Con người và sự kiện

Bài mới

  • Phố Cửa Nam: Những bí mật lịch sử Phố Cửa Nam là nơi ghi dấu một sự kiện lịch sử làm chấn động xứ Đông Dương năm 1908 - sự kiện Hà thành đầu độc. Phố Cửa Nam  ...
    Được đăng 01:20, 17 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bí ẩn bức tường đá cổ trên đường Phùng Hưng Quanh bức tường đá trăm tuổi bên đường Phùng Hưng, sự thâm trầm của lịch sử và dòng chảy sôi động của cuộc sống dường như đã hòa quyện để ...
    Được đăng 01:08, 17 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bí mật tên gọi chợ Bắc Qua Hà Nội Dù đã trải qua nửa thế kỷ tồn tại, chợ Bắc Qua vẫn giữ được những nét dân dã đặc sắc, điều mà nhiều khu chợ lâu đời khác của ...
    Được đăng 20:38, 15 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cặp rồng đá 500 tuổi ở điện Kinh Thiên Đôi rồng đá điện Kính Thiên được dựng năm 1467, được đánh giá là di sản kiến trúc tuyệt tác, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Lê Sơ ...
    Được đăng 20:24, 15 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mê đắm vẻ đẹp kỳ vĩ của dòng sông Đuống huyền thoại Sông Đuống hay còn gọi sông Thiên Đức là một dòng sông nổi tiếng ở Việt Nam. Không chỉ xuất hiện trong thơ ca, sông Đuống còn là nguồn cung ...
    Được đăng 20:12, 15 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 26. Xem nội dung khác »

Danh mục


Phố Cửa Nam: Những bí mật lịch sử

đăng 01:20, 17 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Phố Cửa Nam là nơi ghi dấu một sự kiện lịch sử làm chấn động xứ Đông Dương năm 1908 - sự kiện Hà thành đầu độc. 

Phố Cửa Nam là một con phố dài khoảng 240 mét, kéo dài từ đầu phố Phan Bội Châu đến đường Lê Duẩn, thuộc quận Hoàn Kiếm của Hà Nội. Đây là một con phố gắn với nhiều câu chuyện lịch sử đáng nhớ của thủ đô

 

Xưa kia, phố Cửa Nam là đất thôn Yên Trung thượng, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi là Vĩnh Xương) huyện Thọ Xương. Thời thuộc Pháp, phố mang tên là Rue Neyret, từ 1945 chính thức mang tên gọi Cửa Nam.

 

Phố có tên gọi Cửa Nam do nằm gần cửa Đông Nam của thành Thăng Long đời Nguyễn. Vị trí cửa thành này nay là ngã tư đường Trần Phú - Tôn Thất Thiệp

 

Bên ngoài cửa thành, chỗ vườn hoa Cửa Nam ở đầu phía Đông phố Cửa Nam bây giờ từng có Quảng Văn Đình (sau đổi tên là Quảng Minh Đình) là một tòa nhà lớn để dân chúng có thể tự đến đánh trống báo quan lại ra nhận đơn khiếu kiện hoặc nghe các thông cáo từ triều đình

 

Ngày 22/12/1894, một đám cháy lớn đã thiêu trụi 50 căn nhà tranh ở quanh khu Quảng Văn Đình. Sau đó, chính quyền thuộc địa đã ra lệnh cấm làm lại nhà trên khu đất ấy và đã xây dựng nên quảng trường Neyret – vườn hoa Cửa Nam ngày nay

 

Vườn hoa Cửa Nam hồi ấy mang tên Place Neyret nhưng dân ta vẫn quen gọi là vườn hoa "Bà đầm xoè" vì ở đó từ năm 1896-1945 có đặt một bản sao của tượng Nữ Thần Tự Do cao 285 cm. Tượng bị giật đổ năm 1945, đến năm 1952 thì được nấu chảy để đúc pho tượng Phật chùa Thần Quang ở làng Ngũ Xã

 

Phố Cửa Nam cũng là nơi ghi dấu sự kiện Hà thành đầu độc năm 1908. Nhà số 20 phố này vốn là hàng Cơm của vợ chồng ông Sáu Tĩnh, trong thời gian đầu năm 1908 từng là nơi hội họp của những người lãnh đạo chủ chốt cuộc đầu độc lính Pháp nổ ra ngày 27/6/1908, làm chấn động cả xứ Đông Dương

 

Đầu phía Tây của phố Cửa Nam từng có chợ Cửa Nam, một trong những khu chợ lớn và có lịch sử lâu đời nhất của thủ đô Hà Nội. Cho đến thập niên 1990, chợ vẫn là một địa điểm buôn bán nhộn nhịp ở trung tâm thành phố

 

Bước sang thế kỷ 21, chợ Cửa Nam cũ được giải tỏa để nhường chỗ cho một trung tâm thương mại cao tầng. Cái tên Chợ Cửa Nam vẫn được giữ lại để gắn cho công trình mới, nhưng với nhiều người dân Hà Nội, khu chợ dân dã thân thương đã “chết” cùng sự hiện diện của tòa nhà đồ sộ

 

Ngày nay phố Cửa Nam là một tuyến giao thông quan trọng ở của thành phố. Con phố này nối liền ngã sáu chỗ vườn hoa Cửa Nam với ngã năm sát chợ Cửa Nam, rất đông người và xe cộ qua lại cả ngày và đêm

 

Đây cũng là một khu phố buôn bán rất sầm uất của quận Ba Đình với những mặt hàng nổi bật là đồ điện tử và man-nơ-canh...

