Con người và sự kiện

Bài mới

  • Thanh long đao bảo vật quốc gia Thanh long đao nặng hơn 25 kg lưu giữ tại khu di tích tưởng niệm Vương triều Mạc, xã Ngũ Đoan (huyện Kiến Thụy) được công nhận là bảo vật ...
    Được đăng 05:51, 11 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • 12 pho tượng đá và cây hoa đại hàng trăm năm tuổi ở khu di tích Đa Bút Dưới chân núi Mông Cù, 12 pho tượng đá cổ trong quần thể di tích lịch sử văn hóa Đa Bút (xã Minh Tân, huyện Vĩnh Lộc) đang phủ kín ...
    Được đăng 21:03, 4 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Người canh 'giấc ngủ' của tiền nhân Khu lăng mộ danh nhân văn hóa Trịnh Hoài Đức (1765-1825, tác giả của bộ Gia Định thành thông chí, quan đại thần dưới triều vua Gia Long và ...
    Được đăng 05:20, 4 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Nghệ thuật chạm gỗ cửa võng đình Diềm Ngôi đình làng Diềm xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh là một trong những điểm đến thu hút du khách khi đến với tỉnh Bắc Ninh, bởi nơi đây ...
    Được đăng 01:18, 3 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • "Sáu xã Vạn Phước" còn mãi với thời gian Trải qua gần 6 thế kỷ với biết bao đổi thay, thăng trầm, vậy mà cái tên làng “Sáu xã Vạn Phước” vẫn được người làng gìn giữ, lưu truyền ...
    Được đăng 01:43, 26 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 22. Xem nội dung khác »


Thanh long đao bảo vật quốc gia

đăng 05:51, 11 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Thanh long đao nặng hơn 25 kg lưu giữ tại khu di tích tưởng niệm Vương triều Mạc, xã Ngũ Đoan (huyện Kiến Thụy) được công nhận là bảo vật quốc gia đầu năm nay.

Trải qua hàng trăm năm, thanh long đao đã bị han rỉ và sứt mẻ song vẫn giữ được hình dáng khá nguyên vẹn với chiều dài 2,55 m, cân nặng 25,6 kg, lưỡi đao 0,95 m, cán đao 1,60 m bằng sắt rỗng.

Một hình đầu rồng bằng đồng thau che kín phần cuối lưỡi đao tiếp vào cán đao thay thế cho khâu đao. Chỗ hình đầu rồng có "cá" chốt chặt lưỡi vào cán đao.

Theo nhiều tài liệu, thanh long đao này được cho là vũ khí của Mạc Thái Tổ - Mạc Đăng Dung (1483 - 1541). Ông là người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kim Môn, trấn Hải Dương, nay là làng Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng. 

Thanh long đao của vua Mạc Đăng Dung đang được lưu thờ tại di tích khu tưởng niệm Vương triều Mạc. Ảnh: Giang Chinh 


Tương truyền thanh long đao từng giúp Mạc Đăng Dung đoạt chức vô địch trong cuộc thi tuyển dũng sĩ tại Giảng võ đường ở Thăng Long thời Lê sơ. Ông đã trúng Đô lực sĩ xuất thân (Võ Trạng nguyên) và được xung quân túc vệ. Thời còn là tướng dưới triều Lê sơ, Mạc Đăng Dung đã sử dụng thanh long đao này để xông pha trận mạc và thắng lớn trong nhiều trận dẹp quân phản loạn. Khi người băng hà, thanh long đao được thờ ở thái miếu Thăng Long, sau đó được rước về lăng miếu Cổ Trai.

Tuy nhiên, do chiều dài và cân nặng của thanh long đao, một số nhà nghiên cứu phân tích vũ khí này mang ý nghĩa biểu tượng sức mạnh, vương quyền của một triều đại hơn là thanh đao chiến trận thực sự.

Theo GS Đinh Khắc Thuân (Viện nghiên cứu Hán Nôm), thanh long đao là biểu tượng của uy quyền, ít có khả năng được dùng làm vũ khí trong thời phong kiến vì nặng tới hơn 25 kg. "Thanh đao có giá trị độc bản, hiếm có và gắn với dòng họ, vương triều nhà Mạc, nên tôi ủng hộ công nhận là bảo vật quốc gia", ông Thuận nói.

Còn ông Ngô Đăng Lợi - nguyên chủ tịch Hội khoa học lịch sử Hải Phòng, cho rằng "Mạc Thái Tổ có sức khỏe hơn người, giỏi võ nghệ và sử dụng binh khí này đánh trận trên lưng ngựa". 

Trên thân long đao có một hình đầu rồng bằng đồng thau che kín phần cuối lưỡi đao tiếp vào cán đao. Ảnh: Ban quản lý di tích cung cấp 


Cuối năm 1592, Mạc triều thất thủ, Thân vương Mạc Đăng Thận - cháu 4 đời của Mạc Đăng Dung, người coi giữ Lăng miếu, đã giả làm nhà buôn mang theo long đao của Tiên đế xuống thuyền lánh nạn đến đất Kiên Lao (Phủ Thiên Trường, Nam Định) định cư ở đó.

Để tránh nhà Trịnh truy sát, diệt vong, theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Mạc Đăng Thận cùng gia quyến đổi sang họ Phạm.

Mặc dù phải mai danh ẩn tích nhưng họ Phạm gốc Mạc vẫn thờ phụng bảo đao trang nghiêm tại từ đường ở thôn Ngọc Tĩnh. Đến năm 1821, thanh long đao được cất giấu để tránh bị lấy ra sử dụng trong các cuộc khởi nghĩa chống triều đình lúc đó.

Vào năm 1938, con cháu chi họ Phạm gốc Mạc ở Ngọc Tỉnh trong lúc tu sửa lại từ đường, đào hồ bán nguyệt đã tìm lại được thanh long đao của tổ tiên bị thất truyền nên rước về từ đường thờ phụng, bảo quản.

Năm 2010, Khu tương niệm Vương triều Mạc ở Hải Phòng khánh thành, chi họ Phạm gốc Mạc đã nghinh rước thanh long đao về thờ tại Thái Miếu trong Khu tưởng niệm.

Tiến sĩ Phạm Quốc Quân, Uỷ viên Hội đồng di sản quốc gia, nhận định, thanh long đao là hiện vật cổ, độc bản, có hình thức độc đáo, trang trí tỉ mỉ, tinh tế. Hiện vật này đủ điều kiện để được công nhận là bảo vật quốc gia bởi ngoài giá trị cổ vật còn có giá trị rất lớn về tính biểu tượng (giá trị phi vật thể).

"Thanh long đao có giá trị biểu tượng bởi gắn liền với dòng họ Mạc và truyền thuyết về vua Mạc Đăng Dung - người gây dựng lên vương triều tạo ra được nhiều thành quả cho đất nước, có vị trí quan trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc", ông Quân nói và cho biết thêm nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định, sắt của thanh long đao được rèn hoàn toàn từ quặng sắt khai thác trong tự nhiên, chứ không phải sắt công nghiệp; phần khuyên cũng bằng đồng tự nhiên.

Được biết đến nay một số họa tiết, hoa văn trên thân thanh long đao cũng như ai là tác giả của họa tiết đó vẫn là ẩn số đối với các nhà nghiên cứu. 

Giang Chinh - Viết Tuân

12 pho tượng đá và cây hoa đại hàng trăm năm tuổi ở khu di tích Đa Bút

đăng 21:03, 4 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Dưới chân núi Mông Cù, 12 pho tượng đá cổ trong quần thể di tích lịch sử văn hóa Đa Bút (xã Minh Tân, huyện Vĩnh Lộc) đang phủ kín màu rêu phong.


Tọa lạc trên vùng đất Biện Thượng, quê hương của nhà Trịnh xưa kia, di tích tượng đá Đa Bút bao gồm 12 pho tượng đá cổ và khu lăng mộ Thái phi Nguyễn Thị Ngọc Diệm (vợ của chúa Trịnh Doanh, mẹ của chúa Trịnh Sâm). Bà là người đã lập ra Ngũ quy (5 quy định chấn hưng đất nước), được người dân tôn xưng là bậc thánh mẫu.


Trải qua sự biến thiên của thời gian, 12 pho tượng đá đã nhiều lần được trùng tu, tôn tạo, đến nay vẫn đang phủ kín màu rêu phong.


