Con người và sự kiện

Bài mới

  • Cây đại thụ trên 700 năm tuổi giữa lòng thành phố Hưng Yên Cây đại thụ 700 năm tuổi được hình thành từ 3 thân cây sanh, si, đa. Thân, rễ của 3 loại cây quấn quýt thành thế kiềng 3 chân vững ...
    Được đăng 17:26, 11 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Tượng mẹ Âu Cơ bên bãi biển Đà Nẵng Bức tượng bí ẩn bên bờ biển Đà Nẵng mang một ý nghĩa hướng về nguồn cội sâu sắc khi khắc họa hình ảnh Mẹ Âu Cơ - nhân vật huyền ...
    Được đăng 01:20, 31 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bộ hài cốt 2.300 tuổi còn nguyên vẹn giữa Hà Nội Bên trong mộ cổ Châu Can, bộ hài cốt 2.300 tuổi được đặt nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng, hai tay đặt song song với thân người bọc bằng ...
    Được đăng 01:10, 31 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Dựng lại cơ đồ từ sự điêu tàn của làng lụa Mã Châu Ông Trần Hữu Phương từng gồng mình đứng giữa những thân dâu cuối cùng bên bờ sông Thu Bồn, đơn thương độc mã trong cuộc chiến sống còn, quyết không ...
    Được đăng 01:22, 22 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Ngắm Vinh xưa và nay qua những bức ảnh Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, thành Vinh nay đã có nhiều đổi thay từ những góc phố, những con đường hay các công trình xây dựng. Hãy cùng ...
    Được đăng 20:23, 11 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 16. Xem nội dung khác »


Cây đại thụ trên 700 năm tuổi giữa lòng thành phố Hưng Yên

đăng 17:26, 11 thg 11, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 17:26, 11 thg 11, 2018 ]

Cây đại thụ 700 năm tuổi được hình thành từ 3 thân cây sanh, si, đa. Thân, rễ của 3 loại cây quấn quýt thành thế kiềng 3 chân vững chãi.

Đền Mẫu là danh thắng tiêu biểu của Phố Hiến. Đền có tên chữ là Hoa Dương linh từ, nằm trên đường Bãi Sậy, phường Quang Trung, TP Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Đền thờ Dương Quý Phi, triều nhà Tống, Trung Quốc

 

Qua Nghi môn vào sân đền, du khách chiêm ngưỡng cây cổ thụ độc đáo trên 700 năm tuổi ở trước cửa đền

 

Vết thời gian in hằn trên thân cây cổ thụ.

 

Ba thân cây sanh, si, đa cổ thụ quyện với nhau hòa làm một.

 

Lá cây sanh.

 

Thân, rễ của 3 loại cây quấn quýt thành thế kiềng ba chân vững chãi, cành lá vươn cao, xum xuê, tỏa bóng che toàn bộ ngôi đền

 

Tương truyền, trước cửa đền là cây bàng cổ thụ, chim chóc về đậu mang theo những hạt cây sanh, si, đa và bỏ lại trên thân bàng. Từ những hạt đó mọc thành cây và phát triển trên thân bàng. Dần dần các rễ cây tìm xuống đất ôm trùm kín quanh thân cây bàng

 

Các rễ cây còn lại đâm tỏa thành thế một thân ba gốc như ngày nay. Thân cây bàng giờ không còn nữa

 

Tán cây cổ thụ che cho ngôi đền, tạo cho ngôi đền vẻ đẹp cổ kính và linh thiêng

 

Hai nhà sử học Phan Huy Lê và Trần Quốc Vượng cho rằng, đây là cây cổ nhất vùng châu thổ Bắc Bộ

 

 

 

 

Tượng mẹ Âu Cơ bên bãi biển Đà Nẵng

đăng 01:19, 31 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:20, 31 thg 10, 2018 ]

Bức tượng bí ẩn bên bờ biển Đà Nẵng mang một ý nghĩa hướng về nguồn cội sâu sắc khi khắc họa hình ảnh Mẹ Âu Cơ - nhân vật huyền thoại có thể được coi là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên hiện diện trong lịch sử dân tộc và trong tâm linh của những người con nước Việt.

Giữa công viên Biển Đông bên bãi biển Phạm Văn Đồng ở thành phố Đà Nẵng có một bức tượng bằng đá trắng khá lạ mắt, khiến những du khách đi qua đây không khỏi cảm thấy tò mò

 

Tượng được tạo tác với các hình khối đơn giản, thể hiện hình ảnh hai bầu vú no tròn bao bọc một quả trứng to, đặt trên bệ tượng hình hộp, ốp đá hoa cương đen, mỗi chiều khoảng 3 mét. Bức tượng không ghi tên tác phẩm, tác giả, thường được người dân địa phương gọi là tượng Mẹ Âu Cơ

 

Theo bài viết “Đôi điều về tác phẩm Mẹ Âu Cơ” của tác giả Nguyễn Đình An đăng trên Tạp chí Non Nước (Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Đà Nẵng) số 167 - tháng 6/2011 thì tác giả bức tượng là nhà điêu khắc Lê Công Thành, người gốc Đà Nẵng, sống ở Hà Nội.