 

Một số hình ảnh khác về phố cửa Nam

 

 

 

 

 

Bí ẩn bức tường đá cổ trên đường Phùng Hưng

đăng 01:08, 17 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Quanh bức tường đá trăm tuổi bên đường Phùng Hưng, sự thâm trầm của lịch sử và dòng chảy sôi động của cuộc sống dường như đã hòa quyện để tạo nên một không gian độc đáo, mang đậm bản sắc Hà Nội...

Nhắc đến đường Phùng Hưng ở Hà Nội, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến hình ảnh của bức tường xây bằng đá tảng chạy dài hàng km dọc theo tuyến đường này. Phía sau bức tường đó là cả một phần lịch sử của Hà Nội.

 

Ít ai biết rằng, đường Phùng Hưng xưa kia là hào nước của thành Hà Nội. Năm 1893 - 1894 thành bị phá dỡ, hào bị lấp và trở thành đường. Bên con đường ấy, người Pháp dùng đá lấy từ thành Hà Nội để xây cầu dẫn dành cho xe lửa. Thành cầu chính là “bức tường” mà mọi người biết đến

 

Cây cầu trên đường Phùng Hưng xây bằng đá của thành Hà Nội, vị trí lại gần như trùng khớp với tường phía Đông của thành, nên trên một chừng mực nào đó, nó là một dấu tích đặc biệt của tòa thành lịch sử

 

Cây cầu dẫn kéo dài từ cuối đường Phùng Hưng đến tận ga Long Biên. Riêng đoạn trên đường Phùng Hưng dài gần 1 km. Phần phía Nam thấp hơn và bức tường đá được xây liền mạch

 

Phần phía Bắc chia thành 75 nhịp. Mỗi nhịp có một mái vòm được xếp bằng đá tảng theo kiểu múi cam. Phía trên mỗi vòm có đánh số bằng sơn

 

Thời xưa nhiều vòm được mở để làm lối đi lại, sau này bị bịt lại. Ngày nay chỉ còn một vòm duy nhất được mở, đó là vòm số 9, thông ra ngõ Nàng Hương

 

Gần đây, trên các vòm cầu bị bịt ở đầu phố, người ta đã vẽ những bức tranh lớn rất sinh động, khiến đoạn này được gọi là phố bích họa. Trong tương lai gần, 6 vòm ở đây sẽ được đục thông để làm không gian văn hóa

 

Ở đầu phía Nam của cầu dẫn có một cầu thang được mở để người dân đi lên trên cầu

 

Trên mặt cầu, cách một quãng lại có một lan can bằng đá được xây nhô ra để làm nơi tránh tàu cho người qua lại

 

Sau hơn 100 năm tồn tại, bức tường đá của cây cầu dẫn đường sắt vẫn rất vững chắc, hàng ngày chống đỡ cho nhiều chuyến tàu ra vào ga Hà Nội.

 

Nét cổ xưa của các phiến đá được tôn lên bởi các loài cây cỏ dại. Dù vậy, cây cầu không mang vẻ lạnh lẽo và cô quạnh thường thấy ở các công trình bằng đá

 

Sinh hoạt đời thường của người dân gắn với cây cầu khiến khung cảnh trở nên sống động và ấm cúng

 

Ở nơi đây sự thâm trầm của lịch sử và dòng chảy sôi động của cuộc sống dường như đã hòa quyện để tạo nên một không gian độc đáo, mang đậm bản sắc Hà Nội... 

Bí mật tên gọi chợ Bắc Qua Hà Nội

đăng 20:38, 15 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Dù đã trải qua nửa thế kỷ tồn tại, chợ Bắc Qua vẫn giữ được những nét dân dã đặc sắc, điều mà nhiều khu chợ lâu đời khác của thủ đô đã để mất theo sự đổi thay của thời cuộc...

Nằm phía sau chợ Đồng Xuân – khu chợ lâu đời và nổi tiếng bậc nhất Hà Nội, chợ Bắc Qua là một khu chợ có lịch sử khá thú vị mà không phải ai cũng biết.

 

Đây vốn là một khu chợ tạm được hình thành vào khoảng thập niên 1960, ban đầu chỉ là khu đất trống dành cho những người nông dân từ bờ Bắc sông Hồng qua bán rau quả rồi dần dần trở nên sầm uất.

 

Như vậy, tên gọi “Bắc Qua” có hai yếu tố, “Bắc” là chỉ địa điểm bờ Bắc sông Hồng, còn “Qua” là chỉ luồng vận chuyển hàng hóa từ bờ Bắc qua bờ Nam của sông

 

Do chợ Bắc Qua “dính liền” với chợ Đồng Xuân nên người Hà Nội thường gọi cả hai chợ là bằng cái tên chung là chợ Đồng Xuân – Bắc Qua.

