Ăn để mà sống, nhưng cũng phải sống để mà ĂN!

Bài mới

  • Bánh đúc chấm tương Bánh đúc là món ăn bình dị suốt bao đời ở Hà Nội. Cùng với sự phát triển của đô thị, bánh đúc cũng biến tấu đi, mới mẻ hơn ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Bánh mì thanh long Sau khi ra mắt bánh mì thanh long được người Sài Gòn yêu thích, xếp hàng dài chờ mua, "vua" bánh mì Kao Siêu Lực đã chia sẻ công thức ...
    Được đăng bởi Pham Hoai Nhan
  • Chuối đập chấm nước cốt dừa Với nhiều người, chuối đập chấm nước cốt dừa không đơn thuần là món ăn mà chứa đựng cả ký ức tuổi thơ đẹp đẽ. Cô bạn người miền Tây ...
    Được đăng 02:43, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Đặc sản phở chua xứ Lạng Món phở khô xuất xứ Lạng Sơn có vị chua ngọt thu hút thực khách miền Nam. Phở chua là đặc sản xứ Lạng, thường xuất hiện trong các dịp ...
    Được đăng 02:20, 15 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
  • Thơm ngon rượu ghè nếp than Y Gar Từng uống rượu ghè nếp than ở nhiều nơi, nhưng chưa ở đâu tôi thấy rượu ghè nếp than có nét đặc trưng riêng như rượu ghè nếp than của ...
    Được đăng 01:52, 9 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan
Hiển thị bài đăng 1 - 5trong tổng số 18. Xem nội dung khác »


Bánh đúc chấm tương

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Bánh đúc là món ăn bình dị suốt bao đời ở Hà Nội. Cùng với sự phát triển của đô thị, bánh đúc cũng biến tấu đi, mới mẻ hơn, độc đáo hơn thành những món bánh như: bánh đúc nóng, bánh đúc thịt... Nhưng dù có bao nhiêu loại bánh đúc khác xuất hiện đi nữa thì món bánh đúc lạc chấm tương truyền thống vẫn luôn hiện hữu và được ưa thích nhất. 

Món bánh đúc chấm tương bắt đầu có ở Hà Nội khoảng những năm 60 của thế kỷ trước, khi xung quanh những ngôi nhà tập thể mọc lên những hàng quán bán đồ ăn vặt. Thế nhưng, ở Hà Nội bây giờ bánh đúc được bán ở nhiều nơi như các gánh hàng rong trên phố, hoặc các khu chợ như chợ Đồng Xuân, hàng Bè và nhiều nhất là ở Phủ Tây Hồ.

Những miếng bánh đúc trắng mịn, loáng thoáng lạc và dừa được xếp gọn gàng trên đĩa. Thời xưa, người làm bánh đúc rất cầu kỳ ở khâu chuẩn bị bột bánh. Bột làm từ gạo tẻ ngon, ngâm đủ 10 tiếng, có nơi ngâm đến 3 ngày tới khi bóp gạo tan thành bột, rồi đem bột ngâm với nước vôi trong hoặc nước tro. Ngày nay, các bước làm bánh cũng được rút gọn đi nhiều. Người ta sử dụng bột gạo xay sẵn ngâm với nước và nước vôi trong khoảng nửa tiếng rồi đem xay thành bột nước là sử dụng được

Những miếng bánh được cắt nhỏ đem chấm với nước tương sẽ tạo nên một hương vị quà quê truyền thống đậm nét văn hóa ẩm thực của người Hà Nội xưa. 


Khi ăn bánh đúc người ta có thể ăn với nhiều loại nước chấm, song dân dã và phổ biến hơn cả vẫn là bánh đúc chấm tương. Khi ăn miếng bánh đúc dẻo, ngậy mùi lạc được chấm với tương lạnh khi ăn sẽ có đủ vị chút thơm ngon của bánh đúc, mùi vị bùi béo của tương.

Bánh đúc chấm tương thường được ăn như bữa ăn lót dạ vào buổi sớm hoặc như món quà vặt vào những buổi chiều có nắng ấm thể hiện phong vị ẩm thực rất thanh tao, dân dã của người Hà Nội.

Bài: Ngân Hà - Ảnh: Khánh Long

Bánh mì thanh long

đăng bởi Pham Hoai Nhan

Sau khi ra mắt bánh mì thanh long được người Sài Gòn yêu thích, xếp hàng dài chờ mua, "vua" bánh mì Kao Siêu Lực đã chia sẻ công thức làm bánh mì thanh long, hy vọng giúp giải cứu cho người nông dân trong thời dịch COVID - 19. 
Một số địa chỉ mua bánh mì thanh long:
  • Tiệm bánh ABC Bakery trên đường Nguyễn Trãi 
  • (quận 5, Tp. HCM)
  • Một số siêu thị BigC chi nhánh miền Bắc như BigC Thăng Long (Hà Nội), BigC Hạ Long (Quảng Ninh) và BigC Đà Nẵng.

Ông Kao Siêu Lực, chủ thương hiệu bánh kẹo Á Châu - ABC và cũng là Chủ tịch Hiệp hội Bánh mì quốc tế khu vực Đông Nam Á cho biết, ông quyết định công bố công thức bánh mì thanh long để tất cả mọi người đều có thể làm loại bánh mì này, giúp giải cứu nông dân đang phải bán đổ bán tháo thanh long vì không xuất khẩu được.

Những quả thanh long là nguyên liệu đặc biệt để chế biến thành món bánh mì mới lạ.


Quả thanh long được ép lấy nước trộn với bột mì tạo nên sắc tím đẹp mắt và hương vị thơm ngon.


Những người làm bánh sẽ tạo hình cho bánh và mang đi nướng. 


Bánh mì thanh long có vị ngọt thanh tự nhiên của trái thanh long. 


Bánh mì thanh long dễ ăn, có vị ngọt tự nhiên của trái cây, mùi thơm của thanh long và tấm lòng giải cứu nông sản hiện nay. Hiện tại, chiếc bánh mì đặc biệt này đang được người tiêu dùng nhận xét khá tốt về hương vị. Trên các diễn đàn về thực phẩm Việt Nam có hàng nghìn thành viên, các chia sẻ "chấm điểm" bánh mì thanh long nhận được nhiều yêu thích, bình luận và chia sẻ. Đa phần, ý kiến phân tích nhận xét bánh thơm, dai và có vị ngọt thanh.

“5kg bột mì sẽ được xay nhuyễn cùng khoảng 1,4kg thanh long ruột đỏ (lượng thanh long này có thể thay cho 60% lượng nước nhào bột). Hỗn hợp bột mì và thanh long được cho thêm sữa, bột đường, men... rồi nhào chậm trong 6 phút, nhào nhanh trong 2 phút rồi ủ trong 180 phút. Sau đó nướng như bánh thường là có thể sử dụng”.

Ông Kao Siêu Lực, chủ thương hiệu bánh kẹo Á Châu.
    
