Ăn để mà sống, nhưng cũng phải sống để mà ĂN!

Bài mới

  • Thơm 'điếc mũi' thịt chuột rừng nơi Cổng trời Mường Lống Với độ cao 1.500m, Mường Lống mùa này như chìm trong sương mây. Trong tiết trời rất lạnh, nhiệt độ có lúc xuống chỉ còn 5-6 độ C ...
    Được đăng 05:35, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Rượu cần M’nông ở Đắk Búk So Những ngày cuối năm, Tổ hợp tác (THT) sản xuất rượu cần bon Bu N’Drung, xã Đắk Búk So, huyện Tuy Đức đang tất bật ủ hơn 200 ché ...
    Được đăng 06:17, 7 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Canh chua thịt gà của người Ê đê Khác với người M’nông hay Mạ thường nấu canh măng chua với cá, người Ê đê lại có món canh chua nấu thịt gà đưa lại hương vị thơm ...
    Được đăng 06:10, 7 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Cá khô nấu rau đắng của người Ê đê Ẩm thực người Ê đê trên địa bàn tỉnh nổi tiếng với các món ăn có vị đắng nấu cùng cá cơm khô mang lại hương vị thơm ngon, đặc ...
    Được đăng 06:05, 7 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan
  • Gà xào măng chua của người Mạ Ngoài món nướng, người Mạ ở Đắk Nông còn có món thịt gà xào măng chua rất thơm ngon. Đây là món ăn truyền thống đặc trưng của đồng bào ...
    Được đăng 06:10, 30 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 23. Xem nội dung khác »


Thơm 'điếc mũi' thịt chuột rừng nơi Cổng trời Mường Lống

đăng 05:35, 16 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Với độ cao 1.500m, Mường Lống mùa này như chìm trong sương mây. Trong tiết trời rất lạnh, nhiệt độ có lúc xuống chỉ còn 5-6 độ C, bếp lửa vẫn là nơi giữ ấm cho ngôi nhà của người Mông. Bên ánh lửa hồng bập bùng, không gì thú vị và hấp dẫn hơn nếu được nhâm nhi chén rượu ngô cùng món thịt chuột rừng nướng thơm nức. Thịt chuột rừng hiện nay đã trở thành đặc sản của người dân sinh sống nơi Cổng trời Mường Lống. 

Mường Lống mùa này chìm trong sương mây. Ảnh: Sách Nguyễn 

Trong tiết trời buốt giá, bếp lửa là nơi giữ hơi ấm cho ngôi nhà. Và sẽ càng thú vị hơn khi được thưởng thức món thịt chuột rừng do người Mông chế biến. Ảnh: Hồ Nhật Thanh 

Cách chế biến chuột rừng cũng khá đơn giản. Chuột sau khi bẫy về được nhúng nước sôi làm sạch lông. Ảnh: Hồ Nhật Thanh 

Sau đó nướng trên bếp than hồng. Ảnh: Hồ Nhật Thanh 

Chuột rừng sau khi được nướng chín và làm sạch nội tạng. Ảnh: Hồ Nhật Thanh 

Chuột rừng sau khi sơ chế được nấu sả ớt hoặc làm món nướng. Ảnh: Hồ Nhật Thanh 

Thơm nức món thịt chuột rừng. Ảnh: Hồ Nhật Thanh 

Trong nhà vun đầy nghĩa tình chồng vợ. Ảnh: Hồ Nhật Thanh 

Ngoài hiên hoa mận nở báo hiệu xuân sang. Ảnh: Hồ Nhật Thanh 

Hồ Nhật Thanh

Rượu cần M’nông ở Đắk Búk So

đăng 06:17, 7 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Những ngày cuối năm, Tổ hợp tác (THT) sản xuất rượu cần bon Bu N’Drung, xã Đắk Búk So, huyện Tuy Đức đang tất bật ủ hơn 200 ché rượu cần để phục vụ thị trường mùa giáng sinh. Mỗi thành viên đều khẩn trương làm các công đoạn trong quy trình ủ rượu cần như nấu cơm, phơi ché, giã men, trộn trấu… 

Chị Thị Nuy, thành viên trong THT chia sẻ: “Mùa lúa của bon làng mới vừa gặt xong nên các thành viên trong tổ cũng tranh thủ làm rượu cần. Nguyên liệu địa phương giúp làm ra những ché rượu cần chất lượng, thơm ngon, mang hương vị riêng của người M’nông nơi đây”. 

