Có gì vui? Có gì buồn? Có gì xao xuyến? Ghi lại đây bạn ơi!

Bài mới

  • Ngỡ ngàng nét yên ả làng cổ trên đất Nam Đàn Những ngày thực hiện cách ly toàn xã hội, nét yên bình của nếp làng cổ ở xã Nam Kim (Nam Đàn) càng được nhân lên với sự điểm tô ...
    Được đăng 02:06, 23 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cánh đồng cói đẹp như tranh Trên cánh đồng xanh rì trong nắng trưa, người nông dân Vũng Liêm thu hoạch và phơi cói như những nghệ sĩ thực thụ.Cánh đồng cói xã Trung Thành ...
    Được đăng 06:47, 17 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bắt gặp “nàng” Thàn Mát giữa lòng Đà Nẵng Đầu tháng 5, những chuỗi hoa Thàn Mát nứt ra từ kẻ lá, rũ mình trong gió đêm để hôm sau lại bật ra màu tím kiêu hãnh ngay giữa ...
    Được đăng 02:21, 10 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Thương lắm ô môi! Đã có một thời, hình ảnh ô môi ngập tràn trong ký ức của tôi. Quên sao được những buổi trưa hè, chúng tôi rủ nhau ra sông tắm. Con ...
    Được đăng 05:41, 9 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Khúc giao mùa Bảy Núi! Khi những cơn mưa bắt đầu tắm mát vùng Bảy Núi (An Giang) thì miệt bán sơn địa này dần khoác lên mình tấm áo mộng mơ. Thời điểm ấy ...
    Được đăng 21:26, 2 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 22. Xem nội dung khác »


Ngỡ ngàng nét yên ả làng cổ trên đất Nam Đàn

đăng 02:06, 23 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Những ngày thực hiện cách ly toàn xã hội, nét yên bình của nếp làng cổ ở xã Nam Kim (Nam Đàn) càng được nhân lên với sự điểm tô bằng mướt xanh cánh đồng quê và vườn cây trái. Nhịp sống có phần lắng lại, chất thôn dã thân thương vương vấn trên ngõ xóm, mảnh vườn… 

Sáng 11/4, chúng tôi về vùng xóm 1 xã Nam Kim (Nam Đàn) - vốn được sáp nhập từ 5 thôn trong đó có những địa danh như làng Hậu Láng, Thượng Quy - hiện đang trong những ngày thực hiện cách ly toàn xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ nên đường làng vắng bóng người quê. Xóm 1 vốn thuần nông, hiện có 373 hộ, thu nhập chính là trồng lúa nước và chăn nuôi gia cầm. Ảnh: Đức Anh 


Xóm có 165 ha ruộng và 34 ha đất trồng hoa màu. Hiện hầu hết diện tích lúa đã trổ hạt, đơm bông, bà con nông dân đang chờ đến ngày thu hoạch (dự kiến khoảng 1 tháng). Ảnh: Đức Anh 


Trên địa bàn xóm có đình Giáp Đông với lịch sử trên 300 năm, là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh. Đình là nơi thờ Uy Minh Vương Lý Nhật Quang - người có công khai phá mảnh đất xứ Nghệ, được người dân ở đây suy tôn Thành Hoàng làng. Khuôn viên của đình có hàng chục cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi, tôn thêm vẻ cổ kính, linh thiêng. Ảnh: Đức Anh 


Qua mấy lần trùng tu, tôn tạo nhưng đình Giáp Đông vẫn lưu giữ được nét kiến trúc cổ và nét hoa văn, linh vật cùng hệ thống chữ Hán được chạm khắc tinh tế, khéo léo, thể hiện bàn tay tài hoa của người thợ. Ảnh: Đức Anh 


Cùng với trồng lúa, những năm gần đây người dân xóm 1 Nam Kim triển khai trồng chanh, có thêm nguồn thu nhập để cải thiện cuộc sống. Những ngày này, bà con đang thu hoạch chanh để bán ra thị trường. Ảnh: Đức Anh 


Thời điểm này, bà con trong xóm tranh thủ chăm sóc vườn rau, giàn bầu, bí và mướp vừa đáp ứng nhu cầu thực phẩm hàng ngày, vừa có thêm nguồn thu nhập. Ảnh: Đức Anh 


Bên cạnh đó, một số hộ ở xóm 1 còn mở rộng gia trại, khoanh nuôi diện tích mặt nước để phát triển chăn nuôi vịt, mang lại nguồn thu khá. Ảnh: Đức Anh 


Dịp này, đang thời điểm nghỉ học để phòng, chống dịch Covid-19, ngoài thời gian học trực tuyến, những đứa trẻ ở xóm 1 ra đồng chăn trâu giúp bố mẹ. Ảnh: Đức Anh 


Thực hiện cách ly toàn xã hội, người dân xóm 1 Nam Kim vừa phòng, chống dịch vừa duy trì làm ăn, sản xuất. Bà con chấp hành nghiêm túc những quy định tại Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ, không tụ tập đông người, thực hiện đeo khẩu trang nơi công cộng, chỉ ra đường khi có việc cần thiết. Ảnh: Đức Anh 


Ảnh: Đức Anh; Nội dung: Công Kiên

Cánh đồng cói đẹp như tranh

đăng 06:47, 17 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trên cánh đồng xanh rì trong nắng trưa, người nông dân Vũng Liêm thu hoạch và phơi cói như những nghệ sĩ thực thụ.

Cánh đồng cói xã Trung Thành Đông, huyện Vũng Liêm, được trồng ngay ngắn khi nhìn từ trên cao. Phía xa là ruộng lúa chín vàng, sắp vào vụ thu hoạch.


Bộ ảnh do nhiếp ảnh gia Lương Nguyễn Anh Trung thực hiện vào tháng 2/2020. 

