Con người và sự kiện

Bài mới

  • Những điều đặc biệt về chiếc đồng hồ cổ ở nhà thờ Bùi Chu Nhà thờ Chính Tòa Bùi Chu (Xuân Ngọc, Xuân Trường, Nam Định) không còn xa lạ với nhiều người. Được khởi công xây dựng từ cuối thế kỷ 19 và ...
    Được đăng 04:25, 25 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tứ Kiệt chống Tây "Tịnh vi dân, động vi binh", những người nông dân chân chất trở thành anh hùng trong lửa đạn chiến tranh. Hình ảnh 4 vị anh hùng mà người dân ...
    Được đăng 19:25, 21 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bảo vật triều Nguyễn trong cung Nam Phương Hoàng hậu Công chúng yêu lịch sử đất nước không khỏi trầm trồ trước những nét thẩm mỹ, tinh tế mang nhiều giá trị văn hóa độc đáo của các ...
    Được đăng 02:34, 21 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Diện mạo mới ở ngôi đền thờ Yết Kiêu Yết Kiêu là một danh tướng tài đức song toàn thời nhà Trần. Sau khi ông mất, nhiều nơi trên đất nước đã lập đền thờ. Đền Quát mới Tại ...
    Được đăng 20:43, 19 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Công tử Bạc Liêu, dù sao cũng đáng yêu! Nào giờ cứ nghe tới danh Công tử Bạc Liêu là người ta nghĩ ngay tới hình tượng công tử nhà giàu chơi ngông, kèm theo chút ác cảm. Chút ...
    Được đăng 01:09, 6 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 22. Xem nội dung khác »


Những điều đặc biệt về chiếc đồng hồ cổ ở nhà thờ Bùi Chu

đăng 04:25, 25 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nhà thờ Chính Tòa Bùi Chu (Xuân Ngọc, Xuân Trường, Nam Định) không còn xa lạ với nhiều người. Được khởi công xây dựng từ cuối thế kỷ 19 và hoàn thành năm 1885, đây là một trong những nhà thờ cổ nhất của tỉnh.

Nhà thờ Chính Tòa Bùi Chu nổi bật với gam màu thổ hoàng; dưới là hàng cột lim đen bóng đặt trên các trụ đá cổ bồng trạm trổ tinh tế; trên là mái vòm hình ô – van đậm phong cách kiến trúc Ba-rốc nhưng vẫn gợi dáng dấp tam quan Đông Phương cổ kính…Tất cả vẻ đẹp đó hiển hiện trước mặt. Nhưng còn một báu vật khác khiêm nhường ở phía sau nhà thờ mà ít người chú ý, đấy chính là cỗ máy đồng hồ cổ kính và kỳ diệu.

Nhà thờ Bùi Chu 


Thời điểm xây dựng, Nhà thờ Chính Tòa Bùi Chu tọa lạc tại trung tâm của địa phận thời bấy giờ, bao gồm cả Hưng Yên - Thái Bình ngày nay; và cho tới hôm nay nhà thờ vẫn được coi là nhà thờ mẹ của các nhà thờ trong giáo phận.

Vẻ đẹp của nhà thờ đã được nhiều người biết tới qua các trang báo, tuy nhiên ở đây còn một vật báu nữa mà ít người để ý đến chính là chiếc đồng hồ cổ nằm phía sau nhà thờ, trên một tòa tháp hình vuông, mỗi chiều chừng 4 m, cao gần 10 m.


Thầy Vũ Minh Tiến, người giúp lễ trong nhà thờ từ năm lên 7 kể, từ nhỏ Thầy đã được các Thầy Già cho phép vào trong tháp để xem và cùng lên dây chiếc đồng hồ này.

Chiếc đồng hồ được đặt ở lưng chừng tháp, cách mặt đất khoảng 6m, mặt số đề chữ F. Fanier – Robecourt (tên một hãng đồng hồ ở Pháp?). Máy đồng hồ gần như vuông (1,2m x 0,7m), hoạt động theo nguyên tắc dùng thế năng (vật nặng) làm chuyển động các bánh xe.

Để tạo thế năng, đồng hồ dùng 3 quả nặng bằng kim loại, mỗi quả chừng 50 kg. Mỗi quả nặng tạo ra lực (lực hút trái đất) để làm chuyển động các bánh răng chạy nhạc điểm phút, nhạc điểm giờ và chạy giờ. Do đó, cứ 15 phút đồng hồ điểm chuông 1 lần. Khi đến các giờ chẵn (1 giờ, 2 giờ…) thì có thêm tiếng điểm giờ, số tiếng chuông bằng đúng số giờ/phút kim chỉ trên mặt đồng hồ.


Tạo ra âm thanh là hai quả chuông, quả lớn phát ra nốt đồ có đường kính khoảng 70 cm và quả phát ra nốt rê có đường kính 65cm. Ba chiếc vồ gỗ lần lượt gõ vào chuông tạo âm thanh khá lớn.

Thầy Tiến kể, khi chưa có nhiều nhà cao tầng, cách 4 cây số người dân Hành Thiện vẫn nghe rõ, còn hiện nay trong vòng 2 cây số, vào ban đêm, người dân vẫn theo dõi giờ qua chiếc đồng hồ này.

Mặt đồng hồ được làm bằng một tấm hợp kim tròn đường kính gần 1m. Những năm khó khăn, mỗi khi quét vôi tháp, người ta lại dùng sơn trắng sơn lại mặt đồng hồ, dùng hắc ín, nhựa đường tô lại chữ số.


Phía trong máy đồng hồ gắn một đồng hồ mặt bằng men, đường kính 12 cm. Trục kim của đồng hồ con này cũng đồng thời là trục kim của đồng hồ lớn bên ngoài nên khi cần chỉnh lại giờ, chỉ cần chỉnh chiếc đồng hồ con phía bên trong tháp là kim của đồng hồ lớn phía ngoài được chỉnh theo. 

Một điểm khá đặc biệt của chiếc đồng hồ tại Nhà thờ Chính Tòa Bùi Chu là hệ thống cáp treo quả nặng không từ phần máy thả xuống mà lại được treo ngược lên đỉnh tháp qua một ròng rọc (pa-lăng) rồi mới thả xuống phía dưới. Cách bố trí như thế giúp có thể để mặt đồng hồ ở tầm thấp (dễ nhìn) nhưng vẫn đảm bảo độ cao hành trình của quả nặng để máy đồng hồ chạy được 7 ngày hoặc hơn. Sau 7 ngày, khi quả nặng đã rơi gần chạm đất thì người ta sẽ dùng tay quay ma-ni-ven (dài cỡ 60cm) quay kéo quả nặng lên đỉnh tháp để đồng hồ tiếp tục làm việc.

Mặc dù là hệ thống cơ khí thô sơ, với những bánh răng to nhỏ khác nhau(đường kính bánh răng to nhất chừng 30cm) bôi trơn bằng dầu luyn thông thường nhưng đồng hồ giữ giờ khá tốt. Nếu không tính thời gian đồng hồ dừng vì phải quay tời để kéo vật nặng lên thì sai số hầu như không đáng kể.


Một con lắc dài chừng 90 cm giúp điều chỉnh việc chạy nhanh - chậm của đồng hồ. Do sự giãn nở vì nhiệt nên vào mùa đông (hoặc mùa hè) người ta sẽ tăng (hoặc giảm) độ dài con lắc để điều chỉnh biên độ dao động, giúp đồng hồ chạy chính xác.

Trên hai quả chuông của đồng hồ còn đúc nổi số 1922, tức là được sản xuất năm 1922. Nhưng thú vị ở chỗ tòa tháp này cũng được xây dựng vào năm 1922. Như vậy có nhiều khả năng đây là chiếc đồng hồ được đặt riêng cho Nhà thờ Chính Tòa Bùi Chu. 

Theo trí nhớ của các Thầy ở đây thì chiếc đồng hồ này chưa một lần nào phải sửa chữa lớn. Nó liên tục hoạt động. Chỉ có một thời gian (khoảng 5 năm) Đức Cha Giuse muốn hạ “cỗ máy thần kỳ” này xuống đất để mọi người cùng chiêm ngưỡng nhưng rõ ràng đấy không phải vị trí thiết kế đúng nên các Thầy lại đưa nó về chỗ cũ và hoạt động bền bỉ cho tới hôm nay. 


Trước đây viền tròn xung quanh mặt đồng hồ ở trên tháp được đắp nổi bằng vôi rơm nhô ra chừng 10 phân, tạo cảm giác lồi lõm rất đẹp, lâu ngày viền nổi bị hỏng khiến mặt đồng hồ nhô lồi ra ngoài. Khi đó người ta đã vội vàng cắt trục kim (bằng đồng, φ 27) để mặt đồng hồ sát bằng với tường. Kể lại chi tiết này, Thầy Tiến vẫn còn hối hận, tiếc rẻ. Và đấy cũng là lần “đụng dao kéo” duy nhất với chiếc đồng hồ gần 100 năm tuổi này.

So với chiếc đồng hồ trong Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn thì chiếc đồng hồ này nhỏ hơn. Nhưng nếu so về khả năng hoạt động hoàn hảo, bền bỉ thì hiếm có chiếc nào được như chiếc đồng hồ cổ trong Nhà thờ Chính Tòa Bùi Chu.

Ngô Thiệu Phong

Tứ Kiệt chống Tây

đăng 19:25, 21 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

"Tịnh vi dân, động vi binh", những người nông dân chân chất trở thành anh hùng trong lửa đạn chiến tranh. Hình ảnh 4 vị anh hùng mà người dân Cai Lậy, Tiền Giang quen gọi là Tứ Kiệt cũng vì thế mà sống mãi. Ngày nay, về Cai Lậy hỏi lăng Bốn Ông thì hầu như ai cũng biết và truyền nhau những câu chuyện chống Pháp oanh liệt của các ông vào cuối thế kỷ XIX.

Những anh hùng chân đất

Lăng Tứ Kiệt tọa lạc tại đường 30 Tháng 4, thị trấn Cai Lậy, sừng sững, uy nghi. Hằng ngày bà con trong vùng vẫn khói hương nghi ngút. Trên cổng chính là dòng chữ “Lăng Tứ Kiệt” trang trọng, hai bên là câu đối ca ngợi chiến tích, công lao của bốn ông, cũng là lòng thành kính, tưởng niệm của thế hệ sau:

“Tứ vị anh hùng vị quốc hy sinh vĩnh niệm;
Kiệt nhân nghĩa cử tinh thần bất khuất lưu tồn”

Một góc Lăng Tứ Kiệt.


