Con người và sự kiện

Bài mới

  • "Kho báu" từ những con tàu cổ Con tàu cổ bị đắm ở vùng biển Dung Quất thuộc thôn Tuyết Diêm 3, xã Bình Thuận (Bình Sơn) được phát hiện cuối tháng 7.2017 khi đơn vị ...
    Được đăng 00:59, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Dầu Giây - Một thời oanh liệt, một thời vàng son Dầu Giây là thị trấn thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai ngày nay. Một địa danh gắn với thời kỳ lịch sử hào hùng, ghi dấu mốc của sự ...
    Được đăng 01:18, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đi tìm nguồn gốc xôi chiên phồng Trong một lần tình cờ tôi được gặp bà Út Ha – được coi là người lưu giữ bí quyết chế biến ra món Xôi chiên phồng trứ danh, có nguồn ...
    Được đăng 01:11, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chợ Lớn năm 1991 qua ống kính người Pháp Bến xe Chợ Lớn, hiệu thuốc hay khu nhà trọ của người Hoa là nội dung chủ yếu trong loạt ảnh do Patrick Zachmann chụp gần 30 năm trước. Patrick ...
    Được đăng 20:28, 11 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đường lên trăng - kiến trúc bước ra từ cổ tích KTS Lữ Trúc Phương nổi tiếng từ thập niên 90 của thế kỷ 20 với 2 công trình “Nhà trăm mái” và “Đường lên trăng”. Với ý tưởng dựa vào ...
    Được đăng 01:43, 28 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 17. Xem nội dung khác »


"Kho báu" từ những con tàu cổ

đăng 00:59, 19 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Con tàu cổ bị đắm ở vùng biển Dung Quất thuộc thôn Tuyết Diêm 3, xã Bình Thuận (Bình Sơn) được phát hiện cuối tháng 7.2017 khi đơn vị thi công nạo vét, thông luồng cảng biển và luồng quay tàu ở cảng Hào Hưng. Đây là con tàu thứ 7 được phát hiện trên vùng biển Quảng Ngãi.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cùng với Sở VH-TT&DL hiện đang khẩn trương triển khai công tác khai quật tàu cổ đắm tại vùng biển này.

Kết nối quá khứ và hiện tại

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng: “Ngay trong khuôn viên của cảng biển Dung Quất đang phát triển kinh tế hết sức mạnh mẽ, lại có một công trình văn hóa khai quật tàu cổ xuất hiện. Điều này cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa quá khứ phát triển sầm uất và hiện tại".

Nhà sử học Dương Trung Quốc (thứ 2 từ phải sang) và các chuyên gia khảo cổ học hàng đầu trong nước khảo sát vị trí khai quật tàu đắm tại vùng biển Dung Quất.. 


Nhà sử học Dương Trung Quốc khẳng định, quá khứ trên vùng biển Bình Sơn khá sầm uất dựa vào số lượng tàu cổ bị đắm. Con tàu cổ bị đắm được phát hiện tại vùng biển Dung Quất là con tàu thứ 7 được phát hiện ở vùng biển Quảng Ngãi từ trước đến nay. Qua khảo sát, con tàu có chiều dài khoảng 20-30m, mạn tàu đã phát lộ, trên thân tàu có nhiều chồng gốm, như chén, đĩa, bát với nhiều kích cỡ và hoa văn khác nhau, có niên đại khoảng thế kỷ XV – XVI.

Trước đó, vào năm 2013 và 2014, ngư dân cùng các ngành chức năng trong tỉnh liên tiếp phát hiện 6 tàu cổ đắm, cùng hàng nghìn cổ vật ở vùng biển Vũng Tàu thuộc xã Bình Châu (Bình Sơn). “Trên cơ sở các hiện vật đã được khai quật, nhìn vào bản đồ cổ của Việt Nam, vị trí Quảng Ngãi nằm trên hải trình tấp nập nhất trong việc giao thương buôn bán mạnh mẽ với bên ngoài trên con đường tơ lụa, gốm sứ trên biển.

Điều này càng chứng minh vùng biển Bình Sơn là nơi neo đậu của các thuyền buồm trên hải trình, giao dịch thương mại và bị gặp nạn. Vì vậy, chúng ta càng thấy ý nghĩa về hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam, đó là dải biển nằm bên ngoài tạo hành lang an toàn nhất để cho những con tàu quốc tế có thể đi từ Châu Âu sang Châu Á và ngược lại, lên Bắc và xuống Nam Thái Bình Dương. Điều đó thể hiện rất rõ, Việt Nam là một phần cấu thành của hàng hải quốc tế”, ông Dương Trung Quốc nhận định.

Hiện nay, tàu cổ bị đắm ở Dung Quất đang được khai quật. Đây sẽ là cơ sở để các nhà nghiên cứu làm rõ thêm các giá trị lịch sử, văn hóa của vùng đất Quảng Ngãi trong quá khứ và hiện tại.

Giữ cho muôn đời sau

Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, TS.Nguyễn Văn Cường cho biết: So với 6 con tàu cổ phát hiện trước đây, thì con tàu cổ ở vùng biển Dung Quất tiến hành khai quật thuận lợi hơn. Trước đây, do thiếu kinh phí nên việc khai quật tàu cổ đều dựa vào các chuyên gia nước ngoài; các tài sản văn hóa không đảm bảo tính nguyên vẹn. Điều đau xót là nhiều cổ vật có giá trị sau khi được trục vớt đem ra đấu giá, để chi phí cho khai quật và bảo quản.

Đối với tàu cổ đắm ở vùng biển Dung Quất, sau khi phát hiện Chính phủ đã hỗ trợ kinh phí 48 tỷ đồng, để tiến hành khai quật. Suốt một năm qua, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cùng với các ngành chức năng đã nỗ lực để hoàn thành các phương án, quy trình khảo cổ học, nhằm đảm bảo tính logic khảo cổ học, lịch sử... Việc khai quật do các chuyên gia khảo cổ học dưới nước Việt Nam thực hiện.

Sau khi khai quật, toàn bộ hiện vật thu được sẽ lưu giữ, bảo quản tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh, nhằm chứng minh Quảng Ngãi nói riêng và Việt Nam nói chung có vị trí, vai trò quan trọng trong con đường giao lưu quốc tế trên Biển Đông và khẳng định chủ quyền biển, đảo của nước ta. Qua đó góp phần giáo dục cho con, cháu muôn đời sau về ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Bài, ảnh: MAI HẠ

Dầu Giây - Một thời oanh liệt, một thời vàng son

đăng 01:18, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Dầu Giây là thị trấn thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai ngày nay. Một địa danh gắn với thời kỳ lịch sử hào hùng, ghi dấu mốc của sự chiến thắng vẻ vang, là điểm gút giao thông trong sự phát triển của khu vực Đông Nam bộ. 

Ngã ba Dầu Giây – Địa danh một thời oanh liệt, một thời vàng son 


Ngược dòng thời gian… 

Trong chiến dịch Xuân Lộc, Dầu Giây là điểm trọng yếu nối Xuân Lộc với Biên Hòa. Quyết định ngừng tiến công các vị trí địch đang cố thủ trong thị xã, chuyển hoá thế trận, dùng “thế” để giải phóng Xuân Lộc, đánh chiếm Dầu Giây và Núi Thị là quyết định mang tính chiến thuật của Bộ chỉ huy chiến dịch Xuân Lộc. 

Xuất phát từ nhận định: đối với toàn tuyến phòng thủ Sài Gòn của địch, Xuân Lộc chỉ có giá trị khi được nối liền với Biên Hòa, nên Bộ chỉ huy Chiến dịch và Quân đoàn 4 chủ trương lập thế trận mới, cô lập và cắt rời Xuân Lộc ra khỏi Biên Hòa bằng cách đánh chiếm ngã ba Dầu Giây, cắt đường số 1, chặn quân địch từ Biên Hòa, Trảng Bom lên phản kích và đánh chiếm Tân Phong; cắt đường số 2 đi Bà Rịa… 

Rạng sáng 15/4/1975, pháo 130 ly của ta bắt đầu bắn phá sân bay Biên Hòa, chặn khả năng địch tiếp ứng bằng không lực. Cùng lúc đó, bằng 5 trận vận động tập kích, Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B đã tiêu diệt sinh lực của Chiến đoàn 52 ngụy, thu 12 khẩu pháo và toàn bộ xe tăng của Chi đoàn 3 thiết giáp, tại sở chỉ huy dã chiến của Chiến đoàn 52. Đường số 1 từ Xuân Lộc tới Bàu Cá bị cắt. Đoạn đường 20 cuối cùng từ Túc Trưng đến ngã ba Dầu Giây do ta làm chủ… 

Cuộc tiến công Xuân Lộc được coi là một chuỗi các trận đánh ác liệt nhất, trong đó có trận chiến Dầu Giây. Chiếm được Dầu Giây, coi như quân ta đã phá được “ Bản lề” của “ Cánh cửa thép” Xuân Lộc. Từ đây, cửa ngõ đã được mở, quân giải phóng đã nhanh chóng tiến vào giải phóng Sài Gòn. 

Nhộn nhịp trong thời nay…. 

