Con người và sự kiện

Bài mới

  • Con đường biến Sài Gòn xưa thành đô thị bậc nhất Làm bằng công nghệ Mỹ, dài, đẹp nhất Việt Nam 60 năm trước, Xa lộ Biên Hoà từng bị nhầm tưởng là đường băng dự phòng cho máy bay khi ...
    Được đăng 19:28, 20 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuyện chưa kể về Anh hùng A Meh Ngọn đồi là rừng xà nu, nơi ông A Meh (Đinh Môn) đi về trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Ông là nguyên mẫu cụ A Mét ...
    Được đăng 04:42, 10 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Công viên Lê Văn Tám - nghĩa trang của người giàu Sài Gòn xưa Từng là nghĩa trang dành cho lính Pháp, sau đó là của giới thượng lưu, đến năm 1983 nơi đây trở thành công viên Lê Văn Tám ở trung tâm ...
    Được đăng 04:46, 8 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hai công viên ở trung tâm Sài Gòn từng là nghĩa trang lớn Công viên Lê Thị Riêng và Lê Văn Tám trước năm 1975 là nghĩa trang lớn, một dành cho giới thượng lưu, một là nơi chôn cất tầng lớp bình ...
    Được đăng 04:40, 8 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • San hô hóa thạch hình bông hồng ở đảo Lý Sơn "Nghĩa địa san hô" hóa thạch niên đại 6.000 năm ở huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) được cho là độc đáo không chỉ ở Việt Nam mà trên ...
    Được đăng 02:12, 7 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 17. Xem nội dung khác »


Con đường biến Sài Gòn xưa thành đô thị bậc nhất

đăng 19:28, 20 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Làm bằng công nghệ Mỹ, dài, đẹp nhất Việt Nam 60 năm trước, Xa lộ Biên Hoà từng bị nhầm tưởng là đường băng dự phòng cho máy bay khi Tân Sơn Nhất bị phá hủy.

TP HCM hiện có hàng trăm tuyến đường hiện đại, rộng rãi cho hàng triệu người đi lại. Để kết nối với các vùng kinh tế trọng điểm khác, thành phố có nhiều tuyến ở cửa ngõ như đại lộ Đông Tây, cao tốc Long Thành - Dầu Giây, Trung Lương, quốc lột 13, 22...

Nhưng 60 năm trước, Sài Gòn chỉ phát triển nội đô, những con đường ngắn phục vụ đi lại. Các khu sản xuất tập trung ở Tân Bình, Chợ Lớn... không đáp ứng được nhu cầu phát triển "nóng" lên từng ngày của đô thị. Mọi chuyện thay đổi khi người Mỹ cho thi công xa lộ Biên Hòa (tức xa lộ Hà Nội ngày nay).

Xa lộ Biên Hòa xưa và xa lộ Hà Nội nay. Ảnh: Life


Dài 31 km và rộng 21 m, xa lộ bắt đầu từ cầu Điện Biên Phủ (quận Bình Thạnh) và kết thúc tại ngã tư Tam Hiệp, Biên Hoà (Đồng Nai). Con đường khởi công từ năm 1959 đến ngày 28/04/1961 thì hoàn thành với tên gọi Xa lộ Biên Hòa.

Toàn bộ chi phí do Mỹ viện trợ, việc thi công do nhà thầu RMK-BRJ phụ trách. Đơn vị này đặt đại bản doanh tại một ngã tư trên xa lộ, người dân sau này quen gọi thành ngã tư RMK (quận 9).

Sự ra đời của nó gây nhiều bàn tán thời đó. Bởi xưa nay người dân chưa thấy con đường rộng, phẳng phiu như xa lộ Biên Hòa.

Sở dĩ xe chạy trên xa lộ êm, không xóc như các tuyến đường khác vì được thi công bằng kỹ thuật mới nhất của Mỹ - đổ nhựa bằng máy có chiều ngang rộng và đổ cùng một lúc nên bằng phẳng.

Trên xa lộ được gắn đèn cao áp thủy ngân, đêm đèn tự bật sáng, ngày tự tắt. Người dân lúc đó rất thích thú vì chạy xe đèn đường sáng trưng chứ không tù mù như ngọn đèn vàng trong thành phố gắn thời Pháp.

Điều đặc biệt trên tuyến xa lộ này là cây cầu Sài Gòn dài 986 m. Cầu làm với kỹ thuật mới nên khác với các cầu bằng sắt, lót ván, thời đó mà mỗi khi xe đi qua phải đi chậm vì hẹp và kêu lọc cọc. Cầu mới cũng đổ bêtông như mặt xa lộ, xe chạy qua không phải giảm tốc độ.

Thi công cầu Sài Gòn năm 1960, một trong những hạng mục của Xa lộ Biên Hòa. Ảnh: Flickr


Việc thực hiện con đường dài, đẹp và hiện đại nhất miền Nam lúc đó nhưng chạy qua khu heo hút, toàn đồng lúa rồi dừng ở Biên Hòa khiến nhiều người thắc mắc. Có ý kiến cho rằng người Mỹ làm con đường rộng rãi, phẳng phiu như thế để cho phi cơ đáp xuống, phòng khi sân bay Tân Sơn Nhất bị phá hủy.

Nhưng người đã từng du học ở Pháp, Mỹ thì giải thích rằng đây là con đường nối liền khu dân cư tại Sài Gòn với khu công nghiệp tại Biên Hòa. Họ kể ở phương Tây, khu công nghiệp và dân cư được quy hoạch cách xa nhau rồi kết nối bằng xa lộ. Dần dần, người dân xây nhà cửa hai bên xa lộ khiến hai khu vực biến thành một thành phố chung.

Theo kế hoạch của chính quyền Sài Gòn cũ, họ thành lập khu công nghiệp tại vùng Biên Hòa. Sài Gòn chỉ có nhiệm vụ trung tâm thương mại, khu dân cư tiêu thụ hàng hóa sản xuất từ khu công nghiệp. Những người sống tại Sài Gòn đi làm tại khu công nghiệp Biên Hòa sẽ có con đường xa lộ đi lại cho nhanh.

Ngày nay, kế hoạch đó đã thành hiện thực khi nhiều người sống tại Sài Gòn đi làm tại khu công nghiệp Đồng Nai thông qua xa lộ Hà Nội. Nhà cửa hai bên ngày càng xây san sát, hiện đại.

Xa lộ Biên Hòa ra đời đã đẩy Sài Gòn phát triển mạnh về hướng đông như hiện nay. Các vùng, khu công nghiệp mọc lên dọc theo tuyến đường ở Thủ Đức, Biên Hòa với nhiều ngành nghề như hóa học, mỹ phẩm, cơ khí, luyện kim, vật liệu xây dựng... Nhiều nhà máy, xí nghiệp còn đến ngày nay như Ximăng Hà Tiên, nhà máy giấy Cogido - An Hảo, nhà máy dệt Vinatexco, nhà máy đường Biên Hòa…

Làng đại học Thủ Đức cũng được quy hoạch đưa ra khỏi trung tâm thành phố khi tuyến xa lộ hoàn thành. Làng đại học sẽ là nơi cung ứng nguồn lao động chất lượng cho các khu công nghiệp, kỹ nghệ kế cận.

Các khu dân cư dọc tuyến đường cũng được khuyến khích hình thành. Người dân được phân lô, bán nền với giá ưu đãi. Việc xuất hiện các khu dân cư nhằm cung ứng nguồn lao động cho các nhà máy nơi đây.