 

Bài viết cho biết, năm 2006, trong một chuyến vào Đà Nẵng, khi đứng ở bãi biển đầu đường Phạm Văn Đồng, ông Lê Công Thành đã lặng người đi và bảo đây là “huyệt đạo” thiêng của Đà Nẵng. Đầu năm 2007, ông về Đà Nẵng và quyết tâm dựng tượng Người mẹ và bọc trứng – Mẹ Âu Cơ ở quê nhàBài viết cho biết, năm 2006, trong một chuyến vào Đà Nẵng, khi đứng ở bãi biển đầu đường Phạm Văn Đồng, ông Lê Công Thành đã lặng người đi và bảo đây là “huyệt đạo” thiêng của Đà Nẵng. Đầu năm 2007, ông về Đà Nẵng và quyết tâm dựng tượng Người mẹ và bọc trứng – Mẹ Âu Cơ ở quê nhà

 

Ngày 8/5/2007, ông Thành gặp Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh và trình bày ý tưởng xây tượng. Ông không đòi hỏi kinh phí, chỉ yêu cầu thành phố cho đặt tượng ở đúng vị trí ông yêu cầu, để ông định ngày giờ đặt tượng lên bệ. Nếu thành phố không ưng thì ông sẽ dời tượng, không đòi hỏi đền bù

 

Ông Nguyễn Bá Thanh đã chấp nhận và giao cho các cơ quan, doanh nghiệp liên quan thực hiện các yêu cầu liên quan đến tác phẩm của nhà điêu khắc. Ông Thành đã tự đi mua vật liệu, cho dựng lán trại che kín bốn phía tại công trường và huy động các nghệ nhân, thợ đá đục đẽo suốt ngày đêm

 

Tác phẩm Mẹ Âu Cơ được hoàn thành trong 45 ngày. Đúng nửa đêm 30/6/2007, các khối đá trắng được đặt đúng vị trí. 7h30 phút sáng ngày 1/7/2007, Bí thư Nguyễn Bá Thanh đến chứng kiến sự hoàn công, bắt tay nhà điêu khắc, hai người đều im lặng

 

Được biết, ông Lê Công Thành sinh năm 1931, là một nhà điêu khắc nổi tiếng với nhiều bức tượng ngoài trời được dựng khắp đất nước. Ông thường không đặt tên các bức tượng của mình, để người dân có thể tự đặt tên

 

Theo đánh giá của các nhà phê bình nghệ thuật, "Mẹ Âu Cơ" ở Đà Nẵng là tác phẩm đẹp ở sự cô đọng về ý tưởng, hiện đại về hình thức trong một ngôn ngữ điêu khắc mang tính tượng trưng và hài hòa với cảnh quan của công viên Biển Đông

 

Bên cạnh đó, tác phẩm còn có mang một ý nghĩa hướng về nguồn cội sâu sắc khi khắc họa hình ảnh Mẹ Âu Cơ - nhân vật huyền thoại có thể được coi là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên hiện diện trong lịch sử dân tộc và trong tâm linh của những người con nước Việt

Bộ hài cốt 2.300 tuổi còn nguyên vẹn giữa Hà Nội

đăng 01:10, 31 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Bên trong mộ cổ Châu Can, bộ hài cốt 2.300 tuổi được đặt nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng, hai tay đặt song song với thân người bọc bằng những lớp vải mỏng hoặc lớp lá chẻ nhỏ đan lại một cách cẩn thận...

Mộ cổ Châu Can là một hiện vật thu hút sự quan tâm đặc biệt tại trưng bày chuyên đề Báu vật Khảo cổ đang diễn ra tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ở Hà Nội

 

Ngôi mộ cổ này được phát hiện và khai quật vào tháng 9/1974 tại cánh đồng thôn Nội, xã Châu Can, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây Cũ, nay là thành phố Hà Nội

 

Kết quả khai quật xác định đây là khu nghĩa địa có 8 ngôi mộ cổ. Những quan tài tìm thấy trong mộ cổ Châu Can có chiều dài từ 1,85 đến 2,32 mét, đường kính trên dưới 0,5 mét.

 

Ngôi mộ được trưng bày tại bảo tàng là ngôi mộ được bảo tồn nguyên vẹn nhất trong nhóm mộ. Mộ có quan tài là thân cây gỗ được bổ dọc, khoét rỗng, nửa dày làm thân, nửa mỏng làm nắp quan tài

 

Quan tài có chiều dài 2 mét, rộng 0,53 mét, được chôn ở độ sâu 2,15 mét

 

Bên trong quan tài, người quá cố được đặt nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng, hai tay đặt song song với thân người bọc bằng những lớp vải mỏng hoặc lớp lá chẻ nhỏ đan lại một cách cẩn thận.

 

Tình trạng của bộ hài cốt còn khá nguyên vẹn. Theo giám định, đây là một người đàn ông khoảng 60 tuổi

 

Tình trạng của bộ hài cốt còn khá nguyên vẹn. Theo giám định, đây là một người đàn ông khoảng 60 tuổi

 

Lồng ngực

 

Xương chậu

 

Bàn tay

 

Đồ tùy táng được xếp tập trung về phía chân gồm đồ gốm, đồ đồng, đồ tre, nứa và gỗ

 

Chiếc nồi gốm là hiện vật lớn nhất được chôn cùng người đã khuất.

 

Lưỡi lao bằng đồng và khay gỗ.

 

Xương bàn chân của người đã khuất

 

Kết quả nghiên cứu về di tích, di vật và táng tục cho thấy chủ nhân mộ cổ Châu Can là cư dân văn hóa Đông Sơn, niên đại cách ngày nay khoảng 2.300 năm.

Dựng lại cơ đồ từ sự điêu tàn của làng lụa Mã Châu

đăng 01:22, 22 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Ông Trần Hữu Phương từng gồng mình đứng giữa những thân dâu cuối cùng bên bờ sông Thu Bồn, đơn thương độc mã trong cuộc chiến sống còn, quyết không để tiếng lạch cạch của khung cửi, con thoi biến mất vĩnh viễn ở làng lụa Mã Châu... 

