Ăn để mà sống, nhưng cũng phải sống để mà ĂN!

Bài mới

  • Độc đáo những món bánh ngũ sắc ở hội đền Quả Sơn Đến với lễ hội đền Quả Sơn, du khách không chỉ được tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao hấp dẫn mà còn được thưởng thức bánh ngũ ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Nước chè xanh xứ Nghệ Bây giờ, nước chè xanh đã khá phổ biến ở nhiều nơi. Đang ở xa lắm, nhưng hễ hớp chút nước chè xanh hãm đúng cách Nghệ thì lòng lại ...
    Được đăng 07:03, 23 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Lạ và ngon miệng với măng, nhái nướng, cơm lam tại Lễ hội đền Vạn miền Tây Nghệ An Những món ăn của đồng bào các dân tộc vùng cao như nhái, cơm lam…tại Lễ hội đền Vạn (xã Xá Lượng, huyện Tương Dương) đã tạo nên bản ...
    Được đăng 05:36, 22 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đặc sản thịt chuột của Việt Nam lên tạp chí National Geographic Mô tả cảnh làm thịt chuột có phần rùng rợn, cuối cùng nữ nhà báo Christine Dell'Amore thừa nhận miếng thịt chuột trong miệng cô 'thật sự rất ngon ...
    Được đăng 02:39, 21 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
  • Vị ngọt rau rừng Thất Sơn Ngày nay, rau rừng hoang dại ở Bảy Núi đã trở thành món ăn khoái khẩu. Hương vị ngọt ngào, thanh khiết của rau rừng thiên nhiên đã làm say ...
    Được đăng 01:26, 17 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 23. Xem nội dung khác »


Độc đáo những món bánh ngũ sắc ở hội đền Quả Sơn

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Đến với lễ hội đền Quả Sơn, du khách không chỉ được tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao hấp dẫn mà còn được thưởng thức bánh ngũ sắc – một loại bánh truyền thống của địa phương chỉ có trong mùa lễ hội. 

Bánh trôi ngũ sắc được làm từ bột nếp, mỗi chiếc bánh có đủ 5 màu sắc được tạo màu từ thiên nhiên: Màu đỏ của quả chùm phù, màu tím từ lá cẩm, màu xanh từ lá nếp, màu vàng từ lá cẩm vàng hoặc nghệ và màu trắng của bột nếp. Bột nếp sau khi được xay nhuyễn sẽ được trộn riêng rẽ với từng màu. Sau đó trộn thêm đường và một ít muối. 


Nét riêng của bánh trôi Quả Sơn là buộc phải có hương vị của quả chùm phù, loại quả này chỉ có từ tháng 11 đến tháng 12 âm lịch. Đây là loại quả có gai lông giống như quả Chôm chôm. Người ta thường bóc vỏ, lấy cùi của quả màu đỏ để làm bánh hoặc xôi. Chùm phù được đánh giá là loại quả giàu vitamin A. 


Thời xưa, tại làng Bạch Ngọc thuộc 3 xã Lam Sơn, Ngọc Sơn và Bồi Sơn, nhà nào cũng làm bánh trôi ngũ sắc. Do vậy, việc đưa bánh trôi ngũ sắc vào lễ hội Đền Quả Sơn chính là nét đẹp văn hóa về ẩm thực, tạo nên ấn tượng trong lòng du khách thập phương mỗi dịp về đền Quả. Đến mùa lễ hội, các mẹ, các chị lại rộn ràng làm bánh ngũ sắc để phục vụ du khách. 


Bột bánh sau khi trộn màu được nặn thành từng viên tròn. Bánh trôi ngũ sắc có hương vị thơm của các loại cây, độ dẻo của nếp và vị ngọt nhẹ của đường. 


Bánh được thả vào nồi nước sôi để luộc chín. Hàng năm, trong ngày lễ hội, nhiều du khách đã đến để thưởng thức và học cách làm món bánh độc đáo này. Đây là hoạt động giữ gìn nét đẹp văn hóa của lễ hội đền Quả Sơn. 


Ngoài bánh trôi, ở đây còn làm bánh dôi, được cuốn từ nhiều loại nếp màu, ới nguyên liệu tạo màu tự nhiên như bánh trôi ngũ sắc. Khi cắt miếng ra, miếng bánh rất đẹp mắt. 


Vào những ngày lễ hội, những người làm bánh trôi ngũ sắc tại Đền Quả Sơn đã sản xuất mỗi ngày hàng chục kg bánh để phục vụ du khách. Bánh ngũ sắc trở thành một đặc sản hấp dẫn của người dân xã Bồi Sơn. Giá bán 1 bát bánh trôi ngũ sắc là 10.000 đồng, bánh dôi là 70.000 đồng/chiếc. 


Ngọc Phương

Báo Nghệ An online - 22/02/2019

Nước chè xanh xứ Nghệ

đăng 07:03, 23 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan


Bây giờ, nước chè xanh đã khá phổ biến ở nhiều nơi. Đang ở xa lắm, nhưng hễ hớp chút nước chè xanh hãm đúng cách Nghệ thì lòng lại bâng khuâng bao ký ức. Có lẽ nước chè xanh xuất xứ từ xứ Nghệ, và cũng có thể ở đây nó đậm đà nhất, đáng nhớ nhất. Nhà thơ Huy Cận có câu thơ rất thấm đẫm, rưng rưng:


“Ai ơi cà xứ Nghệ
Càng mặn lại càng giòn
Nước chè xanh xứ Nghệ
Càng chát lại càng ngon” 

Xứ Nghệ, vùng đất khá rộng, mà chủ yếu lại là đất bán sơn địa, đất cao ít màu mỡ. Cái xứ khô nóng ấy được làm mát, được “hạ nhiệt” bởi một loại cây, đó là chè xanh. Chè xanh xứ Nghệ mọc tốt nhất trên vùng đất dốc, vùng rừng núi cao nguyên. Chè xanh hợp nhất là đất sỏi pha sét. Cây chè xứ ấy không mướt mát, không bung cành bung đọt xum xuê, nhưng bù lại lá dày, xanh đậm và giòn. Chè ấy hợp với lối uống chè xanh tươi. 

Xứ Nghệ ngoài đất khô cằn, trời cũng không kém khắc nghiệt. Mùa hè gió Lào thổi hùn hụt, khô héo hết mọi thứ cây cỏ thì cây chè xanh lại như càng cứng càng dày. Có lẽ thiên nhiên đã thử thách thứ cây này. Đất trời càng khốc liệt, chất lá chè càng đậm đà, càng xanh, càng thơm ngon. Cũng vì thế nó có tên là chè xanh chăng. Những ngày trời hầm hập, tưởng người cũng đến khô rang. Đó là lúc uống chè xanh ngon nhất, thú vị nhất. Người xứ Nghệ quảng giao bằng nước chè xanh. Gọi là uống “nước mới”. Trong dân cư thường xoay vòng mời nhau uống “nước mới”. Tức là chè xanh nước đầu. Chè nước hai gọi là “chè dạo”, không mấy thơm ngon nữa. 