Men rượu cần do chính đồng bào M'nông nơi đây làm bằng lá và vỏ cây rừng 

THT vừa sản xuất được 200 ché, trong đó 100 ché đã có đơn đặt hàng. Rượu cần bon Bu N’Drung được làm từ những nguyên vật liệu tại địa phương. Gạo sử dụng nấu là loại nếp cái hoa vàng, gạo lứt hay gạo mà bà con trong bon trồng được. Đồng bào M’nông làm men ủ rượu từ nhiều loại lá và vỏ cây rừng. Các thành viên sản xuất theo quy trình lên men tự nhiên, tạo ra loại thức uống mang đậm hương sắc núi rừng. Các ché rượu sau khi hoàn thành được cất trữ trong kho hầm của thành viên của THT. Đây cũng là địa điểm chính chọn làm nơi buôn bán, trưng bày các sản phẩm rượu của THT. 

Phụ nữ M'nông trong THT đang chuẩn bị ủ rượu cần bon Bu N’Drung 

Năm nay đã 60 tuổi nhưng mỗi khi THT kêu gọi nấu cơm làm rượu, bà Thị B’rơm đều hào hứng tham gia. Với bà, giờ đây tuổi cao sức khỏe cũng không còn nhiều nên khi vào THT vừa có thể quảng bá cái hay cái đẹp của dân tộc mình, vừa có thể kiếm thêm thu nhập là điều hết sức tốt đẹp. Bà cho biết, rượu ủ 1 tháng là có thể uống được nhưng muốn ngon hơn phải để từ 2 tháng trở lên. Nguyên tắc rượu cần ủ càng lâu càng ngon. Thông thường, ché rượu để 6 tháng thì rượu sẽ quánh lại giống như mật ong, màu sắc như cánh gián uống rất ngon. 

Những ché rượu do THT sản xuất rượu cần bon Bu N’Drung, xã Đắk Búk So làm ra mang hương vị truyền thống của rượu cần M'nông 

Theo bà Phạm Thị Dung, Tổ trưởng THT sản xuất rượu cần bon Bu N’Drung, trước đây đồng bào M’nông trong bon thường chỉ làm 1 – 2 ché rượu cần phục vụ nhu cầu của gia đình. Mỗi khi có lễ hội hay những dịp quan trọng cần có ché rượu lại phải mua ở địa phương khác. Vì vậy, bà cùng hội phụ nữ địa phương động viên các chị em trong bon cùng làm rượu cần bán. THT cũng mới thành lập trong tháng 10 vừa qua với 9 thành viên tham gia. THT với mục tiêu tạo công ăn việc làm cho chị em phụ nữ cũng như bảo tồn và gìn giữ nghề truyền thống của dân tộc M’nông. THT cũng đang hoàn thiện các thủ tục để được cấp chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm, xây dựng thương hiệu cho rượu cần bon Bu N’Drung. 

Sản phẩm rượu cần của Tổ hợp tác Sản xuất rượu cần bon Bu N’Drung, xã Đắk Búk So (Tuy Đức) được bày bán tại Hội chợ hàng Việt Nam năm 2020 được tổ chức tại TP. Gia Nghĩa 

Bà Đỗ Thị Ánh, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Đắk Búk So (Tuy Đức) cho biết: “Nhằm giúp các thành viên yên tâm sản xuất rượu cần, Hội Phụ nữ xã Đắk Búk So đã động viên và giúp hoàn thiện các thủ tục pháp lý khi thành lập THT. Sau khi thành lập THT, rượu cần bon Bu N’Drung không chỉ phục vụ gia đình, người dân địa phương mà còn hướng đến khách du lịch. THT được thành lập không chỉ tạo công ăn việc làm cho chị em phụ nữ trong bon mà còn giữ gìn nghề truyền thống của dân tộc. Mục tiêu của THT là có thể sản xuất rượu cần quanh năm chứ không dừng lại ở dịp lễ tết. Vì thế, Hội Phụ nữ xã, THT cũng đang nỗ lực làm công tác tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm qua các trang mạng xã hội như facebook, zalo… để nhiều người biết đến hơn”. 

Bài, ảnh: Nguyễn Nam

Canh chua thịt gà của người Ê đê

đăng 06:10, 7 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Khác với người M’nông hay Mạ thường nấu canh măng chua với cá, người Ê đê lại có món canh chua nấu thịt gà đưa lại hương vị thơm ngon và đậm đà. 

Măng chua nấu với thịt gà rất bổ dưỡng, được xem là món ăn sang trọng trong những ngày mưa gió. Gà thường nuôi trong vườn nhà, ăn cỏ cây, bắp lúa nên thịt rất thơm ngọt. Người Ê đê chọn con gà để nấu canh phải không quá già hay quá tơ, trọng lượng đạt từ khoảng 1,5 – 1,9 kg nấu ngon nhất. Lúc này, thịt gà hầm canh sẽ không bị bở, quá mềm hay quá dai mà có độ dai vừa đủ, dễ ăn. Thịt gà sau khi làm sạch đem chặt thành miếng vừa ăn và tẩm ướp thêm chút ít muối. 