Nghệ nhân Trần Hữu Phương bên khung cửi...


Ông Phương là người rất kiên định với lụa và xem nghề ươm tơ, dệt lụa là cuộc sống của mình. Nhờ có ông, làng lụa Mã Châu bên bờ sông Thu Bồn đã khôi phục nghề dệt lụa truyền thống

Ông Hoàng Châu Sinh (nguyên chủ tịch UBND huyện Duy Xuyên, Quảng Nam)

Trần Hữu Phương là nghệ nhân của lụa Mã Châu (thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam). Lần này gặp lại ông giữa TP.HCM trong triển lãm lụa "Chuyện kể xứ Tằm Tang" (diễn ra tại Nhà văn hóa Thanh niên, P.Bến Nghé, Q.1, TP.HCM), ông Phương đã đưa tinh hoa 600 năm dệt lụa bên bờ sông Thu Bồn vào đất phương Nam.

Điêu tàn làng lụa Mã Châu

Bên khung cửi giữa TP.HCM, ông Phương say mê thuyết trình về thứ lụa đặc sản của đất Quảng Nam: "Một tấm lụa hình thành tốn rất nhiều công đoạn, riêng nuôi tằm tạo kén cho tơ thôi đã tốn ít nhất là ba tháng. Tổ tiên của chúng tôi từ Bắc di cư vào Nam rồi chọn lưu vực sông Thu Bồn trồng dâu nuôi tằm, đóng khung cửi tạo nghề. Đã 600 năm rồi, tôi là đời thứ 18 của làng lụa Mã Châu. Lụa làng tôi ngày xưa chỉ có vua chúa mới được mặc".

Đây là lần thứ hai ông Phương vào TP.HCM. Lần đầu là năm 1990, đọng lại chỉ là những ký ức buồn. Lúc đó ông Phương mới tuổi đôi mươi, mang khung cửi theo những nghệ nhân trong làng hành phương Nam quảng bá nghề lụa, tìm hướng đi mới trong vòng xoáy kinh tế thị trường. 

Ông lý giải: "Lúc đó, quần áo nilông, cotton nhiều và giá cực rẻ. Chúng tôi làm ra lụa mà chẳng thể cạnh tranh được. Nhiều thợ lụa Mã Châu lúc ấy phải bỏ xứ vào Sài Gòn làm thuê để mưu sinh".

Tiếp đến là giai đoạn 2006-2011 lụa Trung Quốc tiến vào thị trường Việt Nam với giá rẻ bèo, lụa làng Mã Châu làm ra không bán được. "Tôi nhớ khoảng thời gian đó, mang lụa xuống phố cổ Hội An gửi các cửa hàng, cả năm trời chỉ bán được vài chiếc khăn. Thê thảm cho làng lụa từng là cống phẩm hoàng triều. Bao nhiêu bản sắc phong đầy tự hào của bao đời làng lụa, đến đời thứ 18 thì rơi vào cảnh điêu tàn" - ông Phương nhớ lại.

Cũng trong thời gian lụi tàn làng lụa này, một nhóm nghệ sĩ về Mã Châu điền dã đã gọi ông Phương là "con tằm cô đơn" khi nghe ông tuyên bố: "Thà chết với con tằm ngoài gốc dâu, hơn là phải gánh chịu nỗi đau thất truyền nghề lụa".

Dựng lại cơ đồ

Bây giờ, sau nhiều cố gắng theo đuổi, những tấm khăn lụa Mã Châu của ông Phương đã được thị trường khó tính TP.HCM đón nhận. 

Cơ đồ trăm năm của tổ tiên đã bắt đầu chấn hưng trở lại. 10 tuổi biết làm lụa, 20 tuổi rong ruổi khắp chốn cùng lụa, 30 tuổi chứng kiến làng lụa dần lụi tàn, 40 tuổi một mình cô đơn bên khung cửi; cả đời với lụa, ông Phương đã đạt được nguyện ước của mình. 

"Tôi đã đi giữa bão và bước đầu thành công. Từ lúc tôi tập trung gia sản để mở công ty, khoảng 700.000m lụa được sản xuất, tất cả đều được bán sạch" - người nghệ nhân 50 tuổi của làng lụa Mã Châu nói.

Ở Mã Châu, ông Phương bây giờ không còn là con tằm cô đơn nữa, hơn 40 người đã trở lại nghề, chung tay cùng ông Phương khôi phục khung cửi. Biền dâu giờ dần mở rộng, con tằm đã biết nhả tơ thay vì lên bàn nhậu. 

Với ông Phương, niềm tin còn lớn hơn khi con gái đầu Trần Thị Yến (26 tuổi) tốt nghiệp đại học, đang làm việc ổn định ở một ngân hàng đã bỏ việc để về quê theo cha làm lụa. Người con kế là Trần Hoàng Oanh (24 tuổi) tốt nghiệp Đại học Khoa học Huế cũng về nhà quanh quẩn với nương dâu, sợi lụa cùng cha.

"Tôi chỉ giỏi làm lụa chứ không giỏi kinh doanh, quản lý sản xuất. Thế là hai con tôi đã giúp việc đó. Tôi hạnh phúc vì các con yêu nghề của tổ tiên nên tự về quê chứ tôi chưa mở lời hay khuyên bảo. Tôi không còn lo lụa Mã Châu thất truyền nữa" - ông nói.