Thực hiện: Thông Hải

Chuối đập chấm nước cốt dừa

đăng 02:43, 5 thg 4, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Với nhiều người, chuối đập chấm nước cốt dừa không đơn thuần là món ăn mà chứa đựng cả ký ức tuổi thơ đẹp đẽ. 

Cô bạn người miền Tây đăng các bức ảnh về món chuối đập nước cốt dừa làm tôi nhớ quay quắt về món ăn thời thơ ấu. Nói là thơ ấu vì từ nhỏ, tôi đã được mẹ làm cho món này để ăn. Lớn lên xa quê đi học đi làm và lập gia đình ở đất Sài Thành, hiếm lắm tôi mới lại được ăn chuối đập.

Chuối đập nước cốt dừa – Món ăn tuổi thơ của nhiều người miền Tây. Ảnh: Hoàng Mai. 


Ở miền Tây, nhất là Bến Tre, nhà nào cũng có mảnh vườn, dù nhỏ hay lớn trong vườn lúc nào cũng trồng vài bụi chuối và chục cây dừa. Trẻ con muốn ăn bánh thì các mẹ, các chị lại xắn tay làm ngay vài món khoái khẩu. Các món này đơn giản, nguyên liệu cây nhà lá vườn. Từ nải chuối xiêm nhưng mẹ làm ra được cơ man món. Nào là chuối chiên, chuối chưng, bánh chuối...

Nhưng đối với bọn trẻ con chúng tôi, món thích ăn nhất lại là chuối đập. Đơn giản chỉ là chuối đem nướng chín rồi chấm nước cốt dừa mà sao làm chúng tôi thèm đến lạ.

Phải chăng chính sự đơn giản trong cách chế biến đã giữ trọn vẹn hương vị món ăn, làm cho chúng tôi – những đứa con xa quê, dù có đi đâu cũng nhớ về.

Để làm món chuối đập chấm nước cốt dừa, khâu chọn chuối là quan trọng nhất. Muốn có món chuối đập ngon, phải chọn được nải chuối xiêm vừa chín tới, mà người miền Tây quê tôi hay gọi là chín "hườm hườm". Chín nhưng vỏ chuối còn xanh, cầm còn hơi cứng tay chứ không chọn trái đã chín mềm.

Chuối sau đó được lột vỏ, chẻ làm đôi. Bếp đầy than, cơi ra cho nóng đều rồi để chuối vào nướng sơ lần thứ nhất. Lúc này, mẹ tôi đã chuẩn bị sẵn một cái túi, chuối sau khi nướng nhanh được cho vào túi đập nhẹ, sao cho miếng chuối dẹp ra một chút là được.

Tiếp tục, tay mẹ lại thoăn thoắt mang chuối sau khi đã đập đem đi nướng lần thứ hai. Nói có vẻ đơn giản nhưng làm mới thấy lắm công phu, bếp than nóng mà chuối nướng cứ phải trở liên tục, nếu chậm tay sẽ bị khét. Cứ thế, từng miếng chuối đập được nướng rám vàng hai mặt. Lúc này, mùi chuối mới thơm làm sao! Hương thơm quất quýt trong từng tấm vách của căn bếp nhỏ.

Chuối chín đã thơm, nay còn mang đi nướng, mà lại nướng bếp than, cứ thế mùi thơm lại được đẩy lên cao, làm bụng của bọn con nít chúng tôi cứ nôn nao, muốn ăn ngay cho bằng được. Nhưng nào có được ăn ngay, miếng ngon phải chờ! Vậy chờ gì? Tất nhiên chờ món nước chấm trứ danh, không lẫn vào đâu được của người dân miền Tây – nước cốt dừa.

Muốn ngon, chuối phải được nướng bằng bếp than. Khi nướng phải trở chuối liên tục để chuối được chín vàng đều hai mặt. Ảnh: Hoàng Mai. 


Trong vườn có sẵn dừa, nên món ăn nào cũng kèm nước dừa, không nước dừa tươi cũng nước cốt dừa khô. Thử điểm qua, hầu như rất nhiều món bánh của người miền Tây đều có nước cốt dừa. Món chuối đập này cũng vậy. Mẹ sẽ lựa trái dừa khô mới hái, đem đi nạo rồi vắt lấy nước cốt, chỉ lấy nước đầu, không lấy nước thứ hai. Sau đó, nêm vào chút đường chút muối. Xong đâu đấy, bắc lên bếp khuấy đều, thử có vị ngọt ngọt mằn mặn là ngon.

Khi nước cốt dừa sôi, mẹ lại cho vào chút bột năng để tạo độ sánh. Khuấy cho đến khi nước cốt dừa sền sệt, không đặc quá cũng không lỏng quá. Trước khi tắt bếp, không quên cho vào một nhúm hành lá xắt mỏng, vậy là món nước chấm cũng vừa đẹp.

Cầm miếng chuối đập vừa nướng xong còn nóng hổi, tay này luýnh quýnh bỏ tay kia cho đỡ nóng rồi lại chấm ngập vô chén nước cốt dừa, ta nói bao nhiêu cái thèm nó ở lại phía sau, nhường chỗ cho mùi thơm, vị ngọt, vị bùi, vị béo ngập tràn nơi đầu lưỡi. Chén nước cốt dừa thơm phức, béo ngậy, chấm chuối nướng còn dư, được bọn con nít chúng tôi "húp cái rột" cho khỏi phí món ngon.

Chuối nướng vừa ngọt vừa pha chút vị chan chát, chỗ nướng cháy xém lại có mùi thơm hơn, chấm với nước cốt dừa mằn mặn, ngọt ngọt, tạo nên dư vị mà ai đã ăn một lần ắt sẽ khó lòng quên. Ảnh: Hoàng Mai. 


Tùy vào địa phương, món chuối đập ngoài chấm với nước cốt dừa, người nấu sẽ rắc mỡ hành cùng chút đậu phộng rang lên. Tuy nhiên, ăn theo cách nào thì món chuối đập vẫn giữ một vị trí khó thay đổi trong lòng người miền Tây.

Ẩm thực làm con người xích lại gần nhau. Tôi quen khá nhiều người bạn ở các vùng miền, khi nghe nói đến món chuối đập nước cốt dừa liền muốn ăn thử. Có người đã ăn rồi thì lại nhớ, mỗi khi có dịp vào miền Nam tìm quán có bán món này để ăn cho thỏa lòng.

Còn những đứa con miền Tây như chúng tôi dù có được ăn chuối đập ở đất Sài Thành, cũng miếng chuối nướng nóng hổi, cũng chén nước cốt dừa rắc hành thơm phức nhưng vẫn cảm thấy thiếu thiếu điều gì đó. Phải chăng thiếu căn bếp nhỏ của mẹ, thiếu mảnh vườn của ba, thiếu không gian tuy đơn sơ mà ấm áp... Và trên hết thiếu cái không khí quây quần của gia đình, dù món ăn có ngon đến đâu cũng không bằng món chuối đập mẹ nướng thuở nào.

Thanh Thúy

Đặc sản phở chua xứ Lạng

đăng 02:20, 15 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Món phở khô xuất xứ Lạng Sơn có vị chua ngọt thu hút thực khách miền Nam. 

