Có gì vui? Có gì buồn? Có gì xao xuyến? Ghi lại đây bạn ơi!

Bài mới

  • Mùa mưa ở Bảy Núi Cái nóng hạn bị xua tan trước những cơn mưa, khí hậu trở nên mát mẻ, đất đai và núi rừng Bảy Núi như khoác trên mình một chiếc áo ...
    Được đăng 00:18, 18 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Sông Hương, bao giờ tới biển: Đứa con thi đậu làm ông trên bờ Mẹ em ngồi ở sau bếp đang đun nước, mắt ngước nhìn lên tấm giấy khen của Thương dán trân trọng trên trần thuyền, bỗng hát một câu không thể ...
    Được đăng 05:16, 15 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • 'Con đường siro' Gò Công đỏ mọng đến không chịu nổi Tầm tháng 6, tháng 7, về vùng đất Gò Công, tỉnh Tiền Giang, ngoài cây sơri đỏ trĩu cành, khách lãng du càng không thể quên những hàng cây siro ...
    Được đăng 02:45, 15 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bến sông Kon Ngo K’tu Bến sông Kon Ngo K’tu ở xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum chẳng biết được hình thành từ bao giờ. Theo lời kể lại của những người lớn ...
    Được đăng 01:37, 13 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lao xao bãi Dừa Đến bãi Dừa, thôn Thu Xà, xã Nghĩa Hòa (Tư Nghĩa) không chỉ nghe những câu chuyện về dấu xưa, hồn phố cổ mà du khách còn tha hồ tận ...
    Được đăng 01:29, 13 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 19. Xem nội dung khác »


Mùa mưa ở Bảy Núi

đăng 00:18, 18 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Cái nóng hạn bị xua tan trước những cơn mưa, khí hậu trở nên mát mẻ, đất đai và núi rừng Bảy Núi như khoác trên mình một chiếc áo mới xanh mơn mởn, đây cũng là thời điểm làm ăn sung túc nhất của cư dân nơi đây.

Mùa mưa, nguồn nước trở nên thoải mái, kích thích cây trái, rau màu vùng núi tươi tốt. Thêm vào đó, người dân ở Bảy Núi ai cũng biết cách ứng phó với khí hậu khắc nghiệt, cải tạo vùng đất khô cằn sau mùa nắng hạn trở nên tươi tốt với nhiều mô hình sản xuất hiệu quả, phát huy việc trồng trọt dưới tán rừng và trồng xen vườn cây ăn trái. Dạo một vòng các con đường mòn quanh Bảy Núi, có thể dễ dàng trông thấy những thửa ruộng mênh mông một màu xanh, những miếng rẫy rau màu tươi tốt. Xa xa nhìn lên các triền núi là những vườn xoài, mãng cầu ta, chuối... xen lẫn với cây rừng xanh ngút ngàn. 

Ông Chau Son (xã Núi Tô, Tri Tôn) cho biết, đất gần triền núi khó trồng được rau dưa, nên chờ mưa xuống đặt giống khoai mì là chắc ăn nhất, vì cây khoai mì chịu đất pha cát, khả năng chống chọi hạn tốt, dễ chăm sóc. Khi lên cây con, thời tiết có mưa lai rai, mà ngưng lại 5-10 ngày cũng không sao vì cây khoai mì ít cần nước hơn so với mấy loại cây trồng khác. “mùa mưa, ai cũng phải tận dụng trồng trọt để kiếm thêm thu nhập bù đắp lại mấy tháng nắng hạn” - ông Chau Son cho biết.

Cư dân xứ núi bắt đầu trồng trọt vào mùa mưa 


Tranh thủ những cơn mưa sớm, cư dân ở khu vực Tà Lọt bắt tay làm cỏ, phòng trừ sâu bệnh và chăm bón dinh dưỡng cây ăn trái, trồng các loại rau màu, bắp, khoai cao, mướp… tạo thêm nguồn thu nhập. Ông Lê Thanh Nguyên (xã An Cư, Tịnh Biên) cho biết, mưa đầu mùa hồi tháng 4 (âm lịch) vừa rồi đã kích thích khoảng 1.000 cây mãng cầu ta 6 năm tuổi trồng xen xoài ở 10 công của ông trên triền núi Dài ra hoa, đậu trái. Hiện tại, ông Nguyên đang tập trung chăm sóc để chuẩn bị cho đợt thu hoạch vụ trái mãng cầu ta đầu tiên. Theo đánh giá ban đầu, năng suất và chất lượng trái của cây mãng cầu ta năm nay vượt trội năm ngoái, do tiết trời có phần thuận lợi hơn. 

Đang loay hoay cân ký cho bạn hàng số mướp vừa bẻ từ đám rẫy sau nhà, anh Huỳnh Văn Đô (xã Châu Lăng, Tri Tôn) cho biết, trồng trọt ở vùng Bảy Núi vào mùa mưa cư dân miền núi phải khéo chọn những loài cây phù hợp với từng độ cao để giảm bớt công vận chuyển và chi phí. Ngoài cây ăn trái bản địa, các loại cây rau màu “lấy ngắn nuôi dài” trồng ở vùng đất núi rất phong phú và đa dạng chủng loại. Tuy nhiên, cư dân ở Bảy Núi chỉ trồng những giống rau màu lấy trái hoặc lấy củ, chứ không có loại ăn lá như vùng đồng bằng do lệ thuộc thổ nhưỡng và thời tiết. “Bắt đầu mùa mưa năm nay dễ chịu hơn các năm trước, khoảng 2 tháng nay mưa đều đều. Nhờ vậy mà 10 công mướp, đậu rồng, đậu đũa… của tôi phát triển tốt. Mỗi ngày, vợ chồng tôi hái không dưới 100kg nông sản bán cho thương lái đi Campuchia và Kiên Giang” - anh Đô cho hay.

Nông sản mùa mưa ở Bảy Núi 


Mùa mưa khí hậu Bảy Núi trở nên mát mẻ, dễ chịu hơn, các con suối, hồ nước bắt đầu tích nước, rừng trở lại xanh tươi, các vườn cây ăn trái bắt đầu đua nhau ra trái xum xuê. Những ngày này, dọc theo các con đường ở Tri Tôn và Tịnh Biên rất dễ thấy các sạp, kệ nhỏ bên vệ đường mà nhiều khi chỉ đơn giản là chiếc mâm gỗ, rổ nhựa hay giỏ tre được dùng để bày bán bơ sáp, bơ muỗng, bơ tròn, mãng cầu ta, mãng cầu xiêm… vừa được thu hoạch từ các nhà vườn xứ núi. “Bơ sáp núi Cấm đây, mời ghé vào xem và ăn thử. Cây trồng trên núi vừa hái xuống, đảm bảo vừa ngon vừa sạch, không thua bơ Đà Lạt, ăn thử đi, ngon lắm!” - chị Lê Thị Minh Nguyệt (xã An Hảo, Tịnh Biên) nhiệt tình. Bên cạnh đó, mùa mưa còn mang lại đủ các loại rau rừng và món ăn đặc sản nổi tiếng ở vùng Bảy Núi, như: măng tre, trái su, cua núi, ốc núi, ếch nướng… góp phần thu hút một lượng lớn khách du lịch tìm đến thưởng thức và khám phá, trải nghiệm. 