Dàn xe hơi đậu kín trên Xa lộ Biên Hòa trong ngày khánh thành. Ảnh: Life


Năm 1984, con đường nối Sài Gòn - Biên Hòa được đổi tên thành Xa lộ Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng thủ đô. Sau năm 1975, xa lộ dần làm đúng chức năng mà những nhà quy hoạch trước đó đã dự tính khi nhiều hãng xưởng mở ở khu công nghiệp Biên Hòa. Hàng ngày, nhiều công nhân tại Sài Gòn đi làm ở khu công nghiệp Biên Hòa bằng xe buýt của công ty.

Ngoài xa lộ Biên Hòa, đến đầu những năm 1970, xa lộ Vòng Đai được xây dựng ở xung quanh Sài Gòn. Gọi là xa lộ vòng đai vì nó không nối liền hai thành phố mà chỉ chạy xung quanh Sài Gòn. Xa lộ Vòng Đai cũng được người dân gọi là xa lộ Đại Hàn vì lực lượng công binh của Nam Hàn xây dựng.

Sự xuất hiện của xa lộ Biên Hòa góp phần thúc đẩy kinh tế, chuyển dịch hướng phát triển của TP HCM về hướng đông. Hiện, tuyến xa lộ này tiếp tục được mở rộng, nâng cấp ở nhiều đoạn nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại ngày một lớn hơn của tuyến cửa ngõ thành phố.

Riêng đoạn Xa lộ từ trường Đại học Quốc gia TP HCM (quận Thủ Đức) đến ngã ba Tân Vạn (tỉnh Đồng Nai) dài 2,2 km được thi công mở rộng cho 16 làn xe lưu thông. Dự kiến hoàn thành năm 2017. Song song với xa lộ, tuyến Metro đầu tiên của thành phố cũng đang dần thành hình giúp đời sống kinh tế, xã hội ở TP HCM thêm khởi sắc.

Ảnh: Các hạng mục nổi bật trên xa lộ hiện đại đầu tiên Việt Nam

Khu vực cầu Sài Gòn những năm 1960. Ở vị trí quận 2, Bình Thạnh bây giờ thời đó còn hoang vu. Ảnh: Life

Xây cầu Đồng Nai năm 1959 - một trong các hạng mục của Xa lộ Biên Hòa. Ảnh: George E Gray


Xa lộ Biên Hòa lúc mới khánh thành. Ảnh: Life


Ngã tư Thủ Đức, một trong những hạng mục của Xa lộ Biên Hòa. Ảnh: Flickr


Ngã tư Hàng Xanh có biển chỉ dẫn về Biên Hòa. Ảnh: Flickr


Cầu Sài Gòn khi hoàn thiện năm 1961. Ảnh: Life


Tuyến Xa lộ Biên Hòa những năm trước 1975. Ảnh: Flickr


Tuyến đường phẳng lì, được thi công bằng kỹ thuật mới nhất của Mỹ.


Cầu Sài Gòn hiện nay với một nhánh mở rộng giúp giao thông thành phố thuận tiện hơn. Ảnh: Panoramio


Trong tương lai, song song với xa lộ Hà Nội sẽ có tuyến đường sắt đô thị đầu tiên của Sài Gòn. Ảnh: Đồ họa


Sơn Hòa

Chuyện chưa kể về Anh hùng A Meh

đăng 04:42, 10 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Ngọn đồi là rừng xà nu, nơi ông A Meh (Đinh Môn) đi về trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Ông là nguyên mẫu cụ A Mét trong tác phẩm "Rừng xà nu" của nhà văn Nguyễn Trung Thành, nhưng có mấy ai biết, làng kháng chiến và cuộc đời của người Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân A Meh trong đời thực kể lại có khác cổ tích.

Mỗi năm một bát muối

Hỏi về làng "nước xu đỏ", ông A Nghem - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Xốp (huyện Đăk Glei) bảo làng Xốp Dùi đã di cư hàng chục ki lô mét từ làng cũ về trung tâm xã mấy mươi năm nay.

Nhìn dãy rừng xanh bạt ngàn thông xa xa, A Nghem nói, làng Xốp Dùi cũ bây giờ không còn ai ở nữa. Muốn về làng ấy phải qua ngọn núi Xu Mông có rừng xà nu trùng điệp. Ngọn đồi này xưa là chỗ thường xuyên phải đỡ đạn pháo từ các đồn binh Pháp bắn vào làng và cũng là nơi đội quân của cụ A Meh trinh sát, canh gác mỗi ngày để đánh lính Pháp và Mỹ xua quân đi càn quét qua làng.

Theo lời A Nghem, làng Xốp Dùi chống quân Pháp từ khi chưa có Việt Minh, mà linh hồn quật cường của làng là từ ông A Meh.

Hồi đó, lính Pháp thường hay bắt dân làng, đánh đập những ai chống đi xâu rồi nhốt vào ngục, trong đó có ông A Brôm là cha A Meh. Lâu lâu lại thấy “con chim sắt" bay trên trời quần thảo, dân Tà Rẻ (nhánh người Xơ Đăng) sợ nó ăn hết bò của làng.

Một lần cùng thanh niên làng dùng nỏ bắn "con chim sắt", tên không găm vào mà rớt xuống xung quanh, A Meh thấy lạ quá, sau nghe đồn lính Pháp được Yàng cho đồng xu nên làm được “chim sắt” bay trên trời, làm cây súng bắn tiếng nổ xa hơn tiếng hú.

A Meh quyết đi tìm đồng xu, nhưng biết tìm ở đâu? Vậy là A Meh xin lính Pháp đi xâu để lấy đồng xu mang về.

Hôm mang đồng xu về (đồng France làm bằng kẽm), cả làng tập trung lại bỏ đồng xu vào nước để mổ trâu trắng, dê trắng cúng Yàng. Cúng xong, dân làng cởi hết áo ra, lấy nước ngâm đồng xu thoa khắp người để Yàng phù hộ tên bắn không trúng, đạn bắn không xuyên vào da.

Mấy hôm sau, Pháp đưa quân càn quét, người làng Xốp Dùi phục sẵn bắn tên vào lính Pháp, nhưng tên bay thẳng vào bụng, ngực mà không găm vào người (do quân Pháp mang giáp). Thấy vậy, lần sau, A Meh bảo thanh niên bắn vào mắt lính Pháp và thấy những tên lính trúng tên đều chết.

"Tên này chỉ sướt qua da là vô phương cứu chữa. Dân làng mình không làm tên độc này, mà lấy từ người Xơ Đăng ở Quảng Nam" - A Nghem nói.

Từ đó, A Meh chỉ huy dân Xốp Dùi rào hết những chỗ hiểm yếu xung quanh làng, chừa một đường mòn qua đồi Xu Mông để đi. Lính Pháp càn quét phải qua đường độc đạo hiểm trở này và trở thành “mồi ngon” cho làng Xốp Dùi với tên độc, bẫy rừng. Bởi vậy, rất ít khi quân Pháp càn được vào làng.

Có một lần, lính Pháp âm thầm cắt rừng đi gần đến thì làng mới phát hiện, chạy hết vào rừng. Một người già Xơ Đăng bị bệnh không chạy được, đành chết cháy do quân Pháp đốt rụi làng.

"Nghe các già làng kể lại, ngày chiến đấu ăn chủ yếu là bắp, nhưng rất thiếu muối. Mỗi năm, cứ mỗi hộ được phát một bát muối để ăn. Nói thật không phải ăn, mà liếm qua hạt muối cho đỡ thèm"- A Nghem cho biết.

Tôi thắc mắc vì sao khi Pháp càn lên, làng "vườn không nhà trống" cho được, bởi người chạy được, còn gia súc gia cầm phải làm sao đưa đi kịp. A Nghem chịu không giải thích được.

