Ăn để mà sống, nhưng cũng phải sống để mà ĂN!

Bài mới

  • "Lộc trời" của Tây Nguyên Mọc chủ yếu ở vùng đồi núi khu vực miền Trung và Tây Nguyên, 4 năm mới ra hoa kết trái 1 lần, vì thế, quả ươi được coi là ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Hấp dẫn các món ăn từ rau chơr của người M’nông Người M’nông sinh sống gắn bó với núi rừng. Vì vậy, họ xem những loại cây trái trong tự nhiên là sản vật và có thể chế biến thành ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Canh môn của người Ê đê Canh môn (theo tiếng gọi người Ê đê là Djam bua) là một trong những món ăn độc đáo, đậm chất truyền thống của người Ê đê trên địa bàn ...
    Được đăng 05:36, 12 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Hương vị rừng Bảy Núi Mùa mưa đến cũng là lúc cây rừng Bảy Núi đơm bông, kết trái. Với nhiều người, trái cây rừng tuy không cao lương mỹ vị nhưng lại ẩn chứa ...
    Được đăng 03:12, 12 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Bánh canh cua xứ Huế Viên chả cua trong bánh canh cua có nguyên liệu cầu kì hơn chả cua trong bún bò, bởi nó là "linh hồn" của cả món ăn.Mang hương vị ...
    Được đăng 22:05, 1 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 25. Xem nội dung khác »


"Lộc trời" của Tây Nguyên

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Mọc chủ yếu ở vùng đồi núi khu vực miền Trung và Tây Nguyên, 4 năm mới ra hoa kết trái 1 lần, vì thế, quả ươi được coi là “lộc trời”. 

Trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, cây ươi sống chủ yếu dọc các con suối và sông Đồng Nai đoạn qua huyện Đắk R’lấp… Năm nay, cây ươi lại cho quả, bắt từ tháng 4 và có thể kéo đến cuối tháng 6. Thời tiết hạn hán kéo dài nên ươi trên địa bàn tỉnh Đắk Nông được xem là “được mùa”. 

Quả ươi được người dân thu lượm dọc sông Đồng Nai, đoạn qua xã Hưng Bình (Đắk R'lấp) đầu năm nay 


Cây ươi có độ cao trung bình từ 30m trở lên, thân thẳng, lên tới đọt mới phân nhánh. Quả ươi còn được gọi là quả đười ươi. Quả dài 10-20 cm, vỏ mỏng, dễ bóc, mặt ngoài màu đỏ, nâu, mặt trong màu bạc. Quả ươi có giá trị cao nhất là loại ươi bay, tức là quả ươi đã chín và rụng khỏi cây, bay rụng xuống xung quanh gốc. Quả ươi thường sát trên lá. Quả cùng lá bay rụng trong vòng bán kính hơn 100m. Người dân chỉ cần đi xung quanh gốc và khu vực gần đó để thu lượm quả ươi chín. 

Khi được mùa, mỗi cây ươi có thể thu lượm được khoảng 30 kg quả trở lên. Người lượm thường phân quả thành hai loại là quả ươi trâu và quả ươi sẻ. Quả ươi trâu có kích thước to và dài. Khi chín rụng, quả ươi trâu có màu ngà ngà đỏ, giống màu cánh gián, vị chát hơn ươi sẻ. Loại quả này thường ít thấy, số lượng không nhiều. Quả ươi sẻ thường có kích thước nhỏ hơn ươi trâu. Khi chín rụng, quả có màu từ vàng tươi đến ngà vàng, vỏ mỏng, nở nhanh hơn. 

Quả ươi tự bung vỏ khi ngâm nước 


Theo kinh nghiệm của người dân, cây ươi phải trên 20 năm mới cho nhiều quả chu kỳ 4 năm cho quả một lần. Cho nên loại quả này rất quý hiếm, vừa là thảo dược chữa bệnh, vừa là một loại thức uống bổ dưỡng và thơm ngon. Quả ươi có vị ngọt nhẹ, mát, giòn sần sật như thạch. Khi ngâm loại quả này trong nước chúng sẽ nở to hơn bình thường gấp nhiều lần nên mọi người còn gọi nó là hạt nở. 

Cách làm nước giải khát từ quả ươi cũng khá đơn giản. Trong mùa nắng nóng, nước ươi được người dân ưa chuộng để giúp thanh nhiệt, giải độc, làm mát cơ thể. Quả ươi không chỉ dùng làm thức uống giải khát, bổ mát trong ngày hè nóng bức mà chúng còn được sử dụng như một vị thuốc nam, giúp cải thiện viêm họng mãn tính, dùng khi cơ thể bị táo bón, ho khan, đau họng, sốt âm ỉ, nhức răng, mụn nhọt,... 

Nước pha từ quả ươi thơm mát, thanh nhiệt và bổ dưỡng 


Hiện nay, quả ươi được thương lái thu mua với giá từ 150.000 - 200.000 đồng/kg. Do giá cao nên gần đây, việc thu hái không còn đơn thuần là đi lượm quả ươi chín bay nữa mà người dân thu cả các trái già còn trên cây hoặc những trái còn xanh bằng cách chặt cành, thậm chí là đốn hạ cây để thu hái. Việc chặt hạ cây ươi để thu quả đang gây ảnh hưởng mạnh tới hệ sinh thái tự nhiên. Nếu chạy theo thị trường mà tận thu cả quả còn non hoặc chặt hạ cây thì trong tương lai, cây ươi sẽ có nguy cơ bị tận diệt. 