Cói hay lác là một trong những loại cây phổ biến ở vùng đất ngập nước ngọt. Từ lâu, cói đã được sử dụng rộng rãi, thân thiện với môi trường vì có thể làm chiếu, đồ thủ công mỹ nghệ, giỏ xách thay cho túi nilon. 


Xã Trung Thành Đông được coi là "thủ phủ" cói của Vĩnh Liêm, với diện tích trồng hơn 200 ha trên 300 ha của cả huyện. Ngoài ra, loại cây này cũng được trồng tại các xã Thanh Bình, Trung Thành Tây, Trung Ngãi.

Theo anh Trung, cói được trồng quanh năm, dọc sông Cổ Chiên là những cánh đồng xanh ngắt, khung cảnh ấn tượng hơn khi hòa cùng màu vàng của lúa chín. 

Giống cói ở đây có thân tròn, cứng và dài hơn cói mọc hoang. Tuy chỉ cần trồng một lần nhưng cói cũng được bón phân định kỳ, xịt thuốc như trồng lúa. Cách 4 - 5 tháng sẽ thu hoạch một lần, phụ thuộc vào độ cao của cây, thường là 1,8 m. 

Những luống cói xanh, xen kẽ cùng luống dừa và lúa chín tạo nên bức tranh nhiều màu sắc khi nhìn từ trên cao. Hơn 20 năm trước, thay vì mọc hoang dại, cói chính thức được người nông dân trồng rộng rãi, thay cho lúa nước truyền thống tại huyện Vũng Liêm. Cây cói dễ trồng, không kén đất và có thể thích ứng với điều kiện hạn, mặn. Một năm, cói có thể thu hoạch 3 - 4 vụ. 


Người dân thu hoạch cói tươi thường ra đồng từ rất sớm để kịp phơi khi trời nắng. Thu hoạch cói gồm nhiều công đoạn như cắt cói tươi, chẻ cói, chặt gốc, phơi và buộc nên cần nhiều nhân công. Người dân có thể giúp đỡ nhau làm cho từng hộ hoặc thuê nhân công. Mỗi mùa thu hoạch kéo dài khoảng một tháng, một công có năng suất trung bình 1,2 - 1,6 tấn mỗi vụ. Sau đó người dân tiến hành nhổ cỏ.


Những bó cói mềm uốn lượn theo từng nhịp tay uyển chuyển.


Sau khi buộc cói thành từng cọng, người dân giũ cói để rơi phần rác, những cọng ngắn và ngả vàng. Phát và giũ là công việc đòi hỏi sức khỏe tốt, nên thường do nam giới làm. 

Một người dùng rựa chuyên dụng để cắt gốc cói, trước khi khi chẻ nhỏ.


Những cọng cói bung xòe như những dải quạt xanh.


Cói sau khi chẻ nhỏ được phơi luôn trên ruộng. Phơi cói khô ngọn là công đoạn quan trọng, thường mất một đến 2 ngày nắng. Cói sau khi phơi khô sẽ được vận chuyển về nhà hoặc có thương lái mua tận nơi. Cói khô loại I được bán với giá 15.000 - 16.000 đồng một kg. Cói loại II, III có giá 9.000 - 11.000 đồng.

Những "bông hoa" cói được phơi bên cạnh đồng rực rỡ trong nắng trưa. Tác giả chia sẻ, để thực hiện bộ ảnh, anh phải dậy sớm từ 2 - 3 giờ sáng rồi dầm nắng giữa trưa để chụp được ảnh phơi cói khi mặt trời mọc trên đỉnh đầu. 


Trẻ em theo cha mẹ ra đồng cói. 


Không chỉ những cánh đồng xanh mướt, nhịp sống yên bình nơi làng quê và sự chất phác của người nông dân miền tây là nguồn cảm hứng bất tận cho những nhiếp ảnh gia. 

Cuối tháng 12/2019, Sở VHTTDL tổ chức khảo sát về tiềm năng du lịch huyện Vĩnh Liêm và thống nhất nơi đây có đầy đủ điều kiện để làm điểm đến mới, hấp dẫn trên địa bàn tỉnh. Ngoài du lịch sinh thái sông, thăm quan các vườn cây trái, làng nghề ở cù lao Dài, du khách có thể tham quan những di tích văn hóa, lịch sử như chùa Hạnh Phúc Tăng, đền thờ Chu Văn Tiếp...

Phút nghỉ ngơi của người nông dân trên đồng cói.


Cói được chẻ ngay khi còn tươi vì khi héo sẽ khó làm. Công đoạn này cần sử dụng máy chuyên dụng và 2 người làm. Những chiếc máy thô sơ, tự chế cho năng suất gấp 5 lần so với làm bằng tay.

Sau chuyến đi, điều anh Trung ấn tượng nhất về con người nơi đây là sự thân thiện, mến khách. Khi chụp, người dân luôn hỗ trợ và hỏi thăm anh. "Dù công việc cực khổ, dãi nắng dầm sương nhưng trên môi họ luôn nở nụ cười. Họ trò chuyện với tôi rằng, chụp ảnh để bà con thành phố biết tụi anh cực lắm nhưng lúc nào cũng vui", anh nói.

Lan Hương - Ảnh: Lương Nguyễn Anh Trung

Bắt gặp “nàng” Thàn Mát giữa lòng Đà Nẵng

đăng 02:20, 10 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 02:21, 10 thg 5, 2020 ]

Đầu tháng 5, những chuỗi hoa Thàn Mát nứt ra từ kẻ lá, rũ mình trong gió đêm để hôm sau lại bật ra màu tím kiêu hãnh ngay giữa lòng Đà Nẵng.

Thàn Mát giữa lòng Đà Nẵng. Ảnh: Lê Tuấn 


Thàn Mát là một loài thực vật có hoa trong họ đậu. Cây gỗ nhỏ cao từ 6-10m, tán dày, phân bổ chủ yếu ở rừng mưa nhiệt đới và rừng mưa nhiệt đới gió mùa.