Phở chua là đặc sản xứ Lạng, thường xuất hiện trong các dịp lễ tết, cỗ bàn ở một số vùng miền núi phía Bắc như món khai vị. Tuy gọi là phở nhưng hình thức và cách chế biến của món này không giống phở truyền thống. Điểm khác biệt của phở chua chính ở thứ nước sốt chua ngọt nguội mát thay vì nước dùng nóng hổi, và cách ăn trộn như gỏi nộm.

Vẫn là bánh phở quen thuộc nhưng sợi trong phở chua có phần dai chắc hơn để khi trộn không bị nát. Bánh phở vẫn được trụng nước ấm trước khi cho vào trộn, do đó món ăn không bị lạnh tanh. Một phần phở chua có khoai tây thái chỉ, thịt xá xíu, dạ dày, gan heo rán cháy cạnh, và không thể thiếu thịt vịt quay nổi tiếng của xứ Lạng, lạp xưởng thái mỏng, lạc rang, hành khô, rau thơm, dưa chuột.

Điểm nhấn của đặc sản này nằm ở phần nước trộn phở chua ngọt. Thứ nước sốt có màu nâu óng sền sệt được làm từ nước luộc vịt cùng nhiều loại gia vị như hành, tỏi, ớt, giấm, đường, gừng... sau đó chế bột năng để nước sánh lại. Dùng kèm phở là một bát nước được chắt ra từ bụng con vịt quay hoặc nước luộc vịt, mang vị ngậy của mỡ và mùi thơm của gia vị ướp.

Phở chua ở Sài Gòn có vị biến tấu so với món ăn truyền thống. Ảnh: Tâm Linh. 


Theo chân những người dân xứ Lạng, phở chua có mặt ở Sài Gòn từ khá lâu. Trong đó, người dân địa phương thường lui tới quán ăn trong hẻm 240 đường Nguyễn Thiện Thuật (quận 3), bán phở chua từ năm 1954.

"Quán ăn khi đó do mẹ tôi là bà Hoàng Tú Uyên, người Lạng Sơn di cư vào Sài Gòn, mở ra bán món đặc sản quê bà để sinh kế", ông Lỗ Chí Thành (57 tuổi) chủ quán sinh ra và lớn lên ở TP HCM, kể lại.

Món phở chua ở quán ông Thành đã được biến tấu ít nhiều để phù hợp với nguồn nguyên liệu và khẩu vị thực khách địa phương. Thành phần chính của món phở chua ở quán ăn Sài Gòn nay dùng thịt gà nhiều hơn heo. Nguyên liệu nhân gồm thịt gà xé, lòng, mề, tim, gan, ăn kèm với bánh tôm giòn rụm, đu đủ chua và rau thơm.

Chủ quán cho biết nước sốt trộn phở được chế biến đúng như phiên bản gốc xứ Lạng, tuy nhiên nêm nếm có phần ngọt hơn so với món miền Bắc. Không dùng vịt quay, phần nước dùng ăn kèm được nấu từ nước xuýt gà cho thêm một ít hành ngò, vị thanh hơn. Giá một phần khoảng 55.000 đến 65.000 đồng.

Đặc biệt, quán phở chua của ông Thành còn phục vụ thêm một chén tóp mỡ cùng hoành thánh chiên giòn cay mặn, thực khách rắc thêm vào tô phở vừa cân bằng với vị chua ngọt, vừa có thêm thứ để nhai rôm rốp cho vui miệng. "Món ăn kèm này được tôi học từ một quán ăn vỉa hè, dùng để độn với món chính cho no cho ngon, trong những năm đất nước mới giải phóng còn nghèo", ông Thành chia sẻ.

Món ăn kèm này trước đây là bì heo và tóp mỡ. Do thịt heo tăng giá, chủ quán thay bì heo bằng hoành thánh lá chiên giòn. Ảnh: Tâm Linh. 


Thực khách thưởng thức phở chua xứ Lạng bằng cách trộn đều sao cho nước sốt chua ngọt thấm quện vào các nguyên liệu. Nếu không ngại ăn cay, một chút tương ớt và ớt tươi xào cho thêm vào tô sẽ làm món ăn hấp dẫn hơn khi có đủ vị chua, cay, mặn, ngọt.

"Món này nguội, quá hợp ăn ở tiết trời xứ nóng. Ở đây làm vị chua ít hơn món gốc ngoài Bắc, nhưng thấy người Sài Gòn khen ngon", một thực khách gốc Bắc, ngụ quận Tân Bình, nhận xét khi ăn ở quán phở chua Lạng Sơn của ông Thành.

Tâm Linh

Thơm ngon rượu ghè nếp than Y Gar

đăng 01:52, 9 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Từng uống rượu ghè nếp than ở nhiều nơi, nhưng chưa ở đâu tôi thấy rượu ghè nếp than có nét đặc trưng riêng như rượu ghè nếp than của bà Y Gar, thôn Kon Sờ Lạc 2, xã Đăk Ruồng, huyện Kon Rẫy. Nét đặc trưng của rượu này là: Thơm ngọt, lại đăng đắng... rất khó quên! 

Ông nói chí phải!

Mặc dù trên địa bàn xã Đăk Ruồng có nhiều người đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sản xuất rượu ghè, nhưng khi nói đến rượu ghè, người ta thường nhắc đến thương hiệu rượu ghè của bà Y Gar ở thôn 12 (Kon Sờ Lạc 2). Có lẽ vì vậy, khi thực hiện Chương trình Mỗi xã một sản phẩm, UBND xã Đăk Ruồng nghĩ ngay đến rượu ghè bà Y Gar.

Qua sự giới thiệu của UBND xã, tôi cùng anh Nguyễn Văn Bình (Văn phòng Đảng ủy Đăk Ruồng) đến nhà bà Y Gar trong buổi chiều muộn. Khi đến nhà, gặp lúc bà đi làm rẫy chưa về. Tranh thủ thời gian chờ đợi, tôi được ông A Phương (chồng bà) tiếp chuyện. Ông kể rằng, để giúp vợ làm rượu ghè, ông thường lên rẫy chặt cây h’nham đem về lột lấy vỏ giã với ớt và trộn với bột gạo, nặn từng cái bánh, ủ cho lên men rồi đem bánh men phơi khô. Khi làm rượu ghè, đem bánh men bóp nhỏ hoặc giã thành bột trộn với cơm nếp than, cơm gào hay gạo tẻ... để mươi ngày là thành rượu nếp than, rượu gào hay rượu gạo tẻ. 

“Vỏ cây h’nham ở đâu cũng làm bánh men được! Tuy nhiên, tùy theo từng vùng đất mà vỏ cây h’nham cho ra hương vị, chất lượng rượu khác nhau. Ở xã Đăk Ruồng, vỏ cây ở làng Kon Sờ Lạc 2 làm rượu là ngon hơn cả. Trong làng Kon Sờ Lạc 2, vỏ cây mọc trên rẫy làm rượu ngon nhất. Vỏ cây trong rừng vẫn làm rượu ghè được, nhưng rượu không ngon bằng”- A Phương thật lòng.