 

Ngày nay, chợ Bắc Qua họp chủ yếu trên hai tuyến phố, là phố Nguyễn Thiện Thuật giới hạn bởi mặt sau chợ Đồng Xuân và phố Cao Thắng. Hai con phố này cũng bán những mặt hàng đặc trưng, làm nên thương hiệu của chợ Bắc Qua

 

Khu chợ trên phố Nguyễn Thiện Thuật chủ yếu bán mặt hàng khô như tôm, cá, măng, nấm khô, hạt sen... và gia vị các loại. 

 

Do không gian khá hạn hẹp, các quầy hàng ở phố Nguyễn Thiện Thuật được bày tràn xuống cả mặt đường

 

Phố Cao Thắng thì ngược lại, bán các loại nông sản tươi như rau, củ, quả...

 

Hàng hóa trên phố Cao Thắng được bày tràn ngập hết phần vỉa hè khá rộng bên dãy số lẻ của phố này.

 

Nơi giao cắt giữa phố Cao Thắng và phố Nguyễn Thiện Thuật tập trung nhiều gánh hàng hoa và quả tươi được dựng trên xe đạp

 

Do chợ Bắc Qua họp trên các trục đường sầm uất, người đi chợ có thể mua hàng khi vẫn ngồi trên xe máy. Đây là một điểm độc đáo của khu chợ này.

 

Chợ họp từ sáng sớm cho tới chiều tối. Do nằm ở trung tâm phố cổ Hà Nội, chợ Bắc Qua là một địa điểm thu hút khá đông du khách tới tham quan

 

Tới khu chợ này, khách phương xa sẽ không khỏi choáng ngợp trước bầu không khí vô cùng sôi động, sắc màu rực rỡ của vô số chủng loại hàng hóa... 

 

...Cùng những mùi hương đặc trưng của các loại đồ khô hay nông sản.

 

Dù đã trải qua nửa thế kỷ tồn tại, chợ Bắc Qua vẫn giữ được những nét dân dã đặc sắc, điều mà nhiều khu chợ lâu đời khác của thủ đô đã để mất theo sự đổi thay của thời cuộc... 

 

Một số hình ảnh khác về chợ Bắc Qua.

 

 

 

 

Cặp rồng đá 500 tuổi ở điện Kinh Thiên

đăng 20:24, 15 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đôi rồng đá điện Kính Thiên được dựng năm 1467, được đánh giá là di sản kiến trúc tuyệt tác, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Lê Sơ.

Là nơi vua thiết triều và đưa ra những quyết sách cho cả dân tộc, điện Kính Thiên từng là cung điện quan trọng nhất ở Hoàng thành Thăng Long. Dấu tích đáng kể nhất còn lại đến ngày nay của cung điện này là cặp rồng đá nguyên khối chầu hai bên lối lên thềm trước điện

 

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, đôi rồng đá điện Kính Thiên được dựng năm 1467, thuộc dòng rồng đế vương có năm móng, biểu tượng cho quyền lực của nhà vua. Đây được đánh giá là di sản kiến trúc tuyệt tác, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Lê Sơ

 

Về tổng thể, rồng có thân uốn 7 khúc, dài 5,3 mét, có mình trơn, không vảy, một đặc trưng của rồng thời Lê

 

Đầu rồng nổi bật với những nét chạm tinh xảo, thể hiện được sự oai hùng, mạnh mẽ. Đôi mắt rồng lồi hẳn ra ngoài, chiếc mũi gồ cao đầy uy lực

 

Bộ ria rồng được chạm như hòa cùng vân mây với những đường nét đủ mềm mại nhưng vẫn rất khỏe khoắn.

 

Đôi sừng nhọn khép lại đằng sau theo tư thế đầu rồng ngẩng lên chầu vua. Với tư thế này, đôi sừng, biểu tượng của sức mạnh, không dương ra như ở tư thế chiến đấu thường thấy ở các loài vật có sừng, mà trở nên dáng vẻ thần phục trước mặt nhà vua

 

Bờm trên của đầu rồng được vuốt dài, uốn lượn về phía sau như đang bay trong gió

 

Ngay phía dưới đầu rồng là cặp móng chân trước của rồng. Tương tự đôi sừng, đôi móng rồng được sắp xếp theo hướng quặp lại, đan vào nhau trong tư thế chầu vua

 

Các bộ móng này và những bộ móng chân sau đều nổi bật với 5 móng. Đây chính là biểu tượng của rồng đế vương

 

Những nét chạm trên toàn bộ thân mình rồng làm nổi bật cơ bắp cuồn cuộn khoẻ mạnh, đặc biệt là ở phần chân – biểu tượng của sức bật mạnh mẽ

 

Phần vây rồng đá được tạo tác suốt từ đầu tới tận chóp đuôi, vừa dựng đứng khỏe mạnh, vừa vuốt nhọn dần lên đỉnh và lướt về phía sau tương đối mềm mại

 

Nếu nhà vua đi từ dưới lên, hình ảnh đôi rồng đổ mình phủ phục từ trên cao xuống như đang bái phục nhà vua. Nhìn từ trên điện Kính Thiên xuống, vẫn hình dáng đôi rồng phủ phục, nhưng dáng vẻ lại như đang sẵn sàng chờ lệnh vua ban.

