Có gì vui? Có gì buồn? Có gì xao xuyến? Ghi lại đây bạn ơi!

Bài mới

  • Mùa gặt cỏ bàng miền Tây Bước vào mùa gặt, cánh đồng cỏ bàng xanh mướt đẹp như tranh ở Tân Phước níu chân các nhiếp ảnh gia bởi nét thanh bình của vùng quê.Bức ...
    Được đăng 01:46, 17 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Rực rỡ ánh chiều tà buông trên miền sơn cước Khoảnh khắc hoàng hôn luôn đẹp lộng lẫy, gợi nhiều cảm xúc và tâm trạng. Trên những miền sơn cước xa vắng, núi rừng trùng điệp, ánh chiều tà buông ...
    Được đăng 01:36, 12 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hái trăng trên đồi cát Những cô gái Chăm bước đi dập dìu "hái trăng" trên đồi cát Nam Cương tạo nên cảm hứng cho những bức ảnh nghệ thuật độc đáo.Bộ ảnh “Hái ...
    Được đăng 03:28, 11 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Miền núi Quảng Trị trong sương sớm Mùa này, tiết trời ở huyện vùng cao Hướng Hóa thường se lạnh và sương mù vào sáng sớm, khiến khung cảnh mờ ảo.Anh Nguyễn Bôn, sinh ra và ...
    Được đăng 06:41, 22 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bến Nôm mùa tảo xanh những hòn 'đảo chìm' lộ diện ảo diệu Bến Nôm là một lựa chọn lý tưởng cho ngày nghỉ lễ 2.9 bởi không xa TP.HCM. Và bởi sức hút của hình ảnh những "hòn đảo chìm ...
    Được đăng 21:45, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 22. Xem nội dung khác »


Mùa gặt cỏ bàng miền Tây

đăng 03:45, 13 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 01:46, 17 thg 10, 2020 ]

Bước vào mùa gặt, cánh đồng cỏ bàng xanh mướt đẹp như tranh ở Tân Phước níu chân các nhiếp ảnh gia bởi nét thanh bình của vùng quê.

Bức tranh cánh đồng cỏ bàng vào mùa gặt, do Trần Ngọc Dũng (TP HCM) chụp bằng flycam trong chuyến sáng tác ảnh của anh cùng tay máy Bùi Gia Phú người Mỹ Tho, tại xã Tân Hòa Thành, Tân Phước, Tiền Giang giữa tháng 8.

Tân Phước nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, địa phận Tiền Giang, có điều kiện tự nhiên đất phèn thuận lợi để trồng cỏ bàng. Huyện đang có trên 100 ha cỏ bàng, tập trung nhiều tại các xã Tân Hòa Thành, Hưng Thạnh và Phú Mỹ.

Cỏ bàng còn được gọi là bàng hoặc cói bàng, trước đây mọc tự nhiên nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cỏ có thân dưới cứng, dạng ống khoảng 8 - 10 mm, nằm ngang trong bùn. Thân thẳng đứng cao khoảng 1 - 1,5 m và có hoa màu nâu ở phần ngọn.

Vào mùa thu hoạch tháng 8, người dân dùng lưỡi liềm cắt gốc theo từng khóm, khóm nào cắt xong thì qua đến khóm khác, rồi thực hiện "vũ điệu giũ cỏ xuống đất". Cỏ cắt xong phân thành các loại ngắn, dài, sau đó cột thành từng bó tròn khoảng 2 - 3 kg.

Cỏ bàng dễ trồng, chịu phèn, ít tốn công chăm sóc và ít sâu bệnh. Cỏ trồng gần nửa năm đến khi cao quá đầu người lớn thì bắt đầu thu hoạch. Cỏ cắt xong cứ để gốc đó sẽ lại mọc nhiều lần và không cần trồng mới. Một ngày người dân cắt được khoảng 300 bó.

Nụ cười phấn khởi của người lao động trên đồng. Loại cỏ này được người dân miền Tây sáng tạo làm thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ như đan đệm, làm nón, giỏ xách... Để làm ra những sản phẩm đó, sau khi cắt về người dân dùng máy để ép bàng, phơi khô, rồi ép lại lần nữa, còn trước kia cỏ được giã bằng sức người, dùng chày để giã cho mềm.

Vợ chồng ông Thắng dành chút thời gian ăn trưa ngay trên thuyền chở cỏ. Mùa gặt cỏ bàng tuy vất vả nhưng ấm tình người khi họ cùng san sẻ công việc với nhau và luôn cởi mở, thân thiện với du khách, nhiếp ảnh gia về săn ảnh.

Động tác thuần thục của người dân khi thảy từng bó cỏ bàng cho người trên thuyền, vận chuyển ra đường lớn để thương lái đem về bán lại. Bàng mới thu hoạch còn tươi nếu thương lái chưa đến mua kịp hoặc gặp những ngày mưa không chỗ phơi, người dân sẽ phơi lên sào.

Thuyền chất đầy cỏ bàng đẹp như tranh khi nhìn từ trên cao. Từ lâu cỏ bàng đã đi vào ca dao vùng Đồng Tháp Mười: “Bông xanh mà lá cũng xanh/ Em đi cấy lúa cho anh nhổ bàng”.

Người dân chèo thuyền vận chuyển cỏ bàng ra đường lớn.
“Quá trình gặt cỏ, bó cỏ bàng diễn ra rất đời thường, cùng với sự nhiệt tình của người dân theo sắp đặt của chúng tôi góp phần tạo nên những tác bức ảnh độc đáo và rực rỡ sắc màu”, anh Dũng chia sẻ.

Người dân ôm những bó cỏ bàng lên vệ đường. Hiện giá bàng luôn giữ ở mức 15.000 - 20.000 đồng một bó. Ngoài ra, các cọng cỏ bàng có đường kính khoảng 4 - 6 mm còn được các cửa hàng kinh doanh nước uống thu mua làm ống hút thân thiện môi trường, thay thế ống hút nhựa. Ngoài huyện Tân Phước (Tiền Giang), ngày nay cỏ bàng còn được trồng nhiều tại huyện Đức Hòa (Long An) và huyện Giang Thành (Kiên Giang).

Huỳnh Phương - Ảnh: Trần Ngọc Dũng, Bùi Gia Phú

Rực rỡ ánh chiều tà buông trên miền sơn cước

đăng 01:36, 12 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Khoảnh khắc hoàng hôn luôn đẹp lộng lẫy, gợi nhiều cảm xúc và tâm trạng. Trên những miền sơn cước xa vắng, núi rừng trùng điệp, ánh chiều tà buông tạo nên những khung cảnh mỹ lệ, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng. 

Bộ ảnh này là những buổi chiều buông trên những chặng đường miền sơn cước để lại nhiều ấn tượng và cảm xúc. Mỗi khoảnh khắc hoàng hôn trên núi ở một địa điểm là một sắc thái riêng. Dấu ấn không chỉ là hình ảnh được lưu lại mà cả những trải nghiệm, ký ức để thêm hiểu, cảm, trân trọng vẻ đẹp mà thiên nhiên, cuộc sống ban tặng. 

