Có gì vui? Có gì buồn? Có gì xao xuyến? Ghi lại đây bạn ơi!

Bài mới

  • Mùa nước cạn ở thác Pongour Pongour đang bước vào mùa nước trong, phía chân thác trơ đá, dòng chảy hiền hòa. Dưới vòm trời quang mây những tháng cuối năm, “mái tóc của nàng Kanai ...
    Được đăng 20:09, 14 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mê mẩn hoàng hôn lãng mạn miền sơn cước Hà Tĩnh Chiều Đông. Những tia nắng hiếm hoi trong ngày khuất dần sau những dãy núi tạo ra một khoảng không ấm áp trên bầu trời. Lang thang miền sơn cước ...
    Được đăng 02:44, 30 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Mùa lá đỏ trong những vườn hồng gần Đà Lạt Cách Đà Lạt hơn 10 km, những vườn hồng ăn quả chuyển màu lá đỏ rực lúc giao mùa mang lại khung cảnh như mùa thu châu Âu. Cuối năm ...
    Được đăng 06:06, 12 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đẹp ngỡ ngàng những bức tường hoa tigôn trên đường làng Hà Tĩnh Ngỡ ngàng, xao xuyến là những xúc cảm của mỗi vị khách khi một lần được rảo bước dọc trên tuyến đường thôn Thông Tự, xã Tùng Ảnh, huyện Đức ...
    Được đăng 03:51, 9 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bây giờ, núi Ấn hết tranh... Từng là ngọn núi được bao phủ bởi những trảng cỏ tranh dày đặc. Vậy mà nay, dẫu đã cố công luồn rừng, len rẫy, cũng chẳng thấy được bóng ...
    Được đăng 00:21, 24 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Mùa nước cạn ở thác Pongour

đăng 20:09, 14 thg 1, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Pongour đang bước vào mùa nước trong, phía chân thác trơ đá, dòng chảy hiền hòa. Dưới vòm trời quang mây những tháng cuối năm, “mái tóc của nàng Kanai” tung bọt trắng, ồn ã dội vào vách đã biến đây thành nơi đổi gió khác lạ khi lữ khách đã quá quen với “nét hoa” của Đà Lạt.

Nằm cách Đà Lạt gần 50km về phía nam, thác Pongour thuộc xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.


Nhiều người cho rằng, Pongour (Pon-gou) vốn bắt nguồn từ tiếng của người K’Ho bản địa mang nghĩa là “bốn sừng tê giác”. Lý giải khác lại nghĩ rằng cái tên này ra đời để ghi nhớ phát hiện địa chất của người Pháp về cao lanh có trên vùng đất Đức Trọng với ý nghĩa “ông chủ vùng đất sét” hoặc “ông vua xứ Kaolin”.


Trong truyền thuyết xa xưa của người K’Ho, ngọn thác này gợi nhớ đến nữ tù trưởng Kanai, người con gái xinh đẹp với biệt tài chinh phục thú dữ. Bên cạnh nàng luôn có bốn con tê giác to lớn khác thường, chúng giúp Kanai dời non ngăn suối, khai khá nương rẫy, sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ cho dân làng nơi đây.


Tại đây, còn tấm bia đá khắc lại bài thơ tưởng nhớ nàng Kanai

Tù trưởng Kanai qua đời đúng vào rằm tháng giêng. Bốn con tê giác luôn quẩn quanh bên thi thể nàng, không ăn uống cho đến chết. Mái tóc nàng biến thành dòng nước mát rượi, dội xuống những phiến đá to lớn, xanh rêu do sừng tê giác hóa thành.

Nhiều tảng đá lớn, nhiều hình thù nằm phía dưới chân thác


Ngoài Pongour, ngọn thác được gọi với nhiều tên khác nhau như thác bảy tầng, thác thiên thai… Trong vài tài liệu ghi chép về Đà Lạt, người Pháp từng cho rằng đây là “một trong những thác nước đẹp nhất Đông Dương”. Chính nhờ vẻ hùng vĩ vốn có, vua Bảo Đại đã đặt tên cho nơi này là "Nam thiên đệ nhất thác".

Mặt hồ tĩnh lặng, trong vắt dưới chân dòng thác Được đưa vào khai thác du lịch từ nhiều năm nay, đường dẫn xuống thác Pongour dễ đi và không tốn nhiều thời gian chinh phục. 