 

Hai bên cặp rồng đá là hai bệ đá nguyên khối chạm hình mây rất tinh xảo

 

Hình tượng mây cũng được chạm ở dưới bệ đỡ rồng

 

Với sự kết hợp của hình tượng mây – rồng, từ trên điện vua có thể thấy rõ hình ảnh mây cuồn cuộn chạy dài như nâng đỡ thân rồng, tạo cảm giác vua đang ngự trên mây – tư thế của một vị Thiên tử... (Bài có sử dụng tư liệu của tác giả Nguyễn Tào/ TT Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội).

Mê đắm vẻ đẹp kỳ vĩ của dòng sông Đuống huyền thoại

đăng 20:12, 15 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Sông Đuống hay còn gọi sông Thiên Đức là một dòng sông nổi tiếng ở Việt Nam. Không chỉ xuất hiện trong thơ ca, sông Đuống còn là nguồn cung cấp nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt, nguồn nước sông Đuống được dùng để sản xuất nước sạch sinh hoạt.

Là một trong những dòng sông nổi tiếng nhất Việt Nam, sông Đuống còn có tên gọi khác là sông Thiên Đức với chiều dài 68 km, nối sông Hồng với sông Thái Bình.

 

Trong suốt hàng trăm năm, dòng sông Đuống kỳ vĩ vừa là đường giao thông đường thủy vừa là nguồn cung cấp nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủy lợi. 

 

Sông Đuống gắn liền với hình ảnh Vua Lý Thánh Tông thường cưỡi thuyền rồng đi lại trên sông rồi xuôi dòng về quê ngoại (ở xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) và đến kinh thành Thăng Long

 

Với vai trò quan trọng như vậy, nhiều đời vua trong lịch sử phong kiến Việt Nam chú trọng việc nạo vét, khơi thông dòng chảy của sông Đuống

 

Nhờ vậy, kinh tế ở những làng xã dọc sông Đuống phát triển. Người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc

 

Thêm nữa, sông Đuống là chủ đề của nhiều sáng tác thơ ca. Trong số này, nổi tiếng nhất có lẽ là bài thơ "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm

 

Trong bài thơ này, dòng sông Đuống hiện lên một cách thơ mộng, gắn liền với ký ức tuổi thơ của bao thế hệ người Việt

 

Sông Đuống hiền hòa, kỳ vĩ đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân. Nhiều người con đi xa quê luôn nhớ về dòng sông này.

 

Ngày nay, sông Đuống vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân khi nguồn nước của dòng sông này được Nhà máy Nước mặt Sông Đuống khai thác và xử lý thành nước sạch sinh hoạt

 

Nguồn nước sạch cho sinh hoạt được khai thác từ sông Đuống cung cấp cho một số quận nội thành, khu vực trung tâm của Hà Nội

Khu di tích Nguyễn Du lên phim

đăng 20:43, 3 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Khu di tích quốc gia đặc biệt Nguyễn Du có không gian văn hóa nhà vườn, là bối cảnh của phim tài liệu về đại thi hào Nguyễn Du. 


Khu di tích quốc gia đặc biệt Nguyễn Du có diện tích hơn 4 ha, nằm bên quốc lộ 8B, thuộc xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, cách thành phố Hà Tĩnh 50 km.

Theo gia phả dòng họ Nguyễn Tiên Điền, Tiên Điền vốn là vùng bãi bồi của sông Cả (sông Lam ngày nay), dân cư thưa thớt. Ông tổ của dòng họ Nguyễn Tiên Điền là Nguyễn Nhiệm di cư từ Hà Tây vào khai phá vùng đất này vào khoảng cuối thế kỷ 16. Hàng trăm năm sau, khi những hậu duệ của Nguyễn Nhiệm là Nguyễn Nghiễm (thân sinh Nguyễn Du) làm đến chức tể tướng trong triều đình, khu bãi bồi xưa kia trở thành một vùng trù phú, nơi đặt cội nguồn của gia tộc.

Trên 400 năm, họ Nguyễn sống ở xã Tiên Điền, con cháu đã xây dựng một số đền, chùa, văn bia, cầu cống, đình làng… Đến nay phần lớn đã trở thành phế tích.

Năm 1962, khi thành lập khu di tích, nhà chức trách đã cho phục dựng, làm mới nhiều công trình. Trước sân khu lưu niệm có bức tượng Nguyễn Du cao 1,5m làm bằng đồng, khăn đóng áo dài, tay cầm bút lông, đặt trên bệ tượng cao 2,5m, toát lên thần thái nho nhã của ông. 

Phía sau là khu nhà tiếp khách, bảo tàng, lưu giữ hơn 1.000 hiện vật, tư liệu về Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền như: các bản Kiều Nôm cổ, nghiên mực, chén uống trà, móc treo mũ áo, chiếc đĩa Mai Hạt - kỷ vật của Nguyễn Du trong chuyến đi sứ Trung Quốc... 