Chiều buông trên cao nguyên Mộc Châu 

Vẻ đẹp ngút ngàn, khoáng đạt của đồi chè Mộc Châu buổi hoàng hôn. 

Nắng chiều rực rỡ trên những cung đường từ Pa Tần sang Mường Tè, Lai Châu. 

Nắng chiều rực rỡ trên những cung đường từ Pa Tần sang Mường Tè, Lai Châu. 

Hoa lau bừng lên lấp lánh trong ánh chiều buông toát lên linh hồn của Tây Bắc hoang dại mà nên thơ trên cung đường Lai Châu. 

Bóng tịch dương miền biên ải Ka Lăng – Mường Tè – Lai Châu 

Nắng chiều muộn trên đèo Ô Quy Hồ trắng mây phủ 

Chiều buông trên đèo Ô Quy Hồ hoang vu, kỳ vĩ. 

Ánh sáng kỳ ảo chiều tàn trên đồng lúa Choản Thèn – Ý Tý 

Sáng Nhù – Mù Cang Chải – một trong những điểm ngắm hoàng hôn đẹp nhất trên những thửa ruộng bậc thang hình móng ngựa hùng vĩ giữa núi rừng. 

Ray nắng lung linh trong chiều Hoàng Su Phì – Hà Giang. 

Bầu trời chuyển dần về tối trên Bản Phùng – Hoàng Su Phì – Hà Giang 

Khói lam chiều trên xóm núi miền cao nguyên đá Hà Giang khơi lên cảm xúc lữ thứ mãnh liệt 

Mặt trời xuống núi ở một đoạn đường trên đèo Mã Pí Lèng - Đồng Văn - Hà Giang 

Ngô Hải

Hái trăng trên đồi cát

đăng 02:18, 8 thg 10, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 03:28, 11 thg 10, 2020 ]

Những cô gái Chăm bước đi dập dìu "hái trăng" trên đồi cát Nam Cương tạo nên cảm hứng cho những bức ảnh nghệ thuật độc đáo.


Bộ ảnh “Hái trăng trên đồi cát” do nhiếp ảnh gia Nguyễn Tấn Tuấn (TP HCM) thực hiện trong một chuyến tác nghiệp gần đây tại Ninh Thuận.

Rạng đông là thời điểm tuyệt vời để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đồi cát với những mảng màu cam, đỏ, vàng trên bầu trời tương phản với sắc tối của các sóng cát nhấp nhô.

Đồi cát Nam Cương, nằm trên địa bàn thôn Tuấn Tú, xã An Hải, huyện Ninh Phước, cách TP Phan Rang - Tháp Chàm khoảng 8 km. Nếu du khách đi xe máy từ Phan Rang thì mất khoảng 30 phút là đến đây.

Tác phẩm “Vũ điệu nghịch cát” của các cô gái Chăm lúc bình minh. Đồi cát Nam Cương từ lâu là điểm đến yêu thích của du khách, các nhiếp ảnh gia trong hành trình du lịch, sáng tác ảnh tại Ninh Thuận.

Đi trên đồi cát lộng gió, du khách sẽ thấy nhiều hình dạng kỳ thú của thiên nhiên. Mỗi góc đứng cho du khách một cảm nhận khác nhau của các đụn cát trập trùng trải rộng mênh mông.

Bóng trải dài của ba cô gái Chăm in trên nền cát vàng lúc hừng sáng. Nền cát và hình dạng của “đường cong cát” thay đổi theo từng giờ, từng ngày tùy theo sức gió cuốn cát mạnh hay nhẹ.
Đồi cát có diện tích khoảng 700 ha, độ cao từ 20 - 30 m, có nơi cao tới 100 m so với mực nước biển.

Các cô gái Chăm mặc váy áo xanh, đỏ và vàng vui mừng khi thấy "trăng treo" trên đồi cát. Anh Tuấn cho biết đằng sau những bức ảnh nghệ thuật này là sự nhập tâm của các cô gái Chăm đi nhịp nhàng trên cát.
Nam Cương là nơi thỏa sức sáng tạo cho những tác phẩm ảnh. Trong tháng 6 năm nay, anh Tuấn đến đồi cát may mắn vào dịp những ngày trăng hạ huyền lúc 6h sáng, ghi lại hoạt cảnh các cô gái Chăm băng qua đồi cát đi tìm mặt trăng, sau đó "hái trăng" và mang về với quang cảnh dường như chỉ có trong miền cổ tích.

Tùy theo chủ đề ảnh mà có các hoạt động diễn xuất kèm đạo cụ khác nhau trên đồi cát, như trẻ em chạy chơi trên cát, phụ nữ quang gánh, mang bình gốm trên đầu hay mang nhá - một loại vó nhỏ đánh bắt cá đồng.
Người phụ nữ Chăm đi đầu diễn cảnh dùng nhá vớt lấy ánh trăng. Vào những ngày trăng hạ huyền, mặt trăng mọc vào lúc nửa đêm, lặn lúc bình minh và trăng to tròn nhất.

Phụ nữ Chăm sau khi hái trăng thì "đựng" trăng vào bình gốm và mang về.

Ba phụ nữ mỗi người một vẻ biểu cảm, đá nghịch cát khi mang trăng về nhà.

“Hoạt cảnh hái trăng được tái hiện thông qua nhiếp ảnh góp phần tô thêm sắc màu đời sống, văn hóa của dân tộc Chăm. Chúng tôi cảm thấy vui vì điều này, nên góp công chuẩn bị trang phục, đạo cụ diễn xuất để khung ảnh chụp được lung linh nhất”, một phụ nữ Chăm tham gia diễn cảnh hái trăng chia sẻ.

Huỳnh Phương

Miền núi Quảng Trị trong sương sớm

đăng 06:41, 22 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Mùa này, tiết trời ở huyện vùng cao Hướng Hóa thường se lạnh và sương mù vào sáng sớm, khiến khung cảnh mờ ảo.


Anh Nguyễn Bôn, sinh ra và lớn lên ở Hướng Hóa, một huyện miền núi, biên giới nằm phía tây tỉnh Quảng Trị. 

Với tình yêu thiên nhiên, con người nơi đây, tay máy 27 tuổi đã ghi lại những khoảnh khắc yên bình của quê hương mình. Bộ ảnh được anh chụp từ năm 2019 - 2020. 

Huyện có cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo nằm trên trục đ­ường quốc lộ 9 nối liền với các nước trong khu vực: Lào, Thái Lan, Myanmar. 

Địa hình Hướng Hóa núi và sông xen kẽ nhau. Khí hậu vùng này mang những nét điển hình của khí hậu nhiệt đới - gió mùa, quanh năm nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 22 độ C. 

Những đồi cà phê Arabica xanh mướt chuẩn bị vào mùa thu hoạch của người dân ở xã Hướng Phùng, bên đường Hồ Chí Minh. 