Bằng khen của Chủ tịch Nước tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân A Meh. Ảnh: V.P 


Khi ghé nhà ông Đinh Rương (66 tuổi, con trai cụ A Meh) ở thị trấn Đăk Glei, tôi mang chuyện này ra hỏi. Ông Rương nói, ngày ông A Meh còn sống, ông Trần Kiên (từng gắn bó với Tây Nguyên trước và sau kháng chiến chống Mỹ; năm 1986 từng là Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, mất tháng 5/2004 tại Quảng Ngãi) có ghé về nhà thăm. Hai cụ ngồi uống nước, ông Trần Kiên nói: Tui phục ông đó Meh. Ông làm sao mà huấn luyện được, mỗi khi địch càn, thanh niên dùng gậy gõ vào ống lồ ô, đàn trâu theo tiếng gõ đi trước, kéo theo sau là đàn bò, heo và cả gà, vịt nữa vào rừng. Khi giặc hết càn, đàn gia súc, gia cầm lại theo tiếng gõ về lại làng…

Cải trang đánh giặc 

Thời kháng chiến chống Pháp, A Meh còn có tên là Môn. Chuyện đánh giặc của ông vô cùng ly kỳ. "Tui nghe nói ông đánh giặc tài lắm, thấy là lạ nên nhiều lần về hỏi ông A Rin (cùng chỉ huy trong đơn vị với A Meh) và mấy già làng, ai cũng nói chuyện thiệt còn nhiều hơn kể. Trải qua hai cuộc chiến, ba tui chỉ đóng khố, khoác tấm đồ, dắt theo thanh kiếm” - ông Rương kể.

Ông Rương tiếp chuyện: Hồi đó, Pháp thưởng đến 500 con trâu để ai giúp bắt được Môn. Có điều, lính Pháp, kể cả thời chống Mỹ sau này cũng vậy, không ai biết mặt "thằng Môn" hình dạng ra sao. Có lần, một người Xơ Đăng vào đồn lính Pháp nói sẽ đưa đi bắt "thằng Môn". Đến một con dốc, người này hú lên một tiếng rồi lăn xuống dốc, còn cả trung đội lính Pháp thì hứng trọn bẫy đá và mưa tên của quân ông Môn. Một lần khác, lính Pháp thấy một sĩ quan người Việt bước vào đồn nói: “Biết mặt thằng Môn chưa mà đòi bắt. Tao vừa được báo nó ở bên kia, mau theo tao”. Thế là lính Pháp huy động quân đi ngay. Kết cục, lại rơi vào phục kích của quân ông Môn và viên sĩ quan người Việt kia chính là ông Môn cải trang hét lớn: Tao là Môn đây! Những tên lính cuối cùng chỉ nghe được bấy nhiêu, nhưng cũng “thỏa mãn” là đã biết mặt "thằng Môn" trước khi chết. Thậm chí, có lần Môn bị sốt rét nằm vật ven đường, lính Pháp thấy tưởng thằng người Xơ Đăng chết rồi chứ đâu biết "thằng Môn" mình đang lùng kiếm, bèn bảo người dân mang đi. Do quan niệm là ma xấu, dân làng đưa xác này lên bỏ vào hang đá ở trên núi. Hôm sau, họ nhìn lên hang đá, thấy ông Môn ngồi đấy tưởng là ma, ông cười lớn: tao Môn đây, không chết đâu, người thật đấy.

Truy quét, tìm diệt không được, lính Pháp rất sợ ông Môn. Sợ nhất là ông cải trang nhiều lần nhưng chẳng lặp lại bao giờ, trong khi đó ông Môn khỏe và bắn súng rất giỏi. "Sau giải phóng, có lần ông mang theo súng AR15 dẫn tôi vào rừng, đưa nòng súng lên một cây cao 30-40m, bắn rớt con chim chào mào bằng một phát súng" - ông Rương kể.

Nói về sức khỏe, ông Môn dù cao chỉ hơn 1,6m nhưng khỏe lắm như con trâu mộng ngày đó. Ngày thiếu thuốc nổ đánh xe cơ giới của Pháp, ông Môn cải trang xin lính Pháp đi làm dân vệ, xung phong đánh bộc phá làm đường. Viên sĩ quan Pháp thấy Môn nhỏ con, có ý chê. Môn chỉ đám dân vệ cao to nói: tao vật ngã hết đám này. Viên sĩ quan Pháp bảo thử, Môn làm thật, tất cả nhóm dân vệ mập to đều thành bại tướng dưới tay Môn. Lần này, Môn làm dân vệ một thời gian, kiếm được vô số thuốc nổ. Về sau, xe nhà binh Pháp bị cháy đều do bị trúng mìn, bộc phá cài ven đường, nhưng bọn lính Pháp có biết đâu thuốc nổ này do mình vô tình cấp cho "thằng Môn".

Kỷ vật cuối cùng

Chiều thu Tây Nguyên nhạt nắng, hoàng hôn gieo vàng ắp những ngọn đồi. Hôm ấy, ông Đinh Rương đưa tôi lên căn gác nhỏ, nơi thờ cúng Anh hùng LLVT nhân dân A Meh. Ông vào phòng trong cầm ra một thanh kiếm dài hơn 0,5m.

Ông Rương và thanh kiếm, kỷ vật của A Meh. Ảnh: V.P 


"Tục đồng bào Xê Đăng cũng chôn của theo người chết. Thanh kiếm này thì không, bởi trước khi còn sống, ông dặn tôi phải giữ. Nó là vật tùy thân theo ông hai cuộc kháng chiến"- ông Rương bùi ngùi.

Sở dĩ A Meh bảo lưu giữ là vì vào năm 1998, những kỷ vật cùng A Meh đi qua hai cuộc kháng chiến như chiếc dồ dài 12m, bộ cung tên, chiếc gùi nhỏ và vài vật dụng khác đã bị lửa thiêu rụi theo trận hỏa hoạn nhà ở xã Xốp. Sau vụ cháy ấy, ông A Meh buồn, 2 năm sau thì mất.

Hỏi về lai lịch thanh kiếm, ông Rương không biết nó có từ bao giờ. Theo lời kể lại của ông A Meh, nó được rèn ở Quảng Nam, xưa to bản nhưng qua năm tháng, giờ nhỏ bằng 2 ngón tay, sắc bén lạ thường. Đốc kiếm được khảm bằng đồng, còn bao kiếm bằng gỗ cây rừng ghép lại.

"Bảo tàng và một số đơn vị đặt vấn đề hỏi mua thanh kiếm, nhưng gia đình không đồng ý. Bởi đó là kỷ vật cuối cùng của ông cụ" - ông Rương nói.

Tâm sự cùng ông Rương, tôi mới hay, tên đầu tiên của A Meh là T’Nuô. T’Nuô là tên một con suối chảy qua làng Xốp Dùi. Người Xơ Đăng lấy tên rừng, đồi, suối… gắn với cộng đồng làng để đặt tên cho con. Cha của A Meh cũng vậy, lấy tên con suối đặt tên con.

Sinh ra từ rừng thông, lớn lên từ gốc thông và khi về với đất, người anh hùng A Meh lại về nghỉ ở Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Đăk Glei, dưới ngàn thông lộng gió, quanh năm tiếng rì rào ru ông giấc ngàn thu…

P.N- PA

Công viên Lê Văn Tám - nghĩa trang của người giàu Sài Gòn xưa

đăng 04:46, 8 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Từng là nghĩa trang dành cho lính Pháp, sau đó là của giới thượng lưu, đến năm 1983 nơi đây trở thành công viên Lê Văn Tám ở trung tâm TP HCM như ngày nay.