Hiện nay, sau nhiều lần trùng tu, sửa chữa, Lăng Tứ Kiệt khang trang và rộng rãi. Lăng được xây theo kiến trúc truyền thống, gồm: nhà tưởng niệm và nhà mồ. Nhà tưởng niệm ở phía trước rộng hơn 100m², mái cong hai lớp chạm rồng với 16 cây cột chạm khắc tinh xảo. Bên trong, chính giữa là bàn thờ, lư hương, bài vị. Hai bên có giá binh khí và đôi hạc cưỡi qui bằng gỗ được chạm khắc. Phía sau là nhà mồ với một lớp mái cong, 4 cây cột đỡ chạm rồng, phía dưới là 4 ngôi mộ được dán đá hoa cương màu đỏ sẫm. Tứ Kiệt bao gồm các ông Trần Công Thận, Nguyễn Thanh Long, Ngô Tấn Đước và Trương Văn Rộng.

Ông Trần Công Thận sinh năm 1825, là người xóm Võng, ấp Mỹ Phú, làng Mỹ Trang, huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường (nay thuộc ấp Mỹ Phú, xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nên giặc Pháp và người dân địa phương hay gọi ông là “Ngươn (Nguyên) soái Thận”. Ông Nguyễn Thanh Long sinh năm 1820, là người xóm Cầu Ván, ấp Cẩm Hòa, thôn Cẩm Sơn, huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường (nay là ấp 2, xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) là người có tài thao lược. Vì là con thứ năm trong gia đình nên bà con quen gọi là ông Năm Long. Ông Trương Văn Rộng, nguyên quán thôn Tân Lý Đông, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay là xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang). Ông Ngô Tấn Đước (có tài liệu ghi là Đức), là người xóm Vuông, thôn Tân Hội, huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường (nay thuộc xã Tân Hội, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang). Bốn Ông đều xuất thân là nông dân, quanh năm gắn bó với ruộng đồng nhưng kiên gan, dũng cảm, mưu lược và võ nghệ phi phàm.

Hưởng ứng kêu gọi vừa xây dựng kinh tế vừa chuẩn bị quốc phòng với phương châm "Tịnh vi dân, động vi binh" do cụ Nguyễn Tri Phương khởi xướng ngay sau khi Pháp chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, Bốn Ông về phò dưới trướng của Thiên Hộ Dương (tức Võ Duy Dương) và Đốc Binh Kiều. Đây là 2 thủ lĩnh nổi bật trong phong trào chống Pháp ở Nam bộ lúc bấy giờ. Tuy nhiên do thế yếu sức cô, lực lượng của Thiên Hộ Dương tan rã, Bốn Ông liền về Cai Lậy chiêu mộ nghĩa quân tiếp tục khởi nghĩa.

Địa bàn hoạt động của Bốn Ông chủ yếu ở các vùng nay là Tháp Mười, Cái Bè, Cai Lậy, Thuộc Nhiêu và Mỹ Tho. Mặc dù lực lượng rất mỏng, vũ khí thô sơ chủ yếu chỉ là giáo mác, gậy gộc nhưng nhờ hình thức tổ chức hoạt động “xuất quỷ nhập thần”, hành tung bí ẩn, ngày là dân đêm lại thành lính nên nhiều lúc lực lượng Tứ Kiệt khiến giặc trở tay không kịp. Với tinh thần yêu nước, ý chí kiên gan, quật cường, tài thao lược và võ nghệ, nghĩa quân Bốn Ông đã lập nhiều chiến công. Cuộc tấn công vào thành Mỹ Tho và trận thiêu hủy đồn Cai Lậy là hai trận đánh được xem là oanh liệt, tiêu biểu nhất. Khuya 1-5-1868, nghĩa quân bí mật đột kích vào thành Mỹ Tho đốt kho lương, giết được một số tên giặc. Đêm 24-12-1870 nghĩa quân tấn công, thiêu hủy đồn Cai Lậy và dinh Tham biện. Nhờ đó tiếng tăm nghĩa quân Tứ Kiệt ngày càng lừng lẫy, chiêu mộ thêm nhiều nghĩa sĩ, liên tiếp lập nhiều chiến công ở Mỹ Quí, Cái Bè. Từ đây cái tên Tứ Kiệt đã trở thành nỗi khiếp sợ đối với quân Pháp và bè lũ tay sai.

Truyền kỳ về Tứ Kiệt

Theo lời kể của các bậc cao niên trong vùng, Bốn Ông đều có sức mạnh phi thường, giỏi võ nghệ, tài thao lược trong tổ chức nghĩa binh. Vì vậy, quân Pháp truy tìm khắp nơi cũng không thể nào bắt được Bốn Ông. Bọn chúng đã dùng thủ đoạn thâm độc là bắt giam gia đình của Bốn Ông và 150 dân thường, tra tấn dã man để buộc các ông lộ diện. Tứ Kiệt đành phải xuất hiện để nộp mình. Thời gian bắt giam Tứ Kiệt, bọn chúng đã dùng mọi thủ đoạn tra khảo, mua chuộc, dụ dỗ các ông đầu hàng nhưng bất thành. Ngày 14-2-1871 (tức ngày 25 tháng 12 năm Canh Ngọ), quân Pháp chém đầu Tứ Kiệt ở chợ Cá (nay là chợ Cai Lậy). Bọn chúng chỉ cho gia đình mang thân thể Bốn Ông về chôn cất, còn thủ cấp thì đem bêu trong 7 ngày để khủng bố, uy hiếp tinh thần dân chúng rồi vùi xuống mé ruộng gần chợ. Thân nhân đành gắn đầu giả làm bằng đất sét để chôn cất các ông.

Bốn ngôi mộ của Tứ Kiệt phía sau lăng.


Trước tinh thần bất khuất vì dân vì nước của Tứ Kiệt, nhân dân Cai Lậy đã bí mật chôn thủ cấp của bốn ông và đắp mộ bằng đất, dựng miếu, hương khói trang nghiêm. Để che mắt chính quyền thực dân, người ta gọi đó là chùa Ông (vì phía trước lập bàn thờ Quan Công), còn phía sau lập bài vị khắc bốn chữ "Tứ vị thần hồn" sơn son thếp vàng rực rỡ. Tuy nhiên, trận bão năm Giáp Thìn (1904) làm ngôi miếu đổ sập. Ngôi miếu được dời về làng Thanh Sơn (nay là thị trấn Cai Lậy). Mãi đến năm 1954, nhân dân xây dựng lại ngôi miếu và bốn ngôi mộ tượng trưng bằng xi măng song song, gần sát nhau trên nền đất cũ. Khu vực này gọi là lăng Tứ Kiệt. Năm 1967, nhân dân Cai Lậy tiến hành trùng tu ngôi miếu và khu mộ, trong có miếu thờ. Năm 1997, trùng tu toàn diện khu lăng mộ Tứ Kiệt như ngày nay.

Hằng năm, cứ đến ngày 25 tháng Chạp, người dân Cai Lậy luôn thành kính tưởng niệm ngày Tứ Kiệt hy sinh. Lễ giỗ Tứ Kiệt đã trở thành lễ giỗ thân thuộc không chỉ của người dân Tiền Giang mà còn của những khách thập phương. Trong lễ giỗ, du khách sẽ được nghe chuyện của từng nhân vật trong Tứ Kiệt, thắp một nhén nhang như lời tri ân gửi đến các anh hùng ngã xuống cho độc lập dân tộc. Lăng Tứ Kiệt được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích cấp Quốc gia năm 1999.

ĐÌNH PHONG

Bảo vật triều Nguyễn trong cung Nam Phương Hoàng hậu

đăng 02:34, 21 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Công chúng yêu lịch sử đất nước không khỏi trầm trồ trước những nét thẩm mỹ, tinh tế mang nhiều giá trị văn hóa độc đáo của các hiện vật trong Triển lãm Bảo vật cung đình triều Nguyễn. Càng ý nghĩa hơn khi triển lãm được trưng bày trong không gian di tích kiến trúc - văn hóa Dinh Nguyễn Hữu Hào (còn gọi là Cung Nam Phương Hoàng hậu) thuộc Bảo tàng Lâm Đồng, nhạc phụ của Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn. 

Các món bảo vật có niên đại từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 do các nghệ nhân trong cung Nguyễn chế tác tinh xảo đã được gia đình vua Bảo Đại mang từ Huế vào Đà Lạt từ sau 1945. Thời gian này, vua Bảo Đại sau khi thoái vị được người Pháp trao quyền quản lý vùng cao nguyên Trung phần (địa bàn Tây Nguyên hiện nay - PV) với xứ Thượng Nam Đông Dương.

Bảo tàng Lâm Đồng đã tiếp nhận 124 hiện vật của triều Nguyễn từ Kho bạc Nhà nước do Sở Tài chính Lâm Đồng bàn giao và đã được các chuyên gia giám định cổ vật thuộc Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thẩm định, xác minh thông tin về niên đại, chất liệu chế tác, ý nghĩa giá trị lịch sử, văn hóa và lập hồ sơ khoa học cho từng hiện vật.

Dinh Nguyễn Hữu Hào (còn gọi là Cung Nam Phương Hoàng hậu) thuộc Bảo tàng Lâm Đồng là nơi trưng bày Triển lãm Bảo vật cung đình triều Nguyễn.


Khách tham quan tìm hiểu lịch sử triều Nguyễn qua hình ảnh tư liệu về các vị vua triều Nguyễn.


Triển lãm Bảo vật cung đình triều Nguyễn gồm 36 hiện vật tiêu biểu cùng với không gian trưng bày hình ảnh tư liệu về triều Nguyễn. 


Cung Nam Phương Hoàng hậu nằm yên ả trên một ngọn đồi thấp phía sau Bảo tàng Lâm Đồng, cũng như cuộc đời thầm lặng của bà hoàng hậu có vẻ đẹp phúc hậu, khả ái phảng phất nét duyên của phụ nữ Nam Bộ. Không gian trưng bày trong Cung Nam Phương Hoàng hậu càng trở nên lắng đọng với các hiện vật mà những thành viên của hoàng tộc đã sử dụng trong đời sống hàng ngày, hoặc các hiện vật gắn liền với nhiều sự kiện liên quan đến triều Nguyễn.

36 hiện vật được chọn để trưng bày tại Triển lãm Bảo vật cung đình triều Nguyễn là chừng ấy dấu ấn văn hóa của cả một triều đại phong kiến vốn đã chứng kiến biết bao biến thiên trong lịch sử dân tộc theo quy luật vận động của lịch sử. Theo ông Phạm Hữu Thọ, Giám đốc Bảo tàng Lâm Đồng, nhiều hiện vật trưng bày tại Triển lãm được xếp vào nhóm độc bản, duy nhất có ở Bảo tàng Lâm Đồng, được chế tác thủ công đẹp mắt, chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật.

