Con người và sự kiện

Bài mới

  • Tre xanh xanh tự bao giờ Tôi đến Làng tre Phú An 2 lần, cách nhau đúng 10 năm. Lần thứ nhất vào tháng 8/2008, khi khu du lịch sinh thái làng tre Phú An ...
    Được đăng 07:02, 20 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Quán Láng - sông Bàu Ráng, xưa và nay Cách trung tâm TP.Quảng Ngãi tầm 4 cây số trên tỉnh lộ Quảng Ngãi – Thu Xà có một ngã tư nơi giao nhau với đường cắt ngang liên huyện ...
    Được đăng 19:55, 19 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện bên ngôi nhà hơn trăm năm tuổi Di tích lịch sử nhà ông Nguyễn Chí và nhà thờ họ Nguyễn nằm bên bờ nam sông Vệ, thuộc thôn Nghĩa Lập, xã Đức Hiệp (Mộ Đức), được xây ...
    Được đăng 19:50, 19 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chiêm ngưỡng những cây di sản Việt Nam ở Côn Đảo Đến Côn Đảo, ngoài tham quan một số di tích như hệ thống nhà tù Côn Đảo, cầu tàu 914, sân bay Cỏ Ống, nghĩa trang Hàng Dương, nghĩa trang ...
    Được đăng 05:27, 16 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • “Cây đa di sản” hơn 300 tuổi có chu vi lớn nhất Việt Nam Cây đa ở đền Thượng, thành phố Lào Cai có tuổi đời trên 300 năm, chu vi 44m, cao hơn 36m được công nhận là “Cây di sản Việt Nam ...
    Được đăng 06:41, 14 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 20. Xem nội dung khác »


Tre xanh xanh tự bao giờ

đăng 07:02, 20 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tôi đến Làng tre Phú An 2 lần, cách nhau đúng 10 năm. Lần thứ nhất vào tháng 8/2008, khi khu du lịch sinh thái làng tre Phú An mới chính thức mở cửa và phục vụ du khách được 4 tháng. Lần thứ hai vào ngày cuối cùng của năm 2018.


Lý do thôi thúc tôi đến Làng tre Phú An lần đầu là bởi câu chuyện có phần như... cổ tích của người lập ra nó: Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh. Đáng tiếc là cả 2 lần đến đây tôi đều không có dịp gặp người phụ nữ đáng kính này.



Làng tre Phú An - 2008


Làng tre Phú An là một điểm đến tuyệt vời với khung cảnh kỳ ảo của những rặng tre bát ngát, thế nhưng tôi nghĩ rằng sẽ là một thiếu sót lớn nếu chỉ thưởng ngoạn khung cảnh ở đây mà không nói về cội nguồn phát sinh ra nó. Vì vậy tôi xin phép góp nhặt thông tin để nói về sự hình thành Làng tre Phú An và người sinh ra nó: Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh.


Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh tốt nghiệp ngành sinh lý thực vật Đại học quốc gia Sài Gòn năm 1974, bà lấy bằng tiến sĩ về khoa học môi trường tại Đại học Paris 12 (Pháp) năm 1994. 

Bà tâm sự: "Rất nhiều người thắc mắc vì sao tôi từ bỏ cuộc sống an nhàn cùng gia đình, con cái ở nước ngoài để về đây lăn lộn với Làng tre. Ngay cả tôi cũng không thể lý giải được. Có lẽ vì tôi mê tre quá. Với tôi, cây tre không chỉ là một loài thực vật vô tri vô giác, mà gần như là một thực thể sống, biết yêu thương và vui buồn. Vì vậy, tôi đã đưa những giống tre từ cao nguyên về trồng ở trên vùng đất đắp cao hay trồng gần những chiếc cầu khỉ của miền Tây và làm thêm dòng kênh nhân tạo để cây… đỡ nhớ nhà!"


Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh


Câu chuyện hình thành làng tre Phú An được bà kể lại như sau:


Vào năm 1999, trong một lần về thăm quê, xã Phú An, Bình Dương. bà con gặp lại tôi, trách móc: "Học cao, từng là tiến sĩ ở bên Tây về mà sao không chịu làm gì đó có lợi cho quê mình?”. Câu nói bất ngờ của những người dân quê khiến tôi luôn trăn trở “cần phải làm điều gì đó cho quê nhà”. Một lần lang thang dạo quanh xóm, tôi thấy vùng đất quê mình có khá nhiều tre. Ý tưởng hình thành làng tre khiến tôi bắt tay viết dự án “Xóa đói giảm nghèo trên cơ sở bảo tồn tài nguyên thiên nhiên”, với mục đích chính nhằm bảo tồn sự đa dạng sinh học của cây tre Việt, cùng nhiều loài cây bị đe dọa tuyệt chủng khác ở Đông Nam Bộ. Ban đầu, xã duyệt cấp đất, người dân địa phương đóng góp được 10 triệu đồng. Dĩ nhiên để thực hiện một bảo tàng tre thì số tiền ấy chả thấm vào đâu. Tôi thử “gõ cửa” Lãnh sự quán Pháp tại TP. Hồ Chí Minh với mong muốn được hỗ trợ thêm chút ít. Họ tư vấn, dự án quá nhỏ nên phải viết lại dự án mang tầm quốc tế, kêu gọi tài trợ của vùng Rhône Alpes (Pháp). Khi dự án tạm hoàn tất thì nước Pháp bầu cử. Chính quyền mới không muốn tiếp tục thực hiện dự án nên cử ông Jean Philipe Bayon - Phó Chủ tịch vùng Rhône Alpes sang Việt Nam với ý định bác bỏ việc tài trợ. Thế nhưng khi đến làng, nhìn thấy những bụi tre quý hiếm được chúng tôi sưu tầm, ông thay đổi ý định. Sau đó, tôi được mời sang Rhône Alpes trình bày ý tưởng làng tre. Năm 2003, Hội đồng vùng Rhones Alpes quyết định tài trợ cho dự án 596.000 Euros (khoảng 13 tỷ đồng) trong vòng 6 năm (2003-2008). Kể từ đó, dự án chính thức được hình thành bởi sự hợp tác giữa 4 đơn vị là tỉnh Bình Dương, ĐH Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh, vùng Rhône Alpes và Vườn thiên nhiên Pilat – cộng hòa Pháp. Ngoài việc vùng Rhône Alpes ủng hộ tài trợ, tỉnh Bình Dương quyết định cấp 10 ha đất tại xã Phú An và đóng góp thêm khoản kinh phí 1,5 tỷ đồng để xây dựng nên làng tre Phú An.


Giải thưởng Xích đạo cho Làng tre Phú An


Trung tâm nghiên cứu bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên Làng tre Phú An ra đời từ năm 1999, nhưng đến tháng 4 năm 2008 khu du lịch sinh thái làng tre Phú An mới chính thức mở cửa và phục vụ du khách. 


Làng tre Phú An đã được trao giải thưởng Xích Đạo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) về bảo vệ đa dạng sinh học, phục vụ cho phát triển cộng đồng và ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2010.Ngày 14/5/2016, Làng Tre Phú An được công nhận là thành viên của Hiệp hội các Vườn thực vật nói tiếng Pháp trên thế giới. Cá nhân bà Diệp thị Mỹ Hạnh đươc Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Cành cọ Hàn lâm, vì sự nghiệp giáo dục và bảo tồn đa dạng sinh học năm 2009.

Hiện nay, Làng tre Phú An là nơi tập trung khoảng 1.500 bụi tre với hơn 200 loài khác nhau và được xem là trung tâm bảo tồn tre lớn nhất Đông Nam Á.


Mời các bạn xem thêm clip này để hiểu thêm về Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh và Làng tre Phú An nhé.



Bạn có nghĩ rằng người phụ nữ thôn quê tóc bạc, đã gần thất thập mà vẫn rất cần cù lam lũ với cây tre này là một tiến sĩ khoa học đã từng được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Cành cọ Hàn lâm hay không?


Nhiều người cho là việc thu nhặt từng bụi tre trên khắp đất nước để hình thành một Làng tre Phú An quy mô lớn như hiện nay là một việc phi thường đối với một phụ nữ sắp bước sang tuổi thất tuần như Tiến sĩ Diệp thị Mỹ Hạnh. Bà kể:

  • Có lẽ chỉ có niềm đam mê mới giúp tôi làm được điều đó. Hễ nghe ở đâu có giống tre mà làng Phú An chưa có là tôi tìm đến ngay. Tôi di chuyển bằng bất cứ phương tiện nào tìm được, từ xe ôm đến xe cải tiến, xuồng, xe tải… Lên miền núi thì ráng đi bộ, leo núi. Tôi vẫn nhớ những chuyến lội bộ không mỏi để tìm tre vuông ở miền núi phía Bắc, tre dây ở Thanh Hóa, tre gai ở đỉnh Fansipan.


