Con người và sự kiện

Bài mới

  • Những ngọn núi xứng tầm di tích quốc gia Đó là núi Thới Lới và Giếng Tiền, 2 trong 5 ngọn núi độc đáo hình thành từ dung nham núi lửa hàng nghìn năm trước ở huyện Lý Sơn ...
    Được đăng 02:55, 21 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đông Bích - làng của những nhà thơ Làng Đông Bích sẽ như bao nhiêu làng quê xứ Nghệ khác trong tôi, nếu không phải nó đi vào trong rất nhiều bài thơ, câu chuyện của những nhà ...
    Được đăng 07:46, 17 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nhất Dương Chỉ - Nhị Thiên Đường - Tam Tông Miếu Ai ở miền Nam ngày trước chắc đều biết hoặc nghe mấy câu: Nhất Dương Chỉ - Nhị Thiên Đường - Tam Tông Miếu... Tiếp theo là Tứ đổ tường - Ngũ Vị ...
    Được đăng 20:56, 15 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mang hài cốt Nguyễn Thiện Thuật về với quê hương Khi khai quật mộ danh tướng Nguyễn Thiện Thuật, bên dưới quan tài còn nguyên bia đá cũ. Đây là cách quy tập mộ kiểu cũ nhưng rất có giá ...
    Được đăng 00:59, 6 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nhớ Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà Nghe tin Nhà hát Nghệ thuật hát bội TP.HCM phục dựng vở Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà (kịch bản: Đinh Bằng Phi - Đức Hiền, đạo diễn: Nguyễn Hoàn ...
    Được đăng 06:23, 1 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 15. Xem nội dung khác »


Những ngọn núi xứng tầm di tích quốc gia

đăng 02:55, 21 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đó là núi Thới Lới và Giếng Tiền, 2 trong 5 ngọn núi độc đáo hình thành từ dung nham núi lửa hàng nghìn năm trước ở huyện Lý Sơn.

Ngành VH-TT&DL tỉnh đang gấp rút hoàn thiện hồ sơ di tích núi Thới Lới và Giếng Tiền, để UBND tỉnh trình Bộ VH-TT&DL công nhận di tích thắng cảnh cấp quốc gia.

Thới Lới hùng vĩ

Trên tàu cao tốc ra đảo Lý Sơn, từ xa du khách có thể nhìn thấy núi Thới Lới cao vút, cùng với những ngọn núi khác tạo dáng vẻ như đất đảo có hình thang cân. Núi Thới Lới cao so với mực nước biển khoảng 170m. Nhiều du khách đến Lý Sơn thường kháo nhau, nếu chưa chinh phục được đỉnh núi Thới Lới thì xem như chưa đến Lý Sơn.

Du khách tham quan cột cờ Tổ quốc trên đỉnh Thới Lới. ẢNH: VĨNH HƯỚNG 


Đường lên đỉnh núi nay đã được thảm nhựa. Du khách có thể đi xe máy vòng qua cung đường cheo leo, một bên núi, một bên biển trông thật nên thơ và hùng vĩ. Lên đến đỉnh núi, trong làn gió mát, du khách thỏa sức ngắm nhìn biển xa thấp thoáng những con tàu.

Dưới chân núi là những ruộng tỏi, ruộng hành vuông vức nằm san sát nhau tạo nên những ô bàn cờ đa sắc màu. Sắc màu của đất đỏ bazan pha trộn với cát trắng lấy từ biển để trồng tỏi, trồng hành và màu xanh của hoa màu tạo nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng. Nhìn chếch về phía đông bắc, cách cầu cảng chính gần 8km là di tích lịch sử chùa Hang- di tích văn hóa tâm linh của cư dân đất đảo.

Rảo chân đi trên đỉnh núi sẽ gặp một lòng chảo khổng lồ, đó là miệng núi lửa đã tắt từ nghìn năm trước, với vô số hình thù như nón, phễu, chóp, dạng bọt phong hóa, tro bụi núi lửa được xếp chồng lên nhau phơi trên bề mặt của núi. GS.TS. Ibrahim Komoo (Malaysia)- Phó Chủ tịch Hiệp hội mạng lưới công viên địa chất toàn cầu khẳng định: “Đây là di sản có giá trị rất cao, nếu được kết hợp với những dấu tích của phun trào núi lửa ở đảo Bé, Bình Châu và các vùng phụ cận, thì di sản văn hóa này đã đủ các yếu tố, để trở thành công viên địa chất toàn cầu”.

Từ lâu, miệng núi lửa trên đỉnh núi Thới Lới đã hình thành một hồ nước có dung tích lên đến 30.000m3 cung cấp nước ngọt cho cư dân đảo Lớn. Nơi đây có cột cờ Tổ quốc cao trên 20m. Đứng trên đỉnh núi Thới Lới, cùng với cảm nhận về sự nên thơ, hùng vĩ của thiên nhiên, trong mỗi người dâng trào tình yêu biển đảo của Tổ quốc.

Giếng Tiền nên thơ

Nếu núi Thới Lới toàn đá, tạo nên vẻ hùng vĩ giữa lòng biển, thì núi Giếng Tiền lại pha đất đỏ bazan, với nhiều cây cỏ xanh tốt tạo nên vẻ đẹp nên thơ. Mùa này, Lý Sơn trời nắng nóng như đổ lửa, nhưng đến chân núi đã cảm nhận được không khí mát dịu.

Núi Giếng Tiền bây giờ đã có nhiều cây xanh, trông thật nên thơ. Ảnh: MAI HẠ 


Bà Đỗ Thị Hảo (71 tuổi) có nhà nằm dưới chân núi Giếng Tiền thuộc thôn Tây, xã An Vĩnh cho biết: “Nhờ có rừng cây xanh tốt tạo nguồn sinh mạch mà giếng nước ở đồng Trũng cách núi chừng 30m không bao giờ cạn, thuận lợi cho người dân trồng hành, tỏi ”. 

Theo các bậc cao niên, núi Giếng Tiền gắn liền với truyền thuyết cảm động về những hùng binh Hoàng Sa. Tương truyền rằng, ngày xưa khi những hùng binh Hoàng Sa đi làm nhiệm vụ mà không trở về, người dân đất đảo phải nặn hình nhân thế mạng để chôn trong những ngôi mộ gió. Để làm hình nhân phải có đất sét, nên nhiều người đi tìm và phát hiện giữa núi lửa lại có một điểm toàn đất đỏ bazan, nhưng không một loài cây cỏ nào mọc được.

Nhiều người dân đất đảo cho là vùng đất thiêng, tinh khiết nhất, nên lấy đất đem về làm hình nhân. Có năm nắng nóng kéo dài, đất đảo khô hạn, dân trong vùng đào sâu trong lòng đất thì dòng nước ngọt tuôn ra, nên người dân đặt tên là Giếng Tiền. Cứ sau tháng 10 âm lịch, đến mùa làm đất trồng tỏi, người dân đất đảo lại lên rìa núi Giếng Tiền lấy đất đỏ về làm lớp đất mặt kết hợp với cát biển có lẫn vỏ sò để trồng tỏi. Có lẽ đất đỏ ở núi Giếng Tiền đã góp phần làm cho tỏi Lý Sơn có hương vị thơm ngon.

MAI HẠ

Đông Bích - làng của những nhà thơ

đăng 07:46, 17 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Làng Đông Bích sẽ như bao nhiêu làng quê xứ Nghệ khác trong tôi, nếu không phải nó đi vào trong rất nhiều bài thơ, câu chuyện của những nhà văn sinh ra, lớn lên ở làng. 

Cái tên Đông Bích hóa thật gợi với núi Quỳ, cây đa ba nhánh, khe Nhà Vàng... và những bà mẹ nông dân ru con, dạy con bằng ca dao tục ngữ, bằng thơ.

Đi từ Vinh, qua Thanh Chương đến thị trấn Đô Lương, dừng lại ở đường qua Đò Cung, rẽ tay trái đi mấy trăm mét nữa thì gặp làng quê bé nhỏ nằm giữa cánh đồng. Đó là làng Đông Bích của xã Trung Sơn, huyện Đô Lương.

Bến đò Cung hôm nay. Ảnh: Vương Trọng 


Làng nhuốm vẻ yên bình lưu cữu. Chếch bên phải là núi Quỳ, như né mình nhường cho làng ánh nắng mai... Người xưa truyền lại, trẻ con làng Đông Bích thường học giỏi nhất vùng, bởi vì trời đất đã dành cho làng tất cả những gì trong sáng nhất, tinh khiết nhất của buổi ban mai.

Vào làng, bạn sẽ gặp những cư dân với nụ cười đến trước. Nếu bạn dừng lại dưới gốc đa làng, nơi những ngọn gió thường lưu lại một lát rồi đi, bạn sẽ thấy lòng mình thật khoan khoái, an nhiên. Người Đông Bích rất yêu cây, đặc biệt là cây đa. Dưới gốc đa là nơi người làng ngồi hóng mát, trên cây là khoảng trời của chim chóc trò chuyện với nhau. Người làng với cây cỏ, chim muông chung sống thuận hòa.

Bạn sẽ thấy ở làng này, dường như không bao giờ nghe tiếng nói to. Người làng bao đời nay thường ứng xử với nhau bằng nụ cười, bằng lời chào nhau nhỏ nhẹ. Ở cái làng bé nhỏ này, ngày xưa lúc nào cũng nghe tiếng ru con của những bà mẹ.

Những tiếng ru đó là ru tất cả những người con của làng lớn lên. Làng chỉ có làm một nghề duy nhất là làm ruộng. Làng chưa bao giờ có nghề truyền thống. Có lẽ thế mà sự chất phác, trung thực vẫn còn nguyên vẹn với người làng Đông Bích cho đến đời nay. Có nhiều nhà văn, nhà báo đến đây, nói vui rằng, nếu có một nghề phụ của làng, thì đó là… nghề làm thơ.

Làng quê nhỏ, nơi quần tụ của chỉ gần 500 gương mặt người thuộc các dòng họ Nguyễn Văn, Trần Văn, Vương Đình và vài họ khác... hầu hết ai cũng biết ai, sống yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Người làng sống thọ, có đến dăm người mất khi tuổi đời trên 100. Trong 500 người làng hiện nay, có đến gần 100 người tuổi từ 80 trở lên. 