Vào mùa khô, nước cạn thuận tiện cho việc chiêm ngưỡng dòng thác ở cự li gần hơn 


Thác Pongour cao khoảng 50m, và chia thành 7 tầng thác đổ. Từ trên cao, hệ thống bậc đá vuông vức, xếp thành từng lớp chia nước thành trăm dòng nhỏ, dội xuống tạo thành một hồ nước rộng, trong vắt.


Phía thung lũng hạ lưu thác trơ cạn đáy Hiện dòng chảy qua thác không còn nhiều như trước do việc khai thác thủy điện trên sông Đa Nhim. Trước kia, nhiều du khách leo lên các bậc đá chụp hình và bơi trong hồ. Sau một số tai nạn không đáng có, Ban quản lý Khu du lịch Thác Pongour đã đề biển cấm leo trèo lên bậc đá và bơi tại đây.


Dã quỳ rộ nở trên đồi núi Đức Trọng


Cùng với Tây Nguyên, Đức Trọng đang bước vào mùa hoa dã quỳ. Trên đường từ quốc lộ 20 vào thác Pongour, loài hoa này mọc dại rất nhiều và lan vàng đến cả vùng đồi hai bên.

Phạm Ly

Mê mẩn hoàng hôn lãng mạn miền sơn cước Hà Tĩnh

đăng 02:44, 30 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Chiều Đông. Những tia nắng hiếm hoi trong ngày khuất dần sau những dãy núi tạo ra một khoảng không ấm áp trên bầu trời. Lang thang miền sơn cước Hương Sơn - Hà Tĩnh ngắm hoàng hôn sẽ mang lại cho bạn nhiều cảm giác lạ mà thú vị.

Những đám mây màu vàng vần vũ trên bầu trời khi chiều dần buông.


Cảnh mặt trời lặn luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho các sáng tác nghệ thuật từ thi ca, hội họa đến nhiếp ảnh. Mỗi cảnh hoàng hôn với ánh mặt trời dần khuất bóng đều gợi lên những sắc thái tình cảm khác nhau.


Hoàng hôn “buông” trên những mái nhà, rặng tre, miền quê thanh bình..


...hay đô thị sầm uất soi bóng mặt hồ


Hoàng hôn... là khi những chuyến xe cuối ngày vội vã về sum họp bên gia đình


Mưu sinh trong chiều đông


Sông Ngàn Phố như dát vàng trong ánh chiều tà.


Đồng quê Hương Sơn thanh bình trong ánh hoàng hôn


Minh Lý - Bá Tân

Mùa lá đỏ trong những vườn hồng gần Đà Lạt

đăng 06:06, 12 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cách Đà Lạt hơn 10 km, những vườn hồng ăn quả chuyển màu lá đỏ rực lúc giao mùa mang lại khung cảnh như mùa thu châu Âu. 

Cuối năm, nhiều loài cây trên vùng cao nguyên Langbiang đến mùa thay lá. Một trong những điểm đến đang được yêu thích gần Đà Lạt là vườn hồng ở huyện Lạc Dương với sắc đỏ, vàng tạo nên khung cảnh như mùa thu xứ ôn đới. 


Những ngôi nhà của người dân tộc Cil, xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương nằm nép mình bên vườn hồng rực lá đỏ. Sau khoảng hai tuần lá sẽ rụng sạch, cây hồng chỉ còn trơ cành chờ khi đâm chồi nảy lộc vào mùa xuân. 


Anh Phan Tấn Đạt (Đà Lạt), tác giả bộ ảnh, cho biết mùa lá đỏ qua rất nhanh. Chỉ những du khách may mắn đến phố núi đúng dịp mới có thể chiêm ngưỡng cảnh tượng thiên nhiên này. 


Một góc vườn hồng đầy trái chín những ngày cuối tháng 11. Đa phần người dân hái hồng rồi mang ra chợ bán thay vì kinh doanh tại nhà. Một phần quả thu hoạch được dùng làm hồng treo gió. 


Khu vườn phủ màu lá đỏ được dùng làm bối cảnh cho một bộ ảnh cưới. 


Huỳnh Phương - Ảnh: Phan Tấn Đạt

Đẹp ngỡ ngàng những bức tường hoa tigôn trên đường làng Hà Tĩnh

đăng 03:51, 9 thg 12, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ngỡ ngàng, xao xuyến là những xúc cảm của mỗi vị khách khi một lần được rảo bước dọc trên tuyến đường thôn Thông Tự, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh). Trong sắc nắng dịu nhẹ đầu đông, những giàn hoa ti gôn khoe sắc rực hồng trên nền xanh cây lá khiến không gian càng thêm yên bình, lãng mạn.