Đi trong Làng tre với bóng tre rợp mát, ta nghe như vọng đâu đây câu thơ của Nguyễn Duy:


Tre xanh

Xanh tự bao giờ

Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh


Và bây giờ mời bạn hãy bước vào Làng tre Phú An... (mời vậy thôi,  chớ lúc nào rãnh tui mới viết tiếp).


Phạm Hoài Nhân

Quán Láng - sông Bàu Ráng, xưa và nay

đăng 19:55, 19 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cách trung tâm TP.Quảng Ngãi tầm 4 cây số trên tỉnh lộ Quảng Ngãi – Thu Xà có một ngã tư nơi giao nhau với đường cắt ngang liên huyện Phú Thọ - Tư Nghĩa, đó là ngã tư Quán Láng. Cách không xa về phía nam trên tuyến đường liên huyện ấy có sông Bàu Ráng. Cả hai địa danh trải qua bao thay đổi ghi lại sự phát triển của một vùng quê đầy khởi sắc.

Nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, phía đông của trung tâm tỉnh lỵ Quảng Ngãi có hai nơi thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phát triển, đó là Thu Xà (Nghĩa Hòa - Tư Nghĩa) và Phú Thọ (Nghĩa Phú - TP.Quảng Ngãi ngày nay). Ngã tư Quán Láng nằm khoảng giữa tuyến Tỉnh lộ Quảng Ngãi - Thu Xà và tuyến liên xã, nay là liên huyện Phú Thọ - Trung tâm Hành chính huyện Tư Nghĩa. Cho nên nơi đây có vị trí giao thương thuận lợi với các vùng nông thôn lân cận.

Theo người dân địa phương, thì tên Quán Láng có gốc từ vợ chồng ông Láng làm quán bán bánh bèo, một loại bánh làm từ bột gạo xay đổ vào chén, hấp chín, ăn với nhân gồm hỗn hợp thịt, tôm băm, mỡ...

Đời sống nông nghiệp trồng lúa nước, hằng ngày, hay vào vụ mùa tháng ba, tháng tám, món bánh bèo dân dã được người quanh vùng đến mua về hoặc ăn tại quán. Dần dà, ngã tư có vợ chồng ông Láng mở quán bán bánh bèo trở thành tên ngã tư Quán Láng! 

Với vị trí là đầu mối giao thương trong vùng, nơi đây đã xuất hiện một chợ nhỏ ven đường, có che một ít lán trại tạm cho những người bán hàng suốt ngày, bán nước chè xanh, còn lại chợ nhóm vào buổi sáng. 

Tính chất của chợ là mua bán, trao đổi hàng hóa nông sản như lúa bắp, rau quả, một ít nhu yếu phẩm, thực phẩm, vật dụng hàng gia đình như rổ rá, dây dừa... Người làm nghề sông biển thì mang tôm cá, don, ốc hến đến bán và mua về lúa gạo. Người làm nông thì bán nông sản và mua về những thứ cần thiết khác. Rau quả bán ở chợ lúc nào cũng tươi ngon... 

Sông Quán Láng. 


Cách chợ Quán Láng khoảng nửa cây số về phía nam là sông Bàu Ráng, một phần của sông Bàu Giang, dài non cây số từ vũng Cao Thường đến đập Phúc Đường, chảy qua địa phận giáp ranh hai xã Nghĩa Hà (TP.Quảng Ngãi) và Nghĩa Thương (Tư Nghĩa). Đây là nguồn nước sông Văn (sông Giăng) từ Nghĩa Hành chảy qua nhiều làng xã. 

Những đập nước lớn ngăn dòng phục vụ cho việc tưới ruộng lúa, hoa màu như ở vùng đất Sáu Xã thuộc Hành Nhân (Nghĩa Hành), đập Ba Điện (Ba La - Điện An) thuộc Nghĩa Dõng (TP.Quảng Ngãi), đập Phúc Đường nơi giáp ranh 3 xã Nghĩa Hà (TP.Quảng Ngãi), Nghĩa Thương và Nghĩa Hòa thuộc huyện Tư Nghĩa.

Riêng đập Phúc Đường giữ nước tưới cho cánh đồng Bảy Mẫu, xã Nghĩa Hòa và là nguồn nước tát, máy bơm cho ruộng đất hai bên sông. Mùa nước kiệt, đập Phúc Đường góp phần ngăn mặn xâm nhập ruộng đồng và giữ cho sông Bàu Ráng đầy nước. Những tên dân gian bao giờ cũng để lại cho cuộc sống điều lý thú, sông Bàu Ráng là khúc sông thẳng chảy theo hướng đông tây. 

Khúc sông này chảy giữa một vùng đồng trũng, xưa kia khi rừng đầu nguồn còn nguyên sơ phủ kín, nguồn nước sông Văn đầy ắp, thì không chỉ sông Bàu Ráng mà vùng trũng hai bên sông cũng đầy ắp nước. Lúc chiều xuống, trước và giữa hoàng hôn, mặt trời chiếu thẳng suốt chiều dài từ đầu đến cuối khúc sông và vùng trũng dọc hai bờ sông, mặt nước phản chiếu hắt lên sáng rực cả một vùng, có khi pha ửng màu ráng đỏ. Bởi thế mà dân gian đã đặt cho khúc sông hiền hòa này cái tên sông Bàu Ráng.

Cứ thế, khu ngã tư Quán Láng lúc thịnh, lúc trầm đến khi Tỉnh lộ Quảng Ngãi - Thu Xà được tu sửa nâng cấp, tuyến đường liên huyện Phú Thọ - Trung tâm Hành chính huyện Tư Nghĩa được thảm nhựa. Chợ Quán Láng được quy hoạch hẳn hoi thành khu mua bán đủ các mặt hàng hóa của một chợ nông thôn. Người ta có thể đến mua sắm thông thường mà không phải đi xa. 

Xung quanh ngã tư Quán Láng bán kính nửa cây số trên hai trục đường chính nhiều hộ dân bản xứ hay nơi khác hội tụ về mua đất làm nhà, lập hiệu mua bán, hành nghề dân sinh như hiệu thuốc tây, thuốc bắc, bán vật liệu xây dựng, bán tạp hóa, sửa xe, nghề mộc... kẻ mua, người bán đông đúc.

Mấy chục năm về trước muốn qua sông Bàu Ráng phải đi đò, giờ đây đã có cầu bê tông kiên cố chịu trọng tải lớn bắc ngang. Nhờ vậy, tuyến đường liên huyện từ vùng cửa Đại Cổ Lũy, qua ngã tư Quán Láng, chợ Điện An (xã Nghĩa Thương) lên Trung tâm Hành chính huyện Tư Nghĩa, giáp Quốc lộ 1 luôn tấp nập người đi lại và xe đủ cỡ lưu thông. 

Kinh tế cả một vùng phát triển, bên kia sông Bàu Ráng không xa về phía nam là chợ Điện An cũng mua bán không kém phần nhộn nhịp. Khu Quán Láng với cái tên có từ nguồn gốc dân gian ấy ngày nay đông vui, là địa điểm thương mại dịch vụ của một vùng quê, dẫu chợ Quán Láng cần được nâng cấp khang trang hơn để đáp ứng nhu cầu mua bán. Thế đó, nét đổi thay của làng mạc, dân cư và cuộc sống hai bên dòng sông nhuộm ráng nắng chiều giờ càng được nhiều nơi biết đến! 

Bài, ảnh: Bùi Văn Tạo

Chuyện bên ngôi nhà hơn trăm năm tuổi

đăng 19:50, 19 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Di tích lịch sử nhà ông Nguyễn Chí và nhà thờ họ Nguyễn nằm bên bờ nam sông Vệ, thuộc thôn Nghĩa Lập, xã Đức Hiệp (Mộ Đức), được xây dựng đã hơn trăm năm. Đây là nơi không chỉ lưu lại kiến trúc văn hóa cổ xưa, ghi dấu về một dòng họ có truyền thống yêu nước, đức độ, mà còn là nơi sinh thân mẫu của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Ngôi nhà đi cùng lịch sử

Nhà thờ họ Nguyễn và di tích lịch sử nhà ông Nguyễn Chí nằm cạnh nhau bên những hàng cau xanh mướt. Từ cổng ngõ, tường rào đến ngôi nhà đều chạm trổ công phu. Phía trên cổng ngõ có khắc chữ nho, trong nhà có bức hoành phi câu đối mang ý nghĩa giáo dục con cháu tưởng nhớ về cội nguồn, ước mong dòng họ phồn thịnh và con cháu thảo hiền...