Canh măng chua nấu thịt gà của người Ê đê 

Thông thường khi nấu, người Ê đê vớt măng từ trong hũ rồi cho trực tiếp vào nấu để giữ vị chua đậm đà cho nồi canh. Tuy nhiên, nếu măng đã ngâm trong thời gian lâu, vị quá chua, người chế biến sẽ vắt bớt nước hoặc rửa sơ rồi vắt nước trước khi nấu. Cách nấu canh chua cũng khá dân dã, giản đơn. Nồi được bắc lên bếp lửa cho nóng, cho thêm chút ít dầu ăn; sau đó đập dập củ nén rồi tao sơ qua dầu; khi củ nén chuyển màu vàng ươm mới đổ thịt gà vào đảo đều cho đến lúc miếng thịt gà thăn lại. 

Lúc này, người Ê đê mới thêm nước lượng vừa đủ dùng vào nồi, đun vừa lửa cho nước canh sôi, thịt gà mềm mới cho măng vào nấu tiếp khoảng 5 phút. Vì măng đã có vị chua, cay, mặn nên khi nấu món canh này, người Ê đê dường như không cần phải nêm nếm thêm gia vị gì nhiều cả; khi canh chín chỉ thêm chút bột ngọt và lá ngò gai giúp tăng mùi thơm cho món canh. 

Đồng bào Ê đê giới thiệu món canh măng chua nấu thịt gà trong ngày hội ở địa phương 

Nước canh có vị mặn mặn, chua chua, cay cay. Mùi thơm và chất ngọt của thịt gà tiết ra càng tăng thêm sự đậm đà cho món ăn. Măng ngâm chua vẫn giữ được hương vị của măng tươi khiến người ăn luôn cảm giác ngon miệng. Sự kết hợp giữa măng chua và thịt gà thật sự tạo nên món ăn hấp dẫn, kích thích vị giác người dùng. Chính vì thế, canh măng chua nấu thịt gà là một trong những món ăn thường được người Ê đê nấu đãi khách hay khi địa phương tổ chức hội, lễ… 

Bài, ảnh: Nguyễn Nam

Cá khô nấu rau đắng của người Ê đê

đăng 06:05, 7 thg 1, 2021 bởi Pham Hoai Nhan

Ẩm thực người Ê đê trên địa bàn tỉnh nổi tiếng với các món ăn có vị đắng nấu cùng cá cơm khô mang lại hương vị thơm ngon, đặc biệt. Ngoài nguyên liệu cà đắng hay khổ qua rừng, người Ê đê còn có hai loại lá có vị đắng rất độc đáo thường dùng nấu với cá cơm khô, lá mì và jdam ble (rau đắng). 

Lá mì hay còn gọi là rau sắn có vị đắng được người Ê đê ưa thích. Lá mì dùng nấu phải là lá mì cuống đỏ, thường dùng chế biến thành món canh, lá mì xào hoa đu đủ đực, lá mì xào cá khô… Trong đó, lá mì xào cá khô chế biến giản đơn nhưng ăn rất ngon. 

Món lá mì xào cá khô đặc biệt của người Ê đê 

Trước tiên, lá mì cần thái nhỏ và được chần sơ qua nước sôi cho bớt vị đắng rồi để ráo nước. Những gia đình Ê đê thích ăn vị đắng mạnh sẽ không cần trụng qua lá mì với nước sôi mà giữ nguyên lá tươi để nấu. Lá mì tươi sẽ đem giã hơi nát cùng với sả. Món ăn nấu cũng tương đối nhanh trong vòng vài phút. Nồi bắc lên bếp để nóng, cho ít dầu vào nồi, thả vài củ nén đã bóc vỏ đập dập tao vàng, thêm lượng cá cơm khô vừa ăn vào rang. Khi cá chín, người Ê đê mới cho lá mì vào nồi xào cùng cá cơm, nêm muối ớt nữa là có được món ăn hấp dẫn. Món ăn tỏa mùi hương sả và mùi thơm cá cơm khô. 