Có lẽ cây h’nham trên rẫy quang nắng, tiếp xúc với ánh sáng mặt trời nhiều hơn ở rừng rậm, vỏ dày hơn, hàm lượng chất để tạo men trong vỏ nhiều hơn... nên làm rượu ngon hơn chăng?

Để lấy vỏ h’nham làm men rượu, ông A Phương cũng như nhiều người trong làng thường chọn cây, cành nhỏ bằng ngón tay cái, ngón chân cái. Vỏ cây h’nham ở thân, cành kích cỡ này, thường nhiều mủ, mềm, lại dễ giã nhỏ hơn. Khi làm bánh men, gia đình ông cũng như nhiều người dân ở đây thường lấy lá chuối tươi lót dưới nia, bỏ bánh men lên trên rồi lại đậy lá chuối lại. Bánh men gặp độ ẩm phù hợp lên men. Thường thì mùa nắng, ủ bánh men khoảng 1 ngày, 1 đêm là bánh lên men. Mùa lạnh, ủ bánh men lâu hơn, khoảng 2 ngày, 2 đêm là bánh lên men. Khi bánh lên men phủ đều mặt bánh, lấy bánh đem phơi khô và cất giữ để khi cần thì làm rượu.

Trong các loại rượu ghè, rượu ghè làm bằng cơm hạt gào, nếp than là ngon nhất. Cũng làm rượu ghè, nhưng hương vị, chất lượng rượu ghè của từng người làm cũng có sự khác nhau. Muốn rượu có hương vị, độ nồng như thế nào là tùy thuộc vào bột men, lượng men khi ủ...

Anh Nguyễn Văn Bình thưởng thức rượu ghè. Ảnh: VN 


Theo ông A Phương, kinh nghiệm làm rượu của vợ mình là tùy theo nhu cầu người sử dụng mà có cách chế biến khác nhau. Nếu rượu dành riêng cho đàn bà uống, bà bỏ ít men khi ủ rượu để có ghè rượu ngọt; nếu rượu dành cho đàn ông uống, bà sẽ cho nhiều men hơn khi ủ để có ghè rượu vừa ngọt, vừa đắng và nồng độ cao hơn...

Ở người đồng bào DTTS, việc nấu cơm, làm rượu là công việc của phụ nữ. Mặc dù vậy, ông A Phương thường hay giúp vợ khi vợ cần. Gắn bó với nhau gần trọn đời người, ông A Phương thông hiểu từng chi tiết nhỏ của bà Y Gar trong quá trình làm rượu. Khi thuật lại việc ông trao đổi, bà Y Gar gật đầu, cười hiền: Ông nói chí phải!

Thơm ngọt khó quên

Không phải ngẫu nhiên bà Y Gar nấu rượu được dân làng và người dân ở đây khen ngon nhất vùng. Là người làm rượu có tiếng, lại nguyên là cô giáo, bà Y Gar thường có điều kiện đi nhiều nơi, nếm rượu ghè khác nhau. Đồng thời cùng với quá trình làm rượu qua nhiều năm, bà chắt lọc kinh nghiệm để tạo ra thương hiệu rượu cần đặc sắc cho mình, không giống ai và có thể sản xuất rượu theo sở thích của khách hàng.

Là người Ba Na, bà Y Gar bảo mình quen nhiều chị em Ba Na làm rượu ghè có tiếng ở phường Thắng Lợi, Thống Nhất (thành phố Kon Tum). Không chê chất lượng rượu ghè của các chị em ở phường Thắng Lợi, Thống Nhất, nhưng bà Y Gar cho rằng, các chị em ở đây khi ủ rượu thường bỏ trấu vào ghè rượu. Việc này có cái hay nhưng cũng có điểm không như mong muốn. Việc bỏ trấu vào ghè khi ngậm cần uống rượu sẽ có độ hở của trấu dễ hút nước rượu, ít khi bị mắt kẹt xác cơm rượu, nhưng khi uống thường hay bị ngứa ở cổ vì bột vỏ trấu. Còn bà làm rượu nhưng không bỏ vỏ trấu vào ghè, nên uống rượu tránh được nhược điểm này.

Để tránh được nhược điểm này, ông A Phương – chồng bà có kỹ thuật riêng trong việc làm cần rượu. Xem cần rượu của ông A Phương làm, tôi thấy ông có khoét một khe nhỏ ở gần cuối đoạn cắm xuống ghè. Chính khe nhỏ này lọc xác rượu, tạo thuận lợi khi hút rượu lên miệng.

Bàn về rượu nếp than, bà Y Gar mang ra một ghè rượu nếp than mời tôi và anh Bình cùng thưởng thức. Phải nói, rượu ghè bà Y Gar rất ngon, không chê vào đâu được và hương vị giống như những gì bà trình bày. Thưởng thức rượu ngon, tôi mua của bà một ghè rượu nếp than 8 lít với giá 300 nghìn đồng. Bà bảo, giá trên là tính luôn cái ghè 50 nghìn đồng. Nếu khách uống trả ghè, bà chỉ lấy 250 nghìn đồng/ghè rượu nếp than 8 lít.

Tạo được thương hiệu, nhưng bà Y Gar không vì thế mà lấy giá cao hơn so với giá cả chung của thị trường. Làm rượu ngon, nhưng thường có người đặt, bà mới nấu cơm nếp làm rượu. Phần lớn khách hàng của bà là bạn bè, người dân trong vùng và các khách quen ở thành phố Đà Nẵng, Bình Định, Thành phố Hồ Chí Minh...

Trước đây, bà cũng như người dân trong vùng thường trồng cây lúa nếp than, gào trên rẫy mới. Nhưng do đất để sản xuất rẫy mới không còn, trong nhiều năm trở lại đây, bà thường dành 2 sào ruộng nước một vụ gieo cấy lúa nếp than để làm rượu.

“Việc làm rượu ghè chủ yếu là để phục vụ cho yêu cầu lễ hội, yêu cầu bạn hàng nhằm giữ lại phong tục, truyền thống của tổ tiên chứ chẳng phải để làm giàu!” - bà Y Gar thổ lộ. 

Bà nói mình biết làm rượu ghè từ thời còn con gái. Thời con gái, bà thường phụ giúp mẹ, bà mình làm rượu ghè. Phụ giúp mãi rồi bà rành rọt làm rượu lúc nào không hay.

Qua trao đổi, tôi còn được bà cho biết, bánh men rượu của đồng bào DTTS cũng có thể đem ủ cơm gạo tẻ để cất rượu. Những năm trước, bà từng sản xuất bánh men bán cho người Kinh cất rượu. Bà cũng từng lấy men mình làm để cất rượu.

Khi nghe tôi trình bày về thực hiện Chương trình Mỗi xã một sản phẩm, nếu xã Đăk Ruồng hỗ trợ đăng ký xây dựng thương hiệu rượu ghè Y Gar, bà cười: Còn gì bằng..., nhưng cô cũng già rồi!

