưa nắng thời gian, cây da Long Bình đã trở thành nhân chứng cho quá trình đổi thay của vùng đất đầu nguồn ...
    Được đăng 00:59, 23 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Từ Hoạt động dinh điền tới Khoai lang Lệ Cần Từ Chương trình Dinh điền tại Cao nguyên Trung phần (1957 - 1961)Hồi nhỏ, tui sưu tầm tem. Bởi vậy tui có được bộ tem Hoạt động dinh điền, phát ...
    Được đăng 01:07, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ngôi nhà cổ vật gốm sứ Hơn 20 năm nay ông nông dân Nguyễn Văn Trường (58 tuổi, ở làng Sơn Kiệu, xã Chấn Hưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) đi dọc sông Hồng sưu ...
    Được đăng 16:01, 24 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cây lim xanh nghìn năm tuổi- báu vật rừng Yên Thế Cây lim xanh đại cổ thụ, ngự trên đồi Lim, thôn Xuân Lung, xã Xuân Lương (Yên Thế-Bắc Giang) có chiều cao gần 50m, gốc cây khoảng 6 đến ...
    Được đăng 00:43, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Khánh đá chùa Thiên Đài Chùa Thiên Đài thuộc xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) không chỉ là danh lam cổ tích mà còn lưu giữ được nhiều di sản văn hoá vật ...
    Được đăng 00:34, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 29. Xem nội dung khác »

Danh mục


Dấu ấn cây da trăm tuổi

đăng 00:59, 23 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Hơn mấy trăm năm trơ gan với mưa nắng thời gian, cây da Long Bình đã trở thành nhân chứng cho quá trình đổi thay của vùng đất đầu nguồn biên giới. Đến thăm cây đại thụ này, bạn sẽ không khỏi choáng ngợp với kích thước to lớn cũng như lắng nghe những câu chuyện thú vị liên quan đến nó. 

Theo hướng dẫn của người dân thị trấn Long Bình (An Phú), tôi quẹo từ Quốc lộ 91C vào một con đường nhỏ. Người dân địa phương gọi đây là “giồng Cây Da” với ngụ ý nơi đây xưa kia là giồng đất cao có một cây da to lớn. Tên gọi dân gian đó đã nói lên quá trình gắn bó giữa cây với đất, giữa đất với người hàng mấy trăm năm. 

Sau vài trăm mét dò đường, tôi đã gặp được cây da Long Bình mà từ trước tới nay chỉ nghe qua lời kể. Quả thật, khi đứng trước cây đại thụ này, bất cứ ai cũng sẽ thấy mình nhỏ bé! Những nhánh cây già cỗi vươn mình vững chãi dưới cái nắng trưa biên giới. Tiếng lá lao xao tạo ra thứ âm thanh trong trẻo của thiên nhiên. Bóng mát của cây có thể che lấp một sân bóng chuyền bên dưới và còn cả khoảng sân rộng để đám nhóc thơ ngây chơi “năm - mười”. 

Bà Nguyễn Thị Lệ (người dân định cư gần cây da) cho biết: “Cây da này theo tên gọi dân gian là sung reo. Bởi, trái của cây gần giống như trái sung và có thể ăn được. Do kích thước lá lớn nên mỗi khi có gió thổi sẽ tạo ra âm thanh rất lớn, tựa như tiếng reo. Cây da có từ hồi nào tôi không biết, nhưng bà nội tôi kể rằng hồi bà mới về đất này làm dâu thì cây đã to lớn lắm rồi. Bà nội có hỏi ông cố tui, thì ông cũng chỉ biết cây da có từ trước khi lớp người đầu tiên đến đây “cắm dùi” khai hoang, mở đất. Như vậy, cây da đã có trước khi gánh họ Nguyễn của tui đến ở cái đất này, mà tới tui đã hơn 5 đời rồi!”. 

Nhóm trẻ chơi đùa dưới gốc cây da đại thụ 

Lần đầu chạm tay vào những mấu cây già nua, tôi có thể cảm nhận được dấu thời gian hằn lên những nốt sần sùi. Mấy cậu nhóc chui vào bọng cây để chơi “năm-mười”, khi bắt gặp chiếc máy ảnh của tôi thì mở miệng cười toe toét! Càng đến gần, bạn sẽ càng cảm nhận được sự vĩ đại của cây da này. Những chiếc rễ phụ cũng đã to như thân người, gâm thẳng xuống đất như chống đỡ tiếp với thân cây. Bà Lệ cho biết, mấy cái rễ ấy hồi nhỏ bà hay nắm lấy để chơi, giờ đã hơn 50 năm rồi. 

Hiện, cây da vẫn phát triển xanh tốt. Mỗi năm, cây thay 2 mùa lá vào khoảng tháng 10 (âm lịch) và đầu mùa mưa. “Khi thay lá, “ổng” (cây da) chỉ còn cành khô trơ trụi, người không biết ngỡ là “ổng” chết, nhưng không phải. Chừng 1 tháng thì “ổng” xanh um trở lại rồi tỏa bóng mát rượi cho cháu con chơi dưới gốc. Bởi sự linh thiêng của “ổng” nên người dân lập miếu thờ, gọi là miếu ông Tà. Khách thập phương hay đến cúng vái ông Tà thường xuyên. Từ năm 2000 - 2010, khách từ các tỉnh miệt dưới lên đây nườm nượp để viếng “ông cây” này!” - bà Lệ cho biết. 

Theo cái chỉ tay của bà Lệ, tôi nhìn thấy những vết gãy khá to trên thân cây. Trước đây, cây da này có đến 10 nhánh và phân bố tròn đều hệt như một cây bon-sai khổng lồ. Những năm bị Pônpốt pháo kích, người dân phải bỏ xứ đi lánh nạn thì cây da vẫn ở lại đó giữa làn đạn giặc. Một vài nhánh dính đạn pháo bị gãy, số còn lại cũng theo thời gian rơi xuống. Tuy nhiên, dáng cây vẫn hiên ngang giữa đất trời biên giới, như hiện thân cho sức sống của đất và người nơi đây sau những năm tháng chiến tranh khốc liệt. 

Bọng cây rất lớn để mấy cậu nhóc có thể chui vào 

Những người dân ở ấp Tân Thạnh, thị trấn Long Bình khẳng định rằng, phải mất 18 người nối tay nhau mới ôm xuể thân cây khổng lồ. Bà Lệ cho biết, người dân địa phương xem cây da là biểu tượng của sự linh thiêng. Có những câu chuyện về mặt tâm linh mà bà không sao nhớ hết, bởi nó chỉ được truyền miệng qua các thế hệ. Bà nhớ lại, cây da đã có nhiều đoàn khảo sát cấp tỉnh, huyện đến nghiên cứu và vài lần ngành chuyên môn xử lý thuốc để tránh mối mọt, bảo vệ thân cây. Hiện, bà Lệ và những hộ dân định cư xung quanh cây da vẫn từng ngày bảo vệ cây như một biểu tượng về niềm tin được ông bà để lại cho con cháu đời sau. 

Nắng trưa trên đỉnh đầu gay gắt, tôi tạm biệt người phụ nữ cao niên ấy để trở về nhưng trong lòng lại cứ suy nghĩ về một cây đại thụ xứng đáng là di sản về mặt văn hóa lẫn tinh thần của người dân địa phương. Trong tương lai, cây da Long Bình cần tiếp tục được bảo dưỡng, chăm sóc để có thể trường tồn, trở thành điểm du lịch tâm linh ở An Phú, góp phần lưu giữ một phần lịch sử của vùng đất đầu nguồn! 

Theo UBND huyện An Phú, cây da cổ thụ hơn 350 năm tuổi là nơi lưu giữ, ghi dấu nhiều huyền thoại của vùng đất đầu nguồn biên giới. Bên cạnh đó, nơi đây còn là “cái nôi” cách mạng qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước nên cần được bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, tinh thần trong thời gian tới. 

THANH TIẾN

Từ Hoạt động dinh điền tới Khoai lang Lệ Cần

đăng 01:07, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Từ Chương trình Dinh điền tại Cao nguyên Trung phần (1957 - 1961)

Hồi nhỏ, tui sưu tầm tem. Bởi vậy tui có được bộ tem Hoạt động dinh điền, phát hành năm 1961 và biết sơ sơ rằng đó là một chương trình cải cách ruộng đất do tổng thống Ngô Đình Diệm phát động. Biết sơ sơ vậy thôi, vì khi tui chơi tem (khoảng 1969) thì tổng thống Diệm bị lật đổ đã lâu, hoạt động dinh điền không còn nữa và tui cũng... không có Google để search coi hoạt động dinh điền là gì.

