Có gì vui? Có gì buồn? Có gì xao xuyến? Ghi lại đây bạn ơi!

Bài mới

  • Thượng nguồn biên cương hùng vĩ Với những du khách ham mê khám phá, ai cũng hiểu rằng mọi chặng đường chinh phục thượng nguồn các dòng sông đều không hề dễ dàng. Kẻng Mỏ - nơi ...
    Được đăng 21:24, 18 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Chùa một bên, và... chợ một bên Chùa là nơi thanh tịnh, chợ là chốn ồn ào, hai đặc điểm này khiến cho việc chợ ở kế bên chùa thiệt là vô lý. Thế nhưng trên thực ...
    Được đăng 04:41, 15 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Say đắm cung đường chữ S huyền thoại ở Mộc Châu Vân Hồ, Mộc Châu không chỉ có những đồi chè uốn lượn dưới nắng vàng, những vườn đào, vườn mận mùa nở hoa đẹp mê hồn mà còn có một ...
    Được đăng 04:38, 15 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đảo Phú Quý - nơi lưu giữ cả trái tim phượt thủ Trong chuyến đi bụi ở Phú Quý (Bình Thuận), tôi cảm nhận được sự chân thật của người dân đảo, hiểu được những phong tục ở đảo mà tôi chưa ...
    Được đăng 04:18, 15 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
  • Miền ký ức hoa gạo Với những người từng sống, gắn bó ở quê thì hoa gạo như là người bạn thân, biểu tượng cho sức sống an lành, như ngọn đèn trời chiếu sáng ...
    Được đăng 01:58, 14 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 19. Xem nội dung khác »


Thượng nguồn biên cương hùng vĩ

đăng 21:24, 18 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Với những du khách ham mê khám phá, ai cũng hiểu rằng mọi chặng đường chinh phục thượng nguồn các dòng sông đều không hề dễ dàng. 

Kẻng Mỏ - nơi sông Đà chảy vào VN - Ảnh: THẾ DŨNG 


Và tìm đến thượng nguồn một dòng sông nổi tiếng hung bạo như Đà Giang lại càng gian truân hơn, dù đường sá hiện nay đã khá hơn trước rất nhiều. 

Sau một hành trình rất dài, chúng tôi mới đến được trạm biên phòng Kẻng Mỏ (thuộc đồn biên phòng Ka Lăng) nằm chênh vênh trên vách núi tả ngạn sông Đà. 

Suốt mấy chục cây số xuyên qua cánh rừng già Tây Bắc, chúng tôi mới lại thấy... người. Nhìn vườn rau nhỏ nhắn và gian bếp đơn sơ trước trạm, tôi bần thần nghĩ cuộc sống những chiến sĩ nơi đây chẳng khác nào những ẩn sĩ năm xưa, cũng nương mình nơi sơn cùng thủy tận, rau trái đạm bạc qua ngày, vô nhiễm với những thói thường thế tục, chỉ có trái tim và khối óc là trọn vẹn dành cho lý tưởng. 

Sau khi trưởng đoàn Trần Thế Dũng (Du lịch Thế Hệ Trẻ) trao chút tấm lòng của người dân miền Nam dành cho bộ đội biên phòng Tây Bắc, các chiến sĩ bắt đầu đưa chúng tôi chinh phục cột mốc 18 (2) và 18 (3), nơi ngã ba sông huyền thoại. 

Sau chặng đường mịt mù ngồi trên xe, chúng tôi bắt đầu băng rừng, men theo những dốc vực thẳng đứng để tiếp cận các cột mốc, được chạm tay vào những hòn đá đầu nguồn sông Đà, được chân trần bước đi bên triền nước thượng nguồn Đà Giang. 

Chúng tôi hội ngộ nơi đây không chỉ là chút duyên may của sự gặp gỡ, cũng không phải để chứng tỏ cho những đôi chân đủ sức vượt thác băng rừng. 

Chúng tôi đến đây để cảm nhận phần nào sự hùng vĩ, tráng lệ của non sông gấm vóc VN, để hiểu được phần nào những khó khăn, thiếu thốn của các chiến sĩ biên phòng. 

Mỗi bước chân tuần tra của anh em chiến sĩ trên cung đường biên giới chính là bước chân vệ quốc, chạm khắc nên hình hài cho lãnh thổ. 

LÊ NGỌC HÂN

Chùa một bên, và... chợ một bên

đăng 04:41, 15 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Chùa là nơi thanh tịnh, chợ là chốn ồn ào, hai đặc điểm này khiến cho việc chợ ở kế bên chùa thiệt là vô lý. Thế nhưng trên thực tế việc này vẫn thường xảy ra. Đó là trường hợp chùa (hoặc miếu) là điểm đến nổi tiếng về tâm linh hoặc danh lam thu hút khách thập phương, khi ấy người ta họp chợ kế bên chùa để bán đồ lưu niệm hoặc cây thuốc, vị thuốc. Chợ ở đường lên chùa Cổ Thạch là một ví dụ.


Một gian hàng bán sản vật rừng, đá (được cho là linh thiêng)... ở chợ cạnh chùa Cổ Thạch


Tuy nhiên, nhìn những hình này bạn có nghĩ là nó ở một cái chợ sát cạnh chùa được không?




Những thứ này không liên quan gì đến chùa hay yếu tố tâm linh nào hết, nó là những thứ hết sức... chợ! Vậy mà cái chợ này không chỉ bên cạnh chùa mà nó còn che kín cả cổng chùa nữa. Ngôi chùa ấy là một ngôi chùa rất nổi tiếng ở Sóc Trăng: chùa Chén Kiểu, hay chùa Shrô-Lôn. Cổng trước chùa đây:



Cổng trước khóa, vô chùa phải đi cổng bên (bên trái ở trong hình), và dọc theo bên hông ấy là chen chúc những sạp bán hàng như mấy hình chụp ở trên. Nghĩa là không chỉ bên cạnh mà chợ còn bao phủ chùa!


Chẳng những vậy, đứng ở trên chánh điện chùa nhìn xuống khu vực phía sau trong khuôn viên chùa ta có thể thấy lều bạt của một số gian hàng nữa (đa phần là bán nước giải khát, thức ăn vặt...). Nghĩa là không chỉ bao phủ mà chợ còn lấn đất chùa nữa.


Bạn nhìn thấy các lều bạt thấp thoáng ở dưới chứ?


Tui không có ý phê phán gì chuyện này hết. Việc người dân bày bán, họp chợ ở trước, bên và trong chùa chắc cũng có sự cho phép và thông cảm của nhà chùa và chắc là họ cũng có hoàn cảnh như thế nào đó. Tui chỉ cảm thấy hơi kỳ kỳ, và nhất là chụp hình cảnh chùa thì... dễ bị lộn thành chợ thôi!


À, mà chắc có một số bạn chưa biết về ngôi chùa nổi tiếng này, vậy xin được giới thiệu sơ và đăng vài tấm hình nhé (những hình này đều né khu vực có chợ!).


Chùa Sro Lôn (chùa Chén Kiểu) là ngôi chùa Nam tông Khmer, tọa lạc tại xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; cách Trung tâm thành phố Sóc Trăng khoảng 12 km về hướng Bạc Liêu. Tên chùa viết đầy đủ là Seraysockhum sănkummiênchay Sro Lôn, có diện tích khoảng 1 hecta.

Chùa được khai sáng vào năm 1815. Từ Sro Lôn theo tiếng Khmer là con mương, do bấy giờ ở trước chùa có con mương dài 7 km chảy đến Vu Gia. Chùa được trùng tu vào năm 1935, xây bằng ván lợp ngói. Đến năm 1968 thì chùa hư hỏng hoàn toàn. Ngôi chùa hiện tại được tái thiết từ năm 1969 đến năm 1985 mới hoàn thành. Người dân quanh vùng thường gọi tên chùa Chén Kiểu là do vào năm 1980, Hòa thượng Tăng Địch đã vận động tín đồ đi xin chén kiểu để trang trí ngôi chùa đang bị thiếu gạch men mua từ Nhật về. Đây chính là nét độc đáo nhất của ngôi chùa này.