Người cuối cùng

...Lụa Mã Châu đã sống lại - Ảnh: N.HIỂN


"Một nong tằm là năm nong kén, một nong kén là chín nén tơ", câu ca dao thấm đẫm công sức của làng lụa bên bờ sông Thu Bồn ấy khiến ông Phương đau đớn. Mồ hôi đẫm áo mới có được tấm lụa Việt nhưng không thể chống lại lụa Trung Quốc. Ông Phương không tìm ra được đường đi cho lụa. Hợp tác xã tơ lụa Mã Châu từ 300 thành viên chỉ còn vỏn vẹn 16 người. Đến năm 2011 thì những ruộng dâu bị phá, người dân chính thức bỏ nghề trồng dâu nuôi tằm, lang bạt mưu sinh. Ông Phương là người cuối cùng còn theo nghề nuôi tằm dệt lụa. Một số ít người nuôi tằm để bán nhộng cho các quán nhậu. Chẳng ai muốn cho tằm tạo kén. Mà tạo để làm gì khi không bán được?

TRẦN MAI - NGỌC HIỂN

Ngắm Vinh xưa và nay qua những bức ảnh

đăng 20:23, 11 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, thành Vinh nay đã có nhiều đổi thay từ những góc phố, những con đường hay các công trình xây dựng. Hãy cùng nhìn lại sự đổi thay ấy qua những bức ảnh xưa và nay của một số địa danh, công trình là điểm nhấn của thành phố.

Thành Nghệ An được xây dựng bằng đất từ năm 1804, 2 năm sau khi Vua Gia Long lên ngôi. Ảnh tư liệu 


Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831), thành được xây lại bằng đất đá với mặt bằng hình lục giác, có 3 cửa ra vào là cửa Tiền, cửa Tả và cửa Hữu với các cánh cổng kiên cố. Thành là nơi đặt bộ máy của chính quyền Nam triều giai đoạn 1804-1945. Ảnh: Sách Nguyễn 


Cổng thành Nghệ An năm 1929. Ảnh: Trần Đình Quán. 


Trong ảnh là cổng thành phía Nam nằm trên đường Boulevard Gia Long nay là đường Đặng Thái Thân, qua nhiều biến cố lịch sử, cổng thành hiện nay đã được tôn tạo nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc cổ kính của Thành cổ xưa. Ảnh: Hải Vương 


Chợ Vinh có từ lâu đời, xưa gọi là chợ Vĩnh. Ảnh tư liệu 


Trước khi Vinh trở thành trấn thành của Nghệ An, chợ Vinh đã là chợ lớn, trung tâm mua bán nổi tiếng của cả vùng. Hiện nay, bộ mặt kiến trúc chợ Vinh đã thay đổi hoàn toàn. Ảnh: Sách Nguyễn 


Một góc phố khu nhà C tập thể Quang Trung. Ảnh tư liệu 


Một góc khu Quang Trung xưa đã được thay bằng khu chung cư Tecco. Ảnh: Sách Nguyễn 

Nhà Văn hóa thiếu nhi Việt Đức (xưa gọi là Tenlơman). Ảnh tư liệu 


Hiện tại Nhà Văn hóa thiếu nhi Việt Đức đã được xây dựng khang trang. Ảnh: Lê Thắng 


Toàn cảnh khu tổng hợp rạp chiếu phim 12/9 ngày xưa. Ảnh tư liệu 


Rạp 12/9 xưa nay là tổ hợp giải trí hiện đại, trong đó vẫn có các phòng chiếu phim. Ảnh: Sách Nguyễn 


Bến Thủy năm 1908. Ảnh tư liệu 


Khu cầu Bến Thủy dọc sông Lam nhìn từ núi Dũng Quyết. Ảnh: Sách Nguyễn 


Đền Hồng Sơn xưa có tên gọi Võ Miếu. Ảnh tư liệu 


Đền Hồng Sơn được xây dựng năm 1927, phía trước cổng tam quan dường như có một chút thay đổi do quá trình xây dựng, ngoài ra chiếc giếng làng cũng đã không còn tồn tại như hiện nay. Ảnh: Sách Nguyễn 


Bưu điện Vinh xưa. Ảnh: Trần Đình Quán 


Nền bưu điện ngày trước nay là một phần của Trung tâm Thương mại BigC trên đường Trần Phú, phường Lê Mao, TP Vinh. Có thời kỳ đây là Đài liệt sỹ thành phố. Ảnh: Hải Vương 


Sách Nguyễn

Cây đa con nai trên bán đảo Sơn Trà

đăng 02:17, 5 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm khuất sâu trong một cánh rừng trên bán đảo Sơn Trà, cây đa con nai là một trong những điểm đến khá thú vị với những du khách thích mạo hiểm khi lên bán đảo.


Cây đa con nai là một cây đa cổ thụ, nằm xen giữa những tán cây rừng rậm rạp và bên một con suối chảy trong lòng Sơn Trà.



Để đến được nơi này, những du khách ưa thích khám phá di chuyển từ đường Hoàng Sa lên Sơn Trà, sau đó rẽ phải theo đường dẫn xuống cây đa di sản - Một cây đa nổi tiếng khác trên bán đảo Sơn Trà. Đến đây, du khách sẽ đi bộ len lỏi dưới tán cây rừng, qua những con suối, những mỏm đá nhấp nhô sẽ dẫn du khách đến với cây đa con nai.


Mất gần một giờ đồng hồ, bao gồm di chuyển bằng xe máy, sau đó đi bộ vào rừng, du khách sẽ đến được cây đa con nai. Một đoạn đường để đến được cây đa.


Sở dĩ có tên gọi đặc biệt như vậy, bởi cây đa này có hình dáng y hệt một con nai rừng với phần thân xẻ làm đôi giống như hai cặp chân trước - chân sau của con nai và phần tán cây vươn lên giữa trời như chiếc sừng nai.