Cây ra hoa khoảng 2 – 3 tuần vào tháng 5 hàng năm. Mùa Thàn Mát ra hoa kéo dài không quá 10 ngày và tùy thuộc vào ánh sáng, hoa thàn mát có lúc là tím nhạt trắng, lúc tím xanh, hoặc tím hồng, tím biếc. 

Hoa thường mọc thành chùm ở nách lá như một chuỗi ngọc. Đặc biệt, tại Đà Nẵng, đây cũng là loài hoa tô điểm cho núi khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.


Hàng năm, cứ đến dịp này, du khách và các nhiếp ảnh gia đến Đà Nẵng đều háo hức với việc săn ảnh của những cây hoa Thàn Mát tại bán đảo Sơn Trà cùng với hình ảnh những đàn Voọc chà vá chân nâu đang đu người tìm lá non.

Tuy nhiên nay, do đang mùa dịch bệnh, bán đảo Sơn Trà tạm thời đóng cửa các hoạt động tham quan, du lịch khiến nhiều người tiếc ngẩn ngơ vì không được đón mùa hoa tím của núi rừng ấy.

Vậy nhưng, bất ngờ hơn, ngay trên con đường Trần Hưng Đạo, phía đông cầu Sông Hàn, một số cây Thàn Mát đã được trồng và lớn lên từ bao giờ. 

Để nay, màu hoa tím ấy đã bung nở giữa lòng phố, tạo nên nhiều cảm xúc cho những người yêu Sơn Trà, yêu màu hoa Thàn Mát.


Hoa Thàn Mát giữa phố thị





Người dân ngỡ ngàng với sắc hoa tím núi rừng nay đã về phố


THUỲ TRANG - ẢNH: LÊ TUẤN

Thương lắm ô môi!

đăng 05:41, 9 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đã có một thời, hình ảnh ô môi ngập tràn trong ký ức của tôi. Quên sao được những buổi trưa hè, chúng tôi rủ nhau ra sông tắm. Con nước sông quê ngày ấy trong xanh, soi bóng những hàng ô môi trụi lá. Đám con nít ranh chúng tôi thường cử những đứa nhỏ con nhưng lớn gan trèo lên những cành ô môi già cỗi để hái trái ném xuống. Thời tôi còn bé, quà vặt ít lắm nên thứ trái hoang dại như ô môi cũng là món ngon. Bẻ xong đâu thể ăn liền, phải lấy dao rọc 2 bên thân trái để lộ ra những mắc ô môi đen sì, ngon ngọt hương vị quê nghèo.

Bông ô môi, rơi đầy trước ngõ
Bao kỷ niệm về tiềm thức trong tim…

Có lẽ, những ai lắng nghe bài hát này đều bồi hồi tiếc nuối cho cuộc tình dang dở nơi miền quê xa xôi nào đó. Nhưng lắng đọng hơn, họ còn thiết tha thương nhớ cái sắc tím dìu dịu đã hằn in vào ký ức trong những năm tháng tuổi thơ. 

Mùa nắng đến, ô môi oằn mình trong cái nóng hầm hập và kết những chùm hoa rực rỡ. Những bông hoa nhỏ xíu, phơn phớt hồng mang vẻ đẹp chân chất như cô gái quê. Người mơ mộng một chút sẽ gọi đấy là “hoa đào của miền Tây”, còn người thực tế lại yêu thích cái đẹp dịu dàng, không trộn lẫn của loài hoa này. 

Có những cây ô môi bông nhiều đến mức không còn lá, hệt như đóa hoa khổng lồ “thắp lửa” trên những cánh đồng xa. Bởi gắn chặt cuộc đời với miền quê nên ô môi cũng trở thành nhân chứng cho những mối tình thôn dã. 

Những cây ô môi nơi bến sông quê 


Ngày tôi lớn lên, bỗng nhận ra ô môi tự khi nào đã trở thành nỗi nhớ của những kẻ xa quê. Mỗi lần nhìn thấy cái sắc hồng rực rỡ thân quen ấy lại khiến lòng tôi miên man nhớ về tuổi thơ xa xôi, để rồi thêm yêu quý mảnh đất mình đã chôn nhau cắt rốn. 

Nếu làng quê miền Bắc với hình ảnh cây đa - giếng nước - mái đình đã trở thành biểu tượng, thì cây ô môi và bến sông mênh mông cũng trở thành một phần của miền Tây, nhắc nhở những người con đi xa đừng lãng quên vùng ký ức của mình. 

Thời trước, cây ô môi rất dễ tìm bởi chúng mọc ở khắp nơi, từ bờ kênh, bờ đê cho đến những khu đất khô cằn. Dù ô môi không có giá trị kinh tế cao nhưng người ta cũng không nỡ chặt bỏ, mà để dành cho đám con nít ăn chơi. 

Giờ đây, đất canh tác được tận dụng tối đa nên cây ô môi cứ lùi dần về những vùng quê xa xôi. Chúng âm thầm khoe sắc mỗi khi cái nắng, cái gió tháng 3 ùa về râm ran cả đất trời miền Tây. 

Trên những nẻo đường quê, vẫn thấy những trái ô môi được bày bán vì nhiều người còn thích thứ đặc sản thiên nhiên gần gũi, thân tình ấy. Bởi là “lộc của trời” nên người ta không bỏ phí mà cố gắng hái xuống, khách chỉ mua đôi ba trái nhưng cũng tạo ra nguồn thu nho nhỏ cho các bà, các chị ở quê. 

Những người cao niên nói rằng, năm nào nắng hạn càng gay gắt thì ô môi càng có nhiều bông. Có lẽ, cái sức sống mãnh liệt của loài cây hoang dã này đã giúp chúng chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và bộc lộ hết vẻ đẹp của mình. 

