Con người và sự kiện

Bài mới

  • Kiến trúc sư châu Á duy nhất đoạt giải Khôi nguyên La Mã Với nhiều công trình nổi tiếng để lại như dinh Độc Lập (nay là Hội trườngThống Nhất), Viện Hạt nhân Đà Lạt, Viện ĐH Huế, Đại chủng viện Đà Lạt ...
    Được đăng 08:19, 25 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bộ sưu tập cổ vật của Vương Hồng Sển Vương Hồng Sển (1902-1996) là một nhà văn hóa và sưu tầm cổ vật nổi tiếng ở Nam Bộ. Sau khi mất, ông đã hiến tặng toàn bộ 849 ...
    Được đăng 21:20, 22 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hoàng Sa và Trường Sa trên Cửu đỉnh ở Huế Cửu đỉnh Huế không chỉ là báu vật quốc gia thể hiện cho quyền uy và sức mạnh của vương triều nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của ...
    Được đăng 20:58, 21 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Độc đáo hồ Cây Đuốc không bao giờ cạn ở miền Tây Từ “mạch nước lộ thiên” tiếp giáp chân núi Cấm (ấp Ba Xoài, xã An Cư, H.Tịnh Biên, An Giang), Chương trình nước sinh hoạt nông thôn An Giang ...
    Được đăng 20:48, 20 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cận cảnh nhà cổ bằng gỗ quý tròn 123 tuổi Ngày 24.2, ngôi nhà cổ Đốc phủ sứ - Nguyễn Văn Kiên tròn 123 năm tuổi ở Tây Ninh đã chính thức được UBND tỉnh Tây Ninh ký quyết định ...
    Được đăng 20:46, 16 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 17. Xem nội dung khác »


Kiến trúc sư châu Á duy nhất đoạt giải Khôi nguyên La Mã

đăng 08:19, 25 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Với nhiều công trình nổi tiếng để lại như dinh Độc Lập (nay là Hội trườngThống Nhất), Viện Hạt nhân Đà Lạt, Viện ĐH Huế, Đại chủng viện Đà Lạt, chợ Đà Lạt…, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã trở thành một cây cao bóng cả của giới kiến trúc sư Việt Nam. 

Có rất nhiều bài báo viết về kiến trúc sư (KTS) Ngô Viết Thụ nên bài viết này chỉ kể lại vài câu chuyện ít người biết, được chính ông kể cho tôi khi còn sống vào hơn 20 năm trước. Tôi vẫn còn nhớ rõ ông đã mặc một chiếc áo dài xanh khi tiếp tôi, một sự trọng thị hiếm có của bậc tiền bối đối với kẻ hậu sinh… 


Đường đến giải Khôi nguyên La Mã 

Khi còn là sinh viên kiến trúc Paris, ông Ngô Viết Thụ đã đoạt giải Paul Bigot do Viện Hàn lâm tổ chức. Nhờ đó, năm 1955 ông được ưu tiên mời tham dự giải Khôi nguyên La Mã mà không phải thi vòng loại sơ tuyển, chỉ dự thi ở ba vòng trong. Đây là một cuộc thi danh giá nên phải ganh đua với hàng trăm thí sinh xuất sắc của Âu châu. Cuối cùng, cuộc thi chỉ còn có 10 người vào chung kết. Đề thi cuối cùng là phác họa một ngôi thánh đường trên hòn đảo nhỏ vùng Địa Trung Hải. 

Ông đã miệt mài vẽ cho đến khi chỉ còn một tuần nữa hết hạn thì chợt nhận ra mình đã mắc sai lầm khi chọn phương án thiết kế theo phong cách cổ điển. Ông quyết định mạo hiểm khi xé bỏ bản thảo để vẽ lại toàn bộ phương án theo phong cách hiện đại và tư duy mới mang tính đột phá, mặc dù thời gian không còn bao nhiêu nữa. 

Vậy mà cuối cùng ông đã kịp hoàn thành đúng thời hạn. Bài thi được hội đồng chấm thi đánh giá cao nhưng họ chất vấn ông về một lỗi nhỏ do không theo quy tắc: Đó là ngôi thánh đường mà ông thiết kế không nằm xoay mặt về hướng Đông, hướng về Jerusalem như thông lệ, mà lại hướng theo dòng nước. Ông giải thích ngay đó là trọng tâm tư duy đột phá mà ông muốn thể hiện qua thiết kế. Ông cho là giáo đường phải hướng về phía phù hợp nhất để trở thành một thiết kế tốt, hơn là buộc phải nhìn về hướng Jerusalem theo thông lệ xưa cổ, dựa trên giáo lý Ki-tô giáo rằng Thiên Chúa hiện hữu ở khắp mọi nơi chứ không chỉ hiện hữu tại thánh địa Jerusalem. 

Sau khi ông giải thích, hội đồng giám khảo cười. Rồi ông nhận được kết quả đã đoạt giải với 28 phiếu thuận của hội đồng, trừ một phiếu nghịch. Ngày hôm sau báo chí Pháp loan tin: Một người Việt Nam đoạt giải Khôi nguyên La Mã với số phiếu tuyệt đối 28/29. 

Tại sao ông chỉ nhận được có 28 phiếu mà họ lại nói ông đạt phiếu tuyệt đối? Là do báo chí Pháp rất nhạy bén, họ điều tra biết được trong 29 thành viên ban giám khảo thì một vị có học trò ruột cùng tranh giải với ông Thụ nên đương nhiên ông này sẽ không bao giờ chấm cho ai khác ngoài học trò của mình. Lá phiếu bị thiếu của ông Thụ chính là do ông giám khảo kia không bỏ, thành ra báo chí Pháp vẫn cho rằng ông Thụ xem như đạt điểm tuyệt đối là vì vậy. 

Khi kết quả được công bố, đám đông bạn học của ông Thụ, phần lớn là người Pháp, đã công kênh ông lên vai diễu đi suốt khu phố ĐH Latin của Paris. Đây không chỉ là một hành động chúc mừng cuồng nhiệt mà còn là hình ảnh mang tính biểu tượng đặc biệt. Vào thời điểm đó, Pháp đã rút khỏi Việt Nam, dẫu vậy nỗi nhục của người dân bị mất nước, bị thực dân Pháp “đè đầu cưỡi cổ” gần 100 năm vẫn còn in đậm trong tâm trí người Việt. Thành ra hình ảnh ông Thụ ngồi trên vai các bạn học người Pháp về khía cạnh nào đó cũng tạo nên một sự tự hào dân tộc hết sức lớn lao, vượt hơn cả đoạt một giải thưởng mang tầm vóc quốc tế. 

KTS Ngô Viết Thụ được bạn bè công kênh lên vai diễu hành. Ảnh do gia đình cung cấp 


Một đời thờ vợ nuôi con 

KTS Ngô Viết Thụ nói với tôi rằng người Việt thường nói thờ chồng nuôi con, còn ông thờ vợ nuôi con: “Tôi mang ơn vợ tôi rất nhiều, nếu không có vợ tôi, tôi không bao giờ được như ngày hôm nay”. 

Ngày chàng trai học trò nghèo xứ Huế đến Đà Lạt, người đầu tiên Ngô Viết Thụ nói chuyện để hỏi thăm đường đến Trường CĐ Kiến trúc Đà Lạt nhập học là cô gái Võ Thị Cơ, giống như là mối duyên tiền định. 

Nhưng rồi số phận đã sắp đặt cho họ gặp lại nhau. Bà là con gia đình khá giả, cha của bà muốn tìm một sinh viên để dạy thêm cho bà và mấy người em trong nhà nên nhờ người giới thiệu một chàng sinh viên học giỏi và có tư cách đạo đức tốt để làm gia sư. Tình cờ sao đó gia sư lại chính là ông Ngô Viết Thụ. 

Gặp lại nhau, sau một thời gian dài cả hai người đã đi từ mối quan hệ thầy-trò tới quan hệ anh-em, rồi cho đến một ngày ông nhận ra bà mới chính là người tri kỷ của đời mình và họ làm đám cưới. 

Vào lúc đó, Trường CĐ Kiến trúc Đà Lạt được chuyển về Sài Gòn. Các sinh viên có thể chọn chuyển về Sài Gòn hoặc sang Pháp học tiếp. Nhận thấy ông Ngô Viết Thụ rất có tài, gia đình của bà quyết định giúp ông sang Pháp du học để mở mang thêm kiến thức và phát triển tài năng. Nhưng sợ ông mặc cảm phận nghèo phải nương tựa nhờ vả gia đình vợ nên bà quyết định nghỉ học giúp cha mẹ kinh doanh buôn bán để ông yên tâm chỉ chịu ơn mỗi mình vợ mà thôi. Những ngày ở Pháp, ông miệt mài vùi đầu vào học, không ham chơi hay nhìn ngó tới các cô đầm vốn rất để ý tới chàng sinh viên người Việt cao lớn, đẹp trai nhưng lại sống khép mình với phụ nữ. 

Sau khi ông đoạt giải Khôi nguyên La Mã và kết thúc thời gian sống, làm việc ở cung điện Medicis tại Rome theo học bổng của giải thưởng, rất nhiều văn phòng KTS danh tiếng ở Pháp, Ý và một số nước khác đã đánh tiếng mời ông về làm việc với mức lương hậu hĩnh. Tương lai rộng mở, ông có thể cùng vợ con định cư tại châu Âu để chung sống và tạo dựng sự nghiệp, tên tuổi. 