“Tôi rất ấn tượng với 2 mùa mưa, nắng ở vùng Bảy Núi, mỗi mùa đều có vẻ đẹp riêng. Nhưng tôi thích nhất là mùa mưa, vì không khí mát mẻ dễ chịu hơn, đồng lúa, rừng núi xanh tươi và cảnh vật chụp ảnh cũng đẹp hơn. Quan trọng nhất là mùa mưa ở Bảy Núi có nhiều cây trái và món ngon cực kỳ hấp dẫn”- Lê Bảo Nhật Thảo (du khách đến từ TP. Hồ Chí Minh) chia sẻ. 

TRỌNG TÍN

Sông Hương, bao giờ tới biển: Đứa con thi đậu làm ông trên bờ

đăng 05:16, 15 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Mẹ em ngồi ở sau bếp đang đun nước, mắt ngước nhìn lên tấm giấy khen của Thương dán trân trọng trên trần thuyền, bỗng hát một câu không thể nào buồn hơn, rằng: “Cha mẹ chài lưới bên sông. Đứa con thi đậu làm ông trên bờ”.


Chợt nhớ cũng ở khúc sông này, dưới chân chùa Linh Mụ, lần đầu tiên trong đời tôi được tham dự một lễ Phóng đăng nhân ngày Phật đản. Thú thật là tôi đã báng bổ thần thánh, đã bụm miệng cười khúc khích một mình khi vị trụ trì chùa Từ Hiếu làm lễ quy y cho các thuỷ tộc sắp được phóng sinh, để khi mãn kiếp được hoá thân làm người, mong nhờ nhân duyên mà biết được Phật pháp.

Nhưng đó cũng lần đầu tiên trong đời, không hiểu sao tôi lại hân hoan khi được tận tay giải thoát một thùng cá tôm, như chính mình được giải thoát. 

Chừng không ngủ được, dù tiếng chuông đã dứt từ lâu, ông bạn già Hồ Tấn Phan rủ rỉ: “Việt Nam và thế giới ít có con sông nào lại có một đời sống văn hoá, tâm linh phong phú, đa dạng và đậm chất cung đình như dòng Hương. Chính sử gần như không chép, những bài du ký của các học giả trong, ngoài nước thì miêu tả cũng có hạn. 

Nhưng qua các kỳ festival Huế, nhìn đoàn Ngự đạo xuất cung và hồi cung - lên, về tế trời ở đàn Nam Giao, cứ hình dung cách đây mấy trăm năm, dưới thời Gia Long, Minh Mạng, khi mấy con voi cùng lúc bơi qua sông Hương từ bến Tượng, cùng đoàn Ngự đạo xuất cung qua sông trên một chiếc cầu nổi bằng hàng chục chiếc thuyền ghép lại để lên Trai Cung, chắc chắn đó sẽ là một sự kiện, một cơ hội thụ hưởng văn hoá lớn đối với hàng vạn dân chúng và quan viên, chức sắc sống dọc hai bên bờ sông và cả kinh thành. 

Ngoài đại lễ Nam Giao hàng năm, dòng Hương còn là chứng nhân, từng lưu dấu hình ảnh các đoàn Ngự đạo của vua tuần hạnh, hoặc những cuộc tập của Thuỷ sư với quy mô lớn… nhưng tất cả đều không lớn và quan trọng bằng đám tang của các vị Hoàng đế. Những đoàn thuyền ninh lăng nối đuôi nhau lên sơn lăng là một trong những đại lễ quan trọng nhất của triều đình. Nó có ảnh hưởng đến không những cuộc sống của người dân kinh thành Huế mà còn với cả nước”.

Cồn Dã Viên - hữu bạch hổ của Kinh thành Huế 


Trong những sinh hoạt, lễ hội dưới thời các vua Nguyễn có liên quan đến sông Hương, có lẽ những sinh hoạt trên cồn Dã Viên là một trong những dấu tích hiếm hoi còn sót lại. Ngoài danh phận “hổ phục” của kinh thành theo thuật phong thuỷ, dưới thời Tự Đức, cồn Dã Viên là một vườn ngự - nơi vua nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, thậm chí cả tổ chức… đấu hổ! 

Mới đây, khi một doanh nghiệp trình dự án lên UBND tỉnh Thừa Thiên -Huế đề xuất đầu tư xây dựng ở đây một cụm khách sạn 5 sao, và bị báo chí, người dân kịch liệt phản đối, tôi mới có dịp đặt chân lên “Dữ Dã Viên”. 

Và phải mất gần một ngày trời để tìm ra những di tích hiện còn trên khu đất hoang gồm: Một tấm đá thanh có khắc 3 chữ “Dữ Dã Viên”, (dựng tháng 7.1868), và nền móng một toà hành cung cổ đã bị hư hỏng hoàn toàn. 

Khi cồn Dã Viên sắp bị biến thành khách sạn, mới thấy được cái tâm và tầm nhìn xa của KTS Nguyễn Trọng Huấn, cách đây hơn chục năm, ông đã đề xuất chính quyền địa phương nên cải tạo cồn Dã Viên thành một khu vườn và dựng tượng Huyền Trân công chúa ở để đón khách tham quan.

Rồi Huyền Trân công chúa cũng đã được dựng tượng, nhưng dự án lãng mạn của ông sẽ chẳng bao giờ trở thành hiện thực. Bởi người ta đã “nhốt” công chúa vào “rừng sâu”, nơi có di tích lịch sử cách mạng Chín Hầm, gợi nhớ về một thời đau thương của đất nước.


Cách thuyền chúng tôi đậu lên chừng 200m, dưới chân điện Huệ Nam hình như đang có chuyện gì đó mà vẳng nghe tiếng í ới gọi đò. Tâm nói vu vơ: “Em chưa bao giờ nghe được một câu mái nhì, mái đẩy từ một cô chèo thuyền nào trên sông Hương ngoài nghe kể và trên ti vi. Có lần đi nghe ca Huế, em thấy người ta hò gượng gạo như như kiểu bị… quan trên thúc ép. Giờ mà nghe được một câu kiểu “đò về Đông Ba, đò qua đập Đá…” thì khắc khoải, tâm trạng phải biết!”. 