Cây đa con nai nằm giữa rừng bán đảo Sơn Trà


Hình dáng cây đa như một con nai đang đứng.


Kích thước thân cây đa khá lớn


Khoảng trống ở giữa thân cây đa.


Rễ cây ôm lấy những phiến đá lớn. 

Cái thiêng ở đền cụ Bùi

đăng 02:23, 2 thg 10, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Có thể quan niệm về cái thiêng ngày nay có khác với ngày xưa. Và đền cụ Bùi Tá Hán dù quan niệm về cái thiêng thế nào thì sự tồn tại ấy đến ngày nay cũng nhờ phần nhiều ở cái thiêng.

Trước hết, chúng ta cần nhớ rằng “sinh vi tướng, tử vi thần” (sống là tướng, chết là thần) là một quan niệm phổ biến, ít ra là ở người Việt. Chẳng hạn Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, sau khi từ trần đã được thờ như thần, người đời tôn kính gọi là Đức Thánh Trần. Quan niệm phương Đông thường cho rằng phàm đã là tướng thường có hành tung khác thường, sau khi cứu đời giúp nước, sẽ trở thành thánh nhân. Những kẻ chức vị có cao bao nhiêu mà tầm thường cũng không được như thế.

Cụ Bùi Tá Hán nguyên là Thừa tuyên sứ Quảng Nam vào nửa sau thế kỷ 16, dưới thời Lê Trung hưng, cũng được liệt hạng là người phi phàm. Chưa kể những sắc phong thần có phần làm tăng thêm “uy danh” do các triều đại sau dành cho cụ, thì những lời truyền cũng đã cho thấy đền thờ cụ rất thiêng - tất nhiên theo quan niệm của người xưa.

Đền thờ Trấn quốc công Bùi Tá Hán. Ảnh: Ng.Viên 


Trước hết, cái thiêng ấy thể hiện ở sự thăng thiên huyền bí của cụ Bùi Tá Hán với đôi câu thơ còn truyền lại:

Nhân mã bất tri hà xứ khứ
Huyết y trường dữ thử bi lưu

(Người ngựa đi đâu nào thấy bóng
Máu, bào còn để ở lời bia)

Cái thiêng còn thể hiện ở đoạn văn chữ Hán lưu lại ở đền nói về xuất xứ của hai pho tượng gỗ hiện vẫn còn lưu tại đền thờ:

(Dịch) “Bấy giờ Ngài (Bùi Tá Hán) vào Phú Yên, có vị hoà thượng thấy Ngài phong độ khác thường, bèn đẽo gỗ tạc tượng Ngài. Viên tướng dưới cờ là Xích Y Thị cũng được tạc thành tượng. Xong đâu đấy, hoà thượng đem hai pho chân dung đặt vào thờ trong một ngôi chùa trên núi, qua không biết bao nhiêu đông, hè.

Đến khoảng năm Cảnh Hưng (1740-1786), người Hoà Vang (Vinh) thuộc tỉnh nhà là ông Nguyễn Đô ty vào Phú Yên, nhân hỏi thăm chuyện cũ, liền tư báo cho quan tỉnh bên cạnh (tức Quảng Ngãi) hộ tống hai pho tượng về xã Thu Phố, sức cho tộc họ của Trấn quận công nhận về để thờ, vô cùng linh ứng. Trấn quận công sau được phong làm Thượng đẳng thần, Tứ dương hầu (Bùi Tá Thế, con trai cụ Bùi Tá Hán) được phong làm Trung đẳng thần và Xích Y cũng được phong thần. Vì có công đức nên được thờ cúng, thật không phụ với lời ghi trong quốc sử: “lúc sống thì trung nghĩa, sau khi chết thì linh thiêng”.


Rõ ràng, cái thiêng ở đây còn thể hiện ở chỗ, cụ Bùi Tá Hán (và người hầu cận) được tạc tượng thờ ngay hồi cụ còn sống và chính từ sự linh ứng mà hai bức tượng mới tình cờ được phát hiện, được rước về bản quán và tiếp tục tỏ sự anh linh.

Cái thiêng còn thể hiện qua các chứng thực của người đời sau, như chuyện “bắt cọp” của Tả quân Lê Văn Duyệt mà sách Thoái thực ký văn đã chép:

“Tỉnh Quảng Ngãi có đền ở Thu Phố thờ Trấn quốc công nhà Lê là Bùi Tá Hán. Lê Văn Duyệt có lần tới đó bắt cọp, vây ba mặt còn một mặt gần đền để trống, nói rằng ‘mặt ấy thì để cho thần’. Đến khi đuổi cọp thì cọp nép ở cạnh đền không động đậy gì cả”.

Bên trong đền thờ Trấn quốc công Bùi Tá Hán. Ảnh: Ng.Viên 


Các sách triều Nguyễn như Đại Nam liệt truyện (đoạn chép về Lê Văn Duyệt), Đại Nam nhất thống chí sau này cũng chép tương tự như vậy. Từ ngày có đền Bùi Tá Hán thì núi Phước Lĩnh gọi là núi Trấn Công, dân gian gọi là núi Ông. Nhất thống chí chép: “Tương truyền dưới núi có động nước thông với đầm Trà, có một con cá lớn to bằng cái thuyền mỗi khi quẫy tiếng vang như sấm, gặp năm hạn đến đền cầu đảo, liền thấy ứng nghiệm”.