Theo nhân dân địa phương, các tượng đá này nằm trong quần thể tượng đá có ý nghĩa bảo vệ lăng mộ nhà Trịnh. Hình tượng đá có nét điêu khắc, chạm trổ hoa văn rất độc đáo, tinh xảo và là những tượng đá cổ có một không hai ở Thanh Hóa còn tương đối nguyên vẹn, bề thế.


Các pho tượng được tạo tác theo phong cách tả thực, mỗi pho tượng đá là một tác phẩm tạo hình hoàn chỉnh, được các nghệ nhân điêu khắc tạo tác một cách công phu từ đá nguyên khối có màu xanh sẫm.


Theo tài liệu lịch sử, 12 pho tượng đứng nghiêm trang, kính cẩn thành 2 hàng, mỗi bên có 6 pho. Trong 12 pho tượng có 10 pho tượng được tạo tác với trang phục võ quan giáp trụ, tượng trưng cho quan văn, quan võ, mỗi pho cao tầm 1,8m với các nét mặt khác nhau.


Phía đầu 2 hàng tượng, kề bên có hai phỗng đá hình dáng được tạo tác trong tư thế chầu đợi lệnh, hai chân quặp ra phía sau, hai tay khoanh trước ngực. Hai pho phỗng đá cao 1,2m, đầu phỗng to có ngấn, tóc búi quả đào, mũi dô, mắt lồi, miệng rộng… tất cả đều được trau chuốt từng chi tiết ở tư thế trang nghiêm.


Ngoài ra, tại khu di tích tượng đá Đa Bút còn có cây hoa đại cổ thụ hàng trăm năm tuổi, được trồng ngay bên cạnh khu lăng mộ bà chúa Mẫu. Theo người dân địa phương, cây hoa đại này không biết có tự bao giờ, các cụ cao niên trong làng Đa Bút nay tuổi đã ngoài 90 những từ khi lớn lên đã thấy sự xuất hiện của cây hoa đại bên lăng mộ.


Cây hoa đại có đường kính lớn hai người ôm không xuể, gốc cây to nghiêng về một bên, phía trên là 4 thân cành to lớn, cằn cỗi, tán lá rộng. Điều đặc biệt trải quả thời gian dài lịch sử, cây hoa đại chưa từng bị đổ sập hay có dấu hiệu chết cành, quanh năm vẫn xanh tốt.


Những ngày hè, cây hoa đại tỏa bóng mát cả sân khu lăng mộ bà chúa Mẫu, màu hoa trắng vàng tỏa ngát hương.


Ông Tống Hùng Nam (60 tuổi, người trông coi khu di tích tượng đá Đa Bút), cho biết: “Trước đây, khu di tích hoang tàn như bãi đất hoang. Năm 1998, tôi lên khu vực này để khai hoang, dồn điền đổi thửa. Thấy khu di tích xuống cấp nên đã trùng tu, xây lại đền thờ cho bà. Những năm qua, nhờ sự quan tâm của chính quyền, người dân, và anh em bạn bè, khu di tích đã phần nào được chỉnh trang, trùng tu khuôn viên, sân vườn. Về cây hoa đại này thì chắc phải có niên đại đến hàng trăm năm tuổi, nhiều lần chỉ nghe các cụ bảo rằng cây hoa đại có từ ngày xây dựng khu lăng mộ cho bà chúa Mẫu”.


Tuấn Kiệt – Hoàng Đông


Người canh 'giấc ngủ' của tiền nhân

đăng 04:39, 4 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 05:20, 4 thg 7, 2020 ]

Khu lăng mộ danh nhân văn hóa Trịnh Hoài Đức (1765-1825, tác giả của bộ Gia Định thành thông chí, quan đại thần dưới triều vua Gia Long và Minh Mạng) nằm ở KP.3, P.Trung Dũng (TP.Biên Hòa) được xây dựng cùng năm ông mất đến nay đã khoảng 195 năm. Lăng mộ được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia. Người có công gìn giữ và chăm sóc lăng mộ danh nhân Trịnh Hoài Đức suốt hơn 22 năm qua là cựu chiến binh Nguyễn Đức Thùy (80 tuổi, ngụ P.Trung Dũng, thường gọi là ông Ba). 


Ông Nguyễn Đức Thùy giới thiệu về tiểu sử danh nhân Trịnh Hoài Đức được khắc trong lăng mộ. Ảnh: Đăng Tùng 


Chia sẻ về lý do gắn bó với công việc này, ông Ba cho biết, với ông công việc này không đơn thuần để mưu sinh mà còn thể hiện sự trân trọng, ngưỡng vọng hướng về bậc tiền nhân có công với vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. 


* Tấm lòng tri ân với danh nhân 

Nằm sâu trong hẻm 152 (đường 30-4, KP. 3, P. Trung Dũng, TP. Biên Hòa), dưới những tán cổ thụ mát rượi là nơi yên nghỉ của danh nhân văn hóa Trịnh Hoài Đức và phu nhân. Khu lăng mộ này do Trung tâm Văn hóa - thông tin và thể thao TP. Biên Hòa quản lý và trung tâm này thuê ông Ba là người trực tiếp chăm sóc. 

Hằng ngày, cứ 5 giờ 30, ông Ba lại mở cổng lăng, vào quét dọn; tỉ mẩn, cẩn trọng lau chùi bia, bình phong trong lăng mộ rồi dâng hương. Ông Ba tâm sự, dù quê tận tỉnh Hưng Yên nhưng ông lại rất có “duyên” và mang ơn vùng đất Biên Hòa, nơi ông công tác và an cư lạc nghiệp từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 

Ông Ba kể lại, đầu tháng 5-1975, ông (khi đó là cán bộ kỹ thuật Trung đoàn 935) đã cùng đồng đội vào tiếp quản sân bay Biên Hòa và công tác tại sân bay đến khi về hưu vào năm 1985. Do muốn gắn bó với mảnh đất Biên Hòa nên ông quyết định không về quê mà cùng gia đình sinh sống tại ngôi nhà nhỏ, gần khu lăng mộ danh nhân Trịnh Hoài Đức. 

“Lúc đó, thỉnh thoảng tôi vẫn vào lăng mộ để dâng hương bày tỏ lòng tri ân và mong muốn cụ Trịnh Hoài Đức phù hộ cho gia đình tôi an cư lạc nghiệp. Đến năm 1998, sau khi về hưu một thời gian, tôi mới chính thức ký hợp đồng với cơ quan chức năng để chăm sóc lăng mộ này và được trả công 1,5 triệu đồng/tháng. Từ đó, ngày nào tôi cũng mở cửa vào dâng hương, quét dọn sân và giới thiệu tiểu sử của danh nhân Trịnh Hoài Đức mỗi khi có các đoàn khách đến thăm viếng” - ông Ba tâm sự. 

Ông Ba cho biết, ông làm công việc chăm sóc lăng mộ danh nhân Trịnh Hoài Đức chủ yếu bởi tấm lòng tri ân với bậc tiền nhân. Lăng mộ của danh nhân Trịnh Hoài Đức và phu nhân đã có từ lâu đời, xung quanh nhiều cây cối nên vào mùa mưa, sân phủ rêu rất trơn trượt. Để quét dọn, lau chùi lăng mộ mỗi sáng sớm đối với người cao tuổi như ông cũng rất khó khăn, phải làm cẩn thận, chậm rãi để tránh té ngã. Vào mùa mưa, lá cây rụng nhiều nên sáng hôm sau ông phải tốn thời gian hơn để quét, gom lại. 

Với bản tính kỹ lưỡng, ông gìn giữ khu lăng mộ rất cẩn thận. Thậm chí, mỗi khi có khách đến viếng thăm lăng mộ, ông đều lưu ý họ giữ trật tự và không được đụng mạnh vào các hoa văn trên mộ. 

“Người thân nhiều lần khuyên tôi nên nghỉ vì tuổi đã cao nhưng tôi nghĩ bản thân là một người lính, thời chiến góp sức bảo vệ đất nước, thời bình được đóng góp xây dựng đất nước, nay về già được trông coi lăng mộ của tiền nhân vừa là một cách tri ân với người có công với đất nước, vừa tìm niềm vui tuổi già nên đến giờ tôi vẫn làm” - ông Ba bộc bạch. 