Bài, ảnh: Nguyễn Nam

Hấp dẫn các món ăn từ rau chơr của người M’nông

đăng bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật ]

Người M’nông sinh sống gắn bó với núi rừng. Vì vậy, họ xem những loại cây trái trong tự nhiên là sản vật và có thể chế biến thành món ăn hoặc vị thuốc quý. Cây chơr (theo tiếng gọi của người M'nông) là một loại cây rừng quen thuộc của người dân nơi đây, vừa là món ăn đặc sản nhưng cũng là vị thuốc quý của đồng bào.

Cây chơr hay còn gọi là cây móp gai, rái gai, mớp gai, càng tôm. Cây thường mọc dọc theo bờ ao, ven suối, trong môi trường bán ngập nước. Thân cây ngắn, phình to, mọc lấp lửng trên mặt đất (thường gọi là củ chơr). Rễ từ thân ăn sâu xuống đất. Hoa của cây móp gai vươn cao lên trên lá, cuống hoa tròn, phát hoa là một khối dạng hình vùi trống mang đầy hoa chung quanh… Lá có cuống dạng bẹ rời, trên mép và lưng cuống có nhiều gai nhỏ, khi cuống còn non gai mềm, khi cuống lá già gai sắc nhọn. 

Người M'nông hái rau chơr ở ven sông, suối 


Để có món ăn ngon chế biến từ rau móp gai, đồng bào thường chọn hái từ đọt non. Khi đó lá và bẹ còn non, chưa có gai, ăn giòn sựt. Đọt cây thường được chế biến các món ăn như xào, luộc, muối dưa chua hoặc nấu canh chua. Khi cây chơr có nhiều đọt non, đồng bào dân tộc sẽ thu hái đem về phơi khô, để trên gác bếp bảo quản dùng cho cả năm. Những lúc mưa nhiều, không đi hái rau rừng được, họ lại đem đọt và lá non khô ngâm nước cho mềm, nở đều rồi nấu canh hoặc xào ăn. Canh rau chơr được nấu cùng các loại thịt ăn thơm ngon. Người M’nông thường dùng rau chơr xào với các loại cá khô, đặc biệt là cá cơm. Món ăn này có hương vị độc đáo, hao cơm ngày mưa gió. 

Cây chơr và lá non, đọt phơi khô để dùng cho cả năm 


Ngày nay, nhiều gia đình M’nông thích dùng đọt và lá non của cây chơr làm món gỏi. Rau chơr sau khi hái về được chần qua nước sôi, rồi ngâm với nước khoảng 1 tiếng để nhả bớt chất nhớt và đắng trong rau. Sau đó để ráo và cắt thành từng đoạn vừa ăn. Rau thường được trộn với gà vườn đã luộc chín. Gà được xé nhỏ rồi trộn với rau chơr đã sơ chế, cho thêm chút gia vị muối, bột ngọt, ớt và rau thơm. Khi ăn, món gỏi có vị hơi chua chua và nhân nhẫn đắng của rau chơr, vị cay the thé của ớt, mùi thơm của rau, vị ngọt của thịt gà hòa quyện lại với nhau thành một hương vị thơm nồng, hấp dẫn. Theo kinh nghiệm của đồng bào nơi đây, phần thân củ chơr còn dùng để nấu nước uống giải nhiệt, chữa lở ngứa ngoài da rất hiệu quả. 

Rau chơr khô xào với cá cơm là món ăn ưa thích của người M'nông 


Bài, ảnh: Nguyễn Nam

Canh môn của người Ê đê

đăng 05:36, 12 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Canh môn (theo tiếng gọi người Ê đê là Djam bua) là một trong những món ăn độc đáo, đậm chất truyền thống của người Ê đê trên địa bàn tỉnh Đắk Nông. Món ăn này hội tụ nhiều nguyên liệu tự nhiên và có quy trình chế biến cầu kỳ. Canh môn được xem là món ăn “cộng đồng”, không thể thiếu trong các dịp cúng lễ, đám tang, đám cưới... của người Ê đê.

Môn ngứa và lõi chuối non đã sơ chế để nấu món canh môn 



Theo người Ê đê, món ăn này bắt buộc phải có cây môn, ngon nhất là loại môn ngứa chưa được thuần hóa. Loại môn này còn mọc nhiều ở ven suối, vùng trũng trong rừng. Cây có bẹ nhỏ, lá xanh và gây ngứa. Khi gia đình, buôn làng có tiệc, người Ê đê mới vào rừng hái môn. Bẹ môn đem về bỏ đi phần lá, tước vỏ, rửa sạch rồi cắt thành từng đoạn ngắn. 

Cà đắng, bẹ môn ngứa... dùng để nấu canh môn 


Để chế biến được món canh môn thơm ngon, người Ê đê còn sử dụng một số nguyên liệu khác như xương heo (bò), thịt bò, vếch bò (phần đầu ruột non của bò), lõi cây chuối non, cà đắng, ớt xanh, mít non, đu đủ xanh... Theo khẩu vị của mỗi gia đình mà các nguyên liệu có thể thêm bớt. Tuy nhiên, số lượng dùng nấu cần vừa phải, không quá nhiều để tránh làm mất đi mùi vị đặc trưng của món ăn. Trong đó, lõi chuối cũng là một nguyên liệu đặc biệt, tăng thêm sự độc đáo của món ăn. Theo kinh nghiệm của người Ê đê, món ăn chế biến từ chuối rừng thơm ngon, phải chọn cây không quá non cũng không quá già. Phần thân chuối cũng chỉ chọn đoạn từ gốc đến ngang thân mới ngọt và mềm, chứ không lấy thêm phần ngọn vì lõi chuối sẽ chát. Chuối chặt về, bóc bỏ lớp vỏ già bên ngoài để lấy nguyên phần lõi non có màu trắng, mềm, vị ngọt mát. Khi chế biến, người nấu khéo léo lấy bớt nhựa chuối để loại bỏ bớt vị chát, cho món canh thêm ngon. 