Tôi cũng chẳng khác gì Tâm bởi thời của tôi, trên sông Hương đã có đến 7 cây cầu nên những bến đò ngang nổi tiếng một thời như Thừa Phủ, Thương Bạc, Toà Khâm… chỉ còn là hoài niệm. Còn chăng là những chuyến đò dọc, nhưng bây giờ còn ai chèo tay nữa. Sức lao động đã được giải phóng, thời buổi kinh tế thị trường cũng chẳng cô gái nào có thời gian và hứng thú để tức cảnh sinh tình, ngân nga tỏ lòng trên sông nước. 

Ông bạn già của tôi thở dài: “Ngó rứa thôi những chuyến đò dọc, đò ngang, những câu mái chèo, mái đẩy một thời đã tạo ra không biết bao nhiêu cuộc tình thơ mộng của những lữ khách trên bến và các cô chèo đò dưới thuyền. Đời tui đã nhiều lần chứng kiến cảnh chàng trai đi dọc trên bờ sông Hương, lần theo con đò của cô gái dưới sông để hò đối đáp, tỏ tình, hờn dỗi, sung sướng… từ bến Toà Khâm cho đến Ngã ba Sình. Rồi cũng chỉ là bèo nước gặp nhau, nhưng kỷ niệm, có khi là vết thương lòng còn mãi cho đến tận bây giờ…”. 

Ông lại thở dài. Cũng lạ, chuyện người, chuyện sông mà ông kể cứ như là chuyện của mình.

Chuyện vãn lại nằm thao thức. Ông chủ thuyền im lặng từ đầu đêm bây giờ mới lên tiếng: “Khi chừ tui nghe các anh toàn bàn chuyện cung đình, múa hát, lễ lượt, răng không thấy bàn đến chuyện hàng ngàn hộ dân vạn đò đang sống trên sông Hương như tui? Bầy tui đây là dân đen, nhưng cũng là một phần của lịch sử sông Hương đó nghe!”. 

Đúng rồi, dân vạn đò có lịch sử khai sinh, có ngôn ngữ, miếu thờ Thành hoàng và một đời sống văn hoá, tín ngưỡng riêng, mang đậm dấu ấn sông nước. Dân vạn đò trên sông Hương sống theo vạn (cụm dân cư), mỗi vạn làm một nghề khác nhau khác nhau như đánh cá, khai thác cát sạn, làm thê, lặn cổ vật, xe ôm, xích lô…

Có lẽ gia đình ông Thao – chủ đò tôi thuê cùng với hơn 2000 hộ vạn đò khác trên sông Hương là những cư dân duy nhất trên thế gian này khi được hỏi về tổ tiên của mình đều có chung câu trả lời là “không biết từ mô tới”. “Sinh ra từ sông, úp mặt vào sông” - một nhà thơ vạn đò chính hiệu bạn tôi đã viết về dòng tộc mình như thế.


Họ là một phần làm nên lịch sử và văn hoá của sông Hương, nhưng cũng chính họ là một vết thương lòng, là nhân tố góp phần vào việc “phá” sông sông Hương bởi sự nghèo túng, rách nát, thất học và khai thác cát sạn trái phép trước sự bất lực của chính quyền địa phương. Không ai dám hình dung sông Hương một ngày không còn vạn đò sẽ như thế nào, và cũng không ai dám hình dung cứ kéo dài đời sống vạn đò như hiện nay thì sông Hương sẽ như thế nào!

Tờ mờ sớm, trời bỗng dưng đổ mưa. Bé Thương – con ông chủ đò, 13 tuổi, đang là học sinh của một lớp xoá mù, vùng dậy bưng chậu xoài còi cọc để trước mui chiếc thuyền vào trong trú mưa: “Tự tay em trồng đấy. Nếu được lên bờ, chắc chắn nó sẽ lớn nhanh hơn” - Thương nói. Mẹ em ngồi ở sau bếp đang đun nước, mắt ngước nhìn lên tấm giấy khen của Thương dán trân trọng trên trần thuyền, bỗng hát một câu không thể nào buồn hơn, rằng: “Cha mẹ chài lưới bên sông. Đứa con thi đậu làm ông trên bờ”

Hoàng Văn Minh

'Con đường siro' Gò Công đỏ mọng đến không chịu nổi

đăng 02:45, 15 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tầm tháng 6, tháng 7, về vùng đất Gò Công, tỉnh Tiền Giang, ngoài cây sơri đỏ trĩu cành, khách lãng du càng không thể quên những hàng cây siro đỏ mọng hai bên đường, mê hoặc lòng người.

Con đường siro xanh mướt, điểm xuyết những chùm trái chín mộng - Ảnh: MẬU TRƯỜNG


Con đường nhỏ ngoằn ngoèo trong ấp Giồng Lãnh 1, xã Tăng Hòa, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang những ngày này rất tấp nập.

Ngoài dân địa phương, ở đây còn thu hút rất nhiều người đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một con đường được phủ một màu xanh rờn của hàng cây siro, điểm xuyết giữa nền lá xanh là những chùm quả chín mọng, rất bắt mắt. 

Trên đoạn đường đi qua nhà ông Nguyễn Văn Vũ và một số nhà gần đó, cây siro được trồng thành hàng nối tiếp nhau kéo dài, là điểm được nhiều người ghé nhất. 

Ông Vũ cho biết khoảng nửa tháng nay, ông không còn thời gian rảnh vì bận tiếp khách. Trong đó chủ yếu là những vị khách lạ từ khắp nơi đổ về đây ngắm nhìn, chụp hình hàng sirô trước cửa nhà ông. 

Ông Vũ trồng hàng cây này khoảng 6 năm nay, hợp thổ nhưỡng nên cây phát triển rất nhanh. Từ hai gốc ban đầu được trồng làm kiểng trước cổng, đến nay ông đã có hàng chục gốc siro. 

Ngoài gia đình ông Vũ, một số gia đình xung quanh cũng trồng từ một vài đến vài chục gốc để tạo cảnh quan, và dần hình thành một đoạn đường cây siro. 

Cây siro cũng mang lại hiệu quả kinh tế khá. Ông Vũ cho hay với 2 cây được trồng trước cổng, ông hái được khoảng 50kg trái và bán với giá 20.000 đồng mỗi ký. 

Ngoài ra, từ loại trái này, ông làm ra nhiều sản phẩm khác như mứt, rượu, nước siro… để bán.