Thời trước, năng lực canh tác nông nghiệp thấp, việc trồng được cây chè xanh không dễ như bây giờ. Người miền núi trung du trồng chè xanh đưa về vùng đồng bằng hạ bạn để bán như một kế sinh nhai đầy khó khăn gian khổ. Tôi nhớ không phải ai cũng dám bỏ tiền mua chè xanh để uống thường xuyên. Vì vậy có dịp mời nhau uống “nước mới” là quý lắm, trân trọng lắm. Thợ cày ngày hè, sau một buổi làm nông vất vả cực nhọc, được chầu chè xanh như người bây giờ uống nước tăng lực, mà còn thi vị, bởi hương thơm, bởi những câu chuyện trên trời dưới biển. Lúc mệt nhọc, nhà nông thường chế thêm ít mật mía vào bát chè xanh. Hai thứ này có vẻ hợp nhau cả về màu sắc, hương vị (ngày nay chè xanh ở các quán thường chế thêm vị gừng tươi). Chè xanh pha mật mía có màu vàng sánh hơn, sậm hơn, lại có vị thơm ngọt. Nhà quê coi nước ấy như nước trợ sức, trợ lực, phục hồi sức khỏe. Với các bác “phó” thì uống chè xanh thường xuyên và trở thành nghiện. Thợ mộc, thợ cưa, thợ xây, đặc biệt là thợ rèn xứ Nghệ buộc phải có nước chè xanh om để uống cả ngày. Thợ rèn suốt ngày thụt bễ, quai búa, bên cái lò than đỏ rực, hít đầy thán khí khí độc, nếu không có chè xanh, không thể làm việc được. Họ coi bát chè xanh không còn là phương tiện giải khát hay giải trí nữa mà đó là sinh khí. Thợ rèn quan niệm uống chè xanh “đượm phổi”. Ngày ấy chỉ thợ rèn là uống chè xanh thả phanh. Khách hàng thập phương luôn lấy lò rèn làm nơi uống chè tán chuyện. Thành ra, nhà thợ rèn thời ấy cứ như là trung tâm thông tin của cả làng cả xã, từ chuyện làm ăn, trai gái, đến chuyện quốc gia đại sự, chuyện thế giới bốn phương. Tất tần tật có hết quanh cái ấm chè xanh. 


Để có được ấm chè xanh om xứ Nghệ đúng nghĩa, cũng cần cách pha hãm mang nét truyền thống của vùng đất này. Lá chè, tốt nhất là chè già, lá dày và giòn, màu xanh đậm. Không uống trà non mơn mởn như bây giờ. Chè ấy rửa sạch, để ráo nước, chờ nước sôi chín mới vò kỹ bằng tay, cho vào bình tích (ấm sành lớn). Tuyệt nhiên không được vò chè quá sớm, vì như vậy lá chè vò rồi, đợi quá lâu sẽ bị ôi, nước không ngon. Tiếp đến là dội qua nước sôi rồi đổ đi để súc chè. Súc chè rất quan trọng, nó vừa làm ấm toàn bộ bình vừa khử tẩy mùi hôi chè. Cuối cùng thì đổ nước sôi ngập lá chè, cho vào ủ ấm trong làn giữ nhiệt. Chè xanh ủ như vậy khoảng 45 phút là uống được. Uống sớm quá chè còn “sống”, hôi lá, không thơm, không đủ độ chát. Nước chè xanh đạt tiêu chuẩn phải vàng sánh, có hương thơm và vị chát. Uống ngụm chè cảm nhận được hương nồng, vị chát ngót đọng mãi trong họng. Vì ngày hè nóng, người Nghệ thường uống chè xanh bằng bát, loại bát sứ men trắng. Bát ấy làm nổi bật màu vàng xanh đặc trưng của thứ chè tươi rất bắt mắt. Uống chè xanh vì vậy phải uống bằng cả miệng lưỡi, cả mũi và mắt. 


Để có chè xanh ngon, có lẽ yếu tố nhiệt độ của nước là quan trọng nhất. Không hiểu các hoạt chất trong lá chè có sự biến đổi thần kỳ nào đó. Hễ chè đun nấu quá lửa, hoặc đựng vào phích cách nhiệt đều chuyển màu đỏ như chè dạo, khó uống. Một điểm nữa là nước chè xanh rất dễ thiu, nên người ta thường có thói quen uống nóng, dù là giữa trưa hè oi ả. Cũng vì thế khi ấm chè xanh nước một đang còn, hễ chêm thêm nước sôi thì sẽ bị thiu và hỏng luôn cả bình. 

Ngược lại với chè xanh mước mới, chè xanh nấu lại (chè dạo) là thứ nước hạ cấp, màu đỏ quạch, mất hương mất sắc. Người Nghệ xưa có câu: “Chè hâm lại, gái ngủ trưa”, là thứ vô duyên… 


Nội dung: Phạm Đức Long 
Ảnh: Hải Vương - Tư liệu 
Thiết kế - Kỹ thuật: Hà Giang 

Lạ và ngon miệng với măng, nhái nướng, cơm lam tại Lễ hội đền Vạn miền Tây Nghệ An

đăng 05:36, 22 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Những món ăn của đồng bào các dân tộc vùng cao như nhái, cơm lam…tại Lễ hội đền Vạn (xã Xá Lượng, huyện Tương Dương) đã tạo nên bản sắc văn hóa ẩm thực ở vùng đất nơi ngã ba sông này. 