Một loại nguyên liệu nữa có vị đắng mà người Ê đê rất thích dùng nấu với cá cơm khô là jdam ble. Đó là tên gọi theo tiếng Ê đê của một loại lá rừng. Jdam ble mọc thành từng bụi, lá thon dài, mọc đối xứng với nhau, lá non có màu xanh vàng chanh. Người Ê đê thường bẻ các đọt lá non dùng nấu, lá có vị đắng. Rau jdam ble nấu với cá cơm khô cùng tương tự như lá mì. Tuy nhiên, việc chế biến rau jdam ble không cần phải thái nhỏ mà giữ nguyên lá để nấu. Jdam ble xào cùng cá cơm khô trong vòng khoảng 5 phút rồi nêm nếm gia vị. Thay vì dùng sả như trong món lá mì xào thì món này lại nêm nhiều ớt. Khi xào chín mùi thơm của ớt sộc ngay lên mũi. Rau jdam ble ăn rất thơm, hơi dai, vị đăng đắng ăn rất lạ miệng và ngon. 

Jdam ble (rau đắng) thường được người Ê đê hái ở bìa rừng 

Với sở thích ăn đắng và cay, người Ê đê xem lá mì và jdam ble là hai nguyên liệu đặc sản. Thưởng thức các món ăn cùng cơm trắng nóng hổi mang lại hương vị vừa miệng lại không kém phần độc đáo. Vị đắng của các loại lá này khi ăn lần đầu cảm giác như rất khó nuốt. Nhưng chỉ cần nhai kĩ đến miếng thứ 2, thứ 3, người dùng mới cảm nhận được vị ngọt lạ trong cái đắng. Cứ thế, người ăn bị cuốn hút bởi một món ăn có nhiều vị mạnh, đối lập nhau nhưng lại rất kích thích cảm giác thèm ăn… 

Bài, ảnh: Nguyễn Nam

Gà xào măng chua của người Mạ

đăng 06:10, 30 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Ngoài món nướng, người Mạ ở Đắk Nông còn có món thịt gà xào măng chua rất thơm ngon. Đây là món ăn truyền thống đặc trưng của đồng bào Mạ khi có sự kết hợp của 2 nguyên liệu chính từ rừng là gà và măng. Thịt gà xào măng chua ngon đậm đà, dậy mùi thơm của các loại gia vị, ăn với cơm trắng vô cùng hấp dẫn. 

Gà rừng nuôi, các loại gà ta thả vườn, gà tre là những thực phẩm để chế biến món ăn đặc biệt này. Gà sau khi mổ sạch được chặt thành từng miếng nhỏ vừa ăn, ướp thịt gà với chút muối, bột ngọt, nghệ, ớt chín đã giã nát trong khoảng thời gian 15 phút cho ngấm gia vị. 

Người Mạ dùng măng chua xào với thịt gà rất thơm ngon 

Măng để xào với gà phải là măng chua mới đúng vị. Cách ngâm măng chua khá đơn giản. Măng khi hái về đem bóc vỏ, dùng dao thái lát mỏng hoặc từng sợi nhỏ rồi cho vào ché hoặc hũ, cho thêm một ít muối hạt rồi đổ nước vào ngập măng, bịt kín lại tránh không khí lọt vào khiến măng bị thâm. 

Sau khoảng 2 tuần, nước ngâm chuyển sang màu đục như nước gạo, măng có vị chua, mùi thơm nồng. Thay vì dùng loại măng tươi mới nhú từ dưới đất lên, người Mạ thường bẻ những ngọn măng đã vươn cao khỏi đầu người. Loại măng này khi ngâm sẽ để được lâu hơn, giòn hơn. Các hũ măng chua có khi dùng trong vòng 1 đến 2 năm vẫn không bị hư hỏng. 

Món gà xào măng chua nổi bật trên mâm ẩm thực truyền thống của đồng bào Mạ 

Cách nấu món ăn cũng khá đơn giản. Măng chua lấy từ trong ché đem vắt khô nước, sau đó cho vào nồi thịt gà đã ướp gia vị, trộn đều hai loại nguyên liệu này với nhau rồi bắc lên bếp xào. Trong quá trình xào, người Mạ đun lửa đều để thịt, măng chín mà không bị cháy. Măng chua khi chế biến món ăn này còn có sự tương tác, giúp thịt gà mau mềm hơn. Người Mạ đun lửa liu riu khoảng 30 - 45 phút cho đến khi thịt gà chín mềm, tỏa mùi măng chua thơm phức. Trước khi bắc nồi xuống, người Mạ thường rắc thêm ít tiêu rừng đã giã nát tăng thêm độ thơm ngon cho món ăn. 

Những ngày mưa gió, không khí lạnh bao quanh, mùi thơm của món ăn cùng hương măng nồng nồng, chua chua tỏa ra khắp nơi kích thích cảm giác thèm cơm. Thịt gà béo ngậy, măng rừng chua chua, giòn ngọt và mùi thơm nồng của hạt tiêu, ớt làm nên một món ăn không kém phần hấp dẫn của đồng bào Mạ nơi đây. 