* Gìn giữ khu lăng mộ kỹ lưỡng 

Trông coi, gắn bó với lăng mộ danh nhân Trịnh Hoài Đức và phu nhân bao nhiêu năm thì cũng bấy nhiêu năm ông Ba đọc đi đọc lại và thuộc nằm lòng những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời vị đại thần nhà Nguyễn. Ông Ba cũng đã tìm đọc bộ Gia Định thành thông chí do danh nhân Trịnh Hoài Đức viết về địa lý, lịch sử, văn hóa của miền đất Gia Định xưa, do các NXB hiện nay phát hành. 


Các cấp lãnh đạo UBND P.Trung Dũng (TP.Biên Hòa) dâng hương viếng lăng mộ danh nhân Trịnh Hoài Đức. Ảnh: Đăng Tùng 


Ông Ba tâm niệm: “Để có thêm kiến thức giới thiệu về danh nhân Trịnh Hoài Đức cho bà con, khách tham quan, tôi đã tự phải tìm đọc bộ Gia Định thành thông chí và tìm hiểu thêm các bài viết về vị danh nhân này. Tôi cũng mong khu lăng mộ sẽ tiếp tục được trùng tu tốt hơn, được giới thiệu rộng rãi hơn để nhiều người biết đến, ghé tham quan, học tập, nghiên cứu. Vì đây không chỉ là nơi yên nghỉ của vị danh nhân tài ba mà còn là khu lăng mộ có lối kiến trúc rất độc đáo, đạt đến trình độ mỹ thuật cao”. 

Lăng mộ Trịnh Hoài Đứa gồm 2 mộ cổ của danh nhân và phu nhân được bảo tồn nguyên vẹn. Đây là 2 ngôi mộ có kiến trúc “Voi phục” rất độc đáo được xây bằng đá ong và hợp chất. Bình phong trước 2 ngôi mộ được tôn tạo nhiều lần trong nhiều năm, đặc biệt năm 2015, Ban Quản lý di tích và danh thắng tỉnh (nay thuộc Bảo tàng tỉnh) đã thực hiện bảng tiểu sử bằng đá để khách tham quan, người dân đến viếng có thể đọc và hiểu được cuộc đời, sự nghiệp danh nhân Trịnh Hoài Đức. 

Từ sự chăm sóc chu đáo của ông Ba nên khu lăng mộ của danh nhân Trịnh Hoài Đức luôn được giữ gìn sạch sẽ. Mọi người dân xung quanh cũng ý thức giữ gìn vệ sinh quanh lăng và thường vào dâng hương, dọn dẹp lăng mộ phụ ông Ba. 

Bà Lưu Kim Phụng (ngụ KP.3, P. Trung Dũng) bày tỏ: “Ông Ba chăm sóc lăng mộ danh nhân Trịnh Hoài Đức rất có tâm, không quản nắng mưa, hầu như ngày nào cũng mở cửa quét lá, lau bàn thờ, dâng hương cho ấm cúng. Bà con ở đây thấy vậy nên đi tập thể dục sớm cũng thỉnh thoảng vào dâng hương khi thấy ông mở cửa, để khu vực lăng thêm ấm cúng. Tôi nhà gần đây cũng nói ông làm cho 1 chìa khóa vào khu lăng mộ, để phòng khi có khách đến tham quan bất ngờ nhưng ông có việc đi vắng thì tôi cũng mở cửa giúp”. 

Ông Nguyễn Văn Tình, Giám đốc Trung tâm Văn hóa - thông tin và thể thao TP. Biên Hòa nhận xét, suốt 22 năm qua, ông Ba luôn cần mẫn trong việc chăm sóc lăng mộ danh nhân Trịnh Hoài Đức. Nhờ có ông Ba mà khu vực lăng mộ luôn được dọn dẹp sạch sẽ, tôn nghiêm, hương khói ấm cúng hằng ngày, thể hiện sự tri ân của nhân dân địa phương với danh nhân văn hóa Trịnh Hoài Đức. 


Lăng mộ danh nhân Trịnh Hoài Đức được xếp hạng di tích lịch sử theo Quyết định số 1539/QĐ của Bộ VH-TTDL ngày 27-12-1990. Đến ngày 6-9-2007, UBND tỉnh đã ra Quyết định số 2854/QĐ-UBND lấy tên danh nhân Trịnh Hoài Đức đặt cho con đường ven công viên Biên Hùng (thuộc P.Trung Dũng) - con đường cách lăng mộ ông chỉ 30m.


Đăng Tùng

Nghệ thuật chạm gỗ cửa võng đình Diềm

đăng 01:18, 3 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Ngôi đình làng Diềm xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh là một trong những điểm đến thu hút du khách khi đến với tỉnh Bắc Ninh, bởi nơi đây lưu giữ một kiệt tác của nghệ thuật chạm khắc trên gỗ, đó là bức cửa võng. 

Được xây dựng năm 1692, đình làng Diềm thờ Đức thánh Tam Giang là hai anh em Trương Hống và Trương Hát, những người có công theo Triệu Việt Vương đánh giặc Lương vào thế kỷ thứ VI. 

Tháng 1 năm 2020, bức cửa võng đình Diềm đã chính thức được công nhận là Bảo vật Quốc gia.
 Đình làng Diềm có kiến trúc đặc trưng của đình làng Bắc Bộ, bao gồm nhà tiền tế, đại đình. Với 4 mái cong được xây dựng theo kiến trúc truyền thống, phía ngoài, trừ hình rồng vờn mây được chạm ở các đầu mái cong, tất cả phần khung gỗ còn lại của khung đình đều được bào trơn, soi gờ chỉ chạy thẳng. Bước vào cửa đình, ai cũng sửng sốt khi đập vào mắt là hình ảnh bức cửa võng hoành tráng, lộng lẫy và được chạm khắc công phu, cầu kỳ, có một không hai.

Cổng đình làng Diềm.


Bức cửa võng đình Diềm có kích thước đồ sộ, hoành tráng với 4 tầng trải dài từ nóc xuống sát nền đình.


Tầng thứ 3 của cửa võng được chạm khắc tỉ mỉ, sơn son thếp vàng lộng lẫy.


Hình rồng được chạm chìm, nổi hút mắt trên cửa võng.


Những đèn lồng bằng gỗ được trang trí giữa hai tầng của cửa võng tạo nên sự uyển chuyển.


Hoa sen, tre những biểu tượng thân thuộc, thuần Việt tô điểm cho bức cửa võng đình Diềm.


Một trong bốn tượng cô tiên đang vén mây nhìn xuống tại tầng thứ 2 của cửa võng.


Một trong những hình chạm đặc sắc, độc đáo nhất của bức cửa võng. 


Hình rồng được người xưa chạm khắc nhiều nhất, với nhiều kiểu, nhiều tư thế sống động trên cửa võng.


Hình chạm khắc sinh động này là ở điểm cuối cùng bên trái của bức cửa võng.


Hình tượng rùa là linh vật duy nhất mà mọi người có thể nhận ra trong hàng trăm các linh vật có hình dáng kỳ lạ tại tầng thấp nhất của cửa võng.


Một trong số hàng trăm linh vật có hình dáng kỳ lạ được chạm trên cửa võng.


Những họa tiết cực kỳ đặc sắc, đẹp mắt trên bát bửu tại đình Diềm. 


Bức cửa võng đình Diềm có tuổi đời hơn 300 năm, nằm trong tòa đại đình. Trải dài suốt từ trên mái ở độ cao khoảng 7m xuống sát nền đình, gồm 4 tầng lớn được chạm khắc tinh tế với nhiều hình khối nghệ thuật, biểu tượng tứ linh như long, li, quy, phượng và những đề tài đậm chất nghệ thuật, toàn bộ bức cửa võng không có một khoảng trống. Từng mảng nhỏ được đục đẽo trang trí kỹ lưỡng, nổi bật. Lớp trên cùng áp mái có trạm hình mặt trời, mây vờn. Phần kế tiếp được trang trí tinh tế với điểm nhấn là bốn bức tượng cô tiên vén mây nhìn xuống. Tầng tiếp theo được sơn son thiếp vàng lộng lẫy, nổi bật nhất của cửa võng với nhiều khối hình rồng được chạm khắc chìm nổi vô cùng hút mắt. Tầng cuối cùng của cửa võng vòng ôm trọn nhang án. Mang màu gỗ mộc mặc nhưng đây lại nơi rất thu hút người xem với những hình linh vật kỳ lạ và sinh động.