Ngày nay, địa danh Dầu Giây cũng được giới hướng dẫn viên du lịch lý giải khá thú vị. Có người cho rằng sỡ dĩ khu vực này có tên là "Dầu Giây" vì trước kia ở đây có nhiều cây Dầu, trên thân của nó có nhiều dây leo chằng chịt, rồi do phát âm sai nên "Dây" đọc thành "Giây". Một cách lý giải khác về địa danh này là vào năm 1954 một số giáo dân theo hai giáo phận Bùi Chu và Phát Diệm di cư vào khu vực miền Nam, đã an cư lạc nghiệp ở nơi này, họ đem theo mình những tập tục, thói quen trồng cây trầu tại khu mình sống. Vì thế ở đây xuất hiện rất nhiều cây trầu dây nhưng người Hà Nam Ninh phát âm "tr" thành "d, gi", do vậy trầu dây đọc thành Dầu Giây. 

Với vị trí đắc địa, Dầu Giây đang hòa cùng với tốc độ phát triển đô thị hóa nhanh. Đồng thời đây cũng là nút giao thông tạo đà phát triển kinh tế, dịch vụ trong khu vực. Trên địa bàn thị trấn có 2 tuyến quốc lộ huyết mạch đi qua, đó là Quốc lộ 1A và Quốc lộ 20. Quốc lộ 20 có điểm khởi đầu tại ngã tư Dầu Giây. Tỉnh lộ DT769 cũng có điểm khởi đầu tại ngã tư Dầu Giây. Ngoài ra, có tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua. 

Tỉnh lộ 769, tỉnh Đồng Nai 


Đồng thời, với những đường cao tốc đã đi vào hoạt động và đang trong giai đoạn triển khai xây dựng như: Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây là đường cao tốc nối Thành phố Hồ Chí Minh với Đồng Nai, có điểm đầu tuyến là nút giao thông An Phú, thuộc Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cuối là nút giao thông Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Đoạn Long Thành – Dầu Giây thuộc hệ thống đường bộ cao tốc Bắc – Nam. 

Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây 


Đường cao tốc Dầu Giây – Đà Lạt là dự án đường cao tốc kết nối vùng Đông Nam Bộ với vùng Nam Tây Nguyên Việt Nam. Toàn bộ tuyến đường cao tốc dài khoảng 220 km, bắt đầu tại nút giao Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Đường cao tốc bao gồm đoạn Liên Khương – Prenn đã xây dựng và đưa vào sử dụng từ năm 2008 và đoạn Dầu Giây – Liên Khương đang chuẩn bị xây dựng. Đường cao tốc thuộc quy hoạch phát triển mạng lưới đường cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020. Khi hoàn thành, đường cao tốc sẽ rút ngắn thời gian di chuyển từ Thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh Tây Nguyên. 

Đường cao tốc Phan Thiết – Dầu Giây là dự án đường cao tốc sắp khởi công thuộc tuyến đường cao tốc Bắc – Nam Việt Nam. Đường cao tốc này nối Đồng Nai với Bình Thuận, có điểm đầu tuyến tại Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận và điểm cuối là nút giao thông Dầu Giây, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Đường cao tốc sẽ khởi công vào đầu năm 2017 và dự kiến hoàn thành vào năm 2021. Khi hoàn thành, đường cao tốc sẽ rút ngắn thời gian di chuyển từ Thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ… 

Rồi dự án Cầu vượt Dầu Giây, hay Chợ đầu mối nông sản Dầu Giây, Khu công nghiệp Dầu Giây…Tất cả tạo nên sự nhộn nhịp, phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của một vùng đất oanh liệt xưa kia. 

Trong du lịch bằng đường bộ, khu vực Đông Nam bộ, địa danh này cũng được nhắc tới khá nhiều. Bởi đây là điểm gút, nơi giao của những nút giao thông trọng yếu. Nhiểu trạm dừng chân, điểm ăn uống được ưu tiên đầu tư tại khu vực này. 

Với tiềm năng và động lực phát triển lĩnh vực thương mại, dịch vụ, trong tương lai gần, nơi đây không chỉ là nút giao thông trọng điểm, quan trọng mà còn là điểm dừng chân đón du khách không thể thiếu của ngành du lịch các tỉnh Đồng Nai, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bà Rịa Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh… 

Mai Phương

Đi tìm nguồn gốc xôi chiên phồng

đăng 01:11, 18 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Trong một lần tình cờ tôi được gặp bà Út Ha – được coi là người lưu giữ bí quyết chế biến ra món Xôi chiên phồng trứ danh, có nguồn gốc từ Biên Hòa, Đồng Nai. Bà Út Ha tên thật là Đinh Thị Ha, ngụ ở phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa. Bà là người tiếp quản Tân Hiệp Quán nổi tiếng, do mẹ bà là bà Huỳnh Thị Sớm, sáng lập năm 1952. Xưa quán nằm ngay đường Hàm Nghi, Biên Hòa, cạnh bờ sông Đồng Nai hiền hòa, mà nay là đường Cách Mạng Tháng Tám. 

Theo lời kể của bà thì từ khi mở quán, mẹ bà thường bán những món ăn bình dân phục vụ thực khách lao động là chính như bánh mì, hủ tiếu…Rồi dần dần Tân Hiệp Quán phục vụ các món ăn ngon hơn, chế biến cầu kỳ hơn như bánh canh đầu cá, chả giò, nem nướng, bì cuốn… Lúc này khách vãng lai từ các tỉnh lân cận ghé ăn nhiều hơn, quán trở thành điểm dừng chân đón khách Sài Gòn, Vũng Tàu, miền Tây… Sức phục vụ lớn, cần nhân lực nhiều, quán phải thuê thêm đầu bếp.


Có một lần tình cờ, người đầu bếp của quán làm món xôi chiên dẹp như chiếc bánh nhỏ để mang đi lễ chùa, lễ đình. Người này phát hiện một góc xôi phồng to lên lạ lẫm. Mọi người đều ngạc nhiên, lại xem và bàn luận. Ấy là lần đầu tiên, những lần sau món xôi chiên này được làm đi làm lại. Mỗi lần lại rút ra những kinh nghiệm khá bổ ích, món xôi cũng ngon hơn, đẹp hơn, phồng to hơn và kỹ thuật chế biến chuyên nghiệp, thuần thục hơn. 

Bà chia sẻ rằng để xôi chiên được ngon, giòn mềm và không cứng, đầu tiên phải chú ý đến nếp, việc chọn nếp thơm, dẻo, ngon rất quan trọng. Sau là kỹ thuật nấu sao cho xôi được chín đều, không nhão cũng không cứng. Kế đến là khâu nhồi xôi, không để hạt nếp nguyên vẹn như xôi thông thường, quết chúng mịn hơn, trong nếp có pha thêm ít đường cho có vị ngọt, bột sau trộn được ngâm trong dầu ăn. Tuy nhiên khâu quan trọng hơn cả chính là chiên xôi. Xôi phải được chiên trong chảo gang, nhiệt độ lửa phù hợp, dùng và để dằn, xoay và lật xôi. Vá cũng phải làm bằng gang, và lưỡi vá bằng. Người chiên phải thật kiên nhẫn, dùng vá ép, và xoay miếng xôi thật khéo léo trên chảo dầu nóng cho xôi nở đều, không bị méo mó. Ngọn lửa cũng phải được điều chỉnh liên tục để bánh xôi chín và giòn. Khi chín, xôi vàng đều cả bên trong, lẫn bên ngoài, tròn phồng như trái banh. Cắt ra không có phần xôi dư, ăn giòn, nhưng vẫn giữ được độ mềm của nếp, vị ngọt nhẹ của đường, và dậy mùi sau khi chiên. 


Bà nhớ lại hồi xưa toàn chiên xôi bằng bếp củi, không kịp để phục vụ thực khách. Khách trực tiếp đến quán thưởng thức, còn muốn mua để mang về để biếu tặng. Vì vậy, ngoài phục vụ tại chỗ, quán chỉ phục vụ được mỗi bàn hai chiếc xôi phồng mang về. Tiếng thơm đồn xa, tiếng lành đồn xa, món ăn vừa lạ mắt, vừa ngon miệng được lan truyền khá rộng, dân Sài Gòn, Sông Bé cũng lặn lội tới quán để được thưởng thức món xôi này. Sau này, những người thợ nấu ăn của quán dời đi khắp vùng, họ mang theo cách chế biến tạo thành món Xôi chiên phồng. Ấy vậy mà món Xôi chiên phồng trứ danh của Tân Hiệp Quán vẫn ngon nức tiếng nhất. Món xôi này có thể ăn kèm với gà quay, gà chiên, thịt nướng… kèm miếng dưa leo hay vài loại rau thơm cho đỡ ngán. 

Năm 2014, bà được tham dự Chương trình xác lập kỷ lục “Nhiều người chiên xôi phồng nhất Việt Nam” do Hiệp hội du lịch Đồng Nai tổ chức để giới thiệu về nguồn gốc ra đời của món đặc sản này. Bà thực sự xúc động khi chứng kiến hơn 50 đầu bếp cùng tham gia chiên xôi phồng. Món ăn xuất xứ từ gia đình bà được vinh danh, được đón nhận và trở thành đặc sản một vùng. Với xôi chiên phồng, ăn không chỉ là thưởng thức cái ngon, cái lạ, mà nó là công sức, sự khéo léo, là kỹ thuật, nghệ thuật và tâm hồn của người đầu bếp.