Một nồi canh môn của người Ê đê 


Sau khi sơ chế tất cả nguyên liệu, người Ê đê đun nồi nước sôi lên rồi cho bẹ môn, xương heo (bò), cà đắng, lõi chuối... vào ninh cho thật mềm. Sau đó khoảng một tiếng mới cho thêm thịt bò, vếch bò vào nấu tiếp. Phụ nữ Ê đê còn ưa thích hòa bột gạo và lá yao (một loại lá rừng thường được người Ê đê dùng để làm gia vị) vào để tạo độ sánh và tăng thêm mùi thơm cho món ăn. Cuối cùng là cho ớt xanh, củ nén và một chút gia vị muối, bột ngọt. Khi hương vị thơm lừng tỏa lên ngào ngạt là canh đã hoàn thành, nồi canh sẽ được để trên bếp với lửa nhỏ chờ đến khi ăn mới đem xuống. 

Món canh môn của người Ê đê được giới thiệu trong một hội thi về ẩm thực 


Món canh môn có phần tốn thời gian chế biến hơn so với một số món ăn khác của người Ê đê. Canh ăn sẽ có chút độ sánh và màu xanh đặc trưng của bẹ môn. Khi thưởng thức cảm giác ngay được vị ngọt đậm đà từ xương thịt, một chút đắng từ cà đắng, đu đủ, vếch bò. Mùi thơm của bột gạo, lá yao hài hòa với sự cay nồng của ớt xanh. Vị đắng - cay - ngọt hòa quyện trong món canh là nét đặc trưng trong ẩm thực của người Ê đê. Đặc biệt, bẹ môn khi nấu lên hoàn toàn không còn gây ngứa, chỉ còn hương thơm và vị ngon ngọt đọng lại. 

Món canh môn của người Ê đê 


Mỗi khi trong gia đình hay trong buôn có đám, tiệc, phụ nữ Ê đê lại tụ họp, mỗi người một tay chuẩn bị các nguyên liệu nấu một nồi canh môn thật to. Canh môn bổ dưỡng, thơm ngon, mang hương vị hoang sơ mà tinh tế của núi rừng, chứa đựng giá trị tinh thần sâu sắc của cộng đồng người Ê đê. 

Bài, ảnh: Nguyễn Nam

Hương vị rừng Bảy Núi

đăng 03:12, 12 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Mùa mưa đến cũng là lúc cây rừng Bảy Núi đơm bông, kết trái. Với nhiều người, trái cây rừng tuy không cao lương mỹ vị nhưng lại ẩn chứa tình cảm của quê hương, phảng phất một chút tuổi thơ của những ai lớn lên trong cái nắng, cái mưa của vùng Bảy Núi.

Bảy Núi những ngày mưa đất trời dịu mát. Những cánh rừng cũng vì thế trở nên xanh tươi. Lúc ấy, những đứa trẻ ở miệt bán sơn dã này bắt đầu “mùa ăn vặt” với mấy loại trái rừng. Theo quan niệm dân gian, cây nào không được trồng thuần dưỡng thì sẽ gọi là “rừng”. Bởi thế, những loài cây hoang dại mọc sát vách nhà thì trái của chúng vẫn được gọi là trái rừng như một lẽ tự nhiên. Theo chân người bạn về xã An Cư (Tịnh Biên, An Giang) trong một ngày mưa, tôi men theo mấy con đường mòn dưới những hàng thốt nốt đi tìm trái chồi mồi. 


Cứ ngỡ, trái chồi mồi sẽ to cỡ quả trứng gà nhưng kỳ thực nó còn nhỏ hơn cả đầu đũa ăn. Có điều, chúng mọc thành chùm nhìn rất mê mắt. Trái non có màu xanh, khi chín chuyển sang màu đỏ hơi tím. Anh bạn thân mạnh dạn trèo lên thân cây chồi mồi to lớn để hái mấy chùm trái cho tôi ăn thử. Hương vị đúng thật trái cây rừng. Có một chút chua chua pha lẫn vị ngọt nhẹ. Bởi mỗi chùm chồi mồi có đến vài chục trái nên người ta đưa nguyên chùm vào miệng nhai cho sướng! 

Anh Nguyễn Chí Trung (người dân xã An Cư) kể rằng, trẻ con xứ núi ngày trước đâu có những thứ quà vặt phong phú như bây giờ. Chúng chỉ đợi trời mưa để đón mùa trái cây rừng. Người lớn buồn miệng leo lên cây hái xuống ăn chơi và sẵn tiện cho đám nhóc tì thưởng thức. Tuy trái chồi mồi đơn sơ, chân phương như chính cái tên của nó nhưng cũng từng là quà quý của đám trẻ thơ. Bây giờ, thỉnh thoảng vẫn có người leo lên hái trái ăn dù chồi mồi đã dần vắng bóng bởi người dân mở rộng diện tích đất canh tác nông nghiệp. 


Anh Trung còn cho biết lá cây chồi mồi cũng có vị thuốc nên được người dân sử dụng để điều trị bệnh gân khớp, với hình thức đâm nát rồi bó vào chỗ đau. Dù chưa biết công dụng của lá chồi mồi như thế nào nhưng tôi phải thừa nhận hương vị của nó khá đặc trưng, đúng với cách gọi trái cây rừng Bảy Núi. Ngoài chồi mồi, trẻ con vùng Bảy Núi ngày trước còn có thể ăn trái xay hay trái cơm nguội cũng có hương vị rất riêng. 