Chính vì tin đền rất thiêng mà các quan đầu tỉnh Quảng Ngãi đều đến đây cầu cúng hầu mong tại vị bền lâu. Đơn cử như năm 1822, Hiệp trấn Lưu Đình Luyện có làm thơ điếu để ở đền. Năm 1837, quan Án sát Quảng Ngãi là Tiến sĩ Trương Quốc Dụng cũng có thơ điếu, thể hiện rõ tâm niệm ở hai câu cuối:

Bất tài điêu bị tư phương mục
Nguyện trượng dư linh thiếp phỉ man

Bất tài chăn dắt dân trong cõi
Man phỉ, dư linh Trấn giúp cùng!
(Dật Tẩu dịch)

Tất nhiên, người xưa rất ca ngợi công đức gắn với cái thiêng và chính đó là điểm gặp nhau hay là điểm mà ngày nay chúng ta kế tục. Hẳn nhiên, cái thiêng ấy không thể dung nạp những hành vi phàm tục mà người đời có thể lợi dụng để mưu cầu lợi danh.

Cao Chư

Kho báu bí mật hơn 180 năm của Thoại Ngọc Hầu bên triền núi Sam

đăng 01:27, 25 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cuộc sống thường ngày của gia đình Thoại Ngọc Hầu – người con siêu việt của đất Quảng Nam ra sao? Câu hỏi này đã được giải đáp phần nào khi tôi tận mắt thấy những mảnh gốm vỡ từ một kho báu bí mật được khai quật từ khu lăng mộ của ông bên triền núi Sam sau hơn 180 năm được chôn giấu…

Tượng Thoại Ngọc Hầu và những báu vật được khai quật từ khu mộ hiên được trưng bày bên cạnh khu lăng mộ của ông và vợ. Ảnh: H.V.M 


Một buổi sáng cách đây 9 năm (20.9.2009), khu lăng mộ Thoại Ngọc Hầu ở bên triền núi Sam (Châu Đốc, An Giang) lúc ấy đang trong quá trình tu bổ. Và trong khi dọn dẹp mặt bằng để chuẩn bị lát gạch chung quanh thì các công nhân của đơn vị thi công phát hiện một khoảnh đất bị sụp xuống.

Khu lăng mộ Thoại Ngọc Hầu bên triền núi Sam. Ảnh: H.V.M 


Ban Quản lý khu di tích Lăng miếu núi Sam và Bảo tàng An Giang sau đó đến khảo sát, thống nhất nhận định khả năng có khu vực chôn đồ tùy táng là rất lớn và xin phép UBND tỉnh và Sở VHTT&DL An Giang tiến hành khai quật khu vực này. 

Và những người khai quật đã không tin vào mắt mình khi sau 4 ngày, số lượng hiện vật thu được lên con số hơn 500 hiện vật phong phú và đa dạng, gồm nhiều chất liệu: vàng, bạc, đồng, đồng tráng men (pháp lam), sắt, antimony, gỗ, gốm sứ, thủy tinh, đá, ngà, xương, răng, nanh hổ, vỏ ốc... và hàng trăm tàn tích đồ gỗ, đồ vải, đồ kim loại.

Bàn là, một trong những hiện vật được lấy lên từ kho báu. Ảnh: H.V.M 


Tất cả cổ vật có niên đại từ thế kỷ 18 - đầu thế kỷ 19 có xuất xứ từ Việt Nam, Trung Quốc, Xiêm La (Thái Lan), Chân lạp (Campuchia), Bồ Đào Nha, Pháp, Tây Ban Nha... 

“Đó là một kết quả mang lại cho chúng tôi sự thú vị và bất ngờ lớn bởi cho đến nay, những phát hiện đã công bố về đồ tùy táng của các quan lại đại thần phong kiến Việt Nam, thậm chí của cả vua nữa, chưa từng có nhân vật nào vừa có công lao, tài đức mà còn để lại một khối lượng di vật to lớn, quý giá và phong phú như vậy. 

Các hiện vật này đã giúp phần nào hình dung về cuộc sống của tầng lớp quan lại cấp cao Việt Nam đầu thế kỷ 19 tại khu vực biên giới phía Tây Nam”, ông Bùi Hữu Tâm – Tổ phó Tổ quản lý lăng Thoại Ngọc Hầu- nói.

Một bình trà bằng gốm xuất xứ từ Châu Âu còn nguyên vẹn. Ảnh: H.V.M 


Lạ là cho đến trước khi phát hiện, trong dân gian hầu như không có những huyền thoại lưu truyền về đồ tùy táng ở lăng mộ Thoại Ngọc Hầu. Thậm chí những ký ức về cuộc sống gia đình ông cho đến nay cũng không còn dấu vết, đặc biệt là khu vực dinh quan bảo hộ (ông từng giữ chức Thống chế Bảo hộ Cao Miên), nơi sinh sống của gia đình Thoại Ngọc Hầu lúc đương thời cũng chưa xác định được chính xác.

Lọ vôi bằng vàng (từ Campuchia - trái ảnh) và bình nước thơm (nguồn gốc từ Thái Lan).Ảnh: H.V.M 


Chỉ đến năm 2003, kết quả khảo sát mới cho thấy có dấu hiệu dinh quan bảo hộ cũ hiện nay nằm trong khu vực doanh trại Quân đội nhân dân Việt Nam ở Châu Đốc. Cũng trong hơn 180 năm đó, lăng Thoại Ngọc Hầu đã trải qua nhiều nhiệm kỳ của nhiều ban quản lý và hàng chục lần trùng tu sửa, nhưng tuyệt nhiên đã không có một phát hiện hoặc một ghi chép nào về đồ tùy táng của Thoại Ngọc Hầu.

