Con người và sự kiện

Bài mới

Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 29. Xem nội dung khác »

Danh mục


Phùng Chí Kiên - Sáng mãi phẩm chất, cốt cách của một người con xứ Nghệ

đăng 02:18, 11 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Phùng Chí Kiên đã cống hiến cả tuổi thanh xuân, hy sinh thân mình để thực hiện sứ mệnh cao cả mà Tổ quốc và Nhân dân tin tưởng giao phó.

Đối với nhiều người cái tên Phùng Chí Kiên vẫn là một điều bí ẩn. Điều này cũng dễ hiểu bởi “đồng chí hy sinh quá sớm, thời gian hoạt động, công tác chủ yếu ở hải ngoại; chân dung và những câu chuyện dọc đường cách mạng của đồng chí chưa được ghi lại đầy đủ và xác thực” (Phùng Chí Kiên - Những bí ẩn dọc đường cách mạng, tác giả nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian Hoàng Quảng Uyên). Tháng 8/2012, tôi gặp ông Hoàng Quảng Uyên khi ông dự trại viết lý luận phê bình của Hội Nhà văn ở Cửa Lò. Ông cho biết, đã sưu tầm, tìm hiểu, đọc những hồi ký, ghi chép cảm động về đồng chí Phùng Chí Kiên; rất cảm phục tài năng, phẩm cách, sự hy sinh cao cả của ông, đã xây dựng chân dung vị tướng tài này trong tiểu thuyết lịch sử “Mặt trời Pác Bó”.

Đồng chí Phùng Chí Kiên. Ảnh tư liệu

Tháng 8/2008, Bộ Quốc phòng phối hợp với Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức Hội thảo “Đồng chí Phùng Chí Kiên, một người Cộng sản kiên cường, một nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối xuất sắc, chính trị, quân sự song toàn”. Trong bức thư gửi về Hội thảo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Đồng chí Phùng Chí Kiên là một trong những cán bộ lãnh đạo tiền bối đã có công lao to lớn đối với Đảng ta, Quân đội ta, không chỉ về mặt tổ chức mà cả về đường lối cách mạng…”.

Những đánh giá đầy trân trọng của “người anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm sáng rõ nhân cách, những cống hiến hy sinh cao cả của đồng chí Phùng Chí Kiên cho Tổ quốc trong những ngày lửa cách mạng đang tỏa sáng, ý chí đấu tranh giành độc lập tự do trỗi dậy mạnh mẽ. Chính điều này đòi hỏi lịch sử hôm nay cần tìm hiểu, nhìn nhận, đánh giá đúng mức công lao của vị tướng đầu tiên giai đoạn tiền vũ trang khởi nghĩa này.

Một góc quê hương Diễn Châu hôm nay. Ảnh: Hồ Nhật Thanh

Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo giàu truyền thống yêu nước, cách mạng ở thôn Mỹ Quan Thượng, tổng Vạn Phần nay là xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu (Nghệ An), tên khai sinh của đồng chí Phùng Chí Kiên là Nguyễn Vĩ, sinh ngày 18/5/1901, bố là Nguyễn Khoản. Thấy con có tư chất thông minh, ham học hỏi, ông Nguyễn Khoản đã cho học chữ Quốc ngữ, chữ Nho. Năm 14 tuổi đỗ bằng Sơ học yếu lược, tinh thông chữ Hán. Vào tuổi 17 tham gia Hội Việt Nam thanh niên cách mạng, bí mật sang Quảng Châu, Trung Quốc dự lớp Huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức, giảng dạy.

Nhận thấy Nguyễn Vĩ là người có tinh thần nhiệt huyết với cách mạng, tư chất thông minh, có tư duy về quân sự, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chọn cùng một số thanh niên vào đào tạo tại Trường quân sự Hoàng Phố. Kể từ đó như cánh chim bằng cưỡi gió, Nguyễn Vĩ tham gia cuộc khởi nghĩa Quảng Châu do Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, làm Liên trưởng lực lượng vũ trang khu Xô Viết Hải Phong - Lục Phố ( Quảng Đông ), bẻ gãy nhiều cuộc tấn công của quân Tưởng Giới Thạch. Rồi được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản, cử sang Matxcơva học Trường Đại học Phương Đông.

Tốt nghiệp, Phùng Chí Kiên về Hương Cảng tham gia Ban công tác hải ngoại do đồng chí Lê Hồng Phong phụ trách. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất họp ở Ma Cao tháng 3/1935 được bầu Ủy viên thường vụ. Tháng 8/1936 được cử về Sài Gòn cùng đồng chí Hà Huy Tập chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Một năm sau quay lại Hương Cảng lãnh đạo Ban công tác hải ngoại của Đảng, xuất bản tờ báo Đồng Thanh tuyên truyền, định hướng đấu tranh cách mạng, ủng hộ Nhân dân Trung Hoa chống Nhật. Đây là thời gian ông gần gũi với Bác, cùng Bác về Vân Nam liên hệ với các cơ sở quần chúng cách mạng, khảo sát đường về Tổ quốc.

Thời gian này Phùng Chí Kiên còn được Bác giao nhiệm vụ cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn bài giảng và trực tiếp giảng dạy cho 40 cán bộ đưa về Cao Bằng xây dựng thí điểm các đoàn thể Việt Minh tại 3 châu: Hà Quảng, Hòa An và Nguyên Bình. Tại đây, đồng chí đã vận dụng các kiến thức được học, trải nghiệm ở nước ngoài thành lập các đội tự vệ chiến đấu, tham gia tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cho các nơi.

Du kích tham gia cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, tháng 9/1940. Ảnh tư liệu

Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5/1941) ở Khuổi Nậm, Pác Bó, đồng chí Phùng Chí Kiên tiếp tục được bầu vào Ban chấp hành Trung ương, phụ trách quân sự, và được cử về căn cứ Bắc Sơn chỉ huy Cứu quốc quân, xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

Việc cử đồng chí Phùng Chí Kiên về Bắc Sơn là để thực hiện bước chuyển quan trọng trong đường lối cách mạng của Đảng với việc đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xác định rõ hai nhiệm vụ cấp bách và quan trọng là thành lập “Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh” (gọi tắt là Việt Minh) và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhiệm vụ này được đặt lên vai đồng chí bởi như lời Bác trước lúc tiễn đồng chí lên đường: “Xa Phùng Chí Kiên lúc này là điều Bác không muốn nhưng nhiệm vụ cách mạng cần sự góp sức, góp tài của một người cán bộ quân sự xuất sắc được Đảng đào tạo lâu dài ” (Tiểu thuyết lịch sử “Mặt trời Pác Bó” - Hoàng Quảng Uyên).

Và, trên mảnh đất biên cương đầy ân tình ân nghĩa này, ông đã hy sinh khi tuổi đời mới 40, tài năng vào độ chín, sức lực còn tràn trề, kiến thức và kinh nghiệm chỉ huy, lãnh đạo được trang bị đủ đầy… Ông được Bác Hồ đề nghị Hội đồng Chính phủ ký Sắc lệnh số 89/SL ngày 23/9/1947 truy phong quân hàm cấp tướng.

Một hạng mục thuộc Khu Tưởng niệm đồng chí Phùng Chí Kiên tại huyện Diễn Châu. Ảnh tư liệu: Tiến Hùng

Phùng Chí Kiên đã cống hiến cả tuổi thanh xuân, hy sinh thân mình để thực hiện sứ mệnh cao cả mà Tổ quốc và Nhân dân tin tưởng giao phó. Với vai trò một người chỉ huy xuất sắc của lực lượng Cứu quốc quân hùng mạnh, để bảo toàn lực lượng, bảo toàn tính mạng cho bà con quanh vùng căn cứ Bắc Sơn, ông đã quyết định phá vây, rút quân lên biên giới khi kẻ địch huy động hơn 4 ngàn binh lính bao vây quyết tiêu diệt căn cứ, quét sạch những hạt giống vũ trang, mối họa cho chúng sau này. Trên đường rút quân, cánh của ông bị địch phát hiện, bủa vây tứ phía, ông quyết định đi sau chặn hậu, lôi kéo hỏa lực về phía mình, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Chỉ mình ông và đồng chí Chính trị viên Lương Văn Chi bị thương, sa vào tay giặc, sau đó bị chúng sát hại, còn những chiến sỹ khác rút lui an toàn, trong đó có những tên tuổi trở thành những tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ lãnh đạo xuất sắc như: Chu Văn Tấn, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Thái… Sau này, Phùng Chí Kiên được Nhà nước công nhận liệt sĩ, trên quê hương Diễn Châu cũng đã hình thành Công trình Tưởng niệm mang tên Phùng Chí Kiên.

Phùng Chí Kiên không còn nhưng bản lĩnh, trí tuệ, tài thao lược của một vị tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn là tấm gương sáng, bài học lớn cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Ông đã góp phần làm rạng rỡ thêm quê hương Nghệ An - một trong những chiếc nôi cách mạng của cả nước.

Đinh Thanh Quang

Danh tướng Nguyễn Cảnh Chân - Nguyễn Cảnh Dị: Bậc khai quốc công thần và lời nguyền 600 năm

đăng 02:07, 11 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Để ghi nhớ công lao to lớn của hai danh tướng Anh hùng dân tộc Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cảnh Dị, hầu hết các thành phố trong cả nước đều có đường phố mang tên các ông. Đặc biệt, trên quê hương ông đều có tên đường và Trường THPT Nguyễn Cảnh Chân.

Đền Ngọc Sơn thờ danh tướng Nguyễn Cảnh Chân. Ảnh tư liệu

Thân thế và sự nghiệp Nguyễn Cảnh Chân (1355-1409)

Ông sinh năm Ất Mùi (1355) trong một gia tộc họ Nguyễn, có nguồn gốc từ vùng Đông Triều – Quảng Ninh. Thân sinh của ông là Kim ngô vệ Đại tướng quân Nguyễn Đa Phương, Anh hùng dân tộc thời hậu Trần. Các bậc tiên liệt và tiền bối của ông có truyền thống “Trung cần - Nhân nghĩa – Bảo quốc – Hộ dân” trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, nhiều người trở thành danh thần và đại thần khai quốc dưới các triều đại Đinh-Lê-Lý-Trần... cho đến thời đại Hồ Chí Minh được lịch sử lưu danh.

Dưới triều vua Trần Phế Đế (1377-1388)

Năm Giáp Tý (1384) Nguyễn Cảnh Chân thi đậu Tiến sỹ, khoa thi Thái học sinh dưới triều vua Trần Phế Đế - hiệu Xương Phù thứ 8 (Giản Hoàng). Năm Ất Sửu (1385) Nguyễn Cảnh Chân chính thức được bổ dụng làm quan trong “Thiềm sự khu Mật viện triều đình” nhà Trần.

Ngày 27 tháng 12 năm Mậu Thìn (1388), vua Trần Phế Đế nhường ngôi cho con út là Chiêu Định Vương Trần Ngung (được Lê Quý Ly gả con gái lớn làm vợ). Tháng 2 năm Kỷ Tỵ (1389) Trần Ngung chính thức lên ngôi xưng hiệu Trần Thuận Tông Hoàng Đế, đặt niên hiệu là Quang Thái và con gái ruột Lê Quý Ly được phong Hoàng hậu. Lê Quý Ly là ngoại tông nhà Trần, nên được Thượng hoàng Trần Nghệ Tông tin cẩn giao phụ chính vua Trần Thuận Tông.

