Chuyện về một đồn điền trà

đăng 02:20, 19 thg 8, 2012 bởi Admin VINACOM Garden   [ đã cập nhật 19:01, 11 thg 2, 2013 ]
Tặng N.Y.P.N - 
tác giả “Pleiku nhìn từ đồn điền trà Bàu Cạn“


Đã sinh ra trên đời, ai cũng có một quê hương. Cái nơi quê cha đất tổ, nơi cất tiếng khóc chào đời và nơi ta lớn lên không phải bao giờ cũng là một. Vì thế mà nhiều người đã nhận nơi này hay nơi khác là quê hương thứ hai (thậm chí có khi thứ ba) cũng là lẽ thường. Cá nhân tôi cũng ở vào trường hợp như thế. Như bao người dân khác, ba mẹ tôi phải rời mảnh đất nghèo khó ở một vùng quê miền Trung để lên Tây nguyên lập nghiệp khi tôi còn rất nhỏ. Vì thế mà kí ức tuổi thơ của tôi thuộc về quê hương thứ hai: Sở trà Bàu Cạn – tên gọi chính thức là đồn điền trà Catecka – do các ông chủ người Pháp khai thác và quản lí từ năm 1923 (cách Pleiku khoảng 20 km về hướng Tây), còn bây giờ phố núi Pleiku đối với tôi lại là quê hương thứ ba và không biết có phải là cuối cùng?

Cũng vì yêu mến thiết tha và gắn bó lâu dài hơn nửa thế kỉ với phố núi và cũng do cương vị công tác trong ngành điện lực mà một người bạn của tôi, đã ngược dòng thời gian để tìm về lịch sử hình thành và phát triển của thành phố Pleiku. Từ đó, đã “phát hiện” ra trong buổi ban đầu Pleiku phải mua điện từ sở trà Bàu Cạn và trước khi có sân bay Cù Hanh ở Pleiku , máy bay của Air VN phải đáp nhờ xuống sân bay Gia Tường (Ia Từng) ở Bàu Cạn. Điều này làm cho tôi cảm thấy thật thú vị và cảm động vì nó gợi nhớ đến người thân và những kỉ niệm thời thơ ấu của tôi. Hồi ấy, bọn trẻ con chúng tôi có lần rủ nhau ra sân bay để xem máy bay lên, xuống mà đối với con mắt trẻ thơ đó là một hiện tượng vô cùng kì thú. Hình như giữa Pleiku và Bàu Cạn đã có một mối cơ duyên từ trước vậy. Chẳng thế mà nhiều cư dân Bàu cạn đã ra Pleiku sinh sống cho đến tận bây giờ nhưng vẫn nhớ về chốn cũ,người xưa đầy ắp những kỉ niệm thân thương, những câu chuyện kể hoài mà không biết chán.

Thời ấy có lẽ con người sống gần gũi, hòa hợp với thiên nhiên hơn,bằng chứng là có thể “sống chung” với hổ. Ấy, xin đừng vội cho tôi là người khoác lác, nói xạo. Hổ và người dễ gì làm bạn với nhau để có thể sống chung ! Nói cách khác, con người sợ hổ như…sợ cọp ,nếu thấy hổ là đã chạy bán sống bán chết hoặc sợ quá hóa bủn rủn chân tay mà xỉu luôn tại chỗ !. Ý tôi muốn nói ở đây là hổ và người sống rất gần nhau nhưng… không thấy nhau. Ơn trời nếu có ai đó mà gặp hổ trong hoàn cảnh ấy thì đã mất xác từ lâu !!!.

Hồi ấy, các ông chủ Pháp đã cho quy hoạch khu dân cư có đường sá đi lại như bàn cờ. Lúc đầu, nhà tôi được bố trí ở vành đai ngoài cùng, nghĩa là con đường trước nhà tiếp giáp với khu vực trồng trà và trà thì lại tiếp giáp với rừng. Vào những năm cuối của thập niên 50 hổ còn nhiều lắm, nhiều đến nổi có những đêm mưa gió mịt mùng, chắc là do đói mồi nên “ông ba mươi” từ đâu trong rừng lảng vảng tìm về khu dân cư. Dù cửa đóng then cài rất chắc chắn nhưng người dân ở đây đều thót tim, không ai dám ra ngoài, lắng nghe mơ hồ có tiếng hổ gầm rú đến ghê rợn lúc gần, lúc xa vẳng lại. Sáng ra, ba tôi cùng với mấy người láng giềng đi quanh quất để quan sát xem dấu chân hổ lưu lại ở nơi nào. Không những thế, trong hầu hết các lô trà vào mùa mưa, công nhân đi hái trà vẫn thường phân biệt được những dấu chân của hổ ở nhiều nơi. Rất may chưa có ai làm mồi cho loài thú dữ này ngoại trừ mấy con bò trong chuồng trại chăn nuôi của sở trà đã từng bị hổ tấn công, làm vật tế thần cho chúng. Tuy nhiên, “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn” (Truyện Kiều)- đó là những khi một trong những ông chủ Pháp (rất mê săn bắn mà lúc đó chưa có lệnh cấm như bây giờ) đã bắn hạ được hổ và đem triển lãm ở khu trung tâm của sở trà để khoe tài cầm súng, lòng can đảm và cũng để làm thỏa mãn lòng hiếu kì của người dân khi được nhìn tận mắt chúa tể của rừng xanh nằm sóng soài đo đất.

