Con người và sự kiện

Bài mới

  • Hình ảnh chùa Bà Thiên Hậu hàng trăm năm trước Cầu Ông Lãnh là địa danh rất nổi tiếng của Sài Gòn, nhưng chùa Bà Cầu Ông Lãnh thì không phải ai cũng biết. Phải chăng đây chính là chùa ...
    Được đăng 00:56, 18 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Người thầy xứ Nghệ dạy con Vua, cháu Chúa Trong thời gian làm chức Giảng dụ, ông bộc lộ là một học quan có kiến thức uyên thâm, tư cách mẫu mực, học trò của ông chủ yếu là ...
    Được đăng 00:44, 18 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Các tác phẩm nghệ thuật trưng bày trong rừng Đại Lải 51 tác phẩm hội hoạ, sắp đặt và tạo hình được trưng bày dưới những tán thông khiến người xem thích thú vì sự sáng tạo của nghệ sĩ. Giữa ...
    Được đăng 18:39, 9 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Loài khướu có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ ở núi Ngọc Linh Khướu Ngọc Linh đang bị đe dọa tuyệt chủng, chỉ phân bố ở vùng núi tỉnh Kon Tum và Quảng Nam với số lượng 1.000 – 2.400 cá thể ...
    Được đăng 04:29, 30 thg 6, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Những bí ẩn còn dưới lòng đất Theo các chuyên gia đánh giá, vùng đất thôn Dương Quang, xã Đức Thắng (Mộ Đức) là nơi còn ẩn chứa nhiều bí ẩn dưới lòng đất liên quan đến ...
    Được đăng 00:23, 16 thg 6, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Hình ảnh chùa Bà Thiên Hậu hàng trăm năm trước

đăng 00:56, 18 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cầu Ông Lãnh là địa danh rất nổi tiếng của Sài Gòn, nhưng chùa Bà Cầu Ông Lãnh thì không phải ai cũng biết. Phải chăng đây chính là chùa Bà Thiên Hậu nổi tiếng Sài Gòn? 

Hội quán Quảng Triệu (bên trái) trên đường Bến Chương Dương (nay là đường Võ văn Kiệt), Sài Gòn năm 1928. Hội quán này còn được gọi là chùa Bà Thiên Hậu.

 

Hội quán Quảng Triệu trong bức ảnh chụp năm 1894. Do nằm gần cầu Ông Lãnh, người Sài Gòn cũng gọi hội quán là chùa Bà cầu Ông Lãnh

 

Hội quán Quảng Triệu trong tấm bưu thiếp tô màu năm 1908. Khác với các hội quán cổ còn lại của người Hoa, hội quán Quảng Triệu không nằm trong vùng Chợ Lớn (quận 5, 6 ngày nay) mà lại nằm gần trung tâm quận 1.

 

Trước khi được xây dựng, khu đất của hội quán vốn là một nhà hát (ảnh)

 

Hội quán Quảng Triệu khoảng năm 1880-1890. Tên gọi "Quảng Triệu" là viết tắt của hai hai phủ Quảng Châu và Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, xuất xứ của cộng đồng người Hoa thành lập hội quán

 

Hội quán Quảng Triệu năm 1890. Ngoài hội quán Quảng Triệu ở Sài Gòn, ở Hội An cũng có một hội quán mang tên Quảng Triệu vởi kiến trúc mang nhiều nét tương đồng

 

Hội quán Quảng Triệu trên một bưu thiếp cổ của Pháp. Ngày nay, kiến trúc của hội quán Quảng Triệu vẫn được gìn giữ nguyên vẹn như thuở xưa

 

Hội quán Quảng Triệu năm 1938. Hội quán đã được ghi nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia của Việt Nam


T.B (tổng hợp)

Người thầy xứ Nghệ dạy con Vua, cháu Chúa

đăng 00:44, 18 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Trong thời gian làm chức Giảng dụ, ông bộc lộ là một học quan có kiến thức uyên thâm, tư cách mẫu mực, học trò của ông chủ yếu là con Vua, cháu Chúa. 

Tọa lạc trên núi Cấm thuộc xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương, nằm hướng Tây Nam, di tích mộ và đền thờ Phan Sỹ Tuấn thuộc vị trí đắc địa. Đứng tại di tích, du khách có thể phóng tầm mắt quan sát được cả một làng quê trù phú, với phong cảnh vừa nên thơ, vừa hùng vĩ. Thật xứng với nơi an nghỉ ngàn thu của một bậc tuấn kiệt xứ Nghệ. 

Đền thờ ông Phan Sỹ Tuấn tại núi Cấm, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương. Ảnh: Ngọc Phương 


Theo gia phả của dòng họ Phan Sỹ, ông Phan Sỹ Tuấn còn gọi là Phan Nguyễn Tuấn, sinh vào khoảng những năm 50, 60 của thế kỷ 18. Ông là đời thứ 5 của dòng họ Phan Sỹ tại xã Tràng Sơn, là con trai thứ hai của ông Phan Sỹ Oánh và bà Nguyễn Thị Kiều.

Sinh ra trong một gia đình nghèo, từ nhỏ, Phan Sỹ Tuấn được cha mẹ cho học hành tử tế, lại sẵn có tư chất sáng dạ, thông minh, ham học hỏi nên ông học đâu nhớ đó, văn chương đối đáp hơn người. 

Năm Quý Mão (1783) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44, Phan Sỹ Tuấn khăn gói lên đường dự kỳ thi Hương và trúng giải Nguyên Hương Cống. Ông được tuyển vào làm Giám sinh Trường Quốc Tử Giám ở Thăng Long. Sau đó, lại được bổ nhiệm làm chức Giảng dụ trong cung. 

Trong thời gian làm chức Giảng dụ, ông bộc lộ là một học quan có kiến thức uyên thâm, tư cách mẫu mực, học trò của ông chủ yếu là con Vua, cháu Chúa. Phan Sỹ Tuấn luôn được học trò quý mến, đồng liêu nể phục. Đến năm Ất Tỵ (1785), niên hiệu Cảnh Hưng thứ 46, Phan Sỹ Tuấn được triều đình phong tước Thượng Khanh. 