Lễ hội đền Vạn (xã Xá Lượng, huyện Tương Dương) diễn ra từ ngày 19-21 tháng Giêng (23-25/2). Đền là nơi thờ danh tướng Đoàn Nhữ Hài thời nhà Trần, người đã có công đánh đuổi giặc Ai Lao. Ảnh: Đào Thọ 


Lễ hội đền Vạn không chỉ là nơi để người dân tưởng nhớ công lao của người xưa mà còn là dịp gặp gỡ và thưởng thức các món ăn quen thuộc của dân tộc bản địa. Trong ảnh: Các khu ẩm thực được chia thành từng nhóm cho các bản để bày bán với rất nhiều món ăn đa dạng và phong phú. Ảnh: Đào Thọ 


Lên với vùng cao, món nướng với hương vị đặc trưng riêng của vùng cao là thực phẩm khoái khẩu của nhiều người. Một trong những món ăn được nhiều thực khách lựa chọn là nhái nướng. Ảnh: Đào Thọ 


Đang là mùa măng đắng nên người dân cũng tranh thủ mang đến lễ hội để nướng cho khách thập phương thưởng thức. Ảnh: Đình Tuân 


Những ống cơm lam, những oi xôi nếp rẫy thơm lừng cũng là sự lựa chọn của nhiều du khách sau nhiều giờ thăm thú cảnh sắc đền. Ảnh: Đào Thọ 


Các món moọc nòng nọc, moọc rêu, canh pỉa...cũng được bày bán trong lễ hội. Ảnh: Đình Tuân 


Những loại bánh mang hương vị ngày Xuân vùng cao như bánh sừng trâu, bánh tét được làm từ nếp rẫy thơm ngon thu hút nhiều người tới dự lễ. Ảnh: Đào Thọ 


Lễ hội đền Vạn thực sự đã đem lại cho nhiều người một sự trải nghiệm mới về văn hóa ẩm thực. "Chúng tôi vượt đường hơn 100 km lên đây vừa thắp hương vừa thưởng thức các món ăn mà từ trước tới giờ chưa từng được thấy. Nói chung lạ và ngon" - anh Nguyễn Viết Sơn đến từ huyện Anh Sơn nhận xét. Ảnh: Đình Tuân 


Hàng nghìn người đến đền Vạn - Cửa Rào trong dịp lễ hội năm nay. Ảnh: Đình Tuân 


Đền Vạn - Cửa Rào lung linh về đêm trong dịp lễ hội này. Ảnh : Đình Tuân 


Đào Thọ - Đình Tuân

Đặc sản thịt chuột của Việt Nam lên tạp chí National Geographic

đăng 02:39, 21 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Mô tả cảnh làm thịt chuột có phần rùng rợn, cuối cùng nữ nhà báo Christine Dell'Amore thừa nhận miếng thịt chuột trong miệng cô 'thật sự rất ngon, như phô mai que".

Chuột đồng sau khi được làm sạch sẽ được thui rơm trước khi bán ra chợ - Ảnh chụp màn hình


Cô Christine tới Châu Đốc, An Giang hồi Tết Nguyên đán. "Tôi cá là ở miền quê kiểu này, món thịt chuột chắc chắn chẳng phải loài gặm nhấm hay thấy dưới cống đâu" - Christine viết về quyết định chọn thưởng thức thịt chuột thay vì thịt dơi mà cô gọi là hơi phiêu lưu.

"Nếu thấy ngạc nhiên, có thể là do bạn đang tưởng tượng tới cảnh một con chuột đen thùi lùi nằm trên dĩa. Có hàng chục loài chuột, và người Việt Nam thường chỉ ăn hai loại: chuột đồng nặng khoảng 200gram và chuột cống nhum có thể lên tới 1kg".

Theo Christine, có tới 89 loài gặm nhấm có thể ăn được, trải dài châu Á sang châu Phi, Mỹ Latin và cả Bắc Mỹ. Mỗi năm Đồng bằng sông Cửu Long "sản xuất" tới 3.600 tấn thịt chuột, với giá trị tới 2 triệu USD.

Grant Singleton, một nhà khoa học nghiên cứu về loài gặm nhấm, nói những người ngoại quốc đã ăn thịt chuột thường nói giống thịt gà, nhưng với ông, thịt chuột ở Việt Nam dai hơn và ngon như thịt thỏ.

Những con chuột đồng mới bắt ở Quảng Ninh - Ảnh chụp màn hình


Ông Thy khoe với nhà báo Mỹ con chuột vừa bắt được. "Chuột hoang dã ở Việt Nam có rất ít ký sinh trùng" - báo Mỹ viết - Ảnh chụp màn hình


Đội bắt chuột của ông Thy đang dàn trận. Thịt chuột đem lại nguồn thu nhập cho các nông hộ nhàn rỗi - Ảnh chụp màn hình


Chuột được làm sạch lông bằng nước sôi - Ảnh chụp màn hình


Những con chuột này chỉ vừa được làm sạch lông, vẫn còn nguyên nội tạng - Ảnh chụp màn hình


Chuột thui rơm được bày bán ngoài chợ - Ảnh chụp màn hình


Nhiều người Việt thích mua chuột sống về nhà để tự làm, để đảm bảo chất lượng - Ảnh chụp màn hình


Một số nhà báo Mỹ đã từng ăn thử thịt chuột thừa nhận món này rất giàu dinh dưỡng, nhiều protein và ít chất béo - Ảnh chụp màn hình


BẢO DUY

Vị ngọt rau rừng Thất Sơn

đăng 01:26, 17 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ngày nay, rau rừng hoang dại ở Bảy Núi đã trở thành món ăn khoái khẩu. Hương vị ngọt ngào, thanh khiết của rau rừng thiên nhiên đã làm say lòng nhiều lữ khách... 

Rau sạch trứ danh 

Mùa mưa, dưới những tán rừng bạt ngàn ở Bảy Núi, loài thực vật núi phát triển xanh tốt. Đặc biệt, ở núi Cấm (cao trên 716m, thuộc huyện Tịnh Biên), với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu mát mẻ nên rau núi sinh trưởng quanh năm. Những lão “sơn dân” ví von, núi Cấm hứng mây mù lãng đãng, từng chồi non của loài rau hoang dại chắt lọc được tinh túy đất trời, mang vị ngọt lành và tính dược thanh khiết. Bên những dòng suối chảy róc rách, các loại rau như: kim thất, đọt chảo, bình bát, càng cua, bồ ngót, xà lách xoang, cải trời… mọc xanh mơn mởn. Anh Nguyễn Văn Sớt, một sơn dân sống lâu năm trên núi Cấm nói rằng, muốn thưởng thức món canh cua núi ngon trứ danh, bà con ở đây chỉ cần men theo dòng suối bắt cua và hái một nắm đọt chảo cho vào nồi là có nồi canh ngọt lừ, không cần phải dùng đường hay bột nêm. 

Ngày cuối tuần, được sự chỉ dẫn của anh Mỹ - một “thổ địa” miền sơn cước, chúng tôi rong ruổi khắp núi Cấm tìm những loài rau ngon. Vồ Thiên Tuế là nơi được thiên nhiên ban cho triền núi thoai thoải. Khí hậu ở đây mát rượi và dễ chịu y như xứ Đà Lạt ngàn thông. Dưới những tán rừng xanh biếc là vô số loại rau rừng đua nhau mọc. Chú Lê Văn Mót (Chín Mót, 65 tuổi, ấp Vồ Đầu, xã An Hảo, Tịnh Biên) đang leo thoăn thoắt trên thân cây ngành ngạnh để hái đọt non. Chín Mót cho biết, mỗi ngày leo hàng chục cây cao để hái đọt rau rừng, bán cho du khách và chủ bán bánh khọt, bánh xèo tại núi Cấm. Mùa Tết, khách hành hương đến núi Cấm đông như ngày hội, những hàng quán bánh xèo bán đắt “như tôm tươi” nên rất cần một lượng lớn rau núi. “Phải lặn lội vào tận rừng sâu hái rau mới kịp cung ứng. Nhờ rau rừng mà tui có công ăn, chuyện làm quanh năm và thu nhập khá”- Chín Mót khoe.