Bài, ảnh: Nguyễn Nam

Nước lá Glah N’kông của người M’nông

đăng 06:06, 30 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Trong quá trình đi rừng, không chỉ đơn thuần lấy củi và hái các loại rau, quả về ăn mà đồng bào M'nông còn đưa những loại cây, rễ, lá rừng về nhà cất trữ làm thuốc phòng khi trong gia đình và bon làng có ai đau ốm mà chữa bệnh. Đơn cử như cây Glah N’kông (theo tiếng M’nông) được xem như một loại trà rừng và là vị thuốc quý của đồng bào nơi đây. 

Với các sản phụ sau khi sinh, người M’nông thường dùng cây Glah N’kông nấu nước uống. Theo kinh nghiệm tích lũy bao đời của người M’nông, thứ nước này có tác dụng đẩy hết các tạp chất, dịch không tốt còn đọng lại trong cơ thể ra ngoài, giúp khí huyết lưu thông. Phụ nữ sau khi sinh phải kiêng khem đủ thứ nhưng khi uống nước này lại có thể ăn uống tự do hơn… 

Lá cây Glah N’kông 

Cây Glah N’kông hầu như dùng được tất cả các bộ phận. Đọt non, lá và thân dùng để nấu nước uống. Người M’nông trước đây dùng thức uống này để chữa khỏi bệnh đau bụng ở trẻ nhỏ. Đặc biệt, sau khi người phụ nữ sinh đẻ, người M’nông lên rừng hái lá về nấu cho phụ nữ tắm và nấu nước uống để thải các chất dịch sau khi sinh, tăng cường sức khỏe. 

Không chỉ là một vị thuốc quý mà cây Glah N’kông còn là một loại thức uống độc đáo sau những bữa ăn của đồng bào nơi đây. Cách nấu nước lá Glah N’kông cũng đơn giản như nấu nước trà xanh. Lúc đầu nếm vào, nước Glah N’kông có vị đắng nhẫn nhưng sau khi uống vào tới cuống họng lại mang đến vị ngọt trong miệng. Sau bữa ăn, người M’nông nhâm nhi ly nước Glah N’kông vừa giúp sạch miệng, lại có công dụng giải khát. 

Người M'nông nấu lá cây Glah N’kông thành loại nước uống như nước trà bên cạnh mâm cơm truyền thống 

Hiện nay, được sự quan tâm của các cấp, ngành nên điều kiện sinh sống của đồng bào được cải thiện rất nhiều, tiếp cận với sự chăm sóc, điều trị của y học hiện đại… Tuy nhiên, với người M’nông, nước lá cây Glah N’kông vẫn luôn được xem là vị thuốc quý, thức uống độc đáo của dân tộc mình. 

Bài, ảnh: Nguyễn Nam

Rượu cần của người Ê đê

đăng 06:01, 30 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Văn hóa ẩm thực của người Ê đê từ bao đời nay vô cùng phong phú và đa dạng, không chỉ độc đáo từ các món ăn mà các thức uống cũng được đồng bào chế biến một cách công phu, hấp dẫn. 

Trong đó, rượu cần là một trong những thức uống như thế, đã tạo nên nét đặc trưng riêng, được nhiều người yêu thích bởi mùi vị thơm nồng khó tả. Tuy nhiên, cách thức uống rượu cần của người Ê đê ở Tây Nguyên không phải ai cũng biết. 

Thưởng thức rượu cần trong lễ hội của đồng bào Ê đê 

Theo tiếng Ê đê rượu cần gọi là Kpiê cheh. 

Ðể có những ché rượu cần ngon, ngoài cách chế biến cũng cần phải có sự chuẩn bị chu đáo trước khi dùng. Người Ê đê dựng những cây cột dùng để buộc rượu thành vòng tròn hay hàng ngang, tùy theo tính chất của buổi uống rượu. Những cột này là cây tre, lồ ô cao khoảng 2-3m, được trang trí thêm những tua chỉ đầy màu sắc, hoa văn và những thanh gỗ nhỏ đẽo gọt các hình con thú như những cây nêu. 

Các ché rượu được buộc chặt vào từng cột để ché rượu không đổ ngã. Người Ê đê lấy những lá cây không có độc xung quanh vườn nhà như, lá chuối, mít, ổi… để nhét chặt vào miệng ché trước khi đổ nước vào. V.iệc làm này nhằm mục đích để khi đổ nước vào ché, bã rượu và trấu sẽ không bị nổi lên trên mặt ché và làm trào ra bên ngoài, đồng thời tạo nên một khoảng trống từ cổ đến miệng ché (cao từ 10–15 cm). Khoảng trống này là cữ cho mỗi người uống, mỗi cữ khoảng 200-300 ml nước. 