Trong số hàng trăm linh vật chạm khắc trên cửa võng, người xem có thể chỉ nhìn ra duy nhất hình con rùa, còn lại có thể mặc sức tưởng tượng. Lạ hơn, người xưa còn chạm nổi hình một cô thôn nữ yểu điệu trên bức cửa võng …. Mỗi tầng trang trí với các chủ đề khác nhau, nhưng tất cả các tầng lại có mối liên kết hài hòa, uyển chuyển, mang vẻ đẹp nhân sinh, đề cao cuộc sống con người lao động và tinh thần dân chủ cũng như khát vọng phồn thực, mong muốn sự sinh sôi nảy nở của con người trong cuộc sống…

Bài và ảnh: Việt Cường

"Sáu xã Vạn Phước" còn mãi với thời gian

đăng 01:43, 26 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trải qua gần 6 thế kỷ với biết bao đổi thay, thăng trầm, vậy mà cái tên làng “Sáu xã Vạn Phước” vẫn được người làng gìn giữ, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đằng sau cái tên ấy là cả một câu chuyện dài về hành trình mở đất, lập làng đầy cam go, khó nhọc của những thế hệ người đi trước.

Ngày nay, địa danh này một phần thuộc địa phận huyện Mộ Đức, một phần "nằm" ở huyện Nghĩa Hành.

Hành trình mở đất của tiền nhân

Mang trong lòng những thắc mắc, vì sao hầu hết các nhà thờ họ tại xã Đức Hòa (Mộ Đức) đều khắc dòng chữ “Sáu xã Vạn Phước”, tôi lần giở sử liệu về cái tên này và bắt gặp những thông tin được viết khá tỏ tường từ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. 

Tên "Sáu xã Vạn Phước" vẫn còn lưu lại tại nhiều nhà thờ họ và chi phái tại hai xã Đức Hòa, Đức Phú (Mộ Đức). 


Hóa ra, cái tên “Sáu xã Vạn Phước” xuất phát từ hành trình mở đất của những bậc tiền nhân quê ở tỉnh Hà Đông (nay thuộc ngoại thành Hà Nội) là Trần Văn Đạt và Huỳnh Công Chế - những người đã tuân theo lệnh vua Lê Thánh Tông vào vùng đất nay thuộc huyện Mộ Đức để khẩn hoang, lập trại vào đầu thế kỷ XV. Sau khi cất công khai phá, biến miền đất vốn hoang hóa trở nên thuần thục, dân cư tụ hợp thành làng xóm.

Ông Trần Văn Đạt khi ấy đã cho lập trại, đặt tên là Vạn Phước (lấy từ tên Vạn Phúc - quê ông trên đất Bắc) để tưởng nhớ về chốn quê xưa. Đến năm 1598, trại Vạn Phước trở thành xã Vạn Phước, thu hút đông đảo con cháu họ Trần từ miền Bắc vào đây sinh sống, lập nghiệp.

Theo gia phả của họ Trần ở Vạn Phước (thủy tổ là ông Trần Văn Đạt), năm 1742, cháu đích tôn thứ 4 của ngài Trần Văn Đạt là ông Trần Đức Thiết, hiệp cùng cháu ông Huỳnh Công lập nên làng Vạn Phước Đông. Cùng khoảng thời gian đó, cháu của ông Hồ Công lập nên làng Vạn Phước Tây, cháu ông Phạm Công lập nên làng Vạn Phước Trung. 

Đến triều Gia Long lại hình thành thêm hai xã là Vạn Phước Hưng và Vạn Phước Chánh. Vậy là, trải qua hơn 300 ròng rã, Vạn Phước trại đã mở mang, phát triển thành “sáu xã Vạn Phước”. Và đến nay, người dân trong vùng vẫn tôn xưng 4 dòng họ đầu tiên đến lập làng, mở đất là “Trần, Huỳnh, Hồ, Phạm".

Trong đó, ông Trần Văn Đạt vừa là bậc tiền hiền của xã Đức Hòa, vừa là bậc tiền hiền của xã Đức Phú (Mộ Đức). Sự nghiệp khẩn hoang của ông đã được ghi rõ trong văn bia và gia phả họ Trần Vạn Phước. Ông còn là người góp công lớn đắp đập, khai kênh, xây dựng hệ thống dẫn nước tưới tiêu trong vùng như đào sông Thoa, kênh Đồng Kén, kênh Mương Chợ, kênh Bầu Đế - Phước Sơn...

Tên làng sống mãi với thời gian

Căn cứ vào địa bạ Quảng Ngãi, đến thời Minh Mạng, sáu xã Vạn Phước nhập vào tổng Quy Đức, huyện Mộ Hoa, tương ứng với địa phận hai xã Đức Hòa, Đức Phú (Mộ Đức) và một phần hữu ngạn sông Vệ, từ Hành Thịnh đến Hành Thiện, Hành Tín Đông (Nghĩa Hành) ngày nay.

Theo thời gian, tên các làng Vạn Phước Trung, Vạn Phước Chánh, Vạn Phước Đông, Vạn Phước Tây, Vạn Phước Xã, Vạn Phước Hưng dần nhường chỗ cho tên thôn, xóm bây giờ. Dẫu vậy, cái tên “Sáu xã Vạn Phước” vẫn được người làng lưu giữ theo nhiều cách khác nhau. 

Người làng Phước An, xã Đức Hòa (Mộ Đức) khắc tên làng Vạn Phước lên cổng làng để nhớ về địa danh "Sáu xã Vạn Phước" ngày xưa. 

“Nhà thờ họ và một số chi phái trong họ đều khắc chữ “Sáu xã Vạn Phước”. Dòng chữ “Sáu xã Vạn Phước” ấy là nhằm khẳng định tất cả chi phái đều xuất xứ từ một gốc, như “chim có tổ, người có tông”. Tất cả đều là từ sáu xã Vạn Phước”, ông Trần Hưng, Phó Chủ tịch Hội đồng gia tộc Trần Vạn Phước tại Mộ Đức, cho hay.

Không chỉ con cháu của dòng họ đầu tiên đến lập làng, mở đất lưu lại dấu ấn tên làng, mà người làng Phước An, xã Đức Hòa (Mộ Đức) còn đồng lòng lấy tên Vạn Phước khắc ghi lên cổng chào vào thôn. Theo người làng Phước An, đó là cách để họ “nhắc nhở, khuyên nhau nhớ lấy cội nguồn”...

Tiền nhân có công mở đất, hậu thế vì vậy mà ghi ơn. Nhờ hậu thế đồng lòng nhắc nhở, khuyên cháu con nhớ lấy cội nguồn, nên cái tên “Sáu xã Vạn Phước” trải qua mấy trăm năm thăng trầm, giờ vẫn còn mãi với thời gian...

Bài, ảnh: Ý THU

Huyền thoại về dũng sĩ, nghệ sĩ Ama Kông

đăng 07:07, 25 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Ama Kông thổi tù và. Ảnh: Đ.B.T trên laodong.vn


Ảnh trên là tui mượn từ báo Lao động online, vì nó đẹp và là một trong những bức ảnh hiếm hoi Ama Kông đang thổi tù và. Nhưng tui tự hào vì tui không có ảnh nhưng có clip ông đang thổi tù và cơ! Không phải một mà là đến 3 clip!


Ama Kông là vua săn voi lẫy lừng của Tây nguyên. Ngày ấy, mỗi khi đoàn săn voi khởi hành để đi săn thì người trưởng đoàn (ở đây là Ama Kông) lấy tù và ra và thổi một hồi còi xuất quân. Khi tiếp cận được voi và bắt đầu vây bắt, người trưởng đoàn lại nổi một hồi còi xung trận. Cuối cùng, khi đã bắt được voi và lên đường về nhà, lại một hồi còi nữa, có thể coi là hồi còi khải hoàn. Tiếng tù và vang rất xa và người ở nhà có thể nghe thấy để biết được những dũng sĩ của mình đang làm gì.