Không gian thượng điện đền thờ Phan Sỹ Tuấn. Ảnh: Ngọc Phương 


Cuối thời Cảnh Hưng, chính quyền phong kiến Đàng Ngoài và Đàng Trong đều mục nát, không thể cứu vãn được, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra ở nhiều nơi. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của 3 anh em nhà Tây Sơn ở Đàng Trong đã lật đổ chính quyền chúa Nguyễn. Đầu năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc giương cao ngọn cờ “phù Lê diệt Trịnh”, đã lật đổ chúa Trịnh, tôn phù Lê Chiêu Thống lên ngôi. Tuy nhiên, sau khi Nguyễn Huệ rút về Nam thì các dư đảng của chúa Trịnh lại nổi lên. Đồng thời, lợi dụng sự suy yếu của triều đình, nhiều phường trộm cướp nổi lên khắp nơi. Trong bối cảnh rối ren đó, ông Phan Sỹ Tuấn xin phép triều đình về quê mở trường dạy học. 


Ngày 15 tháng 10 năm Bính Ngọ (1786) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 47, trên đường về quê, ông đã bị đội quân ngụy đảng Thiên lý phường do tên Chưởng Thước cầm đầu sát hại. Hay tin ông bị sát hại, nhân dân trong vùng vô cùng thương tiếc đã làm lễ tang cho ông và an táng thi hài ông tại xứ Mồ Hùng. Sau khi Phan Sỹ Tuấn mất, triều đình đã cấp đất hương hỏa, giao cho làng xã thờ phụng. 

Cuộc đời và sự nghiệp còn dang dở, tuy những cống hiến của ông Phan Sỹ Tuấn đối với đất nước chỉ trong thời gian ngắn nhưng cũng đã để lại cho các học trò, bạn bè và nhân dân sự kính nể, tôn phục. Ông sống rất giản dị, hiếu thuận, trọng nghĩa tình, luôn lấy chữ “Tâm” đặt lên hàng đầu. 

Cỗ chè bằng đá, một trong những hiện vật cổ tại đền thờ Phan Sỹ Tuấn, xung quanh chân cỗ có khắc nhiều chữ Nho. Ảnh: Ngọc Phương 


Cảm phục một con người tài hoa bạc mệnh, hiền lành, đức độ, nhân dân làng Tràng Thịnh, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương đã tôn ông làm Bản cảnh Thành Hoàng, nhân dân các vùng lân cận thường về đền chiêm bái. Hiện, đền thờ có nhiều hiện vật cổ có giá trị như: lư hương, cỗ chè bằng đá, sắc phong và nhiều đồ tế khí…

Thi hài ông được an táng ngay sau đền thờ. Năm 2018, phần mộ và đền thờ Phan Sỹ Tuấn được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. 

Ngọc Phương

Các tác phẩm nghệ thuật trưng bày trong rừng Đại Lải

đăng 18:39, 9 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

51 tác phẩm hội hoạ, sắp đặt và tạo hình được trưng bày dưới những tán thông khiến người xem thích thú vì sự sáng tạo của nghệ sĩ. 

Giữa rừng thông ven hồ Đại Lải (Vĩnh Phúc), triển lãm Art In The Forest (AIF) 2019 trưng bày nhiều tác phẩm nghệ thuật trừu tượng trong các container. Đó là những chiếc container đã được cải tạo với hệ thống chiếu sáng, điều hoà không khí, tường thạch cao… 


Tác phẩm “Ngày hôm qua” bằng chất liệu gỗ, sơn dầu là một chiếc tủ hơn 100 ngăn, mỗi ngăn chứa một bức vẽ của tác giả La Như Lân. Với cách thể hiện mới lạ, tác phẩm này nhận được nhiều đánh giá tích cực của khách tham quan. Nhạc sĩ Trần Trọng Đức Lợi nói: “Nghệ sĩ này đang thể hiện theo một hình thức rất mới và sáng tạo. Tôi cảm thấy xúc động và nổi da gà khi ngắm nhìn tác phẩm”. 


Nghệ sĩ thị giác Nguyễn Thuý Hằng cho biết, cô thực hiện tác phẩm “Những chiến binh” trong gần 4 năm, từ chất liệu sắt, vải và bột màu phơi dưới nắng, mưa. 


Bộ ba tranh mây của nghệ sĩ Đoàn Xuân Tặng vẽ bằng sơn acrylic trên toan, với cảm hứng từ những áng mây vùng cao. “Tranh của tôi muốn nói về những biến chuyển tất yếu trong mối quan hệ không thể tách rời giữa thiên nhiên và con người vùng núi phía bắc. Các đám mây tượng trưng cho sự vận động, biến đổi không ngừng này”, anh Tặng nói. 


Bên trong phòng trưng bày của tác giả Lưu Vũ Long. 


Được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2015, AIF được Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du lịch bình chọn vào top 5 sự kiện mỹ thuật tiêu biểu toàn quốc sau đó một năm. Hiện triển lãm diễn ra thường niên tại khu rừng thông trong khuôn viên Flamingo Đại Lải Resort. 

Bức tranh sơn dầu mang tên “Mưa trong phố 1” của hoạ sĩ Phạm Hoàng Minh. Các nghệ sĩ tham gia triển lãm năm nay thuộc thế hệ 6x, 7x với hơn 50 tác phẩm chủ yếu mang tính chiêm nghiệm cá nhân. 


Tác phẩm sắp đặt “Thế giới nhỏ trong rừng” làm từ giấy dó, thuốc nước và đèn led của tác giả Vũ Kim Thư. 


Mỗi kỳ triển lãm được khách tham quan đánh giá là một trải nghiệm mới về phong cách hội họa, điêu khắc. Các tác phẩm này được trưng bày tại khu rừng thông trong ba tháng. 


Kiều Dương

Loài khướu có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ ở núi Ngọc Linh

đăng 04:29, 30 thg 6, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Khướu Ngọc Linh đang bị đe dọa tuyệt chủng, chỉ phân bố ở vùng núi tỉnh Kon Tum và Quảng Nam với số lượng 1.000 – 2.400 cá thể. 


Đỉnh núi Ngọc Linh cao hơn 2.500 m nằm trên dãy Trường Sơn, ranh giới giữa hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam. 

Theo Sách đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế (IUCN), khướu Ngọc Linh có tên khoa học Trochalopteron ngoclinhense, thuộc bộ Sẻ, được mô tả khoa học vào năm 1999. Nơi sinh sống chủ yếu của loài chim này là vùng rừng núi Ngọc Linh, tại độ cao 1.480 - 2.200 m. 