Đặc biệt, một số người bạn nói rằng trái cơm nguội có vị giống… cà phê và hơi chát nhẹ khiến tôi cảm thấy tò mò, muốn được một lần nếm thử. Cũng như chồi mồi, cơm nguội là vị thuốc được người dân sử dụng rộng rãi. Vì nhu cầu chữa bệnh ngày càng cao, cây cơm nguội không còn nhiều như trước, mà chủ yếu tồn tại ở những triền núi ít người lui tới. 

Trong số những loại trái hoang dại của vùng Bảy Núi thì nho rừng được biết đến nhiều hơn cả. Bởi lẽ, loại trái này có thể ăn và dùng để ngâm rượu uống. Đã có lần theo chân người dân địa phương đi tìm trái nho rừng, tôi khá bất ngờ khi lần đầu tiên chứng kiến những chùm trái to, nặng trịch treo lủng lẳng trên dây. 

Vì là loại dây leo nên nho rừng sinh trưởng theo những thân cây cổ thụ hoặc mấy rặng tre. Vào mùa mưa, chúng kết trái thành từng chùm và mỗi dây sẽ có rất nhiều chùm trái. Trái nho rừng khi còn sống cũng có màu xanh, lúc chín chuyển sang màu tím trong rất đẹp mắt. 


Trước đây, người dân Bảy Núi chưa quan tâm đến nho rừng và chúng chỉ để đám con nít buồn miệng hái ăn chơi. Dần dần, người ta nghĩ ra cách tận dụng nho rừng để ngâm rượu và cho ra loại “mỹ tửu” có hương vị và màu sắc rất dân dã. Từng nếm thử rượu nho rừng, tôi không thể quên cái vị chan chát hòa quyện với mùi cay nồng nơi đầu lưỡi. 

Thực tế, rượu nho rừng được nhiều người ngâm để đãi bạn hữu và đôi lúc nó cũng là quà quý cho dân phố thị. Vì có giá trị kinh tế nên nho rừng được săn lùng nhiều hơn và cũng khó tìm hơn trước. Tuy nhiên, loại trái mọng nước này vẫn xuất hiện đâu đó trên các góc rừng của núi Phú Cường (xã An Nông, Tịnh Biên) theo cái vòng quay của tạo hóa khi đất trời chìm trong màn mưa trắng xóa. 

Những người bạn của tôi tâm sự rằng, mùa trái rừng Bảy Núi dù rất âm thầm, lặng lẽ nhưng vẫn chất chứa những kỷ niệm của họ từ thuở thiếu thời. Theo thời gian, họ có thể rời xa Bảy Núi vì cuộc sống mưu sinh nhưng ký ức về những loại trái hoang sơ vẫn cứ ùa về, khi mùa mưa mang theo màu xanh phủ kín những cánh rừng trên triền núi xa xa. 

THANH TIẾN

Bánh canh cua xứ Huế

đăng 22:05, 1 thg 7, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Viên chả cua trong bánh canh cua có nguyên liệu cầu kì hơn chả cua trong bún bò, bởi nó là "linh hồn" của cả món ăn.

Mang hương vị đậm đà, ẩm thực Huế luôn để lại nhiều dấu ấn trong lòng du khách. Bên cạnh bún bò Huế nức tiếng, bánh canh cua cũng là món ăn được yêu thích bởi cả du khách và người dân địa phương. Dạo quanh cố đô, du khách dễ dàng bắt gặp nhiều nơi bán bánh canh cua, đa dạng từ cửa hiệu lớn cho đến những gánh hàng rong. Những quán bánh canh có tuổi đời mấy chục năm, hay chỉ vài năm nhưng mỗi nơi đều mang hương vị riêng. 

Tô bánh canh cua nóng hổi, ăn trong tiết trời của mùa hè xứ Huế sẽ toát hết mồ hôi mà vẫn níu chân biết bao du khách. Ảnh: Ngân Dương. 


Với người Huế, món ăn này thường được thưởng thức vào bữa sáng, đồng thời cũng là món ăn đêm hấp dẫn. Sợi bánh canh được làm từ bột gạo, chọn lọc từ những hạt gạo ngon nhất, tốt nhất để làm. Người bán nhồi bột khô cùng nước ấm tạo thành khối bột dẻo, cán bột rồi xắt thành từng sợi nhỏ dài khoảng 10 - 12 cm, dày khoảng 1 cm. Chính vì có cách làm thủ công nên sợi bánh canh rất mềm, thơm và không bị chua như bột làm công nghiệp. 

Nước dùng bánh canh không hề ngán, ngọt nhưng thanh. Cua được ninh trong vòng 2 tiếng, sau đó người bán sẽ nêm nếm các gia vị. Khi nước dùng đã đạt tới độ "chuẩn", người bán cho sợi bánh canh vào để nấu, ngoài ra còn rắc thêm chút bột gạo vào nước dùng để tạo độ sệt. Khi bột đã chín, người bán bắt đầu viên chả cua rồi thả vào nồi. Những viên chả cua có mùi thơm đặc trưng và có độ dai trong từng thớ chả. Mang vị béo ngọt, bùi bùi, nó được làm từ thịt cua quết nhuyễn cùng giò sống, tôm, da heo. Theo chia sẻ của cô Bướm, người đã bán hàng 20 năm, chả cua trong bánh canh sẽ có phần cầu kì hơn chả cua trong bún bò Huế. Với bánh canh, chả cua cần trộn nhiều nguyên liệu để viên chả ngon, thơm, bởi nó là "linh hồn" của món ăn. Còn với bún bò Huế, viên chả cua chỉ góp phần điểm tô thêm, thường được làm từ giò sống và thịt cua. 