Mong muốn làm nên điều đặc biệt riêng có cho con đường thôn, 3 năm trước, ngoài chọn những giống cây phổ biến như chiều tím, chuỗi ngọc.... để làm hàng rào xanh, người dân thôn Thông Tự còn chọn giống cây tigôn để “khoác” bức tường hoa dọc những tuyến đường.


3 năm sau, trên chính con đường ấy một thảm hoa được dệt nên rực rỡ sắc màu


Con đường trục chính của thôn Thông Tự kéo dài gần 2km thì có hơn 700m tường hoa tigon do 45 hộ gia đình trong thôn cùng nhau trồng, chăm sóc


Kể cả những lối ngõ nhỏ cũng phủ bóng tigôn


Hoa còn kết thành hàng rào bao phủ chái những ngôi nhà nhỏ dọc con đường


Hằng tuần, các bạn trẻ cùng chăm sóc hoa, quét dọn vệ sinh dọc trục đường thôn


Con đường hoa tigôn trở thành nơi để nam thanh nữ tú lưu lại những hình ảnh đẹp của quê hương


“Với người dân Tùng Ảnh, nhắc đến đường hoa tigôn người người đều biết là nhắc tới con đường thôn tôi. Một loài hoa mang vẻ đẹp mỏng manh, vừa kiêu sa nhưng cũng vừa giản dị, đằm thắm như tấm lòng người dân thôn”- Bà Lê Thị Thái, người dân thôn Thông Tự tự hào.


Hoa tigôn từng được biết tới trong bài thơ nổi tiếng “Hai sắc hoa Ti-gôn” của tác giả TTKh nhiều thập kỷ trước, gắn với nhiều câu chuyện lãng mạn về tình yêu


Tigôn cho hoa quanh năm nhưng đẹp và rực rỡ nhất là vào những ngày cuối thu, đầu đông. Khi những tia nắng gay gắt của mùa hè đã lùi về phía sau nhường lại chút gió thu se lạnh cũng là lúc hoa tigôn bắt đầu thắp lên những ngọn lửa rực hồng đón đông sang.


Những cánh hoa “dáng như tim vỡ” nổi bật trên nền xanh của lá


Cánh hoa rụng xuống cũng dệt nên tấm thảm hồng khiến lòng người xao xuyến


Khung cảnh yên bình nơi đường hoa Thông Tự


Sắc hoa tigôn giữa làng quê Hà Tĩnh góp thêm một nét riêng cho những đường hoa nông thôn mới ở Hà Tĩnh, khiến lòng người thêm ấm áp, tươi vui


Thu Hà

Báo Hà Tĩnh - 25/11/2019

Bây giờ, núi Ấn hết tranh...

đăng 00:20, 24 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 00:21, 24 thg 11, 2019 ]

Từng là ngọn núi được bao phủ bởi những trảng cỏ tranh dày đặc. Vậy mà nay, dẫu đã cố công luồn rừng, len rẫy, cũng chẳng thấy được bóng cỏ tranh trên núi Thiên Ấn (ngọn núi nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, thuộc địa phận TP.Quảng Ngãi). Cỏ tranh không còn, nên tấm lòng người xưa gởi gắm qua câu ca dao “Bao giờ núi Ấn hết tranh/ Sông Trà hết nước, anh đành xa em” bỗng trở nên lạc điệu, buồn tênh...

Tôi theo lối hành hương lên núi Thiên Ấn. Nơi đây không còn là ngọn núi của “Ngó lên Thiên Ấn nhiều tranh/ Liều mình lén mẹ theo anh phen này”, mà người xưa từng miêu tả. Đường lên Thiên Ấn bây giờ in bóng các loại cây lấy gỗ như bạch đàn, keo... do người dân trồng dày đặc từ chân lên đến đỉnh núi. Thi thoảng, cũng có vài khoảnh đất còn trống chưa trồng keo bị bỏ hoang hóa, cỏ dại mọc đầy, nhưng tuyệt nhiên, không tìm được bóng dáng cỏ tranh.

Sườn núi Thiên Ấn từng một thời dày đặc cỏ tranh nay chỉ còn keo lai, bạch đàn và cây bụi mọc chen chúc. 