Tháng 3 năm (1389), vua Trần Thuận Tông Hoàng đế phong Nguyễn Cảnh Chân là Đại tướng giữ chức “Tham mưu quân sự thuộc Thiềm sự khu Mật viện triều đình”.

Tháng 4 năm đó, Lê Quý Ly tiến cử bổ dụng Phạm Cự Luận làm “Thiêm Thư khu Mật viện sự”. Lê Quy Ly hỏi Cự Luận: Trong Mật viện, những ai có thể dùng được ? Cự Luận bèn nêu tên một số người trong đó có em trai của ông là Phạm Phiếm và các ông Nguyễn Cảnh Chân, Đỗ Tử Mãn, Vương Khả Tuân, Dương Chương... đều là những người tài năng, đức độ và hào khí . Lê Quý Ly bèn dùng Vương Khả Tuân làm Quản lĩnh đội quân Thần Dực; Chương Dương làm Quản lĩnh đội quân Thần Dũng, nhằm tăng thêm vây cánh.

Tranh phác họa danh tướng Nguyễn Cảnh Chân. Ảnh tư liệu

Tháng 8 năm Tân Mùi (1391) sau khi Lê Quý Ly giết chết hai viên tướng Quản lĩnh quân Hóa Châu là Phan Mãnh và Chu Bỉnh Khuê, bổ dụng Đặng Tất thay thế làm Châu phán Hóa Châu, còn Hoàng Hối Khanh làm Chánh hình viện đại phu.

Năm Mậu Dần (1398) vua Trần Thuận Tông Hoàng đế phái cử Nguyễn Cảnh Chân vào Nam làm An phủ sứ Hóa Châu (gồm các vùng từ Bình Trị Thiên Huế). Ông đến làng Ngọc Sơn, Nam Đường (thuộc Phủ Nghệ An), xứ Hoan Châu cư trú và lập căn cứ, chiêu tập lực lượng, chế tạo binh khí và huấn luyện dân binh... cùng với Đặng Tất (người Tả Thiên Lộc – Can Lộc) đang làm Châu phán Hóa Châu (Đặng Tất là thổ quan vùng Hóa Châu) chống lại quân Chiêm Thành và giặc nhà Minh. Từ đó về sau, Nguyễn Cảnh Chân cùng Đặng Tất tham gia nhiều trận đánh với quân Chiêm Thành và giặc nhà Minh dành thắng lợi, gây được uy tín và tạo ảnh hưởng lớn trong vùng. Hai ông cũng từ đó mà trở thành bạn bè chiến hữu, thân thuộc.

Cùng năm đó (1398) vua Trần Thuận Tông bị ép nhường ngôi cho con trưởng là Trần An. Hoàng tử Trần An (gọi Lê Quý Ly là ông ngoại) lên ngôi Vua xưng là Trần Thiếu Đế (mới 2 tuổi), đặt niên hiệu là Kiến Tân, phụ chính do Thái sư Lê Quý Ly lấy danh nghĩa là Quốc Tổ nhiếp chính.

Vua Trần Thiếu Đế lên ngôi được hai năm thì Lê Quý Ly tiếm quyền nhà Trần. Lúc bấy giờ, Nguyễn Cảnh Chân đang làm An phủ sứ Hóa Châu, nhưng chính quyền nhà Trần đã hoàn toàn trong tay Lê Quý Ly.

Dưới triều Nhà Hồ (1400-1407)

Năm Canh Thìn (1400), Lê Quý Ly chính thức cướp ngôi nhà Trần lập ra nhà Hồ (đổi thành Hồ Quý Ly) đặt quốc hiệu “Đại Ngu”. Không lâu sau, Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con trai thứ là Hồ Hán Thương, ông lên làm Thái Thượng hoàng nhà Hồ.

Năm Nhâm Ngọ (1402), để củng cố phiên dậu phía Nam, Hồ Quý Ly cho sáp nhập 4 châu mới chiếm của Chiêm Thành gồm: Thăng-Hoa-Tư-Nghĩa đổi tên gọi “Lộ Thăng Hoa” nhằm thống nhất cả 4 châu và tiếp tục cử tướng Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa. Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất có quan hệ thân hữu, trước đó cả hai ông đều làm quan nhà Trần, lại có ảnh hưởng lớn trong vùng, nên được nhà Hồ tin cẩn và trọng dụng.

Đầu năm Bính Tuất (1406), Trần Thiêm Bình mạo xưng là con cháu nhà Trần, sang tố cáo với nhà Minh việc nhà Hồ đoạt ngôi nhà Trần. Minh Thành Tổ (tức vua Chu Đệ nhà Minh) sai quân đưa Trần Thiêm Bình về nước. Hồ Hán Thương sai Nguyễn Cảnh Chân dâng biểu "tạ tội" với nhà Minh và xin đón Thiêm Bình về tôn lên làm Chúa. Minh Thành Tổ sai hành nhân là Niếp Thông đi sứ đem tờ sắc sang dụ Hồ Hán Thương rằng: "Nếu quả đón Thiêm Bình về tôn làm Chúa, thì sẽ ban cho Khanh tước Thượng công và phong cho một quận lớn". Hồ Hán Thương tiếp tục sai Nguyễn Cảnh Chân theo Niếp Thông sang trình báo với Minh Thành Tổ về việc đón Thiêm Bình. Tuy nhiên, tháng 4 năm Bính Tuất (1406), khi quân Minh đưa Thiêm Bình trở về Đại Ngu, vua Hồ Hán Thương sai quân đón đánh, bắt được Thiêm Bình mang về chém chết.

Cuối năm Bính Tuất (1406), nhà Minh mang đại quân sang xâm lược Đại Ngu, chúng càn quét, cướp bóc, hãm hiếp dân lành, đến giữa năm Đinh Hợi (1407) nhà Hồ bị quân Minh đánh bại và sụp đổ, nhà Minh chiếm đóng và đô hộ Đại Ngu. Tuy ban đầu lấy danh nghĩa giúp nhà Trần chống nhà Hồ, nhưng khi chiếm được Đại Ngu, Minh Thành Tổ lại hạ lệnh truy lùng bắt con cháu tông thất nhà Trần và nhà Hồ, truy sát gia đình con em công thần, nhằm diệt trừ mối họa trỗi dậy “ngụy Trần và ngụy Hồ”…

Sau khi lật đổ nhà Hồ, nhà Minh đô hộ và biến Đại Ngu thành quận Giao Chỉ thuộc Trung Quốc. Hồ Quý Ly và tông thất nhà Hồ bỏ chạy vào Nam đến cửa biển Kỳ La (thuộc huyện Kỳ Anh - Hà Tĩnh) bị Trương Phụ và Mộc Thạnh bắt và đưa về Kim Lăng (thuộc Nam Kinh -Trung Quốc) rồi đày đọa đến chết. Riêng Hồ Nguyên Trừng (con trai cả Hồ Quý Ly) do có tài chế tạo binh khí, nên nhà Minh tha mạng chết, nhưng ép đổi tên thành “Lê Trừng” rồi trọng dụng ông, về sau làm quan lớn phong đến chức “Công bộ Thượng thư” trong triều nhà Minh.

Trong bối cảnh nhà Minh xâm lược (cuối triều Hồ), đất nước rơi vào cảnh rối ren loạn lạc, nhân dân khắp nơi bất bình căm phẫn. Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất đã kéo quân từ lộ Thăng Hoa ra Nghệ An để hợp binh chống giặc nhà Minh. Biết tin, con trai thứ 2 của ông là Nguyễn Cảnh Lữ, sinh năm Canh Thân (1380) chạy từ vùng đất Đông Triều – Quảng Ninh qua Gia Viễn – Ninh Bình theo cha về lánh nạn tại làng Ngọc Sơn, Nam Đường (Phủ Nghệ An), xứ Hoan Châu. Ông cải trang hành nghề chèo đò, bốc thuốc chữa bệnh dưới chân núi Nguộc.

Tướng quốc tham mưu và công thần ngậm oan (1407-1409)

Sau khi lật đổ nhà Hồ, chiếm được Đại Ngu, nhà Minh thực hiện nhiều chính sách đô hộ tàn bạo, truy sát các thế lực công thần nhà Hồ, nhà Trần… từ đó nhân dân Đại Việt nhiều nơi nổi dậy mong muốn giành lại độc lập, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ nổ ra trên phạm vi cả nước.

Ngày 02 tháng 10 năm Đinh Hợi (1407), Tướng quân Nguyễn Cảnh Chân cùng Đặng Tất đã suy tôn Trần Ngỗi (tức Giản Định Đế) lên làm vua, lập lại cơ nghiệp nhà Trần ở Mô Độ – Ninh Bình, đặt niên hiệu là Hưng Khánh, để lãnh đạo đất nước chống giặc Minh xâm lược.

Sau sự kiện này, Đô ty Giao Chỉ cùng Bố chính bèn tâu với Minh Thành Tổ để xin tăng viện quân và binh khí: “Bọn Giản Định Đế, Đặng Tất, Cảnh Chân, Nguyễn Súy… âm mưu nổi loạn. Bọn chúng suy tôn Trần Ngỗi làm vua đặt hiệu Hưng Khánh, chúng hoạt động chủ yếu ở vùng núi non hiểm trở ở Hoan Châu, Hóa Châu, chúng tập trung chế tạo binh khí, tụ tập đồ đảng cùng với bọn ngụy quân để đánh ta (tức giặc Minh). Lúc này đại quân đã về nước, bọn Giản Định Đế kéo quân đánh Bình Than và ải Hàm Tử, chặn đường đi lại tại Tam Giang, chúng đánh phá gần thành Giao Chỉ (tức thành Đông Đô). Các Châu huyện như: Từ Liêm, Oai Man, Thượng Hồng, Đại Đường, Ứng Bình, Thạch Thất…dân tình đều ùa theo chúng. Thế giặc ngày càng mạnh, quân ta đánh mấy lần nhưng không lập được công, nay xin tăng viện thêm quân”.

Nhận được lời đề nghị, Minh Thành Tổ bèn hạ lệnh điều thêm 4 vạn quân, sai Trương Phụ và Mộc Thạnh dẫn đại quân bao gồm lục quân tiến theo đường bộ, còn Liễu Thăng chỉ huy thủy quân tiến theo đường biển ào ạt tràn sang xâm lược nước ta. Trong cơn ly loạn, giặc Minh đã triệt phá làng mạc, đốt phá, cướp của, truy sát gia đình, anh em con cháu của giới Tướng lĩnh nhà hậu Trần và nhà Hồ ở vùng Hải Hưng, Hải Dương, Quảng Ninh ngày nay…

Năm Mậu Tý (1408) Trương Phụ điều binh khiển tướng, dồn Lục quân, Thủy quân từ nhiều hướng, tiến từ Ải Nam Quan, từ Quảng Ninh đến Bô Cô (nay thuộc huyện Ý Yên - Nam Định) nhằm tiêu diệt quân nhà Trần. Ngày 14 tháng 12 năm đó, Nguyễn Cảnh Chân cùng Đặng Tất đã mưu trí tập trung toàn lực đại phá và đại thắng quân Minh tại Bô Cô, tiêu diệt hơn 10 vạn tên địch. Nguyễn Cảnh Chân chém chết Binh bộ Thượng thư Lưu Tuấn và tên Đô Ty Lưu Nghị, còn Mộc Thạnh và Trương Phụ dẫn tàn quân chạy vào thành Cổ Lộng rồi trốn thoát về nước. Riêng tên Thổ quan Đông Tri Trần Quốc Kiệt, một tay sai của giặc Minh tẩu thoát vào rừng rồi chết đói. Quân hậu Trần đại thắng khải hoàn, nhân dân khắp nơi vui mừng hồ hởi, danh tiếng & uy tín của Nguyễn Cảnh Chân & Đặng Tất theo đó mà tăng cao.