Trong lúc đó, Tổng thống Ngô Đình Diệm gửi GS Bửu Hội sang mời ông về làm việc giúp nước. Trước khi sang Pháp, ông Bửu Hội đến thăm cha của ông là cụ Ngô Viết Quang và mang giúp quà của cụ gửi cho ông là ba trái xoài cùng một bài thơ mang tên Cá gáy hóa long, đại ý chúc mừng ông công thành danh toại nhưng khuyên ông không nên quên nguồn gốc và nên trở về giúp đất nước. 

Sau khi đọc xong thư nhà, ông quyết định thu xếp cùng gia đình trở về Việt Nam luôn. 

Chỉ trong vài năm, ông đóng góp thiết kế nhiều dự án quan trọng của quốc gia khiến đích thân Tổng thống Ngô Đình Diệm vào năm 1960 mời ông nhận chức bộ trưởng Bộ Xây dựng. Đây là một chức vụ có quyền uy và rất “thơm” vì không chỉ điều hành việc xây dựng đất nước mà còn nắm cả bộ phận xổ số kiến thiết vốn là con gà đẻ trứng vàng lúc bấy giờ. Rất băn khoăn, ông hỏi ý kiến vợ, bà khuyên ông không nên nhận vì bản thân ông vốn là con người nghệ sĩ, sáng tạo chứ không phải một chính khách. Ra nhận chức vụ lớn, trách nhiệm cao, phải học hỏi cung cách làm chính trị sẽ ảnh hưởng nhiều đến nghề nghiệp mà “quan nhất thời, dân vạn đại”, theo thời cuộc có thể lên cũng có thể xuống, sẽ có va chạm, xung đột quyền lực chốn quan trường… Thấy vợ nói cũng hợp với ý mình nên ông đã từ chối, chỉ nhận làm cố vấn và giữ chức trưởng văn phòng tư vấn kiến trúc và chỉnh trang lãnh thổ cho phủ tổng thống. Từ đó, Việt Nam Cộng hòa không còn Bộ Xây dựng nữa, việc quy hoạch của toàn miền Nam Việt Nam cho đến năm 1975 chủ yếu do hai văn phòng thực hiện là văn phòng ông Thụ nghiên cứu chiến lược và Tổng nha Kiến Thiết nghiên cứu thực hiện. 


Sau năm 1975, cuộc sống khó khăn, một mình bà cố gắng xoay xở nuôi gia đình hơn 10 người (hai ông bà có tám người con, đặt tên theo một bài thơ của ông nội tặng là Thụ, Tỷ, Bảo, Nam, Sơn, Đào Vân, Châu, Lan) để ông yên tâm cống hiến cho đất nước. Vì phải lo lắng nhiều, lại thêm có bệnh nên bà mất sớm vào năm 1977. Ông rất đau khổ vì sự ra đi đột ngột của bà, dù lúc đó ông chỉ mới 51 tuổi và nhiều bạn bè có ý mai mối người thân cho ông để có người bầu bạn nhưng ông vẫn không tục huyền và ở vậy cho đến lúc mất vào năm 2000.


PHẠM TRƯỜNG GIANG

Bộ sưu tập cổ vật của Vương Hồng Sển

đăng 21:20, 22 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Vương Hồng Sển (1902-1996) là một nhà văn hóa và sưu tầm cổ vật nổi tiếng ở Nam Bộ. Sau khi mất, ông đã hiến tặng toàn bộ 849 cổ vật và sách sưu tầm của mình cho Nhà nước. Bộ sưu tập cổ vật của Vương Hồng Sển có giá trị độc đáo với nhiều chất liệu khác nhau: gốm sứ, đồng, gỗ, thủy tinh, ngà, sừng, đồi mồi... Trong đó có nhiều cổ vật của Việt Nam, Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước châu Âu. 

Giới nghiên cứu lịch sử và cổ vật cả nước đều đánh giá cao sự dày công trong quá trình lưu giữ các cổ vật, cùng nhiều công trình nghiên cứu về Sài Gòn xưa của nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển. Trong bộ sưu tầm cổ vật của mình, đồ sứ men lam Huế chính là chủng loại ông ưa thích nhất.

Ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ 17-18, nhà cầm quyền Đàng Ngoài và Đàng Trong cho rằng gốm sứ Trung Quốc có chất lượng tốt nên đã đặt các lò gốm tại trấn Cảnh Đức, tỉnh Giang Tây sản xuất để sử dụng trong hoàng cung, phủ chúa. Theo yêu cầu của chúa Trịnh - chúa Nguyễn, gốm sứ Trung Quốc được sản xuất là những sản phẩm đồ đựng, đồ trang trí cao cấp, men xanh trắng vẽ phong cảnh, đồ án, tích truyện, thơ chữ Hán, chữ Nôm hàm chứa nhiều ý tưởng, ẩn dụ tốt đẹp.

Du khách nước ngoài tham quan bộ sưu tập cổ vật của Vương Hồng Sển.


Một góc không gian trưng bày cổ vật của Vương Hồng Sển.


Bộ sưu tập các đồ gốm sứ thế kỷ 17-19. 


Loại hàng sản xuất cho chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, hoa văn chủ yếu là các đồ án rồng, lân, phượng - những linh vật chỉ dùng cho vua chúa, hoàng tử, hoàng hậu. Ở phần trôn các hiện vật này được ghi các loại hiệu đề đặc biệt bằng chữ Hán: “Nội phủ thị Đông”, “Nội phủ thị Đoài”, “Nội phủ thị Trung”, “Nội phủ thị Bắc”, “Nội phủ thị Nam”, “Nội phủ thị Hữu”…

Đối với loại hàng do chúa Nguyễn ở Đàng Trong đặt, cũng là gốm sứ men xanh - trắng như chúa Trịnh ở Đàng Ngoài nhưng có mẫu mã hoàn toàn khác. Điểm khác biệt là trên đồ sứ ghi thơ Nôm hoặc một số khác ghi bằng chữ Hán. Các bài thơ này đều do chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) sáng tác. Ví dụ như: “Thiên Mụ hiểu chung” (Chuông sớm chùa Thiên Mụ), “Tam Thai thính triều” (Núi Tam Thai nghe sóng triều), “Thuận Hóa vãn thị” (Chợ chiều Thuận Hóa), “Ải Lĩnh xuân vân” (Mây mùa xuân đèo Hải Vân)…

Ngoài sản phẩm gốm men xanh - trắng, trong bộ sưu tập Vương Hồng Sển còn có nhiều sản phẩm gốm có nguồn gốc từ tầng lớp thượng lưu đặt hàng vào thế kỷ 19. Hoa văn trên các sản phẩm này thường là các loại phong cảnh, tích truyện Trung Quốc như Bá Nha - Tử Kỳ, Trương Lương, Hoàng Thạch Công… hay hình mai, hạc, rồng, phụng, tứ linh, hoa lá. Ví dụ như bát “Tự Đức Tân Mùi” (1871) bên trong có vẽ hai nhánh cây tùng và một cặp chim hạc, phía ngoài vẽ cây tùng, con lộc và dơi tượng trưng Phúc - Lộc - Thọ…

Sinh thời, Vương Hồng Sển cũng là người viết nhiều sách nghiên cứu về cổ vật nhằm cung cấp kiến thức, hướng dẫn kỹ năng ban đầu cho những người thích sưu tầm đồ cổ.

Một số món cổ vật tiêu biểu trong bộ sưu tập của Vương Hồng Sển:

Lọ hít và đĩa đá quý thế kỷ 19.


Bộ bàn ghế bằng gỗ.


Lược đồi mồi thế kỷ 19.


Ẩm gốm men trắng thế kỷ 12-13.


Bình vôi gốm thế kỷ 19.


Đĩa chân cao thủy tinh giữa thế kỷ 20.


Âu có nắp gốm Sài Gòn đầu thế kỷ 20.


Đĩa men màu (Pháp).


Bát của nhà thờ họ Đặng, 1868.


Bộ đĩa chén "Giáp Tý niên chế", 1804.


Chiếc ché cổ.


Đĩa men xanh trắng (Pháp).


Đĩa ghi thơ Nôm.


Bộ chén cổ của Nhật.


Tượng sư tử bằng gỗ đầu thế kỷ 20. 


Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Lê Minh

Hoàng Sa và Trường Sa trên Cửu đỉnh ở Huế

đăng 20:58, 21 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Cửu đỉnh Huế không chỉ là báu vật quốc gia thể hiện cho quyền uy và sức mạnh của vương triều nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, mà còn được đánh giá là một bộ dư địa chí, một bộ bách khoa thư độc đáo về Việt Nam hồi đầu thế kỉ 19. Đặc biệt, trên Cửu đỉnh nhiều địa danh sông núi, biển đảo... của đất nước được thể hiện rất rõ ràng, minh xác. Điều đó cho thấy cha ông ta ngày trước rất ý thức về chủ quyền quốc gia, trong đó có vấn đề biển đảo.

Thời phong kiến, ở những nước Á Đông như Việt Nam, đỉnh được xem là thứ bảo vật, tượng trưng cho quyền lực thống trị của nhà vua. Hiện ở cố đô Huế vẫn còn tồn tại bộ Cửu đỉnh (9 đỉnh đồng) có từ thời nhà Nguyễn, và đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia vào năm 2012. 

Cửu đỉnh của nhà Nguyễn được vua Minh Mạng ra lệnh đúc vào mùa Đông năm 1835 và hoàn thành vào ngày 1 tháng 3 năm 1837. Cả thảy gồm có 9 cái đỉnh lớn bằng đồng, đặt ở trước sân Thế Miếu (miếu thờ các vị vua triều Nguyễn) trong Hoàng thành Huế. Mỗi đỉnh tượng trưng cho một vị vua triều Nguyễn và được đặt tên ứng với thuỵ hiệu (tên của vua sau khi băng hà) của vị vua ấy. Ví dụ như Cao đỉnh tượng trưng cho vua Gia Long được đặt theo thụy hiệu Cao Hoàng đế, Nhân đỉnh tượng trưng cho vua Minh Mạng được đặt theo thụy hiệu Nhân Hoàng đế... 