Ngày nay xôi chiên phồng phổ biến cả trong Nam ngoài Bắc, hầu hết trong thực đơn của các nhà hàng lớn hay những cơ sở nấu ăn nhỏ đều có món xôi chiên phồng ăn kèm với gà quay, luộc hay nướng. Ngoài những sự kiện trong nước, xôi chiên phồng còn trở thành một món ăn Việt Nam nổi tiếng được giới thiệu ra nước ngoài trong các buổi giao lưu ẩm thực. Khách nước ngoài đã thực sự thán phục tài nghệ của các đầu bếp Việt Nam, ngắm nghía chiêm ngưỡng cách hô biến từ nắm bột đặc biệt thành chiếc bánh xôi to tròn, độc đáo, vừa thơm, vừa ngon.

Một ngày đi tìm “sự tích” xôi chiên phồng, cũng giống như món xôi chiên phồng, tình cờ, những rất đặc biệt. Văn hóa ẩm thực Việt thật sự có sức cuốn hút khó cưỡng, chân chất, đậm đà, độc đáo. Có lẽ sau dịp này, tôi sẽ lên đường tìm kiếm nguồn gốc những món ngon đặc sắc của địa phương nơi tôi sống để thấy được nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của những con người gần gũi bên tôi.

Mai Phương

Chợ Lớn năm 1991 qua ống kính người Pháp

đăng 20:28, 11 thg 7, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Bến xe Chợ Lớn, hiệu thuốc hay khu nhà trọ của người Hoa là nội dung chủ yếu trong loạt ảnh do Patrick Zachmann chụp gần 30 năm trước. 


Patrick Zachmann là nhiếp ảnh gia Pháp sinh năm 1955. Ông bắt đầu hành nghề chụp ảnh tự do từ năm 1976 và trở thành thành viên của tạp chí ảnh quốc tế Magnum Photos từ năm 1990. 

Trong chuyến thăm Việt Nam hồi đầu những năm 90 của thế kỷ trước, ông có đến Sài Gòn. Dịp này, ông đã ghi lại nhiều bức hình về cuộc sống của người dân quanh khu Chợ Lớn. 

Trong hình là một góc đường Lê Quang Sung, gần bến xe Chợ Lớn. Phía xa là tháp chuông nhà thờ Cha Tam. Đây là một nhà thờ cổ nổi tiếng của khu vực Chợ Lớn. 


Chợ Lớn được thành lập vào thế kỷ 19. Đến tháng 4/1931, chợ được sáp nhập vào Sài Gòn, cho ra đời cái tên Sài Gòn – Chợ Lớn. Năm 1956, Sài Gòn trở thành cái tên chính thức và kể từ đó, khi nhắc đến Chợ Lớn, người ta chỉ biết đó là tên của một ngôi chợ hay một khu vực tập trung đông đúc người Hoa sinh sống. 


Ngày nay, Chợ Lớn được dùng để chỉ vùng đất bao gồm quận 5, quận 6, quận 10 và một phần của quận 11. Trong đó quận 5 là khu vực sinh sống chủ yếu của cộng đồng người Việt gốc Hoa. 


Bên trong một hiệu thuốc đông y của gia đình người Hoa ở Chợ Lớn. 


Cảnh công nhân tại một xưởng sản xuất giày nổi tiếng ở Sài Gòn thời bấy giờ. Cho đến nay, thương hiệu này vẫn còn tồn tại. 


Hai nữ công nhân đang làm việc tại một xưởng giày dép. 


Ảnh: Patrick Zachmann/ Magnum Photos

Đường lên trăng - kiến trúc bước ra từ cổ tích

đăng 01:43, 28 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

KTS Lữ Trúc Phương nổi tiếng từ thập niên 90 của thế kỷ 20 với 2 công trình “Nhà trăm mái” và “Đường lên trăng”. Với ý tưởng dựa vào các câu chuyện truyền thuyết về lịch sử và cổ tích Việt Nam, khắc họa cả những vật liệu truyền thống về kiến trúc là tre, trúc, gỗ, đá, gốm… con gái ông đang tiếp tục triển khai ý tưởng của ba mình để hoàn thiện công trình hình chữ “đ” kỳ bí mang tên “Đường lên trăng”…

Nơi đây sẽ có một nàng Trăng


Người cha và câu chuyện kiến trúc kỳ thú…

Nhìn từ ngoài, “Đường lên trăng” là một quán cà phê với cây cối um tùm, che kín mặt tiền trên đường Phan Bội Châu… Nhưng sau lớp cửa kính, cùng với sự hướng dẫn của chủ nhân, một câu chuyện vô cùng thú vị được kể, xen kẽ trong câu chuyện đó là những câu chuyện cổ tích mang đậm nét nhân văn được chủ nhân biến hóa thành những hình khối trong mê cung kiến trúc từ thuở hồng hoang với thế giới muôn loài còn trong trứng nước… Câu chuyện bắt đầu khi người khách đặt chân vào quán - đó là đã bước qua miệng một con cá khổng lồ. Bước xuống là đi vào bụng cá với thế giới thủy cung dần mở ra…; và bước lên, là đi qua hàng ngàn năm xây dựng và giữ nước của ông cha để đến được một khung trời tươi sáng và thơ mộng, nơi có nàng trăng đang nhàn nhã thả hồn vào bầu trời rộng lớn và rực sáng…

Ý tưởng tạo nên “Đường lên trăng” không phải một lần, hai lần đến đây có thể cảm nhận được. Chủ nhân đã phải bỏ ra rất nhiều công sức, từ cách đây 27 năm (1989)… KTS Lữ Trúc Phương cho biết: “Nàng trăng sẽ là điểm trung tâm của chữ “đ”, nhưng phải sau 2 năm nữa mới hoàn thiện. Trong một tương lai gần sẽ có một nàng trăng dài 16 mét, tượng trưng cho người con gái ở tuổi trăng tròn, đang nhìn lên vầng trăng khuyết ở trên cao, có dòng nước đang chảy xuống người nàng, chảy xuôi theo mái tóc của nàng xuống dưới nữa…”. Dù chưa hoàn thiện, nhưng với hiệu ứng đèn chiếu sáng, “Đường lên trăng” vô cùng lãng mạn. Và khi vừa ra khỏi câu chuyện kỳ thú đó, vị khách đã đứng trên một ngọn đồi cao, có thể bao quát một khoảng không gian thành phố Đà Lạt lấp lánh ánh điện, hòa quyện với tiếng nước chảy như suối róc rách, “Đường lên trăng” thực sự hấp dẫn như nàng trăng tuổi 16.

KTS Lữ Trúc Phương sinh ra và lớn lên ở Campuchia, ảnh hưởng bởi kiến trúc Angkor Wat, nên đã tạo ra kiểu kết cấu vững chắc trong công trình của mình. Ông cũng có thời gian tu nghiệp kiến trúc ở Pháp, nên rất cẩn thận trong quá trình xây dựng. Đó là việc ông dùng những tảng đá để làm trần nhà… Những người thợ phải chăm chút từng ly từng tý một… Do đó, dù đã qua 27 năm, những người thợ ngày ấy - bây giờ được mời làm tiếp, chính họ cũng không ngờ, công trình chưa hề xuống cấp, ẩm mốc, nứt… trong khi nhiều công trình xây dựng dân dụng hiện nay, sau một năm đã phải gia cố lại rồi… Cùng với rất nhiều kết cấu độc đáo khác trong kiến trúc “Đường lên Trăng”, như người thổ dân với đôi bàn tay - thân mình và đôi chân tạo ra một bờ vách, nhưng lại cho người khách cảm thấy như là một sự ôm ấp ấm áp… Hay, những khuôn mặt biểu lộ 7 nét cảm xúc khác nhau của con người trong cuộc sống là vui, buồn, giận, hờn, đau, thương, ghen ghét…

…Tâm tình sâu sắc của cô con gái

KTS Lữ Trúc Phương nay đang ở tuổi 79 - ông tự hào cho biết có bí quyết nên vẫn chưa phải chống gậy, khiến nhiều người ngưỡng mộ. Ông hồ hởi dẫn chúng tôi đi và kể trọn vẹn câu chuyện “Đường lên trăng” từ thủy cung âm xuống mấy tầng, đến nàng trăng tít tận trên cao… Và điều khiến chúng tôi ngưỡng mộ nhất chính là năng lượng sáng tạo của ông dường như vẫn còn dồi dào lắm… Lữ Trúc Thu - con gái ông, cách đây tròn 2 năm đã quyết định tiếp quản công trình “Đường lên trăng” của cha mình bằng việc mở lại quán cà phê “Đường lên trăng - Nhà trăm mái” và cũng là để thực hiện tiếp ý tưởng kiến trúc của ông. Cô lý giải đơn giản rằng: “Đà Lạt là thành phố du lịch thì cần phải có du khách. Muốn có du khách thì phải có những sản phẩm để thu hút khách”…