Một góc thị trấn Khe Sanh, cách TP Đông Hà hơn 60 km, theo quốc lộ 9. Phía xa là ngọn bảo tháp Khe Sanh cao 25 m. 

Xã Húc, huyện Hướng Hóa thấp thoáng trong sương. Nguyễn Bôn cho biết, anh rất yêu thích chụp cảnh thiên nhiên mờ ảo trong sương, vì vậy thường phải thức dậy lúc 3 - 4h để đón bình minh. 

Cô bé người Vân Kiều chăn trâu trên triền núi. Huyện vùng cao Hướng Hóa hiện có 3 dân tộc sinh sống là Pa Kô, Vân Kiều, Kinh. 

Đất đai chủ yếu có hai loại: cát pha và đất đỏ bazan, thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp như cà phê, hồ tiêu... 

Huyện nằm trên dãy Trường Sơn nên địa hình phần lớn là vùng núi cao ở phía bắc, với đỉnh cao nhất 1.617 m, vùng núi đông bắc và tây nam thấp hơn. 

Cánh đồng điện gió khoảng 30 turbine ở xã Hướng Linh, cách thị trấn Khe Sanh hơn 10 km. Những turbine gió được nhập khẩu trực tiếp từ Hà Lan, mỗi trụ cao 82m, đường kính lớn nhất 5m, nặng 200 tấn và làm bằng thép không gỉ. 

Cảnh ban mai nhìn từ đỉnh núi Cù Vơ, xã Hướng Linh, vị trí các tay máy thường chọn để săn mây. 

Trần Hóa - Ảnh: Nguyễn Bôn

Bến Nôm mùa tảo xanh những hòn 'đảo chìm' lộ diện ảo diệu

đăng 21:45, 20 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Bến Nôm là một lựa chọn lý tưởng cho ngày nghỉ lễ 2.9 bởi không xa TP.HCM. Và bởi sức hút của hình ảnh những "hòn đảo chìm" lộ diện ảo diệu trên một màu nước xanh ngắt nhờ... tảo. 


Bến Nôm (xã Phú Cường, H.Định Quán, tỉnh Đồng Nai), nằm trên QL 20, cách ngã tư Dầu Giây khoảng 20km về hướng đi Đà Lạt. Bến Nôm thuộc 1 nhánh của hồ thủy điện Trị An. Vào mùa nước cạn, nơi đây lộ ra những gò đất như những "đảo chìm" đã... nổi. 

Mùa hè cũng là mùa tảo xanh phát triển mạnh, vào thời điểm nước cạn một màu xanh mơn mởn trải dài khắp cả khu vực, tạo nên một bức tranh đẹp ngỡ ngàng. Và trên nền xanh đặc biệt ấy nổi bật hình ảnh những chiếc ghe đánh cá của ngư dân vốn cũng... đặc biệt. Bởi dải lưới được thiết kế nằm ở mũi ghe, từ trên cao nhìn xuống trông như một chiếc đuôi cá long lanh. 

Đến Bến Nôm lúc bình minh, nhiều người ngất ngây khi bắt được những khoảnh khắc tuyệt đẹp với màn sương sớm lung linh còn đọng trên những dải cỏ xanh mướt mới nhú lên khi nước cạn. Màu xanh của tảo còn thay đổi tùy theo ánh sáng mặt trời đổ xuống mặt nước. 














Độc Lập

Ngắm hoàng hôn từ tháp cao Điều Ngự

đăng 03:11, 14 thg 9, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Huế có 4 ngôi chùa là quốc tự, 3 ngôi chùa Thiên Mụ, Diệu Đế, Giác Hoàng ở kinh thành, riêng Túy Vân mãi tận Tư Hiền. Năm 1648, chúa Nguyễn Phúc Tần qua vùng đầm Cầu Hai, thấy phong cảnh hữu tình, bèn cho lập một cái am nhỏ làm nơi cầu phúc. Chúa Nguyễn Phúc Chu sau đó nâng cấp thành chùa. Năm 1825, vua Minh Mạng cho dựng lại chùa và hơn 10 năm sau hoàn chỉnh, gồm một chùa (Thánh Duyên), một gác (Đại Từ) và một tháp (Điều Ngự). 

Vọng cảnh Tư Hiền, Cầu Hai từ tháp Điều Ngự là trải nghiệm không nên bỏ qua khi đến Huế. Ảnh: NGUYỄN PHONG 

Bốn mươi năm trước học phổ thông, tôi có thằng bạn ở Vinh Hiền. Hè về cả bọn rủ nhau về Tư Hiền thăm bạn, tắm biển và ngắm cảnh Túy Vân. Buổi sáng, bọn tôi đi xe đò về Đá Bạc, đợi có khi hơn cả tiếng đồng hồ, rồi đi đò lớn vượt đầm Cầu Hai. Khoảng tầm giữa trưa thì cập bến Vinh Hiền. Buổi chiều ra biển tắm hay lên Túy Vân. Sáng hôm sau ngủ dậy sớm, dạo chợ buổi sáng và đi cho kịp chuyến đò đầu tiên sang Đá Bạc. Hành trình là vậy, có khi chỉ một ngày đêm, nhưng có lúc kéo dài đến vài hôm. Lần ấy vào hè 1983, bạn tôi dẫn 2 cô gái Hà Thành vào thăm quê. Tôi được chọn tháp tùng. Hai cô bạn gái mới quen lần đầu tiên vượt đầm, thấy lạ thấy thích, nên cứ bi bô hỏi chuyện. Tội nghiệp, mấy em ở Hà Nội đâu hiểu đầm phá quê ta mênh mang nhường nào. 

Lên Túy Vân vào chiều tà, chúng tôi đã trèo 38 bậc cấp để viếng chùa, rồi tiến đến Đại Từ Các và dừng bước thật lâu nơi tháp Điều Ngự, tọa lạc trên đỉnh Túy Vân. Tháp là khối tứ giác có 3 tầng, cao khoảng 13 mét. Rằng, xưa trên đỉnh tháp có dựng trụ đồng đặt pháp luân chuyển động theo gió, kèm theo hệ thống chuông lắc. Khi gió thổi pháp luân xoay, âm thanh của tiếng chuông sẽ vang vọng gần xa. 

Từ tháp Điều Ngự trên cao nhìn xuống là một màu xanh bạt ngàn của rừng dừa và cánh đồng xanh ôm lấy những làng quê, chiều dần buông nhà ai đó thấp thoáng khói lam chiều. Cũng từ đây, nhìn ra là toàn cảnh đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, cửa biển Tư Hiền và xa xa là Bạch Mã sơn. Mặt nước Tam Giang - Cầu Hai rộng mênh mông như tấm gương phản chiếu ánh mặt trời đỏ rực. Còn dãy Bạch Mã Sơn, ẩn hiện như một bức tranh thủy mặc làm nao lòng bao lữ khách. Chợt nhớ 2 câu thơ nao lòng của hoàng đế Minh Mạng trong bài “Lên tháp Điều Ngự”: Tứ diện hà quan lâm đại địa/Tam tằng cao súc lập trung thiên (tạm dịch: Bốn bề trông rộng mênh mông đất/Ba bậc vươn cao bát ngát trời). 