Tại Việt Nam, loài khướu Ngọc Linh được xếp vào danh mục động thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (nhóm IB). Các loài trong nhóm này đang bị đe dọa tuyệt chủng, nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại. Mức phạt cao nhất cho hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép khướu Ngọc Linh và các loài trong nhóm IB là 2 tỷ đồng và 15 năm tù. 

Giữa tháng 6, nhiếp ảnh gia Thuần Võ (trái) thực hiện chuyến săn ảnh các loài khướu quý hiếm trên núi Ngọc Linh (thuộc địa bàn các tỉnh Quảng Ngãi, Kon Tum, Quảng Nam...) với sự hỗ trợ của anh Nguyễn Hào Quang, hướng dẫn viên chuyên về quan sát chim. 


Theo Thuần Võ, thành công lớn nhất của anh trong chuyến đi này là ghi lại được hình ảnh một gia đình khướu Ngọc Linh gồm ba thành viên. 

Sách đỏ của IUCN xếp loại khướu Ngọc Linh ở mức nguy cấp (EN) với số lượng cá thể trưởng thành còn 1.000 – 2.499 con, đang có xu hướng giảm do môi trường sống bị thu hẹp và săn bắt trái phép. 


Đây là khu rừng anh Thuần Võ phát hiện loài khướu quý hiếm ở độ cao khoảng 2.000 m. Để tới được đây, nhiếp ảnh gia phải đi theo lối mòn của người dân địa phương và không tiết lộ địa điểm cụ thể để tránh môi trường của chúng bị đe dọa. 


Anh Thuần Võ cho biết qua quan sát thực tế có thể phân biệt giới tính chim. Khướu trống (ảnh) có đặc điểm ít ăn, hay nhìn xung quanh để cảnh báo đồng loại, đặc trưng bởi màu lông cánh nâu vàng rực, lông nâu đỏ đậm sau gáy, trong khi phần lông từ đỉnh đầu đến trán màu xám. 

Chim khướu mái thường bay ra ngoài kiếm ăn với màu lông cánh nhạt hơn, phần lông nâu đỏ nhạt trên đầu kéo dài từ gáy đến trước trán. Khướu con chưa trưởng thành ít ra ngoài, phần lông lên màu chưa sậm và lông ở hai bên má, cổ còn thưa. 

Được phát hiện từ năm 1999 nhưng đến năm 2013, khướu Ngọc Linh mới có những bức ảnh đầu tiên được ghi lại bởi tác giả Lê Mạnh Hùng. 

“Chụp ảnh khướu Ngọc Linh là một hành trình đầy đam mê và không mệt mỏi giữa đại ngàn. Qua tấm ảnh, chúng tôi mong muốn gửi thông điệp tới cộng đồng, hãy cùng nhau bảo vệ những loài chim để chúng luôn được tung bay tự do trên bầu trời, tô điểm cho bức tranh thiên nhiên”, nhiếp ảnh gia Thuần Võ chia sẻ. 

Ngoài khướu Ngọc Linh, anh Thuần Võ còn chụp được một số loài chim quý của Việt Nam tại vùng núi này như lách tách ngực vàng (ảnh). 

“Quan sát, chụp ảnh và ghi nhận loài là một loại hình du lịch trải nghiệm thiên nhiên, đòi hỏi nhiều sự kiên nhẫn và đam mê. Người tham gia thường phải băng qua các vùng rừng núi có địa hình hiểm trở, hẻo lánh để chụp được những khoảnh khắc đẹp”, nhiếp ảnh gia nói thêm. 

Khướu vằn đầu đen là loài đặc hữu của Việt Nam và Lào, được phát hiện ở Ngọc Linh năm 1996. Loài chim này thường sinh sống ở độ cao từ 1.100 m đến 2.400 m. 


Khướu đuôi đỏ cũng là giống chim chỉ có ở Việt Nam nhưng địa bàn phân bố trải rộng hơn. Theo anh Thuần Võ, loài khướu này sống ở cả vùng núi Ngọc Linh và dãy Hoàng Liên Sơn. 


Huỳnh Phương - Ảnh: Thuần Võ

Những bí ẩn còn dưới lòng đất

đăng 00:23, 16 thg 6, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Theo các chuyên gia đánh giá, vùng đất thôn Dương Quang, xã Đức Thắng (Mộ Đức) là nơi còn ẩn chứa nhiều bí ẩn dưới lòng đất liên quan đến di sản văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chămpa và là nơi sinh sống của những dòng họ Việt lớn. Tại đây, người dân vẫn còn gìn giữ nếp văn hóa, sinh hoạt đặc trưng của vùng nông thôn miền Trung từ bao đời nay.

Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi – Phó Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh cho hay: Năm 2008, tôi đã khảo sát, nghiên cứu tại thôn Dương Quang và nhận thấy đây là vùng đất có những điều kiện thích hợp để người tiền sử sinh sống. Bởi một phía là biển, một bên là vùng nước ngọt, nằm tựa dưới chân núi Long Phụng, vì thế con người cư trú từ sớm.

Quần thể thắng cảnh núi Long Phụng trải dài qua 3 thôn Dương Quang, Gia Hòa, Tân Định ở xã Đức Thắng (Mộ Đức). 


Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi còn phát hiện một dòng chảy của sông Vệ từ Đồng Đưng vòng qua chân núi Trụ Bồ (thuộc quần thể núi Long Phụng) chảy ra biển, đây chính là dòng sông cổ đổ về cửa biển mà theo thời gian đã bị bồi lấp. Việc phát hiện cửa biển tại đây hé lộ một thời giao thương, mua bán cực thịnh của vùng đất ven biển này. Tại thôn Dương Quang cũng từng phát hiện những hiện vật của di sản văn hóa Sa Huỳnh. Còn trong một khu vườn, có người làm nghề rà sắt từng rà được tượng làm bằng vàng của văn hóa Chămpa.