Trái ô môi với hương vị gợi nhớ tuổi thơ 


Ở An Giang, cây ô môi ngoài vẻ đẹp rực rỡ mùa bông rộ còn mang ý nghĩa lịch sử rất thiêng liêng. Trên mảnh đất cù lao ông Hổ có bến đò Ô Môi, nơi Chủ tịch Tôn Đức Thắng ngày mấy lượt qua lại và cũng từ ấy ra đi tìm đường cứu nước. 

Cái góc quê thiêng liêng ấy vẫn còn hiện hữu với những chuyến phà ngược xuôi và mát rượi những tán ô môi già cỗi. Giờ đây, thế hệ tiếp nối vẫn ghi nhớ loài cây mang tính biểu tượng này. 

Hiện, xã anh hùng Thới Sơn (Tịnh Biên, An Giang) đang trồng rất nhiều cây ô môi trên những tuyến đường chính để tưởng nhớ về truyền thống cách mạng của địa phương và tạo cảnh quan tươi đẹp cho vùng quê nông thôn mới. 

Những ngày tháng ngược xuôi, tôi vẫn thấy đâu đó thấp thoáng bóng dáng cây ô môi để rồi càng thương cái sắc màu rực rỡ của những chùm hoa đong đưa trong gió mùa hè. 

Theo vòng quay của tạo hóa, mùa hoa ô môi nữa lại về trong những đôi mắt ngập đầy nắng hạ như tô điểm thêm vẻ đẹp rất riêng của đất trời miền Tây. Để bất cứ ai mỗi lần đến với vùng đất này sẽ còn luyến lưu hẹn ngày trở lại để ngắm nhìn mùa bông ô môi nở! 

THANH TIẾN

Khúc giao mùa Bảy Núi!

đăng 21:26, 2 thg 5, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Khi những cơn mưa bắt đầu tắm mát vùng Bảy Núi (An Giang) thì miệt bán sơn địa này dần khoác lên mình tấm áo mộng mơ. Thời điểm ấy, những mùa hoa bắt đầu bung nở, những món ăn đặc sản lại bước vào mùa để càng làm say lòng những ai “trót” đặt chân đến miền đất này.

Bảy Núi vào mùa hoa 

Tháng nắng, Bảy Núi oằn mình trong cái nóng râm ran. Mấy đỉnh núi chơ vơ những thân cây khô khốc. Khi những giọt mưa đầu tiên lất phất rơi trên vùng đất này cũng mang theo những mùa hoa trở về. 

Tháng 4, mấy “con bướm đỏ” ở đâu đã bay về đậu trên những cành phượng rung rinh trong gió. Hoa phượng nơi nào cũng thế, là biểu tượng của mùa hè, mùa của những cảm xúc vấn vương thời áo trắng. Tuy nhiên, mùa hoa phượng Bảy Núi lại mang cái chất riêng, khi nó hòa vào cảnh sắc thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng. 

Dọc theo những con đường ngập nắng, có thể nghe đâu đó những tiếng ve ngân báo hiệu hè về. Mùa hè năm nay, hoa phượng cũng lặng lẽ theo những buồn vui của tuổi học trò bởi ảnh hưởng của cơn đại dịch toàn cầu. Dọc theo những con đường Bảy Núi, cái sắc đỏ thân thương ấy vẫn cứ âm thầm tô điểm cho đất trời như gieo vào lòng khách phương xa một chút bâng khuâng, hoài niệm. 


Ngước nhìn lên những triền núi xa xa, đã thấy những tán bằng lăng rừng lác đác trổ bông. Bằng lăng vốn mạnh mẽ, kiên cường nên thời tiết càng nóng chúng càng tập trung sức sống. 

Và khi cơn mưa đầu mùa buông xuống thì những chùm hoa tím hồng bung nở, tạo nét chấm phá cho đất trời trong thời khắc giao mùa. Bao giờ cũng thế, thời khắc vùng đất của nắng, của gió này “chuyển trạng thái” luôn mang vẻ đẹp rất riêng, gây ấn tượng với những ai yêu thích thiên nhiên, cảnh vật. 

Những ngày này, mấy cánh rừng khô khốc đã bắt đầu lún phún màu xanh của lá. Bức tranh thiên nhiên Bảy Núi vì thế mà dịu hơn để những người bảo vệ rừng cảm thấy nhẹ nhàng sau mấy tháng căng mình giữ từng ngọn cây, góc núi. 

Đến thời điểm mưa “già”, vùng đất này sẽ còn có những cánh hoa rừng lung linh khoe sắc hay mấy đám mây là đà phiêu lãng trên đỉnh Thiên Cấm Sơn hùng vĩ. Với những ai từng “check-in” Bảy Núi, đây là dịp lý tưởng để sống trong khung cảnh mơ màng, lãng mạn khác hẳn những tháng mùa khô khi cái nắng hanh hao thiêu đốt đất trời. 

Đặc sản lên ngôi 

Mưa xuống, sản vật của vùng Bảy Núi cũng bắt đầu phong phú hơn. Riêng núi Cấm, mùa mưa là lúc những nông sản vào vụ rộ bởi điều kiện nước tưới đầy đủ. Những chiếc xe gắn máy len lỏi khắp các cánh rừng mang theo những giỏ măng xuống miền xuôi tiêu thụ. Những vườn bơ trĩu quả nằm ven các tuyến đường lên núi khiến du khách nếu có dịp đến đây sẽ vô cùng thích mắt. Đặc biệt nhất là rau rừng. 

Nếu nói về ẩm thực núi Cấm, người ta không thể bỏ qua bánh xèo rau rừng. Chính những loại rau sinh ra từ rừng núi hiền lành, kết hợp với vị giòn tan của bánh xèo, hòa lẫn vị mặn, ngọt, cay, nồng đặc trưng của nước chấm đã kích thích vị giác của du khách phương xa. Từ đó, chiếc bánh xèo trở thành một phần không thể thiếu trong chuyến hành hương của du khách thập phương khi đến với vùng Thất Sơn này. 