Ông Nguyễn Ngô (83 tuổi), cháu đích tôn của họ Nguyễn, kể: Từ nhỏ tôi đã nghe cha nói rõ về lai lịch của ngôi nhà. Nó được tạo dựng vào năm Mậu Tuất (1890) từ đôi tay của ông cố Nguyễn Thiện để thờ thủy tổ dòng họ Nguyễn. Ngày đó, để tạo dựng được ngôi nhà rường truyền thống, chạm khắc tinh xảo phải mất cả năm trời. Trải qua hàng trăm năm, ngôi nhà tuy đã được trùng tu, nhưng vẫn giữ được nét độc đáo cổ xưa.

Ngôi nhà treo nhiều bức ảnh về những lần Bác Phạm Văn Đồng về thăm quê ngoại. 


Đối với di tích nhà ông Nguyễn Chí được xây dựng từ năm 1890 do ông Hương Bảy (ông nội của ông Nguyễn Chí tạo dựng). Ngôi nhà cũng được xây dựng theo kiểu nhà rường truyền thống, hiện vẫn giữ được bộ khung gỗ chịu lực 8 cột, 4 kèo cùng hệ thống cửa bàn khoa và đồ thờ hương án có giá trị.

Theo sử sách ghi chép lại, nhà thờ họ Nguyễn là nơi ghi dấu của một dòng họ đã có công với nước, khai khẩn lập làng, có truyền thống yêu nước nồng nàn, qua các triều đại có nhiều đời vinh hiển... Nơi đây hiện còn lưu giữ những câu liễn đối; ảnh vẽ chân dung truyền thần của cụ ông và cụ bà Nguyễn Thiện (ông ngoại của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng), cùng với nhiều hiện vật có giá trị.

Về nhà thờ họ Nguyễn, chúng tôi còn được nghe những câu chuyện về thân mẫu của Bác Phạm Văn Đồng... Di tích nhà ông Nguyễn Chí thì gắn liền câu chuyện lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước.

Ngay sau khi chiếm huyện đường Đức Phổ, tại ngôi nhà này, vào ngày 13.10.1930, đồng chí Nguyễn Nghiêm - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, đã chủ trì cuộc họp đề ra quyết định chia Tỉnh ủy làm hai bộ phận phụ trách ở bắc sông Trà và nam sông Trà, nhằm lãnh đạo sát với thực tế.

Cũng tại đây, vào ngày 12.11.1930, Huyện ủy Mộ Đức tổ chức cuộc họp và có quyết định lấy ngày 16.11.1930 là ngày phát động quần chúng đấu tranh trong toàn huyện.


"Nhà thờ họ Nguyễn và Di tích nhà ông Nguyễn Chí nay vẫn còn nguyên vẹn giá  trị văn hóa, kiến trúc cổ xưa. Trải qua hơn trăm năm, những câu chuyện lịch sử, bài học làm người từ thế hệ cha ông gắn liền với hai ngôi nhà này vẫn vẹn nguyên giá trị. Đặc biệt, ngôi nhà là nơi lưu dấu về thân mẫu, người có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách cao đẹp của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Xã mong muốn các cấp, ngành quan tâm tiếp tục đầu tư tôn tạo đường vào; đồng thời đưa nhà thờ họ Nguyễn vào quần thể du lịch Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng để du khách hiểu hơn về nguồn gốc quê nội lẫn quê ngoại của Bác Đồng".

Chủ tịch UBND xã Đức Hiệp HUỲNH VĂN NHƯ


Nhớ về nguồn cội

Cứ mỗi dịp lễ, Tết hay đến kỷ niệm ngày sinh nhật Thủ tướng Phạm Văn Đồng, con cháu của dòng họ Nguyễn ở khắp nơi tề tựu về nhà thờ thắp hương tưởng niệm. Từ ngôi nhà này, những câu chuyện lịch sử của dòng họ, nhân cách sống cao đẹp của cha ông cứ được truyền nhau hết đời này đến đời khác.

Ông Nguyễn Ngô kể: Ngày đó, ông cố của tôi có nhiều ruộng đất, mùa màng bội thu. Có năm dân làng gặp cảnh lụt, thiếu ăn, ông mang gạo, bắp phát khắp nơi. Với những người già yếu, nghèo khổ, ông thường hay động viên, san sẻ.

Ông sống đức độ, nhân từ, được nhiều người trong làng thương yêu. “Chúng tôi lớn lên trong niềm tự hào của dòng họ, nên dù đi đâu cũng nhớ nền nếp gia phong của gia đình, lấy đó làm kim chỉ nam trong cách đối nhân xử thế ở đời", ông Ngô chia sẻ.

Ông Ngô còn cho biết: Trong một lần Bác Đồng về thăm quê nội ở xã Đức Tân, Bác đi thẳng đến giếng nước đầu làng xóm Cây Gạo. Tại đây, ai cũng xúc động khi nghe Bác Đồng giảng giải về mạch nguồn của giếng nước để mỗi người nhớ về tổ tiên. Trước khi ra Hà Nội, Bác Đồng về quê ngoại thắp hương tưởng niệm. Bác rất gần gũi với nhân dân, nhẹ nhàng, giản dị trong cách ăn mặc, giao tiếp.

Ông Nguyễn Chí, cháu nội của ông Hương Bảy - người đang trông nom Di tích nhà ông Nguyễn Chí, tự hào cho biết: "Nghe và chứng kiến những câu chuyện lịch sử về dòng họ, vợ chồng tôi luôn giáo dục con cháu phải noi gương cha ông. Chúng tôi mong câu chuyện về nguồn cội mãi lưu truyền cho các thế hệ mai sau, để luôn tiếp nối truyền thống tốt đẹp của dòng họ".

Bài, ảnh: MAI HẠ

Chiêm ngưỡng những cây di sản Việt Nam ở Côn Đảo

đăng 05:27, 16 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đến Côn Đảo, ngoài tham quan một số di tích như hệ thống nhà tù Côn Đảo, cầu tàu 914, sân bay Cỏ Ống, nghĩa trang Hàng Dương, nghĩa trang Hàng Keo,… du khách cũng không thể bỏ qua việc chiêm ngưỡng những cây cổ thụ ở đây như cây bàng, bằng lăng, thị rừng,… là những cây đã được vinh danh là cây di sản Việt Nam. 

Trong số những cây được vinh danh là cây di sản Việt Nam thì nhiều nhất là cây bàng. Theo giới thiệu, ở Côn Đảo có 53 cây bàng được Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là cây di sản Việt Nam. 

Cụ thể, trên đường Tôn Đức Thắng có 19 cây, trên đường Lê Duẩn có 11 cây, Di tích trại Phú Hải (thuộc hệ thống Nhà tù Côn Đảo) có 8 cây, Di tích trại Phú Sơn (thuộc hệ thống Nhà tù Côn Đảo) có 7 cây, Di tích Nhà Chúa Đảo có 8 cây. 




Những cây bàng cổ thụ ở Côn Đảo. 


Ngược dòng lịch sử, ngày 28/11/1861, thực dân Pháp chiếm Côn Đảo. Ngày 1/2/1862, Thủy sư đô đốc Pháp Bonard ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo, đến nay đã gần 160 năm. Và như thế những cây bàng ở Côn Đảo cũng chừng đó năm tuổi và chủ yếu được trồng trong sân các trại giam và mấy con đường xung quanh trại giam. 

Bàng (tên khoa học là Terminalia catappa) là một loài cây thân gỗ lớn sinh sống ở vùng nhiệt đới, thuộc họ Trâm bầu (Combretaceae). Bàng ở Côn có những cây gốc to 3-4 người ôm không xuể. Bất kể nắng mưa, bão tố, thời tiết khắc nghiệt, bàng Côn Đảo lúc nào cũng xanh tốt, uy nghi. Vì thế, bàng được xem là loại cây biểu tượng của đảo, là hình ảnh phản ánh một thời đau thương của người Việt Nam đã từng bị giam giữ tại “địa ngục trần gian”. 

Theo lời kể của người dân địa phương, bàng là loài cây rất gần gũi, gắn bó với người dân Côn Đảo, đặc biệt là với những người tù bị lưu đày ra Côn Đảo. Lá bàng được những người tù nhặt về cất giấu, lót trên nền đá của trại giam để nằm, mong chống chọi với thời tiết khắc nghiệt; quả bàng và cả những chiếc lá bàng non còn là thức ăn bổ sung dưỡng chất cho người tù chống lại bệnh tật do những ngày trong tù phải ăn uống thiếu thốn, khổ cực…. 

Điều du khách không thể bỏ qua khi đến với Côn Đảo là thưởng thức món hạt bàng đặc trưng của vùng đất này mà không một nơi nào có được. Hạt bàng ăn thơm, có vị ngọt của đường và vị mặn của muối hòa lẫn vị bùi, béo, khiến ai đã thử một lần sẽ không bao giờ quên được. 