Ngôi chùa chính



Sân chùa và các dãy nhà phục vụ cho việc tu học của các tu sĩ


Tượng Phật ở chánh điện




Như hầu hết các chùa Khmer ở miền Tây Nam bộ, chùa Chén Kiểu có khoảng vườn phía sau chùa rất rộng với rừng cây tỏa bóng mát. Nơi ấy có những tháp và cụm tượng về sự tích Đức Phật.


Đặc biệt, trong chùa hiện đang lưu giữ một phần gia sản của công tử Bạc Liêu, đó là chiếc tủ cẩn xà cừ, bộ trường kỷ cùng 02 chiếc giường ngủ mùa đông và mùa hè. Những tài sản này được nhà chùa mua lại vào năm 1947.


Đồ gỗ cổ của công tử Bạc Liêu trong chùa. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, 


Phạm Hoài Nhân

Say đắm cung đường chữ S huyền thoại ở Mộc Châu

đăng 04:38, 15 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Vân Hồ, Mộc Châu không chỉ có những đồi chè uốn lượn dưới nắng vàng, những vườn đào, vườn mận mùa nở hoa đẹp mê hồn mà còn có một cung đường say lòng người - cung đường chữ S. 

Cung đường chữ S thuộc xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ (Sơn La), những du khách và phượt thủ vẫn quen gọi là cung đường chữ S Mộc Châu, do xưa thuộc huyện Mộc Châu, nay tách huyện Vân Hồ và Mộc Châu. 

Toàn cảnh cung đường chữ S huyền thoại. Ảnh: Hoàng Huế 


Cung đường uốn lượn hình chữ S theo những đoạn dốc vừa phải, mang vẻ đẹp mềm mại và không gập ghềnh, nguy hiểm như những đoạn đèo dốc trứ danh.

Thăng hoa với những cảm xúc tuyệt vời. Ảnh: Hoàng Huế 


Cung đường chữ S này trở nên quen thuộc với du khách và đặc biệt là phượt thủ. Dường như, cứ mỗi chuyến đi, cung đường này là điểm dừng chân để ngắm nhìn cảnh sắc núi rừng, để chụp hình, để say đắm đất trời.

Cung đường đẹp mọi góc nhìn. Ảnh: Hoàng Huế 


Mùa trơ các sườn đồi. Ảnh: Hoàng Huế 


Điểm thu hút của đoạn đường chính là khúc cua chữ S nằm giữa một thung lũng, xung quanh là những dãy núi trập trùng xanh biếc, và những quả đồi dưới chân núi, mỗi mùa mang một màu sắc. 

Mùa thu hoạch, đồi trơ màu đất đỏ nâu, mùa những cây ngô xanh ươm phủ kín mặt đất, mùa những bông cỏ lau nhuộm màu. Mỗi mùa mang cho cung đường một cảm xúc riêng, nhưng mùa nào cũng đẹp, cũng nên thơ, đẹp từng góc nhìn, từng ngọn cỏ, từng sườn đồi.

Mùa ngô xanh phủ kín các quả đồi. Ảnh: Hoàng Huế 


Mùa ngô đơm bông trên các quả đồi, phía nhìn về huyện Vân Hồ. Ảnh: Hoàng Huế 


Ngay đầu khúc cua của cung đường có những quả núi thấp, sườn đồi khá bằng phẳng, mọi người có thể leo lên đó để ngắm nhìn toàn cảnh khúc cua đã trở thành huyền thoại, để yêu thêm mảnh đất Tây Bắc này. 

Nơi đây là điểm dừng chân không thể bỏ qua của các bạn trẻ để chụp hình. Có những ngày nắng đẹp, sắc áo cờ đỏ sao vàng rực rỡ cả cung đường. Có những ngày gió, cung đường được tô thắm bởi những nụ cười rạng rỡ, tươi vui.

Các bạn trẻ tha hồ check in tại cung đường chữ S. Ảnh: Hoàng Huế 


Nơi đây không chỉ là điểm dừng chân đầy cảm xúc của du khách, mà còn là điểm chụp ảnh cưới được ưa thích của nhiều bạn trẻ. 

Đoạn đường ngắn chưa tới 1km đã tạo nên một điểm dừng chân, một góc cảnh tuyệt vời cho mảnh đất Tây Bắc xinh đẹp này, để cho mọi người cứ xao xuyến, cứ lưu luyến từng bước chân, từng hơi thở.

Hoàng Huế

Đảo Phú Quý - nơi lưu giữ cả trái tim phượt thủ

đăng 04:18, 15 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Trong chuyến đi bụi ở Phú Quý (Bình Thuận), tôi cảm nhận được sự chân thật của người dân đảo, hiểu được những phong tục ở đảo mà tôi chưa thấy ở bất kỳ nơi nào đã đi qua. 

Tôi cùng anh bạn chung chiếc xe máy chạy xuống Phan Thiết để bắt tàu ra Phú Quý, đã đặt vé trước một tháng. 15h30 chúng tôi tới cảng Phan Thiết và chỉ cách giờ tàu chạy 30 phút, chỉ kịp ghé nhà một cụ ông ở đầu cổng gửi lại chiếc xe máy và lấy vé lên tàu. Biển động nên sóng mạnh, tôi không ngủ được nhiều nên đi ra mạn thuyền. May mắn là hoàng hôn vừa tới, đó là lần đầu tiên tôi ngắm được hoàng hôn ngay giữa biển. 


Sau 4 tiếng, tàu cập bến cảng Phú Quý lúc 20h. Tôi về homestay và ngủ tới 4h30. Tôi nhanh chóng lấy xe và chạy theo bản đồ đã chuẩn bị trước, trên đường không đèn, không bóng người, tới vịnh Triều Dương để ngắm bình minh. 


Ngồi co ro mặc cho gió biển tạt vào mặt lạnh tê, tôi đợi mặt trời lên. Đúng 5h30, mặt trời lấp ló sau đám cỏ khô. Mây mù che khuất cả vùng trời. 


Tôi chạy xe thêm một quãng nữa, tới cột cờ biển đảo Phú Quý hiên ngang nơi cao nhất. 


Phong cảnh từ cột cờ nhìn xuống Bãi Nhỏ. Bãi này rất đẹp và cũng có thể tắm. Tôi chạy xe máy về lại homestay, đi thả lưới với anh chủ nhà, gỡ được một thau lớn toàn cá ngát với 2 con cá tà ma. 


Cá ngát là họ hàng với cá trê đồng nhưng thịt trắng và thơm hơn. 


Tôi quay lại vịnh Triều Dương với anh bạn, nằm trên thảm cỏ xanh rì, nghe sóng vỗ ì ầm, hít hà đầy phổi không khí trong lành của núi của biển. 


Không thể kể hết về vẻ đẹp của vịnh chỉ với vài tấm hình. 


Phong cảnh từ bãi cỏ xanh rì nhìn ra biển, dọc bờ là những vách núi đá đen xen cỏ xanh. 


Ở Gành Hang có những con đập cũ đủ kích cỡ. Lúc xưa, dân đảo dùng nuôi cá mực, nay người ta đã chuyển sang đánh bắt nhiều hơn và con đập để không, mặc sóng lớn đánh vào. 


Tiếp cuộc hành trình khám phá đảo, chúng tôi đến thăm Đại Môn Mộ Thầy, nơi được ví là đuôi rồng. Nhìn từ đỉnh núi Cao Cát có thể thấy chùa Linh Sơn, nơi được gọi là đầu rồng. Trong hình là phía sau Mộ Thầy -đuôi rồng, xa xa là những con đập như lúc chúng tôi gặp ở Gành Hang. 


Tôi và anh bạn lên chùa Linh Sơn, viếng Phật. Xung quanh, những vách núi bị gió bào mòn qua hàng triệu năm, thành những rãnh song song dọc sườn núi. 


Đường Nguyễn Thị Minh Khai, con đường bờ kè dọc biển được xây lên để chắn nước biển tràn vào nhà dân những mùa bão, cũng là nơi ngắm hoàng hôn thật sự lãng mạn. Mặt trời xuống dần, ánh đèn trên những con tàu bắt đầu sáng lên, bắt đầu cho buổi ra khơi câu mực, đánh lưới hay những cuộc săn cá thu. 