Cảm nhận của Trúc Thu có được từ khi còn là một cô bé mới hơn 10 tuổi! Cô đã chứng kiến việc ba hằng ngày góp nhặt từ những công trình bị dỡ bỏ các loại vật liệu có thể sử dụng cho công trình xây dựng của mình, nên, “Có thể thấy rõ nhất là sàn nhà và cầu thang - không có chỗ nào sử dụng gạch giống nhau cả”. Còn một vị khách đánh giá công trình “Đường lên trăng” là: “Nhìn vào thấy bừa bộn một cách rất hợp lý!”... Cô đã chứng kiến, đã thích, đã yêu tất cả công việc ba cô làm. Cái cách ông xây theo kiểu “kiến tha lâu đầy tổ” với những hình ảnh mà đến giờ nhắc lại, giọng cô vẫn còn rất xúc động. Đó là việc ba cô hằng ngày dùng giỏ xách thu gom những mảnh gạch vụn một cách nhẫn nại để phục vụ cho đam mê, nghệ thuật mà ông theo đuổi, để tạo nên một lối kiến trúc Lữ Trúc Phương hoàn toàn khác biệt… 

Và vì chứng kiến toàn bộ quá trình xây dựng của ba mấy chục năm qua, nên cô quyết định tiếp quản để công sức của ba cô không bị phí hoài và ý tưởng của ba cô không bị phá bỏ… Điều quan trọng và khó nhất của công trình “Đường lên trăng” là hệ thống thông gió, mức độ an toàn… nên phải giới hạn lượng khách. Cô tâm sự, như cuộc đời ba cô, từ thủy cung đi lên đến cung trăng là quá trình không dễ dàng gì, nhưng là quá trình vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn. Xen lẫn trong câu chuyện đó, là một phần của những câu chuyện khác, như câu chuyện “Tổ ấm âu lạc” từ ý tưởng của ngôi nhà 100 mái, với 50 cầu thang là 50 người con lên rừng, 50 bước chân là 50 người con xuống biển; hay câu chuyện về Thạch Sanh, những bức tranh làng mạc, đồng quê… Có một người khách để lại dòng lưu bút: “Tôi đã đi qua tuổi thơ, nhưng khi đến đây, như trở về với tuổi thơ từ những câu chuyện kiến trúc”… 

“Đường lên trăng” vì thế, đang là nơi du khách nước ngoài lựa chọn là địa điểm giao kết bạn bè… Mỗi tối, hàng trăm vị khách từ trời Tây đến đây, làm quen, tổ chức sinh nhật, đàn hát, trò chuyện rôm rả… Khi chúng tôi thắc mắc sao không chuyển đổi quán cà phê thành một điểm đến du lịch? Trúc Thu cho biết, mỗi người đều có một cảm nhận về nghệ thuật và có thể không giống nhau. Khi quyết định tiếp tục triển khai ý tưởng của ba, cô vẫn đi theo một cảm nhận của riêng mình cho đến khi công trình hoàn thiện, lúc đó mới xin phép mời du khách vào để kể đầy đủ câu chuyện kiến trúc “Đường lên trăng - Nhà trăm mái” - Kiến trúc Lữ Trúc Phương!

TIỂU VÂN

Ảnh đen trắng về Sài Gòn những năm 1960 của nhà báo Pháp

đăng 01:54, 24 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Nhà báo Pháp François Sully đã ghi lại cuộc sống của người dân Sài Gòn cách đây nửa thế kỷ qua một bộ ảnh. 

François Sully được biết đến là một nhà báo Pháp nổi tiếng trong chiến tranh tại Việt Nam và đã dành 24 năm làm việc tại Đông Dương.

Vào những năm 1960, ông tới Sài Gòn với mong muốn ghi lại một cách chân thực cuộc sống của người dân nơi đây, từ giao thông, cơ sở vật chất cho tới con người, trang phục... 


Bức ảnh này được ông chụp ở trước nhà hát Rex vào tháng 3/1964. 


Cảnh giao thông trên một con đường ở ngoại ô Sài Gòn vào mùa hè năm 1964. 


Góc đường Sài Gòn trong mưa vào mùa thu năm 1964. 


Người dân xuống đường vào tháng 1/1966, cũng là dịp Tết Nguyên đán. Ảnh được chụp tại đường Nguyễn Huệ bây giờ. 


Chợ hoa ở trung tâm thành phố năm 1966. 


Người dân xếp hàng trước quầy bán vé của hãng Air Vietnam (là hãng hàng không thương mại duy nhất của Việt Nam Cộng Hòa từ 1951 đến 1975), có trụ sở ở quận 1. Năm 1974, hãng này có một chiếc máy bay được thuê từ Air France, số hiệu B747-200. 


Trong hình là chùa Xá Lợi được Sully chụp vào tháng 3/1964. Đây là một trong số những ngôi chùa đầu tiên của Sài Gòn được xây dựng theo lối kiến trúc mới: chính điện của chùa chỉ đặt một tượng Phật chứ không thờ nhiều tượng. Chùa nằm ở góc đường Bà Huyện Thanh Quan và Sư Thiện Chiếu, quận 3. 


Không chỉ chụp ảnh ở trung tâm, Sully cũng tới các vùng ngoại ô để chụp. Trong hình là một nhóm người đang cùng nhau đi xe tới hội làng vào tháng 6/1968. 


Trước khi làm nhà báo, Sully từng có thời gian làm nông dân vả trồng trà. Năm 1947, ông gia nhập Sud-Est Asiatique, một tạp chí Pháp hiện đã đình bản và làm việc đến năm 1953. Sau đó, ông hợp tác với tờ Time và được giao nhiệm vụ đưa tin trong trận Điện Biên Phủ. 

Năm 1959, Sully gia nhập United Press International (Hiệp hội Báo chí Quốc tế - UPI). Ông viết các bài báo cho tạp chí Time. Ảnh của ông cũng được đăng trên tờ Black Star cho đến khi ông làm việc cho Newsweek vào đầu năm 1961. 

Khi chuyến bay về phía tây Campuchia cất cánh từ đường bay Tây Ninh vào tháng 2/1971 gặp nạn, chỉ một mình Sully nhảy ra khỏi ghế ngồi và rơi xuống đất từ độ cao 23 m. Tất cả hành khách có mặt trên chuyến bay đó đều tử nạn, riêng Sully sống sót. Tuy nhiên, ông bị thương nặng và qua đời vào mùa thu tại bệnh viện Long Bình, theo Time. 

Sau đó, ông được chôn cất tại Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi ở Sài Gòn. Khi qua đời, ông để lại một số tiền cho trẻ mồ côi tại Việt Nam. 

Ảnh: François Sully.
Di Vỹ

Nhớ cây vải tổ Thanh Hà

đăng 01:37, 24 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Mỗi mùa thu hoạch vải người dân khắp nơi lại nhớ về cây vải tổ có tuổi thọ gần 200 năm ở thôn Thúy Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Từ cây vải tổ này mà đến nay cây đã sinh sôi, đơm hoa, kết trái ở khắp các vùng miền trong cả nước.

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Đi theo những con đường hai bên rực màu vải chín, chúng tôi tìm về thôn Thúy Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà thăm cây vải tổ. Giữa khoảng vườn rộng, cây vải tổ có tuổi thọ gần 200 năm vẫn tươi tốt, vươn những tán lớn xum xuê, ôm trọn cả một góc vườn. Ông Hoàng Văn Lượm, đời thứ 5 của cụ Hoàng Văn Cơm (Người có công đầu đưa cây vải về trồng ở Hải Dương) dẫn chúng tôi ra thăm cây rồi kể: "Thời trẻ, trong một lần dự tiệc với người nước ngoài ở một nhà hàng lớn tại Thành phố Hải Phòng, cụ Cơm được ăn loại quả rất ngon. Cụ đã lấy 3 hạt về ươm tại vườn nhà. 3 hạt này đều nảy mầm thành cây nhưng sau đó 2 cây bị chết, chỉ còn 1 cây sống. Do phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu nên cây phát triển tốt và cho quả ngọt. Vụ nào cây vải cũng sai trĩu quả. Được biết vải xuất phát từ vùng Thiều Châu (Trung Quốc) nên cụ Cơm đặt nó tên vải thiều". 

Năm 2015, Tổ chức Kỷ lục Guiness Việt Nam đã công nhận đây là cây vải thiều lâu năm nhất Việt Nam Ảnh: Quang Minh . 


Từ cây vải của cụ Cơm mang về trồng ngày ấy đến nay cây vải đã sinh sôi, nảy nở ở nhiều nơi. Ông Lượm cho biết thêm, sở dĩ cây vải thiều Hải Dương không ngừng được mở rộng tại nhiều vùng, miền trong cả nước là do năm 1958, Bác Hồ khen vải Thuý Lâm là giống vải quý, ăn rất ngon và khuyên nhân dân nên phát triển giống vải này. Đến thập niên 60 của thế kỷ trước, từ phong trào làm vườn hợp tác và Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng, vải Thuý Lâm đã được nhân giống tích cực ở các xã trong huyện. Không lâu sau, vải Thuý Lâm được trồng khắp tỉnh Hải Dương. Thương hiệu vải Thanh Hà ra đời và nổi tiếng từ đó. Một số người dân ở Thanh Hà sau này sang các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh làm kinh tế đã mang theo giống vải Thanh Hà. Từ đó mới xuất hiện vải Bắc Giang, Quảng Ninh. Ở Lục Ngạn (Bắc Giang), nơi cây vải được đưa từ Hải Dương lên trồng cũng đã bám rễ và trở thành "cây vàng" của nông dân nơi đây. Đi xa hơn, cây vải thiều đã có mặt ở Đắk Lắk, Kon Tum...