Sau khi đại thắng quân Minh ở Bô Cô, Giản Định Đế đưa quân về đóng ở Hương Giang, huyện Ngọc Sơn, Thanh Hóa (bên bờ sông Hoàng Giang). Bọn gian thần lưu manh Nguyễn Quỹ và Nguyễn Mộng Trang ghen tỵ trước chiến công hiển hách của Nguyễn Cảnh Chân & Đẳng Tất, đã bí mật dèm pha với Vua Giản Định Đế: “Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất chuyên quyền bổ dụng người này, cắt chức người khác, nếu không liệu tính sớm, sau này khó mà chế phục được”. Vua Trần Ngỗi nghe lời, bèn cho triệu Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân đến, sai binh lính đánh chết Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân trở tay không kịp chạy lên bờ, nhà vua sai lực sỹ đuổi theo chém chết. Nguyễn Cảnh Chân mất ngày 15 tháng 02 năm Kỷ Sửu (1409) hưởng thọ 54 tuổi.

Sau sự kiện này, nhà sử thần Ngô Sỹ Liên thương tiếc cho hai ông phải thốt lên rằng: “Nhà Vua may thoát khỏi vòng vây nguy hiểm, được cha con Đặng Tất có tài làm tướng, cha con Nguyễn Cảnh Chân giỏi bày mưu lược đã lập công khôi phục, dựng được nghiệp trung hưng đất nước. Với trận đại thắng ở Bô Cô thế nước nổi lên, thế mà nghe lời dèm pha ly gián của bọn hoạn quan một lúc giết chết hai Đại tướng tài ba, chẳng khác nào tự mình chặt bỏ tay chân vây cánh của mình thì làm sao nên việc lớn và gây họa cho đất nước”.

Chính vì hành động thiếu anh minh sáng suốt này của Vua Giản Định Đế mà các bậc cận thần nhà Trần không còn tuân phục, còn các sử gia, người dân đương thời và hậu thế nguyền rủa: "Đức của người làm Vua quý ở chỗ cương quyết và sáng suốt. Cương quyết thì có thể xử đoán được, sáng suốt thì có thể xét rõ được. Than ôi, nếu lúc đó vua cho gọi hai Đại thần đến, dẫn hai đứa ấy (kẻ gièm pha) kể rõ tội gièm pha vu oan hai Đại thần rồi chém ngay chúng đi thì uy lệnh được thi hành. Đại thần Cảnh Chân & Đặng Tất dũng cảm càng tăng, cảm kích càng sâu. Giả sử có manh tâm chuyên quyền, chả lẽ không sợ uy phải tự bỏ, sợ gì khó kềm chế nữa. Vua đã không làm được như thế thì chỉ có long đong rồi chết chìm mà thôi."

Đoàn khảo cứu chứng tích đền Ngọc Sơn. Ảnh tư liệu

Thái bảo Thụy Quốc công Nguyễn Cảnh Dị (1377-1413)

Được tin cha bị vua Giảm Định Đế giết oan (1409), Nguyễn Cảnh Dị đã cùng với Đặng Dung (tạm gác lại mối thù của cha) kéo quân từ Thuận Hóa ra Thanh Hóa nhằm diệt trừ bọn gian thần, phản loạn, bọn ngụy Minh... trong Triều đình Trần Ngỗi và rước Trần Quý Khoáng (cháu Trần Ngỗi) vào Hoan Châu tôn làm Vua.

Ngày 17 tháng 03 năm Kỷ sửu (1409) ở Chi La (nay thuộc huyện Đức Thọ – Hà Tĩnh) Trần Quý Khoáng chính thức lên ngôi Vua, đổi niên hiệu là Trùng Quang. Nhà Vua phong Nguyễn Cảnh Dị chức “Thái Bảo”, Đặng Dung chức “Đồng bình Chương sự”, Nguyễn Súy chức “Thái phó”, Nguyễn Chương chức “Tư Mã” để thống lĩnh ba quân tướng sỹ.

Do bối cảnh và nhu cầu cần phải hợp nhất hai lực lượng, các tướng của Trần Quý Khoáng do Nguyễn Súy chỉ huy đã tổ chức đánh úp vào Ngự Thiên (Nam Định) đem Trần Ngỗi về Chi La tôn làm Thượng hoàng. Dù phải chiến đấu dưới quyền người đã giết cha mình, nhưng Cảnh Dị và Đặng Dung vì sự nghiệp chung của đất nước, hai ông đã vượt lên tất cả, trước sau vẫn giữ khí tiết, phẩm hạnh của một vị tướng.

Năm Nhâm Thìn (1412), Nhà Minh tiếp tục kéo quân sang xâm lược nước ta do Trương Phụ chỉ huy, tiến quân các hướng vào Quảng Ninh, Hải Hưng, Hải Dương... Tướng quân Nguyễn Cảnh Dị và Nguyễn Súy đã thống lĩnh đại quân đánh tan quân nhà Minh ở Hòn Gai giành đại thắng.

Bị thất bại thảm hại, năm Quý Tỵ (1413) Trương Phụ phải xin cầu viện, bổ sung thêm quân và binh khí tiến quân đánh khắp nơi, sát hại cướp bóc dã man dân lành. Trong trận chiến quyết liệt ở Ái Tử, quân nhà Trần quá ít, bọn giặc Minh quá đông đã vây hãm quân nhà Trần trong nhiều ngày. Trương Phụ đã bắt được Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung. Chúng dùng mọi cực hình và mua chuộc, với khí tiết anh hùng Nguyễn Cảnh Dị đã liên tục chửi mắng vào mặt Trương Phụ: “Ta định giết mày, nào ngờ mày lại bắt được ta”, chửi Trương Phụ không ngớt lời, Trương Phụ giết chết Nguyễn Cảnh Dị (mổ bụng ăn gan) để hả lòng hả dạ vì sự thất bại thảm hại ở trận Bô Cô và trận thủy chiến ở Hòn Gai, Nguyễn Cảnh Dị đã hy sinh vào trung tuần tháng 12 năm Quý Tỵ (1413).

Sau khi ông nội (Nguyễn Cảnh Chân) và cha (Nguyễn Cảnh Dị) bị sát hại (1409 và 1413), hai người con của Đại tướng quân Nguyễn Cảnh Dị là Nguyễn Tuấn Thiện sinh năm Tân Tỵ (1401) và Nguyễn Tuấn Kiệt đã cùng mẹ chạy về trú ẩn tại làng Phúc Sơn, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Cha con Nguyễn Cảnh Lữ và Nguyễn Cảnh Luật cũng chạy qua đất Hương Sơn lánh nạn cùng với anh em họ hàng tại đây. Lúc bấy giờ giặc Minh, ngụy Minh nổi lên khắp nơi, nạn trộm cướp hoành hành, Nguyễn Tuấn Thiện vận động trai tráng trong làng thành lập đội quân Cốc Sơn để giúp bảo vệ dân làng và tiếp tục chống quân Minh. Kể từ khi ra đời, đội quân Cốc Sơn hoàn toàn làm chủ vùng Hương Sơn- Hà Tĩnh, nhân dân có cuộc sống tương đối yên lành, uy tín và tiếng tăm của thủ lĩnh Nguyễn Tuấn Thiện ngày càng tăng cao.

Kế tục sự nghiệp kháng chiến chống quân Minh của các bậc tiền bối, Lê Lợi đã hiệu triệu chiêu tập binh sỹ, thu nạp các anh hùng, lão tướng, chế tạo binh khí, tích trữ lương thảo chuẩn bị trong nhiều năm. Năm Mậu Tuất (1418) Lê Lợi chính thức dấy binh khởi nghĩa Lam Sơn, giai đoạn đầu (từ 1418 đến 1424) lực lượng mỏng yếu gặp rất nhiều khó khăn, quân Minh lại mạnh, nên hầu như thất bại trong các trận giao tranh lớn, chỉ thắng các trận đánh nhỏ.

Năm Ất Tỵ (1425) sau khi nghe lời khuyên của các công thần, Lê Lợi dẫn quân về đất Hương Sơn gặp Nguyễn Tuấn Thiện và thu nạp đội quân Cốc Sơn, cắt tóc kết nghĩa, giết ngựa trắng ăn thề dưới gốc cây thị ở xóm Nậy (thuộc xã Sơn Phúc) nguyện một lòng giết giặc cứu nước. Kể từ đó về sau, anh em Nguyễn Tuấn Thiện trở thành tướng giỏi dưới triều vua Lê Thái Tổ, được vua Lê ban quốc tính “Lê Thiện”. Người dân địa phương ở nơi đây vẫn lưu truyền những câu thơ: “Cắt tóc giết ngựa trắng - Dưới gốc thị thề nguyền - Nguyện đồng tâm đồng chí - Phá giặc xây cơ đồ”. Lịch sử chỉ lưu danh Nguyễn Tuấn Thiện (Lê Thiện) còn gia đình anh em, chú bác không chép, gia phổ thất truyền, phần mộ và đền thờ ông tại Hương Sơn – Hà Tĩnh được Nhà nước cấp chứng nhận Di tích Lịch sử Quốc gia năm 1991.

Năm Mậu Thân (1428), sau khi đánh xong giặc Minh, Lê Lợi chính thức lên ngôi vua (tức vua Lê Thái Tổ), đặt niên hiệu là Thuận Thiên. Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) Vua Lê Thái Tổ đã truy phong cho hai danh thần Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất biển vàng tám chữ “Tiết liệt cương trung – Trung thần hiếu tử”; phong Nguyễn Cảnh Chân chức “Tổng Tham mưu quân sự”, Đặng Tất chức “Đại quốc công”, Thái Bảo Nguyễn Cảnh Dị chức “Thụy Quốc Công”, còn Đặng Dung chức “Đồng bình Chương sự” nhằm ghi nhớ công lao to lớn của các ông.

Đến triều vua Lê Thánh Tông (1442-1497) ban chiếu truy tặng Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân câu cảo "Quốc sỹ vô song, song quốc sỹ - Anh hùng bất nhị, nhị anh hùng".

Vua Tự Đức triều Nguyễn (1829-1883) vịnh câu thơ trên, đồng thời truy tặng Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung bài thơ:

“Là bề tôi trung nghĩa triều Trần,
Thù cha chưa trả nợ nước còn.
Sách lược công danh chưa vẹn tròn,
Tấm lòng trung nghĩa vầng dương mộc,
Hỡi lũ giặc kia nhớ lời nguyền".