Theo giới thiệu của người dân Côn Đảo, ở đây có 2 loại hạt bàng là hạt bàng rang muối và hạt bàng rang với đường, gừng. Hạt bàng là một món quà đặc sản mang đậm dấu ấn Côn Đảo, được tôn vinh là đặc sản của vùng đất này. Muốn có 1kg hạt bàng phải có tới 50kg trái bàng. Trái bàng phơi khô, dùng dao chẻ từng trái một lấy nhân ra, rồi rang sao cho khéo léo để có cho ra lò món mứt này. 

Trải qua hàng trăm năm, dù chống chọi với bao thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên nhưng những cây bàng Côn Đảo vẫn phát triển, vẫn xanh tốt, vẫn tỏa bóng che mát những khoảng không, những con đường. Nhìn bàng Côn Đảo sừng sững, uy nghi, ta lại nhớ đến những người tù dù phải trải qua bao thử thách nghiệt ngã nhưng vẫn kiên trung, bất khuất, đã vượt lên trên tất cả, bền bỉ đấu tranh, giữ trọn khí tiết của người chiến sĩ cộng sản. 


Cây thị rừng ở Côn Đảo. 


Cây bằng lăng 2 người ôm không xuể. 


Ngoài những cây bàng, Côn Đảo còn nhiều cây Bằng lăng, cây thị rừng,… cũng được vinh danh là cây di sản Việt Nam. 

Cao Xuân Lương

“Cây đa di sản” hơn 300 tuổi có chu vi lớn nhất Việt Nam

đăng 06:41, 14 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cây đa ở đền Thượng, thành phố Lào Cai có tuổi đời trên 300 năm, chu vi 44m, cao hơn 36m được công nhận là “Cây di sản Việt Nam”. Đây là cây di sản có chu vi toàn bộ thân cây lớn nhất Việt Nam.

Đền Thượng nằm ở phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Nơi đây thờ Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn, người có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ bờ cõi non sông đất nước.


Ngay bên ngôi đền cổ này có cây đa lông hơn 300 năm. Cây đa này đã được công nhận là "Cây di sản Việt Nam".


"Cây đa di sản" này cao 36m, chu vi 44m và là cây đa có chu vi toàn bộ thân cây lớn nhất Việt Nam.


Cây đa lông có tên khoa học là Ficus Drupacea Thunb, thuộc họ dâu tằm (Moraceae), nguồn gốc tại Đông Nam Á và được phân bổ ở các vùng miền của Việt Nam.


Đa lông là loại cây gỗ lớn cao tới 30 - 35m, tán rộng, thường nhiều thân với rễ phụ; lá đơn mọc cách hình trứng hay trái xoan, phiến lá dày, hai mặt có lông màu vàng nâu hay xám bao phủ.


Ở Việt Nam, cây đa lông thường được trồng ở đình chùa hoặc nơi công cộng để làm cây bóng mát vì có dáng đẹp, dễ trồng, nhanh lớn và tuổi thọ cao.


Cây đa ở đền Thượng có hàng trăm rễ phụ. Sau thời gian dài ăn sâu vào lòng đất, đa số những rễ này đã to lớn làm cho gốc cây đa rộng hàng chục người ôm không hết.


Thời điểm cây đa lông ở đền Thượng được công nhận là "Cây di sản Việt Nam", đây là cây cổ thụ đầu tiên của tỉnh Lào Cai được Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây di sản Việt Nam và là cây thứ 155 trong cả nước được công nhận danh hiệu này.



Cây đa cổ thụ được công nhân là Cây di sản Việt Nam càng làm tăng thêm giá trị lịch sử, văn hóa và môi trường của khu di tích lịch sử đền Thượng - một trong những điểm du lịch tâm linh của Lào Cai thu hút nhiều du khách thập phương.



Cây đa được coi là hiện thân của Thánh mẫu thượng ngàn trong tín ngưỡng của người Việt. Hiện dưới gốc đa vẫn còn ngôi miếu nhỏ có câu đối: "Thụ mộc đa sinh sinh thế thế - Tiên cô hóa hiện hiện linh linh"



Thường một cây để được công nhận là "Cây di sản Việt Nam" phải hội đủ nhiều tiêu chí. Đối với cây tự nhiên phải sống trên 200 năm, cây trồng trên 100 năm; những cây khác phải có giá trị đặc biệt về khoa học, lịch sử, văn hóa hoặc mỹ quan, thuộc dòng cây cảnh độc đáo.



Cây đa ở đền Thượng hội đủ các yếu tố trên khi có tuổi đời trên 300 năm, cây cao to hùng vĩ, có hình dáng đặc sắc, đặc biệt là có giá trị cảnh quan, văn hóa và lịch sử.


Du khách tham quan trầm trồ khen ngợi cây đa hàng trăm năm tuổi có "một không hai" ở Việt Nam.


Thái Bá

Bàn tay tài hoa làm nên thương hiệu 'nón lá bàng'

đăng 21:10, 11 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Những chiếc lá bàng rừng qua đôi bàn tay tài hoa của người đàn ông đam mê sáng tạo nghệ thuật đã làm nên chiếc nón cách điệu ấn tượng.

Ông Võ Ngọc Hùng thực hiện một công đoạn trong quá trình xây khung cho nón lá bàng - Ảnh: AN NHIÊN


Thương hiệu "nón lá bàng" của ông Võ Ngọc Hùng ở kiệt 136 Kim Long (P.Kim Long, TP Huế) như trở nên cuốn hút hơn khi có nhiều du khách tìm đến xem cách ông làm và đặt mua. 

Ông Hùng tự nhận mình có duyên với những nghề liên quan đến sự khéo léo, tỉ mỉ. Ông mưu sinh bằng nghề vẽ tranh, đục đẽo…, rồi tìm đến nghề làm nón lá bàng.

"Tôi vẽ tranh lên gỗ, sau một thời gian dài không có ai mua. Tôi phải tự mình mày mò, kiếm một sản phẩm gì mới, vừa độc đáo, vừa lạ lẫm nhưng phải mang dấu ấn của Huế", ông Hùng nhớ lại.

Cách đây gần năm, xem được đoạn phim nói về nón lá, ông trằn trọc nhiều đêm nghĩ về nguyên liệu để đổi mới cho chiếc nón thoái khỏi phận truyền thống nhưng phải được thị trường chấp nhận, bởi đó không chỉ là đam mê mà còn là miếng cơm manh áo.

Trong rất nhiều công đoạn, việc đánh lá bàng cho ra màu trắng vô cùng công phu, khó khăn - Ảnh: AN NHIÊN


Ông kể: "Tôi lên mạng tìm những đoạn phim để tìm hiểu, mày mò học cách xử lý. Tôi tìm đến rất nhiều loại lá cây, từ lá bồ đề, lá vả, lá môn, lá sakê… nhưng càng thử lại càng thất bại".

Người bạn mách có loại lá bàng, nhưng lá bàng rừng phải lên núi mới tìm được. Không ngại đường xa, theo chỉ dẫn của bạn, ông chạy gần 30km, sau đó đi bộ cả tiếng để vào khu vực rừng thuộc vùng núi Bình Điền (thị xã Hương Trà) để hái những ngọn lá bàng rừng. Có được "bảo bối", ông vội vàng trở về và may mắn lần này ông thành công.

Những ngọn lá được chọn phải đáp ứng tiêu chuẩn có độ già vừa phải, không bị sâu, không rách. Trải qua một quá trình xử lý hóa chất, lớp màu xanh của lá phai nhạt. Ông chảy đánh nhẹ để từng chiếc lá trở dần hiện ra màu trắng, hiện rõ hình xương lá và rồi đưa vào máy ép. 

Với kinh nghiệm thất bại trước đó, ông Hùng cho rằng lá bàng rừng có độ dày cơ bản, bề dài của một chiếc lá có thể kéo dài từ đỉnh nón đến xuống vành cuối cùng.

Mỗi chiếc lá bàng rừng được ông Hùng đưa lên khung nón một cách nhẹ nhàng. Để xây khung cho một chiếc nón cần 15-16 lá. Chỉ có công đoạn cuối cùng - chằm nón, ông thuê chị em trong xóm, những người chuyên chằm thực hiện.

Những chiếc lá bàng rừng qua đôi bàn tay ông Hùng đã trở thành sản phẩm vô cùng ấn tượng - Ảnh: AN NHIÊN


Ngày chiếc nón đầu tiên hoàn tất, nhiều người trong xóm nhỏ bất ngờ. Ai cũng tỏ ra thích thú xin đội thử và chụp ảnh. Chính những bức ảnh ấy sau đó được chia sẻ, làn truyền trên mạng xã hội khiến nhiều người phương xa ngỡ ngàng. Từ đó những cuộc gọi liên tiếp dồn về đặt hàng.