Phong bì Ngày đầu tiên tem thư Hoạt động dinh điền 3/6/1961

Sau này, tui biết về chương trình dinh điền như sau:

Bên cạnh việc khắc phục tình trạng sở hữu ruộng đất bất bình đẳng ở nông thôn miền Nam (qua chương trình Cải cách điền địa) thì một chương trình khác không kém phần quan trọng đó là tiến hành tái phân bố nguồn nhân lực trên phạm vi toàn miền Nam, chú trọng vào việc điều chuyển một bộ phận dân cư tại các vùng đồng bằng đông đúc đến định cư tại những vùng thưa dân như Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, hay còn gọi là Chương trình Dinh điền (Land Development Program)


Ngày 23/4/1957, Tổng thống VNCH chính thức khởi động Chương trình Dinh điền, trong đó, địa bàn Tây Nguyên (gọi theo thời đó là Cao nguyên Trung phần) được ưu tiên dùng để định cư người dân từ các tỉnh duyên hải miền Trung, nơi mà theo lời Ngô Đình Diệm là “có quá nhiều cát và không đủ đất”], lên sinh sống.

Năm 1960, toàn Tây Nguyên có 6 khu dinh điền (Kon Tum, Pleiku I, Pleiku II, Đắk Lắk I, Đắk Lắk II, Quảng Đức) với 55 điểm, tập trung nhiều nhất tại Pleiku (25 điểm) và Đắk Lắk (20 điểm). Đến năm 1961, Chương trình Dinh điền đã định cư 69.958 người từ các nơi lên Tây Nguyên.


Bỏ qua những chi tiết về hiệu quả của hoạt động dinh điền này, điều chúng ta ghi nhận được là thời đó trong số dân dinh điền có những người quê ở xã Trà Đóa, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam di dân đến xã Tân Bình, huyện Đắk Đoa, tỉnh Pleiku (tỉnh Gia Lai bây giờ). Hành trang họ mang theo có giống khoai lang của quê mình.

Đến khoai lang Lệ Cần

Khoai lang Lệ Cần

Giống khoai mà người dân Trà Đóa, Thăng Bình mang đến vùng quê mới tất nhiên là ngon rồi, vì có ngon họ mới mang theo chớ. Nhưng trời xui đất khiến sao khi trồng ở Tân Bình, Đắk Đoa nó mới thực sự phát tiết, ngon hơn hẳn so với hồi còn ở quê gốc. Chắc là do khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp khiến giống khoai này khi mang đi bất cứ nơi nào trồng thì cũng không thể ngon như nơi đây. Khoai củ dài, ruột màu vàng ươm đặc trưng, bùi và ngọt. Khoai để lâu càng ngon, người trồng khoai thường nói là khoai lên mật.

Vùng đất này ngày đó có tên Lệ Cần. Vì giống khoai lang gốc từ Thăng Bình không quá đặc sắc nên chưa có tên riêng, đến nơi đây mới trở nên xuất sắc và nổi tiếng, vì vậy Lệ Cần đã trở thành thương hiệu riêng cho giống khoai này. Khoai lang Lệ Cần trở thành món quà quê quý giá cho nhiều người, thậm chí danh tiếng lan xa tới nước ngoài.

Khoai lang Lệ Cần đã nấu chín


Chuyện kể rằng năm 1976 nhà thơ Xuân Diệu đến thăm bạn là nhà thơ - nhà giáo Lê Nhược Thủy, người gốc Huế đang dạy học ở Pleiku. Thời đó đang ăn độn thấy bà, cái chuyện "khoái ăn sang" là thường tình. Trong bữa cơm đãi bạn, nhà thơ Lê Nhược Thủy có món độn là khoai lang, nhưng thứ khoai lang độn ở đây là khoai lang Lệ Cần. Xuân Diệu ăn khoai và ngạc nhiên rằng... sao mà ngon quá! Thế là ông tặng bạn mình bài thơ, trong đó có 2 câu tán tụng món khoai lang của xứ Đắk Đoa:

Cảm tạ vợ chồng anh giáo Huế
Thết tôi một bữa Lệ Cần khoai

Khoai lang ở xã Tân Bình sao kêu là khoai lang Lệ Cần?

Quả là bây giờ ở huyện Đắk Đoa cũng như cả tỉnh Gia Lai không có cái xã nào tên Lệ Cần hết. Sao khoai lang lại có cái tên Lệ Cần nghe... lãng mạn vậy? 

Như nêu ở đoạn trên, từ năm 1957 đến 1962, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã di dân từ đồng bằng ven biển miền Trung lên lập nhiều dinh điền ở các tỉnh Tây Nguyên. Trên địa bàn nay thuộc huyện Đak Đoa, có 2 địa điểm dinh điền được hình thành trong giai đoạn này, đó là dinh điền Lệ Chí  dinh điền Lệ Cần.

Mặc dù cái tên xã Lệ Cần không còn nữa nhưng vẫn còn một vài địa danh Lệ Cầ tại đây, như: giáo xứ Lệ Cần, cầu Lệ Cần.

Lệ Cần ban đầu là tên của một dinh điền được thành lập ngày 1/7/1957, với tên gọi địa điểm dinh điền Plei Piơm 1. Những cư dân đầu tiên của dinh điền này là 2.175 người, do chính quyền Sài Gòn đưa từ Quảng Nam lên, định cư tại vị trí phía Nam quốc lộ 19, trong khoảng từ km 149 đến km 150 hiện nay.

Lệ Chí cũng là một địa điểm dinh điền được thành lập ngày 3/11/1957 với tên gọi địa điểm dinh điền Plei Piơm 2. Dân số ở thời điểm đó là 2.602 người, do chính quyền Sài Gòn đưa từ Quảng Nam lên.

Theo Sắc lệnh số 36a-TTP, ngày 20/2/1959, của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, các địa điểm dinh điền lập năm 1957 được chuyển thành xã. Từ đây, Lệ Cần và Lệ Chí trở thành các xã, thuộc quận Lệ Trung, tỉnh Pleiku.

Sau năm 1975, vùng đất Lệ Cần thuộc xã Tân Bình và lần lượt là đơn vị hành chính thuộc thị xã Pleiku, sau đó chuyển giao cho huyện Mang Yang và từ khi huyện Đak Đoa hình thành, xã này thuộc huyện Đak Đoa theo các văn bản chia tách, chuyển đổi, sáp nhập địa giới hành chính liên quan.

Bộ phận dân cư gốc từ dinh điền Lệ Cần trước kia nay sinh sống tập trung tại thôn 1, thôn 2 xã Tân Bình. Tuy nhiên, địa danh Lệ Cần vẫn được nhân dân trong vùng và phụ cận sử dụng cho đến bây giờ.

(Đoạn này lấy theo TS Nguyễn thị Kim Vân trên báo Gia Lai ngày 2/6/2017)

Bàn thêm một chút: (Cái này do tui nghĩ ra thôi, đúng thì vui, sai thì... xí bỏ) Tại sao ở đây nhiều... Lệ quá vậy? Quận Lệ Trung, xã Lệ Chí, xã Lệ Cần. Theo tui, thời tổng thống Ngô Đình Diệm, ông thường cho đặt lại các địa danh theo từ tiếng Việt hoặc Hán Việt dựa trên tên gốc. Trong tiếng địa phương Plei là làng, có lẽ chữ này đã được phiên âm ra thành Lệ, còn các chữ sau thì... tùy cơ ứng biến.

Phạm Hoài Nhân

Ngôi nhà cổ vật gốm sứ

đăng 01:02, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 16:01, 24 thg 9, 2020 ]

Hơn 20 năm nay ông nông dân Nguyễn Văn Trường (58 tuổi, ở làng Sơn Kiệu, xã Chấn Hưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) đi dọc sông Hồng sưu tầm đồ xưa. Đồ ngày càng nhiều nhưng vì nhà chật không có chỗ nên ông đã gắn hơn 10.000 chén, đĩa cổ, tiền cổ… lên tường nhà, cổng và hòn non bộ, biến ngôi nhà thành tuyệt tác có một không hai. 

Con đường dẫn vào nhà ông Trường là một ngõ nhỏ lát bê tông, hai bên nhà cửa san sát. Ngôi nhà nhìn từ xa thoáng một nét kiến trúc như cung đình xưa. Trên tường rào có vô vàn bát đĩa cũ, những mảnh gốm vỡ. Vài chục chiếc cối đá xếp thành hàng. Cánh cổng mái vòm gắn những chiếc bình, chiếc đĩa đủ loại hoa văn từ hoa điểu (chim và hoa), thạch trúc (tre trúc và đá), tuế hàn tam hữu (tùng, trúc, mai), tùng hạc (chim hạc và cây tùng), lý ngư (cá chép), phượng vũ (chim phượng), phúc lộc thọ… 

Bước qua cổng, bên phải là hòn non bộ lớn đắp hàng nghìn mảnh gốm cổ. Cây si ẩn hiện phía sau, cây trúc la đà trước mặt. Bên trái là ngôi nhà cấp bốn không trát vôi vữa như lệ thường, thay vào đó trên tường gắn những chiếc đĩa thành từng hàng ngay ngắn. Ba cây cột trước nhà gắn chi chít những đồng tiền xu, đồng xèng, khuy áo cũ …

Ba gian nhà chính được gắn kín bằng đĩa cổ.