Khu vực nội đô TP HCM trước đây có rất nhiều nghĩa trang với hàng trăm nghìn ngôi mộ. Đa số chúng được xây dựng vào khoảng cuối cuối thế kỷ XIX, dưới chế độ Pháp thuộc, khi quy mô của Sài Gòn - Gia Định còn rất nhỏ. Sau đó, dân cư thành phố nhanh chóng trở nên đông đúc nên chính quyền phải di dời nghĩa trang để "lấy đất xây dựng các công trình phúc lợi, giữ vệ sinh môi trường". 

Trong số những nghĩa trang, nổi tiếng và lâu đời nhất là Mạc Đĩnh Chi - nay là công viên Lê Văn Tám. Khu vực này được giới hạn bởi 4 tuyến đường Điện Biên Phủ - Hai Bà Trưng - Võ Thị Sáu và Phan Liêm ở trung tâm quận 1.

Cổng chính nghĩa trang trên đường Legrand de la Liraye (nay là Điện Biên Phủ) lúc vừa được người Pháp xây dựng ở vị trí công viên Lê Văn Tám ngày nay. Ảnh tư liệu 


Theo tác giả Tim Doling (Ireland) - người có nhiều nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử Sài Gòn - TP HCM, công viên Lê Văn Tám nguyên thủy là nghĩa trang của người Châu Âu (Cimetière Européen) hay nghĩa trang Massiges. Người Sài Gòn thời đó cũng gọi là Đất thánh Tây. Về sau mang tên là nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Năm 1859, sau khi chiếm được Sài Gòn, người Pháp đã cho xây nghĩa trang này với diện tích 7,5 ha ở phía đông đường National (nay là Hai Bà Trưng). Lúc mới hoàn thành, nghĩa trang được giao cho Hải quân Pháp quản lý, chôn cất các sĩ quan và binh lính người Pháp trong cuộc chiếm đóng Sài Gòn.

Dù vậy, trong nghĩa trang cũng có một số lượng lớn các ngôi mộ của người Đức và Nga. Mãi đến cuối thập niên 1860, dân thường bắt đầu được chôn cất ở đây vì thời điểm đó Sài Gòn có rất nhiều người chết do dịch tả, sốt rét, ký sinh trùng đường ruột và kiết lỵ.

Vào khoảng năm 1870, nghĩa trang Việt Nam nhỏ (Cimetière Anamite hay Cimetière Indigène) được mở ngay tại phía bắc nghĩa trang của người Châu Âu. Đường phân chia hai nghĩa trang này được đặt tên là rue des Deux cimetières (đường hai nghĩa trang). Phải 10 năm sau, nó mới được mang tên là Mayer, sau đó là Hiền Vương và nay là đường Võ Thị Sáu.

Từ cuối thế kỷ 19, Sài Gòn bắt đầu phát triển thịnh vượng, nghĩa trang của người Châu Âu trở thành nơi an nghỉ của các chính trị gia xứ thuộc địa và các quản trị viên. Trong số đó có kiến trúc sư Marie-Alfred Foulhoux (1840-1892) và thị trưởng thành phố Sài Gòn Paul Blanchy (1837-1901).

Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi vào thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh tư liệu 


Sự thay đổi khiến nó thành nơi chôn cất cho tầng lớp thượng lưu thuộc địa được nhắc trong một báo cáo quan trọng trên tờ Courrier Saigonnais đăng ngày 14/12/1912. Sau đó, những ngôi mộ hoành tráng của người quyền thế ở Sài Gòn ngày càng tăng, trong khi các ngôi mộ của những người lính và thủy thủ Pháp bị bỏ phế cỏ mọc um tùm.

Đầu thế kỷ 20, nghĩa trang được chia cắt thành những con đường nhỏ có trồng cây và kiểng do nhân viên thảo cầm viên Sài Gòn chăm sóc. Nghĩa trang lúc này được bao bọc bởi bốn bức tường vôi cao 2,5 m với cổng chính ở phía nam đường Legrand de la Liraye (nay là Điện Biên Phủ).

Cổng chính nằm đối diện trực tiếp cuối phía bắc của đường Bangkok, và sau năm 1920 khi đường Bangkok được đổi tên thành đường Massiges (nay là đường Mạc Đĩnh Chi), nó được biết đến với cái tên mới là nghĩa trang đường Massiges.

Nhiều nhân vật nổi tiếng của thời kỳ thuộc địa sau đó đã được chôn cất ở đây. Tuy nhiên, ngôi mộ ấn tượng nhất giai đoạn này là lăng mộ của ông Nguyễn Văn Thinh (qua đời ngày 1/11/1946) - thủ tướng đầu tiên của thời tự trị Cộng hòa Nam Kỳ (1/6/1946- 8/10/1947).

Tháng 3/1955, khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, đường Massiges được chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi tên thành Mạc Đĩnh Chi và tên gọi này mặc nhiên cũng trở thành tên của nghĩa trang.

Trong hai thập kỷ tiếp theo, các chính trị gia cao cấp, tướng tá và thành viên nổi bật khác của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cũng được chôn tại đây cùng với số lượng nhỏ người nước ngoài như phóng viên François Sully - làm việc ở tờ Time và Newsweek (qua đời tháng 2/1971).

Người nổi tiếng nhất được chôn cất tại nghĩa trang này là tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm và em trai - giám đốc cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu. Hai người đã bị quân đảo chính ám sát vào ngày 2/11/1963. Ngoài ra, nơi đây còn có mộ của thống tướng Việt Nam Cộng Hòa Lê Văn Tỵ, chuẩn tướng Lưu Kim Cương…

Một góc công viên Lê Văn Tám ngày nay, nơi từng là nghĩa trang của giới thượng lưu ở Sài Gòn. Ảnh: Vũ Hà Duy/Panoramio 


Năm 1971, theo tác giả Arthur J Dommen, một phần bức tường phía tây của nghĩa trang bị đổ, kèm theo nó là những lời đồn đại đó là dấu hiệu cho thấy ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của ông Diệm và phải làm gì đó để giải thoát cho linh hồn ông Diệm.

Những lời đồn đại về ma quỷ ở nghĩa trang chỉ thực sự bắt đầu lan truyền rộng rãi sau năm 1983, khi chính quyền TP HCM quyết định ngừng hoạt động nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi với hàng nghìn ngôi mộ cùng kế hoạch xây dựng địa điểm này thành Cung Văn hóa thiếu nhi thành phố. Tuy nhiên, về sau nơi đây được quy hoạch thành công viên cây xanh và đặt tên là Lê Văn Tám.

Theo chỉ thị của chính quyền vào lúc đó, những người có thân nhân chôn trong nghĩa trang được hướng dẫn để sắp xếp cho việc cải táng trong hai tháng, nếu không có người nhận thì được hỏa táng và di dời nơi khác. Còn lại hài cốt của những người lính Pháp được đưa về quê chôn cất.

Cũng trong đợt di dời, giải tỏa này mộ của ông Ngô Đình Diệm và em trai được chuyển về nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương). Một người em trai khác của ông Diệm là ông Ngô Đình Cẩn được chôn tại nghĩa trang sân bay Tân Sơn Nhất sau khi bị xử bắn vào năm 1965, và mộ bà thân mẫu Phạm Thị Thân cũng được quy tụ về đây. 

Hiện, công viên Lê Văn Tám có rất nhiều cây xanh phủ bóng mát đã thay thế cho nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi hoang vắng trước đây. Nơi đây cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động giải trí cũng như các hội chợ, triển lãm về sách, nông nghiệp... Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người dân địa phương mê tín không muốn đến đây vì lịch sử trước đó.