Cửu đỉnh đặt ở dưới thềm Hiển Lâm Các (phía trước sân Thế miếu) trong Hoàng thành Huế. Ảnh: Trần Thanh Giang


Cửu Đỉnh được vua Minh Mạng ra lệnh đúc vào mùa Đông năm 1835 và khánh thành vào ngày 1 tháng 3 năm 1837. Ảnh: Trần Thanh Giang


Đỉnh ở chính giữa có tên là Cao Đỉnh được đặt cao hơn các đỉnh còn lại. Ảnh: Trần Thanh Giang


Cao Đỉnh được đặt cao hơn 8 đỉnh còn lại với hàm ý tôn vinh công lao to lớn của vị vua đầu tiên

của triều Nguyễn là Nguyễn Ánh, niên hiệu Gia Long. Ảnh: Trần Thanh Giang

9 đỉnh khác nhau về trọng lượng, bộ chân, cũng như bộ quai ở trên, đặc biệt khác ở hình chạm xung quanh mỗi đỉnh. Ảnh: Trần Thanh Giang


Du khách thăm quan tìm hiểu và lưu lại những họa tiết trên Cửu đỉnh. Ảnh: Trần Thanh Giang


Khách thăm quan ngồi nghỉ trên bậc thềm của Hiền Lâm Các và ngắm nhìn Cửu đỉnh. Ảnh: Trần Thanh Giang 


Cửu đỉnh đặt thành một hàng ngang trước thềm Hiển Lâm Các, đối diện với Thế Miếu. Trong đó Cao đỉnh được đặt trên đường thần đạo (trục đường chính) chạy từ Miếu Môn qua Hiển Lâm Các đến gian giữa của Thế Miếu - nơi đặt án và khám thờ vua Gia Long. Cao đỉnh kê ở chính giữa trong số Cửu đỉnh và là đỉnh duy nhất được đặt nhích về phía trước 3 mét với hàm ý tôn vinh vị vua sáng lập nên triều Nguyễn.

Trên mỗi đỉnh, theo lệnh vua Minh Mạng, các nghệ nhân đúc đồng phường Đúc ở Huế đã chạm khắc 17 bức họa và 1 bức thư họa mô tả các chủ đề về vũ trụ, núi sông, chim thú, sản vật, vũ khí... Tổng thể trên 9 đỉnh có cả thảy 162 bức chạm khắc, tập hợp lại thành một bức tranh toàn cảnh về đất nước Việt Nam thống nhất thời nhà Nguyễn. Có lẽ vì thế mà các nhà nghiên cứu cho rằng Cửu đỉnh là bộ dư địa chí, là bách khoa thư bằng hình khắc về nước Việt Nam thời kì ấy.

Điều đặc biệt là mỗi hình khắc bao giờ cũng có tên gọi được khắc kèm rất rõ ràng. Nhờ đó mà khi xem trên Cửu đỉnh, tuy các hình khắc được thể hiện khái lược, mang tính biểu tượng, nhưng người ta vẫn có thể dễ dàng nhận biết được đó là sông gì, đảo gì, cây gì, con gì, hoặc địa danh nào...

Điều này cũng dễ hiểu, bởi trước khi đúc Cửu đỉnh, vua Minh Mạng đã yêu cầu rõ ràng rằng: "Nay đúc đỉnh, khắc các hình tượng sông, núi và mọi vật cũng không cần phải khắc đủ cả (tức chỉ mang tính giản lược, mô phỏng - PV), duy phải khắc rõ tên, hiệu và xứ sở để tiện nhận xét".

Như vậy có thể thấy tính minh xác về nguồn gốc, tên gọi của các hình khắc trên Cửu đỉnh rất được vua Minh Mạng coi trọng, vì thế nó rất có ý nghĩa đối với giới nghiên cứu sau này.

Theo nhà nghiên cứu Huế Phan Thuận An, hình ảnh chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam được khắc rõ nét nhất trên bề mặt Cao đỉnh với 3 hình ảnh là Biển Đông (Đông Hải), ô thuyền (loại thuyền tuần tiễu trên biển của thủy binh thời vua Gia Long) và con ba ba. Ngoài ra, trên Nhân đỉnh còn có chạm khắc hình ảnh Biển Nam (Nam Hải), cá voi, đồi mồi. Trên Chương đỉnh có hình ảnh Biển Tây (Tây Hải), thuyền rồng, con rùa. Và trên Nghị đỉnh, Dụ đỉnh, Thuần đỉnh... có hình cửa biển Thuận An, cửa biển Đà Nẵng, biển Cần Giờ... 

Hình tượng biển Đông Hải được khắc trên Cao đỉnh. Biển Đông Hải có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa được khắc vào năm 1836 dưới triều vua Minh Mạng. Ảnh: Hoàng Quang Hà


Hình tượng biển Nam Hải được khắc trên Nhân đỉnh. Nam Hải là phần lãnh hải nằm ở phía Nam của Nam bộ, tiếp giáp với hải phận của các nước Malaysia, Indonesia... Ảnh: Hoàng Quang Hà


Năm Minh Mạng thứ 17, nhà vua cho khắc hình tượng Ô thuyền lên Dụ đỉnh. Vào triều Nguyễn có trang bị loại thuyền này cho quân tuần tiễu dọc bờ biển bởi nó có buồm, có tay chèo nên tốc độ lướt sóng nhanh. Ảnh: Trần Thanh Giang


Hình tượng Thuyền lâu được khắc trên Nhân đỉnh, là loại thuyền lớn đóng bằng gỗ tốt có tầng lầu đẹp (đây là thành tựu nổi bật của ngành đóng tàu thuyền của nước ta dưới thời nhà Nguyễn). Thuyền được dùng cho vua, hoàng gia hoặc các quan đại thần đi hộ giá. Ảnh: Trần Thanh Giang


Hình tượng thuyền Hải đạo được khắc trên Nghị đỉnh. Thủy binh nhà Nguyễn điều động loại thuyền này rất linh hoạt trong chiến đấu và diễn tập trên sông nước. Ảnh: Trần Thanh Giang


Hình tượng Lê thuyền được khắc trên Tuyên đỉnh. Đây là loại thuyền có 12 tay chèo dùng để đi trên biển khi có gió to và nước lớn chảy xiết khá an toàn. Ảnh: Trần Thanh Giang


Hình tượng Đa tác thuyền được khắc trên Cao đỉnh. Vì thuyền lớn nên cũng gọi là tàu có khả năng đi biển được dài ngày, vượt đại dương. Ảnh: Trần Thanh Giang


Hình tượng Hỏa phún đồng được khắc trên Huyền đỉnh. Đây là loại ống đồng đốt đạn,  một loại vũ khí trang bị cho quân đội và cấp cho các đài quan sát trên núi cao dùng để phát hỏa lệnh khi có việc cấp báo. Ảnh: Trần Thanh Giang


Hình tượng cửa biển Thuận An được khắc trên Nghị đỉnh. Ảnh: Trần Thanh Giang


Hình tượng chi chít hạt mưa (vũ) được khắc trên Huyền đỉnh. Theo Kinh Dịch, mưa thuộc về quẻ Khảm, tượng nước. Mưa là hiện tượng thời tiết, khí hậu do hơi nước bốc lên, ngưng tụ lại, rồi rơi xuống. Mưa tạo nên cân bằng sinh thái và sự sống của muôn loài. Ảnh: Trần Thanh Giang


Hình ảnh Hải Vân sơn và Hải Vân quan được khắc trên Dụ đỉnh. Ảnh: Trần Thanh Giang


Phía mặt sau của Cao đỉnh được khắc hình súng Thần công. Ảnh: Trần Thanh Giang


Phía mặt sau của Cao đỉnh được khắc hình mặt trời. Ảnh: Trần Thanh Giang 


Qua quan sát thực tế trên Cửu đỉnh, chúng tôi cũng nhận thấy rằng, ba vùng biển Đông Hải, Nam Hải và Tây Hải của Việt Nam được khắc với hình ảnh sóng nước nhấp nhô, ẩn hiện rất nhiều đảo lớn nhỏ và chính giữa hình khắc có các chữ Hán nổi thể hiện rõ tên của mỗi vùng biển.

Theo các nhà nghiên cứu, thời vua Minh Mạng, ranh giới hành chính các địa phương và các vùng biển được phân chia rất rõ ràng trong phân cấp quản lý nhà nước. Theo đó, Biển Đông (Đông Hải) kéo dài từ phía Bắc cho đến Bình Thuận, bao gồm cả dải cát vàng Hoàng Sa, Trường Sa hay còn gọi là Vạn lý Ba Bình. Biển Nam (Nam Hải) bao gồm từ Bình Thuận đến Hà Tiên có nhiều hòn đảo như Đại Kim, Mảnh Hảo, Nội Trức, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Châu... tiếp giáp với hải phận của các nước Malaysia, Indonesia… Biển Tây (Tây Hải) là vùng biển giáp với vịnh Thái Lan.