Trong chuyến đi bụi ở Phú Quý, tôi chỉ cảm nhận được sự chân thật của người dân ở đảo, hiểu được những phong tục ở đảo mà tôi chưa thấy ở bất kỳ nơi nào tôi đã đi qua, được ăn những món hải sản tươi sống, món cháo nhum nóng hổi hay cua huỳnh đế hấp sả… Tôi đã hoàn thành chuyến đi an toàn, và không có gì quý bằng những tấm hình đã lưu, bằng máy ảnh và cả con tim mình. 


Vị trí đảo Phú Quý thuộc tỉnh Bình Thuận. 


Độc giả Peter Cao

Miền ký ức hoa gạo

đăng 01:58, 14 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Với những người từng sống, gắn bó ở quê thì hoa gạo như là người bạn thân, biểu tượng cho sức sống an lành, như ngọn đèn trời chiếu sáng cho làng quê thanh bình. Và tháng 3, đỏ thắm một màu hoa gạo, để lại trong tôi những khắc khoải, đậm sâu.

Đưa tuổi thơ về với mơn man ký ức…

Cái thời lên bốn, lên năm chân trần, tóc vàng hoe nắng cháy, mỗi tháng 3 về, đi chăn trâu thể nào tôi cũng phải tới gốc gạo một lần. Chỗ ấy chẳng phải nhiều cỏ, cũng chẳng có bóng râm mát mà giản đơn vì có những bông hoa rực đỏ cuốn hút khó cưỡng.

Dưới gốc hoa gạo, bao nhiêu trò chơi được bày ra. Khi thì lấy thân cây làm điểm tựa để chơi nhảy ngựa, nắm tay nhau thành vòng tròn quanh thân, miệng hát líu lo. Khi lại lấy chính những bông gạo rụng xuống chơi đồ hàng, tết thành vương miện làm cô dâu chú rể. Chỉ từ bông hoa gạo đơn sơ, giản dị mà đủ sức cho trí tưởng tượng của bọn trẻ bay xa trong biết bao trò chơi. Chơi chán, chúng tôi nằm cạnh nhau, tay nắm tay ngước nhìn lên những bông hoa đỏ rực rồi thi nhau đếm. Bất chợt có bông hoa nào rụng xuống trúng người thì lại cười khúc khích. Cũng từ đây nhiều lời đồn thổi, truyền miệng khiến những ai yếu bóng vía thì sợ hết hồn. Có đứa bảo “hồn cây đa, ma thần gạo” nên chắc chắn quanh cây gạo sẽ có những hồn ma. Thế nhưng rồi chỉ độ hai hôm, chuyện hồn ma lui vào dĩ vãng và bên gốc hoa gạo lại rộn vang tiếng cười trẻ thơ.


Rồi hoa gạo kết trái, bông hoa gạo trắng xoá la đà bay trong không trung. Đi trong không gian yên tĩnh của làng quê, vùng trời thoáng đãng, bông hoa gạo trắng bay bay đậu trên vai áo, đậu trên mái tóc mềm của tôi, của bạn để thương để nhớ.

…Mãi mãi không quên

Lớn lên đi xa, hình ảnh hoa gạo khiến lòng tôi nôn nao, nhung nhớ. Mỗi độ tháng 3 về, bắt gặp một hình ảnh, tứ thơ hay bản nhạc nói về hoa gạo lòng lại đầy khắc khoải, dâng lên nỗi ngậm ngùi khôn nguôi. Đó là hình ảnh bông hoa gạo hiện lên với một bức tranh quê nghèo mộc mạc và chân tình qua tứ thơ của nhà thơ Nguyễn Khắc Hào: “Gặp tháng ba mùa hoa gạo nở/ Thức một khoảng trời vạt sông quê/ Kìa mắt ai ngước nhìn mơ mộng quá/ Ta như quen như lạ lẫm lối về”. Hay chuyện tình đôi nam nữ trong huyền thoại: “Lửa hạ nhen hồng lên dáng hoa/ Đường thôn thắm đỏ sắc quê nhà/ Em nhắn: đang mùa hoa gạo nở/ Anh về ôn chuyện Mộc Miên xưa!”.

Đặc biệt khi nghe lại bài hát “Chị tôi” được nữ ca sỹ Mỹ Linh hát trong bộ phim “Người Hà Nội”, nước mắt tôi lại rưng rưng xúc động. Lời bài hát với hình ảnh hoa gạo gợi nhớ cho mỗi người trong chúng ta hình ảnh người phụ nữ đa đoan, khổ hạnh. Giai điệu bài hát da diết, mỗi ca từ giống như đang xoáy vào tâm can người nghe. “Thế là chị ơi/ Rụng bông gạo đỏ/ Ô hay, trời không nín gió/ Cho ngày chị sinh”.

Tháng Ba đỏ thắm màu hoa gạo đã đưa tuổi thơ về với miên man ký ức. 


Hoa gạo còn gợi nhớ những tình cảm, kỷ niệm của tôi với nội. Nội thuộc rất nhiều ca dao, tục ngữ mặc dù nội chưa học hết trường làng. Nội bảo, hoa gạo nở là tín hiệu để nhận biết sự giao mùa và chuyển đổi giống cây trồng cho phù hợp: “Bao giờ đom đóm bay ra/ Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng”. Giờ nội đã đi xa về cõi vĩnh hằng nhưng với tôi nội vẫn đang còn ở đây, bên cạnh tôi cùng những cánh hoa gạo an yên khôn xiết.

Về với miền ký ức hoa gạo tôi như được sống lại chính tuổi thơ của mình, được nương náu, bao dung, xua tan muộn phiền ngày cũ. Xin được khép lại cảm xúc nỗi lòng dành cho mùa, cho tháng 3, cho những bông hoa gạo đỏ rực bằng những câu thơ mà tôi tình cờ đọc được: “Em ở đây không có mùa hoa gạo/ Đỏ rực trời đốt cháy tháng ba/ Cho lòng ai thổn thức lúc chia xa/ Quay quắt bước mà hồn còn một nửa...”.

Cao Văn Quyền

Bạc Liêu, yêu mới biết

đăng 00:10, 12 thg 6, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Tỉnh Bạc Liêu nay có nhiều công trình văn hóa làm thành hệ thống níu chân du khách, khác hẳn dăm năm trước. Ở những điểm văn hóa hấp dẫn ấy dễ gặp các thuyết minh viên làm việc hoàn toàn tự nguyện theo niềm đam mê thôi thúc như điều họ nói “Tôi yêu Bạc Liêu”.

Cổng chào vầng trăng khuyết ở cửa ngõ thành phố Bạc Liêu. Ảnh: Sáu Nghệ


Từ nhà công tử Bạc Liêu sang Đồng hồ Thái Dương, thuyết minh cho chúng tôi là cô Nguyễn Trang Anh Thư mặc áo xanh thanh niên tình nguyện. Cô nói hay, hoạt bát trả lời mọi câu hỏi của du khách. Lắng lại tâm tình, cô cho biết quê nội ở Cà Mau, sinh ra ở quê ngoại Lâm Đồng, nay là Phó ban Tuyên giáo Tỉnh Đoàn Bạc Liêu. Khách thoáng ngạc nhiên, cô mỉm cười: “Nhiều người làm giàu đẹp cho văn hóa Bạc Liêu từ xưa cũng ở nơi khác đến đây đấy ạ”.

Ngày xưa

Lừng danh cố nhạc sỹ Cao Văn Lầu tác giả bản Dạ Cổ Hoài Lang bất hủ, cùng gia đình lênh đênh con thuyền từ tỉnh Long An qua nhiều nơi, cuối cùng dừng chân ở Bạc Liêu vào năm 1900. Ông học nhạc với thầy gốc Bạc Liêu, yêu một cô gái Bạc Liêu và trắc trở tình duyên nên một đêm trăng tháng Tám năm 1919, với cây đờn kìm trong tay làm nên điệu thức réo rắt lòng người đến nay: “…Đường dù xa ong bướm. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang…”.