Sau khi Lê Lợi bình định xong giặc Minh (1428), các vùng từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa cơ bản được giải phóng, cha con Nguyễn Cảnh Lữ mới quay về làng Ngọc Sơn (đất cha) sau nhiều năm lánh nạn trên đất Hương Sơn – Hà Tĩnh (khoảng 14 năm từ 1414 đến 1428).

Năm Canh Tuất (1430) nhân dịp vua Lê Thái Tổ hạ chiếu truyền đi các lộ, phủ, huyện...làm hộ tịch cho dân, cha con Nguyễn Cảnh Lữ chính thức khai khẩu nhập tịch vào làng Ngọc Sơn – huyện Nam Đường – xứ Hoan Châu lấy tên là “Nguyễn Lữ” và “Nguyễn Luật”. Hai cha con ông tiếp tục hành nghề chèo đò, châm cứu và bốc thuốc chữa bệnh tại đây. Nguyễn Cảnh Lữ mất không lưu truyền được ngày-tháng-năm và nơi an táng huyệt mộ. Riêng Nguyễn Cảnh Luật trên đường đi châm cứu chữa bệnh bị hổ vồ chết bất đắc kỳ tử, nhưng không ăn thịt mà bới đất táng ông tại eo Chó Đẻ (phần Mộ thuộc làng Ngọc Sơn – Thanh Chương). Các ông là tiên tổ dòng họ Nguyễn Cảnh trên đất Thanh Chương - Nghệ An.

Đại tướng Anh hùng dân tộc Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cảnh Dị là bậc Công thần khai quốc thời hậu Trần đã tiếp nối truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của các thế hệ cha anh, có đóng góp to lớn trong lịch sử dân tộc. Ông là Thủy tổ dòng tộc họ Nguyễn Cảnh trên đất Nghệ An. Về sau, con cháu hậu duệ của ông đã nối nghiệp nhà binh từ các bậc tiên liệt, có nhiều người nổi danh được các triều đại nhà Hậu Lê và Lê Trung Hưng tôn vinh: Gồm 18 Quận Công, 76 tước Hầu, nhiều tước bá và tước hiệu, tiêu biểu cho bốn lớp trung cần, năm đời nhân nghĩa có: Phúc Khánh Quận công Nguyễn Cảnh Huy và con cháu của ông như: Phấn Võ hầu Nguyễn Cảnh Noãn; Binh bộ Thượng thư Thái phó Tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Hoan; Trung Quận công Nguyễn Cảnh Hân; Cường Quận công Nguyễn Cảnh Vạn; Lập Quận công Nguyễn Cảnh Chiêu; Thái bảo Tả tư không Thư Quận công Nguyễn Cảnh Kiên; Tả tư mã Thắng Quận công Nguyễn Cảnh Hà; Tả Đô đốc Liêu Quận công Nguyễn Cảnh Quế... Dòng họ của ông nổi tiếng trâm anh, danh gia vọng tộc, xứng đáng với lời vịnh lưu truyền ”Cao tiền tổ khảo dị lai, Thập bát Quận Công tam Tể tướng – Đinh Lý Trần Lê dị hậu, Bách dư Tiến sỹ thất khôi nguyên”.

Đoàn Unesco cùng các nhà sử học khảo sát chứng tích đền Ngọc Sơn. Ảnh tư liệu

Đến thời đại Hồ Chí Minh có các ông: Nguyễn Cảnh Dinh, nguyên Bộ trưởng Bộ Thủy lợi và Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước; Nguyễn Cảnh Toàn - Giáo sư Toán học, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo; Nguyễn Song Tùng - nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động; Thiếu tướng Nguyễn Cảnh Hiền, nguyên phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng Việt Nam...

Để ghi nhớ công lao to lớn của hai danh tướng Anh hùng dân tộc Nguyễn Cảnh Chân và Nguyễn Cảnh Dị, hầu hết các thành phố trong cả nước đều có đường phố mang tên các ông. Đặc biệt gần Quảng trường Ba Đình - Hà Nội có phố Nguyễn Cảnh Chân từ thời Pháp thuộc, phố Nguyễn Cảnh Dị tại Khu đô thị Đại Kim – Quận Hoàng Mai - Hà Nội. Trên chính quê hương ông đều có tên đường và Trường THPT Nguyễn Cảnh Chân.

Nguồn tham khảo:
  • Đại việt sử ký toàn thư
  • Khâm định Việt sử Thông giám cương mục
  • Thượng phổ Nguyễn Bắc
  • Khoái hầu thục biên
  • Nguyễn tộc thế truyền
  • Hoan Châu ký, tư liệu họ Nguyễn Cảnh
  • Nghệ An ký
  • An tĩnh cổ lục
  • Lam Sơn thực lục
Tiến sĩ Sử học Nguyễn Xuân Mạnh

Ngắm những cổ vật đặc sắc được trưng bày tại Bảo tàng Hà Tĩnh

đăng 19:55, 8 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Có tuổi đời hàng trăm, hàng nghìn năm, mỗi cổ vật quý đang được trưng bày tại Bảo tàng Hà Tĩnh đều mang trong mình câu chuyện về lịch sử, văn hóa, con người vùng đất núi Hồng sông La.

Những bộ trang sức bằng gốm (ảnh 1), vật dụng bằng đá (ảnh 3), bộ hài cốt của người Việt cổ (ảnh 2) được phát hiện tại xã Thạch Lạc (Thạch Hà) có niên đại hơn 4.400 năm; những vật dụng bằng sắt, đồng (ảnh 4) sử dụng trong sinh hoạt của con người thời văn hóa Sa Huỳnh tại di chỉ khảo cổ học Phôi Phối - Bãi Cọi (xã Xuân Viên, Nghi Xuân)..., tất cả đã chứng minh trên mảnh đất Hà Tĩnh hàng nghìn năm trước, con người đã “an cư, lạc nghiệp”

Các cổ vật được trưng bày cho thấy không chỉ sinh sống, người Việt cổ ở Hà Tĩnh đã có nền văn minh phát triển ở tất cả những thời kỳ tiền sử của nhân loại: thời đồ đá, đồ kim khí. (Trong ảnh: Nồi đất nung có niên đại 2000 - 2300 năm được phát hiện tại bãi Lòi (Nghi Xuân).

Đi lên từ thời đồ đá, kim khí, cộng đồng dân cư vùng đất núi Hồng, sông La cũng đã trải qua những biến thiên của lịch sử dân tộc từ thời Bắc thuộc cho đến các triều đại phong kiến độc lập tự chủ. (Trong ảnh: Bộ sưu tập đồ gốm từ thế kỷ VIII – X được phát hiện tại huyện Nghi Xuân).

Chuông chùa Rối phát hiện ở xã Cẩm Thịnh (Cẩm Xuyên) được đúc vào đầu thế kỷ XIV, trên thân chuông có khắc bài thơ của danh sỹ Phạm Sư Mạnh (1300 - 1384).

Cổ vật chứng minh, dấu ấn văn hóa Phật giáo phát triển rực rỡ thời Lý -Trần (thế kỷ X-XIV), trong đó, Hà Tĩnh cũng là nơi có những ngôi chùa lớn được xây dựng. Ảnh: Quai chuông chùa Rối bằng đồng, hình con rồng có hoa văn tinh xảo.

Ấn môn hạ sảnh (1377) thời vua Trần Duệ Tông là một trong 3 ấn quan trọng của cơ quan Trung ương thời bấy giờ. (Trong ảnh: bên trái là mặt ấn, bên phải là thân ấn)

Thạp gốm thời Trần, thế kỷ XIII-XIV (giữa) được sưu tầm tại huyện Thạch Hà năm 1983

Sách Hậu thần thư ký thời Lê Trung Hưng, năm 1736, chất liệu bằng đồng thau, sưu tầm tại huyện Đức Thọ năm 1977.

Bảo vật quốc gia súng thần công “Bảo Quốc an dân Đại tướng quân” năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) được phát hiện tại vùng biển Nghi Xuân năm 2003. (Trong ảnh: 1 trong 3 khẩu súng thần công được trưng bày tại bảo tàng tỉnh)

"Mộc bản Trường học Phúc Giang” thuộc dòng họ Nguyễn Huy (Trường Lưu, Can Lộc) đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương có niên đại từ giữa thế kỷ XVIII.

Học sinh TP Hà Tĩnh khám phá cổ vật trưng bày tại Bảo tàng Hà Tĩnh. (Ảnh: chụp ngày 27/4/2021)

Đến nay, Bảo tàng Hà Tĩnh đã sưu tầm được gần 11.000 hiện vật, trong đó có hơn 2.000 cổ vật, 3 bảo vật quốc gia. Nhiều cổ vật quý được khai quật tại các di chỉ khảo cổ học, do cán bộ bảo tàng sưu tầm và người dân hiến tặng. Những cổ vật quý hiếm đã góp phần tạo nên nét đặc trưng của di sản văn hóa Hà Tĩnh. Đây cũng là nguồn sử liệu quan trọng cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa, con người Hà Tĩnh của các học giả cũng như những người quan tâm.

Thiên Vỹ

Quán cơm Bà Cả Đọi - nơi lưu dấu chân những lãng tử Sài Gòn

đăng 05:30, 4 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Những cư dân sống lâu năm ở Sài Gòn thích ẩm thực hương vị đồng quê Kinh Bắc với thịt kho, dưa chua, trứng đúc, cà bung… thì Tiệm cơm ĐỒNG NHÂN - Cơm Bà Cả luôn được nhắc đến. Nhiều người đi xa mấy chục năm trở về cũng được bạn bè nhắn: “Nhớ ăn giùm tôi bát canh cua rau đay của Bà Cả nha”.

Bà Cả được nhiều người biết đến không chỉ do tài nấu nướng khéo léo của bà. Thương hiệu Quán cơm Bà Cả Đọi được các lãng tử, thành viên các ban nhạc trẻ ở Sài Gòn truyền tai nhau cách đây 53 năm, rồi lan rộng ra nhiều giới đã trở thành huyền thoại đối với những người sành ẩm thực Sài Gòn.

Theo tự thuật của ký giả Trường Kỳ trong Một thời Nhạc Trẻ, ngay đầu tháng 2.1968, chiến sự căng thẳng nên chính quyền Sài Gòn ra lệnh đóng cửa các phòng trà, vũ trường. Ông (Trường Kỳ) lúc ấy đang phụ trách biên tập chương trình ca nhạc “Hippies à gogo” diễn vào thứ Bảy và Chủ nhật hàng tuần tại phòng trà Chez Jo Marcel số 67 Nguyễn Huệ, giờ tình hình như vậy nên đâm ra rảnh rỗi không có việc làm và không có tiền.

Một buổi trưa, ông rủ người bạn đi tìm quán cơm bình dân do những cư dân xung quanh giới thiệu. Quán nằm trong hẻm số 53 Nguyễn Huệ, chỉ cách chỗ ông làm mấy bước chân. Cả hai lơ láo đi vào trong cái ngõ hẹp nhỏ xíu, với những căn nhà lâu đời cũ kỹ, hai bên giăng đầy quần áo, trẻ con chạy qua chạy lại chơi đùa rầm rầm. Để ý mãi cũng không thấy một căn nhà nào có vẻ một quán ăn.