Như vậy, cùng với hàng loạt tài liệu Hán - Nôm cổ, trong đó có Châu bản triều Nguyễn đã được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương, những hình ảnh biển đảo được khắc trên bộ Cửu đỉnh sẽ là một nguồn tư liệu quý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Bài: Trần Thanh Giang Ảnh: Trần Thanh Giang- Hoàng Quang Hà

Độc đáo hồ Cây Đuốc không bao giờ cạn ở miền Tây

đăng 20:48, 20 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Từ “mạch nước lộ thiên” tiếp giáp chân núi Cấm (ấp Ba Xoài, xã An Cư, H.Tịnh Biên, An Giang), Chương trình nước sinh hoạt nông thôn An Giang đầu tư nạo vét, xây dựng thành hồ Cây Đuốc với trữ lượng 2.200 m3 (mùa mưa) và 1.000 m3 (mùa khô).


Đặc biệt, nguồn nước hồ chưa bao giờ cạn và đường ống dẫn thiết kế theo dạng tự chảy. 

Thiên nhiên ban tặng 

Toàn vùng Bảy Núi có nhiều đập, hồ chứa nước nhân tạo, với quy mô khối lượng khác nhau. Đối với hồ Cây Đuốc thuộc loại vừa, tích mạch nước ngầm từ đáy dâng lên và lưu lượng dao động quanh năm, không phải đợi mùa mưa. Đồng bào Khmer và người Kinh thường bảo sự kỳ diệu trong thiên nhiên là ở chỗ đó. “Khoảng năm 1980, bà con đã phát hiện ra mạch nước lộ thiên này. Nước tinh khiết như nước khoáng vậy”, ông Nguyễn Văn Hùng (cư dân Ba Xoài) kể. Ban đầu chỉ là cái vũng, nước chảy tràn lan trên đất ruộng, người dân thường dùng tắm giặt và chăn nuôi trong mùa khô. 

Nghe đồn, nhiều người tìm đến nếm, thấy giống nước khoáng, sau đó rủ nhau xài thử. Đến mùa khô, người dân khu vực Ba Xoài cũng đổ về đây lấy nước xài. Đến những năm 1990, hồ Ô Tứk Sa được khởi công xây dựng, ngành chuyên môn cũng triển khai thi công và nâng cấp “mạch nước lộ thiên” thành hồ Cây Đuốc. Bấy giờ, nhiều vùng lân cận đánh xe bò đến hồ Cây Đuốc chở nước về xài. 



Độc đáo hồ Cây Đuốc không bao giờ cạn ở miền Tây - ảnh 2

Do mạch nước tự dâng, múc xài nhiều đến cỡ nào cũng không cạn, chỉ lưng trong giây lát rồi lại đầy. Nhờ vậy, đồng bào trong vùng mới sống được”

Độc đáo hồ Cây Đuốc không bao giờ cạn ở miền Tây - ảnh 3

Thượng tọa Chau Kim Sêng


Với kinh nghiệm cư dân miền núi, các nguồn nước suối tự nhiên, giếng đào thủ công, giếng ống xây, giếng bơm tay… đều có màu ngà ngà hoặc đục xanh, còn gọi “nước hến luộc” mới xài được. Đằng này, nước mạch dâng lên từ đáy hồ Cây Đuốc trong veo, uống được, đó là điều kỳ diệu và hiếm có. 

Nguồn nước bổ sung trong mùa khô 

Nằm ở độ cao khoảng 15 m so với hương lộ 11, hồ Cây Đuốc luôn được chính quyền địa phương quan tâm xây dựng hệ thống hàng rào và xây kè lòng hồ, đảm bảo nguồn nước luôn hợp vệ sinh và hệ thống đường ống tự chảy hoạt động tốt, nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt đồng bào Khmer và người Kinh trong khu vực. Ông Chau Sươne (ấp Pô Thi) nói: “Hồ có rào chắn đàng hoàng, trâu bò thả lan không được lại gần. Ai cũng muốn giữ gìn nguồn nước để phục vụ sinh hoạt, ăn uống, ”. 

Những năm 2005, từ Chương trình 134 và 135 của Chính phủ, Chương trình dân tộc tỉnh An Giang đã đầu tư xây dựng Trạm cấp nước An Cư (phục vụ cả Sóc Tức, xã Lê Trì, H.Tri Tôn). Nguồn chính lấy từ kênh 3.2, còn hồ Cây Đuốc dự phòng khi thiếu hụt. Thượng tọa Chau Kim Sêng, sãi cả chùa Thnok, kể từ khi biết hồ Cây Đuốc đến nay chưa bao giờ hồ bị cạn. Lúc còn khó khăn, nhà chùa cũng xài nguồn nước này. “Do mạch nước tự dâng, múc xài nhiều đến cỡ nào cũng không cạn, chỉ lưng trong giây lát rồi lại đầy. Nhờ vậy, đồng bào trong vùng mới sống được”, thượng tọa Chau Kim Sêng giải thích. 

Theo ngành chuyên môn, biên độ dao động giữa mùa mưa và mùa nắng chênh lệch khoảng 50% dung tích, cho thấy trữ lượng nguồn nước ổn định và khá dồi dào so với các hồ chứa khác. Do cấu tạo thiên nhiên về địa tầng và nguồn nước mạch, đồng bào Khmer và bà con người Kinh ở đây thường gọi hồ Cây Đuốc có hiện tượng “nước lớn - nước ròng”. Khai thác lợi thế thiên nhiên, công tác quản lý và bảo vệ hồ Cây Đuốc luôn được chính quyền H.Tịnh Biên chăm lo. Hệ thống đường dẫn của hồ được mở rộng, thiết kế với dạng tự chảy nhờ chênh lệch độ cao. Nhờ đó, nhiều năm qua, người dân An Cư và khu vực lân cận chỉ cần mở van là có nước xài, không còn phải đi gánh vất vả. 

Mùa khô 2016 - 2017, Công ty CP Điện nước An Giang xác định hồ Cây Đuốc là nguồn bổ sung cho Trạm cấp nước An Cư. Nếu nguồn nước chính không đủ cung cấp thì đây sẽ là nguồn phụ hòa mạng đường ống và điều tiết, phục vụ kịp thời sinh hoạt của người dân. 

Anh Phan

Cận cảnh nhà cổ bằng gỗ quý tròn 123 tuổi

đăng 20:46, 16 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày 24.2, ngôi nhà cổ Đốc phủ sứ - Nguyễn Văn Kiên tròn 123 năm tuổi ở Tây Ninh đã chính thức được UBND tỉnh Tây Ninh ký quyết định xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh.


Ngôi nhà cổ 2 tầng bằng gỗ quý tại số 39, Phan Chu Trinh, KP.2, P.1 (TP.Tây Ninh) được xây dựng từ năm 1894. 

Theo tài liệu lưu giữ qua nhiều thế hệ, người khởi công xây dựng ngôi nhà là ông Nguyễn Văn Kiên (còn gọi Nguyễn Tâm Kiên, 1854-1914), người miền Trung vào Nam bộ, từng giữ chức Đốc Phủ sứ - một chức quan lớn thời Pháp thuộc. 

Bà Trần Ngọc Sương (79 tuổi, cháu đời thứ 4 của Đốc phủ sứ) là người đang trông nom, giữ gìn ngôi nhà. ẢNH: GIANG PHƯƠNG 


Hiện bà Trần Ngọc Sương (79 tuổi, cháu đời thứ 4 của Đốc phủ sứ) là người đang trông nom, giữ gìn ngôi nhà trên. Theo bà Sương, nhờ tấm biển gỗ phía sau căn nhà khắc rõ ngày 17.1.1894 vẫn còn nguyên vẹn đến ngày nay bằng tiếng Pháp và Hán nên bà mới biết được chính xác thời điểm ngôi nhà được xây dựng đến nay đã 123 năm. 

Tấm biển gỗ phía sau căn nhà khắc ngày xây dựng căn nhà 17.1.1894. ẢNH: GIANG PHƯƠNG 


Tổng thể ngôi nhà được xây dựng theo kiểu chữ Đinh xưa hướng mặt ra bờ rạch Tây Ninh, nhìn thẳng về núi Bà Đen. Căn nhà rộng khoảng 240 m2 (ngang 12 m, dài 20 m) gồm 1 trệt và gác. Đặc biệt ở chỗ, nhà chữ Đinh thường không có gác nhưng ngôi nhà này lại được xây dựng thêm một gác gỗ theo phong cách Tây Âu. 

Cặp liễng đối bằng chữ Hán giữa nhà. ẢNH: GIANG PHƯƠNG 


Thế nhưng, bên trong ngôi nhà được chủ bày trí đậm chất thuần Việt. Trong đó, gian giữa được bố trí làm nơi thờ tự với các bàn hương án, khám thờ, liễng đối, đều làm bằng gỗ khảm xà cừ. Giữa ngôi nhà là bộ trường kỷ, hai bên được bố trí bộ ván ngựa dày 10cm và các bàn nhỏ dùng để tiếp khách. 

Gian sau được sử dụng để phục vụ sinh hoạt, nấu nướng, nghỉ ngơi. Ngoài ra ngôi nhà còn có sân nắng phía sau để lấy ánh sáng và gió tự nhiên. 

Tất cả cột, kèo, vách cửa cho đến lan can đều được chạm trổ thủ công công phu. ẢNH: GIANG PHƯƠNG 


Sự độc đáo, hiếm có ở ngôi nhà là tất cả cột, kèo, vách cửa cho đến lan can đều được chạm trổ thủ công công phu. Trên các lam cửa đều chạm trổ những hình ảnh gần gũi với người Việt Nam một cách tinh xảo, hiếm thấy như: long, lân, quy, phụng, sen, cúc, trúc, dơi, thỏ, chim công, sóc…. 