Tương truyền, thời vua Minh Mạng dựng lại chùa cho xây thêm bên trái điện thờ một tăng xá và nhà bếp đặt tên là Thúy Hoa Tự nên núi được gọi là Thúy Hoa. Chùa sau đó được đổi tên thành Thánh Duyên, còn núi vẫn giữ lại tên cũ cho đến thời vua Thiệu Trị, vì kiêng tên húy của Hoàng Thái hậu Hồ Thị Hoa, nhà vua đã lệnh đổi tên núi thành Thúy Vân. Thúy Vân sơn kết hợp với thúy ba (sóng biếc) của vùng đầm Cầu Hai – Tư Hiền hình thành nên cảnh đẹp được vua Thiệu Trị xếp hàng thứ 9 đất Thần Kinh. 

Lại có chuyện kể, có người say rượu chếnh choáng đi qua đây, thấy mây vờn đỉnh núi lại ngỡ là … mây say, nên mới gọi núi là Túy Vân. Không tin hay thử một lần leo lên tháp Điều Ngự để cảm nhận cảnh mây xanh nước biếc hay mây vờn đỉnh núi trong cái nhìn của bậc quân vương hay là đơn giản là mây say của kẻ say rượu... Còn nữa, con đường đến với Túy Vân, để rồi leo núi lên tháp Điều Ngự vọng cảnh Từ Hiền và Cầu Hai nay không còn cách đò trở giang mà đã hanh thông khi cầu Tư Hiền, Trường Hà được bắc qua phá Tam Giang và QL 49 đã được nâng cấp. Thế nhưng, tôi vẫn ước ao cách đò trở giang, được một lần trở lại chuyến đò năm nào vượt đầm Cầu Hai giữa mênh mông sóng nước. 

Đan Duy

Xa rồi những cấm rừng xưa

đăng 06:44, 23 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Là địa phương nằm ở đồng bằng, nhưng huyện Mộ Đức lại là nơi có rất nhiều cấm rừng nằm xen kẽ ngay giữa ruộng đồng, làng xóm, được người dân đồng lòng gìn giữ suốt mấy trăm năm. Đáng tiếc là, dần dà về sau, phần vì chiến tranh tàn phá, phần vì lơi lỏng trong công tác bảo vệ, khiến các cấm rừng năm xưa, giờ chỉ còn trong ký ức.

Người Mộ Đức xưa từng lập nên các cấm rừng và đưa ra nhiều cấm kỵ như: Không được chặt cây, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc... để bảo vệ rừng. Những “cấm rừng” nhờ thế hình thành và trở thành “lá phổi xanh” của biết bao xóm làng nơi đây. Như cấm rừng Sa Voi, Văn Bân, Phước Lai (Đức Chánh), cấm rừng núi Vom (Đức Hiệp), cấm rừng ở núi ông Đọ (Đức Phong), rồi cấm Mã Gia (Đức Thạnh), cấm Gò Da, ông Thao (Đức Hòa), cấm Gò Né (Đức Tân)... 

Cấm ông Thao - một trong những cấm rừng hiếm hoi tồn tại hàng trăm năm qua tại xã Đức Hòa (Mộ Đức). 


Những cấm rừng này, hoặc có diện tích lên đến vài hecta nằm ở khu vực núi cao ít người lui tới, hoặc có khi chỉ là một khoảnh nhỏ ngay trên vùng đất gò, đồi nằm giữa làng, giữa xóm... Song, theo lời kể của các bậc cao niên ở huyện Mộ Đức, tuy diện tích từng cấm có khác nhau, nhưng tấm lòng kính cẩn bảo vệ rừng của người dân, thì trăm nơi như một.

Lần giở bản trích lục địa đồ đã ố vàng theo thời gian, ông Lê Chí Hải (65 tuổi), ở thôn Phước Mỹ, xã Đức Hòa, cháu đời thứ 4 của ông Lê Thao, tự hào chia sẻ: “Theo lời cha ông tôi kể lại, cấm rừng của gia đình tôi nằm trên núi Long Hồi. Đây là ngọn núi có diện tích gần 20ha, nhưng dần dà theo thời gian, người dân phá rừng lấy củi làm nhà. Duy chỉ có ông cố tôi là vẫn quyết tâm giữ lại khoảnh rừng hơn 1ha nằm ở sườn núi phía bắc và kiên quyết bảo vệ, không cho ai chặt phá. Cũng vì lý do đó mà sau này, người ta quen gọi khoảnh rừng này là cấm ông Thao”.

Quyết tâm gìn giữ “cấm rừng” của ông cha thuở trước, các thế hệ con cháu của ông Lê Thao tiếp tục nhắc nhớ nhau giữ lấy rừng. Nhờ sự tiếp nối ấy, mà cấm rừng với hệ sinh thái phong phú gồm nhiều loại cây bản địa quý như huyết cẩu, nhụ, muồng... vẫn được gìn giữ vẹn nguyên đến tận ngày nay.

“Từ đời ông cố Thao đến nay, ngoại trừ một cây sanh (5 - 6 người ôm không xuể - PV) bị sét đánh gãy cách đây 20 năm, còn lại, tất thảy các loại cây trên rừng đều được các thế hệ trong gia đình giữ lại nguyên vẹn. Có cần cây để làm nhà, thì chúng tôi đi mua, chứ không đụng vào cây trên cấm”, ông Hải tâm sự.

Trên địa bàn huyện Mộ Đức, cấm ông Thao là cấm rừng hiếm hoi mà người dân địa phương còn giữ lại được cho đến ngày nay. Những cấm rừng khác như cấm Gò Da ở gần Quốc lộ 1, đoạn chạy ngang qua xã Đức Hòa, cấm Gò Né (Đức Tân), cấm ông Đọ (Đức Phong), cấm Sa Voi, Văn Bân, Phước Lai (Đức Chánh), cấm Mã Gia (Đức Thạnh)... đến nay đều bị “xóa sổ”. 

Những cây gỗ quý trong cấm ông Thao được 4 đời nhà họ Lê gìn giữ đến hôm nay. 


Theo tư liệu trong quyển Địa chí huyện Mộ Đức: “Bước vào cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, chính quyền Ngô Đình Diệm đã cho phá rừng với lý do “phát quang” nhằm chống “Việt cộng nằm vùng” ẩn núp; cộng với chính quyền ở các xã ấp chặt phá lâm cấm có từ nhiều đời để bán lấy tiền. Do vậy, rừng cấm Sa Voi, Văn Bân, Phước Lai (Đức Chánh), cấm ông Đọ (Đức Phong), cấm Mã Gia (Đức Thạnh) đều bị chặt trụi trong thời gian này”. 