Sau đó đến việc chuẩn bị cần uống rượu, thông thường cần uống thường được chuẩn bị sẵn trong mỗi gia đình. Cần rượu được làm bằng cây trúc hoặc cành tre nhỏ, được thông ruột ống, dài khoảng 1,3 m tùy từng loại ché lớn nhỏ. Ðoạn giữa của cần được gắn một ống nhựa nhỏ trong suốt (dài khoảng 20 cm), nối với hai đầu cần để người uống có thể xoay chuyển từ mọi hướng mà cần không bị gãy, cùng với đó tạo cho người uống có cảm giác thoải mái, có thể thấy trực tiếp dòng chảy rượu cần từ ché qua ống nhựa khi người dùng hút cần. 

Đầu cần là mấu đã được khoét thành khe và đục 3-5 lỗ nhỏ, đủ để rượu thấm mà không mang theo bã hoặc trấu. Mỗi ché rượu chỉ dùng một cần, khi nào đám cưới mới sử dụng hai cần để cho cô dâu, chú rể cùng uống. Cần được cắm vào ché sao cho vừa tầm của người ngồi uống và không bị tắc, đó cũng là cái khéo của người cắm cần. Sau khi sử dụng cần được cất giữ để sử dụng trong các dịp lễ tiếp theo. 

Ngày nay, dù có đa dạng các loại đồ uống song rượu cần của người Ê đê vẫn hiện hữu là một đồ uống đặc sản mang hương vị truyền thống dân tộc. Điều quan trọng hơn cả, nét văn hóa rượu cần chứa đựng tính đoàn kết cộng đồng, tình yêu, sự chia sẻ và đâu đây như vang vọng lời yêu thương trong điệu hát Ay ray xưa bên ché rượu cần truyền thống... 

Bài, ảnh: Y KRăk

Món canh thụt môn nước của người M’nông

đăng 05:46, 23 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Đồng bào M’nông gọi môn nước là “rtơh”. Môn nước hay còn gọi là môn ngứa, là một loài môn hoang dại. Từ kinh nghiệm và đôi qua bàn tay khéo léo của người M’nông đã biến loại cây dại này trở thành nguyên liệu cho những món ăn rất hấp dẫn. Trong đó, món canh thụt môn nước là món ăn độc đáo của người M’nông. 

Môn nước mọc hoang ở nơi ẩm thấp như mương nước, vũng đầm, ven sông suối… Môn nước có nhiều loại và môn nước của người M’nông có sự khác biệt so với các vùng khác. 

Cây môn nước của người M'nông tỉnh Đắk Nông có sự khác biệt so với những nơi khác 

Cây mọc thành bụi, có bẹ và lá nhỏ hơn so với môn ngọt thông thường. Màu lá của môn nước xanh thẫm hơn. Hình lá có phần tựa lá dong, nhưng bầu hơn một chút. Môn nước còn gọi là môn ngứa vì toàn thân cây môn đều có một thứ nhựa rất ngứa khi đụng phải. Tuy nhiên, người M’nông tìm ra những bí quyết riêng trong kết hợp nguyên liệu để khắc chế chất gây ngứa của loài cây này, chế biến thành những món ăn độc lạ, thơm ngon. 

Đồng bào M'nông huyện Đắk R'lấp chuẩn bị nguyên liệu môn nước để chế biến món ăn trong lễ hội 

Người M’nông chọn những bẹ môn non đem về nấu. Ngoài bẹ môn nước, cua đồng, món ăn còn có thêm đọt mây và ớt. Trước đây cũng như bây giờ, người M’nông nào cũng biết chế biến và coi đây là món khoái khẩu. Món canh môn nước tuy mộc mạc nhưng lại có cách chế biến khá kỳ công. Bẹ môn nước tước vỏ xơ bên ngoài, cắt thành đoạn nhỏ. Cua sơ chế, bỏ phần yếm và vỏ lưng cua để nguyên phần thân chứa thịt và chân cua để nấu. 

Đồng bào M'nông nấu canh môn nước trong ống lồ ô 

Đọt mây lấy từ rừng về tách bỏ lớp vỏ gai bên ngoài, phần ruột thái mỏng thành từng lát. Món ăn được nấu trong ống lồ ô tương tự như món canh thụt truyền thống của người M’nông. Tất cả nguyên liệu bao gồm môn nước, cua đồng, đọt mây và ớt được cho vào ống lồ ô, thêm chút nước rồi đặt nghiêng góc khoảng 45 độ với bếp lửa để nấu. 