Ông Nguyễn Văn Vũ - ấp Giồng Lãnh 1, xã Tăng Hòa, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang - rót ly nước siro do mình làm mời khách - Ảnh: MẬU TRƯỜNG


Khách đến tham quan được chủ nhà mời thưởng thức nước siro - Ảnh: MẬU TRƯỜNG


Một gốc siro được trồng trước cổng nhà dân - Ảnh: MẬU TRƯỜNG


Hàng siro mọc ven đường cho trái trĩu cành - Ảnh: MẬU TRƯỜNG


Ông Nguyễn Văn Vũ - ấp Giồng Lãnh 1, xã Tăng Hòa, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang - chăm sóc cây - Ảnh: MẬU TRƯỜNG


Những trái siro chín mọng trông rất bắt mắt - Ảnh: MẬU TRƯỜNG


Cụ Đinh Thị Ráng - 75 tuổi, ngụ xã Bình Ân, huyện Gò Công Đông - cũng được con cháu chở đến tham quan hàng siro - Ảnh: MẬU TRƯỜNG


Rất nhiều bạn trẻ đến tham quan - Ảnh: MẬU TRƯỜNG


Rất nhiều người đổ xô đến đoạn đường siro này để chụp hình - Ảnh: MẬU TRƯỜNG 


MẬU TRƯỜNG

Bến sông Kon Ngo K’tu

đăng 01:37, 13 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Bến sông Kon Ngo K’tu ở xã Vinh Quang, thành phố Kon Tum chẳng biết được hình thành từ bao giờ. Theo lời kể lại của những người lớn tuổi trong làng, bến sông có từ thời rất xa xưa, từ khi làng mới bắt đầu lập lên. Điều đặc biệt là dù trải bao thăng trầm của cuộc sống và sự biến đổi của thời gian, bến sông vẫn không thay đổi gì nhiều; vẫn là nơi để đàn ông neo đậu thuyền mỗi khi đi rẫy về, là nơi sinh hoạt giặt giũ hàng ngày của chị em phụ nữ trong thôn… 

Sáng sớm tinh mơ, khi tiếng gà gáy vang lên, bà con người Ba Na ở thôn Kon Ngo K’tu lại tất bật chuẩn bị dụng cụ, thức ăn rồi cùng nhau di chuyển xuống dưới bến sông để lên thuyền vượt sông Đăk Bla chảy ngược, đến những cánh đồng mẫu lớn phía bên kia sông để canh tác, sản xuất. 

Đứng trên bờ đê, già làng A Héo chỉ tay về phía xa bên kia bờ sông nói: “Cơm, áo, gạo, tiền của mỗi người dân Kon Ngo K’tu đều ở từ những cánh đồng trồng lúa, trồng bắp, trồng khoai kia. Muốn đi nhanh qua đó, chỉ có một cách là đi thuyền qua sông”. 

Già làng A Héo kể, bến sông có từ lâu lắm. Dòng sông Đăk Bla uốn lượn, chia đôi hai bờ phù sa, tạo nên những vùng đất đai màu mỡ. Có được vùng đất trời phú, bà con khai hoang rồi trồng trọt, sau này, những mảnh ruộng này được để lại cho hết thế hệ này đến thế hệ khác, cho con cháu của họ. 

Ở dưới bến thuyền, tiếng nói cười của bà con vang lên như báo hiệu một ngày làm việc hiệu quả. Ai nấy đều sốt sắng lên thuyền để được qua bờ bên kia. Một chuyến thuyền thường chở được 5 đến 7 người, thuyền ở đây hầu hết là thuyền nhôm, mọi người đều chèo thuyền bằng tay, số ít thì được gắn động cơ. 

Buổi sớm trên bến sông. Ảnh: ĐT 


Bà con xuống thuyền qua sông làm rẫy. Ảnh: ĐT 


Xuyên qua những làn nước óng ánh bởi những tia nắng sớm mai, những chiếc thuyền do những người đàn ông khoẻ khoắn cầm lái từ từ nối đuôi nhau, xuôi theo dòng chảy rồi qua bờ bên kia. 

Khung cảnh con sông buổi sáng thật đẹp. Già làng A Héo kể, hồi xưa, lúc người còn thưa, rừng còn nhiều, bà con đều dùng thuyền gỗ chứ không dùng thuyền nhôm như bây giờ. Để làm được một chiếc thuyền gỗ, phải lên rừng sâu, chọn những cây sao đen hay cây tít thật dài và thẳng đem về đục đẽo ròng rã cả tháng trời. Qua thời gian, rừng không còn nhiều nên thuyền gỗ cũng mất dần đi. 

Thuyền cập bến, mọi người rảo bước men theo những con đường mòn nhỏ để lên bờ đến những ô ruộng, rẫy của mình. Đàn ông lái thuyền thì lay hoay neo thuyền vào cột rồi khóa xích lại cẩn thận, vì chiếc thuyền là cả gia tài của mỗi gia đình ở đây, với giá trị cả chục triệu đồng một chiếc và là phương tiện giúp họ qua sông mưu sinh. 

Già làng A Héo cho biết, lúc ông còn nhỏ, bến sông không nằm ở đây mà nằm ở vị trí khác, cách khoảng 100m. Do dòng chảy thay đổi nên bến sông từ đó cũng thay đổi theo. Khi chưa được nhà nước đầu tư xây dựng bờ đê như bây giờ, bến sông là một bãi cỏ dài và dốc. Không chỉ nhộn nhịp bởi các hoạt động thường nhật, bến sông còn là nơi mọi người lấy nước về sinh hoạt cho gia đình. “Hồi xưa, nước sông Đăk Bla trong và xanh lắm, bến sông là nơi lấy, cung cấp nước sinh hoạt cho cả thôn Kon Ngo K’tu”, già làng A Héo nói. 

Hôm nay, ông A Brông người thôn Kon Ngo K’tu không qua sông mà ở lại để sửa chữa chiếc thuyền của mình. Ông đang dán keo, gia cố lại những chỗ bị nứt của thuyền. Ông A Brông cho hay, lúc đi trên sông, thỉnh thoảng thuyền cũng va phải gốc cây, hay lúc cập bờ, đáy thuyền hay va vào cát đá dưới lòng sông. Qua thời gian, đáy thuyền sẽ bị bào mòn, móp méo, thậm chí bị thủng nên cần phải kiểm tra và gia cố liên tục. 

Theo kinh nghiệm của bà con thôn Kon Ngo K’tu, sông Đăk Bla vào thời điểm tháng 8 đến tháng 3 năm sau thường nước sẽ dâng cao, vì thuỷ điện Ya Ly tích nước. Dù nước sông dâng cao nhưng bà con vẫn đi thuyền qua lại, chăm chỉ làm ruộng, rẫy. 

Nhớ lại cơn bão số 9 năm 2009, anh A Srắt người thôn Kon Ngo K’tu kể: Năm đó, khung cảnh nhìn từ xã Vinh Quang sang xã Đoàn Kết là một biển nước mênh mông, bến thuyền và hoa màu của bà con bị ngập hoàn toàn. Những ngày mưa bão, đàn ông, thanh niên trong thôn thức trắng đêm để kéo thuyền vào bờ, nước dâng đến đâu thì kéo thuyền đến đó, cố gắng giữ gìn để thuyền không bị nước lũ cuốn trôi mất. 