Một số cấm rừng còn lại như cấm Gò Da (Đức Hòa), Gò Né (Đức Tân)... tuy may mắn tồn tại qua những năm tháng chiến tranh khói lửa, nhưng về sau lại bị người dân chặt phá để lấy gỗ, nên cũng dần trơ trụi. Đến nay, người dân địa phương đã dần trồng lại được ngót nghét 40ha rừng, nhưng phần lớn đều là bạch đàn và keo lai phục vụ sản xuất, chứ không còn là rừng tự nhiên với hệ thực vật phong phú như ngày xưa.

Đưa mắt nhìn xa xăm vào khoảnh đất trên núi Long Hồi (Đức Hòa), nơi từng một thời là rừng tự nhiên, về sau đã bị người dân tàn phá để trồng mì, keo lai, ông Trần Như Tưởng (70 tuổi) trầm ngâm: “Người Mộ Đức xưa từng lưu truyền câu: “Cấm tan thì làng mạt”, ý muốn nhắc nhở con cháu rằng, hễ cấm rừng mà mất đi, thì xóm làng chẳng thể nào “phất” lên được. Song, sau này đâu còn mấy ai nhớ đến lời nhắn gửi chất chứa mong muốn bảo vệ rừng ấy của những người đi trước. Các cấm rừng vì vậy, mà dần dần bị tàn phá, chẳng còn lại bao nhiêu”.

Bài, ảnh: Ý THU

Nhớ thời “về sông ăn cá…"

đăng 01:27, 12 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Thuở xưa, ở quê tôi cá tôm đầy sông mặc sức thưởng thức hương vị thơm ngon của đồng đất. Giờ đây, thiên nhiên không còn hào sảng nữa, cá, tôm trở nên hiếm hoi, đắt đỏ…

Đặc sản ở chợ 

Chiều chiều, chúng tôi rảo ngang chợ Bình Khánh hoặc Mỹ Long (TP. Long Xuyên, An Giang) để tìm mua những con cá ngon về thưởng thức. Nhiều lúc phải tranh thủ dữ lắm mới mua được vài ba con cá sông, cá đồng chế biến. Hôm trước, ghé qua chợ Bình Khánh thấy người phụ nữ bưng thau cá sông đủ loại như: cá xát, cá vồ đém, cá dảnh, cá mè vinh… Vừa đặt thau cá xuống, nhiều phụ nữ “bu” lại. Chỉ trong chớp mắt, thau cá đã được bán sạch. Từ đó cho thấy, nhu cầu ăn cá sông của dân thành thị là rất cao. 


Cô Mười Thảo (ở phường Bình Khánh), “chuyên gia” mua cá sông cho biết: “Mặc dù cá sông có giá cao nhưng được nhiều người mua lắm! Ăn cá sông thơm ngon và bổ dưỡng…”. Chúng tôi hỏi làm thế nào để nhận biết cá nuôi hay cá sông hoặc cá đồng, cô Mười Thảo cười khúc khích: “Cá xát sông có hình dáng trắng thon. Cá xát nuôi có hình dáng căng tròn, phần bụng nhiều mỡ, phần lưng có 2 đường sọc dài màu vàng. Còn cá vồ đém sông có hình dáng thon, vây lưng, vây đuôi dài, ít mỡ hơn cá nuôi…". 

Vài chục năm trước, các loài cá này cho chẳng ai thèm ăn, nhưng hiện nay có giá rất cao và được mua mạnh. Từ đó, cá đồng trở thành món ăn đặc sản của nhiều gia đình. Chị Diệu (một tiểu thương chuyên bán cá đồng ở chợ Bình Khánh) cho hay, mỗi buổi sáng chồng chị dậy sớm chạy xe sang tận Hậu Giang hoặc Kiên Giang để thu gom cá đồng. Tùy vào con nước mà ngư dân khai thác được ít hoặc nhiều cá, tôm, cua. Có hôm, chồng chị thu gom được vài chục ký cá lóc, có hôm không có con nào. 

Những bà nội trợ cho biết, chị Diệu chuyên bán cá đồng, nên chiều nào họ cũng tranh thủ đến mua cá ngon. Nhiều hôm, chúng tôi ghé trễ, thau cá của chị chỉ còn vài ba con nhỏ xíu. “Hiện nay, một số nhà hàng đến tận nhà tui lựa cân những con cá lóc đồng loại lớn nên không còn cá ngon. Nếu muốn ăn cá lóc lớn, phải điện thoại dặn trước thì may ra mới còn…” - chị Diệu rổn rảng. 

Cá, tôm cạn kiệt dần 

Chỉ tay xuống dòng sông Hậu, nước đang chuyển màu đỏ quạch, anh Sáu Tài (người chuyên đặt đú trên sông) nói rằng, mấy năm nay cá, tôm dưới sông ít lắm! Vấn nạn cào điện, xuyệt điện càn quét dưới dòng sông, nên cá nhỏ, cá lớn chết phơi bụng. 

“Tui làm nghề hạ bạc đã trên 20 năm nhưng chưa từng dùng điện để khai thác cá, chủ yếu bắt cá bằng ngư cụ truyền thống như: đú, lọp, lờ… Mỗi lần nhìn dòng sông bị ghe cào càn lướt, tôi thấy xót lắm!” - Sáu Tài trầm ngâm. 

Hiện nay, con nước từ thượng nguồn đang đổ về đỏ ngầu phù sa, báo hiệu một mùa lũ nữa lại về mang theo lượng lớn cá, tôm. Tuy nhiên, đến thời điểm này, nguồn cá dưới sông rất khan hiếm. Sáu Tài đặt trên 100 cái đú dưới sông, có hôm anh thăm đú chỉ dính hơn ký cá, tép. “Khoảng 20 năm trước, tui đặt mỗi cái đú dính từ 2-3kg cá, tép các loại. Hiện nay, tôi đặt 100 cái đú, mỗi đêm dỡ dính cá, tôm rất ít” - Sáu Tài nói với giọng buồn... 

Nguồn cá sông ít dần, cá leo loại 10kg/con rất hiếm 


Cá, tôm ngày càng khan hiếm, trong khi nhu cầu ăn cá đồng tăng mạnh. Do đó, lúc nào giá cá cũng cao. Hiện nay, các loại cá sông như: cá bống cát, cá heo, cá chốt giấy, cá trèn, cá kết bạc, cá sủ, cá ngát, cá chạch lấu… có giá dao động từ 150.000-350.000 đồng/kg (tùy loại), nhưng người dân vẫn mua về thưởng thức. Mỗi buổi sáng, ngay khu vực cầu Tôn Đức Thắng có tới 6-8 bạn hàng đến tranh nhau thu gom cá sông về bán lại tại các chợ trong khu vực TP. Long Xuyên và giao cho các nhà hàng, quán ăn. 