Không gian bên trong gian nhà chính.

Ngoài chiếc cổng mái vòm trước nhà, còn có một chiếc cổng tương tự sau nhà. Ông Trường đã mất 2 năm mới hoàn thành được chiếc cổng này.

Chiếc cổng nhỏ xinh xắn dẫn vào gian nhà chính được tự tay ông Trường thiết kế và thực hiện.

Gốc cây được trang trí bằng những chiếc ấm tích.

Thềm nhà và chân cột được trang trí bằng hàng tạ đồng xu rất lạ mắt và kỳ công.

Ông Trường phải bắc giàn giáo để gắn đĩa trên tường mái cao.

Hiện tại, ông Trường vẫn đang tiếp tục hoàn thiện, ốp đồ cổ vào những góc còn trống của ngôi nhà. 

Để có được số chén, đĩa, bình gốm cổ trên ông đã phải lăn lộn khắp các tỉnh miền Bắc như Bắc Giang, Hưng Yên, Yên Bái, Lào Cai… để tìm kiếm và mua lại. Trong số đồ cổ đó lượng đĩa cổ chiếm hơn một nửa, nhiều chiếc đĩa cổ, chén, bình gốm cổ quý giá mà ông Trường sưu tầm được có niên đại từ thế kỷ 17, 18. Hành trình đi tìm đồ cổ của ông Trường cứ kéo dài như vậy hết năm này sang năm khác. Những đồ cổ ông sưu tầm từ quý giá đến bình dân đều được ông xếp kín căn nhà cấp 4 cũ kĩ.

Năm 1998, ngôi nhà nhỏ đã không còn đủ sức chứa đồ, điều kiện gia đình lại không có để mua những chiếc tủ kính trưng bày. Mỗi lần ngắm ông mất nhiều giờ lục ra, sắp xếp lại. Rồi ông nảy ra ý định gắn đồ cổ vào tường rào, hòn non bộ, cuối cùng mới có ý định đập tường nhà, gắn đồ xưa. “Ban ngày tôi đi làm đồng giúp vợ, rảnh rỗi lại đi săn đồ cổ. Ban đêm mới làm công việc này. Tôi đập tường nhà, trộn 2 cát, một xi măng làm vữa. Cơm tối xong là tôi làm đến khuya. Mỗi tối gắn được từ 15 đến 17 chiếc đĩa lên tường”. 

Công việc như thế cứ kéo dài suốt hơn 20 năm qua. Gắn hết tường trong, ông lại gắn luôn mặt ngoài. Gắn hết đồ, ông lại lên xe máy rong ruổi khắp nơi để tìm mua thêm và xin những mảnh vỡ của đồ gốm sứ cổ. Sau khi căn nhà đã hoàn thành, ông lại gắn đến cổng, rồi hòn non bộ cũng được ông trang trí bằng đồ cổ. Cho đến bây giờ, tất cả số bát, đĩa cổ đã gắn phải lên đến trên 10 nghìn chiếc, một tạ hai (120kg) tiền xèng, ngót 50kg tiền xu... cùng mảnh vỡ của những đồ gốm sứ cổ, và thêm nhiều thứ khác nữa. Ngôi nhà thực sự đã trở thành tuyệt tác có một không hai ở vùng Bắc Bộ.

Bài và ảnh: Khánh Long – Công Đạt

Cây lim xanh nghìn năm tuổi- báu vật rừng Yên Thế

đăng 00:43, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cây lim xanh đại cổ thụ, ngự trên đồi Lim, thôn Xuân Lung, xã Xuân Lương (Yên Thế-Bắc Giang) có chiều cao gần 50m, gốc cây khoảng 6 đến 7 người ôm, được nhiều người cao tuổi ở địa phương cũng như các nhà nghiên cứu khoa học cho rằng đã có nghìn năm tuổi.

Theo các cụ cao niên nơi đây, từ khi sinh ra đã thấy cây lim xanh sừng sững uy nghi to lớn như hiện nay. Cùng với nhóm di tích đình, chùa và giếng cổ Xuân Lung, cây lim xanh được ví như tấm bình phong che chở cho người dân làng xã. Theo phong thủy, khu đất đình là đất rồng, 2 giếng là 2 mắt rồng còn cây lim xanh là mũi của rồng; bởi vậy, cây lim xanh là một biểu tượng linh thiêng trong đời sống tâm linh của người dân địa phương.

Cây lim xanh cổ thụ ở thôn Xuân Lung.

Theo truyền tích kể lại, do biết được giá trị sử dụng to lớn của cây lim xanh, không ít người đã từng có ý định đốn hạ nhưng đều không thể thực hiện được. Có người trèo lên cây chặt cành to ngay lập tức xuất hiện đàn ong bay đến xua đuổi, phải bỏ ý định; rồi có nhóm người đốn chặt một đoạn cành, hay rễ của cây về sử dụng, sau đó gia đình liên tiếp gặp tai ương, kinh tế khốn đốn, hoạn nạn liên miên, phải đến đình Xuân Lung làm lễ bái tạ mới yên ổn…

Năm 2016, Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã công nhận cây lim xanh nghìn năm tuổi tại thôn Xuân Lung là Cây di sản Việt Nam. Hội đồng Cây di sản Việt Nam đánh giá đây là một trong số ít cây lim xanh cổ thụ nhất vùng rừng núi phía Bắc Việt Nam còn sót lại.

Cũng theo các cụ bô lão trong vùng, cây lim xanh là địa điểm liên lạc của cuộc khởi nghĩa Yên Thế lừng danh, đồng thời là khu vực giáp ranh hoạt động cách mạng giữa huyện Yên Thế và tỉnh Thái Nguyên của các đồng chí như: Hà Thị Quế, Chu Duy Kính… Tại làng Xuân Lung, thực dân Pháp đã đánh phá, thả bom dữ dội làm nứt chuông của đình, cả làng bị cháy song cây lim xanh vẫn bình yên như có một bàn tay vô hình che chở khỏi bom đạn của kẻ thù.

Năm 2016, Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã công nhận cây lim xanh nghìn năm tuổi tại thôn Xuân Lung là Cây di sản Việt Nam. Hội đồng Cây di sản Việt Nam đánh giá đây là một trong số ít cây lim xanh cổ thụ nhất vùng rừng núi phía Bắc Việt Nam còn sót lại.

Ngày nay, cây lim xanh đại cổ thụ đã trở thành niềm tự hào của người dân địa phương, không chỉ có nét đẹp về cảnh quan môi trường, cảnh quan thiên nhiên mà còn là nét đẹp văn hóa, gần gũi, mộc mạc, thân thiết, linh thiêng trong không gian văn hóa Việt.

Dương Đại Tiến

Khánh đá chùa Thiên Đài

đăng 00:34, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa Thiên Đài thuộc xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) không chỉ là danh lam cổ tích mà còn lưu giữ được nhiều di sản văn hoá vật thể quý giá. Tiêu biểu là chiếc khánh đá lớn có niên đại thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVIII). Khánh đá tại đây là một trong các món pháp khí độc đáo làm tăng thêm giá trị lịch sử văn hoá Phật giáo của chốn danh lam cổ tích này.

Sách “Đồ thờ trong di tích của người Việt” (Giáo sư Trần Lâm Biền), do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ghi: “... Khánh là một trong các món pháp khí của Phật giáo, dùng vào cả ngày lẫn đêm ở các tùng lâm, tu viện, Phật học viện... cả xưa lẫn nay chúng còn thường được dùng làm hiệu lệnh báo tin giờ tu học, tụng kinh, thọ trai, chấp tác... cho chúng tăng”. 

Chùa Thiên Đài.

Khánh xuất hiện tại các công trình tôn giáo thờ tự Phật giáo từ rất lâu đời. Theo các nhà nghiên cứu văn hoá, chiếc khánh đá có niên đại sớm nhất ở nước ta hiện nay được chế tác vào nửa cuối thế kỷ XVII. Khánh thường được tạo tác phổ biến từ các loại vật liệu chủ yếu như đá, đồng và gỗ. Khánh đá chùa Thiên Đài có niên đại khá sớm. Dòng lạc khoản chữ Hán khắc trên khánh đá cho biết, vào ngày tốt tháng 2 năm Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái thứ 5 tức 1724 tạo tác khánh đá.