Cuối cùng hỏi thăm mới biết quán ăn này không có tên tuổi, bảng hiệu, nằm ở cuối hẻm và phải bước lên mười mấy bậc thang xi măng lên tầng trên mới tới được quán cơm bí hiểm này.

Dấu tích bậc thang lên quán cơm Bà Cả đầu thập niên 1960 (trong hẻm 53 Nguyễn Huệ).

Ký giả Trường Kỳ đã không ân hận khi phải trèo lên mười mấy bậc thang xi măng. Vừa bước vào quán đã nhìn thấy ngay chiếc bàn to để thức ăn, nào là đậu hũ nhồi thịt, cá chiên, thịt kho, dưa chua, trứng đúc, cà bung... và nồi canh đang sôi sùng sục, những món ông yêu thích.

Khách khứa ở đây gần như đều thuộc thành phần lao động, ngồi ăn rất thoải mái trên chiếc phản gỗ to kê sát tường. Mấy cô gái con bà chủ rất niềm nở, nhanh nhẩu thu xếp một bàn nhỏ cho hai vị khách mới. Ông gọi một tô canh mồng tơi, một đĩa cà pháo, một đĩa ốc giả ba ba, một đĩa thịt kho và một đĩa trứng đúc thịt. Cơm nóng, canh nghi ngút khói và những đĩa thức ăn thơm điếc mũi đã khiến ông và bạn không ngại ngần, ăn một mạch hết sạch mâm cơm, căng cả bụng.

Đã từ lâu, ông trải qua “những ngày tháng lêu bêu, ngày ở hotel, tối vũ trường, trưa thì cơm hàng cháo chợ” nay được bữa cơm ngon, khung cảnh gia đình, ông cảm thấy ấm lòng. Bữa cơm hương vị quê nhà đã khởi đầu nhân duyên kỳ ngộ giữa chàng lãng tử và bà chủ quán nhân hậu.

Ông Đinh Văn Viêm người làng Đồng Nhân, nơi có đền thờ Hai Bà Trưng, trước đây thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội. Khi còn rất trẻ, ông đơn thân vào Sài Gòn lập nghiệp từ đầu thập niên 1940. Đến khi trưởng thành, là con cả, vâng lời cha mẹ, ông về quê lấy vợ là cô Hoàng Thị Túc, người cùng làng, rồi đưa vợ vào Sài Gòn sinh sống ở căn nhà trong hẻm số 53 Nguyễn Huệ từ năm 1948. Hàng xóm láng giềng quen gọi là ông bà Cả. Ông bà Cả có với nhau được 6 con gồm 4 gái, 2 trai. Một lần, ông Cả trèo lên mái nhà sửa sang, không may trượt chân ngã xuống đất thiệt mạng, để lại người vợ trẻ và đàn con thơ dại. Hơn 12 năm làm vợ, lâm vào cảnh góa bụa khi mới hơn 30 tuổi, bà Cả mở hàng cơm Bắc tại nhà từ đầu thập niên 1960, để nuôi đàn con nhỏ.

Sau vài lần đến quán rồi dần trở thành khách hàng thân quen, ký giả Trường Kỳ đã biết tên các người con lớn, cô Xuân, cô Hường, cậu Thuận và ông rất khâm phục khi biết được hoàn cảnh của bà Cả, một bà mẹ Việt Nam điển hình, cần cù, nhẫn nại, hy sinh vì đàn con. Và ngược lại, mọi người trong nhà đều quen gọi ông là “cậu Kỳ”, một vị khách đặc biệt với mái tóc dài, quần ống bó, đi giầy botine, mặc áo thun, hoàn toàn không giống những người khách quen khác.

Thấy quán chưa có tên, bảng hiệu, là người có nhiều sáng kiến, cậu Kỳ đề nghị đặt tên cho quán, một cái tên độc đáo Quán Bà Cả Đọi. Bà chủ quán tuy chẳng quan tâm đến tên tuổi, bảng hiệu nhưng cũng thắc mắc về chữ “đọi” và yêu cầu giải thích. Đọi là rách, là đói, là kiết xác, nghèo mạt rệp, cóc có địa để đi đớp hít ở những nơi có sơn hào, hải vị. Nghe vậy, bà chủ quán đôn hậu chỉ biết cười và lắc đầu, xua tay lia lịa vì sự tinh quái của vị khách trẻ. Và tất nhiên bà Cả chưa bao giờ cho kẻ tên bảng hiệu này.

Tiệm cơm Bà Cả ngày nay trên đường Tôn Thất Thiệp.

Từ “đọi” mà ký giả Trường Kỳ dùng là tiếng lóng của giới trẻ choai choai thời đó tạo ra, cũng giống như lối chat của tuổi teen thời nay, mục đích để các bậc cha mẹ không hiểu được các trao đổi của con cái với bạn bè. Cách tạo tiếng lóng thời ấy rất đơn giản, thường là đọc trại đi từ gốc. Ví dụ: đọi - đói, địa - tiền, y - áo, quởn - quần, xế - xe máy, đổng - đồng hồ, chiển - dây chuyền (vàng)… Các tiếng lóng này còn tồn tại đến giữa thập niên 1980, sau đó không thấy dùng nữa. Cái hay của ký giả Trường Kỳ là từ “đọi” ông dùng không hàm ý chê trách mà ông muốn tạo ấn tượng đặc biệt, thậm chí có người lầm tưởng đó là tên riêng, Cả Đọi.

Không dừng lại ở cách đặt tên, cậu Kỳ còn có sáng kiến trong cách quảng cáo mà ngày nay chúng ta gọi là tiếp thị rất hiệu quả. Ông gọi đó là phương thức “vô tuyến truyền tai”, rỉ tai bạn bè trong giới ca nhạc trẻ, thậm chí đặt slogan rất kích động “Không biết quán Bà Cả Đọi, không phải là dân chơi”. Thế là chỉ mấy ngày sau, hẻm 53 Nguyễn Huệ vốn yên bình, nay nhộn nhịp hẳn lên bởi sự xuất hiện những nam thanh tóc dài chấm vai, nữ tú với mini jupe cực ngắn hỏi thăm quán.

Quán cơm Bà Cả Đọi vẫn được các thực khách kể lại trên bàn tiệc với nhiều thêu dệt. Và đọng lại trong đó, ta biết được sự tương kính, tôn trọng nhau giữa vị khách và người chủ ngày ấy, nét ứng xử nhân văn của người Sài Gòn xưa.

Tiếp đến các ban nhạc trẻ Sài Gòn lũ lượt kéo đến. Nào là nhóm Ba Con Mèo với Uyên Ly, Kim Anh, Mỹ Hòa; nhóm Ba Trái Táo với Vy Vân, Tuyết Hương, Tuyết Dung… rồi hầu như cả làng nhạc trẻ Sài Gòn đều đến thưởng thức món ăn dân dã ở quán bà Cả. Cậu Kỳ từng nhiều lần chọn nơi này để cùng với Jo Marcel, Tùng Giang, Nam Lộc bàn việc tổ chức các đại hội nhạc trẻ.

Giới ca nhạc trẻ đến, kéo theo các ký giả báo Điện Ảnh, Kịch Trường như Ngọc Hoài Phương, Trần Quân… Rồi tiếp đến là giới điện ảnh, kịch nghệ, tài tử điển trai Trần Quang - vai chính phim Vết thù trên lưng ngựa hoang; diễn viên trẻ Tú Trinh, sau là nghệ sĩ lồng tiếng xuất sắc cũng tìm đến thưởng thức tài nghệ nấu nướng của bà Cả. Quán dần đông khách hẳn ra, được nhiều người biết đến và trở thành trung tâm tin tức của giới văn nghệ Sài Gòn.

Rong chơi mãi cũng đến ngày chàng lãng tử Trường Kỳ nghĩ đến việc lập gia đình. Bà Cả là trường hợp cậu Kỳ đắn đo khi mời dự tiệc cưới, một người là khách và một người là chủ quán, dù thân tình nhưng để mời dự tiệc cưới với số khách chọn lọc thì thực là khó. Hơn nữa, ông không muốn bà Cả phải phiền hà nên ông chỉ gửi thiệp báo tin thành hôn. Ấy vậy, trước ngày cưới vài hôm, bà Cả đã đến tận nơi cậu Kỳ ở thuê để trao quà mừng, một bao thơ và nói: “Chúc cô cậu hạnh phúc, khi nào xong việc thì nhớ ghé quán ăn nhé!”. Không để cậu Kỳ nói lời cảm ơn, bà Cả mượn cớ bận việc xin phép về ngay. Cậu Kỳ chưa hết ngạc nhiên, lại thêm bất ngờ khi biết tiền mừng là 5 “xín” (5.000đ) gấp 5 lần vị khách bình thường. Sau khi cưới, vợ chồng son dắt díu nhau lên thăm bà Cả để nói lời cám ơn, lại được bà khoản đãi bữa cơm thân mật.

Hợp rồi lại tan. Giữa năm 1975, tình hình xã hội thay đổi, các lãng tử nhạc trẻ trôi dạt tứ tán, không còn đến quán Bà Cả Đọi nữa. Bà Cả mất đi loạt khách này nhưng lại có thêm khách mới là các tư thương ở khu chợ trời Huỳnh Thúc Kháng mới lập, chuyên bán radio, cassette, băng nhạc. Những khách quen ở khu vực Chợ Cũ, ngã tư Hàm Nghi - Tôn Thất Đạm tiếp tục đến ủng hộ Bà Cả. Ông Tư, cư dân gần 70 năm ở Sài Gòn kể: “Hồi cuối thập niên 1980 đầu 1990, tôi coi kho cho công ty vận tải biển bên quận 4. Ngoài lương còn có thêm tiền ba lợi ích nên tuần hai ba lần tới ăn trưa ở quán cơm Bà Cả Đọi. Tôi khoái cái cảm giác ngồi xếp bằng trên phản húp chén canh cua rau đay nóng hổi”.

Năm 1992, cậu Kỳ về Sài Gòn sau hơn 10 năm xa cách. Ông thăm lại quán xưa vẫn được bà Cả tiếp đón ân cần, hỏi thăm chuyện nhà, biết được cô con gái lớn của bà đang trông coi quán thứ hai trên đường Ngô Đức Kế. Đến giữa thập niên 1990, bà Cả không bán tại nhà nữa, chuyển sang địa điểm mới tại số 11 Tôn Thất Thiệp, quận 1 và chính thức có bảng hiệu to - Tiệm cơm ĐỒNG NHÂN và bảng phụ ghi Cơm Bà Cả như để gợi nhớ. Thời gian sau, bà Cả còn mở tiếp quán nữa ngay ngã tư Lê Thánh Tôn - Trương Định, quận 1 để con cháu trông coi.