Còn ở khu vực Chắc Cà Đao (thuộc huyện Châu Thành), mỗi buổi sáng có hàng chục chiếc xuồng câu, lưới cặp bến bán cá. Tuy nhiên, ngư dân và tiểu thương ở đây than thở: “Cá năm nay ít lắm! Đặc biệt là loại cá bông lau. Nếu những năm trước, loài cá này được bà con ngư dân đánh bắt với sản lượng tương đối thì năm nay mỗi hộ chỉ giăng lưới dính vài con loại nhỏ”. 

Chị Vân (một tiểu thương ở chợ An Châu, Châu Thành) bày tỏ: “Các loại cá ngon ngày càng hiếm dần, không còn phong phú như trước. Năm nay, nguồn cá bông lau khan hiếm. Hôm trước, ngày cao điểm tui thu mua hơn chục con. Sau đó, loài cá này ít dần”. 

Cái thời cá, tôm đầy sông ăn không hết đã lùi xa dĩ vãng. Mỗi khi nghe câu hát “về sông ăn cá, về đồng ăn cua…” của ca sĩ Hương Lan (bài hát “Hình bóng quê nhà” do nhạc sĩ Thanh Sơn sáng tác), lòng tôi nhớ da diết cái bình dị chân quê ấy! 

Bài, ảnh: THÀNH CHINH

Ầu ơ... ơi lá xào dông

đăng 07:19, 8 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Dạo gần đây tôi hay nhớ về một người. Một cậu chàng trai trẻ tuổi, da ngăm ngăm đàn ông chính hiệu. Không phải người tôi trót say nắng hay thầm thương gì tôi.

Tôi nhớ cậu chàng ấy chỉ vì một ánh mắt. Ánh mắt trợn hết cỡ, vừa như sửng sốt, lại vừa đùng đùng phẫn nộ: “Là lá xào dông mà! Chị dân Phan Rang mà không biết lá xào dông!”

Cây xào dông. Ảnh: Agriviet.com



Vẻ mặt tôi lúc hứng ánh mắt chắc phải rất mắc cười. Không có tấm gương nào bên cạnh, nhưng tôi có thể thấy tôi trong cặp mắt kính của nhỏ em ngồi đối diện. Luống cuống, ngơ ngác đến tội nghiệp.

“Phục vụ xứ chị quá trời ngầu ha!’’ - Nhỏ em ngó theo bộ giằng dỗi thình thịch bỏ đi của cậu chàng khúc khích cười.

Tôi lại thấy cứ như cô nhỏ đang cười mình.

Không cười sao được. Mới 3 phút trước, tôi còn là một hướng dẫn viên quá oách, thao thao quảng cáo, giới thiệu đủ thứ về xứ Phan cho cô em lần đầu thăm đất sa mạc. Vậy mà giờ chỉ với chùm lá mang cái tên lạ hoắc, rành rành hiện ra một đứa lơ ngơ chả biết gì lại thích múa mép, khua môi. Đứa đó là tôi.

Cậu phục vụ quán ăn trẻ tuổi ấy phải hại tôi ghê không. Chính xác là loại lá quái chiêu ấy nó hại tôi.

Lá gì lại đi tên lá xào dông!

Nghe cứ như cố tình đu theo lừng lẫy của con dông cát xứ nắng để nổi danh.

Trời hỡi sao mà tôi không cách nào ưa vô loại nổi danh này. Đã là một loài, một cá tính khác, dở ẹc cỡ nào cũng phải ráng kiếm cho riêng mình một cái tên chứ. Tại sao không?

Đã vậy, “xào dông’’, cái tên vừa buộc miệng kêu thôi đã thấy khù khờ hết chỗ nói. Người ta đua nhau làm kẻ khôn ngoan giấu mình hai mặt, gạt gẫm nhau cả đời còn không hết. Đằng này có tí công dụng lại đem toang toác hết ra lên cả cái tên.

Biết phải do tôi xài xể dữ quá không mà chùm lá xanh trong cái dĩa trên bàn ngó bộ muốn dàu dàu. Con dông nướng tẩm muối ớt đỏ lựng sát rạt bên cạnh lại thong thả duỗi bốn chân, phơi bụng. Đôi lúc đâu phải cứ gần nhau là hiểu thấu được nhau.

“Vị lá lạ quá trời luôn chị!”

Đang vẩn vơ, quay qua đã thấy nhỏ em đang nhâm nhi thích thú thứ gì đó trong miệng.

Con dông nướng, món ăn duy nhất vừa được dọn lên, vẫn còn nguyên si. Vậy em đã ăn gì?

Chẳng để tôi phải nghĩ ngợi lâu la, em lại tiếp tục cuối xuống bứt một cái lá xanh rờn đưa lên nhấm nháp. Từng chút, từng chút lá biến mất trong miệng đồng thời với vẻ rạng dần, rạng dần trên từng đường nét gương mặt của cô em thật không tin được.

Tôi còn nghe cả tiếng đầu lưỡi cô đánh “tóc” rõ to một cái đắc chí. Ngó em, chắc ai cũng tưởng phải đang thưởng thức một mùi vị thần kì.

Tò mò, tôi cũng thử bỏ tọt vào miệng hai cái lá. Chắc ghét tôi chê bai tên mình đủ thứ, một mùi hăng nồng muốn ắt xì từ đôi lá xộc từ vòm miệng lên hai hốc mũi. Tôi tưởng mình phải đang nhai cả chục cục kẹo bạc hà.

Nhưng đừng hòng được ve vuốt bởi lìm lịm ngọt như kẹo. Gắt gao, khe khé trùm lên mặt lưỡi tôi tiếp sau vị hăng bất ngờ là chát. Chát khè muốn níu rịt những xớ lưỡi lại với nhau. Để rồi lại bật ra, tưởng chừng phải nhảy tong tong trong vòm miệng vì một mùi cay nồng ụp tới liền đó, nhanh hơn cả chớp mắt.

Chỉ trong một khoảnh khắc, tôi cứ như người chới với ngụp lên ngụp xuống giữa dòng mùi này lại sang dòng vị khác.

Toàn những dòng cuốn mãnh liệt nhất, ồ ạt nhất. Thế là tôi bị kéo phăng đi trong mê mải, trong ngầy ngật bởi quẩn quyện, sánh đặc tổng hòa từ những dòng mùi vị.

Quẩn quyện ai mà ngờ lại đổ hết lên sắc xanh của một phiến lá nhìn cỡ nào cũng thấy nhỏ nhắn, mỏng manh.

Phải nói là lá xào dông đã đáp lại khinh khỉnh xem thường tên lá của tôi bằng một cú móc quá hiểm, quá sửng sốt. Nhơn nhơn, đinh ninh trong tôi thế là bị hạ cho bẹp dí, nằm đo ván. Bài học “xem mặt mà bắt hình dong” ngó vậy mà không phải ai cũng nhớ, dù từ ngày nhỏ đã vanh vách đọc thuộc lòng.

Cô em vẫn còn mơ màng trong vị lá tiếp tục gật gù rằng lâu lắm rồi mới gặp lại loại lá thơm độc đáo đến nhường này.