Tìm hiểu về con người ở vùng đất này, TS.Đoàn Ngọc Khôi chia sẻ: Người dân vẫn giữ tính bình dị, chân chất như bao vùng miền khác ở dải đất miền Trung. Điều đặc biệt, họ giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa lâu đời rất tốt, đơn cử như vẫn còn nhiều ngôi nhà bằng đá ong, những trụ rơm bên mái hiên đặc trưng của làng quê Việt. Những rừng dương bảo vệ làng trước sóng biển, cát bay cũng được bảo vệ, gìn giữ. Mặc dù vậy, họ sống không khép kín, mà có tư duy mở phát triển kinh tế bằng nhiều hướng gồm nghề nông, biển, kinh doanh, mua bán...

Người dân ở thôn Dương Quang vẫn còn gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa, sinh hoạt lâu đời. 


Vào mùa mưa lũ, nước dâng lên từ Đồng Đưng chưa kịp thoát qua mương ngòi, nên thấm vào dải cát quanh làng, hay còn gọi là mùa nước cà đong, khó có cây trồng nào phát triển được. Sinh sống trên vùng đất vào mùa cà đong, người dân địa phương đã có cách tính, kiến thức nông nghiệp rất hay để đến mùa cà đong đã thu hoạch xong hoa màu. Lúc đó, họ chuyển sang sống bằng nghề đánh bắt, chài lưới với những dụng cụ thô sơ, truyền thống như nơm, vó.

Trong điều kiện chưa khai quật di sản văn hóa và làm rõ lịch sử lâu đời của dòng sông cổ tại thôn Dương Quang, thì với những phát hiện cơ bản tại nơi này, TS.Đoàn Ngọc Khôi cho rằng: Cần nghiên cứu tường tận về văn hóa vùng đất sẽ góp phần tạo điểm nhấn cho huyện Mộ Đức trong việc phát triển du lịch sinh thái, văn hóa mang lại đa dạng sinh kế cho người dân.

Thời gian qua, trên dải đất miền Trung, việc bảo tồn và giữ lại di tích tại hiện trường chưa được thực hiện một cách bài bản, phần lớn là khai quật và mang về bảo tàng. Riêng với Quảng Ngãi, một trong những vùng lõi trong chuỗi di sản văn hóa Sa Huỳnh có vô số di tích trải dài từ đồng bằng, ven biển cho đến miền núi. Do đó, tỉnh cần có kế hoạch, định hướng rõ ràng trong việc gìn giữ bảo tồn di sản văn hóa.

Việc thực hiện không phải một sớm một chiều, mà đòi hỏi chuẩn bị kỹ lưỡng, trong đó Nhà nước đóng vai trò mấu chốt để quản lý, thực hiện. Cùng với đó, cần chú trọng đến việc gìn giữ, bảo tồn nguyên vẹn về văn hóa, cảnh quan, con người tại vùng đất này, để phát triển du lịch sinh thái, văn hóa.

Bài, ảnh: BẢO HÒA

Đập Bến Thóc - dấu ấn một dòng sông

đăng 03:15, 3 thg 6, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đập Bến Thóc, xã Đức Hiệp (Mộ Đức) là một trong những công trình đầu tiên cắt dòng sông Vệ đưa nước tưới cho các cánh đồng hạ lưu phía nam, phía bắc huyện Mộ Đức trong những năm đầu thế kỷ XX. Nơi đây, không chỉ để lại dấu ấn dẫn thủy nhập điền, mà còn là nơi giao lưu buôn bán giữa miền xuôi, miền ngược.

Đưa chúng tôi đi qua những di tích đập Bến Thóc, chợ Vom, ga Lam Điền, nhiều lão nông tri điền cho rằng, đây là ba nơi giao thương ghi dấu một thời khi đường bộ chưa phát triển. Người dân đã tận dụng đường thủy sông Vệ đưa ghe chở nông, lâm sản từ huyện Ba Tơ đến đập Bến Thóc. Từ đây, các tiểu thương vận chuyển hàng hóa đến chợ Vom, đến ga Lam Điền, để đưa đi các nơi tiêu thụ.

“Sứ mệnh” của con đập

Đứng bên biền dâu xanh ngắt, lão nông Nguyễn Chí (61 tuổi), ở thôn Nghĩa Lập, xã Đức Hiệp, đưa tay chỉ đập Bến Thóc bảo: Con đập này có trước khi tôi ra đời. Nghe các cụ già kể lại, con đập gắn với tên đập Bến Thóc là bởi liên quan nhiều đến sản xuất mùa vụ và cũng là nơi tập kết nông, lâm sản, chủ yếu là lúa để bán đi các nơi.

Đập Bến Thóc bây giờ như một chứng tích về vùng đất hưng thịnh một thời. 


Ngày đó, chưa có công trình thủy lợi dẫn nước về đồng. Các cánh đồng phía đông và phía nam huyện Mộ Đức thiếu nước tưới. Tận dụng dòng sông Thoa, một nhánh rẽ của sông Vệ, từ thời Pháp thuộc trên vùng đất này đã xây dựng thân đập Bến Thóc. Hằng năm, cứ đến tháng 11 âm lịch, khi lũ đi qua, con nước dòng sông Vệ thong dong chảy, người dân làm bờ cừ ngăn dòng sông Vệ.

Dòng nước mát được bổ sung vào dòng sông Thoa và kênh đào Tứ Đức (gồm các xã Đức Hiệp, Đức Nhuận, Đức Thắng và Đức Lợi). Đập Bến Thóc trở thành nơi điều tiết nước, để tưới cho các cánh đồng phía nam, phía bắc của huyện.

“Ngày đắp bờ cừ dân làng thức trắng đêm. Người chặt tre, đánh phên, người cuốc đất, gồng gánh đắp đập. Sau nhiều ngày lao động, dân làng đã tạo thành ba bờ cừ vững chắc. Mỗi bờ dài 200m, cắt ngang dòng sông Vệ tạo dòng chảy theo hướng chỉnh trị của dân làng”, Chủ tịch UBND xã Đức Hiệp Huỳnh Văn Như nhớ lại. Có nước tưới, các cánh đồng tươi tốt, nhờ đó góp phần đưa huyện Mộ Đức trở thành vựa lúa lớn của tỉnh.