Hồi còi xuất quân của Ama Kông


Hồi còi xung trận của Ama Kông


Hồi còi khải hoàn của Ama Kông


Thấy Ama Kông thổi hùng hồn vậy, chớ tui mượn thổi thử thì... chỉ nghe tiếng thở phì phò. Mà kể gì đến tui là tay mơ, nghe nói dân thổi kèn chuyên nghiệp cũng khó mà thổi cho nó... kêu chớ đừng nói gì tới chuyện ra điệu nhạc. Bây giờ Ama Kông chết rồi, săn voi cũng bị cấm rồi, chắc chẳng còn ai thổi những hồi còi này nữa. 3 đoạn clip trên của tui trở thành... di sản!


Ama Kông là dũng sĩ săn voi nổi tiếng, cả đời ông săn được 298 con voi, có lẽ chỉ thua vua săn voi Y Thu K'Nul với gần 400 con voi. Sau 1975, nhà nước cấm săn bắt voi nên số voi Ama Kông bắt được chỉ dừng lại ở con số đó, chứ nếu không có thể ông phá được kỷ lục của vua săn voi.


Tui biết Ama Kông khoảng năm 2000, khi đến thăm Vườn Quốc gia Yok Đôn. Lúc đó ông 90 tuổi nhưng vẫn còn khỏe mạnh, cường tráng. Thế nhưng không được săn voi nữa thì dũng sĩ săn voi biết làm gì? Đáng buồn thay, ông ký hợp đồng với Vườn quốc gia Yok Đôn để làm... người hướng dẫn du lịch. Thật ra, ông đâu có hướng dẫn được gì vì... ông đâu có nói được tiếng Việt! Ama Kông là người M'Nông, có gốc gác Lào. Khi ông giới thiệu các đồ nghề săn voi hay nói về chuyện đi săn thì người của Vườn quốc gia phải phiên dịch lại. Thổi tù và thì... khỏi dịch. Có thể nói ông là một huyền thoại sống được Vườn quốc gia trưng bày cho khách du lịch chiêm ngưỡng, hoặc so sánh tệ hơn: ông như một con thú quý ở trong sở thú cho công chúng tham quan!


Tiếng là hướng dẫn viên du lịch nhưng Ama Kông chủ yếu ngồi... làm mẫu, người khác thuyết minh


và để chụp hình lưu niệm


Kề về ông thì nhiều chuyện ly kỳ lắm. Săn voi có rất nhiều tiền, mỗi con trị giá bằng 10 căn nhà sàn dài gỗ tốt, mà Ama Kông lại săn được gần 300 con, đủ hình dung ông giàu tới cỡ nào. Ông là một tay chơi bạt mạng, không kém gì công tử Bạc Liêu. Khoảng năm 1959 - 1960, ông từng bán voi lấy tiền, đi máy bay từ Buôn Ma Thuột đến Sài Gòn để... đánh bài! Trong 3 ngày, thua sạch một con voi!


Nhưng lừng lẫy nhất trong đời ông là sự nghiệp yêu đương. 
Săn voi giỏi, tay không bắt bò rừng, biết thổi tù và, chơi giỏi nhiều nhạc cụ, khiến các sơn nữ mê mẫn. Đáp lại, ông yêu mạnh mẽ, yêu bạt mạng, yêu bất cần đời! Theo phong tục người M'nông, người đàn ông chỉ có một vợ nhưng rất dễ ly dị để cưới vợ khác, chỉ cần khi ly dị thì toàn bộ tài sản đều là của người vợ, người đàn ông tay trắng ra đi. Không biết Ama Kông có bao nhiêu người yêu, nhưng buôn làng ghi nhận ông chỉ có 4 lần cưới vợ. Cứ mỗi lần cưới vợ mới là mỗi lần ông trắng tay, vậy mà cứ... không chừa. Người vợ thứ tư được ông cưới năm 83 tuổi, lúc đó cô ấy 25 tuổi!


Tướng ngồi quá "khiêu khích", phải không?


Người ta cho rằng Ama Kông yêu khỏe như vậy nhờ có bài thuốc quý, uống công hiệu hơn cả Viagra. Trong lúc làm hướng dẫn viên du lịch ông tranh thủ chào bán luôn thuốc Ama Kông. Bây giờ Ama Kông qua đời rồi, nhưng công thức pha chế thuốc vẫn truyền lại cho con cháu. Bạn lên Tây nguyên sẽ thấy bán đầy thuốc Ama Kông, nhưng thật hay giả, công hiệu hay không thì... uống mới biết!


Sau lần đầu tiên năm 2000, tui nhiều lần ghé lại Vườn Quốc gia Yok Đôn, lần nào cũng gặp Ama Kông. Riêng năm 2002 khi tui tới thi ông vắng, giám đốc Vườn Quốc gia nói Ama Kông xin phép nghỉ để ở nhà chăm... vợ đẻ. Năm đó ông 92 tuổi!


Khi Ama Kông tiếp cận với công nghệ thông tin


Rạng sáng 3/11/2012 Ama Kông vĩnh biệt cõi trần ở tuổi 102. Một huyền thoại đã ra đi vĩnh viễn.


Phạm Hoài Nhân

Về bức ảnh cổ thành Quảng Ngãi đầu thế kỷ XX: Trăm năm người xưa, chuyện cũ

đăng 00:53, 17 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Có lẽ cho đến nay, khó có thể tìm thấy hình ảnh nào về Quảng Ngãi cách đây hơn trăm năm trước, trừ dăm bức ảnh bờ xe nước sông Trà do người Pháp chụp. Vừa rồi, tôi tìm thấy một bức ảnh chụp ở cổ thành Quảng Ngãi vào đầu thế kỷ XX. Bức ảnh gợi đôi điều về một tỉnh thành cũ mà dường như nay khó tìm ra dấu vết, vài hình bóng người xưa, cùng câu chuyện lịch sử ở cổ thành này vào thời gian đó.

Các cổ thành ở Quảng Ngãi

Quảng Ngãi có nhiều cổ thành. Thành Châu Sa là một tòa thành đất của người Chăm, hư hao nhiều, nhưng nay vẫn còn ít nhiều hào, lũy nguyên vẹn, dù đã trải qua hơn mười thế kỷ dãi dầu nắng mưa và lắm cuộc binh đao. Và cũng là của người Chăm, thành Cổ Lũy, thành Bàn Cờ giờ cũng chơ vơ cùng tuế nguyệt. Một thành đất khác, thấm đẫm trong đó ít nhiều huyền thoại, gắn liền với bước chân Quang Chiếu vương Mai Đình Dõng trấn nhậm vùng đất này vào năm 1571, nay cũng còn một đoạn thành. Rồi Phú Nhơn, Phú Đăng, từng là nơi đóng lỵ sở thời còn dinh, trấn Quảng Ngãi, trước khi thành Quảng Ngãi dựng xây kiên cố, nay dường như đã xóa mờ dấu vết. Ở các phủ, huyện xưa, cũng có các tòa thành, như đôi dòng ghi chép trong "Đại Nam nhất thống chí" hay "Đồng Khánh địa dư chí" cách đây hơn trăm năm, nhưng khó có thể nào tìm ra hình hài ngày trước. 

Bức ảnh chụp cổ thành Quảng Ngãi đầu thế kỷ XX. Ảnh tư liệu của Đăng Vũ 


Và cổ thành của tỉnh lỵ Quảng Ngãi sau này, hay còn gọi là tỉnh thành Quảng Ngãi, dẫu kiên cố hơn, bằng gạch, đá ong và vôi vữa tam hợp, nhưng giờ đây, ta cứ thử đi vòng quanh nơi tòa thành được xây dựng vào năm 1807 và hoàn thành năm 1815 với sự giúp sức về thiết kế của quan Pháp, thì cũng chỉ tìm ra một hào thành, quanh co, dích dắc theo con đường đã được đặt tên là đường Cẩm Thành cách đây chừng mươi năm trước - một con đường mà không mấy người, ngay ở phố thị này, biết đến.

Trong bức ảnh kèm theo bài viết này, ta thấy có một cổng thành khá bề thế. Cổng thành hình vòm cuốn, bên trên có vọng lâu. Đây là cổng phía nào của cổ thành Quảng Ngãi? Lại có thấy một mái nhà lợp ngói và một trụ cổng. Vậy đây là khu nhà nào của cổ thành Quảng Ngãi xưa?