Chia tay bà Y Gar khi ở làng Kon Sờ Lạc 2 mọi nhà đều lên đèn, song hương vị rượu ghè tôi nếm thử khi chiều vẫn còn đọng mãi trên đường về và nay vẫn không thể nào quên.

Văn Nhiên

Cá diếc chiên giòn chấm mắm ớt, món bình dân biến thành 'hàng hiệu'

đăng 00:53, 8 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Không cao lương mỹ vị, cũng không "sang chảnh" như các đặc sản thường thấy, chỉ cần bỏ ra 30.000 - 40.000 đồng là có ngay ký cá diếc đồng về chế biến, ngon tới vấn vương.

Cá diếc rửa sạch trước khi chế biến


Món bình dân biết chế biến là "hàng hiệu"

Cá diếc là món ăn bình dân, biết chế biến lại là "hàng hiệu". Cá có khắp các vùng quê Việt Nam. Tuy giá khá bèo so với cá chép, cá quả, trắm đen…, dân sành ăn từ Nam ra Bắc rất thích cá này. Đơn giản đây là cá chủ yếu không được nuôi, mà bắt ở đồng. 

Các đồng lúa ngập nước, sau khi thu hoạch thì tháo nước là dễ dàng có mẻ cá đồng tươi ngon. Các ao to nuôi cá thịt, ít khi có cá diếc, vì thường bị các loại cá to "làm thịt" từ nhỏ.

Ở miền Bắc, cá diếc thơm ngon và ngậy nhất là vào tháng 10, cuối thu sau khi gặt lúa mùa, các ruộng ao chuôm được tát cạn để ải. Từng rổ cá diếc được thu hoạch. Dân gian thường có câu: "Cá mùa đông bằng mông con lợn", để chỉ cá nhiều thịt, trứng, ngon thơm như miếng thịt heo ngon nhất. 

Với dân thành thị, những gia đình khá giả thường săn cá diếc ở chợ, vì cá đồng tự lớn thay vì nuôi công nghiệp như các loại cá to. Cá khi đánh bắt lên giá chỉ khoảng 20.00 - 25.000 đồng/kg. Nhu cầu nhiều, vì cá tự nhiên, không phải lúc nào cũng có nên luôn là "hàng hiếm". Thịt cá chắc, lắm xương dằm nên những người ăn vì khoa học thay vì khoái khẩu thường mua về kho nhừ với thịt ba chỉ (hay bì heo), dưa muối, sả, ớt…

Cách làm rất đơn giản, cho nước sôi, hoặc nước súp gà hay nước dừa tươi để kho cá thì càng ngon. Đổ nước vừa sâm sấp mặt cá là được, thêm vài quả ớt, gốc hành trắng lên trên, đổ phần nước ướp cá vào cùng để kho. Tiếp đến, bạn đun cho sôi rồi hạ lửa nhỏ, đậy vung và kho khoảng 20-30 phút cho cá chín nhừ, lượng nước rút cạn là có thể tắt bếp.

Cá diếc kho nhừ


Món cá kho nghệ có màu sắc bắt mắt, cá vàng ruộm, khi ăn có hương vị đặc trưng của nghệ, miếng cá chắc thịt và đậm đà thơm ngon.

Xương mủn ra quyện với thịt và trứng cá ngon và bùi biết mấy. Thịt lợn ngậy, ít dưa chua chua ăn lạ miệng khiến nồi cơm "thủng nồi trôi rế" vẫn thòm thèm. Cá diếc kho nhừ ăn cả xương tốt cho sức khỏe vì có nhiều canxi. Với người già, phụ nữ sau mãn kinh thường loãng xương thì món này rất thích hợp. 

Khi kho cá, chỉ nên cho nước dùng hoặc nước sôi thêm vào, đừng cho nước thường vì cá sẽ tanh, ngoài ra nên để lửa nhỏ liu riu cá sẽ thấm gia vị hơn.

Món của dân nhậu

Cá diếc chiên giòn là món ăn hấp dẫn


Với dân nhậu, cá diếc bằng ba đầu ngón tay sau khi mổ bỏ ruột, đầu, rửa sạch với nước muối thì khô ráo. Dầu ăn (mỡ lợn) đun sôi và cho cá vào chiên giòn. Đĩa cá nóng hổi thơm lừng được đưa ra chấm với nước mắm ớt, chanh, đường và gừng. 

Vị ngọt từ thịt cá quyện với hương vị nước mắm, vị chua của chanh, cay của ớt và hương thơm của gừng khiến gây xao xuyến lòng người. Món cá càng hấp dẫn hơn khi có đĩa khế ngọt và những cọng thì là thái mỏng ăn kèm.

Về miền Tây nhậu cá diếc om mẻ (hay me chua) cũng rất "đã đời". Nước dùng gồm cà chua, mẻ (me chua) sau khi đun sôi cho cá được làm sạch vào. Gia vị và thì là, rau răm cũng được bồi tiếp. Bát cá nóng hồi thơm lừng, ai ăn con nào thì gắp con đó. Vị ngon của cá quyện với nước chua, rau răm, thì là chấm mắm tiêu hay mắm ớt thì tuyệt. Xì xụp, suýt xoa cùng tiếng zôzô, chẳng mấy chốc rổ rau, vài kg cá cũng hết bay.

Theo Đông y, cá diếc có tính bình, ngọt mát giúp giảm chứng nóng trong người. Thực phẩm làm giảm triệu chứng đầy hơi và khó tiêu, bổ tỳ kiện vị, ích khí, bổ huyết, hành thủy, tiêu thũng, tiêu khát, sát khuẩn. Cá diếc còn được dùng trong trường hợp suy nhược cơ thể, khí huyết bất túc khiến ăn uống kém, ợ chua, hoặc tỳ hư phù nề, tiểu tiện khó... Để chữa trị chứng đầy hơi và khó tiêu, các bạn nên ăn món cá diếc nướng tỏi.

Cá diếc om sả ớt, thuốc bắc


Thịt cá diếc chứa nhiều vitamin A, E và protein, vô cùng tốt cho sức khỏe. Nếu như nấu cá diếc cùng với các vị thuốc bắc trong nhiều giờ, người ốm và sản phụ sau sinh ăn sẽ tăng sức đề kháng và tránh được suy nhược, thiếu máu…

NGUYỄN HÙNG

Bún nước lèo thơm mùi mắm pròhốc, ăn sao cho khỏi 'trớt quớt'?

đăng 00:45, 8 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Gắp bún vào tô, rau ghém bên trên, chan một vá nước lèo nóng hổi có đủ thịt cá, huyết heo, nấm, sả ớt… phủ mặt, vắt thêm chút nước dấm ớt.

Bún nước lèo bắt mắt, thơm ngát


Tôi sinh ra ở Trà Cú, một huyện có đông đồng bào Khmer của tỉnh Trà Vinh. Trà Cú cũng là vùng đất cộng cư lâu đời của cả ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa, nhưng số lượng người Khmer là đông đảo hơn cả. 