Ngoài tài săn bắn, họ còn là những ông chủ rất ga lăng đối với phụ nữ, nhất là các cô gái trẻ đẹp thường được chú ý nhiều hơn, và thường được cất nhắc từ vị trí đi hái trà tươi ở ngoài trời để vào làm việc trong nhà máy chế biến trà thành phẩm đỡ phải dãi dầu mưa nắng, hoặc làm bếp nấu ăn cho ông chủ nếu có khả năng. Những người có chút chữ nghĩa thì tuyển làm thư kí cho văn phòng. Trong số đó có cô H.chuyên nấu ăn các món Tây qua mấy đời giám đốc sở trà. Cô là sự kết hợp giữa vẻ đẹp hình thể mang dáng dấp rất Tây, tầm thước mà cân đối – với một khuôn mặt đẹp thuần túy Á Đông. Cô cũng từ dưới quê lên cao nguyên kiếm sống giống như ba mẹ tôi, là người bạn giao hảo thân tình với cả ba mẹ, người duy nhất mà mẹ tôi không hề ghen chút nào mặc dù sắc đẹp của cô H có thể đe dọa hạnh phúc của chính bà . Vì thế, khi chưa lấy chồng, có một dạo cô H thường đến nhà tôi để làm mẫu cho một bức tranh phong cảnh có điểm xuyết thêm chân dung của cô và có lẽ do xúc cảm trước cái đẹp và mối quan hệ thâm giao mà ba tôi vẽ nên bức tranh đó.

Sau khi trao tặng cho cô H bức tranh, không hiểu tâm trạng ba tôi như thế nào nhưng riêng ông chủ Portier thì hẳn là vui lắm vì ông ta đã được sở hữu cả bức tranh lẫn người đẹp trong tranh. Khi làm vợ ông Portier, cô H đã bước lên địa vị một bà chủ nhưng cô vẫn giữ cung cách giản dị, hòa đồng với bà con trong sở như bản tính xưa nay của cô vậy. Cùng một cảnh ngộ như cô H nhưng kém may mắn hơn là cô L. Cô cũng rất xinh xắn, đã không cưỡng nổi sự quyến rủ của ông Salvaire- người tiền nhiệm của ông Portier. Ông Salvaire có vẻ đẹp đầy nam tính, nổi tiếng có nhiều tài lẻ, nổi tiếng cả cái chuyện thích chinh phục phụ nữ, nghe đâu ông đã có một cô đầm bồ ruột ở bên Pháp và đã từng sang thăm ông. Ông tự lái máy bay riêng để đi kiểm tra các đội sản xuất và cuối tuần bay về Sài gòn hay Đà lạt để vi vu cùng người tình. Khi mãn thời nhiệm, ông chủ- vốn là một quan tư phi công- cũng bay khỏi cuộc đời của cô L, để lại cho cô một nỗi trống vắng bẽ bàng. Phải chăng những người đàn ông có tài dù thuộc sắc tộc nào cũng thường hay có tật và “làm khổ “ phụ nữ?( còn người có tật hay có tài lại là chuyện khác). Thế mới biết sắc đẹp vừa là thứ vũ khí vừa là mầm họa đối với phụ nữ

Bây giờ nghĩ lại, tôi cho rằng việc các ông chủ Pháp lấy vợ hoặc có người yêu ở đây cũng là một cách hòa nhập đối với cuộc sông và văn hóa Việt, cũng tương tự như Việt kiều ta ở nước ngoài vậy. Khi sang đây, có khi họ cũng “chịu chung số phận” như người Việt mình, chẳng hạn như ông Mercier trong một lần đi kiểm tra các đội hái trà đã phải chết thảm vì vướng mìn của phía “bên kia”. Hoặc như ông Portier bị bệnh phải bỏ mình nơi đất khách quê người, may mà có người em trai của ông đang làm việc ở một hãng của người Pháp tại Sài gòn sẵn lòng thay ông để bảo bọc năm mẹ con cô H để rồi sau năm 75 đưa tất cả về định cư ở ngoại ô Paris cho đến bây giờ. Có lẽ những cuộc hôn nhân như thế đã góp phần xóa nhòa những khoảng cách về màu da, ngôn ngữ, phong tục…và tạo nên văn hóa đa sắc màu giữa các dân tộc.