Từ ngày 15 đến 25/10, đoàn làm phim tài liệu nghệ thuật "Đại thi hào Nguyễn Du" đã về đây quay các phân cảnh. Phim nói về cuộc đời Nguyễn Du, kinh phí 15 tỷ đồng, được thực hiện theo nguồn xã hội hóa, dự kiến công chiếu vào tháng 9/2020, dịp đại lễ kỷ niệm 200 năm ngày mất của ông. 


Nhiều ngôi nhà vách nứa, lợp lá cọ được dựng mới, xung quanh đặt nhiều chum nước để phục vụ cho các cảnh quay cổ trang. 


Giếng nước được xây phục vụ cho các phân cảnh sinh hoạt nấu ăn, giặt quần áo... Trong ảnh, diễn viên Hoàng Phượng đóng vai bà Trần Thị Tần (mẹ Nguyễn Du) thực hiện một cảnh quay với con trai ngày bé. 


Các ngôi nhà vách đất được dựng mới. Đây là nơi quay thước phim Nguyễn Du ở, trổ tài sáng tác thi ca. Ban quản lý cho hay, khi kết thúc bấm máy, những ngôi nhà này sẽ được giữ lại để phục vụ du lịch. 


Ngoài các ngôi nhà tự dựng, các ngôi đình, nhà cổ có lịch sử hàng trăm năm nằm trong khuôn viên cũng được chọn làm bối cảnh.

Trong ảnh là đình Chợ Trổ, các cột trụ làm bằng gỗ lim và mít. Năm 1962, chính quyền đã dời ngôi đình này từ xã Đức Nhân (huyện Đức Thọ) đem về dựng lại. 

Nhà Bình Văn được xây dựng năm 1836, được đoàn phim chọn quay cảnh sinh hoạt, đàm đạo văn chương của các nhà nho. Gần đó, nhà Văn Thánh mang dáng dấp kiến trúc cổ của cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, là nơi thờ Khổng Tử và các vị tiên hiền nho sinh. 


Các lối đi được lát gạch, hai bên có nhiều hàng cây xà cừ cổ thụ, trồng năm 1960. 


Trước khu di tích là quảng trường Nguyễn Du rộng 4.600 m2, đang trong thời gian hoàn thiện một số hạng mục cơ bản. Tỉnh Hà Tĩnh dự kiến chi gần 40 tỷ đồng để chỉnh trang, hoàn thiện, để nơi đây thành trung tâm, văn hóa du lịch trọng điểm của cả nước.


Ông Hồ Bách Khoa, Trưởng ban quản lý khu di tích quốc gia đặc biệt Nguyễn Du cho biết, mỗi năm đơn vị đón hàng vạn du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, nghiên cứu tư liệu. "Không gian văn hóa nhà vườn ở đây rất yên tĩnh, chưa bị phá vỡ bởi các công trình kiến trúc hiện đại, nên được nhiều người yêu thích", ông Khoa nói.

Nguyễn Du, hiệu Tố Như (1765-1820) quê xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, sống vào cuối nhà Lê đầu nhà Nguyễn, là nhà thơ lớn của Việt Nam được người Việt kính trọng gọi là "Đại thi hào dân tộc". Ông có ba tập tác phẩm chữ Hán là Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục. Về văn thơ Nôm, Nguyễn Du sử dụng tài tình hai thể thơ dân tộc là lục bát và song thất lục bát. Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) là tác phẩm truyện Nôm nổi tiếng nhất của ông. 

Đức Hùng

Cây thông khổng lồ làm từ 2.100 nón lá, cao gần 30m ở Biên Hòa

đăng 03:19, 30 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cây thông khổng lồ 3 tầng, cao gần 30m được làm từ 2.100 nón lá, đèn điện lung linh thu hút hàng ngàn bạn trẻ đến check in mỗi đêm thời gian gần đây.

Cây thông khổng lồ được làm từ 2.100 nón lá, cao 29m là một trong những điểm đến ưa thích của các bạn trẻ trong dịp lễ Giáng sinh 2019 - Ảnh: A LỘC


Đồng Nai với hơn 1 triệu giáo dân, sinh hoạt tại 272 giáo xứ và 15 cơ sở chờ lên giáo xứ, là địa phương đông giáo dân nhất cả nước.

Mỗi mùa lễ Giáng sinh, các giáo xứ trên địa bàn trang trí bằng hàng ngàn bóng đèn điện, đèn LED, mô hình hang động… rực rỡ, thu hút đông đảo đồng bào Công giáo đến dự lễ, cầu nguyện một mùa Giáng sinh an lành, hạnh phúc.

Trong không khí lễ Giáng sinh 2019, hàng ngàn người dân Đồng Nai ùn ùn kéo đến giáo họ Hà Phát (phường Tân Biên, TP Biên Hòa) chiêm ngưỡng, "check in" với cây thông khổng lồ vươn cao giữa trung tâm thành phố.