Chín Mót hái lá ngành ngạnh 


Chín Mót có khoảng 15 năm trong nghề hái rau rừng. Chín Mót thông tin, ngày trước rừng rú um tùm, rau cỏ mọc đầy chẳng ai thèm ăn. Sau này, có vài ba hàng quán bánh xèo mọc lên, người ta tiện tay hái loài rau dại mọc sau nhà để thay thế nguồn rau sống được trồng ở đồng bằng. Ấy vậy, mà khi ăn bánh xèo kèm rau rừng có vị chua, chát, ngọt, ngon không thể tả. “Từ đó, cư dân trên núi toàn ăn các loại rau rừng thay thế rau sống trồng dưới đồng bằng. Ăn bánh xèo, cá nướng, cá hấp kèm với các loại rau rừng thiên nhiên đều tuyệt vời”- Chín Món am tường. Mỗi ngày, Chín Mót hái đến cả chục loại rau, như: ngành ngạnh, chòi mòi, bằng lăng, bứa, cơm nguội, lá lốt, đinh lăng núi, kim thất… để bán. Nhu cầu ăn rau núi của khách hành hương ngày càng nhiều. Muốn mua được loại rau này, các chủ quán bánh xèo phải điện thoại đặt trước để “sơn dân” hái mới đủ bán. 

“Nghề tay trái” 

Cuộc sống bộn bề, nhiều người dân nơi khác ly hương tìm kiếm việc làm mong sao ổn định. Thế nhưng, phần đông hộ dân trên núi Cấm kiên quyết bám trụ tại địa phương vừa chạy “xe ôm”, vừa hái rau rừng, kiếm thêm thu nhập. Hôm trải nghiệm cùng anh Võ Văn Nhị (37 tuổi, ngụ ấp Vồ Đầu, xã An Hảo, Tịnh Biên) trên chiếc “xe ôm” tìm rau rừng, được anh chở qua những cung đường uốn lượn, lên xuống với độ sâu thăm thẳm, tôi lén nhìn xuống vực, đột nhiên bị choáng do không quen với địa hình triền núi. Chạy hơn 2km, đến khu vực điện Bồ Hong, anh Nhị chỉ “ổ” rau kim thất mọc xanh tươi gần con suối chảy róc rách. Cắt từng cọng rau non, anh Nhị nói rằng, ngoài rau kim thất, còn có các loại rau như: cải trời, càng cua, đọt chảo rất dễ tìm. Loài thực vật này thường mọc ở những nơi có mạch nước ngầm ẩm ướt. “Ngày nào hái nhiều, tui thu hoạch từ 40-50kg rau rừng các loại, bán với giá 20.000 đồng/kg, bỏ sở hụi kiếm được vài trăm ngàn đồng. Còn những ngày Tết, tui hái từ 60-70kg, kiếm tiền triệu”- anh Nhị khoe. 

Anh Nhị leo lên cây hái đọt bứa 


Những “sơn dân” đi hái rau rừng có sức khỏe rất cường tráng, do họ, vượt núi và leo cây hàng ngày. Có những loại cây cần hái lá non để ăn cá nướng hoặc cuốn bánh xèo thì phải leo cao. “Lá quỷnh, bứa, ngành ngạnh, chòi mòi, bằng lăng, tui leo lên tận ngọn cây mới hái được. Cây càng to, hái lá non càng nhiều. Mỗi cây hái được từ 3-5kg là chuyện bình thường”- anh Nhị cho hay. Nghề hái rau núi lắm vất vả, gian truân, bởi họ thường đối mặt với nguy hiểm, do leo lên những cây cao vắt vẻo mà không có dây bảo vệ an toàn. Ngoài ra, trong quá trình đi rừng, thi thoảng họ đối mặt với thú dữ hoặc côn trùng, rắn độc. 

Đọt quỳnh ăn kèm với bánh xèo rất ngon 


Ở núi Cấm, nhiều người biết rành thời điểm nào rau rừng phát triển mạnh. Theo kinh nghiệm của Chín Mót, rau rừng mọc quanh năm, nhưng nhiều nhất là vào mùa mưa (từ tháng 6 đến tháng 9 âm lịch). Nếu năm nào khí hậu thuận lợi thì rau rừng phát triển cho tới Tết Nguyên đán. Nhờ nguồn rau rừng vô tận mà đông đảo người dân có chuyện làm quanh năm. Nhiều năm đi “săn” rau rừng nên Chín Mót và anh Nhị hiểu rất rõ về tính dược của các loại rau rừng trên núi Cấm. “Rau cải trời đem nấu canh ăn có vị ngọt, trị được bệnh thương hàn và sốt. Còn đọt hồng ngọc, ăn có vị chát nhẹ, trị bách bệnh. Riêng rau kim thất, càng cua, giàu dinh dưỡng chuyên trị chóng mặt, mất máu…”- Chín Mót liệt kê. 

Hàng ngày, những quán bánh xèo ở núi Cấm tiêu thụ hàng trăm ký rau rừng các loại. Khu vực chùa Phật Lớn và xung quanh hồ Thủy Liêm, vồ Đầu, vồ Thiên Tuế, điện Bồ Hong… có khoảng 200 quán bánh xèo. Vào các ngày lễ hội, ngày rằm lớn, du khách đến ăn bánh xèo đông đúc, kéo theo nghề hái rau núi “ăn nên làm ra”. Rau rừng ở đây mọc tự nhiên, không sử dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật nên lữ khách không ngần ngại mua về thưởng thức. 

THÀNH CHINH

Độc đáo ẩm thực Bảy Núi

đăng 01:21, 17 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Nhắc đến Bảy Núi, người ta hay liên tưởng đến vùng đất của những điểm check-in lý tưởng với phong cảnh hùng vĩ, trữ tình. Tuy nhiên, Bảy Núi còn là thiên đường ẩm thực với những món ăn dân dã, đậm chất văn hóa địa phương.