Tường nhà được xây bằng loại gạch nung vẫn còn tồn tại nguyên bản. ẢNH: GIANG PHƯƠNG 


Nền nhà được lót bằng gạch tàu hình lục giác. ẢNH: GIANG PHƯƠNG 


Tường nhà được xây bằng loại gạch nung vẫn còn tồn tại nguyên bản. Nền nhà được lót bằng gạch tàu hình lục giác, mái được lát bằng ngói âm dương, 

Cửa chính và cửa phụ bằng gỗ những vẫn khít vào nhau dù trãi qua 123 năm. ẢNH: GIANG PHƯƠNG 


Ở chính diện ngôi nhà, dãy gỗ trên dàn cửa ra vào gian chính dù đã bị bạc màu theo năm tháng nhưng vẫn cứng cáp, khít từng khung gỗ ghép vào nhau. Ngoài 4 cánh cửa ở gian chính căn nhà là 8 cánh cửa phụ chia đều 2 bên. Nổi bật nhất trong ngôi nhà là cặp liễng đối bằng chữ Hán được chạm trổ tinh xảo. Chính giữa gian này là bàn thờ Đốc phủ sứ Nguyễn Tâm Kiên được bố trí uy nghiêm. 

Căn nhà liền phía sau đang được gia đình phục dựng ẢNH: GIANG PHƯƠNG 


Hiện gia đình đang phục dựng nhà gian nhà sau để sinh hoạt và để dành gian trước cho khách tham quan. 

Giang Phương

Cận cảnh cây bạch mai cổ thụ 300 năm tuổi nổi tiếng miền Tây Nam bộ

đăng 22:41, 11 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Gọi là bạch mai nhưng không giống như mai trắng, mai vàng. Không cần lẩy lá, mỗi năm hoa vẫn nở rộ vào dịp Tết Nguyên tiêu.

Mỗi năm bạch mai nở một lần vào dịp Tết Nguyên tiêu. Ảnh chụp lại ảnh tư liệu của đình Phú Tự. 


Từ trung tâm TP.Bến Tre theo tỉnh lộ 885 đi về hướng huyện Giồng Trôm chừng 3 cây số, tới ngã ba, rẽ trái vài trăm mét vào con đường nhựa sẽ gặp ngôi đình cổ Phú Tự, tọa lạc trên một khu đất rộng gần 1 hecta thuộc ấp Phú Hào, phường Phú Hưng. 

Ngoài việc ghi dấu thời mở cõi của tiền nhân đi khẩn hoang, lập ấp, ngôi đình này được nhiều người biết đến vì sự hiện diện của cây bạch mai cổ thụ độc đáo ngay trước sân, mà người xưa còn gọi là “thần mai” đã 300 năm tuổi. 

Cây bạch mai cổ thụ 300 năm có tán lá sum suê. Ảnh: HOÀNG PHƯƠNG 


Đình Phú Tự thờ Thành hoàng bổn cảnh, được vua Khải Định phong sắc vào năm 1918. Mặc dù chưa có tài liệu nào xác định thời gian xây dựng ngôi đình, nhưng theo các bậc cao niên ở địa phương, ngôi đình được xây dựng trước khi được sắc phong khá lâu. 

Lúc đầu, ngôi đình được làm bằng tre lá đơn sơ do lưu dân đến khai hoang lập làng dựng lên để làm nơi thờ cúng các bậc tiền hiền, cầu cho mưa thuận gió hòa. Dần dần đình được mở rộng to hơn. 


Ông Tống Văn Minh, người phụ trách việc trông coi đình Phú Tự cho biết, ông bà truyền miệng lại rằng xưa kia khuôn viên đình là một giồng đất cao ráo và cây bạch mai đã có trước sân đình từ khi mới thành lập, đến nay đã 300 năm. 

Gọi là bạch mai nhưng nhìn từ xa trông giống như cây gừa, cây sộp, bởi tán cây rất lớn và từ thân đến lá, hoa đều không có chút gì giống với loài mai vàng hoặc mai trắng thông thường. Đó là một cây cổ thụ thân sần sùi, cành lá rườm rà. 

Hiện thân cây chính không còn nhưng từ gốc cây cũ đã mọc ra nhiều thân lớn, nhỏ, có thân to cả ôm tay người lớn, vươn dài ra 5-7 mét xòe ngang mặt đất tạo thành tán rộng mấy chục mét vuông. 


Ngoài ra, cũng không giống như mai vàng mỗi năm được lẩy lá một lần và trổ hoa vào dịp Tết Nguyên đán, cây bạch mai này không cần phải lẩy lá nhưng cũng trổ hoa một lần vào vào Tết Nguyên tiêu (rằm tháng giêng) và kéo dài đến tháng hai âm lịch. 

Trước khi trổ hoa, lá cây tự rụng dần rồi từ trong thân và cành nhú ra những chùm nụ màu xanh, tròn, to gần bằng trái sung. Những nụ hoa ấy bắt đầu nở ra những bông hoa 4 cánh trắng tinh với chùm nhụy vàng và tỏa ra mùi thơm dịu, lan tỏa cả một vùng, thu hút nhiều loài ong tới lấy mật. 

Trong những ngày hoa nở rộ, tán cây toàn một màu trắng tinh khôi. Người xưa cho rằng đây là “vùng phước địa nên sinh xuất kỳ hoa dị thảo”.

Khi hoa nở rộ thu hút nhiều loài ong đến lấy mật. Ảnh chụp lại ảnh tư liệu của đình Phú Tự. 


Theo ông Tống Văn Minh, điều đặc biệt là cây bạch mai này thường không kết trái. Vì vậy, có người muốn nhân giống phải sử dụng phương pháp chiết cành nhưng không thành công vì cành không ra rễ. Hằng năm vào mùa hoa nở, người dân địa phương đem vải bạt đến lót quanh gốc cây để lấy hoa mai rụng về phơi khô nấu nước uống, xem như một loại trà, có mùi thơm rất thú vị. 


Hiện nay, tại đình Phú Tự còn 4 câu thơ xưa nói về cổ thụ bạch mai: “Khí thiêng hun đúc bạch mai thần. Phú Tự đình xưa bóng rợp sân. Xuân trổ ngàn hoa đơm trắng phếu. Đông đâm muôn lộc phủ trong ngần”. 



Hoàng Phương 

Trấn Quốc Công Bùi Tá Hán: Lưu danh muôn thuở

đăng 01:59, 11 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đã 449 năm kể từ ngày Trấn Quốc Công Bùi Tá Hán tạ thế (1568-2017), song trong tâm thức của người dân đất Việt nói chung và Quảng Ngãi nói riêng vẫn luôn nhớ đến ông với lòng thành kính biết ơn, bởi công trạng to lớn trong sự nghiệp mở đất, lập làng.

Cứ đến ngày rằm tháng năm (âm lịch) hằng năm, con cháu trong gia tộc họ Bùi ở khắp mọi miền của Tổ quốc sum tụ về khu mộ và đền thờ Bùi Tá Hán, ở tổ 24, phường Quảng Phú (TP.Quảng Ngãi) để lo đám giỗ của ông tổ trong dòng họ, người được nhân dân khắp vùng thờ phụng, ngợi ca công đức. Đông đảo người dân trong tỉnh cũng về đây, để thắp nén hương tưởng nhớ bậc tiền hiền tài cao, đức trọng.

Ngày đoàn tụ

Từ lâu, lệ bất thành văn đối với mỗi người trong tộc họ Bùi, dẫu bận trăm công nghìn việc cũng vẫn sắp xếp để về dự lễ giỗ của Trấn Quốc Công Bùi Tá Hán. Ngày giỗ Trấn Quốc Công Bùi Tá Hán cũng là ngày đoàn tụ của gia tộc họ Bùi. Trước là để tưởng nhớ vong linh của bậc tiền nhân, sau là gặp mặt các thế hệ con cháu, thắt chặt tình đoàn kết, sẻ chia để cùng nhau tiếp nối truyền thống đáng tự hào của thế hệ đi trước.

Năm nay, lễ giỗ Trấn Quốc Công Bùi Tá Hán ước tính có khoảng 600 người dự. Để lễ giỗ được chuẩn bị chu tất, con cháu họ Bùi ở Quảng Ngãi phân công phụ trách từng phần việc cụ thể. ông Bùi Nguyên Kha (69 tuổi, hậu duệ đời thứ 13 của Bùi Tá Hán, ở phường Quảng Phú, TP.Quảng Ngãi) tự hào nói: “Bùi Tá Hán là ông tổ, là niềm tự hào của tộc họ Bùi. Bởi vậy, ngày giỗ của ông được con cháu chuẩn bị rất kỹ”.

Đền thờ Bùi Tá Hán. 


Phó trưởng ban nội chính Ban Quản trị tộc họ Bùi Quảng Phú, ông Bùi Tá Phúc cho biết, cùng với sự chăm lo của con cháu trong dòng tộc, chính quyền địa phương cũng rất quan tâm đến việc chuẩn bị lễ giỗ của Trấn Quốc Công Bùi Tá Hán. Trong lễ giỗ, các nghi lễ đều được tổ chức rất trang nghiêm. Sau phần nghi lễ cúng bái sẽ là phần hội, gồm các màn biểu diễn võ thuật và ca hát. 

Khắc ghi công trạng của bậc tiền nhân

Theo lời của những người là con cháu trong tộc họ Bùi, di tích mộ và đền thờ Bùi Tá Hán là nơi rất linh thiêng. Bởi thế, nhiều người thường đến thắp hương ở mộ và đền thờ Bùi Tá Hán, để gửi gắm tâm tư, ước nguyện. Tương truyền rằng, sau khi Bùi Tá Hán mất, ông đã hiển thánh cùng với con ngựa quý, chỉ để lại tấm áo bào có vết máu tươi. 