Món canh môn nước sền sệt, nhuyễn, mang đặc điểm của canh thụt M'nông 

Trong quá trình nấu, cần quay tròn ống lồ ô để các nguyên liệu chín đều và ống không bị cháy một bên. Khi tất cả các nguyên liệu chín mềm, người M’nông thêm gia vị muối, bột ngọt (bột nêm) và sử dụng một thanh tre để thụt. Thanh tre dài thụt liên tục vào ống lồ ô làm nhuyễn các nguyên liệu. Các nguyên liệu trở nên nhuyễn, hòa quyện vào nhau tạo nên trạng thái hơi sánh đặc cũng là lúc có thể đổ ra bát để thưởng thức. 

Món canh thụt môn nước trên mâm ẩm thực truyền thống độc đáo của người M'nông tỉnh Đắk Nông 

Bài, ảnh: Nguyễn Nam

Canh bột ngô của người M’nông

đăng 05:35, 23 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Với sự sáng tạo trong ẩm thực của mình, người M’nông trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đã có món ăn truyền thống chế biến từ ngô là canh bột ngô. Món ăn mang hương vị thơm ngon, đặc biệt và gây thương nhớ nếu một lần được thưởng thức. 

Sau mỗi mùa thu hoạch, ngô lại được đồng bào phơi trên những hiên nhà hay gác bếp, chờ khi thật khô mới đem đi làm canh bột ngô. 

Người M'nông lấy hạt ngô rang chín rồi giã hoặc xay nhuyễn thành bột 

Gọi là món canh nhưng món ăn không nhiều nước như món canh thông thường mà lại hơi đặc, sánh. Để có được bát canh ngon, người M'nông phải trải qua nhiều công đoạn và tốn khá thời gian. Những bắp ngô ngon nhất, hạt chắc, có màu vàng óng được tách hạt, rang chín rồi đem giã hoặc xay nát. Thành phẩm bột ngô nhuyễn sẽ đem sàng lại một lần để loại bỏ sạn và phần hạt cộm để có được bột mịn, ngon nhất. 

Nguyên liệu đặc biệt thứ hai là cá trê. Loại cá trê to được đem nướng trên than hồng đến độ chín vàng thì róc lấy thịt bỏ xương. Khi có được 2 nguyên liệu chính là bột ngô và cá trê, người M’nông bắt đầu lấy nồi nấu món canh bột ngô. Trên bếp đặt một chiếc nồi với lượng nước dùng vừa đủ cho bữa ăn của gia đình, nước được đun thật sôi rồi cho phần thịt cá trê vào nấu, thêm một ít sả đã đập dập vào nồi. 

Thịt cá trê được ninh trên lửa trước khi cho bột ngô vào nấu 

Đun một lúc dùng đũa quấy mạnh tay cho cá nhuyễn nát ra từng miếng nhỏ, mùi sả lúc này quyện vào trong nước, theo hơi nước đưa mùi thơm bay ra khắp gian bếp. Người M’nông lấy bột vào tô để trộn cùng nước thành hỗn hợp sánh đặc, không để vốn cục. Khi cảm thấy cá đã tiết ra vị ngọt vào trong nồi nước, người chế biến mới dùng hỗn hợp bột ngô mới pha đổ vào nồi nấu. Lúc này, lửa được để liu riu, nồi canh sôi vừa phải, nêm nếm thêm gia vị, dùng đũa quấy đều cho các nguyên liệu hòa quyện vào nhau. 

Món canh bột ngô của người M'nông 

Tùy theo sở thích của từng gia đình mà người M'nông có thể thêm các loại rau thơm để tăng hương vị cho món ăn. Tuy nhiên, lượng rau thơm cho vào rất ít so với một số món ăn khác để giữ được mùi thơm đặc biệt của ngô. Món ăn trở nên sánh đặc, bốc hơi nghi ngút, mùi thơm của ngô lan tỏa khắp nơi cũng có nghĩa món ăn đã hoàn thành. 

Mâm cơm của người M'nông với món thịt heo nướng, đọt mây nướng, canh thụt, canh bồi, canh bột ngô... 

Khi thưởng thức, món ăn có mùi thơm dễ chịu và hương vị đậm đà. Món canh bột ngô dùng ăn thay cơm hoặc trộn cơm đều mang lại cảm giác tuyệt vời. Người M’nông yêu thích vì vị ngọt, bùi của ngô và béo ngọt của cá kết hợp với vị mềm dẻo của cơm. 