Thường ngày sau 7 giờ tối làng im lìm, chỉ còn tiếng người trong mỗi nhà. Ấy nhưng nếu bạn đến vào những ngày lễ tết, bạn sẽ thấy người làng từ khắp mọi miền đất nước trở về. Trên những con đường làng, xe cộ, người đi nhộn nhịp tiếng chào hỏi nhau. Nhiều màu sắc, nhiều tiếng cười trong các cuộc hội ngộ của làng. Dù ở đâu, làm gì, người làng luôn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn của mình.

Nhà thơ Vương Trọng bên cây đa làng Đông Bích. Ảnh: V.T 


Rồi bạn sẽ gặp những cây đa và những hàng ghế đá; gặp nhà văn hóa vừa xây xong, những bộ ghế đẹp cũng là tình cảm người làng xa quê gửi gắm về. Bạn sẽ gặp những con đường bê tông hóa chạy quanh làng. Một phần cũng là tình người xa làng gửi về. Làng đã có công nuôi lớn những tâm hồn đẹp những người con của làng. Những người con của làng ra đi luôn nhớ từng ngọn cây, ngọn cỏ của làng. Họ luôn có mặt với làng cả trong tâm tưởng.

Những người làng lớn tuổi gặp nhau thường kể những chuyện xa xưa của thời trẻ nhỏ. Đó có thể là chuyện ma ở khe Nhà Vàng cho đến bây giờ vẫn mãi mãi là những huyền thoại đầy linh thiêng. Nhà thơ Vương Cường, một người con làng Đông Bích kể rằng, bố của ông suốt đời chỉ tắm mỗi một nơi đó là khe Nhà Vàng.

Đó là con suối chảy ra từ trong lòng núi Quỳ lọc, ướp hương từ lòng đất, nước khe trong veo và mát lạnh lại còn thơm. Trời đã xây bằng đá hộc bao quanh thành như một nhà tắm. Nơi dòng nước chảy qua có khắc một rãnh nhỏ. Trẻ con ngày ấy thường được nghe kể về những bóng áo trắng đi ra từ khe Nhà Vàng, người làng quả quyết nhìn thấy những người thanh niên vai vác đòn gánh vừa đi đều vừa hát những bài Nam tiến.

Rồi buổi trưa và buổi tối ma thường họp chợ. Tiếng mua bán mặc cả hay cãi vã nhau nghe rõ mồn một. Buổi đêm thì ma trơi nổi lửa tuần tra. Có cả ma cắt thuốc bắc... Những câu chuyện rợn cả sống lưng khiến những câu bé ngày xưa, nay đã thành ông thành bà, thuở ấy “chẳng những không dám vào khe Nhà Vàng mà còn chẳng dám ngủ một mình”.

Núi Quỳ, ngọn núi đã trở thành biểu tượng làng quê Đông Bích, cũng là khởi nguồn của tên gọi một nhà thơ nổi tiếng xứ Nghệ: Thạch Quỳ - Vương Đình Huấn. Ảnh: P.V 


Đó có thể là câu chuyện về “người bạn chung” của nhiều thế hệ ở làng, ấy là “người chăn trâu thế kỷ” tên Lạn, từ thuở nhỏ cho đến khi về già người ta vẫn thấy ông ấy dắt trâu mỗi ngày đi về trên con đường làng khấp khểnh. Ông, cùng với con trâu đã đi qua bao mưa nắng, đổi thay, để làm nên một dấu ấn nhớ về của bao nhiêu người làng…

Đó có thể là giấc mơ chung về cây đa làng, cây đa ba nhánh chín chồi mà trong các hốc đa có rất nhiều con “bửa củi” đen tuyền. Mùa quả đa chín rụng tím cả đường. Dưới cây đa, người đi, trẻ con chơi. Trên cây, chim chuyền ăn trái và hót. Thỉnh thoảng ỉa rơi cả đầu, cả mặt lũ trẻ.

Đó có thể là những trò chơi nghịch ngợm của thuở chăn trâu, cắt cỏ, bắt ong, bắt bướm, hái sim, nhặt phân trên núi Quỳ. Đó có thể là những lần rủ nhau trộm bưởi, trộm lạc của làng trong những đứa trẻ vừa lớn. Trước những trò chơi bất thường ấy, dân làng không bao giờ xem là xấu. Người làng bao dung vẫn dành cho trẻ con những khoảng không gian thật đặc biệt với niềm tin những người con của làng.

Quả thật, những trò chơi dại ngày trước đã góp phần nuôi lớn những tâm hồn yêu làng không nói hết. Bao nhiêu đứa trẻ ngày xưa, lớn lên, khi Tổ quốc lâm nguy đã cầm súng lên đường chiến đấu khắp các chiến trường. Những người con của làng ra đi, làm tất cả những gì tốt đẹp, bồi đắp cái đẹp cho làng. Họ biết, chỉ có quyền làm đẹp, không có ai làm xấu làng mình. Một làng quê bé nhỏ đã có tới hàng trăm liệt sỹ, thương binh và bộ đội, thanh niên xung phong...

Làng quê ấy, có đến hàng trăm cử nhân và hàng chục thầy giáo tỏa ra trong cả nước mang tấm lòng người Đông Bích làm việc, cống hiến với niềm tự hào về làng. Làng bé nhỏ ấy có ba tiến sỹ và nhiều thạc sỹ. Nhà thơ Đặng Huy Giang nói, trong cả nước, chỉ có làng Đông Bích, họ Vương mới có được tập thơ 4 đời con cháu với 28 tác giả và 900 trang thơ chất lượng, ngang tầm thơ đất nước. Xưa, có “Ngô gia văn phái”, nay có “Vương gia văn phái” mà thôi!

Bìa tuyển thơ họ Vương. Ảnh: P.V 


Nhà thơ đã nói không ngoa chút nào. Bởi cái làng bé nhỏ này có đến 3 nhà thơ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (là anh em, chú cháu trong nhà: nhà thơ Vương Trọng, nhà thơ Thạch Quỳ- Vương Đình Huấn, nhà thơ Vương Cường), nhiều người là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, nhiều người không tham gia hội nào nhưng vẫn làm thơ thường nhật. Làng quê ấy, con người làng quê ấy như vốn sinh ra để thể hiện hồn làng.

Làng Đông Bích vốn trọng nghĩa, khinh tài. Người dân trọng văn hóa và tôn thờ văn hóa, tôn thờ cái tốt đẹp. Trong cuộc sống thị trường hiện nay, đó cũng là sự thể hiện nối dài ý tứ người xưa. Nối dài phẩm chất người làng Đông Bích – làng văn hóa đến với con cháu mai sau…

Làng Đông Bích nhìn từ núi Quỳ. Ảnh: P.V 


Và như tôi, đến Đông Bích còn bởi lời thơ dẫn dụ: “Khi mắt tôi khép lại cái nhìn/ Hãy đưa tôi về nơi sinh nở/ Làng tôi nhỏ lối vào làng cũng nhỏ / Ô tô về phải dừng lại đường quan....” (Vương Trọng), “Núi Quỳ bé mà sao nhiều đá thế? Tuổi chăn bò hốc đá trú mưa/ Hoa chổi rụng dưới cánh ong bò vẽ/ Đá trắng phơi đầy trời nắng trưa/ Em cắt củi chưa đầy đôi lạt buộc/ Đã ngồi nghiêng trên đá, tím môi sim”… (Thạch Quỳ).

Đến Đông Bích rồi, sẽ hiểu, vì sao làng quê nhỏ bé ấy, mãi là nỗi nhớ niềm thương vô hạn của những người con đi xa. Mới hiểu vì sao, những hồn thơ tha thiết đến vậy lại được sinh ra nơi này…

P.V

Nhất Dương Chỉ - Nhị Thiên Đường - Tam Tông Miếu

đăng 20:56, 15 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Ai ở miền Nam ngày trước chắc đều biết hoặc nghe mấy câu: Nhất Dương Chỉ - Nhị Thiên Đường - Tam Tông Miếu... Tiếp theo là Tứ đổ tường - Ngũ Vị Hương - Lục tào xá. Ngộ  hay là bài đồng dao (hoặc vè) này ngoài việc đếm từ 1 tới 6 (Nhất đến Lục) nó còn liệt kê các hạng mục khác nhau. Từ một môn võ công (nhất dương chỉ), đến một loại dược phẩm (dầu gió Nhị Thiên Đường), văn hóa phẩm (lịch Tam Tông Miếu), tệ nạn xã hội (tứ đổ tường), gia vị (Ngũ vị hương), món ăn đường phố (lục tào xá). Nhận định theo kiểu truyền thông bây giờ là Tôn vinh Top thương hiệu của từng ngành hàng theo bình chọn của người tiêu dùng. Qua đó ta có thể biết được những thứ nổi tiếng của miền Nam thuở xưa (thập niên 1960, 1970).


Hai trong số 6 thương hiệu trên khá đặc biệt ở chỗ nó không chỉ là tên sản phẩm mà còn là tên địa điểm nữa. Đó là Nhị Thiên Đường, vừa là tên một loại dầu gió, vừa là tên một chiếc cầu (gần nơi sản xuất dầu). Đó là Tam Tông Miếu, vừa là tên một loại lịch, vừa là tên một ngôi chùa (là nơi làm ra lịch).


Bài viết này chỉ lan man về lịch Tam Tông Miếu thôi, không nói về 5 cái top còn lại.


Lịch Tam Tông Miếu là gì?



Lịch Tam Tông Miếu có 2 dạng: lịch block và lịch sách. Về cơ bản nó là một loại sách tử vi, trong đó tập trung chủ yếu là xem ngày tốt, xấu (vì là lịch mà!). Nội dung sách lịch Tam Tông Miếu nói về thiên văn, phong tục, ngày tốt xấu, mùa màng, khai trương...và khá nhiều vấn đề khác của con người, ở những tuổi khác nhau. Còn lịch block thì mỗi tờ lịch đều ghi ngày tốt xấu, nên và không nên làm gì.