Với quán đông khách, bán từ 15h đến 1h đêm có thể hết 15 nồi bánh canh. Ảnh: Ngân Dương. 


Sau khi khách gọi món, người bán hàng khéo léo múc bánh canh vào tô. Với chiếc muôi to, người bán chỉ lướt nhanh một vòng quanh nồi đã múc được đầy đủ sợi bánh, nước dùng, chả cua, trứng cút. Trông đơn giản nhưng ai có tay nghề mới có thể làm được nhanh và uyển chuyển như vậy. Nếu không khéo, khi múc sợi bánh canh dài sẽ rơi trở lại vào nồi, chỉ lấy được mỗi nước dùng, mà quấy nhiều lần trong nồi sẽ khiến sợi bị nát. 

Chỉ với các gia vị ăn kèm đơn giản như muối, tiêu, hành ngò nhưng lại khiến tô bánh canh trở nên đậm đà hơn. Ảnh: Ngân Dương. 


Rồi đôi bàn tay thoăn thoắt đó lại nhanh chóng rải lên trên tô bánh canh miếng tóp mỡ, ớt màu, hành ngò và chút tiêu khiến món ăn trở nên đậm vị. Tô bánh canh nóng hổi, bốc khói, ngon từ mùi thơm của hành ngò quyện cùng cái đậm đà của nước dùng. Ăn thử một thìa, du khách sẽ cảm nhận được vị ngọt thanh, vị dai dai của miếng chả cua, và thú vui khi sợi bánh canh mềm trôi tuột xuống cổ họng. Và nhắc đến món Huế không thể nhắc đến vị cay của ớt, nên khách vừa ăn, vừa thích thú lại vừa phải xuýt xoa. Trước đây, khi cuộc sống còn khó khăn, nhiều người dân lao động ở Huế còn chấm nước dùng với bánh mì để ăn cho chắc bụng.

Bánh canh cua là một trong những món không nên bỏ qua khi đi du lịch tại Huế. Mỗi tô bánh canh cua ở Huế có giá từ 10.000 - 20.000 đồng. Hương vị bánh canh ấm nóng giữa vùng đất cố đô khiến nhiều du khách đến đây ấn tượng. "Cảm giác ngồi ăn trên vỉa hè và trước mặt là tô bánh canh siêu to khổng lồ khiến mình hài lòng. Sợi bánh canh mềm dai, ăn kèm có có trứng, chả, cua rất đầy đặn mà lại rẻ", chị Phan, một du khách từ Đà Nẵng chia sẻ. 

Một số địa chỉ gợi ý: 
  • Bánh canh o Bướm dưới chân Cầu Gia Hội, TP. Huế
  • Bánh canh đường Nguyễn Khuyến (đối diện Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế), TP. Huế
  • Bánh canh đường Phạm Hồng Thái, TP. Huế

Ngân Dương

Bánh ép lạ miệng của Huế

đăng 02:04, 29 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Chiếc bánh nhỏ xíu nhưng chứa nhiều điều đặc biệt: vị béo ngậy, dai của bánh, chua giòn đu đủ ngâm, mùi thơm của hành lá, thịt, trứng...

Đến Huế, du khách tò mò khi bắt gặp tấm biển có hai chữ "bánh ép" tại nhiều hàng quán. Bánh này là bánh gì, có ngon hay không, tại sao lại có tên này... là những thắc mắc của du khách. 

Bánh ép là đặc sản không thể bỏ qua nếu có dịp thăm cố đô. Món ăn này có nhiều cách chế biến đa dạng nhờ sự sáng tạo của người bán. Bánh được làm từ những nguyên liệu đơn giản là bột lọc, thịt heo, trứng, hành lá... Trước khi ép, chủ quán đã viên sẵn bánh thành từng cục bột nhỏ, phía trên điểm thêm một ít thịt lợn rim, ớt và hành lá. Sau khi khách gọi món, cục bột được chủ quán đặt vào giữa hai tấm gang nóng đỏ rực đã được bôi dầu, đóng lại và dùng hai tay ép khuôn thật chặt trong khoảng 5 - 6 giây. Tiếp đó, họ mở khuôn ra, thêm 1 quả trứng cút sống rồi tiếp tục ép lần 2 trong khoảng vài giây nữa. Trong quá trình ép bánh, chủ quán sẽ lật tấm gang khoảng 2 - 3 lần để bánh được chín đều. 

Những viên bột sống trước khi ép thành bánh. Ảnh: Hương Lan. 


Nếu khách muốn ăn dẻo, chỉ cần để thời gian nhanh, còn ai muốn ăn thật giòn có thể yêu cầu quán ép lâu hơn một chút. Nghe cách chế biến có vẻ đơn giản nhưng món ăn này cũng cần người có tay nghề mới canh được lửa làm nóng khuôn gang. Đủ thời gian và ép đủ lực bánh mới chín, mới đều. Tên gọi của nó cũng bắt nguồn từ cách chế biến này - ép bột trong tấm gang. Mùi hương thơm phức và tiếng bột xèo xèo vui tai khiến thực khách đang đợi bánh ai cũng thấy thèm thuồng. 

Khu vực ép bánh luôn nóng như "lò bát quái". Mỗi người thường chịu trách nhiệm ép khoảng 3 - 4 lò mới kịp. Ảnh: Hương Lan. 