Sau khi nước sông rút, khung cảnh bến sông rất hoang tàn, bùn lầy, cây gãy khắp mọi nơi, bà con đi lại sang bên kia bờ sông rất khó khăn. “Đất đai, ruộng vườn bị ảnh hưởng. Nhưng trong cái rủi cũng có cái may, trước khi cơn bão ập đến gây ngập lụt, cách đó một tháng, bà con đã thu hoạch xong mùa mì nên cũng không bị mất trắng”, anh A Srắt nói. 

Dù vậy, nhưng những mùa vụ thu hoạch sau đó, việc di chuyển đưa nông sản từ khu vực bến sông về nhà rất khó khăn vì đường lầy và dốc. Những chuyến xe bò chở đầy nông sản phải cần chục thanh niên trai tráng phụ đẩy mới đi được. “Vất vả bao nhiêu năm, đến năm 2017, Nhà nước đầu tư xây dựng bờ kè và con đường bê tông dẫn từ thôn xuống bến sông, bà con ai cũng vui mừng và phấn khởi”, anh A Srắt cho biết thêm. 

Buổi chiều ở bến sông Kon Ngo K’tu còn đẹp hơn buổi sáng. Ánh hoàng hôn phản chiếu làm rực vàng cả bến sông. Khi ánh mặt trời dần khuất sau dãy núi phía xa xa, bến sông bắt đầu nhộn nhịp lên hẳn, những chiếc thuyền chở người bắt đầu trở về, chở theo các nông sản vừa thu hoạch. Một số chiếc thuyền phía xa xa thì vội thu lưới bắt cá lên để trở về nhà kịp lo bữa tối… Và cứ như thế, bến sông làng Kon Ngo K’tu mỗi ngày luôn nhộn nhịp như vậy gắn với cuộc sống và sinh hoạt của bà con nơi đây. 

Chiều về, bến sông Kon Ngo K'tu nhộn nhịp đón bà con cùng sản vật vừa thu hoạch từ trên rẫy về. Ảnh: ĐT 


Đức Thành

Lao xao bãi Dừa

đăng 01:29, 13 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Đến bãi Dừa, thôn Thu Xà, xã Nghĩa Hòa (Tư Nghĩa) không chỉ nghe những câu chuyện về dấu xưa, hồn phố cổ mà du khách còn tha hồ tận hưởng làn gió biển trong lành, thưởng thức nước dừa tươi ngọt, các món ăn hải sản hấp dẫn trong tiếng lá dừa khua lao xao chẳng khác nào bản tình ca mà tạo hóa đã ban tặng.

Từ đường Lê Trung Đình (TP.Quảng Ngãi) theo con đường trải nhựa về hướng đông chừng 9km, du khách sẽ đến bãi Dừa mát rượi. Đến đây, du khách sẽ có một cảm nhận đối lập giữa không gian thành thị và phố cổ xưa, hiểu hơn về đời sống, sinh hoạt của người dân.

Bãi Dừa nhìn từ trên cao. ẢNH: BÙI THANH TRUNG 


Dấu xưa còn lại đó là chùa Ông và nghề chiếu cói, chế biến kẹo gương... Điều khá rõ nét là nhịp sống ở phố cổ không mấy hối hả, cứ bình lặng trôi như dòng nước sông Vực Hồng, một dòng sông còn mang đậm dấu tích xưa. Sông Vực Hồng nối liền với cửa biển Cổ Lũy, Cửa Lở. Vào khoảng thế kỷ XIX, khi người Hoa theo đường biển đến Thu Xà lập làng đã tận dụng dòng sông này làm thương cảng để vận chuyển, buôn bán hàng hóa. Thuở trước nơi đây trên bến, dưới thuyền tấp nập người mua kẻ bán. Theo năm tháng, dòng sông cạn dần và tạo nên bãi bồi rộng lớn ở phía bắc. Sau năm 1975, xã Nghĩa Hòa huy động dân trồng dừa nơi bãi bồi. Phố cổ Thu Xà gắn liền với bãi Dừa từ đó.

 "Thuở trước nơi đây trên bến, dưới thuyền tấp nập người mua kẻ bán. Theo năm tháng, dòng sông cạn dần và tạo nên bãi bồi rộng lớn ở phía bắc. Sau năm 1975, xã Nghĩa Hòa huy động dân trồng dừa nơi bãi bồi. Phố cổ Thu Xà gắn liền với bãi Dừa từ đó".
Bây giờ, bến cảng Thu Xà xưa không còn, nhưng vùng Thu Xà, bãi Dừa và dòng sông Vực Hồng như bộ ba tạo nên một bức tranh thủy mặc hòa quyện trong không gian thoáng đãng nơi cửa biển, đó là bức tranh vừa động, vừa tĩnh. Từ sáng sớm cũng là lúc sau một đêm mưu sinh, thuyền chài cập bến. Cảnh mua bán diễn ra ngay ở ven sông. 

Từ phía đông của bãi Dừa, mặt trời nhô lên xuyên qua những con sóng, những tán dừa xanh tạo nên màu sắc lung linh, huyền ảo. Cuối bãi Dừa có kè Hòa - Hà chạy vắt ngang như vành đai của biển, không chỉ ngăn mặn, giữ nước ngọt mà còn tạo lối đi dân sinh.

Ông Đinh Duy Pháp (70 tuổi), ở thôn Điện An 2, xã Nghĩa Thương (Tư Nghĩa) cảm nhận: "Cung đường trên mái kè này khá đẹp. Sáng nào, tôi cũng đạp xe tập thể dục qua đây, dừng lại 5 – 10 phút để hít thở không khí trong lành, ngắm mặt trời lên, mua vài con cá đối, tôm, cua tươi ngon".

Mặt trời lên cao cũng là lúc gió lao xao từ biển vào bờ tạo không khí thật mát dịu. Du khách hãy ghé các quán nước ven đường uống ly nước dừa ngọt dịu, thanh khiết.

Chính vì sự đặc trưng của bãi Dừa vừa cho trái giải khát, vừa tạo bức tranh nên thơ mà chủ đầu tư dự án Khu du lịch sinh thái bãi Dừa quyết định giữ nguyên vẹn rừng dừa hơn 200 cây. Cũng nhờ rừng dừa mà bãi bồi được giữ vững theo năm tháng, dân làng thôn Thu Xà được bình yên mỗi khi mùa mưa bão đến.

Bên bãi Dừa bây giờ còn có hàng quán được bố trí theo kiểu bè nổi dọc dòng sông Vực Hồng. Sau khi tham quan trải nghiệm, khi mặt trời đứng bóng, du khách hãy ghé các bè nổi để thưởng thức các món ăn được chế biến từ cá, tôm tươi ngon.

Bình yên bãi Dừa. 


Trong tương lai không xa, dự án cầu cửa Đại bắc qua sông Trà, kết nối tuyến du lịch ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh tạo thành tuyến du lịch vòng quanh TP.Quảng Ngãi. Với tiềm năng du lịch văn hóa, di tích, ẩm thực nơi phố cổ Thu Xà sẽ là một điểm nhấn cho du lịch Quảng Ngãi. 