"Tôi vui đến muốn khóc. Không ngờ công sức sao bao nhiêu năm mày mò cuối cùng cũng được thị trường, khách hàng chấp nhận", ông Hùng nói khi bán đi hơn 60 chiếc nón lá đầu tiên với mức giá 450.000 đồng/chiếc.

Niềm vui ấy trở nên ý nghĩa hơn đối với người vợ của ông Hùng, bà Lê Thị Kỳ Ngộ. Mỗi lần chồng thử nghiệm thất bại, bà lại động viên và lận lưng tiền cho ông nghiên cứu. "Có đợt gần như trong nhà hết tiền, không còn cách nào khác tôi chấp nhận bán đi hai chiếc xe đạp đua với giá 30 triệu để ông theo đuổi cuộc chơi", bà Ngộ kể.

Những ngày này, chiếc nón nào vừa "ra lò" có người đặt mua ngay. Nhiều khách hàng vì tò mò cũng đã xin đến tận nơi để trải nghiệm. Tuy hứng thú, nhưng ai khi bắt tay thực hiện từng công đoạn mới hiểu được sự gian nan, bỏ cuộc giữa chừng.

Bạn trẻ Nguyễn Tùng, một trong những người mua nón lá bàn do ông Hùng làm ra, đã không khỏi trầm trồ. Hùng nói đã đội rất nhiều nón từ nón bài thơ, nón lá sen, nhưng ấn tượng với sản phẩm nón lá bàng. 

Nhiều vị khách khác khi đội chiếc nón trên tay đã xúc động bởi hiểu được tâm sức của người làm ra là một hành trình không hề đơn giản.

Còn ông Hùng đang tìm cách truyền nghề đến với nhiều người, cũng như tiếp tục nghiên cứu một số loại lá cây phù hợp tạo nên họa tiết để gắn vào nón lá bàng. 

"Tôi chuẩn bị thử nghiệm đưa lên nón những hình ảnh về danh thắng Huế, và nếu khách hàng yêu cầu tôi có thể in album ảnh lên đó", ông Hùng chia sẻ trong lúc đóng thùng hàng nón lá chuyển cho khách ở Hà Nội, TP.HCM...

Những chiếc nón được làm từ lá bàng rừng vô cùng đẹp mắt, ấn tượng trở thành sản phẩm được nhiều du khách ưng ý, chọn mua - Ảnh: N.H.


AN NHIÊN

"Báu vật" làng Kon H'ra Chót

đăng 05:23, 9 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chiều cuối tuần. Nắng rưng rức vàng trên phố. Tôi lang thang xuống làng Kon H’ra Chót (phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum), bất ngờ gặp một nhóm phụ nữ mặc váy áo thổ cẩm cười nói rộn ràng. Hỏi rằng “các chị đi đâu thế”? Đáp rằng “Đi tập bài chiêng mới”. À, thì ra là đội chiêng nữ nức tiếng của làng đây mà...

Tiếng cười nói xa dần. Những nếp váy đung đưa theo nhịp bước chân, màu sắc thổ cẩm sáng cả con đường mùa gió, như mang cả hơi thở đại ngàn về phố thị.

Và chỉ ít phút sau, từ phía nhà rông của làng Kon H'ra Chót đã bay bổng tiếng chiêng cồng. Tinh blinh. Tinh blinh... Tiếng chiêng như giục giã, như mời gọi bước chân bao người.

Đứng trước sân rộng, già làng A Huy nói lớn: Đó, tiếng chiêng như thế là ngon rồi. Chiêng lớn thì tiếng trầm, chiêng nhỏ thì tiếng cao. Chân bước, hông lắc phải mang nét riêng, mềm mại chứ không mạnh mẽ, hào hùng như đàn ông.

Nghe ông nói, có thể thấy ông tự hào về đội chiêng nữ của làng lắm. Mà cũng đúng, với dân làng Kon H'ra Chót, họ là "báu vật", là niềm tự hào. "Mấy người coi, lâu nay phổ biến là đàn ông chơi chiêng, chứ hiếm có đàn bà chơi chiêng lắm, nhưng làng mình có rồi đấy. Không chỉ biết mà còn chơi hay, chơi giỏi nữa"- dân làng thường "khoe" về đội chiêng nữ như vậy.

Và đúng là thế thật. 

Không phô diễn những “đường” chiêng mạnh bạo, khỏe khoắn thường thấy như những tay chiêng đàn ông, các tay chiêng nữ làng Kon H'ra Chót hút hồn người xem bằng cách cầm chiêng, cách gõ nhịp vô cùng duyên dáng, uyển chuyển. Từng cánh tay tròn lẳn đưa lên, nhịp xuống mềm mại, cùng những cái lắc hông uyển chuyển, gợi cảm.

Thôn trưởng A Wưr đung đưa tay theo nhịp chiêng: Đội chiêng nữ mới thành lập được 4 năm nay, nhưng đã có thể thay đội chiêng nam trong nhiều dịp lễ hội hoặc sự kiện quan trọng của làng, của phường. Có những bài chiêng khó, nhưng chị em chỉ tập ít buổi là chơi thuần thục không thua gì đàn ông.

Theo già làng A Huy, người có công đầu trong việc lập nên đội chiêng nữ của làng chính là thôn trưởng A Wưr. "Từ lên ý tưởng, đến đi vận động chị em tham gia, lo chuyện chiêng cồng, rồi dạy đánh các bài chiêng, đều một tay của anh ấy lo cả" - già làng A Huy kể.

A Wưr cười hiền. Anh rủ rỉ: Nghe người già kể lại, ngày xưa, phụ nữ Ba Na chơi chiêng rất phổ biến. Nhưng dần dần, không hiểu sao trong các làng không còn thấy phụ nữ chơi chiêng nữa, mà chiêng cồng trở thành “lĩnh vực” riêng của đàn ông. Trong mỗi dịp hội làng, khi nhìn cánh đàn ông chơi chiêng, tôi thấy ánh mắt của nhiều chị em trong đội xoang cứ sáng lên lấp lánh, tôi biết họ yêu chiêng, mê chiêng lắm, nên tôi nảy ra ý nghĩ "Sao mình không tập cho họ chơi chiêng nhỉ?".

Nghĩ là làm, A Wưr bàn với già làng A Huy, ông gật đầu ngay. Theo ông, việc lập đội chiêng nữ ở làng không chỉ góp phần gìn giữ không gian văn hóa cồng chiêng trước nguy cơ mai một, mà còn để đáp ứng yêu cầu thực tế là ở làng, có nhiều hoạt động cần đến cồng chiêng, mặc dù làng đã có đội chiêng nam rồi, nhưng nhiều khi họ không đủ sức để "tiếng chiêng vang suốt ngày không dứt", nhất là khi đã uống vài cang rượu, vì thế, việc lập thêm đội chiêng nữ cũng là cách chia sẻ bớt. Và đây cũng là nét độc đáo hiếm có của đội cồng chiêng làng Kon H’ra Chót- nếu làm được.

Không chỉ vậy, già làng A Huy cùng A Wưr sàng lọc, lên danh sách (dự kiến) những chị em mê chiêng và có đủ điều kiện để tập luyện. Ông còn tranh thủ thời gian đến từng nhà vận động họ tham gia.

Ban đầu, tôi nghĩ rằng sẽ gặp nhiều khó khăn, bởi đây là chuyện lạ, lâu nay dân làng chỉ thấy đàn ông chơi chiêng, có thấy đàn bà chơi chiêng bao giờ đâu. Hơn nữa, đàn bà trong làng quen chuyện bếp núc, rảnh rỗi thì dệt vải, ủ rượu, kéo họ ra khỏi gian bếp đã là khó, thuyết phục mấy ông chồng còn khó hơn. Mấy ai muốn vợ mình, thay vì ở nhà mỗi chiều, lại ra nhà rông gõ cồng, đánh chiêng - A Wưr nhớ lại.

Ai ngờ, mọi chuyện suôn sẻ hơn A Wưr nghĩ. Dưới sự vận động của thôn trưởng A Wưr và già làng A Huy, chỉ trong vài ngày, số chị em đăng ký đủ để lập đội chiêng nữ (13 người). Ngay cả Y Lih - vợ của già làng A Huy cũng hăng hái tham gia.

Sau này, khi đội chiêng nữ đã tập luyện thuần thục, có thể biểu diễn được, A Wưr vẫn thường nói rằng, ngay cả mình cũng không "đo" hết niềm đam mê chiêng của phụ nữ Ba Na.