Quán cơm Bà Cả Đọi khi xưa giờ không còn nữa, toàn bộ cư dân trong hẻm 53 Nguyễn Huệ đã bán nhà cho công ty bất động sản để làm dự án đầu tư. Ký giả Trường Kỳ mất năm 2009, bà Cả yên nghỉ năm 2016. Nhưng câu chuyện về Quán cơm Bà Cả Đọi vẫn được các thực khách kể lại trên bàn tiệc với nhiều thêu dệt. Và đọng lại trong đó, ta biết được sự tương kính, tôn trọng nhau giữa vị khách và người chủ ngày ấy, nét ứng xử nhân văn của người Sài Gòn xưa.

Bài và ảnh: Hoàng Phương Anh

Ở nơi không có sân bay, nhưng có máy bay đậu

đăng 05:48, 3 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

An Giang không có sân bay?

Thật ra An Giang đã từng có không chỉ một mà đến 3 sân bay, đó là các sân bay Long Xuyên (còn gọi là sân bay Vàm Cống, nằm ở Long Xuyên), sân bay Châu Đốc (nằm ở Châu Đốc) và sân bay Thất Sơn (nằm ở Tịnh Biên). Tuy nhiên đó đều là các sân bay nhỏ, phục vụ cho mục đích quân sự và đến nay đã không còn sử dụng nữa.

An Giang có đề xuất xây dựng sân bay tại xã Cần Đăng, huyện Châu Thành và đã được Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt quy hoạch ngày 2/6/2011, tuy nhiên đến năm 2016 dự án này đã bị loại bỏ khỏi quy hoạch giao thông 13 tỉnh Tây Nam Bộ từ nay tới năm 2030 vì không khả thi.

Tóm lại là hiện nay An Giang không có sân bay nào hết!

Nhưng vẫn có máy bay!

Máy bay YAK-40 ở khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: Lê Quang Dũng

Dù không có sân bay, nhưng An Giang vẫn có một chiếc máy bay - chuyên cơ luôn đó nghen - đậu sờ sờ ở một nơi thôn dã. Đó là chuyên cơ YAK-40 mang số hiệu VNA-452 của Hàng không Việt Nam, đậu tại cù lao Ông Hổ (xã Mỹ Hòa Hưng, TP. Long Xuyên.

Nơi đậu chiếc máy bay này chính là khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, và chiếc máy bay này chính là phương tiện cụ Tôn Đức Thắng thường dùng đi công tác. Thuyết minh tại Khu lưu niệm cho biết: Ngày 15-5-1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bác Tôn từ Hà Nội đã lên chuyên cơ này bay thẳng vào Sài Gòn tham dự Đại lễ mừng ngày chiến thắng. Tổ lái chuyến bay này gồm 3 người: lái chính Hoàng Liên; lái phụ Trần Tiến Dũng, dẫn đường Đoàn Minh Hội.

Năm 2007, trung tướng Nguyễn Khánh Châu, thứ trưởng Quốc phòng lúc đó, và đại diện Cục A41 đã làm lễ bàn giao chiếc máy bay YAK40 VNA452 cho khu lưu niệm. Chiếc máy bay được đưa từ sân bay Liên Khương (Lâm Đồng) về nơi đây.

Bà Nguyễn Thị Mỹ Diệu, Phó Giám đốc Ban Quản lý khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng, nhớ lại: “Lúc đó, tôi cũng may mắn được tận mắt chứng kiến. Chiếc máy bay được tháo rời hoàn toàn, để lên xe tải vận chuyển từ Liên Khương về. Đến địa phận tỉnh nào sẽ được bàn giao để tỉnh đó phối hợp vận chuyển, bảo vệ. Đến Long Xuyên, lại phải chở máy bay bằng chiếc phà của bến phà An Hòa (chứ không phải phà Ô Môi thường qua lại đôi bờ Mỹ Long - Mỹ Hòa Hưng). Để có chỗ trưng bày chiếc máy bay, chúng tôi phải đốn bớt một số cây trong khu vực Khu lưu niệm. Sau đó, lực lượng chuyên môn Phòng Kỹ thuật của sân bay Tân Sơn Nhất trực tiếp lắp ráp chiếc máy bay một cách kỳ công. Khoảng 1 tháng sau, đến ngày 28-7-2007, việc lắp đặt mới hoàn thành”. 


Ảnh: PHN

Kể từ đó đến nay, bà con cù lao Ông Chưởng - vốn là những người nông dân hầu như cả đời chưa đi máy bay - ngày ngày đi ngang khu lưu niệm đều nhìn thấy ở quê mình có một sân bay trong đó có... một chiếc máy bay. Dần dần, hình ảnh này trở thành quen mắt và trở thành hình ảnh không thể thiếu ở miền quê này.

Nghe nói có thời gian ban quản lý khu lưu niệm cho phép du khách bước vào trong máy bay để tham quan, nhưng tui tới đây nhiều lần chưa lần nào có dịp chui vào máy bay cả. Mà, bây giờ quen đi những máy bay hiện đại rồi, nhìn cửa chiếc YAK-40 thấy sao nhỏ xíu, không biết làm sao bước vô nữa. Chắc phải lom khom!

Về máy bay YAK-40

YAK-40 có tên đầy đủ là Yakovlev Yak-40 (tên tiếng Nga: Яковлев Як-40) là một máy bay phản lực chở khách tầm ngắn, nhỏ, ba động cơ do Văn phòng thiết kế A.S. Yakovlev thiết kế và sản xuất. Đây là một đơn vị nổi tiếng trong lĩnh vực thiết kế chế tạo máy bay của Liên Xô, do A.S. Yakovlev (1/04/1906 - 22/08/1989) sáng lập. YAK-40 được sản xuất từ năm 1967 đến năm 1981, được giới thiệu vào tháng 9/1968 và được xuất khẩu từ 1970.

YAK-40 đang bay. Ảnh: www.airliners.net

Thông số kỹ thuật của Yak-40 (theo vi.wikipedia.org)
  • Phi đoàn: 3
  • Sức chứa: 32 hành khách
  • Chiều dài: 20.36 m (66 ft 10 in)
  • Sải cánh: 25.00 m (82 ft 0 in)
  • Chiều cao: 6.50 m (21 ft 4 in)
  • Diện tích : 70 m² (736 ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 9.400 kg (20.725 lb)
  • Trọng lượng cất cánh: n/a
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 16.000 kg (35.275 lb)
  • Động cơ: 3× phản lực cánh quạt Ivchenko AI-25, lực đẩy 14.7 kN (3.300 lbf) mỗi chiếc
  • Vận tốc cực đại: 550 km/h (340 mph)
  • Tầm bay: 1.800 km (1.100 mi)
  • Trần bay: 8.100 m (26.600 ft)
YAK-40 ở Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ảnh: PHN

Theo Wikipedia (English) có 1011 chiếc YAK-40 đã được sản xuất từ nhà máy Saratov của Nga, trong đó xuất khẩu 130 chiếc. Trong số 130 chiếc này, Việt Nam có 4 chiếc, do Liên Xô tặng.

4 chiếc YAK-40 tại Việt Nam thì một chiếc (VNA452) trưng bày tại cù lao Ông Chưởng như kể trên, một chiếc khác (VNA474) đã bị rơi ngày 14/11/1992 tại thung lũng Ô Kha khiến 30 người tử vong, một chiếc (VNA446) trưng bày tại Học viện Hàng không Việt Nam Cơ sở 2 (TPHCM), một chiếc nữa không rõ đang ở đâu nhưng... chắc chắn là không có bay nữa!

Phạm Hoài Nhân

Cây táu cổ thụ hơn 2000 năm tuổi ở Phú Thọ

đăng 05:45, 1 thg 5, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Tọa lạc trước đền Thiên Cổ (thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, TP Việt Trì, Phú Thọ), cây táu 2104 tuổi được công nhận "cây di sản Việt Nam" có từ thời An Dương Vương.

Cây táu có tuổi thọ hơn 2100 năm trước cửa ngôi đền Thiên Cổ

Men theo con đường làng, chúng tôi tìm đến ngôi đền Thiên Cổ. Tương truyền, ngôi đền này nằm trên đất kinh đô của nước Văn Lang xưa. Tại đền có cây táu cổ thụ thuộc hàng lâu đời nhất Việt Nam. Theo tính toán của các nhà khoa học, cây táu này đã hơn 2100 năm tuổi.

Năm 2012, cây táu được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) công nhận và trao danh hiệu "cây di sản Việt Nam"

Người dân thôn Hương Lan gọi cây táu 2104 tuổi là "cụ cây" bởi từ thời tổ tiên, cây táu đã xuất hiện và trải qua bao thăng trầm của lịch sử. Năm 2012, "cụ cây" được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) công nhận và trao danh hiệu "cây di sản", góp phần trường tồn cùng vùng đất Tổ.

Từ khi có sự hiện hữu của cây táu, người dân trong làng bao đời nay xem đây là báu vật, hết mực chăm sóc và bảo tồn cẩn thận. Ông Nguyễn Thiện Ninh (85 tuổi, người trông coi đền Thiên Cổ) chia sẻ, không chỉ là chứng nhân lịch sử, cây táu còn chứa đựng những giá trị vô giá về văn hóa, tâm linh.

Ông Nguyễn Thiện Ninh cho biết, cây táu từ xưa đã trở thành "báu vật" thiêng liêng của dân làng nơi đây

Ông Ninh chia sẻ, cây táu này gắn liền với sự tích thiêng liêng của đền Thiên Cổ. Ngọc phả để lại, đây là nơi thờ vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang và thục nương Nguyễn Thị Thục. Thời đó, vợ chồng thầy giáo là người có công dạy công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa (con vua Hùng Vương đời thứ 18), sau khi vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang mất, nhân dân địa phương đã chôn cất và lập đền thờ ngay tại làng. Cùng với đó, cây táu xuất hiện và trường tồn tới tận ngày nay.

Cây táu cổ thụ, gốc to đến năm, sáu người ôm không xuể

"Năm 2014 cây táu bị ảnh hưởng nghiêm trọng do quá trình làm đường dân sinh trước đó nên đã xuất hiện tình trạng, héo úa, lão hóa, thân bị sâu mọt đục khoét, thiếu chất dinh dưỡng, nhiều cành bị khô và chết dần. Trước tình trạng "cụ cây" suy yếu, dân làng chúng tôi cương quyết giữ cây, không cho đốn hạ và mời bằng được các nhà khoa học và chuyên gia đến thẩm định, tìm hướng khắc phục, cứu cây", ông Ninh cho biết.

Do tuổi thọ đã cao và quá trình làm đường dân sinh, năm 2014 cây táu suy yếu, cành, lá héo khô, chết dần, nhân dân trong làng đã kêu cứu để kéo dài tuổi thọ cho cây

Nhờ tháo dỡ kịp thời những khối đất đá bị chèn ép quanh thân cây, nới rộng không gian sống, bón phân vi sinh, cắt tỉa những cành bị sâu bệnh nên hiện tại "cụ táu" đã có dấu hiệu phục hồi.

Sau nhiều nỗ lực cứu chữa, cây táu bạc đã phục hồi và phát triển được một phần cành để minh chứng cho một sức sống trường tồn

Với những giá trị về lịch sử, văn hóa này, cây táu trước cửa đền Thiên Cổ được công nhận là cây di sản không chỉ là niềm tự hào của người dân thôn Hương Lan mà còn là một di tích lịch sử có giá trị của dân tộc.