Trái ngọt từ cây vải tổ. 


Mặc dù có tuổi thọ gần 200 năm, nhưng đến nay cây vải tổ vẫn khỏe mạnh và cho trái ngọt đều đặn hàng năm. Đời đời con cháu cụ Cơm vẫn cần mẫn chăm chút để cây vải mãi xanh tươi. Để người đời sau biết và nhớ đến người trồng cây, huyện Thanh Hà đã thực hiện Dự án "Cải tạo, bảo tồn cây vải tổ". Các hạng mục của dự án như: nhà thờ cụ Hoàng Văn Cơm (người có công đưa cây vải thiều đầu tiên về trồng tại thôn Thúy Lâm), nhà khách, khuôn viên ao, tường bao xung quanh, bãi đỗ xe và một số công trình phụ trợ khác đến nay đã hoàn thiện sẵn sàng đón du khách khắp nơi về thăm. Biết ơn người trồng cây vải tổ, huyện Thanh Hà cũng đã lập tấm bia ngay dưới gốc cây với dòng chữ: "Nhân dân huyện Thanh Hà nhớ ơn cụ Hoàng Văn Cơm có công trồng cây vải thiều tổ". Nhân dân huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) cũng đã về đây và treo tấm phướn "Nhân dân các dân tộc huyện Lục Ngạn biết ơn cụ Hoàng Văn Cơm (ông Tổ vải thiều)". 

Theo ông Lượm, cháu cụ Cơm, quả ở cây vải tổ có chất lượng khác xa vải thiều cây ở các nơi và ngay chính vải thiều ở trong thôn Thúy Lâm này cũng khó có cây nào trái ngon đến thế. Quả của cây vải tổ tuy nhỏ nhưng gai lỳ, bóng mượt, vỏ mỏng, cùi dày, giòn, hạt nhỏ, khi bóc không bị chảy nước. Vải có vị ngọt đậm, hương thơm nồng nàn dễ chịu lan tỏa khi thưởng thức. Mỗi mùa vải chín, cây vải tổ lại đón hàng trăm lượt khách về đây tham quan. Họ đến đây để thực hiện đạo lý tốt đẹp của người Việt "ăn quả nhớ người trồng cây" 

Nâng tầm giá trị 

Trải qua năm tháng, cây vải thiều đã bám rễ, ăn sâu ở nhiều vùng đất ở Thanh Hà và nhiều vùng miền khác nhau ở Hải Dương. Phù sa những con sông lớn của nơi đây đã ôm ấp, vun đắp cho những miệt vườn hoa trái sai trĩu quả hằng năm, trong đó có cây vải. Cây vải thiều cũng đã được nông dân Chí Linh ươm trồng và cho nhiều mùa quả ngọt. Những năm gần đây, quả vải thiều Hải Dương ngày càng được nâng cao giá trị. Bởi chất lượng, thương hiệu quả vải đã được khẳng định. Thị trường tiêu thụ không ngừng được mở rộng. Khi thương hiệu đã được khẳng định, nông dân Hải Dương vẫn tiếp tục nỗ lực để nâng giá trị cho loại quả đặc sản nổi tiếng này. Ông Nguyễn Văn Lực, Chủ tịch UBND huyện Thanh Hà cho biết: "Hiện nay huyện đang tích cực tìm giải pháp để nâng giá trị cho quả vải. Để làm được điều này, đòi hỏi người nông dân phải tận tình chăm sóc để quả vải không chỉ có mã đẹp mà phải có chất lượng tốt. Thị trường tiêu thụ phải được mở rộng. Vải thiều Thanh Hà không chỉ được tiêu thụ tại thị trường trong nước mà còn chiếm lĩnh được nhiều thị trường xuất khẩu".

Ban thờ cụ Hoàng Văn Cơm tại gian thờ tổ, thôn Thúy Lâm. 


Hiện nay, vải thiều Hải Dương còn được nhiều doanh nghiệp trong tỉnh sơ chế, chế biến thành nước giải khát, sấy khô để xuất khẩu sang các thị trường. Ông Nguyễn Văn Hòa, Giám đốc Công ty TNHH Hoa Mai (Nam Sách) đã xuất khẩu thành công vải cấp đông sang thị trường Hàn Quốc khẳng định: "Nâng giá trị cho quả vải thiều không khó nhưng đòi hỏi phải có sự vào cuộc của chính người nông dân. Bởi để xuất khẩu thành công quả vải phải được chăm sóc theo quy trình an toàn". 

Hiện ông Hoàng Văn Lượm - cháu đời thứ 5 của cụ Cơm, được dòng họ giao cho bảo quản, chăm sóc Khu di tích cây vải tổ. 


Những mùa vải ngọt vẫn tiếp nối. Người trồng vải vẫn cần mẫn để cây vải phát triển tốt tươi, sinh sôi, nảy nở khắp các vùng miền trong cả nước nhưng họ vẫn không quên mảnh đất Thúy Lâm (Thanh Hà) nơi có cây vải tổ vẫn tỏa bóng qua trăm năm. 

Trải qua các vòng kiểm định khắt khe với đầy đủ cứ liệu thuyết phục, năm 1992, Trung ương Hội làm vườn Việt Nam đã công nhận cây vải tại vườn nhà cụ Hoàng Văn Cơm là Cây vải tổ.


Hải Minh

Về 2 bản sắc phong thời Nguyễn cùng kiếm gỗ cổ ở miền Tây Nghệ An

đăng 21:11, 20 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Hàng chục năm nay, ông Lô Thiết Thuyết (74 tuổi) ở bản Tổng Xan, xã Thạch Ngàn (Con Cuông) cất công lữu giữ hai bản sắc phong của triều Nguyễn. Với gia đình ông, đó thực sự là những báu vật, là chứng tích khẳng định bề dày truyền thống văn hóa của vùng “ngàn đá”. 

Hai bản sắc phong đựng trong chiếc hộp gỗ sơn son cùng một thanh kiếm gỗ được ông Lô Thiết Thuyết cất giữ cẩn thận, chỉ những người có đủ độ tin tưởng mới được ông mở cho xem. Ông Thuyết cho hay: “Hai sắc phong này được truyền lại từ đời ông nội, đến đời bố và nay đến lượt tôi giữ. Trước khi về với ông bà tổ tiên, tôi sẽ giao lại cho con trai trưởng và dặn dò cất giữ cẩn thận”. 

Hai sắc phong đang được ông Lô Thiết Thuyết lưu giữ cẩn thận. Ảnh: Công Kiên 


Ông Thuyết cho biết thêm, ngày xưa ở bản Tổng Xan có ngôi đền khá lớn, người dân khắp các bản ở Thạch Ngàn thường tổ chức tế lễ vào dịp đầu xuân và giữa tháng 6 Âm lịch. Về sau, trải qua những biến động lịch sử, ngôi đền bị xuống cấp rồi hư hỏng, ông nội của ông là Lô Thiết Thanh từng giữ một chức vụ nhỏ trong chế độ cũ đã đem sắc phong và một số đồ tế khí về nhà cất giữ. 

Trước khi qua đời, ông nội giao những “báu vật” ấy lại cho cụ thân sinh của ông Thuyết là Lô Thiết Hồng, và nay ông Thuyết đang lưu giữ theo lời dặn dò của bậc thân sinh. “Xưa kia Thạch Ngàn là chốn rừng thiêng nước độc, tổ tiên của ta được vua ban sắc phong chắc hẳn là vật báu, phải giữ lại cho con cháu mai sau luôn tự hào về nguồn cội của mình” – ông Thuyết chia sẻ. 

Sắc phong vẫn còn nguyên vẹn, nét chữ và hoa văn còn rõ. Ảnh: Công Kiên 


Hai sắc phong ông Lô Thiết Thuyết lưu giữ còn nguyên vẹn, giấy dó còn rất bền và nét chữ cùng các hoa văn, họa tiết vẫn còn rất rõ. Và cả đạo sắc đều của Vua Khải Định (nhà Nguyễn), sắc thứ nhất có từ năm Khải Định thứ hai (1917); sắc thứ hai có từ năm Khải Định thứ 9 (1924). 

Hai đạo sắc đều có nội dung giao cho nhân dân xã Thạch Ngàn, huyện Tương Dương, phủ Tương Dương, tỉnh Nghệ An thờ phụng tôn thần Cao Dục Tú trung dũng linh ứng, Dục Bảo Trung Hưng Cao Sơn Cao Các linh ứng tôn thần, hộ quốc bảo dân, che chở cuộc sống dân lành. Ở đạo sắc thứ hai, nhà vua tăng thêm cấp bậc là Trác Võ Thượng đẳng thần. 

Cùng với hai sắc phong, hiện ông Lô Thiết Thuyết còn lưu giữ thanh kiếm gỗ, có khả năng là đồ tế khí. Ảnh: Công Kiên 


Nội dung sắc phong cho thấy lời kể về ngôi đền ở bản Tổng Xan và các chi tiết liên quan qua lời kể của ông Lô Thiết Thuyết là đúng sự thật. Chứng tỏ cộng đồng người Thái đã cư trú trên vùng đất Thạch Ngàn từ lâu đời và có bề dày truyền thống văn hóa và tín ngưỡng phong phú. 