Thuở ấy, lịch và sách lịch Tam Tông Miếu được coi như cẩm nang xem ngày của mọi người. Từ thành thị tới thôn quê, cứ đến cận Tết là nhà nhà lại sắm cho mình một cuốn lịch Tam Tông Miếu. Khi định tiến hành một sự kiện gì trọng đại (cưới xin, khai trương, động thổ...) là lại giở lịch ra xem ngày tốt xấu.


Nhìn dưới góc độ kinh doanh ngày nay, lịch và sách lịch Tam Tông Miếu là sản phẩm đầu tiên và duy nhất đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng nên nhanh chóng thống lĩnh thị trường và tạo nên thương hiệu vững mạnh.


Tại sao lại là Tam Tông Miếu?


Gọi là lịch Tam Tông Miếu vì lịch này do chùa Tam Tông Miếu (hiện ở số 82 Cao Thắng, q.3, TPHCM) biên soạn và phát hành.


Chùa Tam Tông Miếu


Vậy tại sao chùa lại là Tam Tông Miếu?


Kỳ thật, Tam Tông Miếu không phải là một ngôi chùa Phật giáo, mà là nơi thờ tự của Minh Lý đạo. Minh Lý đạo được kể là một trong ngũ chi của đạo Cao Đài. Đạo ra đời năm 1924, lấy Tam giáo (Phật, Nho, Lão) làm tôn chỉ. Mặc dù được xem là một trong ngũ chi của Cao Đài nhưng Minh Lý đạo không hẳn là Cao Đài (xin chú ý là đạo Cao Đài như ta biết ra đời năm 1926, sau Minh Lý đạo). (Tôi hy vọng là sẽ có một bài viết tản mạn cùng các bạn nhiều hơn về chuyện này, còn bài viết này chủ yếu là nói về lịch Tam Tông Miếu).


Ngày 3/1/1926, qua huyền cơ, Đức Diêu Trì Kim Mẫu ban cho chữ hiệu của chùa là "Tam Tông miếu". Ngài Minh Thiện, chủ trì Tam Tông Miếu, đã giải thích ý nghĩa chữ Tam Tông Miếu như sau (tóm tắt):


Chữ Tam nghĩa là ba, chữ Tông nghĩa là Tông Tổ, là gốc chánh. Miếu là đền thờ. Chỗ hiệp ba tông đem về một mối gọi là qui nguyên. Nguyên là bổn thể có một mà hiện tượng là trạng thái phát sanh ra ngoài, tỉ như một gốc cây có nhiều chi nhiều nhánh, mà chi nhánh đó không thể rời khỏi gốc rễ của nó mà tự sống riêng biệt được. Tam Tông là cái tên tổng quát gồm nhiều ý nghĩa, kể ra sau nầy:

Tam giáo đồng nguyên.
Tam tài nhứt thể.
Tam Ngũ hiệp nhứt hay Tam gia tương kiến.


Trong đó ý nghĩa quan trọng nhứt là Tam giáo đồng nguyên, với Tam giáo là ba tôn giáo lớn ở Đông Nam Á, tức là: Đạo Phật, Đạo Lão, Đạo Khổng.


Dưới góc nhìn kinh doanh, lịch Tam Tông Miếu là một thương hiệu có giá trị cao, được sự nhận biết và yêu thích của đông đảo khách hàng (miền Nam) trong thời gian dài. Mấy chục năm qua, chắc là chùa Tam Tông Miếu chưa đăng ký quyền sở hữu trí tuệ đối với thương hiệu Lịch Tam Tông Miếu, tuy vậy nếu bây giờ đăng ký vẫn còn có hiệu lực nhờ vào các yếu tố lịch sử (các sách lịch cũ vẫn còn đó, bìa sách vẫn in sờ sờ hình ngôi chùa Tam Tông Miếu...)


Lịch Tam Tông Miếu có từ bao giờ?


Đạo Minh Lý ra đời từ 1924. Ngôi chùa Tam Tông Miếu như hiện giờ được xây dựng từ 1957, hoàn thành năm 1960. Còn theo một số thông tin thì quyển lịch Tam Tông Miếu đầu tiên ra đời năm 1947. Tiếc rằng tôi không tìm thấy hình ảnh quyển lịch Tam Tông Miếu năm 1947 ấy, hình ảnh xưa nhất tôi tìm thấy là quyển lịch năm 1954.


Lịch Tam Tông Miếu 1954


Lịch Tam Tông Miếu 1962


Lịch Tam Tông Miếu 1969


Nếu kể từ năm 1947 thì đến 1975 đã có 29 bộ lịch Tam Tông Miếu ra đời, một tuổi thọ khá dài cho một sản phẩm văn hóa. 


Khi tôi hỏi thăm một vị môn sinh ở Tam Tông Miếu thì vị này cho biết rằng từ sau 1975 Nhà nước không cho phép xuất bản nữa. Một chi tiết khá bất ngờ là Minh Lý đạo và chùa Tam Tông Miếu chỉ mới được Ban Tôn giáo Chính phủ công nhận từ năm... 2008! 33 năm không hề được công nhận. Hic, không công nhận thì lấy tư cách gì mà xin giấy phép xuất bản?


Bên cạnh lý do pháp lý bất khả kháng nêu trên, theo tôi còn 2 lý do. Một là, theo thời gian, Tam Tông Miếu không còn nhân lực để biên soạn lịch nữa. Hai là, hiện nay có khá nhiều xuất bản phẩm có chức năng xem ngày tốt xấu như lịch Tam Tông Miếu khiến cho lịch này có ra đời cũng không còn giữ vị trí độc tôn như ngày xưa.


Lịch Tam Tông Miếu không còn ở Việt Nam, nhưng lại còn ở... Mỹ. Một môn sinh chùa Tam Tông Miếu là ông Nhựt Thanh - từng tham gia biên soạn lịch Tam Tông miếu trước 1975 - đã rời khỏi Việt Nam từ tháng 4/1975 (ông này đi cùng chuyến bay sang Đài Loan với Tổng thống VNCH Nguyễn văn Thiệu). Ông Nhựt Thanh là nhà tử vi, đã biên soạn lịch sách tử vi, lúc đầu cho chùa Khánh Anh, rồi sau đó bộ lịch - bao gồm lịch block và lịch sách - được mang tên là lịch Tam Tông Miếu - Nhựt Thanh. Bộ lịch này được phát hành hàng năm, cho đến tận bây giờ (2017)


Lời ông Nhựt Thanh kể như sau:


“Đầu tiên lịch sách và lịch block Tam Tông Miếu có mặt tại Pháp vào năm 1976 và được Hàn Lâm Viện tại Pháp công nhận… Năm đó, ông Trần Văn Bá, chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên tại Pháp nhờ một nhóm bạn kiến trúc sư bỏ dấu tiếng Việt bằng tay vào bản thảo đầu tiên đánh bằng máy đánh chữ tiếng Anh cho Bộ Lịch Tam Miếu và đem in, bộ lịch Tam Tông Miếu đầu tiên đã được ra đời tại hải ngoại từ đó.

Năm 1979, Lịch Tam Tông Miếu đầu tiên in tại Mỹ và ra mắt cộng đồng người Việt tại đây. Cộng đồng người Việt phát triển tới đâu thì lịch Tam Tông Miếu có mặt tới đó."


Ai là người đầu tiên biên soạn lịch Tam Tông Miếu?


Dĩ nhiên là chùa Tam Tông Miếu rồi, nhưng cụ thể là AI?


Theo lời kể của ông Nhựt Thanh:


“Thuở bé lúc 1 tuổi tôi là trẻ mồ côi được mang về ở trong chùa, và tôi được học ngành thiên văn học để làm lịch số. Năm 1968, tôi 18 tuổi, bắt đầu đặt bút viết cho bộ lịch số Tam Tông Miếu. Đây là bộ Lịch làm theo triết lý tốt đẹp của cuộc sống, theo vũ trụ quan. Lúc đó, tôi chỉ được viết các câu dạy 30 ngày đầu theo đạo Phật, 30 ngày theo đạo Lão và 30 ngày sau viết theo đạo Khổng."


Như vậy, ông Nhựt Thanh chỉ bắt đầu tham gia biên soạn lịch Tam Tông Miếu từ năm 1968, 21 năm sau khi quyển lịch đầu tiên ra đời. Còn trước đó thì sao?


Theo sách "Ngài Minh Thiện - Cuộc đời và đạo nghiệp" do chùa Tam Tông Miếu ấn tống năm 2010 thì:


"Ngài Minh Thiện đem hết sức lực, tâm trí, ngày đêm nghiên cứu, học hỏi các kinh sách như bói toán, bốc dịch, tướng số, thiên văn, địa lý, y học. Môn nào cũng nhờ thầy chuyên môn chỉ dẫn tận tường, chớ không chịu đọc sách qua loa.


Do đó lịch Tam Tông Miếu được nghiên cứu tinh vi, nên được khắp nước Việt Nam tin tưởng và ưa chuộng."


Cũng cần nói thêm là ngài Minh Thiện - chủ trì Tam Tông Miếu - là người am hiểu Pháp và Hán văn nên có năng lực tiếp thu các kiến thức nói trên rất tốt.


Do vậy, có thể nhận định rằng chính ngài Minh Thiện là trưởng ban biên tập, cùng với các cộng sự của mình ở chùa Tam Tông Miếu là những người đầu tiên nghĩ ra và biên soạn bộ lịch Tam Tông Miếu này.


Sách lịch Tam Tông Miếu cũ được rao bán trên mạng


Tiếc thay cho một sản phẩm thương hiệu Việt rất nổi tiếng đã không còn tồn tại ở Việt Nam nữa, dù rằng bây giờ những người lớn tuổi ở miền Nam vẫn còn nhớ và biết tới thương hiệu này, nhất là vẫn còn được lưu truyền qua lời ca Nhất Dương Chỉ - Nhị Thiên Đường - Tam Tông Miếu...