Anh Nguyễn Bá Đại, du khách đến từ Tp. Hồ Chí Minh chia sẻ: “Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam và đã có công lao trong công cuộc mở cõi của dân tộc. Những bảo vật quý giá cùng những tư liệu lịch sử trong cuộc triển lãm giúp tôi hiểu sâu hơn về triều Nguyễn khi nhiều giá trị văn hóa trong mỗi bảo vật còn vẹn nguyên đến tận ngày hôm nay. Tôi cảm phục những nghệ nhân cách đây hàng thế kỷ với trình độ chế tác tinh xảo, đạt đến độ duy mỹ và hơn cả là thể hiện đậm nét dấu ấn của một triều đại”.

Ngoài những hiện vật mang giá trị văn hóa dân tộc trong triều đại nhà Nguyễn, Triển lãm Bảo vật cung đình triều Nguyễn còn trưng bày các hiện vật mang tính chất “ngoại giao” rất độc đáo, thuộc các đời vua nhà Thanh (Trung Quốc), như: bát ngọc, lọ ngọc, bình ngọc; hay một số hiện vật xuất xứ từ châu Âu, như bộ nấu ăn bằng đồng, bình rượu ngọc, đĩa ngọc…

Triển lãm Bảo vật cung đình triều Nguyễn được giới thiệu đến công chúng đã thu hút đông đảo du khách đến tham quan, thưởng lãm tại Bảo tàng Lâm Đồng trong các dịp lễ lớn như Quốc khánh 2/9, Festival Hoa Đà Lạt....Đây là cơ hội tìm hiểu về triều Nguyễn thông qua các hiện vật lịch sử độc đáo.

Thẻ bài ngọc do vua Khải Định ban cho Hoàng Thái tử Vĩnh Thụy, mặt trước khắc nổi 4 chữ Hán” “Khải Định trân bảo”, mặt sau khắc nổi 5 chữ Hán: “Đông cung Hoàng Thái tử”.


Đài sen do ngự xưởng chế tác được dùng trang trí thư phòng của cung đình triều Nguyễn.



Đỉnh ngọc có tính thẩm mỹ rất cao.


Cù lao dùng để nấu nước.


Lọ ngọc, một hiện vật mang tính chất “ngoại giao” độc đáo xuất xứ từ thời nhà Thanh (Trung Quốc).


Tượng Kỳ Lân.


Tượng Ngựa mẹ con.


Tượng Voi.


Tượng Hươu.


Bát ngọc do ngự xưởng chế tác dùng trong bữa ăn của cung đình triều Nguyễn.


Bát ngọc có màu xanh ngọc bích rất đẹp.


Muỗng do ngự xưởng chế tác sử dụng trong các buổi yến tiệc cung đình triều Nguyễn.


Ly ngọc bọc vàng.


Nghiên mực bằng ngọc.


Đồ gia dụng sử dụng trong cung đình triều Nguyễn, xuất xứ châu Âu, quà tặng ngoại giao với triều Nguyễn. 


Triển lãm Bảo vật cung đình triều Nguyễn tại Bảo tàng Lâm Đồng gồm 36 hiện vật tiêu biểu cùng với không gian trưng bày hình ảnh tư liệu về kiến trúc cung đình Huế, các vị vua triều Nguyễn trong các buổi thiết triều, 13 đời vua triều Nguyễn. Các hiện vật được trưng bày theo từng nhóm chủ đề như: Đồ trưng bày, tế lễ (lư hương, linh vật, bình phong); Đồ vật thuộc “văn phòng tứ bảo” (bút, nghiên, giấy, mực); Đồ dùng trong nhà bếp (chén, bát, tô); Vật dụng trang trí (lọ hoa, bình hoa, ly)…


Bài và ảnh: Nguyễn Vũ Thành Đạt

Diện mạo mới ở ngôi đền thờ Yết Kiêu

đăng 20:43, 19 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Yết Kiêu là một danh tướng tài đức song toàn thời nhà Trần. Sau khi ông mất, nhiều nơi trên đất nước đã lập đền thờ. 

Đền Quát mới 


Tại thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu (Gia Lộc), quê hương của danh tướng có ngôi đền Quát thờ ông. Sau mấy năm trùng tu, tôn tạo, năm nay đền Quát đã mang một diện mạo mới, bề thế và lễ hội cũng được nâng tầm.

Niềm tự hào của quê hương

Danh tướng Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế, sinh ngày 13.2 năm Nhâm Dần (1242) trong một gia đình ngư dân nghèo ở vùng sông nước thuộc ấp Hạ Bì, huyện Trường Tân, lộ Hồng (nay là thôn Hạ Bì, xã Yết Kiêu, Gia Lộc). Phạm Hữu Thế sinh sống bằng nghề chài lưới nên rất giỏi bơi lặn, thuộc quy luật nước thuỷ triều lên xuống. Lớn lên trong cảnh đất nước lâm nguy, giặc Mông Cổ xâm lược nước Đại Việt, Phạm Hữu Thế tạm biệt mẹ và quê hương lên đường tòng quân.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược, ông lập nhiều chiến công và được phong Đô soái thủy quân, được Hưng Đạo Đại Vương đặt cho tên Yết Kiêu - tên một loài cá thần.

Yết Kiêu tạ thế ngày 28 tháng chạp năm Quý Mão (1303). Sau khi ông mất, vua Trần cho dân ấp Hạ Bì lập đền thờ, tôn ông là thành hoàng làng. Đền Quát có địa thế đẹp, trước cửa đền phía tây có con sông Đĩnh Đào uốn khúc như hình rồng cuộn, phía bắc, phía nam, phía đông là 3 hồ lớn. Đền được xây dựng từ thời Trần, đến thời Nguyễn được mở rộng với 7 gian tiền tế, 3 gian hậu cung. Nối với hậu cung là 5 gian ở hai bên, giữa là sân, xây dựng trên khu đất cao ngay trên bến đò trước đây. 

Trong kháng chiến chống Pháp, đền Quát bị quân giặc đốt phá chỉ còn lại 3 gian hậu cung xuống cấp. Từ năm 1973 đến nay, nhân dân đã góp công, góp của tu sửa lại đền. Trong đền còn nhiều hiện vật cổ quý như tượng Đức thánh Yết Kiêu, tượng công chúa Triều Nguyên (phu nhân), tượng chín nàng hầu, mõ cá, mõ cáo bằng gỗ có từ thời hậu Lê…

Đền Quát được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa quốc gia vào năm 1988. Trải qua thời gian với những biến động xã hội và sự tàn phá của tự nhiên, ngôi đền đã xuống cấp. Từ năm 2009 đến nay, đền Quát đã được xây dựng, trùng tu, tôn tạo các hạng mục: hậu cung, trung từ, tiền bái, nhà dải vũ, am hoá mã, cổng nghi môn, các hạng mục phụ trợ... Các hạng mục công trình được xây dựng, trùng tu, tôn tạo to đẹp, khang trang nhưng vẫn giữ nguyên hướng cùng kiểu dáng kiến trúc cũ và các đồ thờ tự. Khuôn viên di tích được mở rộng với diện tích 40.000 m2. Các mặt bắc, đông, nam có 3 hồ nước đủ sức chứa lượng thuyền bè lớn trong các ngày lễ hội. Đến nay, các hạng mục tôn tạo, xây mới cơ bản đã hoàn thành.

Nâng tầm lễ hội truyền thống

Lễ hội đền Quát được nâng tầm 


Nhân dịp kỷ niệm 775 năm ngày sinh của danh tướng Yết Kiêu (1242-2017), huyện Gia Lộc đã tổ chức khánh thành việc trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa quốc gia đền Quát và khai hội truyền thống. Ông Phạm Văn Tuyên, Phó Chủ tịch UBND huyện Gia Lộc, Trưởng Ban tổ chức lễ hội cho biết: "Đây là lần đầu tiên lễ hội được tổ chức ở quy mô cấp huyện, mở rộng hơn so với mọi năm. Nhiều nội dung trong các phần lễ, phần hội được khôi phục, góp phần quảng bá truyền thống văn hóa, quê hương và con người Gia Lộc anh hùng tới đông đảo nhân dân trong cả nước".

Phần lễ bao gồm lễ cáo yết (lễ trình với thần linh về việc nhân dân sẽ tổ chức tế lễ), lễ mộc dục (lễ tắm tượng thánh), lễ dâng hương tưởng niệm danh tướng Yết Kiêu, lễ khánh thành. Phần hội gồm các hoạt động văn hóa, thể thao như trình diễn màn trống hội, biểu diễn múa lân, rồng, múa rối nước, hát văn, hát quan họ, bơi chải, cờ người, cờ tướng, chọi gà, đi cầu kiều bắt vịt... Ban tổ chức đã mời đội đánh trống hội của đền thờ danh tướng Yết Kiêu ở xã Vũ Tiến, huyện Vũ Thư (Thái Bình) về phục vụ lễ hội. Đội đánh trống có khoảng 50 người với 1 trống cái cao 3 m, 20 trống con và 25 kèn đồng. Sáng 3.10, màn trống khai hội rộn ràng, hào hùng cùng với những tiết mục múa lân, múa rồng đặc sắc đã tạo không khí vui tươi cho lễ hội, khiến đông đảo nhân dân địa phương và du khách rất thích thú.

Ngay sau lễ khai hội là hội thi bơi chải. Theo ông Vũ Xuân Chiến, Tổ trưởng Tổ quản lý di tích đền Quát, tục thi bơi chải ở đây có từ khi xây dựng đền nhằm tôn vinh sự nghiệp của danh tướng Yết Kiêu và nghề chài lưới của người dân thôn Hạ Bì. Năm nay, do trùng với năm tổ chức Đại hội Thể dục thể thao của huyện nên nội dung bơi chải ở lễ hội đền Quát trở thành một trong những nội dung thi đấu của đại hội.

Đặc biệt, lễ hội đền Quát năm nay có sự trở lại của trò chơi dân gian cờ người. Trong không khí tưng bừng của lễ hội, các quân cờ người di chuyển theo các nước đã chỉ định, kèm theo đó là những màn múa võ đẹp mắt. Từ ngày 2 đến hết ngày 5.10, các tiết mục hát văn, hát quan họ, trò chơi dân gian chọi gà, đi cầu kiều bắt vịt... cũng được tổ chức, thu hút hàng nghìn lượt người dân và du khách đến tham gia, cổ vũ.