Cùng với hai đạo sắc và chiếc kiếm gỗ, hiện gia đình ông Thuyết còn giữ chiếc lọng – vật dụng được dùng vào dịp tổ chức lễ rước. Do thời gian quá lâu, chiếc lọng gần như đã bị hỏng, không còn sử dụng được. 

Chiếc lọng dùng trong lễ rước vẫn còn được ông Thuyết lưu giữ. Ảnh: Công Kiên 


Ông Lô Thiết Thuyết cho biết: “Nguyện vọng của bà con người Thái ở bản Tổng Xan nói riêng, xã Thạch Ngàn nói chung là được Nhà nước hỗ trợ kinh phí phục dựng đền thờ Cao Sơn Cao Các, để nhân dân có điều kiện khôi phục việc cúng tế và tổ chức lễ hội. Qua đó, thắt chặt hơn nữa tinh thần đoàn kết cộng đồng và bồi đắp niềm tự hào về truyền thống quê hương cho thế hệ trẻ”. 

Công Kiên

Tứ quái Đà Lạt

đăng 01:36, 16 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Có nhiều du khách khi đến Đà Lạt thường hỏi tôi rằng " Khí hậu nơi đây thất thường khi một ngày có đến bốn mùa, sáng xuân, trưa hạ, chiều thu, tối đông. Khí hậu thất thường như thế liệu tính cách con người Đà Lạt có thất thường không ?" Tôi bối rối nhưng chợt nhớ rằng, đúng là Đà Lạt có những con người thất thường, nhưng chính cái thất thường ấy đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật độc đáo mà không nơi nào có được.

Khi nghệ thuật thăng hoa cần một chút khác người, một chút điên, vì chỉ khi ấy họ mới làm nên những tác phẩm mà người thường khó thể hình dung.

Nếu nói về tứ quái Đà Lạt, người đầu tiên tôi muốn nói đến đó chính là Phước khùng MPK. Không ồn ào và hào nhoáng, nhiếp ảnh gia MPK (Phước Khùng) vẫn ngày ngày lặng lẽ rong ruổi khắp phố phường để “săn” những khoảnh khắc của Đà Lạt qua ống kính điêu luyện của mình.

Phước Khùng MPK hàng ngày rong ruỗi trên những con đường để săn tìm cái đẹp Đà Lạt. Ảnh Thụy Trương Ngọc


Tôi được chú giải thích về cái tên mà chú luôn cảm thấy gần gũi với mọi người. M tức Micheal là tên của chú gắn liền với công giáo, khi theo công giáo chú có tên là Michel Thắng. P tức Phước là tên gọi mà ba mẹ đặt cho chú từ nhỏ. K (tức khùng) là tên gọi mọi người hay gọi chú, họ cứ thấy chú ngày ngày đi bụi hết nơi này đến nơi khác nên gọi chú là khùng. Tôi hỏi chú có buồn không khi mọi người gọi chú là “Phước Khùng”, chú cười: “Không buồn đâu, khi trả lời điện thoại chú vẫn xưng mình là khùng đấy thôi. Đó là tên thân mật, ai thấy hình dáng của chú mà không cho là khùng cơ chứ, thôi người đời cho tên gì thì mình dùng tên đó, tên khùng cũng dễ thương đấy chứ”

Chú bắt đầu cầm máy từ năm 1982, nay đã hơn 50 tuổi nhưng chưa bao giờ chú thấy chán việc đó cả. Chú đã có rất nhiều bộ sưu tập hình về nhiều chủ đề khác nhau của xứ sở sương mù như biệt thự cổ, hoa, thông, trăng, thiếu nữ… Chú tâm sự, Đà Lạt như một người mẹ hiền, người mẹ vẫn sống hiền hòa và ôm tất cả chúng ta vào lòng, vẫn ban cho ta những ánh nắng ấm áp để xua đi cái giá lạnh nơi đây, vẫn chắt ra cho ta những giọt sương tinh khiết.

Một tác phẩm của Phước Khùng MPK


Chú là một người đặc biệt, từ cái tên, nghề nghiệp đến những trăn trở. MPK khi nào còn đi được thì chú vẫn đi tìm những khoảnh khắc đẹp của Đà Lạt. Chú là người giữ hồn cho Đà Lạt, là hiện thân của một người làm nghệ thuật chân chính. Tính đến thời điểm này, Phước MPK đã đoạt rất nhiều giải thưởng trong nước về các chủ đề thiên nhiên, con người, đời sống...Nếu các bạn xem qua bộ phim Dốc Tình được quay bối cảnh chính tại Đà Lạt, trong phim nhân vật nhiếp ảnh gia ăn mặt như người đồng bào thiểu số, chuyên đi săn ảnh chính là mô phỏng lại nhân vật Phước MPK.

Người thứ hai trong bộ tứ này không thể không nhắc đến đó là cô Giang, chủ quán cà phê Cung Tơ Chiều. Hơn 10 năm nay, quán cà phê Cung Tơ Chiều nằm trên một đồi thông lặng lẽ, hoang vu ngay trước Dinh 3 đã trở thành điểm đến nổi tiếng ở xứ mờ sương, thu hút rất nhiều du khách. Chủ nhân của quán là cô Xuân Giang, 50 tuổi, được nhiều người gọi là “dị nhân”, người “không bình thường”, Giang “khùng”..

Không gian quán cà phê Cung Tơ Chiều


Khách đến với cà phê Cung tơ chiều là để được nghe, thấy Xuân Giang ôm đàn guitar ngồi hát. Không hát theo kiểu phòng trà hay quán bar, cô Giang hát theo sở thích của mình, thích thì hát, không thì thôi, không ai có thể “bắt” cô hát được. Cô thuộc cả ngàn bài hát với đủ thể loại. Bình thường hằng đêm cô hát 5 - 7 bài, thậm chí vài chục bài, nhưng cũng có đêm cô không hát bài nào. Chất giọng mộc mạc, liêu trai, không phô diễn kỹ thuật, không màu mè, chỉ có cảm xúc và sự rung động. Trong cái lạnh se se của Đà Lạt, trong tiếng thông vi vút gió ngàn, trong không gian huyền ảo của Cung tơ chiều, hình ảnh nữ chủ nhân xõa tóc ôm đàn guitar ngồi hát say sưa là một ấn tượng rất khó quên.

Mở quán kinh doanh lẽ thường ai cũng cần khách, cần tiền, nhưng với chị Giang thì không hẳn vậy. Cung tơ chiều mở cửa từ 19 giờ 30 đến 22 giờ 30 hằng đêm và rất kén chọn khách. Chị Giang muốn khách đến đây phải thực sự trân trọng những cung bậc cảm xúc hiện hữu trong không gian ấy, nên lúc mới mở quán chị đã “đuổi” hết những khách không đáp ứng “tiêu chí” trên, và do đó phải mất đến 6 tháng, quán của chị mới có khách lui tới. Đến giờ vẫn vậy, ai vào quán mà ồn ào, có mùi rượu hoặc thiếu lịch sự là chị yêu cầu rời quán.

Cô Giang tự đàn và hát cho khách nghe tại quán Cung Tơ Chiều của mình


Quán của cô chứa được khoảng 100 người, nhưng có những lúc chỉ hơn chục người là cô đóng cổng, ai đến nữa cũng không tiếp. Bởi những lúc ấy cô muốn dành hết cảm xúc cho những người đang có mặt, và không muốn ai khác quấy rầy. Ngay trong thực đơn của quán có thể sẽ làm nhiều người “choáng” với những dòng chữ: “Không cười nói lớn hơn tiếng nhạc; không chụp hình; không ghi âm; và chúng tôi không trả lời bất cứ câu hỏi nào”. Ai “vi phạm” sẽ gặp “rắc rối” ngay với bà chủ quán.

“Quán của mình là vậy, ai thích thì đến còn không thì thôi. Mình là con người rất bình thường, người ta có nói gì về mình đi nữa mình cũng mặc kệ, mình không quan tâm, không nghe thấy. Mình không thích nổi tiếng, không thích ai đụng chạm vào cuộc sống của mình, mỗi người đều có một cuộc sống riêng” - Cô Giang nói. Phải rất vất vả chúng tôi mới thuyết phục được cô đồng ý tiến hành cuộc trò chuyện, nhưng trước đề nghị chụp ảnh người làm say lòng bao lữ khách đến Đà Lạt thì cô dứt khoát lắc đầu.

Người thứ ba trong tứ quái Đà Lạt chính là một kiến trúc sư “có tiếng” ở phố núi du lịch sang trọng này, đó chính là kiến trúc sư Lữ Trúc Phương. Ông không nói chuyện với ai, mà chủ yếu dồn tất cả cho cuộc độc thoại trường kỳ với căn phòng ngợp các bản thiết kế, tranh, tượng gỗ, sách, máy tính... Nhìn vào không gian sống ở căn phòng 20m2 kia đủ nhận ra nỗi cô đơn, tự kỷ, trầm tĩnh và chịu đựng, cùng vẻ ẩn sĩ của một kiến trúc sư kỳ dị giữa buổi cuộc sống đang tốc hành, nhốn nháo thực dụng...