Bài, ảnh: MAI HẠ

Con đường hoa tường vi chỉ 200m như một thế giới lạ

đăng 06:19, 11 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

100 gốc hoa tường vi được trồng đan xen, tạo nên vòng hoa rực rỡ kéo dài hơn 200m đã trở thành địa điểm check - in không thể bỏ lỡ của các bạn trẻ Hà Thành trong tháng 7 này.

Con đường hoa tường vi đẹp mộng mơ như đưa du khách lạc vào xứ sở diệu kỳ - Ảnh: NGUYỄN HIỀN


Nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng chừng 10km, con đường hoa tường vi thuộc xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì đang bước vào những ngày nở rộ, sắc hồng đặc trưng xen lẫn không gian xanh mát mang đến cho du khách nhiều trải nghiệm thú vị. 

Con đường này dài hơn 200m, được tạo nên bởi 100 gốc tường vi có tuổi đời từ 13 - 15 năm tuổi. Với đặc trưng thuộc nhóm cây bụi, những tán hoa tường vi sà xuống vừa tầm để du khách có những bức hình đẹp nhất. Hoa tường vi nở thành từng chùm màu hồng dịu mắt.

Cánh tường vi mong mảnh trong những ngày rực rỡ nhất - Ảnh: NGUYỄN HIỀN


Anh Đào Mạnh Hùng, chủ vườn hoa này, cho biết: "Hoa tường vi trồng ở miền Bắc nói chung cũng như trồng ở Hà Nội nói riêng có một điểm hết sức lý thú. Sự sinh trưởng và phát triển của hoa thể hiện rõ rệt theo mùa.

Mùa đông, các bạn sẽ thấy cây trút hết lá dường như chỉ còn mỗi cành trơ trọi nhưng đến mùa xuân, lộc non của cây lại phát triển rất mạnh mẽ và đơm hơn vào mùa hè; khi mùa thu sang, tường vi lại bắt đầu rụng lá, tạo nên con đường lá vàng cũng rất mộng mơ." 

Hoa tường vi ở Hà Nội có thời gian nở kéo dài từ 2 - 3 tháng nếu được trồng thành quần thể. Nếu trồng đơn lẻ, hoa sẽ nở trong khoảng 1,5 tháng. 

Tranh thủ rảnh dỗi ngày cuối tuần, bạn Trịnh Thị Huyền (huyện Gia Lâm, Hà Nội) đã cùng bạn bè mình đến với đường hao tuyệt vời này. Huyền chia sẻ: "Chúng mình đã đến đây từ lúc 7h30, mình muốn đến sớm để đón được những tia nắng đầu tiên, khi ấy chúng mình sẽ chụp được những bức ảnh đẹp hơn."

Con đường hoa tường vi sâu hút tầm mắt, bình yên khác hẳn với những xô bồ, vội vã trong thành phố - Ảnh: NGUYỄN HIỀN


Hoa tường vi hồng tượng trưng cho sự tồn tại mãi mãi trong tình yêu - Ảnh: NGUYỄN HIỀN


Sự hài hòa từ màu sắc đến không gian mang đến cho con đường hoa tường vi vẻ lôi cuốn khó cưỡng - Ảnh: NGUYỄN HIỀN


Với vẻ đẹp dịu dàng con đường hoa này nhanh chóng chiếm được cảm tình của những thiếu nữ Hà Thành - Ảnh: NGUYỄN HIỀN


Con đường này cũng là nơi hẹn hò thích hợp cho các cặp đôi vào dịp cuối tuần - Ảnh: NGUYỄN HIỀN


Bạn Trịnh Thị Huyền (bên phải) cùng bạn bè lưu lại những khoảnh khắc tuyệt vời cùng loài hoa tượng trưng cho sự chung thủy trong tình yêu - Ảnh: NGUYỄN HIỀN


Con đường dài hơn 200m với 100 gốc tường vi được trồng hai bên tạo chiều sâu cho cả con đường - Ảnh: NGUYỄN HIỀN


Không chỉ có tác dụng check - in, con đường hoa tường vi còn cho bóng mát xua tan hết mệt mỏi, muộn phiền - Ảnh: NGUYỄN HIỀN


NGUYỄN HIỀN

Hương đồng gió nội bay đi

đăng 01:47, 7 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:47, 7 thg 7, 2019 ]

Vậy là Long Khánh đã chính thức lên thành phố từ ngày 1/6/2019.


Thành phố Long Khánh 2019. Ảnh: Báo Đồng Nai


Nhớ ngày xưa, khi tôi sinh ra và lớn lên nơi đây thì đây là một tỉnh: Tỉnh Long Khánh. Nơi tôi ở là quận Xuân Lộc, tỉnh lỵ của tỉnh Long Khánh


Thế rồi sau tháng 4/1975, vào năm 1976 cái tỉnh Long Khánh thân yêu của tuổi thơ tôi biến mất, nó nhập với Biên Hòa để thành tỉnh Đồng Nai. Chẳng những thế, cái tên Long Khánh cũng biến mất luôn. Người ta thay thế nó bằng tên huyện Xuân Lộc (quận đổi thành huyện). Phải đến 15 năm sau (1991), địa danh Long Khánh mới xuất hiện trở lại khi người ta tách huyện Xuân Lộc ra thành 2 huyện: Long Khánh và Xuân Lộc. Tréo ngoe thay, lúc bấy giờ huyện lỵ của Long Khánh lại là thị trấn Xuân Lộc. Thị trấn Xuân Lộc nhưng lại ở huyện Long Khánh chứ không phải huyện Xuân Lộc! Từ đó sinh ra bao nhiêu chuyện lầm lẫn buồn cười, như bệnh viện Xuân Lộc ở Long Khánh, nhà thờ Xuân Lộc ở Long Khánh... đi xe khách mà nói về Xuân Lộc thì phải hỏi lại là về đâu?


12 năm sau nữa (2003), cái sự lộn xộn này mới kết thúc khi một lần nữa người ta tách phần thuộc thị trấn Xuân Lộc nằm trong huyện Long Khánh ra để thành lập thị xã Long Khánh (phần còn lại tành lập huyện Cẩm Mỹ).


Và 16 năm sau - tháng 6/2019 - thị xã Long Khánh đã trở thành thành phố Long Khánh! Đi một vòng gần nửa thế ký, có lúc bị mất tên, tỉnh lỵ Long Khánh đã là thành phố Long Khánh.


Báo  chí và nhiều người đã bàn tán xôn xao về thông tin này (và rõ nhất là giá đất ở đây tăng lên vùn vụt), kỳ vọng về bước phát triển mới của thành phố Long Khánh. Là người sinh trưởng ở Long Khánh, tôi cũng cảm thấy vui trước thông tin này. Thế nhưng có chút gì đó xao xuyến trong lòng...