Đây cũng là nơi có dự án bãi đậu xe ngầm 100 triệu USD với quy mô chứa 2.000 xe máy, 1.250 ô tô, 28 xe buýt, xe tải và một bên là ba tầng hầm dành cho thương mại. Tuy nhiên, sau ngày động thổ vào tháng 8/2010, đến nay dự án đang “án binh bất động” vì vướng một số thủ tục và chưa biết bao giờ mới hoàn thành.

Trung Sơn

Hai công viên ở trung tâm Sài Gòn từng là nghĩa trang lớn

đăng 04:40, 8 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Công viên Lê Thị Riêng và Lê Văn Tám trước năm 1975 là nghĩa trang lớn, một dành cho giới thượng lưu, một là nơi chôn cất tầng lớp bình dân.

Công viên Lê Văn Tám (quận 1, TP HCM) trước năm 1975 là nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Khu vực này được giới hạn bởi 4 tuyến đường Điện Biên Phủ - Hai Bà Trưng - Võ Thị Sáu và Phan Liêm. 


Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi vào năm 1965 (ảnh tư liệu). Nơi này nguyên là nghĩa trang chôn cất các sĩ quan và binh lính người Pháp trong cuộc chiếm đóng Sài Gòn. Người dân thời đó cũng gọi là Đất thánh Tây. 


Thời Việt Nam Cộng Hòa, các chính trị gia cao cấp, tướng tá và thành viên nổi bật đương thời cũng được chôn tại đây. Nổi tiếng nhất là Tổng thống Ngô Đình Diệm và em trai - cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu. Hai người đã bị quân đảo chính ám sát vào ngày 2/11/1963. 


Năm 1983, chính quyền TP HCM quyết định ngừng hoạt động, di dời hàng nghìn ngôi mộ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi về nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Dương) và dự kiến xây nơi này thành Cung Văn hóa thiếu nhi thành phố. Tuy nhiên, về sau nơi đây được quy hoạch thành công viên Lê Văn Tám. Trong ảnh là bức tượng Lê Văn Tám đặt tại trung tâm công viên với hình ảnh bó đuốc sống. 


"Trước đây tôi làm kế toán cho Sở vệ sinh thành phố. Chính tôi cùng nhiều người khác đã tham gia công tác di dời hàng nghìn ngôi mộ. Những người có thân nhân chôn trong nghĩa trang được cho 2 tháng để cải táng, nếu không có người nhận thì được hỏa táng, di dời nơi khác. Còn lại hài cốt của lính Pháp được đưa về quê chôn cất", bà Trần Dục Mùi (70 tuổi, quận 3) chia sẻ. 


Hiện nay, công viên có nhiều loài cây rợp bóng mát, là nơi dạo chơi, tập thể dục của người dân thành phố. Và hai năm một lần, ở đây cũng diễn ra hội sách TP HCM cùng nhiều hoạt động giải trí khác. 

Đây cũng là nơi có dự án bãi đậu xe ngầm 100 triệu USD với quy mô chứa 2.000 xe máy, 1.250 ôtô, 28 xe buýt, xe tải và một bên là ba tầng hầm dành cho thương mại. Tuy nhiên, sau ngày động thổ vào tháng 8/2010, đến nay dự án đang "án binh bất động" vì vướng một số thủ tục và chưa biết bao giờ mới thi công. 

Công viên Lê Thị Riêng (quận 10) cũng từng là nghĩa địa lớn của Sài Gòn. Trước năm 1975, nơi này là nghĩa trang Đô Thành. Công viên được giới hạn bởi đường Cách Mạng Tháng 8, Bắc Hải, Trường Sơn. 


Nơi này là chỗ an nghỉ của tầng lớp bình dân. Theo các cao niên, qua các thời kỳ chiến tranh, nhiều nấm mồ không tên mọc lên tại đây, mà đa số là của lính chết trận không người thân nhận xác. Trong ảnh tư liệu là cổng chính của nghĩa trang trước năm 1975 với bức tượng Địa tạng vương màu đen khá nổi tiếng, cao 5 - 6 m. Tượng này sau đó được di dời về Quan Âm tu viện ở Biên Hòa. 


Trong kế hoạch chỉnh trang thành phố, nghĩa địa Đô Thành được giải tỏa vào năm 1983 để xây dựng thành công viên Lê Thị Riêng như ngày nay. 


Ngay lối vào là khu nhà truyền thống, bia tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Trong đó có mộ phần bà Lê Thị Riêng (Ủy viên Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền nam Việt Nam). 


Ở công viên còn có bia tưởng niệm Tổng bí thư Trần Phú. Năm 1999 chính quyền đã tìm thấy phần mộ của ông tại công viên này sau 68 năm ngày ông hy sinh. 


Bao quanh công viên là hồ nước tạo cảnh quan. Theo ông Đinh Quang Sử (68 tuổi, quận 10), hồ nước này trước giải phóng vốn là một con rạch thông ra kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè. "Hồi ấy, nghĩa trang rộng lắm, nhiều người chết vô danh được chôn tập thể ở đây, khu này xưa vắng hoe, ít người lai vãng", ông Sử nói. 


Hiện nay công viên Lê Thị Riêng có 80% mảng xanh trên diện tích 8 ha với nhiều đồi, cây cỏ, bồn hoa đan xen lối đi. 


Quỳnh Trần

San hô hóa thạch hình bông hồng ở đảo Lý Sơn

đăng 02:12, 7 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:12, 7 thg 5, 2018 ]

"Nghĩa địa san hô" hóa thạch niên đại 6.000 năm ở huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) được cho là độc đáo không chỉ ở Việt Nam mà trên cả phạm vi thế giới. 

Sau nhiều tháng khảo sát, cuối tháng 1/2018, nhóm chuyên gia thuộc Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản (Bộ Tài nguyên và Môi trường) công bố kết quả nghiên cứu về di sản cổ sinh độc đáo - "Nghĩa địa" san hô hóa thạch hình cối xay gần khu vực thắng cảnh Hang Cau ở xã An Hải (huyện đảo Lý Sơn). 


Cụm đá san hô hóa thạch xoắn ốc hệt như một cối xay bên bờ biển đảo Lý Sơn.Tiến sĩ Ngô Quang Toàn, Tổng hội Địa chất Việt Nam, cho hay bãi san hô hóa thạch này có giá trị độc đáo. "Tôi chưa từng tìm thấy ở vùng biển nào ở Việt Nam và trên thế giới cũng chưa từng thấy dạng san hô hóa thạch như thế này", ông cho biết. 


Nhiều cụm đá san hô hóa thạch hình cối xay đủ mọi kích cỡ trải rộng trên diện tích 20.000 m2 ven biển. 


Qua đo đạc, các chuyên gia xác định kích thước mỗi khối đá có đường kính từ 2 m trở lên nằm dọc theo bờ biển từ khu vực vách đá Hang Cau về hướng Đông ngọn đèn Hải đăng đảo Lý Sơn. 


Khối san hô hóa thạch có nhiều hoa văn dạng vòng xuyến tuyệt tác. Các chuyên gia nhận định, những khối hóa thạch này có niên đại từ 5.000 đến 6.000 năm trước. Di sản địa chất có giá trị du lịch và phục vụ nghiên cứu khoa học. 


Loài muống biển nở hoa trên khối san hô hóa thạch tạo cảnh quan thơ mộng cho bờ biển Lý Sơn. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Nam, Viện Địa chất khoáng sản (Bộ Tài nguyên và Môi trường), cho biết lần đầu tiên phát hiện khối san hô hóa thạch nơi đây hệt như chiếc cối xay của người dân đồng bằng Bắc bộ hay sử dụng. "Chúng tôi đã đặt tên cho chúng là san hô cối xay nhưng quan sát kỹ thì giống hoa hồng hơn", ông Nam nói. 