Là người dành nhiều thời gian thu thập tư liệu, nghiên cứu về danh nhân Quảng Ngãi, nhà nghiên cứu Lê Hồng Khánh-Quyền Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh cho biết, Bùi Tá Hán sinh quán ở châu Hoan (Nghệ An), nhưng có công lớn với vùng đất Quảng Ngãi, là thủy tổ của tộc Bùi ở đây, nên Quốc sử quán triều Nguyễn xem ông là danh nhân tỉnh Quảng Ngãi và ca ngợi sự nghiệp cai quản “chú trọng ban ơn huệ, khoan hòa với quân dân, trăm họ yêu mến”.

Sơn phòng tiểu phủ sứ Nguyễn Tấn khi viết tập sách nổi tiếng “Phủ Man tạp lục” đã đặt Bùi Tá Hán ở vị trí đầu tiên trong số những nhân vật góp công lớn vào sự nghiệp kinh dinh vùng đất phía tây các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định.

Ông Bùi Tá Phúc lau dọn bàn thờ để chuẩn bị cho ngày giỗ Búi Tá Hán. 


Năm Ất Tỵ (1545), dưới triều vua Lê Trang Tông, Bùi Tá Hán được giao nhiệm vụ bình ổn vùng Thừa tuyên Quảng Nam (nay là địa phận Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định). Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, triều đình phong cho ông chức Đô tướng dinh Quảng Nam, sau thăng Bắc quân Đô đốc Phủ chưởng phủ sự, tước Thiếu bảo Trấn quận công.

Nhờ tài trí hơn người của Bùi Tá Hán với nhiều chính sách hợp lòng dân như đoàn kết Kinh-Thượng, khuyến khích sản xuất, phát triển giao thương... vùng đất Quảng Nam ngày càng thịnh vượng.

Di tích mộ và đền thờ Bùi Tá Hán được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ VH-TT&DL) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia năm 1990. Đền thờ Bùi Tá Hán được xây dựng từ năm 1962, trải qua nhiều cuộc biến thiên của lịch sử, nay đã xuống cấp nghiêm trọng.

“Chúng tôi tâm niệm gìn giữ đền thờ không chỉ cho thế hệ hôm này mà còn là để con cháu sau này biết và nhớ về vị Trấn Quốc Công, để tự hào rằng mình là con cháu họ Bùi – con cháu Bùi Tá Hán. Vì vậy, con cháu họ Bùi mong muốn đền thờ Bùi Tá Hán sớm được đầu tư trùng tu, nâng cấp, xứng với tầm vóc di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia, để xây dựng nơi đây trở thành điểm du lịch tâm linh, giáo dục tình yêu quê hương, đất nước”, ông Bùi Tá Phúc trải lòng.
  

 

Liên quan đến việc Hội đồng gia tộc-Tộc Bùi Quảng Phú xin hỗ trợ, bố trí vốn thực hiện dự án trùng tu, xây dựng và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa mộ và đền thờ Bùi Tá Hán, Chủ tịch UBND tỉnh Trần Ngọc Căng vừa có văn bản chỉ đạo Sở VH-TT&DL chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan sớm nghiên cứu, tham mưu cho UBND tỉnh.

 

M.Anh-Đ.Sương

Báo Quảng Ngãi online - 09/06/2017

Huyền thoại về vị chánh tổng ở Mường Lằm

đăng 01:54, 11 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Một số cao niên kể rằng, chánh tổng Mường Lằm tên Xống Át tham gia nuôi bộ đội hồi kháng chiến chống Pháp, nhưng cuối lại vướng vào xung đột nội tộc và bị sát hại dã man.

Chuyện về chánh tổng Lang Văn Át chỉ còn lại trong ký ức của các cao niên. Những lớp trầm tích đã vùi lấp mường xưa dưới lòng hồ Bản Vẽ. Ảnh: Hữu Vi 


Trong suốt lịch sử phát triển của những mường người Thái ở miền núi Nghệ An, các tù trưởng luôn đóng vai trò rất quan trọng. 

Nếu hỏi ai là người nổi tiếng nhất Mường Lằm cũng là mường người Thái lớn nhất lưu vực sông Nậm Nơn, ở miền Tây xứ Nghệ sẽ nhận được câu trả lời là ông Xống Át (Chánh tổng Át). Ông là chánh tổng, cũng là người cai quản cuối cùng ở Mường Lằm cho đến khi chế độ hành chính mường bản thời phong kiến bị bãi bỏ. Phần lớn địa vực Mường Lằm ngày nay đã chìm vào lòng hồ thủy điện Bản Vẽ, công trình thủy điện lớn nhất Bắc Trung Bộ.

Trong trí nhớ của các bậc cao niên vị chánh tổng uy quyền này là người đàn ông cao gầy, còn những câu chuyện về Xống Át thì nhiều người vẫn kể theo những cách khác nhau.

Theo ông Lương Văn Hoàn, trú tự do một nơi gọi là Khe Hốc giữa lòng hồ thủy điện Bản Vẽ, Xống Át vốn quê gốc xã Đôn Phục, huyện Con Cuông. Ông tên đầy đủ là Lang Văn Át, con cháu dòng dõi họ Lang Vi nổi tiếng ở miền Tây Nghệ An.

Không còn những bản làng trù phú của vùng đất Mường Lằm xa xưa. Ảnh: Hữu Vi 


Trong thời đại cai trị miền Tây Nam xứ Nghệ, quan phủ họ Lang Vi thường bổ con cháu trong dòng tộc giữ các vị trí chức sắc như tri huyện, chánh tổng, lý trưởng. Xống Át là một trong những người được bổ nhiệm như thế. Hiện không ai nhớ được Xống Át về làm chánh tổng vùng Mường Lằm vào thời điểm nào, cũng không còn văn bản nào ghi nhận việc bổ nhiệm Xống Át làm chánh tổng. Chuyện về ông phần lớn chỉ là những huyền thoại mang màu sắc dân gian. Chính vì thế mà dòng họ Lương ở khu vực Mường Lằm nhận Xống Át là tiền nhân của họ.

Một giai thoại kể rằng : Khi mới về Xống Át không được lòng dân. Người ta hay kỳ thị với những người ở xa đến, nhất là chức sắc được bổ nhiệm về. Người dân chỉ quen với những người cai quản quen thuộc là người trong mường. Trong một năm ông không nghĩ ra cách gì để lấy lòng người ân và các tù trưởng của mường. Dù đã đi đến hầu hết các bản để tìm hiểu về nếp sinh hoạt, dã chung sống hòa nhã cũng mọi người nhưng giữa ông và họ vẫn có một khoảng cách.

Cuộc sống của người Mường Lằm đã khác xưa rất nhiều. Bản cũ đã thành bến nước với những chiếc bè nổi trên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ. Ảnh: Hữu Vi 


Thế rồi vào một năm nọ, ông quyết định mổ 3 trâu con trong đàn trong dàn trâu hơn trăm con của mình tổ chức lễ hội.Trong cuộc vui vào đầu mùa xuân, diễn ra trong 3 ngày, Xống Át chiến thắng trong một cuộc thi bắn nỏ và chèo thuyền vượt thác.Từ đó nhiều người mới nể phục tài năng của ông. Đi đến đâu, dọc dòng sông Nậm Nơn lắm thác nhiều ghềnh này, Xống Át đều được người ta chào đón. Trong ngày hội, ông cho người đến tận nơi mời nhiều quan cai quản mường ở phủ Tương Dương về dự. Vì thế mà ông được nhiều người biết danh tiếng. Sau này dù đi đến mường nào ông cũng được ủng hộ, chào đón. Điều này tạo điều kiện cho ông luôn giành được thuận lợi trên đường quan lộ.

Những giai thoại cũng kể rằng, nhờ uy tín của mình ông đã giảng hòa được nhiều cuộc xung đột giữa những quan mường. Vì thế mà vùng lưu vực sông Nậm Nơn luôn yên bình cho đến khi người Pháp đến với những hoạt động cướp bóc và khai thác vàng sa khoáng trên sông Nậm Nơn. Xống Át rất căm tức nhưng đành nín nhịn vì không được sự ủng hộ của chính quyền cũng như triều đình Huế.

Ông Lương Văn Tiến, ngụ tại quần cư Huồi Hốc cho biết, trước kia thân sinh ông là “người nhà” (hầu hạ) trong nhà của Xống Át kể rằng: Năm 1945, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, dù không làm chánh tổng nữa nhưng ông vẫn có những đóng góp cho cách mạng. Khoảng các năm 1947, 1948 ông tham gia nuôi bộ đội. Dù đã hết quan hoàn dân nhưng diều kiện kinh tế của Xống Át vẫn khá giả nên trong nhà luôn có từ 20 – 30 bộ đội ăn ở. Ông tham gia nuôi quân phục vụ ủy ban kháng chiến cho đến năm 1952 thì mất.

Đường vào Hữu Khuông, vùng đấy chánh tổng Lang Văn Át cai quản gần 80 năm về trước. Ảnh: Hữu Vi 


Về cái chết của Xống Át cũng có nhiều câu chuyện. Ông Lương Văn Tiến cho biết từng nghe cha mình kể về vụ việc này. Thời ấy, trong dòng họ của ông nảy sinh mâu thuẫn. Một người họ hàng nhân lúc bản vắng người đã bắn lén dẫn đến cái chết của Xống Át. “Cha tôi kể rằng thời ấy, mỗi khi bản có đám cưới là cả bản đều đi dự. Hôm đó vào đúng đám cưới của cha tôi, khi cả bản bản đi ăn cưới, chỉ còn Xống Át ở nhà một mình. Một người trong dòng họ mang theo súng đến bắn chết quan chánh tổng rồi trốn sang Lào.”