Phạm Hoài Nhân

Mang hài cốt Nguyễn Thiện Thuật về với quê hương

đăng 00:59, 6 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Khi khai quật mộ danh tướng Nguyễn Thiện Thuật, bên dưới quan tài còn nguyên bia đá cũ. Đây là cách quy tập mộ kiểu cũ nhưng rất có giá trị, đề phòng vì bất cứ lý do gì nếu bia mộ phía trên bị hư hỏng hay mất mát, khi tìm thấy mộ người ta vẫn xác định được mộ phần của ai. 

Nguyễn Thiện Thuật, thủ lĩnh của khởi nghĩa Bãi Sậy, quê ở làng Xuân Đào, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, Hưng Yên. Ông là hậu duệ đời thứ 30 của Nguyễn Trãi. 

“Vua Bãi Sậy” 

Năm 1874, khi đã đỗ tú tài, Nguyễn Thiện Thuật tiếp tục đỗ cử nhân rồi đình nguyên tiến sĩ. Ông được thăng chức tri phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, rồi được bổ nhiệm giữ chức tán tương quân vụ tỉnh Hải Dương (vì thế nhân dân thường gọi ông là Tán Thuật). Khi thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai năm 1882-1883, nhà Nguyễn đầu hàng nhưng Nguyễn Thiện Thuật đã kháng lệnh triều đình, ông rút lên Hưng Hóa, Tuyên Quang rồi thành Lạng Sơn để kháng Pháp. Khi thành thất thủ năm 1885, ông rút sang Trung Quốc (TQ). 

Tháng 7-1885, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương. Nguyễn Thiện Thuật trở về nước, thành lập căn cứ địa Bãi Sậy. Dưới sự lãnh đạo của ông, khởi nghĩa Bãi Sậy lan ra khắp tỉnh Hưng Yên và một số tỉnh lân cận như Hải Dương, Thái Bình. 

Căn cứ Bãi Sậy là khu rừng sậy ở giữa các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ và Mỹ Hào. Căn cứ Bãi Sậy có vị trí hiểm yếu, tiện phòng thủ, thuận lợi trong tiến công; quân Pháp nhiều lần tấn công nhưng không dẹp được, còn bị tổn thất nặng nề, quân Pháp đặt cho ông biệt danh là “vua Bãi Sậy”. Từ sau khi vua Hàm Nghi bị bắt (năm 1888) và lưu đày ở châu Phi, phong trào Cần Vương bắt đầu suy yếu. Sức mạnh của quân Bãi Sậy cũng suy yếu dần. Quân Pháp thiết lập được nhiều đồn quanh căn cứ Bãi Sậy để chia cắt người dân với nghĩa quân. 

Trước tình hình khó khăn, Nguyễn Thiện Thuật giao quyền lãnh đạo cho em là Nguyễn Thiện Kế, rồi sang TQ mưu tính các cuộc vận động mới để chống Pháp nhưng không thành. 

Sự nghiệp chưa thành, ông mất vì bệnh ngày 25-5-1926 tại TQ. 

Mộ và nhà bia của Nguyễn Thiện Thuật. 


Viếng mộ người anh hùng 

Năm 1956, ông Đỗ Đình Truật sang TQ phụ trách các lớp học tại Học xá Nam Ninh. Cũng tại đây ông gặp và làm quen với học giả Trần Văn Giáp. Thời điểm bấy giờ ông Giáp đến Nam Ninh để tìm dấu vết của Hồ Quý Ly, do một số tài liệu Minh sử ghi rằng Hồ Quý Ly bị đày làm lính thú rồi bị giết tại đây. Sau khi nghiên cứu các tài liệu cổ sử ở Nam Ninh, ông Giáp khẳng định thông tin Hồ Quý Ly bị đày đến Quảng Tây là không có thực. Đây là những thông tin nền móng đầu tiên giúp ông Truật sau này đi tìm mộ Hồ Quý Ly. 

Rồi một hôm ông Giáp nói với ông Truật: “Sáng mai chúng ta sẽ đi viếng mộ một người anh hùng, đấy là cụ Tán Nguyễn Thiện Thuật”. 

Ông Truật ngạc nhiên, hỏi lại: “Hóa ra mộ cụ Tán Thuật ở ngay Nam Ninh đây sao?”. 

Ông Giáp nói: “Đúng vậy! Ta nhờ con viết một bài điếu để đọc trước mộ của cụ”. 

Được giao trọng trách nhưng thay vì viết bài điếu, ông Truật lại làm một bài thơ dài, trong đó có những câu: “Rừng lau trại sậy quân một nhóm/ Chính nghĩa không mờ nghĩa quốc gia…”. 

Sáng hôm sau hai thầy trò đi đến đồi Quan Kiều, sau khi len lách qua nhiều ngôi mộ, cả hai đến trước một ngôi mộ với bia đá ghi dòng chữ “Việt Nam cách mạng. Cố tướng quân Nguyễn Công Thiện Thuật - Chi mộ”. Tại đây hai thầy trò đã cúi đầu thắp hương tưởng nhớ vị chủ tướng của khởi nghĩa Bãi Sậy, nay nấm mồ xanh cỏ nơi đất khách quê người. 

Ông Giáp nói với ông Truật: “Bây giờ đất nước ta tuy không còn bị Pháp đô hộ nhưng vẫn còn chưa thống nhất, tình hình chính trị-xã hội chưa yên. Khi nào đất nước yên bình, phải báo tin cho con cháu cụ Tán Thuật biết để đưa hài cốt cụ về với quê hương”. 

Ông Truật ghi nhớ lời dặn dò đó… 

Đi tìm con cháu cụ Tán Thuật 

Khi Cách mạng văn hóa xảy ra tại TQ, tình hình bất ổn, nhiều du học sinh Việt Nam, trong đó có ông Truật phải về nước. Tới khi chiến tranh biên giới nổ ra, việc qua lại giữa hai bên bị cách trở. Cho đến khi hai nước bắt đầu bình thường hóa quan hệ những năm 1990, ông Truật cùng học trò Nguyễn Thiện Đức mới liên hệ với những người thuộc dòng họ Nguyễn Thiện Thuật để thông tin. Do là dòng dõi của Nguyễn Trãi nên dòng họ khá đông (ông Nguyễn Thiện Đức cũng là bà con với Nguyễn Thiện Thuật nhưng là họ xa), trong khi cần phải tìm người là dòng dõi trực hệ để rước hài cốt về. 

Trong cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, gia đình Nguyễn Thiện Thuật là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh kháng Pháp đến cùng. Hai người cháu ruột của Nguyễn Thiện Thuật bị triều đình tay sai nhà Nguyễn xử tử. Hai người em ruột của ông là Nguyễn Thiện Dương, Nguyễn Thiện Kế đều hy sinh vì nước. Hai người con trai Nguyễn Thiện Tuyển, Nguyễn Thiện Thường hy sinh anh dũng. Sau khi Bãi Sậy tan vỡ, anh hùng Nguyễn Thiện Tuyển về chiến khu Yên Thế tiếp tục chiến đấu, sau bị giặc bắt và bị xử chém tại Bần Yên Nhân vào tháng 4-1909. Do vậy, để dò hỏi tìm được hậu duệ của cụ Thuật rất khó khăn trong điều kiện thông tin ít ỏi ngày đó. 

Rồi có người cho ông Truật biết ông Trần Trọng Tân (lúc đó đang là phó bí thư Thành ủy TP.HCM) có biết người cháu nội của Nguyễn Thiện Thuật, vậy là ông Truật tới tìm hiểu thì đúng như vậy. 

Nguyên cụ Nguyễn Thiện Thuật còn một người con trai tên Nguyễn Văn Sâm, lúc khởi nghĩa Bãi Sậy hãy còn nhỏ tuổi, sau này ông Sâm vào Huế làm nghệ nhân cung đình chuyên tu bổ, sửa chữa các công trình trong hoàng thành rồi ông vào Nam sinh sống. Ông Sâm có một người con trai tên Nguyễn Văn Long đã tham gia hoạt động cách mạng, là bí thư Biên Hòa đầu tiên. Sau năm 1954, ông Long tập kết ra Bắc, làm giám đốc Công an Hà Nội trong nhiều năm. Chính ông Long cũng là người thành lập nên đội bóng đá Công an Hà Nội vào năm 1956. Khi nghỉ hưu, ông về sống ở TP.HCM. Khi ông Truật tìm tới, ông Long lúc này đã gần 90 tuổi nhưng vẫn còn rất mạnh khỏe và minh mẫn. Được biết tin về mộ phần ông nội của mình, ông Long rất vui mừng. 

Đưa người về với quê hương 

Ông Long đã nhờ ông Vũ Hắc Bồng (lúc đó là giám đốc Sở Ngoại vụ TP.HCM) soạn một công văn gửi qua TQ, trong đó nêu rõ nguyện vọng gia đình muốn xin mang hài cốt tướng quân Nguyễn Thiện Thuật về lại cố hương. Mấy tháng sau bên TQ gửi công văn phúc đáp, họ cho biết do kinh tế phát triển nên TP Nam Ninh đã mở rộng ra, khu vực nghĩa trang ở đồi Quan Kiều vì vậy phải giải tỏa để thành khu dân cư. Ngôi mộ của cụ Nguyễn Thiện Thuật cũng như các ngôi mộ khác ở đây đã bị giải tỏa mấy năm trước đây nhưng không rõ đã quy tập về đâu. Họ sẽ kiểm tra kỹ lại rồi sẽ thông tin sau. Khi nghe tin này, cả ông Truật lẫn ông Long đều rất lo lắng… 

Rất lâu sau, bên TQ mới gửi công văn sang lần nữa, thông báo đã tìm thấy nơi quy tập hài cốt của Nguyễn Thiện Thuật. Thì ra có một ân nhân là một người Việt sống ở TQ, với tấm lòng dành cho một anh hùng đất nước, người này đã đứng ra lo liệu hết mọi việc để di dời mộ phần của Nguyễn Thiện Thuật sang đồi Đại Lĩnh nằm ở phía Nam TP Nam Ninh, cùng khu vực nghĩa trang của bộ đội, thương binh Việt Nam sang TQ điều trị và mất tại đây trước năm 1975. 