Ngoài rau, quả đặc sản, Bảy Núi còn nổi tiếng bởi phong cách ẩm thực… côn trùng. Thực tế, món ăn này không “dễ nuốt” với nhiều người nhưng một khi đã nếm thử thì sẽ rất khó quên. Với người sành ăn, bọ rầy hay ve sầu thực sự là món “độc chiêu” của vùng Bảy Núi. 

Sa mưa xuống, bọ rầy cũng bước vào mùa. Muốn bắt chúng, người ta chỉ cần len lỏi theo các vườn xoài, vườn điều khi trời sập tối và xách theo một cây đèn. Bọ rầy mê sáng nên sẽ bay lòng vòng ánh đèn, lát sau chúng mệt quá tự rớt xuống nằm chỏng chơ. Người dân chỉ việc lượm bỏ vào giỏ. 

Với ve sầu, người bắt cũng chỉ cần mang theo chiếc đèn pin và chai nước muối. Ánh sáng đèn rọi tới đâu, người ta sẽ nhanh tay chụp lấy những con ve sữa chưa mọc đủ cánh để bay lên. 

Để chế biến bọ rầy, người ta móc bỏ phần đít, moi ruột, đem rửa sạch bằng nước muối pha loãng rồi để ráo. Cách ăn đơn giản nhất là đem chiên hoặc xào. Người cầu kỳ hơn sẽ dồn thịt ba chỉ băm nhuyễn hay nhét thêm đậu phộng đem chiên giòn rồi ăn kèm với rau sống, đảm bảo ngon bá cháy! 

Với ve sầu, các bà nội trợ chỉ cần đem chiên cũng đã là món ăn ngon khó cưỡng. Thời điểm này, những loại côn trùng đặc sản đã bắt đầu xuất hiện trong các bữa ăn của người dân. Khi mưa rộ, chúng sẽ được mang ra chợ và trở thành món hàng được các bà, các chị tìm mua để đãi gia đình. 

Với những sắc thái độc đáo, Bảy Núi 2 mùa mưa - nắng luôn có sức hút riêng và tạo được dấu ấn sâu đậm cho những ai từng đặt chân đến vùng đất này. Và trong thời khắc giao mùa, vùng bán sơn địa vẫn biết cách làm cho người ta “say” bởi một chút nắng, một chút mưa và những mùa hoa tô điểm đất trời! 

THANH TIẾN

Yên Thế: Mạch nguồn chảy mãi

đăng 00:59, 24 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Tôi cảm giác trong núi đồi, sông suối Yên Thế (Bắc Giang) còn lưu giữ những hình bóng xưa mà đậm nét nhất là cuộc khởi nghĩa chống giặc Pháp kéo dài ba mươi năm từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX do cụ Đề Thám lãnh đạo.

Dân gian còn lưu truyền những câu ca dao khắc tạc tên tuổi Hoàng Hoa Thám cùng những tướng lĩnh, nghĩa quân trong cuộc kháng chiến nhiều thăng trầm ấy: Ba mươi năm khắp núi rừng/ Danh ông Đề Thám vang lừng trời Nam. 

Barthouet- một sĩ quan Pháp từng tham gia các cuộc hành binh càn quét nghĩa quân Yên Thế đã viết trong cuốn Thảm kịch của người Pháp tại Đông Dương, xuất bản năm 1948: Ông Đề có tài rèn luyện người, đào tạo nghĩa quân trở thành những cấp chỉ huy, những con người hoàn hảo trên chiến trường, dũng cảm và quyết đoán. 

Miribel, một quan chức thuộc Phủ Thống sứ Bắc Kỳ thời đó báo cáo về Pháp: Tên tuổi của Hoàng Hoa Thám đã trở thành một biểu tượng được trân trọng trong dân chúng An Nam. Nó đã trở thành một mật hiệu để liên kết tất cả những người bất mãn chống lại chúng ta. 

Lễ hội Yên Thế. Ảnh: An Khánh


Gắn liền với Hoàng Hoa Thám cùng cuộc khởi nghĩa Yên Thế là Di tích Quốc gia đặc biệt được Thủ tướng công nhận từ năm 2012 ở vùng đất này. Trong 23 điểm di tích thì huyện Yên Thế có 9 điểm được xếp hạng như đình Dĩnh Thép, đền Thề, đồn Hố Chuối, chùa Thông, đồn Phồn Xương, đồn Hom, chùa Lèo, động Thiên Thai và đền Cầu Khoai. 

Tất cả vẫn còn đây dấu tích đánh giặc cứu nước bi tráng một thời. Người giúp chúng tôi thấm thía thêm giai đoạn lịch sử oanh liệt mang tên khởi nghĩa Yên Thế là một cô gái duyên dáng, có giọng nói trong trẻo, thuyết minh viên Lăng Thị Tuyết. Giữa đền Thề uy nghiêm, cô gái nói tới cơn mưa thường xảy ra trong lễ hội Yên Thế. 

Một cơn mưa gắn với huyền thoại Hoàng Hoa Thám. Theo chúng ta biết từ trước tới nay thì Đề Thám bị giặc Pháp giết chết. Nhưng còn có giả thiết khác bắt nguồn từ câu chuyện lưu truyền trong nhân dân, rằng Hùm xám Yên Thế và những tướng sĩ tâm phúc của ông bị giặc vây trong một khu rừng rậm. 

Chẳng tìm được Đề Thám, bọn chúng đốt rừng, hy vọng lửa sẽ thiêu cháy ông và tướng quân đi theo. Khi lửa bốc cháy rừng rực thì bỗng nhiên trời đổ cơn mưa lớn và ông được cứu sống. Câu chuyện trùng khớp với lời nguyền sắt đá của vị chủ tướng ngoan cường tài ba Hoàng Hoa Thám: Tôi dù chết không thể nào hàng giặc... Tôi chết thì có trời đất biết, núi rừng biết...