Ẩm thực theo “địa điểm” 

Cháo bò Tri Tôn, gà đốt Ô Thum hay bánh canh Vĩnh Trung là 3 trong nhiều món ăn thú vị mang phong cách ẩm thực theo “địa điểm” tại vùng Bảy Núi. Có lẽ, nơi xuất phát đặc sản được thực khách gắn cho món ăn như một kiểu chỉ dẫn địa lý để người khác theo đó mà tìm đến. Có dịp đến Bảy Núi nhiều lần nên chúng tôi có điều kiện thưởng thức những món ăn đặc trưng này. Nếu cháo bò Tri Tôn trở nên gần gũi thì gà đốt Ô Thum càng nổi tiếng hơn với thực khách gần xa, nhất là những bạn trẻ đam mê “xê dịch” . 

Món gà đốt Ô Thum ngon khó cưỡng 


Chẳng biết dịp tình cờ nào mà món gà đốt lại “hội ngộ” một cách hoàn hảo với khung cảnh thiên nhiên hữu tình của hồ Ô Thum (xã Ô Lâm, Tri Tôn). Có lẽ, muốn thưởng thức gà đốt Ô Thum ngon nhất phải đến đây vào mùa mưa. Khi ấy, hồ đầy nước, mặt nước tĩnh lặng như chiếc gương soi đỉnh Phụng Hoàng Sơn mây phủ. Ngồi trong quán thưởng thức món gà đốt và ngắm cảnh thiên nhiên không gì thú vị bằng. Khi con gà chín vàng rợm được bày ra kèm theo dĩa gỏi bắp chuối hột, bắp cải và chén muối ớt pha chế đặc trưng khiến thực khách “cầm lòng không đặng”. Cái vị ngọt tự nhiên của thịt gà pha lẫn mùi lá sả, lá chúc cứ kích thích vị giác thực khách, khiến mọi người phải no căng bụng mới thôi! 

Hiện tại, giá gà đốt tại các quán trong khu vực Ô Thum khoảng 200.000-300.000 đồng/con (tùy trọng lượng). Muốn thưởng thức món gà đốt, bạn phải gọi điện thoại đặt trước bởi các quán lúc nào cũng đông thực khách. Bạn Nguyễn Thu Anh (một thực khách đến từ TP. Hồ Chí Minh) hào hứng: “Lần đầu tiên đến với Bảy Núi mới thấy phong cảnh ở đây rất đẹp, món gà đốt khỏi phải chê. Trước đây, tôi ao ước được đi “phượt” vùng này và thưởng thức món ăn đặc sản. Tôi thực sự rất ấn tượng với món ngon vùng Bảy Núi, dù chỉ là những món ăn chơi như: đu đủ đâm hay thốt nốt sữa ở Châu Lăng. Nếu có thời gian, tôi muốn được làm một chuyến đi giáp Bảy Núi để thưởng thức hết những món ăn dân dã của nơi này!”. 

Ẩm thực… côn trùng 

Bên cạnh những món ngon có tên gắn với địa danh, Bảy Núi còn có những món ăn xuất phát từ… côn trùng. Có thể lấy bọ rầy làm ví dụ. Loài bọ này chỉ xuất hiện vào mùa mưa và trở thành món “độc chiêu” của các quán nhậu. Với cái tên mới nghe đã “ghê ghê”, bọ rầy không phải là món dễ nuốt với những ai mới lần đầu nhìn thấy, nhất là khi chúng còn bò lổm ngổm trong lồng. Qua bàn tay chế biến của những đầu bếp địa phương, bọ rầy lột xác với hương vị thơm, giòn đặc trưng. Thời gian để thưởng thức món này không kéo dài, khoảng 1-2 tháng đầu mùa mưa. Bởi đã trở thành đặc sản nên người dân Bảy Núi hay đi bắt bọ rầy để tăng thu nhập. Thông thường, họ bán bọ rầy với giá 2.000-4.000 đồng/con (tùy thời điểm). 

Bọ rầy khi còn sống 


Anh Nguyễn Thanh Thiện (người dân thị trấn Nhà Bàng, Tịnh Biên) khá quen thuộc với món ăn độc đáo này. Anh Thiện chia sẻ, ngày trước bọ rầy khá nhiều, nhất là khu vực quanh chân núi Dài Năm Giếng, núi Trà Sư, núi Kéc. Hiện nay, người dân tìm bắt nhiều nên giảm dần số lượng. “Con bọ rầy mang về ngắt bỏ cánh, bỏ chân, ngâm nước muối cho hết mùi gắt. Người nào siêng thì bằm thịt, đậu phộng nhét vô bụng chúng. Sau đó cho bọ rầy vào chảo dầu sôi, đảo đều chừng 20 phút. Khi nghe mùi thơm bốc lên đã có món bọ rầy ngon… bá cháy!” - anh Thiện giới thiệu. Ngoài bọ rầy, người dân Bảy Núi sẵn sàng cho vào chảo những loại côn trùng khác, trong đó có ve sầu và kiến vàng. Thời gian gần đây, nhiều quán ăn đã phục vụ món bò xào kiến vàng với hương vị rất đặc trưng. Với vị ngọt của thịt bò, vị chua chua của những con kiến vàng và hương thơm đặc trưng của lá bùm xụm hòa quyện cùng nhau sẽ dễ dàng chinh phục những thực khách khó tính. 

Bọ rầy khi trở thành đặc sản 


Với sự độc đáo về thiên nhiên cùng văn hóa, Bảy Núi đang sở hữu phong cách ẩm thực rất riêng. Vì vậy, cần có hướng kết nối, đưa những món ăn dân dã này vào bản đồ du lịch của vùng, qua đó góp phần quảng bá món ngon Bảy Núi đến với đông đảo thực khách gần xa. 

THANH TIẾN

Du xuân thưởng thức ẩm thực Tây Thiên

đăng 00:52, 15 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Hành hương về núi Tây Thiên (Vĩnh Phúc) du xuân, du khách sẽ có cơ hội thưởng thức những món ăn đậm đà dư vị của vùng đất này.

Vào xuân, mỗi ngày danh thắng Tây Thiên đón hàng vạn du khách

 

Hoa đào phai khoe sắc dưới nắng xuân dọc con đường đi lên núi Tây Thiên

 

Dọc đường đi, những hàng quán được người dân mở ra để phục vụ du khách dừng chân thưởng thức những món ăn bản địa

 

Người dân bày bán rau su su, một đặc sản của vùng đất này

 

Những bó rau su su xanh non mỡ màng trong tiết trời mùa xuân

 

Trứng nướng là món ăn đặc trưng của núi Tây Thiên thu hút đông đảo du khách thưởng thức.

 

Những quả trứng gà đồi được nướng cùng khoai lang mật khá hấp dẫn

 

Đặc sản củ sắn dây luộc được người dân bày bán dọc đường lên núi

 

Gà nướng là món ăn không thể thiếu tại khu danh thắng Tây Thiên

 

Cơm lam ống nứa sẽ mang lại cho du khách cảm nhận thú vị về ẩm thực Tây Thiên

 

Măng rừng ngâm chua được bán cho du khách mang về nhà chế biến món ăn

 

Măng ớt đậm đà dư vị

 

Những sản vật đồng quê cũng có mặt dọc đường đi lên núi.