Mang câu chuyện về một loại cỏ cây dân dã từng gắn với núi Thiên Ấn như một đặc trưng hỏi Đại đức Thích Đồng Hoàng, chùa Thiên Ấn - ngôi chùa tọa lạc trên đỉnh núi Thiên Ấn suốt mấy trăm năm qua, thì được Đại đức chậm rãi kể rằng: “Ngày xưa, Thiên Ấn bốn bề là cỏ tranh bao phủ. Đứng dưới chân núi nhìn lên, sẽ được thấy những đám tranh xanh mướt gặp gió nhấp nhô, gợn sóng. Rồi mỗi độ tháng Giêng về, khi cỏ tranh nở hoa; cả ngọn núi được nhuộm sắc trắng hoa tranh. Khung cảnh ngày ấy thanh bình, u tịch lắm”.

Cái “ngày xưa” mà Đại đức Thích Đồng Hoàng hồi tưởng là khoảng thời gian cách đây chỉ chừng... hai mươi năm về trước - ngày mà cây keo lai, bạch đàn chưa “bén duyên” ở vùng đất này. Cỏ tranh là loại cây có rễ lan dài, ăn sâu dưới đất và có hoa màu trắng, nhẹ như sợi bông. 

Cỏ tranh không chỉ tự sinh sôi qua chồi rễ, mà còn nhờ hoa tranh phát tán rất xa theo gió. Hoa bay đến đâu, cỏ tranh nảy mầm đến đó. Vậy nên hằng năm, dù người dân sống ở khu vực chân núi Thiên Ấn ngày ấy luôn đều đặn tìm lên núi để cắt cỏ tranh, nhưng Thiên Ấn vẫn là ngọn núi có cỏ tranh bao phủ dày đặc.

Lục lại ký ức, bà Nguyễn Thị Nhung, một người dân sống ngay dưới chân núi Thiên Ấn trầm ngâm: “Ngày xưa, cứ đến tháng Giêng, khi cỏ tranh vừa đủ “già”, là cả nhà tôi lại lên núi Ấn cắt cỏ tranh. Cỏ tranh mang về được phơi nắng hai ngày cho khô, sau đó sắp xếp ngay ngắn rồi đan thành tấm để lợp mái nhà. Ngày trước, nhà tranh, vách đất là chủ yếu, nên nhà nhà đều tìm lên núi Ấn cắt tranh. Cỏ tranh ngày ấy cắt hoài không hết, nên đâu ai tưởng tượng được rằng, có một ngày, núi Ấn hết tranh”.

Nhiều tiểu thương buôn bán quanh khu vực chùa Thiên Ấn - những người đều đặn lên núi Thiên Ấn mỗi ngày để mưu sinh kể rằng, cỏ tranh trên núi Thiên Ấn thưa vắng dần từ cách đây khoảng mười năm – thời điểm cây keo lai được trồng nhiều trên núi. 

Rồi 5 năm trở lại đây, cỏ tranh chính thức... biến mất khỏi núi Thiên Ấn. Ngay cả cung đường “Đường giác ngộ đi bộ lên chùa” - nơi được xem là vẫn giữ lại được nhiều cỏ tranh nhất kể cả khi cây keo lai xuất hiện, giờ cũng chẳng còn bóng dáng cỏ tranh. Có chăng, chỉ là những bụi cỏ hoa xuyến chi, cỏ lau... phủ dày hai bên đường.

Vậy là, cây cỏ tranh trên núi Thiên Ấn đã dần dà nhường chỗ cho các loại cây lấy gỗ khác. Câu ca dao mà người xưa từng mượn hình ảnh cỏ tranh dày đặc trên núi Ấn để bày tỏ tình yêu lứa đôi: “Bao giờ Thiên Ấn hết tranh/ Sông Trà hết nước, anh đành xa em” thoắt cái đã trở nên "lỗi thời", chẳng còn phù hợp với núi Thiên Ấn ngày nay.

Cỏ tranh trên núi Thiên Ấn không còn. Hình ảnh ngọn núi Ấn nên thơ, tươi đẹp được “dệt” bởi thảm cỏ tranh xanh rập rờn uốn lượn theo gió nay cũng chỉ còn trong ký ức. Người làng sống quanh núi Thiên Ấn nay cũng chẳng còn có thể lên núi cắt cỏ tranh về phơi khô lợp nhà, hay nhóm lửa vào mỗi độ tháng Giêng về. Họ cũng không còn cơ hội thết đãi khách món nước rễ tranh nấu cùng râu bắp và hào hứng khoe: “Ngọt thơm lắm, nước rễ tranh núi Ấn quê mình...”. 


Tiếc nuối một loại cây giữ đất...