Đến năm 2005, tỉnh Hưng Yên đã phối hợp với địa phương và dòng họ của lãnh tụ khởi nghĩa Bãi Sậy Nguyễn Thiện Thuật sang Nam Ninh để bốc mộ. Tại đồi Đại Lĩnh, sau khi làm các thủ tục pháp lý và thủ tục tâm linh (xin phép long thần thổ mạch tại địa trạch cũng như kính xin linh hồn Nguyễn Thiện Thuật cho phép mang hài cốt về quê hương). Hài cốt của ông sau đó được đưa về an táng tại quê hương Xuân Dục, huyện Mỹ Hào. Khu di tích lăng mộ của ông được đặt gần với cây đề cổ thụ, vốn là vọng gác tiền tiêu của nghĩa quân Bãi Sậy năm xưa. Đây không chỉ là mang ý nghĩa lịch sử. 

Để tạ ơn đã báo tin về phần mộ tổ tiên, ông Long, lúc này đã 94 tuổi, mời hai thầy trò ông Truật tới nhà dùng cơm. 

“Đấy là một bữa tiệc thịnh soạn, chúng tôi được mời uống rượu quý nhiều năm tuổi đựng trong chén cổ. Ông Long rất vui và hài lòng vì vào những ngày tháng cuối của cuộc đời, ông đã được chứng kiến phần mộ ông nội trở về với quê hương” - ông Nguyễn Thiện Đức nhớ lại… 

PHẠM TRƯỜNG GIANG

Nhớ Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà

đăng 06:23, 1 thg 8, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nghe tin Nhà hát Nghệ thuật hát bội TP.HCM phục dựng vở Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà (kịch bản: Đinh Bằng Phi - Đức Hiền, đạo diễn: Nguyễn Hoàn), trong đầu tôi lại văng vẳng giọng ca của Minh Cảnh và Lệ Thủy trong hai bài vọng cổ cùng tên.

Vở tuồng kinh điển Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà trên sân khấu


Viết truyện để dân ta biết sử ta

Khoảng giữa thập niên 1960, khi là một chú nhỏ học lớp nhất, tôi ôm mộng lớn lên làm nghệ sĩ hát cải lương. Mỗi khi gần hết giờ học, cô giáo người Bắc mê nghe hát cải lương vọng cổ thường tổ chức văn nghệ cuối giờ. Ấy thế là thằng nhỏ tui được leo lên sân khấu là cái bục giáo viên để hát bài ruột Võ Đông Sơ. Lúc ấy tôi thần tượng giọng ca Minh Cảnh thần sầu - nhất là khi nghe bài Võ Đông Sơ của soạn giả Viễn Châu: “Tuấn mã ơi hãy phi nhanh về báo cho quân ta được rõ, rằng Võ Đông Sơ đã vùi thây nơi gió bụi quan... hà”. Trên 50 năm rồi mà tôi còn nhớ câu vọng cổ này! 

Bài hát chỉ nói về nội dung Võ Đông Sơ sa cơ vào tay giặc chứ không thể kể hết nội dung thiên tình sử trắc trở của đôi trai tài gái sắc Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà trong tiểu thuyết Giọt máu chung tình của Tân Dân Tử, một tiểu thuyết chương hồi in lần đầu năm 1926. Tiểu thuyết này hấp dẫn độc giả vô cùng nên được tác giả Nguyễn Tri Khương viết thành vở kịch Giọt máu chung tình (còn gọi là Giọt lệ chung tình năm 1927); soạn giả Mộc Quán - Nguyễn Trọng Quyền viết thành vở cải lương Giọt máu chung tình (1928). Rồi đến thời lứa tuổi của tôi thì có Võ Đông Sơ (Minh Cảnh ca) và Bạch Thu Hà (Lệ Thủy ca) do soạn giả Viễn Châu sáng tác (1960)... 

Đọc lại quyển Văn học Quốc ngữ ở Nam kỳ 1865 - 1930 của nhà nghiên cứu Bằng Giang, biết rằng tiểu thuyết Giọt máu chung tình với nhân vật nam chính Võ Đông Sơ - mà tác giả Tân Dân Tử gán cho là con trai của Chưởng hậu quân Võ Tánh - ra đời là cách để phản ứng với làn sóng truyện Tàu đang tràn ngập thị trường. Theo Bằng Giang thì truyện Tàu được tiêu thụ mạnh vì mảnh đất sáng tác văn học của ta ở Nam kỳ vẫn là mảnh đất trống. Từ năm 1904 - 1910 có 46 bộ truyện Tàu được xuất bản mà tiểu thuyết của ta chẳng có quyển nào. Mãi đến năm 1912 truyện Hà Hương Phong Nguyệt của Lê Hoằng Mưu mới xuất hiện trên báo Nông Cổ Mín Đàm. 

Truyện Tàu phát triển mạnh vì phương tiện giải trí của người dân cũng hiếm hoi. Rạp hát đầu tiên xây dựng tại Sài Gòn năm 1900 nhưng chỉ dành cho người Pháp, rồi kế đến là rạp hát bóng xây dựng bằng vật liệu nhẹ năm 1908 cũng chẳng phải dành cho giới bình dân. Chưa kể đến truyện Tàu viết vô cùng hấp dẫn, đầy đủ trung hiếu tiết nghĩa như Nhạc Phi - Tần Cối, pháp thuật ly kỳ như Tôn Tẫn - Bàng Quyên, chiến đấu ác liệt, mưu trí khôn cùng như Tam quốc chí… người đọc mà không mê mới lạ. 

Một số nhà văn Nam kỳ như Trương Duy Toản, Phạm Minh Kiên, Hồ Biểu Chánh, Tân Dân Tử mới tức mình phản ứng bằng cách sáng tác truyện Việt dựa theo quốc sử. Phạm Minh Kiên, tác giả truyện dã sử Tiền Lê vận mạt, 1932 từng viết: “Người mình nên biết sự tích nước nhà cho lắm lắm. Hỏi thử Trương Lương, Hàn Tín, Hạng Võ, Tiêu Hà thì làu thông; còn hỏi lại ai là anh hùng hào kiệt nước ta thì ngẩn ngơ chẳng biết”. Với sự “căm phẫn” đó, Tân Dân Tử đã cho Võ Đông Sơ là tướng nhà Nguyễn chiến đấu ác liệt với quân… Mãn Thanh xâm lược rồi tử trận. Bạch Thu Hà tuẫn tiết theo Võ Đông Sơ gây nên sự căm thù quân xâm lăng và thương cảm cho nhân vật từ phía độc giả. 

Trong truyện, tác giả có cho trước miếu thờ Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà đôi câu liễn khắc lên thạch trụ: “Phận đứng anh hùng, một thác ơn đền non nước Việt/Tấm gương liệt nữ, ngàn thu danh rạng đất trời Nam”. Với nhân vật chính là Võ Đông Sơ mà tác giả cho là con của Võ Tánh và bối cảnh thời Gia Long, nhiều người đọc tin rằng tích đôi anh hùng - thuyền quyên này là chuyện có thật vì Tân Dân Tử từng có hai tiểu thuyết là Gia Long tẩu quốc và Gia Long phục quốc nên lại càng tin là chuyện thiệt! 

Bìa tiểu thuyết Giọt máu chung tình qua các thời kỳ Ảnh: T.L 


Thiên tình sử của đôi trai tài gái sắc 

Vở kịch Giọt máu chung tình lần đầu tiên được biểu diễn vào năm 1927 do cụ Nguyễn Tri Khương viết dựa theo tiểu thuyết cùng tên của Tân Dân Tử. Nội dung cốt truyện như sau: Võ Đông Sơ là con của Hoài Quốc công Võ Tánh và công chúa Ngọc Du. Bạch Thu Hà là con quan Tổng trấn Tây Thành Bạch Công. Sau khi Võ Tánh tuẫn tiết, Võ Đông Sơ sống với người chú ruột tại Bình Định luyện võ, ôn văn chờ dịp cứu nước. Lúc bấy giờ có giặc Tàu Ô (chỉ những toán cướp biển từ Trung Quốc) đang hoành hành ở Biển Đông, triều đình mở khoa thi để chọn tướng tài dẹp giặc. Võ Đông Sơ ra kinh ứng thí. 

Trong một lần Võ Đông Sơ ra tay đánh bọn cướp cứu tiểu thư Bạch Thu Hà trên đường đi lễ chùa, đôi trai tài gái sắc đã phải lòng nhau. Sau đó, Võ Đông Sơ thi đỗ võ quan được phong làm đô úy lãnh quân đi dẹp giặc. Ở nhà, Bạch Thu Hà bị gia đình bắt phải lấy một tên vô lại - bạn của anh trai Bạch Xuân Phương tên là Trần Xuân. Bạch Thu Hà bỏ trốn khỏi nhà, phiêu bạt tìm người yêu Võ Đông Sơ. Trong cơn hoạn nạn, Bạch Thu Hà được Triệu Dõng và em gái Triệu Dõng là Triệu Nương cứu giúp thoát khỏi tay chủ sơn trại Nhứt Lang ép làm vợ. Sau cùng, Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà lại được trùng phùng. Nhưng không lâu sau, biên ải có giặc, vua ban chiếu cử Võ Đông Sơ cầm binh lên Lạng Sơn đánh đuổi giặc ngoại xâm. Võ Đông Sơ tử trận. Trong phút giây hấp hối chàng không ngừng gọi tên Bạch Thu Hà và nhắn gửi ba quân báo hung tin cho nàng hay. Bạch Thu Hà đã khóc thảm thiết bên linh cữu Võ Đông Sơ rồi dùng gươm báu quyên sinh để giữ trọn sự chung thủy. 

Năm 1928, trên sân khấu Huỳnh Kỳ của vợ chồng Bạch Công tử cũng dựng vở Giọt máu chung tình do Mộc Quán - Nguyễn Trọng Quyền ở Cần Thơ soạn và nữ nghệ sĩ đóng vai Bạch Thu Hà là Phùng Há. Vở này được nhiều đoàn cải lương dựng lại với các tài danh như Hùng Cường, Bạch Tuyết, Phượng Loan... nhưng người mộ điệu cải lương vẫn nhớ nhất hai bài vọng cổ của soạn giả Viễn Châu là Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà do Minh Cảnh và Lệ Thủy ca. 