Đội cồng chiêng nữ làng Kon H'ra Chót chuẩn bị diễn tấu. Ảnh: HL 


Mà cũng phải. Với người Ba Na nói chung, dân làng Kon H'ra Chót nói riêng, cồng chiêng là máu thịt, là phương tiện để con người thông linh (với thần), giao hòa với trời đất và giao tiếp trong cộng đồng.

Ngay khi đứa trẻ vừa ra đời, người ta đã đem cồng chiêng đến đánh bên tai nó, gọi là lễ thổi tai. Chiêng cồng luôn có mặt trong các lễ cúng từ khi con người còn nằm trong bụng mẹ cho tới khi vĩnh biệt cuộc đời, chưa kể vai trò không thể thiếu trong vô số nghi lễ trong năm, kéo dài từ tháng ba đến tháng mười hai.

Vậy cho nên, ai cũng mê chiêng. Và phụ nữ làng Kon H'ra Chót thích chiêng, học chiêng nhanh là điều dễ hiểu.

Buổi tập đầu tiên, dân làng kéo đến xem kín sân nhà rông, làm chị em ngượng, cứ núp kín trong nhà, không dám ra. A Wưr phải nhờ mấy thanh niên diễn tấu một bài chiêng để "nhử"...

Dù cầm chiếc chiêng cái to nhất trong dàn cồng chiêng, nặng gần chục ký để biểu diễn trong khoảng thời gian dài, đôi chân của Y Phíp vẫn không hề lạc nhịp so với cả đội. Tuy đã lớn tuổi (sinh năm 1962), nhưng Y Phíp là một trong những người hăng hái tập luyện nhất.

"Mình lớn tuổi rồi, nên học lâu thuộc, có khi được chỉ đi chỉ lại mà đánh vẫn trật, mấy em trẻ hơn học nhanh lắm, chỉ tới đâu đánh trúng tới đó, đánh hay nữa"- Y Phíp thật thà kể.

Là thành viên trẻ nhất đội, Y Giam đăng ký tham gia đội chiêng nữ để thỏa niềm mê chiêng của mình. Từ khi còn nhỏ, đôi tai Y Giam đã quen nghe tiếng chiêng; đôi mắt em sáng lên, đôi chân nhún nhảy mỗi khi cha và anh trai tấu chiêng. Lớn lên, vào mỗi dịp hội làng, Y Giam thường ngồi trên nhà rông cùng các mẹ, các chị mà tâm hồn đang vấn vít trong tiếng chiêng cồng dưới sân, đôi tay nhịp theo điệu múa.

Khi được vào đội chiêng, Y Giam rất vui. Cô chia sẻ: Những ngày đầu, để cầm chiêng cho đúng đã mất nhiều thời gian, để đánh đúng nhịp điệu để tiếng chiêng hay cần học rất lâu và kiên trì. Nhưng nhờ thôn trưởng A Wưr kiên trì, tận tình chỉ dạy nên chỉ sau mấy tháng, đội chiêng nữ đã có thể biểu diễn được. Có người còn diễn tấu hay, điêu luyện không kém gì đàn ông.

Già A Huy kể thêm: Do tập theo cách truyền khẩu, người biết cầm tay chỉ người không biết, nên để tập được một bài chiêng mất cả tuần, thậm chí 10 ngày. Vì vậy, người dạy và người chơi đều phải kiên nhẫn. Cũng may là ai cũng mê, cũng thích chiêng, nên động viên nhau cùng cố gắng luyện tập.

Còn theo A Wưr, dạy chiêng cho chị em phụ nữ có những khó khăn nhất định, đòi hỏi phải thu xếp chuyện gia đình khéo léo và ổn thỏa, nhưng bù lại, chị em "kỷ luật" và "chăm chỉ" hơn cánh đàn ông. "Cứ đúng giờ đến tập, khi nào cho nghỉ mới về, hiếm khi xin vắng mặt như cánh đàn ông. Ấy cũng là vì chị em không bị những ghè rượu nếp thơm lừng níu kéo như đàn ông" - A Wưr cười rổn rảng.

Những khó khăn ban đầu rồi cũng qua đi. Khi tập nhuyễn được bài chiêng đầu tiên, nhiều chị em trở nên mê chiêng hơn, siêng tập luyện hơn. Kiên trì hướng dẫn đội chiêng nữ tập luyện suốt mấy tháng trời, già làng A Huy, thôn trưởng A Wưr giờ có cái để tự hào.

Già A Huy khoe: Đến nay, đội chiêng nữ đã chơi thuần thục được một số bài chiêng chính rồi đấy, như mừng lúa mới, ca ngợi tình yêu đôi lứa… Khi làng có hội, có sự kiện quan trọng gì, đội chiêng nữ đều tham gia diễn tấu. Cũng là bài chiêng ấy, nhưng khi đội chiêng nữ diễn tấu có cái gì đó rất riêng, thay vì mạnh bạo, phóng khoáng thì lại mềm mại và uyển chuyển. Có lẽ vì vậy mà đội chiêng nữ được dân làng quý lắm, trở thành "báu vật" của làng.

Và dù chưa có điều kiện xuất hiện trong sự kiện văn hóa lớn của địa phương, nhưng những nữ nghệ nhân tài hoa ấy đã đem đến một phong vị riêng, hấp dẫn cho bản sắc văn hóa người Ba Na.

Rời làng Kon H'ra Chót trong trầm bổng chiêng cồng, tôi như nghe trong dòng suối âm thanh ấy có tiếng xào xạc cây rừng, tiếng róc rách suối chảy; lời an ủi lúc buồn, lời chúc mừng khi vui...

Cũng vì vậy mà đã có những chuyến xe dừng lại bên đường, để bước chân du khách tìm đến nhà rông làng Kon H'ra Chót...

HỒNG LAM

Gìn giữ ngôi đền hơn 150 tuổi

đăng 04:51, 9 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Hàng trăm năm nay, đền Văn Thánh ở thôn 3, xã Đức Chánh (Mộ Đức) nổi danh là nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử - văn hóa tiêu biểu.

Dấu ấn đền xưa

Theo sử sách, từ đầu nửa thế kỷ thứ XIX, thời kỳ chấn hưng văn hóa Nho học ở Quảng Ngãi, có nhiều nhà nho đỗ đạt cao, mang nặng tư tưởng Khổng Mạnh trên phương diện học thuật và đạo đức Nho gia có mong muốn thành lập đền Văn Thánh. Qua khảo sát nghiên cứu văn bia, có thể khẳng định đền Văn Thánh được xây dựng năm Tự Đức thứ 16, năm 1863, cách đây 156 năm, do các quan viên trong huyện, trong tỉnh góp tiền tạo dựng, với tổng diện tích 3.450m².

Đền Văn Thánh là nơi thờ Đức Khổng Tử và là nơi ghi danh các vị tiền nhân tú tài, cử nhân, tiến sĩ, nhân sĩ, tầng lớp trí thức đỗ đạt cao ở huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi và một số vị ở các tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên, Quảng Nam, Bình Định.

Dấu tích còn lại của đền Văn Thánh, ở xã Đức Chánh (Mộ Đức). 


Cụ Đinh Tầm (87 tuổi, người dân thôn 3) vẫn nhớ rất rõ lời kể của cha ông, cho rằng: Đền Văn Thánh là nơi quy tụ các bậc nhân sĩ trí thức khắp các vùng trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Tại đây, các bậc nho sĩ cùng bàn bạc, thảo luận về các vấn đề học vấn, tôn sư trọng đạo.

Dù trải qua nhiều biến cố lịch sử, chiến tranh đã tàn phá đền thờ chính và hai gian phụ của đền, song gian chính vẫn còn lại nền móng, trong đó vẫn còn lại 5 tấm bia, 3 cổng ngõ lớn, bờ tường, đá ong và các tấm bình phong...

Ngày nay, cứ vào tháng 3 và tháng 8 âm lịch hằng năm, chính quyền và nhân dân địa phương đều tổ chức lễ hội tại đền Văn Thánh. Bên cạnh các hoạt động cúng, tế lễ, tại đây còn vinh danh, trao thưởng cho những học sinh có thành tích xuất sắc, đỗ đạt cao trong các kỳ thi.

Phó Chủ tịch UBND xã Đức Chánh Bùi Tấn Nam cho biết: “Dẫu di tích Văn Thánh không còn nét nguyên sơ, nhưng vẫn còn nhiều dấu tích minh chứng cho sự phát triển của Nho học thời trước. Chính quyền và nhân dân địa phương luôn gìn giữ nét xưa của ngôi đền, nhằm giáo dục truyền thống hiếu học cho thế hệ con cháu”.


"Đền Văn Thánh là nơi quy tụ các bậc nhân sĩ trí thức khắp các vùng trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Tại đây, các bậc nho sĩ cùng bàn bạc, thảo luận về các vấn đề học vấn, tôn sư trọng đạo".