Khánh đá chùa Thiên Đài có hình dáng đẹp, được làm từ đá xanh nguyên khối, hình bán nguyệt. Trên đó trang trí hoa văn dây leo, chính giữa có lỗ treo khánh hình tròn. Trên thân khánh mặt phía sau khắc chữ Hán, nội dung ghi danh sách những người công đức tu sửa chùa Thiên Đài và giá trị ý nghĩa của khánh đá.

Khánh đá chùa Thiên Đài.

Trong đó có đoạn khắc ghi: “Thường nghe nói rằng trong sân nhà vua thường có treo khánh để làm khuôn phép. Điều khiến cho mọi người vui vẻ là làm ra khánh đá để biểu dương công đức. Từ xưa đến nay, khánh là do xương của núi rèn đúc thành, những tinh túy của đất chung đúc lại tạo ra, lại được màu xanh của trời toả chiếu ánh sáng, phô bầy ra hình dáng của nửa vầng trăng, âm thanh của nó, gõ vào khánh nghe tiếng động vang xa cả mười phương, thức tỉnh các thiện tín quay về với hiện thực. Nên hình dáng chiếc khánh vốn là pháp khí của chốn cửa thiền. Nay ở thôn Hưng, xã Hả Hộ, Lục Ngạn, phủ Lạng Giang, đạo Kinh Bắc, nước Đại Việt có ông Nguyễn Quốc Thực cùng vợ là Giáp Thị Ngay và con trai Nguyễn Quốc Sắc, Nguyễn Quốc Thái… cùng toàn thể gia đình và mọi người trong thôn cùng nhau hưng công chế tạo, mài đẽo, gọt rũa đá một cách thành kính để làm pháp nhạc lâu dài cho chốn danh lam cổ tích này”. 

Cũng ở mặt ấy của khánh đá có dòng lạc khoản khắc ghi niên đại tạo tác khánh đá cụ thể: “Hoàng triều Bảo Thái ngũ niên, tuế thứ Giáp Thìn, trọng xuân, cốc nhật”. Có nghĩa là: Khánh được tạo tác vào ngày tốt, tháng 2, năm Giáp Thìn, niên hiệu Bảo Thái thứ 5 (1724).

Hiện nay ở Bắc Giang loại hình khánh đá cổ còn tồn tại với số lượng rất ít, ngoài chiếc khánh đá chùa Thiên Đài còn có 6 chiếc khánh đá khác được lưu giữ tại các di tích như chùa Chèo, xã Thái Sơn (Hiệp Hoà), chùa Sàn, xã Phương Sơn (Lục Nam), chùa Đoan Minh, xã Vân Hà (Việt Yên), chùa Phán Thú, xã Việt Lập (Tân Yên), chùa Bài Xanh, xã Vân Trung (Việt Yên), chùa Bích Trĩ, thị trấn An Châu (Sơn Động).

Chiếc khánh đá chùa Thiên Đài không chỉ là pháp nhạc của nhà Phật mà còn là hiện vật quan trọng giúp các nhà nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật điêu khắc các loại hình nhạc khí thờ tự bằng đá có niên đại tạo tác dưới thời Lê hiện còn tồn tại trên vùng đất cổ Bắc Giang.

Đồng Ngọc Dưỡng

Nguyễn Viết Chất- Nhà khoa bảng đầu tiên của Bắc Giang

đăng 21:49, 18 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Năm Thần Vũ thứ 2 (1070), vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu ở Thăng Long để tôn thờ Khổng thánh và làm nơi các Hoàng tử đến học. Sau đó 5 năm, niên hiệu Thái Ninh thứ 4, vua Lý Nhân Tông cho tổ chức khoa thi Minh kinh bác sĩ đầu tiên để kén chọn người giỏi văn, thông tỏ kinh sách ra làm quan, phò vua giúp nước.

Ngoài Văn Miếu, sử cũ không ghi về hệ thống trường học khác ở Kinh kỳ và các lộ, châu nhưng chắc rằng ở chốn thiền lâm, các nhà sư là người trực tiếp tham gia đào tạo, tuyển chọn nguồn nho sinh ưu tú cho các kỳ thi cao cấp mà thời kỳ đầu nhà Lý khai mở nền khoa cử.

Xã Trí Yên, huyện Yên Dũng quê hương của nhà khoa bảng Nguyễn Viết Chất. Ảnh: Văn Vĩnh

Miền quê Bắc Giang, từ cuối thế kỷ XI, đầu thế kỷ XII, năm Mậu Thìn đã có nho sinh ưu tú đỗ đại khoa, đó là Nguyễn Viết Chất, người xã Phượng Nhãn, huyện Phượng Sơn (nay thuộc xã Trí Yên, huyện Yên Dũng) và trở thành danh nhân khai khoa cho nền khoa cử của quê hương Bắc Giang thời phong kiến.

Đến nay, có nhiều nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa để tâm tìm hiểu về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Viết Chất nhưng tất cả đều không đạt được tâm nguyện, bởi tư liệu lịch sử văn hóa ghi chép về ông vô cùng ít ỏi. Sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075- 1919” do Giáo sư Ngô Đức Thọ (chủ biên) cũng căn cứ Đỉnh khiết Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, Đại Việt Lịch đại đăng khoa lục, Tam khôi lục giới thiệu về Nguyễn Viết Chất như sau: “Nguyễn Viết Chất, người huyện Phượng Sơn - Nay thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Hà Bắc. Đỗ thứ hai Đệ nhất giáp khoa thi Thái học sinh năm Mậu Thìn niên hiệu Trinh Khánh 3 đời Lý Huệ Hoàng”. 

Sau nhiều biến cố của lịch sử dân tộc, tư liệu về Nguyễn Viết Chất đã bị mai một. Quê hương ông ở xã Phượng Nhãn (thời Lý - Trần là huyện Long Nhãn (Nhỡn), thời Minh thuộc đến thời Lê sơ, Mạc là huyện Phượng Sơn, sau đổi thành huyện Phượng Nhãn, nay là huyện Yên Dũng). Xã Phượng Nhãn xưa có tên Nôm là làng Nhạn, tọa lạc cạnh ngã ba sông, nơi hội tụ hai dòng sông Thương và sông Lục Nam. Phượng Nhãn là làng cổ được hình thành từ thời Bắc thuộc, cách trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm hơn một cây số đường ven bờ sông Lục Nam. 

Khi tìm hiểu về danh nhân khoa bảng Nguyễn Viết Chất, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt vấn đề: Tại sao ngay từ những năm cuối thế kỷ XI, đầu thế kỷ XII miền quê xa xôi như Phượng Nhãn đã có người đỗ đại khoa? Người đỗ đại khoa khi đó phải là những người thông tỏ kinh sách thánh hiền, vậy Nguyễn Viết Chất được học tập trau dồi tri thức Hán học ở đâu? Ai là người thầy đã truyền thụ kiến thức cho ông? Và rất nhiều vấn đề khác nữa như: Thân thế, sự nghiệp, những đóng góp của ông với đời vẫn chưa được sáng tỏ.

Thế kỷ XI - XII, để tạo sức mạnh chống thù trong giặc ngoài, vương triều Lý đã thực hiện chính sách “cơ mi” nhằm củng cố tình đoàn kết dân tộc, nhà Lý đã gả các công chúa cho các Tù trưởng miền biên ải, trong đó có các tù trưởng Lạng châu (vùng Bắc Giang và miền hạ đất Lạng Sơn ngày nay). Sử cũ đã ghi chép về ba đời Tù trưởng họ Giáp (sau đổi sang họ Thân) quê ở Động Giáp, châu Lạng được vua Lý kén làm Phò mã (Giáp Thừa Quý, Thân Thiệu Thái, Thân Cảnh Phúc). 

Các Công chúa khi sống cùng các Tù trưởng đã đem văn hoá miền Kinh kỳ giao thoa cùng văn hoá bản địa. Chính vì thế, trên vùng đất ven bờ sông Lục (Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Dũng ngày nay) còn nhiều dấu tích các ngôi chùa cổ thời Lý như: Chùa Bạch Vân (Phượng Sơn - Lục Ngạn), chùa Nhạn Tháp, chùa Cao, chùa Tòng Lệnh (Lục Nam), chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng). Với sự xuất hiện các đại danh lam cổ tự ở đôi bờ sông Lục do nhà Lý xây dựng đã thu hút nhiều vị cao tăng đến trụ trì. 

Họ là những người thầy đảm nhận việc dạy chữ Hán kết hợp với việc tuyên truyền giáo lý, kinh điển nhà Phật và tri thức cho sĩ tử đương thời. Và chắc hẳn Nguyễn Viết Chất đã được luyện rèn, trau dồi tri thức từ những ngôi trường của những chốn thiền lâm đó chăng?