Những chiếc bánh nóng hổi khi chín được đặt vào chiếc đĩa nhựa màu xanh. Sau đó, khách tùy ý thêm chút rau răm, đu đủ chua ngọt, dưa leo, cuộn tròn bánh lại rồi chấm vào bát nước mắm chua cay. Bánh nóng, ai ăn cũng phải vừa thổi vừa xuýt xoa. Chiếc bánh nhỏ xíu nhưng chứa đầy đủ hương vị: vị béo ngậy của dầu mỡ, dai của bánh, chua giòn của đu đủ ngâm thêm vào đó là mùi thơm của hành lá, của thịt, trứng... Tất cả hòa lẫn tạo một hương vị rất riêng của bánh ép. Món ăn "gây nghiện" đến mức khách chưa ăn hết cái này đã phải gọi cái khác, rồi họ xếp chồng những chiếc đĩa xanh lên thật cao. Khi thanh toán, chủ quán chỉ việc đếm số đĩa rồi tính tiền. Việc đếm dĩa, so sánh với bạn bè xem ai ăn được nhiều hơn cũng là thú vui của người ăn bánh ép. 

Vì bánh ép mỏng và các nguyên liệu cũng chủ yếu là rau, không ngán, nên thông thường, mỗi người ăn được khoảng trên dưới 10 cái. Ảnh: Thuyseatbook. 


Có lẽ yếu tố quyết định món bánh ép ngon hay không là nước chấm và tay nghề của chủ hàng. Có quán dùng nước mắm công nghiệp nguyên chất, pha ớt bột. Nơi thì làm sẵn nước mắm chua ngọt kèm ớt tỏi, nơi lại dùng nước mắm trộn tương ớt hoặc ớt chưng. Chính cái vị cay xè và thơm nồng của ớt trong nước mắm đã kích thích vị giác người ăn. 

Quá trình ép bánh tốn nhiều thời gian, chủ quán cũng không thể ép sẵn vì bánh sẽ mất đi độ nóng giòn. Nên nếu đến vào lúc đông khách, sẽ phải đợi khá lâu và có phần sốt ruột bởi mùi thơm khiến bụng đói cồn cào. "Người ta mê món này vì dễ ăn, lại vừa túi tiền. Cũng rất an toàn, vì ép với nhiệt độ cao nên khi ăn hoàn toàn yên tâm. Có khách Tây đến đây ăn, hỏi tại sao ăn ở khách sạn 5 sao vẫn đau bụng còn đây thì không. Tôi cười, bảo chảo nóng như vậy thì làm gì còn vi khuẩn", chị Kiều, người đã bán bánh ép tại Thuận An, Huế chia sẻ. Khoảng 17 năm trước, sau khi học hỏi ở nhiều nơi, thêm sự sáng tạo của mình và chị bắt đầu bán món bánh ép từ bột lọc với tôm, thịt rim, trứng. Nhờ vào vị ngon có "chất riêng" mà quán chị nổi tiếng, giúp nuôi sống cả gia đình. 

Món ăn này được xem là món ăn tuổi thơ đối với nhiều người Huế trong thế hệ 8x trở về sau, bởi nhiều học sinh, sinh viên thường lựa chọn bánh ép làm món ăn vặt mỗi khi chiều về vì giá thành rẻ. Trước đây, bánh truyền thống chỉ có bột lọc, trứng, ăn kèm rau sống và mắm ngọt. Tuy nhiên với sự biến tấu đa dạng ở thời nay món bánh ép Huế đã có thêm nhiều loại nhân ăn kèm như thịt, tôm, pate, xúc xích... tùy khẩu vị. 

Vì vậy, tùy sở thích của từng người mà người Huế hầu như ai cũng có một quán bánh ép ruột của riêng mình. "Dù ở trong thành phố Huế có nhiều hàng bánh ép rất ngon, nhưng mình đã lỡ mê tay nghề quán O Kiều Thuận An nên khi thèm, mình sẽ chạy xe 17 km về dưới đó để ăn. Khi giới thiệu với bạn bè nơi khác, mình thường gọi bánh ép là phiên bản giòn, mỏng, thanh của bánh lọc truyền thống xứ Huế", Nhã Trang, một thực khách chia sẻ. 

Những chiếc bánh ép có giá khoảng 2.000 - 3.000 đồng/cái với bánh nhỏ và khoảng 5.000 cho bánh to, nhiều nhân hơn. Một số địa chỉ gợi ý cho món bánh ép ngon do người Huế giới thiệu là 18 Mạc Đĩnh Chi, đường Nhật Lệ, 118 Lê Ngô Cát, 4 Lê Sỹ... 

Ngân Dương

Khu ẩm thực Làng Bột Sa Đéc – Đồng Tháp

đăng 02:06, 24 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Khu ẩm thực làng bột Sa Đéc tọa lạc tại số 91, đường ĐT.848, khóm 2, phường 2, thành phố Sa Đéc, với hàng chục món bánh dân gian từ bánh ngọt cho đến bánh mặn cùng các loại chè đã thu hút nhiều thực khách đến thưởng thức mỗi khi có dịp du lịch Đồng Tháp.


Khu ẩm thực làng bột Sa Đéc có tổng diện tích gần 1000 m2 là một không gian hòa quyện ẩm thực đậm chất dân dã ở Đồng Tháp. Thoạt nhìn từ bên ngoài, khu ẩm thực này không khác gì so với các khu dịch vụ ăn uống của người dân miền Tây. Tuy nhiên, bên trong khu ẩm thực là một không gian thôn quê yên lành, thư thái của một làng bột thu nhỏ.