Anh Vũ Xuân Xô ở thôn Hạ Bì cho biết: "Chúng tôi rất phấn khởi khi lễ hội truyền thống của địa phương được tổ chức hoành tráng, quy củ. Thông qua lễ hội, người dân thêm hiểu biết về truyền thống lịch sử văn hóa của dân tộc, từ đó càng tự hào về truyền thống anh hùng của quê hương".

Là niềm tự hào của nhân dân Gia Lộc, đền Quát nay đã được tôn tạo khang trang, xứng tầm là di tích văn hóa quốc gia.

VIỆT QUỲNH

Công tử Bạc Liêu, dù sao cũng đáng yêu!

đăng 01:09, 6 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan


Nào giờ cứ nghe tới danh Công tử Bạc Liêu là người ta nghĩ ngay tới hình tượng công tử nhà giàu chơi ngông, kèm theo chút ác cảm. Chút ác cảm này phần lớn được tạo nên bởi sự dạy dỗ của ai đó rằng hễ là giới địa chủ thì tất nhiên phải tàn ác, bóc lột tá điền, mà cậu Ba Huy - Công tử Bạc Liêu - là công tử nhà giàu, con địa chủ ắt phải là kẻ tệ hại!


Ngôi nhà của Công tử Bạc Liêu ở TP Bạc Liêu, hiện nay là điểm tham quan do ngành văn hóa - du lịch quản lý. Lưu ý rằng ở ngay cạnh ngôi nhà này là khách sạn mang tên Công tử Bạc Liêu thì lại không phải là nhà gia đình ông Trần Trinh Trạch mà là của người khác.


Tui thì tui nghĩ như vầy: gia đình ông Trần Trinh Trạch (ba của công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy, tức cậu Ba Huy) đúng là giàu quá trời quá đất, nhưng mà so với một số người bây giờ thì chưa chắc ai giàu hơn ai à nghen! Nguồn gốc tài sản của ông khá minh bạch [1] và tài sản thì công khai, không cần phải kê khai tài sản. Công tử Bạc Liêu xài tiền như nước, nhưng nếu hỏi tiền ở đâu có mà xài thì câu trả lời quá rõ ràng: tiền của gia đình, nhờ có ruộng đất nhiều - chớ hông phải như ai đó nói dóc là nhờ làm chổi đót, chạy xe ôm... mà xây nên biệt phủ, hoặc là do bán khăn lụa made in China mà nói made in Vietnam với giá gấp mấy chục lần!


Bàn thờ ông bà Trần Trinh Trạch ở ngôi nhà Công tử Bạc Liêu


Người ta mỉa mai cậu Ba Huy đi du học bên Pháp về chẳng được cái bằng đại học nào, chỉ có cái bằng nhảy đầm  bằng lái máy bay. Ừa, thì đúng vậy đó, vậy chớ bây giờ các thiếu gia đi học nước ngoài đều học hành đàng hoàng hết hay sao? Đó là chưa kể cậu Ba Huy không có bằng đại học thì nói là không có bằng đại học chớ không hề xài bằng giả! 


Không có bằng đại học, nhưng công tử Bạc Liêu cũng biết vận dụng những hiểu biết của mình trong mấy năm ở Pháp cho công việc, tỉ như mua máy bay riêng để đi thăm ruộng (mấy chục năm sau bầu Đức mới làm chuyện tương tự đã được coi như chuyện động trời), quản lý công việc kinh doanh của gia đình, tổ chức hội chợ, tổ chức thi hoa hậu... Và cái điều quan trọng là công tử Bạc Liêu chỉ quản lý gia sản của gia đình mình chớ không hề được bổ nhiệm và thăng tiến thần tốc vào các chức vụ cao cấp để lãnh đạo và quản lý nhân dân!


Những nhân chứng còn sống đều kể lại rằng cậu Ba Huy đối xử tốt với tá điền, nhiều lần xóa nợ cho họ. Những câu chuyện về chơi ngông của ông như đốt tiền để soi sáng, đốt tiền nấu đậu, xài sang đi xe kéo mỗi xe chở một món đồ... sau khi được xác minh đều cho thấy là phóng đại quá mức hoặc dựng chuyện [2][3][4].


Một chiếc bình quý ở nhà Công tử Bạc Liêu. Người đứng bên cạnh chả liên quan gì hết, chỉ đứng ké thôi.


Chuyện chơi bời, cờ bạc, tiêu xài hoang phí của công tử Bạc Liêu là có thiệt và chẳng phải chuyện hay ho gì, nhưng xét cho cùng với những điều kể ở trên, tui thấy ông vẫn còn đáng yêu hơn nhiều người thời nay lắm. Nhiều người là ai hả? Ờ, tui nói vậy thôi, ai cũng biết là ai ấy mà!


Sau ba đời, gia tộc công tử Bạc Liêu đã khánh kiệt, không còn ai giàu có. Người ta vẫn nói về điều này như luật nhân - quả, rằng con cháu cụ Trần Trinh Trạch chỉ biết ăn chơi nên tiêu tán tài sản. Quả là có như vậy một phần, thế hệ con cháu cụ Trạch không có tài năng quản lý, cũng không có chí làm ăn như cụ. Tuy nhiên, có một điều rất cụ thể khiến tài sản ấy không còn mà người ta không nhắc (cô hướng dẫn viên trẻ đẹp ở nhà công tử Bạc Liêu trong hình này cũng không kể)...



Năm 1945 và mấy năm sau, Việt Minh lấy đất chia cho dân cày, gia đình công tử Bạc Liêu mất gần như toàn bộ đất đai, thứ tài sản lớn nhất. Tuy vậy, họ vẫn còn hàng ngàn công đất hương hỏa ở Bạc Liêu cùng nhiều căn phố cho thuê. Ngày 26/3/1970, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu ban hành Luật Người Cày Có Ruộng, luật này cho truất hữu tài sản ruộng đất của gia đình ông Trần Trinh Trạch bằng cách mua lại với một số tiền khổng lồ. Số tiền này được con cháu họ Trần gởi vào ngân hàng để lấy tiền lãi chi dùng. Rủi thay, ngày 30/4/75 đến bất ngờ khi họ chưa kịp rút tiền ra, và rồi chuyện gì xảy ra thì... mọi người tự biết nghen!


Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy mất năm 1973 (theo Nguyên Hùng, trên Wikipedia ghi là mất năm 1974), không có dịp nhìn con cháu mình "đổi đời"!


Phạm Hoài Nhân

___

[1] Theo nhiều tư liệu, ông Trần Trinh Trạch thuở nhỏ nhà nghèo phải đi ở đợ. Nhà chủ có con không muốn cho đi học tiếng Tây nên tráo ông đi học thay. Nhờ đó ông thoát kiếp dốt nát, sau được làm thư ký tỉnh chuyên lo thu thuế điền. Ông bá hộ Phan văn Bì mỗi lần đóng thuế điền gặp Trần Trinh Trạch, có cảm tình nên gả con gái cho. Do biết luật lệ và thủ tục hành chánh, lại được cha vợ cho đất, giúp vốn nên ông Trạch mau chóng phất lên, mua thêm nhiều đất điền. Mặt khác, các con và rể khác của ông Phan văn Bì mê cờ bạc nên lần lượt phải đem ruộng cầm cố cho ông Trạch, nên đất của ông Trạch càng nhiều thêm.


[2] Trong dịp Hội chợ - Đấu xảo ở Bạc Liêu (do cậu Ba Huy chủ xị), khi cậu Ba Huy đi từ Nhà Lớn (nhà của gia đình ông Trần Trinh Trạch) đến hội chợ thì có mấy anh xe kéo đứng chực sẵn. Cậu Ba đang vui vì Hội chợ thành công nên muốn giúp đỡ mấy người này. Nhưng nếu đi xe kéo thì chỉ giúp được một người, mà cho tiền khơi khơi thì có vẻ như bố thí. Cậu bèn đếm, cả thảy 7 người, mướn cả 7. Cậu Ba ngồi một xe, xe thứ hai cho thằng cháu, xe thứ ba cho vệ sĩ. Còn 4 xe chẳng lẽ đi không? Cậu bèn lột cái nón bỏ lên một xe, xe kế bỏ cây can (cây gậy), xe nữa bỏ cái cặp da. Vẫn còn một chiếc! Thấy có con chó Nhật lẽo đẽo theo sau, cậu bắt bỏ lên xe. 7 chiếc xe kéo rồng rắn kéo tới hội chợ. Thiên hạ trông thấy đồn ầm lên là công tử Bạc Liêu chơi ngông, thuê xe kéo để chở nón, gậy, cặp và chó. Thật sự đó là giúp đỡ người nghèo một cách... khá tế nhị!


[3] Về chuyện công tử Bạc Liêu đốt giấy bạc bộ lư (100 đồng) để soi sáng tìm tờ bạc con công (5 đồng), theo lời kể của cậu Ba (ghi lại trong sách của Nguyên Hùng) như sau: Hắc Công tử (cậu Ba Huy) và Bạch Công tử (Lê Công Phước) đi xem phim cùng cô Bảy Hội Điều là một người đẹp thời đó ở rạp Modern đường D'Espagne (Lê Thánh Tôn). Cô Bảy làm rớt tờ con công (5 đồng). Trong rạp tối nên cậu Ba bật quẹt máy để soi tìm, ngay lúc đó cậu Phước đưa ngay tờ bạc con đầm (20 đồng) vô bật lửa đốt để soi. Thấy vậy, cô Bảy kêu lên "Bạch Công tử chơi ngông quá!". Cậu Phước cười giả lả: Tưởng cô Bảy làm rớt tờ Bộ Lư (100 đồng) chớ!"


[4] Về chuyện Hắc Công tử và Bạch Công tử thi nhau nấu chè đậu xanh bằng cách đốt giấy bạc con công (5 đồng) xem ai nấu chín trước. Những người thân của công tử Bạc Liêu - trong đó có con ruột của ông là Trần Trinh Đức - đều khẳng định là không hề có chuyện đó. Ông Đức kể lại rằng cha ông nói: "Bộ khùng sao mà đốt tiền? Để tiền... chơi gái sướng hơn! Chưa kể là đốt tiền còn có thể bị Nhà nước Pháp bắt bỏ tù về tội hủy hoại tài sản!"


Về một con đường mang tên "Hạnh phúc"

đăng 02:40, 5 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Để có được con đường mang tên “Hạnh phúc” nối thị xã Hà Giang với 4 huyện vùng cao phía Bắc, 14 thanh niên xung phong đã vĩnh viễn nằm lạị trên cao nguyên đá. Thuở ấy, 4 huyện vùng cao núi đá: Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc chỉ là một huyện mang tên Đồng Văn, huyện lỵ đặt ở thị trấn Phó Bảng. Vùng đất rộng bằng cả tỉnh Bắc Kạn với 8 vạn dân thuộc 16 dân tộc sống biệt lập với thế giới bên ngoài trong tình trạng đói nghèo và lạc hậu, vì hệ thống giao thông chỉ là đường mòn, phương tiện giao thông chỉ có ngựa và đôi chân của con người.