Cổ thành Quảng Ngãi và dấu vết còn lại qua bức ảnh

Thái Đình Lan, một nho sinh của huyện Bành Hồ (Đài Loan), sau lần đi thi đỗ Hương tiến, lúc từ Phúc Kiến trở về, thuyền bị gió bão đánh trôi dạt vào bờ biển Quảng Ngãi. Tại đây, ông đã được quan địa phương đưa đến tỉnh thành Quảng Ngãi. Trong những ngày ở đây, ông có ghi chép ít nhiều về cổ thành, sinh hoạt quan lại, đời sống dân chúng ở trong thành, quanh thành, vào cuối năm 1835, trong cuốn sách nổi tiếng của ông là "Hải Nam tạp trứ", được khắc in lần đầu tiên vào tháng trọng thu (tháng 8) năm Đạo Quang Đinh Dậu (1837). 

Thái Đình Lan cho biết: Cách sông chừng một dặm là thành Quảng Ngãi. Trú đóng tại tỉnh có một quan Bố chánh, một quan Án sát, một quan Trấn binh, gọi chung là ba vị đường quan. Có hai ty, là Ty Phiên và Ty Niết. Thành này tục gọi là thành Cù Mông, mở 3 cửa: Đông, Tây, Bắc. Quan thự, kho tàng, dinh trấn đều đặt trong thành.

Trong các bộ sách "Đại Nam nhất thống chí", "Đồng Khánh địa dư chí" của Quốc sử quán triều Nguyễn, phần viết về tỉnh Quảng Ngãi, được khắc in sau này, cũng ghi chép tương tự, nhưng có viết rõ thêm về lịch sử xây thành, chu vi, độ cao, chất liệu bờ thành, độ sâu hào thành... Lại có cả sơ đồ, ghi chú các hướng, vị trí các dinh thự, hành cung, kho tàng, do tỉnh thần Quảng Ngãi "kính tuân lời phiên vẽ tiến trình", có cấu trúc bình đồ vuông (vauban) theo lối Pháp. Đại lược, tỉnh thành Quảng Ngãi vốn đặt ở xã Phú Nhơn, năm 1802 dời về xã Phú Đăng, đến năm 1807 dời về địa điểm hiện nay. Đầu năm 1815 xây thêm đá ong. Thành nằm ở xã Cù Mông (sau đổi là Chánh Mông, sau nữa là Chánh Lộ).

Theo một vài tài liệu viết về cổ thành Quảng Ngãi sau này, còn có thể biết thêm, sau năm 1885, đi theo trục từ cửa Tây xuống cửa Đông (theo trục đường Lê Trung Đình hiện nay), ngoài dinh Tuần vũ, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh, Thái y... ở phía phải; còn ở phía đối diện, có Trại lính, Hành cung, dinh Công sứ Pháp...

Cái cổng thành nhìn khá rõ trong bức ảnh này, có lẽ là cổng cửa Đông. Các vị đường quan cùng quân lính đang hướng về cửa Tây trong buổi đón quan Công sứ Pháp. Mái nhà lợp ngói, có trụ cổng, có thể là dinh Công sứ.

Chỉ là một bức ảnh, nhưng câu chuyện xoay quanh nó còn nhiều điều thú vị. Ít nhất, ở đây, chúng ta cũng nhận ra dấu vết của một cổ thành, về hình ảnh của những quan lại, lính tráng thời đó, gợi mở những câu chuyện về lịch sử. Còn tác giả bức ảnh này là ai? Tôi có lục vài trang tư liệu khác, xem những bức ảnh cùng thời, chụp ở nhiều nơi, tôi nghĩ rằng tác giả bức ảnh này là Pierre Dieulefils (1882 - 1937). Tuy nhiên, về vấn đề này, xin được bàn thêm vào dịp khác.

Người xưa, chuyện cũ quanh bức ảnh 

Xem hai dòng chú thích phía trên bức ảnh này, có thể hiểu: "AN NAM (tức Việt Nam): Thành cổ Quảng Ngãi. Các quan viên chờ đón Công sứ Pháp". Xem trên mạng, có một vài người cũng đã tiếp cận bức ảnh này, từ một nguồn nào đó không rõ. Có người cho là bức ảnh chụp năm 1910; có người cho là chụp năm 1916.

Có một người bạn trẻ cho tôi một đường dẫn đến trang web mua bán bưu thiếp xưa của Đức, mà ở đó tôi đã tìm thấy có rất nhiều hình ảnh của nhiều nước, từ năm 1890 đến năm 1945, trong đó có bức ảnh này. Ở bên dưới bức ảnh, có ghi chú bằng tiếng Đức: "Ungelaufen, datiert 1906, sehr guter Zustand". Theo ghi chú này, thì bức ảnh quan viên đón tiếp quan Công sứ Pháp ở cổ thành Quảng Ngãi được chụp năm 1906.

Nhìn những hình bóng người xưa trong bức ảnh, rồi lại suy nghĩ loanh quanh đôi dòng ghi chú, tôi đã cố lục lại vài tư liệu, để xem họ là những ai trong bức ảnh quý hiếm này.

Vào năm 1905, trong "Annuaire général de l'Indo-Chine, 1905", thấy có ghi chép tên hơn 20 quan chức ở thành Quảng Ngãi vào năm này. Công sứ Pháp là Marchant de Trigon. Đứng đầu chức quan của Nam triều ở Quảng Ngãi có Tuần phủ Nguyễn Xuân Triêm, Án sát Hồ Đắc Du, Phó đề đốc Đỗ Đức Phong, Phó lãnh binh Võ Hữu Trí, Đốc học Nguyễn Duy Thăng. Ngoài ra, có những người khác làm việc trong dinh Tuần vũ và dinh Án sát. Theo Wikipedia.org về Danh sách Công sứ Pháp ở Việt Nam, thì ở Quảng Ngãi còn thêm Phó sứ là Mulotte, đại diện ở Làng Rí Haquet, Giám binh Breugnot; Thành thủ úy Phạm Thế Năng.

Vào năm 1906, Công sứ Quảng Ngãi vẫn là Marchant de Trigon; phó là Vernier, đại diện ở Làng Rí Trinquet, giám binh Raux; tuần phủ Lê Từ (thay Nguyễn Xuân Triêm), án sát Hồ Đắc Du, đốc học Nguyễn Duy Thăng, Thành thủ úy Phạm Thế Năng, phó lãnh binh Vũ Hữu Trí, phó đề đốc Đỗ Đức Phong.

Vào năm 1907, ở Quảng Ngãi, Công sứ là M. Dodey; phó là Fries, đại diện ở Làng Rí Haguet, giám binh Cornu; Tuần phủ vẫn là Lê Từ, các quan viên khác cũng không thay đổi.

Xem lại danh sách các viên Công sứ Pháp ở Quảng Ngãi, thấy Marchant de Trigon làm Công sứ tại đây từ năm 1904 đến 1906. Đến năm 1907 thấy có tên M.Dodey làm Công sứ Quảng Ngãi. Có lẽ việc Khâm sứ Trung kỳ Moulié và nhà cầm quyền Pháp đưa M.Dodey làm Công sứ Quảng Ngãi vì thấy tại Quảng Ngãi đang bùng phát việc chống Pháp lẫn chống quan lại địa phương (do những người khởi xướng Hội Duy Tân ở Quảng Ngãi là Lê Đình Cẩn và Nguyễn Bá Loan lãnh đạo, nhằm hưởng ứng các chủ trương của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và phong trào Đông Kinh nghĩa thục). 

Theo một cuốn sách xuất bản ở Hồng Kông năm 1912, có thống kê các công sứ Pháp ở xứ An Nam, thì đến năm 1912, M.Dodey vẫn làm Công sứ Quảng Ngãi. Đọc sách "Tìm hiểu các phong trào yêu nước của nhân dân Quảng Ngãi, 1885 - 1945" của Bùi Định, xuất bản năm 1985, sẽ thấy vai trò của Công sứ M.Dodey, cùng Nguyễn Thân, chỉ huy trấn áp các cuộc nổi dậy của các chí sĩ yêu nước và nhân dân Quảng Ngãi vào khoảng thời gian này.

Nhìn lại bức ảnh với các dòng chú thích, lật giở vài trang tư liệu, chúng ta có thể suy đoán: Đó là hình ảnh các quan chức Quảng Ngãi đang chờ đón quan Công sứ M.Doley đến nhậm chức. Và nếu theo đúng chú thích của trang web của Đức, thì ảnh này có thể được chụp vào cuối năm 1906, hoặc đầu năm 1907, khi M.Doley đến thay Marchant de Trigon.