Đó là trong đời sống, còn về công việc- nếu không có vấn đề người chủ bóc lột công nhân thì họ thực sự là những nhà quản lí giỏi. Họ có thái độ cứng rắn đối với những kẻ làm dối và làm ẩu, những người vi phạm kỉ luật lao động và thưởng phạt rất phân minh chứ không chỉ phê bình kiểm điểm rồi chuyển vị trí công tác hoặc hưu non như ta bây giờ . Catecka lúc ấy nổi tiếng với trà lipton đóng hộp (logo trên hộp trà vào thời điểm này do ba tôi vẽ và được chọn) , xuất khẩu mạnh sang thị trường châu Âu. Sau năm 75 khi người Pháp rời khỏi sở trà là cũng mất luôn nguồn lợi đáng kể này. Để bảo vệ sản xuất, họ đã nghĩ ra cách thức diệt sâu bọ rất độc đáo. Vào mùa khô, có thời điểm bọ rầy xuất hiện nhiều vô kể và là kẻ thù số một của cây trà. Để diệt trừ lũ phá hoại này, các ông chủ đã cử ra một bộ phận chuyên… mua bọ rầy. Thế là cả người già lẫn trẻ con như chúng tôi, vì không phải đi làm cũng có việc để làm. Hồi ấy, trục đường chính dẫn vào sở trà là hai hàng thông xanh thẳng tắp. Cứ đêm đến, người ta gom lá thông khô thành từng đống nhỏ rồi đốt lên để dụ bọ rầy lao vào như những con thiêu thân. Lúc ấy phải nhanh tay lẹ mắt mà bắt chúng đừng để chúng tự thiêu rồi bỏ vào những đồ đựng có lỗ thông hơi để chúng khỏi chết vì nếu để chết thì sẽ không bán được mà coi như diệt giùm cho mấy ông chủ để họ khỏi mất tiền mua (ôi! chủ mà khôn quá thế thì chỉ tội cho dân nghèo). Sau đó, họ sẽ cho đốt hết bọ rầy thành tro bụi trong những lò lửa ở nhà máy. Có nhiều cách bắt bọ rầy, cứ đi tha thẩn ngoài đường, gần các lô trà thế nào cũng thấy. Có những người bắt giỏi đem cân cả bao tải được món tiền kha khá.Thật là một cách diệt sâu bọ nhanh, đơn giản mà rất hiệu quả, vừa tăng thêm thu nhập cho người dân lại không gây độc hại cho môi trường, cho cây trà.

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi kiếm được đồng tiền bằng chính công sức của mình, để phụ vào tiền mua sách vở, mua quà vặt và những thứ linh tinh khác mà không phải xin mẹ.

Thiên nhiên ở đây cũng rất hào phóng ban tặng cho con người nhiều sản vật, mùa nào thức ấy. Mùa mưa tha hồ mà hái nấm mối, măng và các loại rau quả rừng . Vào những ngày giáp tết, ba tôi thường được cho mượn xe hơi chở tôi vào rừng để chặt mai- thứ không thể thiếu trong mỗi nhà của người dân ở đây trong dịp xuân về. Để phục vụ cho thú săn bắn, các ông chủ Pháp cho làm những con đường ngang dọc xuyên rừng để xe hơi có thể chạy được. Thỉnh thoảng, những con gà rừng bay hoảng loạn trước đường xe đi, hoặc một vài con nai hay mang- loại thú cùng họ với nai, giật mình co giò chạy sâu vào rừng mất hút… Khi tìm thấy vùng có nhiều mai, ba tôi tha hồ lựa chọn tùy thích để chất lên xe và thế nào cũng chọn được một cành vừa khúc khuỷu, vừa thanh tao với những nụ hoa sẽ nở đúng như mong đợi.