Xưa giờ người dân Long Khánh mỗi khi đi Sài Gòn, Biên Hòa đều nói là đi thành phố, nhưng bây Long Khánh đã là thành phố rồi, bước ra khỏi cửa là... đã tới thành phố. Vậy đi thành phố là bước ra khỏi nhà chớ có đi đâu xa?


Lại nói nào giờ mỗi khi về Long Khánh, tôi lại nói rằng mình về quê. Chữ quê ở đây ngoài ý nghĩa quê hương còn hàm ý rằng về miền thôn quê yên tĩnh. Nhưng bây giờ nghĩ như vậy đâu còn đúng nữa, bởi vì về Long Khánh là về thành phố kia mà!


Thị xã Long Khánh


Lại nghĩ xa hơn nữa trước 1975 Long Khánh là một tỉnh lẻ với những con đường đất đỏ, mưa bùn nắng bụi nhưng hết sức thân quen (bạn có nhớ bài Đêm buồn tỉnh lẻ không? nghe bài đó tôi lại nghĩ đến Long Khánh), bây giờ lại là thành phố.



Quận Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh. Ảnh sưu tập của Mạnh Hải


Rồi ngồi xem lại tấm thẻ học sinh của gần nửa thế kỷ trước, những dòng chữ "Trường Nam tiểu học Tỉnh lỵ", "Trường Tiểu học Cộng đồng Nam Tỉnh lỵ"... nó mới gần gũi thân thương làm sao! Bây giờ chắc nó sẽ là "Trường Cấp 1 Thành phố"... Rồi nhớ đến nhà văn Duyên Anh với bộ truyện Vẻ buồn tỉnh lỵ của ông, với những Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy... Ơi, đã qua rồi những tháng ngày xa, ai sẽ viết Vẻ buồn tỉnh lỵ Long Khánh nhỉ?




Quê mình ngày thêm đổi mới, phát triển là chuyện đáng mừng chứ, nhưng sao cứ bâng khuâng. Có lẽ tâm trạng này giống như Nguyễn Bính ngày nào bâng khuâng với cô gái Chân quê:


Hôm qua em đi tỉnh về 

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều


Phạm Hoài Nhân

Dạ lý hương

đăng 02:47, 6 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Dạ lý hương là một loài hoa mà nghe cái tên thôi đã thấy lãng đãng phiêu bồng. Hoa dạ lý hương không rực rỡ thắm tươi, chỉ là những chùm hoa trắng nhỏ li ti nhưng nhìn xa từng chùm hoa như vậy rất thanh khiết, đáng yêu. Thế nhưng đặc sắc nhất chính là hương hoa, mùi hương chỉ tỏa về đêm, đúng như cái tên dạ lý hương cuả nó. Người yêu hoa đã viết về hương hoa dạ lý như sau:

Hương thơm của dạ lý hương đặc biệt quyến rũ mê hoặc lòng người. Đó là một mùi hương kì lạ, vừa thực vừa ảo, có lúc xa nhưng đôi khi lại gần kề. Hương thơm của dạ lý hương về đem sẽ len lỏi trong gió, dịu dàng, khi thoảng thoảng quấn quýt, lúc lại ào ạt mạnh mẽ.



Kể lể như vậy để khoe rằng hồi xưa ở nhà tui trên Long Khánh có trồng một cây dạ lý hương trước cổng. Cây dạ lý hương này ra hoa rất nhiều, rất đều và tạo nên sự chú ý của hàng xóm hoặc bạn bè đến chơi. Về đêm, hương hoa càng tạo nên sự quyến rũ cho những ai bước tới cổng nhà. Tui - lúc bấy giờ là một thằng nhóc chín, mười tuổi - rất tự hào vì cây dạ lý hương nhà mình.


Nhưng không phải chỉ tự hào vì hoa đẹp, hoa thơm như kể trên đâu. Tui còn tự hào vì chuyện khác nữa. Để kể cho nghe.


Bạn tui tới nhà chơi, thấy cây hoa hay quá bèn trầm trồ khen ngợi và hỏi: Hoa này tên gì vậy?


Tui vênh mặt lên và trả lời: Dạ lý hương!


Tụi nó trố mắt lên và hỏi tiếp: Dạ lý hương hả? Sao giống tên... đoàn cải lương quá vậy?


Tui đắc ý nói: Đúng rồi. Đoàn cải lương Dạ Lý Hương nổi tiếng có Hùng Cường - Bạch Tuyết á!


Thế rồi cả bọn cùng ồ lên khoái trá!


Bây giờ nhớ lại hổng biết là tên cây hoa nhà mình trùng tên với đoàn cải lương thì tự hào vì... cái giống gì (đúng ra là là đoàn Dạ Lý Hương lấy tên trùng tên hoa ý nói mình tỏa hương về đêm), nhưng hồi đó đúng là khoái lắm. Con nít mà!



Được vài năm, có mấy ông bạn lớn tuổi của ba ghé nhà chơi, thấy trồng cây dạ lý hương trước cổng liền cảnh báo: Sao lại trồng dạ lý hương trước cổng? Cây này nó tỏa hương dụ ma tới nhà đó. Nguy hiểm lắm!


Tui thề là tui chưa bao giờ thấy con ma nào lẩn quẩn gần cây dạ lý hương nhà mình hết, nhưng nghe nói vậy cũng sợ thiệt. Còn ba tui, không biết có tin không, nhưng dường như sau đó còn nghe nhiều người khác nói như vậy, nên ông cho đốn bỏ cây dạ lý hương.


Vậy là hết chuyện cây dạ lý hương ở nhà tui.


Sau này tui biết chuyện cây dạ lý hương quyến rũ ma chỉ là chuyện tưởng tượng, thật sự là trong hương hoa có chất độc, nếu ngửi quá nhiều và quá lâu sẽ không tốt và ảnh hưởng đến sức khỏe. Đối với người bị cao huyết áp hay bệnh tim, khi ngửi quá nhiều hương hoa dạ lý sẽ cảm thấy chóng mặt, khó chịu, làm cho tình hình bệnh thêm nặng. Bên cạnh đó, hoa dạ lý hương còn chứa một loại kiềm độc mà khi tiếp xúc nhiều với nó có thể gây rụng tóc nhanh.



Lâu lắm rồi tui chưa có dịp gặp lại hoa dạ lý hương (đoàn cải lương Dạ Lý Hương thì sẽ mãi mãi không gặp nữa). Nếu có dịp, nhất là về đêm, tui sẽ dừng lại để thưởng thức mùi hương len lỏi trong gió, dịu dàng, khi thoảng thoảng quấn quýt, lúc lại ào ạt mạnh mẽ... À, mà chỉ một chút thôi chớ không ngửi nhiều quá, vì tui đang bị bịnh tim mà!