Theo Đại đức Thích Đồng Hoàng, “cỏ tranh có rễ bám sâu nên giữ đất rất tốt. Nay cỏ tranh không còn, đồng nghĩa với việc thảm thực bì bảo vệ sườn núi Thiên Ấn mất đi. Thế nên vài năm trở lại đây, mỗi lần mưa lớn, nhiều vị trí trên núi Thiên Ấn xuất hiện tình trạng sạt lở, các vị trí này phần lớn đều là các khu vực đất trống không có cây bao phủ”.

 

Bài, ảnh: Ý THU

Báo Quảng Ngãi online - 21/10/2019

Đá ong trong ký ức

đăng 05:15, 20 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đá ong là loại đá mà nay nhiều người đã quên lãng, thậm chí không hề biết đến. Nhưng thuở xưa đó là loại đá quen thuộc, thân thiết với đời sống con người.

Có lần tôi đến làng cổ Đường Lâm ở đồng bằng Bắc Bộ, thật đáng ngạc nhiên là làng cổ gắn với kiến trúc đá ong. Ở Hà Nội thời mở cửa không thiếu gì những vật liệu hiện đại, nhưng có quán xài toàn đá ong. Đi đâu rồi cũng nhớ về Quảng Ngãi, tôi lại nhớ cái đá ong quê mình.

Ở quê tôi, có một cái núi nhỏ người dân quen gọi núi Đồi. Dọc đường xe lửa, sau năm 1975, người ta chặt đá ong khắp nơi. Thời ấy sau chiến tranh, gạch nung hạn chế, xi măng quá thiếu thốn, người ta làm vách tường nhà chủ yếu bằng đá ong.

Đá ong dựng vách nhà, xi-măng chỉ dùng hạn chế làm “mạch hồ” kết dính những viên đá với nhau, còn thì “da đá” cứ bày ra lỗ chỗ như tổ ong. Dựng thành giếng từ trên xuống đáy giếng với hình cong tròn cũng bằng đá ong, không cần mạch hồ vì tự thân các phiến đá ganh tròn với nhau là đủ. 

Một ngôi nhà đá ong còn sót lại. 


Lớn lên tôi biết thêm rằng đá ong chính là sự “fe-ra-lit hóa” (sắt hóa) của đất. Đá ong mềm, dễ chặt hơn các loại đá khác, trong điều kiện thuở xưa công cụ rất đơn sơ, nên rất thích hợp. Tôi từng tận mắt xem ông anh chặt đá, với cái rìu và cái cuốc “bứng”. Anh chặt viên đá thành một hình chữ nhật, dài độ 4 tấc, ngang độ 2 tấc, xong rồi “bứng” đá khỏi tảng. Có viên “bứng” được ngay hàng thẳng góc, nhưng cũng có viên “bứng” bị sứt sẹo đâu đó, phải dùng rìu róc “dọn” thêm cho ngay thẳng.

Không chỉ ở chỗ núi Đồi, mà rộng hơn, ở núi Quán Lát, xã Đức Chánh (Mộ Đức) cũng có rất nhiều đá ong, có nhiều mỏ đá ong. Người thợ chặt đá năm này tháng khác, “hầm” trở nên sâu hoắm, người ta lấp đất, rồi chuyển sang chặt chỗ khác.

Rộng hơn nữa, có thể thấy các dãy núi ở phía đông huyện Mộ Đức cũng có rất nhiều đá ong. Đá ong xây Văn miếu huyện Mộ Đức nằm giữa cánh đồng lúa rộng lớn ở thôn Văn Bân, chắc chắn đã được chặt ở núi Văn Bân cách đó khoảng một cây số rồi vận chuyển lên, với một khối lượng lớn, để xây nhà miếu, xây bờ thành, xây cổng, toàn bằng đá ong.

Tôi đi tìm mộ những nhân vật Quảng Ngãi thuở xưa, thấy mộ ông Phó bảng Võ Duy Thành (1804 – 1846) ở làng Xuân An, xã Hành Thuận (Nghĩa Hành) được sắp đầy đá ong xung quanh. Trước ông Võ Duy Thành, mộ quan Đốc học Gia Định Đoàn Khắc Cung (? – 1824) ở thôn Nhơn Hòa, xã Bình Tân (Bình Sơn) cũng sắp đầy đá ong trong ngoài. Các viên đá ong kê lên nhau, không “mạch hồ”, các gờ trang trí đơn giản là gọt hình của đá để tạo tác. Các ngôi mộ tương tự cùng thời cũng làm theo cách như vậy.