Nguyễn Văn Phong

Tấm bia đá hình chuông độc đáo

đăng 21:44, 18 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Tấm bia văn chỉ tổng Thiết Sơn là bia trụ tròn được tạo dáng y như quả chuông đồng ở các ngôi chùa, một kiểu dáng bia đá hiếm gặp ở các miền quê xứ Bắc. Bia được phát hiện dưới nền cũ của phế tích văn chỉ tổng Thiết Sơn, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, xứ Kinh Bắc xưa - nay thuộc xã Minh Đức, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. 

Theo nhân dân địa phương cho biết: Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, giặc câu pháo từ lô cốt Mỏ Thổ phá hoại ngôi văn chỉ và tấm bia bị trúng đạn pháo rồi bị vùi lấp cùng nhiều đồ thờ tự khác. Sau một thời gian, nhân dân đã tìm lại và dựng đặt trên nền đất cũ. 

Bia đá hình chuông trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Ảnh: Nguyễn Hưởng

Nhưng vì điều kiện kinh tế khó khăn, địa phương không phục hồi di tích cho nên hiện vật đã được Bảo tàng tỉnh sưu tầm về trưng bày từ năm 2006. Nhìn xa, dáng bia còn nguyên vẹn, khi tiếp cận thấy trên thân bia không lành lặn mà còn nguyên “thương tích” bởi 9 vết đạn đại bác cày phá. Vì thế, mặt bia bị sứt vỡ nhiều mảng làm mất đi nhiều chữ không thể khôi phục được.

Bia được tạo tác bằng chất liệu đá xanh, hiện bị mất phần đế. Chiều cao tổng thể thân và chóp bia đo được 120 cm. Chu vi thân bia 160 cm. Riêng phần chóp cao 22 cm, thân cao 98 cm. Bia khắc 34 dòng, mỗi dòng trung bình 18 chữ, toàn văn khoảng 600 chữ không có tiêu đề chính, tiêu đề phụ. Chữ khắc trên bia cơ bản bằng chữ Hán, có xen chữ Nôm khi khắc ghi tên một số xứ đồng và địa danh khác. Văn bia được soạn ngày tốt, tháng đầu mùa đông, năm Giáp Dần triều vua Long Đức thứ 3 (1734).

Vì đây là bia văn chỉ, nơi thờ đạo Khổng, cho nên người soạn văn, viết chữ rất cẩn trọng khi viết văn bia. Trong bài văn thấy xuất hiện rất nhiều chữ viết đài. Viết đài một ô chữ thấy xuất hiện khi khắc/ghi các từ: Quan viên/官 圓, giám cách/鑒 格. Viết đài hai ô chữ thấy xuất hiện khi khắc ghi những từ như: Hoàng hiệu/皇 號 , Hoàng triều/皇 朝, Tôn công/尊 公, Tiên hiền/先 賢. 

Nội dung văn bia có bốn phần tương đối rành mạch. Phần đầu: Khắc ghi bài văn cúng tế Hậu hiền. Phần hai: Khắc ghi họ tên một số vị ở các xã là hội viên Hội Tư văn của tổng Thiết Sơn chứng kiến và tham gia việc bầu Hậu hiền. Phần thứ ba: Khắc ghi công đức của vị Hậu hiền là Lập Quận công Giáp Đăng Luân. Phần thứ tư: Khắc ghi tiền bạc và các thửa ruộng do Hậu hiền công đức, tên các xứ đồng, nghi thức tế lễ Hậu hiền sau khi Hậu hiền trăm tuổi.

Sau cùng là lạc khoản khắc ghi thời gian soạn/dựng bia, người viết chữ văn bia. Người được bầu làm Hậu hiền là Lập Quận công Giáp Đăng Luân làm quan chức Tri công tượng, tiền tượng kỵ… Tả Binh phiên, Thị nội giám, Lễ giám, Tổng Thái giám. Vì ông là người thuộc tổng nhà, đã công đức tiền bạc và nhiều ruộng tốt cho Hội Tư văn tổng Thiết Sơn. Vì thế, sau khi ông trăm tuổi, hàng năm xuân thu nhị kỳ Hội Tư văn bản tổng phải sắm lễ tế tự. 

Lễ gồm 1 con lợn, 1 mâm xôi, cùng trầu cau, hoa quả, hương rượu dâng đến bản đường rồi viết chúc văn kính tế. Số ruộng Lập Quận công Giáp Đăng Luân ban cho Tư văn tổng Thiết Sơn gồm có các thửa ở các xứ đồng như sau: “ Thửa ở xứ đồng Cửa Làng, lại 6 thửa ở Cửa Làng; thửa ở xứ đồng Sau Làng, lại 1 thửa ở Sau Làng; thửa ở xứ đồng Đình Lai, lại 2 thửa ở xứ đồng Nhà Cường; thửa ở xứ đồng Biên Trì (Bên Ao), lại 1 thửa ở xứ đồng bên trái Từ Vũ; thửa ở xứ đồng Đồng Vị, 1 thửa ở xứ đồng Nhà Son.

Bia văn chỉ tổng Thiết Sơn là cổ vật có giá trị nhiều mặt. Đây là hiện vật phản ánh truyền thống hiếu học, trọng đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của người dân tổng Thiết Sơn. Bia trụ tròn, dáng như một quả chuông đồng thường gặp ở các ngôi chùa ở Bắc Bộ, đó là kiểu dáng văn bia khá đặc sắc ở miền quê xứ Bắc cũng như trong cả nước. Tấm bia này là hiện vật văn hóa, lại như vật chứng tố cáo sự xâm hại thô bạo di sản văn hóa của thực dân Pháp xâm lược. 

Văn bia này chưa có trong bộ sưu tập văn bia Việt Nam nên giá trị tư liệu của nó càng thêm đặc sắc.

Nguyễn Văn Phong 

Độc đáo giếng Viết, bia Học

đăng 01:25, 16 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đến nay, nhiều học sinh, người dân Cẩm Giàng vẫn giữ phong tục trước khi thi đến lấy nước ở giếng Viết về uống, thắp hương trước bia Học để cầu mong đỗ đạt. 

Bia Học ghi sự kiện hai anh em được triều đình truy phong 

Không nổi danh như giếng Thiên Quang, bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) nhưng giếng Viết, bia Học ở thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ (Cẩm Giàng) cũng được nhiều người trong vùng biết tiếng. 

Hai anh em thông minh, học giỏi 

Giếng Viết, bia Học tọa lạc ở cánh đồng Ao Cá thuộc xóm Đình, thôn Nghĩa Phú. Thời cổ, thôn Nghĩa Phú có 4 xóm là Đình, Chẹm, Bến và Cầu Thầy. Không ai biết giếng Viết, bia Học có từ bao giờ. Những người cao tuổi trong làng thường kể lại cho con cháu rằng ngày xưa ở xóm Đình có hai anh em sinh đôi tên là Học và Viết đều thông minh, học giỏi. Hai anh em còn có công dạy học cho nhân dân trong vùng. Nhiều người cho rằng hai anh em học giỏi do đất ở có hình thế giống nghiên mực và bút lông, gần nhà có một cái giếng nước quanh năm trong mát, phục vụ nhân dân trong thôn. Khi mài mực pha với nước giếng này thì chữ viết rất đẹp nên gọi là giếng Viết. Trước kia giếng có đường kính khoảng 20 m.

Không ai biết năm sinh, năm tạ thế của hai anh em, chỉ biết cách giếng Viết khoảng 60 m là nơi đặt bia Học. Theo sách Lịch sử - Văn hóa làng Nghĩa Phú do Bảo tàng tỉnh xuất bản năm 2017, bia Học cao 1 m, chiều dài chân đáy 35 cm, chiều rộng chân đáy 28 cm. Bia ghi sự kiện hai ông được triều đình truy phong. Ông Học được truy tôn là “Minh Thông Công Phổ Hoành Bác Tiên sinh” có nghĩa là thông minh, uyên bác, học cao biết rộng. Ông Viết được truy tôn là “Đoan Phương Giai Chính Cư Phạm Tiên sinh” nghĩa là đoan chính, chuẩn mực, học cao biết rộng. Bia được dựng vào tháng 2 năm Thiệu Trị thứ 7, tức năm 1847. Trước nhà bia có một bệ thờ và một bát hương bằng đá. 