Đường Hạnh phúc vắt qua Mã Pí Lèng. Ảnh: HUY BA 


Người Pháp đến Hà Giang từ năm 1900, họ đã từng khảo sát, từng muốn mở đường lên vùng đất này, vậy mà gần nửa thế kỷ chiếm đóng, họ vẫn không thay đổi được gì, việc tiếp tế cho các đội quân đồn trú của Pháp vẫn phải chuyển theo những con đường mòn cheo leo bằng sức người và ngựa. Năm Khải Định thứ 13 (1928), chính quyền phong kiến Nam Triều chính thức có sắc phong “Biên viễn khả phong đại thần” cho “Vua Mèo” Vương Chính Đức, sau đó Vương Chí Trung (Sình) kế vị. Hai cha con “Vua Mèo” sở hữu vựa thuốc phiện dồi dào bậc nhất Đông dương thời ấy, lại là ông chủ chợ Đồng Văn, nơi được coi là “Hồng Công” của vùng cực Bắc Việt Nam, tiền bạc không thiếu và cũng từng ôm mộng mở đường mà đành ngậm ngùi chịu thua, để rồi mỗi lần về xuôi lại phải huy động hàng chục tráng đinh khiêng kiệu đi bộ ròng rã 3-4 ngày mới xuống được tới tỉnh lỵ Hà Giang.

Không thể để vùng đất ấy mãi biệt lập, ngày 29.3.1959, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang (khóa III) họp và ra Nghị quyết đề nghị Trung ương và Khu tự trị Việt Bắc cho mở tuyến đường lên Đồng Văn. Được Trung ương và Khu tự trị đồng ý, sau một thời gian chuẩn bị, ngày 10.9.1959, tại thị xã Hà Giang, Bộ Giao thông - Vận tải; Trung ương Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam và tỉnh Hà Giang tổ chức lễ khởi công mở đường “Hạnh phúc”.

Sau Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, có lẽ đường “Hạnh phúc” là công trình thu hút thanh niên trong cả nước xung phong tham gia nhiều nhất. Hơn 1.300 nam, nữ thanh niên xung phong (TNXP) từ 6 tỉnh Việt Bắc (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang) và 2 tỉnh đồng bằng (Nam Định, Hải Dương) đã sát cánh cùng hơn 1.000 dân công của 16 dân tộc trên cao nguyên đá bắt tay vào phá núi mở đường. Với dụng cụ lao động vô cùng thô sơ, chỉ là cuốc, xẻng, búa tạ, xà beng, xe cút kít..., trong điều kiện làm việc vô cùng khó khăn, thiếu lương thực, thiếu muối, thiếu nước, thiếu dầu, thiếu rau xanh, vật vã với khí hậu khắc nghiệt của vùng cao, mùa hạ nóng như rang, mùa đông rét cắt da cắt thịt, có những khi nhiệt độ giảm xuống dưới không độ, nước đóng thành băng trên đá, cả ngàn người lao vào đục đá làm đường.

Con đường mới khởi công được hơn 2 tháng thì bọn thổ phỉ và tàn dư Quốc dân đảng nổi lên hoành hành khắp nơi. Ngày 30.11.1959, một trung đội phỉ 40 tên do Vàng Chỉn Cáo chỉ huy đã khóa chặt Cổng Trời Cán Tỷ, cắt đứt con đường mòn huyết mạch từ Hà Giang lên Đồng Văn. Hôm sau, toán phỉ chặn Cổng Trời đã tấn công bắt giữ hai đoàn ngựa thồ hàng của tỉnh lên Đồng Văn, đuổi cán bộ quay trở lại. Một tuần sau đó, hàng loạt địa bàn trên toàn huyện bị thổ phỉ cướp phá, chúng lùng bắt cán bộ, đốt nhà, cướp của. Từ ngày 12 đến ngày 28.12.1959, hàng loạt cuộc tấn công của phỉ nhằm vào bộ máy chính quyền cơ sở nổ ra. Vàng Chúng Dình, một tàn quân Quốc dân đảng Trung Quốc dẫn 200 tên phỉ tấn công thị trấn Đồng Văn, Vàng Dúng Mỷ đánh phá Mèo Vạc, cướp cửa hàng mậu dịch. Ngày 20.12, đầu lĩnh Phàn Chỉn Sài đưa một toán phỉ đánh vào Na Khê, Bạch Đích, bắt cán bộ huyện treo lên cây làm bia cho lính bắn. Ngày 28.12, Giàng Quáng Ly chiếm Yên Minh, Vàng Chỉn Cáo, Phàn Dền chiếm Cán Tỷ, Đông Hà (Quản Bạ).

Lúc này tuy các địa phương ở Đồng Văn đều đã có chính quyền dân cử, nhưng các vị trí lãnh đạo chủ chốt vẫn nằm trong tay những người xuất thân quý tộc lớp trên, quyền lực hành chính vẫn gắn chặt với quyền lợi của dòng tộc, gia tộc. Lợi dụng tình hình này, các nhóm tàn quân Tàu Tưởng đã tìm cách móc nối, câu kết, ra sức kích động nổi loạn, chiếm đất, nhằm mục tiêu thành lập “Vương quốc Mèo độc lập”. Chúng cho tay chân loan tin, rằng “Vua Mèo” Dương Trung Nhân ở Mèo Vạc được Mỹ và quốc tế ủng hộ sắp trở về Đồng Văn. Những toán tàn quân Quốc dân đảng bị quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đuổi chạy dạt sang biên giới được tô vẽ thành “các đạo quân quốc tế” giúp “Vua Mèo” khôi phục lãnh thổ thành lập vương quốc. Thổ phỉ còn tung tin lừa bịp dân, rằng bao giờ đá mọc trên đầu người, dê đực biết đẻ, mộ những người làm đường hóa thành cỏ dại, thì Việt Minh mới mở được đường vào Đồng Văn, mới xuyên qua được “sống mũi ngựa” (Mã Pí Lèng).

Khó khăn chồng chất, thiếu thốn đủ bề, nhưng với khí thế sục sôi cách mạng của tuổi trẻ, hàng ngàn người tham gia công trình có một không hai này đã không ngại gian khổ hy sinh, quyết bám núi, bám đường, lao động miệt mài nơi rừng thiêng nước độc và loạn lạc. Thời gian đã khẳng định ý chí của họ khi từng đoạn, từng đoạn đường được nối thông. Ô tô lần lượt qua Cổng Trời, vượt sông Tráng Kìm, qua Cán Tỷ (Quản Bạ); rồi dốc 9 khoanh... ngày 9.9.1963 con đường vươn đến thị trấn Đồng Văn. Sau hơn 4 năm, tuyến đường dài 164 km đã hoàn thành trong muôn vàn gian khổ hy sinh của hàng ngàn thanh niên xung phong và sự góp sức của hàng ngàn dân công vùng cao.

Đoạn khó khăn nhất của tuyến đường chỉ có 21 km từ Đồng Văn sang Mèo Vạc lại phải mất thêm gần 2 năm lao động vất vả nữa mới hoàn thành. Đoạn đường này chính là con đèo hiểm trở Mã Pí Lèng. Chuyện kể rằng, con đèo nổi tiếng với dốc cao dựng đứng này đã khiến những con ngựa cái leo chưa đến đỉnh đã trụy thai mà chết, những con ngựa đực chưa vượt qua đèo đã phải tắt thở. Vì vậy dân địa phương đã dùng cụm từ “Mã Pí Lèng” trong tiếng Quan Hỏa, nghĩa đen là “sống mũi con ngựa”, đặt tên cho con đèo. Cái tên “Mã Pí Lèng” của con đèo đã nói lên sự hiểm trở của ngọn núi, của con đèo, với những dốc cao dựng đứng như sống mũi con ngựa. Để hoàn thành con đường qua đèo, trong 11 tháng trời hàng trăm TNXP đã thay nhau treo mình trên vách đá để đục từng thớ đá, đục từng lỗ mìn, để kéo dài con đường thêm từng xăng - ti - mét. Cũng như ở chiến trường, nhiều người đã được truy điệu sống trước khi cầm choòng, cầm búa leo lên vách đá. 17 người khỏe mạnh, gan dạ nhất đã ra nhập đội cảm tử, Ban chỉ huy công trường gọi là “Đội Cơ dũng”, đem sức người nhỏ bé chọi lại sức mạnh của biển đá nghìn năm. Trên đỉnh núi đặt sẵn 10 cỗ quan tài thể hiện ý chí “quyết tử”. Mỗi sáng, các thành viên “Đội Cơ dũng” hô to “quyết thắng” rồi vác choòng (xà beng 8 cạnh), búa, ít thuốc nổ, trèo lên vách núi. Treo mình giữa lưng chừng trời, họ đục vách đá, nhét thuốc nổ vào, rồi hô đồng đội kéo lên đỉnh núi. Ít phút sau mìn nổ, vỡ ra một miếng đá nhỏ bé.