Ngày nay, với sự thay đổi canh tác, tập quán trồng trọt ít trồng ngô như trước, món canh bột ngô cũng ít xuất hiện hơn trong bữa cơm đời thường. Với sự chế biến công phu, cầu kỳ, canh bột ngô trở thành món ăn độc đáo, hấp dẫn, chỉ thường nấu đãi khách quý hay dịp đặc biệt của gia đình, bon làng… 

Bài, ảnh: Nguyễn Nam

Món gỏi núc nác cá khô của đồng bào dân tộc tại chỗ

đăng 05:28, 23 thg 12, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Hằng năm, cứ vào mùa hạ và chớm đông, đồng bào M’nông, Mạ hay Ê đê trên địa bàn tỉnh lại vào rừng hái quả núc nác nấu thành nhiều món ăn ngon. Núc nác có thể chế biến bằng cách luộc, xào, nấu canh… Nhưng dồng bào ưa thích nhất có lẽ là món gỏi núc nác cá khô. 

Núc nác là cây rừng thân gỗ, cao khoảng 10 m, cây lâu năm có thể cao hơn. Loại cây này vừa ăn được hoa, lá, vừa ăn được quả. Núc nác bắt đầu ra hoa vào mùa hạ. Quả kết thành từng chùm, hình nang mỏng, dài khoảng 50 – 60 cm, có hai mặt lồi, lưng có cạnh chạy dọc theo chiều dài quả. Nhìn bề ngoài, quả núc nác dài và dẹt như trái phượng vĩ. Hạt dẹt có cánh mỏng, trên hạt có khá nhiều đường gân nhỏ đi về nhiều hướng riêng biệt… 

Quả núc nác được đồng bào M'nông hái từ rừng 

Quả núc nác dù để già đến chín vẫn ở trên cây khá lâu nhưng nếu muốn ăn ngon thì phải hái những quả không quá già, cũng không quá non, có màu xanh đậm. Loại quả rừng này có vị đăng đắng, hăng hăng và mùi thơm. Đồng bào làm món gỏi núc nác khá đơn giản. Sau khi hái núc nác về, đồng bào để quả lên bếp than, nướng qua cho lớp da ngoài phồng rộp lên, vỏ cháy sém đen đen. 

Đặc biệt trong quá trình nướng, quả núc nác tạo ra mùi thơm đặc trưng tựa như một loại rau thơm. Sau khi nướng chín, đồng bào dùng dao cạo sạch vỏ bị cháy rồi rửa sạch bằng nước ấm, để ráo. Khi chế biến thì cắt lát thật mỏng. 

Nướng quả núc nác trên than lửa cho chín thơm 

Để món ăn thêm ngon phải có thêm cá cơm khô, đây cũng là nguyên liệu chính trong nhiều món gỏi của đồng bào tại chỗ trên địa bàn tỉnh ta. Cá cơm khô được rang chín vàng, giòn rụm với củ nén hoặc tỏi, hành. Đồng bào hái các loại rau thơm ngoài vườn hoặc mọc hoang như tía tô, ngò gai hay lá é. Các loại rau thơm thái nhỏ cho vào tô gỏi đã có sẵn các nguyên liệu trên. Gia vị cho món gỏi cũng khá quan trọng, tạo nên hương vị đầy đủ của món ăn là đắng, cay, ngọt, mát, chua, thơm… 

Cạo bỏ lớp vỏ cháy đen bên ngoài trước khi thái mỏng đem trộn gỏi 

Gia vị gồm chút muối, bột ngọt, chút đường, vắt thêm chanh. Các gia đình ăn cay thêm nhiều ớt trộn vào. Ớt ngon hơn khi nướng sơ qua lửa rồi mới giã nhỏ. Tất cả nguyên liệu được trộn đều thành món gỏi núc nác thơm ngon. Ngày nay, nhiều gia đình khi chế biến món gỏi núc nác này có sự thay đổi đa dạng hơn. Trong món ăn truyền thống trước đây dùng cá cơm khô thì nay, đồng bào có thể thay bằng cá chỉ vàng, cá nướng, thịt ba chỉ, tai heo cùng với đậu phộng, vừng, gừng… 

Món gỏi núc nác cá cơm khô thơm ngon 

Món ăn đậm hương núi rừng này đã trở thành đặc sản trong ẩm thực đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Món nộm núc nác không chỉ là món ăn ngon mà còn là một vị thuốc quý giúp chống ho, thanh nhiệt... Cũng chính vì vậy, vào mùa núc nác, nhiều gia đình thường xuyên lên rừng tìm hái quả núc nác để bán với giá 70.000 – 100.000 đồng/kg, tăng thêm thu nhập trong lúc nông nhàn. 

Món gỏi núc nác độc đáo trên mâm cơm truyền thống đặc sắc của người M'nông tại tỉnh Đắk Nông 

Bài, ảnh: Nguyễn Nam

1-10 of 23