Đến với Khu ẩm thực làng bột Sa Đéc, thực khách sẽ cảm thấy mê mẩn với hàng chục loại bánh dân dã của vùng đất Nam Bộ như: bánh chuối, bánh lá mít, bánh ít trần, bánh tầm ngọt, bánh bò, bánh đúc, bánh tét, bánh tằm bì, bánh xèo, bánh canh, gỏi cuốn, chả giò… những tên bánh không chỉ quen thuộc với nhiều người mà còn gợi nhớ về miền ký ức xa xưa.


Bánh bò



Bánh ít


Xôi vị


Bánh xèo



Bánh da lợn


Bánh bèo chén


Ngoài ra khu ẩm thực còn phục vụ thêm các món ăn đồng quê đặc trưng của Đồng Tháp như: bún mắm, hủ tiếu Sa Đéc, lẩu mắm Đồng Tháp, cá lóc nướng trui, cá linh… Để chinh phục vị giác thực khách khó tính, Khu ẩm thực làng bột Sa Đéc luôn biến tấu, đổi menu liên tục để bánh hấp dẫn từ hương vị đến màu sắc.




Tại đây, bên cạnh thưởng thức những món ngon chế biến từ bột Sa Đéc, thực khách còn được tự mình trải nghiệm xay bột, làm bánh…



Một điểm rất riêng của khu ẩm thực chính là khu trưng bày những dụng cụ, công cụ sản xuất bột từ thời xa xưa giúp thế hệ bạn hiểu thêm về quá trình phát triển của làng bột trăm tuổi này.

Tại đây còn có các gian hàng bày bán các sản phẩm sau bột, các sản phẩm đặc trưng nổi tiếng của Đồng Tháp, bạn có thể mua về làm quà cho người thân, bạn bè.


Sự ra đời của khu văn hóa ẩm thực làng bột Sa Đéc đã tô điểm thêm cho bản đồ du lịch tỉnh Đồng Tháp nói chung và TP.Sa Đéc nói riêng… Đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh làng nghề bột gạo Sa Đéc nổi tiếng trăm năm tuổi.

Chưa biết ăn năn

đăng 21:35, 21 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan   [ đã cập nhật 21:35, 21 thg 6, 2020 ]

Sám hối thì có thể tui chưa biết, nhưng ăn năn thì biết rồi. Năn là cái củ này, chắc là nhiều người cũng đã ăn năn giống tui. Nếu không phải ăn năn đơn thuần thì cũng là ăn năn đi kèm với - không phải với sám hối - mà là với... chè!


Củ năn


Chè củ năn hột sen


Vẫn yên chí mình là người biết ăn năn (không cần biết có hối cải hay không), tui bỗng giựt mình khi đọc một bài báo cho thấy ở Sóc Trăng người ta trồng năn, được thu hái quanh năm và sử dụng như một loại rau ăn sống hoặc chế biến thành nhiều món ăn. Cây năn được nói đến ở đây thuộc họ cói. Loại cây này mọc ở nhiều tỉnh miền Tây Nam bộ nhưng nơi có năn nhiều và ăn năn sành điệu là Bạc Liêu và Sóc Trăng. Năn được dùng ăn kèm lẩu mắm, hoặc nấu canh cá, canh cua đồng... (Tham khảo tại đây)


Nhổ năn ở thị xã Ngã Năm, Sóc Trăng. Ảnh: Nguyệt Nhi, VnExpress


Cây năn sau khi bóc vỏ. Ảnh: Nguyệt Nhi, VnExpress


Cây năn này là cây năn nào? Có phải cái cây cho củ năn nấu chè không? Tra cứu thì thấy quả đúng là như vậy. Cả hai đều có tên khoa học là Eleocharis dulcis, và coi hình của Eleocharis dulcis trên mạng thì thấy nó có thân và củ đúng y như vậy.



Cỏ năn ống (Eleocharis dulcis). Ảnh: Wikipedia


Vậy là suy cho cùng tui vẫn... chưa biết ăn năn, vì chưa ăn loại rau cỏ này bao giờ, chỉ mới biết ăn củ năn thôi!


Bây giờ, cho tui nhiều chuyện một chút:


Thứ nhứt, năn hay là năng? Nếu search trên mạng, ta sẽ thấy hầu hết kết quả đều là chữ năng (có g) đối với cả củ năng, cỏ năng... Thế nhưng theo Tử điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học) thì nó là cỏ năn (không có g).


Thứ hai, bột năng (hầu như luôn luôn được viết có g) có phải được làm từ củ năn hay không? Chữ năng này có g hay không?


Thứ ba, các bạn nào chuyên về ẩm thực hay có tâm hồn ăn uống xin nói thêm về các món ăn từ củ năn hay cây năn cho tui thêm phần hiểu biết có được không ạ?


Phạm Hoài Nhân


Ghi chú: Dưới đây là định nghĩa về củ năn  cỏ năn trong Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, bản in năm 2003



Ăn đã thèm đặc sản miền Trung ở chợ Bà Hoa

đăng 01:30, 21 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Chợ Bà Hoa nằm trên đường Trần Mai Ninh (quận Tân Bình, TP HCM) nhiều năm qua là nơi những người con miền Trung ghé đến để tìm kiếm hương vị quê nhà. 

Cổng khắc tên Chợ Phường 11 nhưng lại "vang danh" với cái tên thân thương là chợ Bà Hoa. Nhiều người dân ở đây cho hay đó là tên của người phụ nữ gốc Bắc yêu mến ẩm thực miền Trung nên mua đất, thành lập chợ từ những năm đầu thập niên 1970.