Lệnh bài bằng đồng của triều Nguyễn. Ảnh: H.V.M 


Điều đó chứng tỏ hậu nhân của ông, những người được giao sứ mạng chôn cất các di vật, đã giữ bí mật một cách tuyệt đối khối di sản quý giá này trong lòng đất. 

Cuối cùng thì câu hỏi gia đình Thoại Ngọc Hầu từng sống và sinh hoạt ra sao của tôi cũng được giải đáp phần nào khi được dạo một vòng trong nhà Bảo tàng Cổ vật Thoại Ngọc Hầu ở bên trái khu lăng mộ.

Mão hổ đầu trang sức vàng của Thoại Ngọc Hầu sau khi phục nguyên. Ảnh: H.V.M 


Những câu chuyện của đời sống thường ngày của một gia đình quan lại triều Nguyễn bỗng hiện về mồn một qua lăng kính những hiện vật không còn nguyên vẹn, từ đồ sinh hoạt cá nhân, đồ được tặng biếu và ban thưởng, đồ quý kim làm của để dành, đồ kỷ niệm, đồ y tế, đồ dùng trong thú vui thưởng ngoạn...

Lồng ấp - vật dụng cá nhân của Thoại Ngọc Hầu. Ảnh: H.V.M 


Thú vị nhất là có đến 304 hiện vật và khá nhiều tàn tích hiện vật thuộc về bà Châu Thị Vĩnh Tế - vợ cả của Thoại Ngọc Hầu. Trong khi đó, hiện vật thuộc về Thoại Ngọc Hầu lại ít hơn vợ một chút về số lượng nhưng lại có rất nhiều khác biệt khi ông có những hiện vật dùng riêng mà bà không có như 3 chung, 1 đĩa sứ Cảnh Đức men xanh trắng vẽ phong cảnh sơn thủy do vua ban; mão quan bằng vàng có gắn 9 con rồng và 33 chi tiết; một cái lấy rái tai và tẩu hút thuốc; 1 kính đeo mắt gọng kim loại của châu Âu có thể gấp lại, mắt kính tròn, loại 2,5 độ…

Trâm cài đầu và nhẫn bằng vàng được tìm thấy trong khu lăng mộ bà Châu Thị Vĩnh Tế. Ảnh: H.V.M 


Thọai Ngọc Hầu (1761- 1829) tên thật là Nguyễn Văn Thoại. Ông sinh tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo. 

Cuối thời chúa Nguyễn, ông cùng gia đình di cư vào Nam, sống tại làng Thới Bình, cù lao Dài trên sông Cổ Chiên (Vĩnh Long). Năm 1777, lúc mới 16 tuổi, Thoại Ngọc Hầu xin đầu quân cho Nguyễn Ánh, lập được nhiều chiến công, từng phò tá Nguyễn Ánh chạy ra Côn Lôn, Phú Quốc, sang Xiêm. 

Ông được phong Khâm Sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân, từng giữ chức Trấn thủ Bắc Thành, Trấn thủ Lạng Sơn rồi về Nam nhận chức Trấn thủ Định Tường. 

Trong thời gian nhận nhiệm vụ bảo hộ Cao Miên thời Nặc Ông Chân, ông được triệu về nước nhậm chức Trấn thủ Vĩnh Thanh vào năm 1817. Sau đó ông được phong tước Hầu. Ông mất ngày 6 tháng 6 năm Kỷ Sửu (1829) lúc đang tại chức, thọ 68 tuổi.

Cặp voi đá cổ độc nhất vô nhị của vương quốc Chăm Pa

đăng 20:43, 22 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Tượng voi đá cổ ở thành Đồ Bàn được chế tác theo lối tả thực rất sống động, khác với kiểu tạo hình cách điệu thường thấy ở điêu khắc Chăm.

Nằm ở địa phận xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định, thảnh cổ Đồ Bàn từng là kinh đô của vương quốc Chăm Pa. Ngày nay, trong khu vực này còn lưu giữ cặp tượng voi đá cổ rất độc đáo do người Chăm chế tác.

 

Cặp voi này được đặt đối xứng nhau ở trung tâm thành cổ, gồm một voi lớn và một voi nhỏ. Trong đó, voi lớn cao tới 2m, được coi là tượng voi lớn nhất từng được biết tới của điêu khắc Chăm

 

Tượng voi này được chế tác theo lối tả thực rất sống động, khác với kiểu tạo hình cách điệu thường thấy ở điêu khắc Chăm

 

Bức tượng tạc từ một tảng đá nguyên khối rất lớn, được trau chuốt từng chi tiết nhỏ như nếp gấp của tai, hốc mắt...

 

Mắt voi được diễn tả rất có hồn.

 

Chân voi được tạo hình với đầy đủ năm móng

 

Cổ voi đeo vòng, ngà đã bị cụt, không rõ là chủ ý tạo hình của người xưa hay voi từng có ngà dài, nhưng đã bị cụt sau các thăng trầm lịch sử

 

Khi nhìn từ xa, bức tượng không khác gì một con voi thật

 

Đối diện với voi lớn là voi nhỏ, có chiều cao khoảng 1,7m.

 

Con voi này được tạo hình với rất nhiều đồ trang sức trên mình, và dường như là voi cái

 

Cổ voi đeo chùm lục lạc rất lớn

 

Đầu voi đội vương miện

 

Lưng voi có các dải dây thừng vắt qua

 

Hai tai của voi không còn nguyên vẹn

 

Theo các nhà nghiên cứu, hai con voi đá trong thành Đồ Bàn có nhiều dấu ấn mỹ thuật kế thừa từ giai đoạn Trà Kiệu muộn, niên đại thế kỷ 11-12

 

Sau 1.000 năm lịch sử, cặp voi trở thành những dấu tích hiếm hoi còn sót lại của kinh đô vương quốc Chăm Pa xưa

 

Một số hình ảnh khác về voi đá cổ thành Đồ Bàn.