“Nghĩa địa san hô hóa thạch này xứng tầm di sản địa chất quốc tế. Chúng tôi tìm trên nhiều trang website về địa chất khoáng sản nhưng chưa có nơi nào có loại san hô hóa thành có hình thù tuyệt đẹp như vậy”, vị chuyên gia cho hay. 


Các chuyên gia đánh giá, di sản địa chất ở đảo Lý Sơn phong phú, hàm chứa nhiều giá trị, giờ lại phát hiện thêm “nghĩa địa san hô" hóa thạch nên hội đủ điều kiện để kiến nghị UNESCO xét công nhận là công viên địa chất toàn cầu. 


Khối san hô hóa thạch nhuốm màu rêu xanh tạo. Ông Trần Ngọc Căng, Chủ tịch UBND tỉnh Ngãi, cho rằng việc phát hiện di sản "nghĩa địa" san hô có ý nghĩa đặc biệt về mặt khoa học. Trước mắt lãnh đạo tỉnh yêu cầu cơ quan chức năng khẩn trương khoanh vùng bảo vệ, ngăn chặn các hoạt động con người có thể xâm hại, trong đó tạm dừng thi công mọi công trình trong khu vực di sản địa chất này. 


Khối san hô phủ màu rêu hình cối xay nhô trên bãi cát. Quảng Ngãi đã mời các chuyên gia Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản tiếp tục nghiên cứu sâu khu vực phát hiện di sản. Địa phương này đang xúc tiến củng cố hồ sơ sớm trình UNESCO xét công nhận công viên địa chất Lý Sơn - Bình Châu và vùng phụ cận; đồng thời tư vấn giúp tỉnh có biện pháp bảo vệ, phát huy giá trị du lịch mang lại thu nhập cho người dân. 


Minh Hoàng

Về chợ quê gặp ngày hội

đăng 02:24, 4 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Chương trình "Chợ quê ngày hội" được tổ chức nằm trong khuôn khổ Festival Huế 2018 thu hút được sự quan tâm của du khách và người dân. Ảnh: NĐT 


Sáng 28.4 tại Cầu Ngói Thanh Toàn xã Thuỷ Thanh, thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên-Huế đã diễn ra “Chợ quê ngày hội”. Lễ hội thu hút được sự quan tâm của người dân địa phương và du khách trong ngoài nước. 

Được tổ chức hai năm một lần cùng với thời gian diễn ra Festival Huế, “Chợ quê ngày hội” là dịp để du khách có thể cảm nhận được một phiên chợ đậm chất mộc mạc và dân dã của một miền quê thanh bình bên con sông Như Ý hiền hoà. 

Điểm nhấn của không gian chợ quê ngày hội là Cầu Ngói Thanh Toàn có tuổi đời hàng trăm năm. Cây cầu không những làm điểm nhấn cho không gian mà còn là nơi để người dân nghỉ ngơi, hóng mát mỗi trưa hè oi ả. Ngày thường nhiều đoàn khách cũng thường về đây để tận hưởng không khí trong lành bên cạnh cánh đồng lúa đang vào độ chín. Ảnh: Tr.L 


Đua thuyền trên sông là chương trình mở màn cho những chương trình mà lễ hội mang lại. Ảnh: NĐT 


Cuộc đua là sự cạnh tranh của các thanh niên trai tráng trong xã. Sự cạnh tranh hấp dẫn giữa các đội đã đem đến cho lễ hội một không khí náo nhiệt. Ảnh: Tr.L 


Bài Chòi- một loại hình nghệ thuật dân ca và trò chơi dân gian đặc trưng ở miền Trung Việt Nam cũng được đưa vào trong lễ hội, thu hút sự tham gia của du khách. Ảnh: NĐT


Hội này thường được tổ chức ở làng quê vào dịp lễ. Người ta dựng 9 hoặc 11 chòi, chia thành 2 bên, mỗi bên 5 chòi, mỗi chòi cao độ 2-3m, rộng đủ vài ba người ngồi và một chòi trung tâm (chòi mẹ) ở giữa dành cho các vị chức sắc địa phương. Ảnh: Tr.L


Vào cuộc chơi, anh hiệu (tức người hô thai) xốc ống bài, rút ra một con và xướng tên con bài lên. Để gây thêm sự hồi hộp và bắt người chơi phải suy đoán, anh hiệu hô lên một câu khai hoặc một câu ca dao có tên con bài. Chòi nào trúng tên con bài thì gõ mõ để anh hiệu mang con bài đến. Trúng ba con bài là chòi đó "tới", xổ một hồi mõ dài. Khi đó, anh hiệu cầm lá cờ nhỏ, bưng khay rượu tới trao phần thưởng cho người trúng. Lá cờ đuôi nheo bằng giấy cũng được cắm lên chòi để đánh dấu một lần thắng. Ảnh: Tr.L


Ngoài ra những con tò he, là một loại đồ chơi dân gian của trẻ em Việt Nam, có thể ăn được cũng được đưa vào lồng ghép trong lễ hội gây sự thích thú cho các em nhỏ. Ngày nay, nặn tò he là một nét văn hóa dân gian ở các vùng quê Việt Nam. Ảnh: NĐT


...Và nón lá, một sản phẩm không thể thiếu của người dân xứ Huế. Ảnh: Tr.L 


Sự tạo dựng những vật dụng gắn với nông nghiệp với ruộng đồng trong lễ hội đem lại sự tò mò thích thú cho những du khách nước ngoài. Ảnh: NĐT 


Đắc Thành- Trần Lưu

Huế tròn 100 năm trước

đăng 01:48, 3 thg 5, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cách đây đúng 100 năm, mùa Xuân năm 1918, nhà báo Phạm Quỳnh lần đầu đến Huế và đã ghi lại ký sự về chuyến đi này. 

Trong ký sự "Mười ngày ở Huế", ông chủ bút Nam Phong tạp chí nổi tiếng đầu thế kỷ 20 đã ghi lại những ấn tượng về xứ Thần kinh, lúc đó đang là kinh đô của nước ta thời phong kiến.

Sững sờ trước vẻ đẹp của sông Hương, Phạm Quỳnh mô tả: "Hương Giang là cái châu báu của xứ Kinh. Nước trong như vắt, dòng phẳng như tờ, ít khi có sóng gợn trên mặt, đi thuyền trên sông như đi trong hồ vậy. Huế không có con sông Hương thì tưởng cái đẹp của xứ Huế giảm mất nửa phần".

Kiệu rước vua qua Ngọ Môn, kinh thành Huế. 


Về núi Ngự, ông nhận xét: "Ngự Bình không phải là một núi cao như núi Phú Sĩ nước Nhật, Hương Giang không phải là một sông rộng như sông Hoàng Hà nước Tàu, nên nói rằng sông ấy núi ấy làm hiểm trở cho chốn Đế kinh thì cũng là nói quá, nhưng sông ấy núi ấy thực là vẽ nên phong cảnh xứ Huế vậy. Và cái khí vị của phong cảnh Huế không phải là cái khí vị hùng tráng, mà là cái khí vị mĩ diệu; cảnh Huế xinh mà đẹp, không phải là hùng mà cường, đáng yêu mà không phải là đáng sợ, có thi vị mà không phải là có khí tượng. Phải nhận kỹ như thế thì mới khỏi nhầm mà hiểu được tinh thần của cái bức sơn thủy hiển nhiên ấy".