 

Bánh củ mài được người dân chế biến và bày bán ngay dưới chân núi

 

Một cửa hàng ở Tây Thiên có thể phục vụ nhiều món ẩm thực khác nhau để du khách lựa chọn


Nguyễn Thế Lượng

Phở Clinton - cà phê Trudeau - thực đơn Bush ở Sài Gòn

đăng 00:44, 13 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Phở, cà phê cóc hay mít non trộn... là những món mà các nguyên thủ Quốc gia đã thưởng thức trong chuyến thăm Việt Nam tại TP HCM. 

Phở Clinton

Năm 2000, trong chuyến thăm Việt Nam cùng vợ và con gái, Tổng thống Bill Clinton đã phải lòng món phở ở Hà Nội. Vì thế, khi vào Sài Gòn, vợ chồng ông đã ghé quán phở bên hông chợ Bến Thành để thưởng thức. Về sau, quán đổi tên thành Phở 2000 để đánh dấu cột mốc đáng nhớ khiến nó trở nên nổi tiếng. Lâu dần, người ta quen gọi đây là 'quán phở Clinton' cho dễ nhận dạng.


Nước dùng của phở 2000 không nhiều nước béo nên không gây ngán. Tuy nhiên theo nhiều người đánh giá thì hương vị của nó không có gì đặc biệt, ngoài món phở hải sản lạ miệng ít nơi nào bán, bên cạnh những món quen thuộc như phở bò, gà, bò sốt vang, phở chay. So với những quán khác thì giá đồ ăn ở đây không rẻ, khoảng 75.000 - 99.000 đồng/tô tùy bạn lựa chọn. Bù lại phần ăn khá to, đủ cho một người lớn ăn no nê. Ngoài phở, quán còn phục vụ vài món Việt như chả giò, bún thịt xào, cơm...


Địa chỉ: 1 - 3 Phan Chu Trinh, phường Bến Thành, quận 1.

Cà phê Thủ tướng Canada

Sau khi ăn sáng, bạn có thể 'theo chân' Justin Trudeau - Thủ tướng Canada - thưởng thức ly cà phê cóc trên đường Lê Thánh Tôn, cách "phở Clinton" chỉ khoảng 400 mét. Trước khi trở thành cơn sốt nhờ sự ghé thăm của vị Thủ tướng trẻ tuổi này cuối năm 2017, cà phê Vy đã là một trong những địa chỉ lê la quen thuộc của giới văn phòng quận trung tâm Sài thành. 


Giá thấp nhất cho một ly cà phê là 35.000 đồng, cao hơn so với các quán cà phê vỉa hè bình dân khác nhưng quán vẫn sẵn một lượng khách quen cố định, lui tới mỗi ngày vì cà phê hạt rang xay tại chỗ chiếm trọn cảm tình của dân nghiện cà phê. Không ít du khách đi ngang qua phải dừng lại "nghía" xem do tò mò bởi sự đông đúc ở đây vào mỗi sáng, dù không phải ai cũng có thể thưởng thức được loại cà phê pha phin đặc trưng khá đậm, đắng hơn so với cà phê pha bằng máy. Nếu không uống quen thì dễ bị say, nhức đầu thậm chí là mệt tim. 

Địa chỉ: 277E Lê Thánh Tôn, phường Bến Thành, quận 1.

Thực đơn Tổng thống Bush

Tháng 11/2006 cựu Tổng thống Mỹ George Bush đến nhà hàng Tib trên đường Hai Bà Trưng, quận 1 để dùng bữa cùng cựu Thủ tướng Australia John Howard. Ông Bush chọn món càng cua bách hoa, chả giò tôm và chủ nhà hàng làm thêm món gỏi mít non, súp hạt sen đựng trong trái dừa, bánh lá chả tôm và chè hạt sen bọc nhãn phục vụ khách quý. Sau này, nhiều khách đến đây cũng nhờ nhân viên gợi ý thực đơn mà ông Bush từng gọi.


Dù tọa lạc ngay mặt tiền con đường thường xuyên kẹt xe, nhưng không gian ở Tib yên tĩnh, tách biệt với cảnh nhộn nhịp, xô bồ bên ngoài nhờ nằm sâu bên trong, lối vào hẹp mà nếu không để ý kĩ, bạn rất dễ bỏ lỡ. Quán chủ yếu phục vụ các món Huế nên cách trang trí mang hơi hướng cung đình. Nội thất, bàn ghế kiểu cổ, tường treo những bức tranh xưa cộng thêm màu vàng chủ đạo tạo không khí ấm cúng. Đồ ăn ở đây khá ổn, nêm nếm vừa miệng, thích hợp để đãi tiệc hoặc họp mặt gia đình. Giá cả dao động 30.000 - 180.000 đồng/món. Nếu gọi phần ăn tương tự như Tổng thống Bush, bạn tốn khoảng 300.000 đồng/người là phủ phê.


Địa chỉ: 187 Ter Hai Bà Trưng, phường 6, quận 3.

Vi Yến

Dê núi - đặc sản nhất định phải thử khi đến Ninh Bình

đăng 02:21, 6 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Ngoài tham quan khung cảnh kỳ vĩ của Tràng An hay Tam Cốc, bạn đừng quên thưởng thức đặc sản chỉ ăn tại Ninh Bình mới ngon. 

Thịt dê núi xuất hiện ở nhiều vùng miền Việt Nam, tuy nhiên Ninh Bình là nơi được nhiều thực khách đánh giá có món ăn chế biến từ dê ngon nhất. Dê núi ở đây từng lọt vào danh sách 50 món đặc sản Việt (được Trung tâm kỷ lục Việt Nam xác lập năm 2012).

Những đàn dê được chăn thả bên sườn núi. Ảnh: Phong Vinh. 


Vị ngon đặc trưng của dê Ninh Bình là do cách chăn nuôi nơi đây. Người dân không nhốt dê trong chuồng trại như ở các vùng khác mà thả tự do trên núi. Con vật leo trèo trên vùng địa hình hiểm trở nên thịt săn chắc và ít mỡ.

Thịt dê có chất lượng tốt do được ăn các loại rau cỏ mọc tự nhiên, trong đó có nhiều cây thuốc quý. Vùng núi đá vôi ngập nước 250 triệu năm còn có những loại rau rừng ăn kèm thịt dê càng khiến món ăn thu hút thực khách nhiều vùng miền.