Hoài Trang

Chín bảo vật quốc gia ở Quảng Ninh

đăng 01:39, 28 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 06:07, 1 thg 5, 2021 ]

Hộp vàng Ngọa Vân - Yên Tử, trống đồng Quảng Chính, bình gốm Đầu Rằm... là 3 trong số 9 bảo vật quốc gia ở Quảng Ninh.


Bảo tàng Quảng Ninh đang trưng bày 8 bảo vật quốc gia từ các thời kỳ khác nhau.


Hộp vàng Ngọa Vân - Yên Tử hay còn gọi là hộp vàng hình Hoa Sen, được xác định có niên đại thời Trần, nửa đầu thế kỷ 14.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, hộp vàng Ngọa Vân - Yên Tử là một di vật quan trọng liên quan đến hoàng gia hoặc nghi lễ tôn giáo tôn nghiêm. Và đây là bát, cốc át già, một trong sáu pháp khí quan trọng được sử dụng trong nghi lễ Phật giáo Mật tông.


Trống đồng Quảng Chính có niên đại văn hóa Đông Sơn, khoảng thế kỷ III - II trước Công Nguyên. Trống nặng 12,7 kg, cao 31 cm, đường kính mặt 40 cm, đường kính đáy 54 cm. Chiếc trống còn tương đối nguyên vẹn, phần mặt bị thủng một lỗ nhỏ.

Trống đồng không chỉ là nhạc khí mà còn có những chức năng khác như biểu tượng cho quyền lực tôn giáo... Trống được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, lễ hội và chiến tranh chống giặc ngoại xâm.


Bình gốm Đầu Rằm hay còn gọi là gốm Hoàng Tân được, được xác định có niên đại văn hóa Phùng Nguyên muộn, cách đây hơn 3.000 năm.

Bình gốm Đầu Rằm nặng một kg, cao 25,3 cm, chia làm ba phần: miệng đường kính 6,5 cm, vai bình cao 2,3 cm; thân bình cao 16,2 cm; chân đế bình hình vuông với kích thước mỗi cạnh 6,8 cm...

Theo ông Kiều Đinh Sơn, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh, bình gốm Đầu Rằm là vật dụng cao quý, được sử dụng trong các nghi lễ như bát bồng và thố của người Phùng Nguyên vùng đất tổ, của cư dân thời đại kim khí ở Đầu Rằm.


Thống đồng có niên đại thời Trần, thế kỷ 13-14. Trên tổng thể, Thống còn nguyên vẹn cả hình dáng và hoa văn. Thống nặng 15 kg, cao 37 cm, đường kính miệng 42,5 – 43,5 cm, đường kính thân 45 cm, đường kính đáy 37,5 cm.

Thống có các loại hoa văn trang trí của văn hóa nhà Trần như hoa sen, hoa chanh, hoa cúc… Thống là sự kế thừa và tiếp biến văn hóa của nhiều thời kỳ. Từ nghệ thuật trống đồng Đông Sơn đến nghệ thuật trang trí thời Trần và sau đó. Thống đồng thời Trần là vật dụng lễ khí (tế khí) trong các hoạt động nghi lễ (tế lễ) của đời sống cung đình (miếu, đường) thời Trần.


Mâm bồng gốm men vẽ nhiều màu có niên đại thời Lê sơ, thế kỷ 15.

Mâm bồng được chế tạo bởi đất sét trắng có hàm lượng cao lanh cao, nặng 5,5 kg, cao 27 cm. Các dải băng hoa văn, đồ án hoa văn chủ yếu được sử dụng trang trí mâm bồng như: Cá chép hóa rồng, linh thú, cánh sen, long mã, nhân vật…

Căn cứ vào hình dáng, hoa văn trang trí và kích thước, các nhà nghiên cứu đoán định mâm bồng có thể là đồ “ngự dụng” hoặc đồ “quan dụng” (đồ dành cho vua, quan dùng trong hoàng cung) có tính chất cao quý và là vật dụng được sử dụng trong các nghi lễ thờ cúng trong tín ngưỡng của văn hóa người Việt.


Bình gốm hoa sen có niên đại dưới thời Lý, thế kỷ 11-12. Bình gốm nặng 6,6 kg, cao 24,2cm, rộng 32 cm, đường kính miệng 14 cm, đường kính đáy 15,8 cm.

Căn cứ vào hình dáng, hoa văn trang trí và kích thước, bình gốm hoa sen được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng.


Bình gốm hoa nâu Kinnari có niên đại thời Lý, thế kỷ 11-12.

Bình cao 12,1 cm, rộng trước sau 14 cm (từ vòi đến đuôi), chiều rộng hai bên 7,6 cm (vị trí hai bên đùi) thân dày trung bình 0,5 - 0,7 cm… Bình có dáng quả đào, thành cong khum, gờ miệng sau loe. Thân phình rộng, đáy thót nhỏ. Phần vòi tạo hình tượng đầu người mình chim ôm vòi. Đây là hình dáng đặc biệt hiếm có của loại hình bình gốm hoa nâu thời Lý đã phát hiện ở miền Bắc Việt Nam.

Bình gốm hoa nâu Kinnari là đồ dùng của tầng lớp quyền quý, hoặc là đồ lễ khí (tế khí) trong các hoạt động nghi lễ của đời sống cung đình (miếu, đường) hoặc đời sống tôn giáo (chùa) thời Lý.


Thạp gốm hoa nâu có niên đại thời Lý, thế kỷ 11 - 12; tổng trọng lượng 9,3 kg, cao 35,5 cm.

Theo các nhà nghiên cứu, Thạp có thể là đồ dùng của tầng lớp quyền quý, hoặc là đồ lễ khí (tế khí) trong các hoạt động nghi lễ của đời sống cung đình (miếu, đường) hoặc đời sống tôn giáo (chùa) thời Lý.


Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông có niên đại thế kỷ 17, hiện được thờ trong tháp Huệ Quang, Khu di tích danh thắng Yên Tử (TP Uông Bí).

Tượng gồm hai phần, bệ và thân tượng, cao tổng thể 83,8 cm, đầu rộng 13,5 cm, đế rộng 59 cm. Hai phần này được tạo tác riêng biệt sau đó gắn nối với nhau bằng hệ thống mộng và lỗ mộng.

Các nghệ nhân xưa kia tạc thô tượng, phác thảo hình khối, cấu trúc, sau đó chỉnh tinh, đặc biệt là các nếp áo và hoa văn trang trí trên y trung và y hạ. Sau khi tạc xong, toàn bộ bề mặt được mài nhẵn, không để lại vết mài.


Theo nhiều tài liệu, xá lị của Phật hoàng Trần Nhân Tông tôn trí ở chùa Hoa Vân (chùa Hoa Yên hiện nay) vào năm 1326.

Tháp Huệ Quang (chùa Hoa Yên) được dựng lại vào thời Lê Trung hưng trên nền tháp cũ, sau khi tòa tháp được xây dựng dưới thời Trần sập đổ. Khi dựng lại tháp, người xưa đã sử dụng một số cấu kiện tháp của thời trước.

Còn pho tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông được tạc thủ công, bằng đá xanh, có cùng nguồn gốc, thành phần khoáng vật và hoá học với loại đá xanh xây tháp thời Trần. Tuy vậy, tượng không phải được tạo tác từ thời Trần mà là thời Lê Trung hưng căn cứ vào kỹ thuật, kích thước, phong cách trang trí trên tượng. Đây là một điển hình mẫu mực trong nghệ thuật điêu khắc tượng Phật Đại Việt thế kỷ 17.

Minh Cương

Hoài niệm những thổ sản xưa...

đăng 01:03, 28 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Có rất nhiều thổ sản của Quảng Ngãi từng được triều đình nhà Nguyễn xếp vào danh mục thổ sản đặc biệt, mang tính đặc trưng cho địa phương mà không nơi nào có được. Tuy nhiên, trải qua bao biến thiên, đại đa số những thổ sản này đã biến mất, chẳng còn lưu lại dấu tích.

Nhớ nghĩa sâm, nhớ gạo trì trì...

Lần giở Đại Nam nhất thống chí tập II, khi nhắc đến Quảng Ngãi, Quốc sử quán triều Nguyễn ngày ấy đã thống kê khá chi tiết các loại thổ sản đặc trưng của xứ Quảng. Thế nhưng, nếu soi chiếu vào hiện tại thì phần lớn người dân Quảng Ngãi bây giờ chỉ “quen mặt” với một số ít thổ sản như: Quế, cây báng (hay còn gọi là cây đoác mà người miền núi Quảng Ngãi thường ủ rượu ngay trên cây). Còn lại, các thổ sản như: Nghĩa sâm, cây sáp, cây dầu hương cùng hàng loạt giống lúa bản địa quý đều đã trở thành những cái tên khá xa lạ trong tâm thức người Quảng Ngãi.

Theo chia sẻ của nhiều nông dân miền núi, các giống lúa bản địa miền núi như lúa to, lúa cúc, lúa hột cườm, lúa oa cái... đang bị lai tạp dần với lúa nước, nên hạt lúa không còn giữ nguyên kích thước, hình dáng như ngày xưa. Ảnh: Đông Yên

Theo Đại Nam nhất thống chí, nghĩa sâm (sâm Quảng Nghĩa) là loại sâm đặc trưng của Quảng Ngãi xưa. Loại sâm này xuất hiện nhiều ở các núi ven biển thuộc huyện Bình Sơn. Tầm tháng 2, tháng 3 là nghĩa sâm nở hoa. Người xưa thường đào lấy củ mang đi rửa sạch, cạo hết vỏ thô rồi phơi nắng và sấy than để dùng. Thứ sâm này có đặc trưng là các vằn ngang trên củ, vị ngọt và thanh đạm.

Nghĩa sâm từng là sản vật gắn với tên “Quảng Nghĩa”, nhưng ngày nay hỏi những bậc cao niên sống tại các địa phương ven biển của huyện Bình Sơn về loại đặc sản này, mọi người đều lắc đầu trả lời chưa từng thấy loại sâm này.

Cũng theo sử sách chép lại, đảo Lý Sơn từng có cây dầu hương - loại cây cho dầu mang hương thơm rất đặc biệt, nên triều đình nhà Nguyễn từng quy định người dân phải nộp thuế dầu. Đến giữa đời Gia Long, cây dầu hương đổ, người dân phải nộp thay bằng dầu phụng. Rồi đến giữa đời Minh Mạng, cây dầu hương sống lại, nên người dân tiếp tục nộp thuế như cũ. Quý hiếm là vậy, nhưng đến nay, “đỏ mắt” tìm khắp đảo, cũng không tìm được chút dấu tích nào về loài cây này. Chỉ còn lại cây dầu phụng may mắn vẫn còn được trồng phổ biến trên đất đảo đến ngày nay.

Không chỉ các thổ sản quý hiếm, mà ngay cả những giống lúa bản địa từng được trồng khắp nơi trên đất Quảng Ngãi, nay cũng dần thất truyền.