Theo thời gian, chợ Bà Hoa ngày càng phát triển, đa dạng mặt hàng như bao ngôi chợ khác. Đặc biệt, lúc nào cũng vậy, chợ này luôn có những quầy ăm ắp sản vật miền Trung. Nhiều người xa quê ghé chợ ăn dĩa bánh bèo, bánh lọc hay mua lọ mắm, hũ ớt… để dành mỗi lúc nhớ nhà. Cũng có người chỉ vì thèm nghe cái giọng quê hương nằng nặng mà da diết nghĩa tình nên vượt đường xa đến đây.



Món ngon miền Trung ở chợ Bà Hoa


Chợ Bà Hoa lúc nào cũng tấp nập người qua lại. Không chỉ những người con miền Trung mà thực khách mọi miền cũng tìm đến đây để nếm thử hương vị ẩm thực đặc trưng của một vùng đất.

Cứ thế, ngày qua ngày, chợ Bà Hoa không chỉ là nơi giao thương mà còn là nơi kết nối nghĩa tình… 

Kha Miên

Đắm đuối cháo cá nục bắp chuối

đăng 01:25, 21 thg 6, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Tôi là dân vùng lúa ven biển nên mê cơm, say cá, thích nước mắm, thiếu là không chịu được. Đi khắp đất nước, ăn đủ các loại cháo nhưng khoái nhất là cháo cá nục kho ăn kèm bắp chuối luộc. Món này chỉ có ở TP Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận) và chỉ bán buổi sáng. 

Cháo được nấu bằng gạo dẻo và đậu xanh nguyên vỏ, thêm nước lá dứa tạo màu xanh nhạt và hương thơm dịu nhẹ. Nấu phải quen tay để cháo không thành cơm nhão, cũng không lõng bõng nước. Cháo phải chín đều, đậu xanh lấm tấm như hoa.

Nhìn không bắt mắt nhưng món cháo trắng ăn cùng cá nục khi và bắp chuối ngon đắm đuối


Khó nhất là món cá kho. Phải là cá nục gai, lđánh bắt bằng lưới, tươi rói, lựa từng con, to hơn 2 ngón tay một chút. Cá ngừ cũng vậy. Chọn loại cá chừng hơn 1 kg mỗi con, lớn quá hay bé quá cũng kém ngon. Tuyệt đối không dùng cá đông lạnh. Cá làm sạch, ướp gia vị, đem kho liu riu lửa chừng 15 giờ cho thịt cá săn, xương, đầu mềm nhũn. Đặc biệt, khi kho chỉ dùng than củi, nếu dùng than đá, bếp gas, bếp điện đều không bảo đảm, dễ cháy khét, hương vị mai một.

Cá nục kho


Kỳ công nhất là món bắp chuối. Chọn bắp chuối sắp dậy thì, bóc tách từng trái nụ bằng đầu đũa. Trong mỗi trái nụ đều có sợi tim, dai như cước. Phải tỉ mẩn rút từng sợi tim khỏi trái nụ rồi đem rửa sạch, luộc chín đều, vắt kỹ nước và xào sơ cho thơm. Luộc chín chưa đủ thì chát, chín quá thì nhũn, hết ngon.

Đầu cá ngừ kho nẫu


Khi ăn, cháo được múc riêng. Bắp chuối chung đĩa với cá, xăm xắp nước thêm chút ớt xay hoặc ớt tươi. Người thích cá nục. Người khoái cá ngừ. Có người mê đầu cá ngừ. Thoạt nhìn các món bày lên, không có cảm tình lắm. Màu cháo xanh nhạt, lấm tấm hạt đậu xanh. Đĩa cá màu bình thường với bắp chuối nâu nhạt. Nhiều người chưa bao giờ ăn nên hơi ngại. Có người chỉ ngồi nhìn.

Nồi cá ngừ kho


Ăn thử, thấy vị lạ. Cháo thơm nhẹ mùi lá dứa, ngọt dịu vị gạo dẻo, hạt đậu bùi ăn kèm cá nục, cá ngừ kho nẫu đậm đà ngọt mặn hòa quyện, thêm miếng bắp chuối tinh tế đẩy đưa là tê lưỡi. Phải ăn chậm, mắt quan sát, mũi thưởng thức, bỏ vào miệng, dùng lưỡi khám phá hương vị, nhai từ tốn, nghe âm thanh quyến rũ và cảm nhận món ăn lan tỏa khắp cơ thể. Không nên bỏ cá kho và bắp chuối vào chung chén cháo. Phải để riêng, ăn miếng nào gắp miếng đó, vừa ăn vừa quệt mồ hôi mới đã.

Trái nụ bắp chuối xào


Về Phan Thiết lần nào tôi cũng ra quán Nga ở bờ kè sông Cà Ty ăn sáng cháo cá nục kho bắp chuối. Ngon hay không tùy khẩu vị từng người nhưng lạ thì khỏi bàn cãi vì không đụng hàng. Quán nhỏ ven đường, chỉ bán buổi sáng, ngày nào bán ngày đó. Tôi thích ngồi ở bờ sông thoáng gió, ngắm thuyền chen chúc như trẩy hội, thưởng thức món cháo dân dã và hoài niệm về những vạn chài.

Cũng giống như mấy cô gái quê vùng biển, mới nhìn có vẻ lam lũ, bình thường. Làm quen mới hay đằng sau vẻ bề ngoài giản dị, chân mộc là những tấm lòng nhân hậu, hiếu thảo, nghĩa tình, yêu ai thì chết bỏ. Cháo cá nục kho bắp chuối cũng vậy, món ăn có vẻ quê mùa nhưng đã ăn rồi là đắm đuối. 

Bài và ảnh: Nguyễn Văn Mỹ 

1-10 of 25