Một câu chuyện khác kể rằng: Xống Át bị bắn chết vào đêm tối. Trước đó có người sợ bắn nhầm nên dặn với cợ ông rằng: Đêm nay bà đừng ngủ cạnh ông nhà nhé. Bà chánh tổng không hiểu vì sao người kia lại dặn vậy nhưng vẫn làm theo mà không nói gì với chồng. Tối đó mọi người nghe ba tiếng súng, chạy đến thì thấy vị cựu chánh tổng đã gục chết. Hung thủ cũng trốn mất dạng.

Ngày nay, nhiều bậc cao niên ở vùng phủ Tương Dương xưa, chủ yếu là các huyện Con Cuông và Tương Dương vẫn lưu truyền nhưng giai thoại về Xống Át, vị chánh tổng được nhiều người nể phục.

Hữu Vi

Nguyễn Tất Nhiên: Một đời thơ bi thiết

đăng 01:58, 7 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm. Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài Vì tôi là linh mục tuyệt hay: “Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”… Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

Đòi nhuận bút những bài thơ phổ nhạc

Tôi quen Nguyễn Tất Nhiên khoảng đầu năm 1971, khi Nhiên đến tòa soạn tặng tôi tập thơ Thiên tai. Sau đó tôi thường gặp Nhiên ở nhà Du Tử Lê. Gọi là nhà nhưng đó chỉ là một căn phòng nhỏ trong cư xá Bưu Điện, đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai), nơi vợ chồng Du Tử Lê thuê ở tạm trong thời gian chờ mua nhà ở làng báo chí. Căn phòng chỉ rộng chừng vài chục mét vuông mà chị Thụy Châu, vợ Du Tử Lê, vừa làm nơi nấu nướng, ăn ngủ, tiếp khách. Vậy mà mỗi lần Nhiên đến ngủ lại, chiếm cái bàn viết của anh Lê, ngồi làm thơ, cả đêm uống trà, cà phê, hút thuốc khói bay mù mịt cả căn phòng. 

Theo lời Du Tử Lê thì anh là người chọn và đưa những bài thơ Nguyễn Tất Nhiên cho Phạm Duy phổ nhạc. Nổi tiếng nhưng Nhiên vẫn nghèo kiết xác. Rồi không biết ai “xúi” Nhiên đòi Phạm Duy trả tác quyền mấy bài thơ phổ nhạc bởi Nhiên khá ngây thơ, chẳng quan tâm chuyện gì ngoài chuyện làm thơ. Về sau tôi mới biết là do Lê Cung Bắc. Lê Cung Bắc kể chuyện anh quen Nhiên: Một lần anh đến Biên Hòa, vừa xuống xe thì có một thanh niên cao, gầy, rất lãng tử bước đến hỏi: “Có phải anh là Lê Cung Bắc?”, Bắc gật đầu. Lê Cung Bắc bấy giờ là diễn viên kịch nói tên tuổi, thường xuất hiện trên truyền hình nên nhiều người biết. Chàng thanh niên tự giới thiệu là Nguyễn Tất Nhiên. Bắc đã đọc và thích thơ Nhiên nên từ đó hai người thân với nhau. Biết được chuyện Phạm Duy phổ nhạc thơ Nhiên nhưng không hỏi và cũng không trả đồng nhuận bút nào, Lê Cung Bắc bèn đưa Nhiên đến gặp Chu Tử, chủ bút nhật báo Sóng Thần, bởi Bắc có tên trong nhóm chủ trương báo này. Nhà văn Chu Tử, tác giả những tiểu thuyết nổi tiếng Sống, Yêu, Ghen, Loạn… cùng gốc người Bắc và cũng trạc tuổi Phạm Duy, vốn không ưa Phạm Duy nên ông “phang” ngay một bài khá cay trên mục Ao thả vịt của ông! 

Một thời gian sau tôi thấy Nguyễn Tất Nhiên chạy một chiếc xe Honda nữ còn mới, nhìn rất tức cười. Bởi chiếc xe dành cho nữ khá thấp trong khi Nhiên cao lều khều, người gầy, chân tay dư thừa lòng khòng. Nhiên bảo tiền nhuận bút thơ mình Phạm Duy phổ nhạc đấy. Tôi cũng không hỏi thêm Phạm Duy trả hay ai trả và trả bao nhiêu. Sau này, khoảng cuối năm 1974, khi tôi gặp Phạm Duy trong lần ông lên Buôn Ma Thuột trình diễn chung với một ca sĩ du ca nổi tiếng người Mỹ, tôi hỏi chuyện này, Phạm Duy bảo chắc người in nhạc ông trả chứ ông đâu biết mặt mũi Nguyễn Tất Nhiên ra sao đâu! 

Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên (thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ. 


Vẫn lơ ngơ chân không chạm đất 

Sau ngày 30-4-1975 vài tháng, Nguyễn Tất Nhiên từ Biên Hòa xuống Sài Gòn thăm tôi. Nhiên gầy hơn, cao lêu nghêu và đen nhẻm. Vẫn đôi dép lẹp xẹp, áo bỏ ngoài quần, trông còn lè phè hơn xưa. Nhiên bảo lúc này làm việc ở Hợp tác xã Xe lam. Bữa nay được nghỉ, Nhiên đi Sài Gòn mua ít đồ, tiện ghé thăm tôi. Tối đó Nhiên ở lại, hai thằng ngồi lai rai hết mấy xị đế ở hành lang căn gác tôi ở trọ. Và cùng ngủ ngồi bởi nơi tôi ở ghép trên đường Nguyễn Huỳnh Đức (Phú Nhuận) nhà chật chội, khá đông người, không có chỗ cho hai đứa. Từ đó tôi không gặp Nhiên. Khoảng đầu những năm 1980, tôi nghe tin Nhiên vượt biên, sang định cư ở Pháp, rồi sau lại nghe Nhiên sang Mỹ. Nhiên lấy vợ tôi không hay nhưng tin Nhiên mất tới tôi rất nhanh, qua một người bạn từ Mỹ về báo. 

Mãi đến năm 2014 tôi qua Mỹ mới được nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ và đạo diễn Nguyễn Hoàng Nam, em trai Nguyễn Tất Nhiên, đưa tôi đến thăm mộ Nhiên. Không tìm đâu ra nén nhang, tôi xin Nguyễn Lương Vỵ điếu thuốc, đốt gắn trên mộ bạn nằm dưới bóng cổ thụ trong Vườn Vĩnh Cửu, nghĩa trang Westminster, California tĩnh mịch, yên bình. 

Những câu thơ tiên tri về bi kịch cuộc đời 

Tôi được nghe kể lại, thời gian sau khi ly hôn Nguyễn Tất Nhiên sống cô độc trên chiếc xe hơi cũ, lang thang vô định. Trong xe của Nhiên lúc nào cũng có một bịch khoai tây sống để ăn tạm khi đói. Rồi một ngày người ta tìm thấy anh nằm chết trên xe đậu trong sân một ngôi chùa. Tôi nghe mà lòng nghẹn đắng, thương bạn. Tôi nhớ bạn tôi vốn có nét mặt khắc khổ, ít khi thấy hắn cười, có cười thì nụ cười méo xệch. Thơ cũng như người. Thơ Nguyễn Tất Nhiên khi trẻ là những bài thơ thất tình đã được Phạm Duy phổ nhạc. Nhân vật Duyên trong Khúc tình buồn là một bạn học lớp đệ ngũ, đệ tứ (lớp 8, lớp 9) khi mới 14-15 tuổi. Cô Bùi Thị Duyên hiện định cư ở Michigan, Hoa Kỳ. Cô cho biết chỉ là bạn học thôi nhưng Hải (NTN) thích và làm thơ tặng thì mình nhận. Nhưng vẫn thường nói với Hải bấy giờ mình mãi mãi chỉ là bạn thôi. Và Hải cũng gật đầu. Khi lớn hơn một chút, thơ Nguyễn Tất Nhiên bi thiết não lòng. Khi mới hai mươi, Nguyễn Tất Nhiên đã có những câu thơ bi thiết định mệnh: Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ/ Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian/ Phải đau theo từng hớp rượu tàn/ Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định…” (Giữa trần gian tuyệt vọng, 1972). Bốn câu thơ này được khắc trên mộ bia Nguyễn Tất Nhiên. Cả bài thơ tặng sinh nhật vợ sắp cưới cũng là những vần thơ sầu thảm như một lời tiên tri về những bi kịch sẽ đến: “Khổ đau oằn nặng sinh thời/ Yêu ai tôi chỉ có lời thở than…/ Lôi người té sấp, gian nan/ Lỗi tôi, ừ đó, muôn phần lỗi tôi!”. 

Minh khúc 90, Nguyễn Tất Nhiên làm sau khi ly hôn, nhiều câu đọc lên mà nghe nhói lòng: “Đường không gian - đã phân ly/ Đường thời gian - đã một đi không về/ Những con đường mịt sương che/ Tôi vô định lái chuyến xe mù đời/ Cu Tí ngủ gục đâu rồi?/ Băng sau nhìn lại bời bời nhớ con...”. Những câu thơ xé lòng của một thi sĩ đi đến tận cùng nỗi bi thiết. 