Trong tất cả những chuyện mà tôi còn nhớ có lẽ cái lớp học tiểu học của thầy giáo Hồng để lại một dấu ấn sâu đậm trong suốt thời thơ ấu của tôi. Đến đây tôi xin thắp một nén hương lòng để tưởng nhớ người thầy đã hết lòng hết sức vì học trò mình. Đó là một lớp học đặc biệt mà tôi từng biết vì có cả từ lớp vỡ lòng cho đến lớp nhất (tức là lớp 5 bây giờ). Bây giờ nghĩ lại tôi không biết thầy Hồng đã phải xoay sở như thế nào để vừa bảo đảm nội dung và phương pháp học tập cho 5 lớp khác nhau cùng một lúc vừa giữ được trật tự cho HS ở khác lưá tuổi như thế. Thầy giảng bài rất dễ hiểu và tận tâm, giảng cho đến khi nào học trò hiểu được bản chất của vấn đề mới thôi. Thầy xử lí những sai trái của học trò rất nghiêm khắc, công minh và bằng roi vọt. Không chỉ “quân pháp” mà “giáo pháp” cũng “bất vị thân”- kể cả con cái của thầy cùng học với chúng tôi hay con em của các sếp cũng vậy. Không biết có phải thầy muốn thực hiện đúng câu “thương cho roi cho vọt” không mà lúc nào cái roi tre dài cũng để trên bàn đầy uy quyền và đe dọa sẽ không tha cho bất cứ trò nào phạm lỗi. Thế nhưng ở ngoài lớp học tức là ngoài tầm kiểm soát của thầy thì bọn trẻ lại hiện nguyên hình là” nhất qủy, nhì ma, thứ ba học trò “. Ngoài những trò đùa nghịch phổ biến của học trò ra, vào mùa mưa, chúng tôi còn dùng các lon sắt tây đục lỗ cột dây để đi như cà khoeo đến lớp cho khỏi bị dơ chân, đôi khi bị ngã lăn cù còn lấm lem cả người và sách vở. Học trò của thầy lớp nào ra lớp ấy, không ngồi “nhầm lớp” bao giờ, tỉ lệ đậu vào lớp đệ thất ở tỉnh rất cao nên thầy thường phải chối từ nhiều phụ huynh dẫn con em đến xin học lớp tư thục của thầy vì quá tải, dù ở đây vẫn có một trường công bài bản hẳn hoi.

Việc học hành, giáo dục con em ở một đồn điền trà, dù nhỏ, vẫn có một hướng đi riêng tích cực của nó.

Sau năm 75, người Pháp đã phải trao trả quyền quản lí sở trà lại cho bên ta. Người công nhân làm thuê mà trước kia bị người Pháp gọi bằng cái tên “cu li” một cách khinh rẻ đã có cơ hội để làm chủ và đổi đời. Thế nhưng trong một lần cùng người thân vào thăm lại sở trà Bàu cạn, tôi không khỏi ngỡ ngàng vì sự thay đổi không giống như mình nghĩ. Sự quy hoạch hợp lí ban đầu đã bị phá vỡ, nhà cữa mọc lên vô tội vạ, những hàng cây bóng mát trên khắp các con đường không còn nữa . Khu biệt thự dành riêng cho nơi ở của mấy ông chủ mà người dân quen gọi là “ nhà Tây” xưa kia có khuôn viên trồng hoa trông rất đẹp mắt (thật không hổ danh là ” ăn cơm Tàu ,ở nhà Tây, lấy vợ Nhật” ) còn bây giờ tàn tạ hẳn đi, cứ như là cảnh “cha chung không ai khóc vậy ”. Tôi trộm nghĩ nếu “gạn đục khơi trong” thì những bài học từ người Pháp cho đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị : vấn đề khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên, năng lượng tại chỗ mà từ buổi ban đầu Pleiku phải mua thêm điện ở Bàu cạn là một ví dụ (vì Bàu cạn có thủy điện từ rất sớm, lại có sân bay riêng) ; vấn đề quy hoạch, cảnh quan môi trường …

Gần một nửa thế kỉ đã qua đi, biết bao vật đổi sao dời. Cảnh đã khác xưa, kẻ còn người mất nhưng kí ức tuổi thơ tôi vẫn còn sống mãi. Nếu có thể sống lại quá khứ lần nữa tôi vẫn muốn được trải qua đoạn đời ở sở trà Bàu cạn- Catecka để tôi được sống lại thời tuổi nhỏ êm đềm, ấm áp và vui tươi trong tình yêu thương của ba mẹ với tuổi học trò đầu đời thơ dại, hồn nhiên, giữa những con người tuy vất vả mà sống rất cởi mở, chan hòa, và còn để cho tôi được đắm mình giữa thiên nhiên trong mát, hữu tình nơi đây…
Đó là một nơi thấm đẫm tình người, sống mãi trong tâm tưởng những người như tôi về những ngày tháng cũ.

Nguyễn Đoan Tuyết
Comments