 

 

 

 

Kiệt tác nghệ thuật của Phật viện lớn nhất vương quốc Chăm Pa

đăng 20:31, 22 thg 9, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Đài thờ Đồng Dương cùng các hiện vật khác được khai quật ở Phật viện Đồng Dương chính là chứng tính quan trọng nhất về sự tồn tại của trung tâm Phật giáo lớn nhất vương quốc Chăm Pa một thời. 

Được lưu giữ ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, đài thờ Đồng Dương là tên gọi của những đài thờ lớn được phát hiện tại Phật viện Đồng Dương, một trung tâm Phật giáo nằm ở đô thành Indrapura (nay nằm ở huyện Thăng Bình, Quảng Nam) thời kỳ vương triều Indrapura của người Chăm.

 

Cuộc khai quật đầu thế kỷ 20 của người Pháp đã xác định ba nhóm kiến trúc khác nhau trong khu đền chính của Phật viện, trong đó nhóm phía trước gọi là Vihara, nghĩa là tu viện. Đây là khu vực tìm thấy đài thờ Đồng Dương ký hiệu 22.25

 

Đài thờ này gồm các phiến đá lớn chạm được chạm khắc tinh xảo và ghép lại với nhau. Đáng chú ý, phía trên đài thờ có một một tượng Phật (ký hiệu 13.5) được coi là tượng Phật lớn nhất của vương quốc Chăm Pa từng được phát hiện

 

Tượng được thể hiện trong tư thế ngồi trên ghế, hai tay để trên đầu gối, chân buông thẳng xuống nền, được gọi là "kiểu ngồi châu Âu", để phân biệt với kiểu ngồi xếp bàn hai chân hoặc một chân

 

Ở các góc đài thờ có những tượng nhỏ thể hiện hình ảnh những vị tu sĩ đang dâng hoa hoặc trầm hương cúng dường Phật. Tại đây cũng tìm thấy một số tượng các vị thần bảo vệ giáo luật của Phật (Dharmapala hay Deva)

 

Ở nhóm sau của khu đền chính, các nhà khảo cổ cũng tìm thấy những phiến đá của một đài thờ tương tự như đài thờ ở tu viện phía trước. Đài thờ này được ký hiệu 22.24

 

Các bức chạm khắc trên các phiến đá của đài thờ này thể hiện cảnh sinh hoạt cung đình và một số trích đoạn về cuộc đời Phật Thích ca. Ngoài ra còn có các tượng La Hán

 

Nhóm kiến trúc giữa chỉ còn dấu vết của chân tường, bậc thềm của một ngôi nhà nhỏ hơn tu viện ở nhóm đông. Ở khu vực này đã tìm thấy 4 pho tượng hộ pháp cao gần 2 mét

 

Hơn nửa thế kỷ sau các cuộc khai quật của người Pháp, đến năm 1978, nhân dân địa phương đã đào được một pho tượng bằng đồng ở Phật viện Đồng Dương. Tượng cao 114 cm, đường nét chạm khắc tinh tế. Tượng được gọi tên là tượng nữ thần Tara hoặc Bồ tát Tara.

 

Đây có thể là pho tượng đặt tại đài thờ trung tâm dâng cúng cho thần Lakshmindra Lokeshvara. Hiện tại bức tượng nữ thần Tara đã được công nhận là bảo vật quốc gia của Việt Nam

 

Các nhà nghiên cứu nhận định, khu đền tháp Đồng Dương không chỉ đánh dấu sự ra đời của một triều đại mới mà còn đánh dấu sự thay đổi trong tín ngưỡng từ việc tôn thờ thần Siva là thần bảo hộ chính (như ở di tích Mỹ Sơn) sang thờ các vị Phật và Bồ tát.

 

Sự thay đổi về nội dung cũng đi liền với sự thay đổi trong cách thể hiện nghệ thuật nếu so sánh với cách tạc tượng và trang trí hoa văn ở các tượng và tháp ở phong cách Mỹ Sơn E1.

 

Tượng người chạm khắc trên các đài thờ và tượng ở Đồng Dương có nét cường điệu, đàn ông có khuôn mặt gần như vuông, trán thấp, lông mày rậm và giao nhau, miệng rộng, môi dày, ria mép rậm; phụ nữ có gương mặt thô và bộ ngực lớn

 

Hoa văn trang trí trên tường tháp và các cột trụ là những cành lá cách điệu xoắn xít, rậm rạp trông giống như những con sâu (vermicule)

 

Các đặc điểm này tạo nên sự khác biệt dễ nhận thấy trong phong cách nghệ thuật và tên gọi "phong cách Đồng Dương" được dùng để chỉ tất cả những tác phẩm điêu khắc Chăm có những đặc điểm tương tự, có niên đại khoảng cuối thế kỷ IX đến đầu thế kỷ X

 

Hiện nay, hầu như toàn bộ khu đền tháp Đồng Dương đã trở thành bình địa do chiến tranh, thiên tai và cả tác động của con người.

 

Những hiện vật được lưu giữ ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng chính là chứng tính quan trọng nhất về sự tồn tại của trung tâm Phật giáo lớn nhất vương quốc Chăm Pa một thời. (Bài có sử dụng tư liệu của Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng)

1-10 of 16