Cụ ĐINH TẦM (87 tuổi), ở thôn 3, xã Đức Chánh (Mộ Đức)


Trùng tu di tích

Ông Bùi Tấn Nam phấn khởi cho biết: Năm 2018, đền Văn Thánh được công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh. Huyện Mộ Đức đã đầu tư kinh phí để trùng tu, phục dựng lại ngôi đền. Chính quyền và nhân dân địa phương cũng chọn ra 11 bậc cao niên uy tín để thành lập ban Tế lễ.

Việc trùng tu, xây dựng đền Văn Thánh được UBND huyện Mộ Đức giao cho Ban Quản lý dự án Đầu tư và Xây dựng huyện Mộ Đức làm chủ đầu tư. Giám đốc Ban quản lý Ngô Hữu Minh cho biết: Đến nay, công trình hoàn thiện giai đoạn 1 là làm tuyến đường dẫn vào đền Văn Thánh có tổng chiều dài 452m, rộng 9,5m... với tổng kinh phí hơn 2 tỷ đồng.

Dự kiến trong tháng 6 tới, sẽ thi công giai đoạn 2 là phục dựng phần chính ngôi đền. Ngôi đền được phục dựng dựa trên những nét cổ, kiến trúc thời trước như phần mái được vát góc cong lên 4 góc, toàn bộ mái được lợp bằng ngói vây cá; trên đình mái trang trí linh vật rồng hai bên và hỏa long ở giữa, 4 góc mái được trang trí linh vật phượng... với kinh phí khoảng 3,5 tỷ đồng.

“Công trình phục dựng di tích đền Văn Thánh góp phần tôn tạo không gian, cảnh quan, bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Đồng thời, bảo tổn các di sản văn hóa phi vật thể thông qua các hoạt động tín ngưỡng trong di tích, góp phần làm phong phú loại hình du lịch của địa phương, nâng cao truyền thống giáo dục cho thế hệ mai sau”, ông Minh cho biết thêm.

Bài, ảnh: ĐĂNG SƯƠNG

Ngôi trường xứ Quảng mang tên cô gái Nhật

đăng 05:41, 7 thg 5, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Có những ngôi trường không được xây dựng bằng tiền ngân sách mà từ tấm lòng của những người tốt…

Học sinh tập thể dục tại nhà đa năng của Trường tiểu học Junko - Ảnh: ĐOÀN CƯỜNG


Nằm trên con đường tỉnh lộ qua xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn (Quảng Nam) có một ngôi trường mang tên của một người con gái... Nhật Bản. Di ảnh của cô để trong phòng truyền thống nhà trường.

Giấc mơ dang dở của cô gái Nhật 

Trong căn nhà kế bên con đường liên huyện, thầy Trần Công Trường - nguyên hiệu trưởng Trường tiểu học Junko - đang vui đùa cùng đứa cháu nội. 

Nhắc về những ngày đầu xây dựng Trường Junko, đôi mắt thầy lại đầy hoài niệm. 

Thầy Trường là người có mặt tại trường từ khi nơi đây còn là đồng ruộng. 

"Mới đó mà đã 1/4 thế kỷ rồi" - thầy Trường nói. 

Năm 1993, Junko Takahashi đang học năm thứ ba ĐH Meiji Gakuin, cô cùng người bạn thực hiện chuyến du lịch một tháng tại Việt Nam. Họ đi qua Hà Nội, Đà Nẵng, Hội An và TP.HCM, vừa xem phong cảnh, vừa tìm hiểu văn hóa và tình hình đầu tư của doanh nghiệp Nhật. 

Theo giáo sư hướng dẫn ở đại học của Junko, hai người khi trở về Nhật đã kể lại chuyến đi ở Việt Nam đầy thích thú với cảnh lạ, nhưng cảm thấy thật gần gũi và nhất là cảm thấy thân thiết với người dân các nơi mà họ gặp. 

Đồng thời, họ cũng thấy Việt Nam lúc đó quá nghèo, nhiều trẻ em lang thang ngoài đường thay vì đến trường học. Junko mong sẽ có cơ hội đóng góp vào lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam. 

"Junko muốn trở lại Việt Nam, giúp đỡ trẻ em có môi trường học tập tốt hơn. Tất cả những điều ấy cô ghi lại trong cuốn nhật ký luôn mang theo trong suốt hành trình" - thầy Trường kể. 

Trở về Nhật Bản, Junko hoàn thành bài luận của mình. Giáo sư Ebashi Masahiko, người tiếp nhận bài luận của Junko, cho biết một đoạn ngắn trong bài luận này khiến ông đánh giá rất cao tâm hồn của cô học trò. 

"Junko viết: Tôi nghĩ cần phải tạo điều kiện thuận lợi để các bạn Việt Nam cũng như mọi người thuộc các nước đang phát triển được khỏe mạnh và được hưởng một nền giáo dục toàn diện, không chỉ bằng hình thức viện trợ tài chính mà còn hỗ trợ trên tất cả các mặt". 

Thật kỳ lạ, chỉ đến Việt Nam trong thời gian ngắn ngủi, Junko lại muốn dành tuổi trẻ của mình cho giáo dục của Việt Nam. 

Trớ trêu thay, những dự tính ấp ủ của cô gái Nhật phải gác lại vào ngày 9-12-1993, khi tai nạn giao thông cướp đi tính mạng cô. 

Ông bà Horotaro Takahashi rất đau đớn trước cái chết đột ngột của con. Trong những di vật còn lại của Junko, ông Horotaro thấy cuốn nhật ký của con gái và họ quyết định hoàn thành tâm nguyện của con. 

Di ảnh của Junko tại Trường tiểu học Junko - Ảnh: ĐOÀN CƯỜNG


Xây trường ở xứ Quảng 

Nhưng vì sao cha mẹ Junko lại chọn miền quê nghèo Điện Phước - trong khi con gái chưa từng đến vùng quê này? GS Trần Văn Thọ, Đại học Waseda (Tokyo), là người tường tận về sự lựa chọn này. 

Theo GS Thọ, sau khi Junko mất, cha mẹ cô muốn thực hiện ý nguyện của con gái về việc xây dựng một cơ sở giáo dục tại Việt Nam. Họ muốn dùng tiền bồi thường bảo hiểm, và tiền họ để dành cho đám cưới của Junko trong tương lai... vào việc này. 

Ông bà đã đến bàn với GS Ebashi Masahiko - người hướng dẫn của Junko - và họ đã quyết định xây dựng giúp Việt Nam một trường tiểu học. Nhưng GS Ebashi không biết nên bắt đầu như thế nào. 

"Vốn là bạn của GS Ebashi, tôi được ông hỏi ý kiến và đề nghị làm đầu mối tiếp xúc với cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam. Trong một chuyến về quê sau đó tôi đã đến gặp ông Nguyễn Đình An - phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng - và đề nghị tỉnh quan tâm dự án, chọn một làng quê ở Quảng Nam để xây dựng một trường tiểu học" - GS Thọ cho biết. 

Sau đó, GS Thọ đã giới thiệu GS Ebashi Masahiko với em trai mình là GS Trần Văn Nam (nguyên giám đốc ĐH Đà Nẵng). Hai người đã cùng với ông bà Takahashi tìm hiểu và lựa chọn địa điểm. 

Với truyền thống "Ngũ phụng tề phi", đất học Điện Bàn, xã Điện Phước đã được các bên thống nhất lựa chọn. 

Điện Phước còn có vị trí địa lý không quá xa Hội An hay Đà Nẵng để người Nhật, nhất là các thế hệ sinh viên ĐH Meiji Gakuin, có thể dễ dàng ghé thăm... 

Ân tình ấy nhận được sự đồng thuận của chính quyền lẫn người dân Điện Phước. 100.000 USD (hơn 1 tỉ đồng thời đó), số tiền mang tâm nguyện của cô gái trẻ biến thành những viên gạch, dựng lên ngôi trường khang trang 2 tầng với 8 phòng học, nhà thi đấu, công trình vệ sinh... cùng nhiều trang thiết bị dạy học. 

Ngày 4-9-1995, ngôi trường hoàn thành đưa vào sử dụng. Chẳng thể nói hết niềm vui của thầy và trò, người dân nơi đây. Mọi người đến dự rất đông, tất cả đều thương cảm và xúc động trước tấm lòng của Junko. 

Theo thầy Trường, cha mẹ Junko không đề nghị lấy tên con gái mình đặt tên trường. Nhưng đến năm 2003, ngôi trường được chính quyền địa phương đổi tên thành Trường tiểu học Junko để tri ân cô gái Nhật đoản mệnh. 