 "Đập Bến Thóc là nơi lưu dấu một thời về trí tuệ của nông dân trong việc chỉnh dòng sông Vệ để dẫn thủy nhập điền, tưới tắm cho các cánh đồng tươi tốt; là nơi trao đổi mua bán hàng hóa một thời sôi động. Cùng với đập Bến Thóc, xã đề nghị huyện Mộ Đức đưa các di tích ga Lam Điền, chợ Vom vào diện quy hoạch gắn với di tích họ Nguyễn, quê ngoại của Thủ tướng Phạm Văn Đồng để phát triển du lịch. Xã cũng đã quy hoạch lại diện tích trồng dâu nuôi tằm, nhằm khôi phục nghề ươm tơ, dệt lụa vốn có  từ xa xưa, đáp ứng nhu cầu cho du khách tham quan trải nghiệm".

Chủ tịch UBND xã Đức Hiệp Huỳnh Văn Như


Sôi động một thời

Qua mỗi mùa thu hoạch, theo dòng chảy của con kênh Tứ Đức và sông Thoa, người dân từ các nơi dùng ghe vận chuyển nông sản tập kết đến đập Bến Thóc. Phía thượng nguồn Ba Tơ và các xã Hành Tín Đông, Hành Tín Tây, Hành Thịnh, Hành Thiện (Nghĩa Hành) cũng tập kết nông, lâm sản theo dòng sông Vệ xuôi đến nơi này.

“Trong ký ức tuổi thơ của tôi, đập Bến Thóc là nơi khá sôi động. Từ sáng sớm ghe thuyền tấp nập. Nhiều tư thương đến thu mua nông, lâm sản rồi đưa đến chợ Vom bán cho các tiểu thương, sau đó hàng hóa được chuyển đến ga Lam Điền đưa đi các nơi. Nhiều người ví von, đập Bến Thóc là điểm tập kết của con đường “tơ lụa” trên dòng sông Vệ”, ông Như kể.

Chợ Vom, ga Lam Điền cách đập Bến Thóc vài trăm mét. Trong quá khứ, ga Lam Điền, chợ Vom và đập Bến Thóc đã tạo nên một không gian sôi động ở phía tây bắc của huyện Mộ Đức. Đập Bến Thóc còn gắn liền với ký ức tuổi thơ của nhiều người. Ngày đó, khi dòng sông Vệ được ngăn dòng, nước trong xanh mát rượi. Sau những giờ học, bọn trẻ lùa trâu, bò xuống dòng sông tắm mát, rồi tha hồ đùa giỡn.

“Dòng nước mát từ thượng nguồn đổ về kéo theo vô kể phù du đã tạo môi sinh cho tôm, cá sinh sôi. Người dân tha hồ đơm, bắt tôm cá ngay bên thân đập", ông Như cho biết thêm.

Ngay bên đập là những biền dâu xanh ngút ngắt. Đây là nguồn sống của nghề nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa ở địa phương. Xưởng dệt lụa được xây dựng bên cạnh đập Bến Thóc. Sáng sớm tinh mơ hay chiều xuống, lẫn trong hàng nông, lâm sản tập kết ở đập Bến Thóc, còn có những mớ kén, tấm lụa chuyển đi các nơi.

Từ khi Quảng Ngãi có công trình thủy lợi Thạch Nham, "sứ mệnh" của đập Bến Thóc đã hoàn thành. Theo năm tháng, đường bộ phát triển, con đường giao thương trên dòng sông Vệ cũng không còn.

Bây giờ, về xã Đức Hiệp đi qua những di tích một thời gắn bó với dòng sông Vệ, nghe những câu chuyện kể, xem công trình đập Bến Thóc, còn nằm uy nghi giữa nhánh rẽ của dòng sông Vệ, chúng ta sẽ hiểu hơn về vùng đất từng một thời sôi động.

Bài, ảnh: TRƯỜNG AN

Hoa Phượng, đâu chỉ là mùa hè

đăng 21:12, 27 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nhắc đến mùa hè, người ta nghĩ tới hoa phượng. Nhắc đến hoa phượng, người ta nghĩ tới... Hà Triều. Hà Triều - Hoa Phượng chắc là cặp soạn giả nổi tiếng nhứt của sân khấu cải lương miền Nam trước 1975 (và như vậy cũng tương đương với nhứt Việt Nam từ xưa tới nay).


Lúc hai ông bắt đầu nổi tiếng với vở tuồng cải lương Khi hoa anh đào nở (1957) thì tui vẫn chưa sinh ra đời. Thế nhưng ngay từ lúc còn nhỏ chưa biết đánh giá tuồng tích hay dở ra sao, tui đã mặc nhiên hiểu như vầy: tuồng cải lương nào ghi tên soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng thì là tuồng cải lương hay - và ngược lại - tuồng cải lương nào hay thì chắc hẳn soạn giả phải là Hà Triều - Hoa Phượng. Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì thời đó rất nhiều vở tuồng nổi tiếng mang tên hai ông, như: Khi hoa anh đào nở, Nửa đời hương phấn, Tấm lòng của biển, Mưa rừng, Thái hậu Dương Vân Nga, Tần nương thất, Đường gươm Nguyên Bá...


Quang cảnh Núi Sập, quê hương của soạn giả Hoa Phượng


Hoa Phượng tên thật là Lương Kế Nghiệp, sinh năm 1933 tại Núi Sập, huyện Thoại Sơn, An Giang. Ông nói mình lấy bút danh là Hoa Phượng để nhớ tuổi hoc trò. Mặc dù sự nghiệp của ông lừng lẫy nhứt với những vở diễn viết chung với Hà Triều (khiến cho Hà Triều - Hoa Phượng giống như tên của một người), nhưng không phải chỉ có như vậy. Có những tuồng cải lương Hoa Phượng viết chung với người khác cũng thành công rực rỡ, như: Tuyệt tình ca (viết chung với Ngọc Điệp), Bóng tối và ánh sáng (viết chung với Ngọc Linh)... Hoặc viết riêng một mình, như: Hòn đảo thần Vệ Nữ, Trường tương tư...


Cặp soạn giả Hà Triều - Hoa Phượng


Và không chỉ là cải lương, Hoa Phượng còn viết cả kịch nữa. Đó là vở kịch Sông dài ông viết cho đoàn Thẩm Thúy Hằng. Vở kịch này rất được yêu thích, sau này được chuyển thể thành cải lương, và gần đây được dựng thành phim truyền hình nhiều tập. Tui xin được lan man một chút về vở Sông dài này.