Anh Thư giới thiệu chiếc Đồng hồ Thái Dương do ông Lưu Văn Lang quê Đồng Tháp làm ra mà trên thế giới hiện chỉ còn cái thứ hai ở Thủ đô Luân Đôn của Anh. Đồng hồ chỉ giờ theo bóng nắng mặt trời nên còn gọi Đồng hồ Mặt trời, dân Bạc Liêu gọi nôm na Đồng hồ Đá vì được xây bằng gạch và đá. Đồng hồ cao khoảng một mét, rộng 0,8 mét quay hướng đông; gồm một khối chữ nhật ở giữa nhô ra trước, hai khối hình vuông cân đối hai bên vạch số La Mã để chỉ giờ. Khối chữ nhật nhô ra sẽ đổ bóng xuống mặt số hai bên, vào vạch nào thì đó là giờ. Năm 2006, tỉnh Bạc Liêu xếp hạng Đồng hồ Thái Dương là Di tích Lịch sử - Văn hóa của tỉnh.


Nói về ông Lưu Văn Lang, sinh năm 1880, mất năm 1969 tại làng Tân Phú Đông (Sa Đéc, Đồng Tháp), tốt nghiệp kỹ sư tại Pháp năm 1904, coi việc cầu đường ở ĐBSCL. Giỏi kỹ thuật và để đáp lại thịnh tình của người Bạc Liêu, ông xây tặng đồng hồ. Sau đó, nhiều người giàu có trong vùng như Công tử Bạc Liêu cho xây theo nhưng đều không chỉ đúng giờ vào các mùa khác nhau. Đồng hồ Đá chính xác tới mức gần trăm năm qua, nhiều người đã đến đây để chỉnh đồng hồ đeo tay. 

Cũng mới được xây dựng khang trang là Di tích lịch sử quốc gia ở xã Phong Thạnh B (Giá Rai, Bạc Liêu), ghi dấu sự kiện rúng động dư luận một thời. Cô thuyết minh xinh đẹp dẫn du khách đi qua khu mộ gia đình Mười Chức, nhà tưởng niệm, nhà trưng bày, cụm tượng tái hiện trận đánh lịch sử giữa gia đình Mười Chức với bọn Tây cướp lúa, xảy ra ngày 16/2/1928. Cuộc đọ sức đẫm máu làm gia đình Mười Chức chết 4 người, viên cảnh sát Pháp Tournier thiệt mạng. 


Tại phiên tòa đại hình xử vụ án, Công tố viên Moreau đề nghị tòa thận trọng, cho rằng vụ này chứng tỏ bất ổn xã hội về đất đai đang tăng lên rất nghiêm trọng. Hai vị luật sư người Pháp bào chữa miễn phí. Luật sư Tricon ca ngợi người nông dân và nói: “Chúng ta nên xây dựng ở xứ này một chế độ độc tài. Không phải độc tài bằng sức mạnh của súng đạn, nhưng là sự độc tài của trái tim”. Luật sư Zévaco ca ngợi công tố viên và nói: “Bốn người đã chết vì họ tưởng rằng có thể tự lực gìn giữ phần đất ruộng mà họ đã từng rưới mồ hôi và máu của họ lên đó”. Tòa đã tha bổng những người nông dân, ghi nét son vào sử Bạc Liêu. Dịp năm mới, huyện Giá Rai lại tổ chức Lễ hội đồng Nọc Nạn.

Hôm qua


Một góc Khu lưu niệm Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ


Khu lưu niệm Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu đang là khu lưu niệm văn hóa chuyên ngành phong phú vào hàng bậc nhất ĐBSCL. Ở đây có Đài Nguyệt Cầm với những đoạn bậc thang tượng trưng cho sự phát triển bản Dạ Cổ Hoài Lang từ nhịp 2 cứ gấp đôi lên đến cuối cùng là 64. Vườn tượng giới thiệu 12 loại nhạc cụ, chính giữa là bộ tứ tuyệt của đờn ca tài tử gồm đờn kìm, cò, bầu, tranh. Có nhà trưng bày nghệ thuật đờn ca tài tử và cải lương, nhà trưng bày thân thế và sự nghiệp Cao Văn Lầu, mộ song thân ông và vợ chồng ông, cuối cùng là nhà biểu diễn đờn ca tài tử. 

Ngồi trong ngôi nhà mái ngói uốn cong nghe đờn ca tài tử, bâng khuâng nhớ những lần nghe đờn ca tài tử trên thuyền, ngoài vườn, ruộng. Đờn ca tài tử sinh ra từ những nơi đó nhưng để du khách có thể cảm nhận được vẻ đẹp tinh tế của nó, cần không gian thuần khiết. Nghệ sỹ cải lương Bạch Tuyết mơ ước trên quê hương cải lương có nhà hát riêng cho cải lương cỡ “nhà hát vỏ sò bên Úc”. Chưa có nhà hát thì sân khấu đằm sâu cũng ngọt ngào cho cải lương, cho đờn ca tài tử, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được UNESCO công nhận vào ngày 5/12/2013. 


Chương trình đờn ca tài cử có một bản tân cổ, giới thiệu lịch sử Bạc Liêu hai lần giành chính quyền không đổ máu: “Bạc Liêu ngày ấy, ngày không nổ súng. Ngày của tình người, ngày hội non sông”. Bài hát kể, Bạc Liêu cướp chính quyền ngày 23/8/1945 và sáng 30/4/1975, giải phóng trước Sài Gòn gần một buổi, đều không có tiếng súng, không có đổ máu, rồi kết: “Lịch sử sang trang lên tầm cao mơ ước, con thấy mẹ cười trọn vẹn một niềm vui”.


Cô thuyết minh Nguyễn Phạm Phương Quyên cho biết đó là bài Bạc Liêu ngày ấy của Trọng Nguyễn. “Cô thích bài hát không?”, khách hỏi. Phương Quyên đáp ngay: “Thích lắm vì không có cảnh giết chóc, nói đúng tâm hồn người Bạc Liêu”. Bài Bạc Liêu hoài cổ của Thanh Sơn có câu: “Bạc Liêu là xứ cơ cầu. Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu”, xứ này từ xưa quần tụ người bốn phương, đối đãi với nhau ân tình mà làm nên văn hóa vùng đất, vùng quê. Nên da diết: “Bạc Liêu thương quá ... hình bóng quê nhà”. 


Chuyện với cô thuyết minh trẻ trung lại chạnh buồn nhớ về vài vụ án. Giữa năm 1999, khởi sự vụ án lôi bà Giám đốc Sở Tài chính Trần Tuyết Dung ra tòa, xử nhiều lần trong 5 năm, cuối cùng bà vô tội. Chục năm sau, lôi Chánh văn phòng UBND tỉnh Bùi Thanh Hồng ra tòa cũng qua nhiều lần xử, tuyên bản án khiến nhiều cán bộ nghỉ hưu (có nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu) ký đơn kêu oan giùm. Vụ án sau còn làm lụn bại một doanh nghiệp. Tại sao thời bình mà người ta lại đối xử với nhau đôi lúc thiếu tình yêu thương? Rồi mới hay, nỗi đau cũng dần lui về quá khứ, bà Trần Tuyết Dung nay nghỉ hưu khỏe mạnh, vui cùng cháu nội.


Hôm nay


Cô Nguyễn Trang Anh Thư cho biết, khi Tỉnh ủy có chủ trương “Bạc Liêu đi lên từ văn hóa”, Tỉnh Đoàn thành lập Câu lạc bộ Thuyết minh viên du lịch. Câu lạc bộ do Anh Thư làm chủ nhiệm, nay có gần 100 bạn trẻ ở nhiều ngành nghề, sinh ra ở nhiều quê, chung tình yêu Bạc Liêu nên tình nguyện làm thuyết minh viên giới thiệu văn hóa Bạc Liêu với du khách. Cũng như Anh Thư quê không phải Bạc Liêu còn có Phó chủ nhiệm Phạm Trần Thùy Linh, giảng viên trường Đại học Bạc Liêu, quê ở tỉnh Phú Yên và rất nhiều người nữa. “Ai cũng chỉ có một thời tuổi trẻ để cống hiến và mỗi chuyến giới thiệu là kỷ niệm đẹp, hành trang quý giá cho cuộc đời”, Anh Thư tâm sự.