Phạm Hoài Nhân

Ký ức một dòng sông

đăng 05:32, 3 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Sông Bài Ca không rộng và dài như bao dòng sông khác, nhưng là "quà tặng" của thiên nhiên cho mảnh đất Tịnh Hòa, Tịnh Kỳ (TP.Quảng Ngãi). Hiền hòa, thơ mộng như tên gọi, sông Bài Ca đã gắn liền với ký ức đẹp đẽ của người dân ở đây.

Con sông của quá khứ

Với đa phần người dân ở Tịnh Kỳ, Tịnh Hòa, dòng sông Bài Ca đã gắn liền với cuộc sống của họ, từ cái thời cha ông họ về đây khai thiên lập địa. Con sông đẹp, hiền hòa và thơ mộng đúng như tên gọi. Con sông tuy nhỏ, nhưng đã gắn liền với bao biến thiên của lịch sử.

Theo lời cụ Nguyễn Duy Ích (82 tuổi), một người dân ở Tịnh Hòa, thì ngày trước, bên kia bờ, nghĩa là địa phận Tịnh Kỳ là một rừng đước bạt ngàn. Những ngày chiến tranh, mỗi khi được báo động có máy bay trực thăng của Mỹ càn qua vùng này, tất cả dân chúng hai thôn Đông Hòa (Tịnh Hòa) và Kỳ Xuyên (Tịnh Kỳ) đều tất bật bơi thúng sang rừng đước trú ngụ.

Sông Bài Ca chảy qua xã Tịnh Hòa và Tịnh Kỳ (TP.Quảng Ngãi) ngày càng hẹp dần. 


“Ngày đó, rừng đước rộng và xanh mướt lắm. Nó cũng từng là căn cứ cách mạng và là nơi bộ đội về trú ẩn. Rồi những năm chiến tranh qua đi, chính rừng đước ấy là nơi sinh sống của cá, tôm, hàu... Người dân hai bên bờ cứ thế mà hưởng lợi. Con sông hiền hòa, trù phú đã nuôi sống bao nhiêu lớp người rồi”, ông Ích chia sẻ.

Sông Bài Ca chảy qua hai xã Tịnh Hòa, Tịnh Kỳ có chiều dài hơn 5km, bắt nguồn từ sông Trà Khúc qua cửa đại của xã Tịnh Khê và cuối cùng là hòa về cửa biển Sa Kỳ. Ngày trước, đây là con sông “nuôi lớn” bao thế hệ, bởi cứ quăng lưới ra sông thể nào người dân cũng được mớ cá, tôm mang về bán. Rồi những đêm trăng thanh, người dân lại chèo ghe, chèo thúng qua các con lạch vào rừng đước để giăng bắt cá, tôm. “Hồi đó, có những đám cưới, chú rể là người Tịnh Kỳ qua rước cô dâu bên Tịnh Hòa bằng ghe, vui lắm. Rồi mấy mùa Trung thu, đám trẻ con đùa nhau í ới nhảy lân quanh bên hai bờ sông dưới ánh trăng thanh bình lắm. Con sông này gắn liền với đời sống của chúng tôi từ những ngày tháng giản dị mãi tới giờ nên ai cũng có ký ức, kỷ niệm với nó cả”, ông Ích bày tỏ.

Tiếc nuối một dòng sông

“Bây giờ, lòng sông đã hẹp dần rồi. Bên kia sông là những hồ tôm, những công trình xây dựng "mọc" lên, lấn chiếm xâm thực hết mé sông. Phía bên này các nhà máy đá mọc lên, rồi bãi đà đóng ghe tàu cũng mới được xây dựng lấn chiếm hết. Không biết rồi mai sau, dòng sông này còn đủ chỗ để cho ghe thuyền về đậu không nữa”, Trưởng thôn Đông Thuận Phùng Thanh Việt chia sẻ.

Theo nhiều hộ dân ở thôn Đông Thuận, xã Tịnh Hòa, ngày trước lòng sông Bài Ca rất rộng. Đây là nơi “tập kết” của các tàu thuyền nằm bờ, neo trú sau những ngày dài đánh bắt ở các ngư trường. Thế nhưng, vài năm trở lại đây các hồ tôm mọc lên như “nấm” rồi các công trình như nhà máy đá, bãi đà cũng được xây dựng, lấn chiếm toàn bộ hai bên bờ, khiến lòng sông cứ thế hẹp dần. Rừng đước ngày trước bên thôn Kỳ Xuyên của xã Tịnh Kỳ giờ đã thay thế bằng những ngôi nhà bằng xi măng kiên cố mọc san sát với nhau dọc mép sông. Sự bình yên, hiền hòa của dòng sông Bài Ca đã bị biến mất. Thay vào đó là những tiếng máy nổ của các nhà máy đá, tiếng đục gõ ngày đêm ở những bãi đà đóng tàu thuyền. Hình ảnh ghe, thúng chèo từ bờ bên này, sang bờ bên kia cũng không còn.

“Bây giờ khó mà tìm được một con tôm, con hàu ở lòng sông này. Có hôm thả lưới từ khuya tới sáng hôm sau vớt lên chỉ toàn rác. Bây giờ dòng sông này bị tác động nhiều, nên ô nhiễm lắm. Thế hệ trẻ sau này lớn lên cũng chẳng thể nào biết rằng đã từng có một dòng sông hiền hòa, thơ mộng chảy qua nơi chúng sống”, ông Việt than thở.

Bài, ảnh: HOÀI BIỆT

Sửng sốt hình thù kỳ thú của núi đá biển Quỳnh

đăng 05:28, 3 thg 7, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Trải dài dọc bờ biển Quỳnh Lưu không chỉ là những bãi tắm đẹp, cát vàng mịn, nước xanh trong mà còn nhiều hang động, đảo đá nhỏ gần bờ có hình dạng kỳ thú vô cùng bắt mắt. 

Biển Quỳnh sở hữu nhiều mỏm núi đá hình thù lạ mắt, độc đáo tựa như ở một xứ sở khác. 


Những vân đá chằng chịt giống một bản mật đồ được khắc từ hàng triệu năm. 


Hòn Đá Ông, Đá Bà ở xã Tiến Thủy, Quỳnh Lưu. 


Mỏm đá hình đầu rồng với các chi tiết tinh xảo chuồi ra mặt biển. 


Địa đạo xuyên qua hang Mũi Trâu với bề mặt vân đá chuyển màu đẹp mắt. 


Những mỏm đá nhọn nổi bật trên nền trời buổi bình minh như bối cảnh trong xứ sở kỳ diệu. 


Chóp núi hình tòa lâu đài uy nghi, tráng lệ với tháp canh. 


Những mỏm đá nhỏ như bầy cóc nối đuôi nhau tiến ra biển. 


Một phần núi đá có hình dáng giống khẩu thần công hướng lên trời. 


Hồ Nhật Thanh

1-10 of 19

Comments