Trong công cuộc phá núi mở đường có một không hai đó nhiều người đã hy sinh. Đó là anh Đào Ngọc Phẩm quê ở Thái Nguyên, sẵn sàng xa vợ và 2 con, lên Hà Giang nhập đội quân mở đường. Đang leo lên vách đá chênh vênh, khi thấy 2 bố con người Mông đi chợ bị trượt chân, anh Phẩm vươn người ra cứu, hòn đá anh dưới chân anh bửa ra, cả người và đá mất hút dưới vực sâu. Thi thể anh nát nhừ, khi đưa anh lên mai táng không ai cầm được nước mắt. Cái chết của anh Lương Quốc Chanh 19 tuổi, quê ở Cao Lộc, Lạng Sơn cũng khiến mọi người không thể quên. Làm việc trong điều kiện quá khắc nghiệt, anh mắc bệnh, nhiều người đã vào các bản xa xôi kiếm thuốc, nhưng không cứu được người đồng đội của mình. Nhà báo Hà Duy Nguyên đã viết về cái chết của anh Chanh thật cảm động. Ông Sùng Đại Dùng, nguyên Bí thư Đoàn Thanh niên lao động Công trường, hai vợ chồng ông Đàm Văn Kiền, những TNXP trực tiếp tham gia mở đường “Hạnh Phúc” cùng anh Chanh, vẫn nghẹn ngào mỗi khi nhắc lại những kỷ niệm về người đồng đội. Trước khi nhắm mắt, anh Chanh khóc: “Tôi sẽ chết ở đây, tôi nằm bên vệ đường Hạnh Phúc này. Anh em phải tiếp tục phá đá. Mai đây con đường hoàn thành, anh em về lại Lạng Sơn. Liệu ai còn nhớ tôi không? Tôi sẽ nhớ mọi người lắm đấy”. Mọi người òa lên nức nở, đau đớn tiễn anh đi.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng, người nghiên cứu nhiều tài liệu về công trình phá núi mở đường “Hạnh Phúc” đã khẳng định đó là con đường đạt nhiều kỷ lục nhất trong lịch sử làm đường ở nước ta. Thi công hoàn toàn bằng sức người, gian khổ nhất, vượt qua vùng núi đá cao nhất, thời gian thi công lâu nhất, số ngày công nhiều nhất. Với trên 2 triệu ngày công, đục khoét gần 3 triệu mét khối đá, không có sự hỗ trợ của máy móc. Chỉ bằng lao động thủ công với công cụ thô sơ: cuốc, thuổng, búa, xà beng trong sự quấy nhiễu của thổ phỉ và thiếu thốn mọi mặt về vật chất, làm sao những con người bình dị ấy có thể chiến thắng được cả một biển đá sừng sững như thế? Chỉ có một câu trả lời: Đó là ý chí, là lòng quyết tâm cùng với niềm tin sắt đá vào tương lai và sức mạnh của chính mình mới có thể khiến đội ngũ Thanh niên xung phong thành công khi chinh phục cao nguyên đá.

Chính vì vậy, đoạn đèo Mã Pí Lèng 9 khoanh dài 20 km được coi là công trình “Vạn Lý Trường Thành” của Việt Nam. Những năm gần đây, với phương tiện máy móc hiện đại, con đường “Hạnh Phúc” nhiều lần được mở mang tu sửa ngày càng to rộng, dễ đi, con đèo hiểm trở Mã Pí Lèng không còn làm chết ngựa nữa mà đã trở thành di sản đặc sắc về địa chất và cảnh quan. Khu vực đỉnh đèo Mã Pí Lèng còn được đánh giá là một trong những điểm quan sát toàn cảnh lý tưởng nhất, từ đây có thể ngắm nhìn khung cảnh núi tiếp núi trập trùng hùng vĩ nhất, đẹp nhất Việt Nam. Hẻm vực sông Nho Quế kéo dài, sâu hút dưới chân đèo là một thung lũng kiến tạo địa chất độc nhất vô nhị, góp phần tạo nên những sắc thái kỳ lạ, hùng vĩ của thiên nhiên nơi đây.

Tấm bia đá dựng ở lưng đèo Mã Pí Lèng ghi rõ: ngày khởi công con đường “Hạnh Phúc” 10.9.1959, hoàn thành ngày 15.6.1965. Mộ những TNXP ngã xuống trong những năm mở đường “Hạnh Phúc” nay đã được quy tập về nghĩa trang riêng mới được xây dựng tại huyện Yên Minh. Trong lễ kỉ niệm 60 năm ngày truyền thống TNXP (15.7.1950 – 15.7.2010) của tỉnh Hà Giang, Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang phát biểu: “Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Hà Giang luôn tự hào, đánh giá cao vai trò và sự cống hiến xuất sắc của lực lượng TNXP 6 tỉnh: Cao Bằng - Lạng Sơn - Thái Nguyên - Bắc Kạn - Tuyên Quang - Hà Giang và 2 tỉnh Nam Định - Hải Dương. Đây là chiến công hiển hách, một biểu tượng đẹp, để lại một sản phẩm vô giá là con đường Hạnh phúc, góp phần đem lại bình yên, ấm no cho đồng bào các dân tộc trên cao nguyên đá Hà Giang. Hà Giang luôn ghi nhớ sự hi sinh to lớn của các thế hệ TNXP cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung và Hà Giang nói riêng”.

Cảm xúc trước cung đường huyền thoại, nhạc sỹ Nguyễn Trùng Thương, đã sáng tác ca khúc “Cung đường mùa Xuân” với ca từ rất lãng mạn “... Tay chung tay mở đường lên hạnh phúc, tuổi trẻ bên nhau bạt núi ngăn sông, tuổi trẻ mang theo bao ngàn mơ ước... tuổi trẻ chúng ta từ Cao, Bắc, Lạng, Thái, Tuyên, Hà. Từng giọt mồ hôi thấm vào đá núi, Cổng Trời hiên ngang mang dáng mẹ cao nguyên... Đường lên phía Bắc, đường sang phía Tây là con đường ý Đảng lòng dân, đường Bác Hồ đưa ta tới mùa Xuân”. Chiến công đã đi vào huyền thoại của các TNXP chiến thắng sự khốc liệt của đá trên đại công trường phá núi mở đường “Hạnh phúc” được kể lại như thế đấy!

Vậy là Hà Giang đã trải qua 2 thời kỳ đại công trường, lần thứ nhất 1959 đến 1965, khai mở con đường Hạnh phúc, lần thứ 2 từ 1998 đến 2006 tập trung giải quyết điện, đường, trường, trạm và đường vẫn là ưu tiên số một. Bây giờ đường ô tô đã đến được trung tâm 100% số xã nhưng đến thôn bản vẫn chỉ là đường mòn. Ông Sùng Đại Dùng, nguyên Bí thư Đoàn Thanh niên lao động công trường làm đường Hạnh phúc, năm nay đã hơn 80 tuổi, một cán bộ cả đời gắn bó với vùng cao, trước khi mất vẫn trăn trở, ông ước ao giá các bản có từ 30 hộ trở lên đều có đường ô tô đến nơi! Ngày nay, đây là con đường huyết mạch đưa khách du lịch từ thành phố Hà Giang lên Công viên Địa chất Toàn cầu - Cao nguyên đá Đồng Văn. Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với những địa chỉ Cột cờ Lũng Cú, Dinh “Vua Mèo”, Phố cổ Đồng Văn, Đèo Mã Pí Lèng, Chợ tình Khau Vai thu hút hàng vạn người mỗi năm lên chiêm ngưỡng, khám phá. Con đường là biểu hiện sức mạnh của con người trước thiên nhiên, là niềm tự hào của sức mạnh đoàn kết.

HÀ PHƯƠNG THIỆN

Chờ ở dinh vua Mèo

đăng 02:14, 3 thg 11, 2017 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:14, 3 thg 11, 2017 ]

Không, không phải chờ đợi ai cả, đây chỉ là nói về cô Vương thị Chờ, hậu duệ đời thứ 4 của vua Mèo Vương Chính Đức, hiện đang làm hướng dẫn viên du lịch tại dinh nhà Vương ở Đồng Văn.


Dinh vua Mèo ở Đồng Văn, Hà Giang là một kiến trúc quá độc đáo, quá nổi tiếng. Những câu chuyện, thật lẫn huyền thoại về vua Mèo cũng đầy sức hấp dẫn. Vậy nên đã tới Hà Giang thì phải viếng thăm nơi đây thôi.


Lối vào Dinh Vua Mèo


Đón tiếp khách là một cô gái người Mông, cô đang ngồi tách vỏ các quả óc chó trong lúc chờ khách tham quan như thế này đây.



Cô là Vương thị Chờ, cháu gái đời thứ 4 của vua Mèo và sẽ là người thuyết minh về ngôi dinh thự này cùng những câu chuyện về vua Mèo. À quên, xin nhắc rằng trước đây ta gọi là người Mèo, còn bây giờ thì gọi là người Mông. Cô Chờ là người Mông, thuyết minh bằng tiếng Việt lơ lớ. Chính cái tiếng Việt lơ lớ ấy lại tạo nên một bản sắc riêng và đáng mến đối với người hướng dẫn viên đặc biệt này. Giờ nghe thử nhé:



Dinh vua Mèo được công nhận Di tích cấp quốc gia năm 1993, nhưng cho đến lúc ấy con cháu tộc Vương vẫn sinh sống tại đây, trong đó có cô Chờ. Đến năm 2004, các hộ gia đình họ Vương đồng ý hiến tặng hoàn toàn dinh thự cho ngành văn hóa quản lý. Các hộ gia đình này được tạo điều kiện ra xây dựng nhà ở khu vực phía bên ngoài. (Các chữ đồng ý hiến tặng  tạo điều kiện là tui ghi lại đúng nguyên văn thôi nghen, còn chi tiết và cụ thể như thế nào thì... tui không biết!). Theo lời cô Chờ, số người trong gia tộc họ Vương còn ở lại nơi này là 6 hộ gia đình, thuộc thế hệ thứ 4 và thứ 5, là chi con cháu người vợ thứ ba của vua Mèo. Chi của bà Cả hiện làm việc tại Hà Nội, Sài Gòn, nước Đức, nước Anh. Chi của bà Hai định cư ở Canada và Mỹ.


Có lẽ sự gắn bó với nơi này cả một thời tuổi thơ và tình gia tộc khiến cho bài thuyết minh của cô Chờ rất lôi cuốn và sinh động, cô rất am hiểu về từng chi tiết, từng đồ vật trong ngôi nhà cũng như chuyện kể về cha ông mình.



Trong đoạn clip trên, cô Chờ có kể một chi tiết thú vị về những chiếc chân cột. Thời vua Mèo Vương Chính Đức, cao nguyên Đồng Văn là nơi cung cấp thuốc phiện vào bậc nhất thế giới với 20 tấn một năm, vua Mèo cũng là... vua thuốc phiện. Ông là người giàu có bậc nhất là nhờ thuốc phiện, vì vậy 2 chân cột trong hình được làm theo hình hoa anh túc (cây thuốc phiện) để ghi nhớ điều đó. 


Chân cột làm bằng đá nhưng có màu sắc khá lạ. Đó là do ngày xưa vua Mèo đã cho dùng giấy bạc Đông Dương (đồng bạc hoa xòe) để... đánh bóng nó, nghĩa là dùng tờ giấy bạc chà xát vào chân cột cho tới khi tờ giấy bạc mòn nát thì thôi. Tính ra mỗi chân cột như vậy tốn hết 900 tờ giấy bạc, tương đương 900 triệu đồng Việt Nam hiện nay, chưa kể... tiền công. Trong nhà Vương có khoảng chục chân cột như vậy!