Phim truyền hình Sông dài


Nội dung vở kịch Sông dài kể về chuyện tình của đôi trai gái quê, nàng là Lượm - bị mù từ thuở bé, và chàng là Niễng - bị thọt chân và nám mặt. Dù qua bao trắc trở nhưng cuộc tình đôi lứa vẫn thủy chung son sắt, như câu ca dao:


Sông dài con cá lội biệt tăm

Phải duyên phu phụ, ngàn năm em vẫn chờ


Làng quê trong câu chuyện được gọi là Vĩnh TrạchVậy thôi, không thêm chi tiết nào nữa hết! Nào giờ khi xem Sông dài tui vẫn nghĩ Vĩnh Trạch là một cái tên do tác giả tưởng tượng ra. Nó không cần có thật, miễn người xem hiểu nó là một vùng quê miền Tây Nam bộ là được.


Một cánh đồng lúa mênh mông ở Vĩnh Trạch. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên.


Thế nhưng sau này tui biết được Vĩnh Trạch là một địa danh có thật. Đó là xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Quê của Hoa Phượng  Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, chính ông đã đưa vùng đất quê hương của mình vào trong tác phẩm. Con sông dài ở đây là con rạch Long Xuyên, kéo dài từ An Giang (quê hương của Hoa Phượng) đến tận Kiên Giang (quê hương của Hà Triều). (Đến đây, tui lại tự hỏi: liệu câu chuyện tình Lượm - Niễng trong Sông dài có phải là một câu chuyện có thật mà Hoa Phượng đã chứng kiến khi còn ở quê nhà không nhỉ?)


Vĩnh Trạch cách thành phố Long Xuyên chỉ khoảng 15 km, đi theo tỉnh lộ 943. Tui đã nhiều lần đến thị trấn Núi Sập của huyện Thoại Sơn, đều đi qua nơi này. Tiếc rằng tất cả những lần ấy đều đi lướt qua mà không dừng lại để có một chút cảm xúc: Đây là nơi phát sinh mối tình Lượm - Niễng trong Sông dài. Đây là sinh quán của soạn giả cải lương nổi tiếng Hoa Phượng.


An Giang rất tự hào về người con của mình là soạn giả Hoa Phượng, người đã có những đóng góp to lớn cho cải lương Việt NamSách Kỷ lục An Giang (2009) ghi nhận rằng ông là người viết nhiều tuồng cài lương nhất tỉnh.


Ở nước ngoài, có nhiều địa điểm trong phim ảnh trở thành điểm tham quan nổi tiếng. Với một tác phẩm sống cùng năm tháng như Sông dài, và một soạn giả tài hoa như Hoa Phượng, tui nghĩ rằng nhắc lại địa danh xã Vĩnh Trạch, huyện Thoại Sơn để nếu ai có dịp qua đó dừng chân tưởng nhớ cũng là điều đáng làm, phải không bạn?


Phạm Hoài Nhân

Người bán “thuyền trăng Hàn Mặc Tử” giữa đời thật

đăng 21:10, 27 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nhắc đến làng phong Quy Hòa, chắc chắn ai cũng sẽ nhớ đến thi sĩ Hàn Mặc Tử, bởi nơi đây ông đã sống những ngày tháng cuối đời cùng căn bệnh phong.


“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó. Có chở trăng về kịp tối nay”. Những tưởng hình ảnh thuyền trăng đầy thơ mộng chỉ có trong những câu thở của thi sĩ Hàn Mặc Tử. 

Nhưng ở làng phong Quy Hòa (phường Ghềnh Ráng, TP.Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) – nơi thi sĩ sống những năm cuối đời, ngư dân Lê Văn Chín (51 tuổi) đã làm ra những chiếc “thuyền trăng Hàn Mặc Tử”, được những ngư dân Quy Hòa ưa chuộng, cũng khiến du khách trong và ngoài tỉnh khi đến Quy Hòa thích thú tìm hiểu.

Một góc làng phong Quy Hòa.


Cũng bị bệnh phong, nhưng may mắn tay chân của ông Lê Văn Chín vẫn còn nguyên vẹn, nên ông dễ dàng trong công việc và sinh hoạt hằng này. Ông Chín nhớ lại, vào năm 1981, ở miền biển Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận), ông phát hiện tay chân của mình mất cảm giác, sau đó những cục cứng dần xuất hiện trên cơ thể. 

Biết con mình mắc bệnh phong nên gia đình đã đưa ông Chín ra Quy Hòa để điều trị. Lúc đó, trong ông luôn mang một mặc cảm rất lớn, nhìn mọi người xung quanh để ý, có người còn tránh xa.

Những chiếc “thuyền trăng” có hình bán nguyệt giống mặt trăng non.


Rồi kì tích xuất hiện, sau năm năm tích cực điều trị, ông hoàn toàn khỏi bệnh hoàn toàn. Rồi duyên nợ của ông với làng phong Quy Hòa vẫn chưa dứt. Năm 1988, vì thương người đàn ông tốt bụng chịu thương chịu khó nên bà Võ Thị Thủy (một người dân ở phường Ghềnh Ráng) quyết định về sống chung một nhà với ông Chín.

Sau khi cưới vợ, ông Chín có một thời gian về miền biển Phan Thiết đi biển với anh em, nhưng những ngày tháng dài sống lênh đênh trên biển xa xôi, vất vả nên ông quyết định ra lại Quy Hòa để gần vợ, gần con. 

Ở làng phong, ngoài nghề đi biển, ông Chín sẵn có nghề nên làm những chiếc thuyền bằng nan tre để bán cho bà con ở đây đi đánh bắt hải sản ven bờ. Tuy nhiên, thuyền làm bằng nan tre mỗi năm phải trét dầu rái 2 lần mới tiếp tục sử dụng và tuổi thọ cũng chỉ từ 3 - 4 năm. Việc di chuyển thuyền cũng khó khăn, bởi thuyền nặng vì nan tre nhiều và lượng dầu rái trét lên cũng rất nhiều.

Ông Chín đặt tên là “thuyền trăng Hàn Mặc Tử”, để tưởng nhớ đến người thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh.


6 năm trước, trong một lần tình cờ ra vào Quy Nhơn, thấy các phuy nhựa bị thải ra ở các khu công nghiệp nhiều quá, ông Chín mới nảy ra ý tưởng làm được thuyền từ các thùng nhựa này. Nghỉ làm ngay, ông mạnh dạn mua 10 thùng nhựa về rồi tự mình nghiên cứu. 