Mái vòm rộng gần 10m, được trang trí các dây đèn rực rỡ bắt mắt - Ảnh: A LỘC


Để dựng lên cây thông độc đáo này, bà con giáo dân huy động người mua nón lá từ nhiều nơi trong hơn 2 tháng, sơn phết chất liệu bảo quản, đấu nối bóng đèn rồi dùng cẩu nâng lên ghép lại.

Đây là năm thứ 2 liên tiếp giáo họ Hà Phát xây dựng mô hình cây thông từ nón lá. Mỗi đêm, địa điểm này thu hút hơn 5.000 người đến thăm quan, vui chơi và chụp ảnh lưu niệm.

Trong khi đó, con đường chạy dọc khu Hố Nai (TP Biên Hòa) dài chừng 5km có đến hàng chục giáo xứ, nhà thờ lớn nhỏ được xem là nơi nơi có tỉ lệ giáo dân đông nhất Đồng Nai. Không chỉ các giáo xứ mà các cửa hàng, trung tâm thương mại, nhà dân, ngỏ hẻm cũng được thắp sáng, trang trí lung linh màu sắc.

Giáo xứ Trung Nghĩa là một trong những nơi trang trí đơn giản mà đẹp mắt - Ảnh: A LỘC


So với các năm trước, mặc dù không khí đón Giáng sinh vẫn náo nhiệt nhưng qua ghi nhận, việc tổ chức trang hoàng của các nhà thờ, giáo xứ trên địa bàn có phần nhẹ nhàng, ít tốn kém hơn.

"Mấy hôm nay em đã đi nhiều nơi, so với mọi năm tuy số lượng đèn hoa ít hơn, em thấy một số giáo xứ trang hoàng rất cầu kỳ, đẹp mắt và chất lượng hơn hẳn so với năm trước, thu hút rất đông bạn trẻ đến chiêm ngưỡng, vui chơi", Thủy Tiên (ngụ TP Biên Hòa) chia sẻ.

Mỗi đêm, địa điểm này thu hút hàng ngàn bạn trẻ đến check in, vui chơi - Ảnh: A LỘC


Con đường dẫn vào giáo xứ Lộ Đức (TP Biên Hòa) ngập tràn ánh đèn - Ảnh: A LỘC


Mô hình hang động được trang trí tinh tế - Ảnh: A LỘC


Đồng bào Công giáo đọc kinh trước một mô hình hang động cầu kỳ đầy màu sắc - Ảnh: A LỘC


Một số mô hình đẹp như tranh bên trong một giáo xứ - Ảnh: A LỘC


Giáo xứ Hà Nội với nhiều tiết mục văn nghệ hoành tráng được chuẩn bị công phu để phục vụ đồng bào Công giáo dịp lễ Giáng sinh - Ảnh: A LỘC


“Ông già Noel” phát bánh kẹo cho các em thiếu nhi đi chơi lễ - Ảnh: A LỘC


Nhóm bạn trẻ vui vẻ chụp ảnh lưu niệm trong dịp lễ Giáng sinh - Ảnh: A LỘC


Lễ Giáng sinh ở Việt Nam là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Trong đêm Giáng sinh, trẻ em háo hức chờ sự xuất hiện của ông già Noel, gia đình bè bạn rủ nhau hội hè, yến tiệc, hát karaoke... và cầu chúc nhau an lành, hạnh phúc - Ảnh: A LỘC


A LỘC

Phố Hàng Bè: Không phải bán bè như bạn nghĩ

đăng 20:12, 28 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tên gọi phố Hàng Bè ở Hà Nội có một lịch sử khá phức tạp. Con phố này xưa kia không hề bán "bè" như nhiều người lầm tưởng khi suy diễn từ tên gọi của phố.

Phố Hàng Bè là con phố dài khoảng 170 mét, kéo dài từ phố Hàng Mắm đến ngã tư phố Hàng Dầu - Cầu Gỗ, phía Đông Nam khu phố cổ Hà Nội. Đây nguyên là đất thôn Nam Hoa, tổng Hữu Túc, đến giữa thế kỷ 19 đổi tên là thôn Nam Phố và tổng Đông Thọ, huyện Thọ Xương cũ.

 

Tên gọi phố Hàng Bè có một lịch sử khá phức tạp. Theo đó, trước kia đầu phố ở gần cửa ô Mỹ Lộc, giáp bờ sông Hồng và đất Hàng Bè vốn là một khúc của con đê cũ. 

 

Khi dòng chảy còn ở sát chân đê thì các bè gỗ, nứa, tre, song, mây, lá gồi từ miền ngược xuôi về thường áp vào đây để đem lên chợ tiêu thụ, thành ra khúc đê này có tên Hàng Bè, chợ trên đê là chợ Hàng Bè.

 

Khi cát bồi đưa lòng sông ra xa, bè mảng không áp sát vào chân đê được nữa thì phố này trở thành nơi buôn bán cau, nên phố Hàng Bè thời đó còn có tên là phố Hàng Cau

 

Sau đó người dân đã đắp một con đê mới cách xa đê cũ và gọi là Bè Thượng. Sau khi người Pháp chiếm Hà Nội họ gọi đoạn đê mới là rue de Digue” (phố trên đê), tức đường Nguyễn Hữu Huân ngày nay, còn phố Hàng Bè/ Hàng Cau là due des Radeaux, nghĩa là phố của những cái bè.