Chân cột


và quả anh túc


Cô Vương thị Chờ được dự một lớp tập huấn hướng dẫn viên du lịch 3 tháng ở Hà Giang năm 2007 và bắt đầu làm hướng dẫn viên tại ngôi nhà gia tộc thân yêu của mình từ năm 2008. Quá khứ vàng son của dòng họ đã qua rồi. Chắc cô cũng có những phút chạnh lòng khi chỉ là người giới thiệu về những di sản quý giá của cha ông chứ không sở hữu chúng, nhưng dù sao cô vẫn còn được gắn bó với những ký ức xưa. Còn với chúng ta - những người khách tham quan - thật thú vị khi được chính một người trong cuộc thổi hồn vào di tích.


Những bài viết về dinh vua Mèo và chuyện về ông nhiều lắm nên tui không lặp lại ở đây, bạn nào thích có thể xem trong chính những clip mà cô Vương thị Chờ thuyết minh ở trên hoặc đọc các bài viết sau:

Về phần tui, sau khi nghe cô Vương thị Chờ thuyết minh xong thì đi lang thang trong dinh nhà Vương...





và sau đó ra trước cửa dinh đứng ngẩn ngơ, không biết con cháu nhà họ Vương bây giờ làm nghề gì nhỉ?...



rồi ngồi xuống trầm tư nghĩ ngợi. Nghĩ gì biết hông?



Nghĩ rằng: Tộc họ lẫy lừng nhà Vương sao toàn đi định cư ở những nước... tư bản giẫy chết (Mỹ, Canada, Đức, Anh...) không vậy ta?


Phạm Hoài Nhân

Dốc Lã - Cảng xưa

đăng 17:04, 28 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Cảng Dốc Lã thuộc thôn Tiền Thắng, xã Bảo Khê. Năm 2004, xã Bảo Khê từ huyện Kim Động sáp nhập vào thị xã Hưng Yên nay là thành phố Hưng Yên. 

Địa danh Dốc Lã có từ lâu đời, cái tên đó đã in sâu vào trí nhớ của nhiều người, tồn tại theo thời gian, chảy trôi theo dòng lịch sử: Theo lịch sử Đảng bộ huyện Kim Động, có ghi: “Ngày 30.7.1954, Pháp rút quân khỏi bốt Dốc Lã”. Đây là một bốt lớn, thường xuyên có 200 quân đồn trú. Bốt nằm án ngữ cạnh sông Hồng, giáp quốc lộ 39A, đoạn lên dốc gọi là Dốc Lã - một vị trí quân sự trọng yếu của địch. Năm 1956 – 1957, thực hiện chủ trương hàn gắn vết thương chiến tranh, tỉnh đã chọn chân đê bốt Dốc Lã (mé bờ sông) làm bến xếp dỡ hàng hoá. Vào những năm 1960 -1962 chính thức thành lập cảng Dốc Lã trên cơ sở bến xếp dỡ cũ, với diện tích gần 2 ha thôn Tiền Thắng và một phần diện tích làng Phượng Lâu (xã Ngọc Thanh). Đoạn sông Hồng qua cảng là đoạn sông khá rộng, nước sâu nên người ta còn gọi là cảng sông Cái. Bến sông nơi đây thẳng đứng nên nhiều tàu thuyền trọng tải cỡ lớn cập bến dễ dàng. Từ mạn tàu lên bờ chỉ cần lao qua tấm ván gỗ dài vài sải tay là người lên xuống bốc dỡ thuận tiện và an toàn. Tính đến tháng 3.1964 các Ty Giao thông, Thuỷ lợi và Thương nghiệp tỉnh Hưng Yên đều đã có kho hàng tại cảng Dốc Lã. 

Trang trại trên đất cảng xưa Ảnh: Nguyễn Thanh 


Cảng Dốc Lã là một cảng lớn của tỉnh Hưng Yên, là nơi có nhiều kho hàng xuất, nhập theo đường thuỷ, trực tiếp phục vụ nhân dân các huyện phía Nam Hưng Yên. Vì vậy, trong tháng 5 và tháng 6 năm 1965, đã có 41 lần máy bay Mỹ xâm phạm vùng trời Hưng Yên. Cảng Dốc Lã là một mục tiêu bắn phá của chúng. Nhiều lần không quân Mỹ ném bom oanh tạc khu cảng Dốc Lã, phá huỷ nhiều kho tàng, cướp đi nhiều sinh mạng quanh khu vực cảng. 

Gợi lại chuyện buồn xưa, cụ Lê Tăng, thôn Tiền Thắng vẻ mặt đanh lại. Trong suốt thời kỳ chống chiến tranh phá hoại, cụ Tăng là Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã Bảo Khê, người luôn có mặt trước và sau những trận bom nổ để giải quyết hậu quả. Cụ Tăng lục tìm nơi đáy tủ, lấy ra một tập giấy đã hoen ố theo thời gian nhưng nét mực Cửu Long còn rõ mồn một trên những trang giấy gần như nhật ký chiến trường: 

Ngày 9.9.1967, máy bay Mỹ ném bom xuống khu vực cảng Dốc Lã, phá huỷ 36 nóc nhà, 1 trường học, 1 nhà kho nông sản, 1 kho hàng công nghệ phẩm, làm chết 18 người, 26 người bị thương. 

Ngày 17.11.1967, máy bay Mỹ lại ném bom cảng Dốc Lã. Rất may, hàng hoá và kho tàng cũng như cư dân đã sơ tán an toàn từ trước. 
* * 
Có dịp ngồi ở quán cóc trên đê uống trà và ăn kẹo dồi, ngắm cảnh sông nước cảng Dốc Lã thật thú vị biết chừng nào! 

Cuối bến Cảng là bến đò Dốc Lã, với những chuyến đò ngang đông khách, nước mấp mé mạn thuyền, chiếc cập bến, chiếc rời bờ không lúc nào ngừng nghỉ. Rồi, những đận lỡ đò, tiếng gọi đò âm thanh mỏng nhẹ, tan loãng trên mặt nước, vẫn nghe rõ hai tiếng “đò ơi”. 

Phía trên cảng là bến đò Gò và bến màn tàu thuỷ Duyên Yên. Đò chở khách chiếc sang sông, chiếc rời bến khách lên bờ gồng gồng gánh gánh đủ các thứ nông sản bốn mùa, mang hồn đất đượm nắng mưa của trời. Tiếng cười nói, lời mặc cả mặc lẽ rộn ràng từ lúc còn nhọ mặt người cho đến khi hoàng hôn chợp mắt. Gần trưa, khi tiếng còi tàu rúc lên từng hồi, các thuyền màn hối hả áp mạn, đưa khách lên xuống, rồi từ đó ca nô chở khách ngược lên Hà Nội hay xuôi xuống thành Nam. 

Quanh cảng có những địa danh mang tên Dốc Lã và nhiều địa danh khác tạo thành một quần thể như: Chợ Dốc Lã tấp nập, phố Dốc Lã rộn ràng xe cộ, bến đò Dốc Lã, khu vực năm lò vôi Dốc Lã ngày đêm thi nhau nhả khói. Lò này ra vôi lò kia xếp đá hộc vào để châm lửa. Hợp tác xã vận tải thuỷ Dốc Lã có 5 thuyền xi măng lưới thép cỡ lớn với 40 lao động sông nước. Đền Tân La di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia. Trạm đay ngoại thương, xe tấp nập ra vào, trạm chống lụt bão chứa tới hàng ngàn mét khối đá hộc dự trữ cho việc hộ đê. Quanh khu cảng còn có hệ thống kho tàng dày đặc như các kho chứa phân đạm, lân, kali, kho xi măng, kho chứa thực phẩm gắn liền với cửa hàng giết mổ lợn và cửa hàng bách hoá. Kho chứa tre luồng Thanh lá gồi và lá mía ở cạnh ngay cửa hàng bán vật liệu kiến thiết, có bãi chứa gỗ, bãi đổ than... 

Về mùa lũ, phía trên cảng dựng lên nhiều lều bạt mé ven sông của cư dân làm nghề vớt trứng cá để ươm thành cá bột. Từ cảng nhìn sang bên kia sông (bãi Cời) vào dịp tháng 10 hàng năm: Gió heo may mật bay lên ngọn mía, thấy chi chít tới hàng trăm lò thủ công ép mía, nấu mật, cô đường, khói lò bay phủ kín cả một vùng trời. Với đoạn đê sông Hồng phía cảng Dốc Lã chỉ dài khoảng vài trăm mét, quanh năm bốn mùa lúc nào cũng đông vui nhộn nhịp. Các phương tiện như ô tô, xe bò đuôi, xe cải tiến, xe đạp thồ, người gồng gánh tấp nập ra vào bến cảng. Từ đây vật tư hàng hoá được vận chuyển theo đường đê lên đến tận huyện Khoái Châu hoặc xuôi xuống Lam Sơn, Hiến Nam... Cũng từ cảng, theo Quốc lộ 39, vật tư hàng hoá được chuyển tới nhiều huyện khác trong tỉnh. 

Dưới sông, tàu thuyền đi lại như mắc cửi. Tiếng canô xình xịch, thả khói vào trời xanh mỗi khi rú còi. Những chiếc bè mảng trôi xuôi, cập bến, chở nặng tre, gỗ, nứa và củ nâu để bán cho cư dân nhuộm vải. Mùa cá mòi, thuyền nan nhiều như lá tre rơi, quây kín cả một khúc sông. Nhiều chiếc thuyền đinh trọng tải cỡ lớn chở chum, vại từ Thanh Hoá ra hoặc chở gốm sứ từ Bát Tràng xuống. Những chiếc thuyền gỗ mũi cong cong tỏa ra mùi sặc sụa của chượp hoặc mùi thơm lựng từ nước mắm do thuyền từ Nghệ An về cập cảng. Những chiếc ca nô ì ạch ngược dòng kéo theo những chiếc xà lan đầy ắp phân đạm, xi măng, than và đá hộc Kiện Khê, Ninh Bình phát tín hiệu vào cảng. Trên sông, những buồm cánh dơi xập xoè như những đàn bướm nâu, bướm trắng, tiếng rít lên ken két từ ròng rọc cột buồm để gạn gió ngược chiều, rồi lại căng phồng no gió đưa con thuyền lao về phía trước. Khi có tín hiệu báo bão, tất cả tàu thuyền đều neo đậu tại cảng, quần tụ bên nhau, vui như chợ nổi của cư dân vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long. Đêm xuống, tiếng cười nói, ánh lửa lập loè từ các đèn măng sông và đèn dầu hoả trên thuyền phát ra. 

Cảnh bốc xếp hàng hoá diễn ra hết ngày này sang tháng khác. Đa phần nam nữ thanh niên và người trung tuổi có sức khoẻ làm chân bốc vác. Họ nâng vác trên vai những bao tạ, những tảng đá hộc, hoặc đội những thúng than đen, thật nhẹ nhàng... Số người bốc vác chuyên nghiệp này thuộc cư dân hai thôn Đoàn Kết và Thắng Lợi “cũ” và một số người thuộc làng Phượng Lâu, xã Ngọc Thanh... 