Đấy là chuyện xưa, thực thực hư hư. Nhân dân có cách lý giải của mình về sự bất tử của những anh hùng hy sinh vì đất nước. Hôm nay, Yên Thế không muốn để di tích lịch sử chỉ là dấu vết của quá khứ mà biết đưa nó vào cuộc sống hiện tại sôi động và cả tương lai. 

Trưởng phòng Văn hoá - Thông tin và Thể thao huyện Yên Thế Triệu Văn Phượng say sưa nói với chúng tôi về kết quả bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt Những địa điểm khởi nghĩa Yên Thế gắn với phát triển du lịch. 

Từ Nghị quyết 101 của Ban Thường vụ Huyện uỷ ngày 15-10-2019, huyện đã phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch khảo sát, điều chỉnh quy hoạch khu di tích động Thiên Thai (xã Hồng Kỳ) phục vụ cho việc đưa thi hài Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm về chôn cất tại đây; chuẩn bị các điều kiện giải phóng mặt bằng 5 nghìn m2 tại Khu di tích đền Thề, đồn Phồn Xương nhằm xây dựng các công trình như đình ba tầng mái, đền Thề, đồn Phồn Xương... 

Trong khu di tích lịch sử Hoàng Hoa Thám, chúng tôi thấy có gian trưng bày bán đồ lưu niệm, các đặc sản của địa phương. Du khách đến với di tích sau khi được thắp nén hương tưởng niệm những người hy sinh vì đất nước và tham quan Nhà trưng bày khởi nghĩa Yên Thế sẽ được mua những đặc sản nổi tiếng của vùng đất này. 

Du lịch Yên Thế đang có những khởi sắc. Khách đến đây có thể thoả mãn nhu cầu về tâm linh, trải nghiệm cuộc sống với các di tích, di sản, thắng cảnh, lễ hội, ẩm thực... 

Mật độ di tích, di sản khá đậm đặc trên vùng đất Yên Thế; ngoài những địa chỉ gắn liền với cuộc khởi nghĩa quật cường do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo như đã kể trên ta không thể không nhắc tới thác Ngà, cây lim xanh nghìn tuổi, lễ hội đình Xuân Lung, đồi chè bản Ven... 

Tuổi trẻ Yên Thế nêu cao tinh thần thượng võ của cha ông. 


Giữa vùng đất nhấp nhô đồi núi, không gian tĩnh vắng, du khách sẽ được thưởng thức và mang về làm quà những đặc sản nổi tiếng đã có thương hiệu của vùng sơn địa này như gà đồi Yên Thế, chè búp, chè vàng bản Ven, mật ong hoa rừng, rượu Sơn Lâm Tửu, rượu Loan Hồng... 

Những sản vật như đã được kết tinh từ vỉa đất, mạch nước, mưa nắng, khí trời Yên Thế mang nhựa sống nghìn năm và những trầm tích linh diệu. Đó cũng là kết quả lao động tần tảo, sáng tạo của con người Yên Thế cởi mở, hiếu khách. 

Lễ hội Yên Thế là điểm nhấn của du lịch huyện nhà, được tổ chức vào ngày 16 tháng 3 Dương lịch hằng năm. Đến với lễ hội, du khách không những được biết đền Thề, nơi mỗi khi xuất trận các nghĩa binh đều cắt máu ăn thề mà còn tận mắt thấy dấu tích luỹ thành đắp bằng đất thô sơ đã rêu phong cũ kỹ. 

Ta sẽ thấy bóng xưa thấp thoáng trong những di tích đồn Hố Chuối, đồn Hom... được vãn cảnh chùa Lèo, chùa Thông, đình Dĩnh Thép, đền Cầu Khoai nơi các nghĩa quân đàm đạo, bày mưu tính kế đánh giặc Pháp. 

Đến lễ hội ta sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp đằm thắm của các cô gái mặc trang phục dân tộc, biết thế nào là tục phóng ngư thả điểu, xem cưỡi ngựa bắn nỏ, chọi gà, chọi dê, cờ người lý thú và hấp dẫn cùng với các trò kéo co, bịt mắt bắt dê, bịt mắt đập niêu... Cuộc sống xa xưa như đã được tái hiện lại sinh động trong lễ hội. 

Cái cảm giác xưa mà nay, cũ mà mới, xa mà gần, quá khứ mà hiện tại hiện lên đậm nét trong tôi qua những lần về Yên Thế. Mới biết ai quay lưng lại với quá khứ lịch sử dân tộc, ai buông bỏ những giá trị cốt lõi của văn hoá truyền thống sẽ mãi mãi không lớn nổi thành người. 

Yên Thế là một minh chứng sinh động cho sự kết nối xưa - nay, những năng lượng của cuộc sống hôm nay vẫn có một phần trích xuất, bổ sung từ nguồn cội. Đứng dưới Tượng đài Hoàng Hoa Thám tôi cảm nhận rất rõ những điều đó. 

Lớp trước lớp sau, ai cũng được truyền dẫn vào mình lòng yêu nước, thương dân nồng nàn. Đó chính là sức mạnh sâu xa và bất tận của dân tộc Việt Nam mà kẻ nào nuôi dã tâm xâm lược giang sơn này sẽ phải trả giá dù có lớn mạnh đến đâu. Trong ánh nắng cuối đông, tôi ngước mắt ngắm nhìn tượng đài. 

Hoàng Hoa Thám - người đã bất tử như những dòng thư gửi cho tên quan Pháp trong trận Hố Chuối ngày 22-11- 1890: Chúng tôi gắn bó với phong tục của đất nước chúng tôi, chúng tôi không bao giờ từ bỏ phong tục ấy dù có phải hy sinh cả tính mạng. Tinh thần ấy mãi mãi sống cùng dân tộc này, đất nước này, từ Yên Thế địa linh. 