Theo ông Nguyễn Văn Bàng, Trưởng thôn Nghĩa Phú, người xưa đã dựng một gian nhà nhỏ để bảo vệ bia Học, sau này gian nhà đổ nát, chỉ còn dấu tích. Trước nhà bia có một phiến đá. Do thời gian phiến đá bị nghiêng, người dân địa phương thấy ở dưới phiến đá có một ngôi mộ để hài cốt được xây bằng gạch chỉ nhưng không ai dám động vào. Đến năm 2001, ông Bàng lúc đó là cụm trưởng cụm dân cư xóm Đình đã vận động nhân dân đóng góp cải tạo giếng. Lúc này người dân đã xây bờ gạch thay thế cho bờ đất, xây lại nhà bia Học, xây thêm bệ thờ phía trên ngôi mộ để tiện hương khói. Không ai biết bộ hài cốt ở trước bia Học có phải là hài cốt của một trong hai ông hay không, chỉ biết giếng Viết, bia Học đã trở thành địa điểm văn hóa, tâm linh được nhiều người đến chiêm bái, thắp hương.

Ông Nguyễn Thế Thường (72 tuổi), nhà ở cạnh giếng Viết, bia Học cho biết không chỉ người dân trong xã mà học sinh các xã xung quanh như Cẩm Hoàng, Cẩm Văn, Định Sơn… cũng đến đây xin nước uống, thắp hương. 

Giếng Viết đã được địa phương tôn tạo 

Đất học

Làng cổ Nghĩa Phú là nơi sinh của nhiều người thi cử đỗ đạt, làm quan, tạo phúc cho nhân dân. Trải qua các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê, Mạc, Nguyễn, ở làng Nghĩa Phú đã có 5 người thi đỗ đại khoa. Ngoài các vị giữ chức sắc lớn như Hành khiển, Tể tướng, Thượng thư, Hàn lâm học sĩ..., số người thi đậu cử nhân, tú tài, Giám sinh Quốc Tử Giám, tri phủ, tri huyện, thầy đồ, thầy giáo, thầy thuốc đời nào cũng có.

Trong những người con ưu tú của làng Nghĩa Phú, được biết đến nhiều nhất là Đại danh y - Thiền sư Tuệ Tĩnh và tiến sĩ Nguyễn Danh Nho. Ngoài những tư liệu trước đó về Đại danh y - Thiền sư Tuệ Tĩnh, Ban Quản lý di tích huyện Cẩm Giàng mới đây đã cung cấp thêm nhiều tư liệu quý về thân thế, sự nghiệp của tiến sĩ Nguyễn Danh Nho.

Tiến sĩ Nguyễn Danh Nho (1638-1699) sinh ra trong gia tộc Nguyễn Danh ở làng Nghĩa Phú. Tại nhà thờ họ Nguyễn Danh ở đây vẫn còn tấm bia được ông soạn khi còn sống để ghi lại tiểu sử, lý lịch của mình. Vừa qua, Ban Quản lý di tích huyện Cẩm Giàng đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Hán Nôm dịch tấm bia này. Tấm bia được soạn năm 1690. Theo nội dung văn bia, năm 20 tuổi ông đã đi thi và đỗ tam trường kỳ thi hương. Sau nhiều lần thi, đến năm 33 tuổi ông đỗ tiến sĩ, được triều đình tín nhiệm cho giữ nhiều trọng trách như Phủ doãn phủ Phụng Thiên, Thượng bảo Tự khanh, Nội tán tri các phiên thủy bộ binh, Hữu thị lang Bộ Công..., lập nhiều công trạng như can gián thẳng thắn cho triều đình, góp phần khống chế trộm cướp, đánh giặc. Năm 1690, ông được cử đi sứ phương Bắc, đảm nhiệm chức Chánh sứ. Năm 1692, ông đi sứ trở về.

Theo sử sách, khi đến Trung Quốc, tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đã đến viếng mộ Tuệ Tĩnh và chép văn bia mang về quê hương. Hiện nay tiến sĩ Nguyễn Danh Nho được thờ tại tòa tiền tế ở gian trung tâm đền Bia. Anh Hà Quang Thành, Trưởng Ban Quản lý di tích huyện Cẩm Giàng cho biết việc thờ tự này được đưa vào từ năm 2005 nhằm tưởng nhớ ông có công tạo tác tấm bia đá khắc lời di nguyện của Đại danh y Tuệ Tĩnh mang về quê hương. Phía trên ban thờ tiến sĩ Nguyễn Danh Nho có một bức hoành phi lớn viết bằng chữ Hán ca ngợi ông là “Tiên Thánh linh từ”, nghĩa là “đền thờ vị Thánh linh thiêng".

Lưu giữ được những di sản gắn với truyền thống hiếu học, hiếu tài của quê hương nên người dân thôn Nghĩa Phú đã quan tâm tôn tạo, gìn giữ giá trị di tích. Cuối năm 2019, cụm dân cư xóm Đình tiếp tục quyên góp tiền để nạo vét, xây lại giếng Viết, xây sân ở trước bia Học. Qua thời gian giếng đã bị thu hẹp, đến nay đường kính chỉ còn khoảng 14 m. Xung quanh giếng có ghế đá để nhân dân ngồi hóng mát. Nhà bia Học nằm trong sân rộng khoảng 30 m2, sân được lát gạch đỏ sạch đẹp.

Ông Bàng chia sẻ: "Khi phát động cải tạo giếng Viết, bia Học, không chỉ cụm dân cư xóm Đình mà nhiều người dân xã Cẩm Vũ cũng chung tay quyên góp. Đây cũng là tấm lòng của chúng tôi đối với di sản tôn vinh truyền thống hiếu học, hiếu tài của quê hương". 

VIỆT QUỲNH

Di tích đình Rồng và tấm bia di văn quý giá

đăng 01:16, 16 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Tọa lạc trên khu đất cao ráo, thoáng rộng ngay đầu làng, đình Rồng, xã Quốc Tuấn (Nam Sách) - di tích cấp tỉnh được Nhà nước xếp hạng năm 2013 mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học. 

Đình Rồng ngày nay 

Mang đậm nét cổ kính

Đình Rồng khởi dựng vào thời Hậu Lê (năm Chính Hòa 1680-1705, đời vua Lê Hy Tông), kiến trúc kiểu chữ Đinh (J) gồm 7 gian đại bái và 3 gian hậu cung theo hướng đông nam, chất liệu bằng gỗ lim. Các cụ cao niên trong làng cho biết sàn đình tòa đại bái là nơi diễn ra các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa của nhân dân trong làng nên còn gọi là chợ đình Rồng.

Đình Rồng xưa mang đậm nét cổ kính với quy mô kiến trúc rộng lớn, cảnh quan hội tụ đầy đủ yếu tố cây đa, giếng nước, sân đình. Khoảng những năm 1952 - 1953, đình bị thực dân Pháp phá hủy hoàn toàn. Đầu năm 1989, nhân dân trong làng quyên góp tiền của, công sức xây dựng 3 gian trên nền đình cũ để thờ đức thánh. Năm 2004, xây dựng cổng nghi môn và nhà tế trước đình. Đến năm 2008, đình được tôn tạo lại như ngày nay. Hiện di tích có kiến trúc kiểu tiền nhất, hậu đinh gồm 3 gian đại bái, 3 gian trung từ và 1 gian hậu cung. 

Đình Rồng thờ Thành hoàng Cao Sơn Đại vương. Theo bia ký tại địa phương, Cao Sơn Đại vương, họ Cao, tên là Hiển, tự là Văn Trường. Thuở thiếu thời ông có chí lớn, tinh thông sử sách, hiểu rộng ngũ kinh. Vào thời Hậu Lê, vua lệnh cho ông dẫn quân đi dẹp giặc Đông di. Thắng trận trở về, vua phong chức Đại tướng quân, giữ quyền nguyên soái, sau thăng Quốc chúa Đại vương. Cuối đời, ông về Điền Trì làm nghề dạy hổ và cắt thuốc nam chữa bệnh cứu người, trong đó hiệu nghiệm nhất là bệnh sởi và bệnh đậu mùa. Ông mất tại Điền Trì ngày 11.5 năm Hoàng Triều Vĩnh Trị đời vua Lê Hy Tông (1676). Nhà vua cho nhân dân Điền Trì (nay là Trực Trì) và các nơi xây dựng đình, nghè thờ ông. Ngoài đình Rồng, đình An Xá và nghè Lương Gián của xã Quốc Tuấn cũng thờ thần Cao Sơn Đại vương. 