 

Như vậy tên gọi Hàng Bè không phản ánh loại hàng hóa đặc trưng trên phố như cách đặt tên của các phố “Hàng” khác ở phố cổ mà dựa trên loại phương tiện di chuyển gắn với cư dân ở địa phương. Còn mặt hàng phổ biến trên phố thời đó là cau

 

Năm 1920 phố Hàng Bè đổi tên thành phố Hu-lê (rue Hulet), năm 1945 lấy lại tên cũ là phố Hàng Bè cho đến nay



 

Vào những năm 1920 – 1930, đa số nhà dân ở Hàng Bè đều là cửa hàng bán cau tươi, cau khô. Ngoài ra, đoạn gần ngã tư Cầu Gỗ có một dãy nhà chuyên bán sơn và một vài nhà chuyên bán đồ khô.

 

Chợ Hàng Bè ban đầu nằm gần bến sông. Khi con đê mới được xây thì bến sông dời ra xa, chợ nằm giữa phố Hàng Bè và không còn bóng dáng của những con bè nữa. Theo thời gian diện tích chợ đã mở rộng dần tới phố Gia Ngư, ngõ Cầu Gỗ trước khi bị giải tòa cách đây ít năm.

 

Ngày nay, phố Hàng Bè chỉ còn lưu giữ được chút ít dáng dấp xưa, thể hiện qua một số ngôi nhà mang nét kiến trúc của đầu thế kỷ 20

 

Các cửa hàng cau tươi, cau khô nức tiếng một thời đã chuyển thành những cửa hàng bán quần áo, giày dép, thực phẩm…

 

Do nằm gần hồ Gươm, các ngành kinh doanh phục vụ du lịch đã bùng nổ mạnh mẽ trên phố Hàng Bè từ thập niên 1990. Trên phố giờ đây có rất nhiều văn phòng công ty du lịch, khách sạn, phòng tranh, cửa hàng lưu niệm... phục vụ du khách quốc tế


Một số hình ảnh khác về phố Hàng Bè


Một số hình ảnh khác về phố Hàng Bè


 


 

 

Phố Lò Rèn: Dấu tích của nghề rèn truyền thống

đăng 19:48, 28 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Những dấu tích của nghề rèn truyền thống ở phố Lò Rèn cũng mong manh như số phận của nghề này giữa 36 phố phường Hà Nội thế kỷ 21. Khi ngọn lửa cuối cùng tắt đi, tên gọi Lò Rèn sẽ chỉ còn là hoài niệm về một Hà Nội cũ...

Phố Lò Rèn là con phố dài khoảng 130m, đi từ ngã tư Hàng Cá—Thuốc Bắc, cắt ngang Hàng Đồng và kết thúc tại ngã ba Hàng Gà ở khu phố cổ Hà Nội. Đây nguyên là đất thôn Tân Khai thuộc tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương cũ.

 

Xưa kia, phố mang tên là Hàng Bừa hoặc Hàng Cuốc. Nguyên là từ cuối thế kỷ 19, một số thợ rèn người làng Hòe Thị (nay thuộc xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội) đã ra đây mở lò rèn, làm nghề

 

Làng Hòe Thị vốn có nghề rèn từ lâu đời. Họ ra Thăng Long quây quần ở phố này, rèn nông cụ và các hàng dân dụng. Vì bừa là thứ hàng cồng kềnh, phải bày ra vỉa hè la liệt, do đó mà thành tên phố Hàng Bừa

 

Tới đầu thế kỷ 20, do nhu cầu của việc xây dựng nhà cửa kiểu mới, phố này chuyển sang làm những mặt hàng mới như bu-lông, cửa xếp bằng sắt, cổng sắt hoa... Do không còn bán bừa nữa nên tên phố chuyển thành Lò Rèn

 

Trên bản đồ hành chính, người Pháp gọi phố này là rue des Forgerons, nghĩa là phố Thợ Rèn. Tên gọi phố Lò Rèn chính thức được sử dụng từ 1945 đến nay

 

Cùng với sự hưng thịnh của nghể rèn, nghề buôn sắt cũng nở rộ trên phố vào thập niên 1930 - 1950, với sự hiện diện của các hiệu buôn sắt lớn bậc nhất Hà Nội thời đó

 

Ngày nay, ngành sản xuất chính trên phố Lò Rèn là chế tác đồ sắt và inox, với nhiều xưởng hoạt động dọc phố

 

Sản phẩm bày bán của nhiều cửa hàng trên phố Lò Rèn gần giống như phố Hàng Thiếc, con phố chuyên nghề kim loại ở gần đó

 

Đoạn phố Lò Rèn cạnh nơi giao phố Thuốc Bắc thì có các hàng bán đồ cơ khí, sản phẩm đặc trưng của phố Thuốc Bắc

 

Như vậy, nhìn thoáng qua thì dường như phố Lò Rèn không có bản sắc gì riêng biệt mà chịu ảnh hưởng từ những ngành hàng ở các phố lân cận. Điều đã làm nên tên gọi phố Lò Rèn liệu có còn không?