Lại còn thơm sao? Bộ xào dông tính gom bao sắc nét mùi vị ôm hết vào mình?

Vò một mẩu lá, tôi khẽ đưa lên mũi. Một mùi hương nồng nồng mà lại thanh, lại dịu mát thoáng qua làm thư thái hết đầu óc. Phải chăng những dòng quẩn quyện tuôn chảy từ vị lá trở nên mê hoặc, nồng nàn hơn là nhờ chất dẫn mùi hương.

“Chắc chỉ có lá mắc mật vùng Lạng Sơn, Cao Bằng mới địch lại lá xào dông quê chị ở lượng tinh dầu.”

Cô em chính hiệu dân báo chí. Tướng liễu yếu mong manh cũng lang thang giang hồ đủ khắp. Kiến thức chắc là tin được. Không như bà chị quanh năm một xó, chỉ biết dỏng tai nghe ngóng rồi chắp vá búa xua.

Lươn lướt tay trên màn hình điện thoại, chùm lá óng ả xanh em giơ ra cho tôi xem như nghiêng hết khỏi khung ảnh chụp, lom khom nhìn xuống. Từ mặt dĩa bên dưới, mấy túm lá xào dông chắc cũng muốn nhảy tưng lên cho một cái chào.

Kẻ xa tít nơi núi rừng miền Đông Bắc, kẻ tuốt luốt vùng cực Nam Trung Bộ gió quật cát tràn, dễ gì được gặp nhau.

Mà nhất là lại gặp kẻ giống hệt mình.

Từ cái dáng bầu bầu, thuôn dài. Từ những nét lượn, góc cong vừa quyến gợi, vừa mạnh bạo viền theo mép lá. Đến cái sắc xanh bóng lên như mặt lá vừa được phết lên, tráng qua một lớp dầu trơn nhẫy, láng ót.

Tôi không đồng ý với một trang web du lịch nói rằng lá xào dông giống lá chùm ruột non. Mỏng dính, ẻo lả của chùm ruột làm sao bì được đậm đặc quyết liệt trong cả dáng và sắc của lá xào dông.

Nếu trước mặt có một nhánh lá chùm ruột nhẹ nhàng phơ phất chắc tôi chỉ nghĩ tới một cô gái điệu đà chúm môi cười, làm duyên làm dáng cùng bọn gió. Cũng cái nền lãng đãng nên thơ ấy, thay vào một chùm lá xào dông, thì mới thật lạ đời.

Thô mộc rắn rỏi hệt đất, hệt người nơi sinh ra lá, xào dông có bao giờ làm được cô tiểu thư mong manh, đỏm dáng đâu mà.

Miên man lần theo những nét hao hao trong hình dáng lá, hai chị em còn đụng đầu thêm lá mãng cầu xiêm.

Dân miền Tây nghe đồn có món chuột đồng xào lá mãng cầu xiêm ngon lừng lẫy. Mấy lần về thăm miền Tây bạn thiết tha mời nhưng chắc vì cầm tinh con chuột nên nghe tới “thịt chuột” tôi toàn dị ứng lắc đầu. Sau này, nếu có thêm lần “miền Tây du kí” nào nữa nhất định tôi phải đánh liều một phen ăn thử. Dù gì thì cũng cần kiểm chứng trực tiếp vị lá thơm từ đặc sản miền Tây có giống được tí nào với vị thơm của lá xào dông.

Vị kết hợp với món ăn chưa thử chưa biết, những sắc xanh lá mãng cầu xiêm trong kí ức tôi nhất định độ đậm, độ nét không qua được xào dông. Phải biết lá xào dông sớm hơn, khi cây mãng cầu xiêm trong rẫy ngoại chưa héo chết, tôi đã ngắt hai loại lá đặt cạnh nhau để tẩn mẩn ngồi so.

Đời người nghĩ cũng lạ, toàn gặp cảnh phơn phớt sống, phơn phớt trôi qua nhau để rồi lại được phen thắc thỏm tiếc “phải biết” với “giá như”.

Bất giác tôi bỗng tự hỏi mình: Liệu có từng phơn phớt đi qua một nhành lá xào dông?

Trí nhớ như chiếc xe lâu không tu bổ cọc cạch qua từng vũng kí ức.

Hình như ngày giỗ ngoại năm nào đó cậu tôi có làm thịt những con dông mập ú mình nuôi đãi khách xa. Hình như tự tay tôi có rải lên thau gỏi dông cậu trộn mớ lá xanh ong óng. Có mùi lá thơm hình như bện chặt vào những đầu ngón tay tôi đến tàn buổi nấu nướng vẫn còn phảng phất.

Đôi lúc trí nhớ cũng lắc lở chơi xấu người khi cắt bỏ đi những phần quan trọng nhất trong đoạn phim kí ức.

Phải tua tới tua lui một đoạn phim kiểu này vừa lục được, tôi mới phát hiện ra còn có một bàn tay khác. Bàn tay ngồi băm băm mớ lá trên cái thớt gỗ đầu sứt góc trong bếp nhà ngoại. Bàn tay nếu bấm ngược thêm đôi ba phút của cái clip tên kí ức, chắc sẽ thấy đang bưng một rổ lá bước vào từ hông nhà. Bàn tay của mợ tôi.

Không giỗ nào của ngoại tôi mợ không làm người hái lá. Lá chuối lót khi nướng thịt vừa ngọt vừa ít nghe mùi khói. Lá me non nấu canh chua vừa dịu vừa thanh. Lá rau sam nhơn nhớt mà làm nên tô nước luộc sinh thời ngoại vẫn thích, cứ man mát, ngọt lành. Trong rổ lá năm nào mợ hái cũng chỉ những chiếc lá xanh đẹp nhất, mơn mởn nhất. Phải chăng ngày giỗ ngoại đến lá cũng biết chắt chiu bao đẹp đẽ, bao tâm ý để tưởng nhớ người đã trồng cây?

Trong rổ lá của mợ tôi năm nào đó ắt hẳn phải có lá xào dông. Ắt hẳn tôi đã đi qua lá ơ hờ như đi qua một loài rau cỏ vô danh, chưa ai biết đến nên chìm khuất dưới những lá me, đọt xoài, lá chuối,… tầm thường nhưng quen mặt.

Trí nhớ con người kể ra cũng khác nào một cái máy vô hồn, không cảm xúc. Lẽ ra cả nó (và nhiều thứ nữa) nên là cánh cửa không chỉ biết mở ra hân hoan chào đón những người quen.

Nếu vậy chắc tôi không phải “ồ à” tròn mắt theo cô em lần đầu tiên thấy lá, rồi chọc sùng cậu chàng phục vụ khi bằng giọng Phan Rang chỉ chỉ vào cái dĩa: “Em. Lá này là lá gì ta?”