Do có công lao với dân, với nước, trải qua các triều đại phong kiến, Cao Sơn Đại vương được ban tặng nhiều sắc phong. Triều Lê , đời vua Cảnh Hưng 44 (1783), sắc phong Chiêu Võ hiển thánh Đại vương; đời vua Chiêu Thống nguyên niên (1787), sắc phong Vĩ lược, anh duy, tế thế Đại Vương. Triều Nguyễn, đời vua Khải Định 9 (1924) sắc phong Hiệp linh, phù chính, phu uy, đôn tĩnh, hùng lược, trác vĩ, dực bảo Trung Hưng Cao Sơn Thượng đẳng thần (Vị thần bậc Thượng đẳng Cao Sơn, linh thiêng phù giúp, tỏ rõ oai phong, đôn hậu lặng lẽ, anh hùng mưu lược, công trạng lớn lao, giúp đỡ, bảo vệ thời Trung Hưng). 

Ngoài giá trị tâm linh, đình Rồng còn là cơ sở cách mạng của địa phương. Năm 1945, nơi đây là địa điểm diễn ra Đại hội dân quân huyện Nam Sách. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1950), đình là nơi lực lượng du kích và bộ đội địa phương tập trung mít tinh, hội họp và tấn công quân giặc. Kháng chiến chống Mỹ, khu vực đình được trưng dụng làm kho chứa thóc của Nhà nước và trường dạy học. Ngày nay, đình là trung tâm sinh hoạt văn hóa, nơi diễn ra lễ hội cổ truyền. Hằng năm, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội vào ngày 10.2 âm lịch. Trong những ngày hội tại đây diễn ra nhiều trò chơi dân gian chọi gà, cờ người… 

Tấm bia “Nhị xã tạo lập phụng tự hậu thần” 

Nguồn sử liệu quý giá 

Tại di tích đình Rồng hiện còn lưu giữ một số cổ vật quý như sắc phong, kiệu long đình, bài vị, long đao, bát bửu. Đặc biệt là tấm bia đá cổ “Nhị xã tạo lập phụng tự hậu thần” vốn là di văn của tiến sĩ Trần Thọ soạn vào tháng 3 năm Bính Dần niên hiệu Chính Hòa thứ 7 (1686).

Tiến sĩ Trần Thọ sinh ngày 6.10 năm Kỷ Mão (1639). Năm 1670 (32 tuổi), Trần Thọ đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất niên hiệu Cảnh Trị thứ 8 đời vua Lê Huyền Tông. Năm 1684, Trần Thọ giữ chức Đốc đồng đạo Sơn Tây. Ông hai lần được cử đi sứ Trung Quốc vào các năm 1688, 1691. Năm 1693, ông giữ chức Quang Tiến Thận lộc đại phu, Bồi tụng, Công bộ Hữu Thị lang, được phong tước Phương Trì nam. Sau đó giữ các chức quan Tả Thị lang Bộ Hộ, Tả Thị lang Bộ Lễ rồi đến Phó Đô ngự sử.

Trần Thọ còn là một nhà thơ. Tác phẩm của ông có Nhuận Phủ thi tập, hiện còn ba bài chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn. Ông còn là tác giả của một số bài văn bia trên địa bàn tỉnh Hải Dương và Bắc Ninh. 

Con trai Trần Thọ là Trần Cảnh, tên tự là Doanh Phủ, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1718) niên hiệu Vĩnh Thịnh triều vua Lê Dụ Tông, làm quan Tế tửu Quốc Tử Giám. Từng giữ chức Thượng thư bốn bộ: Bộ Công, Bộ Hình, Bộ Binh, Bộ Lễ; hai lần giữ chức Tham tụng, tước Diệu quận công, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Thượng trụ quốc, về trí sĩ, được vua phong chức Khuyến nông sứ. Trần Cảnh là tác giả của Minh nông chiêm phả - bộ sách khoa học nông nghiệp đầu tiên của nước ta dâng lên vua Lê Hiển Tông năm Kỷ Tỵ (1749).

Cháu nội Trần Thọ là Trần Tiến, tên tự là Hậu Phủ, tên hiệu là Cát Xuyên, đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1748), làm quan đến chức Cẩn sự tá lang, Hàn lâm viện Hiệu thảo, Phủ doãn phủ Phụng Thiên, Phó đô ngự sử Ngự sử đài, Giám sát Ngự sử, tước Nam, sau thăng Lễ bộ Thượng thư. Trần Tiến là tác giả của Đăng khoa lục sưu giảng, Cát Xuyên thi tập, Cát Xuyên tiệp bút, Niên phả lục.

Tấm bia “Nhị xã tạo lập phụng tự hậu thần” hiện đặt trong nhà bia tại góc sân bên phải đình, bia hình trụ bốn mặt, khổ 73 x 210 cm. Trán bia trang trí hoa sen ở hai bên, xung quanh diềm trang trí họa tiết lưỡng long, hoa dây. Bốn mặt bia gồm 64 dòng chữ Hán viết theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Toàn văn ước khoảng 2.170 chữ, có chữ húy: Đề. Chữ Hán khắc trên bia kiểu chữ thảo chân phương, nét rõ.

Nội dung văn bia có thể tóm tắt như sau: Quan Tượng quân Chánh đội trưởng Dĩnh Lộc hầu Hoàng Văn Tá người thôn Đông, xã Hộ Xá đã cúng 1.000 quan tiền sử, 100 quan tiền cổ cho hai xã Điền Trì và Hộ Xá để xây dựng đình. Ông lại xuất 5 sào ruộng để dùng vào việc hương hỏa. Quan viên, dân hai xã tôn bầu ông và vợ là bà Trần Thị Ngọc, hiệu Từ Tín làm hậu thần. Hai xã cũng hứa sẽ đặt bài vị ông bà ở phía bên phải, cúng tế bốn mùa, sau khi ông bà qua đời sẽ tổ chức cúng tế vào ngày giỗ. Văn bia cũng ghi rõ quy định, thể thức cúng giỗ. Mặt cuối của văn bia còn có bài minh dài 18 câu ca ngợi công đức của ông Hoàng Văn Tá. 

Cảm kích trước những đóng góp cho làng xã, người dân đã bầu ông Hoàng Văn Tá và bà Trần Thị Ngọc làm hậu thần, đời đời được phối hưởng tại đình. Bài văn bia do tiến sĩ Trần Thọ biên soạn đã nêu lên phẩm chất tốt đẹp và việc công đức của Tượng quân Chánh đội trưởng Dĩnh Lộc hầu Hoàng Văn Tá đối với nhân dân trong xã. Đây chính là nguồn sử liệu quý giá và đáng tin cậy trong việc nghiên cứu về hành trạng cũng như sự nghiệp của Hoàng Văn Tá.

Ngoài ra, tấm bia còn có giá trị đặc biệt quan trọng, đó là nội dung khắc trên bia là di văn của một nhà khoa bảng tiêu biểu trong dòng họ Trần ở làng Điền Trì có tới ba đời liên tiếp kế thế đăng khoa (ông, cha, con) nổi tiếng đất học xứ Đông dưới triều Hậu Lê. Di sản văn hóa quí báu này cần được bảo tồn và phát huy giá trị tại địa phương nói riêng và huyện Nam Sách nói chung.

ĐẶNG THU THƠM

Chiến thắng Xương Giang qua mộc bản triều Nguyễn

đăng 02:54, 14 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:57, 14 thg 9, 2020 ]

Trong các triều đại phong kiến Việt Nam, triều Nguyễn luôn quan tâm đến việc nghiên cứu, biên soạn, lưu trữ sử liệu các bộ sử chính thống. Một trong các loại hình lưu giữ phổ biến là những văn bản chữ Hán – Nôm được khắc ngược trên gỗ được gọi là mộc bản và là di sản tư liệu vô cùng quý giá còn được lưu giữ đến nay.

Dưới triều Nguyễn, Quốc Sử quán là cơ quan chuyên trách việc nghiên cứu tư liệu lịch sử của triều đình ra đời vào năm 1820 thời vua Minh Mạng. Đây cũng là nơi biên soạn, in ấn lưu giữ hàng vạn tấm mộc bản triều Nguyễn ghi chép lại nhiều sự kiện lịch sử, điều luật, công danh, sự nghiệp của các vua chúa, danh thần, các bộ sách sử, tác phẩm văn chương… 

Chính vì yếu tố trên nên Mộc bản triều Nguyễn mang tính chính xác, chân thực có giá trị lịch sử cao được coi là quốc bảo. Hiện nay, kho tàng mộc bản triều Nguyễn có hơn 34 nghìn tấm, phần lớn được khắc hai mặt bằng gỗ thị với nhiều chủ đề về địa lý, lịch sử, quân sự, pháp chế, văn thơ, tôn giáo - tư tưởng- triết học, ngôn ngữ - văn tự, chính trị - xã hội, văn hóa - giáo dục. 

Kho tàng mộc bản trên hiện được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV- Đà Lạt. Ngày 30-7-2009, Mộc bản triều Nguyễn là tư liệu đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận Di sản tư liệu thế giới.

Hoạt cảnh tái hiện chiến thắng Xương Giang.