Kiến trúc sư Lữ Trúc Phương hiện nay


Cái gì Lữ Trúc Phương thực hiện dở dang là những cái du khách tìm đến xem, thành “sản phẩm du lịch”, thành “tour” để đưa khách đến, là cơ hội kiếm tiền của các hãng lữ hành, là “kiến thức” của các hướng dẫn viên du lịch, và người ta tranh nhau đưa vào những cuốn guidebook, kể cả xuất bản ra ngoài hay trong nước, ở Sài Gòn, Hà Nội hay ngay tại Đà Lạt.

Bên cạnh những cái tên Cam Ly, thung lũng Tình Yêu, hồ Than Thở... nổi tiếng ở Đà Lạt, không thể bỏ qua những công trình dù dở dang của ông.Đó là con gà chín cựa K’Long ở làng người Cill Darahoa, dưới chân đèo Prenn, là hồ nước Thống Nhất, hồ con rồng ở Đa Thiện, là nhà thờ dòng Don Bosco, là “ngôi nhà trăm mái” ở cận đồi Cù, là “con đường lên trăng” ở bên hông đồi thông dinh tỉnh trưởng...

“Con đường lên trăng” bay bổng đưa con người đi từ bí ẩn của lòng đất lên bầu trời mới tạm xong những hạng mục dưới lòng đất... Tương tự là công trình “Nhập cùng nguồn cội” (biến những ngọn đồi, dãy núi cùng thác nước ở khu Prenn thành một vùng khám phá thuở ban sơ của loài người, với sơn động, núi thờ thần mặt trời; và khi vượt qua chín tầng trời, chín tầng mây sẽ gặp đồi xe duyên, đồi báo hiếu, đồi nghĩ về tổ tiên, đất mẹ...) và “Ngôi nhà Việt Nam” (làng du lịch qui tụ những tinh túy bản sắc kiến trúc, văn hóa dân gian, lễ hội... của ba vùng Bắc - Trung - Nam) bị gạt ra ngoài vì mơ mộng hão huyền...

Bây giờ đã 65 tuổi, kiến trúc sư họ Lữ vẫn cứ đeo bám những mơ mộng xa xăm của mình, cự tuyệt những lời mời vẽ nhà ở (mặc dù đã vẽ nhiều biệt thự, nhà phố khá đẹp) dễ kiếm tiền, để phiêu du về vùng Mã Đà (huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai) để vẽ “Nhà nổi trên hoang đảo ngầm”, “Đền thờ tổ tiên Âu Lạc trên con thuyền” cho dự án khu du lịch sinh thái - văn hóa rộng cả ngàn hecta mang tên “Cầu treo bến nước” do Hàn Quốc và Công ty du lịch Phú Mỹ Hòa liên doanh đầu tư... Ở Lâm Đồng ông làm cái gì cũng dở dang, nên phần còn lại của cuộc đời ngắn ngủi phải đặt hi vọng ở xứ Đồng Nai hào phóng...

Lữ Trúc Phương thiết kế theo ý mình chứ không theo đơn đặt hàng, nên tác phẩm nào của ông cũng lênh đênh, trầm luân. “Mình nghĩ ra thế đấy, vẽ theo hướng đấy, ai thấy thích, chia sẻ thì nhận về triển khai, không thì thôi...”.

Ngôi nhà trăm mái, công trình kiến trúc nghệ thuật gây nhiều tranh cãi của ông


“Ngôi nhà trăm mái” được giới kiến trúc lẫn du khách thập phương tán thưởng thì bị chính quyền sở tại thẳng tay xóa sổ (vì cái tội chưa đủ giấy tờ hợp pháp và xây dựng trái phép). Có lẽ bi kịch là một thứ năng lượng của Lữ Trúc Phương, nên ông mới có thể gượng dậy để cố mà lao động, mà sáng tạo. Ở Đà Lạt, người ta dễ thấy vẻ “man man”, lập dị trên đường phố của ông, nhưng người ta không biết ông sống đạm bạc, nghèo mọn đến cỡ nào trong từng bữa ăn, lại còn không biết ông nợ nần hàng tỉ đồng cho những công trình lãng mạn bị người đời chê cười “thiếu thực tế” của mình.

Trước sau Lữ Trúc Phương vẫn cứ bền bỉ da diết với Đà Lạt. Ông yêu Đà Lạt nên từ bỏ Pnom Penh, Campuchia (học kiến trúc ở Campuchia thuộc Trường Mỹ thuật Đông Dương những năm 1950 và 1960, chuyên viên thiết kế công trình cho đại sứ Pháp ở nước này) và cả miền Tây bản quán (quê ở Cao Lãnh, Đồng Tháp) để tìm đến đây định cư suốt hơn 40 năm qua. Ông yêu Đà Lạt nên khi người ta chỉ chú tâm lo hạt bắp, khoai sắn thì ông đã nghĩ đến sản phẩm du lịch cho Đà Lạt.

Yêu Đà Lạt nên từ năm 1978 ông đã tháo sắt thép, lưới B40 của gia đình... để đi làm con gà chín cựa, bán cả xe máy để mua ximăng. Yêu Đà Lạt nên ông mới dám liều chết vay nợ để làm “ngôi nhà trăm mái”, “đường lên trăng”... Vì Đà Lạt nên suốt 10 năm qua, nhiều nhà đầu tư du lịch, văn hóa ở TP.HCM lẫn nhiều tỉnh thành khác tìm lên mời ông mang bản vẽ "nhà trăm mái", "đường lên trăng"... về xuôi thực hiện, họ Lữ vẫn từ chối.

Cũng vì Đà Lạt nên từ năm 1977 ông đã tự đứng ra qui hoạch để vùng núi đồi ở thung lũng Tình Yêu trở thành tổ hợp du lịch liên hoàn, tôn vinh thiên nhiên Đà Lạt. Người ta sẽ không ngờ được kẻ “man man” họ Lữ này từ những năm 1980 đã dành tâm nghĩ về qui hoạch Đà Lạt (năm 1992 ta mới triển khai được qui hoạch tổng thể lại đô thị Đà Lạt).

Lữ Trúc Phương đi trước sự vận động của đời sống, bằng những ý tưởng, những tác phẩm bị cho là “quái dị” của mình. Không biết có phải vì quá mơ mộng mà thiên hạ không thể (hay không muốn) thừa nhận ông. Mà cái gì không được thừa nhận thì làm sao có cơ hội được tôn vinh.

Nhân vật cuối cùng trong tứ quái của Đà Lạt đó chính là kiến trúc sư Đặng Việt Nga chủ nhân ngôi nhà kỳ dị mang tên Crazy House. Kiến trúc sư Đặng Việt Nga tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Moscow(1959-1965), sau đó từ 1969-1972 tiếp tục trở lại học và lấy bằng tiến sĩ của Liên Xô. Năm 1983, bà rời Hà Nội đến sống tại Đà Lạt và dựng xây lên biệt thự Hằng Nga hay còn gọi là “Ngôi nhà điên”.

Bà Đặng Việt Nga - Chủ nhân của ngôi nhà kỳ dị Crazy House


Biệt thự Hằng Nga bao gồm nhiều tòa nhà và nhà khách, quán cà phê và phòng trưng bày nghệ thuật với phong cách đặc biệt. Các nội thất của tòa nhà bao gồm hang động, hành lang quanh co, cầu thang quanh co, đồ nội thất kỳ quặc và những bức tượng động vật với kích cỡ lớn. Không có những đường thẳng và góc thẳng, không “ngang hàng thẳng lối”. Có thể tạo ấn tượng là không gian, hành lang, cầu thang, cửa sổ hoặc đồ nội thất - tất cả mọi thứ có vẻ như thể đã bị nấu tan chảy ở nhiệt độ cao và sau đó đóng băng trong hình dạng kỳ cục.

Giữa các tòa nhà là những mấu cây, rể cây xương xẩu làm bằng bê tông và mạng nhện khổng lồ làm bằng dây kẽm. Có một phòng trà nhỏ bên trong một tượng Hươu cao cổ to. Các phòng nghỉ có tên phòng Quả Bầu, Kangaroo, con gấu, con ong,...

Một góc ngôi nhà quái dị Crazy House của nữ kiến trúc sư Đặng Việt Nga.


Các phòng đều có thể được đặt chỗ mướn để nghỉ qua đêm bình thường. Hiện tại, mỗi năm “Ngôi nhà Điên” đón khoảng 100.000 lượt khách tới tham quan, trong đó phần nhiều là khách nước ngoài.

Từ khi khai trương vào năm 1990, tòa nhà này đã được công nhận kiến trúc độc đáo, đã được nêu bật trong các sách hướng dẫn du lịch và được xếp vào nhóm 10 tòa nhà “kỳ lạ” nhất theo bình chọn của Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc 

Khi quyết định xây biệt thự, KTS Việt Nga đã gặp phải sự phản đối gay gắt từ hội kiến trúc, khiến bà phải bí mật đưa bản dự án của mình trình lên sở Xây dựng thông qua chính quyền cấp phép. Thế nhưng 6 lần bà trình dự án là 6 lần bị từ chối thẳng thừng, mãi tới lần thứ bảy bản kiến nghị về việc mở rộng Crazy house mới được thông qua với nhiều điều khoản khắt khe. KTS Việt Nga cho biết: “Hành trình đi xin giấy phép của tôi thật sự khó khăn, tôi phải một mình lặn lội giữa trời mưa gió suốt mấy tháng liền. Tôi thực sự cảm ơn các du khách nước ngoài bởi việc công trình tiếp tục được cấp phép nguyên nhân chính là lượng du khách nước ngoài đổ về đây ngày càng đông, nó tác động trực tiếp tới cách nhình nhận của lãnh đạo thành phố”. Đến bây giờ, khi Crazy House được biết đến như một công trình kiến trúc độc đáo trên thế giới. Là điểm nhấn thu hút khách du lịch hàng đầu tại Đà Lạt.