 

Và câu trả lời là: Có. Hãy đến với số nhà 26 Lò Rèn. Đây chính là nơi lò rèn duy nhất trên con phố này còn đỏ lửa

 

Tại lò rèn này, người thợ rèn duy nhất còn giữ nghề của phố - ông Nguyễn Phương Hùng – vẫn cặm cụi thắp lửa, quai búa mỗi ngày để làm ra những vật dụng hữu ích, và cũng là để giữ cho tên phố còn nguyên ý nghĩa

 

Ngoài lò rèn ở số nhà 26, còn một địa điểm khác gợi nhắc đến nghề rèn xưa. Đó là đình thờ tổ nghề rèn nằm ở số 1 Lò Rèn. Gọi là ngôi đình nhưng đây chỉ là một gian thờ nhỏ nằm khuất nẻo ở tầng hai của ngôi nhà mà không nhiều người để ý khi đi ngang qua

 

Có thể nói, những dấu tích của nghề rèn truyền thống ở phố Lò Rèn cũng mong manh như số phận của nghề này giữa 36 phố phường Hà Nội thế kỷ 21. Khi ngọn lửa cuối cùng tắt đi, tên gọi Lò Rèn sẽ chỉ còn là hoài niệm về một Hà Nội cũ... 


Quốc Lê
Kienthuc.net.vn - 04/11/2019

Phố Hàng Đào: Con đường tơ lụa

đăng 06:04, 26 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Thời Pháp thuộc, phố Hàng Đào mang tên là Rue de la Soie - phố Tơ Lụa. Sau hàng thế kỷ, truyền thống bán vải vóc, đồ may mặc trên phố vẫn được lưu giữ...

Nằm trên trục chính của phố cổ, tiếp giáp với bờ phía Bắc hồ Hoàn Kiếm, phố Hàng Đào là một con phố có vị thế đặc biệt của khu phố cổ Hà Nội.

 

Phố mang tên gọi Hàng Đào bởi xưa kia các cửa hiệu trên phố chuyên bán các loại vải nhuộm hồng, nhuộm đỏ cùng những màu khác xen lẫn. Thời Pháp thuộc, phố mang tên là Rue de la Soie (phố Tơ Lụa).

 

Theo sử cũ, từ thế kỷ 15, 16 người dân ở nhiều nơi, đặc biệt từ Đan Loan Hải Dương đã tới Hà Nội đã lập nên phường Đại Lợi chuyên nghề nhuộm tơ lụa. Hàng Đào lúc bấy giờ trở thành một trung tâm tơ lụa sầm uất của kinh thành Thăng Long

 

Về sau này nghề nhuộm màu chuyển dần sang phố Cầu Gỗ, Hàng Đào trở thành phố chuyên bán các loại hàng tấm tơ lụa, lượt, là, đũi, sa, xuyến…

 

Thập niên 1929 - 1930, vải Tây thắng thế, quá nửa phố chuyên bán loại hàng này, khiến hàng truyền thống vắng hẳn. Các cửa hàng bán đồ dùng sang trọng của Pháp cũng xuất hiện khắp các con phố với các mặt hàng như nước hoa, mỹ phẩm, đồng hồ...

 

Trên con phố Hàng Đào từng có nhiều đình, đền, miếu cổ... nhưng phần lớn chỉ còn dấu tích mờ nhạt hoặc đã mất hẳn do sự thay đổi diện mạo đô thị.

 

Di tích lịch sử quan trọng nhất trên phố là đình Đồng Lạc ở sổ 38. Ngôi đình có lịch sử hình thành từ thế kỷ 17, được xây lại năm 1941, là một di sản kiến trúc được bảo tồn đặc biệt của phố cổ Hà Nội.

 

Nhà số 10 phố Hàng Đào là một di tích đáng chú ý khác. Ngôi nhà này vào năm 1907 là trụ sở của trường Đông Kinh Nghĩa Thục, nơi khởi nguồn phong trào yêu nước gây được tiếng vang lớn thời Pháp thuộc.

 

Ngày nay diện mạo của phố Hàng Đào đã thay đổi nhiều, nhưng những đường nét kiến trúc có từ đầu thế kỷ 20 vẫn được lưu giữ ở nhiều ngôi nhà

 

Nằm ở vị trí rất đắc địa ở trung tâm Hà Nội, phố vẫn đóng vai trò là một trung tâm buôn bán sầm uất, đông đúc bậc nhất thủ đô

 

Truyền thống bán vải vóc, đồ may mặc trên phố Hàng Đào vẫn được lưu giữ sau hàng thế kỷ. Ngoài ra, con phố này cũng được biết đến với các cửa hàng bán đồ lưu niệm, hàng tiêu dùng cao cấp như kim hoàn, đồng hồ…

 

Một số hình ảnh khác về phố Hàng Đào

 

 

1-10 of 26