Nguyễn Hữu Quý


Hoa ngô đồng trong Hoàng cung

đăng 06:00, 14 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Loài hoa ngô đồng do vua Minh Mạng chọn trồng trong Hoàng cung Huế đang khoe sắc tím rực rỡ. 

Hoàng cung Huế vắng lặng không một bóng người khi tỉnh Thừa Thiên Huế cho đóng cửa để phòng Covid-19. Những ngày này, Hoàng cung được tô điểm bởi loài hoa ngô đồng. 


Cây ngô đồng trồng phía sau điện Thái Hòa đã rụng hết lá và khoe sắc tím rực rỡ nhất, tạo nét thanh tao cho công trình. 


Người xưa mỗi khi thấy lá ngô đồng rụng để chuẩn bị ra hoa là biết mùa thu về. Tuy nhiên, những cây ngô đồng ở Hoàng cung Huế lại khoe sắc vào dịp cuối mùa xuân và đầu mùa hạ. So với mọi năm, năm nay hoa ngô đồng trong Hoàng cung khoe sắc rực rỡ hơn. 


Với màu sắc riêng biệt, hoa ngô đồng trong Hoàng cung Huế khiến du khách đến đúng dịp hoa nở không thể rời chân. Tuy nhiên, năm nay vẻ đẹp của loài ít được du khách ngắm nhìn khi Hoàng cung Huế đóng cửa. 


Xưa kia, cây ngô đồng trong Hoàng cung do vua Minh Mạng cho người sang Trung Quốc đem giống về trồng. Khu vực điện Thái Hòa, trước mặt điện Cần Chánh và những nơi quan trọng của Hoàng cung Huế là những địa điểm đầu tiên được chọn trồng cây ngô đồng. Bởi vậy, loài hoa này được khắc nổi trên Nhân Đỉnh đặt trước Thế Miếu, chiếc đỉnh ứng với vua Minh Mạng. 


Cây ngô đồng trổ hoa màu tím mang nét đẹp rất riêng biệt. Nhiều người cho rằng, hoa tím của cây ngô đồng có liên quan đến tà áo dài tím của người con gái xứ Huế. 


Những chùm hoa ngô đồng khoe sắc tím nhạt ngay trên mình rồng trang trí ở mái điện Thái Hòa khiến công trình trở nên lộng lẫy hơn. 


Hoa ngô đồng lúc hoàng hôn về. 


Võ Thạnh

Phố Hội vàng rực hoa sưa

đăng 05:36, 14 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Những hàng sưa trổ hoa vàng rực trên những tuyến phố tĩnh lặng hiếm thấy mang lại vẻ đẹp khác lạ cho Hội An. 

Hai bên đường Phan Chu Trinh rợp sắc hoa sưa vàng. Nhiếp ảnh gia Đỗ Anh Vũ (Hội An), tác giả bộ ảnh, cho biết ở phố cổ có 2 tuyến đường chính trồng hoa sưa là Nguyễn Huệ và Phan Chu Trinh, mỗi nơi có 20 cây. 


Du khách đạp xe tham quan phố cổ trong mùa hoa sưa vàng. 


Hai phụ nữ đạp xe bán hàng trên đường Phan Chu Trinh. Covid-19 khiến Hội An vắng khách tham quan, đường phố vì thế tĩnh lặng hơn. 


Nữ du khách chụp hình trước một cửa hàng bán nón lá trên đường Phan Chu Trinh. 


Cây sưa vàng được người dân miền Trung gọi là cây hương vườn. Ở tỉnh Quảng Nam, TP Hội An và TP Tam Kỳ là hai nơi trồng nhiều cây sưa vàng. Loài cây này thường được người dân trồng làm cây cảnh đô thị, khu phố. Gỗ sưa vàng không quý như sưa trắng miền Bắc. 


Nữ nhân viên diện áo dài vàng chụp ảnh với khung cảnh hoa sưa rơi theo gió trên phố. 


Cây sưa nở rộ hoa phía trước một góc nhà hàng trên đường Phan Chu Trinh. Do lo ngại dịch bệnh, các hàng quán ở Hội An thời gian này cũng vắng khách hơn, một số địa điểm đã đóng cửa. 


Nhóm du khách tham quan phố cổ vào ngày 14/3. 


Huỳnh Phương Ảnh: Đỗ Anh Vũ

Mùa xuân ở Phố Trồ

đăng 05:24, 14 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Giữa thung lũng đá tai mèo khô khốc, Phố Trồ hiện ra như một bức tranh sơn thủy với những nếp nhà bao quanh hồ nước trong xanh. 

Phố Trồ là một thôn nhỏ gần trung tâm thị trấn Phó Bảng, huyện Đồng Văn, cách cửa khẩu Phó Bảng chưa đầy 5 km. Địa danh này được trời ban vẻ đẹp non nước hữu tình, với điểm nhấn là hồ Rồng rộng 1 ha chưa bao giờ cạn, ở chính giữa thôn. Đây được cho là điều hiếm có ở cao nguyên đá, được người bản địa coi trọng và gìn giữ. 


Bao quanh hồ Rồng là những nếp nhà trình tường cổ kính lợp mái ngói âm dương, mang đậm truyền thống đồng bào dân tộc nơi đây. Mùa xuân đến, bức tranh sơn thủy Phố Trồ càng trở nên hữu tình bởi hoa đào, mận thi nhau khoe sắc. 


Nhành hoa mận nở trắng trong mùa xuân ở thôn Phố Trồ. 


Những hàng rào đá đặc trưng của cao nguyên đá Đồng Văn nằm ven hồ Rồng. Phố Trồ được huyện Đồng Văn chọn lựa thí điểm Chương trình nông thôn mới, nhằm biến nơi đây trở thành Làng văn hóa du lịch. Ngày nay Phố Trồ đã có trụ sở thôn kiên cố, điểm trường tiểu học khang trang. Bên cạnh đó là đường bê tông liên thôn vào tới từng nhà. Các hộ dân được hỗ trợ xây nhà vệ sinh, nhà tắm. 