Mục đích chuyến đi của Phạm Quỳnh là chứng kiến lễ tế Nam Giao của vua Khải Định diễn ra vào đêm 12, rạng sáng 13 tháng Hai âm lịch, nên ký sự mô tả rất kỹ quang cảnh Đàn Nam Giao và quang cảnh xung quanh như sau:

"Mấy ngày ấy thành Huế tấp nập những kẻ đi người lại. Hai bên đường Hoàng Thượng sắp ngự qua từ Nội thành đến Giao Đàn đương làm rạp đặt hương án. Những hương án đó là do các thôn xã mấy huyện ở gần Kinh đô, mỗi làng phải đặt một sở, nghe nói cả thảy mấy trăm sở. Nhất là con đường thẳng lên Nam Giao hai ngày 10 và 11 đi dạo chơi không cảnh gì vui mắt bằng: Cờ xanh, cờ đỏ, cờ đuôi nheo, cờ ngũ hành, các hạng cờ cắm san sát hai bên đường, gió thổi bay cả về một hướng, xa trông phấp phới, tưởng tượng như con hoàng long ở dưới đất nổi lên mà mỗi lá cờ là một cái vẩy đương rung động vậy!

Hương án liên tiếp nhau, cách vài thước lại một cái, không có khoảng nào bỏ không. Mỗi sở có mấy viên kỳ mục ngồi túc trực. Sau lưng những hàng quán dựng lên nhan nhản".

Lễ tế ở đàn Nam Giao. 


Phạm Quỳnh mô tả kỹ càng kiến trúc các tầng của đàn Nam Giao, tiếc rằng đa phần các kiến trúc dùng trong lễ tế đều làm tạm, hoặc ngày nay không còn nữa. Chỉ có rừng tùng quanh đàn tế hiện còn di tích.

Khu rừng ấy được mô tả dưới ngòi bút Phạm Quỳnh: "Bốn bề đều giồng rặt những cây tùng, um tùm rậm rạp. Những cây gần trai cung là phần nhiều của Liệt Thánh đời xưa giồng, lắm cây đã cao và to lắm... Khoảng đất ở sau cung là những cây tùng mới giồng, mới cao được độ một thước hay hơn một thước ta, nhìn biển đeo trên cây xem thì là những cây của các bậc đường quan ngày nay từ tứ phẩm giở lên vậy".

Lễ rước vua từ thành Huế ra đàn Nam Giao được tổ chức rất trọng thể: "Tám giờ sáng ở cửa Ngọ môn nổi chín tiếng súng. Ngự giá từ cửa Đông Nam trong thành ra, tiền hô hậu ủng, nghi vệ rất nghiêm mà rất thịnh. Thực là một cảnh tượng mắt tôi chưa từng được trông bao giờ. Đám nhiều đến hơn nghìn người, dài đến ngót một cây-lô-mét. Cờ quạt, tán lọng, gươm giáo, voi ngựa, đồ nghi trượng, đồ lộ bộ, trống chuông, các phường nhạc, cho đến những đồ ngự dụng, ngự liễn, ngọc kỷ, xe ngựa, xe tay, không thiếu tí gì".

Đoàn rước ra đàn tế. 


Nhân chuyến đến Huế, Phạm Quỳnh cũng quyết định thăm các lăng vua triều Nguyễn, gồm bốn lăng to và đẹp nhất: Thiên Thụ lăng (lăng Gia Long), Hiếu lăng (lăng Minh Mạng), Xương lăng (lăng Thiệu Trị), Khiêm lăng (lăng Tự Đức). Do lựa chọn thuyền để đi, ông thăm từ lăng Thiên Thụ ở xa nhất, rồi lần lượt về thăm Hiếu lăng, Xương lăng, Khiêm lăng trọng trọn một ngày.

Thời đó, các lăng vua triều Nguyễn đều đang trong thời kỳ "vàng son", nên lăng nào cũng được mô tả: "Đại khái cách bài trí trong tẩm điện các lăng đều có cái khám đặt bài vị đức tiên đế, ngoài bầy cái sập rải chiếu để những đồ ngự dụng như khi sinh thời: cái khăn mặt, cái thau, bộ đồ trà, cái tráp giầu... Hai bên lại bầy những đồ pha lê cùng đồ sứ tây, chắc là những đồ của các ông sứ thần Pháp đem sang cống vua ta khi xưa. Như thế cả, chỉ khác nhau có ít hay nhiều mà thôi. Điện lăng Thiên Thụ là ít đồ bầy hơn cả; nhiều nhất là điện Khiêm lăng".

Phạm Quỳnh so sánh: "Lăng Thiên Thụ là giản dị hơn cả, nhưng có cái vẻ hùng tráng, thực là biểu được cái chí to tát một ông vua sáng nghiệp.

Hiếu lăng cây cối um tùm, đình tạ lâu đài rải rác khắp mọi nơi. Phong cảnh ở đấy hiện ra một khí vị riêng, như âm thầm, như u uất. Chỗ này mới thực là cái cảnh tiêu sắt như cảnh mùa thu. Xem cảnh đoán người thì biết ông vua nằm đấy thực là mang cái tư cách tính tình một nhà văn sĩ thi nhân vậy. Quy mô thể chế của Xương lăng đại để cũng phỏng theo như Hiếu lăng. Phong cảnh ở đấy lại tiêu sắt hơn ở Hiếu lăng nhiều".

Còn ở lăng vua Tự Đức, ông cảm thấy choáng ngợp: "Mới bước chân vào trông như một tòa thành quách nguy nga, ngổn ngang chồng chất những cung cùng điện, những gác cùng lầu, không nhận biết cái thể chế thế nào. Nếu cứ xét từng cái lầu, từng cái gác, từng cái cung, từng cái điện một thì rất là đẹp, nhưng bấy nhiêu cái họp lại một nơi thì trông ra bề bộn quá".

Chủ bút báo Nam Phong cho rằng "Đại để từ lăng Thiên Thụ, qua Hiếu lăng, Xương lăng, đến Khiêm lăng, cái hư văn càng xuống càng thịnh, mà cái vẻ thuần phác hùng hồn lúc đầu càng mất dần đi vậy.

Liên hệ đến vận mệnh đất nước những năm triều Nguyễn, Phạm Quỳnh cảm thán: "Lấy lịch sử mà chứng thì sự biến thiên trong tinh thần ấy cũng có quan hệ đến quốc vận nhiều". 

Lê Tiên Long

Vườn xoài 200 tuổi tiến vua độc nhất vô nhị Việt Nam

đăng 07:14, 29 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Những cây xoài chùa Đá Trắng ở Phú Yên đã có tuổi đời trên hai thế kỷ, nổi tiếng với thứ quả ngọt thanh, thơm dịu từng được dùng để cúng tiến các vua nhà Nguyễn.

Trong khuôn viên chùa Từ Quang, còn gọi là chùa Đá Trắng ở thôn Cần Lương, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên có một vườn xoài cổ thụ nức tiếng gần xa từ hàng trăm năm qua.