Gần 35 năm trước, năm 1985 chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 20 năm chiến thắng Vạn Tường, tôi có dịp về xã Bình Hải (Bình Sơn) và thêm một lần ngạc nhiên về đá ong. Những viên đá nơi đây còn “vĩ đại” hơn những gì tôi đã thấy trước đó. Kích cỡ viên đá có độ dài chừng 1 - 1,2m, bề ngang trung bình 4 - 5 tấc, bề dày độ 2 tấc. Tôi chưa may mắn để thấy người thợ chặt lấy viên đá cỡ bự đó như thế nào, khuân nó đi ra sao, chỉ biết rằng những viên đá như vậy có khắp nơi, ở các căn nhà. 

Ở đây người ta dựng vách bằng loại đá ấy, bức vách có chiều cao 2 - 3m, người ta kê, ganh các viên đá ấy lên nhau sao cho thẳng đứng và thăng bằng và không dùng “mạch hồ” kết dính chúng với nhau (còn độ nặng của phần mái thì đã có dàn trò đỡ). Sau này lại được biết vùng đông Bình Sơn nhiều gò đồi ở đâu cũng có đá ong và đều được dùng theo cách ấy.

Ngôi nhà đá ong thường ấm và mát, dù hơi xù xì, nhưng gắn với bao kỷ niệm thời trước, bao cảm giác về tự nhiên quanh ta. Bẵng đi một thời gian, khi xi măng “lên ngôi” những ngôi nhà như vậy dần mất. Thảng hoặc bây giờ thấy người ta dùng đá ong theo kiểu khác: Cắt mài phẳng mặt đá, để lộ “rổ tổ ong”, cắt vuông theo kiểu như miếng bánh nổ mỏng và ốp trang trí. Cũng là một cách làm hay và đẹp. Tự thân rổ ong là cái đẹp tự nhiên của tạo hóa, nếu trám mặt hồ vào, thì thôi xin đừng nhớ đá ong! 

Bài, ảnh: Cao Chư

Mùa mạ non rộn ràng trên đồng Tháp Mười

đăng 20:11, 9 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:03, 12 thg 11, 2019 ]

Những ngày này, nếu có dịp đi qua quốc lộ N2 (đoạn huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp), bạn sẽ nghe thoang thoảng mùi mạ non.

Cũng giống mùi khói đốt đồng, rơm rạ, mùi mạ non với những ai từng là con nhà nông là bầu trời ký ức. 

Mùa mạ non ở Tháp Mười (Đồng Tháp) năm nay có thêm sinh khí mới từ sự đổi thay của cơ giới hóa trong sản xuất. Những chiếc máy cấy có thể thay thế vài chục lao động, lại rút ngắn thời gian gieo sạ, giặm lúa, giảm hao hụt trong sản xuất. 

Chỉ cần một vài lao động thu gom mạ, vận chuyển bằng máy kéo ra đồng. Trung bình một máy cấy có thể cấy 15ha/ngày, thậm chí cấy vào ban đêm. Một người lái máy cấy, người còn lại phân phối các khay mạ. 

Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Mỹ Đông 2, huyện Tháp Mười có khoảng 70% diện tích (tổng diện tích của HTX khoảng 570ha) đã được áp dụng máy cấy. 

Mùa lúa mới thường bắt đầu khi nông dân bơm rút nước lũ trên đồng. Bầy cò thế được thết đãi bữa cá no nê. Hàng ngàn con cò kéo nhau về đồng kiếm cá, chúng gọi nhau làm rộn ràng cả một góc quê - Ảnh: NGỌC TÀI


Mạ từ 15 ngày tuổi đã có thể được người nông dân cho ra đồng, bắt đầu hành trình sinh trưởng, chóng chịu sâu bệnh, thời tiết - Ảnh: NGỌC TÀI


Mạ được gieo trong những chiếc khay. Sau khoảng 15-20 ngày chăm sóc, mạ ra rễ kín khay trồng. Đội quân cấy lúa chỉ cần khoảng 10 lao động, đảm nhiệm vừa gieo lúa, cuốn mạ, vận chuyển, cấy lúa - Ảnh: NGỌC TÀI


Chỉ mươi ngày nảy mầm mà rễ lúa đã phát triển mạnh như một tấm thảm, lá mạ cũng xanh non. Mùa này, Tháp Mười sử dụng đa phần giống Đài Thơm, một giống lúa chất lượng cao, không như trước đây vẫn hay sử dụng lúa phẩm cấp thấp là IR50404 - Ảnh: NGỌC TÀI