Về sau, các nhà nghiên cứu văn học Nam kỳ thời kỳ này như ông Bằng Giang cho biết Võ Tánh và công chúa Ngọc Du chỉ có người con trai là Võ Khánh. Còn Võ Đông Sơ chính là con của... Tân Dân Tử sinh ra để chống lại cơn dịch truyện Tàu và khơi gợi lòng ái quốc của đồng bào đang sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp.

Tân Dân Tử tên thật là Nguyễn Hữu Ngỡi (1875 - 1955), quê quán ở H.Thủ Đức, tỉnh Gia Định, nay thuộc Q.Thủ Đức, TP.HCM. Ông xuất thân trong gia đình có truyền thống nho học. Sau khi tốt nghiệp Trường Thông ngôn Sài Gòn, Tân Dân Tử được bổ làm kinh lịch ở Chợ Lớn, về sau được thăng chức huyện hàm. Tân Dân Tử được xem là nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử đầu tiên và tiêu biểu nhất của văn học quốc ngữ Nam bộ nửa đầu thế kỷ 20.


Lê Văn Nghĩa

Thanh niên online - 30/07/2017

Cây bao báp lâu đời nhất Sài Gòn vào mùa nở hoa

đăng 04:01, 15 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Bao báp là loài cây đặc trưng của châu Phi nhưng ngay ở trung tâm TP HCM có cây được trồng 25 năm, đang nở hoa.

Bao báp là loài cây nổi tiếng của châu Phi, hiếm thấy ở Việt Nam. Nhưng ngay trong khuôn viên ĐH Sư phạm TP HCM (quận 5) cũng có một cây bao báp cao lớn, đang phát triển xanh tốt suốt gần 25 năm qua.


PGS-TS Nguyễn Kim Hồng (hiệu trưởng ĐH Sư phạm TP HCM) cho biết, cây được trồng từ hạt giống do thầy Nguyễn Quý Tuấn, nguyên giảng viên khoa Sinh vật của trường, mang về từ Angola năm 1993. "Lý do thầy Tuấn mang hạt giống về vì đây là loại cây nổi tiếng về học thuật, mang hình ảnh mạnh mẽ và là biểu tượng của châu Phi", thầy Hồng nói.


Sau gần 25 năm phát triển, cây bao báp cao khoảng 15 m với bộ gốc to lớn có đường kính bằng vòng tay của 2 người lớn ôm. Ở châu Phi, loài cây này dễ trồng, chỉ cần vứt hạt xuống đất. Cây có chiều cao 5-25 m và sống được hàng trăm năm.


Mục đích ban đầu của thầy Tuấn là muốn uốn cây bao báp thành bonsai trong nhà nhưng không được vì cây lớn nhanh. Nhà chật nên ông phải mang cây vào trường trồng.


"Cây bao báp trong khuôn viên ĐH Sư phạm lớn nhanh, đến năm 2003 thì ra hoa. Tuy nhiên, do điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu ở TP HCM không hợp nên cây không thể kết trái", thầy Hồng chia sẻ.


Lá bao báp thường rụng vào đầu mùa khô khiến cây chỉ còn lại những cành trơ trụi. Hoa bao báp ra vào mùa hè với cuống có thể dài đến một mét, nụ to gần bằng nắm tay.


Hoa bao báp to gần bằng một bàn tay, bắt đầu nở vào cuối buổi chiều, rạng rỡ nhất về đêm.


Dù vậy, hoa nhanh chóng héo rũ ngay sau khi nở được nửa ngày, khi ánh nắng xuất hiện. "Khi cây còn nhỏ, Thảo Cầm Viên Sài Gòn từng đến xin về trồng nhưng nhà trường không đồng ý vì chúng tôi xem cây như báu vật của trường", thầy Hồng chia sẻ.


TP HCM còn ba cây bao báp khác nhỏ hơn, được trồng ở Thảo Cầm Viên Sài Gòn, có tuổi đời khoảng 20 năm. 


Cây bao báp được trồng rất ít ở Việt Nam. Ngoài TP HCM, đến nay, cây còn được trồng ở Hà Nội, Kiên Giang và Huế. Trong đó, cây ở Kiên Giang có tuổi đời ước tính khoảng 100 năm.


Quỳnh Trần

Kiến trúc nhà mồ Bá hộ Xường

đăng 21:11, 11 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Ông Lý Tường Quan là một trong bốn hào phú giàu có nức tiếng đã đi vào thành ngữ vùng Nam kỳ “Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định”. Vì thế mà khu nhà mồ của vợ chồng ông Lý Tường Quan (hay còn gọi là Bá hộ Xường) ở phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh cũng thể hiện sự bề thế, mang giá trị kiến trúc - văn hóa Á Đông độc đáo. 

Bá hộ Xường tên thật là Lý Tường Quan (1842 - 1896), một người giàu nức tiếng ở Nam Bộ từ cuối thế kỷ thứ 19. Ngược dòng lịch sử, vào nửa cuối thế kỷ 19, ông Lý Tường Quan làm thầu xây dựng các công trình nhà phố, cầu cống, chợ và kinh doanh thịt cá xuất khẩu. Ông nhanh chóng trở thành một hào phú với số tài sản kếch xù.

Theo ông Lý Thanh Liêm, cháu trưởng 5 đời của ông Lý Tường Quan, sinh thời, người giàu thứ ba Nam kỳ lúc bấy giờ đã chọn trước khu đất ở quê ngoại để làm nhà mồ. Công trình được con cháu cùng nhau xây dựng khi ông mất đi vào năm 1896.

Phần trước và mái của khu nhà mồ được trang trí công phu.


Hai bức tượng đá đứng hai bên hương án và lư hương được chạm khắc công phu.


Trần nhà mộ hình vòm, bốn góc trang trí hoa văn dây hoa cúc đối xứng.


Ông Lý Thanh Liêm giới thiệu những bức phù điêu bằng đá trên mộ phần của ông Lý Tường Quan.


Chi tiết trang trí trên mái nhà mồ mang đậm giá trị văn hóa truyền thống.


Các loại trái cây đặc trưng vùng đất Nam Bộ được chạm khắc trên đầu mỗi cột trụ của khu nhà mồ.


Một họa tiết chạm khắc tinh xảo trên đá trong nhà mồ.


Cửa vòm theo lối kiến trúc gothique tạo không gian thoáng đãng cho nhà mồ. 


Tham quan nhà mồ từ bên ngoài, dễ nhận thấy 4 cột cổng được tạo dáng đẹp mắt với những họa tiết đắp nổi có bố cục cân đối, hình khối đơn giản nhẹ nhàng. Phía trên, mái nhà mồ được lợp ngói màu xanh rêu, ở đầu mỗi viên ngói đều có khắc họa tiết hoa cúc với đường nét mềm mại. Điểm nhấn của phần mái là hình bán nguyệt lớn với các chi tiết về thờ cúng như: bát nhang, lọ hoa, dĩa trái cây có màu sắc nổi bật.

Bước vào bên trong nhà mồ, ngay trước mộ phần là hai bức tượng một nam một nữ làm bằng đá chạm khắc công phu, đứng hai bên hương án và lư hương. Trên đầu 4 cột trụ của mộ phần là hình dĩa quả với các loại trái cây đặc trưng vùng đất Nam Bộ như: xoài, mãng cầu, dứa… Xung quanh mộ là các tấm đá chạm khắc những con vật gần gũi với người Việt như: dê, khỉ, thỏ, ngựa, hươu. Đặc biệt, phía sau mộ ngoài hương án còn có tấm văn bia bằng đá, khắc chìm hơn 300 chữ Hán với nội dung tóm tắt tiểu sử, sự nghiệp và những tiếc nối của gia đình đối với ông Lý Tường Quan.

Cũng trong khuôn viên nhà mồ, cách mộ của ông Lý Tường Quan khoảng 2m là mộ của vợ ông, bà Nguyễn Thị Lâu (1847 -1917). Mộ của bà gồm có: tường bao, sân, bia trước mộ, mộ phần và bia sau mộ. Tuy không bề thế như mộ ông Lý nhưng mộ bà Nguyễn Thị Lâu vẫn có nét đẹp riêng với những giá trị về nghệ thuật chạm khắc đá của vùng đất Sài Gòn - Gia Định đầu thế kỷ 20.

Khu mộ phần của bà Nguyễn Thị Lâu.


Bức phù điêu bằng đá hình lân trên mộ phần bà Nguyễn Thị Lâu.


Điêu khắc đá hình người cầm cờ phướn trong đám tang trên thân cột trụ mộ phần bà Nguyễn Thị Lâu.


Văn bia có nội dung giới thiệu về tiểu sử cuộc đời bà Nguyễn Thị Lâu. 


Bài và ảnh: Nguyễn Vũ Thành Đạt

Không gian văn hóa của Hiếu Tín

đăng 21:37, 5 thg 7, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nổi tiếng trong giới trẻ về thú sưu tập, lại chuyên nghiên cứu và giảng dạy về văn hóa, giảng viên Nguyễn Hiếu Tín (Trường Đại học Tôn Đức Thắng, Tp. Hồ Chí Minh) có niềm đam mê đặc biệt với các loại gốm, ấm trà, tượng danh nhân và hiện ngôi nhà của anh trở thành “bảo tàng” thu nhỏ trưng bày các bộ sưu tập độc đáo của mình. 

Trong ngôi nhà 3 tầng của mình, Hiếu Tín dành hết không gian để bài trí đủ các loại đố gốm, tượng các loại, biến nơi đây giống như một bảo tàng thu nhỏ về văn hóa. Trong mỗi bộ sưu tập, Hiếu Tín lại tiếp tục phân loại thành nhiều chủ đề khác nhau, như bộ sưu tập ấm trà được phân chia ra các loại ấm trà theo từng loại chất liệu: gốm Biên Hòa, gốm Nam Bộ xưa hay gốm tử sa Trung Quốc. 