Tết Nguyên đán của người Kinh cũng là niềm vui chung của ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa. Do quá trình cộng cư lâu dài, giao lưu văn hóa nói chung cũng như văn hóa ẩm thực nói riêng đã diễn ra mạnh mẽ. Bún nước lèo chính là món ăn thể hiện đậm nét đặc tính giao thoa văn hóa này của ba dân tộc, một món ăn không thể thiếu trong ngày Tết Nguyên đán ở Trà Cú.

Người Kinh, người Khmer hay người Hoa, trong ngày Tết Nguyên Đán ngoài những món ăn truyền thống như thịt kho tàu, khổ qua hầm, các loại dưa kiệu, dưa hành..., trong nhà bao giờ cũng có thêm bún nước lèo. Món này rất dễ ăn, tránh được cái ngán của thịt mỡ trong ba ngày tết. Mỗi người một tô bún là có thể ấm bụng để vui vẻ du xuân. Mấy ngày cận tết, bún luôn trong tình trạng "cháy hàng".

Món bún nước lèo là cách Việt hóa từ "nậm chốc tức lọo" của người Khmer, nghĩa là "nước canh ăn với bún". Nước lèo có thể nấu bằng các loại cá như cá lóc, cá trê, cá trắm…, nhưng đã là đặc sản thì chỉ cá lóc, cá kèo mới thật ngon.

Linh hồn của món bún này chính là mắm pròhốc. Mắm pròhốc được chế biến với nguyên liệu chính là cá (chủ yếu là cá đồng và sẽ ngon hơn khi ủ mắm bằng cá lóc).

Sau khi làm sạch, cá được ngâm nước muối một đêm rồi bỏ hết đầu, ruột, rửa kỹ lại bằng nước muối. Cuối cùng là xếp cá vào hũ (hoặc lu, khạp, keo tùy theo số lượng cá nhiều hay ít), cùng với muối, cơm nguội, mỗi gia đình thường ủ với tỉ lệ khác nhau, khoảng ba tháng sau là có thể dùng được. 

Mắm pròhốc tạo nên một nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của người Khmer nói chung và người Khmer Trà Vinh nói riêng trong nêm nếm và chế biến món ăn.

Mắm pròhốc


Để nấu bún nước lèo, người nấu sơ chế cá đồng (cá lóc, cá trê…) để nấu bún, chà vảy, bỏ mật, rửa sạch cho vào nồi nước sôi. Khi cá chín nổi lên thì vớt ra, dùng đũa rỉa bỏ xương. Thịt nghiền nhỏ, ướp sả ớt, gia vị vừa miệng, nêm thêm ít nước củ riềng hoặc ngãi bún là loại thực vật tạo hương vị đặc trưng. 

Quê tôi thường nấu bún nước lèo với ngải bún. Các bà nội trợ cho rằng thiếu ngải bún coi như nồi nước lèo đã giảm đi rất nhiều độ thơm ngon, "ăn không ra bún nước lèo".


Người nấu dùng vợt đan bằng tre đựng mắm pròhốc thả vào nồi nước sôi, dùng đũa khuấy đều cho rã, hòa tan. Lúc này mắm pròhốc dậy lên hương thơm đặc biệt, khác bất kỳ loại mắm nào. Trong quá trình "dạo mắm", người nấu cần phải liên tục vớt hết bọt, sau đó cho hỗn hợp thịt cá đã nghiền nhỏ, ướp sả ớt, gia vị cho vào nồi nước lèo.

Mẹ tôi thường cho thêm huyết heo đã luộc vào nước lèo phối hợp với nắm rơm xắt tư bỏ vào nước lèo, để tăng độ ngọt. Nếu may mắn có được cá lóc có trứng, để trứng nổi thành mảng càng đúng điệu, hấp dẫn. 

Dù đã rất thành thạo trong việc nấu bún nước lèo, bao giờ mẹ tôi cũng nêm lại một lần nữa cho vừa ăn rồi hạ lửa riu riu giữ nóng. Mẹ nói bí quyết nêm nước lèo là chỉ nêm bằng muối, bột ngọt, không dùng đường và nước mắm. Nhiều người theo thói quen thêm hai gia vị đường và nước mắm vào là sẽ "chớt quớt" ngay.

Bún phải là bún gạo trắng, sợi hơi to, bắt con gọn ghẽ. Rau ghém ăn kèm là cả "một thế giới rau" vô cùng hấp dẫn. Có thể nói một trong những yếu tố thu hút thực khách của các hàng quán bán bún nước lèo chính là việc đầu tư vào "thế giới rau" ấy. Rau ăn kèm gồm nhiều loại dễ tìm như rau muống bào, bắp chuối bào, bông súng, giá đậu xanh, rau thơm trộn lẫn, hẹ…. 

Ngoài ra, đến mùa chín của điều (đào lộn hạt), người ta còn bẻ trái điều chín xắt nhỏ để vào tô bún ăn kèm, rất hấp dẫn.

Gắp bún vào tô, rau ghém bên trên, chan một vá nước lèo nóng hổi có đủ thịt cá, huyết heo, nấm, sả ớt… phủ mặt, vắt thêm chút nước dấm ớt. Có nơi ăn kèm theo thịt heo quay xắt cỡ ngón tay cái. Mùi thơm bát ngát kích thích sự ngon miệng, bắt mắt. Ăn một gắp bún rau, húp một muỗng nước lèo, cắn miếng bánh cống là loại bánh chiên bằng bột gạo trộn củ sắn xắt nhuyễn, điểm trên vài con tép bạc vàng rộm… thì còn gì khoái khẩu bằng!

Không thể không nhắc đến loại muối ớt luôn xuất hiện bên cạnh tô bún nước lèo. Muối ớt được làm khá công phu. Người nấu chọn loại ớt chín đâm với muối hột, sau đó đem rang khô. Muối ớt sẽ có màu đỏ ngả cam, rất kích thích vị giác. Người nấu còn cho vào dĩa muối ớt một ít ớt hiểm rừng. Mẹ nói phải là ớt hiểm rừng mới đúng điệu, bởi loại ớt này không "cay hỗn" mà lại có mùi thơm.


Ngày tết, bên cạnh thịt cá ê hề, bún nước lèo luôn là lựa chọn số một của nhiều người trong gia đình tôi. Cùng nhau ăn tô bún nước lèo nóng hổi được nấu bởi mẹ, anh em tôi luôn bảo nhau "đây là vị tết".

TRẦM THANH TUẤN

Hai món ngon 'ăn hoài không chán' ở xứ Huế

đăng 00:35, 8 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Vào những ngày Tết Canh Tý 2020, khi những món ăn như bánh chưng bánh tét, thịt heo ngâm nước mắm, khô gà lá chanh, mực nướng, dưa món, nem chả, mứt… đã chán ngán, tôi thường tìm đến với những món ăn mang tính cân bằng dinh dưỡng hơn.

Bún bò giò heo xứ Huế - Ảnh: GIA TIẾN 


Sáng mồng Một Tết, tôi thưởng thức món bún bò giò heo tại một gánh bún đường Nguyễn Chí Thanh (TP. Huế), đoạn gần UBND phường Phú Hiệp. 