Cũng dựa trên các dữ liệu trên, chúng ta có thể suy đoán, các vị quan chức ở tỉnh Quảng Ngãi đang chờ đón Doley, gồm: Ổ hàng ghế ngồi, có lọng che, đầu tiên là Tuần vũ Lê Từ, người thứ hai là Án sát Hồ Đắc Du, hai người còn lại và một người đang đứng riêng, giữa ảnh, có thể là ba trong bốn người còn lại: Đốc học Nguyễn Duy Thăng, Phó lãnh binh Võ Hữu Trí, Phó đề đốc Đỗ Đức Phong, Thành thủ úy Phạm Thế Năng. 

Về tiểu sử, hành trạng của các vị quan chức này, có thể tham khảo thêm cuốn sách của tác giả Bùi Định đã nói trên kia và vài tư liệu khác, đặc biệt về Thành thủ úy Phạm Thế Năng, với đầy tội lỗi trong lịch sử chống Pháp ở Quảng Ngãi. Riêng về Tuần vũ Lê Từ, cũng có thấy có những lời phê phán nặng nề, nhưng qua gia phả họ Lê làng Văn Xá (Thừa Thiên), có thể nói thêm vài điều. Ông Lê Từ sinh tại làng Văn Xá, Tổng Phú Ốc, tỉnh Thừa Thiên (nay thuộc Hương Văn, huyện Hương Trà), sinh năm 1855 mất 1928, đậu Cử nhân năm 22 tuổi (khoa Mậu Dần, Tự Đức thứ 31). Sau khi được bổ làm quan ở nhiều nơi, năm 1906, ông được bổ làm Tuần vũ Quảng Ngãi. Theo gia phả, thì lúc làm quan ở Quảng Ngãi, gặp lúc dân nổi lên kháng sưu, ông không thuận để người Pháp đàn áp dân, nên bị buộc về hưu sớm (1908).

Về những người khác, có nêu trên, ắt hẳn phải tìm hiểu thêm, vì không thể chỉ qua đôi điều về một bức ảnh mà hiểu biết rõ về họ, cũng như về lịch sử quê nhà, dù chỉ trong một vài năm ở đầu thế kỷ XX. 

TS. NGUYỄN ĐĂNG VŨ

Cây thốt nốt trái tim ở An Giang đã trở lại

đăng 02:01, 14 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đến An Giang, du khách không khó bắt gặp những hàng thốt nốt trải dài. Thốt nốt là loại cây đặc trưng của vùng bảy núi An Giang, với hình dáng bên ngoài giống cây dừa và lá cọ. Huyện Tri Tôn hay huyện Tịnh Biên ở An Giang được coi là xứ sở của loài cây này. Những du khách đã từng một lần đến đây đều thưởng thức loại cây trái ngon này và đều nhớ mãi thứ đặc sản của vùng biên.

Hàng thốt nốt tạo thành hình trái tim thuộc địa phận xã An Tức, huyện Tri Tôn, là một trong những điểm check-in được giới trẻ yêu thích khi du lịch An Giang.

Thốt nốt trái tim trước đây – Ảnh: trangnhonho


Cây thốt nốt khi bị chặt lá


Cây thốt nốt trái tim huyền thoại được xem là biểu tượng của Tri Tôn từng bị chặt lá khoảng 2 năm về trước lận, tới nay đã ra lá trở lại và đẹp gần nguyên vẹn như xưa.

Cây thốt nốt đã ra lá trở lại


Đẹp gần nguyên vẹn như xưa


Muốn đến cây thốt nốt này bạn di chuyển tới địa phận huyện Tri Tôn, đến Uỷ ban Nhân Dân xã An Tức, đối diện đó là một trạm phát sóng điện thoại, đi vào con hẻm nhỏ dẫn ra đồng, bạn sẽ tìm thấy cụm cây thốt nốt có hình dáng trái tim vô cùng độc đáo.

Ảnh: Trinh Nhi


Cây thốt nốt trái tim, hiện lên nổi bật giữa cánh đồng lúa xanh rì, khung cảnh cực kỳ thơ mộng, thỏa sức cho các bạn trẻ chụp hình sống ảo.

Ảnh: Trang Nhím


Ảnh: ninhletrang


Ảnh: Nguyễn Thanh Tuấn


Đặc biệt đã đến đây bạn đừng quên thưởng thức nước thốt nốt, và món gà đốt lá chúc đặc sản siêu ngon.

Món gà đốt nổi tiếng


Mekong Delta Explorer

Cây đa Di sản đền Thánh Tản

đăng 03:56, 9 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:06, 14 thg 6, 2020 ]

Cây đa cổ thụ trong khuôn viên đền thờ Tản Viên Sơn Thánh ở xóm Quýt (xã Yên Bài, huyện Ba Vì, Hà Nội) là “báu vật” xanh của vùng đất Xứ Đoài ngàn năm mây phủ. 

Ở Việt Nam, cây đa được tìm thấy tại nhiều đình, chùa và khu vực làng quê. Hầu như làng quê truyền thống ở Bắc Bộ nào cũng có những cây đa cổ thụ trong làng và bên cạnh các di tích, gắn liền với phong cảnh làng quê “cây đa, bến nước, sân đình”. Ý nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là sự trường tồn, sức sống dẻo dai. Câu chuyện về cây đa cổ thụ xóm Quýt nằm bên đền cổ thờ Tản Viên Sơn Thánh được nhắc đến nhiều lần trong câu chuyện của các chuyên gia thuộc Hội đồng Cây di sản Việt Nam (Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam) nhưng chỉ khi bước chân đến nơi này mới có thể cảm nhận được sự hoành tráng của một trong những cây đa cổ thụ được cho là lớn nhất ở Việt Nam.

Cây đa xóm Quýt nằm trong khuôn viên bên Đền thờ Tản Viên Sơn Thánh.


Để khẳng định ý nghĩa biểu tượng và giá trị văn hóa, lịch sử lâu đời của cây đa xóm Quýt, năm 2011,

Hội đồng Cây di sản đã công nhận cây đa xóm Quýt là Cây di sản Việt Nam cần được bảo tồn và giữ gìn.

Hai cụm thân có chu vi khổng lồ của cây đa xóm Quýt được người dân ở đây gọi là cây chồng, cây vợ.


Thân cụm thứ nhất của cây đa di sản có chu vi hơn 40m.


Đền thờ Tản Viên Sơn Thánh dưới chân hai cụm thân của cây đa nghìn năm tuổi.


Tán lá của cây đa xóm Quýt là nơi của nhiều cây leo sinh sống.


Tán cây đa lớn, dày che ánh sáng khiến thực vật mọc dưới sân phát triển quanh năm tạo thành thảm.


Thực vật mọc, sinh sống trên mái ngôi đền cổ.


Một góc cụm thân cây đa.


Cụm thân thứ hai của cây đa xóm Quýt có chu vi hơn 30m nhìn từ đường dẫn vào Đền thờ Tản Viên Sơn Thánh.


Cụm thân cây đa nằm trước Đền thờ Tản Viên Sơn Thánh.


Có tuổi đời ước tính hàng ngàn năm nhưng cây đa di sản xóm Quýt hiện vẫn vươn mình xanh tốt.


Du khách tham quan báu vật xanh của xóm Quýt. 


Từ xa nhìn lại, tán đa khổng lồ vươn cao che phủ cả một khu vực rộng lớn. Sau cả ngàn năm, gốc đa đã chia thành hai cụm thân lớn, mỗi cụm cả chục người ôm không xuể. Thân cây xù xì, lắm hang nhiều hốc, từ các cành ngang mọc ra các rễ phụ, như các cột trụ lớn tựa cột đình cắm sâu vào trong đất hỗ trợ thân chính chống đỡ sức nặng của cây khổng lồ này.