Ngay ở phòng khách, Hiếu Tín bày trang trọng bức tượng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, vị anh hùng dân tộc có công đánh đuổi quân Nguyên Mông dưới triều đại nhà Trần cuối thế kỷ 13. Hai bên tượng Hưng Đạo Vương là hai bình sứ có tích Hai Bà Trưng cưỡi voi đánh giặc, với khí thế chống ngoại xâm ngút trời của dân tộc từ những năm 40 đầu công nguyên. Nói về ý tưởng sưu tập tượng danh nhân, Hiếu Tín cho biết khi đọc các cuốn sách về danh nhân, anh cảm thấy có nhu cầu tìm hiểu sâu hơn về nhân vật qua thần thái, hình dáng các bức tượng được làm từ nhiều chất liệu. Rồi anh mới bỏ công tìm mua các bức tượng độc đáo để làm dày dặn thêm bộ sưu tập của mình.

Bộ sưu tập các loại ấm của Hiếu Tín.


Một chiếc ấm với các họa tiết trang trí phong cảnh Việt Nam.




Các loại ấm trà độc đáo được làm từ những dòng gốm truyền thống Việt như gốm Biên Hòa, gốm Nam Bộ xưa.


Một góc không gian trưng bày bộ sưu tập bình hoa của Hiếu Tín.



Một số hiện vật độc đáo trong bộ sưu tập bình hoa làm bằng gốm Biên Hòa.



Bộ sưu tập một số bình gốm cổ của Hiếu Tín.


Họa tiết trang trí hình thiếu nữ Việt trên bộ sưu tập gốm Biên Hòa.




Bộ sưu tập Ông Địa mang đặc trưng văn hóa Nam Bộ.


Nhờ các hiện vật sưu tầm, Hiếu Tín có thêm tư liệu để phục vụ công việc khảo cứu, làm chất liệu cho đề tài nghiên cứu của mình. 


Từ phòng khách tầng trệt cho đến các phòng trên các tầng lầu, Hiếu Tín chú trọng cách bài trí không gian mang đậm bản sắc văn hóa Việt. Đây như một cách để anh giới thiệu văn hóa dân tộc thông qua một chủ đề văn hóa. Từ những chú cóc có hình dáng đủ tư thế làm bằng gốm, Hiếu Tín sắp xếp thành một lớp học khi cả thầy và trò đều là cóc lấy ý tưởng từ bức tranh dân gian Đông Hồ “Lão Oa đọc sách”. Ở đây, con cóc được hóa thân thành thầy đồ theo văn hóa người Việt xưa bởi tâm niệm cóc được coi như “linh vật” của con người, “con cóc là cậu ông trời”. Theo Hiếu Tín giải thích: “Nền văn minh Việt có từ lâu đời, thể hiện qua nghiên cứu về chữ khoa đẩu, chữ của người Việt cổ có từ thời vua Hùng qua di tích khảo cổ bãi đá cổ Sapa. Đây là loại chữ có hình dáng phảng phất như con nòng nọc, ấu trùng sinh ra loài cóc”. Như vậy, từ xa xưa, cóc đã gắn liền với đời sống tâm linh người Việt qua nhiều các hình tượng văn hóa dân gian.

Đặc biệt, cũng nhờ các bộ sưu tập mà Hiếu Tín có thêm tư liệu để phục vụ cho việc khảo cứu, làm chất liệu cho đề tài nghiên cứu của mình. Hiện tại, anh đang viết về gốm Biên Hòa, nên bộ sưu tập về gốm Biên Hòa trở thành nguồn tư liệu thực tế sinh động cho anh với nhiều loại hiện vật làm từ loại gốm này. Hiếu Tín coi đây như cách “trả ơn” cho những hiện vật khi chúng mang đến cho anh niềm vui vô giá về tinh thần.

Có thể nói, thông qua “bảo tàng” thu nhỏ của Hiếu Tín với từng chuyên đề trưng bày được sắp xếp khoa học, nhiều sinh viên ngành văn hóa, du lịch hay những du khách nước ngoài có cơ hội được hiểu thêm về văn hóa Việt qua từng giai đoạn phát triển. Nơi đây còn là điểm hẹn cho bất kỳ ai có niềm đam mê những nét đẹp văn hóa dân tộc, qua đó tìm cho mình những giờ phút thư thái về tinh thần, được đàm đạo bên ấm trà cùng nhà sưu tập trẻ Hiếu Tín về những giá trị tinh thần được kết tinh từ ngàn đời mà ông cha truyền lại qua bao thế hệ.

Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải

Kiến trúc sư châu Á duy nhất đoạt giải Khôi nguyên La Mã

đăng 08:19, 25 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Với nhiều công trình nổi tiếng để lại như dinh Độc Lập (nay là Hội trườngThống Nhất), Viện Hạt nhân Đà Lạt, Viện ĐH Huế, Đại chủng viện Đà Lạt, chợ Đà Lạt…, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã trở thành một cây cao bóng cả của giới kiến trúc sư Việt Nam. 

Có rất nhiều bài báo viết về kiến trúc sư (KTS) Ngô Viết Thụ nên bài viết này chỉ kể lại vài câu chuyện ít người biết, được chính ông kể cho tôi khi còn sống vào hơn 20 năm trước. Tôi vẫn còn nhớ rõ ông đã mặc một chiếc áo dài xanh khi tiếp tôi, một sự trọng thị hiếm có của bậc tiền bối đối với kẻ hậu sinh… 


Đường đến giải Khôi nguyên La Mã 

Khi còn là sinh viên kiến trúc Paris, ông Ngô Viết Thụ đã đoạt giải Paul Bigot do Viện Hàn lâm tổ chức. Nhờ đó, năm 1955 ông được ưu tiên mời tham dự giải Khôi nguyên La Mã mà không phải thi vòng loại sơ tuyển, chỉ dự thi ở ba vòng trong. Đây là một cuộc thi danh giá nên phải ganh đua với hàng trăm thí sinh xuất sắc của Âu châu. Cuối cùng, cuộc thi chỉ còn có 10 người vào chung kết. Đề thi cuối cùng là phác họa một ngôi thánh đường trên hòn đảo nhỏ vùng Địa Trung Hải. 

Ông đã miệt mài vẽ cho đến khi chỉ còn một tuần nữa hết hạn thì chợt nhận ra mình đã mắc sai lầm khi chọn phương án thiết kế theo phong cách cổ điển. Ông quyết định mạo hiểm khi xé bỏ bản thảo để vẽ lại toàn bộ phương án theo phong cách hiện đại và tư duy mới mang tính đột phá, mặc dù thời gian không còn bao nhiêu nữa. 

Vậy mà cuối cùng ông đã kịp hoàn thành đúng thời hạn. Bài thi được hội đồng chấm thi đánh giá cao nhưng họ chất vấn ông về một lỗi nhỏ do không theo quy tắc: Đó là ngôi thánh đường mà ông thiết kế không nằm xoay mặt về hướng Đông, hướng về Jerusalem như thông lệ, mà lại hướng theo dòng nước. Ông giải thích ngay đó là trọng tâm tư duy đột phá mà ông muốn thể hiện qua thiết kế. Ông cho là giáo đường phải hướng về phía phù hợp nhất để trở thành một thiết kế tốt, hơn là buộc phải nhìn về hướng Jerusalem theo thông lệ xưa cổ, dựa trên giáo lý Ki-tô giáo rằng Thiên Chúa hiện hữu ở khắp mọi nơi chứ không chỉ hiện hữu tại thánh địa Jerusalem. 

Sau khi ông giải thích, hội đồng giám khảo cười. Rồi ông nhận được kết quả đã đoạt giải với 28 phiếu thuận của hội đồng, trừ một phiếu nghịch. Ngày hôm sau báo chí Pháp loan tin: Một người Việt Nam đoạt giải Khôi nguyên La Mã với số phiếu tuyệt đối 28/29. 

Tại sao ông chỉ nhận được có 28 phiếu mà họ lại nói ông đạt phiếu tuyệt đối? Là do báo chí Pháp rất nhạy bén, họ điều tra biết được trong 29 thành viên ban giám khảo thì một vị có học trò ruột cùng tranh giải với ông Thụ nên đương nhiên ông này sẽ không bao giờ chấm cho ai khác ngoài học trò của mình. Lá phiếu bị thiếu của ông Thụ chính là do ông giám khảo kia không bỏ, thành ra báo chí Pháp vẫn cho rằng ông Thụ xem như đạt điểm tuyệt đối là vì vậy. 

Khi kết quả được công bố, đám đông bạn học của ông Thụ, phần lớn là người Pháp, đã công kênh ông lên vai diễu đi suốt khu phố ĐH Latin của Paris. Đây không chỉ là một hành động chúc mừng cuồng nhiệt mà còn là hình ảnh mang tính biểu tượng đặc biệt. Vào thời điểm đó, Pháp đã rút khỏi Việt Nam, dẫu vậy nỗi nhục của người dân bị mất nước, bị thực dân Pháp “đè đầu cưỡi cổ” gần 100 năm vẫn còn in đậm trong tâm trí người Việt. Thành ra hình ảnh ông Thụ ngồi trên vai các bạn học người Pháp về khía cạnh nào đó cũng tạo nên một sự tự hào dân tộc hết sức lớn lao, vượt hơn cả đoạt một giải thưởng mang tầm vóc quốc tế. 

KTS Ngô Viết Thụ được bạn bè công kênh lên vai diễu hành. Ảnh do gia đình cung cấp 


Một đời thờ vợ nuôi con 

KTS Ngô Viết Thụ nói với tôi rằng người Việt thường nói thờ chồng nuôi con, còn ông thờ vợ nuôi con: “Tôi mang ơn vợ tôi rất nhiều, nếu không có vợ tôi, tôi không bao giờ được như ngày hôm nay”. 

Ngày chàng trai học trò nghèo xứ Huế đến Đà Lạt, người đầu tiên Ngô Viết Thụ nói chuyện để hỏi thăm đường đến Trường CĐ Kiến trúc Đà Lạt nhập học là cô gái Võ Thị Cơ, giống như là mối duyên tiền định. 

Nhưng rồi số phận đã sắp đặt cho họ gặp lại nhau. Bà là con gia đình khá giả, cha của bà muốn tìm một sinh viên để dạy thêm cho bà và mấy người em trong nhà nên nhờ người giới thiệu một chàng sinh viên học giỏi và có tư cách đạo đức tốt để làm gia sư. Tình cờ sao đó gia sư lại chính là ông Ngô Viết Thụ. 