Mạ được cuốn thành từng cuộn, chất gọn gàng lên xe - Ảnh: NGỌC TÀI


Mạ được tập kết sẵn ở đầu và cuối các thửa ruộng để sẵn sàng "tiếp tế" cho máy cấy - Ảnh: NGỌC TÀI


Máy cấy được trang bị đèn để sẵn sàng cấy đêm, đảm bảo tiến độ sản xuất cho nông dân - Ảnh: NGỌC TÀI


Nhờ lúa được cấy theo hàng, khoảng cách giữa những cây lúa rất thông thoáng. Đây là điều kiện quan trọng giúp cây lúa đẻ nhánh nhiều và bông lúa cũng to hơn - Ảnh: NGỌC TÀI


Cấy bằng máy, năng suất lúa thường cao hơn phương pháp gieo sạ truyền thống từ 800 kg đến 1 tấn lúa/ ha - Ảnh: NGỌC TÀI


Một ít mạ được chừa sẵn để chủ ruộng sử dụng khi cần - Ảnh: NGỌC TÀI


Những chiếc máy cấy hoạt động miệt mài để mang vụ mùa bội thu về cho nông dân - Ảnh: NGỌC TÀI


Phút nghỉ ngơi của đội quân cấy lúa - Ảnh: NGỌC TÀI


NGỌC TÀI

Sương vờn mây trên đồi chè Long Cốc

đăng 20:34, 7 thg 11, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Vào những ngày cuối thu đầu đông, đồi chè Long Cốc ở Tân Sơn ẩn hiện trong màn sương như chốn bồng lai tiên cảnh. 

Đồi chè Long Cốc nằm tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, nằm cách Hà Nội khoảng 125 km, và khoảng 70 km từ trung tâm thành phố Việt Trì. Những “ốc đảo chè” khiến Long Cốc được mệnh danh là “vịnh Hạ Long vùng trung du”. 


Long Cốc được đánh giá là một trong những đồi chè đẹp nhất Việt Nam, có tiềm năng phát triển du lịch. Nơi đây thu hút đông đảo du khách và các nhiếp ảnh gia. 


Bình minh là thời điểm đẹp nhất để chụp ảnh đồi chè, lúc này sương bay là là và còn đọng trên lá tạo nên khung cảnh như thực như mơ. 


Mỗi đồi chè rộng khoảng 1 ha, nối tiếp nhau đến tận chân trời. 


Đứng trên đỉnh đồi cao, bạn sẽ thu vào tầm mắt màu xanh tươi của lá chè giữa không gian bao la. 


Cây chè tại đây đã gắn bó với cuộc sống người dân tại Long Cốc từ bao đời nay, được xác định là cây trồng chủ lực đem lại hiệu quả kinh tế cao. 


Thương hiệu chè Long Cốc được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, với các loại sản phẩm chè an toàn từ truyền thống đến giống mới chất lượng cao, như chè Đinh Bát Tiên hay chè Shan Bát Tiên. 


Khi tiết trời chuyển từ thu sang đông, sương bao phủ dày đặc những đồi chè Long Cốc. 


“Lúc trời lập đông, những làn mây ùa về hòa quyện với sương che kín cả lối đi và bao phủ thung lũng chè. Tôi thật sự ấn tượng trước khung cảnh này”, nhiếp ảnh gia Phạm Hoàng Cương (Hà Nội), chia sẻ. Anh Cương từng nhiều lần tới Long Cốc săn ảnh sương vờn mây trên những “ốc đảo chè”. 


Sương mây phủ trắng đồi chè vào những ngày đông giá lạnh. 


Đến với Phú Thọ, du khách có thể chọn tour khám phá đồi chè Long Cốc - vườn quốc gia Xuân Sơn, chọn hình thức lưu trú homestay để trải nghiệm cuộc sống văn hóa cùng người dân Mường bản địa. 


Huỳnh Phương - Ảnh: Phạm Hoàng Cương 

Những 'nấc thang lên trời' ở Hoàng Su Phì

đăng 05:51, 26 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Mùa lúa chín tại ruộng bậc thang cao nhất Việt Nam ẩn hiện trong làn mây được du khách ví như thiên đường nơi hạ giới. 