 

Theo các ghi chép của nhà chùa, nhiều cây xoài trong khu vườn này đã có từ trước khi ngôi chùa được xây dựng vào năm 1797, tính đến nay đã trên 200 năm

 

Những cây xoài chùa Đá Trắng có điểm khác lạ là cho hoa trắng muốt, khi trái chín có vàng tươi, vỏ mỏng, vị ngọt thanh, đặc biệt hương thơm dịu nhưng thoảng rất xa

 

Theo sử sách, vào thời nhà Nguyễn, mỗi năm chùa phải tiến vua từ 1.000 đến 2.000 quả. Những năm mất mùa, quan huyện lệnh cắt cử người trông coi từ khi quả còn non để bảo đảm đủ số xoài cúng tiến

 

Do được dùng đề tiến vua nên giống xoài chùa Đá Trắng còn được gọi là xoài ngự

 

Tương truyền, vì sự nổi tiếng của giống xoài quý hiếm nên vào thời vua Thành Thái, chùa Đá Trắng đã được ban sắc tứ

 

Ở tỉnh Phú Yên đã có nhiều câu ca được lưu truyền về đặc sản xoài Đá Trắng như câu: “Cam Xuân Đài, xoài Đá Trắng/ Sắn phường lụa, cua Ô Loan”

 

Hay câu: “Rủ lên Đá Trắng ăn xoài/ Mua ăn tương ngọt thiên thai thiếu gì”... 

 

Không chỉ là một giống cây quý, xoài đá trắng còn là một di sản lịch sử gắn với triều Nguyễn cũng như những câu chuyện bi hùng của cuộc Nam tiến

 

Ngày nay, chùa Đá Trắng còn khoảng 20 cây xoài cổ nằm rải rác trong khuôn viên, cây lớn nhất nằm cạnh chính điện của chùa

 

Có một điều đặc biệt là quả xoài Đá Trắng chỉ giữ được hương vị khi được trồng trong khuôn viên chùa Đá Trắng. Chỉ cần đem giống xoài xuống chân núi để trồng là hương vị đã khác, không còn ngon như xoài trồng trên chùa

 

Theo các bậc cao tăng, có lẽ giống xoài chùa Đá Trắng thích hợp với nguồn nước trong vườn chùa và có khả năng hội tụ được những gì tinh túy nhất ở vùng linh sơn này

 

Vào năm 2013, quần thể xoài của chùa Đá Trắng đã được công nhận là Cây Di sản của Việt Nam

Cổ thụ xanh tươi suốt 7 thế kỷ ở rừng Cát Tiên

đăng 02:32, 26 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Cổ thụ Gõ đỏ tại Vườn quốc gia Cát Tiên là loài gỗ quý, thuộc danh mục nguy cấp, cần được bảo vệ. Trải qua 7 thế kỷ, cây vẫn xanh tốt và được canh giữ nghiêm ngặt. 

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, cây Gõ đỏ tại Vườn quốc gia Cát Tiên (huyện Tân Phú, Đồng Nai) đã hơn 700 tuổi, cao 30 m và có đường kính thân ở phần dưới gần 4 m. 


Cổ thụ 700 tuổi thuộc loài Gõ đỏ Afzelia Xylocarpa. Loài cây này phân bổ chủ yếu ở rừng Việt Nam và các nước Lào, Thái Lan, Campuchia. Gõ đỏ là loài gỗ quý hiếm thuộc danh mục nguy cấp, cần được bảo vệ, có tên trong sách đỏ Việt Nam. 


Cổ thụ sống qua 7 thế kỷ còn có tên gọi khác là "cây Gõ bác Đồng". Theo cán bộ kiểm lâm làm việc tại Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên, 27 năm trước (1988), cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về công tác tại vườn và đến thăm cây Gõ. Thấy cây phát triển tốt, ông khen ngợi và khuyên cán bộ vườn phát huy tinh thần bảo vệ rừng. Về sau, cán bộ vườn quyết định đặt tên cho cổ thụ là "cây Gõ bác Đồng" để kỷ niệm và nhắc nhở thế hệ sau về trách nhiệm giữ rừng. 


Ở độ cao 5 m, thân cổ thụ chia thành nhiều ngọn với tán lá xum xuê. Nhiều loài chim thường kéo về cây làm tổ, trú ngụ. 


Rêu mọc kín trên thân cổ thụ. 


Để giúp du khách có điều kiện vào thăm cây Gõ 700 tuổi, ngành chức năng sử dụng đá ong ghép thành con đường nhỏ nối từ đường bộ hành bìa rừng đến gốc cây. Con đường quanh co trong rừng rậm luôn phủ kín rêu xanh. 


Trên thân cổ thụ có nhiều loài thực vật sống ký sinh. 


Vỏ cây ẩm ướt có rêu mọc tạo điều kiện để nhiều côn trùng ẩn nấp, sinh sống. Ngành chức năng cho du khách tham quan cổ thụ nhưng cấm các hành vi săn bắt, can thiệp vào sự phát triển tự nhiên của cây và các sinh vật. 


Trải qua 7 thế kỷ, cây Gõ đỏ vẫn xanh tốt và trở thành "báu vật" của VQG Cát Tiên. 


Bộ rễ của cây cắm chặt vào đất giúp cây đứng vững trong nhiều thế kỷ. Nhiều rễ nổi trên mặt đất, có đường kính gần 0,8 m. 


Trên cổ thụ, nhiều thân của loài dây leo có đường kính gần 20 cm cuốn chặt vào cây. 


Ông Nguyễn Văn Diện, Giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên cho biết, cây Gõ bác Đồng được cán bộ vườn lập hồ sơ theo dõi và quản lý nghiêm ngặt. Cây sinh trưởng tốt vì môi trường tự nhiên được đảm bảo. Những năm gần đây, Trung tâm Giáo dục môi trường và dịch vụ (VQG Cát Tiên) tổ chức tuyến tham quan cây Gõ để tuyên truyền đến du khách ý thức bảo vệ rừng. Nhiều chuyên gia, trung tâm bảo tồn thiên nhiên trên thế giới về thăm và nghiên cứu cổ thụ 700 tuổi. 


Ngọc An

Chiêm ngưỡng cây me cổ thụ gắn với lịch sử triều đại Tây Sơn

đăng 02:21, 26 thg 4, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Tương truyền, cây me cổ thụ trong Bảo tàng Quang Trung là do ông Hồ Phi Phúc - thân phụ của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ - trồng trong khuôn viên nhà mình cách đây hơn 200 năm.

Ở sân đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt trong khuôn viên Bảo tàng Quang Trung (thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định) có một cây me cổ thụ với lai lịch rất đặc biệt

Tương truyền, cây me này do ông Hồ Phi Phúc - thân phụ của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ - trồng trong khuôn viên nhà mình cách đây hơn 200 năm

Theo đo đạc, cây me Bảo tàng Quang Trung cao 24m, đường kính thân 1,2m, tán lá che phủ hơn 600 m2

Dù tuổi đời cao, cây vẫn rất sai quả

Cây me cổ thụ cùng với giếng nước gần đó là hai vật thể còn sót lại trong ngôi nhà của ba anh em nhà Tây Sơn sau khi bị quân của chúa Nguyễn Ánh tàn phá.

Để tránh tai mắt quân của chúa Nguyễn, người dân trong vùng đã dựng một đền thờ nằm giữa cây me và giếng nước, bề ngoài thờ Thành Hoàng làng nhưng bên trong thờ ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, nay là đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt.

Trải qua bao biến cố lịch sử, cây me cổ thụ vẫn mạnh mẽ vươn lên với những tán lá xanh tươi. 

Với người dân đất võ Bình Định, cây me như một biểu tượng cho khí phách hùng thiêng của người anh hùng áo vải Quang Trung

Trong những năm qua, Bảo tàng Quang Trung đã cho nhân giống me từ cây me cổ thụ này và trồng ở nhiều địa phương khắp cả nước. Du khách cũng có thể mua cây me giống như một món quà kỷ niệm từ đất võ Tây Sơn

Vào năm 2011, cây me cổ thụ ở Bảo tàng Quang Trung đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam

Một số hình ảnh khác về cây me cổ thụ trong Bảo tàng Quang Trung.


1-10 of 17