Nguyễn Trang Anh Thư bên Đồng hồ Thái Dương


Hội tụ tình yêu bốn phương, Bạc Liêu hôm nay còn có nhiều dự án kinh tế nổi bật cả nước. Công trình điện gió đầu tiên ở nước ta xây dựng trên thềm lục địa; tôm giống Việt–Úc đi đến sản xuất tôm thẻ chân trắng bố mẹ đầu tiên cả nước; huyện Hồng Dân hợp tác với Hàn Quốc nuôi và chế biến cá chình cũng đầu tiên cả nước.v.v.


Bí thư Tỉnh ủy Võ Văn Dũng giải thích chủ trương đi lên bằng văn hóa là “nâng cao yếu tố văn hóa trong mọi lĩnh vực, cả trong kinh tế”. Văn hóa theo ông gồm văn học, nghệ thuật, di sản văn hóa, du lịch và đặc biệt là “tính cách người Bạc Liêu”. Tính cách ấy: Hiếu khách, lịch thiệp trong quan hệ đối ngoại; khoan dung, nghĩa tình trong đối nội; trân trọng và cầu thị với đối tác, các doanh nghiệp. 


Có một “Bạc Liêu giấc mơ tình yêu” như câu hát của Thanh Sơn, hành trình mải miết vượt qua mọi biến cố, trắc trở và cả lầm lẫn, không ngừng đi tới sự hoàn mỹ. Ở cửa ngõ thành phố Bạc Liêu mới dựng cái cổng như vầng trăng khuyết vươn trời xanh chào du khách: Hẹn gặp lại. Cuộc sống đề cao giá trị văn hóa hứa hẹn sẽ ngày càng tròn đầy viên mãn.


Sáu Nghệ

Tiền phong online - 31/01/2015

Hua Tát - cung đèo của gió

đăng 21:04, 29 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Đường vào Mộc Châu dốc núi liên tục khiến ta có cảm giác đâu đâu cũng là đèo, nhưng khi đến Hua Tát, đoạn rẽ ngã ba đường mới thấy thế nào là đèo núi thực sự. 


Quốc lộ 6 dẫn lối đến Sơn La, những con đường uốn lượn dưới ánh mặt trời dát vàng. Qua đèo Thung Khe, khung cảnh mỗi lúc một hùng vĩ. Đường đẹp nên xe chạy bon bon. Một chốc đến Mai Châu mùa em thơm nếp xôi, rồi một chốc đến Mộc Châu.

Từ ngày quốc lộ 6 mới mở ra, đèo Hua Tát (hay còn gọi Hua Tạt) trong đường 6 cũ bị lãng quên, ít người qua lại. Lần nào đến Mộc Châu tôi cũng qua đèo, lần nào cũng thấy rõ sự khác biệt của nó. Thời gian và sự quên lãng khiến con đèo dần trở thành hoang phế và hỏng hóc. 

Lần đầu tiên khi qua đèo, tôi không khỏi ngỡ ngàng vì cảnh đẹp suốt dọc con đường, nơi một bên là núi và bên kia là thung lũng bạt ngàn cây mận. Xe túc tắc đi qua những bản làng, con đường không một bóng xe. Đến cuối đèo mới gặp một nhóm các cô cậu bé dân tộc Mông đi bộ chơi. 

Lần thứ 2 sau đó hơn 1 năm, con đèo trở thành đường chở vật liệu xây dựng, lổn nhổn đá dăm và đất cát. Một xế đi trước tôi đã "xòe" ngay khúc cua vì chệch bánh vào đá, khiến tay bị xước nhẹ. May là lúc đấy cả nhóm đều đang đi rất chậm ngắm cảnh. Những lần sau đi trên Hua Tát, chỉ nghe tiếng gió rít qua những khúc cua và tiếng sỏi lạo xạo dưới bánh xe, chục cây số đèo không bóng người qua. 

Đường đèo nhỏ, vắng bóng xe cộ qua lại. Ảnh: Lam Linh. 


Dù đã vắng và ít người qua, tôi vẫn muốn chạy qua Hua Tát, như chạy qua nhà người yêu cũ, chỉ để ngoái lại một cái nhìn rồi đi ngay, một thói quen của ngày đầu. Tôi thả xe chầm chậm trên con đường hoa nắng, những thân lau phất phơ như những cánh tay vẫy, những ruộng ngô đều tăm tắp chạy dài dưới thung. 

Cảnh vẫn vậy, chỉ có đường là mỗi lúc một hoang vắng. Đôi khi xe tôi bị chặn bởi một cành củi mục nào đó vắt ngang. Chắc chỉ vài năm nữa, khi không được chăm sóc và chịu tác động của thiên nhiên, đường sẽ nứt và sạt, sẽ trở thành con đường khó đi. Lác đác chỉ có dăm nóc nhà ẩn mình giữa những rặng ngô, một phần của đèo không có sự sống, không có cây trái, chỉ có những đồi đất đủ màu. Vào những ngày nhiều mây, đi trong Hua Tát là đi trong mây. 

Những đứa trẻ chơi đùa trên đèo. Ảnh: Lam Linh. 


Những người đi qua Hua Tát bây giờ chỉ còn giới đi bụi là chủ yếu. Nếu đã tính chạy chinh phục cung đường 6 cũ năm xưa từ Mai Châu đến Co Lương, Trung Sơn, Xuân Nha, nhất định sẽ phải qua Hua Tát, chạy trên con đèo một thời nổi tiếng dốc và nguy hiểm. 

Cung đường Xuân Nha khủng với vô số những đèo dốc và những đoạn sạt lở do đường không còn sử dụng nữa. Họa hoằn lắm mới có người chạy xe máy qua, còn lại là đi bộ. Thế nên đường đã khó đi, càng vắng vẻ hưu quạnh. Đường 6 mới trải nhựa đẹp, đường 6 cũ mỗi ngày cỏ lấp thêm một chút, đường chỉ còn là những lối mòn. Cung đường của quá khứ và hiện tại, đó là con đường huyết mạch một thời, nơi ghi dấu ấn lịch sử nhiều năm trước. 

Ngôi nhà nhỏ nơi lưng chừng con dốc. Ảnh: Lam Linh. 


Khung cảnh hoang vu, hiu quạnh. Ảnh: Lam Linh 


Đèo Hua Tát và đường 6 cũ chạy qua xã Vân Hồ và Phiêng Luông, ngoại trừ một số điểm chạy qua xã có chục nóc nhà tập trung thì đường hoàn toàn vắng lặng. Đường đèo bắt đầu từ cuối Lóng Luông, nơi ngã ba 64, một đường lên với con đường chữ S nổi tiếng Mộc Châu. 

Đi hết con đường đèo, đường nối xuyên trong đồi chè của nông trường Mộc Châu và nhập lại với đường 6 mới. Cung đèo hơn 25km mê hoặc với tiếng gió rít. Những ngọn gió Hua Tát không ngừng thổi đêm ngày.

Lam Linh

Chiều vàng trên mùa nước đổ Mang Mủ

đăng 02:21, 25 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

Nằm trên một ngọn núi cao, Mang Mủ được coi là nơi đắc địa nhất có thể nhìn ngắm toàn cảnh Mù Cang Chải, Yên Bái bên dưới, đặc biệt mỗi khi hoàng hôn trải vàng xuống thị trấn mỗi khi mùa lúa chín hay mùa đổ nước.


Mang Mủ là địa danh bao gồm hai thôn Mang Mủ A và Mang Mủ B, thuộc xã Mồ Dề, trực thuộc huyện Mù Căng Chải, và cách trung tâm thị trấn chừng 7 km, theo hướng về đèo Khau Phạ. 


Là hai thôn thuộc diện nghèo nhất huyện, đường đi lên Mang Mủ ngày nay đặc biệt khó khăn với dốc cao, bùn lầy trên con đường độc đạo dẫn lên đỉnh núi, và chỉ có thể tiếp cận được vào ngày nắng khô ráo. 