Ngày 15/02/2016, Cây Đa xóm Quýt đã được Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường (VACNE) vinh danh là Cây di sản Việt Nam.
 Các cụ cao tuổi ở thôn Quýt không biết chính xác “cụ” đa có mặt ở đây từ bao giờ nhưng theo những câu chuyện của cha ông kể lại thì cây đa và đền thờ Tản Viên Sơn Thánh bao đời nay luôn là điểm dựa tinh thần, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân nơi đây. Dấu ấn thời gian đã khắc ghi lên từng nhánh thân, từng cụm rễ bám sâu bền bỉ vào lòng đất. Năm 2011, Hội đồng Cây di sản Việt Nam đã khảo sát và đưa ra những số liệu gây “choáng” ngợp về cây đa ngàn năm này.

Theo đó, chu vi cụm thân thứ nhất là 43m và cụm thân thứ hai cũng có chu vi lên tới 37m, đỉnh cao nhất của cây là khoảng 40m.

Cây đa cổ thụ ở đền Thánh Tản vẫn đứng đó, bền bỉ, lặng lẽ, thâm trầm, trải cùng nắng mưa và thời gian, như “nhân chứng sống” cho sự hình thành, phát triển của mảnh đất Yên Bài, dưới chân núi Ba Vì, ngàn năm mây phủ.

Đền thờ Tản Viên Sơn Thánh (hay còn gọi là đền Thánh Tản) thờ Sơn Tinh, là một nhân vật trong truyền thuyết Việt Nam. Trong tâm thức dân gian của người Việt, Tản Viên Sơn Thánh là vị thánh biểu đạt cho những khả năng vô tận chiến đấu chống thiên tai, lũ lụt để bảo vệ mùa màng và cuộc sống. Thánh Tản là một trong “Tứ bất tử” - là tên gọi chung của bốn vị thánh bất tử trong tâm thức của người Việt Nam. 

Bài và ảnh: Việt Cường

Sao sáng sông Trà

đăng 03:22, 9 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Chí sĩ yêu nước Lê Ngung là một trong những ngôi sao sáng ở vùng đất sông Trà. Tài liệu lịch sử đã viết: Lê Ngung là một trong 284 Anh hùng của Việt Nam. Bảo tàng Tổng hợp tỉnh hiện đang làm hồ sơ đề nghị công nhận mộ và đền thờ Lê Ngung là di tích lịch sử cấp tỉnh, như là cách để nhắc nhớ thế hệ hôm nay và mai sau về một con người có tấm lòng yêu nước nồng nàn, kiên cường, bất khuất. 

Chuyện ông Tú Ngung

Chúng tôi tìm về xã Bình Thanh (Bình Sơn), nơi tọa lạc mộ và nhà thờ Lê Ngung. Qua lời kể của ông Lê Thanh Hùng, cháu đời thứ 3 của cụ Lê Ngung, mỗi người đều trào dâng niềm xúc động, hiểu và cảm nhận sâu sắc hơn tấm lòng yêu nước thương dân, sự hy sinh cao cả của cụ Lê Ngung. 

Nhà thờ chí sĩ yêu nước Lê Ngung. 


Lê Ngung (1865 - 1916) tên thật là Lê Hiếu Ngung, quê làng Đông Phước, tổng Bình Điền, huyện Bình Sơn, nay là thôn Phước Hòa, xã Bình Thanh. Ông sinh ra trong gia đình nghèo, hiếu học, giàu truyền thống Nho gia. ông nội của ông là Lê Hiếu Hữu - Tú tài trường thi hương Bình Định, Tuần vũ tỉnh Hưng Hóa vào năm Tự Đức thứ 8, cha là Lê Hiếu Thuận, một nho đồ có tiếng trong làng. Lúc nhỏ, Lê Ngung nổi tiếng thông minh. Sau khi đỗ Tú tài tại trường thi hương Bình Định (năm 1897), ông không ra làm quan mà trở về quê nhà làm nghề dạy học, kết giao người tài, tìm đường cứu nước. Người dân trong vùng gọi ông một cách thân tình là Tú Ngung. Chứng kiến cảnh nước mất, nhân dân sống cảnh lầm than, ông đau đáu trong lòng. Năm 1901, Lê Ngung thôi dạy học, bí mật tham gia hoạt động yêu nước. 

Hy sinh vì nghĩa lớn

Năm 1906, Lê Ngung gia nhập Hội Duy Tân Quảng Ngãi. Năm 1908, ông tham gia phong trào cự sưu, kháng thuế. Trước sức mạnh của phong trào, thực dân Pháp ra sức đàn áp, khủng bố trắng. Lê Ngung bị địch bắt, kết án 9 năm tù và giam tại nhà lao Quảng Ngãi. Năm 1913, Lê Ngung được ân xá, trả tự do. Ông tìm cách liên lạc với các nhà yêu nước uy tín ở Thừa Thiên, Quảng Nam như Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Bá Trim, Phan Thanh Tài, hợp sức với Nguyễn Thụy, Nguyễn Đơn Quế, Lê Triết để phục hồi phong trào ở Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ theo đường lối của Việt Nam Quang Phục hội.

Để phục vụ cho cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp ráo riết vơ vét, bóc lột thuộc địa và bắt lính, để lại hậu quả hết sức nặng nề và sự căm phẫn trong nhân dân. Trước tình hình đó, Lê Ngung cùng Thái Phiên - một nhà yêu nước nhiệt thành của tỉnh Quảng Nam tổ chức một cuộc họp mặt các nhà yêu nước Trung Kỳ ở Đà Nẵng nhằm quyết định xúc tiến một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn để cứu nước, cứu dân. Để chuẩn bị khởi nghĩa, Lê Ngung cùng các cộng sự lên các vùng trung du, miền núi trong và ngoài tỉnh xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài; đồng thời lập “ban vận lương” do Hộ quốc mẫu nghi Võ Thị Đệ đảm trách, kêu gọi nhân dân đoàn kết chống giặc. 

Tháng 2.1916, Lê Ngung tham gia hội nghị được tổ chức tại Huế do Thái Phiên chủ trì. Hội nghị nhất trí cần khởi nghĩa ngay, ông được phân công chỉ huy khởi nghĩa ở Quảng Ngãi và thảo hịch cho vua Duy Tân nhằm cổ vũ toàn dân chống giặc. Tuy nhiên, kế hoạch khởi nghĩa bị lộ, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp những người tham gia phong trào. Những nhà yêu nước như Nguyễn Thụy, Võ Cẩn, Võ Cư, Mai Tuấn, Hứa Thọ bị xử trảm; Phạm Cao Chẩm, Địch (học trò của Lê Ngung) bị đày đi Côn Đảo. Còn Lê Ngung thoát được, tạm lánh ra Hội An.

Để bảo vệ tổ chức và quyết không để rơi vào tay giặc, Lê Ngung bí mật quay về Tham Hội đốt hết tài liệu và day dứt vì nợ nước, thù nhà chưa trả hết mà nghẹn ngào thốt lên: “Trời đã hại giống Lạc Hồng! Đã biết bao phen anh hùng đất nước đứng lên đều ngã xuống! Duy ta chỉ biết lấy hồn thiêng máu đỏ mà đền ơn, đáp nghĩa nước non, tổ tiên cho trọn đạo trung hiếu! Than ôi! Uất hận thay! Đau đớn thay!”.

Sau đó, ông vái lạy mẹ già và tổ tiên rồi phục dược tử tiết vào ngày 7.5.1916. Địch vẫn không tha, chúng thi hành bản án “lục thi trảm niệu” (chém thi hài). Nghe tin ông mất, cảm phục khí tiết, cốt cách của Lê Ngung và các chí sĩ yêu nước của Việt Nam Quang Phục hội, nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng đã viết bài “Khóc cử Hổ Tiếu Nguyễn Sụy và Tú Ngung, Tú Chẩm” khi đang bị giam cầm ở nhà lao Côn Đảo: “Sao lặng, dông mây cũng vắng tăm/ Núi hò biển hẹn cọp beo câm/ Một thớt đầu lô bầu máu nóng/ Ngọn triều bến lũy dậy quanh năm”.

Sau khi Lê Ngung mất, gia đình và nhân dân địa phương đã góp công, góp của xây mộ, lập nhà thờ để tưởng nhớ và phụng thờ ông với tấm lòng tri ân, kính trọng. Giờ đây, mộ và nhà thờ Lê Ngung là điểm đến để giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ. Chí sĩ yêu nước Lê Ngung mãi là ngôi sao sáng sông Trà, sống mãi trong lòng dân!

Bài, ảnh: D.HÀ - P.LÝ

1-10 of 22