Cuối tháng 11-2019, trong đợt khảo sát tư liệu về Hán – Nôm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV – Đà Lạt, nhóm cán bộ nghiên cứu Bảo tàng Bắc Giang phát hiện một số bản khắc tư liệu nói về trận chiến Chi Lăng - Xương Giang trong bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư nằm trong khối Mộc bản triều Nguyễn. 

Cụ thể ở đây là 2 tấm mộc bản, tấm thứ nhất số hiệu 14421 gồm hai mặt khắc, dài 40,5cm, rộng 20,5cm, dày 2,9cm; khổ khuôn in 29,5 x 20,5cm, chất liệu gỗ thị, khắc nổi mỗi mặt có 324 chữ. Tấm thứ hai có số hiệu 14350 dài 41cm, rộng 20,5cm, dày 2cm, khổ khuôn in 29 x 20,5cm, chất liệu gỗ thị, khắc nổi mỗi mặt khắc 324 chữ. 

Theo cán bộ Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, các tấm mộc bản trên được san khắc dưới thời Nguyễn giai đoạn từ 1802 – 1807. Đây là tư liệu duy nhất về chiến thắng Xương Giang được phát hiện đến thời điểm này khắc trên mộc bản. Về nội dung các mặt khắc, theo bản dịch của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội năm 2004 ghi rõ: 

“Giặc vốn khinh ta, cho là người nước ta nhút nhát, sợ oai giặc đã lâu, nay nghe tin đại quân sang, hẳn là ta rất hoảng sợ. Huống chi lấy mạnh nạt yếu, lấy nhiều lấn ít đó là lẽ thường. Giặc không thể tính được hình thế được thua của người, của mình, không thể hiểu được cơ vi qua lại của thời của vận. Vả lại, quân đi cứu nguy cấp phải lấy mau chóng làm quý, giặc nhất định phải hành quân gấp vội. 

Binh pháp có nói: Hành quân 500 dặm mà chỉ vội hám lợi thì sẽ què thượng tướng. Nay Liễu Thăng đến, đường sá xa xôi, quân lính tất mỏi mệt. Ta đem quân nhàn khỏe, đợi đánh quân mỏi mệt, nhất định sẽ thắng”. Bèn sai bọn Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê Lãnh, Lê Liệt, Lê Thụ đem 1 vạn quân tinh nhuệ, 5 thớt voi, bí mật mai phục trước ở ải Chi Lăng để đợi giặc.

Trước đó, Lê Lựu giữ cửa Pha Lũy, thấy giặc đến, lui giữ cửa ải [Lưu]. Giặc tiến đánh, Lựu lại bỏ cửa [Ải] Lưu lui về đóng ở Chi Lăng. Giặc lại tiến quân đánh phá uy hiếp Chi Lăng. Bọn Sát và Nhân Chú mật sai Lựu ra đánh rồi giả cách thua chạy. Giặc quả nhiên rất mừng.

Mộc bản triều Nguyễn ghi về trận chiến Chi Lăng- Xương Giang. 

Ngày 20, Liễu Thăng đốc xuất đại quân đuổi theo. Đến chỗ có mai phục, bọn Sát và Nhân Chú tung hết quân mai phục, bốn mặt đều nổi dậy xung vào đánh giặc. Quân giặc thua to. Chém được Liễu Thăng ở núi Mã Yên và hơn 1 vạn thủ cấp quân giặc. 

Ngày 25, vua lại sai Lê Lý và Lê Văn An đem 3 vạn quân tiếp đến ải núi Mã Yên. Bọn Sát và Nhân Chú chỉ huy các quân tung hết binh sĩ ra đánh giặc, chém Bảo Định bá Lương Minh tại trận. Ngày 28, Lý Khánh cũng chết. Thôi Tụ và Hoàng Phúc dẫn quân miễn cưỡng tiến lên. Nhân Chú lại đánh bại bọn chúng, chém được hơn 2 vạn thủ cấp, bắt được lừa ngựa, trâu bò, quân tư khí giới nhiều không kể. 

Mùa đông, tháng 10, vua sai Lê Lý và Lê Văn An đem 3 vạn quân bao vây bốn mặt, lại dựng rào lũy ở tả ngạn sông Xương Giang để ngăn chặn. Bọn Tụ không còn mưu kế gì khác, đành phải đắp lũy giữa cánh đồng để tự vệ. Tụ ngỡ là thành Xương Giang chưa bị phá, dẫn quân định tới đó. Khi tới nơi thì thành Xương Giang đã bị mất, chúng hết cả hy vọng, lại càng kinh hoàng sợ hãi. Gặp lúc trời báo tai biến, mưa to gió lớn, núi rừng gầm thét, người ngựa nhìn nhau không nhích lên được bước nào. Giặc chỉ còn cách đợi đến đêm vắng, bắn súng làm tín hiệu báo cho hai thành Đông Quan và Chí Linh để họ nghe thấy tiếng súng thì ra cứu viện. 

Nhưng Đông Quan và các thành khác tự cứu còn chưa xong, biết đâu đến chỗ khác! Vua bèn sai các quân thủy, bộ cùng tiến quân bao vây chúng. Lại chia quân chặn hết các ải Mã Yên, Chi Lăng, Pha Lũy, Bàng Quan. Thôi Tụ và Hoàng Phúc muốn tiến cũng không được, muốn lui cũng không xong, bèn giả xin hòa, nhưng âm mưu định chạy vào thành Chí Linh. 

Vua biết được quỷ kế của chúng, kiên quyết khước từ không cho hòa. Kế đó, sai Trần Hãn chặn đứng đường vận chuyển lương thực của giặc, sai bọn Lê Vấn, Lê Khôi, đem 3 nghìn quân Thiết đột, 4 thớt voi, cùng với bọn Sát, Lý, Nhân Chú, Văn An tấn công bọn giặc. Ngày 15, quân Minh đại bại, ta chém hơn 5 vạn thủ cấp giặc, bắt sống bọn Thôi Tụ, Hoàng Phúc và hơn 3 vạn tên, thu được vũ khí, ngựa chiến, vàng bạc, vải lụa nhiều không kể xiết. Còn những kẻ chạy trốn thì trong khoảng 5 ngày đều bị bọn chăn trâu kiếm củi bắt bằng hết, không sót tên nào”.

Qua nội dung khắc trên hai tấm mộc bản, chúng ta có thể nhận thấy các sử gia nhà Nguyễn đã ghi chép lại một cách chi tiết, phản ánh một cách chân thực về chiến trận Xương Giang trên vùng đất Bắc Giang- một mốc son lịch sử của dân tộc kết thúc cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh, mở ra bước ngoặt mới của thời kỳ độc lập, hưng thịnh kéo dài gần 4 thế kỷ trong lịch sử dân tộc Việt. 

Chiến thắng Xương Giang đã ghi thêm chiến công chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào của nhân dân Đại Việt. Nhà sử học Lê Quý Đôn từng đánh giá về chiến thắng này: "Từ triều Trần bắt được Tích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi cho đến lúc ấy, nước Nam thắng giặc phương Bắc chưa có trận nào lớn như vậy". 

Trong bài Phú Xương Giang, Lý Tử Tấn đã khẳng định “Non sông vốn thiêng/ Nơi đây vũ công lừng lẫy/ Giúp nên đất nước bình yên/ Lạch thiên nhiên của trời Nam sẵn có/ Mở thái bình cho đất Việt khắp miền/ Ấy Xương Giang một sông hình đẹp/ Mà dấu thơm muôn thuở còn truyền...”

Trận chiến Xương Giang được ghi chép trong mộc bản cho thấy ý nghĩa, tầm vóc và giá trị to lớn của sự kiện này đối với mọi thời đại. Sự kiện ấy được khắc trên Mộc bản triều Nguyễn càng có ý nghĩa hơn khi khối tài liệu này năm 2009 được UNESCO vinh danh là Di sản tư liệu thế giới. 

Việc phát hiện hai tấm mộc bản có nội dung về chiến thắng Xương Giang là một nội dung quan trọng góp phần bổ sung tư liệu về chiến thắng Xương Giang và giá trị của khu di tích Địa điểm chiến thắng Xương Giang trong dòng chảy lịch sử dân tộc. 

Thời gian tới, các cơ quan nghiên cứu của tỉnh Bắc Giang sẽ tiếp tục thực hiện sao chép, in dịch các tài liệu và tiến hành phục chế phiên bản của hai tấm mộc bản trên để trưng bày. Đây cũng là hoạt động chào mừng sự kiện di tích Địa điểm chiến thắng Xương Giang được công nhận Di tích Quốc gia đặc biệt.

Đỗ Tuấn Khoa (Giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Giang)

1-10 of 29