Theo đúng chuẩn, thịt có độ mềm vừa phải, không quá dai, có mùi hơi hôi đặc trưng nhưng không nồng như dê vùng khác. Khi ăn, bạn dùng kèm chanh, gừng, ớt, sả, riềng, lá sung, lá mơ, chuối xanh cùng các loại rau sống để làm bớt mùi hôi và làm nổi độ ngọt của thịt lên.

Thịt dê tái chanh là món mà thực khách dễ dàng cảm nhận được mùi dê nhất. Ảnh: Phong Vinh. 


Hai loại nước chấm dùng trong món dê là tương bần và nước mắm gừng. Tương bần được nhiều thực khách thích hơn vì có vị mặn vừa phải, thơm mùi đậu tương và nếp cái hoa vàng, ăn kèm thịt dê rất thanh.

Đặc sản dê núi Ninh Bình có đến 20 món như tiết canh, thịt dê tái chanh, áp chảo, xào sả ớt, nướng mọi, hầm, hấp, lẩu... được chế biến từ hầu hết các bộ phận của con vật.

Để cảm nhận được rõ hương vị thịt dê Ninh Bình, thực khách nên thử món dê tái chanh được nhiều người sành ăn và các nhà hàng gợi ý. Chủ hàng hấp chín thịt dê rồi trộn nước cốt chanh, sả, riềng, mè rang, chứ không sử dụng nhiều gia vị khiến vị thịt bị lấn át.

Thịt dê áp chảo cũng là món được nhiều khách ưa chuộng. Ảnh: Phong Vinh. 


Hiện nay, có nhiều ý kiến phản hồi một số nơi ở Ninh Bình không bán thịt dê chuẩn chất lượng. Để tìm được các hàng quán uy tín, thực khách nên tìm đến vùng núi như Hoa Lư, xung quanh khu du lịch sinh thái Tràng An, Tam Cốc... Một phần thịt dê chế biến sẵn có giá từ 100.000 đến 250.000 đồng tùy món và độ nhiều. 

Phong Vinh - Tâm Linh

Vừa cháo vừa bánh vừa canh

đăng 00:11, 6 thg 3, 2019 bởi Pham Hoai Nhan

Tôi được bạn bè dắt đi ăn nhiều món ngon Quảng Trị, như bánh ướt Phương Lang, bánh lọc Mỹ Chánh, canh ám làng Lam, nhưng vẫn cứ thòm thèm món cháo bột Kẻ Diên.


Khi bàn về ẩm thực Việt Nam, GS. Tomita Kenje (Nhật Bản) có một nhận xét rất tinh tế, rằng: "Phong cách ăn của người Việt Nam đôi khi còn đậm tính dân tộc hơn cả ngôn ngữ". 

Văn hóa ẩm thực là sự khởi nguồn của văn hóa loài người, vì con người muốn sống, trước hết phải ăn, và "phong cách ăn của người Việt Nam", trong đó có món cháo bánh canh, đúng như nhận xét của GS. Tomita Kenje. 

Có lần ngồi nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường về ẩm thực, nhắc đến cháo bột, nhà văn bảo đó là cháo bánh canh, tức vừa cháo vừa bánh vừa canh - một cách chế biến "tổng hợp" của người nghèo. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường khẳng định, cháo bột cá lóc Quảng Trị, mà cụ thể là ở Diên Sanh là cái gốc của món bánh canh Việt Nam. 

Ở Huế bánh canh có nhiều. Ở Quảng Bình nhiều nơi cũng có món này. Nhưng chỉ có người Quảng Trị gọi là cháo bột. Gọi như thế nó dân dã chân chất, đúng bản chất hơn. 

Mạ tôi người Quảng Trị, nấu ăn rất ngon. Mạ hay nấu cháo bột cho tôi ăn lúc nhỏ. Ở làng biển khó mua cá tràu (cá lóc) nên mạ hay nấu cháo bột với cá nục, cá thu. Bà nói, ngày xưa người Quảng Trị gọi bánh canh là cháo vạc giường, vì con bột nó giống một đoạn vạc giường bằng tre mà ở Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên rất nhiều nhà có để trải chiếu lên nằm. 

Bây giờ thì bánh canh cá lóc đã có ở Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ..., tất nhiên mỗi vùng một vị riêng, như miền Nam thì thêm đường, miền Bắc thì ít cay... Nhưng muốn ăn bánh canh cá tràu đúng vị gốc thì phải đến Diên Sanh, hay còn gọi là Kẻ Diên, và nếu ăn nhiều sẽ ghiền! 

Tôi có nhiều ký ức về món cháo bột cá tràu Diên Sanh. Năm 1980, từ Huế, tôi ra dạy về quản lý thương mại cho học viên Trường Thương nghiệp Bình - Trị - Thiên đóng tạm trong một trại gia binh của quân lực Sài Gòn trước năm 1975, ở Diên Sanh (huyện Hải Lăng), do thầy Đặng Thông, người huyện Triệu Phong kế bên làm hiệu trưởng. 

Đó cũng là một cách kiếm thêm chút tiền thời bao cấp khó khăn. Diên Sanh hồi đó chỉ là một đồi cát hoang hoải, nhà cửa lợp tôn thưa thớt. Muỗi nhiều đến mức ban ngày khi không lên lớp, tôi phải ngồi trong màn để soạn bài hoặc đọc sách. 

Kẻ Diên có bài dân ca về triết lý sống vô cùng thâm thúy: "Tháng giêng tháng hai/ Tháng ba tháng bốn/ Tháng khốn tháng nạn/ Đi vay đi tạm được một quan tiền/ Ra chợ Kẻ Diên mua con gà mái về nuôi/ Hắn đẻ ra chục trứng/ Một trứng ung/ Hai trứng ung/ Ba trứng ung/ Bốn trứng ung/ Năm trứng ung/ Sáu trứng ung/ Bảy trứng ung/ Còn ba trứng nở ra ba con/ Con diều tha/ Con quạ bắt/ Con mặt cắt xơi/ Chớ than phận khó ai ơi/ Còn da lông mọc còn chồi nảy cây". Nghĩa là hết. Nhưng không: Còn da lông mọc còn chồi nảy cây! Bài ca nói về xứ nghèo khốn khó, nhưng dân tình vẫn sống lạc quan. Vâng, đó chính là bản lĩnh của người Diên Sanh, người Quảng Trị! 

Ngoài bài dân ca nổi tiếng ấy, ở Kẻ Diên thời xa xưa có một món ăn còn nổi tiếng hơn, đó là cháo bột cá tràu. 