Gặp lại nhau, sau một thời gian dài cả hai người đã đi từ mối quan hệ thầy-trò tới quan hệ anh-em, rồi cho đến một ngày ông nhận ra bà mới chính là người tri kỷ của đời mình và họ làm đám cưới. 

Vào lúc đó, Trường CĐ Kiến trúc Đà Lạt được chuyển về Sài Gòn. Các sinh viên có thể chọn chuyển về Sài Gòn hoặc sang Pháp học tiếp. Nhận thấy ông Ngô Viết Thụ rất có tài, gia đình của bà quyết định giúp ông sang Pháp du học để mở mang thêm kiến thức và phát triển tài năng. Nhưng sợ ông mặc cảm phận nghèo phải nương tựa nhờ vả gia đình vợ nên bà quyết định nghỉ học giúp cha mẹ kinh doanh buôn bán để ông yên tâm chỉ chịu ơn mỗi mình vợ mà thôi. Những ngày ở Pháp, ông miệt mài vùi đầu vào học, không ham chơi hay nhìn ngó tới các cô đầm vốn rất để ý tới chàng sinh viên người Việt cao lớn, đẹp trai nhưng lại sống khép mình với phụ nữ. 

Sau khi ông đoạt giải Khôi nguyên La Mã và kết thúc thời gian sống, làm việc ở cung điện Medicis tại Rome theo học bổng của giải thưởng, rất nhiều văn phòng KTS danh tiếng ở Pháp, Ý và một số nước khác đã đánh tiếng mời ông về làm việc với mức lương hậu hĩnh. Tương lai rộng mở, ông có thể cùng vợ con định cư tại châu Âu để chung sống và tạo dựng sự nghiệp, tên tuổi. 

Trong lúc đó, Tổng thống Ngô Đình Diệm gửi GS Bửu Hội sang mời ông về làm việc giúp nước. Trước khi sang Pháp, ông Bửu Hội đến thăm cha của ông là cụ Ngô Viết Quang và mang giúp quà của cụ gửi cho ông là ba trái xoài cùng một bài thơ mang tên Cá gáy hóa long, đại ý chúc mừng ông công thành danh toại nhưng khuyên ông không nên quên nguồn gốc và nên trở về giúp đất nước. 

Sau khi đọc xong thư nhà, ông quyết định thu xếp cùng gia đình trở về Việt Nam luôn. 

Chỉ trong vài năm, ông đóng góp thiết kế nhiều dự án quan trọng của quốc gia khiến đích thân Tổng thống Ngô Đình Diệm vào năm 1960 mời ông nhận chức bộ trưởng Bộ Xây dựng. Đây là một chức vụ có quyền uy và rất “thơm” vì không chỉ điều hành việc xây dựng đất nước mà còn nắm cả bộ phận xổ số kiến thiết vốn là con gà đẻ trứng vàng lúc bấy giờ. Rất băn khoăn, ông hỏi ý kiến vợ, bà khuyên ông không nên nhận vì bản thân ông vốn là con người nghệ sĩ, sáng tạo chứ không phải một chính khách. Ra nhận chức vụ lớn, trách nhiệm cao, phải học hỏi cung cách làm chính trị sẽ ảnh hưởng nhiều đến nghề nghiệp mà “quan nhất thời, dân vạn đại”, theo thời cuộc có thể lên cũng có thể xuống, sẽ có va chạm, xung đột quyền lực chốn quan trường… Thấy vợ nói cũng hợp với ý mình nên ông đã từ chối, chỉ nhận làm cố vấn và giữ chức trưởng văn phòng tư vấn kiến trúc và chỉnh trang lãnh thổ cho phủ tổng thống. Từ đó, Việt Nam Cộng hòa không còn Bộ Xây dựng nữa, việc quy hoạch của toàn miền Nam Việt Nam cho đến năm 1975 chủ yếu do hai văn phòng thực hiện là văn phòng ông Thụ nghiên cứu chiến lược và Tổng nha Kiến Thiết nghiên cứu thực hiện. 


Sau năm 1975, cuộc sống khó khăn, một mình bà cố gắng xoay xở nuôi gia đình hơn 10 người (hai ông bà có tám người con, đặt tên theo một bài thơ của ông nội tặng là Thụ, Tỷ, Bảo, Nam, Sơn, Đào Vân, Châu, Lan) để ông yên tâm cống hiến cho đất nước. Vì phải lo lắng nhiều, lại thêm có bệnh nên bà mất sớm vào năm 1977. Ông rất đau khổ vì sự ra đi đột ngột của bà, dù lúc đó ông chỉ mới 51 tuổi và nhiều bạn bè có ý mai mối người thân cho ông để có người bầu bạn nhưng ông vẫn không tục huyền và ở vậy cho đến lúc mất vào năm 2000.


PHẠM TRƯỜNG GIANG

Bộ sưu tập cổ vật của Vương Hồng Sển

đăng 21:20, 22 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Vương Hồng Sển (1902-1996) là một nhà văn hóa và sưu tầm cổ vật nổi tiếng ở Nam Bộ. Sau khi mất, ông đã hiến tặng toàn bộ 849 cổ vật và sách sưu tầm của mình cho Nhà nước. Bộ sưu tập cổ vật của Vương Hồng Sển có giá trị độc đáo với nhiều chất liệu khác nhau: gốm sứ, đồng, gỗ, thủy tinh, ngà, sừng, đồi mồi... Trong đó có nhiều cổ vật của Việt Nam, Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước châu Âu. 

Giới nghiên cứu lịch sử và cổ vật cả nước đều đánh giá cao sự dày công trong quá trình lưu giữ các cổ vật, cùng nhiều công trình nghiên cứu về Sài Gòn xưa của nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển. Trong bộ sưu tầm cổ vật của mình, đồ sứ men lam Huế chính là chủng loại ông ưa thích nhất.

Ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ 17-18, nhà cầm quyền Đàng Ngoài và Đàng Trong cho rằng gốm sứ Trung Quốc có chất lượng tốt nên đã đặt các lò gốm tại trấn Cảnh Đức, tỉnh Giang Tây sản xuất để sử dụng trong hoàng cung, phủ chúa. Theo yêu cầu của chúa Trịnh - chúa Nguyễn, gốm sứ Trung Quốc được sản xuất là những sản phẩm đồ đựng, đồ trang trí cao cấp, men xanh trắng vẽ phong cảnh, đồ án, tích truyện, thơ chữ Hán, chữ Nôm hàm chứa nhiều ý tưởng, ẩn dụ tốt đẹp.

Du khách nước ngoài tham quan bộ sưu tập cổ vật của Vương Hồng Sển.


Một góc không gian trưng bày cổ vật của Vương Hồng Sển.


Bộ sưu tập các đồ gốm sứ thế kỷ 17-19. 


Loại hàng sản xuất cho chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, hoa văn chủ yếu là các đồ án rồng, lân, phượng - những linh vật chỉ dùng cho vua chúa, hoàng tử, hoàng hậu. Ở phần trôn các hiện vật này được ghi các loại hiệu đề đặc biệt bằng chữ Hán: “Nội phủ thị Đông”, “Nội phủ thị Đoài”, “Nội phủ thị Trung”, “Nội phủ thị Bắc”, “Nội phủ thị Nam”, “Nội phủ thị Hữu”…

Đối với loại hàng do chúa Nguyễn ở Đàng Trong đặt, cũng là gốm sứ men xanh - trắng như chúa Trịnh ở Đàng Ngoài nhưng có mẫu mã hoàn toàn khác. Điểm khác biệt là trên đồ sứ ghi thơ Nôm hoặc một số khác ghi bằng chữ Hán. Các bài thơ này đều do chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) sáng tác. Ví dụ như: “Thiên Mụ hiểu chung” (Chuông sớm chùa Thiên Mụ), “Tam Thai thính triều” (Núi Tam Thai nghe sóng triều), “Thuận Hóa vãn thị” (Chợ chiều Thuận Hóa), “Ải Lĩnh xuân vân” (Mây mùa xuân đèo Hải Vân)…

Ngoài sản phẩm gốm men xanh - trắng, trong bộ sưu tập Vương Hồng Sển còn có nhiều sản phẩm gốm có nguồn gốc từ tầng lớp thượng lưu đặt hàng vào thế kỷ 19. Hoa văn trên các sản phẩm này thường là các loại phong cảnh, tích truyện Trung Quốc như Bá Nha - Tử Kỳ, Trương Lương, Hoàng Thạch Công… hay hình mai, hạc, rồng, phụng, tứ linh, hoa lá. Ví dụ như bát “Tự Đức Tân Mùi” (1871) bên trong có vẽ hai nhánh cây tùng và một cặp chim hạc, phía ngoài vẽ cây tùng, con lộc và dơi tượng trưng Phúc - Lộc - Thọ…

Sinh thời, Vương Hồng Sển cũng là người viết nhiều sách nghiên cứu về cổ vật nhằm cung cấp kiến thức, hướng dẫn kỹ năng ban đầu cho những người thích sưu tầm đồ cổ.

Một số món cổ vật tiêu biểu trong bộ sưu tập của Vương Hồng Sển:

Lọ hít và đĩa đá quý thế kỷ 19.


Bộ bàn ghế bằng gỗ.


Lược đồi mồi thế kỷ 19.


Ẩm gốm men trắng thế kỷ 12-13.


Bình vôi gốm thế kỷ 19.


Đĩa chân cao thủy tinh giữa thế kỷ 20.


Âu có nắp gốm Sài Gòn đầu thế kỷ 20.


Đĩa men màu (Pháp).


Bát của nhà thờ họ Đặng, 1868.


Bộ đĩa chén "Giáp Tý niên chế", 1804.


Chiếc ché cổ.


Đĩa men xanh trắng (Pháp).


Đĩa ghi thơ Nôm.


Bộ chén cổ của Nhật.


Tượng sư tử bằng gỗ đầu thế kỷ 20. 


Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Lê Minh

1-10 of 15