Ruộng bậc thang được công nhận Di tích quốc gia ở Hoàng Su Phì trải dài ở 11 xã gồm Bản Luốc, Bản Phùng, Sán Sả Hồ, Hồ Thầu, Nậm Ty, Thông Nguyên, Tả Sử Choóng, Bản Nhùng, Pố Lồ, Thàng Tín và Nậm Khòa (ảnh). Trong đó, Bản Luốc và Bản Phùng là nơi có những thửa ruộng bậc thang cao nhất Việt Nam. 

Những thửa ruộng bậc thang ở đây ước tính có tuổi đời khoảng 300 năm. 


Vào mùa lúa chín, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì nói chung, Nậm Khòa nói riêng tạo thuận lợi cho việc phát triển du lịch của địa phương, thu hút du khách, các nhiếp ảnh gia và mang lại thêm thu nhập cho người dân. 

Bức tranh ruộng bậc thang Nậm Khòa trong nắng. 



Gợi ý cung đường săn ảnh lúa chín Hà Giang: Thông Nguyên – Nậm Khòa – Tả Sử Choong – Bản Phùng. 


Tả Sử Choóng nằm cách trung tâm huyện Hoàng Su Phì khoảng 21 km về phía tây nam. Nơi đây có đông dân tộc Mông sinh sống, được thiên nhiên ưu ái ban cho nhiều điều kiện lý tưởng để phát triển du lịch như xã nằm trong quần thể di tích quốc gia ruộng bậc thang, có những cánh rừng nguyên sinh, khu rừng chè Shan tuyết cổ thụ hay các thác nước tự nhiên. 


Bản Phùng, nơi sinh sống chủ yếu của dân tộc La Chí, nổi tiếng với những ruộng lúa bậc thang trùng điệp giữa làn mây vùng cao. Từ trung tâm thị trấn Vinh Quang, Hoàng Su Phì, du khách men theo một con đèo nhỏ dài gần 30 km vắt ngang núi mới đến được trung tâm xã Bản Phùng. 


Sau khi vượt qua đèo, cảm giác mệt mỏi tan biến tất cả khi trước mắt hiện ra là những “đường cong lúa” mềm mại. Lúa ở Bản Phùng chín khá muộn so với những nơi khác, khoảng từ đầu đến giữa tháng 10. 

Huỳnh Phương - Ảnh: Phạm Hoàng Cương

Săn mây mùa thu Đà Lạt

đăng 02:19, 23 thg 10, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Với những ai mê Đà Lạt, mùa để ngắm cả thành phố chìm đắm trong mây chẳng phải chỉ có tháng 4 hay tháng 6 mà ngay giữa mùa thu này.


“Hay là về Đà Lạt với anh em nhé. Anh sẽ kể cho em nghe trong những đêm lạnh giá. Giữa bao la đại ngàn, một chiếc lều nhỏ thắp lên đống lửa. Mình thì thầm với nhau những câu chuyện chưa kể. Trên đầu là bầu trời đày sao. Cứ thế chúng ta bị bao vây bởi những áng mây kỳ bí và ánh sáng diệu kỳ…" là lời mời gọi khiến bất kì ai cũng xiêu lòng về một mùa mây Đà Lạt.


Nhiếp ảnh gia Hồ Quốc – một trong những người có kinh nghiệm tour săn mây tại Đà Lạt cho biết, du khách muốn ngắm cảnh cả thành phố chìm trong biển mây phải di chuyển từ lúc 4 giờ sáng để kịp đến các địa điểm trước khi bình minh.


Mây sẽ tan rất nhanh khi nắng lên, vì vậy, để ghi lại những hình ảnh đẹp mây mùa thu Đà Lạt thì thời khắc ghi lại những hình ảnh đẹp nhất là từ 5h30 đến 6h30 khi mặt trời ló dạng, chiếu những tia nắng đầu tiên xuống thành phố.


Nếu đến các đồi khi còn sớm, du khách vẫn có thể nhìn thấy thành phố ngàn hoa mờ ảo trong ánh đèn giữa những tầng mây mờ ảo.

Các địa điểm du khách có thể săn mây như đồi Du Sinh, Tuý Sơn, đồi chè Cầu Đất,...

Dưới đây là một số hình ảnh về hành trình săn mây mà du khách có thể chiêm ngưỡng.













Một khuyến cáo nhỏ là với những du khách chưa từng đi săn mây hoặc chưa nắm rõ đường đi thì nên tìm hiểu kỹ kinh nghiệm người đi trước, để đảm bảo an toàn cho chuyến đi.

THUỲ TRANG - Ảnh: Hồ Quốc

1-10 of 18

Comments