Dân cư ở đây chủ yếu là người Mông, sinh sống bằng nghề nông và đi rừng. 


Nằm trên ngọn núi cao kế bên thị trấn Mù Cang Chải, nên đây chính là địa điểm có thể nhìn ngắm toàn cảnh thị trấn phố núi bên dưới. 


Một năm có hai đợt, tháng 9-10 mùa lúa chín, và thời điểm tháng 5-6 mùa nước đổ, đến với Mang Mủ bạn có thể nhìn ngắm những kiệt tác của đồng bào Mông là những thửa ruộng bậc thang trù phú. 


Chiều về mặt trời buông dần xuống thị trấn Mù Cang Chải, là khoảnh khắc tuyệt vời nhất ở Mang Mủ, với khung cảnh như được dát vàng: từ thị trấn phía xa, những nóc nhà hay ruộng bậc thang đều vàng óng 


Mặt trời lấp lánh trên những nấc thang vàng của Mang Mủ, một kiệt tác của thiên nhiên kết hợp sức lao động của con người. 


Một chú bé người Mông đang thay cha cày xới thửa ruộng nhà, trong nắng chiều sắp tắt. 


Trên bờ ruộng, có cô bé Mông ngồi nghỉ mệt, lặng lẽ ngắm nhìn ráng chiều của quê hương, sau một ngày đi rừng. 


Vào mùa hè mặt trời thường sau 6 rưỡi chiều sẽ tắt nắng, nhiệt độ xuống rất nhanh, bạn cần chú ý giữ ấm cũng như tính toán thời gian xuống núi. 


Nguyễn Chí Nam

Lập lòe đom đóm bay đêm

đăng 03:57, 18 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

1.

Nếu thuở nhỏ bạn đã từng sống ở thôn quê thì ắt hẳn là bạn đã từng có những đêm ngồi ngắm từng đàn đom đóm lập lòe bay, mơ những giấc mơ đom đóm. Chắc là bạn cũng từng bắt đom đóm bỏ vô chai để nhìn nó nhấp nháy, nhớ đến câu chuyện kể ngày xưa: học trò nghèo nhà không có tiền mua dầu thắp đèn, nên bắt đom đóm bỏ vô chai để lấy ánh sáng học suốt đêm khuya.



Đom đóm chỉ có ở miền quê, nhớ đom đóm là nhớ quê và nhớ thuở nhỏ. Bạn hãy nghe Trăng về thôn dã, một bài hát thôn quê có nhắc đến đom đóm để thư giãn một chút nhé. Đoạn cuối là hình ảnh đom đóm bay trên ao bèo ở một làng quê yên ả.



Đom đóm bay quanh trên ao bèo xa

Khi bao người dìu dịu giấc nam kha

Mộng triền miên say sưa dưới mái vàng

Ánh trăng khuất chìm vào rặng tre cuối làng



2.

Không có gì lạ khi những người bạn của tôi sống ở nước ngoài nhiều năm khi về Việt Nam mong được một lần nhìn đom đóm bay đêm để thương về miền quê yêu dấu.


Có một nơi ở Việt Nam có nhiều đom đóm, đã đi vào ca dao:


Bần gie đóm đậu sáng ngời

Rạch Gầm - Xoài Mút muôn đời oai linh.


Đó là vùng sông rạch Mỹ Tho, nơi có những nhánh bần gie ra sông. đom đóm tập trung những nơi ấy tỏa sáng lung linh. 


Tôi biết có những đơn vị du lịch ở Mỹ Tho tổ chức tour đi thuyền trên sông về đêm để xem đom đóm. Hình ảnh họ giới thiệu trên mạng khá đẹp.




Khi tôi gọi điện liên hệ thì bạn hướng dẫn viên ngần ngừ cho biết: Mùa này không có nhiều đom đóm như trong hình chụp đâu anh ạ. Thường phải là bắt đầu mùa mưa, và nếu hôm đó ban ngày trời mưa và ban đêm trời tạnh thì mới chắc chắn là có nhiều đom đóm. Hay anh đợi một hai tháng nữa hãy đi?


Liên hệ một nơi khác, bạn này lại cho biết thêm thông tin: Nếu đi vào khoảng 14 - 16 âm lịch, tức là những đêm trăng sáng thì đom đóm sẽ không bay ra nhiều.


Thật là không đúng lúc, các bạn tôi về Việt Nam vào thời điểm đầu tháng 4 dương lịch và dự kiến ngày đến Mỹ Tho là 12 âm lịch. Quá nhiều yếu tố để... không có đom đóm!


Không còn chọn lựa nào khác, tôi quyết định đặt tour với hy vọng mong manh là không có nhiều đom đóm thì có ít. Miễn là có!


3.

Tour du lịch bắt đầu từ xế chiều qua cồn Thới Sơn, cồn Phụng để tham quan vườn cây ăn trái, nghe đờn ca tài tử, đi xuồng chèo qua những con rạch nhỏ... cho bạn sống trong không khí sông nước miền Tây.




Sau bữa ăn tối, đêm đến, thuyền đưa chúng tôi lênh đênh qua những rặng bần trên sông Tiền. Có đôi chút lo âu khi vẫn chưa thấy đom đóm. Thuyền vẫn đi từ từ dọc bờ cồn Phụng.


Và rồi kìa, những chấm sáng nhấp nháy trên rặng cây bên bờ. Như những ánh đèn dây nhấp nháy trong thành phố, nhưng nhỏ hơn, hiền hơn, yên ả hơn và... biết bay! Cả một vùng trời dĩ vãng quay về, và cả những giấc mơ - giấc mơ đom đóm.


Thuyền cập sát rặng cây để chúng tôi bắt đom đóm. Bắt để được nắm trong tay đốm lửa lập lòe, bỏ đom đóm vào chai nhựa pet (như ngày xưa bỏ vô những hủ keo trong) để ngắm nhìn, để tưởng tượng rằng mình đã tóm được giấc mơ.


Thuyền lại tiếp tục lang thang, mỗi khi thấy rặng cây có những chấm sáng nhấp nháy là đi chậm lại hoặc tấp vô để ngắm. Đúng là không có quá nhiều đom đóm để tạo nên một cảnh tượng huy hoàng, để thấy cảnh bần gie đóm đậu sáng ngời (sáng chút chút thôi), nhưng nhiêu đó cũng đã đủ để trở về kỷ niệm.


Trời về đêm, và đom đóm cũng không nhiều để chụp được những tấm hình đẹp, nhưng cái được lớn nhất chính là cảm giác lênh đênh trên sông nước miền Tây trong đêm tối, ngắm những rặng bần xõa xuống bên bờ, thỉnh thoảng reo lên khi thấy những đám sáng lung linh.


Thuyền cập bến Mỹ Tho, một bạn kêu lên: Thả đom đóm đi, và khi nó bay lên thì hãy ước mơ một điều gì đó! Chấm sáng chấp chới bay lên trên nền trời đen. Không biết các bạn ấy ước gì, riêng tôi, tôi chỉ ước một điều đơn giản: sẽ có một ngày lại cùng các bạn lênh đênh trên sông nước giữa trời đêm ngắm nhìn đàn đom đóm nhiều hơn đêm nay, và nghe văng vẳng trên sông bài ca thôn dã.


Đom đóm bay quanh trên ao bèo xa

Khi bao người dìu dịu giấc nam kha

Mộng triền miên say sưa dưới mái vàng

Ánh trăng khuất chìm vào rặng tre cuối làng


Phạm Hoài Nhân

Ngày xưa Con kênh xanh xanh

đăng 02:53, 18 thg 5, 2017 bởi Pham Hoai Nhan

“Xe chạy lướt qua những bụi chuối mọc sát ven kênh, đủ để ký ức xa mờ quay về trong câu hát đã ghi dấu ấn sâu đậm của một thời: “Thuyền ai lướt qua hàng chuối với bờ kênh/ Thuyền ai lướt qua bông lúa thướt tha”...