Một buổi chiều nọ, anh Đặng Thông rủ tôi: "Đạp xe ra chợ Diên Sanh ăn món cháo bột vừa ngon vừa rẻ”. Chợ vùng quê nghèo nhưng dân mấy xã lân cận đều mua bán thực phẩm ở đây nên khá đông đúc. Hai anh em rẽ vào một căn nhà lợp tranh cạnh chợ. Đó là quán cháo bột của mẹ Hanh. Mẹ trạc tuổi 70, nhai trầu, hay cười. 

Quán không có bảng hiệu và chỉ bán vào buổi chiều. Khi chúng tôi đến đã có gần chục người ngồi chờ trên mấy cái ghế đòn đơn sơ ở góc sân, vì cháo chưa chín. Một lúc sau, một thanh niên khỏe mạnh bưng một soong quân dụng cháo bột ra sân. Bà Hanh kê ghế ngồi, cầm cái môi to, cán dài múc cháo cho khách. 

Người thì tô lớn, tô bé, người thì ăng-gô mang về nhà. Được chục phút khách đến rất đông. Có môt người già và mấy nam nữ thanh niên áo quần bảnh bao hăm hở ăn. Tôi hỏi thăm, họ cho biết là Việt kiều ở Mỹ về, là quê Quảng Trị, ngày trước hay vào đây ăn nên thèm cháo bột bà Hanh. Mới bay về Huế lúc sáng là chiều đến đây ngay. 

Bưng tô cháo bột cá tràu nóng hổi, húp thìa nước dùng béo bùi, nhai con bột vừa dai vừa dẻo giòn với miếng cá tràu trắng thơm, quả là "khoái khẩu"! Vị tiêu Cam Lộ, vị lá ném vùng cát thơm phức. Ăn xong, tôi gọi tô nữa, dẫu đã no. Ở Huế, tôi đã ăn bánh canh Thủy Dương nổi tiếng, nhưng tiêu, lá hành, là răm không dậy mùi, không quyến rũ bằng tiêu, lá ném trong bát cháo bột Diên Sanh. Đúng là danh bất hư truyền. 

Bà Hanh rỉ rả kể cho tôi hay Diên Sanh là nơi khai sinh ra món ăn dân dã nhưng ai cũng nhớ này. Muốn có cháo bột ngon phải có nước dùng ngon, bột gạo phải là giống lúa cũ của Quảng Trị, nhồi thật nhuyễn, bỏ vào nước sôi không nhão, lại có độ dẻo vừa phải, cá tràu phải bắt dưới sông, dưới ruộng. 

Còn gia vị thì không có gì cầu kỳ: nước mắm ngon, đặc biệt phải có củ ném, càng ngon khi có lá ném thay lá hành vì nó vừa thơm vừa át hẳn mùi tanh của cá. Cá tràu luộc, gỡ thịt nguyên miếng, ướp đủ gia vị rồi rim cho săn. Đầu cá, xương cá giã nhỏ, bọc trong vải màn, đun lấy nước dùng. Lá ném thái thật ngắn, bánh canh múc ra tô mới cho vào. Cháo bột phải cay mới ngon, nên không thể thiếu lọ tiêu, chén ớt bột hay ớt trái, ớt bột để riêng. 

Với tôi, ngon nhất sau cháo bánh canh Kẻ Diên là cháo bột Quang ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Cháo bột Quang cũng học lỏm cách chế biến cháo bột ở Diên Sanh. 

Tôi quen Phan Văn Quang vì anh là người làm thơ, hay vào Huế đọc thơ, uống rượu với bạn bè văn nghệ. Thơ Quang đẫm chất bụi đời: Trải chiếu giữa sàn/ Mưa chém vào phên nứa/ Chai rượu đứng nghiêm chào những người bạn cũ/ Đĩa mồi mấy con mực nằm nghiêng/ Xưa như trái đất/ Vẫn còn thằng áo rách/ Manh chiếu lủng tròn thành chiếc mâm (Tĩnh vật sống). 

Quang là nhân viên phát hành Tạp chí Cửa Việt thời nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường làm tổng biên tập. Khi Cửa Việt bị đình bản, Quang thất nghiệp, bàn với vợ là giáo viên bỏ dạy nấu cháo bột bán. Rứa mà thành thương hiệu cháo bột Quang nức tiếng. 

Cháo bột của Quang ngon đến nỗi cứ đến khoảng ba bốn giờ chiều là khách xa gần ngồi chật trong nhà, ngoài sân, ngoài vườn. 

Ngày nào cũng vậy, cứ quá trưa là vợ đứng bếp, múc cháo, chồng, con bưng bê phục vụ khách. Nhiều quan khách trung ương về Quảng Trị được các ngành đãi cháo bột Quang. Mỗi lần ra Đông Hà, buổi sáng tôi ngồi quán nước, gọi Quang, Quang chỉ ghé mươi phút, nhấp tí cà phê rồi xin phép đi mua cá tràu cho vợ, hẹn tối lại nhà lai rai với thơ phú. Cá tràu phải là cá đồng, mua ở chợ quê, chứ cá nuôi thịt nhão, nấu cháo bột không ngon. 

Quang đi chiếc xe đam máy nổ ầm ào ra chợ Cầu, huyện Do Linh, vào chợ Thành Cổ mới mua được loại tràu ưng ý. Đó là loại cá to bằng cổ tay trở lên, nhiều thịt, ít xương hom. Cá nhỏ quá làm mất thời gian mà lại nhiều xương. Đi chợ về lại làm cá cho vợ ướp, vợ rim. 

Cuộc sống vất vả như thế 5 năm liền đã giúp vợ chồng Quang nuôi con ăn học, mua đất làm nhà. Và quan trọng hơn, Quang đã góp sức làm cho món cháo bột cá tràu Quảng Trị nổi tiếng hơn - trở thành thương hiệu ẩm thực đặc trưng của vùng đất nổi tiếng khắp thế giới bởi cuộc chiến tranh vừa qua. 

Quang cũng có thơ về cháo bột nuôi thân: Vợ tôi mở hàng cháo nuôi con/ Tôi mất việc trở thành người có việc/ Gã làm thơ hành nghề cháo bột/ Cháo nuôi tôi giữ trọn trái tim người (Không đề). 

Hương vị cháo bột Quang chính là hương vị cuộc đời, chính là hương vị cháo bột cá lóc Diên Sanh! 

Diên Sanh hôm nay là thị trấn huyện lỵ của huyện Hải Lăng. Phố nhà khang trang, đường nhựa xuống tận biển. Quán cháo bột cá tràu ngày một thêm nhiều. Mùi cháo bột thơm lừng cả một đoạn phố. Đông khách nhất là quán chị Thức. Một tô to 20.000 đồng, ăn no còn thòm thèm. 

Một món ăn dân dã tồn tại hằng trăm năm và ngày càng hút khách - đó là một thương hiệu ẩm thực bền vững của Quảng Trị...

Minh Khôi 

1-10 of 23