Chưa rõ tác giả, thời điểm viết và nguồn đăng nguyên gốc.
Bài được trích đăng lại từ DU LỊCH ĐÀ LẠT - DALATTRONGTOI.COM 06/12/2019

Hoang tàn mộ phần phi tần bạc mệnh

đăng 21:50, 15 thg 6, 2018 bởi Pham Hoai Nhan

Từng là phi tần của vua Thành Thái nhưng một người con của làng Hội Kỳ (xã Hải Chánh, H.Hải Lăng, Quảng Trị) là bà Dương Thị Ngọt đã chết một cách đầy bí ẩn. Ngày nay, ngôi mộ của bà vẫn còn đó, nhưng hoang phế đến mức tội nghiệp như chính cuộc đời của giai nhân này…

Mộ bà Dương Thị Ngọt xuống cấp nghiêm trọng. ẢNH: NGUYỄN PHÚC 


Cái chết bí ẩn

Đến tận bây giờ, đi dọc dòng Ô Lâu hỏi ai là người phụ nữ tài sắc bậc nhất của vùng quê kiểng này, hẳn người am tường vẫn còn nhắc tên bà Dương Thị Ngọt. Bà được ví như sinh ra từ dòng nước sông mát lành. 

Dương Thị Ngọt là con gái của ông Dương Quang Xứng, người từng giữ đến chức Bố Chính tỉnh Khánh Hòa (quan trông coi tài chính cho tỉnh). Sử xưa kể lại rằng trên con đường hoạn lộ, dù làm gì, ở đâu ông Xứng cũng mang cô con gái rượu là Dương Thị Ngọt theo cùng. 

Càng lớn lên, Dương Thị Ngọt càng xinh đẹp. Chính vì thế, bà nhanh chóng lọt vào mắt xanh của vua Thành Thái. Bà Ngọt được xếp vào bậc “cửu giai tài nhân”, bậc chín, được hưởng lương 180 quan tiền và 48 vuông gạo. Bà sinh được một hoàng nam nhưng bị đau chết, khi mới một tuổi. 

Mộ bà phi tần Dương Thị Ngọt nằm giữa bãi đất trống sau làng Hội Kỳ. ẢNH: NGUYỄN PHÚC 


Cái chết của phi tần Dương Thị Ngọt gắn liền với những giai thoại bí ẩn. Chuyện rằng, khi đã là người của vua, bà Ngọt được sủng ái muôn phần, nên bị các bà phi khác đố kỵ. Có tích rằng, những người này đã lừa cắt của bà Ngọt một nắm tóc (điều cấm kỵ đối với phi tần thời phong kiến) rồi mật báo cho vua Thành Thái. Vua nổi giận lôi đình nên đưa bà Ngọt ra xử chém. 

Nhưng cũng có một tích khác do ông Dương Quang Diêu (sống ở làng Hội Kỳ, cháu họ của bà Ngọt đời thứ 3) kể thì có vẻ như bà Ngọt chết chỉ bởi… một câu nói. Chuyện rằng, vua Thành Thái thường cắt tóc ngắn, dạo đó sau khi cắt tóc, vua đi hỏi các bà phi xem có đẹp không. Trong khi các bà đều ve vuốt, khen đẹp thì bà Ngọt lại nói trớ ra rằng: “Trông giống như kẻ cướp ấy”. Chỉ vì câu nói này, bà Ngọt phạm tội khi quân, đã bị nấu trong vạc dầu đến chết. Tuy nhiên, cũng có người phản đối tích này vì cho rằng triều Nguyễn ngày xưa không sử dụng hình thức vạc dầu để xử tử. 

Dù ra lệnh xử tử bà Ngọt nhưng cũng chính vua Thành Thái lại tổ chức hậu sự cho ái phi của mình hết sức trọng thị, đúng lễ nghi. Theo lời kể đầy tự hào của ông Diêu thì quan tài bà Ngọt được đưa từ kinh thành Huế về làng Hội Kỳ bằng đường sông, trên thuyền rồng. Khi lên bờ, các phu phen gánh quan tài đi đến đâu thì rải chiếu hoa đến đấy. Sau khi an táng, nhà vua còn cử 4 từ phu coi lăng và cấp ruộng đất cho những người này như cách để trả công. 

Cái chết của phi tần Dương Thị Ngọt gắn liền với những giai thoại bí ẩn. ẢNH: NGUYỄN PHÚC 


Cho đến hiện nay, nhiều người vẫn coi câu chuyện của bà Ngọt là “tình sử Ô Lâu”. Còn theo nhà báo Nguyễn Hoàn, Phó giám đốc Sở Thông tin Truyền thông, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Trị (người từng có chuyến điền giả để lần theo dấu vết cuộc tình này) thì còn nhiều hoài nghi trong các chết của bà Ngọt. 

“Nguyên nhân dẫn đến cái chết thảm khốc của bà Ngọt có liên quan sâu xa gì đến tâm sự u uất của vua Thành Thái không? Ông vua yêu nước Thành Thái đã từng giả điên để che giấu mưu đồ chống Pháp (bởi thế mà ông từng được mệnh danh là “vua điên”). Quyền hành nhà vua bị thực dân Pháp thu hẹp dần, mọi cải cách nhà vua đưa ra đều bị cản trở. Cả đến những cử chỉ “duy tân” của nhà vua như tự lái xe hơi, lái xuồng máy, cắt tóc ngắn... cũng bị khâm sứ Pháp và bọn bồi Tây dò xét, nghi ngại. Thậm chí, chúng còn phao tin nhà vua điên thật để kiếm cớ truất phế. Vậy cái chết của bà Ngọt có liên quan gì đến chuyện “giả điên” của vua Thành Thái không, có liên quan gì đến một khúc quanh của lịch sử không?”, ông Hoàn đặt vấn đề. 

Xót xa bên mộ người xưa 

Một ngày giữa tháng giêng năm Mậu Tuất 2018, men theo con đường mòn dẫn ra một khoảng đất trống hoang vắng phía sau làng Hội Kỳ, chúng tôi đến được khu vực mộ của bà Dương Thị Ngọt. Qua thời gian, ngôi mộ vợ vua Thành Thái đã xuống cấp nghiêm trọng, làm cho những ai chứng kiến đều không khỏi xót xa. 

Mộ của vợ vua Thành Thái hoang tàn, không ai chăm sóc. ẢNH: NGUYỄN PHÚC 


Dẫu rằng, qua những gì còn sót lại có thể thấy so với ngày trước, đây là một lăng mộ bề thế, lại được đặt ở vùng thôn quê như Hội Kỳ thì hẳn không thể có cái nào lớn hơn vào thời kỳ đó. Lăng được xây tường gạch bao quanh, có cổng vòm, diện tích bên trong chừng 20 m2, phía chính giữa là ngôi mộ bà Ngọt cùng bia đá. Hiện nay, hầu như các hạng mục của khu vực mộ bị xuống cấp nặng, xung quanh cỏ dại mọc um tùm. 

Chúng tôi phải lấy khăn chùi lớp bụi trên bia đá mới thấy được những Hán tự khắc bên trên: “Hoàng triều cửu giai tài nhân thụy Thục Thuận Dương thị chi tẩm. Thành Thái thập tam niên bát nguyệt cát nhật tại”.Tạm dịch: “Lăng của bà họ Dương, bà phi của nhà vua được xếp vào bậc “cửu giai tài nhân”, có tên thụy là Thục Thuận, lăng được dựng vào ngày lành, tháng 8, năm Thành Thái thứ 13”. 

Bên trong khu vực mộ của bà Dương Thị Ngọt. ẢNH: NGUYỄN PHÚC 


Được biết, trước đây gia đình bà Dương Thị Ngọt có lưu giữ một tờ sắc phong cổ nhưng sau đó có nhà báo đến tìm hiểu, mượn tờ sắc phong cổ đó nhưng không trả lại nên giờ thất lạc đâu không rõ. 

Theo tìm hiểu của Thanh Niên, giới nghiên cứu lịch sử tại Quảng Trị cho rằng xét về nhân vật, bà Ngọt chưa đủ tầm để trở thành một nhân vật lịch sử, khi chưa có đóng góp gì cho dân cho nước nhưng xét ở góc độ kiến trúc ngôi mộ của bà thì hoàn toàn có thể lập hồ sơ để được trùng tu. 

“Nôm na hiểu là bảo vệ tôn tạo ngôi mộ đó không phải vì chủ của ngôi mộ mà là kiến trúc của ngôi mộ, là sự ghi nhận kiến trúc lăng mộ thời Nguyễn. Theo tôi, việc cũng nên làm và việc trước tiên hậu duệ của bà Ngọt cần có đơn từ gửi lên chính quyền và ngành văn hóa để được xem xét”, ông Lê Đức Thọ, Phó giám đốc Ban quản lý di tích Quảng Trị nói.

1-10 of 17