Vương Minh Thu - Tác giả bài viết


Trong một ghi chép viết cách đây không lâu, mình có nhắc đến cảm xúc âm nhạc khi nghe các bản ghi âm trước 75 được trình bày bởi các danh ca và với cách hòa âm phối khí khác biệt rõ rệt với giai đoạn sau này. Đó là giọng ca trong vút của Hà Thanh không phai mờ với bản “Chiều mưa biên giới”, hay “tiếng hát nồng nàn tình ái của Khánh Ly” trong tuyệt phẩm Sơn Ca 7 đi vào và ở lại trong tim những người yêu nhạc Trịnh Công Sơn. 

Cảm xúc âm nhạc thường gắn liền với kỷ niệm. Những “lũ kỷ niệm trước sau” ấy có thể riêng tư và khác nhau ở từng người, nhưng cũng gắn kết một thế hệ bởi hoài niệm chung về một không gian và thời gian đã sống qua… Và điều tạo ra cảm xúc âm nhạc phải chăng là thanh âm? Bởi khi nói đến ghi âm và hòa âm là nói đến khoa học. Cùng với thời gian, công nghệ ghi âm - hòa âm có những bước tiến vượt bậc không ngừng. Chỉ có thanh âm mới lưu dấu cái không khí và văn hóa vào thời điểm thu âm, khi người ca sĩ ngân nga những nốt nhạc như một biểu đạt sự cảm thụ cá nhân về cái hồn của bài hát. 

Mình tin chắc rằng những người bạn cùng lứa tuổi 6x, 7x hầu hết đều biết (và thậm chí thuộc lòng) bài hát “Con kênh xanh xanh”. Ca khúc này thường được phát trên ti vi và đài phát thanh vào những năm xưa ấy, được trình bày bởi nhiều nghệ sĩ “ngôi sao” như tam ca Thanh Hoa - Thanh Hòa - Bích Lan, song ca Ái Vân – Phương Nhung, đơn ca Tô Lan Phương... Thập niên 80, “Con kênh xanh xanh” cũng chính là nhạc hiệu kết thúc chương trình truyền hình tầm 11 giờ đêm, khi màn hình chạy thông tin chương trình cho ngày hôm sau. 

Thời ấy trên sân khấu, những tiết mục ca múa liên quan đến Nam Bộ đều dùng phục trang áo bà ba cổ quàng khăn rằn của các diễn viên nữ như một mặc định. Khi là một cô bé con sáu tuổi, mình đã sớm biết về tính ước lệ của sân khấu bởi ngoài đời thực các chị em, các cô dì, các bà, các má không quàng khăn rằn hờ hững điệu đà như thế. Công dụng của khăn rằn trong việc đồng áng ở vùng đất miền Tây Nam Bộ là để quấn trên đầu che nắng, buộc gọn mái tóc và để lau mồ hôi. 

Hồi đó phải mất một ngày đường, đi xe đò từ Sài Gòn xuống Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang), từ đó đi xuồng máy đến nhà người thân ở Nhơn Hòa Lập (tỉnh Long An) thì trời đã tắt nắng. Chặng về đi theo một lộ trình khác, nhưng vẫn công thức xuồng máy + xe đò. Từ Nhơn Hòa Lập đi theo con kênh Dương Văn Dương xuôi dòng sông Vàm Cỏ Tây đến thị xã Tân An, rồi lên xe khách về lại Sài Gòn. Tỉnh Long An có hai con sông chảy qua và cũng đều đã được đưa vào những ca khúc vô cùng quen thuộc thời niên thiếu của mình, như “Vàm Cỏ Đông”, hay “Em ở đầu sông anh cuối sông”. 

Kênh Dương Văn Dương 


Điều thú vị là đều khởi nguồn từ Tây Ninh, đều đẹp thơ mộng và thân thuộc hữu ích với đời sống người dân Long An như nhau, nhưng chỉ có Vàm Cỏ Đông được nhắc đến trong thơ nhạc. Có lẽ Vàm Cỏ Tây nghe không vần điệu mượt mà bằng chăng? 

Đi vào âm nhạc sớm hơn nữa là kênh Dương Văn Dương trong bài hát “Con kênh xanh xanh” của nhạc sĩ Ngô Huỳnh (1931-1993). Ca khúc được sáng tác năm 1949, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và đã trở thành “bài ca đi cùng năm tháng” đối với nhiều thính giả và người yêu nhạc từ bấy đến nay. 

Con kênh xanh xanh những chiều êm ả nước trôi 
Đêm đêm trăng lên theo dòng buồm căng gió xuôi. 
Con kênh xanh xanh những mùa sen nở khắp nơi 
Bao câu tơ duyên dạt dào tim ta thắm tươi. 

Thuyền ai lướt qua hàng chuối với bờ kênh 
Thuyền ai lướt qua bông lúa thướt tha. 
Tiếng ai hò khoan vẳng đưa những câu tình ca 
Ngả nghiêng hàng tràm vang hòa tiếng hò xa xa 
Chiến khu bừng lên ấm bao lòng dân quê ta 
Tiếng ai giã bàng nhịp nhàng như tiếng lòng tôi 

Con kênh xanh xanh những chiều êm ả nước trôi. 
Ghi sâu tim tôi bao ngày tranh đấu nổi sôi. 
Con kênh xanh ơi, dập tàn chinh chiến khắp nơi 
Bên nhau ta xây trọn bài tình ca thắm tươi. 

Có thể thấy chất trữ tình lãng mạn của tình yêu đôi lứa được lồng trong khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp hoang sơ và cuộc sống bình dị chất phác như những nét chấm phá rất đặc trưng cho miền sông nước Nam Bộ, mà cũng hào sảng tinh thần kháng chiến được nhạc sĩ Ngô Huỳnh cô đúc trong sáng tác này khi ông mới mười tám tuổi. Trong hồi ức của ba mình, một cậu bé tám tuổi (năm 1950) lần đầu tiên từ Sài Gòn vào chiến khu thăm cha, hình ảnh con kênh Dương Văn Dương thời ấy đúng như trong bài hát. 

Những bụi chuối mọc tự nhiên trải dài ven bờ kênh trổ buồng trĩu xuống, ai muốn ăn thì cứ hái. Dưới kênh tung tăng từng đàn cá lội, ai muốn câu thì câu. Mùa nước ròng, rong trôi về nhiều phủ kín mặt kênh, những con cá lớn ngợp thở phải nhảy tanh tách lên cao để lấy không khí. Dân cư trong vùng thưa vắng, cách vài trăm mét mới có một căn nhà nhỏ. Vào những hôm trời quang có thể nhìn thấy núi Bà Đen xa xa. Kênh Dương Văn Dương được người Pháp cho đào từ đầu thế kỷ XX, cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt giữ vai trò xả phèn và điều hòa nước lũ cho vùng đất mà chúng ta quen gọi là Đồng Tháp Mười.

Ruộng lúa 


Sở dĩ bài hát có tên “Con kênh xanh xanh” cũng bởi màu xanh của nước phèn, và màu xanh của cây sộp, cà na, rặng trâm bầu… in bóng xuống mặt kênh. Nước ngọt canh tác trồng trọt được và dùng trong sinh hoạt hàng ngày như giặt giũ tắm rửa thì có màu nâu của phù sa, khi mỗi năm vào mùa lũ nước ở sông Mekong từ Cambodia đổ về bồi đắp. Cây tràm, loài cây thích hợp sinh trưởng trong môi trường nước lợ, với công dụng giữ đất đã gắn bó với vùng đất này từ bấy đến nay. Ở miệt đất Tây Nam Bộ này cho đến Cà Mau đi đâu cũng thấy ngút ngàn tầm mắt là màu xanh rừng tràm. 

Theo lời kể của ba, đang trong thời kỳ kháng chiến nên phải đợi đêm xuống mới đi xuồng luồn lách trong những kênh rạch nhỏ để đến căn cứ. Chiến khu Dương Văn Dương nằm ở địa bàn các xã Nhơn Hòa, Tân Lập (trước khi tách là xã Nhơn Hòa Lập), Hậu Thạnh, Tân Hòa, Nhơn Ninh và Tân Ninh thuộc tỉnh Long An. Kênh Dương Văn Dương rộng khoảng hai mươi mét, cách một quãng lại được đắp ụ đất để ngăn tàu to của Pháp, chỉ chừa đủ chỗ cho xuồng ghe nhỏ của dân quân ta qua lại. 