Vì đầu năm mới, tôi định thưởng thức tô 35.000 đồng, nhưng người bán nói chỉ lấy giá như thường ngày là 25.000 đồng. 

Tô bún bò giò heo sáng đó đã khiến tôi kích thích vị giác với một miếng giò heo, hai miếng chả, gân bò và huyết. Áp tay vào tô, hơi nóng bốc lên thật dễ chịu. Đặc biệt nhất, dĩa rau sống tươi sạch ăn kèm, của hiếm trong ngày đầu năm mới, thật khiến vị giác thỏa mãn. 

Theo cuốn sách Văn hóa ẩm thực Huế, bác sĩ Bùi Minh Đức cho rằng lúc xưa nước ta cần sức kéo từ con bò, nên không giết lấy thịt. Bởi vậy, lúc đầu dân xứ Huế chỉ có món bún giò heo. Từ nguyên liệu là bún, thêm vào thịt heo, nước dùng, sả, ruốc, ớt… đã khai sinh món bún giò heo. 

Bún bò giò heo 


Tại chợ Gia Lạc chỉ mở vào ba ngày Tết ở Huế xưa, Định Viễn Công Nguyễn Phúc Bính (1797-1863), hoàng tử thứ sáu của vua Gia Long, đã phát động thi nấu bún giò heo. 

Đầu bếp nào giành giải nhất thì nhận được 4 chữ "thập toàn, ngũ đắc". Thập toàn là điểm hoàn thiện hoàn mỹ của món đặc sản chốn kinh kỳ: ngon lành, thơm tho, ngọt ngào, đậm đà, tinh khiết, bổ dưỡng, bắt mắt, giỏi chọn, rành nấu, khéo bày. 

Ngũ đắc là 5 yếu tố: ai cũng biết được, mua được, ăn được, chế biến được, tìm được nguyên vật liệu ngay tại địa phương mình. 

Đến thời Pháp thuộc, bị ảnh hưởng món súp thịt bò của người phương Tây nên mới có món bún bò giò heo ngày nay. Hiện nay, bún bò giò heo là 1 trong 10 đặc sản ẩm thực lọt vào top Đặc sản Việt Nam lần thứ nhất (2012). 

Tiếp đến phải là món cơm hến. Từ trưa cho đến chiều tối và đến tận khuya thì món ngon lạ miệng, ăn hoài không chán mang tên cơm hến dễ dàng tìm kiếm trên mọi nẻo đường ở Huế. 

Cơm hến từng là vật phẩm cung đình Huế mỗi dịp lễ tết - Ảnh: HOÀNG HIỆP 


Ngày thường, ở bờ Bắc sông Hương, mỗi tô cơm hến có giá 8.000 đồng. Ngày Tết, mỗi tô có giá 10.000 đồng. Ở gần nhà tôi có đến ba gia đình bán cơm hến, luôn đông nghịt khách. 

Gia đình chị Thúy "cơm hến" trước đây thuộc diện gia đình nghèo. Nhờ bán cơm hến ngon, đông khách nên giờ cuộc sống khấm khá hơn nhiều. Ngoài ra còn có chị Quỳnh "cơm hến", mệ Cúc "cơm hến" cũng nhờ thực khách ủng hộ mà kiếm được tiền đi chợ và tiền lo phương này việc nọ. 

Cơm hến xuất phát từ tầng lớp bình dân vùng cồn Hến ven sông Hương lúc xưa. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã miêu rả rất đúng khi cho rằng: "Món cơm nguội với những con hến nhỏ lăn tăn làm sốt ruột người chế biến món ăn, gọi là cơm hến". 

Dưới thời vua Thành Thái, món cơm hến được đưa vào cho vua thưởng thức. Từ đó, cơm hến trở thành phẩm vật cung đình mỗi dịp lễ Tết. 

Cơm hến ăn hoài không chán bởi sự lạ đời. Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường: "Người Việt mình ăn cơm kiểu nào cũng phải nóng, duy chỉ cơm hến nhất thiết phải là cơm nguội". 

Cơm hến ăn hoài không chán cũng bởi hến ở cồn Hến là ngon nhất thiên hạ, từng được tiến cung cho vua thưởng thức. Thử hỏi, trong thiên hạ món gì vua thích, vua đụng đũa đến lại không phải là hàng cực phẩm? 

Lạ miệng với món cơm hến - Ảnh: NGUYỄN VĂN TOÀN 


Cơm hến ăn hoài không chán cũng là vì sự hài hòa của nó. Tô cơm có hến và da heo chiên giòn là thuộc về động vật, nhưng rau sống (bắp chuối, môn, khế, rau thơm), đậu phụng… ăn kèm lại là thực vật. Các gia vị như ruốc, nước mắm, muối, ớt lại là những thành tố cần cho cơ thể con người. Bởi vậy, người dân lao động Huế xưa và cả bậc vua chúa đều tìm thấy trong món cơm hến sự hài hòa để cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể một cách chừng mực. 

Nhìn vào ẩm thực, du khách sẽ dễ dàng nhận ra Tết Huế vừa mang đậm bản sắc của ngày Tết cổ truyền dân tộc, vừa mang dấu ấn riêng của văn hóa Huế, con người Huế. Món bún bò giò heo, món cơm hến không những là đặc sản đã có từ lâu đời ở Huế mà còn có quan hệ mật thiết với ngày Tết của người Huế. 

Bằng chứng là món bún giò heo đã từng được đem ra thi thố tại chợ Gia Lạc chỉ mở vào ba ngày Tết ở Huế xưa và món cơm hến từng được tiến vua vào dịp lễ Tết. 

NGUYỄN VĂN TOÀN

Lẩu cá lau kiếng khiến tôi thèm hoài, nhớ mãi

đăng 00:27, 8 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Cá lau kiếng giờ đây đã không còn xa lại với người dân miền Tây nữa. Từ một sinh vật ngoại lai có nguy cơ làm ảnh hưởng đến sự cân bằng sinh thái, giờ đây cá lau kiếng thường xuyên xuất hiện trên bàn ăn.

Lẩu cá lau kiếng là món tết miền Tây tôi luôn nhớ 


Miền Tây sông nước từ lâu đã trứ danh với sự phong phú của sản vật cùng sự hào phóng của con người. Sự hào sản ấy thể hiện qua các món ăn - không chỉ độc đáo về hương vị mà nguyên liệu chế biến lạ lẫm có khi lại làm cho người ăn ngỡ ngàng.

Một trong số những món ăn thể hiện rõ nét điều này chính là cá lau kiếng hấp sả, lau kiếng nướng,... và đặc biệt là lẩu lau kiếng. 

Vào dịp Tết Kỷ Hợi năm ngoái, tôi về thăm nhà. Nghe đám bạn rủ rỉ nhau về món lẩu lau kiếng đang nổi đình nổi đám tại xứ chiếu Định Yên (làng chiếu Định Yên), Lấp Vò, Đồng Tháp, chúng tôi bèn hẹn nhau làm một chuyến trải nghiệm. 