Thành quả đến ngay sau đó, chiếc thuyền đầu tiên ra đời trong niềm vui sướng tột cùng. Tiếp đó, ông dùng luôn thuyền mình là để đi đánh bắt gần bờ. Thấy thuyền đi lại tốt, lại bền nên chỉ một thời gian sau, mọi người đổ xô đặt mua. Ông đặt tên là “thuyền trăng Hàn Mặc Tử”, để tưởng nhớ đến người thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh từng sinh sống tại làng phong này. 

Những chiếc “thuyền trăng” có nguyên liệu chính là thùng phuy, có hình bán nguyệt giống mặt trăng non. Ban đầu, ông nghiên cứu làm ra 3 kiểu thuyền, gồm: thuyền nhọn, thuyền nôi, thuyền nôi mũi cao. Loại nào cũng dài 4m, rộng 1,2m. Mỗi chiếc tốn hết 7 thùng phuy loại 200 lít cùng với một số nguyên liệu phụ như cước, ốc vít, tre… Với giá thành khoảng 6.5 triệu/chiếc, ông Chín đã bán được khoảng 50 thuyền còn bà con ở TP. Quy Nhơn. Nhờ “thuyền trăng”, kinh tế gia đình ông Chín cũng khấm khá lên hẳn.

Hiện ông Chín đã bán được khoảng 50 thuyền cho bà con ở TP. Quy Nhơn.


Hiện nay ở Bình Định nói chung, Quy Nhơn nói riêng đang trên đà phát triển du lịch, trong đó có làng phong Quy Hòa. Vậy nên, ông Chín hy vọng những chiếc thuyền làm bằng thùng phuy của mình không chỉ giúp bà con làng phong thuận tiện hơn trong việc đánh bắt hải sản ven bờ, mà còn có thể tham gia phục vụ du lịch. 

“Nếu những chiếc thuyền làm bằng thùng phuy có thể tham gia chở khách du lịch tham quan biển Quy Nhơn thì con em bệnh nhân phong sẽ có công ăn việc làm. Như vậy, điều kiện kinh tế được nâng lên, cuộc sống sẽ đỡ vất vả hơn” - ông Chín tâm sự.

NGUYỄN VÂN

Độc đáo cổng nhà làm từ 2 cây duối cổ thụ ở Nghệ An

đăng 20:26, 27 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nhờ sự kỳ công trong chăm sóc cắt tỉa, một gia đình ở xã Nam Lĩnh, huyện Nam Đàn đã biến cây duối cảnh (hay còn gọi là cây giới) thành một chiếc cổng độc đáo. 

Từ đầu làng đã nhìn thấy chiếc cổng xanh độc đáo của nhà anh Nguyễn Xuân Ngọc (31 tuổi) ở xóm 6, xã Nam Lĩnh. 


Cổng được làm nên từ 2 cây duối cổ thụ, kết lại với nhau, cắt tỉa qua hàng chục năm. 


Cổng xanh cao 5,5m (tính từ mặt đất lên đỉnh), trông như một mái nhà hình hộp có chiều dài mặt đáy là 7m, chiều ngang là 2,5m, chiều cao là 3m. Bà Nguyễn Thị An (68 tuổi) mẹ anh Ngọc cho biết, hai cây duối này có từ thời ông nội của anh Ngọc. Ngày xưa trong vườn nhà bà có nhiều cây duối, nhưng sau đã chặt hết chỉ để lại hai cây làm cổng. Theo bà An, cổng xanh đã được cắt tỉa gần 30 năm nay. Khi chồng bà mất, anh Ngọc, người con trai thứ 2 mới kế tục công việc cắt tỉa cây của bố. 


Được biết, ngày trước bố anh Ngọc đã từng hành nghề cắt tóc dưới mái cổng xanh này. 


Hai gốc cây duối có kích thước không đều nhau, gốc cây lớn hơn có chu vi khoảng 1,2m, nhiều u bạnh và có lỗ xuyên qua thân cây. 


Mặt dưới của cổng xanh là những tán duối mọc xen nhau xòe ra như những tay ô. 


Để cắt tỉa chiếc cổng này, anh Ngọc đã mua sắm 1 chiếc thang dài 5m và 1 cây liềm chuyên dụng. Theo anh Ngọc, do đứng trên thang cầm kéo rất khó cắt, nên dùng liềm sảy dễ hơn. Trung bình mỗi tháng anh phải cắt tỉa cổng 1 lần, mùa hè thì cắt nhiều lần hơn mùa đông, đặc biệt dịp đầu xuân phải cắt tỉa 2 - 3 lần/ tháng. Cổng xanh là 1 hình hộp, tổng diện tích anh Ngọc phải cắt tỉa 1 lần khoảng 70 m2. "Nếu trời nắng, mỗi mình tôi làm, có khi cả ngày mới xong" - anh Ngọc kể. 


Anh Ngọc chia sẻ, chiếc cổng này thời gian gần đây đã có nhiều người đã đến hỏi mua, trả giá nhưng anh Ngọc vẫn chưa đồng ý bán. 


Huy Thư

Tre xanh xanh tự bao giờ

đăng 07:02, 20 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tôi đến Làng tre Phú An 2 lần, cách nhau đúng 10 năm. Lần thứ nhất vào tháng 8/2008, khi khu du lịch sinh thái làng tre Phú An mới chính thức mở cửa và phục vụ du khách được 4 tháng. Lần thứ hai vào ngày cuối cùng của năm 2018.


Lý do thôi thúc tôi đến Làng tre Phú An lần đầu là bởi câu chuyện có phần như... cổ tích của người lập ra nó: Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh. Đáng tiếc là cả 2 lần đến đây tôi đều không có dịp gặp người phụ nữ đáng kính này.



Làng tre Phú An - 2008


Làng tre Phú An là một điểm đến tuyệt vời với khung cảnh kỳ ảo của những rặng tre bát ngát, thế nhưng tôi nghĩ rằng sẽ là một thiếu sót lớn nếu chỉ thưởng ngoạn khung cảnh ở đây mà không nói về cội nguồn phát sinh ra nó. Vì vậy tôi xin phép góp nhặt thông tin để nói về sự hình thành Làng tre Phú An và người sinh ra nó: Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh.


Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh tốt nghiệp ngành sinh lý thực vật Đại học quốc gia Sài Gòn năm 1974, bà lấy bằng tiến sĩ về khoa học môi trường tại Đại học Paris 12 (Pháp) năm 1994. 

Bà tâm sự: "Rất nhiều người thắc mắc vì sao tôi từ bỏ cuộc sống an nhàn cùng gia đình, con cái ở nước ngoài để về đây lăn lộn với Làng tre. Ngay cả tôi cũng không thể lý giải được. Có lẽ vì tôi mê tre quá. Với tôi, cây tre không chỉ là một loài thực vật vô tri vô giác, mà gần như là một thực thể sống, biết yêu thương và vui buồn. Vì vậy, tôi đã đưa những giống tre từ cao nguyên về trồng ở trên vùng đất đắp cao hay trồng gần những chiếc cầu khỉ của miền Tây và làm thêm dòng kênh nhân tạo để cây… đỡ nhớ nhà!"


Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh


Câu chuyện hình thành làng tre Phú An được bà kể lại như sau:


Vào năm 1999, trong một lần về thăm quê, xã Phú An, Bình Dương. bà con gặp lại tôi, trách móc: "Học cao, từng là tiến sĩ ở bên Tây về mà sao không chịu làm gì đó có lợi cho quê mình?”. Câu nói bất ngờ của những người dân quê khiến tôi luôn trăn trở “cần phải làm điều gì đó cho quê nhà”. Một lần lang thang dạo quanh xóm, tôi thấy vùng đất quê mình có khá nhiều tre. Ý tưởng hình thành làng tre khiến tôi bắt tay viết dự án “Xóa đói giảm nghèo trên cơ sở bảo tồn tài nguyên thiên nhiên”, với mục đích chính nhằm bảo tồn sự đa dạng sinh học của cây tre Việt, cùng nhiều loài cây bị đe dọa tuyệt chủng khác ở Đông Nam Bộ. Ban đầu, xã duyệt cấp đất, người dân địa phương đóng góp được 10 triệu đồng. Dĩ nhiên để thực hiện một bảo tàng tre thì số tiền ấy chả thấm vào đâu. Tôi thử “gõ cửa” Lãnh sự quán Pháp tại TP. Hồ Chí Minh với mong muốn được hỗ trợ thêm chút ít. Họ tư vấn, dự án quá nhỏ nên phải viết lại dự án mang tầm quốc tế, kêu gọi tài trợ của vùng Rhône Alpes (Pháp). Khi dự án tạm hoàn tất thì nước Pháp bầu cử. Chính quyền mới không muốn tiếp tục thực hiện dự án nên cử ông Jean Philipe Bayon - Phó Chủ tịch vùng Rhône Alpes sang Việt Nam với ý định bác bỏ việc tài trợ. Thế nhưng khi đến làng, nhìn thấy những bụi tre quý hiếm được chúng tôi sưu tầm, ông thay đổi ý định. Sau đó, tôi được mời sang Rhône Alpes trình bày ý tưởng làng tre. Năm 2003, Hội đồng vùng Rhones Alpes quyết định tài trợ cho dự án 596.000 Euros (khoảng 13 tỷ đồng) trong vòng 6 năm (2003-2008). Kể từ đó, dự án chính thức được hình thành bởi sự hợp tác giữa 4 đơn vị là tỉnh Bình Dương, ĐH Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh, vùng Rhône Alpes và Vườn thiên nhiên Pilat – cộng hòa Pháp. Ngoài việc vùng Rhône Alpes ủng hộ tài trợ, tỉnh Bình Dương quyết định cấp 10 ha đất tại xã Phú An và đóng góp thêm khoản kinh phí 1,5 tỷ đồng để xây dựng nên làng tre Phú An.


Giải thưởng Xích đạo cho Làng tre Phú An


Trung tâm nghiên cứu bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên Làng tre Phú An ra đời từ năm 1999, nhưng đến tháng 4 năm 2008 khu du lịch sinh thái làng tre Phú An mới chính thức mở cửa và phục vụ du khách. 


Làng tre Phú An đã được trao giải thưởng Xích Đạo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) về bảo vệ đa dạng sinh học, phục vụ cho phát triển cộng đồng và ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2010.Ngày 14/5/2016, Làng Tre Phú An được công nhận là thành viên của Hiệp hội các Vườn thực vật nói tiếng Pháp trên thế giới. Cá nhân bà Diệp thị Mỹ Hạnh đươc Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Cành cọ Hàn lâm, vì sự nghiệp giáo dục và bảo tồn đa dạng sinh học năm 2009.

Hiện nay, Làng tre Phú An là nơi tập trung khoảng 1.500 bụi tre với hơn 200 loài khác nhau và được xem là trung tâm bảo tồn tre lớn nhất Đông Nam Á.


Mời các bạn xem thêm clip này để hiểu thêm về Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh và Làng tre Phú An nhé.



Bạn có nghĩ rằng người phụ nữ thôn quê tóc bạc, đã gần thất thập mà vẫn rất cần cù lam lũ với cây tre này là một tiến sĩ khoa học đã từng được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Cành cọ Hàn lâm hay không?


Nhiều người cho là việc thu nhặt từng bụi tre trên khắp đất nước để hình thành một Làng tre Phú An quy mô lớn như hiện nay là một việc phi thường đối với một phụ nữ sắp bước sang tuổi thất tuần như Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh. Bà kể:

  • Có lẽ chỉ có niềm đam mê mới giúp tôi làm được điều đó. Hễ nghe ở đâu có giống tre mà làng Phú An chưa có là tôi tìm đến ngay. Tôi di chuyển bằng bất cứ phương tiện nào tìm được, từ xe ôm đến xe cải tiến, xuồng, xe tải… Lên miền núi thì ráng đi bộ, leo núi. Tôi vẫn nhớ những chuyến lội bộ không mỏi để tìm tre vuông ở miền núi phía Bắc, tre dây ở Thanh Hóa, tre gai ở đỉnh Fansipan.


Đi trong Làng tre với bóng tre rợp mát, ta nghe như vọng đâu đây câu thơ của Nguyễn Duy:


Tre xanh

Xanh tự bao giờ

Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh


Và bây giờ mời bạn hãy bước vào Làng tre Phú An... (mời vậy thôi,  chớ lúc nào rãnh tui mới viết tiếp).


Phạm Hoài Nhân

1-10 of 18