Theo cách xưng hô thân mật với người là đồng đội của cha, ba mình gọi “nàng thơ” trong bài hát “Con kênh xanh xanh” của nhạc sĩ Ngô Huỳnh là cô, cô Sáu Quế. Cô Sáu Quế là nữ sinh trường Petrus Ký ở Sài Gòn, “xếp bút nghiên” vào bưng biền theo tiếng gọi kháng chiến, cũng như rất nhiều thanh niên yêu nước thời ấy. Với khuôn mặt xinh đẹp và nước da trắng hồng, cô đã khiến chàng trai trẻ Ngô Huỳnh si mê viết nên câu hát “Tiếng ai giã bàng nhịp nhàng như tiếng lòng tôi”. 

Bàng ở đây không phải là “cây bàng lá đỏ” được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhắc đến trong bài hát “Nhớ mùa thu Hà Nội”, mà là một loài cỏ lác mọc hoang dùng đan đệm.

Bàu Gõ trên cỏ dưới bưng 
Nhổ bàng đươn đệm em đừng đi đâu. 
(Ca dao) 

Cỏ bàng thường mọc ở vùng trũng phèn ngập nước quanh năm như ở Đồng Tháp, Hà Tiên và một số huyện xã thuộc tỉnh Long An. Từ lâu đời, bàng là nguồn nguyên liệu để đan, tạo ra nhiều sản phẩm thiết thực như đệm bàng (chiếu), bị bàng (giỏ xách), võng bàng. Theo nhịp sống thời đại, nghề đan bàng đã mai một đi rất nhiều. Ngày nay, những chiếc bị bàng đủ kích cỡ xinh xắn thường được dùng như bao bì thấm đẫm hồn cốt thủ công mỹ nghệ Nam Bộ. 

Trở lại với “Con kênh xanh xanh”, cỏ bàng màu xanh và hoa cũng màu xanh, được nhổ về khi đạt chiều cao gần bằng đầu người. Ngày mình còn nhỏ, dọc đường đi vẫn thấy người ta trải ra từng bó cỏ bàng xếp hình rẻ quạt để phơi nắng. Sau khi phơi, bàng được đem giã (cho cọng bàng mềm hơn dễ đan lát) với chày cũng cao gần bằng đầu người trên một phiến gỗ to, dày và chắc. Công việc giã bàng nặng nhọc nên thường được làm vào đêm khuya yên ắng mát mẻ. Sự đan xen gắn bó bền chặt giữa các cọng bàng với nhau khiến chàng nhạc sĩ trẻ liên tưởng đến mộng ước lứa đôi.

Kênh Dương Văn Dương nhìn từ hướng khác, với màu xanh huyền thoại 


Tuy nhiên, trớ trêu là nàng thơ Sáu Quế đã trao duyên gửi phận cho một người đồng đội có phần anh tài nổi bật hơn. Người bạn đời của cô chính là thượng tướng công an Cao Đăng Chiếm (1921-2007). Một trong những bí danh của vị tướng an ninh huyền thoại này, là “Năm Quế”, lấy từ tên người vợ của ông. 

Con kênh xanh xanh như một dòng nước hiền hòa mang hồn vía Nam Bộ thấm vào tâm hồn yêu quê hương, yêu nhạc Việt của người nghe. Với mình, con kênh Dương Văn Dương trong “Con kênh xanh xanh” gắn liền với kỷ niệm những dịp về thăm người thân. Cách Sài Gòn 102km và ngày nay nhờ có đường cao tốc, rồi Quốc lộ 62 được nâng cấp mở rộng, thời gian rút xuống chỉ còn hai giờ đồng hồ chạy xe. 

Nhân đây xin kể một giai thoại về cách người dân Long An đặt tên cho con đường huyết mạch mà thoạt tiên người ta chỉ nghĩ rằng đặt tên theo số hiệu như nhiều con đường khác. Thật ra, đây là một sự vinh danh cho hai nhân vật theo cách gọi tên thân mật của người miền Nam. Một người thứ Sáu - là nữ Phó Chủ tịch tỉnh Long An phụ trách lương vận, đã “đeo bám” người kia thứ Hai - là Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải khoảng giữa thập niên 80 về dự án làm con đường nối Tân An với các huyện ở vùng Đồng Tháp Mười. 

Có điểm kết thúc là cửa khẩu biên giới Mộc Hóa, Quốc lộ 62 góp phần quan trọng mở ra sự phát triển kinh tế cho vùng đất này. Những năm ấy, phương tiện giao thông chủ yếu ở vùng sông nước là ghe xuồng. Còn nhớ, đám cưới của chú út mình, đoàn rước dâu đi ghe hơn ba chục cây số từ năm giờ sáng đến nhà cô dâu ở huyện Tháp Mười (tỉnh Đồng Tháp), không xa đó là khu di tích Gò Tháp nổi tiếng đi vào lịch sử và thơ ca. Cuối năm, trời se lạnh về sáng sớm và đêm khuya, đắp một tấm chăn mỏng ngủ trên phản trải đệm bàng trong âm thanh rì rì của ghe tàu qua lại trên kênh vọng vào là một trải nghiệm khác biệt thi vị cho người thành phố. 

Cô chị thành phố còn rủ được hai người em họ chèo xuồng đưa đi ngắm hoa sen hoa súng. Chiếc xuồng gỗ nhỏ men theo con kênh nhỏ kế bên nhà chú, luồn lách đi trong hương hoa tràm và mùi vỏ cây tràm ngai ngái thơm, rồi bất chợt hiện ra mênh mông mặt nước là hoa súng màu vàng, màu trắng, màu tím hồng. Thò tay rẽ nước cảm nhận luồng nước mát lạnh, được thực tập cách nhổ/ bứt bông súng, rồi thôi… Bởi người dân ở đây không chưng hoa sen hoa súng làm đẹp nhà cửa. Vớt lên một mớ ốc chỉ để chơi, rồi lại thả xuống. 

Ngày xưa đúng nghĩa chim trời cá nước, cá nhiều vô kể, ăn không hết thì làm khô làm mắm cá ăn dần, bởi thế người dân ở đây không có thói quen ăn ốc. Cá dễ cắn câu đến mức một cô nhỏ chả có tí kỹ năng câu cá là mình, ra ngồi ngay bờ kênh trước nhà cũng lập được thành tích. Đến khi gỡ ra khỏi móc câu mới biết đấy là một con cá rô mù… Dẫu sao thì cũng là những niềm vui trẻ thơ của những ngày cũ, không phai trong tâm trí. 

Cuộc sống dĩ nhiên phải thay đổi và phải phát triển lên. Kênh rạch và hệ thống thủy lợi được khai thông giúp cho vùng Đồng Tháp Mười bớt ngập úng, đất bớt chua phèn. Rừng tràm lùi sâu vào trong nhường chỗ cho ruộng lúa cao sản. Ruộng sau lưng nhà chú mình những ngày cuối năm lúa đang thì con gái xanh mướt trải dài ngút tầm mắt. Với công nghệ mới, một năm nông dân ở đây làm được ba vụ lúa, trúng mùa có thể thu hoạch đến tám tấn thóc trên một mẫu (ha) ruộng. 

Những đầm sen nay chỉ còn thi thoảng bắt gặp trên đường. Dọc hai bên bờ kênh san sát nhà cửa, trường học và hàng quán đều khang trang bề thế hơn xưa rất nhiều. Xe chạy lướt qua những bụi chuối mọc sát ven kênh, đủ để ký ức xa mờ quay về trong câu hát đã ghi dấu ấn sâu đậm của một thời: “Thuyền ai lướt qua hàng chuối với bờ kênh/ Thuyền ai lướt qua bông lúa thướt tha”... 

Bài và ảnh: Vương Minh Thu, từ TP. HCM

1-10 of 19

Comments