Chuyện cái bút danh 

Về chuyện bút danh Nguyễn Tất Nhiên, sau này tôi nghe nói sau khi Nhiên chết, ở Mỹ có người bàn tán về cái bút danh ngộ nghĩnh Nguyễn Tất Nhiên. Chính Nguyễn Tất Nhiên kể với tôi là khoảng năm 1969, lần đầu gặp Du Tử Lê, nhà thơ thần tượng của anh bấy giờ, tại quán Cái Chùa (La Pagode), Sài Gòn, anh rụt rè hỏi: “Cái bút hiệu Hoài Thi Yên Thi bạn em bảo hơi “sến” phải không anh?”. Du Tử Lê buột miệng: “Tất nhiên”. Rồi hỏi: “Họ Nguyễn hả?”. Hải gật đầu. Du Tử Lê bảo: “Thì lấy Nguyễn Tất Nhiên đi!”. Và từ đó bút danh Nguyễn Tất Nhiên đi theo anh đến hết cuộc đời như một định mệnh nghiệt ngã. Khởi đầu từ tập thơ Thiên tai xuất bản năm 1970 đến khi thi sĩ nằm chết lặng lẽ trong chiếc xe hơi cũ ở sân chùa khu Garden Grove, California mùa thu năm 1992, ở tuổi 40. 


Nguyễn Tất Nhiên tên thật Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa. Khi mới học đệ tứ (lớp 9 bây giờ) Trường Trung học Ngô Quyền, anh đã có thơ in chung trong tập Nàng thơ trong mắt. Và hai năm sau, anh có tập thơ riêng Dấu mưa qua đất. Cả hai tập thơ này đều với bút hiệu Hoài Thi Yên Thi. Tập thơ Thiên tai với bút danh Nguyễn Tất Nhiên xuất bản năm 1970 đã đưa tên tuổi anh thành một khuôn mặt đặc biệt của thi ca bấy giờ. Nguyễn Tất Nhiên có ba em trai: Nguyễn Hoàng Đệ (chết lúc nhỏ), Nguyễn Hoàng Nam hiện là đạo diễn điện ảnh và Nguyễn Hoàng Thi là ca sĩ-nhạc sĩ. Cả hai hiện định cư ở Hoa Kỳ với cha mẹ.


PHẠM CHU SA

Bộ sưu tập hơn 3.000 đồ cổ giữa đại ngàn

đăng 01:33, 7 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Là lính Tiểu đoàn 1 - Tiểu đoàn tăng cường thuộc Bộ Công an lên Tây Nguyên đánh Fulro, anh Đặng Minh Tâm (SN 1960) từng chiến đấu tại các điểm nóng Lạc Dương, Đơn Dương và Đức Trọng (Lâm Đồng). Trong thời gian này, anh Tâm gắn bó với đồng bào K’Ho, Jrai... Nhận thấy nhiều hiện vật đang dần mai một, anh đã kỳ công sưu tầm hơn 3.000 hiện vật để góp phần gìn giữ tinh hoa văn hóa ở miền đất kỳ bí... 


Hơn 3.000 hiện vật vô giá

Thời gian chung sống với đồng bào K’Ho, Jrai, anh Tâm thân thiết gắn bó với họ, nhiều người quý mến gọi anh với cái tên gần gũi “anh K’Tâm”. Mỗi lần chuyển sang địa bàn khác để công tác, anh Tâm chia tay với bà con và được họ quý mến trao tặng nhiều nhạc cụ, vật dụng sinh hoạt gắn bó với đời sống của họ. Nhờ đó, anh Tâm gắn kết với những báu vật, anh cất giữ, bảo quản cẩn thận từng thứ một. “Tôi rất quý những món quà bà con trao tặng và nó không thể thiếu trong đời sống của tôi. Sau cuộc chiến khốc liệt đánh Fulro, tôi về công tác tại Công an Lâm Đồng. Thời điểm này, tôi nhận thấy nhiều cổ vật Tây Nguyên đang mai một, nên quyết định sưu tầm và gìn giữ” - vị thượng tá công an nói.

Nghĩ là làm, anh Tâm bắt tay với công việc sưu tầm hiện vật, anh tận dụng thời gian rảnh để trở lại buôn làng, gặp những người quen đã gắn bó thời chiến. Tìm đến bà con, anh Tâm thăm hỏi, khuyên bảo mọi người gìn giữ cổ vật của gia đình, dòng họ. Có nhiều gia đình do hoàn cảnh khó khăn, buộc phải bán các hiện vật như ché, cồng chiêng... thì anh Tâm gom góp tiền mua lại để lưu giữ.

Sau hơn 30 năm dày công sưu tầm, thượng tá Công an Đặng Minh Tâm đã sưu tầm hơn 3.000 hiện vật và trưng bày tại nhà riêng (số 27 đường Lương Thế Vinh, phường 3, Đà Lạt) để phục vụ miễn phí những người nghiên cứu và có tâm huyết với việc bảo tồn văn hóa Tây Nguyên.

Những cổ vật mà anh Tâm sưu tầm từ nhiều năm nay đều có tiểu sử, có đời sống riêng, ly kỳ và hấp dẫn, gồm ché cổ, ché thế mạng, ché quý trên 100 tuổi, bộ trang phục thổ cẩm trên 200 năm dệt bằng sợi gòng của tù trưởng người Mạ. Bộ áo làm bằng vỏ cây của người Gia Rai, khố thổ cẩm cổ dài nhất Tây Nguyên, bộ ngà voi căng tai, nhẫn bạc làm bằng thủ công là tín vật thiêng liêng không thể thiếu khi sơn nữ bắt chồng, bộ trống da voi với mặt trống đực có đường kính tới 1m, mặt trống cái 0,8m...

Một góc bộ sưu tập ché của anh Tâm. Ảnh: PV 


Nhiều hiện vật “có một không hai”!

Nhắc đến những hiện vật “độc nhất vô nhị” của mình, anh Tâm kể về chiếc ghế của “vua voi”: Trước đây, giữa núi rừng đại ngàn Tây Nguyên, nhiều người thường kể cho nhau nghe về xứ sở của những đàn voi to lớn, dũng mãnh... “Nhiều già làng ở vùng đất Tây Nguyên cho hay, những con voi có mặt tại buôn làng, chúng nghe theo sự điều khiển của con người như kéo gỗ từ rừng sâu về để làm nhà rông sừng sững giữa núi rừng đại ngàn là những chú voi rừng hung dữ. Để bắt giữ và huấn luyện chúng không hề đơn giản, nhiều trai làng là những thợ săn cường tráng, tài ba và dũng cảm của buôn làng đã kỳ công săn bắt voi đực và thuần dưỡng” - anh Tâm nói.

Anh Tâm sở hữu được chiếc ghế của “vua voi” là sau dịp chứng kiến “vua voi” làm lễ cúng trước khi vào rừng săn loài voi to khỏe có cặp ngà hung hăng và cái vòi lợi hại có thể tấn công mọi kẻ thù bất cứ lúc nào. Anh Tâm đã bỏ thời gian tìm kiếm và mua được chiếc ghế được làm bằng xương voi, món đồ cổ có một không hai. Chiếc ghế của “vua voi” có nhiều đốt xương voi kết lại bằng dây rừng và được cài hai răng nanh làm tăng vẻ uy dũng. Chiếc ghế này chỉ dành riêng cho “vua voi” ngồi để cúng trước mỗi chuyến săn.

Ngoài chiếc ghế của “vua voi”, bộ sưu tầm của anh Tâm còn sở hữu nhiều ché quý trên 100 tuổi, những chiếc ché thế mạng hiếm hoi, đây không chỉ là đồ đựng đặc dụng gắn liền với tập quán uống rượu cần, mà còn là tài sản tích lũy của gia đình, là thước đo về sự giàu có và uy lực, là lễ vật dùng trong các dịp cúng tế thần linh, là sính lễ trong cưới hỏi, là của hồi môn cho con cái, là vật nộp phạt với những ai vi phạm luật tục của cộng đồng và là tài sản chia cho người đã mất...

Già làng K’Mế (buôn Con Ó, Đạ Tẻh) cho biết: “Nhà càng giàu càng có nhiều ché”. Theo anh Tâm, cái ché lớn đính kèm chiếc ché nhỏ xinh xắn là ché “mẹ bồng con” biểu tượng của sự phồn thực, làm ăn phát đạt, có giá trị tương đương với 11 con trâu. Quý giá nhất là chiếc ché bom thế mạng trong buôn làng Ba Na có từ thế kỷ 13, giá trị bằng 30 con trâu. “Trước đây, khi người trong buôn làng làm chết người hoặc voi sẽ phải đền bằng chiếc ché bom này. Người bản địa quan niệm những chiếc ché quý có hồn. Khi có người chết, gia đình sẽ bẻ một miếng trên miệng chiếc ché rồi chôn cùng người chết để bày tỏ lòng thương tiếc. Nếu người chết là chủ nhà hoặc người lớn tuổi thì bẻ một miếng lớn, còn nếu chết trẻ thì bẻ miếng nhỏ...” - anh Tâm cho biết thêm.

Bộ sưu tập của anh Tâm còn độc đáo với bộ trang phục thổ cẩm trên 200 năm dệt bằng sợi gòng của tù trưởng người Mạ. Bộ áo làm bằng vỏ cây của người Gia Rai, khố thổ cẩm cổ dài nhất Tây Nguyên, Bộ ngà voi căng tai của vị thượng tá này: Có nhiều cặp ngà từ nhỏ đến lớn, trong đó cặp lớn nhất được nghệ nhân kỳ công chế tác thành hai đóa hoa vô thường...

Đối với anh Tâm, bộ sưu tập của anh là vô giá! Rất nhiều người tìm đến hỏi mua giá hàng tỉ đồng nhưng anh không bán. 

K’LIỆP

1-10 of 17