Năm 1975, Bộ Thuỷ lợi thực hiện đề án khoa học: Nắn dòng sông Hồng (đoạn vòng cạp thúng ôm lấy bãi Cời thuộc hai xã Phú Cường và Hùng Cường) bằng cách bỏ mỏ kè cứng tại bến Giáng (Hà Tây cũ). Hơn chục năm sau, con sông Hồng ngoan ngoãn chảy thẳng xuôi dòng mé tỉnh Hà Nam. Đoạn sông qua cảng Dốc Lã rộng là thế, sâu là vậy, nay đã được bồi lắng, trở thành bãi trồng ngô, những trang trại trồng chuối ngút ngàn. Cửa khẩu đê Dốc Lã đóng mở vào mùa lũ, nay là con đường bê tông có đập đá kiên cố chạy thẳng sang xã Hùng Cường vào tận chợ Cời. Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mỗi năm trung chuyển hàng vạn tấn hàng qua cảng, cảng Dốc Lã được nghỉ ngơi đã trở về quá vãng, để lại cho các thế hệ sau một câu chuyện về cảng Dốc Lã xưa. 

Khu cảng Dốc Lã, thôn Tiền Thắng xưa, nay đã hình thành một con phố dài, nhà cao tầng mọc lên san sát biểu hiện của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công ty may Dốc Lã, Công ty may Bảo Hưng, Công ty thêu Hải Châu với hàng nghìn công nhân vào ca nhộn nhịp. Mé trong đê Dốc Lã được chỉnh trang tạo thành công viên hoa đẹp mắt. Chợ Dốc Lã từ sáng sớm đến cuối chiều nhộn nhịp kẻ bán người mua. Đầm sen Dốc Lã đã trở thành khu du lịch sinh thái. Vào đêm, hệ thống đèn cao áp lung linh ánh điện... 

Dốc Lã – Cảng xưa, nay hình thành nhiều trang trại trồng chuối, có hồ nước tưới cho cây cối hoa màu, như vẫy gọi du khách đến tham quan. 

Đào Quang Lâm

Kỳ mộc chốn rừng xanh Sơn Trà

đăng 04:54, 28 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Sở hữu một kích thước đồ sộ, tán lá sum suê, hình thù kì lạ cộng với tuổi đời lên đến gần nghìn năm, cây đa cổ thụ trên bán đảo Sơn Trà được xếp vào hàng “kỳ mộc”, xứng danh là “báu vật xanh” của lá phổi xanh Đà Nẵng.

Du khách đến với bán đảo Sơn Trà không chỉ bị mê hoặc bởi vẻ đẹp đầy quyến rũ của loài voọc chà vá chân nâu quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, hay vẻ hoang sơ của những cánh rừng nguyên sinh trải dài ra tận biển, mà còn ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kỳ vĩ hiếm có của cây đa cổ thụ gần nghìn năm tuổi.

Đến khu vực Tiểu khu 63 thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà nằm ở độ cao chừng 700m so với mực nước biển, nhìn từ xa bóng cây đa cổ thụ như một chiếc ô xanh khổng lô vươn ra che kín cả một vùng. Càng đến gần, người ta càng không khỏi choáng ngợp trước vẻ to lớn, um tùm của nó. 

Theo các nhà khoa học, cây đa Sơn Trà có tên là “đa núi cao”, thuộc họ dâu tằm, có tuổi đời khoảng hơn 800 tuổi, cao chừng 22m, chu vi thân chính và cụm thân phụ lên đến gần 100m.

Đường lên cây đa cổ thụ đi len lỏi qua những cánh rừng nguyên sinh xanh mát của bán đảo Sơn Trà. Ảnh: Thanh Hòa


Đối với người dân Đà Nẵng, cây đa không chỉ có giá trị về mặt sinh học mà còn có ý nghĩa về mặt lịch sử, bởi chính tại nơi đây lực lượng biệt động Quảng Nam – Đà Nẵng từng chọn làm căn cứ hoạt động và chiến đấu trong hai cuộc khácg chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Ảnh: Thanh Hòa


Cây đa cổ thụ trong rừng nguyên sinh của bán đảo Sơn Trà có độ tuổi trên 800 năm, cao 22m, chu vi cụm thân chính và phụ lên tới gần 100m. Ảnh: Thanh Hòa


Cây đa là điểm tham quan thú vị trên hành trình khám phá cảnh quan thiên nhiên bán đảo Sơn Trà. Ảnh: Thanh Hòa


Năm 2014, cây đa được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây Di sản,

và đây cũng là một trong những cây đa lớn nhất, có tuổi đời lâu nhất ở Việt Nam. Ảnh: Thanh Hòa

Các cây thân leo khổng lồ sống kí sinh đeo bám quanh cây đa cổ thụ. Ảnh: Thanh Hòa


Nhiều du khách khi đến với Sơn Trà đều tỏ ra vô cùng ngạc nhiên và thích thú trước sự kì vĩ của cây đa nghìn năm tuổi. Ảnh: Thanh Hòa


Sự to lớn của cây đa tạo nên những vòm hốc với dáng vẻ kỳ bí trong tán rừng âm u. Ảnh: Thanh Hòa


Thân cành quấn quýt tạo dáng vẻ sum suê, rậm rạp. Ảnh: Thanh Hòa


Một nhóm bạn trẻ cùng nhau chụp ảnh kỷ niệm dưới gốc đa cổ thụ. Ảnh: Thanh Hòa


Các du khách người Hàn Quốc chụp ảnh kỷ niệm khi đến tham quan cây đa Sơn Trà. Ảnh: Thanh Hòa 


Trải qua gần nghìn năm, ngoài thân chính to khoảng 4 đến 5 người ôm, cây đa còn có thêm 26 thân phụ được hình thành nên từ những chiếc rễ rũ từ trên cành cao xuống bám chặt vào lòng đất. Các thân phụ bao quanh thân chính tạo thành một quần thể cột đỡ vững chắc trông rất lạ mắt cho bộ tán khổng lồ ở phía trên. Ngoài ra, bộ rễ lâu năm ở dưới gốc cũng nổi lên gồ ghề uốn lượn ngoằn ngoèo tạo thành những hình thù kì dị trông như đàn rắn khổng lồ đang trườn bò trên mặt đất.

Tháng 6 năm 2014, cây đa Sơn Trà được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây Di sản, và đây cũng là một trong những cây đa lớn nhất, có tuổi đời lâu nhất ở Việt Nam.

Theo GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội đồng Cây Di sản Việt Nam, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, việc lựa chọn và vinh danh cây đa cổ thụ Sơn Trà là Cây Di sản Việt Nam không chỉ nhằm trực tiếp bảo tồn nguồn gen tiêu biểu của vùng nhiệt đới và giới thiệu sự phong phú, đa dạng của hệ thực vật Việt Nam, mà còn góp phần thúc đẩy phát triển du lịch ở địa phương, góp phần nâng cao ý thức tôn trọng lịch sử, tôn trọng tự nhiên và trách nhiệm bảo vệ môi trường cho cộng đồng.

Bài, ảnh: Thanh Hòa

Tiến sĩ Nguyễn Cấu

đăng 04:44, 28 thg 10, 2017 bởi Pham Hoai Nhan


Khu Lưu niệm Tiến sĩ Nguyễn Cấu. 


Rêu phong, cổ kính, gần 500 tuổi, nhưng Khu Lưu niệm Tiến sĩ Nguyễn Cấu, ngự ở xóm Phong Niên, xã Tân Hương (T.X Phổ Yên) luôn tươi mới bởi hằng ngày cháu, con dòng họ Nguyễn, và nhân dân thập phương về hương khói phụng thờ. 

Tiến sĩ Nguyễn Cấu có tên tự là Phúc Trung, sinh năm 1442, tại làng Thanh Thù, tổng Tiểu Lễ, huyện Thiên Phúc, phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc, nay là xóm Thanh Xuân, phường Đồng Tiến (T.X Phổ Yên). Năm 21 tuổi (1463) cụ đỗ Tiến sĩ (Tên của cụ được khắc trên bia đá ở Văn Miếu Quốc Tử Giám - Hà Nội). Sau khi vinh quy bái tổ, cụ được triều đình bổ nhiệm làm quan, được Vua Lê Thánh Tông ban tặng tên Cấu (Nguyễn Cấu). 

Đường quan lộ, cụ có nhiều thăng tiến, từng giữ các chức vụ: Thị vệ xứ, Chánh Đô đốc, Chỉ huy xứ, Đô đốc đồng Tổng quản… Với các hàm từ “Tòng Tứ phẩm” đến “Chánh Tứ phẩm”. Cụ làm quan suốt 6 đời vua Lê: Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực và Lê Chiêu Tông. Năm 1522, Nhà Mạc dấy binh, cướp ngôi, cụ bị quân Mạc sát hại khi chiến đấu bảo vệ triều đình nhà Lê ở Kiếp Bạc. Khi tử trận, thuộc hạ thân tín dưới quyền đã lấy thủ cấp của cụ mang về quê nhà khâm niệm, mai táng (nay là xóm Phong Niên, xã Tân Hương, T.X Phổ Yên). Sau này, khi nhà Lê Trung Hưng khôi phục lại sơn hà xã tắc, vua đã sắc phong cho cụ Nguyễn Cấu là “Lê Triều Khâm Sai Đại thần - Chỉ huy xứ - Thị vệ Long Quân Cẩm Hầu - Chánh Đô đốc - Đức Bác Quận công - Thượng đẳng thần”. Ông Nguyễn Văn Ngọc, truyền nhân đời thứ 9 của cụ Nguyễn Cấu cho biết: Tưởng nhớ công đức của cụ, từ năm 1522, nhân dân trong vùng đã dùng đá ong để xây dựng mộ chí cho cụ an nghỉ. 

Theo thời gian, trên diện tích đất rộng hơn 1.000 m2, cháu con dòng họ Nguyễn, nhân dân thập phương và chính quyền sở tại đã đóng góp, xây dựng nên một ngôi nhà thờ 3 gian mái ngói. Nhà được làm liền với phần mộ của cụ Nguyễn Cấu. Phía trước nhà thờ cụ, năm 2006, ngay sau khi UBND tỉnh Thái Nguyên công nhận đây là một di tích lịch sử, cơ quan chức năng đã xây dựng, đặt tấm bia đá, trên đó khắc chữ vàng, ghi tóm tắt tiểu sử danh nhân - Tiến sĩ Nguyễn Cấu. 

Chí Cường

1-10 of 22