Qua con đường làng với hai bên là những xóm chiếu đang nô nức dệt, chúng tôi đến với chợ Bào Bùn. Bước vào một quán nhỏ bình dân cạnh con rạch, một không khí thật bình dị đúng chất miền Tây. Chúng tôi gọi ngay món lẩu lau kiếng. 

Nhà hàng đưa ra nồi lẩu thật to, đặt trên bếp than hồng. Bên trong nguyên liệu thật phong phú. 4 con lau kiếng đã được làm sạch ruột, vảy, đuôi nhưng vẫn giữ lại phần vỏ cứng bên ngoài; rất nhiều rau củ bên trong như bắp non, mướp, măng, cà rốt, củ cả muối, bắp, xả, hành tây,... cùng với đĩa rau ăn kèm cũng phong phú chẳng kém: bông điên điển, bông bí, rau cải trời, bắp cải,... Nguyên vật liệu phong phú đã bày ra một bàn ăn thật bắt mắt. 

Lẩu cá lau kiếng vừa ngon vừa bắt mắt 


Chờ cho nước sôi, bỏ các loại rau sống vào là có thể thưởng thức ngay. Nồi lẩu bốc hương nghi ngút làm cho ai nấy đều háo hức. Bóc lớp vỏ cứng của cá ra để lộ phần thịt chắc chấm với muối ớt chanh cho hương vị vô cùng hoàn hảo. Thịt cá vừa mềm vừa chắc, ngọt, thơm kèm với vị cay cay, chua chua, mằn mặn của muối ớt chanh khiến muốn ăn mãi cho đã thèm. 

Phần nước lẩu cũng chính là tinh hoa của món ăn. Với công thức riêng của quán hòa quyện với các loại rau củ cho ra phần nước dùng ngọt thanh thao khiến người ăn xuýt xoa húp lấy húp để. Có thể ăn kèm với bún hay mì gói, tùy sở thích mỗi người đều rất ngon. 

Chỉ với một nồi lẩu với giá chỉ 80.000 đồng dành cho 4 người ăn đã làm thực khách no căng bụng. Sau dịp tết đó, mỗi độ về quê chúng tôi lại hú hí nhau đi thưởng thức hương vị tuyệt vời ấy. 

Có dịp về thăm Đồng Tháp, bạn đừng quên ghé thăm làng chiếu Định Yên và thưởng thức món ăn độc đáo này nhé.

NGUYỄN TRUNG HIẾU

Chua thanh, dẻo ngọt với mứt me Mỹ Tú

đăng 01:17, 6 thg 3, 2020 bởi Pham Hoai Nhan

Những ngày này, có dịp đến ấp Phước Bình, xã Mỹ Thuận (Mỹ Tú), ngay từ đầu xóm đã nghe thoảng mùi thơm của mứt me, bánh kẹp quyện hương trong gió. Gần 2 năm nay, cơ sở sản xuất Mai Anh của chị Lê Th Trang đã trở thành địa chỉ uy tín về sản xuất và cung cấp bánh, mứt, đặc biệt là mứt me của các hộ kinh doanh, bà con tiểu thương gần xa.

Tất bật với việc gói mứt, đóng hộp thành phẩm để kịp cung cấp hàng trong dịp tết, chị Trang vui vẻ cho biết: “Trước đây, tôi chỉ làm mứt me để ăn và tặng cho bà con họ hàng, mọi người khen ngon rồi khuyến khích làm bán. Thấy ở đây bà con trồng me nhiều, nhưng chủ yếu là bán trái chín, đôi khi không ai mua, để khô rụng đi rất tiếc. Thế là tôi quyết định thu mua để làm mứt me cung cấp cho thị trường. Bình quân mỗi tháng, thu mua từ 500 - 600kg me tươi của bà con địa phương, nhiều lúc hết trái, tôi phải liên hệ mua tận Long Xuyên, Châu Đốc để có me làm mứt”. 

Chị Lê Thuỳ Trang giới thiệu về sản phẩm mứt me của mình. 


Để chế biến ra mứt me chua chua, ngọt ngọt, dai dai mà không nát phải trải qua rất nhiều công đoạn như: ngâm nước ấm, tách vỏ, lấy hột, ngâm muối hột, ướp đường phèn, sên, phơi nắng và đóng gói. Theo kinh nghiệm của chị Trang, quy trình làm mứt me không khó nhưng đòi hỏi người làm phải tỉ mỉ, cẩn thận và khéo tay để trái me không bị gãy. Khi mua phải lựa những trái me tươi, suôn dài, đặc biệt phải chưa chín thì làm mứt mới ngon. 

Sau khi tách vỏ, bỏ hột, me được ngâm vào nước muối khoảng 1 đêm cho chất chua nhả ra bớt. Sau đó rửa sạch nhiều lần, để ráo, rồi ướp đường để khoảng 24 tiếng. Khi đường đã ngấm đều vào me, thì bắt đầu đến khâu sên mứt. “Công đoạn này đòi hỏi người thợ phải đều tay để trái chín đều và có màu sắc đẹp mắt. Đặc biệt, mứt me có ngon hay không thì công đoạn phơi nắng rất quan trọng, nếu phơi không đủ nắng mứt sẽ ẩm, khi đóng gói bị dính và màu sắc không hấp dẫn, nếu trời nắng đẹp chỉ cần phơi 2 ngày là đủ. Đây cũng là yếu tố quyết định độ mềm dẻo vừa phải và khô ráo của từng miếng mứt me “chua thanh, dẻo ngọt”” - chị Trang chia sẻ. Sau cùng là khâu gói mứt, đòi hỏi người gói phải khéo tay để trái me có hình dáng thon dài giống như trái me lúc còn tươi. 

Công đoạn từ trái me tươi tới thành phẩm phải mất gần 4 ngày, các khâu đều làm thủ công nên đảm bảo an toàn thực phẩm. Mứt me cơ sở chị Trang sản xuất có hai hương vị là gừng cay và đường phèn nguyên chất. Theo chị Trang chia sẻ, mứt me sản xuất quanh năm, nhưng hút khách nhất là vào dịp tết. Thời điểm này, lượng đơn đặt hàng đã đến vài trăm kílôgam, bán giá sỉ 140.000 đồng/kg. Không chỉ được người tiêu dùng ở trong tỉnh đón nhận mà sản phẩm mứt me của chị Trang còn được khách hàng quen ở Hậu Giang, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương tin dùng hay được khách hàng mua làm quà gửi đi nước ngoài. Hướng tới, chị Trang sẽ tìm kiếm mở rộng thêm thị trường để sản phẩm mứt me được nhiều người tiêu dùng biết đến hơn nữa và tạo công ăn việc làm thêm cho một số chị em phụ nữ ở địa phương. “Nếu ai cần thì cứ liên hệ đặt hàng qua số điện thoại: 0327 335041 và 0373 330777” - chị Trang vui vẻ thông tin. 

Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, cùng với sự khéo léo của người phụ nữ, chị Trang đã làm ra món mứt me có hương vị đặc trưng của vùng quê, không chỉ phát triển kinh tế gia đình mà còn giúp người dân địa phương có nguồn thu nhập ổn định. 

Quốc Tuấn

1-10 of 18