Ngôi trường mang tên cô gái Nhật ở Điện Phước - Ảnh: ĐOÀN CƯỜNG


Lan tỏa 

Thầy Lê Quốc Hà, hiệu trưởng Trường tiểu học Junko, dẫn chúng tôi đi quanh trường, đâu đâu cũng thấy những hình bóng về Junko. Thầy Hà tâm sự: "10 năm sau khi trường hoạt động, Hiệp hội Junko lại đến xây thêm tầng trên để hoàn thiện hạ tầng, hằng năm họ đến trường hai lần để trao quà cho học trò". 

Thấy chúng tôi bất ngờ về Hiệp hội Junko, thầy Hà chia sẻ: "Tấm lòng của Junko lan tỏa rất lớn, các giáo viên và sinh viên nhiều trường đại học ở Nhật Bản đã thành lập hiệp hội này để tiếp nối sứ mệnh dang dở của cô. 

Để chắp cánh ước mơ cho học sinh Việt Nam, hiệp hội phối hợp với ĐH Đà Nẵng thành lập chương trình học bổng du học Nhật Bản, tạo điều kiện để học sinh và sinh viên hai nước tìm hiểu và tiếp cận văn hóa, kiến thức của nhau". 

Junko ra đi lúc đôi mươi, nhưng đã để lại nhân gian một câu chuyện cổ tích. Tên cô vẫn được học trò ở đây đeo trên ngực áo mỗi ngày.

Học bổng dành cho cựu học sinh Junko 

Mỗi năm, cựu học sinh Trường tiểu học Junko thi đậu vào ĐH Đà Nẵng và có thành tích học tập giỏi nhất sẽ được nhận học bổng sang Nhật Bản một năm. 

Tại đây, các em sẽ có thời gian một năm để học 12 tín chỉ tại ĐH Meiji Gakuin. 

Tính đến nay đã có hơn 10 em là cựu học sinh Trường tiểu học Junko được nhận học bổng này. 

TRẦN MAI - ĐOÀN CƯỜNG

Ô Tà Sóc của những ngày đỏ lửa

đăng 05:52, 29 thg 4, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Địa danh Ô Tà Sóc thuộc xã Lương Phi (Tri Tôn) là một phần của dãy núi Dài, theo tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số Khmer có nghĩa là “suối ông Sóc”. Trên Ô Tà Sóc có nhiều hang đá, khe suối nhỏ, những con đường mòn ngoằn ngoèo, được che phủ bởi rừng cây và các loại dây leo chằng chịt, tạo nên địa hình hiểm trở. Chính vì thế, trong những năm chiến tranh, Ô Tà Sóc là khu vực rất thuận lợi để xây dựng căn cứ cách mạng.

Cuối năm 1962 đến 1967, Tỉnh ủy An Giang chọn nơi đây làm căn cứ đứng chân để lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng. Một tuyến phòng thủ mạnh được xây dựng bằng hàng rào, bãi chông, các loại mìn. Cùng với lòng can đảm, cán bộ, chiến sĩ dựa lưng vào địa hình hiểm trở của núi rừng để bám trụ chiến đấu. Điện Trời Gầm - một hang sâu rộng rãi, kiên cố, dễ phòng thủ, khó tấn công - được chọn làm Văn phòng. Xung quanh đó là Ban Tuyên huấn, Ban Tổ chức, Ban Thông tin - Cơ yếu, Ban Binh vận, Ban An ninh, Đội Hỏa tốc… 

Suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, Ô Tà Sóc còn là căn cứ của các lực lượng cách mạng huyện Tri Tôn, Tịnh Biên. Từ năm 1969, nơi đây là địa điểm dừng chân và hợp đồng chiến đấu của các Trung đoàn chủ lực từ miền Đông chi viện cho miền Tây Nam Bộ. Năm 1968 đến 1971, Ô Tà Sóc là căn cứ của phân ban Tỉnh ủy An Giang, do đồng chí Vũ Hồng Đức (Mười Đức, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND cách mạng tỉnh An Giang) phụ trách. Giai đoạn năm 1972 đến ngày 30-4-1975, Tỉnh ủy Châu Hà và Long Châu Hà cũng có thời gian chọn Ô Tà Sóc làm căn cứ kháng chiến. 

Bức phù điêu lớn đặt dưới chân Ô Tà Sóc 


Theo Lịch sử Đảng bộ xã Lương Phi, từ Ô Tà Sóc, Tỉnh ủy chỉ đạo các lực lượng cách mạng trong toàn tỉnh đẩy mạnh 3 mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận) diệt ác, phá kềm, chống địch bình định, gom dân, phát động quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược và đẩy mạnh hoạt động vũ trang chống các cuộc tấn công càn quét, phục kích tiêu diệt nhiều sinh lực địch mở rộng vùng giải phóng. Có thể nói, nơi đây là trung tâm chỉ huy đấu tranh cách mạng của tỉnh trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhất, là nơi lực lượng cách mạng bám trụ chiến đấu kiên cường, đánh bại nhiều trận càn quét của địch, ghi dấu hàng loạt chiến công chói lọi. 

Điển hình như đầu năm 1963, quân ta đánh địch ở Ô Cạn, làm chết và bị thương 12 tên, bắn hư 1 xe M113, thu nhiều vũ khí. Tháng 2-1963, tấn công địch ở Ba Chúc, Lương Phi, tiêu diệt 2 đại đội, tấn công ấp chiến lược Lương An Trà, đánh tan đại đội 360 biệt động quân, thanh niên chiến đấu và trung đội bảo an 816… Ngày 22-2-1971, địch huy động 3 tiểu đoàn biệt động quân và 1 thiết đoàn xe M113, có máy bay ném bom, pháo yểm trợ mở cuộc tấn công ác liệt vào Ô Tà Sóc, Ô Cạn. Trong 4 ngày tấn công liên tục, địch sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại nhất nhằm chiếm cho được núi Dài. Có ngày, địch câu 40 lượt bom xăng lỏng, thả xuống đốt Ô Tà Sóc để phá hủy địa hình... 

Những dấu tích của khu căn cứ năm xưa 


Suốt những năm tháng chiến tranh, hàng trăm trận đánh lớn nhỏ đã diễn ra. Lực lượng cách mạng một lòng bám vào địa hình rừng núi hiểm trở, dùng chính tính mạng của mình làm hàng rào lửa ngăn bước tiến quân thù. Tôi có nhiều dịp nghe các cựu chiến binh kể về thời chiến đấu khói lửa ở Ô Tà Sóc. Trong cuộc chiến không cân sức với quân địch, hàng ngàn chiến sĩ cách mạng đã vĩnh viễn nằm lại nơi đây. Tháng 9-1970, máy bay Mỹ đã dùng loại đạn đặc biệt bắn vào hang đá tại đồi Ma Thiên Lãnh, làm gãy 1 phiến đá lớn lấp kín miệng hang cùng 7 chiến sĩ đang chốt trong đó. Họ được xác định là Đỗ Văn Tứ (Thái Nguyên), Đào Ngọc Kính và Nguyễn Văn Hào (Hưng Yên), Nguyễn Văn Thuấn và Nguyễn Văn Thể (Hà Nam), Nguyễn Văn Thạo và Tuấn (không rõ họ, quê Hải Phòng), thuộc Đại đội 8, Tiểu đoàn 5, Đoàn E61c. Sau 41 năm nằm trong hang sâu bảo vệ yên bình cho ngọn đồi, họ được quy tập hài cốt, trở về quê hương xứ sở, nhưng mãi để lại cho đời một hình ảnh bất diệt, nhắc nhở giá trị lớn lao của hòa bình hôm nay. 

Đến Ô Tà Sóc một ngày nắng hanh hao giữa tháng 4, chúng tôi chỉ thấy một màu xanh đẹp mắt, bình yên của rừng tầm vông, màu vàng đồng vững chãi của bức phù điêu dưới chân Ô Tà Sóc, những mái nhà nhỏ của người dân nép mình bên dòng suối cạn. Chiến tranh đã lùi sâu vào dĩ vãng, tựa như chưa từng tồn tại, chỉ còn chăng là những điện Trời Gầm, hang Quân y, chốt tiền tiêu… được gìn giữ, chào đón khách xa gần đến tham quan, tìm hiểu về nguồn. 

Ngày 28-12-2001, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận khu căn cứ cách mạng Ô Tà Sóc là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia. Đây được xem như một sự tri ân, ghi nhận những đóng góp to lớn của nhiều thế hệ người dân Lương Phi và mọi miền đất nước đã từng sống, chiến đấu, hy sinh tại địa danh này để góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày 23-4 vừa qua, UBND huyện đã làm lễ khởi công công trình cải tạo, nâng cấp khu di tích, với các hạng mục: Nhà trưng bày, nhà quản lý, hội trường... 

KHÁNH HƯNG

1-10 of 20