Cậu chàng trẻ tuổi ấy nghĩ sao mà khó tính lạ kì. Thử cầm nhánh lá đi một vòng cái quán đang ồn ào cười nói, cụng ly xem, mấy người chính hiệu dân xứ Phan gọi được ra tên lá xào dông.

Không phải vì đất sa mạc lo vật lộn với nắng thiêu gió táp không ai màng đến lá, đến hoa. Chỉ là vì người Phan giờ cũng bộn bề, ngổn ngang lắm giữa trăm ngàn loại nhớ. Nhớ đổi mới, nhớ hiện đại còn không hết. Rảnh rang đâu nhớ mấy thứ cũ rích quê mùa.

Con đường “nổi danh” của lá xào dông bởi vậy xem ra trúc trắc quá chừng. Người xứ mình còn không nhớ, không biết đến, vậy mong gì dân miền khác. Chả trách lá cứ kè kè theo tên mình chữ “dông” để nương nhờ chút tiếng tăm của loài dông cát đồng hương.

Nghiệm ra điều này, tôi bỗng thấy hết đành hanh, bực bội với cái tên “lá xào dông”. Sướng ích gì đâu khi núp dưới tàn che của kẻ khác. Sướng ích gì khi thiên hạ nhìn mình mà chỉ nhớ tới cái bóng đi kèm.

Cũng có thể tôi nghĩ nhiều quá nên đâm lẩn thà lẩn thẩn. Có thể loài dông cát cũng cần lắm lá xào dông để hóa thân trọn vẹn thành món ăn tròn vị, đậm đà.

Rồi đâu chỉ một món “xào” như trong tên gọi. Dông nướng, chả dông, dông làm gỏi,.. chắc thế nào cũng trở nên thiếu thiếu gì đó nếu trên đầu lưỡi không được kèm thêm vị lá. Vậy thì với con dông cát, lá đâu chỉ kẻ nương nhờ.

Mà tự bao giờ tôi cứ áp đặt bon chen rối rắm của mình lên vô tư cây cỏ? Quấn quýt quyện lẫn vào nhau trong nồng đượm khăng khít, chắc cả lá, cả con dông cát đều đang cười.

“Xứ chị quá trời lạ. Đến lá cây cũng đậm đà!”

Ngó nhỏ em vẫn còn xuýt xoa nhai lá, tôi cười phì xé đưa cho em miếng thịt dông. Quấn quýt người ta làm vậy em cứ tách đôi khen một, lỡ mà con dông lại tủi lại ý kiến thì tôi biết làm sao.

Phiến lá mướt mát, phong phanh trên tay em chắc mừng rỡ lắm nên ôm choàng ngay lấy miếng thịt dông vẫn còn chưa kịp cởi lớp da nâu âm ấm. Nhưng cần gì phải cởi? Lá có bao giờ chê dông vì thô sần, nham nhám ấy đâu mà.

Lá nhìn thấy được dưới lớp ngụy trang không dễ ưa mắt ấy lòng dông cũng hệt như những xớ thịt trắng mềm dịu ngọt. Nảy lên giữa cỗi cằn nắng gió, lá hay làm sao, học được cách khiến mình lúc nào cũng lạc quan xanh phơi phới. Học được luôn cả cách nhận diện người.

Gọi điện về “mai mốt giỗ ngoại, mợ cho con theo lên núi hái lá xào dông nghen”, tôi nghe mợ la chói lói bên điện thoại: “Đâu lên tuốt núi, cô Hai! Có cây xào dông ngay cuối rẫy mình mà!”.

Tắt máy, tắt luôn màn hình ipad đang chấp chới dòng chữ vắt ngang một trang web “lá xào dông là loại lá sống trên vách đá vùng khô hạn”, tôi không khỏi nơm nớp nhìn quanh quất. May mà cậu chàng phục vụ da ngăm nọ không có mặt để nổi sùng với tôi thêm lần nữa.

Còn nhỏ em đang tấn công nhiệt tình dĩa dông nướng chỉ còn loe hoe vài cái lá xanh bóng lưỡng? Biết cô nàng có nghe được gì không, sao cứ tủm tỉm cười…

Kéo lưới rùng Sơn Trà

đăng 01:36, 6 thg 8, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Qua góc nhìn trên cao, quang cảnh ngư dân kéo lưới rùng ở Mân Thái hiện lên như bức tranh ‘vũ điệu trên biển’.


Quang cảnh kéo lưới rùng gần bờ tại bãi biển Mân Thái, nép mình bên chân núi Sơn Trà. Kéo lưới rùng là phương pháp đánh bắt bằng lưới gần bờ độc đáo, lưới bao vây một vùng biển và kéo lưới lên bờ để thu hoạch cá. 


Vịnh Đà Nẵng có dãy núi Sơn Trà án ngữ, che chắn và ít có sóng lớn nên kéo lưới bắt cá thuận lợi. 

Kéo lưới rùng là công việc đời thường của ngư dân địa phương nhưng qua góc nhìn nhiếp ảnh từ trên cao, vẻ đẹp của lưới trở thành những tác phẩm nghệ thuật. 


Công việc kéo lưới này được thực hiện vào sáng sớm, nếu mẻ lưới đầu tiên có cá tôm thì ngư dân tiếp tục thả các mẻ lưới tiếp theo. 

Mỗi đội kéo lưới rùng khoảng 15 người và đợt kéo lưới gần 2 tiếng, bao gồm việc chèo ghe thúng ra biển thả lưới. 


Lưới quây cách bờ hơn 1 km theo vòng cánh cung, trên bờ chia ra 2 tốp đứng về hai bên, kéo giật lùi và dần tiến lại gần nhau khi lưới được kéo lại gần bờ. 


Những ngư dân, chủ yếu là đàn ông căng mình kéo lưới với đôi bàn tay thoăn thoắt và những bước chân chịu lực trên các làn sóng dạt vào bờ. 


Trong ảnh là khi những tấm lưới rùng được kéo lên bờ và chuẩn bị trút cá, tôm ra sọt. 



Trên bờ là những người phụ nữ sẵn quang gánh, thúng và sọt chuẩn bị để đựng mẻ cá kéo lên. Họ chia nhau mang về hoặc bán cho những người đi tắm biển, tập thể dục buổi sáng. 


Mẻ lưới tiếp theo được nhiều cá hơn, có thể kể đến các loại cá như cá nục, cá trích và cá cơm. Vào những ngày may mắn ngay luồng cá, ngư dân có thể kéo được hàng trăm kg cá có giá trị cao và bán cho các thương lái. 

Nghề truyền thống kéo lưới rùng của ngư dân Mân Thái có từ nhiều đời, đến nay vẫn là nghề mưu sinh chính. Trải qua bao thăng trầm, làng nghề này vẫn được gìn giữ bởi nhiều thế hệ, tạo thêm thu nhập và góp phần bảo tồn nét đẹp văn hóa trong đời sống người dân miền biển Đà Nẵng.

Huỳnh Phương - Ảnh: Phạm Phùng

1-10 of 22

Comments