Một góc nhà trình tường tại Phố Trồ. Chất liệu và kết cấu của kiểu nhà này khiến không gian bên trong ấm áp vào mùa đông và mát mẻ trong mùa hè. Ngoài Hà Giang, du khách có thể tìm thấy những ngôi nhà trình tường của các dân tộc thiểu số khác ở Lạng Sơn, Lào Cai... 


Ở Phố Trồ mùa này còn có những luống hoa cải vàng rực, nở kế bên những bờ rào đá trong thôn. Thời gian đẹp nhất để đến Phố Trồ và cao nguyên đá Đồng Văn nói chung là khoảng tháng 2 đến giữa tháng 3 dương lịch. 


Những bông hoa càng nổi bật trên nền mái ngói âm dương rêu phong. 


Để tới đây, du khách đi gần đến chợ Phó Bảng sẽ thấy một đường bê tông nhỏ bên dưới, đó là lối vào thôn Phố Trồ, nơi chỉ tập trung đồng bào dân tộc Mông, Pu Péo. Trong ảnh là đường vào trung tâm thị trấn Phó Bảng. Đây là thị trấn cổ lâu đời, nơi sinh sống của ba dân tộc Mông, Hoa và Pu Péo. 


Nguyễn Chí Nam

Cánh đồng muối đẹp như tranh

đăng 02:53, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Diêm dân vùng Đông Hải trúng mùa vì nắng nóng, cùng nhau miệt mài lao động từ lúc bình minh trên những cánh đồng muối. 

Những ô ruộng muối nối tiếp, trải dài nhìn từ trên cao tại xã Long Điền. Nơi này thường được biết đến với tên gọi đồng muối Đông Hải, thuộc huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Nhiếp ảnh gia Trần Minh Lương (Cần Thơ) vừa có chuyến sáng tác tại những ruộng muối ở Bạc Liêu vào trung tuần tháng 3/2020 chia sẻ bộ ảnh về những vẻ đẹp trong nghề làm muối. 


Những ruộng muối ở ven biển nhìn từ trên cao. Làm muối là nghề vất vả, thấm đượm mồ hôi. Trước khi vào sản xuất, diêm dân phải trữ nước và làm sân phơi thật kỹ, cải tạo bằng xe cơ giới, lu phẳng để mặt sân chắc chắn. Đây là công đoạn làm đất trước khi dẫn nước biển vào ruộng. 


Bạc Liêu là một trong những địa phương có diện tích sản xuất muối lớn của cả nước, tập trung tại hai huyện Đông Hải và Hòa Bình. Người dân làm muối theo 2 phương pháp. Cách truyền thống là làm trên nền đất đen (muối đen) và phương pháp trải bạt, cho ra hạt muối trắng hơn và giá trị kinh tế cao hơn. 


Muối Bạc Liêu sản xuất mỗi năm một vụ, bắt đầu khoảng tháng 12 – tháng 4 năm sau, trước khi mùa mưa bắt đầu. Trong vụ muối 2019-2020, diêm dân Bạc Liêu sản xuất 1.670 ha muối, sản lượng ước đạt 50.000 tấn (muối trắng khoảng 4.700 tấn). 

“Năm nay muối trúng mùa, được giá. Nắng nóng, nhiệt độ cao làm thời gian kết tinh của muối nhanh, tạo điều kiện thuận lợi sản xuất” - ông Trần Văn Nghĩa, người gắn bó hơn 35 năm với nghề muối tại ấp An Điền, xã Long Điền, cho biết. 

Sau 12 - 18 ngày, nước biển bốc hơi tạo thành muối. Lúc này diêm dân dùng cào thu hoạch muối. Họ thường cào vào sáng sớm hoặc đầu giờ chiều. Sau đó để khoảng 3 - 4 giờ cho rút nước rồi đổ muối vào xe đẩy, vận chuyển đến nơi tập kết. 


Diêm dân dùng xe đẩy vận chuyển muối đến nơi tập kết. 


Ngoài xe đẩy, cần xé là dụng cụ thiết yếu để đựng muối trong quá trình thu hoạch. Mỗi cần xé muối có trọng lượng 40kg, đôi khi cần xé trượt xuống làm trầy vai người vác, muối xát vào da nhưng các diêm dân vẫn bám nghề. 

“Người làm muối luôn cầu mong nắng gắt, trời thương cho nắng nhiều thì cào muối có lãi”, anh Lĩnh, người vác cần xé muối phía sau ảnh chia sẻ. 

Những đống muối lớn là thành quả lao động cực nhọc của diêm dân. Theo những người làm việc tại đây, giá muối đen được thương lái mua tại ruộng từ 800-900 đồng một kg, muối trắng từ 1.200-1.400 đồng mỗi kg. 


Bình minh trên đồng muối Đông Hải. 


Năm 2013, Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã chứng nhận bảo hộ chỉ dẫn địa lý muối Bạc Liêu (muối ăn) là thương hiệu quốc gia. Đây cũng là một trong những sản phẩm nông nghiệp nổi tiếng của tỉnh Bạc Liêu, có thương hiệu trong nước và các hội chợ quốc tế. 

Nhà tạm của diêm dân để trông coi ruộng muối. Nghề làm muối Bạc Liêu đã trải qua 100 năm, gắn chặt với đất và người. 


Nhằm khẳng định thương hiệu muối Bạc Liêu và tôn vinh nghề làm muối của diêm dân Bạc Liêu, Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu đã hoàn tất hồ sơ trình Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xét công nhận di sản văn hóa phi vật thể cho nghề làm muối. 

Trần Minh Lương – Huỳnh Phương

1-10 of 22

Comments