Hoài niệm về một giống lúa được trồng đại trà tại quê hương mình, ông Nguyễn Minh Nghĩa, ở xã Đức Lân (Mộ Đức), bồi hồi: “Ngày xưa, quê tôi ai cũng thuộc làu câu: Trì trì trổ muộn chín mau/ Rủ nhau ở đậu làm giàu Tú Sơn”, “Gái Tú Sơn đầu trơn như mỡ/ Gạo trì trì nứt nở như ươi”. Nói tới Tú Sơn là nhắc lúa trì trì. Bởi đây là giống lúa duy nhất thích nghi được với điều kiện đất đai thiếu nước quanh năm ở quê tôi”.

Là giống lúa “chịu thương chịu khó” chống chịu được khô hạn, nên theo lời kể của nhiều lão nông, lúa trì trì không chỉ là giống lúa chủ lực ở Tú Sơn, mà có mặt tại hầu hết các diện tích ruộng thiếu nước trên địa bàn tỉnh. “Đến thời vụ, chúng tôi cuốc đất, phơi cho khô, rồi dùng vồ bằng gỗ đập đất vỡ nhỏ ra để gieo lúa lên đó. Lúa giống không cần trải qua khâu ủ, người dân cứ gieo lúa khô trên mặt ruộng rồi chờ đến khi trời mưa, lúa trì trì sẽ nứt mầm mà lên xanh um. Sắp sửa đến mùa mưa thì gieo lúa, rồi phó mặc cho trời cho đến tháng Chạp, tháng Giêng năm sau thu hoạch. Lúa trì trì là vậy. Tự lực sinh trưởng và phát triển”, ông Nghĩa kể.

Giống lúa trì trì chịu hạn rất tốt, nên được hầu hết nông dân vùng thiếu nước tưới tại Quảng Ngãi ưu ái gieo trồng. Nhưng sau khi hệ thống thủy lợi Thạch Nham được dựng xây và đi vào hoạt động, giống lúa trì trì dần bị các giống lúa lai “soán ngôi” và dần vắng bóng trên ruộng đồng.

Theo ghi chép tại sách Đại Nam nhất thống chí và lời kể lại của các bậc cao niên, ngoài giống lúa trì trì, Quảng Ngãi xưa còn có rất nhiều giống lúa tẻ, lúa nếp mang đặc trưng của tỉnh mà không nơi nào có là lúa tràng hạt, lúa vung, lúa kéo, lúa lớn và lúa vốc - các loại lúa này hầu hết đều xuất xứ từ miền núi Quảng Ngãi. Ngoài ra, nông dân xứ Quảng ngày trước còn rất chuộng các loài lúa tẻ như lúa nha, lúa muối, lúa tám, lúa ba trăng, lúa cúc, lúa hột cườm, lúa oa cái, lúa đao tiễn, lúa vị, lúa đồi, bông rinh... và nhiều giống nếp quý như nếp hương, nếp ong, nếp than, nếp vân, nếp vu, nếp cò, nếp chuột, nếp oo - boong, nếp bồ câu... Song, điều đáng buồn là, chỉ sau hai thập kỷ kể từ khi thủy lợi Thạch Nham đi vào hoạt động, sau đó là sự xuất hiện ồ ạt của các giống lúa lai, hầu hết các loại lúa bản địa từng chịu được thổ nhưỡng, đất đai, thời tiết ở tỉnh ta từ rất lâu đời đã dần trở thành những cái tên xa lạ.

Nhắc chuyện xưa để nhớ chuyện nay

Từ câu chuyện về những thổ sản đặc trưng của Quảng Ngãi dần biến mất, đã đến lúc, những lớp người đương đại cần suy ngẫm, bàn tính đến việc tìm kiếm và bảo tồn những thổ sản bản địa cho hôm nay và mai sau.

Tìm kiếm và giữ lại không chỉ để con cháu mai này biết cây nghĩa sâm hình dáng ra sao, công dụng ra sao? Hay dầu của cây dầu hương Lý Sơn có hương thơm thế nào? Mà còn tìm kiếm nguồn giống để phát triển, nâng tầm những thổ sản ấy lên một tầm cao mới. Tìm và trồng lại nếp oo - boong để Quảng Ngãi quê mình có thêm một thương hiệu nếp đặc trưng như nếp Ngự Sa Huỳnh. Tìm lại giống lúa muối Bình Sơn khi nấu cơm có vị hơi mặn, có lụa màu đỏ bầm, dùng làm bánh tráng rất thơm, để Quảng Ngãi có đặc sản gạo đỏ “sánh vai” cùng loại gạo tím của nông dân miền Tây.

Hay nói đâu xa, như giống lúa trì trì, nếu tìm lại và phục tráng, thì sẽ giúp người dân ở các xứ đồng thường xuyên bỏ hoang ruộng vì thiếu nước như Tịnh Hiệp, Tịnh Bình (Sơn Tịnh), Phổ Cường (TX.Đức Phổ) “quẳng” được gánh lo bấy lâu nay...

Tìm và phát huy những giá trị xưa cũ chưa bao giờ là câu chuyện cũ. Đừng để những thổ sản đặc biệt của Quảng Ngãi rơi vào lãng quên!

ĐÔNG YÊN

Ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam

đăng 01:47, 18 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 00:55, 20 thg 4, 2021 ]

Thế hệ ngày nay có lẽ chỉ còn nghe nhắc đến ông Đạo Dừa mỗi khi đi tham quan Cồn Phụng ở Bến Tre, nơi ông tu hành trong thời gian dài và xây dựng nên nhiều cơ sở thờ phụng.

Ông Đạo Dừa tên thật là Nguyễn Thành Nam, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1910 tại Bến Tre. Xuất thân trong một gia đình danh giá và giàu có, ông du học tại Pháp, tốt nghiệp kỹ sư hóa học và về nước năm 1935. Đến năm 1945 ông đi tu ở Bảy Núi, Châu Đốc và năm 1963 chính thức lập nên Đạo Dừa tại Cồn Phụng, Bến Tre.

Chiếc đỉnh lớn ghép bằng gốm sứ đặt tại Cồn Phụng. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên trên Wikipedia

Tiểu sử ông Nguyễn Thành Nam trên đỉnh. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên trên Wikipedia

Tiểu sử ông Nguyễn Thành Nam và người tạo đỉnh trên đỉnh. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên trên Wikipedia

Thời tui còn nhỏ, cũng là lúc đạo Dừa của ông phát triển mạnh, qua báo chí tui được biết rất nhiều điều kỳ dị và... kỳ quái về ông. Bây giờ, các bạn có thể tìm thấy các thông tin này trên mạng Internet, thí du qua trang Wikipedia.

Gần đây tui tìm thấy một tập sách nhỏ 32 trang do nhà nghiên cứu Huỳnh Minh biên soạn năm 1963 (thuở ông Nguyễn Thành Nam mới thành lập Đạo Dừa) để giới thiệu về ông và đạo của ông. Tập sách này có in lại những dòng viết tay lời giới thiệu của chính ông Nguyễn Thành Nam như sau:

Lời của tu sĩ khổ hạnh
NAM Nguyễn Thành

Đạo Nam được xem qua quyển sách này của đạo tâm Huỳnh Minh lược thuật sự tu khổ hạnh của đạo Nam, trước khi đem ấn tống.
Tuy chưa ghi hết đầy đủ nhưng quyển sách nhỏ này thuật lại không ngoài sự thật.
Đạo Nam lấy làm hoan hỷ.
Niên Quý Mão (1963)
Chợ Lớn, ngày 19/11/1963
(Ký tên)


Phần lược thuật cuốn sách, cũng là giới thiệu những "kỳ tích" trong đời ông Nguyễn Thành Nam như sau:


LƯỢC THUẬT

Thân thế của nhà tu khổ hạnh NGUYỄN THÀNH NAM
(tục gọi là ông ĐẠO DỪA)
  • Mười bảy năm ngồi hành đạo giữa Trời
  • Mười bảy năm ngồi kiết dà không nằm
  • Mười bảy năm ăn toàn rau trái
  • Mười bảy năm không ăn muối ăn đường
  • Mười bảy năm không có tiền bạc trong người
  • Mười ba năm không nói.
  • Mười ba năm không tắm
  • Ba năm thay một bộ đồ
Đã thực hành theo khổ hạnh Đầu Đà


Như ta thấy trong lời giới thiệu của chính ông Nguyễn Thành Nam ở trên, những nội dung này là "không ngoài sự thật".


Tui không bình luận hay nhận định gì thêm, chỉ xin post lên đây toàn bộ quyển sách do ông Huỳnh Minh biên soạn năm 1963 để các bạn đọc cho biết (click vào hình để phóng to cho dễ đọc)



















Phạm Hoài Nhân

Choáng ngợp cây bún 300 tuổi "báu vật độc nhất vô nhị" ở Hà Nội

đăng 07:43, 2 thg 4, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Cứ vào tháng 3 hàng năm, người dân làng Đình Thôn, phường Mỹ Đình 1 (Nam Từ Liêm - Hà Nội) lại có dịp được ngắm cây bún nở hoa rực rỡ, vẻ đẹp của cây khiến ai đi qua cũng phải ngỡ ngàng.

Theo người dân nơi đây, cây bún ước chừng khoảng 300 tuổi, tọa lạc ngay số 183 đường Đình Thôn. Cây có 2 nhánh, 1 nhánh to ngả hướng Đông Bắc có đường kính khoảng hơn 1m, nhánh ngả sang hướng Tây Nam có đường kính nhỏ hơn.

Người dân cho biết, ở đây từng có 2 cây bún, một cây do nằm trong quy hoạch xây dựng của một công ty nên họ đã phá đi. Cây bún hiện tại, do nằm trên vỉa hè nên người dân đã dùng sắt quây xung quanh để bảo vệ cây. 

Ông Lâm (người dân) cho biết: "Cây bún thân thuộc với người dân nhiều thế hệ ở đây, chứng kiến nhiều thăng trầm của làng".

Cây bún là loại cây thân gỗ tán rộng, nở hoa rộ nhất vào tháng 2 âm lịch, sau đó thưa dần, nhưng đến lúc giao mùa sang hạ, mưa ẩm, cây lại bung lộc trổ hoa từng chùm rất bắt mắt. Hoa bún mọc thành từng chùm phía đầu cành, hoa có hai màu trắng và vàng. 

Cây có chiều cao khoảng gần 30 m, đang thời kỳ ra hoa rực rỡ, toàn bộ tán cây vàng rực khiến nhiều người hiếu kỳ. 

Cây bún là điểm dừng chân lý tưởng của nhiều người sau những giờ lao động mệt nhọc.

Về tên cây bún, nhiều người dân trong làng Đình Thôn cho rằng, sở dĩ có tên như vậy vì chùm hoa bún có 2 màu, có chùm mới bung màu trắng, cánh hoa hình 1 con bún lá, có chùm bung màu vàng rực.

Cũng có người cho rằng, sở dĩ gọi tên là bún vì ngày xưa khi đói kém người dân hay cúng lễ, trong đó có bún rồi mang ra gốc cây này để cho những người ăn mày khắp nơi tới ăn. 

Hoa bún mọc thành từng chùm phía đầu cành, nhẹ đu đưa theo gió. 

Nhiều người dân đi qua khu vực này đều dừng lại, chụp một vài tấm ảnh lưu lại khoảnh khắc cây bún ra hoa rực rỡ.

Phi Hùng

1-10 of 29